Virtus's Reader
Binh Lâm Thiên Hạ

Chương 1004: CHƯƠNG 1004.2: TRANH CHỨC TỂ TƯỚNG.

Những lời rút ruột rút gan của Giả Hủ khiến Lưu Cảnh không khỏi liên tục gật đầu, Lưu Cảnh cười nói:

- Ta sẽ không hủy bỏ chế độ đa tướng, ta cũng sẽ không gấp rút thay đổi, làm theo như Giả Hủ nói, tận lực hoàn thiện chế độ đa tướng này, cũng sẽ không vì chuyện Phí Quan đã lén lút tặng quà cho Giả công mà phạt y, điểm này lòng ta rất tỏ, tuy nhiên những hành động và việc làm của Phí Quan cũng còn một số vấn đề, chứ không phải nguyên vì chuyện này.

Giả Hủ thấp giọng nói:

- Lão thần biết điện hạ đang canh cánh chuyện Phí gia còn giữ đất ở Ba Thục.

- Đúng là như vậy, cái gọi là không phá thì không xây được, bao năm nay chế độ phong đất vẫn chưa thực hiện được, nguyên nhân cơ bản chính là quan viên Thục Trung không chịu từ bỏ đất ở Ba Thục, mà Phí gia chính là đầu xỏ, bọn họ giữ tận mười mấy ngàn khoảnh thổ địa, ngay cả Hán Vương mới chỉ có đất phong một ngàn khoảnh, Phí Quan kẻ này không biết định làm cái gì?

Nếu như là đất do tổ tiên để lại thì không nói làm gì, nhưng số đất đó phần lớn là do Lưu Chương ban tặng, chẳng lẽ để ta đứng ra gánh vác hậu quả phong thưởng hỗn loạn của Lưu Chương sao?

Giả Hủ giờ mới hiểu được nguyên nhân thực sự vì sao Lưu Cảnh lại muốn động đến Phí gia, chính là vì chuyện Phí Quan đã đi trái lại với nguyên tắc của hắn trong việc phân đất, còn chuyện đủ năng lực hay không chỉ là thứ yếu.

- Nhưng điện hạ không phải là muốn trọng dụng Phí Y sao?

Giả Hủ vẫn có chút băn khoăn hỏi.

- Ta để Phí Y là Trung thư thừa là vì y có đầy đủ tài đức, nhưng cũng không có nghĩa Phí Y có thể làm tướng, về sau nếu y muốn làm tể tướng, nhất định phải có một điều kiện đó là đạt được tư cách là ‘Đồng trung thư môn hạ bình chương sự’, chỉ có đạt được điều này, cộng với tài năng của y, đất của Phí gia cũng như vậy, nếu không đừng nghĩ đến việc làm tướng nữa.

Giả Hủ tâm tư trùng trùng lên xe rời khỏi Hán vương phủ, hôm nay nói chuyện với Hán Vương điện hạ một hồi, ông ta hiểu ra được nguyên tắc làm việc của Lưu Cảnh, mấu chốt ở đây là sẽ không dễ dàng tha thứ cho kẻ nào sử hữu số lượng đất quá lớn, điều này Giả Hủ có thể hiểu được, vương triều này gần phải đối diện với sự diệt vong, cũng do hoàng thân quốc thích cùng với cường hào đại tộc chiếm quá nhiều đất đai, khiến Hán Vương phải phụ thuộc vào các cường hào đại tộc quá nhiều.

Lưu Cảnh hiển nhiên là nhận được bài học từ chuyện đó, hiện giờ vì hắn còn chưa thống nhất thiên hạ, nên còn cần phải thỏa hiệp với những tộc quyền như Phí gia, một khi cướp được thiên hạ rồi, ngồi vững vàng trên giang sơn rồi mới là lúc hắn đi tính sổ những kẻ kia, dựa vào ý chí mạnh mẽ cứng rắn và cách làm mềm dẻo của Lưu Cảnh, không biết sẽ có bao nhiêu gia tộc quyền thế tan cửa nát nhà.

Giả Hủ thầm thở dài, ông ta hiểu được tại sao Lưu Cảnh lại tâm sự với ông ta nhiều chuyện như vậy, đặc biệt là chuyện của Phí gia, chính là muốn ông ta thay Lưu Cảnh xử lý những vấn đề nan giải này.

Có thể khiến Phí gia rời khỏi vùng đất đó thì quả là nói dễ hơn làm, ngay chính bản thân ông ta cũng khó mà có cách để khuyên bảo Phí gia.

Buổi chiều ngày hôm sau, Giả Hủ vẫn đi tản bộ trong sân như thường ngày, không biết ma sui quỷ khiến ra sao lão lại đi bộ đến chợ phía đông, chợ này nằm ở phía đông bên ngoài cửa thành, là khu chợ chính to không kém gì chợ phía tây, chợ phía tây đối mặt với Tây Vực, còn chợ phía đông thì chủ yếu là Hán quốc.

Chợ phía đông và phía tây đều vô cùng phồn hoa, hơn nữa hàng hóa cũng vô cùng phong phí, có lương thực, lá trà, dê bò súc vật, châu báu, đồ sứ, tơ lụa vải vóc, khí cụ bằng đồng rồi cả những vật phẩm xa xỉ cái gì cũng có hết, rất nhiều thương gia Tây Vực người Hồ đều đến khu chợ phía tây này bán hàng, chỉ đi đến chợ phía đông để mua đồ ăn hàng hóa, chủ yếu là đến đó mua tơ lụa và đồ sứ là chính.

Ở góc phía tây nhất của chợ đông là chỗ tập trung bán châu báu, ở đó có tất cả là hơn mười tiệm lớn nhỏ, tòa nhà mà chiếm hơn mười mẫu đất ở thành Trường An này chính là cửa hàng châu báo Bách Bảo Trai của Phí gia, đây chính là sản nghiệp của Phí gia.

Giả Hủ khoanh tay đi lên bậc thang, tiến vào tiệm ăn, hai gã tiểu nhị nhìn thấy bộ dạng lão vừa đen vừa gày, tuổi lại cao, lại còn mặc bộ quần áo bình thường, đầu đeo một chiếc khăn đã bị giặt nhiều đến bạc phếch, hai tên này lập tức có ý khinh thường, khách đến Bách Bảo Trai chỉ toàn những người giàu có, vậy ông già này đến đây làm cái gì?

Bọn họ nhìn nhau, tồi một tên trong đó tiến lên cười khan hỏi:

- Cụ già, có phải ông đã đi nhầm chỗ hay không?

Giả Hủ nhìn tên này một cái, nheo mắt hỏi:

- Vậy ngươi nói ta nên đến nơi nào?

- Bên kia có cửa hàng trang sức tên Phong Long, ta thấy đó mới là nơi giành cho cụ.

Cửa hàng trang sức Phong Long chỉ bán một ít trang sức vàng bạc, giá cả thì vô cùng rẻ, chủ yếu phục vụ dân tần thấp ở thành Trường An, điều này cho thấy rõ ràng là mấy tên này đang châm chọc Giả Hủ, đối với một người như Giả Hủ, lão cũng không thèm để ý đến mấy tên này, vẫn như trước cười tủm tỉm nói:

- Ta tới là tìm Phùng đại chưởng quỹ của các ngươi, ông ta có ở đây không?

Hai tên tiểu nhị giật mình, cẩn thận hỏi:

- Không lẽ ông là người nhà của chưởng quỹ nhà chúng tôi?

- Ta không phải là thân thích của ông ta, ta tới là đem đến cho y một vật, nếu các ngươi cho là ta đến làm phiền, vậy ta đưa cho các ngươi cũng được.

Giả Hủ lấy hộp ngọc ra, đưa cho một tên tiểu nhị:

- Ta sẽ không vào đâu, để tránh các ngươi lại đuổi ra đi sang cửa hàng trang sức Phong Long.

Hai tên này đều là kẻ trong nghề nên biết được hàng tốt xấu, tuy rằng không biết trong hộp chứa cái gì, nhưng chỉ cần nhìn thấy cái hộp ngọc trong suốt mịn nhẵn thì đã biết là hàng cao cấp, bọn họ cũng lấy làm giật mình, vội vàng ngăn lại:

- Lão trượng xin dừng bước, loại này là đồ quý, tốt nhất giao cho đại chưởng quỹ, chứ chúng tôi không dám nhận.

Một tên tiểu nhị vội chạy vào, được một lát, đại chưởng quỹ Bách Bảo Trai Phùng Dật vội vàng chạy đến, gã cũng là người có kiến thức rộng, tuy rằng không biết Giả Hủ, nhưng gã nhận ra hộp ngọc trên tay ông ta, đây chính là vật mà hôm qua y đã tặng cho Giả Cơ, bên trong là 50 viên minh châu vô cùng có giá trị, vậy nên cũng lập tức đoán được ông già này là ai.

Y liền vội vàng tiến vào thi lễ:

- Không biết lão tiên sinh đây có phải là Giả các lão không?

Giả Hủ gật gật đầu:

- Lão hủ chính là Giả Hủ!

Hai tên tiểu nhị sợ tới mức thiếu chút ngất đi, ông già này không ngờ lại là Hán quốc nguyên lão Giả Hủ, mà ngay cả đến Hán Vương còn kính trọng ông ta, vậy nên hai tên này chỉ còn biết lên tiếng cầu xin:

- Chúng con có mắt mà không thấy thái sơn, xin Các lão tha cho chúng con lần này.

Giả Hủ thản nhiên cười nói:

- Ta già như vậy rồi, đương nhiên sẽ không để chuyện vặt vãnh này trong lòng, nhưng ta cũng muốn nhắc ngươi một câu, Đào Vương Phi cũng mặc quần vải, đeo trâm bạc, các ngươi đừng có đuổi người ta đến cửa hàng trang sức Phong Long.

Hai gã tiểu nhị sợ đến mức mặt mày tái mét, Phùng đại chưởng quỹ cũng trừng mắt nhìn bọn họ, rồi khom người hướng về phía Giả Hủ cười bồi nói:

- Mời Giả các lão đến nội đường ngồi một lát, tôi xin được giải thích chuyện hộp ngọc kia.

Giả Hủ đương nhiên là có chuyện nên mới đến, liền gật gật đầu cười nói:

- Cũng tốt, ta nghe nói trà của tiệm các ngươi khá ngon, nên đành làm phiền chưởng quỹ rồi.

Chương 1005: Quyền lợi bất dung.

Phùng đại chưởng quỹ chỉ là phụng lệnh của Phí Quan, tặng cho Giả Cơ minh châu, còn đâu bản thân y cũng không biết chủ nhân của mình tặng mình châu cho Giả Cơ làm gì, nhưng y vẫn biết, Giả Hủ tự mình đến trả minh châu thì việc này bản thân y không thể giải quyết được, mà phải được sự thông qua của Phí Quan.

Y vừa dùng trà thượng hạng và điểm tâm ngon để tiếp đãi Giả Hủ, một mặt lại sai người đi báo cho gia chủ, vừa đúng hôm nay là ngày nghỉ, Phí Quan không ở Vị Ương cung mà đang ở trong bản phủ, khi nhận được tin tức Giả Hủ đang ở tiệm chây báu, y vội vang đi đến.

Từ sau khi Lưu Cảnh ban bố lệnh điều chỉnh quan thự, Phí Quan bắt đầu lo lắng, Bàng Thống, Pháp Chính, Đỗ Kỳ đều là trung tâm quyền lực trong triều, nên đây không phải là chuyện gì bất ngờ rồi, hơn nữa Đổng Doãn và cháu của y là Phí Y được đề bạt lên làm Trung thư tả hữu thừa, điều này cũng đồng nghĩ rằng y và Đổng Doãn phải hạ vị rồi.

Trong lòng Phí Quan bối rối, y đương nhiên không muốn mất đi vị trí tướng quốc, cái vị trí đó quyền lực biết bao, nó có sức hút vô cùng mạnh mẽ, vì bảo vệ chức tướng quốc này, y đã không tiếc gì đi lo lót cho Giả Hủ, hy vọng Giả Hủ có thể thay y nói đỡ vài câu, y biết được rằng ý kiến của Giả Hủ có ảnh hưởng rất lớn đến Hán Vương, vì ý kiến mà ông ta đưa ra, Hán Vương đều tiếp nhận.

Nhưng không ngờ Giả Hủ lại đến cửa hàng châu báu của y, trong lòng Phí Quan cảm thấy có chút không ổn, y xuống xe ngựa từ cửa sau, chạy một mạch vào nội đường.

Chỉ thấy Giả Hủ ngồi uống trà một mình trong công đường, Phí Quan liền vội vàng tiến lên chắp tay cười nói:

- Đã để Giả công đợi lâu.

Giả Hủ đương nhiên sẽ không mang hộp ngọc trả cho chưởng quầy, mà lão muốn trả cho người nhà họ Phí, nhưng lão cũng không nghĩ rằng Phí Quan sẽ đích thân đến, làm lão cũng cảm thấy có chút gì đó khinh thường, vì đường đường là một vị tướng quốc, lại ra vào cửa hàng của gia mình mình như vậy, thật nơi này không xứng với y chút nào.

Kỳ thật không chỉ có Giả Hủ, rất nhiều người trong triều cũng không quá xem trọng Phí Quan, năng lực của y cũng là yếu nhất trong số năm vị tướng quốc, danh tiếng cũng kém nhất, cũng vì cô mẫu của y là mẹ của Lưu Cảnh, vậy nên Phí gia mới có thể thăng tiến nhanh được, trở thành gia tộc quyền thế bậc nhất ở Thục Trung, Phí Quan dĩ nhiên cũng không kém gì Ích Châu Trị Trung Biệt Giá Trương Tùng Ích.

Lưu Cảnh cướp lấy Ích Châu, để cân bằng các phe phái ở đây, nên cho Phí Quan làm Thượng thư, chứ hoàn toàn không phải vì năng lực của người này, không chỉ để Phí Quan làm Thượng thư mà còn cho em trai của y là Phí Thi đảm nhiệm chức Thái thú Vi quận, cháu trai y là Phí Y được thăng lên làm Trung thư thừa, nên mới trở thành gia tộc bậc nhất Hán quốc.

Tuy nhiên Phí Y và Phí Thi thì lại khá có tài, nên khiến Phí Quan cũng cảm thấy có chút phải miễn cưỡng.

Sắc mặt Giả Hủ vẫn thản nhiên, đứng dậy thi lễ cười nói:

- Phí thượng thư chỉ cần nói Tử Chất đến là được, sao lại phải đích thân đến đây, Giả Hủ đúng là không dám.

- Giả công ở trong này, ta sao không dám đến!

Phí Quan vội vàng sai thị nữ bên cạnh đi thay trà, y mời Giả Hủ ngồi xuống, ánh mắt nhìn lên hộp ngọc ở trên bàn, vẻ mặt có chút xấu hổ, nhưng phản ứng của y lại khá nhanh, giờ mới vội vàng nói:

- Chắc chưởng quầy nhà tôi đã không nói rõ ràng với lệnh tôn, thực thực chất là quà mà vãn bối chuẩn bị để mừng thọ ngài 70 tuổi, Giả công sao phải khách khí vậy?

- Ha ha! Lão Hủ đến tháng mười mới làm mừng thọ kìa, hiện giờ mới là tháng năm, Phí thượng thư có vẻ hơi gấp gáp quá rồi.

- Đâu có! Đâu có! Chỉ e đến lúc đó người đưa lễ quá nhiều, vãn bối chỉ e xếp hàng dài vẫn chưa đến lượt nên đã cho người đưa đến trước.

Phí Quan lại cầm hộp ngọc lên dưa cho Giả Hủ:

- Đây là một chút tâm ý của vãn bối, xin Giả công hãy nhận lấy.

Phí Quan luôn miệng xưng vãn bối, khiến Giả Hủ cũng không được thoải mái cho lắm, chỉ có điều lão cũng không so đo chuyện đó, Giả Hủ cười nói:

- Nếu là quà mừng thọ thì ta đây cung kính không bằng tuân mệnh rồi.

Giả Hủ là một người cực khéo đưa đẩy, lão cũng không muốn vì chuyện này mà đắc tội với Phí gia, cho dù Phí gia dựa vào cái gì mà được như hôm nay, song vì suy nghĩ cho con cháu sau này, nên tốt nhất là không nên đối đầu với một gia tộc khác.

Phí Quan thấy Giả Hủ nhận lấy, trong lòng mừng thầm, y tận dụng làm cơ hội để dò hỏi:

- Gần đây Giả công có yết kiến điện hạ không?

- Đã lâu ta không hỏi việc chính sự, chỉ có lần trước khi chiến sự ở Hợp Phì thì có gặp điện hạ một lần, sau đó thì không nữa, Phí thượng thư có chuyện gì không?

Phí Quan lo lắng nói:

- Gần đây về mặt cải cách cơ cấu quyền lực, đã động đến rất nhiều người, nên quan trường chốn Trường An này đâu có được yên.

- Ngày hôm qua lão hủ cũng đã nghe khuyển tử của ta nói vậy, Lệnh chất được thăng lên làm Trung thư thừa, chúc mừng Phí thượng thư.

Phí Quan cười khổ một tiếng nói:

- Có được ắt phải có mất, điện hạ sao có thể để hai người Phí gia đều giữ chức vị cao, chỉ e là ta cũng sẽ bị bãi tướng thôi.

- Phí thượng thư nói quá lời, ta không nghĩ là sẽ bãi ngài đi, chẳng lẽ Phí thượng thư là người không làm được việc?

Phí Quan trầm mặc, được một lúc lâu sau mới nói:

- Thứ cho tại hạ mạo muội, hiện giờ gia tộc của Giả công còn bao nhiêu thổ địa?

Giả Hủ thấy y cũng không ngốc, biết được vấn đề nằm ở đâu, liền có lòng nhắc nhở, Giả Hủ cười nói:

- Ta vốn có thổ địa ngàn khoảnh, một phần là do Đổng Trác và Lý Thôi ban tặng, sau này lại có thêm mấy trăm khoảnh ở Nam Dương, thổ địa ở đây ta đã giao cho Tào thừa tướng, kết quả là ông ta lại ban lại cho ta, tuy nhiên tất cả số đất đó ta đều giao lại hết cho điện hạ, giờ trong tay ta chỉ có chừng 10 khoảnh ruộng tốt, đây đều là gia sản của tổ tiên.

- Ta nghe nói trước đây gia tộc Khoái Việt Tướng đã dâng cho điện hạ mấy ngàn khoảnh thổ địa, nhưng Hán Vương điện hạ lại không nhận, chuyện này hà cớ làm sao?

Giả Hủ ha hả cười:

- Chuyện của nhà Khoái gia ta rất rõ, đó thực ra là đề nghị ta đưa ra cho điện hạ, bởi vì Khoái Việt muốn thông qua việc trả lại đất mà được điện hạ trọng dụng một lần nữa, nhưng điện hạ đã không nghĩ đến việc dùng y nữa rồi.

Tuy nhiên điện hạ lại bắt đầu trọng dụng Khoái Kỳ, cho nên điện hạ đã nghe theo đề nghị của ta, không nhận việc Khoái Việt mang trả lại đất, nhưng một năm sau, ngài ấy lại tiếp nhận chuyện này, kết quả Khoái Kỳ được đảm nhận Thái thú Nam quận, hơn nữa sau này khi Khoái Việt bệnh mà chết, điện hạ cũng đã có chút hối hận, còn khóc nữa, ngài ấy nói với ta, ngài nợ Khoái Việt một ân tình, Ta đoán rằng sau này Khoái gia nhất định sẽ rất có tiền đồ.

- Vậy Thái gia thì sao? Nghe nói gia tộc họ còn hai ngàn khoảnh thổ địa ở Tương Dương.

Không đợi Phí Quan nói xong, Giả Hủ liền khoát tay áo:

- Về bốn đại gia tộc năm đó ở Kinh Châu, nếu Phí thượng thư nghe lời, thì ta đã có thể hiểu được chuyện này, chuyện này từ trước đến nay ta đều có tham gia, nên vô cùng rõ ràng.

Phí Quan vội vàng chắp tay nói:

- Vãn bối nguyện chăm chú lắng nghe!

- Thái, Khoái, Bàng, Hoàng, năm đó chính là tứ đại gia tộc ở Kinh Châu, Hoàng Tổ sớm đã diệt vong, mấy ngàn khoanh đất ở Giang Hạ đã được Hán Vương chia cho những tướng sĩ có công, Khoái gia thì như vừa rồi ta đã nói, dù sao hiện nay trong tay Khoái gia cũng không có nhiều hơn mười khoanh thổ địa, đây cũng đều là sản nghiệp tổ tiên, Bàng gia cũng có hơn một ngàn khoanh thổ địa, nhưng năm ngoài Bàng Thống và Bàng Sơn Dân đều đã dâng hết lên trên, chỗ đất đó đều phân cho tá điền.vậy nên Tương Dương đã có thêm hơn một ngàn hộ trung nông, hiện giờ ta nói đến Thái gia.

Giả Hủ nhấp một ngụm trà, nói đĩnh đạc rằng:

- Thái gia khá phức tạp, đây cũng là một gia tộc điển hình, họ họ vốn được hơn ngàn khoanh thổ địa, được xưng là đệ nhất thế gia ở Kinh Châu, tuy rằng Thái Mạo đầu hàng Tào Tháo, nhưng chuyện này cũng không ảnh hưởng gì nhiều đến Thái gia, Thái Diễm thậm chí còn đảm nhận chức Thái thú Tương Dương, nhưng điều kiện tiên quyết để y được làm Thái thú Tương Dương là Thái gia phải giao ra một nửa số đấy, sau vì điện hạ muốn tăng thêm trung nông, đã vài lần đến thăm hỏi Thái gia, cuối cùng họ mới chịu giao ra ngàn khoanh thổ địa, khiến Hán Vương điện hạ giận giữ, sau này khi lần đầu tiên xác định ngũ thượng thư, vốn là không chọn Tưởng Uyển mà là Thái Diễm, đây cũng là do quan viên ở Kinh Châu đề cử, dù sao Tưởng Uyển không đủ kinh nghiệm và lý lịch, nên khó có thể tranh thủ lợi ích cho Kinh Châu, nhưng ngươi biết vì sao cuối cùng lại không chọn Thái Diễm không?

- Bởi vì chuyện đất.

Phí Quan nói.

Giả Hủ chậm rãi gật đầu,

- Đúng vậy! Năm đó Thái gia đã không chịu giao đất ra, điều đó đã chọc giận Hán Vương điện hạ, nhưng bởi vì thời cuộc, nên Hán Vương đã không động đến Thái gia, nhưng cũng không có nghĩa là ngài ấy sẽ quên việc này, kết quả Thái Diễm đã không được chọn, năm trước còn phải thoái sĩ, không cách nào tiến xa hơn trong triều đình, còn có Thái Tiến, hiện giờ chỉ có đảm nhận chức Giáo Úy, rất khó để được thăng chức, còn có cả Thái Thiếu Dư, nghe nói là năm ngoái đã xuất giá rồi, ta chỉ có thể nói với Phí thượng thư đến đây thôi! Thái gia làm như vậy nên coi như là xong đời rồi, cũng chỉ vì bọn họ không chịu từ bỏ ruộng đất, nên khiến Hán Vương điện hạ tức giận, nếu Thái Tiến thông minh một chút mà đem số đất đó giao ra, thì có khi điện hạ còn nể mặt Văn Sính mà thăng y lên Thiên tướng quân.

Khuôn mặt của Phí Quan đã trở nên đỏ rực, tuy Giả Hủ đã nói rất đúng về Thái gia, nhưng Phí gia cũng gần như vậy, sau một lúc lâu y trầm giọng nói:

- Nhưng dù sao trong tay họ vẫn còn mấy ngàn khoanh thổ địa.

Giả Hủ cười lớn:

- Đã không có quyền lực, số đất trong tay bọn họ liệu còn giữ được? Phí thượng thư đã quên kết cục của Vân gia ở Ích Châu sao?

Phí Quan lập tức nhớ đến Vân Thiệu, ông ta vốn là thương nhân, nhưng sau này nhờ phúc của con gái, vì được Lưu Chương sủng ái nên đã nắm trong tay hàng trăm khoảnh đất tốt, nhưng cuối cùng cả gia đình đều biệt tăm biệt tích, đất đai thì bị quan phủ tịch thu.

Đây là sự thật, đã không có quyền lực, thì của cải cũng sẽ không bao giờ có, còn nếu không buông tha đất, thì Phí gia sớm muộn cũng sẽ đi theo vết xe đổ của Thái gia xưa, Phí Quan cắn răng hỏi:

- Nếu Phí gia nộp lại số đất kia, Giả công cảm thấy vị trí Tướng quốc kia của vãn bối có thể giữ được không?

Giả Hủ nói lâu như vậy, thực chất cũng chỉ muốn khuyên Phí Quan từ bỏ đất ở Thục Trung, thấy Phí Quan đã rơi vào thế bị động, liền cười nói:

- Phí thượng thư có thể tiếp tục làm Tể tướng hay không, ta không biết, nhưng nếu Phí thượng thư quyết không đi theo con đường của Thái gia xưa thì ta tin rằng trong 5 năm tới Phí gia nhất định sẽ xuất hiện một vị Tướng quốc.

- Ý Giả công là Phí Y cháu ta?

Giả Hủ híp mắt cười:

- Phí thượng thư không hiểu được lòng của người bề trên sao? Nước cờ này của Hán Vương đã ra rồi, là muốn xem xem liệu ngài và Phí gia còn có duyên kì ngộ hay không.

Phí Quan lẳng lặng gật đầu, cuối cùng y cũng hiểu rõ, Hán Vương vì sao lại cho Phí Y lên vị trí Trung Thừa, kỳ thật là để ướm trước với y, nếu Phí gia đồng ý giao lại chỗ đất kia, như vậy Phí Y có thể tăng lên một bước, còn nếu như y không biết điều, thì coi như vị trí Tể tướng khó lòng mà giữ được, Phí gia cũng sẽ dần dần xuống dốc, không đến 5 năm sẽ đi vào con đường của Thái gia.

Cho dù Phí Quan đã hiểu được rằng bản thân y không thể tiếp tục làm Tể tướng, nhưng vì không muốn đi theo con đường của Thái gia xưa nên y phải đưa ra quyết sách rồi, Phí Quan dù sao cũng là người thông minh, y thấy được tình thế hiện giờ thì nên làm gì, vậy nên đã hạ quyết tâm, y đứng dậy khom người thi lễ với Giả Hủ:

- Nếu sau này Phí gia có tiền đồ, toàn bộ là nhờ vào Giả công đã ban tặng, đại ân đại đức của Giả công, Phí gia sẽ khắc sâu trong tâm khảm.

Ngày hôm sau, Phí Quan chính thức dâng thư lên cho Lưu Cảnh, Phí gia nguyện ý nộp lại 10 ngàn khoảnh thổ địa ở Ba Thục, tám ngàn hộ điền nô được trở về làm dân thường, dưới sự vận động của Phí Quan, các quan ở Thục Trung đều dần dần tỏ ý giao lại những vùng đất trước đây được Lưu Chương ban cho.

Lưu Cảnh mừng rỡ, khen ngợi Phí Quan là hiền thần của Hán quốc, nói bách quan phải học theo Phí gia, ngay tại chỗ ban thưởng cho Phí gia thiết quyển.

Ba ngày sau, Lưu Cảnh ban bố lệnh Hán Vương, thăng Đổng Hòa làm Tư Đồ Hán quốc, thăng Phí Quan làm Vi Tư Không, hai người đều được phong làm Hương hầu, Đỗ Kỳ Và Bàng Thống lên làm Tể tướng, mặt khác Đổng Doãn và Phí Y đều được gia phong Đồng Trung Thư Môn Hạ Bình chương Sự, Phí Thi em trai của Phí Quan rời đi làm Thái thú Thục quận.

Đến lúc này, coi như Lưu Cảnh đã bước đầu hoàn thành xong việc đổi tướng, hoàn thiện hơn chế độ cân bằng quyền lực đa tướng.

Chương 1006: Thất chi tang du.

Lưu Cảnh lần thứ 5 đến Cổ Hòe phủ, Cổ Hòe phủ thực ra là Kiều phủ, là phủ là Lưu Cảnh cấp cho Kiểu Huyền và Đại Kiều, Cổ Hòe phủ cũng không rộng lắm, chỉ có tầm 8 mẫu, nhưng lại vô cùng nhiều cây cỏ, toàn bộ phủ được bao bởi một màu xanh ngắt, giống như là đang bị khóa lại trong một thế giới màu xanh vậy.

Lưu Cảnh đứng trước cửa một lúc lâu, tiếng mở cửa kêu ken két, một cô tiểu nha hoàn đi ra, nhìn xung quanh một lúc lâu rồi bỗng nhiên nhận ra đó là Lưu Cảnh, sợ tới mức cuống quýt mở cửa, cúi đầu khoanh tay đứng chào.

- Lão gia nhà ngươi có ở đây không?

Lưu Cảnh cười hỏi.

Tuy mục đích của hắn là tới tìm Đại Kiểu, nhưng lại không nói lên lời, nên chỉ có thể nói là tìm đến Kiều Huyền, tiểu nha hoàn lắc đầu:

- Lão gia đã đi Thục Trung rồi ạ, nô tì cũng không biết khi nào trở về.

Lưu Cảnh ồ một tiếng, đứng đó một lúc lâu, thấy tiểu nha hoàn không có ý mời vào phủ, liền cười nói:

- Vậy đi báo với chủ mẫu nhà ngươi một tiếng, nói ta đã đến rồi.

- Điện hạ chờ một chút ạ!

Tiểu nha hoàn lập tức chạy ngay vào bẩm báo, sau một lúc lâu hồng hộ chạy đến:

- Chủ mẫu nhà nô tì mời điện hạ vào trong nhà!

- Vậy làm phiền ngươi rồi!

Lưu Cảnh chỉ bảo mấy tên thị vệ đứng ngoài chờ, còn hắn thì đi theo tiểu nha hoàn vào phủ, đi thẳng tới hậu trạch, vào một tòa viện mà trong đó đủ loại thúy trúc, dòng nước ao xanh biếc chạy vòng quanh núi giả, trên núi có một toàn bát giác đình, bốn phía là đủ loại hoa có khác nhau, một đường mòn đầy đá xuyên qua theo đống hoa cỏ đó, có vẻ vô cùng thanh tĩnh, không khí tràn ngập hơi thở ngọt ngào.

Đây chính là viện tử mà Đại Kiều ở, đây là lần đầu tiên Lưu Cảnh tiến vào, không biết vì sao trong lòng hắn lại xuất hiện một sự chờ mong, Kiều Huyền không ở trong phủ, Đại Kiều lại mời hắn vào trong nhà, việc này là có ý gì hay sao?

- Điện hạ mời qua bên này!

Tiểu nha hoàn mời Lưu Cảnh vào chính đường, trong đó bố trí rất đơn giản, chỉ có 2 chiếc bàn nhỏ, trên mặt đất phủ nệm êm, còn lại là những đồ dùng khác, trên bàn nhỏ có bày một bình hoa sứ cổ men xanh, trong bình cắm hoa hải đường, hoa nở đương lúc đẹp, khiến cả gian phòng cũng tràn đầy sức sống.

- Điện hạ mời ngồi, chủ mẫu nhà nô tì sẽ tới ngay ạ!

Tiểu nhà hoàn có vẻ rất vội vã, ngay cả trà còn quên không mang lên, liền quay người chạy đi, Lưu Cảnh chỉ ngồi chốc lát, sau đó đi đến phòng bên cạnh mà chắc đó chính là phòng của Đại Kiều, cửa đóng một nửa, từ trong khe cửa nhìn thấy một thân ảnh quen thuộc, nàng mặc bộ váy dài màu trắng như tuyết, mái tóc buông xuống vai nhìn như thác nước, nàng đang ngồi ở trước gương đồng, cẩn trọng vẽ lông mày, vẫn rất từ từ, giống như là không vướng chút gì bụi trần vậy.

Dáng người thướt tha của Đại Kiều khiến Lưu Cảnh khó có thể kìm nổi mình, hắn chậm rãi đi vào trong phòng, lúc này Đại Kiều nhẹ nhàng nói:

- Ngài ngồi ở phòng khách không phải tốt hơn sao?

Lưu Cảnh ngồi xuống phía sau cười nói:

- Khi trước ở trên thuyền, nàng đã để ta giúp nàng vẽ lông mày.

Thân mình Đại Kiều khẽ chấn động, chậm rãi quay đầu lại, đôi mắt đẹp chăm chú nhìn Lưu Cảnh, trong lòng Lưu Cảnh như sôi lên, cầm tay nàng:

- Nàng không nên lạnh lùng với ta như vậy!

Đại Kiều muốn rút tay lại, thì lại bị Lưu Cảnh nắm chặt hơn, nàng cúi đầu nói nhỏ:

- Đó là chuyện không nên xảy ra, chúng ta không thể phạm sai lầm thêm nữa.

- Nhưng ta không thể quên được, ta luôn khắc cốt ghi tâm cảm giác đó!

Lưu Cảnh ôm Đại Kiều vào trong lồng ngực, cúi đầu hôn lên môi nàng.

- Không! Không được.

Đại Kiều cố dùng một chút lí trí cuối cùng để đẩy Lưu Cảnh ra, nhưng không thể nào kháng cự lại được với sức mạnh của Lưu Cảnh, hắn đưa tay thò vào quần áo của nàng, rồi vuốt ve thân thể mền mại ngọc ngà ấy, Đại Kiều cũng không thể chống cự nổi, toàn thân trở nên mềm nhũn, vào lúc Lưu Cảnh đang muốn cởi áo dài bên ngoài của nàng ra, nàng khẽ nói:

- Nếu người không muốn buông tha thiếp, thì xin hãy buông tha Giang Đông.

Lưu Cảnh toàn thân chấn động, thân thể như cứng lại, chậm rãi buông Đại Kiều ra, chăm chú nhìn nàng một láy, lạnh lùng nói:

- Nàng đến tìm ta, chính là vì chuyện Giang Đông?

Đại Kiều yên lặng mặc quần áo, quay lưng đi, một hồi lâu, nàng mới thấp giọng nói:

- Ta tìm người đúng là vì việc Giang Đông, nếu người đồng ý buông ta Giang Đông, ta sẽ nguyện làm theo ý người.

- Hừ! nàng định hy sinh chính bản thân mình sao? Vĩ đại thật, đúng là quá giỏi, vì cố quốc mà không ngại lấy thân quan hệ với địch, Lưu Cảnh ta biến thành một ông vua hoang dâm vô sỉ bạo quân sao, nàng nghĩ vậy phải không?

- Không phải như vậy!

Đại Kiều cả người phát run, bỗng xoay người, đôi mắt rơm rớm, nàng hô lớn:

- Nếu ta là nam nhân, ta sẽ lấy đao ra trận liều mạng với người, bỏ mình ở sa trường, nhưng ta không phải là nam nhân, và ta cũng không thể dương mắt nhìn cố quốc của mình bị diệt vong, người có hiểu không? Nếu có người muốn tiêu diệt Hán quốc, thê tử của người cũng sẽ phẫn nộ như ta mà thôi.

Lưu Cảnh nhìn Đại Kiều, sự tức giận trong mắt hắn cũng lập ức biến mất, hắn chậm rãi nói:

- Ta hiểu tâm tình của nàng, nhưng ta muốn nói cho nàng biết, lúc trước Thượng Hương cũng giống nàng, cầu xin ta buông tha cho Giang Đông, nhưng sau nàng ấy đã hiểu ra, quân Hán tieu diệt Giang đông, ngoại trừ Tôn thị phải chịu sự đau đớn ra, tất cả nhân dân Giang Đông đều khua chiêng gõ trống nghênh đón quân Hán đến, nếu nàng đứng ở lập trường của Tôn thị, ta không còn lời nào để nói, nhưng nếu đứng ở lập trường của quân Giang Đông thì nàng đã thật sự sai lầm rồi, sao nàng không đi ra ngoài rồi tự hỏi những người dân Giang Đông xem họ muốn gì? Là chiến loạn liên miên khiến gia đình ly tán, hay là một cuộc sống không còn chiến tranh và yên bình kia chứ?

Đại Kiều ôm mặt khóc, Lưu Cảnh thấy vậy ôm nàng vào trong lòng, thấp giọng an ủi nàng nói:

- Ta sẽ cố gắng không làm nàng phải khổ thêm nữa, Tôn Thiệu hiện giờ là Thái thú của Hán quốc, nàng biết không? Ta cũng không muốn đuổi tận giết tuyệt Tôn thị, vì Thượng Hương, vì nàng, ta đều đã nương tay.

Đại Kiều lao vào trong lòng Lưu Cảnh, buồn khóc nấc lên, Lưu Cảnh nhẹ nhàng vuốt ve mái tóc của nàng, không có nữ nhân nào khiến hắn khắc cốt ghi tâm, khiến hắn khó lòng dứt bỏ như Đại Kiều.

Qua một hồi lâu, Đại Kiều dần bình tĩnh trở lại, lấy khăn lau đi nước mắt, nàng thấp giọng nói:

- Người trở về đi! Ta không còn hận người nữa!

Lưu Cảnh gật gật đầu, lúc này dù cho hắn có tiếp tục nối tiếp mối duyên này thì cũng không phải lúc, hắn đứng dậy nói:

- Vậy ta về trước.

Lưu Cảnh vừa muốn đi, Đại Kiều bỗng nhiên gọi hắn lại:

- Cảnh công tử!

- Còn chuyện gì sao?

Lưu Cảnh quay đầu lại cười hỏi.

Đại Kiều đi lên trước, nhẹ nhàng tựa đầu vaò vai hắn, nhẹ nhàng nói:

- Ta cũng sẽ không hy sinh bản thân nữa, chàng cũng không phải là ông vủa hoang dâm vô đạo, chỉ là ta muốn cầu xin chàng.

- Ta biết những lời ta vừa nói chỉ là những lời cáu giận, ta hiểu chỗ khó xử của người.

Đại Kiều cúi đầu một lúc lâu, nàng bỗng kéo Lưu Cảnh đi vào bên trong phòng, bên trong ánh sáng gần như không có mấy, nàng vươn cánh tay ra ôm cổ Lưu Cảnh, hai mắt tròn mông long, đôi môi đỏ mọng như đón chào, Lưu Cảnh ôm chặt lấy eo của nàng, lại một lần nữa hôn lên đôi môi đó, hai người từ từ ngả xuống giường.

Sau nửa canh giờ, Đại Kiều đứng dậy mặc quần áo, quay đầu lại cười nói, rồi đi ra bên ngoài phòng, Lưu Cảnh dường như còn đang trong mộng, hắn có nghĩ thế nào cũng không thể tưởng tượng nổi, cuối cùng Đại Kiều chính là của hắn.

Lưu Cảnh chậm rãi ngồi dậy, mặc lấy quần áo và đi ra ngoài, nhìn thấy Đại Kiều đang ngồi trước gương đồng và chải tóc. Lưu Cảnh ngồi sau lưng nàng, ôm nàng vào trong ngực, Đại Kiều nằm gọn trong lồng ngực của hắn, nhẹ nhàng vuốt ve hắn, khuôn mặt cười khổ nói:

- Oan gia chàng đó, cuối cùng cũng để chàng được như ý rồi.

Lưu Cảnh cười nói:

- Nếu nàng không muốn, ta sao có thể ép được?

Đại Kiều đỏ mặt len lại thở dài nói:

- Chàng biết không? Tối hôm qua ta đã suy nghĩ rất nhiều, ta còn tìm một con dao găm, chờ chàng ngủ xong rồi thì sẽ giết chàng, sau đó ta cũng sẽ tự vẫn, như vậy Giang Đông cũng có thể được bảo vệ.

- Vậy sao nàng lại đổi ý?

- Ta đổi ý là vì không muốn Thượng Hương và Tiểu Kiều trở thành quả phụ, cũng không muốn các con của chàng không có cha, càng không muốn Hán quốc loạn lạc, dù sao cũng có rất nhiều người dân ủng hộ chàng.

- Chẳng lẽ không có nguyên nhân xuất phát từ phía nàng sao?

Lưu Cảnh cúi dầu hôn lên vành tai nàng và hỏi.

Khuôn mặt Đại Kiều càng thêm ửng đỏ, hơi thở cũng trở nên gấp gáp hơn:

- Có một chút, dù sao, dù sao…

- Dù sao cái gì?

Tay của Lưu Cảnh lại sờ lên vạt áo của nàng, cầm lấy ngọc nhũ của nàng, nàng, thủ thỉ.

- Dù sao chàng là người đàn ông thứ hai của ta, ta không muốn mất đi nữa.

Nói xong, cả người Đại Kiều run rẩy lên, lồng ngực trực nổ tung, hàm răng khẽ cắn lên đôi môi đỏ mọng, hai mắt mơ màng nhìn Lưu Cảnh, Lưu Cảnh hiều được sự chờ đợi của nàng, đưa tay ra ôm lấy thân mình cong cong của nàng, rồi ông nàng đi vào bên trong.

Mãi cho đến gần giữa trưa, Lưu Cảnh mới rời khỏi Kiều phủ, trở về cung Vị ương nghỉ ngơi, hắn cũng cảm thấy có chút mệt mỏi, nằm trên xe ngựa, hai tròng mắt khép hờ, trong đầu luôn hiện ra thân thể mềm mại cong cong của Đại Kiều, bên tai dường như còn văng vẳng tiếng nàng nói:

- Thiếp thân nguyện phụng dưỡng sứ quân, chỉ có điều cố thổ khó từ, chỉ mong chàng có thể hiểu nỗi lòng thiếp.

Lưu Cảnh cúi đầu thở dài một tiếng, hắn hiều được nỗi khổ tâm riêng của Đại Kiều, nàng dù sao cũng là chủ mẫu của Giang Đông, nếu để cho nàng làm thiếp, thiên hạ tất sẽ dị nghị, không chỉ tổn hại đến danh dự nàng, mà ngay cả danh dự của hắn cũng sẽ bị ảnh hưởng, sẽ bị gọi là tên vua hoang dâm, hậu quả khó lường!

Nhưng nếu bố trí cho nàng một nơi ở đặc biệt, lại cảm thấy có chút gì tổn thương Đào Trạm, tình cảm của Thượng Hương các nàng ấy khiến Lưu Cảnh cảm thấy khó xử, giờ hắn cũng không nghĩ ra cách nào, chỉ còn biết đi bước nào hay bước đấy, nhưng có một điều hắn vô cùng kiên định, đó chính là hắn tuyệt đối sẽ không từ bỏ Đại Kiều.

Chương 1007: Chuẩn bị đồ cưới.

Thời gian cũng đã gần đến tháng 6, ngày càng có nhiều sĩ tử kéo đến thành Trường An, nhưng vẻ ôn ào và náo nhiệt ban đầu lại biến mất, đám sĩ tử này đều đóng cửa ôn bài, trước khi đối mặt với kì thi này, cả thành Trường An trở nên yên lắng hơn nhiều.

Nhưng lúc này lại có một chuyện khác vô cùng thu hút sự chú ý của mọi người, chính là đám hỏi giữa hai nước Tào Lưu, điểm đặc biệt ở đây chính là khâu đón dâu.

Sứ giả của Lưu Cảnh và Tào Tháo Trần Quân đã định ra một khoảng thời gian, nhưng chi tiết mọi việc thì lại do Lễ bộ Thượng thư thương nghị với nhau, mặt khác hai bên cũng ước định, đại diện Hán Vương là Thượng thư Tư Mã Ý và Lễ Bộ thừa Triệu Lân, đến Nghiệp Đô để rước tân nương chính là Tào Hiến con gái của Tào Tháo.

Tới gần ngày hỷ, không chỉ có người ở Trường An trông ngóng đợi chờ, mà ngay cả Nghiệp Đô cũng trở nên náo nhiệt hơn, phố lớn phố nhỏ đều bàn luận việc con gái của Ngụy công sắp được gả đi, kỵ thật lý do mà mọi người lại quan tâm như vậy không phải là vì đám hỏi, mà là cục diện hai nhà bình ổn song song cùng tồn tại mà hai nước sẽ lập ra sau đó.

Nhưng rất nhiều người sáng suốt nhìn ra, chuyện đám hỏi lần này ý nghĩa cũng không phải là lớn, chỉ có điều Hán quốc vì muốn thống nhất phía nam mà muốn dùng thủ đoạn này để giải hòa, ít nhất cũng giữ được 2 năm hòa bình.

Hơn nữa đám hỏi Lưu Tào đã nói chuyện nhiều năm, nhiều lần bị gián đoạn, lần này cũng chỉ hơn cái là đã tiến hành ước định.

Đám hỏi lần này Trần Quần đóng một vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ có là ông ta chính là người đi phụ trách những chi tiết cụ thể, làm một sứ giả tống hôn, nên trong khoảng thời gian này là vô cùng bận rộn.

Sáng sớm hôm nay Trần Quần đã đi tới phủ phó Thừa tướng, phủ phó Thừa tướng cũng chính là phủ của thế tử Tào Phi, trước mắt, Tào Tháo không có nhiều thời gian để hỏi về việc triều chính thông thường, nên cả chuyện của quân đội cũng đã giao hết cho Tào Phi, đương nhiên, những việc đại quân trọng đại thì vẫn phải thông qua sự đồng ý của Tào Tháo.

Hằng ngày xử lý chính vụ cơ bản đều là do phủ Phó thừa tướng tiến hành, nên trong phủ vô cùng bận rộn, phụ tá xử lý công văn, đưa điệp văn và phê văn, bộn rộn không ngừng nghỉ.

Trần Quần đi thẳng đến sân trước phòng của Tào Phi, một gã thị vệ chắp tay cười nói:

- Thế tử đang đợi Trung thừa, xin ngài đi theo tôi.

Đi vào trong sân, lập tức có thị vệ bẩm báo lên đại sảnh, rồi lập tức có thị vệ đi ra nói với Trần Quần:

- Thế tử mời Trung thừa vào.

Trần Quần đi vào đại sảnh, chỉ thấy Tào Phi đang ngồi trước bàn phê duyệt điệp văn, Trần Quần vội vàng tiến lên chào:

- Vi thần tham kiến thế tử.

Tào Phi để bút xuống cười nói:

- Mời Trung thừa ngồi!

Trần Quần ngồi xuống, Tào Phi lật đống điệp văn đó lên, hỏi Trần Quần:

- Lần này Trung thừa đi Hán quốc, có đề xuất với đối phương việc Xuất định lệnh hay không?

- Vi thần quả thật đã nói với Từ Thứ chuyện này.

- Bọn họ nói sao?

Trần Quần suy nghĩ một lát, nói:

- Từ Thứ nói, khiến nhà quyền quý giao thổ địa và nhân khẩu ra là chuyện không hề dễ, chỉ dựa vào một đạo lệnh của Ngụy công thì khó làm nên chuyện gì, nên nhất định phải dùng thủ đoạn.

- Ngươi ví dụ ra xem?

Tào Phi vội hỏi.

Sở dĩ Tào Phi hay quan tâm đến chuyện này, là vì Đinh lệnh mà Ngụy quốc ban ra gặp phải rất nhiều sự ngăn cản, các quận huyện đều đưa lên tấu chương, nếu miễn cưỡng thực thi, sẽ khiến cho các môn hào gây loạn, ảnh hưởng đế Ngụy quốc, trên thực tế là không thể thi hành được.

Chuyện khiến Tào Phi thấy bất lực chính là tình hình thổ địa và nô lệ của Ngụy quốc hiện giờ vô cùng phức tạp, có người thì là được vương triều tiền Hán ban cho, có người là do Tào Tháo ban cho, cũng có người là tự mua, nếu như bắt họ chấp hành theo đinh lệnh, tất sẽ có người bị tổn hại đến lợi ích, đặc biệt là lợi ích của quân đội và của Tào Thị, Tào Tháo đã ban bố một tờ Đinh lệnh ra, sau đó để y thực thi, nhưng bản thân y cũng khó mà có thể làm gì.

Hiện giờ Tào Phi bị chuyện này làm cho vô cùng mệt mỏi, Tào Tháo thì đang chờ xem kết quả, mà y thì lại không có cách nào, chẳng lẽ lại đi nói với Tào Tháo rằng, năng lực và uy tín của y là không đủ, nếu vậy Tào Tháo sẽ nhìn y ra sao?

Tào Phi cũng nghe nói bên Hán quốc cũng có biện pháp như vậy, cũng đã làm khá thành công, vậy nên y cũng cảm thấy có chút hứng thú, hy vọng là có thể học được một số kinh nghiệm của bên đó.

Trần Quần cười khổ một tiếng nói:

- Thủ đoạn mà Từ Thứ nói, e rằng chúng ta khó mà thực thi.

- Ngươi cứ nói đi, rốt cuộc là thủ đoạn gì?

- Từ Thứ nói, đầu tiên là phải đi thăm dò tình hình rõ ràng, xem xem là ai chiếm bao nhiêu ruộng đất, chuyện này nhất định phải biết rõ, sau đó bắn tên theo đích, phải tìm đúng người mà trị, Hán quốc đã dùng Thái gia và Ích gia ở Kinh Châu làm bài học răn đe kẻ khác, tiếp sau thì ai nấy nghe theo, Hán Vương vốn dĩ là không có đất đai và nô lệ, các tướng cũng chủ động dâng lại đất và người, cuối cùng là thành lập chế độ phong thưởng, để cho các quan của Hán quốc có mất có được, như vậy mới có thể làm được.

Tào Phi liên tục gật đầu, những biện pháp này y đều đã từng nghĩ đến, trên thực tế, là những kẻ phía dưới không chịu thua, chiếm giữ nhiều đất nhất chính là gia tộc Tào Thị và Hạ Hầu thị, y sao có thể làm mạnh tay với bọn họ được?

Tào Phi thở dài một hơi nói:

- Có đôi lúc ta cũng hy vọng nơi này là Hán quốc, sẽ không có nhiều mối quan hệ phức tạp như vậy, chuyện gì cũng dễ làm, nhưng đối với chúng ta nó động đến lợi ích trực tiếp nên không làm được! Đầu tiên ra Đinh lệnh sẽ không bao gồm quân đội, nhưng nếu đại tướng quân đội không chấp hành, kẻ khác sao có thể phục được, tự nhiên ai nấy cũng sẽ mặc kệ, thực thi chưa được một tháng, các quận huyện đều lắng lại, cộng lại thì số nhân khẩu xuất ra lại chưa đến một vạn hộ, điều này khiến ta khó lòng mà bẩm báo với phụ thân.

Trần Quần ngẫm nhĩ một lúc nói:

- Thế tử chỉ cần bẩm báo những gì làm được là được, ta tin Ngụy công biết rõ chuyện này vô cùng khó, nên sẽ không làm khó Thế tử đâu.

- Ta cũng chỉ còn cách đó thôi.

Tào Phi liền không hỏi đến việc này nữa, chuyển đề tài khác cười nói:

- Hôm nay ta tìm Trung thừa đến, thật ra là muốn hỏi một chút về chuyện muội muội xuất giá, Trung thừa cảm thấy chuyện này còn có xảy ra biến cố nữa không?

Trần Quần cười nói:

- Lần này không giống với mấy lần trước nữa rồi, là đối phương chủ động đề cập, ta tin rằng hiện giờ Lưu Cảnh muốn tấn công Giang Đông và Giao Châu, thống nhất phía nam, nên hắn nhất định phải ổn định lại phương bắc, cho nên vi thần tin rằng đám cưới lần này sẽ thành công, tính ra, hai ngày này Tư Mã Ý nên đến Nghiệp Thành rồi.

- Lưu Cảnh không tự mình đến đón dâu sao?

- Ngụy công cũng hy vọng Lưu Cảnh có thể tự mình đến đón dâu, còn hứa là sẽ bảo đảm an toàn cho hắn, nhưng Hán quốc trên dưới đều phản đối, cho nên Lưu Cảnh chỉ có thể ra đón tân nương ở Bồ Tân quan, ta nghĩ vậy cũng tốt, hai bên đều không cần lo lắng.

Tào Phi trầm tư một lát, nói với Trần Quần:

- Chắc rằng hai ngày này phụ thân sẽ gọi Trung thừa đến bàn luận chuyện hồi môn sính lễ, lần trước hai muội gả cho thiên tử, phụ thân đều ra của hồi môn bắt buộc phải là lụa huyền, gấm vạn thước, ta lo nếu lần này lại như vậy, nói thật, chúng ta sao có thể đảm đương được, lần trước là tự mình đưa cho mình, lấy ra nhiều hơn cũng không sao, nhưng lần này là đưa cho Hán quốc, ta lo lắng.

Tào Phi không có nói thêm gì nữa, nhìn Trần Quần với vẻ đầy thâm ý, Trần Quần lúc này mới tỉnh ngộ, hóa ra là vì Thế tử lo việc đám cưới nên mới tìm đến mình, Trần Quần liền cười nói:

- Ta hiểu ý của ngài, xin thể tử yên tâm, ta sẽ khuyên bảo Ngụy Công đơn giản nhất có thể.

Tào Phi cười khổ nói:

- Khiêm tốn thì không thể nào, đơn giản hết sức đi!

Trần Quần đứng dậy cáo từ, Tào Phi tiễn ông ta ra ngoài, rồi lại trở về phòng của mình, khoanh tay đi qua đi lại trong phòng, Tào Phi là người vô cùng tán thành đám hỏi này, không quản lý việc nhà đâu biết củi gạo đắt, nếu y đã gánh vác cái nhà ngày, thì tất nhiên sẽ biết rằng Ngụy Quốc cần gì, cần nhất chính là thời gian để nghỉ ngơi lấy lại sức, hai năm có khi còn không đủ, phải cần 5 năm, như vậy Ngụy quốc mới có thể dần khôi phục nguyên khí.

Quả nhiên không ngoài dự liệu của Tào Phi, buổi chiều Tào Phi liền được phụ thân kêu đến Đổng Tước đài, để thảo luận với ông ta việc đám cưới, đương nhiên, Trần Quần cũng có ở đó, vậy nên có nhiều cái không cần Tào Phi phải nói ra rồi.

- Đứa mà ta đối xử không chu đáo nhất chính là đứa con gái này, nó ở trong nhà lâu như vậy, cuối cùng cũng đến lúc xuất giá rồi, ta không muốn cho nó chịu tủi hờn, Đào thị vợ của Lưu Cảnh thì không cần phải nói, đó là con của nhà giàu có bậc nhất thiên hạ, năm đó đồ cưới cũng khiến cả thiên hạ tròn mắt nhìn, đồ cưới cũng khoảng chừng một thuyền, cho nên đồ cưới của con gái ta, nhất định cũng phải giống với chính thê của Lưu Cảnh, hơn nữa phải làm lễ giống như đón chính thê vậy.

Tào Tháo nói thẳng thắn, gần như không có gì lòng vòng, còn nhìn thẳng vào phía Tào Phi, nói:

- Ta còn một điều muốn nói, nếu mà không đủ, thì sẽ dùng thêm tiền của kho phủ.

Tào Phi cúi đầu không dám phản bác, chỉ đáp lại:

- Hài nhi tuân mệnh!

Trong lòng của y lo lắng, hy vọng Trần Quần có thể thay mình giải vây, lúc này Trần Quần không chút hoang mang nói:

- Lòng yêu thương con cái của Ngụy Công thần vô cùng kính nể, tuy nhiên thần cảm thấy, của hồi môn nhiều chưa chắc đã tốt cho Hiến cô nương.

- Vì sao?

Ánh mắt của Tào Tháo chuyển sang Trần Quần, không hiểu hỏi.

- Lần này vi thần đã gặp được Hán Vương, trong lúc đó Hán Vương phi cũng đã xuất hiện, bà ấy đã nói cho vi thần biết rằng, Hán quốc khởi xướng đơn giản, vương phủ lại làm gương tốt, bất kể là vương phi hay thứ phi, đều phải sống cuộc sống dơn giản khiêm tốn, nên hy vọng việc cưới hỏi lần này không quá phô trương.

- Vậy thái độ của Lưu Cảnh thì sao?

Tào Tháo có chú mất hứng hỏi.

- Thái độ của Hán Vương và Hán Vương phi cơ bản là giống nhau, hắn nói nghi thức có thể long trọng nhưng sính lễ thì không cần nhiều, một khi cưới vợ mà quá mức xa hoa, thì sẽ xảy ra chuyện trên làm dưới theo, không có lợi cho Hán quốc, hơn nữa cũng sẽ gia tăng gánh nặng cho cả hai bên.

- Đó là lời hắn nói sao?

- Hồi bẩm Ngụy công, vi thần không dám giấu diếm, đây là những lời mà Hán Vương đã nói.

Tào Tháo trầm ngâm một lát, quay đầu lại hỏi Tào Phi:

- Ý của con ra sao?

- Hài nhi nguyện ý nghe theo lời phụ thân, tuy nhiên con có chuyện muốn làm rõ một chút.

- Chuyện gì?

- Chính là về việc đồ cưới vương phi Đào thị và thứ phi Tôn thị, không phải như lời mà phụ thân đã nói. Đồ cưới của Đào thị là chiến mã và lương thực, nhưng năm đó thực ra đó chỉ là cái cớ để Đào thị ủng hộ cho Lưu Cảnh, còn bản thân đồ cưới của Đào thị cũng không nhiều, còn về Tôn thị cũng không có chuyện một thuyền đồ cưới, chỉ có điều lâu thuyền đó có một tầng, hơn nữa phần lớn đều là binh khí mà Tôn thị thu thập được. Còn của hồi môn của Tôn thị chỉ có 40 chiếc rương, ở đây có ghi chép, còn về phần hồi môn của muội muội, kỳ thật con cũng không muốn muội muội thiệt thòi, hơn nữa cũng không muốn sau khi xuất giá muội muội phải chịu ủy khuất.

Câu nói sau cùng của Tào Phi chính là muốn nhắc nhở phụ thân, chính là không cần phải vượt quá đồ cưới của chính phi, nếu không muốn khiến cho Hán Vương phi bất mãn, như thế tương lai sau này cũng khó mà sống.

Tào Tháo chỉ là có tấm lòng yêu con, nghĩ muốn cho bản thân và con mình nở mày nở mạt, nhưng chuyện mà Trần Quần và Tào Phi đã nhắc nhở, ông ta cũng có chút thông suốt, nữ nhi hạnh phúc hay không không phải nằm ở đồ xuất giá, mà là sau này cuộc sống với Vương phi và thứ phi sẽ ra sao.

Nếu của hồi môn mà keo kiệt quá, sẽ khiến cho thiên hạ cười nhạo, nhưng nếu quá mức phô trương xa hoa, sẽ dẫn đến những kẻ đối địch trong phủ Hán Vương, như vậy con gái ta sau này sẽ khổ rồi, cho nên đồ cưới không được nhiều, nhưng cũng không được thiếu, mấu chốt là phải phù hợp với thân phận.

Đạo lý đối nhân xử thế này Tào Tháo đương nhiên hiểu, lão ta ngẫm nghĩ một lúc rồi quay sang nói với Tào Phi và Trần Quần:

- Làm như vậy đi! Nghi thức xuất giá phải thật long trọng, ít nhất ở Ngụy quốc phải được như vậy, mà đồ cưới thì phải ngang hàng với Tôn thị, chuyện này ta giao cho các ngươi, đừng để con gái ta phải chịu ủy khuất.

Trong lòng Tào Phi mừng thầm, vội vàng nói:

- Xin phụ thâm yên tâm, con sẽ thương lượng lại với mẫu thân, nhất định sẽ thu xếp thỏa đáng, để muội muội có thể nở mày nở mặt xuất giá.

Chương 1008: Đám hỏi Lưu Tào (Thượng)

Một ngày trước khi đội đón dâu đến Nghiệp Thành, Tào Tháo liền ra lệnh giăng đèn kết hoa, dọn dẹp đường phố, đội tiền trạm của Hán quốc sẽ vào thành trước một ngày, mỗi nhà đều được phát mười vạn tấm tiền hỷ, tiền tuy ít, nhưng việc này lại đưa đám hỏi Tào Lưu đến cao trào.

Buổi sáng ngày kế tiếp, đội đón dâu của Hán quốc đều đã đến Nghiệp thành, khiến cả thành trở nên chấn động, nhà nhà đều đổ ra xem, khiến hai bên đường chật cứng, Tào Tháo không thể không phái quân đội ra để duy trì trật tự.

Đến đón dâu mà Tư Mã Ý và Phó sứ Triệu Lân dẫn đầu đoán ngựa, đi theo sau là hơn mười tên tùy tùng, ở giữa là ba chiếc xe đón dâu, xe tuy không được hoa lệ, nhưng cũng rất rộng, hai bên còn có bộ binh hộ vệ, mặt sau là hơn mười chiếc xe lễ, còn có hơn mười cái hòm lớn được kết hoa, đây chính là sính lễ của Hán Vương.

Trên thực tế, từ năm kia, Tư Mã Ý đã hộ tống một đoàn mang xính lễ tới Thái Nguyên, kết quả đến nửa đường bị Hung Nô phục kích, sính lễ toàn bộ đều đã bị hỏa thiêu, đây là lần thứ hai đứa sính lễ đến, mọi thứ không có đắt lắm, chủ yếu là buộc các loại tinh vật may mắn.

Đây cũng là những gì mà trước đó Lưu Cảnh đã nói với Trần Quần, hai bên đều phải lấy đơn giản làm đầu, không được quá xa hoa, hàng đầu tiên của Tư Mã Ý đến thành, Trần Quần mang theo hơn mười quan viên ra đón.

- Cuối cùng cũng đã đón được Tư Mã thượng thư đến rồi, các vị đã vất vả nhiều.

Tư Mã Ý cười nói:

- Chúng ta vốn năm trước đã có thể tới rồi, kết quả là làm trễ nải tận một năm, hy vọng lần này có thể hoàn thành viên mãn đám hỏi của hai nước.

- Chúng tôi cũng hy vọng sẽ không xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn, Tư Mã Thượng thư xin mời theo ta đi vào dịch quán nghỉ ngơi đã, sáng mai chính thức làm lễ xuất giá.

Tư Mã Ý cười lớn:

- Dựa theo phong tục, thì phải đi một vòng thành trước, rồi sau đó mới phiền sứ quân.

Trần Quần không còn cách nào.cười nói:

- Tôi xin đi theo thượng thư.

- Làm phiền Trần sứ quân rồi.

Đoàn đón dâu bắt đầu lần lượt đi quanh thành, khiến cả thành như trấn động.

Hậu điện cung Đổng Tước, một tên tiểu nha hoàn chạy vào, đến viện tử của Tào Hiến, từ xa đã nhảy lên hô lớn:

- Cung chủ, bọn họ đến rồi!

Tào Hiến đang ngồi trong phòng đọc sách, thấy tiểu nha hoàn kích động như vậy thì nhíu mày, đi ra khỏi phòng nói:

- Ngươi đang ở đây gào thét cái gì, ai tới rồi hả?

- Cung chủ, đội đón dâu đến rồi, người phải xuất giá rồi.

Trong lòng Tào Hiến như chấn động, nhưng rồi cũng trấn tĩnh được quát nha hoàn:

- Đây cũng đâu phải là chuyện lớn gì, sao phải loạn lên thế, ngươi không nhớ những gì ngày thường ta dạy ngươi sao?

Tiểu nha hoàn sợ quá cúi đầu, không dám hé răng nửa lời, Tào Hiến lại nói:

- Ngươi đi trước đi! Không cho ngươi đi nói lung tung đâu đấy.

- Nô tì biết rồi ạ.

Tiểu nha hoàn lè lưỡi, lặng lẽ đi xuống, trong lòng Tào Hiến thì vô cùng rối loạn, hôn sự của nàng đã được bàn từ bốn năm trước, kéo dài đến nay, không biết đã trải qua biết bao gian nan vất vả, cuối cùng cũng đến lúc nàng phải đi theo con đường đó, ngày mai thôi nàng sẽ phải rời xa cha mẹ, đi đến Trường An, bắt đầu cuộc sống mới, nàng cảm thấy lo lắng cho tương lai mính au này.

Nàng từng gặp Lưu Cảnh, cũng đã sống một thời gian cùng các Vương Phi của hắn, Lưu Cảnh đúng là người chồng trong mộng, cao lớn, tuổi trẻ tài cao, Vương Phi lại vô cùng hiền hậu, nhưng dù sao hai nước Ngụy Hán đã giao tranh mấy năm nay, là hai nước đối địch, nàng được gả cho địch quốc, không biết rằng sẽ có kết quả ra sao? Nàng cũng không dám nghĩ nhiều.

Lúc này, Tào Hiến chợt nhận ra, đằng sau mình là mẫu thân, Biện phu nhân đứng ở cửa đã lâu, nàng vội vàng tiến lên thi lễ:

- Mẫu thân, người tới rồi?

Tào Hiến tuy không phải là do Biện phu nhân sinh ra, nhưng cũng là do bà ta một tay nuôi nấng, hai mẹ con tình cảm sâu đậm, Biện phu nhân cũng hiểu rõ, nên rất yêu thương nàng, bà giữ chặt tay của nàng, vuốt vuốt mái tóc con, cười nói:

- Ngày mai con phải xuất giá rồi, nên đương nhiên là mẹ muốn đến thăm.

Tào Tháo cay cay đầu mũi, nước mắt lăn dài trên má, rúc vào trong lòng mẫu thân, khóc không ra tiếng:

- Con không muốn rời xa mẫu thân.

- Ngốc quá con đừng nói vậy! Năm nay con cũng đã 21 rồi, nếu không xuất giá, đương nhiên làm mẹ sốt ruột chết mất, mẹ đã chờ, cuối cùng cũng chờ đến ngày con xuất giá rồi.

Biện phu nhân lấy tay đỡ con ngồi xuống, cười nói với nàng:

- Đêm nay mẹ muốn dạy con về đạo vợ chồng, tuy nhiên, mẹ cũng muốn nói với con những chuyện khác nữa.

Tào Hiến đỏ mặt lên:

- Xin mẫu thân chỉ dạy.

Biện phu nhân chậm rãi nói:

- Lần này con xuất giá cũng phải chịu nhiều thiệt thòi, không thể làm chính thê, cũng may địa vị của Hán Vương không thấp, nếu có làm thứ phi, tương lai không chừng con vẫn có thể làm quý phi.

Nói đến đây, Biện phu nhân lại nhỏ nhẹ nói:

- Những lời này chỉ có mẹ con chúng ta biết thôi, đừng để cho cha con biết được.

- Con hiểu, mẫu thân không cần lo lắng.

Biện phu nhân lúc này mới nói tiếp:

- Nhân phẩm của Hán Vương ta có nghe qua, là người tuổi trẻ tài cao, là vị hôn phu tốt, nhưng cũng vì hắn là Hán Vương, nên nữ nhân bên cạnh cũng sẽ không ít, điểm này con không cần để tâm.

Tào Hiến yên lặng gật đầu, Biện phu nhân lại dặn dò:

- Thật ra chuyện ta lo lắng nhất không phải là Hán Vương đối xử với con như nào, mà là Hán Vương phi, còn có Tôn thứ phi, các nàng ấy đã đi theo Hán Vương nhiều năm, ở trong phủ cũng có gốc rễ, con ngàn vạn lần không được dựa vào địa vị của phụ thân mà bất kính với họ, họ tuy xuất thên không cao, nhưng đều là vợ kết tóc xe duyên với Hán Vương, con cai slaij được lập làm thế tử, địa vị vững chắc, con không bao giờ có thể thay thế được.

Tào Hiến cầm tay của mẫu thân cười nói:

- Mẫu thân yên tâm đi! Con gái quen Đào phu nhân và Tôn phu nhân, sống cùng họ rất tốt, chắc chắn sẽ không xảy ra mâu thuẫn.

Biện phu nhân thở dài nói:

- Con là đứa con tốt, hiền lành thông minh, lại đẹp nữa, mẹ luôn yên tâm về con, nhưng chỉ sợ con nhất thời hồ đồ.

- Con sẽ không thế!

- Không thế là tốt rồi.

Biện phu nhân lại chậm rãi nói với con:

- Cuộc hôn nhân giữa con và Hán Vương tuy là vì mục đích chính trị, nhưng mẹ hy vọng con sẽ không để ý điều này, hãy luôn nghĩ mình là một người vợ đàng hoàng, chăm sóc tốt cho chồng mình, hơn nữa không có cha mẹ chồng, tình yêu của chồng giành cho con sẽ quyết định hạnh phúc và vịt rí trong tươgn lai sau này, nhớ kỹ, con không nên làm ảnh hưởng đến chính trị hai nước, sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh và tính mạng của con, nhất định phải nhớ kỹ những lời mẹ nói.

Biện phu nhân hai lần nhắc lại câu “Ngàn vận lần” vì bà là người từng trải, cho dù Hán Vương có đòi hỏi gì đối với con bà, nhưng trong lòng bà hiểu rõ, nếu tương lai nữ nhi không muốn bị liên lụy bởi quốc nạn, thì chỉ có cách đi theo con đường này, bà mặc kệ thiên hạ sẽ ra sao, đó là chuyện của đàn ông, bà chỉ để ý đến con gái mình, nhất định phải có một cuộc hôn nhân tốt.

Tào Hiến nhẹ nhàng gật đầu:

- Những lời mẫu thân dặn, con sẽ ghi nhớ trong lòng.

Ngày hôm sau, đội rước râu của Hán quốc đã đi đến cung Đổng Tước, trên quảng vường tiếng pháo vang ầm ầm, như tiếng thúc giục mau lên đường, Tào Hiến mặc bộ đồ hỷ vào, đầu đội mũ phượng, thắt dây lưng, chân đi họa kịch, nàng được hai thị nữ đỡ đến đại sảnh, cào biệt phụ thân và mẫu thân.

- Con gái sắp phải đi rồi, mong cha mẹ bảo trọng thân thể, con ở phương xa sẽ cầu chúc cho hai người!

Tào Hiến nghĩ đến thân thể của cha mẹ mình, chỉ e là ngày của họ không còn nhiều lắm, chuyến đi này chỉ sợ là vĩnh viễn, nói xong lời cuối, nước mắt nàng lã chã rơi, thanh âm nghẹn ngào.

Trong lòng Tào Tháo cũng có chút thương cảm, nhưng con gái xuất giá là chuyện vui, không thể làm mất hứng được, nên cố gắng nở nụ cười nói:

- Lần này con được gả đến Trường An, làm vợ người ta, ăn nói phải biết cẩn trọng, kính trọng chồng, còn phải sinh con dưỡng cái, nối dõi tông đường, phải biết thủ đức, không được làm cha mẹ mất mặt đâu.

- Con gái nhớ kỹ lời phụ thân nói rồi!

Lúc này, ngoài cung hô to:

- Giờ lành đã đến, tân nương ra ngoài!

Tào Hiến kéo chặt tay của cha mẹ mình, khóc lớn lên:

- Phụ thân, nữ nhi không còn được hầu hạ người!

Tào Tháo tròng mắt rưng rưng, giãy tay ra quát:

- Con gái của Tào Tháo ta, sao có thể có thái độ đó, đi thôi!

Tào Hiến quỳ xuống, đập đầu ba cái với cha mẹ, lúc này mới che mặt mà đi, Tào Tháo nhìn con gái đi xa, không khỏi thở dài một tiếng.

Tào Tháo phái ra ba nghìn kị binh để hộ tống nữ nhân, năm ngày sau, đoàn đón dâu cuối cùng cũng đến Bồ Tân quan, bên ngoài Bồ Tân quan là chiếc cầu nổi treo bằng dây sắt, mấy trăm binh lính quân Tào chậm rãi bảo vệ chiếc xe ngựa qua cầu.

Tào Tháo nhìn nước sông Hoàng Hà chảy cuồn cuộn bên ngoài, trong lòng có chút đượm buồn, đã qua Hoàng Hà, như vậy là tiến vào Hán quốc rồi, lúc này, Tào Hiến cũng đã bình tĩnh trở lại, trong nội tâm nàng giờ có chút thấp thỏm không yên, không biết rằng Lưu Cảnh sẽ đối xử với nàng ra sao?

Xe ngựa đi qua cầu treo bằng dây, lúc này đã có hai ngàn quân kỵ binh chờ bên đó, quân Tào và quân Hán chào nhau, kỵ binh quân Tào rời đi, còn xe ngựa thì tiến vào thành nhờ sự hộ vệ của Kỵ binh quân Hán.

- Phu nhân, Hán Vương đích thân đến nghênh đón người.

Tư Mã Ý ở bên cạnh xe ngựa nói.

Tào Hiến nhẹ nhàng kéo một bên màn trúc lên, thì thấy Hán Vương Lưu Cảnh đã ở cách đó mấy chục bước cưỡi ngựa chờ nàng, mặc một bộ quân phục mới tinh, chân đi giày bó, trông rất oai hùng, tim nàng bỗng loạn nhịp lên, đập mạnh, nàng vội buông màn xuống.

Lúc này, Lưu Cảnh giục ngựa tiến lên cười nói:

- Mọi người đi đường vất vả rồi.

Đoạn đường này Tào Hiến đã vô cùng vất cả, dựa theo tập tục trong hôn nhân, ở cửa chính trước khi vào nhà chồng, nàng không được xuống xe ngựa, năm ngày chỉ sống trong xe ngựa, cũng may tâm tính nàng điềm tĩnh, tuy vất vả mệt nhọc nhưng cũng không than phiền.

Tào Hiến ở trong xe thấp giọng đáp:

- Cảm tạ tướng quân ngàn dặm ra đón.

Lưu Cảnh cười, nói:

- Ta đã sắp xếp xong doanh trước ở phía trước, mọi người nghỉ trong đó một đêm, đường đến Trường An còn ba ngày nữa, nếu cứ ở trong xe ngựa như vậy, chắc chắn sẽ rất khó chịu.

Trong lòng Tào Hiến vô cùng cảm kích, cũng có chú rể mới có khả năng sắp xếp để cho cô dâu có thể nghỉ giữa đường, mà không phạm phải tập tục hôn nhân, nàng thấp giọng đáp:

- Đa tạ tướng quân đã an bài.

Cách đó không xa về phía trước, là trăm chiếc lều lớn nhỏ đã được chuẩn bị, Lưu Cảnh đúng là rất chu đáo, ba chiếc đại trướng ở giữa đều dùng màn che bao lại, được bảo vệ bởi hơn 20 nữ hộ binh, cô dâu cũng không cần chỉ ngồi trong doanh trướng, có thể đi ra ngoài nữa.

Xe ngựa của Tào Hiến đi đến chỗ màn che, dừng lại trước lều, phu xe và đám lính đều lui xuống, hai thị nữ chầm chậm giúp Tào Hiến xuống xe ngựa, nàng duỗi thẳng người ra, một cảm giác thật thoải mái, lúc này, nàng vừa quay đầu lại thì phát hiện Lưu Cảnh đã đứng cách đó không xa, cười nhìn nàng, mặt nàng đỏ lên, xấu hổ vội chui và lều lớn.

Trong thâm tâm nàng bỗng nhiên toát ra một ý nghĩ, chẳng lẽ tối nay, ở trong này... nàng sẽ động phòng cùng người đó sao?

Chương 1009: Đám hỏi Lưu, Tào (hạ)

Chuyện Tào Hiến lo lắng đã không xảy ra, ba trướng lớn đều được chuẩn bị cho nàng ta, Lưu Cảnh dường như không có ý nghĩ vào ở cùng. Tất nhiên nỗi lo lắng của Tào Hiến cũng chỉ thoáng qua thôi, chưa bái đường thành thân, với thân phận của Lưu Cảnh thì hắn sao có thể nóng vội như vậy được?

Ban đêm, hai thị nữ thu dọn quần áo ở trong trướng, Tào Hiến ngồi trong trướng cảm thấy nhàm chán nên đứng dậy đi ra ngoài. Mặc dù đã là đầu hè tháng sáu nhưng ban đêm không nóng mà thậm chí còn có gió mát hiu hiu.

Trời đêm trăng sáng, bầu trời đầy sao dường như dệt thêu vô số những viên ngọc lên khung trướng màu đen. Tào Hiến nhìn lên bầu trời đầy sao, dường như nàng đang quay trở về thời thiếu nữ của mình. Lúc đó, nàng cảm thấy hiếu kỳ với bầu trời đêm sao biết nhường nào.

Những chuyện năm xưa như hiện lên trong tâm trí nàng, từng ký ức đều khiến nàng khó có thể quên được. Lúc đó những ký ức cũng giống như vô số vì sao, luôn trỗi dậy trong lòng, bất giác, nàng nhìn chúng một cách si mê.

- Hình như nàng rất thích các vì sao?

Cách đó không xa vọng lại tiếng cười khẽ, Tào Hiến giật mình, quay đầu lại, chỉ thấy Lưu Cảnh đang đứng dưới một tán cây nhỏ, cách hơn chục bước, khuôn mặt mang theo nụ cười nhìn nàng.

Mặt nàng lập tức đỏ bừng lên :

- Sao chàng lại vào được đây?

Lưu Cảnh chậm rãi đi lên trước, cười nói:

- Có nữ binh hộ vệ đến báo cho ta biết, trên cây có điều khác thường nên ta vội đến xem sao!

- Điều gì khác thường?

Tào Hiến lo lắng nhìn về phía hai cây lớn.

- Là một con mèo rừng! Có lẽ là do chúng ta đã chiếm “địa bàn” của nó.

Lưu Cảnh đi đến bên cạnh Tào Hiến, hắn chăm chú nhìn cây đại thụ một lát, chỉ vào bóng trắng thoắt ẩn thoắt hiện trên cây, cười nói:

- Nàng nhìn thấy không, chính là con mèo rừng trắng đó, nó luôn ở trên cây lén lút nhìn.

Tào Hiến cũng thấy rồi, là một chú mèo rừng không to lắm, đang nhảy qua nhảy lại giữa các cây đại thụ. Mấy nữ hộ vệ giơ cung định bắn thì Tào Hiến vội quay đầu nói với Lưu Cảnh:

- Đừng làm hại nó, được không?

Lưu Cảnh gật đầu, khoát tay gọi một nữ hộ vệ lại, dặn dò vài câu. Nữ hộ vệ lập tức chạy đi ra lệnh cho những người bắn tên.

Lúc này, Lưu Cảnh chỉ vào phía nam, cười nói:

- Bên ngoài là một con sông nhỏ, rất yên tĩnh, chúng ta đến đó đi dạo chút đi!

Tào Hiến lặng lẽ gật đầu, đi theo Lưu Cảnh ra khỏi trướng, mấy nữ binh đi ở phía sau. Bên ngoài trướng quả nhiên có một con sông nhỏ, nước sông “êm dịu” chảy vào rừng sâu xa xôi. Bên kia bờ sông có hơn chục trướng lớn, các binh sĩ đều đã lần lượt tránh đi rồi.

Màn đêm thật yên tĩnh, hai người sánh vai đi dạo bên bờ sông. Trải dài bên bờ sông là những khóm hoa nở rộ màu trắng xóa, nhưng đêm đến, những khóm hoa cũng lặng lẽ “thu mình”.

- Tướng quân cũng thích bầu trời đêm sao?

Tào Hiến thấp giọng hỏi.

Lưu Cảnh ngẩng đầu nhìn về phía những ngôi sao trên bầu trời, cười nói:

- Thần bí nhất chính là những ngôi sao đó, dường như cách chúng ta rất gần, gần đến mức có thể chạm tay tới; nhưng lại cách chúng ta rất xa, xa đến mức chúng ta không thể tưởng tượng nổi. Bất luận ở sâu trong nơi tăm tối cỡ nào, nhưng khi hiện ra trước mắt chúng ta, chúng lại luôn mang vẻ lấp lánh, trong sáng.

Tào Hiến cũng dịu dàng nói:

- Hồi nhỏ, thiếp luôn suy nghĩ, phía cuối chân trời sẽ là gì? Có phải là một bức tường hay không, nhưng thiếp lại không nghĩ được, phía sau bức tường sẽ là cái gì?

- Phía sau tường sẽ lại là một bầu trời sao khác, giống như chúng ta vậy. Cũng có cùng một Lưu Cảnh và một Tào Hiến khác, có lẽ bọn họ cũng đang đi dạo bên bờ sông này.

- Có thể như vậy sao?

Tào Hiến kinh ngạc nhìn Lưu Cảnh, trong đôi mắt đẹp lóe lên tia sáng lấp lánh như bảo thạch..

Lưu Cảnh gật đầu:

- Những bí mật của trời sao nhiều vô kể, không phải điều ta và nàng có thể hiểu được. Nó bao hàm tất cả, nhưng tất cả những việc chúng ta muốn có được thì đều có thể tồn tại ở đó, chúng ta có thể thỏa sức tưởng tượng nhưng cũng đừng vì tưởng tượng hết sức mà bỏ lỡ những điều tốt đẹp trước mắt.

Trong lòng Tào Hiến có chút rung động, nàng quay đầu lại nhìn Lưu Cảnh thì chỉ thấy trong mắt Lưu Cảnh sáng ngời, đắm đuối nhìn nàng. Lúc đó, mặt Tào Hiến nóng ran, chầm chậm cúi đầu xuống, khẽ mân mê vạt áo mình.

Lưu Cảnh từ từ nâng cằm thon nhỏ của Tào Hiến lên, nàng thẹn thùng nhắm mắt lại. Lưu Cảnh chăm chú nhìn dung nhan tuyệt trần của nàng rồi cúi đầu hôn lên đôi môi nhỏ. Tào Hiến toàn thân chấn động, nắm chặt tay Lưu Cảnh, thân thể nàng trở nên tê cứng lại, căng thẳng đến mức cả người run rẩy.

Lưu Cảnh mỉm cười, biết nàng vẫn chưa chuẩn bị sẵn sàng liền buông nàng ra. Tào Hiến cắn chặt môi dưới, cảm giác căng thẳng dần dần biến mất. Nàng đột nhiên cảm thấy nụ hôn ban nãy đẹp đến nhường nào, trong lòng nàng chỉ có sợ hãi chứ không hề cảm nhận được cảm giác đẹp đẽ đó.

Hai người không nói gì nữa, sánh bước đi chầm chậm bên bờ sông. Không biết đi được bao lâu, họ đã đi cách xa doanh trướng rồi. Phía trước xuất hiện hai tảng đá lớn, trơn nhẵn bằng phẳng giống như chuẩn bị trước cho bọn họ vậy. Lưu Cảnh chỉ vào tảng đá lớn, cười nói:

- Chúng ta ngồi xuống một chút đi!

Tào Hiến khẽ gật đầu, ngồi xuống. Lưu Cảnh ngồi bên cạnh nàng, cầm lên hai viên đá nhỏ rồi ném ra giữa sông.

- Tướng quân!

Tào Hiến nhìn chăm chú vào mặt nước, thấp giọng hỏi:

- Tướng quân có thật sự muốn lấy thiếp không?

- Sao nàng lại hỏi câu này?

Lưu Cảnh thản nhiên, cười nói.

- Đây là câu hỏi thiếp luôn nghĩ đến và cũng là khúc mắc trong lòng thiếp.

- Khúc mắc gì, nàng nói ra xem, ta sẽ giúp nàng gỡ bỏ nó.

Tào Hiến cắn chặt môi, một lúc lâu mới thấp giọng nói:

- Chàng... không sợ... thiếp sẽ thừa dịp chàng ngủ say mà giết chàng sao?

Lưu Cảnh khẽ mỉm cười:

- Thì ra là điều này!

- Thiếp nói thật lòng đó!

Tào Hiến quay đầu lại, nhìn chăm chú vào Lưu Cảnh, ánh mắt chứa đầy nỗi buồn khó hiểu:

- Có rất ít người đi cưới con gái của kẻ thù, mà cho dù có cưới thì cũng chỉ là hình thức thôi. Chàng cưới thiếp, phải chăng cũng là...

Lưu Cảnh cầm tay nàng, nhẹ nhàng nói:

- Ta cũng từng có nỗi lo lắng như vậy, cưới con gái địch quốc thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Vì vậy, ban đầu, lúc phụ thân nàng phái người đi sứ Thành Đô đề cập đến chuyện này, ta đã khéo léo từ chối. Nhưng bây giờ ta đã không còn nỗi lo lắng này rồi.

- Tại sao vậy tướng quân?

- Bởi vì đại thế đã định! Cứ coi như nàng giết ta thì ta vẫn còn con trai, còn có hàng chục vạn mãnh tướng cũng đều có thể tấn công Nghiệp Đô. Tới lúc đó, gia tộc Tào thị nhà nàng hay gia tộc Hạ Hầu đều sẽ bị giết hết. Ta nghĩ nàng là người con gái có lý trí, sẽ không để cả gia tộc bị tận diệt vì việc làm của mình.

Tào Hiến giãy giụa thoát ra khỏi tay của Lưu Cảnh, nhìn chăm chú vào mặt nước, một lúc lâu mới nói:

- Những lời chàng nói thật đáng sợ, thật khiến người ta đau lòng.

- Sự thật là thế, nếu như nàng trốn tránh hiện thực thì những khúc mắc trong lòng nàng mãi mãi không thể gỡ bỏ được. Có lẽ nàng không biết, năm đó, Thượng Hương công chúa thiếu chút nữa đã đâm ta một đao.

Tào Hiến thét lên một tiếng kinh ngạc:

- Tỷ ấy làm vậy thật sao?

- Không phải sau khi thành thân mà là trước khi thành thân. Trong trận chiến Sài Tang, ta đã bắt được nàng ấy. Trên thực tế, khi vẫn còn là thiếu nữ, nàng ấy đã muốn đoạt ngựa của ta nhưng thất bại. Vì việc này, nàng ấy vẫn hận ta bao nhiêu năm.

- Nhưng... Tình cảm giữa chàng và tỷ ấy rất tốt mà!

- Đó cũng là vì nỗi khúc mắc của nàng ấy đã được gỡ bỏ, nàng ấy đã bằng lòng làm thê tử của ta, bất luận nước Hán và Giang Đông có đánh nhau thế nào thì cũng không thể thay đổi sự thật nàng ấy là thê tử của ta. Hiến nhi! Nàng phải hiểu một điều, trước khi xuất giá, nàng mang họ Tào, nhưng sau khi xuất giá, nàng phải vái lạy từ đường Lưu gia, con nàng sinh ra cũng sẽ mang họ Lưu. Chỉ cần nàng hiểu được điều này thì nàng sẽ không làm ra những chuyện ngốc nghếch.

Tào Hiến cắn môi, thấp giọng nói:

- Thật ra thiếp rất hiểu, thiếp cũng sẽ không bao giờ làm những chuyện ngốc nghếch đó, chỉ là thiếp sợ...

- Sợ sau khi ta cưới nàng về, sẽ đày nàng vào lãnh cung, chỉ coi nàng là thê tử trên danh nghĩa?

Lưu Cảnh tiếp lời, cười nói.

Tào Hiến nhẹ nhàng gật đầu:

- Vâng!

- Ngay cả một cô gái như nàng ta cũng không có được thì ta còn có thể có được cả thiên hạ không?

Lưu Cảnh cười sảng khoái, đứng lên nói:

- Quay về thôi! Nàng nên nghỉ sớm đi!

Tào Hiến vẫn còn đang ngẫm nghĩ về câu nói của Lưu Cảnh “Ngay đến một cô gái như nàng mà ta cũng không có được thì ta còn có thể có được cả thiên hạ nữa không?”. Trong lòng nàng bỗng nhiên có một cảm giác vui mừng, những khúc mắc luôn đè nặng trong lòng bỗng có thể gỡ bỏ một chút rồi.

Lúc này, Lưu Cảnh đưa tay về nàng. Trong lòng Tào Hiến có một sự thay đổi kỳ diệu, nàng thẹn thùng cúi đầu, đưa tay cho Lưu Cảnh nắm.

Lưu Cảnh đỡ nàng không hề buông tay nàng ra, mà trực tiếp ôm nàng vào lòng, ánh mắt nhìn nàng say đắm.

Lúc này, Tào Hiến không còn sợ hãi nữa, nàng khẽ nhắm mắt lại, trong lòng tràn đầy mong đợi. Bỗng nhiên, nàng cảm nhận được môi Lưu Cảnh hôn nồng nhiệt lên đôi môi nàng, một cánh tay có lực ôm lấy thắt lưng nàng. Nàng cảm thấy như có một luồng nhiệt xông thẳng lên đỉnh đầu, cuối cùng nàng cũng cảm nhận được cảm giác tuyệt vời này, toàn thân nàng mềm nhũn ra, hồn phách “bay lên chín tầng mây”, dường như đang hòa làm một với bầu trời đầy sao.

Môi lưỡi như quấn lấy nhau, họ hôn nhau thật nồng nhiệt, không biết sau bao lâu mới từ từ tách ra. Tào Hiến cúi đầu thở nhẹ, nàng phát hiện không ngờ mình đã nằm trên thảm cỏ rồi.

Tào Hiến thẹn thùng vùi mình vào trong lòng Lưu Cảnh, để mặc hắn ôm chặt lấy mình. Nàng đột nhiên cảm động đến mức muốn khóc, nàng đã yêu sâu đậm người đàn ông này rồi, người sắp trở thành chồng của nàng.

Lưu Cảnh cũng không “tiến thêm bước nữa” mà chỉ ôm nàng nằm như thế, khiến nàng cảm nhận được cảm giác tuyệt đẹp của hai người yêu nhau.

Nằm một lúc lâu, lông mi dài của Tào Hiến khẽ động, nàng mở mắt ra, thấp giọng nói:

- Tướng quân! Thiếp thấy hơi lạnh!

Lưu Cảnh gật đầu:

- Vậy chúng ta về thôi!

Hắn ôm Tào Hiến đứng lên, hai người ôm nhau rồi từ từ đi về doanh trướng, trước doanh trướng, Tào Hiến không chịu buông tay Lưu Cảnh ra. Nàng cứ say đắm nhìn Lưu Cảnh như vậy, trong ánh mắt bỗng thắp lên một nỗi chờ mong.

Không thể phủ nhận, Tào Hiến có một vẻ đẹp khác. Khí chất thanh tao mà yên bình, dung mạo đoan trang mỹ miều, dáng người rất cao nhưng lại thon thả cân đối. Nàng có làn da trắng mà căng mịn, đặc biệt nàng có đường cong nữ tính, tất cả những điều này đều có sức hút mãnh liệt với Lưu Cảnh.

Lưu Cảnh ôm nàng vào lòng, thấp giọng nói bên tai nàng:

- Đêm nay ta sẽ ở lại đây!

Mặc dù điều này không phù hợp với lễ giáo nhưng tình cảm của con người lại không chịu sự trói buộc của những lễ giáo kia. Cứ coi như Tào Hiến là phụ nữ đoan trang nhưng nàng ta cũng có tình ý sâu đậm của riêng mình.

Có lẽ đã cảm nhận được sự ngọt ngào của tình yêu, nàng đã mở lòng, có lẽ là không nỡ rời xa phu quân, cũng có thể nghĩ đến mình đã là người của Lưu Cảnh nên Tào Hiến chỉ do dự một lát rồi thẹn thùng gật đầu. Một canh giờ trước khi nàng đồng ý, nàng vẫn không chấp nhận yêu cầu này, bây giờ đồng ý thật khiến Lưu Cảnh vui mừng, hắn liền ôm nàng vào trong trướng.

Trong trướng, hai thị nữ sớm đã biết điều mà “trốn” ở trướng khác, đã trải sẵn sàng chăn đệm dày. Hai người lại hôn nhau một lần nữa, Tào Hiến đã mở lòng, nàng chủ động ôm cổ Lưu Cảnh, cuồng nhiệt hôn hắn. Lưu Cảnh giơ tay ra tắt nến, dần dần cởi quần áo của nàng ra rồi vuốt ve thân thể ngọc ngà của nàng, hệt như đang khơi dậy xuân tình xử nữ của nàng.

Tào Hiến thở nhẹ, liều mình ôm chặt lấy Lưu Cảnh, hai người dần dần ngã vào chăn. Trong trướng, Tào Hiến không biết “trời cao đất dày” trao thân cho Lưu Cảnh. Vốn chỉ là một đêm định ngủ lại ngẫu nhiên, không ngờ lại trở thành đêm động phòng hoa trúc của họ.

Chương 1010: Tị Thử Sơn Trang.

Việc Tào, Lưu liên hôn được truyền đi rất náo nhiệt ở nước Ngụy nhưng Trường An cũng náo nhiệt không kém. Trong lúc xe ngựa đón dâu vào thành đã làm cho toàn thành chấn động, hơn mười vạn người ở hai bên đường phố nghênh đón con gái Tào thị đến.

Mặc dù tất cả nghi thức vô cùng long trọng náo nhiệt nhưng hôn lễ lại vô cùng đơn giản, không có phô trương xa hoa, càng không có tiệc rượu, cũng từ chối lễ vật của bách quan.

Trong tiếng cổ nhạc vui tai, Tào Hiến được nghênh đón vào phủ Hán Vương, cùng Lưu Cảnh bái đường thành thân. Một vài quan viên quan trọng được mời đến buổi lễ, tất cả nghi thức hôn lễ đơn giản mà náo nhiệt. Sau khi bái đường thành thân xong, Tào Hiến đã chính thức trở thành Thứ phi của Hán Vương.

Trong hôn nhân triều Hán, các quan lớn vương hầu phần lớn đều có năm thê bảy thiếp, ngoài chính thê, cũng không phải mỗi người phụ nữ đều có địa vị giống nhau. Nói chung, ‘sính tắc vi thê, bôn tắc vi thiếp’; nói cách khác, theo lục lễ đón dâu, cưới vợ phải có đủ lễ nghi, còn thiếp thì không cần bất kì nghi lễ nào, chỉ lặng lẽ vào phủ.

Nhưng đối với các quan lớn vương hầu mà nói, rất nhiều người cưới thiếp cũng có những nghi thức long trọng như vậy. Giống như Đổng Trác lấy quả phụ của Hoàng Phủ Quy về, quy mô tổ chức rất lớn, hôn lễ gây chấn động Lạc Dương.

Vì thế giữa các ‘thiếp’ cũng có sự khác nhau. Các quan viên đặt ra lễ nghi thì trong ‘thiếp’ chia ra một loại rất có địa vị được gọi là ‘dắng’ (tức thiếp, vợ lẽ), ngoài chính thê, ‘thú tắc vi dắng, bôn tắc vi thiếp’ (tức là có cưới hỏi đàng hoàng thì mới gọi là vợ lẽ, bằng không thì gọi là hầu thiếp).

Trước khi Lưu Cảnh vẫn chưa được phong làm Hán Vương thì Tôn Thượng Hương chính là ‘dắng’ còn Tiểu Bao nương là thiếp. Nhưng khi Lưu Cảnh được phong làm Hán Vương, lại được nghi thức như Đông cung, như vậy thì thê thiếp của Lưu Cảnh cũng có địa vị không giống với những người bình thường.

Theo như quy chế nhà Hán thì chỉ có Đào Trạm mới có thể xưng là Vương phi còn những thê thiếp còn lại chỉ có thể xưng là Lương đễ và Nhụ tử. Nhưng trên thực tế, trên dưới nước Hán đều gọi Tôn Thượng Hương là Thứ phi. Lần này Tào Hiến xuất giá, theo như thống nhất của hai bên thì Tào Hiến cũng được gọi là Thứ phi.

Nhưng Tào Tháo lại không muốn thế, lão xin Thiên tử hạ chiếu, liệt Thứ phi vào nội quan, bổng lộc hơn hai ngàn thạch, sắc phong con gái mình là Tào Hiến và Tôn Thượng Hương là Thứ phi của Hán Vương, Kiều thị và Bao thị làm Lương đễ. Như vậy địa vị của Tào Hiến sẽ cao hơn Tôn Thượng Hương, Tào Hiến là Tả thứ phi, Tôn Thượng Hương là Hữu thứ phi, đây cũng là suy tính sâu xa của Tào Tháo.

Nhưng trong phủ Hán Vương lại không tính đến địa vị chính thức này, trong phủ Hán Vương có quy tắc riêng. Theo như thứ tự chỗ ngồi vào bữa tối thì Đào Trạm ngồi ghế đầu tiên, Tôn Thượng Hương ngồi ghế thứ hai, vị trí của Tào Hiến ở ghế thứ ba, Tiểu Kiều ghế thứ tư và Bao Nương ở ghế thứ năm.

Còn về các con thì ngoài Thế tử Lưu Trí nhất định phải ngồi ở ghế đầu tiên thì các con khác có thể tùy ý mà ngồi, không cần trật tự nào.

Đây là quy định chung trong phủ Hán Vương, Tôn Thượng Hương thật sự vẫn cao hơn Tào Hiến một bậc, tất nhiên Tào Hiến cũng không có điều gì bất mãn cả. Nàng ta không chỉ kính trọng Đào Trạm mà đối với những tỷ muội khác cũng kính trọng như vậy, đều gọi họ là tỷ.

Sự thông minh nhanh nhẹ của Tào Hiến cũng nhận được sự yêu mến của mọi người, rất nhanh họ đã có thể hòa hợp được với nhau.

Đặc biệt quan hệ của Tào Hiến và Tôn Thượng Hương rất tốt. Minh Nguyệt Lâu nàng ta ở và Vọng Hồ Các của Tôn Thượng Hương khá gần nhau, chỉ cách mấy chục bước nên ngày ngày họ đều đến thăm nhau.

Thoắt cái đã đến hạ tuần tháng sáu, Tào Hiến được gả vào phủ Hán Vương cũng sắp được hai mươi ngày, nàng đã dần dần quen với mọi người trong phủ. Nhưng mùa hè ở Trường An rất nóng, nóng hơn Nghiệp Đô rất nhiều, khiến cho Tào Hiến cũng không thích ứng lắm với khí hậu ở Trường An.

Cũng may trong phủ có hầm băng, trong khe tường tiểu lâu nàng ở có đặt khối băng nên làm cho trong phòng mát hơn rất nhiều, Tào Hiến cũng không chịu xuống lầu, hầu như đều ở trong phòng.

Buổi trưa hôm đó, trời nóng ngột ngạt, thân mình vừa nhúc nhích đã cảm thấy toàn thân toát mồ hôi. Tào Hiến vẫn ở trong phòng mình như mọi khi, nàng ngồi trước cửa sổ đọc sách, tay cầm quạt tròn, phe phẩy vài cái.

Lúc đầu về làm vợ người ta, Tào Hiến rất được phu quân sủng ái, sống trong hạnh phúc an nhàn thấy thời gian trôi nhanh, khiến nàng cảm thấy mãn nguyện với cuộc sống hôn nhân này. Cảm giác bất an và lo lắng ban đầu dần dần biến mất, tâm tư nàng đều nghĩ đến phu quân, nhưng lại có một ý nghĩ, nếu như phu quân thật sự thống nhất được thiên hạ thì nàng cũng có thể chấp nhận.

Cuộc sống hôn nhân dần dần đi vào ‘quỹ đạo’, phu quân cũng không thể hàng đêm chỉ ở bên cạnh nàng ta, giống như Bao Nương thích ẩm thực, Tiểu Kiều thích âm nhạc, Tôn Thượng Hương lại đam mê thu thập các loại binh khí, còn Đào Trạm thì phải quản lý tất cả mọi việc lớn nhỏ trong phủ. Mỗi người đều có việc của riêng mình, Tào Hiến cũng bắt đầu tìm hứng thú và đam mê cho bản thân.

Tào Hiến rất thích đọc sách, cũng cất giữ thẻ tre và trục thư đầy hai gian phòng. Trong hơn một trăm hòm rương của hồi môn của nàng thì hơn nửa là sách, đây mới chỉ là những sách nàng hay đọc.

Cũng may, Minh Nguyệt Lâu có nhiều gian phòng trống, nàng ta đã viết thư về nhà để phụ thân gửi tất cả sách đến đây.

Lúc này, thị nữ ngoài cửa cười nói:

- Nhị phu nhân đến rồi!

Đó là Tôn Thượng Hương đến, Tào Hiến vội đặt sách xuống, ra nghênh tiếp, đúng lúc gặp Tôn Thượng Hương bước vào. Nàng vội cười, khoác cánh tay của Tôn Thượng Hương nói:

- Trời nóng thế này mà sao nhị tỷ lại ra ngoài thế?

- Tính cách ta không giống muội, ta không ở trong phòng mãi được. Nếu ta là muội, lúc đến Trường An ngồi trong xe ngựa mấy ngày mấy đêm, ta sớm đã bị phát điên rồi.

Tôn Thượng Hương lấy khăn tay ra lau mồ hôi, rồi nhìn Tào Hiến một cái, cười nói:

- Trông muội xinh đẹp yểu điệu hơn lúc mới đến đấy, xem ra “người đó” rất biết cách chăm sóc muội!

Trước nay, Tào Hiến chưa bao giờ ứng phó với kiểu nói đùa như thế này nên nàng ta lập tức xấu hổ đến mức đỏ bừng mặt lên. Nàng nhéo tay của Tôn Thượng Hương, ngượng ngùng nói:

- Nhị tỷ nói lung tung gì vậy?

Tôn Thượng Hương ngồi xuống cười nói:

- Lúc ta mới được gả đến đây, ta cũng thẹn thùng như muội vậy, lâu rồi, da mặt cũng dày lên, về sau muội cũng sẽ vậy!

Tào Hiến ngồi đối diện với Tôn Thượng Hương, rồi thấp giọng hỏi:

- Muội viết thư cho phụ thân, phu quân sẽ không giận chứ!

- Không đâu! Cảnh lang sẽ không để ý đến những chuyện như vậy đâu! Chỉ cần muội đừng nói đến việc quốc gia đại sự thì dù cho một ngày muội viết một trăm lá thư cũng không sao!

Tào Hiến gật đầu, buồn bã nói:

- Muội vẫn luôn nghĩ rằng cuộc hôn nhân này của mình là cuộc hôn nhân chính trị, nhất định sẽ là một bi kịch. Nhưng sau khi được gả đến đây thì phát hiện ra mọi chuyện không giống như muội nghĩ, chỉ có thể nói, trước đây muội suy nghĩ quá trẻ con.

Tôn Thượng Hương cầm tay nàng, thở dài nói:

- Suy nghĩ của muội không trẻ con đâu, thật ra ta cũng giống muội. Cuộc hôn nhân của ta cũng là hôn nhân chính trị, chỉ là chúng ta may mắn, gặp được vị hôn phu “đặc biệt”. Chàng không để ý đến xuất thân của chúng ta ra sao mà thật lòng coi chúng ta như người thân, giúp chúng ta thoát khỏi nỗi bất hạnh của cuộc hôn nhân chính trị và có được cuộc hôn nhân đúng nghĩa. Hiến muội! Mối nhân duyên này đến được không hề dễ dàng gì, ta và muội đều phải học cách trân trọng nó.

Tào Hiến yên lặng gật đầu:

- Muội hiểu!

- Được rồi! Tỷ muội ta không nói đến những chủ đề đau đầu này nữa, hôm nay ta đến là muốn nói cho muội nghe một tin tốt lành. Ngày mai chúng ta sẽ xuất phát đếnTị Thử Sơn Trang, hôm nay muội hãy mau chóng thu dọn đồ đạc đi!

Tào Hiến ngạc nhiên kêu lên một tiếng, vội nói:

- Nhưng sách của muội nhiều như vậy, làm sao thu dọn được? Còn nữa, mấy ngày nữa phụ thân sẽ chuyển sách của muội đến đây, muội không ở đây thì phải làm sao?

- Những thứ này thì muội không cần lo, đợi lát nữa bà quản gia sẽ chuyển mười mấy hòm rương đến đây. Muội hãy đặt những thứ mà muội cần mang đi vào trong đó, mang ít sách đi một chút, đến lúc cần thêm gì nữa thì sai người về lấy, dù sao cố gắng mang những gì cần thiết, hòm rương thì bọn họ sẽ tự mang đi.

Lúc này, Tào Hiến mới thở phào nhẹ nhõm, hỏi:

- Chúng ta phải đi bao lâu, ở đâu ạ?

- Chắc chưa đầy hai tháng! Trước tiết Bạch lộ mới về, nghe nói ở Ung huyện, vốn là sơn trang hoàng thất, có núi có sông, phong cảnh tuyệt đẹp, hơn nữa vô cùng mát mẻ, ta thật sự không thể chờ được nữa rồi!

Sau khi Phí gia giao nộp đất không lâu thì nước Hán liền tiến hành phân đất lần đầu tiên. Những người dân bình thường đều có vĩnh nghiệp điền, mỗi đinh nam đinh nữ có tám mươi mẫu, người nhập ngũ được thêm năm mươi mẫu quân điền, điều này đã thực hiện rất nhiều năm ở nước Hán.

Tất nhiên các quan viên và các tướng lĩnh cũng có vĩnh nghiệp điền của mình. Vĩnh nghiệp điền đối với các võ tướng mà nói được phân theo tước vị và quân chức, còn quan văn thì dựa vào kinh nghiệm quan trường và chức quan cao thấp.

Nói chung, đất của quan viên có năm nguồn, một là sản nghiệp tổ tiên, loại này được nước Hán thừa nhận nhưng có hạn chế. Đó là không thể vượt quá tiêu chuẩn vĩnh nghiệp điền, phần thừa ra phải nộp lên.

Tiếp theo đó là vĩnh nghiệp điền, tiêu chuẩn này một khi định ra thì không thay đổi, cũng nghiêm cấm mua bán, có thể kế thừa qua nhiều thế hệ. Nếu như con nối dõi chết, hơn nữa không chỉ định được người kế thừa thì vĩnh nghiệp điền đó sẽ thuộc về quan phủ.

Nguồn thứ ba là mua, đất có thể mua bán gọi là sản điền. Ngoài vĩnh nghiệp điền thì thông thường những đất mới khai hoang hoặc đất có được từ việc mở rộng lãnh thổ như đất Linh Châu và Hà Tây đều thuộc loại sản điền.

Còn thứ tư là người lập nhiều công trạng nên được ban thưởng đặc biệt, đất ban thưởng trích từ quan điền, giống như các đại tướng Triệu Vân, Hoàng Trung, Cam Ninh và Văn Sính đều nhận được ban thưởng ở những mức độ khác nhau.

Thứ năm thì khá đặc biệt, đó chính là chức phận điền, đất phân theo chức quan. Mỗi chức quan đều có chức phận điền tương ứng, thu hoạch ở đó tất cả đều thuộc về quan viên. Trên thực tế chính là một loại trợ cấp chức vụ, một khi quan viên từ quan thì ruộng này sẽ phải giao hồi.

Chế độ đất đai đều vô cùng phức tạp, ở đây cũng chỉ đơn giản nói vài câu. Lưu Cảnh làm Hán Vương, vĩnh nghiệp điền mà hắn có được là một nghìn khoảnh, ngoài ra còn có năm trăm khoảnh chức phận điền.

Vĩnh nghiệp điền của Lưu Cảnh ở núi Thần Du, Ung huyện. Nơi này vốn là hành cung nghỉ mát của vương triều Tây Hán, cũng là sơn trang trên mặt đất của Hoàng đế qua các triều đại.

Vùng đất một nghìn khoảnh rộng lớn, đất canh tác chỉ chiếm một nửa, một nửa khác là dãy núi Cô Phong với phong cảnh vô cùng thanh tú đẹp đẽ. Dòng nước xanh biếc giống như chiếc đai ngọc vắt ngang qua núi, trên núi có thác nước, những tảng đá hình thù kì lạ cùng với đại thụ ‘che trời’. Trên núi vốn có một hành cung, trải qua mưa gió hàng trăm năm, sớm đã không được tu sửa, đã sụp đổ hầu như không còn gì.

Tuy nhiên ở đây, năm ngoái sớm đã được Lưu Cảnh chọn làm vĩnh nghiệp điền của mình rồi. Hành cung trên núi được xây dựng lại, bốn phía chân núi còn đóng rất nhiều quân đội, và có trăm hộ tá điền phụ trách trồng trọt gần năm trăm khoảnh ruộng tốt.

Trải qua quãng đường dài một ngày trời, Hán Vương Lưu Cảnh dẫn theo người nhà dưới sự bảo vệ của mấy nghìn hộ vệ, dồn dập đi đến điền trang.

Lưu Cảnh ngồi trên ngựa, chỉ vào non xanh nước biếc ở phía xa cười nói với vợ con:

- Núi đó gọi là núi Thần Du! ruyền thuyết kể rằng có một vị thần tiên đi qua đất này, rơi một miếng ngọc bội từ trong túi áo ra, hóa thành ngọn núi này, sông nhỏ dưới núi chính là sợi tơ buộc trên miếng ngọc bội đó.

Mọi người đều chen nhau đứng ở trước cửa sổ nhìn về lên núi, chỉ thấy sườn núi có mây mù che phủ, địa hình núi đẹp lạ kỳ, tràn đầy linh khí, bạch hạc vờn bay trong núi, dường như là chốn thần tiên ngự trị.

Mọi người cùng kinh ngạc, bọn họ thật không ngờ ngọn núi này lại đẹp như vậy. Đào Trạm than thở:

- Đây thật là chốn bồng lai tiên cảnh!

Lưu Cảnh thấy người nhà đều thích nên trong lòng hắn không khỏi đắc ý, rồi cười nói:

- Đây là nơi ta đã tìm kiếm rất lâu rồi, bây giờ đã là vĩnh nghiệp điền của ta, cũng là nơi ở khác của chúng ta, hy vọng mọi người đều thích.

Lúc này, Đào Trạm chợt nhớ tới một chuyện liền cười nói với Lưu Cảnh:

- Đại Kiều nói hôm nay người không được khỏe, không thể đi cùng chúng ta được, ngày mai thiếp sẽ đón muội ấy đến!

Chương 1011: Niềm vui khôn xiết.

Lưu Cảnh ngẩn người, Đại Kiều ngã bệnh rồi sao? Hắn bỗng nhiên có chút áy náy, vì cưới Tào Hiến mà trong thời gian này không thể quan tâm đến Đại Kiều được, thật không ngờ nàng ấy lại ngã bệnh.

Lần này dời nhà đến điền trang nghỉ mát, tất nhiên hắn cũng muốn đưa Đại Kiều đi cùng, bèn sai Đào Trạm sắp xếp. Thật không ngờ nàng ấy lại ngã bệnh, hắn phải đi thăm nàng ấy mới được.

Lưu Cảnh hỏi Tiểu Kiều:

- Tỷ tỷ của nàng không khỏe sao?

Tiểu Kiều lắc đầu:

- Thiếp cũng đã lâu không nhìn thấy tỷ tỷ, cũng không biết tỷ ấy ngã bệnh.

- Thôi được rồi, chúng ta lên núi trước đã!

Lưu Cảnh tạm thời để Đại Kiều lại, đưa người nhà ngồi ba xe ngựa vào điền trang. Trong điền trang là một ruộng lúa rộng mênh mông, lúa sắp chín, giống như một biển lúa màu vàng óng ánh, một trận gió thổi đến, lúa đung đưa nhấp nhô, trông rất đẹp.

Lũ trẻ đều vui mừng khôn xiết, lần lượt nhảy xuống xe ngựa, nô đùa trong ruộng lúa. Đào Trạm và các tỷ muội cũng xuống xe ngựa, tận hưởng cảnh tượng hùng vĩ này.

- Đại tỷ! Thật kỳ lạ!

Tiểu Kiều cười nói với Đào Trạm:

- Cùng dưới cái nắng gắt như vậy nhưng ở đây mát hơn Trường An rất nhiều, gió cũng mát mẻ hơn.

- Ta cũng cảm thấy có chút kỳ lạ! Có lẽ là do ngọn núi này?

Đào Trạm nhìn lên trên núi, đứng ở dưới chân núi, nàng ta mới cảm nhận được sự hùng vĩ của ngọn núi này, quả là một ngọn núi lớn.

Lúc này, Đào Trạm bỗng nhiên nhìn thấy có rất nhiều người từ phía trước đi đến, nàng liền hô lên với Lưu Cảnh:

- Phu quân! Phía trước có người đến!

- Chắc là tá điền! Ta đi nói với họ vài câu!

Lưu Cảnh mang theo mười mấy tên binh lính lên nghênh đón, tá điền ở đây nghe nói Hán Vương đem theo gia quyến đến đây nên mang theo cả vợ con đến nghênh đón. Những tá điền này đều là những người dân ở gần đó, bản thân họ cũng có đất, cũng không sống trong điền trang.

Vì sức lao động của họ dư thừa lại muốn kiếm thêm chút tiền nên mới đến trồng ruộng của Hán Vương. Nhưng bọn họ không cần lương thực mà để tùy Lưu Cảnh cấp một phần tiền cho họ.

Hơn mười bậc trưởng giả tiến lên quỳ trước Lưu Cảnh:

- Tiểu dân bái kiến Hán Vương điện hạ!

Lưu Cảnh vội vàng đỡ những người già đứng lên, cười nói:

- Các vị lão trượng không cần đa lễ, hôm nay ta đưa gia quyến đến đây nghỉ mát, hai tháng tới đây phải làm phiền mọi người rồi.

- Điện hạ đừng nói như vậy, nơi đây là đất phong của điện hạ, chúng thần nhận phúc ấm của điện hạ, cảm kích còn không kịp.

Lưu Cảnh gật đầu, nói với mọi người:

- Hình như thu hoạch lương thực vụ hè năm nay rất tốt!

- Năm nay tốt hơn năm ngoái, năm ngoái là tiểu niên, thu hoạch không tốt. Còn năm nay là đại niên, thu hoạch ít nhất là tăng ba phần so với năm ngoái. Sau khi thu hoạch xong lúa mạch, sẽ trồng tiếp ngô, tin rằng mùa thu lại là một mùa thu hoạch tốt nữa.

Lúc này Đào Trạm đi tới cười hỏi:

- Xin hỏi mấy lão trượng, lúa mạch khi nào thu hoạch?

Một cụ già nhận ra Đào Trạm, vội nói:

- Khởi bẩm Vương phi, ba ngày nữa sẽ bắt đầu thu hoạch!

Đào Trạm quay đầu cười nói với Lưu Cảnh:

- Đến lúc thu hoạch lúa mạch, chúng ta cùng đi giúp được không?

Câu nói này làm mười mấy cụ già sợ hãi, vội xua tay nói:

- Không được đâu Vương phi! Thu hoạch lúa không chỉ mệt mà ánh nắng mặt trời chiếu xuống, Vương phi sẽ không chịu được đâu!

Lưu Cảnh cũng không muốn thê tử của mình thu hoạch lúa, hắn nghĩ một chút rồi cười nói:

- Trí nhi đã từng đi thu hoạch lúa, có thể để nó thay mặt cả nhà đi, thời gian không cần dài quá, một ngày là đủ.

Đào Trạm cũng không biết nỗi vất vả của việc thu hoạch lúa, nàng muốn đi cũng chỉ vì nghĩ đây là ruộng lúa nhà mình thôi. Nhưng phu quân đã không đồng ý nên nàng đành phải vứt bỏ ý nghĩ đó, gật đầu nói:

- Vậy thì vất vả cho Trí nhi rồi!

Tạm biệt xã nông, mọi người bắt đầu lên núi, ở đây vốn là hành cung triều Hán, đang được tu sửa để có đường lên núi. Mặc dù chỉ có thể ngồi xe ngựa đến sườn núi, mấy trăm bước đường sau đó thì phải đi bộ lên núi, nhưng trong núi mát mẻ hợp lòng người, phong cảnh thanh tú đẹp tươi. Mọi người trên đường đi ngắm cảnh đẹp cũng không thấy mệt, bất giác đã lên được đến đỉnh núi.

Trên đỉnh núi đã sửa xong biệt cung, tầm mười mẫu. Mặc dù không phải huy hoàng tráng lệ nhưng đình đài lầu các tu sửa rất tao nhã, có một ý vị khác. Lúc này, những rương hòm to nhỏ đều được chuyển vào biệt cung, Đào Trạm đã sắp xếp phòng của mỗi người, mọi người đều bận bù đầu lên.

Lưu Cảnh phải về Trường An để xử lý việc triều đình, liền sắp xếp xong xuôi phòng vệ, dặn dò Đào Trạm mấy câu, lúc này, hắn mới quay về Trường An dưới sự hộ vệ của mấy trăm kỵ binh.

Lưu Cảnh trở về thành Trường An, cũng không trực tiếp về Vị Ương cung mà đến phủ Cổ Hòe trước. Bệnh tình của Đại Kiều khiến hắn có chút lo lắng nhưng Lưu Cảnh cũng thầm cảm nhận được, bệnh của Đại Kiều có lẽ là tâm bệnh, có lẽ nàng ấy không muốn sống chung với người nhà mình.

Lúc này Kiều Huyền đã rời khỏi Ba Thục rồi lại đến Kinh Châu thăm bạn bè. Trong phủ chỉ còn lại một mình Đại Kiều, tiểu nha hoàn Hỷ nhi bên cạnh Đại Kiều đưa Lưu Cảnh vào bên trong. Đi đến nơi ở của Đại Kiều rồi Hỷ nhi lập tức lui ra.

Lưu Cảnh chậm rãi đi vào, hắn đã ngửi thấy mùi thuốc sắc, điều này làm Lưu Cảnh ngạc nhiên, lẽ nào Đại Kiều thật sự đã ngã bệnh. Hắn đi thẳng vào phòng của Đại Kiều, chỉ thấy nàng ngồi trước cửa sổ, trong tay cầm chiếc quạt nhỏ.

Thấy Lưu Cảnh bước vào, Đại Kiều cười nói:

- Thời tiết nóng quá, thiếp không đứng dậy nghênh đón người được rồi!

Lưu Cảnh đi lên trước, ngồi xuống trước mặt Đại Kiều, nắm lấy tay nàng, có chút oán trách, nói:

- Sao nàng không đến điền trang nghỉ mát?

Đại Kiều thấy trán và mũi Lưu Cảnh đều là mồ hôi liền lấy tay lau mồ hôi và dịu dàng cười nói:

- Thiếp có chút hổ thẹn với Vương phi, không dám đi gặp tỷ ấy nên không đi!

- Nàng có gì phải hổ thẹn với nàng ấy? Chỉ cần nàng bằng lòng thì bất cứ lúc nào, nàng cũng có thể bước vào phủ nhà ta.

Đại Kiều lắc đầu:

- Đây không phải là vấn đề vào phủ hay không mà Vương phi đối đãi với thiếp như tỷ muội, thiếp lại có quan hệ không minh bạch với phu quân của tỷ ấy. Thiếp biết, chàng có thể có nhiều thê thiếp nhưng ít nhất giấu diếm Vương phi là điều khiến thiếp hổ thẹn.

Lưu Cảnh vừa muốn mở miệng thì nghe thấy Hỷ nhi ở bên ngoài nói:

- Phu nhân! Thuốc đã sắc xong rồi!

Đại Kiều vội vàng rút tay về, nói với Hỷ nhi:

- Thuốc cứ để ở bên ngoài, ta sẽ đến ngay.

Lưu Cảnh đứng dậy đi ra ngoài, một lát sau bưng vào một bát thuốc nóng. Hắn đặt thuốc lên bàn, nhướn mày hỏi:

- Nàng bị ốm sao?

- Cái này thì phải hỏi chàng rồi!

Lưu Cảnh ngẩn người ra:

- Câu này là có ý gì?

Đại Kiều kéo Lưu Cảnh lại, nằm rạp người vào lòng hắn, hai cổ chạm nhau, chỉ thấy nàng ta thấp giọng nói:

- Trong bụng thiếp đã có cốt nhục của chàng rồi, chàng nói xem thiếp phải làm sao?

Lưu Cảnh mừng rỡ, ôm chặt nàng:

- Nàng thật sự... Thật sự đã mang thai con của ta rồi?

Đại Kiều có chút hờn dỗi đẩy hắn ra:

- Cái gì mà mang thai con của ta, lẽ nào thiếp còn có quan hệ bất chính với người khác sao?

Lưu Cảnh hưng phấn, xoa xoa tay, nói:

- Ta không có ý đó, ta muốn nói là, nàng đã có tin vui rồi?

Trên mặt Đại Kiều cũng lộ ra nét vui mừng, cúi đầu thấp giọng nói:

- Mấy ngày nay thiếp thấy trong người khó chịu, hôm qua đã mời đại phu đến khám. Cuối cùng đại phu nói thiếp đã có tin vui, rồi kê mấy thang thuốc dưỡng thai cho thiếp. Haiz! Trong lòng thiếp vừa vui vừa lo lắng.

- Nàng lo lắng gì vậy?

- Nàng nói đi, nàng lo lắng điều gì?

Đại Kiều tức giận nói:

- Thiếp đang thủ tiết giữ mình nhưng bây giờ lại mang thai, chàng bảo thiếp còn biết giấu mặt vào đâu nữa?

- Vậy nàng hãy vào phủ của ta, ta sẽ phong cho nàng làm Lương đễ.

Đại Kiều nhẹ nhàng lắc đầu:

- Có lẽ sẽ có một ngày thiếp vào phủ nhà chàng nhưng không phải bây giờ. Nếu như bây giờ vào phủ chàng thì thiếp không có cách nào đối mặt với các phụ lão Giang Đông. Cảnh lang! Chàng hãy giúp thiếp một chuyện được không?

- Nàng muốn ta làm gì thì cứ nói ra, đừng nói hai chữ “giúp đỡ”.

- Cũng phải, “oan gia” nhà chàng làm thiếp có thai, vẫn chưa tính sổ với chàng mà lại còn cần chàng giúp thì quả là thiếp hồ đồ rồi.

Đại Kiều nhẹ nhàng nói:

- Thiếp muốn rời khỏi Trường An, chàng hãy sắp xếp một nơi cho thiếp!

- Nhất định phải rời khỏi Trường An sao?

- Nhất định phải rời đi, nếu không thiếp không còn mặt mũi nào nhìn mọi người nữa!

Lưu Cảnh trầm tư chốc lát nói:

- Như vậy đi! Ta sẽ sắp xếp cho nàng ở Hàm Dương, như vậy ta đến thăm nàng cũng tiện hơn.

Đại Kiều cắn môi nói:

- Thiếp muốn tới Thành Đô, được không?

Lưu Cảnh biết Đại Kiều là người rất có chủ kiến, nàng ấy đã đưa ra đề nghị đi Thành Đô thì tất nhiên là nàng ấy đã nghĩ kỹ rồi. Nhưng Thành Đô cũng khiến Lưu Cảnh yên tâm được phần nào, hắn ta có thể sắp xếp nữ hộ vệ bảo vệ Đại Kiều. Cuối cùng Lưu Cảnh gật đầu, đồng ý:

- Thôi được! Nàng định khi nào thì đi?

- Nghỉ ngơi thêm năm ngày nữa, ngày mười lăm tháng sáu thiếp sẽ xuất phát!

Trong lòng Lưu Cảnh đầy nỗi áy náy và thương tiếc với Đại Kiều. Hắn ôm chặt nàng và nói:

- Để một mình nàng đến Thành Đô chịu khổ, trong lòng ta thật sự rất không nỡ.

Đại Kiều sà vào lòng Lưu Cảnh, thấp giọng nói:

- Thật ra thiếp cũng không muốn rời xa chàng, nhưng thiếp thật sự rất muốn có đứa con này. Có con rồi, thiếp sẽ không còn cô độc nữa. Cảnh lang! Trong lòng thiếp cảm thấy rất vui!

Lưu Cảnh cũng thấp giọng nói với nàng:

- Nhưng nàng không thể để đứa bé không có cha, không có danh phận!

Đại Kiều cúi đầu thở dài:

- Vì vậy thiếp mới nói, có một ngày thiếp sẽ vào phủ nhà chàng!

Dừng lại một chút, Đại Kiều nói:

- Thiếp sẽ để lại lời nhắn cho Vương phi và Tiểu Kiều. Chàng không cần quản nhiều, chỉ cần sắp xếp xong lộ trình cho thiếp là được rồi!

Lúc này, Lưu Cảnh lại âm thầm hạ quyết tâm. Bất kể về công hay tư, hắn đều phải nỗ lực chuẩn bị chiến trận với quân Giang Đông rồi.

Chương 1012: Khoa cử nước Hán.

Thời gian dần dần cũng đến tháng tám, cái nóng bức cũng đã qua, thời tiết cũng mát mẻ hơn, nhưng nhiệt huyết của mọi người trong thành Trường An lại dâng cao một cách khác thường, mọi người đều đang chú ý đến kỳ thi khoa cử sắp tới.

Lúc này, gần năm vạn sĩ tử từ các nơi trong thiên hạ đổ dồn về Trường An, mặc dù sĩ tử ít hơn kỳ thi ở Tương Dương vào mấy năm trước rất nhiều nhưng chất lượng lại cao hơn. Trải qua kỳ thi ở Tương Dương, hơn một nửa những sĩ tử với học thức chưa đủ không hao tốn tiền gạo đến ứng thi nữa, mà ngược lại, mỗi sĩ tử đến Trường An đều tràn đầy tự tin, tin rằng mình có thể được đề tên bảng vàng.

Mặc dù chỉ có năm vạn người nhưng các quán trọ và tửu quán ở Trường An đã chật hết cả. Mỗi quán trọ đều chật các sĩ tử đến thuê, thậm chí trong sân của rất nhiều quán trọ còn có cả lều, trong lều có bày trí đầy đủ giường. Mặc dù không ít sĩ tử ở trong nơi chỉ dài một trượng, rộng năm thước nhưng vẫn không ngăn được khát vọng công danh của bọn họ.

Khương Duy năm nay mười bảy tuổi, cậu ta là sĩ tử của quận Lũng Tây đến thi năm nay, nhưng trên thực tế, cậu luôn đi theo Triệu Vân, cậu là đồ đệ cưng của Triệu Vân. Không những võ nghệ cao cường mà Khương Duy còn là người có học thức cao, có thể nói là văn võ song toàn. Mặc dù vẫn còn rất trẻ nhưng điều này cũng không ngăn cản được lòng quyết tâm mưu cầu công danh của cậu.

Khương Duy không ở trong phủ của Triệu Vân mà ở trong quán trọ Vương thị cách phủ Triệu Vân không xa. Nửa năm trước, Lý Văn - quan viên Hà Tây đã bị hắc y nhân truy sát, sự việc này cũng diễn ra tại chính quán trọ này.

Nhưng vụ án mạng xảy ra nửa năm trước này sớm đã bị người đời lãng quên. Khách trong quán trọ Vương thị chật ních, vốn chỉ có thể ở được sáu mươi khách nhưng bây giờ lại nhét lên đến hai trăm người, tất cả đều là sĩ tử các nơi đến tham gia kỳ thi lần này.

Mọi người ở cùng nhau thì tất nhiên sẽ trở thành bạn. Trong phòng của Khương Duy có bốn người ở, ngoài cậu ta ra còn có một sĩ tử đến từ quận Thường Sơn, tên là Lư Tông, nghe nói là cháu của Lư Thực - danh sĩ Hà Bắc. Ngoài ra còn có hai người đều đến từ Ngô Quận, một người tên là Cố Hàn, một người tên là Trương Đình. Hai người đều đến kết bạn, mặc dù không chịu nói rõ nhưng Khương Duy vẫn đoán được gia tộc của bọn họ, Cố thị và Trương thị trong tam đại thế gia Ngô Quận.

Chính vì cái gọi là “Quý tộc kế thừa quyền lực, sĩ tộc kế thừa văn hóa”, bất luận ở triều Hán hay trong lịch sử dài dằng dặc sau này, văn hóa đều bị các sĩ tộc nắm giữ trong tay. Họ thông qua gia đình có tiếng là nuôi dưỡng các thế hệ anh tài làm cho gia tộc có thể kéo dài ngàn năm không ngừng.

Mặc dù quan phủ cũng tổ chức quan học nhưng tài lực và nhân lực có hạn nên không thể so sánh với những gia đình có tiếng kia được. Những học trò được đào tạo ra bất luận về học thức hay các mối quan hệ trong quan trường đều thua xa những con cháu quý tộc, khiến họ bị bại trận trong cuộc cạnh tranh.

Mặc dù Lưu Cảnh đưa ra những nguyên tắc như thi cử công khai, cạnh tranh công bằng, hàn thứ bình đẳng nhưng dù trình tự bình đẳng, tố chất của họ lại không công bằng. Trong cạnh tranh công bằng thì con cháu hàn môn vẫn không thể đấu được con cháu danh môn.

Dù vậy cũng không còn cách nào khác, thế gian vốn không có bình đẳng tuyệt đối. Nhiều điều gọi là bình đẳng cũng chỉ là làm ra vẻ vậy thôi, nói ra cũng không thể làm người ta tin.

Khương Duy và ba người bạn kia rất nhanh đã quen nhau, cậu ta trở thành bạn thân của Lư Tông, hai người Cố Hàn, Trương Đình trở thành một nhóm. Hai người này mặc dù bình thường nói chuyện cũng được nhưng những lời từ tận đáy lòng thì tuyệt đối không nói cho Khương Duy nghe.

Tối hôm đó, Cố Hàn và Trương Đình ra ngoài uống rượu chưa về, trong phòng chỉ còn lại hai người Khương Duy và Lư Tông đang ra sức ôn luyện, nhưng Lư Tông phát hiện dường như Khương Duy có tâm sự liền thấp giọng hỏi:

- Hình như hiền đệ có tâm sự gì?

Lư Tông năm nay hai mươi hai tuổi, lớn hơn Khương Duy năm tuổi, và cũng hiểu nhân tình thế thái hơn Khương Duy. Lư Tông biết Khương Duy là đồ đệ của Triệu Vân, cũng nhận được sự giúp đỡ đặc biệt của Hán Vương nhưng Lư Tông chưa từng đề cập đến việc này. Cậu rất quan tâm đến Khương Duy, thấy đêm nay Khương Duy tâm trạng bất an nên không kìm được mà hỏi cậu.

Khương Duy và Lư Tông đã trở thành bạn thân, rất nhiều tâm sự đều không giấu nhau. Khương Duy cúi đầu than thở nói:

- Đoán chừng sau khi kết thúc kỳ thi này, quân Hán sẽ phát động trận chiến với Giang Đông.

- Nhanh vậy! Không phải nói là mùa xuân năm sau sao?

Người trong thiên hạ đều biết rằng quân Hán sớm muộn gì cũng chiến tranh với Giang Đông, Lư Tông cũng biết điều này, nhưng cậu ta nghe nói là mùa xuân năm sau, không ngờ lại nghe được tin mới nhất từ Khương Duy. Cậu ta biết thân thế Khương Duy không hề tầm thường, nhất định sẽ có tin nội bộ. Lư Tông chấn động tinh thần, cũng không còn tinh thần đọc sách nữa, nhìn chăm chú Khương Duy với ánh mắt kinh ngạc.

- Đệ nghe một thế thúc nói, năm nay vụ chiêm bội thu, quân Hán sẽ chuẩn bị chiến tranh trước, đã chuẩn bị xong rồi, chỉ đợi Hán Vương hạ lệnh xuất chinh. Hơn nữa đệ còn nghe nói, sau khi kỳ thi lần này kết thúc, Hán Vương sẽ đi Kinh Châu thị sát, chắc hẳn sắp khai chiến rồi.

Lư Tông gật đầu, quân Hán tấn công Giang Đông không liên quan gì đến lợi ích của cậu ta, nhưng đối với hai người Cố Hàn và Trương Đình thì khác. Cậu ta lại nhắc nhở Khương Duy:

- Nhưng đây là tin cơ mật, nhất định không được truyền ra ngoài, đặc biệt không được nói cho hai người kia biết.

Khương Duy biết Lư Tông chỉ hai người nào, cậu lắc đầu nói:

- Những lời này đệ chỉ nói cho huynh biết thôi, đệ tuyệt đối không nói cho người khác biết.

Lư Tông cười, nói:

- Thật ra, nói cho bọn họ biết cũng không sao, gia tộc của hai người này sớm đã không còn trung thành với Tôn Quyền, bọn họ muốn có tiền đồ ở nước Hán nên mới để con cháu mình đến Trường An tham dự kỳ thi này. Theo như ta biết, không chỉ thế gia Ngô Quận và quận Hội Kê mà ngay cả Kiến Nghiệp cũng có không ít gia tộc đã âm thầm phái con cháu đến Trường An tham dự kỳ thi, trong đó có cả Trương Chiêu nữa!

Lư Tông ngừng lại một chút, nhìn Khương Duy với đầy ý vị. Quả nhiên Khương Duy ngạc nhiên đến mức nhảy dựng cả lên:

- Không phải chứ? Đến Trương Chiêu cũng phái con cháu đến rồi sao?

- Quân tử phải biết thức thời, “không đứng dưới bức tường sắp đổ”, đệ nghĩ rằng Trương Chiêu sẽ sống chết giữ Giang Đông sao?

- Nhưng y trước nay vẫn luôn bất mãn với quân Hán, cứ coi như tìm đường thoát thì con cháu y phải đến Tào Ngụy mới đúng, sao lại đến nước Hán?

- Mặc dù Trương Chiêu bất mãn với nước Hán nhưng đó chẳng qua cũng chỉ ý nghĩ cá nhân thôi. Đến Lư gia chúng ta cũng biết, phái ta đến Trường An mong được tiến bước trên con đường làm quan, lẽ nào Trương Chiêu vẫn không hiểu sao?

Khương Duy trầm ngâm một chút nói:

- Nhưng đệ không nghe thấy hai người Cố Hàn, Trương Đình nói đến chuyện này, bọn họ cũng phải biết mới đúng.

- Hai người đó thì biết cái quái gì!

Lư Tông bĩu môi khinh thường nói:

- Hai người đó sống khác biệt, không muốn tiếp xúc với thế giới bên ngoài, vậy thì bọn họ có thể có tin gì. Đệ phải chú ý đến người có tên là Vương Chí, sĩ tử quận Bành Thành, người này chính là cháu của Trương Chiêu, tên gốc là Trương Chí nhưng cố ý đổi thành họ Vương.

Đúng lúc này, bên ngoài vọng lại tiếng bước chân. Hai người không nói gì nữa, người nào đọc sách của người ấy. Lúc này, cửa bị đẩy ra, hai người Cố Hàn và Trương Đình ở chung cùng Khương Duy và Lư Tông bước vào trong phòng.

Cố Hàn cười nói:

- Lư huynh và Khương hiền đệ ăn cơm tối chưa?

Khương Duy vội vàng cười trả lời:

- Bọn đệ đã ăn ở quán trọ rồi, không ra ngoài!

- Hai người chăm chỉ quá đấy, cả ngày ngồi đọc sách, không hiểu biết tình hình bên ngoài thì sao được.

Lư Tông tiếp lời cười nói:

- Phải chăng hai huynh biết được tin tức gì rồi, nếu không ngại thì nói ra xem.

Hai người Cố Hàn và Trương Đình ngồi xuống uống ngụm trà. Trương Đình nói với hai người kia:

- Đã xác định được quan chủ khảo rồi, đó là Thượng thư Tưởng Uyển.

Lư Tông và Khương Duy đều mỉm cười. Lư Tông nói:

- Nếu như là Tưởng Thượng thư thì phải chúc mừng Cố lão đệ rồi!

Cố Hàn vừa bước vào đã nói với bọn họ, Thượng thư Tưởng Uyển là đệ tử của gia chủ Cố gia. Năm đó Tưởng Uyển từng bái Cố Ung làm thầy, tất nhiên Cố Hàn cũng có ý khoe khoang, thật không ngờ Tưởng Uyển lại làm quan chủ khảo, trong lòng y cũng có chút lo lắng. Nếu y đến tìm Tưởng Uyển thì ông ta có giúp không, y thật sự không nắm được, hơn nữa bây giờ đến tìm ông ấy cũng muộn rồi.

Cố Hàn thở dài nói:

- Lúc đệ ra khỏi nhà, gia chủ đã dặn dò, không cho phép đệ làm phiền đến Tưởng Thượng thư, vì vậy đệ đã không đi. Nhưng thật không ngờ Tưởng Thượng thư lại làm chủ khảo, giờ đây chỉ còn cách ngày thi mười ngày nữa, bọn họ chắc là đã bị tách riêng ra rồi.

Khương Duy cười nói:

- Quả thật có chút đáng tiếc, bây giờ cứ coi như không tách riêng thì ngài ấy cũng sẽ không gặp người ngoài đâu.

- Đúng là đáng tiếc, hơn nữa còn là kỳ thi kín, ông ấy không biết ta họ Cố, thật sự hối hận quá, nếu không thì Tưởng Thượng thư nhất định sẽ nể mặt gia chủ ta.

Lư Tông lắc đầu:

- Cứ coi như ngài ấy biết thì cũng không có cách nào. Lần thi này không giống như lần thi ở Tương Dương, hủy bỏ thi vấn đáp, một lần thi trực tiếp định tiền đồ.

Cố Hàn và Trương Đình ngơ ngác nhìn nhau, ngạc nhiên nói:

- Lời Lư huynh là thật sao, đã hủy thi vấn đáp rồi?

- Ta cũng chỉ nghe người ta nói vậy thôi, ngày mai chắc sẽ có thông báo!

Hai người Cố Hàn và Trương Đình âm thầm kêu khổ, bọn họ vẫn mong đợi lúc thi vấn đáp, Hán Vương sẽ nể mặt gia tộc của họ mà cho hai người họ trúng tuyển. Nếu sớm biết hủy thi vấn đáp thì họ còn ra ngoài uống rượu gì nữa?

Hai người luống cuống tay chân, lấy quyển sách ra, bắt đầu ra sức học. Lư Tông liếc mắt hai người họ, bĩu môi, sau đó lại quay người, tự xem sách của mình.

Mười ngày sau, kỳ thi của nước Hán được chính thức tổ chức ở hai nơi là Quốc Tử Học Trường An và Vị Ương cung. Năm vạn sĩ tử đến từ khắp nơi trong thiên hạ tham dự kỳ thi với quy mô vô cùng lớn này, thi trong ba ngày. Đề thi chia làm ba dạng, làm phú, sách luận, cuối cùng tuyển một trăm sĩ tử, bổ sung vào quan viên ở các nơi chưa đủ.

Trên thực tế, trong năm vạn sĩ tử tham dự kỳ thi có ít nhất một vạn người là học trò của Quốc Tử Học, bốn vạn người còn lại mới là những anh tài đến từ các nơi trong thiên hạ.

Việc tuyển chọn của nước Hán đối với những quan viên mới không chỉ qua một lần thi cử, ngoài ra còn có “Quốc Tử khảo”, chính là các học trò của Quốc Tử Học sau khi qua khảo hạch và cuộc thi sẽ có thể được làm quan lại. Cái được gọi là khảo hạch chính là có làm những việc như từng giúp đỡ quan phủ sắp xếp bố trí nạn dân không, vv...

Trái với Quốc Tử khảo, có một kì thi tương đối dễ dàng hơn nhiều, được gọi là ‘Quốc Tử đạo’. Điều kiện đầu tiên đó là bắt đầu làm từ quan nhỏ địa phương, từng bước đúc kết kinh nghiệm thăng quan. Nhưng cao nhất vẫn chỉ có thể làm Quận Thừa; muốn lên đến Thái Thú thì không có tư cách rồi, nhất định phải thông qua kỳ thi mới có thể làm được Thái Thú, thậm chí là Tướng quốc.

Vì vậy rất nhiều học trò trong Quốc Tử học đều không muốn tham dự Quốc tử khảo, nhưng đối với các sĩ tử trong thiên hạ mà nói thì vào được Quốc Tử Học là đường lui của bọn họ. Cứ coi như không đỗ trong kỳ thi nhưng ba nghìn sĩ tử đầu tiên vẫn có thể lựa chọn học ở Quốc Tử Học, do quan phủ cung cấp ăn ngủ, không cần bọn họ trả tiền. Tiến hành đào tạo sâu trong bốn năm, trong quá trình học còn có thể tham dự kỳ thi bất cứ lúc nào, việc như thế sao lại không làm?

Mặt khác còn có một con đường là tòng quân. Người đỗ được kỳ thi khảo hạch có thể trở thành quan văn trong quân, cũng là từng bước thăng quan, còn có thể không phải chịu khống chế về cấp bậc, cao nhất có thể làm Quân sư, ngược lại làm Tướng quốc giống như Tư Mã Ý, Bàng Thống, Pháp Chính. Ba người này cũng từ Quân sư chuyển thành Tướng quốc.

Nhưng đối với rất nhiều người thì trở thành quân sư cơ bản là không thể, nhiều nhất chỉ có thể thành Tham quân hoặc Chủ bạc cấp một, sau đó chuyển sang làm Thái Thú địa phương.

Giống như Đổng Doãn, Lưu Mẫn, Tần Mật, Chu Bất Nghi, vv... Họ đều là những người từ làm việc quân chuyển sang làm quan văn, đây là con đường tắt. Mặc dù là đường tắt nhưng không có nhiều sĩ tử chọn, bởi vì một khi không qua được kỳ thi khảo hạch quan văn thì sẽ phải vác mâu ra chiến trường đánh giặc, đối với những người đọc sách thì nguy hiểm là quá lớn.

Rất nhiều người đều nguyện chen chúc đi trên cây cầu gỗ mang tên hai chữ “Khoa cử” này, năm trăm người mới có một người có thể trúng tuyển, thiên quân vạn mã đều đọ sức đổ máu trên cây cầu này.

Nửa tháng sau, kỳ thi nước Hán được mọi người quan tâm cuối cùng cũng công bố kết quả thi rồi.

Chương 1013: Lại tiến về phía đông.

Danh sách trúng bảng* của nước Hán, nằm trong dự liệu của rất nhiều người, đại bộ phận tên trúng bảng đều là con cháu danh môn, đây cũng là chỗ ưu thế của họ.

* trúng bảng: đỗ kì thi, nếu trượt gọi là lạc bảng.

Mặc dù có người hoài nghi khoa cử có gian lận, nhưng phần đông dư luận lại công nhận danh sách thứ hạng lần này, đó là bởi trong lòng mọi người đều hiểu rõ, con cháu hàn môn không có khả năng cạnh tranh với con cháu danh môn.

Đối với đại đa số con cháu hàn môn, bọn họ đều khao khát tên mình trúng bảng, nhưng bọn họ vẫn phải chấp nhận sự thật, bước vào Quốc Tử Học đọc sách.

Mà cái tên đứng đầu yết bảng lại nằm ngoài dự liệu của mọi người, không phải thế gia đến từ Kinh Châu hay Ích Châu, cũng không phải danh môn của Lũng Tây hay Quan Trung, mà lại đến từ quận Thường Sơn Hà Bắc, sĩ tử đứng đầu tên là Lư Tông, nghe nói người này là cháu của Lư Thực.

Nhất thời, đủ loại phỏng đoán về Lư Tông cứ ùn ùn kéo đến, có người hoài nghi y vì là đồng hương của Triệu Vân nên mới lấy được cao trung, cũng có người cho rằng đây là vì nước Hán muốn lôi kéo thế gia Hà Bắc, còn có người thần thần bí bí đồn đại rằng, lần này Lư Tông đã đem một vạn lượng hoàng kim đến Trường An.

Nói tóm lại, từ xưa văn nhân luôn đố kị lẫn nhau, ai có được ngôi đầu, đương nhiên phải hứng chịu đủ loại lời đồn nhảm nhí.

Trời còn chưa sáng, trên quảng trường Cần Chính, Vị Ương cung, một trăm sĩ tử cao trung đã tắm gội thay y phục nga quan bác bào màu trắng, tập hợp trên quảng trường chờ vào điện.

Mọi người phấn khởi, tràn đầy khát vọng với con đường làm quan trong tương lai. Khương Duy bước nhanh qua đám người, đi tìm Lư Tông.

Lần này Khương Duy là cao trung đứng thứ hai mươi bốn, mặc dù chưa thể vào được mười thứ hạng đầu, nhưng với tư cách là sĩ tử nhỏ tuổi nhất trên bảng, cậu cũng khiến người ta phải chú ý tới một chút, mới mười bảy tuổi, đã trúng bảng khoa cử, khiến rất nhiều sĩ tử hơn ba bốn mươi tuổi cảm thấy xấu hổ.

- Lư huynh!

Khương Duy tìm được Lư Tông, hăm hở chào hỏi y từ xa.

Lư Tông cũng nhìn thấy Khương Duy, vội vàng đi tới, có phần oán giận nói:

- Ta vẫn luôn tìm đệ khắp nơi, còn tưởng rằng đệ chưa tới, đệ đi đâu vậy?

- Đệ thay y phục chậm hơn một chút, vừa mới xong.

Lư Tông kéo Khương Duy qua một bên, thấp giọng nói:

- Ta nhận được một tin tức, lần này có thể tự chọn hướng đi cho mình, có thể về địa phương làm quan huyện, cũng có thể ở lại Trường An làm thư tá, còn có thể rèn luyện trong quân, đệ định đi đâu?

- Đệ định nhập ngũ!

Quyết định này của Khương Duy không khiến Lư Tông kinh ngạc. Khương Duy vốn là đồ đệ của Triệu Vân, cậu lựa chọn nhập ngũ cũng là lẽ thường.

- Lư đại ca, huynh thì sao?

Khương Duy cũng hỏi.

- Ta định về địa phương làm quan huyện, tuy rằng rất nhiều người khuyên ta, ở lại kinh thành có thể mở rộng mạng lưới quan hệ, nhưng ta một lòng muốn vì dân làm chút gì đó thiết thực.

- Ba người đứng đầu có thể tự chọn quận huyện, Lư đại ca định chọn nơi nào?

Lư Tông cúi đầu trầm tư một lát:

- Ta muốn đi Hà Tây hoặc Linh Châu, hoặc khu vực Hà Hoàng.

Khương Duy yên lặng gật đầu, cậu biết Lư Tông là người có hoài bão lớn lao, sẽ không ham cái lợi trước mắt:

- Đệ ủng hộ quyết định của đại ca!

Lúc này, Lư Tông lại nghĩ tới một chuyện khác:

- Người đứng thứ ba tên là Vương Chí, còn nhớ rõ chuyện ta từng nói với đệ không?

Khương Duy khẽ gật đầu, cậu đương nhiên nhớ rõ, Vương Chí tên thật là Trương Chí, là cháu của Trương Chiêu, không ngờ gã lại là cao trung đứng thứ ba, không hổ là con cháu danh môn của Trương thị.

Lúc này, bỗng nhiên có người gọi bọn họ:

- Lư huynh, Khương lão đệ!

Hai người vừa quay đầu lại, đã thấy Cố Hàn chen chúc qua, cười hưng phấn nói:

- Hóa ra các huynh ở đây!

Lần này Cố Hàn đứng khảo trung thứ bảy mươi ba, cũng trúng bảng, đáng tiếc Trương Đình lại lạc bảng, đứng thứ hơn hai trăm.

Tuy rằng giao tình giữa hai người Lư Khương và y không phải quá thân thiết, nhưng dù sao cũng quen biết, lại từng ở chung, hai người bọn họ vẫn cười nói:

- Chúc mừng Cố huynh đỗ cao!

- Ta còn không sánh bằng các huynh, đứng gần cuối bảng, thật hổ thẹn.

Cố Hàn lại thấp giọng nói:

- Nghe nói có thể tự chọn hướng đi, các huynh có dự định gì không?

Lư Tông và Khương Duy nhìn nhau, đều lắc đầu:

- Chúng ta tạm thời vẫn chưa nghĩ kỹ.

Khương Duy hỏi:

- Cố huynh định thế nào?

- Đương nhiên ta muốn ở lại Trường An, đây cũng là kỳ vọng của gia tộc, lần này tám sĩ tử Giang Đông trên bảng đều nhất trí quyết định ở lại Trường An.

Lư Tông cũng có thể nhìn ra quyết định của Cố Hàn. Cố gia bọn họ ở Giang Đông không thiếu danh vọng, chỉ không có giao thiệp, giữ con cháu ở lại Trường An, cũng là để từng bước gây dựng mạng lưới quan hệ ở Trường An.

Lúc này, xa xa có lễ quan hô lớn:

- Xếp thành hàng, vào điện!

Trăm sĩ tử đều xếp thành hàng, đón ánh bình minh, hai hàng tiến vào đại điện Cần Chính, để tránh hiềm nghi, trước mắt ba tòa chủ điện của Vị Ương cung cũng chưa chính thức đưa vào sử dụng, chỉ lúc tổ chức nghi thức trọng đại như bây giờ mới dùng đến.

Hôm nay trăm sĩ tử trúng bảng đều tập hợp yết kiến, mới dùng điện phủ lớn nhất của Vị Ương cung này. Trăm sĩ tử theo lễ quan dẫn đường nối đuôi nhau bước vào, hai bên đại điện có mười mấy đại thần văn võ nước Hán ngồi đó, đều châu đầu ghé tai bàn luận. Trên vị trí tối cao, Hán Vương Lưu Cảnh ngồi đó, phong thái uy nghiêm.

Đám sĩ tử trước đó đã được huấn luyện phải hành lễ, bọn họ cùng tiến lên trước hành lễ:

- Tham kiến Hán Vương điện hạ!

Lưu Cảnh cười khoát tay:

- Các vị tài tuấn miễn lễ!

Mọi người đứng thẳng lên. Lưu Cảnh đứng dậy đi đến trước bậc thang, chậm rãi nói với mọi người:

- Lần này có năm vạn người tham gia kì thi khoa cử, cuối cùng chỉ có một trăm người trúng tuyển, năm trăm người trúng chỉ có một trúng bảng, các khanh đều là nhân trung tuấn kiệt, là sĩ tử ưu tú nhất, cũng sẽ trở thành trụ cột của nước Hán ta, các khanh sẽ có cơ hội đi tới thành công, nhưng cũng có thể xuống dốc, tất cả đều dựa vào cố gắng của chính các khanh.

Nói đến đây, Lưu Cảnh vẫy tay một cái, hai quan viên chừng ba mươi tuổi đi ra từ hai bên, thi lễ với Lưu Cảnh. Lưu Cảnh chỉ vào bọn họ nói:

- Vị bên trái này là Hình bộ Tả thừa Thôi Thực, là đệ nhất danh khoa cử Tương Dương năm đó, vị bên phải này là Ngự sử Trung thừa Tuân Chí, cũng từng là đệ nhất danh khoa cử Tương Dương, tin rằng mọi người đều đã nghe nói. Chỉ trong năm sáu năm ngắn ngủi, bọn họ đã trở thành quan lớn hai ngàn thạch, bọn họ đã làm quan huyện, từng làm Quận thừa, Thái thú, đi tới các nơi tuần tra giám sát, mặc dù tư lịch không sâu, nhưng bọn họ lại dựa vào chiến tích trác tuyệt mà từng bước thăng chức, cuối cùng trở thành quan lớn hai ngàn thạch trẻ tuổi nhất của Hán Vương.

Tấm gương bày ra trước mắt khiến chúng sĩ tử nhiệt huyết đều sôi trào lên, bọn họ đều khao khát mình cũng có thể giống Thôi Thực, Tuân Chí, chỉ trong năm sáu năm có thể đứng ở vị trí đại thần.

Lưu Cảnh lại cười nói:

- Hai vị Sứ quân Thôi - Tuân mặc dù là người nổi bật trong khoa cử Tương Dương, cũng không có nghĩa những người khác sẽ bị hòa tan. Ở khoa cử Tương Dương có 120 người trúng tuyển, chỉ có hơn ba mươi người vẫn quanh quẩn ở chức Huyện lệnh thôi, hơn tám mươi người còn lại đã đảm nhiệm Quận quan, thậm chí Thái thú, các vị cũng giống họ, đều gặp đúng cơ hội vương triều Đại Hán ta đang phục hưng, chỉ cần các khanh nỗ lực phấn đấu, thanh bạch liêm khiết, thì nhất định sẽ đạt được thành công.

Chúng sĩ tử kích động cùng nhau vỗ tay, bắt đầu hô lớn lên.

…..

Tiếp kiến sĩ tử trúng bảng xong, Lưu Cảnh về tới quan phòng của mình. Mặc dù hắn rất quan tâm đến khoa cử lần này, nhưng bây giờ hắn càng quan tâm đến việc xuất binh đến Giang Đông hơn, bây giờ đã là đầu tháng tám, bọn họ nhất định phải kết thúc chiến dịch Giang Đông trước Tết.

Thời gian còn lại của hắn không nhiều, hắn nhất định phải mau chóng hành động. Trở về quan phòng, Lưu Cảnh lập tức triệu Thượng thư Tướng quốc đến, cả Trung thư tỉnh Tả Hữu thừa cùng nhau bàn bạc.

Bên trong nghị sự đường, mọi người tụ tập dưới một mái nhà. Lưu Cảnh lấy ra một mẩu tin nói với mọi người:

- Đây là tin tức khẩn cấp Hoàng Trung gửi từ Sài Tang tới, trước mắt bảy vạn đại quân đã tụ họp xong xuôi, tính cả hai vạn quân Hán ở bờ bắc Kiến Nghiệp và mười ngàn quân quận Hội Kê, tổng cộng đại quân một trăm ngàn người, thời cơ diệt trừ Giang Đông đã chín muồi.

Tư Mã Ý cũng đứng dậy nói với mọi người:

- Căn cứ vào tin tức chúng ta lấy được từ Giang Đông, mấy tháng trước Tôn Quyền để đối phó vói nguy cơ đã tiếp tục vận động ba vạn lính nhập ngũ, lại tăng thêm mười vạn dân phu đào kênh Giang Nam, thuế phí nặng nề, khiến cho Giang Đông trời oán dân giận, lòng dân không phục, dân chúng bỏ trốn tới quân Hội Kê nhiều vô kể, hai quận Dự Chương và Cửu Giang đều tỏ vẻ nguyện ý quy thuận nước Hán. Chúng ta không thể lại cho phép Giang Đông tiếp tục suy bại nữa, nếu không cho dù có thống nhất, cũng sẽ trở thành gánh nặng của chúng ta.

Tất cả mọi người đều hiểu được quyết tâm tiêu diệt Giang Đông của Lưu Cảnh, bọn họ không thể ngăn cản được. Lúc này, Tương Uyển đứng lên nói:

- Tuy rằng tài lực của chúng ta chưa khôi phục hoàn toàn, nhưng lượng lương thực các nơi thu hoạch vào vụ chiêm vụ mùa, lương thực của quan phủ đều đã có nguồn dự trữ nhất định. Trước mắt Kinh Châu đã điều động hai trăm ngàn thạch lương thực tới Sài Tang, còn có sau khi chiếm lĩnh Giang Đông cần có ít nhất hai trăm ngàn thạch để duy trì trật tự, chúng ta vốn có thể ứng phó với chiến dịch Giang Đông lần này. Mặt khác, chiến dịch Giang Đông không bằng chiến dịch Hợp Phì, chúng ta cũng không cần hao phí quá nhiều tướng sĩ bỏ mình, mấu chốt là chiến dịch không thể kéo dài tới mùa xuân năm sau, nếu không sẽ gây ra ảnh hưởng rất lớn tới dân chúng Giang Đông sau khi khôi phục, chúng ta có lẽ sẽ không chống đỡ nổi.

Lưu Cảnh cười nói với mọi người:

- Trên thực tế, chiến dịch Hợp Phì ta chỉ cần hai ba tháng đã có thể chấm dứt, chỉ vì kéo cho Tào Ngụy sụp đổ, mới kéo dài hơn nửa năm. Còn Giang Đông thì hoàn toàn khác, chúng ta đã đặt cơ sở vô cùng vững chắc ở Giang Đông, ta có thể cam đoan với các vị, chấm dứt chiến dịch Giang Đông trong hai tháng.

Tất cả mọi người mỉm cười, Từ Thứ lại hơi lo lắng:

- Điện hạ nhất định phải xuất chinh sao? Chỉ dựa vào hai vị tướng quân Hoàng Trung và Cam Ninh cũng có thể diệt hết Giang Đông rồi.

Lưu Cảnh khẽ lắc đầu:

- Mặc dù bọn họ có thể đánh bại quân Giang Đông về mặt quân sự, nhưng bọn họ lại không cách nào ổn định được Giang Đông về chính trị. Cướp lấy Giang Đông không khó, nhưng muốn khiến Giang Đông vui lòng phục tùng, quy thuận nước Hán, nhất định phải để ta tự mình xuất mã.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!