Virtus's Reader
Binh Lâm Thiên Hạ

Chương 1024: CHƯƠNG 1024: XUẤT KÍCH SẤM SÉT.

Thời gian mười ngày nháy mắt trôi qua nhưng Giang Đông vẫn chưa có câu trả lời. Tôn Quyền vẫn duy trì trầm mặc như cũ, rất rõ ràng là không chấp nhận điều kiện của Lưu Cảnh. Chấp nhận điều kiện chính là chọn con đường chết, phản kháng vẫn còn một tia hi vọng, vậy sao y lại không phản kháng đến cuối cùng.

Tôn Quyền mặc dù không có biểu hiện gì với điều kiện Lưu Cảnh đưa ra nhưng y vẫn âm thầm liên lạc với chủ tướng Ngô quận Hoàng Cái, lệnh cho ông ta dốc toàn lực chuẩn bị cho chiến tranh, chuẩn bị cho trận huyết chiến cuối cùng. Đồng thời cũng âm thầm trả lời Hàn Đương không cần liều mình cố giữ Kinh Khẩu, buông tha Kinh Khẩu bảo toàn thực lực quay lại Bì Lăng.

Ngày thứ mười một, trên sông vẫn yên bình như cũ, quân Hán không có bất kì động tĩnh gì. Nhưng đến buổi tối, khi màn đêm buông xuống, quân Hán rốt cục có hành động, gần nghìn chiến thuyền trùng điệp tiến về Kinh Khẩu cách đó trăm dặm.

Lúc này không còn là Cam Ninh dẫn quân tiến đánh Kinh Khẩu nữa mà là Lưu Cảnh tự mình dẫn quân tiến đánh Kinh Khẩu.

Trên bến tàu Kinh Khẩu cực kì yên tĩnh, mười lăm chòi canh gác cách đó không đến trăm bước, binh lính không ngừng tuần tra qua lại, giám sát mặt sông tối như mực. Chòi canh gác ở trên bến tàu vốn chỉ có ba cái nhưng Hàn Đương cho rằng ba chòi canh gác rất dễ bị quân Hán đánh lén.

Để đảm bảo có thể phát hiện động tĩnh của quân Hán vào ban đêm, không bị quân Hán đánh lén, Hàn Đương cứ cách trăm bước lại cho xây một chòi canh gác, làm cho số chòi canh gác của bến tàu tăng lên mười lăm chòi.

Lúc này Hàn Đương cũng đang thị sát ở trên một chòi canh gác, trong lòng y rất khẩn trương, Lưu Cảnh cho thời gian mười ngày, hôm qua đã là ngày cuối cùng, hôm nay là ngày thứ mười một. Bên Kiến Nghiệp cũng không có tin tức gì, mọi người đều cho rằng quân Hán sẽ đi phía tây Vu Hồ, từ sông Lật Thủy vào trong Thái Hồ.

Nhưng Hàn Đương lại có cảm giác quân Hán sẽ đổ bộ lên Kinh Khẩu, từ Kinh Khẩu xuôi về phía nam đến quận Bì Lăng, hoặc là tiến về phía tây đi Kiến Nghiệp. Màn đêm buông xuống loại cảm giác này lại càng mãnh liệt. Đây là kinh nghiệm vài chục năm chinh chiến y tích lũy được, chưa bao giờ phán đoán sai.

Hàn Đương tin tưởng trực giác của mình, y đã bố trí năm nghìn quân đội ở xung quanh bến tàu, chuẩn bị phục kích quân Hán.

Trên chòi canh gác, Hàn Đương chăm chú nhìn động tĩnh trên mặt sông, vừa rồi có trinh sát tuần tra bẩm báo, phát hiện mười thuyền tiên phong của quân Hán ở gần chòi canh gác. Điều này khiến cho Hàn Đương lo lắng vô cùng, bình thường trạm canh gác xuất hiện chiến thuyền chính là điểm báo thủy quân cập bờ.

- Tướng quân, mau nhìn.

Một binh lính hô to chỉ về hướng mặt sông.

Hàn Đương nhìn theo phương hướng ngón tay, y nhìn thấy, ở một bên xuất hiện hơn mười chiến thuyền nghìn thạch. Hàn Đương lập tức nhìn về hướng quân Giang Đông mai phục, ngay sau chòi canh gác năm nghìn quân Giang Đông ẩn thân trong rừng cây. Bọn họ tiếp nhận giáo huấn lần bị phục kích trước chuẩn bị rất nhiều dầu hỏa, chuẩn bị phục kích quân Hán, thiêu hủy chiến thuyền của quân Hán.

Hàn Đương quay đầu nhìn lại hướng mặt sông, sau khi mười chiếc chiến thuyền nghìn thạch xuất hiện cũng không thấy có chiến thuyền nào xuất hiện nữa. Ngay tại lúc Hàn Đương vẫn còn nghi hoặc, chiến thuyền của quân Hán xuất hiện lần nữa, chừng trăm chiếc thuyền thả neo ở bến tàu.

Trong lòng bàn tay Hàn Đương đổ đầy mồ hôi lạnh, âm thầm tự nói với mình, phải đợi phải nhẫn nại. Nhất định phải đợi đến khi quân Hán đổ bộ một nửa mới xuất kích, nhưng kì quái chính là không có quân Hán lên bờ.

Hàn Đương không còn lựa chọn nào khác, chỉ có thể tiếp tục chờ đợi. Thời gian từng chút trôi qua, đã gần nửa canh giờ, trăm thuyền của quân Hán vẫn thả neo trên sông, không có dấu hiệu lên bờ.

Theo kinh nghiệm của thủy quân, loại chuyện như vậy xảy ra thường là vì đội tàu của quân địch rất lớn, đội tàu tiên phong cần chờ đợi đội tàu phía sau đến. Tuy nhiên cũng sẽ không chờ đợi lâu mà chiếm lĩnh bến tàu trước, quét sạch quân địch ở bến tàu, tạo điều kiện cho binh lính trên thuyền lên bờ.

Trong lòng Hàn Đương nghi hoặc, chẳng lẽ quân Hán đã phát hiện ra mình rồi? Nếu không sao lại chờ đợi trên mặt sông lâu như vậy. Một thuộc cấp không kìm nổi chạy lên chòi canh gác nói với Hàn Đương:

- Tướng quân, không thể tiếp tục chờ đợi, đối phương nhất định đã phát hiện ra chúng ta, đang dùng kế ứng đối, không thể cho đối phương thời gian chuẩn bị.

Hàn Đương trầm mặc một lúc hỏi:

- Cửa Vận Hà bên kia có tin tức gì không?

Vận Hà nhập vào Giang Khẩu cách bến tàu ba dặm, Hàn Đương bố trí năm trăm binh lính ở cửa Vận Hà, đồng thời còn có khói lửa. Nếu cửa Vận Hà xảy ra chuyện, sẽ có khói lửa hoặc có binh lính đến truyền tin tức.

- Tướng quân, cửa sông bên kia không có tin tức gì.

Hàn Đương bỗng nhiên cảm thấy có chút không thích hợp, cho dù cửa Vận Hà không có chiến thuyền của quân Hán thì cũng phải có người đến bẩm báo chứ, sao lại không có tin tức gì, y lập tức ra lệnh cho thuộc hạ nói:

- Mang một trăm kị binh thám báo đi cửa Vân Hà xem tình hình bên ấy rốt cuộc xảy ra chuyện gì?

- Tuân lệnh.

Thuộc hạ xuống khỏi chòi canh gác, dẫn một trăm kị binh nhanh chóng đi về hướng cửa Vận Hà. Nửa canh giờ nữa lại trôi qua, chiến thuyền của quân Hán vẫn bỏ neo trên sông như cũ, không có bất cứ động tĩnh gì, Hàn Đương cũng có chút không kìm nén được, y biết chắc đã gặp chuyện không may nhưng không biết xảy ra chuyện ở đâu?

Chẳng lẽ.

Trong lòng y nghĩ đến một chuyện, chẳng lẽ một trăm chiến thuyền ở gần bến tàu chỉ là để đánh lạc hướng? Dùng để mê hoặc mình, Hàn Đương bỗng nhiên nhìn về hướng cửa sông, y bắt đầu hiểu được y mắc lừa rồi.

Đúng lúc này, xa xa truyền đến tiếng vó ngựa dồn dập, chạy trốn đến bến tàu, không hề quan tâm đến việc bị quân Hán phát hiện, là một kị binh. Y chạy đến trước chòi canh của Hàn Đương xoay người xuống ngựa, Hàn Đương vội vàng chạy xuống chòi canh, chạy đến trước mặt kị binh, mới phát hiện y trúng hai mũi tên, cả người đều là máu, sắp không chống đỡ được rồi.

Hàn Đương nâng y dậy hô lớn:

- Đã xảy ra chuyện gì?

Binh lính yếu ớt nói:

- Tướng quân, chiến thuyền của quân Hán đều ở cửa sông, các huynh đệ còn lại đều đã chết.

Một chậu nước lạnh tạt lên người, Hàn Đương ngây ra như phỗng, y quả nhiên bị lừa, quân Hán dùng trăm chiến thuyền hấp dẫn sự chú ý của y, quân chủ lực tiến vào kênh đào từ cửa sông.

Nghĩ đến ba chữ quân chủ lực, Hàn Đương bỗng nhiên cảm thấy không đúng, quân Hán nhiều nhất có ba trăm thuyền đổ bộ, bên này đã có một trăm thuyền vậy cửa sông bên kia có bao nhiêu chiến thuyền.

Y lại vội hỏi:

- Mau nói cửa sông bên kia có bao nhiêu chiến thuyền?

- Hơn một nghìn

Binh sĩ nói câu cuối cùng nhắm mắt chết.

Hàn Đương từ từ đứng lên, trong lòng y vô cùng sợ hãi, tiến đánh Kinh Khẩu không phải là thủy quân lần trước của quân Hán rồi, mà là chủ lực của quân Hán, chủ lực quân Hán thực sự đã đổ bộ lên Kinh Khẩu rồi.

- Tướng quân chúng ta phải làm gì bây giờ?

Một nha tướng nhỏ giọng hỏi.

Hàn Đương xiết chặt nắm đấm, y nhìn thấy trăm chiến thuyền bỏ neo trên sông bắt đầu rời khỏi, hiển nhiên đối phương đã biết bọn họ bị phá, đánh hay không đánh, đối phương chính là chủ lực của quân Hán, nếu như bỏ chạy, cơn tức này y không nhịn được.

Đúng lúc này, xa xa bỗng truyền đến tiếng kêu thảm thiết, Hàn Đương kinh ngạc, xoay mình lên ngựa chạy về nơi có tiếng kêu thảm thiết. Tiếng kêu thảm thiết vang vọng, rất nhiều binh lính Giang Đông hoảng sợ chạy từ chỗ mai phục trong rừng cây ra.

- Hàn tướng quân.

Một gã quân hầu hô lớn:

- Quân Hán đánh úp chúng ta từ phía sau, các huynh đệ chết thảm và bị thương rất nhiều.

Không cần phải nói, đây tất nhiên là quân Hán từ bên kia qua đây, Hàn Đương vội hỏi:

- Có bao nhiêu quân địch đánh lén.

- Không biết, rất nhiều, gấp mấy lần quân ta.

Vừa dứt lời, chỉ thấy rất nhiều quân Hán từ trong rừng cây lao ra, đuổi giết quân Giang Đông đang chạy trốn. Cầm đầu là một tướng lĩnh tay cầm song kích, đúng là đô đốc thủy quân Cam Ninh, y vô cùng dũng mãnh, song kích như múa giết hơn mười người.

Hàn Đương giận dữ, vung trường thương xông tới:

- Cam tặc đừng có ngang ngược, đỡ một chiêu của ta.

Tiếng đến ngựa đến, Hàn Đương liền đâm đến, trường thương đâm thẳng vào cổ họng Cam Ninh. Cam Ninh cười lạnh một tiếng, giục ngựa tránh thoát được chiêu này, phản kích bổ chém, hai người đánh nhau qua lại vô cùng kích liệt.

Hàn Đương dù sao cũng đã hơn sáu mươi tuổi, thể lực đã giảm nhiều mà Cam Ninh mới hơn bốn mươi tuổi, đang lúc khỏe mạnh, càng đánh càng hăng. Sau khi đánh mười mấy hiệp, Hàn Đương không chống đỡ được liền tìm khe hở thúc ngựa chạy trốn. Chạy được mấy chục bước, đoản kích của Cam Ninh bay đi như sét đánh tới, Hàn Đương không tránh kịp một kích đâm xuyên tim. Hàn Đương hét to một tiếng ngã xuống ngựa chết dưới kích của Cam Ninh.

Chủ tướng quân Giang Đông vừa chết, mấy nghìn binh lính còn sót lại không còn lòng dạ nào đều bị quân Hán bao vây. Bọn họ không tìm được chỗ thoát đều quỳ xuống đầu hàng, cầu quân Hán tha mạng.

Chỉ trong chốc lát, quân Hán giết chết hơn trăm thân binh của Hàn Đương không chịu đầu hàng, trên chiến trường binh qua dần dần đã dừng. Mấy nghìn binh lính bỏ vũ khí xuống cởi áo giáp bị quân Hán ra lệnh xếp hàng ở bến tàu.

Lúc này, Hán Vương Lưu Cảnh được mấy trăm kị binh hộ vệ xuống, đi tới chiến trường chỗ bến tàu, mấy trăm binh lính quân Hán đang thu thập áo giáp và binh khí trên mặt đất. Nhiều quân Giang Đông đầu hàng đang đi về phía bến tàu xếp hàng. Trên bến tàu có mấy nghìn quân Giang Đông, toàn bộ đang ngồi xổm dưới đất.

Lúc này, Cam Ninh ôm quyền bẩm báo với Lưu Cảnh nói:

- Khởi bẩm điện hạ, chủ tướng quân địch đã bỏ mạng, hơn bốn nghìn người đầu hàng không có ai chạy trốn.

Lưu Cảnh gật đầu:

- Cam tướng quân khổ cực rồi.

Hắn giục ngựa đi đến trước thi thể của Hàn Đương, thi thể được bao lại bằng chiếu, đặt trước một cái cây, Lưu Cảnh quay đầu nói với Cam Ninh:

- Người này coi như là danh tướng Giang Đông, chết ở trên chiến trường cũng đáng mặt đại trượng phu, cho y một cái quan tài chôn cất cẩn thận.

- Tuân lệnh.

Cam Ninh an bài thủ hạ hậu táng cho Hàn Đương, lúc này Lưu Cảnh đi đến trước mặt tù binh, cao giọng nói:

- Ta chính là Hán Vương Lưu Cảnh, ta biết rằng rất nhiều người biết ta.

Mấy nghìn tù binh im lặng như tờ, yên lặng nhìn Hán Vương, Lưu Cảnh lại hỏi;

- Nếu lựa chọn đầu hàng, quân Hán sẽ đối xử tử tế với mọi người, có bao nhiêu người nhập ngũ từ một năm trở lên đứng lên cho ta xem xem.

Một lúc lâu sau lục tục có mấy trăm người đứng lên, Lưu Cảnh khoát tay cho những binh lính này ngồi xuống, lại nói với mọi người:

- Vẫn chưa tới năm trăm người, xem ra mọi người đều là bị cưỡng ép nhập ngũ, cha mẹ của các ngươi, thê tử và con cái của các ngươi đang ở nhà ngóng trông các ngươi. Bọn họ không có lương thực, bị đói, thậm chí đã rời bỏ quê nhà, các ngươi vì sao không quay về nhà chăm sóc cha mẹ con cái lại phải vì một quân chủ bất nhân mà cống hiến?

Lời nói của Lưu Cảnh khiến nhiều binh lính bật khóc, mấy chục binh lính quỳ gối trước mặt Lưu Cảnh khóc nói:

- Chúng ta đều muốn về nhà, không muốn tiếp tục chiến đấu, khẩn cầu điện hạ thả chúng ta đi.

Trên bến tàu tiếng khóc vang vọng, Lưu Cảnh gật đầu lại nói với mọi người:

- Ta lấy nhân nghĩa đối đãi với các ngươi, cũng tin rằng các ngươi sẽ không đối địch với quân Hán của ta, ta tha cho các ngươi về nhà. Các ngươi về nhà phải chăm chỉ trồng trọt, chăm sóc tốt cho gia đình.

Lưu Cảnh lập tức ra lệnh nói:

- Cho bọn họ mỗi người một đấu gạo, thả bọn họ đi.

Chương 1025.1: Cuộc chiến ở Ngô quận (Thượng).

Trên bến tàu tiếng khóc tiếng hoan hô vang vọng, mấy nghìn người dập đầu cảm tạ Lưu cảnh. Mỗi người nhận túi gạo chạy về hướng nhà mình, lúc này quân tâm đã hỗn loạn, không ai nguyện ý cống hiến vì Tôn Quyền, muốn nhanh chóng trở về nhà đoàn tụ với gia đình.

Cam Ninh nhìn bóng lưng binh lính Giang Đông thở dài nói:

- Điện hạ quả thực hết lòng quan tâm giúp đỡ bọn họ.

Lưu Cảnh khẽ cười nói:

- Chuyện khó khăn khi cướp lấy Giang Đông không phải là ở đất đai mà là ở lòng dân, Tôn Thị đã trải qua ba đời cai trị Giang Đông, củng cố được lòng người. Nếu không phải mấy năm nay Tôn Quyền vì đất nước khó khăn tự hủy đi thanh danh, ta vẫn sẽ không hạ quyết tâm cướp lấy Giang Đông.

- Điện hạ nói chí phải, ty chức muốn biết, bước tiếp theo chúng ta xuôi về phía nam đánh quận Bì Lăng quận hay tiến về phía tây đánh Kiến Nghiệp?

Ánh mặt Lưu Cảnh nhìn về phía nam, thản nhiên nói:

- Cướp lấy quận Bì Lăng và Ngô Quận, Tôn Quyền sẽ trở thành cá trong chậu.

Ngô Quận chính là phòng ngự quan trọng của Giang Đông. Để bảo vệ cho Ngô quận, Tôn Quyền không tiếc bố trí ở đây nửa số quân đội, chính là ba vạn quân trấn giữ Ngô Quận. Ngoài ra Ngô quận còn có hơn tám vạn thạch lương thực và hơn trăm thuyền lớn nhỏ. Trong đó bao gồm hơn bao mươi thuyền được sửa lại thành thuyền ngàn thạch.

Trong ba vạn quân đội ở Ngô Quận, có hai vạn quân là mới gia nhập quân đội năm nay, chỉ có mười nghìn tinh binh tinh nhuệ. Đây đúng là một sự khảo nghiệm lớn, Hoàng Cái từng định tập trung binh lực đánh quân Hán ở Hội Kê, đuổi quân Hán khỏi Hội Kê, lợi dụng địa hình vùng núi quận Hội Kê để giằng co với quân Hán.

Vì thế, ông phái ba nghìn quân đánh nghi binh ở Hội Kê, ý đồ dẫn quân Hán ở Hội Kê tiến lên phía bắc. Nhưng chủ tướng Lục Tốn của quân Hán không mắc mưu, vẫn án binh bất động, Lục Tốn tất nhiên đã nhìn thấu ý đồ của ông ta.

Hoàng Cái hết cách, chỉ có thể bố trí ba vạn quân ở xung quanh Ngô huyện. Ông biết lần này quân Hán tiến về phía đông nhất định sẽ có ưu thế về kị binh, mà địa thế Ngô Quận bằng phẳng, có lợi cho kị binh tác chiến. Mà thủy quân của quân Hán cũng rất giỏi, ông ta lại không thể đến quá gần Thái Hồ.

Hoàng Cái không còn lựa chọn nào khác chỉ có thể cố thủ trong thành. Nhưng Hoàng Cái không chịu cố thủ một nơi, ông ta phải giữ cho mình một đường lui, bởi vậy, ba vạn quân Giang Đông ở Ngô Quận chọn đóng quân ở hai thành trì là Ngô huyện và huyện Ô Trình.

Buổi chiều một hôm, Hoàng Cái rốt cuộc nhận được tin chính xác, đại tướng quân tiên phong của quân Hán Ngụy Diên tiến đánh quận Bì Lăng. Bảy vạn quân chủ lực của quân Hán xuôi về phía nam áp sát về Kinh Khẩu.

Mà trong Thái Hồ cũng xuất hiện mấy trăm chiến thuyền của quân Hán, đã tới gần cửa sông, chuẩn bị men theo sông tiến đánh Ngô huyện.

Điều này đều nằm trong dự liệu của Hoàng Cái, nhưng có một điều Hoàng Cái không ngờ được chính là thủy binh của quân Hán ở Hội Kê vẫn án binh bất động. Điều này khiến cho Hoàng Cái vô cùng căm tức, nếu quân Hán ở Hội Kê không chịu tiến lên phía bắc, vậy kế hoạch rút binh về quận Hội Kê của ông ta sẽ đổ bể.

Đêm đến, trong thành Ngô huyện khắp nơi đều là tiếng khóc tiếng chửi bới. Ngày hôm qua, quân Hán cướp được Kinh Khẩu, tin tức liền truyền đến huyện Bì Lăng, dẫn tới sự hoang mang khủng hoảng. Binh lính rút vào trong thành, không còn ai canh giữ, tám vạn dân phu phụ trách đào đường sông một đêm trốn hết, trong đó có hai vạn người trốn vào trong Ngô huyện.

Hai vạn người vào thị trấn khiến trật tự bị đảo lộn, thị trường lương thực loạn cả lên, bắt đầu xuất hiện việc cướp bóc và đánh nhau. Hoàng Cái chỉ còn cách ra lệnh giới nghiêm toàn thành, nghiêm trị bạo lực. Mặc dù như thế nhưng trên đường cái thỉnh thoáng vẫn có thể nhìn thấy vài dân phu không có nhà để về.

Phó tướng Chu Hằng dẫn một đội lính tuần tra trên đường, Hoàng Cái đối ngoại, y tạm thời phụ trách trị an bên trong thành. Chu Hằng chính là người Ngô quận, hai năm trước trong sự kiện tam Tôn phân Ngô y thuộc phe ủng hộ Tôn Thiệu, sau đã chiến bại đầu hàng trong trận liên quân Tào Ngô đánh chiếm được Ngô Quận.

Bởi vì Tôn Quyền đã mất đi đại tướng Ngô Quận, Tôn Quyền chỉ có thể bổ nhiệm Chu Hằng làm phó tướng của Hoàng Cái, cùng Hoàng Cái trấn thủ Ngô huyện. Chu Hằng võ nghệ cao cường, cũng giỏi mưu lược, có thể nói là văn võ song toàn. Y còn chưa đến ba mươi tuổi, là một tướng trẻ tuổi của Giang Đông.

Chu Hằng cũng biết Giang Đông đã không thể cứu vãn, bản thân y cũng không ủng hộ Tôn Quyền, muốn y hi sinh vì Tôn Quyền, chuyện này tuyệt đối cũng không xảy ra. Nhưng y vẫn trầm mặc không nói, mọi người cũng không biết y nghĩ gì.

Chu Hằng dẫn quân đi vào một ngõ nhỏ, lúc này một cô gái trẻ tuổi bỗng chạy ra, vẫy tay la lớn:

- A Hồi Lang, thật sự là ngươi sao?

Nhìn thấy cô gái sắp chạy tới, bọn lính đều rút kiếm, Chu Hằng đột nhiên quát bọn lính. A Hồi Lang là nhũ danh của y, có rất ít người biết, cô gái này sao lại biết?

Y xoay người xuống ngựa hỏi:

- Cô là... ?

- Huynh không biết muội sao? Muội là tam tỷ a Hương.

Trong lòng Chu Hằng càng nghi ngờ, y chưa hề nghe nói đến tam tỉ a Hương, y thấy sự khác thường trong mắt cô gái kia, liền biết có nguyên do, y cũng ra vẻ nói:

- Hóa ra là tam tỉ, sao tỷ lại ở đây?

- Ta chạy nạn đến đây, mọi người trong nhà đều chạy nạn hết rồi, còn tưởng rằng không còn thân nhân nữa, không nghĩ tới gặp Hằng đệ, vậy ta được cứu rồi.

Nói đến chuyện thương tâm, cô gái dùng tay áo lau nước mắt.

- Chúng ta sang bên cạnh nói chuyện.

Chu Hằng chỉ cái cây bên cạnh:

- Tỷ đi trước đệ lập tức đến.

Cô gái đi rồi, Chu Hằng nói với đám lính:

- Các ngươi tiếp tục tuần tra, ta sắp xếp cho người nhà xong lập tức quay lại.

Bọn lính tiếp tục tuần tra, Chu Hằng giục ngựa tiến lên, tìm được cô gái ở sau gốc cây, y quay người xuống ngựa hỏi:

- Cô rốt cục là ai? Sao phải giả mạo người nhà của ta?

Cô gái mỉm cười:

- Nếu tôi thừa nhận mình là mật thám của quân Hán Chu tướng quân có tin không?

Chu Hằng ngây ngẩn cả người, cô gái này là mật thám của quân Hán, cô gái đưa cho y hai phong thư:

- Đây là thư do chính tay Tôn công tử và Lục đô đốc viết cho tướng quân, tướng quân xem sẽ hiểu.

Chu Hằng im lặng nhận thư, cô gái đột nhiên cười nói:

- Tướng quân, sau này chúng ta sẽ còn gặp lại.

Cô gái thản nhiên quay người đi, Chu Hằng nhìn bóng lưng cô đi xa, trong lòng vô cũng hỗn loạn. Theo lý y hẳn nên bắt lấy mật thám của quân Hán nhưng y lại không có dũng khí này.

Buổi chiều ngày hôm sau, thị trấn Ngô vang vọng tiếng chuông, “đương... đương... đương” Tiếng chuông cảnh báo vang vọng ở đầu thành. Rất nhiều binh lính Giang Đông đều chạy lên đầu thành, mấy nghìn quân Giang Đông đã đứng ở đầu thành.

Hoàng Cái cũng đứng trên đầu thành nhìn về phía bắc, chỉ thấy một đội binh mấy nghìn người kéo dài vài dặm, cờ tung bay, là quân tiên phong của quân Hán, bọn họ rốt cục đã tới.

Trong lòng Hoàng Cái vô cùng khẩn trương, ông ta cũng không muốn trấn thủ Ngô huyện, ông biết Ngô huyện mấy trăm năm nay chưa hề có chiến tranh, tường thành cũ nát hơn nữa không cao, chỉ hai trượng năm thước, lấy sức chiến đấu của quân Giang Đông, nhiều nhất cũng chỉ có thể thủ vững được mười ngày.

Hơn nữa hai hôm trước, hai vạn dân phu đào kênh tràn vào Ngô huyện, trời mới biết có bao nhiêu mật thám của quân Hán lọt vào, đầu tiên cho số lượng lớn mật thám vào thành do thám, khi công thành nội ứng ngoại hợp, đây là thủ đoạn trước nay của quân Hán, tin rằng lần này cũng không khác mấy.

Chương 1025.2: Cuộc chiến ở Ngô quận (Thượng).

Ý tưởng của Hoàng Cái chính là dùng Ngô Quận để đổi lấy quận Hội Kê, ông ta dẫn quân đội rút lui đến Hội Kê, đợi quân Hán vây công Kiến Nghiệp y mới bắc thượng tiến đánh Ngô quận một lần nữa, để quân Hán không thể dốc toàn lực đánh Kiến Nghiệp, đây là một kế sách rất tốt để vây Ngụy cứu Triệu.

Để thực hiện kế sách này, ông không tiếc đem hết năm nghìn quân đội và toàn bộ chiến thuyền bố trí ở huyện Ô Trình, nhưng quân Hán ở Hội Kê không chịu tiến về phía bắc, khiến trong lòng Hoàng Cái nóng như lửa đôt.

Quân tiên phong của quân Hán dường như chỉ đến qua, thoáng xuất hiện xong rút về, biến mất khỏi tầm mắt của binh lính Giang Đông, khiến cho trong lòng nhiều binh lính Giang Đông vừa căng lên như cây đàn lại buông lỏng lần nữa.

Lúc này, vài do thám của quân Giang Đông cưỡi ngựa vội vã quay về bẩm báo, chủ lực quân Hán đang ở đoạn kênh đào cuối cùng ngoài năm mươi dặm. Lúc này Hoàng Cái mới hiểu được, nếu kênh đào không thông, tàu lương thực tiếp tế của quân Hán không thể xuôi nam, bọn họ đào nốt trăm dặm kênh đào cuối cùng chính là có lợi cho quân Hán.

Bây giờ kênh đào sắp thông, chỉ còn lại năm dặm cuối cùng, lại do chủ lực quân Hán làm, tiếp tục đào kênh. Hoàng Cái không nhịn được thở dài một tiếng, là ai đã đưa ra quyết sách này, cuối cùng chính là tạo điều kiện cho quân Hán.

Lúc này, phó tướng Chu Hằng đề nghị:

- Tướng quân, quân Hán đào kênh ít nhất cần ba ngày, phòng bị của bọn họ chắc chắn sẽ nới lỏng, không bằng chúng ta lợi dụng ban đêm đánh lén quân địch.

Hoàng Cái nghĩ một chút nói:

- Lưu Cảnh dẫn quân luôn cẩn thận, hắn sao có thể lới lỏng phòng bị, nếu chẳng may bị hắn phát hiện thì sẽ bất lợi với quân ta.

- Có thể đây là cơ hội duy nhất, chẳng nhẽ tướng quân muốn buông tha sao? Nếu lợi dụng dầu hỏa đốt thuyền, có lẽ có thể đốt được chiến thuyền trong vòng trăm dặm.

Hoàng Cái dao động, quân chủ lực của quân Hán dốc toàn lực khơi thông kênh đào, đây đúng là cơ hội duy nhất. Nếu chớp lấy cơ hội này đánh bại chủ lực của quân Hán, không chỉ có Ngô quận được cứu mà toàn bộ Giang Đông cũng sẽ được cứu. Nếu bọn họ bỏ qua cơ hội lần này, Ngô Quận nhiều nhất cũng chỉ cố thủ được mười ngày, dù sao cũng đều bị đánh bại không bằng nắm lấy cơ hội này.

Chu Hằng nói đúng, chiến thuyền của quân Hán nhất định sẽ thả neo ở trong kênh đào, rất thích hợp tấn công bằng dầu hỏa. Chỉ cần bọn họ thành công công kích bằng dầu hỏa, có thể thiêu hủy toàn bộ chiến thuyền của quân Hán, tạo nền móng cho thắng lợi cuối cùng, so sánh ra thì cố thủ thành trì thì quá bị động đi.

Hoàng Cái cân nhắc lợi hại lần nữa, rốt cục quyết định xuất binh, mạo hiểm một lần, ông nói với phó tướng Chu Hằng:

- Chu tướng quân, ta để lại cho ngươi năm nghìn quân bảo vệ thành trì, còn ta mang hai vạn quân còn lại đánh lén quân địch. Ngươi phải cẩn thận phòng ngừa quân Hán công kích thành.

- Mong tướng quân yên tâm, ty chức tuyệt sẽ không lơ là.

Hoàng Cái lập tức xuống thành đi điểm binh ra khỏi thành, Chu Hằng nhìn Hoàng Cái đi xa, khóe miệng không khỏi lộ ra tia cười lạnh.

Giang Đông tốn ba tháng chuẩn bị khơi thông kênh đào một trăm dặm. Vì quân chủ lực của quân Hán xuôi nam, Giang Đông liền bỏ lại việc đào kênh, toàn bộ dân phu rút về Ngô huyện, nhưng lúc này có gần năm dặm kênh vẫn chưa được khơi thông.

Lúc này gần nghìn thuyền của quân Hán bỏ neo ở hai bên bờ sông, bảy vạn quân Hán biến thành công binh, không quản ngày đêm không ngừng đào kênh. Trong vòng một ngày ngắn ngủi liền khơi thông được ba dặm kênh đào. Chậm nhận là đến tối mai có thể khơi thông toàn bộ năm dặm kênh đào.

Trên một chiếc thuyền hai nghìn thạch ở Vận Hà, Lưu Cảnh đứng trước sa bàn nghiên cứu cách bố binh của Hoàng Cái. Trong khoang thuyền đèn đuốc sáng trưng, ngoài Hán Vương Lưu Cảnh còn có lão tướng Hoàng Trung và đại tướng Ngụy Diên, Bàng Đức, ngoài ra còn có chủ bạc Khích Chính và quân sư Liêu Lập.

Tứ đại quân sư của Lưu Cảnh ngoại trừ Giả Hủ tuổi già sức yếu ra, ba quân sư khác Tư Mã Ý, Pháp Chính và Bàng Thống đều chuyển thành văn thần, thực tế quân Hán đã không còn quân sư, chỉ có một người quân sư phò tá Cam Ninh là Liêu Lập.

Nhưng Liêu Lập rất giống Pháp Chính, khéo chiến thuật nhưng về phần chiến lược lại không được hay, không thể đảm bảo được trọng trách, Lưu Cảnh chỉ có thể tự mình đưa ra chiến lược.

Lưu Cảnh cười với mọi người nói:

- Mọi người đã phát hiện ra chưa, Hoàng Cái bố binh rất kì quái, ngoại trừ trấn thủ Ngô huyện, còn có huyện Ô Trình, hai địa phương này một ở phía đông Thái Hồ và một phía nam Thái Hồ. Nếu thủy binh tiến đánh cũng có thể hỗ trợ lẫn nhau, nhưng Giang Đông không có thủy quân, ông ta cũng bố trí như vậy là có ý nghĩa gì?

Hoàng Trung trầm tư một lúc nói:

- Hoàng Cái là lão tướng đi theo Tôn Kiên, là trụ cột vững vàng của Giang Đông, kinh nghiệm tác chiến vô cùng phong phú. Y bố binh như vậy tất nhiên là chủ ý riêng, có lẽ là y hi vọng quân Hán ở Hội Kê tiến về phía bắc tấn công huyện Ô Trình.

Lưu Cảnh có chút hiểu được, hắn lại nhìn về hướng Liêu Lập, thấy Liêu Lập vuốt râu cười liền hỏi:

- Ý của Liêu quân sư thì sao?

Liêu Lập không chút hoang mang nói:

- Ý của vi thần giống Hoàng lão tướng quân, huyện Ô Trình là tòa thành kiên cố, cũng là nơi chiến lược cách Ngô huyện khoảng trăm dặm, phân một đội quân đóng ở Ô Trình đúng là dư thừa. Chính là để huyện Ô Trình là mồi nhử câu quân Hán ở Hội Kê tiến về phía bắc, nếu toàn bộ quân Hán ở Hội Kê toàn lực tiến đánh huyện Ô Trình, Hoàng Cái liền có cơ hội.

Nói đến đây, Liêu Lập lấy cây gỗ chỉ về phía nam Ngô huyện, nói với Lưu Cảnh:

- Điện hạ mời xem, huyện Ô Trình ở phía tây nam Ngô huyện, mà quan đạo cũng chính là Ngô huyện phía nam, có thể dọc theo quan đạo xuôi nam, tiến đánh quận Hội Kê, quận Hội Kê không còn người trấn thủ chính là cơ hội cho Hoàng Cái cướp lấy quận Hội Kê.

Lưu Cảnh chậm rãi gật đầu, Liêu Lập quả nhiên hiểu biết về chiến thuật, vừa nhìn đã hiểu, nói hết được mưu đồ của Hoàng Cái, Lưu Cảnh trầm ngâm một chút nói:

- Nếu Lục Tốn không tiến về phía bắc, mưu đồ của Hoàng Cái liền đổ bể rồi.

- Quả thật như thế, tin rằng bây giờ Hoàng Cái đang rất lo lắng, lại càng căm tức, nhưng vi thần có một kế.

Liêu Lập đem kế sách của y nói với mọi người, mọi người đều gật đầu, Hoàng Trung cười nói:

- Mặc dù có chút mạo hiểm nhưng có thể suy xét, ta ủng hộ kế sách của Liêu quân sư.

- Ty chức cũng thấy khả thi.

Ngụy Diên và Bàng Đức lần lượt bày tỏ thái độ.

Lưu Cảnh lại trầm mặc không nói, nếu hắn không ủng hộ lời của những người khác cũng không có tác dụng gì. Lưu Cảnh khoanh tay chậm rãi đi lại trong khoang thuyền, hắn đang suy nghĩ có nhất thiết phải dùng kế sách này không? Hai ngày trước năm trăm mật thám của hắn đã trà trộn vào đám dân phu đào kênh lẻn vào Ngô huyện.

Đúng lúc này, một thị vệ lặng lẽ đi vào khoang thuyền, đưa một tờ giấy cho Lưu Cảnh:

- Điện hạ, có người ở Ngô huyện truyền tới tin khẩn cấp.

Chương 1026: Cuộc chiến ở Ngô Quận (hạ).

Hoàng Cái mang theo hai vạn binh lính trời vừa sáng đã lặng lẽ rời khỏi Ngô huyện, chạy về hướng đông bắc, vượt qua quân tuần tra trinh sát của quân Hán, dừng lại ở trong một cánh rừng rậm khoảng trăm dặm. Ở nơi này chỉ cách kênh đào có tám dặm, nếu như là ban ngày đứng ở nơi cao có thể nhìn thấy toàn bộ tình hình kênh đào. Nhưng bây giờ là canh hai, màn đêm đen kịt bao phủ không thể nhìn thấy tình hình phía dưới.

Hoàng Cái lệnh cho vài người đi xuống tra xét tình hình, ông ta thì dẫn theo quân đội kiên nhẫn chờ ở trong rừng rậm. Khoảng nửa canh giờ sau vài tên lính quay về, bẩm báo với Hoàng Cái:

- Khởi bẩm tướng quân, quân Hán phòng ngự ở phía nam nghiêm ngặt nhưng phía bắc lại phòng bị rất ít, nhất là phía đông bắc không hề sắp đặt binh lính tuần tra.

Hoàng Cái mừng rỡ lại hỏi:

- Tình huống quân Hán bây giờ ra sao?

- Khoảng mười nghìn binh lính đang đốt đèn đào kênh, kênh đào sắp được khơi thông. Số quân còn lại đóng ở đại doanh nghỉ ngơi, nhưng hai bên bờ sông có thuyền lớn tuần tra nghiêm ngặt, ty chức không dám tới gần.

Lúc này, Tống Nghiêm ở bên cạnh đề nghị:

- Tướng quân, không bằng chúng ta chia quân ra tập kích địch, một nửa đánh đại doanh một nửa đi thiêu hủy chiến thuyền.

Hoàng Cái là người rất cẩn thận, ông vừa muốn đánh lén thành công, một kích đánh bại quân Hán, nhưng lại không dám khinh thường, sợ trúng phải mai phục, ông trầm tư một lúc nói với vài thuộc cấp:

- Ta mang năm nghìn quân tập kích đại doanh địch trước, nếu đánh lén thành công doanh trại địch, bọn ngươi mới bất ngờ đánh vào đồng thời thiêu hủy chiến thuyền.

Hoàng Cái đưa ra quyết định, ông lập tức mang theo năm nghìn quân rời khỏi rừng rậm, vụng trộm đi về phía đông bắc chỗ đại bản doanh của quân Hán.

Đúng như lời mật thám, hướng đông bắc quả nhiên không có binh lính tuần tra, bọn họ chậm rãi đến gần đại doanh. Trong đại doanh ngọn đèn dầu leo lét mù mờ, có bóng người lay động, chắc là binh lính tuần tra. Trong đại bản doanh cực kì an tĩnh, bây giờ đã sắp đến canh ba, hẳn là lúc binh lính ngủ say nhất.

Lúc này Hoàng Cái cảm thấy có chút không đúng nhưng bọn họ đã tiến vào đại doanh của quân Hán, đâm lao thì phải theo lao. Hoàng Cái cắn răng hô lớn:

- Các huynh đệ, xông lên.

Binh lính Giang Đông hét một tiếng, theo sau Hoàng Cái chạy về hướng đại doanh của quân Hán cách đó mười bước. Hoàng Cái vào trước phá cửa đại doanh, vọt vào trong đại doanh của quân Hán nhưng trong đại doanh của quân Hán lại trống không, trong trướng không có một binh lính nào, bóng người lay động này chẳng qua chỉ là người rơm.

- Không hay, trúng kế rồi.

Hoàng Cái hô to:

- Nhanh chóng rút lui.

Năm nghìn quân Giang Đông quay đầu chạy ra khỏi đại bản doanh, lúc này bên ngoài đại doanh tiếng trống vang đội, bốn phương tám hướng tràn vào vô số người. Tên dày đặc bắn về phía binh lính Giang Đông, tiếng kêu thảm thiết không ngừng, quân Giang Đông bị bắn trúng rất nhiều.

Hoàng Cái lòng nóng như lửa đốt, ông ta thấy quân Hán ở phía đông nam dường như không nhiều lắm, liền hô lớn:

- Theo ta phá vòng vây.

Ông giục ngựa chạy về hướng đông nam, nhưng vừa chạy chưa được một dặm, trong rừng cây lửa sáng bừng, chạy ra một đám binh lính mai phục, dẫn đầu là một đại tướng quân tóc trắng râu bạc, càng già càng dẻo dai, đây đúng là đại tướng Hoàng Trung. Đại đao trong tay lão lóe sáng chỉ về phía Hoàng Cái:

- Hoàng công không thể chạy thoát đâu, nhanh xuống ngựa đầu hàng.

Hoàng Trung và Hoàng Cái đều họ Hoàng, nhưng lại đi theo chủ khác nhau, nhưng thật ra bọn họ vẫn có chút quan hệ máu mủ. Hoàng Cái là người quận Linh Lăng, Hoàng Trung là người quận Nam Dương mà Hoàng thị ở quận Linh Lăng sớm đã dời đến Tương Dương, cũng có thể coi là một chi của Hoàng thị.

Chỉ có điều Hoàng Cái chưa từng liên hệ với Hoàng Thị ở Nam Dương, quan hệ hai bên không được tốt, Hoàng Cái cũng không cho rằng bọn họ cùng một gia tộc, lúc này đều vì quân chủ của mình, lại chiến đấu ngươi sống ta chết. Hoàng Cái giận dữ, cầm đao đi nghênh chiến, Hoàng Trung vung đao tiếp được, hai bên chiến đấu kịch liệt.

Hoàng Cái vốn không phải đối thủ của Hoàng Trung, chỉ đánh nhau năm sáu hiệp Hoàng Cái liền rơi vào thế hạ phong. Lúc này thân binh của Hoàng Cái thấy chủ tướng rơi vào thế hạ phong, bọn họ cùng nhau hét lớn, tấn công tới, binh lính của Hoàng Trung cũng xông lên, hai bên giao đấu.

Hoàng Cái thấy quân Hán ngày càng nhiều, trong lòng rất lo lắng cho tình huống của quân Giang Đông trong rừng cây. Lúc này cuối cùng ông ta mới tìm được một cơ hội đào thoát khỏi cuộc chiến liền thúc ngựa phá vòng vây, chạy trốn về phía đông nam.

Hoàng Trung cũng không truy kích, lệnh cho binh lính bao vây lấy quân Giang Đông. Trong bóng đêm, mấy nghìn quân Giang Đông đi theo chỉ còn lại hơn nghìn người theo Hoàng Cái trốn thoát được, binh lính còn lại không còn đường nào để trốn, đều quỳ xuống đất đầu hàng.

Hoàng Cái chạy trốn một mạch, chỉ chạy được vài dặm, lại nhìn thấy quân Giang Đông chạy trốn tới, làm lão vô cùng sợ hãi, lão giữ một tên quân hầu hỏi:

- Sao lại như vậy?

Quân hầu nhận ra Hoàng Cái, lúc này mới nơm nớp lo sợ nói:

- Tống tướng quân mang theo chúng ta đi thiêu hủy chiến thuyền của quân địch, nửa đường lại trúng phải phục kích của kị binh quân Hán. Tống tướng quân bị tướng của quân địch giết chết, binh lính không chống lại được kị binh tấn công, bị đánh tan tác.

Hoàng Cái thở dài một tiếng, mình đi đánh lén lại trúng kế, Lưu Cảnh đã chuẩn bị trước, sao có thể buông tha đám quân Giang Đông còn lại? Hơn nữa lão lo lắng nhất là kị binh, đây là số trời đã định cho quân Giang Đông rồi.

Hoàng Cái buồn bã, quay đầu liền hoảng sợ bỏ chạy về hướng Ngô huyện, chạy được hơn hai mươi dặm không thấy quân Hán đuổi theo. Hoàng Cái chỉnh đốn lại bại binh, mang đi hại vạn quân hiện lại chỉ còn sót lại hơn bốn nghìn người. Không phải là bị quân Hán giết chết mà là đại bộ phận binh lính nhân cơ hội chạy trốn.

Hoàng Cái trầm tư một lúc, kế sách bây giờ chỉ có thể dẫn toàn bộ quân ở Ngô huyện đến huyện Ô Trình. Vẫn còn hơn một vạn người, nếu may mắn thì có thể còn rút lui được đến quận Tân Đô.

Khi trời tờ mờ sáng, Hoàng Cái rốt cục dẫn tàn quân về đến Ngô huyện, cửa Ngô huyện đóng chặt, Hoàng Cái giục ngựa tiến lên hô to:

- Mau mở cửa thành.

Vô số binh lính trên thành nhìn lão nhưng không hề lập tức mở cửa thành, Hoàng Cái càng tức thêm, lại hô to:

- Mau mở cửa thành ra ngay.

Đúng lúc này một binh lính chỉ vào cờ trên thành hô to:

- Tướng quân mau nhìn.

Hoàng Cái lúc này mới chú ý đến cờ trên thành, trong lòng lão lập tức lạnh lẽo, chỉ thấy trên thành treo cờ đỏ viền vàng của quân Hán, trên cờ có một chữ Lưu rất to.

Hoàng Cái ngây dại, Ngô huyện bị quân Hán chiếm. Chuyện gì xảy ra?

Lúc này, Chu Hằng lên đầu thành, cao giọng nói:

- Lão tướng quân, trời phẫn nộ dân phẫn uất Giang Đông, vận số đã hết, Thiệu công tử khuyên ta thuận theo ý dân, đầu hàng nước Hán, tại hạ quyết định tham dự vào việc phục hưng Đại Hán, lão tướng quân, thật xin lỗi.

Hoàng Cái giận dữ, chỉ vào Chu Hằng mắng:

- Ngô hầu không để ý đến chuyện ngày xưa, hậu đãi ngươi thế mà ngươi lại vong ân phụ nghĩa bán chủ cầu vinh.

Chu Hằng không muốn nghe lão tiếp tục mắng, xoay người đi, Hoàng Cái tức giận, ra lệnh cho quân đội công thành. Nhưng lúc này đằng sau có tiếng trống vang dội, Hoàng Cái vừa quay đầu, chỉ thấy sau lưng bụi cuồn cuộn, bụi mù trời đất, đất hơi rung phía xa truyền đến tiếng rầm rập.

Đây là kị binh của quân Hán, Hoàng Cái vạn bất đắc dĩ, chỉ có thể chạy trốn men theo sông đào bảo vệ thành chạy về phía tây. Mấy nghìn binh lính sợ tới mức mất hồn mất vía, theo Hoàng Cái liều mạng chạy trốn.

Chạy khỏi Ngô huyện khoảng ba mươi dặm, Hoàng Cái và đám tàn binh kiệt sức, ngựa chết, truy binh cũng không biết chạy đi đâu rồi? Hoàng Cái quay đầu lại nhìn đám lính, binh lính đi theo lão còn lại không đến hai nghìn người.

Rõ ràng không bị quân Hán đuổi giết, binh lính lại mất một nửa, không cần phải nói, lại nhân cơ hội chạy trốn rồi. Hoàng Cái thấy cách đó hai dặm có một dịch quán, liền nói với đám binh:

- Đến dịch quán nghỉ ngơi.

Mọi người đến dịch quán, dịch thừa vội vàng nghênh đón, Hoàng Cái hỏi y:

- Trong dịch quán còn lương thực không?

Dịch thừa cười khổ nói:

- Làm gì còn chút lương thực nào, chỉ còn lại một chút đậu đen, ta luộc cho tướng quân.

- Thôi, cho ngựa của ta uống chút nước.

Hoàng Cái cự tuyệt, binh lính không có lương thực, lão cũng sẽ không ăn một mình, binh lính tìm được giếng nước, đều thoải mái uống nước. Trong phòng trong viện đều có binh lính mệt không chịu nổi ngồi.

Hoàng Cái sai người tìm dịch thừa đến, hỏi y:

- Xung quanh có thể có dân chúng không?

Dịch thừa lắc đầu:

- Tướng quân, trăm dặm xung quanh đây không có một gia đình nào.

- Sao lại như vậy?

Hoàng Cái rất khó hiểu, nơi này cách Ngô huyện không xa, sao có thể vắng lặng như vậy.

Dịch thừa thở dài nói:

- Sớm đã chạy trốn hết, quan phủ tô thuế quá nặng, đến việc đi lên rừng hái quả cũng phải nộp thuế, đi ra sông bắt cá cũng phải nộp thuế, ai còn có thể sống đây. Những người sớm biết đã đi quận Hội Kê hết rồi, ở lại không chịu nổi áp bức, hoặc là bị đi đào kênh hoặc là suốt đêm trốn đi. Đoạn đường này xuôi xuống phía nam, huyện Ô Trình bên kia cũng sắp không còn ai rồi.

Hoàng Cái thầm thở dài một tiếng, lão cũng hiểu được Ngô hầu áp bức dân chúng quá nhiều, rơi vào tình trạng hôm nay là do y gieo gió gặt bão, không thể trách người khác.

- Vậy sao người không đi?

Hoàng Cái lại hỏi dịch trạm thừa.

Dịch thừa lắc đầu:

- Tại hạ không có con cái, thê tử cũng bệnh qua đời còn có thể đi đâu? Tại hạ ở đây đã ba mươi năm, không muốn rời đi nơi khác.

Nói đến đây, dịch thừa lại nói:

- Nói một câu khó nghe, bây giờ Ngô hầu còn không bằng Nghiêm Bạch Hổ năm đó. Nghiêm Bạch Hồ mặc dù tàn bạo nhưng ít nhất không để dân chết đói. Nhưng Ngô hầu bây giờ ngoại trừ trưng binh chính là muốn thu thuế lương thực, căn bản không để cho con người ta con đường sống.

Hoàng Cái im lặng, lúc này một binh lính nghiêng ngả lảo đảo chạy vào, hô lớn:

- Tướng quân, không hay rồi, rất nhiều quân Hán đã bao vây dịch trạm rồi.

Hoàng Cái bỗng đứng lên, truy binh đã đuổi đến rồi, binh lính trong sân loạn thành một đoàn, Hoàng Cái hét lớn một tiếng:

- Không được hoảng sợ, bình tĩnh lại.

Binh lính đều bình tĩnh lại, ngơ ngác nhìn Hoàng Cái. Hoàng Cái hít một hơi thật sâu, bước nhanh tới cửa, nhìn về phía cửa. Trong ánh bình minh lấp ló, chỉ thấy ba lớp quân Hán vây kín dịch trạm.

Trong đội ngũ của quân Hán chỉ thấy một lá cờ viền vàng của quân Hán, Hoàng Cái thở dài, là Hán Vương Lưu Cảnh lại tự mình đến.

Quân Giang Đông đều trèo lên tường xung quanh, giương cung lắp tên, đợi lệnh của Hoàng Cái. Đúng lúc này, một văn sĩ bước đến trước cửa, chắp tay cao giọng nói:

- Tại hạ là quân sư dưới trướng Hán Vương Liêu Lập, phụng mệnh Hán Vương đến gặp Hoàng tướng quân.

Tất cả binh lính bên trong đều nhìn về phía Hoàng Cái, Hoàng Cái nhận ra Liêu Lập, trong lòng lão có chút kinh ngạc. Không ngờ Hán Vương không sợ mình bắt Liêu Lập làm con tin, nhưng nghĩ lại, Hoàng Cái liền hiểu được, Lưu Cảnh chỉ cần phất tay là có thể tiêu diệt toàn quân của mình, đây là hắn đang cho mình một cơ hội.

Nghĩ vậy, trong lòng Hoàng Cái giảm bớt vài phần địch ý, ra lệnh:

- Mời Liêu tiên sinh vào.

Thuộc hạ Trần Diên bên cạnh thấp giọng nói:

- Không bằng bắt Liêu Lập làm con tin, bức quân Hán lui binh?

Hoàng Cái trừng mắt nhìn y:

- Hán Vương cho Liêu Lập vào đàm phán, quang minh lỗi lạc, ta sao có thể làm chuyện tiểu nhân?

Trần Diên bị mắng, âm thầm nghiền răng, không dám nói tiếp, không bao lâu sau, Liêu Lập đi vào dịch quán, thi lễ với Hoàng Cái:

- Hoàng bá phụ vẫn khỏe chứ?

Liêu Lập và Hoàng Cái là đồng hương, hai nhà đều là đại gia tộc của quận Linh Lăng. Từ nhỏ Liêu Lập đã biết Hoàng Cái, Hoàng Cái cũng biết Liêu Lập. Từ nhở Liêu Lập đã được vinh danh là thần đồng, rất có danh tiếng ở quận Linh Lăng. Sau này Liêu Lập đi học ở Giang Đông từng ở nhờ trong phủ của Hoàng Cái, quan hệ của hai người không hề tầm thường.

- Hóa ra là Liêu hiền chất, ngươi đến làm thuyết khách của Hán Vương?

- Cháu là đến vì bá phụ, Giang Đông đã hết hi vọng, bá phụ vì sao không trở về Kinh Châu, tận lực báo hiếu xây dựng quê hương?

Hoàng Cái thở dài một tiếng:

- Tâm ý của hiền chất ta nhận, nhưng ba đời Tôn thị đối đãi với ta không tệ, ta sao có thể phản bội bọn họ, hiền chất trở về đi. Ta sẽ không hàng Hán Vương, đại trượng phu chết trận cũng là một cái chết có ý nghĩa.

- Bá phụ không muốn đầu hàng nhưng còn những binh lính này thì sao. Họ đều có người nhà có ba mẹ cần phải phụng dưỡng, có con cái cần nuôi dạy, bá phụ nhẫn tâm để họ chết cùng hay sao?

Hoàng Cái quay đầu nhìn đám lính, chỉ thấy hơn một nghìn binh lính lòng hoang mang, trong mắt đều toát ra vẻ sợ hãi. Hoàng Cái luôn thương đám binh sĩ, lúc này trong lòng càng không đành lòng nhưng nhất thời lại không nghĩ ra cách gì.

Liêu Lập nhìn ra sự do dự trong mắt lão, nói tiếp:

- Hán Vương điện hạ không muốn tiếp tục hại dân Giang Đông, cũng rất bội phục khí tiết trung quân ái quốc của bá phụ với Giang Đông. Nếu bá phụ không muốn đầu hàng, Hán Vương điện hạ cũng không miễn cưỡng. Bá phụ có thể rời đi nhưng những binh lính này không thể tiếp tục chiến đấu.

Hoàng Cái trầm tư một lúc hỏi:

- Vậy định xử lí bọn họ thế nào?

- Giống những binh lính hàng ở Kinh Khẩu, cho lương thực làm lộ phí cho bọn họ về làm nông.

Hoàng Cái cũng không muốn để đám lính này tiếp tục đi theo mình vào con đường chết, để cho bọn họ về nhà là kết cục tốt nhất. Lão liền chấp nhận phương án của Liêu Lập, gật đầu nói:

- Nếu đã như vậy, mong hiền chất thay ta nói lời cảm tạ ân tình của Hán Vương điện hạ.

Chương 1027: Hi vọng cuối cùng.

Dựa theo ước định của Hoàng Cái và Tôn Quyền, mỗi ngày Hoàng Cái đều dùng chim bồ câu đưa tin đến Kiến Nghiệp báo cáo về tình hình Ngô Quận. Cũng là do sau khi quân Hán chiếm Kinh Khẩu, Ngô Quận và Kiến Nghiệp bị đứt liên hệ, một chiến lược ứng phó tạm thời.

Lúc này Tôn Quyền cũng đã biết việc chủ lực của quân Hán chiếm được Kinh Khẩu, chủ lực không đi về phía tây tấn công Kiến Nghiệp và trực tiếp đánh xuống phía nam. Điều này khiến cho Tôn Quyền vô cùng lo lắng cho an nguy của Ngô Quận, y gần như ngày nào cũng hỏi thăm tin tức của Ngô Quận.

Hoàng Cái cũng đúng theo ước định, mỗi ngày gửi một con chim bồ câu truyền tin đến Kiến Nghiệp, xác nhận lại tin tức của Tôn Quyền. Quân Hán đã chiếm được Lăng Quận, chủ lực của quân Hán đẩy mạnh đánh chiếm phía nam. Nhưng vào lức này đột nhiên nội dung bức thư chim bồ câu mang đến lại thay đổi, quân Hán không tấn công Ngô huyện mà đang đào kênh. Liên tục vài ngày nay tin tức trong thư không có gì thay đổi, quân Hán chần trừ không công thành, vẫn tiếp tục khơi thông kênh đào.

Điều này khiến trong lòng Tôn Quyền vô cùng hoang mang, quân Hán không công thành lại đi đào kênh, định làm cái gì?

Tôn Quyền khoanh tay đi qua đi lại trong thư phòng, y lúc này đã quên mất việc Giang Đông đã hết hi vọng, lại nghĩ đến chuyện được mất ngày mai. Đối với việc làm sao có thể lật ngược tình thế, y lại không hề nghĩ đến, y chỉ mang một tia hi vọng, có lẽ quân Hán sẽ bị nhốt ở Ngô Quận hoặc là bị thất bại ở Ngô Quận.

Lúc này một tên thị vệ đứng ở cửa bẩm báo:

- Ngô hầu, La giáo úy cầu kiến.

Tôn Quyền gật đầu:

- Cho y vào.

Một lúc sau một tướng lĩnh tầm ba mươi tuổi đi nhanh vào thư phòng, người này tên là La Nhâm, đảm nhiệm chức Giáo úy nội vụ quân, cũng chính là người nắm giữ bí mật. Y rất giống người đứng đầu trước đây Vương Ninh, đều xuất thân là thị vệ của Tôn quyền, đối với Tôn Quyền rất trung thành và tận tâm, là người Tôn Quyền tín nhiệm nhất.

La Nham tiến lên quì một gối thi lễ:

- Tham kiến Ngô hầu.

Tôn Quyền liếc mắt nhìn gã lạnh lùng hỏi:

- Có tung tích gì của Gia Cát Cẩn không?

Vài ngày trước không ngờ Gia Cát Cẩn lại mất tích, bính lính chỉ tìm được chiếc xe ngựa bị hỏng của y. Bên trong xe ngựa có vết máu loang lổ, ngựa kéo xe bị tên bắn chết, Gia Cát Cẩn và phu xe đều không rõ tung tích, chuyện này dẫn đến rất nhiều quan viên nghị luận. Gia Cát Cẩn làm người khoan dung độ lượng, đám quan viên đều đến phủ an ủi vợ con của y.

Chuyện này khiến Tôn Quyền vô cùng bị động, y hoài nghi Gia Cát Cẩn đi theo địch nhưng từ hiện trường cho thấy Gia Cát Cẩn giống như xảy ra chuyện không may. Tôn Quyền có ý định giết một người răn trăm người, đem thê nhi của Gia Cát Cẩn giam vào trong ngục nhưng lại sợ quan lại phẫn nộ khiến cho y khó đủ đường.

La Nham trầm giọng nói:

- Ty chức phái người giám thị nghiêm ngặt Gia Cát phủ, mấy ngày trước thấy vợ y rất đau khổ, nhưng hai hôm nay lại an tĩnh lại, không còn đau buồn như trước nữa, còn có chút giống giả bộ bi thương, ty chức có cảm giác giống như có người mật báo cho người nhà Gia Cát Cẩn.

- Ta không cần ngươi suy đoán, ai mật báo cho bọn họ?

Tôn Quyền có chút cáu nói.

La Nham bất đắc dĩ giải thích:

- Mấy hôm nay phủ bọn họ không có ai ra vào nhưng lại có không ít quan viên đến nhà an ủi, khoảng mười mấy người bao gồm Trương quân sư, ty chức quả thật không biết ai mật báo cho bọn họ.

Tôn Quyền khoanh tay đi lại, bỗng nhiên nổi giận quát:

- Nếu đã như vậy, coi như Gia Cát Cẩn đã phản bội, lập tức đem thê nhi của y tống vào ngục thẩm vấn.

Ty chức tuân mệnh!

La Nham biết không thích đáng nhưng cũng đành phải làm theo.

Tôn Quyền lại hỏi:

- Đám quan viên có động tĩnh gì không?

Đây cũng là việc Tôn Quyền quan tâm, trong thành Mạt Lăng có rất nhiều tin đồn, lòng người hoang mang. Lúc này, rất nhiều quan lại phải đưa ra quyết định, Tôn Quyền muốn biết, rốt cuộc có bao nhiêu người phản bội mình.

- Hồi bẩm Ngô hầu, trong khoảng thời gian này đám quan viên không có động tĩnh gì, chưa có ái tỏ thái độ gì. Nhưng đêm đến đều tổ chức họp mặt, ty chức không thể thống kê hết.

- Có ai triệu tập quan viên họp bàn bí mật?

- Đêm qua có mười mấy quan viên đến phủ Trương quân sư, đều là các quan viên cùng phe phái của y từ trước, bọn họ họp bàn tầm hai canh giờ mới rời đi.

Cùng phái với Trương Chiêu chính là bắc phái, cũng là phái có thực lực lớn nhất Giang Đông, bao gồm các quan lớn như Trương Chiêu, Tiết Tống, Gia Cát Cẩn, Trình Bỉnh, Nghiêm Tuấn, ngoài ra còn mấy chục quan viên bình thường nữa. Trước tình huống này, các phe phái tụ họp là bình thường nhưng Tôn Quyền muốn biết Trương Chiêu chủ động tập hợp bọn họ hay là bọn họ chủ động tìm Trương Chiêu?

Nghĩ vậy Tôn Quyền phân phó:

- Ngươi đi điều tra xem là ai khởi xướng việc tụ họp đêm qua? Việc này rất quan trọng, nhất định phải điều tra rõ.

Đúng lúc này, bên ngoài có người bẩm báo:

- Ngô hầu, Lã đô đốc có việc gấp cầu kiến.

Tôn Quyền cho La Nham lui ra mới cho Lã Mông vào yết kiến. Một lúc sau Lã Mông vội vàng đi vào thư phòng thi lễ với Tôn Quyền, có chút gấp gáp nói:

- Ngô hầu, ty chức nhận được tin có khả năng Ngô Quận đã thất thủ.

Tôn Quyền sửng sốt:

- Tin tức từ đâu đến?

- Tin tức lấy từ trong quân, ty chức đã cẩn thận kiểm tra qua, là bại binh trốn về từ Ngô Quận mang theo một ít tin tức xấu.

- Tin tức gì?

- Nói là Hoàng tướng quân đánh lén đại doanh quân Hán bị trúng kế, bị quân Hán phục kích, đại bại bỏ chạy. Chu Hằng hàng quân Hán dâng lên Ngô huyện, hiện tại tình huống của Hoàng tướng quân vẫn không rõ.

Tôn Quyền ngây dại, chậm rãi ngồi sụp xuống, nếu tin tức là thật như vậy Ngô Quận thật sự thất thủ rồi, tin tức chim bồ câu đưa tới mỗi ngày đều là giả. Y đã từng cảm thấy lạ sao quân Hán lại không công thành lại đi khơi thông kênh đào làm gì?

Một lúc lâu sau, Tôn Quyền cúi đầu thở dài nói:

- Lã đô đốc, nếu tin tức này là thật chúng ta nên làm gì bây giờ?

Lã Mông cắn răng nói:

- Ty chức nghe nói quân Hán tập trung lương thực ở huyện Bì Lăng, nếu chúng ta có thể đánh lén chiếm lại được huyện Bì Lăng, chiếm lấy lương thảo của quân Hán có lẽ còn một tia hi vọng.

Tôn Quyền trầm tư một lúc nói:

- Đánh lén Bì Lăng cần bao nhiêu quân đội?

- Quân đội không cần nhiều mà cần giỏi, ba nghìn quân là đủ, ty chức đề cử Đinh Phụng làm chủ tướng, đem quân đánh lén Bì Lăng.

Lúc này Tôn Quyền đã hết cách, chỉ cần có người nói còn một tia hi vọng y đều không do dự bắt lấy. Chỉ có điều bảo y xuất binh điều này đúng là làm khó cho y, nhưng cũng chỉ trầm ngâm một lúc Tôn Quyền liền đưa ra quyết định:

- Được rồi, làm như lời Lã đô đốc nói đi, để Đinh tướng quân mang quân đánh lén Bì Lăng.

Các quan văn ở Giang Đông đều có tính toán riêng, nhóm võ quan của Giang Đông cũng dần phân hóa. Phái do Lã Mông đứng đầu vẫn tận tâm tận lực như cũ, cố gắng hết sức đánh bại quân Hán, cứu Giang Đông.

Mà lão tướng do Trần Vũ, Tưởng Khâm cầm đầu khá bi quan, cho rằng Giang Đông đã hết hi vọng, tuy rằng bọn họ không hàng quân Hán nhưng thái độ tiêu cực không chịu ra sức phòng ngự.

Đến thời khắc Giang Đông rơi vào hiểm cảnh Tôn Quyền rốt cục đã biết được y chỉ có thể dựa vào phái trẻ trung phái của Lã Mông, đánh cược với quân Hán một lần.

Ban đêm, một đội quân rời khỏi Kiến Nghiệp, nhanh chóng đi về phía đông. Đội quân này do Đinh Phụng dẫn đầu, đi đánh lén huyện Bì Lăng nơi cất giữ lương thảo trọng yếu của quân Hán.

Trên thực tế, Lã Mông lấy được tin cũng chỉ là tin của mười ngày trước, quân Hán vì tấn công Ngô Quận đã để hai trăm nghìn thạch lương thực ở Bì Lăng, lấy Bì Lăng làm căn cứ hậu cần quan trọng. Nhưng bây giờ Ngô Quận đã bị quân chủ lực của quân Hán chiếm được, như vậy Bì Lăng có còn là nơi trọng yếu hậu cần hay không? Lã Mông cũng không rõ quyết định của mình có đúng hay không.

Vì thế y đưa ra hai phương án, nếu Bì Lăng vẫn là cứ địa lương thực trọng yếu của quân Hán, như vậy Đinh Phụng nhất định phải dùng bất cứ giá nào để thiêu hủy lương thảo của quân Hán, khiến cho quân Hán thiếu lương thực phải trở về. Nếu huyện Bì Lăng không còn là căn cứ địa lương thực trọng yếu thì Định Phụng phải tự mình tìm nơi để lương thực trọng yếu của quân Hán để thiêu hủy nó.

Tóm lại, Đinh Phụng và y đem ba nghìn quân liền biến thành Lã Mông bố trí một đội kỳ binh ở bên ngoài, một khi quân chủ lực của quân Hán bao vây Kiến Nghiệp, đội quân này tác chiến ở bên ngoài thừa cơ tiến đánh tử huyệt của quân Hán.

Cũng chính là ý đồ này, Đinh Phụng suất lĩnh ba nghìn quân vô cùng tinh nhuệ, đều là binh lính có kinh nghiệm năm sáu năm, phần lớn đều tham gia cuộc chiến ở Hợp Phì, huấn luyện nhiều, trang bị đầy đủ. Ngoại trừ bộ giáp mỗi binh lính đều mang theo ba đấu gạo và một cái áo dầu hỏa.

Đinh Phụng đi cũng không quá vội vã, sau khi đi được năm mươi dặm, trời dần dần sáng, Đinh Phụng thấy phía trước có một rừng cây, hạ lệnh cho toàn quân vào rừng nghỉ ngơi.

Binh lính đi một đêm, thực sự có chút mệt không chịu nổi, bọn họ đều vọt vào trong rừng cây tìm kiếm một nơi khô ráo nghỉ ngơi. Đinh Phụng tìm được một tảng đá lớn ngồi xuống, vừa uống nước vừa suy nghĩ về mệnh lệnh của Lã Mông giao cho y.

Bản thân Đinh Phụng cũng cho rằng căn cứ địa lương thảo trọng yếu của quân Hán chưa chắc đã ở Bì Lăng. Nếu quân Hán chiếm được Ngô Quận, như vậy tiếp theo sẽ giết một hồi mã thương, quay đầu tấn công Kiến Nghiệp, dưới tình huống như vậy, căn cứ lương thảo trọng yếu của quân Hán sẽ ở đâu?

Đinh Phụng lấy ra một tấm bản đồ đặt trên tảng đá lớn, cẩn thận nhìn xem nơi nào sẽ được quân Hán lựa chọn làm căn cứ địa lương thảo trọng yếu. Căn cứ địa lương thực trọng yếu nhất định phải đáp ứng được mấy điều kiện, một là giao thông tiện lợi, hơn nữa phải vận chuyển được bằng đường thủy, không những thế còn phải gần Kiến Nghiệp dễ dàng để tiếp ứng lương thực cho quân Hán bất cứ lúc nào. Dựa vào mấy điều này, Bì Lăng và Kinh Khẩu đều không có khả năng, nguyên nhân chính là cách Kiến Nghiệp quá xa.

Mà điều thứ ba là phải an toàn, dễ dàng cho việc đóng binh, có lợi cho việc phòng ngự, không dễ dàng bị quân địch đánh lén. Nhưng nơi xung quanh Kiến Nghiệp phù hợp với những điều kiện trên gần như không có, không phải giao thông bất tiện thì chính là không an toàn.

Lúc này, ánh mắt Đinh Phụng híp lại, y phát hiện ra một nơi có khả năng trở thành căn cứ địa lương thực trọng yếu của quân Hán, chính là bờ bắc Trường Giang, vừa có sông Trường Giang thuận lợi cho việc vận chuyển, lại có một khoảng cách an toàn với quân Giang Đông đồng thời cũng rất gần Kiến Nghiệp.

Trong lòng Đinh Phụng vô cùng đau xót, nếu y là Lưu Cảnh sao y có thể để căn cứ địa lương thảo trọng yếu ở một nơi không an toàn như Giang Đông mà không đặt ở nơi an toàn lại tiện lợi như Giang Bắc? Đáp án dĩ nhiên là tất nhiên đấy, lương thảo của quân Hán tất nhiên sẽ rời lên phương Bắc, đến tướng quân Giang Đông bình thường như y cũng có thể nghĩ đến điểm này, quân vương một nước như Lưu Cảnh sao có thể không nghĩ ra?

Lúc này, một tên binh lính vội vàng chạy tới, bẩm báo với Đinh Phụng:

- Khởi bẩm tướng quân. Chúng ta bắt được hai binh lính đào ngũ ở trong rừng cây.

Đinh Phụng gật đầu:

- Dẫn bọn chúng tới đây.

Chương 1028: vây bắt Đinh Phụng.

Một lát sau, hai gã nam tử được dẫn lên. Trên người chúng là quần áo rách nát mượn tạm, mặt mũi lấm lem không khác gì dân chạy nạn, nhưng binh lính lục soát được quân bài của binh lính Đông Giang trên người chúng, đủ để chứng mính hai người này chính là binh lính Đông Giang.

Hai người vừa được đưa tới trước mặt Dinh Phụng liền dập đầu cầu xin:

- Tướng quân tha mạng!

Đinh Phụng nhìn hai khối quân bài, lạnh lùng nói:

- Dựa theo quân kỷ, binh lính tự ý đào quân lập tức trảm, hai người các ngươi không muốn sống nữa phải không?

Hai tên lính đào ngũ sợ mất hồn mất vía, liều mạng dập đầu xin tha, giọng điệu của Đinh Phụng có chút hòa hoãn lại, nói với hai tên lính:

- Chỉ cần các ngươi thành thật khai báo, ta có thể tha cho các ngươi một mạng.

Tên lính đào ngũ tuổi lớn hơn nơm nớp lo sợ khai báo:

- Bẩm tướng quân, chúng tôi kỳ thật cũng không phải đào binh, chúng tôi theo Hoàng lão tướng quân tập kích quân doanh của quân Hán, kết quả trúng mai phục, bị kỵ binh của quân Hán đuổi giết, chúng tôi may mắn chạy thoát, nhưng không biết Hoàng lão tướng quân hiện đang ở nơi nào, chúng tôi chỉ đành trở về Kinh Khẩu.

- Điều này thật kỳ lạ, nếu các ngươi muốn trở lại kinh thành, tại sao lại xuất hiện ở nơi này? Nơi này chính là quan đạo nối liền với quận Bì Lăng.

Tên lính đào ngũ còn lại nói:

- Người nhà của chúng tôi không ở Kinh Khẩu, không biết đã đi đâu? Chúng tôi liền tới nhà người thân ở quận Bì Lăng, kết quả gặp phải tàu chiến của quân Hán, chúng tôi sợ quá liền chạy trốn về hướng Tây.

- Đợi một chút!

Đinh Phụng đột nhiên từ lời khai của hai người họ lấy được tin tình báo khẩn cấp, y lập tức đứng lên truy vấn:

- Các ngươi gặp thuyền chiến của quân Hán ở nơi nào?

- Ở phụ cận trấn Thất Liễu.

Đinh Phụng lập tức mở bàn đồ, rất nhanh tìm thấy vị trí của trấn Thất Liễu, đúng là vị trí trung tâm kênh đào nối liền quận Bì Lăng và kênh đào thành Kinh Khẩu, y liên tục truy vấn:

- Gặp phải chiến thuyền quân Hán lúc nào? Có bao nhiêu chiến thuyền? Chiến thuyền chạy theo hướng nào?

- Hồi bẩm tướng quân, chúng tôi gặp được vào buổi sáng ngày hôm qua, cũng không biết có bao nhiêu chiến thuyền, thấy đầu không thấy đuôi, thanh thế lớn, phỏng chừng có khoảng một ngàn chiếc, đều là thuyền chiến ngàn thạch. Chạy theo hướng Kinh Khẩu.

Đinh Phụng chậm rãi ngồi xuống, quả nhiên bị y đoán trúng, hơn một ngàn chiến thuyền chạy theo hướng Kinh Khẩu, chỉ có một lý do, trọng địa hậu cần của quân Hán đang chuyển dời, không phải chuyển tới Kinh Khẩu mà chuyển tới bờ Giang Bắc, nếu như, vậy, lần xuất chinh này của y còn có ý nghĩa gì?

Đinh Phụng tâm tình uể oải, khoát tay áo nói:

- Cho bọn chúng ít lương thực, thả bọn chúng đi đi!

- Đa tạ tướng quân!

Hai người dập đầu lạy tạ, tiếp nhận túi lương thực liên chạy như bay, Đinh Phụng rầu rĩ ngồi một mình trên tảng đá lớn. Lúc này, một nha tướng thấp giọng đề nghị:

- Tướng quân, không bằng chúng ta thay đổi tuyến đường đi đến Kinh Khẩu, có lẽ sẽ vượt qua được chiến thuyền của quân Hán.

Đinh Phụng gật gật đầu, hai tên lính đào ngũ kia là vào buổi sáng hôm qua gặp chiến thuyền tại trấn Thất Liễu, lặn lội tới nơi này suốt một ngày một đêm, nếu chiến thuyền của quân Hán là ngàn chiếc, vả lại tốc độ không nhanh…, bọn họ có thể tại Kinh Khẩu đuổi kịp một số thuyền ở phía sau.

Nghĩ vậy, Đinh Phụng đứng dậy ra lệnh:

- Toàn quân lập tức xuất phát đến Kinh Khẩu.

Ba nghìn binh lính Giang Đông chạy từ trong rừng ra, xếp thành từng hàng hăng hái hành quân theo hướng Đông Bắc, bọn họ cách Kinh Khẩu ước chừng khoảng sáu mươi dặm, nếu hành quân thuận lợi…, lúc xế chiều sẽ đến Kinh Khẩu.

Nhưng ba nghìn quân Giang Đông chỉ mới ra khỏi mười dặm, liền cảm thấy có điều dị thường, mặt đất rung chuyển, bốn phía truyền đến âm thanh như sấm rền:

- Tướng quân, phía sau có kỵ binh đuổi tới!

Đinh Phụng quay đầu nhìn lại, chỉ thấy một đại đội kỵ binh đông nghìn nghịt, cách bọn họ không đến hai dặm, một đường đuổi thẳng đến đây, binh lính đột nhiên hoảng sợ hét to:

- Tướng quân, phía trước cũng có kỵ binh chắn đường.

- Tướng quân, hướng Đông cũng có kỵ binh!

- Phía Tây cũng có!

Trong lòng Đinh Phụng lập tức lạnh xuống, y biết mình trúng mai phục, kỵ binh của quân Hán đã sớm nhắm đến đại đội quân của y, chỉ chờ thời cơ bao vây tiêu diệt y.

- Tướng quân mau nhìn!

Một tên lính chỉ vào kỵ binh phía trước hô to:

- Hai người kia!

Đinh Phụng liếc mắt liền nhận ra, xa xa có hai tên lính không mặc quần áo giống kỵ binh, chính là hai tên lính đào ngũ mà y bắt được trong rừng, hóa ra bọn chúng chính là tình báo của quân Hán, Đinh Phụng hận đến sôi máu, khó trách hai tên kia vẫn giữ quân bài trong người, nếu thật là binh lính đào ngũ, phát hiện quân Giang Đông, việc đầu tiên chính là vứt bỏ quân bài, chính mình không có nghĩ tới hay vì bọn chúng giả trang quá tài tình.

Đinh Phụng liền hiểu ra, quân Hán biết được bọn y có ý đồ muốn tập kích trọng địa lương thảo của chúng, cho nên cố ý dẫn dụ bọn y đến Kinh Khẩu, khiến cho bọn y rơi vào vòng vây của kỵ binh.

- Tướng quân, chúng ta bây giờ nên làm gì?

Vài tên nha tướng kinh hoảng lớn tiếng hỏi.

Bọn họ bị vây vào giữa cánh đồng hoang, chung quanh đều là đồng bằng, không có sông, cũng không có rừng cây, đây là địa hình tấn công của kỵ binh, Đinh Phụng bất đắc dĩ hô lớn:

- Nhanh chóng sử dụng cung tiễn phòng ngự phía sau!

Binh lính Giang Đông dưới sự thống lĩnh của Đinh Phụng dù sao vẫn là một đại đội tinh nhuệ, tuy binh lính vô cùng bối rối, nhưng không hoảng loạn, miễn cưỡng hình thành trận hình, hơn một ngàn binh lính giương cung sẵn sàng, nhắm ngay kỵ binh quân Hán đánh lén phía sau

Đoàn kỵ binh này là Quan Lũng kỵ binh do Bàng Đức thống lĩnh, vốn Bàng Đức cũng chấp thuận kế sách diệt Ngô của Hán vương Lưu Cảnh, tận lực bảo tồn nhân khẩu Giang Đông, cũng chính là lấy bất chiến để khuất phục binh lính, tận lực bắt sống binh lính Giang Đông.

Nhưng Đinh Phụng chẳng những không có ý đầu hàng, lại còn giương cung sẵn sàng chống lại, khiến cho Bàng Đức vô cùng căm tức, chiến đao vung lên ra lệnh:

- Xuất kích!

Trong tiếng trống vang dội, kỵ binh của quân Hán theo bốn phương tám hướng xuất kích, nhấc lên chiến đao trường mâu, đánh tới quân Giang Đông bị bao vây.

Bụi đất tung bay mù mịt, tên như mưa dội, hai ngàn kỵ binh phía nam dẫn đầu đánh tới, bọn họ giơ cao tấm chắn ngăn tên phóng tới, không ngừng có binh lính trúng tên ngã ngựa, nhưng quân Hán tre già măng mọc, chỉ trong chớp mắt liền đánh tới trước mặt binh lính Giang Đông.

“Oanh’ một tiếng vang thật lớn, tiếng kêu thảm thiết vang lên, mười mấy binh lính Giang Đông bị đâm tới, kỵ binh tấn công mãnh liệt, nháy mắt tấn công vào năm mươi bước trận hình của quân Giang Đông, phá hổng trận thế của quân Giang Đông, thi thể khắp nơi, máu thịt mơ hồ, mấy tram binh lính Giang Đông chết thảm tại chỗ.

Mãnh lực của kỵ binh Quan Lũng làm cho binh lính Giang Đông vô cùng kinh sợ, trận thế lập tức đại loạn, binh lính Giang Đông không có kinh nghiệm đối kháng với kỵ binh, Đinh Phụng am hiểu thủy chiến, về kỵ binh ít nhiều khiếm khuyết kinh nghiệm, vì vậy không bày ra thế trận trường thương, ba nghìn Giang Đông binh lính từng người tự chiến, một lát, liền bị kỵ binh chia thành mười nhóm nhỏ, bị kỵ binh đánh giết thảm hại.

Lúc này, Đinh Phụng chém giết đỏ cả mắt, chiến mã của y trong lúc kỵ binh tấn công trúng phải tên lạc đã bị giết chết, Đinh Phụng liền múa trường thương đi bộ giết địch.

Lúc này, một con hắc mã Đại Uyên như cuồng phong phi tới, trên ngựa là một viên Đại tướng áo giáp đen, nón trụ bạc, mặt như trọng táo, tay cầm Kim Bối khảm sơn đao, đúng là chủ tướng kỵ binh quân Hán Bàng Đức.

Bang Đức quát một tiếng, chém tới Đinh Phụng một đao, Đinh Phụng cũng hét lớn một tiếng, trường thương nghênh chiến, tuy Đinh Phụng võ nghệ cao cường, là dũng sĩ hàng đầu của Giang Đông, nhưng chiến mã của y đã chết, vũ lực giảm bớt, đối mặt với một đối thủ dũng mãnh như Bàng Đức, Đinh Phụng chẳng mấy chốc liền rơi xuống thế hạ phong, trong lúc nhất thời liền gặp nguy hiểm.

Bàng Đức một đao bổ tới, Đinh Phụng giơ cao trường thương đón đỡ, lực lượng cường đại khiến cho hổ khẩu y chấn động, thiết thương rời tay bay lên, y liền lui lại mấy bước, lúc này chiến mã của Bàng Đức phi qua, thừa dịp Đinh Phụng thất thế liền giơ tay chế trụ phần gáy khôi giáp của Đinh Phụng, nhấc y lăng không.

Bàng Đức đánh ngã Đinh Phụng trên mặt đất, thiết thương bay đến bên kia, y ra lệnh:

- Trói lại cho ta!

Hơn mười tên lính Quan Lũng tiến lên, đè lại Đinh Phụng, trói chặt lại, Đinh Phụng liều mạng giãy giụa, nhưng không thể thoát khỏi.

Bàng Đức hét lớn một tiếng:

- Tất cả dừng tay!

Thanh âm như hổ gầm, chém giết trên chiến trận chậm rãi dừng lại, vô số ánh mắt nhìn về hướng chủ tướng, Bàng Đức một tay giơ cao Đinh Phụng, hô lớn:

- Chủ tướng của các ngươi đã bị bắt, lập tức đầu hàng ta sẽ tha mạng.

'Leng keng! '

Cũng không biết là ai đã buông chiến đao xuống trước, nhưng điều này cũng không còn quan trọng, binh lính Giang Đông mắt thấy chủ tướng bị bắt, hơn nữa, kỵ binh của quân Hán vô cùng dũng mãnh, sớm khiến cho bọn họ hoảng sợ, đứng trước sinh tử, chỉ cần một binh sĩ buông vũ khí, sẽ dẫn tới vô số người buông theo.

Binh lính Giang Đông toàn bộ buông vũ khí, hai tay ôm đầu quỳ trên mặt đất, từng lớp từng lớp người, chỉ trong chốc lát, gần hai ngàn binh lính Giang Đông toàn bộ quỳ xuống đất.

Đinh Phụng vừa xấu hổ, vừa vô cùng giận dữ, có tâm ngăn cản binh lính đầu hàng, nhưng miệng bị vải bố ngăn chặn, không thể hô ra tiếng, chỉ có thể trơ mắt nhìn tất cả binh lính của mình quỳ gối đầu hàng, Đinh Phụng thống khổ nhắm chặt hai mắt.

Chương 1029: Đối chất tại chính đường.

Cưỡi trên chiến mã bao ngày bôn ba mệt mỏi, lão tướng Hoàng Cái cuối cùng cũng trở về Kiến Nghiệp, từ sau khi thoát thân khỏi dịch quán, lại đi huyện Ô Trình, giữa đường biết được năm ngàn quân canh giữ huyện Ô Trình đã đầu hàng quân Hán, Hoàng Cái lòng đau như dao cắt, lại không thể làm được gì, ông không còn chỗ để đi, chỉ có thể đơn thân độc mã trở về Kiến Nghiệp.

Cách Kiến Nghiệp khoảng một dặm, phía quan đạo đối diện có hơn mười kỵ binh cấp tốc chạy tới trước mặt Hoàng Cái, những kỵ binh mặc áo giáp bạc, nón trụ bạc hiển nhiên đều là thị vệ của Tôn Quyền.

Thống lĩnh thị vệ ôm quyền nói với Hoàng Cái:

- Chúng tôi phụng lệnh Ngô hầu, đặc biệt tới đón tiếp lão tướng quân!

Sống mũi Hoàng Cái cay cay, liền vội vàng hỏi:

- Cảm tạ các vị tới đón tiếp, xin hỏi, Ngô hầu làm sao biết ta đã trở về?

- Trinh thám đã bẩm báo tin tức cho Ngô hầu, vì vậy mới biết được lão tướng đã trở về.

- Ra là vậy, vậy thỉnh các vị dẫn ta tới gặp Ngô hầu.

Không ngờ bọn thị vệ không hề có dấu hiệu lên đường, ngược lại bao vây Hoàng Cái. Hoàng Cái không khỏi ngây người:

- Các ngươi làm gì vậy?

Thống lĩnh thị vệ cười khan nói:

- Đề phòng có gì bất trắc, xin lão tướng quân giao binh khí cho chúng tôi.

Hoàng Cái lập tức giận tím mặt:

- Các ngươi dám vô lễ với ta.

- Lão tướng quân xin bớt giận, chúng tôi chỉ là phụng lệnh làm việc thôi.

Hoàng Cái thở dài một tiếng, đây hẳn là ý của Tôn Quyền, xem ra Tôn Quyền muốn gặp ông cũng không phải là việc tốt gì, nhưng việc đã đến nước này, ông cũng không thể quay ngựa rời đi, chỉ đành đem trường thương và kiếm giao cho bọn thị vệ.

- Còn chủy thủ!

Thống lĩnh thị vệ chỉ vào chủy thủ trên người lão tướng quân nói:

- Ngô hầu có lệnh, phải giao nộp tất cả binh khí, bao gồm chủy thủ.

Trong lòng Hoàng Cái ảm đạm, Lưu Cảnh còn không thu của ông một món binh khí nào, nhưng Tôn Quyền không hề tín nhiệm mình, quả thực làm chi người ta chê cười, vừa rồi Hoàng Cái còn vì Tôn Quyền tới đón mình mà cảm động, nhưng lúc này ông chỉ còn lại thất vọng, đau khổ.

Ông đem chủy thủ món binh khí duy nhất còn lại trên người ông giao cho thị vệ, bọn thị vệ kiểm soát trên người lão tướng quân một lần nữa, lúc này mới dẫn ông vào thành Kiến Nghiệp, lúc này tâm Hoàng Cái đã lạnh như băng, để mặc bọn thị vệ vô lễ với mình.

Một lát, đoàn người tiến vào thành Kiến Nghiệp, tới bậc thang trước Cung Kiến Nghiệp:

- Tướng quân xin mời! Ngô hầu chờ người ở chính đường.

Bọn thị vệ xoay người xuống ngựa, lạnh lùng nói với Hoàng Cái.

Lúc này, Hoàng Cái bỗng nhìn thấy Trương Chiêu đi tới bên cạnh, ông vội vàng nghênh đón nói:

- Quân sư, xảy ra chuyện gì?

Trương Chiêu thở dài, lắc lắc đầu bước đi. Lúc này, vài tên thị vệ tiến lên áp giải Hoàng Cái, cưỡng ép ông bước nhanh lên bậc thang đi vào chánh đường.

Chánh đường của Kiến Nghiệp cung thực tế chính là chính điện, có quy mô của một tòa đại điện, chỉ vì có chút kiêng dè nên mới gọi là chính đường, nhưng thực chất cũng đã vượt quá quy mô của một chính đường, đây cũng chính là một trong những lý do Lưu Cảnh chỉ trích Tôn Quyền có ý đồ mưu phản.

Trong chính đường rộng lớn ấy, Tôn Quyền ngồi trên vương tọa được làm từ bạch ngọc, lạnh lùng nhìn Hoàng Cái, đứng bên cạnh là Lã Mông, Bộ Chất và hơn mười vị quan văn võ, Hoàng Cái thoát kìm cặp của bọn thị vệ, chỉnh trang lại áo giáp, tiến lên quỳ xuống thi lễ:

- Ty chức Hoàng Cái tham kiến Ngô hầu.

- Hoàng Cái, ngươi có biết tội của mình không?

Tôn Quyền nghiêm nghị quát lớn.

- Ty chức thống lãnh quân đội bất lực, chủ quan vội vàng, trúng mai phục của quân địch, khiến cho toàn quân bị diệt, ty chức biết tội.

- Hừ? Nếu là như vậy ta đã không tiếp tục truy cứu tội của ngươi, bổn hầu là nói tới tội cấu kết quân địch của ngươi.

Trong đầu Hoàng Cái liền ‘ông’ một tiếng, trong lòng rối loạn, sao Ngô hầu lại buộc tội mình cấu kết với quân Hán, rõ ràng là Chu Hằng cấu kết với quân Hán, dâng thành Ngô huyện, như thế nào tội danh này lại đổ trên đầu mình rồi.

- Khởi bẩm Ngô hầu, ty chức tuyệt không cấu kết với quân Hán, là Chu Hằng âm thầm cấu kết với địch, thừa dịp ty chức đem quân ra khỏi liền thành, hiến thành đầu hàng, mới dẫn đến thảm bại hôm nay, xin Ngô hầu minh giám!

Tôn Quyền cười lạnh lên tiếng hỏi;

- Một khi đã như vậy, sao chỉ còn một mình ngươi, những binh lính khác đâu, chẳng lẽ đều chết hết rồi sao?

- Khởi bẩm Ngô hầu, ty chức bị quân Hán bao vây, chỉ có một mình ty chức liều chết thoát ra, binh lính còn lại đều bị quân Hán bắt lại.

Tuy trên thực tế tình hình có phần phức tạp hơn, nhưng Hoàng Cái không muốn nói nhiều, chỉ cần không thẹn với lương tâm là được, Tôn Quyên cười lạnh:

- Hay cho một viên tướng liều mình thoát khỏi trùng vây, ngươi cho là bổn hầu không biết gì, mặc cho ngươi nói láo, dẫn tới!

Tôn Quyền khoát tay áo, một lát, một gã nam tử bị thị vệ dẫn lên, Hoàng Cái liếc mắt liền nhận ra gã là thuộc hạ Trần Diên của mình, cũng là người đã từ biệt tại dịch quán, Hoàng Cái ngẩn ra:

- Sao lại là ngươi?

- Lão tướng quân, sao không phải là ta đây?

Trần Diên cười lạnh một tiếng, khom người thi lễ với Tôn Quyền:

- Tham kiến Ngô hầu!

- Trần tướng quân, ngươi hãy đối chất với lão đi!

Trần Diên xoay người, không chút hoang mang nói với Hoàng Cái:

- Ta tin tưởng lão tướng quân đã nói hết chuyện tập kích quân Hán và chuyện Chu Hằng hiến thành, chuyện này không có gì sai. Ta sẽ không nói rườm rà, mấu chốt là chuyện xảy ra ở dịch quán, Hoàng tướng quân, ta hỏi ông, ông có gặp Liêu Lập hay không?

Hoàng Cái thầm thở dài, mình cho dù có nhảy xuống sông Hoàng Hà cũng không thể nói rõ chuyện này, ông gật gật đầu:

- Lưu Cảnh phái Liêu Lập tới khuyên ta đầu hàng, chuyện này là có thật.

- Liêu Lập là quân sư của quân Hán, Hoàng tướng quân vì sao không bắt giữ hắn làm con tin?

- Hai nước đánh nhau, không chém sứ giả, Liêu Lập quang minh lỗi lạc mà đến, nếu như ta bắt hắn làm con tin, chẳng phải làm hỏng danh dự của thống lĩnh quân Giang Đông sao, loại chuyện như vậy Hoàng Cái ta không làm.

Trần Diên liên thanh cười lạnh:

- Nói so với hát tuồng còn hay hơn, khó trách Liêu Lập gọi ngươi là thế thúc.

Hoàng Cái giận dữ:

- Ta không bắt hắn làm con tin, không phải vì tư tình, Hoàng Cái ta cống hiến mấy chục năm cho Giang Đông, chẳng lẽ vì chút tư tình không quản đại nghĩa sao?

Trần Diên một chút cũng không nhượng bộ, gay gắt đối chấp:

- Hoàng Cái ông đừng dùng thân phận tới dọa người, ta ở bên cạnh Ngô hầu so với ông càng lâu hơn!

Hoàng Cái lập tức ngẩn người, ông nhìn thẳng Trần Diên một lúc sau, gằn từng tiếng hỏi:

- Ngươi rút cuộc là ai?

Trần Diên tự biết mình lỡ lời, đơn giản làm rõ;

- Ta nguyên là Nội vệ quân vẫn luôn theo bên cạnh Ngô hầu.

Hoàng Cái chậm rãi quay đầu lại, nhìn chăm chú Tôn Quyền, vẻ mặt sầu thảm nói:

- Hóa ra Ngô hầu đã sắp xếp thám tử bên cạnh ta, ta nay mới biết được.

Tôn Quyên sắc mặt không chút thay đổi, lạnh lùng nói:

- Ngươi không cần tránh vấn đề, ta lại hỏi ngươi, ngươi có đầu hàng quân Hán hay không?

- Lão thần tuyệt đối trung thành với ba đời Tôn thị, tận tâm với Giang Đông, tuyệt không có đầu hàng Lưu Cảnh.

- Nói bậy!

Trần Diên đứng bên cạnh cả giận nói:

- Ngươi rõ ràng tiếp nhận điều kiện của Liêu Lập, hiến hơn một ngàn huynh đệ cho quân Hán, chính mình lại thoát thân, nếu ngươi không đầu hàng quân Hán, bọn chúng sẽ thả ngươi hay sao?

Hoàng Cái lắc đầu:

- Ngươi thật sự là một con lợn hồ đồ, ta vì bảo toàn tính mạng của các ngươi mới không tử chiến, Lưu Cảnh là một vị quân vương nhân từ, không đành lòng để người dân Giang Đông chịu cảnh tàn sát, mới để cho ta rời đi, ngươi rõ ràng là một tiểu nhân, làm sao hiểu được tấm lòng của một thượng tướng?

Tôn Quyền nghe ra ý châm chọc mình là tiểu nhân của Hoàng Cái, y rốt cuộc không kìm nổi tức giận, vỗ mạnh bàn một cái:

- Hoàng Cái, ngươi rõ ràng là đến Kiến Nghiệp để mai phục, thời cơ đến liền hiến thành, còn muốn hoa ngôn xảo ngữ lừa gạt ta, người đến, bắt lại cho ta!

Hơn mười tên thị vệ xông lên, ấn ngã Hoàng Cái xuống đất, Hoàng Cái nhìn thấy Tôn Quyền chỉ tin thị vệ không tin tưởng đại tướng, trong lòng vô cùng thất vọng đau khổ, lại nghĩ đến tấm lòng trung kiên phò trợ Tôn Quyền lập nghiệp, trong lòng vô cùng thống khổ, cao giọng hô to:

- Tôn Quyền, Giang đông bị hủy trong tay ngươi, ngươi còn mặt mũi nào đi gặp huynh đệ?

Tôn Quyền giận dữ, ra lệnh:

- Đem ra ngoài trảm cho ta!

Thị vệ áp giải Hoàng Cái ra ngoài, Bộ Chất đứng bên cạnh cùng với đám người Trương Chiêu đều bước ra khỏi hàng cầu tình:

- Ngô hầu, xin bớt giận, việc Hoàng Cái đầu hàng vẫn chưa có chứng cứ xác thực, giết ông ta sẽ ảnh hưởng tới thanh danh của Ngô hầu, xin Ngô hầu tha cho ông ta một mạng.

Lã Mông cũng tiến lên cầu tình:

- Hoàng Cái rất có uy trong quân doanh, giết ông ta sẽ ảnh hưởng tới sĩ khí, xin Ngô hầu suy nghĩ kỹ!

Lã Mông nói trúng lo lắng của Tôn Quyền, y chậm rãi nói:

- Nếu các vị đại thần đã thay lão ta cầu tình, ta tạm tha chết cho lão, nhưng tội sống khó tha, phạt đánh hai trăm côn, trông coi nghiêm ngặt!

Thị vệ giải Hoàng Cái xuống, xa xa chỉ nghe vọng lại:

- Tôn Quyền, tên vô năng hèn nhát, ngươi đánh mất Giang Đông, sao có thể đi gặp phụ - huynh?

Trên đại điện, tràn ngập không khí ngượng ngùng, Tôn Quyền hừ mạnh, đứng lên đi tới hậu cung, các đại thần còn lại đều lắc đầu, thở dài, Lã Mông lại có chút lo lắng không lòng dạ trở lại quân doanh liền về nhà.

Trong thư phòng, Lã Mông một mình uống rượu giải sầu, Hoàng Cái thất bại trở về đánh tan hy vọng cuối cùng của Ngô quận, tuy Ngô hầu hôm nay không hỏi tới tình hình của huyện Ô Trình, nhưng không cần hỏi Lã Mông cũng biết, huyện Ô Trình cũng đã thất thủ, những việc này đều nằm trong dự liệu của y, không đến mức khiến y rầu rĩ không vui như vậy.

Mấu chốt chính là hôm nay y trong lúc vô ý biết được, không ngờ Tôn Quyền lại sắp xếp mật thám bên cạnh Hoàng Cái, giám thị hành động của Hoàng Cái, như vậy bên cạnh mình có mật thám của Ngô hầu hay không? Đáp án rất rõ ràng, Tôn Quyền liền ngay cả Hoàng Cái trung thần ba đời Tôn thị cũng không tin tưởng, như thế nào có thể tin tưởng mình?

Lúc này, cửa phòng mở ra, thê tử Tạ thị của Lã Mông mang một mâm thức ăn vào thư phòng, vợ trước của Lã Mông bệnh chết, y vốn có ý với Tiểu Kiều, nhưng Tiểu Kiều lại đến Trường An làm thiếp của Lưu Cảnh, Tôn Quyền cố ý lấy lòng Lã Mông, liền để cho Tạ phu nhân làm mối, gả tộc muội của Tạ phu nhân cho y.

Tạ thị tâm địa thiện lương, dịu dàng đoan trang, biết săn sóc, một nữ tử thanh tú xinh đẹp, vô cùng ân ái với Lã Mông, nàng tuy là tộc muội của Tạ phu nhân, nhưng cũng rất ít tiến cung thăm Tạ phu nhân, ở nhà toàn tâm toàn ý nuôi dạy hai đứa con trai vợ trước Lã Mông, cũng rất được Lã Mông kính trọng.

- Tâm tình tướng quân dường như không tốt?

Tạ thị buông bàn thức ăn xuống cười hỏi.

Lã Mông thở dài một tiếng:

- Tình hình Giang Đông vô cùng rối loạn, lúc này, tâm tình làm sao có thể tốt được?

- Tướng quân cũng đã tận lực, nhưng cũng không cứu được Giang Đông, cũng là Giang Đông vận số đã tận, ai cũng không thể trách tướng quân, chỉ hy vong tướng quân nhớ tới mẫu tử bọn thiếp, không cần liều mạng.

Lã Mông yên lặng gật đầu, thê tử nói rất đúng, chính mình đã tận lực không hề thẹn với lương tâm, lúc này, nhớ tới một chuyện liền hỏi:

- Ngô hầu phu nhân hôm nay muốn nàng tiến cung là vì chuyện gì?

- Ngô hầu phu nhân nói, huyện Mạt Lăng không an toàn, muốn thiếp mang theo hài tử tiến cung Kiến Nghiệp để có thể chăm sóc lẫn nhau.

Lã Mông ngẩn ra:

- Nàng đồng ý rồi sao?

- Vẫn chưa, thiếp nói phải về hỏi ý tướng quân, nên phu nhân cũng ép hỏi nữa.

- Như vậy là tốt nhất, nếu chiến tranh xảy ra, cung Kiến Nghiệp ngược lại không an toàn, ta lại cảm thấy huyện Mạt Lăng an toàn hơn.

- Thiếp cũng nghĩ như vậy, những quan cao như Trương quân sư, Bộ trưởng sử đều ở tại thành Mạt Lăng, nếu không an toàn, mọi người đã vào cung Kiến Nghiệp ở, làm gì lại muốn thiếp một thân một mình mang theo hài tử tiến cung đây?

Người nói không có ý nhưng người nghe có tâm, Lã Mông bỗng hiểu được, đây rõ ràng là Tôn Quyền muốn bắt thê tử của mình làm con tin a! Trong lòng Lã Mông vô cùng phẫn nộ, 'Bốp! ' một tiếng, chén rượu trong tay liền vỡ nát.

- Tướng quân, chàng đây là…

Tạ thị sợ tới mức hoa dung thất sắc.

Lã Mông nhẫn nhịn bất mãn trong lòng, thản nhiên nói:

-- Không có gì, nàng nhớ kỹ lời ta…, nếu Ngô hầu phu nhân có hỏi lại nàng cứ nói ta không đồng ý, nàng cũng không nên tiến cung Kiến Nghiệp nữa.

Tạ thị mơ hồ gật đầu:

- Ngày mai phu nhân vốn muốn thiếp tiến cung, thiếp sẽ nói thân thể không được khỏe.

Lã Mông cười cười, vỗ vỗ lưng thê tử:

- Đợi chiến tranh chấm dứt, chúng ta liền về thăm gia phụ đi.

Chương 1030: Binh vây Kiến Nghiệp.

Sáng sớm, trên mặt sông ngoại thành Kiến Nghiếp xuất hiện một cảnh tượng hùng tráng, hơn 1500 chiến thuyền đậu neo, che trời phủ đất hơn mười dặm, dường như che kín cả mặt sông.

Trên đầu thành Kiến Nghiệp vang lên những tiếng chuông yếu ớt, vô số binh lính lặng người nhìn chăm chú vào cảnh tượng đồ sộ trên mặt sông, nhiều người đều biết rằng, sau khi Ngô huyện bị quân Hán đánh chiếm, đoàn tàu chiến của quân Hán lần nữa xuất hiện trên mặt sông, điều này chính là báo hiệu cho chiến tranh sắp diễn ra.

Dự đoán của binh lính quả nhiên không sai, tám vạn quân Hán theo hai hướng thẳng tiến thành Kiến Nghiệp, sau khi sắp đạt kế hoạch đánh chiếm Giang Đông, mười ngày trước, ba vạn quân Hán do Lưu Hổ suất lĩnh đã từ Giang Hạ một đường hành quân tới Hợp Phì, đóng quân ở bờ sông Hoài, phòng quân Tào ở thời khắc mấu chốt đánh lén Hợp Phì, vì vậy không thể tham gia chiến lược đánh chiếm Giang Đông.

Trên mặt sông chỉ còn một bộ phận quân Hán, mặt khác, ba vạn quân Hán từ Kinh Khẩu sắp đánh tới thành Kiến Nghiệp.

Lúc xế chiều, ba vạn kỵ binh của quân Hán dưới sự thống lĩnh của lão tướng Hoàng Trung, đại tướng Bàng Đức, Ngụy Diên đã tiến tới thành Kiến Nghiệp, cách thành Kiến Nghiệp khoảng năm dặm hạ trại, chờ đợi mệnh lệnh của Hán vương Lưu Cảnh.

Kiến Nghiệp trên thực tế do hai tòa thành tạo nên, một tòa là Quân Chính thành, cũng chính là thành Kiến Nghiệp, bên trong thành chỉ có quân doanh, quan nha và Kiến Nghiệp cung, không có nhà dân, buôn bán, ở phía Nam thành Kiến Nghiệp ba dặm là huyện Mạt Lăng, tập trung hơn hai mươi vạn nhân khẩu, tất cả gia đình của các quan viên đều ở tại huyện Mạt Lăng.

Điều này khiến cho việc phòng ngự của quân Giang Đông gặp nhiều khó khăn, bọn họ vừa phải bảo vệ thành Kiến Nghiệp, vừa phỉa bảo vệ huyện Mạt Lăng, mà binh lực không nhiều, vốn có hai vạn quân, sau khi Đinh Phụng mang theo ba nghìn quân, chỉ còn lại mười bảy nghìn quân, trong đó bảy ngàn binh lính đóng giữ huyện Mạt Lăng, mười ngàn binh lính phòng ngự ở thành Kiến Nghiệp, do Tôn Quyền nắm giữ.

Ngay lúc Hoàng Trung thống lĩnh ba vạn đại quân đến hướng đông của thành Kiến Nghiệp, chiến thuyền quân Hán trên sông Trường Giang đồng thời cập bờ, năm vạn thủy quân Hán do Đô đốc Cam Ninh thống lĩnh đổ bộ đến bến tàu vận chuyển hàng hóa của thành Kiến Nghiệp.

Cam Ninh thống lĩnh năm vạn đại quân thì bố trí ở hướng Tây của thành Kiến Nghiệp, tiếp ứng với đại quân của Hoàng Trung ở phía đông, với tư cách là chủ soái đông chinh Giang Đông lần này, Hán vương Lưu Cảnh cũng xuất hiện ở đại bản doanh phía Tây.

Trong đại trướng trung quân, Lưu Cảnh một mình đứng trầm tư trước sa bàn, nếu chỉ là chiến tranh, thì trận này tiêu diệt Giang Đông không có gì đáng lo, mười ba vạn quân Hán đã tập kết xung quanh Giang Đông, mà tại thành Kiến Nghiệp chỉ có không đến hai vạn quân.

Mà hiện nay quân Hán có được gần bốn mươi vạn thạch quân lương, cũng đủ để cung cấp cho quân Hán nửa năm, bất kể là số quân hay quân lương đều đủ khiến cho quân Hán nhanh chóng chấm dứt trận chiến này, nhưng Lưu Cảnh lúc này đang suy tính tới khi chiến tranh kết thúc nên làm sao?

Cho dù Tôn Quyền vì tăng cường cho quân đội chuẩn bị chiến tranh mà áp bức nhân dân Giang Đông, mất đi ủng hộ của dân chúng, nhưng không có nghĩa quân Hán sẽ nhận được sự hoan nghênh của dân chúng Giang Đông, mấy ngày nay Lưu Cảnh tự mình thấy được, dân chúng Giang Đông phần lớn phản đối Tôn Quyền, mà không phải là chính quyền Tôn thị, bọn họ chủ yếu hoài niệm chính sách của Tôn Sách.

Đương nhiên người Giang Đông trải qua các đời thống trị cũng không nhiều, bọn họ còn không thấy được chính quyền Hán quốc, không thể so sánh giữa Hán quốc và Tôn Quyền, cho nên đại đa số nhân dân đều mang thái độ hoài nghi đối với Hán quốc, nhưng cũng không bài xích, cũng không phản cảm giống với quân Tào, dân chúng Giang Đông càng hoan nghênh quân Hán hơn, điều này có liên quan đến việc Lưu Cảnh hắn đối xử tử tế với tù binh Giang Đông.

Lưu Cảnh lúc này đang suy nghĩ phải xử trí Tôn Quyền như thế nào, Lưu Cảnh hy vọng Tôn Quyền có thể quy hàng Hán quốc, như vậy quan văn đại tướng cũng quy hàng theo, có lợi cho việc ổn định Giang Đông sau chiến tranh, nhưng phải an bài Tôn Quyền như thế nào?

Ngay lúc Lưu Cảnh đang trầm tư suy nghĩ, một thị vệ ở trước cửa trại bẩm báo:

- Khởi bẩm điện hạ, có hơn hai mươi đại quan viên quận Đan Dương ở ngoài doanh trại cầu kiến.

Lưu Cảnh ngẩn ra, quan viên từ nơi nào đến, nhưng hắn lập tức phản ứng lại, những quan viên này nhất định là quan viên các huyện các quận Đan Dương, cũng chính là lỗ hổng trong chiến lược đánh chiếm Giang Đông của quân Hán, chiếm Bì Lăng cùng Ngô quận, lại quên mất quận Đan Dương.

Kiến Nghiệp chỉ là một thành của quận Đan Dương, mà quận Đan Dương địa vực rộng lớn, tây đến Hoàn khẩu, đông đến Cú Dung, từ tây sang đông dài gần hai nghìn dặm, gồm hai mươi mấy huyện, hơn bốn mươi vạn nhân khẩu, đông nhất là tại Giang Đông, cũng là một quận giàu có đông đúc.

Quân Hán toàn lực tấn công Kiến Nghiệp, lại quên mất quận Đan Dương, Lưu Cảnh cười gật gật đầu:

- Dẫn bọn họ đến trắc trướng!

Hắn quả thật cần trấn an những viên quan này.

Một lát sau, hai mươi mấy quan địa phương quận Đan Dương được dẫn tới trướng bên, những quan viên địa phương này chủ yếu là huyện lệnh các huyện quận Đan Dương, do quận thừa quận Đan Dương Chu Phường triệu tập tới, Chu Phường là người Ngô quận, tính cách mãnh liệt, am hiểu mưu lược, y vốn là thái thú Quảng Lăng, sau khi tiêu diệt thống lĩnh Vu Cấm của quân Tào ở Cam Ninh, ở Giang Bắc, quân Hán đánh chiếm Quảng Lăng, Chu Phường lui về thành Kiến Nghiệp bị giáng chức thành quận thừa quận Đan Dương.

Ở Giang Đông Chu Phường thuộc phe Ngô Việt, Chu thị gia tộc cũng là một trong những danh môn ở Ngô quận, hơn nữa, có quan hệ thân mật với gia tộc Cố gia, nửa tháng trước chiến thuyền của quân Hán đến Kiến Nghiệp, Chu Phường liền biết đại thế của Giang Đông đã mất, y âm thầm liên lạc với các huyện lệnh quận Đan Dương, chuẩn bị hưởng ứng với quân Hán.

Y vốn còn lo lắng có huyện lệnh bán đứng mình, nhưng kết quả lại nằm ngoài dự liệu của mình, hai mươi mấy huyện lệnh của quận Đan Dương đều nguyện ý đầu hàng quân Hán. Điều này cũng cho thấy bọn họ đã mất lòng tin với Giang Đông.

Chu Phường cùng với các huyện lệnh theo sau quân sư Liêu Lập và Chủ bộ Khích Chính tiến vào trắc trướng, diện tích trắc trướng khoảng một mẫu, có chút rộng rãi, mọi người ngồi thành một vòng, Liêu Lập cười nói với mọi người:

- Mời mọi người an tọa, điện hạ lập tức tới ngay.

Chu Phường vừa ngồi xuống liền hỏi:

- Không biết tình huống Ngô huyện bên kia như thế nào?

Chu Phường là người của Ngô quận, toàn gia tộc cùng với phụ mẫu, vợ con của y đều ở tại Ngô huyện, hiện tại tình huống của Ngô quận không rõ, hiện tại làm y có chút lo lắng, Liêu Lập hiểu được lo lắng của Chu Phường, cười nói:

- Chu sứ quân không cần phải lo lắng, Chu Hằng của Ngô huyện đầu hàng quân Hán, cũng bảo vệ Ngô quận, dân chúng Ngô quận không có thương vong, Chu gia cũng bình an vô sự.

Chu Phường lập tức an lòng, chắp tay cảm ơn:

- Đa tạ quân sư giải tỏa lo lắng.

Lúc này, ngoài trướng có vài tên lính cao giọng quát:

- Hán vương điện hạ giá lâm!

Mọi người đều đứng lên, chỉ thấy Hán vương Lưu Cảnh cùng vài tên cận vệ bước nhanh vào lều lớn, mọi người cùng nhau khom người hành lễ:

- Tham kiến Hán vương điện hạ!

Lưu Cảnh cười khoát tay:

- Các vị miễn lễ!

Lúc này, Lưu Cảnh nhìn thấy Chu Phường cười nói với y:

- Chu sứ quân cũng ở đây, chúng ta đã nhiều năm không gặp.

Chu Phường thấy Lưu Cảnh còn nhớ tới mình, trong lòng không khỏi cẩm động, liền vội vàng tiến lên nói:

- Điện hạ năm đó thành thân cùng Thượng Hương công chúa, lúc đó vi thần làm người điều khiển buổi lễ, không biết Thượng Hương công chúa như thế nào?

- Nàng tốt lắm, qua một thời gian nữa, nàng cũng tới Giang Đông, lúc đó ngươi có thể gặp nàng.

Mọi người nghe nói Thượng Hương công chúa sắp trở về, cũng không khỏi bàn tán, Chu Phường cũng âm thầm bội phục thủ đoạn chính trị cao minh của Lưu Cảnh, muốn ổn định Giang Đông cần phải có thế lực của Tôn thị, nếu Thượng Hương công chúa đồng ý ra mặt trấn an, sẽ giảm bớt xung đột của dân chúng Giang Đông.

Lúc này, Chu Phường giới thiệu từng người với Lưu Cảnh, tuy rằng họ chỉ là một quan huyện nhỏ bé, nhưng Lưu Cảnh lại khôn góc nửa điểm khinh miệt, nếu muốn ổn định Giang Đông, quan trọng là phải dựa vào những huyện lệnh này, bọn họ chính là những người trực tiếp tiếp xúc với dân chúng.

Lưu Cảnh kiên nhẫn làm quen từng người, cuối cùng cười nói:

- Các vị mời ngồi!

Mọi người lại ngồi xuống, Lưu Cảnh cười nói:

- Tục ngữ nói, châu quan không bằng quan huyện, quan huyện không bằng hiện quản, ta tuy rằng đối với Giang Đông có chút hiểu biết, nhưng không sâu sắc bằng các vị, nhân cơ hội này, ta muốn nghe ý kiến của các vị, các vị có đề nghị gì, có nghi ngờ gì, xin hãy nói thẳng, chớ nên kiêng dè gì.

Chu Phường cũng nói:

- Khó có được cơ hội điện hạ tiếp kiến các vị, mọi người cứ việc thẳng thắn.

Trong lòng mọi người có quá nhiều nghi ngờ, mọi người nhìn thấy thái độ hòa nhã của Hán vương, tươi cười dễ gần, sợ hãi trong lòng cũng giảm dần, một quan viên trung niên bên cạnh hạ thấp người nói:

- Hạ quan là huyện lệnh của Uyển Lăng Trương Khâm, vấn đề của huyện chúng tôi chính là dân chạy nạn quá nhiều, hơn nửa số dân chúng đều chạy đến các quận Kinh Châu hay Dự Chương, Cửu Giang, hạ quan xin hỏi, tương lai có thể đem dân chúng trở về nguyên quán hay không?

Đây cũng là một trong những vấn đề mọi người quan tâm nhất, dân chạy nạn đã trở thành phong trào, huyện nào cũng không tránh khỏi nạn này, không có dân chúng không có thuế má, không có thuế má không có công trạng, khó có thể thăng quan tiến cấp, thậm chí còn không thể nuôi sống các quan lại phụ tá, đây là một vấn đề hết sức bức thiết.

Lưu Cảnh gật đầu nói:

- Các tướng quốc của Hán quốc vấn đề nhức nhối hai năm qua chính là an trí dân chạy nạn, thậm chí an bài dân chạy nạn Ngô quận đến Linh Châu, bọn họ đều cam tâm tình nguyện đi biên cương, còn vô cùng vui vẻ sống tại biên cương, nguyên nhân rất đơn giản, khai khẩn biên cương không có thuế má, còn có được một mảnh đất rộng lớn, nếu bọn họ không muốn trở về, ta cũng không thể trói bọn họ trả lại, đúng không! Từng quận đều thiếu nhân khẩu, mong nạn dân trở về, nhưng các quận nhận người lại mong muốn cho họ định cư, thật không dễ cân bằng a! Cho nên ta cảm thấy, trông cậy vào việc nạn dân từ Kinh châu, Dự Dương trở về chi bằng tìm cách trấn an dân chúng còn lại, để họ không trốn chạy nữa, đây mới là quan trọng.

Trên mặt mọi người đều lộ ra vẻ thất vọng, Hán vương nói rất rõ ràng, sẽ không đem nạn dân trở về, Luu Cảnh nhìn ra vẻ thất vọng của mọi người, nói tiếp:

- Thái độ của ta cần phải rõ ràng, đối với dân chạy nạn, ta sẽ cho họ kỳ hạn ba năm, trong ba năm này, họ có thể trở về nguyên quán Giang Đông, có thể lưu lại Kinh châu hoặc là phương bắc, hết thảy đều do nạn dân tự quyết định. Ta nghĩ lá rụng về cội, vì vậy sẽ có nhiều người nguyện ý trở về cố hương, mọi người chỉ cần đối đãi rộng lượng với nạn dân, thi hành các chính sách dưỡng sinh nghỉ ngơi của Hán quốc, ít nhất sẽ có một nửa nạn dân trở về.

Lời nói của Lưu Cảnh khiến cho mọi người nhẹ thở ra, hơn nửa nạn dân trở về cố hương, thái độ này vô cùng rõ ràng, cho thấy Hán vương muốn cân bằng ích lợi khắp nơi, ít nhất cũng là suy nghĩ tới lợi ích của Giang Đông.

Lúc này, một viên quan cao gầy đứng dậy hành lễ nói:

- Hạ quan là huyện thừa của huyện Hoài An La Tuấn, huyện lệnh của chúng tôi đã treo ấn từ quan từ nửa năm trước, sự vụ trong huyện chúng tôi đều do quan dưới phụ trách, tình hình không những nghiêm trọng còn vô cùng phức tạp, hạ quan biết rõ binh dịch và thuế má quá nặng chính là nguyên nhân khiến cho dân chúng Giang Đông chạy nạn, nói thật, chúng tôi cũng không muốn bị dân chúng mắng chửi thậm tệ, ta muốn hỏi điện hạ, năm nay hay năm sau, thuế má có gì thay đổi?

Đây cũng là trọng điểm lưu tâm của mọi người, mọi người không khỏi ngồi thẳng người, vểnh tai lắng nghe câu trả lời của Hán vương.

Lưu Cảnh khẽ cười hỏi:

- Kỳ thật không chỉ có Giang Đông, quân Hán đánh chiếm mỗi một nơi đều giảm thuế má, Đại Hán chiến loạn kéo dài đã lâu, dân chúng mong muốn được thống nhất, khát vọng an cư lạc nghiệp, không phải chịu nỗi khổ chiến tranh, cho nên, chính sách của ta chính là dùng thời gian ba mươi năm để nghỉ ngơi lấy sức, trường kỳ sách lược này, trong một thời gian ngắn mà nói, là thi hành miễn hai giảm nửa, chính là năm thứ nhất giảm thuế, năm hai năm ba giảm nửa thuế, năm thứ tư mới thu thuế bình thường, về phần thuế phú, bình thường hai mươi năm thu thuế một lần, nếu gặp phải thiên tai, sẽ giảm xuống ba mươi năm thu thuế một lần, thậm chí miễn thuế, Giang Đông cũng tiến hành chính sách này.

Dừng một chút, Lưu Cảnh cười nói với La huyện thừa:

- Nếu huyện lệnh đã từ quan nửa năm, vậy ta liền chính thức bổ nhiệm ngươi làm Huyện lênh Hoài An!

Lời vừa nói ra, không chỉ có khiến cho La huyện thừa mừng rỡ, đây là Hán vương chính thức tỏ rõ thái độ, Hán quốc đánh chiếm Giang Đông, cũng không bãi miễn chức quan của bọn họ.

Chương 1031: Kế sách công thành.

Sau khi tiễn các quan huyện lệnh, Lưu Cảnh lưu lại quận thừa Chu Phường, lại phái người mời Lỗ Túc và Gia Cát Cẩn, cùng ba người bọn họ thảo luận kế sách đánh chiếm Kiến Nghiệp, Chu Phường gặp được Lỗ Túc và Gia Cát Cẩn, không khỏi vô cùng kinh ngạc, hóa ra hai vị trọng thần của Giang Đông cũng đầu hàng Hán quốc, một tia bất an trong lòng cũng biến mất.

Quan tâm lúc này của Gia Cát Cẩn chính là tình hình của người thân, y biết được Tôn Quyền nhốt người thân của y vào ngục, làm y vô cùng lo lắng, y liền tranh thủ kéo Chu Phường qua một bên, thấp giọng hỏi:

- Tử Ngư, người thân của ta như thế nào rồi?

Chu Phường an ủi y, nói:

- Người nhà của Gia Cát công không ở trong quan ngục ở Kiến Nghiệp, mà ở trong ngục của huyện Mạt Lăng, Gia Cát công yên tâm, mệnh lệnh của Ngô hầu tuy không ai dám cãi, nhưng cũng sẽ không ngược đãi người thân của Gia Cát công, hơn nữa Trương quân sư từng có dặn dò bọn họ hiện giờ bình yên vô sự.

Gia Cát Cấn cũng hiểu được đạo lý trong quan trường, lúc này không có ai dám động vào người thân của mình, nhưng dù sao người thân cũng đang bị ngục tù, khiến y không thể an tâm, Gia Cát Cấn gật gật đầu, thấy Lưu Cảnh đi vào lều lớn, nhân tiện nói:

- Trước hết nghe Hán vương điện hạ nói như thế nào đã?

Lưu Cảnh đang cùng Lỗ Túc đàm luận về tình huống của thành Kiến Nghiệp và thành Mạt Lăng, ở phương diện này, Lỗ Túc rất am hiểu, lúc trước là ông cùng Trương Hoành xây dựng thành Kiến Nghiệp. Ông đối với từng miếng ngói từng viên gạch ở thành Kiến Nghiệp vô cùng quen thuộc.

Tái sửa chữa huyện Mạt Lăng cũng là do Lỗ Túc chủ trì, ông hiểu rất rõ hàng phòng ngự của huyện Mạt Lăng, tuy nhiên, Lỗ Túc vẫn hy vọng Lưu Cảnh không cần mãnh liệt tấn công thành trì, giảm thương vong mức thấp nhất, vốn Lỗ Túc cũng không muốn hỏi đến kế sách tấn công Giang Đông của quân Hán, nhưng vì muốn giảm bớt thương vong ở Giang Đông, ông mới chủ động tham dự trợ giúp Lưu Cảnh quyết sách.

Gia Cát Cẩn cũng cùng ý tưởng, nhưng Gia Cát Cẩn càng hy vọng sau chiến tranh được Lưu Cảnh trọng dụng, càng hy vọng có thể trở thành tướng quốc, y năm nay mới hơn bốn mươi, còn có mười mấy năm tiền đồ, nhiệt huyết của y so với Lỗ Túc càng nóng cháy nhiều hơn.

Lưu Cảnh dứng trước sa bàn, dùng cây gỗ chỉ vào hai thành Kiến Nghiệp và Mạt Lăng, chậm rãi nói với bọn họ:

- Từ khi tiến công Giang Đông đến nay, ta tận lực không chiến mà khuất phục binh lính, cũng phát hiện binh lính Giang Đông chán ghét chiến tranh, tác chiến gặp chút bất lợi đều muốn dâng cờ đầu hàng, làm cho ta một đường thế như che tre, cho nên, đối với hai thành Kiến Nghiệp và Mạt Lăng ta hy vọng họ có thể không chiến mà hàng, tận lực tránh khỏi chiến tranh cam qua, vì vậy, mới mời ba vị tới thảo luận, muốn nghe xem ý kiến phá thành của các vị.

Ba người nhìn nhau, Lỗ Túc cười nói:

- Trước hết, mời Gia Cát công nói ra ý kiến.

Trong ba người, chức quan cùng địa vị của Gia Cát công là cao nhất, dĩ nhiên là y nói trước, Gia Cát Cấn cũng không chối từ, nhặt lên khúc gỗ chỉ vào Mạt Lăng thành nói:

- Vi thần cho rằng, trước tấn công thành Mạt Lăng, nguyên nhân rất đơn giản, một là binh lính tại thành Mạt Lăng rất ít, sau là tường thành trong thị trấn không cao lớn chắc chắn bằng thành Kiến Nghiệp, tương đối dễ đánh hạ, nhưng nguyên nhân trọng yếu vẫn là gia quyến của các quan viên, tướng sĩ đều ở tại thành Mạt Lăng, nếu đánh hạ thành Mạt Lăng sẽ khiến cho quân đội ở thành Kiến Nghiệp dao động.

Lỗ Túc và Chu Phường đều tán thành ý kiến của Gia Cát Cẩn, Chu Phường cười nói:

- Điện hạ, Gia Cát công nói rất đúng, huyện Mạt Lăng là căn cơ của thành Kiến Nghiệp, cũng là điểm yếu của Kiến Nghiệp, đánh hạ huyện Mạt Lăng, nhiều nhất là nửa tháng, thành Kiến Nghiệp liền chống cự không nổi.

Đề nghị của ba người cùng với ý tưởng của Lưu Cảnh không mưu mà hợp, nhưng hắn còn muốn biết, như thế nào mới có thể dễ dàng công hạ thành Kiến Nghiệp nhất, hắn nhìn lại Lỗ Túc.

Lỗ Túc hiểu được ý tứ của Lưu Cảnh, ông cười khổ một tiếng nói:

- Lúc trước tu sửa huyện thành Mạt Lăng, ta phát hiện tường thành đều được làm bằng gạch đất, liền đề nghị Ngô hầu dỡ xuống thị trấn trùng tu, đổi thành gạch đá, nhưng bị Trương quân sư và Bộ trường sử phản đối, cho rằng quá hao tốn, cho nên đề nghị của ta bị bác bỏ, cuối cùng chỉ tiến hành sửa chữa đơn giản huyện Mạt Lăng, tuy nhìn bề ngoài không tệ nhưng bên trong vẫn là gỗ mục gạch cũ, nói tóm lại, tường thành phía bắc chắc chắn hơn chút, vì các quan viên thường xuất nhập cổng phía bắc, còn tường thành phía nam vô cùng cũ nát, trải qua hơn trăm năm mưa sa bão táp vô cùng yếu ớt, không chịu nổi một kích, nhưng không biết năm nay có tiến hành tu sửa không, điều này phải hỏi Chu quận thừa.

Chu Phường đứng bên cạnh liền tiếp lời:

- Năm nay chỉ tiến hành gia cố thành Kiến Nghiệp, còn huyện Mạt Lăng chỉ đổi cổng thành, tường thành không có tu sửa.

Lưu Cảnh trầm tư một lúc liền nói với bọn họ:

- Ý nghĩ của ta giống với các ngươi, trước tiên tấn công huyện thành Mạt Lăng.

Huyện Mạt Lăng là một quận trị thuộc sở hữu của quận Đan Dương, sau khi Tôn Quyền từ Kinh Khẩu dời đô đến thành Kiến Nghiệp, cũng không lấy Mạt Lăng làm kinh đô, mà tại thành bắc Mạt Lăng xây dựng thành Thạch Đầu, trở thành thành Kiến Nghiệp, nhưng thành Kiến Nghiệp chỉ có quan nha và binh lính đóng giữ, cùng Tôn Quyền và Kiến Nghiệp cung, mà huyện Mạt Lăng giữ những chức năng khác.

Khi dấu hiệu quân Hán tấn công thành Kiến Nghiệp trở thêm rõ ràng, bên trong huyện Mạt Lăng cũng là một mảnh hỗn loạn, hơi thở chiến tranh càng ngày càng dày đặc, ban ngày thực thi giới nghiêm, buổi tối chấp hành lệnh cấm đi lại ban đêm, tất cả dân chúng không được ra ngoài, lương thực thi hành chính sách bán phân phối, toàn bộ bên trong thành vắng ngắt, phố lớn ngõ nhỏ không một bóng người, bảy ngàn binh lính Giang Đông dưới sự thống lĩnh của đại tướng Chu Thái và Tưởng Khâm trấn giữ thành Mạt Lăng.

Vào đêm, binh lính tuần tra giám sát trên đầu thành, cảnh giác nhìn chăm chú vào nhất cử nhất động ngoài thành, tường thành huyện Mạt Lăng cũng không cao, chỉ khoảng hai trượng năm thước, tường thành cũng không dày, không thể sắp đạt máy bắn đá ở đầu thành, ngoài thành chính là con sông đào bảo vệ thành rộng khoảng ba trượng, cũng chính là nhánh sông của sông Tần Hoài.

Cho dù binh lính tuần tra trên đầu thành cảnh giác cao, nhưng ban đêm, nhưng bọn họ không thể nhìn thấy tia dị thường trên mặt song hộ thành, lúc này, sông đào bảo vệ thành ở phía thành nam, một vài tên thám báo quân Hán lặng lẽ nổi lên khỏi mặt nước, bọn họ thừa dịp binh lính tuần tra vừa ly khai liền nhanh chóng nhảy ra khỏi mặt sông, dán sát vào phía góc khuất của tường thành.

Góc khuất của tường thành luôn là góc chết đối với binh lính tuần tra giám sát, trừ phi binh lính nhoài đầu ra ngoài nhìn mới phát hiện, nếu không rất khó quan sát được động tĩnh ở góc chết này, ba tên thám báo của quân Hán lấy ra tinh cương ngư thứ, đây là một binh khí dùng trong thủy chiến, nhưng mũi đao nhọn của ngư thứ vừa nhọn vừa dẹt, rất dễ cắm vào tường thành

Đây cũng chính là kinh nghiệm cùng với sự cẩn thận của Lưu Cảnh, cho dù Lỗ Túc nói cho hắn biết, tường thành Mạt Lăng đều là gạch đất, hơn nữa phía nam tường thành đã cũ nát, nhưng đây chỉ là những lời nói từ một phía Lỗ Túc, chỉ có thể tham khảo, cụ thể tường thành cũ nát tời trình độ nào, phải tận mắt chứng kiến mới có thể đưa ra kế sách công thành.

Động tác của ba tên thám báo vô cùng thành thục, nhanh chóng khoét ra mấy khối gạch, lại lấy vài mẩu đất, cẩn thận dung giấy dầu bao lại, lại đổi một chỗ khác, không đến nửa nén nhang, liền lấy được ba mẫu thử, lúc này, binh lính tuần tra trên đầu thành vừa mới đi qua, ba tên thám báo vô thanh vô tức tiến vào dòng song đào, nhanh chóng biến mất.

Sau nửa canh giờ, hơn mười khối gạch cùng với bùn đất được đặt trong đại trướng của quân Hán, lúc này, ba người Lỗ Túc đều không ở đây, đổi thành đại tướng Hoàng Trung, Cam Ninh, và quân sư Liêu Lập, kinh nghiệm của bọn họ vô cùng phong phú, chỉ từ mười khối gạch cùng mấy mẫu bùn đất bọn họ liền biết được mức độ vững chắc của thành Mạt Lăng.

Hoàng Trung nhặt vài mẫu đất đem nhào nặn trong lòng bàn tay, lại để gần mũi ngửi một chút, nói với Lưu Cảnh:

- Bùn đất này ít nhất cũng có niên kỷ trăm năm, biến thành màu đen mốc meo, mục nát, hơn nữa vẫn chưa từng thay đất mới, hơn nữa phía trên còn có vài vụn gỗ, không biết đã mục nát tới mức nào rồi, tường thành này nhiều nhất cũng có thể duy trì được hai ba mươi năm nữa thôi.

Lưu Cảnh lắc lắc đầu:

- Nếu không có phòng ngự, còn có thể duy trì hai ba mươi năm, nhưng phía trên còn chất số lượng lớn cây gỗ, còn có mấy ngàn binh lính ngày đêm đi tới đi lui, tường thành làm sao chịu nổi, tiếp tục như vậy, không tới năm năm tường thành sẽ sụp xuống, mọi người cứ xem thử!

Lưu Cảnh nhặt lên một khối gạch, dùng thiết chùy nhỏ hơi dùng lực gõ vào, khối gạch lập tức vỡ nát:

- Các vị thấy không, một khối gạch bình thường, nếu ta chém xuống sẽ vỡ làm hai, nhưng khối gạch này lại vỡ vụn, có thể thấy bên trong khối gạch có nhiều vết nứt.

Lưu Cảnh dùng thiết chùy nhỏ liên tục gõ vào khối gạch, tất cả gạch đều bị đạp nát vụn, hắn buông thiết chùy ra, phủi tay cười nói:

- Ngay cả tường thành đá chắc chắn của Hợp Phì chúng ta còn có thể đánh, loại gạch đất như thế này không cần nói, các vị, ngày mai liền phá thành!

Vào canh ba, trên đầu tường thành Mạt Lăng vẫn như trước có binh lính tuần tra, giám sát động tĩnh của quân Hán ngoài thành, chủ tướng trấn thủ Mạt Lăng thành Chu Thái, là tâm phúc của Tôn Quyền, đảm nhiệm chức giáo úy nội vệ quân Giang Đông, thống soái mười ngàn hộ vệ tinh nhuệ của Tôn Quyền, Tôn Quyền tuy tín nhiệm Chu Thái, nhưng Chu Thái vẫn còn nhiều khiếm khuyết trong phòng ngự trên thành, vì vậy, Tôn Quyền bổ nhiệm đại tướng Tưởng Khâm người am hiểu về thủ thành làm phó tướng.

Lúc này, Tưởng Khâm cưỡi chiến mã, thống lĩnh năm trăm binh kính tuần tra vòng phòng ngự tường thành, cho dù đã là canh ba, nhưng Tưởng Khâm không dám lơ là, vẫn nghiêm ngặt tuần tra ở bốn phía tường thành.

Tưởng Khâm được xem là người am hiểu phòng ngự trong quân đội, đúng là như vậy, y đối với hàng phòng ngự của huyện Mạt Lăng không chút tin tưởng, tường thành thấp bé đơn bạc, cũ kỹ lâu năm, năng lực chống chịu quá kém, điều này cũng thôi, nhưng mấu chốt chính là tại thành Mạt Lăng không có quân phòng ngự, đa số thành trì ở Giang Đông đều giống nhau, tường thành không có tường mặt ngựa, không có lỗ châu mai, không có rãnh ném đá, cũng chỉ là một tòa thành bình thường mà thôi.

Thành trì như vậy sao có thể chống lại tiến công mãnh liệt của quân Hán, cùng với việc tiêu phí nhân lực cùng vật lực đi khơi thông kênh đào vô dụng, lại không chịu trùng tu thành Mạt Lăng, Tưởng Khâm không còn lời nào để nói về chính sách của Tôn Quyền.

- Tướng quân!

Một tên lính thở hồng hộc chạy tới:

- Chu tướng quân đang ở nam thành, mời tướng quân qua đó một chuyến.

- Ta đã biết!

Tưởng Khâm không vui đáp ứng một tiếng, giục ngựa chạy về phía nam thành, y chạy tới đại môn nam thành, mấy trăm binh lính cầm đuốc, chiếu sáng cửa thành, xa xa chỉ thấy mười mấy tên binh lính quỳ trên mặt đất, hai tay bị trói sau lưng, mặt mày ủ rũ.

Tưởng Khâm cả kinh, vội giục ngựa chạy tới, khi binh lính tại đại môn thấy Tưởng Khâm đã tới, liền rẽ thành một con đường, Tưởng Khâm xoay người xuống ngựa bước vào đám người, y nhận ra những binh lính bị bắt trói chính là thuộc hạ của mình.

- Xảy ra chuyện gì?

Bọn binh lính muốn nói nhưng không dám, Tưởng Khâm xoay người hỏi:

- Chu tướng quân ở nơi nào?

- Ta ở trong này!

Chu Thái từ chỗ tối bước ra, đi thẳng tới trước mặt Tưởng Khâm, y dùng roi ngựa chỉ vào bọn binh lính bị bắt trói nói:

- Tưởng tướng quân, những binh lính này có ý đầu hàng quân địch, lúc trốn khỏi tường thành bị bắt, dựa theo quân kỷ, đầu hàng địch phải chém, ta tin tưởng Tưởng tướng quân không phải không rõ.

Chương 1032.1: Huynh đệ tương tàn.

Đấu tranh phe phái vẫn luôn là ‘tật khó sửa’ của chính quyền Giang Đông, không chỉ có phe phái quan văn đấu tranh ác liệt mà các võ tướng cũng thế. Trong chuyện này tất nhiên là Tôn Quyền cố ý dấy lên, dù sao đây cũng là cái ‘tinh túy’ trong thuật của đế vương, thần tử nội chiến, quân vương được lợi.

Nhưng ở mặt khác cũng có liên quan đến kết cấu chính trị Giang Đông. Giang Đông từ thời Tôn Sách xuống phía nam thế như trẻ tre, rất nhanh đã có thể ổn định được quận Đan Dương, Ngô Quận và quận Hội Kê. Nguyên nhân cơ bản là có được sự ủng hộ của thế gia Giang Đông, Tôn Sách “có qua có lại”, khiến cho nhân tài thế gia Giang Đông lần lượt gia nhập vào chính quyền mới thành lập của Giang Đông.

Nhưng Tôn Sách lại lo sợ thế lực lớn mạnh của sĩ tộc Giang Đông, nên lại chiêu mộ sĩ tộc phương bắc và sĩ tộc Giang Hoài như đám người Trương Chiêu, Trương Hoành, Chu Du, Lỗ Túc. Sau khi Tôn Sách chết, Tôn Quyền kế vị, chính quyền Giang Đông bắt đầu ‘khuếch trương’, sĩ tộc Giang Đông giới thiệu lẫn nhau, khiến cho thế lực của sĩ tộc Giang Đông không ngừng tiến vào chính quyền Tôn thị.

Trong khi đó, Tôn Quyền tiếp nối “thuật cân bằng” của huynh trưởng, xây dựng quán ‘chiêu hiền’ ở Giang Bắc, thu hút được những nhân tài phương bắc xuôi xuống phía nam như Gia Cát Cẩn, Từ Thịnh, Lã Mông.

Những nhân tài phương bắc xuống phía nam nhất định sẽ bị những sĩ tộc bản địa chống lại. Do các sĩ tộc bản địa liên hôn lẫn nhau, kết giao trăm năm, mối quan hệ khó gỡ, rất dễ dàng kết thành đồng minh trong chốn quan trường. Còn những sĩ tộc phương bắc bị đàn áp cũng phải liên minh lại với nhau, từ đó hình thành nên những phe phái.

Dưới sự cố ý trợ giúp của Tôn Quyền, Giang Đông nhanh chóng hình thành phái phương bắc, phái Lư Giang và phái bản địa Ngô Việt, mà Giang Đông dời đô đến Kiến Nghiệp đã đả kích rất lớn đến phe phái bản địa. Phái Ngô Việt phân chia thành phái Cố Lục Ngô và phái Ngu thị Hội Kê. Sau khi Chu Du chết, phái Lư Giang suy bại, phái phương bắc không ngừng lớn mạnh. Để giữ cân bằng phái phương bắc, Tôn Quyền bắt đầu trọng dụng ngoại thích, để Bộ Chất cầm đầu phái ngoại thích nổi dậy.

Trong quân đội cũng hình thành rất nhiều phe phái, tồn tại phái lão tướng, phái trung lưu và phái của những người trẻ tuổi. Phái lão tướng chỉ những lão tướng đi theo Tôn Kiên như Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Đương, còn phái trung lưu là những dũng tướng đi theo Tôn Sách lập nên cơ nghiệp Giang Đông, bao gồm những đại tướng như Chu Du, Thái Sử Từ, Tưởng Khâm, Trần Vũ, Đổng Tập, Phan Chương, Lăng Thao, Chu Thái.

Phái của những người trẻ tuổi là những nhân tài mới xuất hiện sau khi Tôn Quyền nắm quyền, bao gồm các tướng lĩnh trẻ như Lã Mông, Lục Tốn, Đinh Phụng, Từ Thịnh, Lăng Thống.

Ở thời Tôn Sách và thời kỳ đầu của Tôn Quyền, quân Giang Đông là thiên hạ của phái trung lưu. Nhưng cùng với việc địa vị Tôn Quyền dần dần được củng cố, y bắt đầu có ý diệt trừ những ảnh hưởng của huynh trưởng Tôn Sách trong quân đội để thiết lập quyền uy của riêng mình. Phái trung lưu cũng dần dần bắt đầu thất thế, đặc biệt là sau khi các đại tướng trung lưu như Chu Du, Thái Sử Từ, Trần Vũ, Phan Chương, Lăng Thao, … lần lượt chết bệnh hoặc tử trận nên phái trung lưu cũng hoàn toàn thất thế, đổi lại phái lão tướng và phái trẻ nổi dậy. Lục Tốn và Lã Mông trong phái trẻ lần lượt đảm nhận chức Đại đô đốc.

Tưởng Khâm và Chu Thái là đồng hương, hai người cùng gia nhập vào quân Giang Đông, thời kỳ đầu, quan hệ của hai người rất tốt. Nhưng chuyện thế gian vốn là như vậy, những người có mối thâm tình lại dễ dàng trở thành kẻ thù của nhau. Vì vậy, Nho gia mới có quan niệm “quân tử chi giao đạm như thủy” (tình bạn của quân tử nhạt như nước).

Vì Tưởng Khâm và Chu Thái không “đi chung đường” nên cuối cùng càng lúc càng xa. Hiện giờ Tưởng Khâm là nhân vật đại diện cho phái trung lưu, còn Chu Thái đã rời khỏi phái trung lưu, trở thành phái những người theo vua, cũng là tâm phúc của Tôn Quyền.

Tất nhiên, hai người không chung ý chí không đi chung đường nên quan hệ của hai người dần lạnh nhạt, hơn nữa còn không nói chuyện được. Nhưng sự việc xảy ra vào tối hôm nay lại “đủ” để hai người trở thành kẻ thù.

Mười mấy tên thuộc hạ của Tưởng Khâm bị bắt, thái độ Chu Thái nghiêm khắc muốn chém bọn chúng, điều này khiến Tưởng Khâm không thể bỏ mặc. Tưởng Khâm cũng biết, bất luận đầu hàng địch hay chạy trốn đều là tội lớn trong quân đội. Về luật thì phải chém, nhưng những người này đều là lão binh đi theo y nhiều năm, làm sao y có thể thấy chết không cứu.

Tưởng Khâm đành phải hạ mình, lên tiếng xin xỏ với Chu Thái:

- Ấu Bình có thể nể mặt ta được không, hãy giao mấy tên lính này cho ta xử lý?

- Giao cho Tưởng tướng quân không phải là không được. Nhưng tôi muốn biết, tướng quân định xử trí bọn chúng thế nào?

- Ta đây tự sẽ trừng phạt nặng hơn!

Tưởng Khâm nói rất hàm súc, lời nói cũng rất linh hoạt. Xử trảm là một cách trừng phạt nặng; đánh nặng rồi nhốt lại cũng là trừng phạt nặng, đây là thuật ngữ nhất quán trong chốn quan trường. Về lý thì Chu Thái sẽ cười ha hả, khen ngợi Tưởng Khâm vài lời, không tính toán chuyện riêng, vv.. Sau đó giao phạm nhân cho Tưởng Khâm, như vậy vừa có tình người và chuyện này cũng coi như chấm dứt.

Nếu như trước đây thì Chu Thái có lẽ sẽ làm như vậy, không đắc tội với Tưởng Khâm. Nhưng giờ đây, thế cục nguy cấp, nhất định phải nghiêm trị binh sĩ, nếu không có thể dẫn đến việc binh lính chạy trốn, lúc đó khó mà giải quyết được. Vì vậy, Chu Thái quyết định giết một người răn trăm người, dùng đầu của mấy chục binh sĩ này để răn đe ba quân.

Chỉ có điều, những binh lính này đều là thuộc hạ của Tưởng Khâm, Chu Thái cũng cần phải có sự đồng ý của Tưởng Khâm, tốt nhất là để tự mình Tưởng Khâm ra tay, vì vậy hắn mới phái người mời Tưởng Khâm đến.

Sắc mặt Chu Thái lập tức tối sầm lại, lạnh lùng hỏi:

- Không biết Tưởng tướng quân định xử trí bọn chúng thế nào?

Mở miệng ra là “Tưởng tướng quân” khiến Tưởng Khâm cảm thấy không được tự nhiên cho lắm. Y nhịn nỗi bực dọc trong lòng, đáp:

- Ta đem bọn chúng về doanh trại và tất nhiên sẽ xử lý theo quy định của quân đội!

- Tốt lắm!

Chu Thái chỉ vào mười mấy người đó, nói:

- Tại sao phải mang về doanh trại, cứ xử trảm ở đây đi, sau đó đem đầu của chúng đến các nơi tuần tra, răn đe các binh lính!

Tưởng Khâm giận dữ, hung hăng trừng mắt hỏi Chu Thái:

- Sao Chu tướng quân cứ làm khổ lẫn nhau vậy?

- Không phải là ta không nể mặt Tưởng tướng quân, mà bây giờ là thời kỳ quan trọng, kỷ luật quân đội phải được thắt chặt, nếu không sẽ dẫn đến việc binh lính chạy trốn. Thành Mạt Lăng coi như hết rồi, nhân nhượng sẽ không quản được binh, xin Tưởng tướng quân lấy đại cục làm trọng.

- Ngươi... !

Trong lòng Tưởng Khâm vô cùng tức giận, cao giọng quát:

- Ai cũng biết đại thế Giang Đông đã mất, sụp đổ chỉ tính theo thời gian nữa thôi. Lúc này thương cảm đến tính mạng của binh sĩ, cho họ được đoàn tụ với người nhà, không cần phải làm những vật hy sinh nữa. Sao Chu tướng quân lại có tâm độc như vậy?

Tưởng Khâm giận dữ mà nói lỡ lời khiến cho Chu Thái nổi giận. Hắn rút kiếm ra, lớn tiếng quát:

- Tưởng Khâm! Nhà ngươi còn dám nói xằng bậy làm dao động lòng quân thì ta nhất định sẽ lấy đầu của ngươi đó!

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!