Thẩm Di nhướn mày, ông ta còn đang muốn điều thuyền ở Long Trung đến, quân sư lại lệnh cho ông ta phái thuyền đi Long Trung.
Cho dù Thẩm Di có chút không tình nguyện nhưng mệnh lệnh của Giả Hủ ông ta không dám không nghe theo. Ông quay đầu lại ra lệnh một gã Nha tướng:
- Chu tướng quân, lập tức dẫn bản bộ tới bến tàu Long Trung đi tuần tra mặt sông.
Nha tướng Chu Tín đáp lại một tiếng, xuống thuyền lớn, dẫn năm mươi chiến thuyền thoát ly trận hình phòng ngự, chạy theo hướng tây đến bến tàu Long Trung cách mấy chục dặm.
Văn Sính dẫn theo năm nghìn binh lính một mạch đuổi theo, quân đội cách con rạch vẫn còn mấy dặm. Từ xa phát hiện phía trước có ánh lửa, trong lòng Văn Sính nghi hoặc, lập tức cử trinh thám lên trước điều tra. Không bao lâu, trinh thám trở về bẩm báo:
- Khởi bẩm tướng quân, là cây cầu lớn trên suối bị quân Tào phóng hoả thiêu huỷ rồi!
Văn Sính sửng sốt, lại ngẩng đầu nhìn về phía nam thăm dò, chỉ thấy ngoài mười mấy dặm mơ hồ cũng có ánh lửa bùng lên, đó là một cây cầu khác cũng bị quân Tào phóng hoả thiêu huỷ. Việc này khiến Văn Sính giận dữ, lập tức ra lệnh:
- Lập tức chặt cây dựng cầu nổi!
Khe suối chỉ rộng có mấy trượng, dùng cây to là có thể trực tiếp bắc cầu qua sông. Hơn trăm tên lính nhanh chóng chặt mười mấy cây liễu rủ bên bờ sông, kéo về phía bờ sông, không ngờ đến bên bờ thì bờ bên kia đột nhiên có một loạt tiếng mõ vang lên, bốn phía dày đặc mũi tên bắn tới. Binh lính không kịp đề phòng, đều trúng tên ngã xuống, binh lính ở đằng sau sợ tới mức quay đầu tháo chạy.
- Tướng quân, bờ bên kia có quân Tào mai phục!
Một tên quân hầu khẩn cấp bẩm báo với Văn Sính.
Tin tức này khiến Văn Sính lập tức cảnh giác. Quân Tào lại có mai phục, ông ngẫm nghĩ một chút, quay đầu lệnh cho thuộc cấp Trương Nham:
- Dẫn một nghìn huynh đệ bắc cầu qua sông, coi chừng đối phương bắn lén!
Trương Nham đáp ứng một tiếng, dẫn một nghìn binh lính đi về phía khe suối bắc cầu. Văn Sính hết sức chăm chú nhìn bờ bên kia. Nếu vẫn có tên tập kích, ông có thể buộc phải vượt sông. Nếu không có động tĩnh gì nữa, ông lại cần đề phòng, có khả năng phía trước có mai phục.
Lúc này, quân Hán lại chặt hơn chục cây đại thụ, bắc qua mặt sông thành một cây cầu nổi cực kỳ thô sơ, nhưng không hề có tên bắn đến nữa, dường như cung thủ quân Tào đều chạy hết rồi. Trương Nham vừa định vượt sông, Văn Sính lập tức lệnh cho người ngăn gã lại. Ông thúc ngựa lên trước nói:
- Đây là kế dụ binh của quân địch, trên đường tất có mai phục, không thể bất cần tiến lên.
Trương Nham không hiểu hỏi:
- Bỉ chức không hiểu, đã không có tên chứng tỏ quân Tào chỉ quấy nhiễu chúng ta vượt sông, chắc hẳn không có mai phục mới đúng, tướng quân sao lại cho rằng có mai phục?
Văn Sính cưởi lạnh một tiếng:
- Phép dụng binh, thực hư hư thực, đối phương là danh tướng Trương Liêu, hắn sao có thể không biết cái khe suối nhỏ khó cản quân ta, hắn lại cố tình đốt cầu, cố ý phái người bắn lén tên chính là để dụ ta qua sông truy kích. Ta nếu nóng vội qua sông, chui vào vòng vây quân địch, đường lui bị cắt đứt, e rằng chúng ta sẽ bị tiêu diệt toàn quân.
- Tướng quân nói rất có lý, không bằng trước tiên cử trinh thám đi dò đường, sau khi không có gì bất thường thì chúng ta qua sông truy kích.
Văn Sính gật gật đầu:
- Được!
Trương Nham lập tức cử mấy tên thám báo đi thăm dò tin tức trước. Văn Sính dẫn năm nghìn quân lại không vội qua sông, kiên nhẫn đợi tin thám báo. Qua nửa canh giờ, một tên thám báo chạy về bẩm báo:
- Trong vòng mười dặm phía trước không có mai phục!
Trong lòng Văn Sính có chút nghi hoặc, lẽ nào mình phán đoán sai sao? Lúc này Trương Nham lại xin chỉ thị:
- Xin hỏi tướng quân có tiếp tục hành quân không?
Văn Sính gật đầu, ra lệnh ngay:
- Quân đội qua sông, tiếp tục hành quân!
Năm nghìn quân Hán vượt qua khe suối, tiếp tục truy kích về phía trước, một mạch truy theo mười mấy dặm. Lúc này Trương Nham chạy tới bẩm báo:
- Khởi bẩm tướng quân, tình hình có chút bất thưởng. Thám báo bỉ chức cử đi đều mất tích rồi, không thấy quay về.
Văn Sính cả kinh, vội ghìm chặt chiến mã, nhìn về bốn phía. Bọn họ đã tiến vào vùng núi Long Trung, phía trước ngoài hai dặm là trấn Long Trung, tứ phía đều là cao sơn cùng cốc, rất dễ bị địch mai phục. Ông lập tức ý thức được sự bất ổn, liền ra lệnh:
- Mau hồi quân!
Vừa dứt lời, chỉ nghe hai bên trong thung lũng tiếng trống vang dội, lửa cháy tứ phía, hai nhánh quân từ hai bên phải trái thung lung giết đi ra, trong bóng tối nhìn không rõ số lượng người có bao nhiêu, trong ánh lửa chỉ thấy một viên đại tướng vung thương lao ra, chính là đại tướng quân Tào Lý Điển.
Quân đội của Văn Sính hành quân kéo dài thành vào dặm, nhất thời không kịp tụ lại ứng chiến, lập tức bị quân Tào một đánh hai. Đội quân của Văn Sính lập tức náo loạn, Văn Sính vội vàng hô lớn với Trương Nham:
- Ổn định quân đội, phá vây quay về Tương Dương!
Ông vung liễu diệp đại đao lên, thúc ngựa hướng về phía Lý Điển, hét lớn một tiếng:
- Tặc tướng, nhận một đao của ta!
Trước mặt là một đao bổ tới, đao thế cực kỳ linh hoạt, sắc bén. Lý Điển cũng hét lớn một tiếng, vung thương nghênh chiến. Hai người chiến mã lần lượt giao nhau, cùng chiến đấu kịch liệt trên đường.
Văn Sính võ nghệ cao cường, từng là một trong ba mãngh tướng dưới tay Lưu Biểu. Về sau lại liệt vào một trong năm hổ tướng của Kinh Châu, mãi đến khi Mã Siêu và Bàng Đức đầu hàng, Văn Sính mới rút khỏi ngũ hổ tướng. Lý Điển cũng là danh tướng của Tào Tháo, văn võ song toàn, rất có mưu lược, kế sách đoạn cầu dụ binh là sự sắp xếp của gã, cuối cùng dụ được Văn Sính đến.
Nhưng về võ nghệ thì Lý Điển lại yếu hơn những người như Vu Cấm, Trương Liêu, cũng thua hơn Văn Sính một bậc. Hai người kịch chiến hai mươi mấy hiệp, Lý Điển dần dần không chống đỡ nổi, gã lợi dụng sơ hở điều ngựa thối lui khỏi vòng kịch chiến, thúc ngựa bại lui về hướng tây. Gã tháo chạy khiến cho thế công của quân Tào lập tức giảm đi vài phần.
Văn Sính nắm lấy cơ hội này, hô lớn:
- Các huynh đệ, phá vây ra ngoài!
Lúc này Trương Nham đã ổn định được tinh thần và trận hình quân Hán. Bọn họ dưới sự dẫn đầu của Văn Sính, một loạt hăng hái phá vòng vây của quân Tào, nhanh chóng lui về hướng thành Tương Dương. Lúc này, Lý Điển lại lao lên, gã thấy quân Hán đã tháo chạy liền không đuổi theo nữa, dẫn quân chạy về hướng bến tàu Long Trung.
Bến tàu Long Trung nhỏ bằng nửa bến tàu Tương Dương. Bờ bên kia là huyện Đặng. Cả vùng này địa thế bằng phẳng, cho dù không ở trên bến tàu thì cũng hoàn toàn có thể vượt sông, có thể lợi dụng bờ sông rộng mấy dặm, do quân Tào chủ yếu tập trung ở vùng Tương Phàn, do đó mặt sông Long Trung không phải là trọng điểm chiến thuyền quân Hán tuần phòng, chỉ có không đến hai mươi chiến thuyền.
Chiến thuyền chủ yếu là phòng ngự bờ bắc, vùng giáp bờ nam gần như không có chiến thuyền tuần tra. Quân của Trương Liêu đã dừng chân cách bến tàu khoảng một dặm. Binh lính thổi đủ bè da dê, rất nhanh hàng nghìn bè da dê đã chuẩn bị sẵn sàng.
Lúc này, một tên trinh thám chạy tới bẩm báo:
- Khởi bẩm tướng quân, trên sông gần bờ nam không có chiến thuyền quân địch, vùng bờ bắc có.
Trương Liêu lo chiến thuyền của quân Tương Dương đuổi kịp đến, y lập tức hạ lệnh:
- Xuất phát vượt sông!
Hơn hai vạn quân Tào khiêng bè da dê trùng trùng điệp điệp đi xông về phía bờ sông, từng chiếc bè được thả xuống sông. Binh lính ùn ùn nhảy lên bè, theo chế độ của quân Tào, mười người một bè, như vậy có Thập trưởng dẫn đầu để tiện chỉ huy và phân công, bốn tên lính dùng mái chèo gỗ rạch nước, sáu tên còn lại giương cung nỏ phụ trách việc cảnh giới bốn phía.
Chỉ trong chốc lát, trên sông xuất hiện chi chít hơn nghìn chiếc bè da dê, ra sức chèo sang bờ đối diện. Từ chỗ cao nhìn xuống, chỉ thấy vô số những chấm đen nhỏ trôi nổi trên mặt sông, thanh thế to lớn, đồ sộ.
Lúc này đã là canh tư, bóng đêm nặng nề, trên sông một mảng đen kịt, tiết xuân se lạnh, gió táp thấu xương. Chiến thuyền của quân Hán cuối cùng phát hiện sự bất thường ở bờ nam, hơn hai mươi chiến thuyền quay đầu chèo về phía nam mặt sông.
Chiến thuyền quân Hán trên sông Long Trung chủ yếu là chiến thuyền năm trăm thạch, cũng có chiến thuyền ngàn thạch, do một tên quân hầu thống soái. Gã nhìn thấy tình thế nguy hiểm, lập tức lệnh người chạy về Tương Dương cầu viện.
- Đụng ngã bọn chúng!
Quân hầu quân Hán lớn tiếng ra lệnh, tiếng trống trận thùng thùng vang lên trên mặt sông. Hơn hai mươi chiến thuyền quân Hán nhanh chóng xông tới đâm vào quân Tào. Khi thuyền gần đến gần, quân Tào trên bè da dê tới tấp giương cung bắn tên. Tên bay trên mặt sông như mưa, bắn vào những chiếc thuyền địch đang đâm tới.
- Ầm!
Một tiếng nổ lớn, một chiếc thuyền cầm đầu hung hăng đâm vào một chiếc bè da dê, tạo nên một con sóng lớn lật ngược cái bè. Trong một loạt tiếng kinh hô, mười tên lính Tào tới tấp rơi xuống nước, hoảng sợ scầu cứu.
Chiến thuyền không chút để ý, lại đón đầu một chiếc bè khác mà đâm. Chiến thuyền tuy chỉ to khoảng năm trăm thạch nhưng đối đầu với bè da dê vẫn có vẻ to lớn hơn, lực lượng cách xa nhưng về số lượng lại nhỏ hơn nhiều so với bè da dê nghìn thạch. Cho dù chiến thuyền đâm va lung tung trên mặt sông nhưng số lượng vẫn là ít quá, bè da dê của quân Tào xông qua phong toả Hán Thuỷ càng nhiều, vượt qua sông Hán Thuỷ.
Trương Liêu ở phía sau đội ngũ. Y muốn đợi quân của Lý Điển đuổi tới. Lúc này có binh lính đến báo, quân của Lý Điển đã qua trấn Long Trung, đang hăng hái đuổi tới bến tàu này. Lúc này Trương Liêu mới lên một cái bè da dê loại to ra, trên bè có năm mươi thân bình và hai chiến mã của y. Binh lính ra sức chèo thuyền, chèo về bờ đối diện.
Nhưng chính vào lúc này, xa xa trên mặt sông vọng lại tiếng kèn, “Ô…”, tiếng kèn vang vọng trên sông, tiếp sau đó là tiếng trống ù ù, bóng dáng mười mấy chiến thuyền của quân Hán hiện ra trên mặt sông. Đây là chiến thuyền mà thủ lĩnh Hán Thuỷ là Thẩm Di cử đến trợ giúp Long Trung, khoảng hơn năm mươi, bọn họ cũng biết có quân tình ở Long Trung, đang nhanh chóng đi về phía tây.
Lúc này, quân Tào còn có một nửa vẫn chưa vượt sông. Sắc mặt Trương Liêu biến đổi, lập tức ra lệnh:
- Mệnh lệnh hộ vệ quân nghênh chiến!
Trương Liêu ở Uyển Thành cũng huấn luyện một nhóm thuỷ quân Nam Dương hai nghìn người, so sánh với binh lính phương bắc, bọn họ am hiểu kỹ năng bơi hơn, có thể tác chiến trên sông. Trong kế hoạch vượt sông, Trương Liêu không hề suy tính việc thuỷ chiến với quân Hán Thuỷ, chỉ muốn mau chóng vượt sông, nhưng lúc này viện binh Hán Thuỷ tới, khiến y không thể không thay đổi kế hoạch.
“Tùng…tùng…tùng!”
Tiếng trống trận của quân Tào cũng gióng lên, kịch liệt nhưng lại có tiết tấu vang vọng trên mặt sông. Đây là mệnh lệnh xuất trận. Hai trăm chiếc bè da dê hộ vệ đang vượt sông bắt đầu nhanh chóng tập hợp, nghênh chiến với những chiếc chiến thuyền của quân Hán đang lao tới.
Nha tướng quân Hán là Chu Tín, lúc đầu ở Giang Lăng chính là gã bắt được Quan Vũ, cũng do đó từ Quân hầu được thăng làm Nha tướng. Sự thiện chiến dũng mãnh của gã chiếm được sự tán thưởng của Cam Ninh, đặc biệt cho gã làm phó tướng của Thẩm Di. Chu Tín là người sinh trưởng ở miền nam, trước nay chưa từng nhìn thấy bè da dê. Gã cũng có chút ngạc nhiên, nhưng lúc này, hai chiếc thuyền kỳ quái của quân Tào từ bốn phương tám hướng lao tới đội thuyền của gã, mũi tên trên mặt sông bắn như mưa, không ít binh lính trúng tên, gã không dám khinh địch, hạ lệnh:
- Dùng pháo đá công kích!
Pháo đá cũng chính là máy bắn đá, quân Tào gọi là Phích lịch pháo, giống một cái nỏ lớn, bắn những viên đá đi. Nó nhỏ hơn máy ném đá, bắn nhiều nhất cũng được hơn năm mươi bước, nhưng ưu thế của nó chính là khá chính xác, đặc biệt thích hợp sử dụng trên thuyền.
Chiến thuyền do Chu Tín dẫn đầu khác với thuyền tuần tra Long Trung, ít nhất một nửa là chiến thuyền chủ lực ngàn thạch, phần lớp lắp pháo đá. Theo tiếng bắn đá “Phịch!” vọng trên mặt sông, từng viên đá lớn hơn mười cân được ném tới bè da dê.
- Ầm!
Tiếng động cực lớn, một tảng đá to đập trúng một chiếc bè da dê, mấy tên lính Tào bị đập trúng, phát ra tiếng kêu thảm thiết, ngã từ bè da dê xuống nước, thuyền lớn theo đó đâm đến, đâm lật bè da dê. Hơn năm mươi chiến thuyền quân Hán vô cùng sắc bén, liền lúc đâm lật mười mấy chiếc bè. Trên mặt sông, chỗ nào cũng là binh lính quân Tào bị ngã xuống nước đang cầu cứu.
Nhưng sự phản kích mãnh liệt của quân Tào cũng khiến chiến thuyền quân Hán bị tổn hại nặng nề. Mấy chiếc bè da dê vây lấy một chiến thuyền ngàn thạch, binh lính quân Tào trên bè đem những bình gốm chất đầy dầu hoả ném sang thuyền lớn, dùng hoả tiễn đốt dầu hoả, thuyền lớn bắt đầu bị thiêu cháy mạnh, nhanh chóng bị lửa lớn nuốt chửng.
Quân Tào bắt chước làm theo, liên tiếp đốt cháy tám chiếc thuyền của quân Hán. Trên mặt sông lửa cháy ngút trời, khói đặc cuồn cuộn. Trên sông hai bên đang kịch chiến, vô số binh lính quân Tào liều mạng chèo thuyền, bè da dê dày đặc đang chèo sang bờ bên kia trong cơn sóng lớn.
Nhưng rất nhiều quân Tào bị ngã xuống nước cũng tìm được cách cứu mạng. Bọn họ dùng dao cắt dây thừng trên bè da dê, ôm một túi da dê bơm đầy khí, ra sức bơi sang bờ bên kia.
Chương 630: Hai quân giằng co.
Trời dần sáng, mặt sông Hán Thuỷ cũng khôi phục lại vẻ yên ả. Qua một đêm giao tranh sinh tử, trả giá hơn hai nghìn mạng người, chủ lực quân Tào do Trương Liêu dẫn đầu cuối cùng lợi dụng bè da dê để qua sông Hán Thuỷ, mà cùng lúc đó, Vu Cấm ở huyện Nghi Thành cũng lợi dụng bè da dê lén vượt sông Hán Thuỷ thành công, rút về bờ bắc. Quân Tào lại tụ tập ở đại doanh Phàn Thành.
Mặc dù lần này quân Tào vượt sông đánh bất ngờ cũng không có nhiều thành quả, lại còn trả cái giá không nhỏ nhưng chiến lược của Tào Tháo lại thành công, quân Tào vượt sông khiến quân Hán chịu áp lực cực lớn, Lưu Cảnh đành phải tạm dừng bắc phạt, dẫn quân chi viện Tương Dương.
Bắc phạt tuy chỉ là tạm dừng nhưng ít nhất cần sau nửa năm nữa mới có thể lại phát khởi thế công, đây chính là thời gian quân Tào thắng lợi để bố trí phòng ngự Lũng Tây. Từ góc độ này mà nói, Tào Tháo nam chinh Tương Dương đạt được mục tiêu dự tính, giành được thành công.
Sáng sớm ngày thứ hai sau khi quân Tào vượt sông, Nguỵ Diên dẫn năm nghìn quân Hán tiên phong đến Tương Dương, Đến buổi trưa, mấy vạn quân chủ lực do Lưu Cảnh dẫn đầu cũng xuất hiện ở Long Trung. Lúc này, Văn Sính và Giả Hủ cũng kịp đến Long Trung nghênh tiếp Lưu Cảnh.
- Bỉ chức phán đoán sai lầm, ngăn chặn quân Tào không hiệu quả, xin Châu Mục xử phạt!
Văn Sính vô cùng hổ thẹn. Tuy Giả Hủ đã ý thức được mục đích của quân Tào là muốn vượt sông Long Trung, nhưng y vẫn phán đoán nhầm, cho rằng quân Tào là đi chặn đánh cứu viện của quân Hán, từ đó không năm được cơ hội truy kích quân Tào.
Lưu Cảnh đã nhận được bẩm báo, hắn đỡ Văn Sính dậy cười nói:
- Lần này quân Tào qua nam về bắc, rõ ràng là đã có mưu kế tỉ mỉ, lại còn sử dụng bè da dê, cái này đối với quân đội miền nam mà nói quả thực khó có thể nghĩ đến. Lần này chỉ cần có thể giữ được Tương Dương, ta cho rằng các ngươi không có không làm tròn bổn phận, xứng đáng khen thưởng!
Lúc này, Giả Hủ cũng bước lên thi lễ nói:
- Nói ra thật hổ thẹn, Văn tướng quân không nghĩ đến việc quân Tào dùng bè da dê thì có thể lý giải, nhưng ta là người Tây Lương, từ nhỏ đã rất quen thuộc với kiểu vượt sông như thế này mà ta lại không nghĩ đến, thật khó nói. Lần này để quân Tào chạy thoát trách nhiệm là ở ta, không liên quan gì đến Văn tướng quân.
- Quân sư không nên tự trách, kỳ thực ta lo lắng quân Tào tiến công Gang Hạ, cũng may Tào Tháo tạm thời chưa có ý đó, cũng coi như là vận may của chúng ta.
Nói đến đây, Lưu Cảnh lại cười với mọi người:
- Đến bến tàu Long Trung xem chút đi!
Hắn quay người lên ngựa, mọi người vây quanh hắn đi về phía bến tàu Long Trung. Lúc này trên bến tàu Long Trung chất đầy quân tư và binh khí quân Tào vứt lại. Binh lính Hán đang thu dọn các loại vật tư. Lưu Cảnh đến trước một đống bè da dê, đây là bè bị nước sông xô lên bờ, có hơn bốn trăm chiếc, phần lớn bị xẹp khí, còn có hơn mười chiếc hoàn chỉnh chất thành một đống bên cạnh.
Lưu Cảnh cẩn thận nhìn những chiếc bè này, quay đầu hỏi Giả Hủ:
- Chiếc bè lớn nhất quân sư đã từng thấy lớn chừng nào?
Giả Hủ nghĩ một chút nói:
- Năm đó trong quân Đổng Trác có, kỳ thực chính là dùng ba mươi tấm da nhỏ ghép vào với nhau mà thành, bốn bên buộc gỗ lớn, hình thể vô cùng lớn, nhiều nhất có thể chở hơn hai trăm người, nhưng chủ yếu là dùng vận chuyển lương thực, cho dù là chiến thuyền nghìn thạch cũng e là không đâm lật được.
Lưu Cảnh gật gật đầu:
- Lần này quân Tào dùng bè da dê nhỏ mà đã có ích, ta lo lão sau này sẽ tạo ra cái bè lớn, dễ dàng vận chuyển, sự uy hiếp đối với Kinh Châu chúng ta sẽ lớn hơn, hơn nữa lần này quân Tào vượt sông làm lộ rõ nhược điểm của việc phòng ngự eo hẹp của thuỷ quân của chúng ta. Hôm nay qua sông từ huyện Nghi Thành, nói không chừng ngày mai sẽ qua sông từ quận An Lục, khiến người ta khó lòng phòng bị a!
Giả Hủ cười khổ một tiếng, không nói gì. Lưu Cảnh lại nói với Văn Sính và Nguỵ Diên:
- Các ngươi về Tương Dương trước đi! Cho quân đội đóng quân xong xuôi, lát nữa ta và Giả quân sư đi thuyền về Tương Dương.
Mọi người thi lễ cáo từ. Lưu Cảnh và Giả Hủ lên một chiếc thuyền nghìn thạch lớn, xuôi dòng về Tương Dương.
Bên mạn thuyền, Lưu Cảnh nhìn thị trấn Đặng Huyện bị phá huỷ bên kia bờ hồi lâu, trong ánh mắt chứa đầy sự phẫn nộ. Lúc này, Giả Hủ chậm rãi đi đến bên Lưu Cảnh, một lúc lâu thở dài nói:
- Có lẽ chúng ta cần phải thay đổi kế hoạch.
Lưu Cảnh quay đầu nhìn y, không hiểu hỏi:
- Quân sư là có ý gì?
- Tào Tháo đã tìm được cách phá vỡ phòng ngự Hán Thuỷ, tạo nên áp lực vô cùng to lớn đối với việc chinh phục phương bắc của tuyến phía tây chúng ta. Dù sao binh lực của Tào Tháo vượt qua chúng ta rất nhiều, nếu trọng điểm chiến lược của chúng ta ở phía tây thì quân Tào lúc nào cũng có thể từ tuyến đông kiềm chế chúng ta. Ta cảm thấy quân Tào vượt sông này kỳ thực chính là cảnh cáo chúng ta, nếu chúng ta không từ bỏ bắc phạt, thì sẽ có lần vượt Hán Thuỷ thứ hai, lúc đó chỉ e không phải là Tương Dương mà là Giang Hạ rồi.
- Việc này có quan hệ gì đến việc chúng ta thay đổi kế hoạch?
- Kế hoạc trước đây của chúng ta là chiếm Lũng Tây trước, sau khi đứng vững chân ở Lũng Hữu thì lại tiến công Quan Trung, nhưng hiện nay xem ra chúng ta phải nhanh chóng chiếm lấy Quan Trung, nếu quân Tào lại từ Kinh Tương kiềm chế chúng ta, vậy thì chúng ta có thể từ Quan Trung uy hiếp Tịnh Châu ở phía đông, thậm chí có thể từ đằng sau uy hiếp Nam Dương. Như vậy sẽ thực hiện được việc bao vây hai mặt của quân Tào.
Lưu Cảnh trầm tư thật lâu rồi nói:
- Chúng ta có thể ủng hộ Thái thú Giao Chỉ Sĩ Tiếp, để gã có thực lực chống lại Lưu Bị. Như vậy thì ta sẽ có thể chuyển toàn bộ thuỷ quân và chiến thuyền của Giang Lăng đến Hán Thuỷ, tăng gấp đôi hàng phòng ngự thuỷ quân ở Hán Thuỷ, đồng thời tái mộ năm vạn binh, gia tăng binh lực Kinh Châu lên hai mươi vạn. Ta nghĩ như vậy sẽ không ảnh hưởng kế hoạch tây chinh của ta.
Giả Hủ hiểu ý của Lưu Cảnh. Hắn tạm thời vẫn chưa muốn tấn công Quan Trung trước, vẫn theo kế hoạch cũ, sau khi đứng vững chân ở Lũng Tây thì sẽ tiến quân Quan Trung. Như vậy cũng khá ổn thoả. Nghĩ đến đây, Giả Hủ cười nói:
- Có lẽ ta vẫn còn một cách, khiến quân Tào bị kiềm chế ở hướng Hợp Phì, tiến công Kinh Châu cũng sẽ hữu tâm vô lực.
- Hợp Phì?
Ánh mắt Lưu Cảnh sáng lên. Hắn có chút hiểu được ý của Giả Hủ. Nếu như vậy cũng là thượng sách. Hắn tin Tôn Quyền nhất định sẽ nuốt miếng mồi này.
Trương Liêu dẫn quân bình an trở về. Lưu Cảnh cũng bị ép dừng tây chinh, tiến đến viện trợ Kinh Châu. Điều này khiến trong lòng Tào Tháo vô cùng sảng khoái, nhân lúc quân của Lưu Cảnh vẫn chưa đến Tương Dương, Tào Tháo hạ lệnh bày tiệc ăn mừng lần xuất binh hành động thành công này.
Bên trong đại trướng, Tào Tháo bày tiệc rượu, mọi người ngồi xúm lại một vòng, mấy tên lực sĩ trong quân diễn vật trong trướng, mọi người cười nói không dứt, không khí vô cùng náo nhiệt.
Lúc này Tào Tháo nâng cốc rượu lên cười nói với mọi người:
- Các vị, xin nghe một lời của ta!
Trong đại trướng lập tức yên tĩnh lại, vô số ánh mắt chăm chú nhìn vào Tào Tháo. Lúc này Tào Tháo mới chậm rãi nói:
- Ý nghĩa của việc vượt sông lần này không chỉ là chúng ta ép Lưu Cảnh đến cứu viện Tương Dương thành công, cũng không phải là chúng ta có thể toàn mạng trở về, quan trọng hơn chính là những năm gần đây chúng ta luôn bị áp bức dưới thuỷ quân Kinh Châu, cuối cùng tìm ra được một con đường đối kháng với thuỷ quân Kinh Châu. Chúng ta không cần chiến thuyền truyền thống, hoàn toàn có thể lợi dụng sự tiện lợi của bè da dê, linh hoạt tác chiến với thuỷ quân Kinh Châu, nào, cốc rượu này chúng ta cùng nhau uống!
Mọi người cùng đồng thanh đáp ứng, nâng cốc uống cạn. Rất nhiều người ở đây đều không hiểu rõ thâm ý trong câu nói cuối cùng của Tào Tháo, Trương Liêu lại hiểu, vì có hàng trăm tên lính Tào bị rơi xuống nước, không ngờ mỗi người tự ôm một cái túi da dê bơi về bờ bên kia. Phát hiện này có ý nghĩa to lớn, cứ như vậy, binh lính Tào chỉ cần biết bơi một chút, bọn họ có thể thuận lợi qua Hán Thuỷ.
Trước đây cũng có người đề nghị binh lính có thể ôm cây gỗ qua sông, nhưng dù sao cây gỗ không tiện mang đi mà bè da dê lại có thể để trong bọc đeo lưng, mỗi binh lính tuỳ thân mang theo, mỗi người mang bốn cái, khôi giáp và binh khí thì có thể đặt trên túi da vượt sông.
Thậm chí có thể lâm thời ghép thành bè lớn, vận chuyển chiến mã và đồ quân nhu vượt sông, chính là phát hiện này mới khiến Tào Tháo mững rỡ như điên. Vấn đề vượt sông vẫn dằn vặt lão bao nhiêu năm qua cuối cùng giải quyết dễ dàng. Đương nhiên Trường Giang thì không được, nhưng ngoại trừ Trường Giang ra, quân Tào sẽ không bị bất cứ con sông nào gây khó khăn nữa.
Tào Tháo thấy Trương Liêu như có suy nghĩ bèn cười nói:
- Văn Viễn đang nghĩ gì vậy? Phải chăng đang nghĩ đến tác dụng kỳ diệu của túi da dê?
- Vâng! Bỉ chức đang nghĩ đến việc này, ngoài ra bỉ chức còn một chút lo lắng Hợp Phì, lo quân Giang Đông thừa cơ tập kích Hợp Phì.
Tào Tháo cười ha hả:
- Ta quả thực có nhận được cấp báo, Hoàng Cái dẫn hai vạn Giang Đông vượt sông từ Lịch Dương, tiến về Hợp Phì, nhưng ta một chút cũng không lo lắng Tôn Quyền sẽ thực sự ra sức vì Lưu Cảnh, giúp Lưu Cảnh đánh bại chúng ta y được lợi gì chứ? Đối với y mà nói, lợi ích lớn nhất chính là Tào Lưu lưỡng bại câu thương, cho nên y chỉ bày làm ra vẻ, tuyệt không thực sự tiến công Hợp Phì.
- Thừa tướng quả nhiên là nhìn rõ lòng người.
Mọi người đều nâng chén tán thưởng.
Tào Tháo lại uống hai chén rượu, vẫn chưa thấy đã, lão thở dai một tiếng nói:
- Năm đó Nhương Sơn sai lầm, giữ lại mạng Lưu Cảnh, không ngờ gã cuối cùng lại trở thành mối đại hoạ của ta, đến nỗi hôm nay bị động như vậy. Năm nay ta đã năm tám, tuổi gần sáu mươi, mà thiên hạ chưa bình, phương bắc lưu dân quá mức, liệt sĩ tuổi già, trí khí chưa đủ!
Nói xong lão lại nâng chén uống một hơi cạn, bất giác có chút men say. Hứa Chử đứng sau Tào Tháo cảm thấy Thừa tướng đã không chống đỡ được nữa, vội lên trước thấp giọng nói:
- Thừa tướng cần phải thay quần áo chăng?
Tào Tháo gật gật đầu:
- Cô quả thực muốn đi thay quần áo!
Hứa Chử đỡ Tào Tháo, Tào Tháo lại cười nói với mọi người:
- Ta đi chắc sẽ không quay lại nữa, ta biết mọi người đều hy vọng ta rời đi, vậy thì ta thành toàn cho các ngươi. Mọi người vui vẻ uống đi! Ngày mai chúng ta lại thảo luận làm thế nào đối phó Lưu Cảnh đến đây.
Mọi người cười lớn, đều đứng dậy thi lễ. Hứa Chử lúc này mới đỡ Thừa tướng cẩn thận từ hậu trướng rời đi. Tào Tháo đi rồi, mọi người đã không còn trói buộc, trong đại trướng lại náo nhiệt trở lại, mọi người cười nói, không khí nhộn nhịp.
Lúc này, Tào Hồng bưng một chén rượu đi đến trước mặt Trương Liêu, như cười như không nói:
- Văn Viễn trận này tuy thua nhưng thua một cách tráng liệt, đến Thừa tướng cũng khen không ngớt, còn bày tiệc rượu vì Văn Viễn ăn mừng, khiến người ta không khỏi khâm phục. Ta đến kính Văn Viễn một chén, bày tỏ tâm ý.
Trương Liêu nghe ra trong lời nói của gã có gai, trong lòng không vui, thản nhiên nói:
- Trương Liêu chỉ là cẩn tuân mệnh lệnh tác chiến của Thừa tướng, Thừa tướng bày rượu không có liên quan gì đến Trương Liêu, không dám nhận sự tán thưởng của tướng quân. Chén rượu này chúng ta hay là tự uống đi!
Y nâng chén rượu uống một hơi cạn. Tào Hồng mặt biết sắc, lạnh lùng nói:
- Văn Viễn không nể mặt ta sao?
- Cũng không phải! Ta chỉ là uống rượu của Tử Liêm tướng quân, không nhận sự tán thưởng của Tử Liêm tướng quân. Từ Liêm tướng quân, mời!
- Hừ!
Tào Hồng hừ mạnh một tiếng, thuận tay tạt chén rượu xuống nền đất, quay người bước đi. Tạt rượu ngay trước mặt, đây là hành động cực kỳ vũ nhục người khác. Trương Liêu lập tức giận dữ, đập bàn quát:
- Tào Hồng, ngươi đây là có ý gì?
Tào Hồng quay đầu liếc y một cái, dùng ngữ khí châm chọc nói:
- Không có gì, ta chỉ là đang tế những hương nhân vô tội bị tướng quân giết chết thôi, tướng quân hà cớ gì phải tức giận?
Trương Liêu lập tức hiểu ra, chính là tên
Quân hầu dâm nhục dân nữ, giết người cướp của đó, Tào Hồng quả nhiên tìm mình làm khó dễ. Trương Liêu đâu phải là người chịu nhục mà không nói, y hít một hơi thật sâu, trầm giọng nói:
- Tào Hồng tướng quân, mời ngươi nói rõ ra đi!
Chương 631: Tuân Úc đã đến.
Tào Hồng dừng bước, quay đầu liếc mắt nhìn Trương Liêu không chút biểu cảm. Cuối cùng cười lạnh một tiếng, quay người đi. Lúc này, trong đại trướng lặng ngắt như tờ, ánh mắt của tất cả mọi người đều dồn vào hai người bọn họ. Mọi người đều cảm thấy kinh ngạc, Tào Hồng sao lại có thể tạt rượu xuống đất? Hai người bọn họ đã xảy ra mâu thuẫn gì?
Lúc này, Trần Quần ngồi ở một bên mới thập giọng hỏi:
- Văn Viễn, đã xảy ra chuyện gì?
Trương Liêu biết lúc này không phải là lúc phát sinh nội chiến, y nhịn cơn giận này lại, lắc lắc đầu:
- Không có gì, tiên sinh mời tiếp tục uống rượu!
Ánh mắt Trần Quần càng thêm nghi ngờ. Người khác có thể không thấy rõ, nhưng y ngồi bên cạnh, nhìn rất rõ ràng, chính là Tào Hồng giận lây sang Trương Liêu, giữa hai người này có mâu thuẫn, Trương Liêu đã không chịu nói, Trần Quần cũng không hỏi nhiều.
Lúc này, trong đại trướng rộ lên tiếng xì xào bàn tán, dần dần cũng náo nhiệt trở lại. Đúng vào lúc này, có thị vệ ở trước cửa trướng cao giọng nói:
- Các vị tướng quân, triều đình phái sứ giả tới, là Tuân Lệnh quân!
Các tướng đều đứng dậy đi ra khỏi trướng. Trần Quần lại rất kinh ngạc, nhạc phụ đại nhân sao lại đến đây? Y không kịp nghĩ nhiều, cũng đứng dậy ra nghênh đón. Lúc này, Tào Hồng bước nhanh qua bên cạnh Trương Liêu, bước chân nhẹ nhàng, lạnh lùng liếc mắt nhìn y một cái, bước nhanh hơn ra ngoài. Trương Liêu coi như không nhìn thấy.
Lý Điển cũng bước tới bên cạnh Trương Liêu, gã áy náy nói:
- Buổi chiều Từ Liêm tướng quân đã tới tìm ta, hỏi về việc đồng hương của hắn bị giết. Việc này ta rất xin lỗi, không thể khuyên được hắn.
- Việc này không liên quan gì đến ngươi, Man Thành không cần tự trách, ta cũng không để nó trong lòng đâu.
Trương Liêu cũng không ra cửa doanh trại, quay người về trướng của mình. Lý Điển nhìn y đi xa, bất giác lắc đầu. Từ đầu gã biết Tào Hồng sẽ mang thù, còn khuyên Trương Liêu, y lại không chịu nghe. Việc này quả thực cũng chẳng trách mình được.
Ở đại doanh trại, Tuân Úc tay cầm phù tiết đi vào quân doanh. Ông là phụng ý chỉ Thiên tử đến Phàn Thành khao quân. Tuân Úc không hề muốn đến đại doanh của Tào Tháo, ông đã quyết tâm không tham gia vào quân vụ quân Tào, nhưng lần này lại bất đắc dĩ đến Phàn Thành, Tuân Úc rất rõ đây tất nhiên là ý của Tào Tháo, Thiên tử chỉ là Hoàng đế bù nhìn, y sao có thể làm chủ?
Lúc này, Trần Quần chạy ra nghênh đón, thi lễ cười nói:
- Không ngờ là nhạc phụ đại nhân đến, con rể vô cùng bất ngờ.
Tuân Úc là quan hệ cha vợ với Trần Quần, gặp con rể Trần Quần, trong lòng Tuân Úc cũng có chút vui mừng, ông cũng khẽ đáp lễ nói:
- Trường Văn, đã lâu không gặp!
Tuân Úc lại lần lượt chào chư tướng ra đón tiếp mình, ông lại phát hiện không thấy Tào Tháo bèn hỏi:
- Thừa tướng có ở đây không?
Trần Quần thấp giọng đáp:
- Thừa tướng uống say rồi, đang nghỉ trong đại trướng, chỉ e bây giờ không thể gặp nhạc phụ, xin nhạc phụ lượng thứ.
Tuân Úc lẳng lặng gật đầu:
- Không sao, ta ngày mai gặp Thửa tướng cũng được.
- Nhạc phụ xin mời theo con! Con đưa nhạc phụ đến trướng nghỉ ngơi, đường xa lặn lội đến đây, trên đường vất vả rồi.
Trần Quần vừa nói vừa dẫn Tuân Úc đi về trướng.
Tào Tháo ngủ một mạch đến tối mới tỉnh, chỉ cảm thấy đầu đau muốn nứt. Lão uống một cốc trà, ổn định tinh thần, lại hỏi Hứa Chử:
- Bờ bên kia có tình hình gì không?
Hứa Chử khom người đáp:
- Bờ bên kia rất yên tĩnh, không có bất cứ động tĩnh nào. Bên Long Trung cũng không có tin tức có đại quân nào đến.
Chần chừ một chút, Hứa Chử lại nói:
- Nhưng Tuân Úc đến rồi, phụng ý chỉ Thiên tử đến khao quân.
Tào Tháo ha hả cười:
- Y cuối cùng cũng đến rồi.
Tào Tháo tất nhiên biết Tuân Úc sẽ đến, chính lão mệnh lệnh cho con cả Tào Phi sắp xếp Thiên tử phái Tuân Úc đến khao quân. Một vài việc phát sinh ở kinh thành khiến lão cực kỳ tức giận. Nghe nói Tuân Úc cũng cuốn vào, điều này khiến Tào Tháo vừa tức giận vừa đau lòng. Người khác thế nào lão không quan tâm, nhưng lão không cho phép Tuân Úc phản bội mình.
Trầm ngâm một lát, Tào Tháo bèn nói với Hứa Chử:
- Ngươi đi mời Tuân công đến đây, hãy nói ta muốn gặp y.
- Thừa tướng muốn tiếp chỉ sao?
Hứa Chử hỏi, nếu là tiếp chỉ thì gã sẽ dặn dò vệ sĩ chuẩn bị hương án.
- Tiếp chỉ ngày mai hãy nói, tối nay ta muốn nói chuyện với y một chút, đi đi! Mời y đến đây.
- Tuân lệnh!
Hứa Chử quay người vội vàng đi.
Nơi Tuân Úc ở cách đại trướng của Tào Tháo rất gần. Không bao lâu, Hứa Chử liền dẫn Tuân Úc đến trướng của Tào Tháo. Tuân Úc tiến lên bình tĩnh thi lễ:
- Vi thần tham kiến Thừa tướng!
- Văn Nhược đi đường vất vả rồi, mời ngồi!
Tào Tháo cười tủm tỉm mời Tuân Úc ngồi.
Tuân Úc ngồi xuống, khom người nói:
- Vi thần phụng ý chỉ Thiên tử đến đại doanh khao quân. Thiên tử muốn vi thần chuyển lời với Thừa tướng, nếu cần gì Thừa tướng có thể trực tiếp nói đề xuất.
Tào Tháo hí mắt mỉm cười:
- Đa tạ Văn Nhược, ta tạm thời không có yêu cầu gì.
- Không biết Thừa tướng tìm vi thần đến có việc gì?
Tào Tháo cười như không cười, hồi lâu mới thản nhiên hỏi:
- Tháng trước Phục Quốc trượng mừng thọ, văn võ đại thần đi chúc mừng có hai trăm sáu mươi bảy người, Văn Nhược hẳn là cũng đi chứ!
Trong lòng Tuân Úc giật mình, Tào Tháo làm sao đến số người cụ thể cũng biết, ông vội vàng cúi người nói:
- Vi thần quả thực có đi, còn gặp trưởng công tử nữa.
Ý của Tuân Úc là nói Tào Phi cũng đi, sao phải hỏi ta việc này?
- Ha ha! Không có gì, ta chỉ là tuỳ tiện hỏi thôi.
Trong đại trướng yên tĩnh lại, hai người đều không nói gì, nhưng Tuân Úc cũng hiểu được Tào Tháo vẫn ngó chừng Phục Hoàn, cuối cùng Phục Hoàn giữ lại tám người bí mật thảo luận đại sự, mình cũng là một trong số đó, chỉ là ông không muốn tham gia vào kế hoạch của Phục Hoàn, Tào Tháo gọi mình từ Nghiệp Thành đến, chính là vì việc này.
Sau lưng Tuân Úc ướt đẫm, âm thầm oán trách Phục Hoàn hồ đồ, việc như thế này làm không xong, Tào Tháo biết thì Phục Hoàn chết chắc rồi, lại còn liên luỵ đến Phục Hoàng hậu. Ông nâng chén uống trà, tay hơi run run.
Lúc này, ánh mắt Tào Tháo liếc nhìn ông ta một cái sắc nhọn. Lão chuyển đề tài, bèn thở dài:
- Hôm nay ta nói với mọi người, sai lầm lớn nhất trong cuộc đời ta chính là tha cho Lưu Cảnh. Khi Lưu Cảnh khởi bước, ta không coi chừng hắn, kết quả cuối cùng hắn trở thành mối hoạ lớn của ta, khiến ta đêm không an giấc. Bây giờ hắn lại sắp bắc phạt, tuy bị ta dùng kế vây Nguỵ cứu Triệu tạm thời ngăn chặn bắc phạt nhưng hắn sẽ không buông tay, sẽ vẫn xuất chinh, Văn Nhược có thể dạy ta, ta nên ứng phó thế nào với việc bắc phạt của Lưu Cảnh không?
Tuân Úc trầm mặc chốc lát nói:
- Nhân tài dưới tay Thừa tướng đông đúc, Trọng Đức, Công Đạt lại còn có Trường Văn, người nào cũng đều là nhân tài kinh thiên vĩ địa, bọn họ đều có thể cho Thừa tướng những ý kiến sáng suốt, vi thần không hỏi việc quân đã lâu, đã lạ lẫm rồi, chỉ e không giúp được Thừa tướng.
Tào Tháo ngán ngẩm, một lúc lâu sau mới thở dài nói:
- Văn Nhược từng là tâm phúc ta tin tưởng nhất, cũng là thầy của ta. Năm đó ta đối xử với Văn Nhược cũng không bạc, bây giờ lúc ta khó xử nhất, Văn Nhược sao lại lạnh nhạt bàng quan?
Ngữ khí của Tào Tháo rất bi thương, khiến Tuân Úc không đành lòng. Ông lại nhớ lại trước đây Tào Tháo đối xử với mình quả thực nhân hậu, tuy mình từng hận lão soán quyền nhưng hai chữ tình nghĩa ông không thể bỏ qua được.
Bất đắc dĩ, Tuân Úc đành chậm rãi hỏi:
- Thừa tướng cho rằng, những khu vực Lưu Cảnh bây giờ đang chiếm đoạt, nhược điểm lớn nhất ở đâu?
Tào Tháo hơi suy nghĩ một chút, lập tức hiểu rõ:
- Văn Nhược là chỉ khoảng cách giữa hai châu Kinh Ích, phải không?
Tuân Úc gật đầu:
- Kinh Châu là đất Sở, Ích Châu là nguồn của Ba Thục. Hai nơi trước giờ là nước sông không phạm nước giếng, nhưng ta muốn nói ở đây là khoảng cách về mặt địa lý. Kinh Châu và Ích Châu bị núi non trùng điệp cách trở, chỉ có thể thông qua đường Trường Giang và Thục đạo liên lạc, hai nơi về chiến lược khó mà thống nhất, đây chính là nhược điểm lớn nhất của Lưu Cảnh.
Tào Tháo trầm giọng nói:
- Ta hiểu một chút rồi, mời Văn Nhược nói tiếp!
Tuân Úc cười cười, lại tiếp tục nói:
- Bây giờ Lưu Cảnh một lòng ở tây tuyến bắc phạt, hơn nữa Ích Châu có được không lâu, còn chưa ổn định, cho nên Lưu Cảnh sẽ chuyển dịch thực lực quân đội đến Ích Châu và Hán Trung. Điều này khiến thực lực quân sự ở Kinh Châu không đủ.
Hiện tại Lưu Cảnh tặp trung lực lượng Kinh Ích bắc chinh, có thể nói quân phía nam chiếm đất phương bắc, chiến mặc dù may mắn có thể thắng nhưng nếu cần đứng vững ở phương bắc lại không phải là việc một sớm một chiều. Ta khuyên Thừa tướng không nên suy nghĩ việc được mất Lũng Tây, nên quan sát thiên hạ, để ý Kinh Châu. Hắn bắc lên Thiên Thuỷ, quân đội của Thừa tướng nam xuống Hán Thuỷ, hắn chiếm Quan Trung, Thừa tướng lại chiếm lĩnh Kinh Châu.
Thừa tướng thậm chí còn có thể xuất binh quận An Lục, uy hiếp Giang Hạ, đoạt lấy Kỳ Xuân. Như thế chiến lược Giang Đông cũng sẽ bị xáo trộn, bọn hắn liệu có xuất binh để đoạt lại quận Kỳ Xuân từ tay Thừa tướng hay không? Một khi Giang Đông cướp được quận Kỳ Xuân, phát hiện phòng ngự Giang Hạ yếu, bọn hắn liệu có tiếp tục tiến về phía tây nữa không?
Lúc đó Thừa tướng rút khỏi Giang Hạ, tập trung binh lực chiếm lĩnh Tương Dương, ép thế lực Giang Đông phát triển về hướng Nam quận và Kinh Nam, Lưu Cảnh liệu có cứu Kinh Châu không, một khi hắn toàn lực cứu Kinh Châu, chiến lược quân sự tất nhiên sẽ dịch chuyển về phía đông, mà lúc đó Quan Trung và Lũng Tây hắn vẫn có thể giữ được sao?
Lời khuyên của Tuân Úc khiến Tào Tháo có một loại cảm giác sáng tỏ thông suốt. Lão thực sự chỉ nghĩ đến trước mắt, từ trước đến nay không nghĩ đến việc Lưu Cảnh sau khi chiếm Quan Lũng mình ứng đối như thế nào. Tuân Úc đem thế cục nhìn rất rõ ràng, nhìn ra nhược điểm lớn nhất của thế lực Lưu Cảnh, cũng nhìn ra sự bằng mặt không bằng lòng giữa Giang Đông và Kinh Châu.
Căn cứ của Lưu Cảnh ở Kinh Châu, muốn hoàn toàn đánh bại hắn cũng chỉ có thể suy xét từ căn cứ gốc rễ mà lên. Tào Tháo cảm khái vạn phần. Tuân Úc là một nhân tài ưu tú như vậy, mình lại vứt bỏ không dùng y?
Tào Tháo bái Tuân Úc một lễ dài:
- Văn Nhược không hổ là Quân sư hàng đầu của ta, từ bây giờ trở đi, ta chính thức bổ nhiệm Tuân công làm Quân sư tướng quân, xin nhận của ta một lạy!
Tuân Úc lập tức biến đổi sắc mặt, Ông là trọng thần Đại Hán, tuyệt không thể làm thần nước Nguỵ của Tào Tháo.
- Không! Không! Thừa tướng xin nghe ta nói một lời.
Tào Tháo căn bản không nghe ông cự tuyệt, đứng dậy nói với Hứa Chử:
- Đưa Tuân Quân sư về trướng nghỉ ngơi, đồng thời hiệu lệnh ba quân, từ nay trở đi, Tuân Lệnh Quân sẽ là Quân sư tướng quân của ta, chỉ dưới ta, nếu dám khinh mạn Quân sư, chém!
- Thừa tướng!
Tuân Úc bỗng đứng lên, nghiêm nghị nói:
- Vi thần là Thị trung của vương triều Đại Hán, trì tiết tuần tra quân đội, Thừa tướng không thể tự ý bổ nhiệm thần làm Quân sư.
- Hiện tại ngươi không phải là Thị Tr nữa rồi!
Trên mặt Tào Tháo lộ ra tia cười đắc ý, lấy ra một quyển thánh chỉ, đưa cho Tuân Úc nói:
- Đây là chỉ ý từ Nghiệp Đô đưa tới từ hôm trước, ngươi tự xem đi!
Tuân Úc nghi ngờ tiếp ý chỉ, mở ra xem một lượt, lập tức như ngũ lôi oanh đỉnh. Trong chỉ ý đã bổ nhiệm ông làm Thị Trung Nguỵ quốc, Quang Lộc Đại phu, tham Thừa tướng Quân sư, miễn ông chức Thị Trung Triều đình Đại Hán.
Tuân Úc về trướng của mình, uống từng ly từng ly rượu buồn. Tào Tháo đã cưỡng ép phong ông làm Quân sư, càng khiến ông khó chấp nhận là việc Tào Tháo nhân cơ hội ông rời Nghiệp Đô bèn lệnh Thiên tử bãi miễn chức vụ trong triều của ông, chuyển thành thần tử Nguỵ quốc.
Việc này khiến tôn nghiêm của Tuân Úc gặp phải sự đả kích mạnh mẽ, cũng khiến trong lòng ông đầy sự bi ai. Vương triều Đại Hán nào còn Thiên tử, rõ ràng chỉ có Nguỵ công, Vương triều Đại Hán nào còn họ Lưu, rõ ràng đã sửa thành họ Tào, chẳng lẽ Tuân Úc ông cũng phải nối giáo cho giặc, biến thành loạn thần nghịch tặc sao?
Trong lòng Tuân Úc bi phẫn không nguôi. Lúc này, Trần Quần chậm rãi đi vào, gã ngồi sau lưng Tuân Úc, nhìn thân thể gầy ốm của nhạc phụ, trong lòng lặng lẽ thở dài, ngồi xuống bên cạnh Tuân Úc, không nói một lời.
Lúc này, Tuân Úc lại cầm bầu rượu lên rót cho mình, lại phát hiện rượu đã hết, ông quay đầu, đưa bầu rượu cho Trần Quần:
- Đi lấy cho ta một bầu rượu đến đây!
Tuân Úc mệnh lệnh.
Trần Quần nhận lấy bầu rượu, nhưng lại đặt sang một bên:
- Nhạc phụ, cha không thể uống nữa.
- Vì sao ta không thể uống nữa?
Tuân Úc liếc xéo gã cười lạnh nói:
- Ngươi thay Tào Tháo đến làm thuyết khách đúng không?
Trần Quần thở dài:
- Thừa tướng muốn con đến khuyên một lời, nhưng nhạc phụ lẽ nào không biết tại sao Thừa tướng muốn triệu nhạc phụ từ kinh thành tới không?
- Ta tất nhiên biết, lão muốn xuống tay với Phục Hoàng hậu!
Tuân Úc cười lạnh không ngớt.
- Thực sự Thừa tướng nghĩ cho nhạc phụ, lão sợ nhạc phụ cuốn vào vòng xoáy quyền đấu, cho nên mới gọi nhạc phụ từ Nghiệp Đô tới.
Trần Quần cũng vừa mới biết việc của Phục Hoàn, khiến gã vô cùng khiếp sợ, cũng âm thầm vui mừng vì nhạc phụ được Thừa tướng gọi đến Phàn Thành, nếu không thì nhạc phụ sẽ bị huỷ trong việc ngu xuẩn này, mình cũng sẽ bị liên luỵ.
Tuân Úc trầm mặc, một lát, ông chạm rãi nói với Trần Quần:
- Ngươi đi nói với Tào Tháo, nếu lão thực sự muốn ta thay lão mưu sách quân vụ, vậy ta chỉ có một điều kiện, để hắn bỏ chức Nguỵ công đi, trả lễ cửu tích, nếu không ta sẽ không thay hắn mưu hoạch việc gì.
Chương 632: Sự cứng rắn của Tuân gia.
Trần Quần rời trướng của Tuân Úc, lo lắng bồn chồn lại đến doanh trướng của Tào Tháo. Lúc này Tào Tháo đang đợi gã. Nghe nói Trần Quần quay lại rồi, liền lệnh người mời gã vào.
Trần Quần bước vào trướng, khom người thi lễ:
- Vi thần để Thừa tướng đợi lâu rồi.
- Mời ngồi đi!
Tào Tháo mời Trần Quần ngồi xuống, liền có chút cấp bách không nhịn được hỏi:
- Thế nào? Nhạc phụ ngươi đồng ý rồi chứ?
Trần Quần cười khổ lắc lắc đầu:
- Thừa tướng hẳn cũng biết, muốn thuyết phục ông ấy rất khó, tính tình của ông ấy quá cứng rắn.
Trên mặt Tào Tháo lộ một tia tức giận, cực kỳ không vui nói:
- Tại sao y lại như vậy? Lẽ nào ta không phải là thần tử Đại Hán? Lẽ nào Tào Tháo ta đã soán vị, tự lập đế sao? Chỉ là phong Nguỵ công, nhận cửu tích cho xong, với địa vị và công tích của ta, lẽ nào ta chịu hổ thẹn, lẽ nào đây là đi quá giới hạn sao? Y rốt cuộc có chỗ nào bất mãn?
Tào Tháo càng nói càng giận, cuối cùng lão cũng ý thức được mình thất thố, liền kìm chế lửa giận, nói:
- Sau đó thì sao? Tiếp tục nói!
Trần Quần mãi lâu mới than thở nhẹ một tiếng nói:
- Nhạc phụ thần là người chết vì lí, có lẽ ông hy vọng Thừa tướng hoàn trả triều chính cho Thiên tử.
- Thật là những lời hàm hồ!
Lần này Tào Tháo thực sự tức giận, lão khoanh tay đi đi lại lại trong đại trướng, trong lòng buồn giận không nguôi:
- Thiên tử có đạo, nước tự khắc trong sạch, Thiên tử vô đạo, nước tự khắc loạn. Từ loạn Khăn vàng đến nay, triều cương suy bại, quần hùng xưng bá, dân sinh khốn khổ, nạn lưu dân ngày càng trầm trọng, ngàn dặm đồng hoang, xương trắng lấp đầy khe rãnh, thời thế loạn này không phải hùng tài đại lược không thể thống trị!
Cái gọi là Thiên tử đó thì có thể xoay chuyển tình thế sao? Có thể cứu thiên hạ bách tính khỏi nước lửa sao? Không thể! Gã chính là một tên hôn quân, là con ông cháu cha, căn bản không biết nỗi khổ của dân gian, chỉ biết hưởng lạc loạn chính, nếu gã nắm quyền chấp chính chỉ khiến xã tắc càng thêm suy bại, nhân dân càng thêm bi thảm!
Nói đến đây, Tào Tháo hít một hơi sâu, lại chậm rãi nói:
- Thẳng thắn mà mói, ta tuy coi Lưu Cảnh là mối hoạ tâm phúc của ta nhưng người ta thích nhất lại là hắn. Hắn mới là vị vua chân chính, mới là người chân chính trị loạn cho Đại Hán, mới là người chủ chân chính phục hưng Đại Hán, chỉ tiếc ta và hắn lửa nước không dung, nếu không ta thực sự muốn phong hắn làm đế, nhất thống thiên hạ, nếu Tuân Úc nguyện ý đi hiếu trung Lưu Cảnh, ta thực sự không có lời nào để nói, nhưng y lại trung thành với một tên tầm thường, khiến ta thất vọng vô cùng!
Trần Quần thấp giọng hỏi:
- Nếu nhạc phụ thần thực sự đi theo Lưu Cảnh, Thừa tướng sẽ chấp thuận sao?
Tào Tháo cười lạnh một tiếng, hỏi lại:
- Ngươi nói xem?
Trần Quần không dám nói nhiều, lúc này Tào Tháo đã bình tĩnh lại, lão biết Trần Quần tất nhiên không nói nguyên văn, lại hỏi:
- Nhạc phụ ngươi nói nguyên văn thế nào?
- Ông ấy nói, nếu Thừa tướng có thể bỏ tước Nguỵ công, có thể từ lễ cửu tích, ông ấy bằng lòng dốc sức trước sau như một với Thừa tướng, nếu không ông ấy sẽ không bày một kế sách nào nữa.
- Ta biết rồi!
Tào Tháo khoát tay:
- Ta sẽ không miễn cưỡng y nữa, nhưng y cũng không thể ở lại bên cạnh Thiên tử, để y ở Uyển Thành dưỡng lão vậy.
Đúng lúc này, ngoài trướng truyền đến những tiếng xôn xao nhẹ, dường như có người đang chạy trốn. Tào Tháo ngẫn ra, đi đến trước cửa trướng hỏi:
- Xảy ra chuyện gì?
Một lát, một tên thị vệ đến báo:
- Không biết tại sao? Thân binh của tướng quân Tào Hồng và thân vệ của tướng quân Trương Liêu xảy ra xung đột,
Trần Quần đứng bên cạnh cả kinh:
- Bọn họ thực sự động thủ sao?
Tào Tháo nghi ngờ quay đầu nhìn gã:
- Trường Văn có vẻ biết chuyện này!
Trần Quần gật gật đầu:
- Hôm nay lúc uống rượu, vi thần mới phát hiện Tử Liêm và Văn Viễn hình như có mâu thuẫn, lại hỏi Văn Viễn, cụ thể xảy ra chuyện gì hắn lại không chịu nói.
Tào Tháo hừ mạnh một tiếng, lập tức nói với Hứa Chử:
- Ngươi mau dẫn Hổ Bí vệ binh đi dẹp xung đột, tất cả những người tham gia xung đột, cho dù binh lính hay tướng lĩnh đều trọng đánh một trăm quân côn cho ta, ngoài ra gọi Trương Liêu đến gặp ta!
Hứa Chử tuân lệnh, dẫn quân đến nơi có xung đột. Xung đột phát sinh ở tây doanh, Trương Liêu và Tào Hồng đều ở tây doanh. Mười mấy tên thân binh của Tào Hồng đang vây lấy tấn công một tên thân vệ của Trương Liêu, dẫn đến hỗn loạn gần trăm người. Lúc này xung đột đã được Trương Liêu dẹp dừng, gần trăm người tay nắm đao côn, trợn mắt nhìn nhau, không ít người bị thương, trên mặt đất mười mấy tên binh lính máu thịt lẫn lộn.
Thân binh của Tào Hồng thấy Trương Liêu đi ra, nhao nhao quay người muốn đi. Đúng vào lúc này, Hứa Chử dẫn đại đội nhân mã đến, lập tức vây lấy hơn trăm người. Hứa Chử trên ngựa ôm quyền với Trương Liêu, nói:
- Trương tướng quân, Thừa tướng cho mời ngài tới, ở đây để ta xử trí.
Trương Liêu nhìn về phía đại trướng của Tào Hồng một cái, lại thấy bên đó không có động tĩnh gì, bèn hỏi:
- Thừa tướng chỉ cho gọi mình ta thôi sao?
- Đúng vậy!
Trương Liêu gật gật đầu, bước nhanh về đại trướng trung quân. Hứa Chử thấy Trương Liêu đã đi, lập tức ra lệnh:
- Bắt hết lại cho ta!
Năm trăm Hổ bí vệ sĩ binh như lang như sói trói tất cả hơn trăm binh lính tham gia vào cuộc ẩu đả lại. Lúc này Tào Hồng lại xuất hiện, gã đi lên trước chắp tay với Hứa Chử nói:
- Hứa tướng quân, ở đây chắc là có hiểu lầm, có thể nể mặt ta, để ta đưa binh lính đi, ta sẽ gia tăng việc quản thúc bọn họ.
Hứa Chử nghiêm mặt nói:
- Tử Liêm Tướng quân đến giải thích với Thừa tướng đi! Thừa tướng có lệnh, tất cả những người tham gia cuộc xung đột đều đánh một trăm quân côn, ra tay cho ta!
Năm trăm Hổ bí vệ binh lật binh lính hai bên, vung côn dồn sức đánh, đánh cho binh lính kêu thảm kêu ngút trời. Sắc mặt Tào Hồng lúc trắng lúc đỏ. Lúc này, một tên thị vệ chạy đến, thi lễ với Tào Hồng:
- Tử Liêm Tướng quân, Thừa tướng lệnh cho ngài qua gặp.
Trong lòng Tào Hồng có một loại cảm giác không ổn. Gã không dám không nghe theo, đành đi theo vệ binh về phía trung quân đại trướng.
Trong đại trướng, Trương Liêu báo cáo chi tiết quá trình y giết đồng hương của Tào Hồng vi phạm quân luật tại bờ nam, cũng nói lại việc hôm nay trong bữa tiệc rượu Tào Hồng khiêu khích mình. Sắc mặt Tào Tháo xanh mét, sau một lúc lâu mới hỏi:
- Thế tại sao ngươi lại nhịn được?
- Hồi bẩm Thừa tướng, Lưu Cảnh dẫn quân Hán sắp đánh tới nơi, vi thần không muốn gây ra nội chiến để quân đội của Lưu Cảnh thừa cơ, tất cả đợi sau khi chiến tranh kết thúc sẽ tranh luận phải trái.
- Tốt lắm! Tốt lắm!
Tào Tháo nói liền hai câu rất tốt, khen ngợi nói:
- Văn Viễn nhẫn nhục, rất có phong thái Lận Tương Như, không hổ là tướng cốt cán của ta. Ta sẽ khắc trong tâm khảm, ta sẽ khiến Tào Hồng nhận lỗi với ngươi.
- Vi thần không dám nhận, nhưng đây chỉ là lời một phía của vi thần, mong Thừa tướng điều tra rõ ràng rồi hãy xử lý.
- Ta hiểu, ngươi quay về trước đi!
Trương Liêu thi lễ, đứng dậy lui ra. Vừa ra khỏi đại trướng đúng lúc gặp Tào Hồng đi đến. Trương Liêu lạnh lùng nhìn thoáng qua gã, không nói một lời, vội vàng đi. Tào Hồng quay đầu nhìn bóng Trương Liêu xa dần, trong mắt sát khí phóng ra. Gã biết Trương Liêu nhất định trước mặt Thừa nói lời bất lợi cho gã.
Lúc này, thân binh đi ra trướng nói:
- Tử Liêm Tướng quân, Thừa tướng mời ngài vào!
Tào Hồng ngang ngạnh đi vào trong đại trướng, chỉ thấy Tào Tháo đang khoanh tay đừng trầm tư trước sa bàn. Tào Hồng vội quỳ một gối xuống, ôm quyền nói:
- Bỉ chức tham kiến Thừa tướng.
Tào Tháo liếc mắt nhìn gã một cái, thản nhiên nói:
- Quân hầu vi phạm quân kỷ bị xử tử kia có quan hệ thế nào với ngươi?
Tào Hồng hồi lâu mới nói:
- Hai mươi năm trước, cha hắn là thân binh của thần, lúc ở Thanh Châu chết trận.
- Đã là như vậy, tại sao ngươi không giữ hắn lại bên mình?
Tào Tháo lại hỏi.
- Thần không thích người này lắm, phẩm hạnh không đứng đắn.
Tào Tháo cười lạnh một tiếng:
- Ngươi cũng biết người này phẩm hạnh không đứng đắn, y ở Tương Dương gian dâm phụ nữ, giết người cướp của, xúc phạm quân quy. Văn Viễn giết y cũng không sai, tại sao ngươi không cảm kích Văn Viễn, lại còn làm phiền y, ngươi nói xem, đây là đạo lý gì?
Tào Hồng cúi đầu, gã thở dài:
- Thực ra là đệ ghen ghét Trương Liêu được huynh trưởng trọng dụng, lúc giết người không nể mặt đệ, cho nên đệ mượn cớ này khiêu khích.
Tào Tháo nhìn gã hồi lâu, gật gật đầu:
- Cái này còn có chút giống lời nói thật, là như vậy chứ?
- Vâng!
- Rất tốt, vậy ngươi chuẩn bị làm thế nào? Cho ta một câu trả lời hợp lý, hiện giờ ta không phải là huynh trưởng của ngươi.
Tào Hồng cắn chặt môi dưới nói:
- Bỉ chức cam đoan với Thừa tướng, sẽ không xảy ra việc như này một lần nữa.
- Không được, ta không chấp nhận cách này.
Tào Tháo quả quyết cự tuyệt cam đoan của gã, lạnh lùng nói:
- Sáng mai ở trung quân đại trướng, ngươi phải công khai nhận lỗi với Văn Viễn.
Tự ái của Tào Hồng khó có thể chấp nhận hình phạt này, gã đập đầu, rơi lệ nói:
- Trừ cách này ra, bỉ chức nguyện nhận bất cứ cách xử lý nào của Thừa tướng!
- Ngươi!
Tào Tháo căm tức nhìn Tào Hồng, lão kìm chế sự giận dữ trong lòng, chậm rãi nói:
- Tử Liêm, ngươi làm ta thất vọng quá!
Tào Hồng cúi đầu, không nói một lời. Bất luận thế nào gã tuyệt sẽ không nhận lỗi với Trương Liêu. Tào Tháo nhìn gã, qua một hồi lâu mới gật gật đầu:
- Ta cho ngươi công khai xin lỗi Văn Viễn là cho ngươi một cơ hội miễn tội, ngươi lại không muốn, vậy ta cũng không có cách nào khác. Lúc hai bên đang đối chọi, ngươi gây nội chiến, tự ý tạo xung đột bên trong, theo quân quy phải chém, nể ngươi có công cũ, ta miễn ngươi tội chết, nhưng tội sống không thể tha, người đâu!
Mấy tên thị vệ xuất hiện tại trước đại trướng. Tào Tháo chỉ Tào Hồng:
- Lôi người này xuống, đánh một trăm quân côn cho ta!
Thị vệ tiến lên nhấc Tào Hồng ra khỏi trướng, lại nghe tiếng Tào Tháo lạnh lùng nói:
- Miễn Lệ phong tướng quân của ngươi, giáng chức làm Dương võ Trung lang tướng!
Tào Hồng toàn thân chấn động, Dương võ Trung Lang tướng là chức vụ của y ở Kiến An mười năm trước, không ngờ khiến y tụt lùi bảy năm, lúc này Tào Tháo khoát tay, ngăn thị vệ lại, lại đi đến trước mặt gã hỏi:
- Ta cho ngươi một cơ hội nữa, ngươi muốn xin lỗi hay là nguyện bị đánh và bãi chức?
Tào Hồng nhắm mắt, Tào Tháo lập tức giận dữ, ra lệnh:
- Lôi xuống cho ta, đánh thật mạnh vào!
Tào Hồng bị kéo xuống. Trong lòng Tào Tháo lúc này vô cùng bực bội, ngày hôm nay Tuân Úc không chịu trung thành với mình, Tào Hồng lại không chịu yếu thế, những người này đều bị làm sao vậy, không nể mặt lão như vậy.
Tào Tháo lại nghĩ tới Lưu Cảnh giống như một khúc xương cứng khó nhằn, khiến lão bó tay không có biện pháp, lão càng tâm phiền ý loạn. Lão giận dữ rút kiếm ra, hung hăng bổ một nhát lên bàn, lại đạp một cái lật bàn, ngửa mặt lên trời than một tiếng:
- Bực chết ta mất!
Chương 633: Ép ngược Giang Đông.
Sau khi viện quân của Lưu Cảnh đến Tương Dương, khiến binh lực Tương Dương gia tăng đến bảy vạn, giằng co với cách một con sông với quân Tào. Lưu Cảnh lại hạ lệnh hậu táng Hoàng Hân chết trận, truy phong y làm Dũng liệt tướng quân. Sau một vài ngày, một nghìn hai trăm chiến thuyền của thuỷ quân Giang Lăng cũng đến Hán Thủy, khiến tổng binh lực quân Hán ở Tương Dương gia tăng đến chín vạn người.
Nhưng Tào Tháo không hề hạ lệnh rút quân, vẫn ở lại Phàn Thành và giằng co với quân Hán như trước. Không chỉ có vậy, Tào Tháo còn hạ lệnh cho Tào Thuần dẫn hai vạn kỵ binh đã đến Uyển Thành tiếp tục xuôi về nam, tập trung trọng binh ở bờ bắc Hán Thủy, bày ra thế không đánh không nghỉ.
Mục tiêu chiến lược của Tào Tháo cũng rất rõ ràng, chính là muốn hãm Lưu Cảnh và quân chủ lực quân Hán ở Kinh Châu, khiến quân Hán không có cách nào tiến hành bắc chinh ở tây tuyến, giúp Tuân Du đang bố trí phòng ngự ở tây tuyến tranh thủ thời gian.
Thời gian dần dần trôi qua nửa tháng, thế cục Kinh Châu vẫn ở trạng thái giằng co, quân Tào không có chút dấu hiệu rút quân nào, quân Hán cũng vững vàng giằng co với quân Tào, còn hai vạn quân Giang Đông sớm đã đóng quân ở phía nam Hợp Phì, lại chần chừ không chịu phát động tiến công. Thái độ lá mặt lá trái của Tôn Quyền cũng ngày càng rõ ràng.
Lúc này đã là trung tuần tháng ba, đúng tiết giữa xuân. Giang Bắc, Giang Nam chỗ nào cũng trăm hoa khoe sắc, xuân ý dạt dào, quận Hoài Nam cũng bước vào thời khắc bừng bừng sức sống nhất trong một năm. Quận Hoài Nam nằm ở bờ bắc quận Đan Dương, vốn là khu vực trung tâm của Viên Thuật xưng bá, đô thành Thọ Xuân của Viên Thuật ở mặt bắc của quận Hoài Nam.
Vị trí địa lý của quận Hoài Nam vô cùng trọng yếu, là đầu mối then chốt của Giang Đông bắc tiếp giáp với Trung Nguyên, cũng là lô cốt đầu cầu của Trung Nguyên xuôi nam về Giang Đông, trong đó Hợp Phì là trung tâm. Quân Tào lúc đông nhất ở Hợp Phì đóng quân năm vạn, nhưng vì bạo phát chiến dịch Kinh Châu, binh lực Hợp Phì bị điều đến Kinh Châu, khiến binh lực Hợp Phì chỉ có một vạn người, do Đại tướng Mãn Sùng dẫn đầu.
Buổi trưa hôm nay, một đoàn thuyền gồm năm mươi chiến thuyền một ngàn thạch tổ hợp thành đang xếp hàng chạy nhanh trên mặt hồ mênh mông vô tận. Bầu trời xanh ngắt giống mặt biển rộng lớn yên tĩnh, không có một gợn mây, không khí tươi mát mà ướt át. Dưới ánh mặt trời, đoàn thuyền căng buồm, thuận gió lướt sóng mà đi.
Trên đầu chiếc thuyền lớn đầu tiên, Cam Ninh mặc khôi giáp, tay cầm chuôi kiếm nhìn về phương bắc. Đây là một vạn thuỷ quân Giang Hạ do y dẫn đầu, chia ra ngồi năm mươi chiếc thuyền lớn, xuôi dòng Trường Giang về phía đông. Từ Nhu Tu Khẩu ở thượng Trường Giang tiến vào Nhu Tu thuỷ, một mạch lên phía bắc, sau hai ngày tiến vào hồ Sào, lại từ hồ Sào tiến vào Phì Thuỷ, cuối cùng đến Hợp Phì. Mục tiêu của họ chính là Hợp Phì.
Bên tai của Cam Ninh dường như vẫn còn vang lại lời Lưu Cảnh, “Lần này quân Tào phá được phòng tuyến Hán Thủy ở huyện Nghi Thành, trách nhiệm không phải tại Hưng Bá mà tại Lưu Cảnh ta, hai mươi vạn quân Hán, Kinh Châu lại chỉ có năm vạn, quân tinh nhuệ đều ở Hán Trung, phòng ngự Kinh Châu yếu kém, quân Tào làm sao có thể không thừa cơ mà vào? Cho nên ta sẽ không trách tội thuỷ quân Giang Hạ.”
Cam Ninh khe khẽ thở dài. Tuy Châu Mục không trách y phòng ngự Hán Thủy không hiệu quả, nhưng y cũng tự cảm thấy áp lực rất lớn, hơn nữa lần này hành quân Hợp Phì, nếu y không thể thành công, thật là hổ thẹn với Châu Mục. Cam Ninh biết rõ tầm quan trọng của chuyến hành quân Hợp Phì lần này.
Cho dù thuỷ quân Kinh Châu đã hoàn thành việc phong toả Hán Thủy, quân Tào không thể lại xuống phía nam nhưng do chiến trường ở Kinh Châu, cho dù đối với thế lực quân Hán hay là đối với nông nghiệp, mậu dịch và ổn định lòng dân… của Kinh Châu, đều có ảnh hưởng rất lớn, cuói cùng tổn hại đến lợi ích của Kinh Châu. Có thể nói, quân Tào đóng quân ở Phàn Thành càng lâu, tổn hại về lợi ích đối với Kinh Châu cũng càng lớn.
Từ trên chiến lược có thể thấy, hiện nay trọng tâm quân Hán ở tây tuyến, lực lượng và sự chú ý của Kinh Châu tự nhiên sẽ yếu đi, điều này khiến quân Tào có thể thừa cơ mà vào, phá vỡ chiến lược cân bằng Kinh Châu. Lưu Cảnh đặc biệt lo lắng thời gian kéo dài quá, quân Tào sẽ hình thành sự chiếm lĩnh thực sự đối với Phàn Thành. Như vậy sẽ ép thế lực tiên phong từ phía nam Uyển Thành đến Hán Thủy, uy hiếp đối với Kinh Châu quá lớn, hơn nữa quân Tào lợi dụng bè da dê từ Long Trung vượt sông rút lui thành công, điều này chứng minh Hán Thủy đã không ngăn được quân Tào nữa rồi.
Cho nếu bắt buộc nhanh chóng ép quân Tào rút quân, mà muốn phá vỡ cục diện bế tắc trước mắt của Kinh Châu, chỉ có thể từ đông tuyến tiến hành phá cục, cố tình lá mặt lá trái quân Giang Đông, xuất công không xuất lực, rơi vào đường cùng, Lưu Cảnh chỉ có thể mệnh lệnh Cam Ninh từ xa ngàn dặm đến Hợp Phì, ở ra chiến trường mới ở Hợp Phì.
- Tướng quân, trạm canh gác thuyền của chúng ta đã trở về!
Một tên lính chỉ về nơi xa.
Cam Ninh cũng nhìn thấy rồi, ba chiếc thuyền nhanh chóng chèo từ phía đông hướng về phía đoàn thuyền, trên đầu chiếc thuyền đầu tiên cắm cờ quân Hán, dưới ánh mặt trời nổi bật rõ ràng. Cam Ninh vừa khoát tay:
- Giảm tốc độ chậm lại!
Đoàn thuyền dần dần đi tốc độ chậm lại, không bao lâu, ba chiếc thuyền nhanh đến gần thuyền quân Hán.
Ba chiếc thuyền nhanh này chính là thuyền thám báo đi trước một bước đến liên hệ với quân Giang Đông. Bọn họ đưa tình báo quân Giang Đông đến. Lúc này, Cam Ninh nhìn thấy một vị tướng lĩnh quân Giang Đông dáng người khôi ngô đứng trên chiếc thuyền đầu tiên, đang cười chắp tay thi lễ với mình. Cam Ninh vừa liếc nhìn liền nhận ra, người này chính là Đại tướng quân Giang Đông Lã Mông.
Điều này khiến Cam Ninh có chút kinh ngạc. Lã Mông sao lại đến đây. Y vội vàng nghênh đón, cười đáp lễ:
- Lã tướng quân, đã lâu không gặp!
Lã Mông là phó tướng của chuyến xuất binh Hợp Phì của quân Giang Đông lần này, nhận sự uỷ thác của chủ tướng Hoàng Cái, đến trước để bàn bạc với quân Hán về việc hai quân hiệp đồng tác chiến. Lần này quân Giang Đông xuất binh Hợp Phì, tuy mệnh lệnh của Tôn Quyền là công mà không đánh, là làm một tư thế tiến công nhưng quân đội Giang Đông lại mạnh mẽ chủ trương dùng cơ hội lần này để đoạt lấy Hợp Phì.
Tướng lĩnh quân đội bao gồm Lỗ Túc, Hoàng Cái, Lã Mông, Thái Sử Từ, Lục Tốn, Hàn Đương … đều hy vọng có thể chính thức xuất binh tấn công Hợp Phì, thậm chí bao gồm Trình Phổ trước nay căm thù Kinh Châu cũng hai lần kiến nghị với Tôn Quyền đoạt lấy Hợp Phì, đến nội bộ quan văn cũng xuất hiện phân hoá ý kiến, quan lớn như Trương Hoành, Lã Phạm, Bộ Chất … cũng bắt đầu lên tiếng ủng hộ ý kiến quân đội.
Chính là dưới áp lực của quân đội và bộ phận quan văn, lập trường của Tôn Quyền cuối cùng cũng có chút dao động, hạ lệnh cho Hoàng Cái tuỳ cơ hành động. Mệnh lệnh này vẫn còn rất hàm hồ, đã không đồng ý đánh Hợp Phì, cũng không có nói không cho đánh, kỳ thực cũng là để Hoàng Cái đợi cơ hội, nếu cơ hội thích hợp thì có thể xem xét tiến công Hợp Phì.
Hiện tại, mười ngàn thuỷ quân quân Hán đến không thể nghi ngờ khiến Hoàng Cái nhìn thấy cơ hội, nhưng đồng thời cũng có vài phần nghi hoặc, quân Hán tại sao muốn tiến công Hợp Phì? Nếu sau khi đánh hạ Hợp Phì, chiến lược này phải quy về cho ai tất cả, chính là có chút nghi ngờ, Hoàng Cái bèn cử Lã Mông đến cùng Cam Ninh tiến hành kết nối bàn bạc.
Cam Ninh và Lã Mông hàn huyên vài câu, liền đi vào trong khoang thuyền. Hai người ngồi xuống đối diện, Cam Ninh cười nói:
- Không ngờ Lã tướng quân lại đích thân đến, ta nghĩ nhất định là mang tin tức khiến chúng ta cảm thấy hứng thú đến đây.
Lã Mông vội vàng khom người nói:
- Vì sự tình rất quan trọng, Hoàng Cái tướng quân hy vọng có thể hết sức kết nối với quý quân, nếu có thể, chúng ta hy vọng có thể hiệp đồng tác chiến.
Cam Ninh đương nhiên hiểu rõ mục đích chính thức khi Lã Mông đến đây, hẳn là sự đột nhiên xuất hiện của quân Hán khiến bọn họ nghi ngờ. Bọn họ lo lắng quân Hán cũng tham gia tranh đoạt Hợp Phì. Kỳ thực đây chính là dụng ý xuất binh Hợp Phì của Lưu Cảnh, ép quân Giang Đông chính thức xuất binh Hợp Phì, nếu không dựa vào một vạn thuỷ quân mà muốn chiếm Hợp Phì gần như là không thể.
Cam Ninh thản nhiên cười:
- Vì sự giằng co giữa Tương Dương và quân Tào ảnh hưởng rất lớn đối với Kinh Châu, cho nên chủ công chúng ta hy vọng có thể phá vỡ thế cục ở Hợp Phì, ép Tào Tháo rút quân. Vốn dĩ chỉ hy vọng quân Giang Đông có thể lấy được Hợp Phì, nhưng hơn một tháng rồi, quân Giang Đông trước sau vần không có hành động, tất nhiên chủ công nhà chúng ta cũng thông cảm chỗ khó xử của quân Giang Đông, cho nên chúng ta quyết định vất vả một chút, tự mình nắm lấy Hợp Phì.
Sắc mặt Lã Mông nóng bừng lên, hành động nhỏ của Ngô Hầu người ta thấy rất rõ ràng, khiến trong lòng y hổ thẹn. Lã Mông có chút ngại ngùng nói:
- Chúng ta quả thực có chút khó xử, là vì tiếp tế tiếp viện không đủ, lương thực của quân đội chậm chạp chưa đến, cho nên không có cách nào khỏi phát tiến công Hợp Phì. Bây giờ vấn đề lương thảo đã giải quyết, vừa hay quý quân cũng đến, ý của Hoàng tướng quân là hy vọng hai quân liên hợp tác chiến, đánh lấy Hợp Quỳ. Không biết ý Cam tướng quân thế nào?
Đây cũng không phải là quyết định tuỳ tiện của Lã Mông, mà là ý của Hoàng Cái, mấu chốt là Ngô công đã thoải mái hơn, Hoàng Cái bèn quyết định liên hợp với quân Hán tiến công Hợp Phì, không thể nhường Hợp Phì cho quân Hán. Cam Ninh chính là đang đợi câu nói này của Lã Mông. Y giả lả cười nói:
- Chúng ta đương nhiên chấp nhận bắt tay tác chiến với quân Giang Đông, chỉ là Hoàng tướng quân có thể quyết định không? Có cần bẩm báo trước với Ngô Hầu không?
Lã Mông lắc lắc đầu, nghiêm nghị nói:
- Việc tiến công Hợp Phì, Hoàng tướng quân có thể quyết định, nếu Cam tướng quân cho rằng cần bàn bạc chi tiết, có thể đợi Hoàng tướng quân đến.
- Không cần, ta có một cách, chúng ta không ngại nói một chút.
Cam Ninh quay người dặn dò thân binh ngoài cửa:
- Mang bản đồ đến đây cho ta!
Quân Giang Đông đóng quân cách Hợp Phì khoảng năm mươi dặm, cách hồ Sào chỉ có vài dặm, quân doanh chiếm mấy trăm mẫu đất, dùng bùn đất và gỗ đầm, tường cao lớn mà chắc chắn, từng dãy lều trại sắp hàng chỉnh tề, tổng cộng có hai vạn quân đóng.
Quân Giang Đông đóng quân ở đấy đã gần một tháng, nhưng bọn họ vẫn không phát động tiến công với thành Hợp Phì. Đồng thời, Tào Tháo cũng không phát động tiến công bọn họ. Hai bên giống như hẹn ngầm với nhau, không thăm dò đối phương.
Giữa trưa, Lã Mông kịp quay về quân doanh. Y trực tiếp đến đại trướng của Hoàng Cái. Lúc này Hoàng Cái đang trầm tư nghĩ kế chiếm lấy Hợp Phì trước bản đồ. Đây là lần thứ hai quân Giang Đông tiến công Hợp Phì. Lần đầu là lúc đại chiến Xích Bích, Tôn Quyền nhân cơ hội quân chủ lực Tào bị kiềm chế ở Xích Bích, phát động chiến dịch đối với Hợp Phì, đáng tiếc trúng kế hư binh của quân Tào, vội vã rút quân.
Còn lần này, Tôn Quyền cũng không có ý tưởng thực sự muốn tiến công Hợp Phì, chỉ là muốn tỏ vẻ. Điều này khiến Hoàng Cái vô cùng thất vọng, chỉ là ông ta không cam tâm, liên tiếp dâng thư cho Tôn Quyền. Dưới sự nỗ lực của các quan lớn khác, Tôn Quyền cuối cùng đồng ý cho ông ta có thể tuỳ cơ hành động.
Hiện nay quân Hán tiến công Hợp Phì, Hoàng Cái cho rằng chính là cơ hội. Nếu thực sự bị quân Hán chiếm lấy Hợp Phì, quân Giang Đông sẽ chịu tổn thất chiến lược nặng nề, bất luận thế nào, Hoàng Cái quyết không thể cho phép Kinh Châu chiếm lấy Hợp Phì. Đương nhiên, ông sẽ không hợp tác với quân Tào, ngăn chặm quân Hán hành động, mà sẽ cướp lấy trước khi quân Hán công chiếm Hợp Phì.
Ít nhất như vậy ông có thể tìm được lý do báo cáo với Tôn Quyền. Lúc này đối với Hoàng Cái một lòng muốn chiếm Hợp Phì mà nói, không nghi ngờ là một việc khiến người ta phấn chấn.
Lúc này, bên ngoài trướng có binh lính bẩm báo:
- Khởi bẩm tướng quân, Lã Giáo Uý đã về!
- Mau cho hắn vào!
Lã Mông bước nhanh vào đại trướng, khom người nói:
- Bỉ chức may mắn không làm nhục mệnh, lấy được tin tốt rồi.
- Tử Minh ngồi xuống nói đi.
Lã Mông ngồi xuống, rồi mới cười nói:
- Ta gặp được Cam Ninh. Y quả thực là đi tấn công Hợp Phì. Sau khi chúng ta song phương bàn bạc, Cam Ninh đồng ý hai bên tác chiến, cùng đánh hạ Hợp Phì.
- Vậy sau khi đánh hạ, Hợp Phì là của ai?
Đây mới là vẫn đề mấu chốt nhất của Hoàng Cái.
Chương 634: Đêm tấn công Hợp Phì.
Lã Mông cười nói:
- Tướng quân cho rằng mục đích thực sự mà quân Kinh Châu đến là gì?
Hoàng Cái trầm ngâm một chút rồi nói:
- Ý của Tử Minh là, Cam Ninh không muốn cướp Hợp Phì?
- Bọn họ chỉ mang có một vạn quân đội đến, tướng quân cho rằng dựa vào một vạn quân này mà có thể cướp được Hợp Phì sao?
Hoàng Cái đã hơi hiểu ý của Lã Mông, quân Kinh Châu đến là để thúc ép mình dẫn quân tấn công Hợp Phì, giải nguy cho Kinh Châu, ông ta gật đầu nói:
- Ngươi nói không sai, Hợp Phì chẳng có ý nghĩa gì với Kinh Châu, nhưng lại rất quan trọng với chúng ta. Tuy Cam Ninh đến là để ép chúng ta tấn công Hợp Phì nhưng ta còn muốn lợi dụng cơ hội này vừa để tấn công chiếm đoạt Hợp Phì, vừa để xem bọn họ có kế hoạch gì không?
- Có!
Lã Mông chỉ vào bản đồ nói:
- Trước Hợp Phì là bến sông Tiêu Dao, có 3 ngàn quân đóng ở đó. Cam Ninh làm ra vẻ bọn chúng tấn công bến sông Tiêu Dao để thu hút sự trợ giúp của quân Tào. Chúng ta phụ trách tấn công thành Hợp Phì, thực ra đây chính là nhường Hợp Phì lại cho chúng ta.
Hoàng Cái gật gật đầu nói:
- Quân Tào ở Hợp Phì chỉ có 1 vạn người, còn liên quân của chúng có đến 3 vạn người lấy được Hợp Phì là điều đương nhiên, tôi muốn biết khi nào thì ra tay?
- Ngay tối nay!
- Tối nay?
Hoàng Cái do dự một chút, buổi tối thích hợp để tấn công lén doanh trại nhưng không thích hợp để công thành, nhưng cuối cùng ông ta vẫn gật đầu:
- Nếu đã như vậy, lập tức truyền lệnh Tam quân, chuẩn bị xuất phát!
Bến sông Tiêu Dao là bến sông đi vào Hợp Phì, là một vùng hồ nước mênh mông nối thẳng với sông đào để bảo vệ thành. Nơi này không chỉ có địa thế khá có mà quan trọng hơn là, một nửa khác của bến sông Tiêu Dao thuộc nội thành Hợp Phì. Không cần tấn công tường thành có thể trực tiếp vào hội thành Hợp Phì. Đây là yếu địa chiến lược của bên ngoài huyện Hợp Phì.
Vì thủy quân Giang Đông nhanh nhạy khiến quân Tào lo lắng quân Giang Đông sẽ tấn công đường thủy. Vị trí của bến sông Tiêu Dao rất nổi bật, chủ tướng Mãn Sủng của quân Tào bố trí phòng ngự rất cẩn mật, chỗ trọng yếu của bến sông y cho 3 ngàn quân chiếm đóng. Xây dựng đại doanh chắc chắn từ ở bờ đông tạo thành nơi yếu địa.
Cam Ninh ra binh trước, y biết được tin tình báo về Hợp Phì rất tỉ mỉ từ một thương nhân đến từ chính nơi đó. Y biết bến sông Tiêu Dao chính là nơi trọng yếu của thành Hợp Phì, một khi bến sông Tiêu Dao bùng nổ trận chiến kịch liệt sẽ thu hút hơn nửa quân đội Hợp Phì đến đây. Đây chính là điều kiện để quân Giang Đông cướp lấy Hợp Phì.
Màn đêm đã buông xuống, quân Hán nhổ neo trên bến thuyền cách thị trấn khoảng 10 dặm, bốn bề tĩnh lặng không một bóng người. Đèn trong thuyền chủ sáng trưng, Cam Ninh đang triệu tập mười mấy bộ tướng thảo luận phương án tác chiến.
Ban ngày Cam Ninh đã phái 2 gã thám báo giả danh là thợ đánh cá dùng thuyền qua bến sông Tiêu Dao đi vào thành Hợp Phì vẽ một bản đồ phòng ngự giản lược. Cam Ninh chỉ vào bản đồ nói với mọi người:
- Ở bến sông Tiêu Dao quân Tào có 3 điểm phòng ngự quan trọng. Bờ tây là Đại quân doanh, phỏng chừng có khoảng hơn 2 ngàn quân. Bờ đông có 1 tiểu quân doanh, dựa vào bến, nghe nói trong quân doanh có thuyền bè, chắc là thủy trại của trinh sát tuần tra. Còn có một trạm canh gác trên một ngọn núi, có thể nhìn bao quát toàn bộ bến sông Tiêu sao, cho nên trận chiến này ta cho phép chia làm 2 đường.
Cam Ninh chỉ vào tiểu quân doanh trên bản đồ nói:
- Ban đêm trại canh gác không nhìn rõ thuyền bè trên sông, chỉ cần chúng ta tắt hết đèn dầu là được, nhưng quân Tào trong tiểu quân doanh sẽ tập kích chúng ta từ phía sau cho nên nhất định phải đánh hạ được nó.
Nói đến đây, y cười nói với Phó tướng Trần Sóc:
- Trần tướng quân có đồng ý với vụ mua bán này không?
Trước kia Trần Sóc vốn là tướng lĩnh của thủy quân Kinh Châu. Sau khi đầu hàng Lưu Cảnh đến nay vẫn cùng Lý Tuấn trấn thủ Vũ Xương, đã được thăng lên làm Giáo Uý. Lần này Lý Tuấn đóng giữ Giang Hạ, Trần Sóc làm Phó tướng theo Cam Minh tấn công Hợp Phì.
Ông ta cũng khom người cười nói:
- Cam chưởng quầy giao việc mua bán, tôi sao có thể từ chối, tôi đồng ý đi.
Tất cả mọi người đều mỉm cười, Cam Ninh lại không cười nữa mà nhìn mọi người với vẻ mặt nghiêm trọng:
- Trận chiến này liên quan đến phá cục giằng co của Kinh Châu, cũng liên quan đến việc tây tuyến bắc phạt có thuận lợi hay không, cho nên ta yêu cầu các vị, bằng bất cứ giá này cũng phải giành được thành Hợp Phì.
Mọi người liền đứng dậy nghiêm nghị nói:
- Ty chức tuân lệnh.
Lúc quân Hán nhổ neo ở Phì Thủy, ở bên kia Phì Thủy đã có mấy tên kỵ binh quân Tào chạy từ xa tới. Mấy tên lính này là thám báo Mãn Sủng phái đi theo dõi quân Giang Đông. Bọn chúng phát hiện ra quân Giang Đông có dị động từ trưa hôm nay liền vội vàng về thành Hợp Phì bẩm báo.
Lúc này, tên thám báo thủ lĩnh bỗng ghìm chặt ngựa nhìn chăm chú vào mặt sông, một lát sau y chỉ vào mặt sông đối diện nói:
- Các ngươi nhìn thấy mặt sông có gì không?
Mấy tên lính nhìn một lúc lâu rồi gần như đồng thanh nói:
- Là đội thuyền!
- Không chỉ là đội thuyền mà còn là cả một đội chiến thuyền.
Tên thám báo thủ lĩnh căng thẳng, tại sao lại có một đội thuyền khổng lồ như vậy? Ai ở trên thuyền? Y không kịp nghĩ lại liền dặn dò một tên thám báo khác tiếp tục theo dõi mặt sông, còn những người khác theo y tức tốc chạy về thành Hợp Phì.
Đối với quân Tào, Hợp Phì như một yếu địa chiến lược vô cùng quan trọng, là điểm mấu chốt để phòng ngự hướng tấn công mở rộng của quân Giang Đông. Đồng thời cũng là lô cốt đầu cầu để theo dõi quân Giang Đông, có trọng binh đóng quân nhiều năm. Khi Giang Đông có nội loạn, có lần số quân đóng ở đây lên đến 8 vạn. Khi thế cục Giang Đông dần đi vào ổn định, số quân Tào đóng quân ở đây mới dần giảm xuống. Lần này, quân Tào nam chinh Kinh Châu đã bắt đầu rút một bộ phận lớn quân đóng ở đây làm cho Hợp Phì chỉ còn lại 10 ngàn người do đại tướng Mãn Sủng cầm đầu.
Quân Tào cũng không quá lo lắng về vấn đề quân Giang Đông sẽ tấn công Hợp Phì. Một mặt triều đình đã sắc phong cho Tôn Quyền làm Ngô công, Tả tướng quân. Mặt khác, cũng bởi vì năm ngoái quân Giang Đông bị Giang Hạ đánh cho đại bại, nguyên khí vẫn chưa được khôi phục. Chưa nói đến lên bắc mà ngay cả việc bình ổn người Sơn Việt làm loạn cũng đã phải cố hết sức rồi. Hơn nữa, Tào Tháo còn cho rằng ngồi nhìn hạc-trai tranh chấp lại càng phù hợp với lợi ích của Tôn Quyền.
Chính cách nghĩ này dã khiến Tào Tháo nhận định Tôn Quyền sẽ không tấn công Hợp Phì. Mà cho dù có tấn công thì cũng chỉ là nể mặt Lưu Cảnh mà tỏ một chút thái độ mà thôi. Nhìn biểu hiện trước mắt của quân Giang Đông thì quả thực là như vậy, đã một tháng quân Giang Đông vẫn án binh bất động.
Nhưng Mãn Sủng lại rất cẩn thận, y phái mật thám theo dõi từng động tĩnh của quân Giang Đông.
Đêm đến, Mãn Sủng tuần tra trên đầu thành giống như mọi khi. Cách y không xa, từng đội tuần tra trên đầu thành cũng bắt đầu đi tuần tra. Y bố trí 7 ngàn quân trong nội thành, còn bến sông Tiêu Dao là 3 ngàn quân. Mãn Sủng không yên tâm nhất chính là bến sông Tiêu Dao kia, đó là vùng không có tường thành, chiến thuyền có thể dọc theo sông đào mà vào thẳng thành. Hơn nữa, với sự sắc bén của thủy quân Giang Đông, vị trí chiến lược của bến sông Tiêu Dao càng trở nên quan trọng.
Mãn Sủng đứng trên đầu thành nhìn bến sông Tiêu Dao phía xa xa. Trong đêm không nhìn thấy đại doanh nhưng có thể nhìn thấy điểm sáng lờ mờ. Y biết rằng, đó chính là đèn lồng treo trên trạm canh gác, đèn lồng sáng chứng tỏ bên sông Tiêu Dao bình yên vô sự.
Đúng lúc này có một tên lĩnh vội chạy đến thi lễ bẩm báo:
- Trương quân hầu quay về rồi, nói có tin tình báo quan trọng.
Trương quân hầu chính là thủ lĩnh đám thám báo mà Mãn Sủng phái đi theo dõi quân Giang Đông. Y có tin tình báo quan trọng, chắc chắn là quân Giang Đông đã có động tĩnh gì rồi. Mãn Sủng vội vàng ra lệnh nói:
- Dẫn y lên!
Không lâu sau, Trương quân hầu được binh lĩnh dẫn lên, y khom người thi lễ nói:
- Tham kiến đô đốc!
- Tình hình Quân Giang Đông thế nào rồi?
Mãn Sủng hỏi.
- Quân Giang Đông có động tĩnh, từ trưa hôm nay chúng đã bắt đầu thu dọn hành lí chuẩn bị xuất phát.
- Đi đâu?
- Chắc là thành Hợp Phì!
Mãn Sủng giật mình, y đã nghĩ chuẩn bị thu dọn hành lý rút lui, không ngờ là đi về phía Hợp Phì. Y vẫn có vẻ không tin liền truy vấn:
- Chắc chắn không? Đi về phía chúng ta à?
- Có thể chắc chắn, ty chức tận mắt nhìn thấy bọn họ đi, hơn nữa ty chức còn có tin quan trọng hơn.
- Tin gì?
Trương quân hầu có vẻ căng thẳng nói:
- Lúc ty chức trở về, có phát hiện trên mặt nước Phì Thủy có chiến thuyền, ít nhất phải hơn 10 chiến thuyền trở lên, đại bộ phận đề là chiến thuyền ngàn thạch.
Tin này khiến Mãn Sủng chấn động, y vội vàng nói:
- Chiến thuyền đang ở đâu?
- Cách chúng ta khoảng 10 dặm.
Tin tình báo này khiến trong lòng Mãn Sủng căng thẳng. Y biết quân Giang Đông không có chiến thuyền trên 1 ngàn thạch, chiến thuyền cũng không đến đây hết. Hợp Phì lại càng không có đến mấy chục chiến thuyền ngàn thạch, đội thuyền chiến này xuất hiện có vẻ kì lạ, đây là có chuyện gì? Chiến thuyền của nơi nào?
Nhưng cho dù y có nghĩ thế nào thì y cũng không thể ngờ đó chính là chiến thuyền Kinh Châu. Dù sao cũng rất xa xôi, thủy quân Kinh Châu không thể bôn ba ngàn dặm mà đến được. Nghĩ đi nghĩ lại, chỉ có thể là quân Giang Đông, lẽ nào là chiến thuyền tiếp ứng của quân Giang Đông sao?
Mãn Sủng nghĩ đến dị động của quân Giang Đông, đội thuyền này xuất hiện như vậy cũng có thể giải thích đây chắc chắn là viện quân của Hoàng Cái do Tôn Quyền phái đến. Nhưng điều khiến Mãn Sủng cảm thấy nghĩ ngờ chính là tại sao quân Giang Đông lại phải xuất phát về phía Hợp Phì? Lẽ nào bọn họ không muốn giả vờ chuẩn bị tấn công Hợp Phì trên quy mô lớn sao?
Trong lòng Mãn Sủng rối bời, nghĩ mãi mà không ra, lúc này phó tướng Tào Chân vội vàng đến. Mặc dù Tào Chân là con nuôi của Tào Tháo nhưng kinh nghiệm và sách lược của y không được bằng Mãn Sủng cho nên Tào Tháo đã bổ nhiệm y làm phó tướng.
Thực tế Tào Chân là trợ thủ của Tào Thuần thống lĩnh Hổ báo kỵ cùng với Tào Hưu làm phó tướng Hổ báo kỵ cho Tào Thuần. Sở dĩ hiện tại y xuất hiện ở Hợp Phì là vì trong 10 ngàn quân đội Hợp Phì có 1 ngàn kỵ binh của Hổ báo kỵ. Tào Chân là thủ lĩnh của 1 ngàn binh Hổ báo kỵ đó.
Tào Chân đi lên hỏi:
- Đô đốc, đã xảy ra chuyện gì vậy?
Mãn Sủng thở dài nói:
- Thám báo phát hiện ra có đội thuyền trên mặt sông cách đây hơn 10 dặm, đều là chiến thuyền ngàn thạch, ước có khoảng mấy chục thuyền. Quân Giang Đông đã rời khỏi đại doanh, tấn công về phía Hợp Phì.
Tào Chân cũng giật mình kinh hãi, y vội nói:
- Đô đốc cho rằng đội chiến thuyền này là của quân Giang Đông sao?
- Ta không biết nhưng ta không ngờ là vẫn còn khả năng khác là thủy quân Kinh Châu?
- Tuy khả năng này khá thấp nhưng cũng không phải là không thể. Nhưng hiện tại với hơn 10 chiến thuyền này, đối phương vượt xa chúng ta về binh lực, Đô đốc, bến sông Tiêu Dao nguy hiểm rồi.
Tào Chân nhắc nhở Mãn Sủng một câu, đối phương đến bằng chiến thuyền chắc chắn sẽ vào thành qua bến sông Tiêu Dao. Y lại nhìn về bến sông Tiêu Dao thấy ngọn đèn giữa không trung vẫn còn, không có gì lạ thường khiến lòng y yên ổn hơn một chút.
Lúc này Tào Chân ôm quyền nói:
- Ty chức đi thủ bến sông Tiêu Dao! Ty chức đã từng luyện thủy chiến ở hồ Huyền Vũ, có thể đánh với địch một trận.
Mãn Sủng biết y võ nghệ rất cao cường, hơn nữa, tên pháp cũng xuất chúng liền gật đầu nói:
- Ta giao 1 ngàn kỵ binh cho ngươi, tổng cộng là 4 ngàn người phải bảo vệ được bến sông Tiêu Dao.
- Tuân lệnh!
Tào Chân thi lễ rồi vội vàng đi, lúc này Mãn Sủng liền xoay người ra lệnh:
- Truyền lệnh của ta, toàn quân lên thành.
Lính liên lạc chạy như bay về phía doanh trại. Mãn Sủng xoay người xuống thành, lúc này trong đầu y có một suy nghĩ: “Vì sao không phải thủy quân Kinh Châu? Rõ ràng là chiến thuyền ngàn thạch, chỉ có thủy quân Kinh Châu đến thì quân Giang Đông mới có thể chính thức tấn công Hợp Phì”.
Lúc này đây, Mãn Sủng bỗng nhiên hiểu ra thủy quân trên mặt sông là đến từ đâu, trong lòng y càng thêm căng thẳng.
Chương 635: Kịch chiến Hợp Phì (thượng)
Trong đêm tối, Trần Sóc dẫn theo 2 ngàn binh lính đi dọc theo bờ tây Phì Thủy, nhiệm vụ của ông ta là đánh vào tiểu quân doanh ở bờ tây, phòng quân Hán tấn công từ phía sau. Quân đội của ông ta đi rất bí mật, dần dần đã đến quân doanh, tuy chỉ là tiểu quân doanh nhưng cũng phải chiếm đến mấy mẫu đất. Đây là nơi đóng quân của 1 ngàn quân Tào, cũng có 50 chiến thuyền, là trạm canh gác thủy trại của sông đào bảo vệ thành.
Sau khi Trần Sóc quan sát doanh trại quân địch tỉ mỉ liền phái 2 gã thám báo đến thăm dò cách bố trí doanh trại của quân địch. Một lát sau, hai gã thám báo trở về thấp giọng bẩm báo:
- Bốn phía không có cây củ ấu và sừng hươu, cũng không có hố ngựa vùi lấp, là một doanh trại bình thường.
- Có lính gác không?
Trần Sóc lại hỏi.
- Có nhưng nhiều nhất cũng chỉ có thể nhìn được 20-30 bước.
Trần Sóc đảo mắt lập tức ra lệnh nói:
- Mọi người xếp thành hàng, theo ta đi vào doanh trại của địch.
Chủ tướng Mãn Sủng đã ra lệnh cảnh báo đến bến sông Tiêu Dao nhưng vì mặt sông cách trở tạm thời tin này vẫn chưa đến được tiểu doanh trại bên bến bờ đông. Lúc này, đã là canh 1, đại bộ phận binh lính đang chìm say trong giấc ngủ, trong quân yên tĩnh lạ thường. Trên tháp canh hai bên trái phải của cửa chính có hai tên lính đang tuần tra.
Lúc này, một tên lính bỗng phát hiện ra trong bóng đêm có đội quân xếp thành hàng đang đi tới, y hét lớn:
- Ai, đứng lại.
- Chúng tôi phụng lệnh Thừa tướng, từ Nam Dương đến đây viện trợ, Mãn Sủng tướng quân có ở đây không?
Đối phương cao giọng trả lời nhưng đội quân kia vẫn không dừng lại mà càng lúc càng đến gần. Lính gác hơi chần chừ, y đã được cảnh báo từ lâu nhưng lại không ngờ là có quân đội từ Nam Dương đến, là viện quân mà Thừa tướng phái đến.
Lúc y đang do sự thì đối phương đã đi được mấy chục bước nữa, lúc này tên lĩnh gác mới bừng tỉnh ngộ hô lớn:
- Không được bước về phía trước.
Y vừa dứt lời thì một mũi tên phóng đến nhanh như tia chớp, mũi tên cắm trúng cổ họng của tên lĩnh gác, y ôm cổ rồi ngã vào tháp canh. Bỗng một tên lính khác kịp phản ứng, kinh hãi hô to:
- Có biến, có kẻ thù!
Không đợi cho y gõ chuông cảnh báo, mấy mũi tên đã đồng thời lao về phía y. Y kêu thảm một tiếng rồi ngã xuống. Lúc này, Trần Sóc hét lớn:
- Giết vào trong!
Hàng trăm tên lính ôm cây gỗ xông lên, “ầm” một tiếng vang rất lớn, đâm thủng cửa chính của doanh trại. Ba ngàn quân Hán reo hò liều chết xông vào trong. Tất cả quân Tào đã tỉnh giấc, nhất là hơn 10 lều lớn gần đó không đợi cho binh lính kịp tỉnh lại chúng đều đã trở thành ma dưới lưỡi đao.
Quân Tào bị đánh thức, hoảng sợ la to chạy tán loạn, có rất nhiều binh lính không thể chạy trốn liền quỳ xuống đất xin đầu hàng, tha mạng. Lúc này, trên con đường bên ngoài doanh trại, Tào Chân đã dẫn theo 1 ngàn kỵ binh vội vàng chạy về phía tiểu doanh trại. Y vừa đi ra khỏi thành theo đường vòng đến đây, cách doanh trại có 1 dặm thì bỗng có một tên lính chỉ vào tiểu doanh trại hô to:
- Tướng quân mau nhìn xem!
Tào Chân ghìm chặt chiến mã, y đã nhìn thấy lửa cháy từ phía tiểu doanh trại:
- Không hay rồi!
Tào Chân bỗng hiểu ra, đây chắc chắn là tín hiệu báo tin cho một đội quân khác tấn công bến sông Tiêu Dao.
Tào Chân đang định quay ngựa nhưng lại ghìm chặt chiến mã, từ từ tháo giáo dài xuống. Vì sao y lại bị động? Vì sao phải đi? Y muốn giết địch trong tiểu doanh trại, y bỗng giơ cây giáo dài trong tay hét lên:
- Các huynh đệ, theo ta giết vào!
Một ngàn Hổ báo kỵ liền chạy, như một trận sấm đánh về hướng về tiểu doanh trại.
Lửa trong tiểu doanh trại đúng là tín hiệu phát đi cho Cam Ninh. Lúc này, đội thuyền của Cam Ninh đã ở ngoài doanh trại đang lẳng lặng đợi lúc xuất kích. Nhìn thấy lửa từ tiểu doanh trại cháy từ phía xa nhưng Cam Ninh vẫn chưa truyền lệnh tấn công.
Cam Ninh đứng ở đầu thuyền nhìn chăm chú vào ngọn đèn lồng trên trạm canh gác phía xa. Đèn lồng đã tắt, đây là tín hiệu cảnh báo, nhưng điều khiến Cam Ninh thấy lạ chính là trước khi tiểu doanh trại đốt lửa làm tín hiệu thì đèn ở trạm canh gác đã tắt rồi.
Điều này chứng tỏ quân Tào đã phát hiện ra từ trước khi bọn họ đến. Nếu đã như vậy có thể nào doanh trại chủ đã có sự chuẩn bị hay không? Ánh mắt của Cam Ninh nhìn về phía doanh trại chủ, tràn đầy sự nghi ngờ.
Lúc này, có một gã nha tướng đến gần thuyền lớn của Cam Ninh hỏi:
- Tướng quân, có đánh một trận không?
Cam Ninh gật gật đầu, cho dù đối phương có phát hiện ra bọn họ hay không thì trận chiến này cũng không thể tránh khỏi. Cam Ninh liền ra lệnh:
- Có thể xuất chiến rồi, bảo các huynh đệ dùng tấm chắn bảo vệ mình.
Vừa ra lệnh, chiến thuyền của Cam Ninh liền phát đi tín hiệu. Đây là tín hiệu ra lệnh cho 30 chiến thuyền tấn công. Trong bóng đêm, 30 chiến thuyền cùng xuất phát, dùng sức đạp của con người bánh xe gỗ chuyển động chiến thuyền càng lúc càng nhanh. Lính đứng đầy trên chiến thuyền tay cầm trường mâu, căng thẳng nhìn bến thuyền trong bóng đêm.
Trên bến thuyền rất yên tĩnh dường như không ai phát hiện ra chiến thuyền Kinh Châu. Càng lúc càng gần, 300 bước, 200 bước chiến thuyền đã đi vào trong 100 bước. Trong bóng đêm bỗng có tiếng mõ, ánh lửa xuất hiện trên bến thuyền, vô số lính mai phục trên bến thuyền xuất hiện.
Trên bến thuyền có khoảng hơn 10 ngàn quân đội, bọn chúng giương cung nỏ bắt lên chiến thuyền của quân Hán. Tên bay như vũ bão, bắn về phía thủy binh quân Kinh Châu, không ngừng có người kêu lên thảm thiết ngã xuống nước.
Lúc này, chỉ nghe thấy “ầm” một tiếng vang thật lớn. Một con thuyền phía trước đã va phải một tảng đá lớn, đầu thuyền bị dập nát, thân thuyền lật úp. Gần trăm binh lính trên chiến thuyền ngã xuống nước, mấy chiến thuyền ngay sau đó cũng va phải đá lớn loạn thành một bầy.
Đây chính là “ám khí” Mãn Sủng thiết lập để đề phòng chiến thuyền của quân Giang Đông xâm lấn. Chỉ có thuyền trăm thạch hoặc thuyền nhỏ mới có thể lách qua được. Không ngờ, chiến thuyền quân Giang Đông chưa đến thì chiến thuyền quân Kinh Châu đã đánh vào. Chiến thuyền của quân Hán đều là 500 thạch cho nên không thể lách qua được những tảng đã ngầm dưới sông này.
Dưới nước có đá lớn chắn đường, trên mặt nước tên như mưa, binh lính chết thê thảm và nghiêm trọng, chiến thuyền Kinh Châu không thể đổ bộ, đành phải rút lui về phía sau.
Lúc bến sông Tiêu Dao bị ngăn cản thì tiểu doanh trại cũng xuất hiện cục diện bất lợi. Tào Chân dẫn theo 1 ngàn kỵ binh Bổ báo giết vào trong quân doanh, triển khai trận chém giết thảm khốc với 3 ngàn thủy quân Kinh Châu.
Hổ báo kỵ là đội quân tinh nhuệ nhất của quân Tào. Trước năm Kiến An thứ 10, kỵ binh của Hổ báo kỵ không nhiều lắm, chỉ có hơn 6 ngàn người nhưng trong cuộc chiến tranh tấn công người Ô Hoàn, Tào Tháo đã lựa chọn ra 3 ngàn trai tráng Ô Hoàn có kỹ thuật cưỡi ngựa tốt thành lập tân Hổ báo kỵ binh, giao cho Tào Thuần huấn luyện. Mấy năm qua đi, kỵ binh của Hổ báo kỵ đã là chủ lực chiến đấu trên bộ của quân Tào.
Tào Thuần dẫn theo chỉ vẻn vẹn 1 ngàn kỵ binh đánh tan 10 ngàn quân của Viên thị, lúc tiêu diệt Điền Ngân, Tô Bá người Hà Gian tạo phản, 3 mãnh tướng họ Tào là Tào Thuần, Tào Hưu, Tào Chân đã dẫn theo 2 vạn Hổ kỵ binh một trận chiến đã đánh bại 200 ngàn quân khởi nghĩa, làm cho Hổ báo kỵ uy danh khắp Hà Bắc Trung Nguyên.
Đây là lần đầu tiên Hổ báo kỵ gặp thủy quân Kinh Châu. Cho dù thủy quân trên mặt nước là vô địch thiên hạ nhưng trên đất liền thì thua xa Hổ báo kỵ. Từng đội từng đội Hổ báo kỵ tung hoành trong quânh doanh, chiến đao bổ chém, trường mâu đâm nhanh. Lính Kinh Châu hưng phấn phản kích nhưng cuối cùng vẫn không thể chống lại kỵ binh của quân Tào. Họ không ngừng bị kẻ địch đâm chết, kêu la thảm thiết từ tứ phía. Trận hình tập kết của Thủy quân Kinh Châu bị kỵ binh tấn công, dẫn dần lâm vào hỗn loạn.
Trần Sóc thấy tình thế không ổn, ông ta biết rút lui ra ngoài doanh trại thì chỉ còn đường chết, liền chỉ vào trong nước hô lớn:
- Rút lui lên mặt nước!
Hai ngàn thủy quân đã tử thương mất hơn 400 người, còn lại hơn 1500 binh lính đều chạy về phía doanh trại bến thuyền phía tây nam, một ngàn kỵ binh thì đuổi giết phía sau.
Lúc này, Tào Chân nhìn thấy Tào Sóc. Y biết đây là chủ tướng của quân địch liền treo giáo dài, giương cung lớn. Tào Chân có cánh tay sức mạnh ngàn cân, tiễn pháp xuất chúng, từng cưỡi ngựa bắn hổ, hồ kêu lên rồi ngã gục.
Tào Chân phóng ngựa, lắp cung tên một mũi tên bắn về phía chủ tướng của quân địch. Lúc này, Trần Sóc lui binh trên bờ, bất ngờ gặp mũi tên bắn nhanh như tia chớp liền tránh không kịp. Một mũi tên bắn trúng đầu, ông ta đã chết thảm dưới cung tên của Tào Chân.
Tào Chân thấy chủ tướng quân địch đã chết liền giơ giáo lên hét lớn:
- Giết chết hết cho ta.
Một ngàn kỵ binh từ tứ phía tấn công thủy quân Kinh Châu, còn thủy quân Kinh Châu thì đều nhảy xuống nước ra sức bơi ra đảo nhỏ trong hồ từ cách đó một dặm. Tào Chân đang muốn hạ lệnh dùng mũi tên bắn quân địch dưới nước thì lúc này có một gã kỵ binh chạy đến lớn tiếng bẩm báo:
- Tướng quân, quân địch đã bắt đầu tấn công vào doanh trại chủ rồi, có hơn trăm chiến thuyền, thanh thế rất lớn.
Tào Chân bị chấn động, Mãn Sủng giao bến sông Tiêu Dao cho y, nếu doanh trại chủ bị chiếm đóng, đường thông hành vào trong thành sẽ bị mở. Y không tiếp tục đuổi giết binh lính rơi xuống nước nữa, liền phất tay hô:
- Đi theo ta!
Một ngàn Hổ báo kỵ quay ngựa đi theo Tào Chân phi gấp về phía ngoài đại doanh.
Thủy quân Kinh Châu tấn công doanh trại chủ cũng không được thuận lợi. Thuyền va phải đá ngầm dưới nước đã không thể cập bờ, hơn nữa mũi tên của địch bắn xuống cũng dày đặc. Thủy quân chỉ có thể dùng cung tên để đánh trả, cho dù có lá chắn hộ thân nhưng thủy quân vẫn bị thương vô số. Xa xa, cửa thành phía tây có tiếng la hét giết rung trời, đây là quân Giang Đông đã phát động tấn công thành trì.
Theo ước định của hai bên, quân Hán lấy bến sông Tiêu Dao thu hút quân Tào chủ lực, làm giảm sự phòng ngự của quân Tào ở thành trì để quân Giang Đông có cơ hội phá thành, nhưng tình huống không ngờ khiến quân Hán tấn công gặp phải khó khăn, không thể thi hành theo tiến độ kế hoạch ban đầu đã đề ra.
Lúc này Cam Ninh đã biết tin Trần Sóc bỏ mạng, y tức sùi bọt mép, hai mắt đỏ ngầu, tay cầm đơn kích và tấm chắn nhảy lên một con thuyền 3 lá quát to:
- Đi theo ta!
Hơn 10 thuyền ba lá chở 200 tên lính đi theo sau Cam Ninh chạy về phía bến thuyền.
Chương 636: Kịch chiến Hợp Phì (hạ)
Một Nha tướng dẫn hơn 1 ngàn binh lính lên bến sông Tiêu Dao, Tào Chân dẫn theo kỵ binh đến trước tiểu quân doanh, đã bố trí xong tuyến phòng ngự quân địch phục kích vòng đầu tiên. Vì đá ngầm dưới sông đã cản chở chiến thuyền của quân Kinh Châu nên quân Tào đã chiếm thế thượng phong, bọn họ phong tỏa đường tấn công của quân Hán theo 3 hướng. Mũi tên bay như mưa ép cho binh lính quân Hán trên chiến thuyền không thể ngóc đầu lên được.
Lúc này, trong tiếng trống cổ vũ cuộc chiến, hơn 10 chiếc thuyền ba lá nhỏ tiến vào bến thuyền. Một chiếc thuyền ba lá dẫn đầu, Cam Ninh tay cầm lá chắn, ánh mắt nhìn chằm chằm vào quân Tào trên bến, thuyền ba lá lướt cực nhanh chỉ trong chớp mắt đã luồn lách qua các tảng đá ngầm.
Lính Tào gần như bắn tên đồng loạt, mũi tên dày đặc lao về phía Cam Ninh. Cam Ninh nửa quỳ trên thuyền nâng lá chắn đón mũi tên. Âm thanh dồn dập, lá chắn đã cắm đầy mũi tên, Cam Ninh hét lớn từ đầu thuyền nhảy lên, đoản kích bổ ra chém ngã hai tên lính Tào rơi xuống đất.
Cam Ninh quăng tấm chắn xuống, rút một cây đoản kích khác hét lớn giết vào trong đám lính Tào. Song kích đâm chém, những nơi nó đi qua máu thịt văng tung tóe, tử thi quân Tào ngã xuống như ngả dạ, tiếng kêu thảm không ngừng. Nha tướng vội hô to:
- Đây là chủ tướng quân địch, xông lên giết y đi.
Vô số lính Tào đánh về phía Cam Ninh, nhưng y càng đánh càng hăng, như một con mãnh hổ xông vào bầy cừu, sắc bén không gì ngăn nổi. Lúc này, 200 quân Hán ở phía sau cũng xông lên bờ theo Cam Ninh cùng binh lính quân Tào chiến đấu rất kịch liệt.
Quân Hán tấn công lên bờ khiến quân Tào hỗn loạn, mũi tên cũng ngừng bắn, đá ngầm dưới nước cuối cùng cũng bị đám lính dùng dây thừng kéo đi mở ra một đường. Từng chiến thuyền xuyên qua con đường này tiến sát lên bờ.
Càng lúc càng nhiều quân Hán xông lên bờ, trợ giúp một chủ tướng và 200 binh lính chiến đấu anh dũng, binh lực dần đảo ngược tình thế, quân Tào ngăn cản không nổi, cuối cùng cũng bỏ chạy. Chạy trốn đầu tiên là Nha tướng, sau đó là mấy trăm binh lính chạy theo, liều mạng chạy về phía doanh trại chủ.
Cam Ninh cũng không vội vã đuổi theo mà lệnh cho đám lính trên bờ dùng dây thừng kéo dãn tảng đá ngầm lớn nhất ra, con đường đã được mở hoàn toàn thông thoáng. Chiến thuyền quân Hán bắt đầu cập bờ trên quy mô lớn, từng đám binh lính chạy từ trên thuyền xuống nhanh chóng tập kết thành hàng trên bờ biển.
Người Cam Ninh toàn là máu nhưng lại không hề bị thương, y đứng trên tảng đá lớn nhìn về phía doanh trại chủ và thành trì phía xa. Vừa rồi y được bẩm báo, tiểu doanh trại đã bị kỵ quân dũng mãnh của quân Hán đánh bại. Điều này khiến Cam Ninh ý thức được, có thể bọn họ sẽ gặp phải binh Hổ báo kỵ sắc lợi hại nhất của quân Tào.
Từ chỗ này đến doanh trại chủ khoảng 3 dặm, đó là một khoảng đất rộng lớn, bằng phẳng rất có lợi cho kỵ binh tấn công. Nếu cứ như vậy mà giết qua, rất có thể sẽ gặp phải sự tấn công đón đầu của Hổ báo kỵ quân Tào.
Cam Ninh quay đầu lại nhìn về phía bên cạnh, đó là một mô đất, cao khoảng mấy chục trượng, có cây cối rậm rạp rất thuận lợi cho kỵ binh tác chiến. Quan trọng hơn là rừng cây dài và hẹp, có hình trăng lưỡi liềm, tiếp cận được với doanh trại chủ rất nhanh. Lúc này, Cam Ninh ra lệnh:
- Quân đội lên gò đất!
Mấy ngàn quân đội đã tập kết trận hình lập tức lao lên gò đất, rồi nhanh chóng lao vào rừng cây, đi dọc hai bên mà chạy gấp về phía doanh trại chủ.
Dự đoán của Cam Ninh cũng không sai, Tào Chân đã dẫn theo 1 ngàn binh lính lợi dụng lúc quân Hán bị ngăn cản lách qua đường nhỏ mà đi. Một ngàn kỵ binh xếp thành hàng đi về phía cánh đồng phía trước, chuẩn bị đón sự tấn công của quân địch.
Lúc này, Tào Chân đã biết quân Kinh Châu đánh lén bến sông Tiêu Dao, y lập tức phái người đi bẩm báo với Mãn Sủng.
Tào Chân rất tự tin vào kỵ binh của mình, cha y đã từng nói tuy thủy quân Kinh Châu hùng mạnh nhưng đến bình nguyên phương bắc thì kỵ binh của họ sẽ đánh bại thủy quân Kinh Châu. Hôm nay, y muốn chứng minh điều này, nhưng đợi một lúc lâu vẫn không thấy binh lính quân Hán đến khiến y có vẻ ngạc nhiên.
Đúng lúc này, trong rừng cây ở gò đất bỗng có đàn chim bay tán loạn, Tào Chân lập tức tỉnh ngộ, quân Hán đã tiến vào rừng cây, y giận tím mặt hô lớn:
- Giết lên, đốt rừng cây, đốt cho bọn chúng ra.
Một ngàn kỵ binh bắt đầu hành động, tiếng vó ngựa chạy như sấm, bụi đất bay cuồn cuộn đánh về phía đồi núi cách đó 3 dặm.
- Cam tướng quân, bọn họ giết đến rồi!
Một gã lính vội chạy vào rừng cây hô lên.
Một gã Nha tướng khác cũng thấp giọng đề nghị:
- Dầu hỏa của quân Tào cũng rất lợi hại, chú ý bọn chúng đốt rừng.
Cam Ninh trầm tư một lát rồi nói với 3 gã Nha tướng:
- Ba người các ngươi dẫn quân canh gác ở phía bắc rừng cây, dùng cung tên chặn kỵ binh đến gần rừng cây.
Y nói với cấp dưới:
- Quân đội còn lại đi đến phía nam rừng cây, phục kích kỵ binh từ phía sau.
Mọi người lĩnh lệnh, 8 ngàn quân đội chia làm 2 đường tự chạy về hướng nam, bắc.
Chiến mã lao nhanh trong bóng đêm, hơn 1 ngàn Hổ báo kỵ trong nháy mắt đã giết đến trước núi. Tào Chân giơ tay, chiếm mã dần chậm lại rồi dừng hẳn, bắt đầu xếp thành hàng, 50 kỵ binh thành một đội, tổng cộng có gần 20 đội, tay cầm trường mâu và tấm chắn đằng đằng sắt khí nhìn chăm chú về phái đồi núi.
Bên cạnh từng cây trên gò núi, 3 ngàn quân Hán đang cầm nỏ, hợp thành trận nỏ, mũi tên sắc bén nhắm vào kỵ binh phía dưới dồi. Dựa và rừng cây là trận hình đau đầu nhất của kỵ binh, một khi kỵ binh xông đến đối phương sẽ nhanh chóng lui vào rừng khiến kỵ binh khó mà tấn công được.
Nhưng lúc này Tào Chân hy vọng quân Hán có thể lui vào rừng cây để y phóng hỏa đốt rừng. Y giơ cây thương lớn lên hét một tiếng:
- Giết lên!
Một ngàn kỵ binh Hổ báo kỵ phát run, mặt đất bắt đầu chấn động. Kỵ binh đông nghìn nghịt giương lá chắn và trường mâu, trận hình giống như vạn quân lôi đình thổi quét tới quân Hán.
Ba ngàn quân Hán xếp đội hình thành chữ “Phẩm” người nào cũng có nỏ, đồng loạt giương nỏ nhắm vào kỵ binh quân Tào. Kỵ binh càng lúc càng đến gần, nhanh chóng vào phạm vi sát thương. Lúc này có tiếng mõ vang lên, chỉ nghe thấy những tiếng ken két của nỏ cơ vang lên. Đợt nỏ đầu tiên bắn ra như một trận bão gào thét lao về phía kỵ binh.
Chiến mã kêu thảm, một đám người ngã ngựa đổ, tốp kỵ binh đầu tiên đã ngã quỵ khiến kỵ binh lâm vào cảnh hỗn loạn, nhưng dù sao Hổ báo kỵ cũng là đội kỵ binh ưu tú nhất, bọn họ nhanh chóng khôi phục lại, tiếp tục lao về phía trước. Lúc này, đợt tên thứ hai bắn ra, ngay sau đó là đượt tên thứ 3.
Ba ngàn quân Hán phối hợp vô cùng ăn ý, thay nhau bắn tên, chỉ trong khoảnh khắc đã bắn ra 3 lượt tổng cộng là 9 ngàn mũi làm cho Hổ báo kỵ bị thương hơn 300 người. Sự kiêu ngạo của họ đã bị đánh bại, Tào Chân thấy mũi tên của quân Hán sắc bén, kỵ binh chết thê thảm và nghiêm trọng trong lòng y vô cùng tức giận nhưng lại không thể làm gì khác, chỉ biết hô to một tiếng:
- Rút lui về phía sau.
Kỵ binh như thủy triều rút lui về phía sau ra khỏi tầm bắn của quân Hán, chỉ thấy chiến mã và kỵ binh ngã đầy trên sườn núi. Hơn 100 tên lính nhanh nhẹn lao vào trong quân địch đâm chết đám kỵ binh bị thương. Một lát sau, trên sườn núi tĩnh mịch, tiếng kêu thê thảm của thương binh cũng ngừng hẳn.
Trong lòng Tào Chân hơi lo lắng, y nhận được tin quân Giang Đông cũng đã phát động tấn công cửa thành phía tây. Đây rõ ràng là quân Kinh Châu đã liên thủ với quân Giang Đông để tấn công Hợp Phì, nhưng binh lực của bọn y không đủ chỉ e không giữ nổi Hợp Phì.
Tào Chân phải bảo tồn thực lực, suy nghĩ muốn rút khỏi Hợp Phì. Đúng lúc này, bỗng phía sau có tiếng kêu thảm, y ngẩn người ra quay đầu nhìn lại, chỉ thấy đám kỵ binh hỗn lọan. Trong bóng đêm không biết có bao nhiêu binh lính đánh tới, có một gã kỵ binh vội vàng chạy đến la lớn:
- Tướng quân, phía sau có rất nhiều quân địch tấn công chúng ta, các huynh đệ chết rất thê thảm và nghiêm trọng.
Tào Chân kinh hãi, y bỗng ý thức được mình đã bị quân địch bao vây. Lúc này trên gò núi có tiếng nổ lớn, 3 ngàn quân Hán cùng hò hét, bọn họ đổi dùng trường mâu, liều chết từ trên sườn núi lao xuốg. Kỵ binh quân Tào đều lui về phía sau. Tào Chân gấp gáp hô to:
- Không được rút lui, lên nghênh chiến.
Chỉ trong nháy mắt, kỵ binh và bộ binh quân Hán đã liều chết cùng một chỗ. Cùng lúc đó, Cam Ninh dẫn theo 5 ngàn quân Hán tấn công kỵ binh quân Tào từ phía sau, 8 ngàn bộ binh quân Hán hình thành một vòng bao vây hơn 600 Hổ báo kỵ.
Tào Chân thấy tình thế không ổn nếu không tháo chạy thì toàn quân của bọn y sẽ bị tiêu diệt, y phát hiện quân Hán phía tây bắc vẫn chưa đánh tới, vẫn còn một lỗ hổng rộng mấy chục trượng, y hét lớn:
- Đi theo ta.
Tào Chân múa giáo giết về phía tây bắc của quân Hán. Lúc này, mắt y đã đỏ ngầu, mở một đường máu xông ra ngoài. Y không dám dừng lại, lao một mạch hơn 10 dặm, lúc quay đầu lại thì chỉ thấy mấy tên thân binh cưỡi ngựa theo phía sau.
Tào Chân không khỏi thờ dài một tiếng, Hợp Phì không giữ được rồi. Y quay đầu lại bỏ chạy về phía Nhữ Nam.
Tào Chân giết ra khỏi vòng vây, thủ hạ của y lại không còn cơ hội nào nữa. Một lúc sau, hơn 600 kỵ binh đã bị trường mâu đâm chết dưới ngựa. Một ngàn Hổ báo kỵ đã bỏ mình, quân Hán thu được hơn 400 con chiến mã.
Tám ngàn quân Hán lập tức đánh về phía doanh trại chủ ở bên sông Tiêu Dao.
Cuộc chiến tây thành vô cùng thê thảm, ánh lửa trong tây thành sáng như ban ngày, tiếng trống vang vọng rung trời. Hoàng Cái và Lã Mông dẫn theo 2 vạn quân Giang Đông tấn công tây thành, còn 6 ngàn quân Tào trên thành đã nhập cuộc chiến, liều chết chống lại sự tấn công của quân Giang Đông.
Quân Giang Đông đã vượt qua sông đào bảo vệ thành, vác theo hơn 10 cái thang kê lên tường thành để tấn công. Đám lính anh dũng leo lên tường thành, trên đầu thành tên bắn xuống như mưa, những tảng đá lớn lăn xuống đập vào lính Giang Đông, thi thể chồng chất, máu tươi chảy như dòng suối nhỏ.
Hoàng Cái nhăn mày, kế hoạch ban đầu là quân Hán cướp bến sông Tiêu Dao trước để thu hút quân Tào chủ lực đến, nhưng dường như chúng không đến. Lẽ nào, quân Hán đã đánh phá được bến sông Tiêu Dao sao?
Lúc này, Lã Mông đi lên chắp tay nói:
- Khởi bẩm tướng quân, ty chức được tin từ bến sông Tiêu Dao, quân đội của Cam Ninh gặp phải sự tấn công của Hổ báo kỵ quân Tào, tổn thất rất thê thảm và nghiêm trọng, phó tướng Trần Sóc đã phải bỏ mình.
Hoàng Cái gật gật đầu, thì ra là thế, trong lòng ông ta hơi áy náy là ông ta đã hiểu lầm quân Hán. Ông ta trầm tư một lát rồi nói với Lã Mông:
- Xem ra, toàn bộ quân Tào đã tập trung vào tây thành, như vậy chắc chắn nam thành và đông thành sẽ trống không. Ngươi có thể dẫn theo 3 ngàn quân tấn công nam thành, chúng ta thành bại chính là ở chỗ này.
- Tuân lệnh!
Lã Mông dẫn theo 3 ngàn quân chạy về phía nam thành.
Chương 637: Tin xấu đến.
Lúc này trời đã là canh 5, trên trời có một tia sáng, thời khắc đen tối nhất đã qua, chiến dịch tấn công thành Hợp Phì cũng đã dần đi vào giai đoạn kết thúc.
Sau khi nghe tin Hổ báo kỵ bị quân Hán tiêu diệt hoàn toàn, doanh trại chủ của quân Tào đã không còn ý chí chống cự nữa.
Lúc Cam Ninh dẫn 8 ngàn dư quân Hán giết đến, 2 ngàn lính Tào trong doanh trại chủ lâm vào hỗn loạn. Một bộ phận chạy trốn theo cửa tây doanh trại còn dân bản xứ trong quân Tào thì không muốn trốn chạy, dưới sự dẫn đầu của một Nha tướng ở Hợp Phì, bọn họ đã lựa chọn đầu hàng.
Từng đội quân Hán xếp thành hàng, tiến sâu vào mấy trăm mẫu đất của doanh trại chủ, nhanh chóng khống chế các nơi quan trọng của doanh trại. Hơn 8 trăm binh lính đầu hàng bỏ khí giới, áo giáp tập trung ngồi trong hơn 10 lều lớn, chờ chiến tranh kết thúc để về nhà.
Cam Ninh đi cùng Nha tướng đầu hàng vào trạm canh gác phía tây của doanh trại. Đây là một trạm canh gác cao khoảng 500 trượng, là khu được xây dựng cao nhất của Hợp Phì, nhìn bao quát xung quanh 10 dặm rất rõ ràng.
Nha tướng họ Tưởng, người Hợp Phì, gần 50 tuổi, đã không còn lòng hiếu thắng cũng không trông mong gì vào con đường làm quan, chỉ muốn yên ổn sống nốt quãng đời còn lại. Vì thế sau khi có tin quân Hán tiêu diệt kỵ binh quân Tào, y đã lập tức quyết định vứt bỏ doanh trại đầu hàng.
Y đi cùng Cam Ninh lên trạm canh gác, ở đây có thể nhìn thấy tình hình của thành trì rất rõ ràng. Trong ánh nắng của buổi bình minh chỉ thấy quân Tào càng lúc càng ít đi, quân Giang Đông đã đánh vào thành Hợp Phì theo cửa nam. Nha tướng chỉ vào cửa thành bắc nói:
- Tướng quân nhìn thấy chưa? Cửa thành bắc đã mở, điều này chứng tỏ quân Tào đã bỏ thành rút lui rồi.
Cam Ninh gật gật đầu nhìn cửa thành bắc mở rộng, liền hỏi:
- Mãn Sủng sẽ thủ vững đến cùng sao?
- Chắc là không, nhiều tướng quân khá coi trọng binh lính, bến sông Tiêu Dao ở mặt đông đã thất thủ, thành nam cũng thất thủ. Tôi nghĩ y sẽ không kiên trì thủ thành, chắc chắn sẽ bảo tồn binh lính mà dẫn quân bỏ chạy theo cửa thành bắc.
Nói đến đây, Nha tướng không kìm nổi hỏi:
- Phá được Hợp Phì là thuộc Kinh Châu hay là Giang Đông đây?
- Hợp Phì cho Giang Đông, chúng ta tạm thời không cần.
Cam Ninh thấy sắc mặt của Nha tướng tỏ ra thất vọng, liền vỗ vỗ bả vai y cười nói:
- Tưởng tướng quân không cần lo lắng, ta và Hoàng Cái đã bàn luận xong, vẫn cho ông tiếp tục trấn thủ Hợp Phì, lúc quân Hán chính thức công phạt Hợp Phì sẽ gặp lại tướng quân một lần nữa.
Nha tướng hiểu ý của Cam Ninh liền lặng yên gật đầu. Lúc này, một gã kỵ binh Giang Đông chạy từ trong thành đến, được một tên lính dẫn lên tháp cao giọng nói:
- Cam tướng quân có ở đây không?
- Chuyện gì?
Cam Ninh dò hỏi.
- Hoàng tướng quân đã cướp thành Hợp Phì, mời tướng quân đi quận Nha một chuyến.
- Ta bết rồi, hãy nói với Hoàng tướng quân, ta sắp xếp việc quân xong sẽ đi.
Tên lính đưa tin chạy như bay, Cam Ninh xuống tháp canh. Lúc này có mấy tên cấp dưới đến khuyên nhủ:
- Tướng quân phải canh chừng quân Giang Đông có lòng ác, tốt nhất không nên đi.
Cam Ninh cười ha ha nói:
- Các vị cứ yên tâm! Ta hiểu lòng Hoàng Cái, y sẽ không gây bất lợi cho chúng ta. Hậu quả này, y đảm đương không nổi đâu, mọi người cứ bảo vệ doanh trại thật tốt, ta sẽ về nhanh thôi.
Lại dặn dò mọi người mấy câu, Cam Ninh dẫn theo hơn 100 thân binh cưỡi ngựa đi vào trong thành.
Thành Hợp Phì đã bị quân Giang Đông khống chế, Mãn Sủng nghe nói đến sông Tiêu Dao và cửa nam cùng thất thủ biết rằng đại thế đã mất, y liền dẫn theo mấy ngàn quân Tào rút theo cửa bắc, rút lui về Nhữ Nam. Lúc này, Hợp Phì đã giới nghiêm, không cho dân chúng đi trên đường phố, khắp nơi toàn là đội tuần tra của binh si Giang Đông, thỉnh thoảng có quân Giang Đông lại áp giải lính Tào đi qua.
Rất nhanh, Cam Ninh đã đi vào quận nha trong thành, đây cũng là quận Nha của quận Hoài Nam. Sau khi quân Tào rút lui, Thái thú Chung Quân cũng dẫn quan quân đầu hàng quân Giang Đông. Cam Ninh xoay người xuống ngựa, một gã thân binh của Hoàng Cái đã chờ sẵn trước cửa lớn, y vội vàng thi lễ nói:
- Tướng quân nhà tôi đang chờ Cam tướng quân, mời tướng quân đi theo tôi.
Cam Ninh đi theo y vào quận nha, trong một quan phòng lâm thời, Hoàng Cái đang đứng trầm tư một mình trước địa đồ. Cướp được Hợp Phì tuy đã hoàn thành nhiệm vụ của Ngô công giao cho, nhưng Hoàng Cái biết, cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt, lần này Kinh Châu xuất quân giúp bọn họ cướp lấy Hợp Phì, ân tình này bọn họ phải trả.
Lúc này, tên thân binh đi vào bẩm báo:
- Khởi bẩm lão tướng quân, Cam tướng quân đến rồi!
- Mau mau mời vào!
Hoàng Cái vội vàng nói.
Một lát sau, Cam Ninh bước nhanh lên chắp tay nói:
- Xin được nói lời xin lỗi tới Hoàng tướng quân, không thể thu hút được quân Tào chủ lực, Cam Ninh chưa thực hiện được lời hứa.
Hoàng Cái là người biết lý lẽ, tuy quân Giang Đông vì tấn công Hợp Phì mà tổn thấy hơn 3 ngàn người nhưng ông ta biết nếu không có Cam Ninh dụ 4 ngàn quân Tào ở bến sông Tiêu Dao thì bọn họ cũng chưa chắc đã đánh hạ được Hợp Phì. Nhất là Hổ báo kỵ đã bị quân Hán tiêu diệt hoàn toàn, đây mới là ân tình lớn.
Ông ta vội vàng nói:
- Cam Ninh tướng quân không cần áy náy, Trần Sóc đã bỏ mìinh ta tiếc thương vô cùng, các ngươi cũng đã tận lực bám trụ quân Tào để chúng ta đánh hạ được thành trì, trong lòng ta rất hiểu.
Cam Ninh thấy ông ta đã hiểu liền cười nói:
- Theo ước định, Hợp Phì là do quân Giang Đông khống chế, tôi sẽ rút về Kinh Châu. Ngoài ra, tôi có gần 1 ngàn lính đều là dân bản địa Hợp Phì, tính cả Nha tướng sẽ cùng giao cho quân Giang Đông, mong tướng quân đối xử tốt với bọn họ.
Hoàng Cái mỉm cười nói:
- Cam tướng quân cứ yêm tâm, nếu là dân bản địa, đương nhiên ta sẽ tiếp tục sử dụng để bọn họ duy trì trật tự cho chúng ta. Ta mời tướng quân đến đây là muốn thảo luận một chút, bước tiếp theo chúng ta nên làm gì? Nếu hợp sức uy hiếp quân Tào, có thể ép Tào Tháo rút quân.
Cam Ninh đi lên phía trước cười nói:
- Lúc tôi gần đi, Châu Mục đã cho tôi một phương án. Nếu lấy được Hợp Phì tôi sẽ tiếp tục lên bắc cướp lấy Thọ Xuân, xuất binh quận Tiếu. Hi vọng quân Giang Đông cũng có thể phái một phần quân đội phối hợp với tôi, chỉ cần Tào Tháo rút lui từ bắc Kinh Châu, tôi sẽ lập tức rúy về Hợp Phì, giao lại Hợp Phì cho Giang Đông, tôi dẫn quân về Kinh Châu, quyết không nuốt lời.
Phương án của Cam Ninh đã nằm trong dự liệu của Hoàng Cái, chẳng qua nếu như có thể cướp được Thọ Xuân, ông ta có thể giải thích với Ngô công, ông ta trầm tư một lát rồi nói:
- Ta lệnh cho Lã Mông dẫn theo 10 ngàn quân phối hợp với quý quân lên bắc nhưng cuối cùng chúng tôi phải cần Thọ Xuân.
Cam Ninh gật đầu nói:
- Chúng ta nói lời giữ lời.
Ba ngày sau, 2 vạn liên quân giết đến Thọ Xuân, vì Hợp Phì thất thủ khiến cửa đông của địa khu Trung Nguyên được mở rộng, mà 400 ngàn quân Tào tập trung chủ yếu ở Quan Lũng, Kinh Châu, Nghiệp Đô, Hứa Xương và phía bắc Từ Châu. Địa khu Trung Nguyên hoàn toàn không có binh lực, Thọ Xuân chỉ có mấy trăm quận binh.
Lúc biết được Giang Đông và Kinh Châu liên quân, huyện lệnh huyện Thọ Xuân đã bỏ chạy khiến liên quân không đánh mà thắng chiếm được Thọ Xuân, 2 vạn liên quân cũng không dừng lại ở Thọ Xuân mà tiếp tục hăng hái tiến quân về quận Tiếu, một đường tan tác, sau 5 ngày đã công chiếm huyện Phụ Thành, thẳng tiến huyện Tiếu, Trung Nguyên rơi vào hoảng loạn.
Tin tức liên quân Tôn Lưu chiếm được Hợp Phì, giết vàoquận Tiếu cuối cùng cũng truyền đến Kinh Châu, lúc này đã là cuối tháng tư, quân Hán và quân Tào đã giằng co hơn 1 tháng, hai bên cũng không có động tĩnh gì mà đều kiên nhẫn chờ đợi.
Tào Tháo vì kéo dài thời gian đã nhanh chóng thi hành phương án của Tuân Úc, chiếm lĩnh Phàn Thành, khiến cho biên giới của hai bên rơi vào Hán Thủy. Đồng thời điều binh đến Nhữ Nam, chuẩn bị tấn công quận An Lục, từ đó tấn công Kỳ Xuân.
Còn Lưu Cảnh một mặt chờ tin tức của Hợp Phì, mặt khác điều 3 vạn binh từ Ba Thục đi Kinh Châu, đồng thời giao 2 vạn quân từ Tương Dương đến Giang Hạ, tăng cường phòng ngự cho Giang Hạ. Hai bên đều tự điều binh khiến tưởng, có tư thế tử chiến một trận.
Nhưng trên thực tế, quân Tào đã có dấu hiệu duy trì không nổi. Lần này Tào Tháo xuôi quân nam Kinh Châu chỉ là quyết định tạm thời, không giống đại chiến Xích Bích lúc chiến đấu đã được chuẩn bị từ 1 năm trước đó, 100 ngàn đại quân tiếp viện bắt đầu báo nguy, lương thực của quân Tào cần vận chuyển từ Uyển Thành đến Phàn Thành. Cho dù Tào Tháo có trưng dụng 3 ngàn chiếc xe bò, ngày đêm vận chuyển cũng không đủ lương thực cho 100 ngàn đại quân.
Trương Liêu đã từng đóng không ít thuyền ở Uyển Thành, có thể lợi dụng đường thủy để vận chuyển lương thực. Nhưng một lần vượt sông đã làm mất gần 1 ngàn con thuyền nhỏ, thuyền bè đã hết cũng không thể vận chuyển trên quy mô lớn được.
Bất đắc dĩ, Tào Tháo bắt đầu dùng bè da dê để vận chuyển lương thực. Nhưng 2 ngày trước, một đội trạm thuyền canh gác của quân Hán đã dọc theo Bỉ Thủy lên bắc, thiêu rụi mất trăm con bè da dê và thu được lượng lớn lương thực. Lần này, tổn thất đau đớn và thê thảm khiến Tào Tháo vô cùng tức giận, lão hạ lệnh chém đầu 3 gã tướng quân canh gác dọc sông.
Nhưng lão không biết đó không phải là do tướng sĩ không làm tròn nhiệm vụ mà thực sự thủy quân quá yếu. Lão không thể không ngừng dùng bè da dê để vận chuyển lương thực, nhưng tin tức mà lão càng không tiếp nhận được đang lặng lẽ tới.
Trần Quần lại vội vàng đi vào lều của Tào Tháo, y cũng đã nghe được một vài tin đồn nói Hợp Phì bại binh. Quân Giang Đông đã lên bắc Trung Nguyên rồi. Tin đồn này khiến lòng Trần Quần bất an, y nóng lòng muốn Thừa tướng chứng thực chuyện này.
Trần Quần đi đến trước lều lớn rồi dừng bước, sau đó mới tiến lên thấp giọng hỏi Hứa Chử:
- Hứa tướng quân, Thừa tượng bây giờ thế nào rồi?
Hứa Chử nhẹ nhàng lắc đầu:
- Vừa rồi Thừa tướng nổi cơn giận dữ, từ trước đến đến nay ta chưa từng thấy Thừa tướng tức giận như vậy. Đề nghị tiên sinh tạm thời tránh mặt, đợi Thừa tướng tỉnh táo lại rồi nói sau.
- Nhưng chuyện Hợp Phì?
Trần Quần quan tâm hỏi.
Hứa Chử liếc mắt sang hai bên thấy không có người, lúc này mới nhỏ giọng nói với Trần Quần:
- Hợp Phì đúng là thất thủ rồi, Tào Chân bỏ chạy đi Hứa Xương, Mãn Sủng đã rút lui về Nhữ Nam rồi.
Trong lòng Trần Quần vô cùng khiếp sợ. Không ngờ Tôn Quyền lại ra tay với Hợp Phì, trong lòng y rối bời không thể hiểu được nguyên nhân trong đó. Lúc này, trong đại trướng có tiếng mệt mỏi của Tào Tháo:
- Là Trường Văn sao, mời vào đi?
Hứa Chử sợ đến mức lui lại hai bước, đứng không vững, Trần Quần đành phải đi vào đại trướng.
Tào Tháo ngồi trước bàn trong đại trướng, quay lưng về phía cửa đại trướng, lưng của lão hơi còng xuống, có vẻ rất mệt mỏi, Trần Quần liền quỳ xuống cúi đầu thi lễ:
- Tham kiến Thừa tướng!
- Không cần khách sáo, mời ngồi.
Tào Tháo chậm rãi xoay người cười khổ một tiếng rồi nói:
- Trường Văn nghe thấy tin đồn mới đến gặp ta sao?
- Vâng, ty chức không dám tin?
- Ta cũng không tin, nhưng dây là sự thật, không chỉ Hợp Phì thất thủ mà đến cả huyện Tiếu cũng thất thủ rồi.
Trần Quần liền ngây cả người ra, một lúc lâu sau mới thấp giọng nói:
- Là ty chức đã nhìn lầm Tôn Quyền, ty chức có trách nhiệm.
Tào Tháo lắc đầu:
- Ngươi không nhìn lầm Tôn Quyền, ta cũng không nhìn lầm Tôn Quyền, chỉ là chúng ta đã đánh giá thấp Lưu Cảnh, đánh giá thấp đối thủ lớn nhất này của chúng ta.
Chương 638: Bị ép rút quân.
Trần Quần ngạc nhiên:
- Đây có liên quan gì đến Lưu Cảnh?
- Ngươi không ngờ cũng là điều bình thường, bởi vì ta cũng không ngờ được.
Tào Tháo nhẹ nhàng thở dài một tiếng:
- Lần này tấn công Hợp Phì, lực lượng chủ yếu là 10 ngàn thủy quân Giang Đông. Vốn dĩ Hợp Phì là một nước cờ thua. Kết quả, 10 ngàn thủy quân Giang Hạ này của Lưu Cảnh liền xoay chuyển toàn bộ ván cờ Đông Nam, Tôn Quyền sao có thể khiến Giang Hạ cướp lấy Hợp Phì?
Một lúc lâu sau Trần Quần mới cười khổ nói:
- Chẳng trách, cả tháng nay Lưu Cảnh không hề có động tĩnh gì, hóa ra là hắn đang đợi kết quả này.
- Đúng vậy, vốn dĩ thái độ của Tôn Quyền rất mập mờ. Nhưng như thế này, y không thể dẫn quân đánh Hợp Phì, hơn nữa một khi lấy được Hợp Phì thì y sẽ có dã tâm bắc phạt. Bước cờ này của Lưu Cảnh quá cao minh, chắc là mưu của Giả Hủ. Thả Giả Hủ cho Lưu Cảnh, đây là tổn thất lớn nhất của ta. Chuyện đó là nghiệp chướng của ta.
Tào Tháo hung hăng đập một cái lên bàn, tức sùi cả bọt mép, vô cùng tức giận.
Trần Quần biết Tào Tháo ý nghỉ chính là con trai trưởng của Tào Tháo là Tào Phi, y trầm tư một lúc lâu sau lại hỏi:
- Vậy bước tiếp theo, chúng ta nên làm gì?
- Huyện Tiếu đã mất, còn có thể làm gì nữa? Ta quyết định rút quân.
Trần Quần giật minh kinh hãi rồi vội vàng nói:
- Thừa tướng đã suy nghĩ kĩ chưa? Binh lực liên quân Tôn Lưu không nhiều có lẽ cũng có 2-3 vạn người. Công chiếm huyện Tiếu là cực hạn của bọn họ. Lại lên bắc chính là độc quân thâm nhập, sẽ xảy ra vấn đề về cung ứng lương thảo. Thừa tướng có thể điều binh nghênh chiến nhưng vi thần cho rằng vẫn chưa đến mức Thừa tướng phải rút quân khỏi Kinh Châu.
- Đương nhiên là ta biết binh lực của bọn họ không nhiều, chỉ có 2 vạn người nhưng vấn đề là ván cờ này...
Nói đến đây, Tào Tháo khống chế cơn giận rồi lắc đầu nói tiếp:
- Hiện tại phái chủ chiến Giang Đông đang chiếm thế thượng phong, Tôn Quyền không hề hàm hồ, chắc chắn y sẽ dốc lực phối hợp với Lưu Cảnh. Hơn nữa chiếm được Hợp Phì khiến dã tâm của y bị kích phát. Ta dám khẳng định, y sẽ tiếp tục tăng binh về phía Hợp Phì, thế cục sẽ bị thay đổi, ta còn phải tiếp tục trốn ở Kinh Châu sao?
- Nhưng...
Không đợi cho Trần Quần nói tiếp, Tào Tháo lại xua tay ngắt lời của y:
- Hơn nữa trước đó chúng ta chuẩn bị chưa đủ, từ đó đến giờ lương thảo cung ứng cho quân quân gặp khó khăn. Đây cũng chính là nguyên nhân quan trọng khiến ta rút quân. Văn Trường không cần khuyên ta nữa, ta nghĩ kĩ rồi, đã quyết định rồi.
Trong lòng Trần Quần rất chán nản, sớm biết như vậy thì lúc trước hà tất phải xé bỏ hợp ước xuôi nam làm gì?
Dường như Tào Tháo hiểu được suy nghĩ của y, liền lạnh lùng cười nói:
- Lúc mới đầu ta cũng rất tức giận nhưng bây giờ bình tĩnh lại ta cũng đã dần thông suốt rồi. Thực ra không có thất bại, hơn nữa thu hoạch còn rất lớn. Một là ta thành công trong việc kéo Lưu Cảnh bắc phạt lại. Ít nhất cũng tranh thủ được nửa năm. Tiếp theo, là ta đã tìm được cách qua Hán Thủy. Sau này, ta sẽ chuẩn bị đầy đủ, bất cứ lúc nào cũng có thể công chiếm Tương Dương. Có thể nói, ta đã đạt được mục đích ban đầu, chỉ có điều sau này phải thêm nhiều kỳ vọng không thực tế cho nên bây giờ mới thất vọng. Văn Trường, hẳn là nghĩ về kế hoạch lúc đầu của chúng ta, phải không?
Trần Quần gật đầu:
- Thừa tướng nói không sai, lúc mới đầu chúng ta chỉ muốn cản Lưu Cảnh bắc phạt. Qủa thực đã thành công, bước tiếp theo Thừa tướng định làm thế nào?
Tào Tháo suy nghĩ một chút rồi nói:
- Bước tiếp theo ta sẽ chia làm 2 đường. Một đường là tăng cường tuyến phòng ngự phía tây, chuẩn bị cho chiến tranh Lưu Cảnh bắc phạt. Đường thứ hai là cướp lại Hợp Phì, tuyệt đối không để quân Giang Đông có cơ hội lên bắc Trung Nguyên.
- Vậy Thừa tướng chuẩn bị xử trí Tuân lệnh quân thế nào?
Trần Quân lại thấp giọng hỏi.
Vấn đề này khiến Tào Tháo hơi khó trả lời. Dù sao, Trần Quần cũng là con rể của Tuân Úc, lão trầm tư một lúc lâu rồi nói:
- Ta định bảo Tuân công trấn thủ Nam Dương. Có ông ta ở Nam Dương thì ta sẽ không phải lo lắng về Kinh Châu nữa.
Trần Quần thầm thở dài, điều này đã nằm trong dự liệu của y. Thừa tướng đã quyết định không cho nhạc phụ quay về triều đình. Nhưng như vậy cũng tốt. Trần Quần biết gần đây triều đình có đại biến, để nhạc phụ nằm ngoài đại biến đó cũng là chuyện tốt. Y cũng không nói lại chuyện này nữa.
Lúc này, Tào Tháo lấy một bức thư ra đưa cho Trần Quần nói:
- Thỉnh cầu Văn Trường vượt sông đi gặp Lưu Cảnh, thay ta giao bức thư này cho hắn.
- Vi thần nguyện dốc sức chia sẻ cho Thừa tướng.
Trần Quần nhận thư rồi nói:
- Vi thần nên nói với Lưu Cảnh thế nào đây?
- Viết hết trong thư rồi, thư vẫn chưa đóng Văn Trường có thể mở ra đọc một lần.
Nói xong, Tào Tháo đứng lên thở dài một hơi rồi nói:
- Ta mệt rồi, trước khi rút quân ta muốn ngủ say một giấc.
- Tào Tháo nói như vậy thật sao?
Tuân Úc ở trong doanh trướng lạnh lùng nói.
Trần Quần khom người nói:
- Đúng là Thừa tướng nói như vậy, ông ta hy vọng nhạc phụ có thể ở lại Nam Dương nhưng thực ra là muốn nhạc phụ suy nghĩ thật kỹ. Thực ra trong lòng nhạc phụ cũng hiểu triều đình sắp phát sinh đại biến mà.
Tuân Úc hừ lạnh một tiếng rồi nói:
- Con không biết hay là giả vờ không biết? có lẽ là con không biết, con cũng không hiểu suy nghĩ của Thào Tháo. Ta hiểu Tào Tháo hơn người khác. Để ta ở lại Nam Dương chính là hủy hoại thanh danh của ta. Ai cũng nói là do Tuân Úc ta làm, là Tuân Úc ta bán rẻ Thiên tử. Trường Văn, con nói xem đây là Tào Tháo suy nghĩ cho ta sao?
Trần Quần cúi đầu, quả thực y không nghĩ đến điều này. Mặc dù có phần khó ngờ nhưng nhạc phụ quả thực đã nhìn thấu Thừa tướng. Trần Quần cắn chặt môi dưới nói:
- Con sẽ đi nói với Thừa tướng, để ông ta thay đổi quyết định ban đầu, để nhạc phụ hồi kinh.
Tuân Úc lắc lắc đầu nói:
- Không cần con đi, con không khuyên được ông ta đâu, sẽ chỉ khiến ông ta bất mãn với con, con hãy đi sứ Kinh Châu đi! Có mội số việc nếu không tránh được thì hãy đối mặt mà chống đỡ.
Trần Quần khó chịu trong lòng, một lúc lâu sau mới nói tiếp:
- Con hổ thẹn với nhạc phụ!
- Đi đi!
Tuân Úc khoát ta nói:
- Để cho ta yên tĩnh một lúc.
Trần Quần đứng lên chậm rãi lui xuống. Tuân Úc khoanh tay đi đến trước cửa trướng nhìn trời chiều như màu màu, y khẽ thở dài. Y biết cuộc đời này y cũng không thể quay về triều đình được nữa.
Trần Quần chèo một con thuyền ba lá đi về phía bờ kia Hán Thủy. Lúc này ánh chiều tà chưa tan hết, sắc trời mông lung nước sông hiện lên một màu xanh quỷ dị như hòa một thể với chân trời. Trời, nước dường như một màu, cảnh tượng này vô cùng tráng lệ.
Nhưng y cũng không có tâm trạng để thưởng thức cảnh sắc này. Y ngồi trên mũi thuyền suy nghĩ về lúc gặp Lưu Cảnh. Trong lòng y rất khó xử. Thừa tướng lại yêu cầu Lưu Cảnh kí kết hiệp nghị ngừng chiến Kinh Châu một năm liệu hắn có đồng ý hay không?
Y thầm thở dài, lúc xé hiệp nghị thì vô tư là thế, bây giờ lại không muốn đánh, lại muốn khôi phục lại hiệp nghị, có mấy người sẽ đồng ý chứ? Y biết thực ra là Thừa tướng sợ Lưu Cảnh truy kích làm cho lão phải trở về trong thảm hại.
Lúc này lính chèo thuyền vội nhắc nhở y:
- Trần tiên sinh!
Y ngẩng đầu lên lúc này mới phát hiện xung quanh toàn là chiến thuyền của quân Hán, có vô số lính đang giương cung tên nhằm vào mình. Y cười khổ một tiếng rồi đứng dậy chắp tay nói:
- Tại hạ là sứ giả của Thừa tướng, phụng lệnh đến gặp Châu mục của các vị, xin các vị nhường đường!
Một gã tướng lĩnh đi ra từ chiến thuyền lớn. Ông ta chính là Giáo úy Thẩm Di, ông ta không hề lỗ mãng mà đánh giá Trần Quần một chút rồi hỏi:
- Xin hỏi tiên sinh là người phương nào?
- Tại hạ Dĩnh Xuyên Trần Quần!
- Hóa ra là Trần tiên sinh, ngưỡng mộ đã lâu!
Thẩm Di vội vàng lệnh cho lính bỏ cung tên xuống rồi cười nói với Trần Quần:
- Để tiên sinh sợ hãi rồi, mời theo tôi đến thuyền lớn của Châu Mục!
- Lưu Châu Mục không ở trong thành Tương Dương sao?
Thẩm Di lắc đầu:
- Châu Mục không ở trong thành mà đang ở trên chiến thuyền, xin mời!
Trong lòng Trần Quần đầy nghi hoặc. Lưu Cảnh không ở trong thành mà ở trên chiến thuyền. Lẽ nào hắn biết Tào Tháo sẽ rút quân sao? Y không kịp nghĩ nhiều liền lên thuyền của Thẩm Di đi về hướng đông.
Thuyền bè đến Bỉ Thủy, Trần Quần nhìn thấy một con thuyền lớn 2 ngàn thạch, xung quanh có những thuyền nhỏ bảo vệ. Hẳn là thế, y thầm nghĩ trong lòng.
- Châu Mục ở trên thuyền, xin mời!
Thẩm Di dẫn Trần Quần lên thuyền lớn. Ông ta đi đến trước thuyền nói với thị vệ:
- Xin hãy bẩm báo với Châu Mục, có sứ giả Trần Quần của quân Tào cầu kiến Châu Mục.
Tên thị vệ gật đầu, bước nhanh vào khoang thuyền. Đèn đuốc trong khoang thuyền sáng trưng. Lưu Cảnh đang thảo luận với Giả Hủ về kế hoạch đuổi giết quân Tào. Lúc này Lưu Cảnh đã biết Cam Ninh và Hoàng Cái đã công phá Hợp Phì. Hắn ý thức được, quân Tào chắc sẽ rất nhanh mà rút lui, nhưng hắn cũng không muốn để cho Tào Tháo tự do mà về như vậy được phải cho lão một bài học.
Giả Hủ chủ trương cướp lấy quân nhu của quân Tào nhưng Lưu Cảnh lại có ý tưởng khác. Đúng lúc này thì thị vệ đứng trước cửa khoang bẩm báo:
- Sứ giả của Tào Tháo là Trần Quần xin cầu kiến!
Lưu Cảnh và Giả Hủ nhìn nhau không khỏi bật cười. Xem ra Tào Tháo hiểu mình, biết ta sẽ không bỏ qua cho lão đây mà. Lưu Cảnh gật đầu nói:
- Mời ông ta vào đi!
Một lát sau, thị vệ dẫn Trần Quần vào, y khom người thi lễ nói:
- Tham kiến Châu mục, tham kiến Giả quân sư!
- Trần tiên sinh miễn lễ!
Lưu Cảnh nháy mắt ra hiệu cho mấy tên thị vệ cầm bản đồ đi. Hắn không hi vọng Trần Quần nhìn ra ý đồ truy kích quân Tào của mình:
- Mời ngồi!
Hắn vừa cười vừa mời Trần Quần ngồi xuống.
Ba người phân làm chủ khách cùng ngồi xuống. Lưu Cảnh sai lính bưng trà. Lúc này Giả Hủ liền cười nói:
- Lần trước ở Thành Đô sơ xuất với Trường Văn rồi, xin Trường Văn thứ tội!
Trần Quần cười ha hả:
- Tuy ta không trách Văn Hòa chạy đi nhưng Văn Hoá đồng ý theo ta đi du ngoạn núi Thanh Thành mà lại không có câu dưới để lại, khiến ta canh cánh trong lòng.
Ba người cùng cười, không khí trong khoang thuyền trở nên rất thoải mái. Trần Quần lại lấy bức thư mà đích thân Tào Tháo viết đưa cho Lưu Cảnh:
- Đây là thư Thừa tướng tự tay viết cho Châu mục, mời Châu mục xem qua.
Lưu Cảnh nhận thư đọc một lần. Trong thư Tào Tháo tỏ vẻ lão nguyện rút quân về Nam Dương, cũng hi vọng có thể ký kết lại về hiệp ước ngừng chiến Kinh Châu. Chuyện này quá vô liêm sỉ mà không ngờ Tào Tháo lại viết được thành khẩn như vậy, tựa như lão không thể không dẫn quân xuôi nam.
Lưu Cảnh cười lạnh một tiếng nói:
- Khách phải đi, ta đây làm chủ đáng ra phải tiễn một đoạn đường. Xin tiên sinh hãy chuyển lời với Thừa tướng. Quân đội của ta đã được chuẩn bị, chiến bị “Lễ tiễn” quân Tào xuất cảnh.
Lưu Cảnh nhấn mạnh vào hai chữ lễ tiễn khiến trong lòng Trần Quần bất an. Y vội giải thích nói:
- Thừa tướng cũng rất xin lỗi. Đương nhiên, nếu Châu mục đồng ý kí hiệp nghị ngừng chiến thì chúng ta có thể thảo luận điều kiện, Châu mục sẽ không phải chịu thiệt đâu.
- Như vậy ta tính trước vể tổn thất, ba huyện Tân Dã, Phàn Thành, huyện Đặng bị hủy. Còn nữa, nhà kho hai tòa thành phụ Tương Dương bị cướp sạch không còn còn làm chậm việc cày bừa vụ xuân. Chắc chắc vụ chiêm năm nay sẽ mất mùa, tổn thất quá lớn. Thừa tướng chuẩn bị bồi thường thế nào đây?
- Trong thư Thừa tướng đã viết, có thể này mai sẽ tấu lên Thiên tử, để Châu mục có quyền phong tước.
Lưu Cảnh lắc đầu nói:
- Ta chỉ là một Phiêu Kỵ tướng quân nhỏ nhoi, có tư cách gì mà phong tước vị thuộc cấp. Xin hãy chuyển lời với Thừa tướng, đừng có ép ta vào chỗ bất nghĩa.
Trần Quần thấ hắn hăng khăng từ chối việc quyền phong tước liền cười khổ nói:
- Vậy Châu mục cần gì?
Lưu Cảnh cười nói:
- Tuy yêu cầu của Tào Tháo có hơi trội, như kiểu hủy sân nhà người ta, còn người khác thì phải mang ơn. Có lẽ là bất cứ ai cũng không thể chấp nhận, nhưng ta có thể hiểu Thừa tướng. Ta có thể chấp nhận nhưng điều quan trọng là Thừa tướng phải thỏa mãn điều kiện của ta, thì ra đồng ý với Thừa tướng cũng không sao cả.
- Mời Châu mục ra điều kiện. Trần Quân xin rửa tai lắng nghe.