Lưu Trí cố lấy dũng khí đáp:
- Nhị nương chỉ là ngoài miệng nói hung ác nhưng tâm của người rất mềm yếu, hơn nữa người quên mất chuyện từng nói không dạy con luyện võ, còn ép con học kiếm với người, sáng sớm trời còn chưa tỏ đã kéo con dậy.
Nói đến phần sau, Lưu Trí có chút oán giận, Lưu Cảnh mỉm cười, tình ý sâu sa nói với con trai:
- Nhị nương con hy vọng con đừng trở thành con mọt sạch, người muốn tốt cho con, bảo con dậy sớm là để tôi luyện ý chí của con, khi phụ thân học võ, canh tư đã phải dậy rồi, kiên trì suốt tám năm, đến giờ vẫn dậy từ lúc trời chưa sáng, chỉ có người có ý chí kiên cường thì tương lai mới làm được việc lớn, con nên cảm tạ nhị nương mới phải.
Lưu Trí ngây người một lúc, chưa có ai nói với nó những đạo lý này, giờ nó mới hiểu được dụng tâm của nhị nương, không khỏi xấu hổ cúi đầu:
- Hài nhi hiểu rồi!
Lưu Cảnh vỗ đôi vai non nớt của nó:
- Sau này sư phụ sẽ từ từ dạy con những đạo lý này, mau viết chữ cho tốt đi!
- Vâng!
Lưu Trí lại ngồi nghiêm túc, bắt đầu chăm chỉ viết chữ, lúc này, Lưu Cảnh bỗng nhìn thấy một cái đầu nhỏ, thò đầu ra nhìn vào phòng, đúng là con gái bảo bối Lưu Châu của hắn, năm nay mới ba tuổi, khá nghịch ngợm, bình thường những ông bố đều thương yêu con gái, Lưu Cảnh đặc biệt quý mến nó.
Hắn vừa cười vừa bước lại gần, bế con gái lên, khẽ nhéo vào khuôn mặt nhỏ nhắn bầu bĩnh của nó cười hỏi:
- Heo nhỏ đang làm gì đấy?
Lưu Châu giống hệt mẫu thân của nó, mặt tròn vành vạnh, mắt to, khéo léo thông minh, nó chớp chớp mắt, cười hì hì nói:
- Con đang xem có phải phụ thân đang giáo huấn ca ca không.
- Nếu phụ thân đang giáo huấn ca ca thì sao?
Lưu Cảnh lại cười hỏi.
- Con giúp phụ thân cùng đánh!
Lưu Cảnh bật cười ha hả, hắn hôn vào mặt con gái:
- Ca ca có hoa quả đều cho con ăn, sao con còn đánh ca ca?
Lưu Châu giả làm mặt quỷ nhưng không đáp lại, Lưu Cảnh thấy con trai giống như lão tăng ngồi thiền, bất động liền gật đầu cười nói:
- Ca ca đang luyện chữ, ta dẫn con ra sân chơi nhé.
Lưu Châu vui sướng vỗ tay:
- Con muốn phụ thân giúp con hái hoa quả.
- Được, phụ thân giúp con hái.
Lưu Cảnh ôm con gái ra sân, Lưu Châu chỉ vào quả hạnh tử chín trên cây hạnh, vội la lên:
- Con muốn cái kia.
Lưu Cảnh giơ tay kéo cành cây xuống, Lưu Châu vươn bàn tay nhỏ bé nắm lấy hai quả hạnh tử, cười sung sường, lúc này, Tôn Thượng Hương đi vào sân, cười nói với Lưu Cảnh:
- Ban nãy gặp Ngô bà bà, nói Từ Trưởng sử đến đây, đang chờ phu quân ở thư phòng, phu quân không đi gặp sao?
Lưu Cảnh biết Từ Thứ nhất định là vì chuyện của Giang Đông, hắn gật đầu, giao con gái trong tay cho nàng:
- Heo nhỏ, để nhị nương chơi với con, phụ thân có việc rồi.
Lưu Châu mân mê miệng, vẻ mặt mất hứng, nó tha thiết mong ngóng tìm đến phụ thân, phụ thân lại chỉ chơi với nó một lát, Lưu Cảnh yêu quý con gái, xoa khuôn mặt nhỏ nhắn của nó cười nói:
- Tối phụ thân cùng con vẽ tranh nhé.
Lưu Châu lập tức vui sướng:
- Phụ thân gạt con thì là con chó nhỏ nhé!
Lưu Cảnh ngoắc ngón út với nó rồi cười với Tôn Thượng Hương, hắn quay người đi ra cửa liền nghe thấy Tôn Thượng Hương trêu chọc:
- Heo nhỏ, cho nhị nương một quả hạnh tử trong tay con.
- Không được! Đây là phụ thân cho con.
Lưu Cảnh cười lắc đầu, bước nhanh về phía thư phòng.
Đi vào thư phòng, Từ Thứ và Đổng Hòa đang ngồi trong phòng nói gì đó, thấy Lưu Cảnh bước vào, hai người vội vàng đứng dậy thi lễ:
- Vi thần tham kiến Châu Mục!
Cuối năm ngoái, phủ tướng quân thực hiện một cuộc cải cách quyền lực trọng đại, chính thức thi hành chế độ đa tướng, nhưng do Lưu Cảnh chưa lập quốc nên vẫn không thể gọi là Tướng quốc, hắn liền thiết lập chức vụ Thượng thư tham chính, gọi tắt là Thượng thư, người được phong chức vụ này cũng tức là có quyền hành của Tướng quốc.
Hiện tại năm người là Từ Thứ, Tưởng Uyển, Phí Quan, Đổng Hòa, Tư Mã Ý cùng đảm nhiệm chức Thượng thư tham chính, chung tay hiệp thương việc quân chính đại sự, còn lập chức Thượng thư lệnh phụ trách xử lý chính vụ thường ngày, quản lý bút chính sự, năm người này sẽ luân phiên giữ chức Thượng thư lệnh, mỗi người cai quản bút chính sự một tháng, vì thế đã đổi tên Nghị sự đường thành Bình Chương đài, Bình Chương cũng có nghĩa là hiệp thương, như vậy, chế độ đa tướng mà Lưu Cảnh khởi xướng đã hình thành.
Nhưng để hạn chế Thượng thư lạm dụng quyền lực, hắn còn lập chức Thị trung, do Doãn Mặc đảm nhiệm, quyết sách chính vụ của Thượng thư hoặc Thượng thư lệnh có điểm bất ổn lớn thì sẽ bị Thị trung bác bỏ, trả lại cho các Thượng thư ở Bình Chương đài hiệp thương lại, dưới Thị trung là mấy Thị lang, làm trợ thủ cho Thị trung.
Nếu ý kiến của Thượng thư và Thị trung trước sau không thể đi đến thống nhất thì sẽ do Lưu Cảnh đưa ra quyết định cuối cùng.
Mặt khác, Thị trung còn có một quyền lực quan trọng, đó là quyền phân biệt chính vụ, chính vụ nào có thể do Thượng thư lệnh tự quyết định, chính vụ nào cần năm Thượng thư của Bình Chương đài hiệp thương giải quyết, chính vụ nào lại phải trình lên Lưu Cảnh phê duyệt, cứ như vậy, Lưu Cảnh có thể giải thoát khỏi chính vụ nặng nề hàng ngày để chuyên tâm suy nghĩ việc đại sự quốc gia.
Đối với những biến động quyền lực lớn như vậy, tổn thất lớn nhất là Từ Thứ, trên thực tế chính là chia quyền của Trưởng Sử Từ Thứ thành năm phần, trước đây một mình Từ Thứ nắm giữ đại quyền chính vụ thì giờ biến thành năm người cùng nắm tướng quyền.
Mặc dù quyền lực bản thân bị tổn thất rất lớn, nhưng Từ Thứ lại là người thi hành kiên định chế độ đa tướng này, bởi vì Từ Thứ không suy tính đến quyền lực được mất của bản thân, mà nghĩ đến chế độ tướng quyền có thể ngăn được quân quyền, chế độ một tướng của Hán triều dễ đàng khiến Thừa tướng nắm hết quyền hành, cũng dễ tạo nên sự nghi kỵ của Hoàng đế đối với Thừa tướng, vì thế tướng quyền cũng không lớn.
Một khi thi hành chế độ đa tướng, giữa các Thừa tướng có thể chế ước cân bằng nhau, giảm mạnh sự uy hiếp đối với Hoàng đế, do đó Hoàng đế cũng dễ giao quyền.
Từ Thứ biết, một khi đã hình thành chế độ đa tướng này thì cục diện quyền lực trong một trăm năm nữa đều sẽ có ảnh hưởng sâu rộng, nhìn từ góc độ quân tướng phân quyền mà xét, Từ Thứ cực lực ủng hộ lần cải cách này.
Cũng thật trùng hợp, tháng này đúng lúc Từ Thứ đảm nhiệm chức Thượng thư lệnh, quản lý bút chính sự, một số việc chính vụ nhỏ nhặt hàng ngày đều do y phụ trách.
Lưu Cảnh lệnh cho thị nữ dâng trà, rồi cười hỏi Từ Thứ và Đổng Hỏa:
- Chế độ đa tướng hoạt động đã năm tháng, cảm giác thế nào?
Từ Thứ khom người đáp:
- Vừa mới bắt đầu vẫn có chút không phù hợp, cũng có một số chỗ suy xét chưa chu toàn, nhưng thời dan dài tự nhiên sẽ từ từ phù hợp, vì thế chúng ta cũng không cần lo lắng, tóm lại, vẫn rất tốt, hoạt động suôn sẻ.
Lưu Cảnh gật đầu:
- Bởi vì tinh lực của ta chủ yếu suy nghĩ đến cuộc bắc phạt đông chinh, vì thế việc chính vụ về cơ bản ta không hỏi qua, có điều một khi tương lai ổn định, có lẽ ta cũng muốn tham gia chính vụ.
Đổng Hòa tiếp lời cười:
- Đây là lẽ đương nhiên, Châu Mục xin yên tâm, bọn ty chức sẽ không nhân cơ hội chiếm quyền lực của Châu Mục đâu.
Ba người cùng nhau mỉm cười, không khí trong phòng lập tức trở nên thoải mái, lúc này, Lưu Cảnh lại hỏi:
- Về chuyện tiếp tục chiêu binh một trăm ngàn người nữa, đã quyết định chưa?
Đây là việc Lưu Cảnh phải làm đầu tiên sau khi cuộc chiến Kinh Châu kết thúc, binh lực không đủ khiến hắn cực kỳ bị động trong cuộc giằng co với Tào Tháo, đành phải tạm thời dừng kế hoạch bắc phạt, cho nên tiếp tục mộ binh một trăm ngàn người, đưa tổng binh lực lên tới ba trăm ngàn người, điều này vô cùng cấp bách rồi.
Việc mộ binh do Đổng Hòa phụ trách, y chủ quản Binh Tào và Úy Tào, chức quyền tương đương với Binh bộ Thượng thư sau này, Đổng Hòa vội vã đáp:
- Hồi bẩm Châu Mục, phương án đã được chế định xong, chỉ đợi sau khi Bình Chương đài hiệp thương sẽ báo Châu Mục phê chuẩn là có thể thực thi.
- Nói đơn giản cho ta nghe xem nào.
Lưu Cảnh cười nói.
- Nói đơn giản là Ích Châu mộ binh năm mươi ngàn, Kinh Châu mộ binh ba mươi ngàn, Hán Trung mộ binh hai mươi ngàn, trong đó năm mười ngàn của Ích Châu đã bao gồm hai mươi binh lính Man Di phía nam Ích Châu, chúng ta đã đi đến nhất trí với Man Vương và Di Vương rồi.
Lưu Cảnh gật đầu, lại hỏi Từ Thứ:
- Chuyện kết minh với Giang Đông đã bàn bạc thế nào rồi?
……
Việc hai nhà Tôn Lưu kết minh cũng không thuận lợi, có thể nói là lâm vào cảnh bế tắc, mấu chốt là quyền sở hữu quận Kỳ Xuân, thái độ của Tôn Quyền rất rõ ràng, liên kết thì phải hủy bỏ hiệp ước bất bình đẳng ký kết trước đây, vậy thì quận Kỳ Xuân sẽ trả lại cho Giang Đông, nhưng các Thượng thư của phủ tướng quân sau khi hiệp thương đã nhất trí từ chối yêu cầu này của Giang Đông.
Lý do rất đơn giản, liên minh là việc của tương lai, còn quận Kỳ Xuân thuộc sở hữu Kinh Châu là kết quả cuộc tây chinh của quân Giang Đông lần trước, không thể vì việc kết minh hiện tại mà mạt sát sự thực cuộc tây chinh của quân Giang Đông, đương nhiên, với thành ý của Kinh Châu, có thể trả lại Giang Đông hồ Bành Trạch, huyện Bành Trạch cùng với đường thủy Trường Giang ở phía đông quận Kỳ Xuân, chỉ thế mà thôi.
Thái độ của phủ tướng quân khiến Lã Phạm vô cùng buồn phiền, bởi vì khi xuất phát, Ngô hầu liên tục dặn dò gã nhất định phải lấy được quận Kỳ Xuân về, nếu không thà rằng không liên kết, mặc dù Lã Phạm cũng hiểu được quận Kỳ Xuân uy hiếp quá lớn đến Giang Hạ, phủ tướng quân chắc chắn sẽ không đồng ý, nhưng thái độ của Ngô hầu cũng rõ ràng như thế, làm gã lâm vào thế khó xử, không có cách nào khả thi.
Lã Phạm ở trong dịch quán khách quý của Thành Đô, môi trường ở đây rất tao nhã, làm gã thấy vô cùng thoải mái, nhưng thái độ của phủ tướng quân cứng rắn lại khiến gã buồn bực không vui, không có lòng dạ nào thưởng thực phong cảnh đẹp của dịch quán, thậm chí cũng không có tâm tư đi thăm Thượng Hương công chúa.
Giữa trưa, một chiếc xe bò chậm rãi dừng lại trước dịch quán khách quý, một người trung niên dẫn theo hai gã tiểu nhị xách mười mấy hộp đồ ăn xuống xe bò, lúc này chủ dịch quán bước ra, gã nhìn dò xét mấy người này, hỏi:
- Các ngươi là ai, tới đây làm gì?
Người đàn ông trung niên chắp tay thi lễ nói:
- Chúng ta là người của tửu quán Giang Nam, vị khách Giang Đông trong dịch quán đã đặt rượu thịt ở tửu quán nên chúng ta đưa tới đây.
Chủ quán ngây người, còn chưa nghe nói vị khách nào của dịch quán đặt rượu thịt bên ngoài, lúc này, Phó sứ Giang Đông Trương Thừa bước ra. Trương thừa là con trai trưởng của Trương Chiêu, hơn ba mươi tuổi, hiện giữ chức Tham quân phủ Đô đốc Giang Đông, rất khôn khéo giỏi giang, lần này được Tôn Quyền bổ nhiệm làm Phó sứ của Lã Phạm đi sứ Thành Đô.
Do cuộc đàm phán lâm vào bế tắc, trong lòng Trương Thừa cũng buồn khổ, liền muốn đi ra ngoài, gã đi ra cửa thì vừa hay nhìn thấy xe bò liền ngẩn người ra, lúc này người trung niên đưa rượu thịt vội vã tiến lên chắp tay nói:
- Hóa ra là Trương công tử, tiểu nhân là chưởng quầy tửu quán Giang Nam, tới đưa rượu thịt.
Trương Thừa chỉ thấy người này rất quen, nhưng nhất thời không nhớ ra đã gặp nhau ở đâu, gã trầm ngâm một lúc, không trả lời, người trung niên trừng mắt nhìn gã nói tiếp:
- Công tử quên rồi sao? Hôm qua ngài đã tới cửa hàng của tại hạ, tửu quan Giang Nam.
Trương Thừa lập tức tỉnh ra, tửu quán Giang Nam chẳng phải chính là một điểm tình báo mà quân Giang Đông thiết lập ở Thành Đô sao? Gã bật cười ha hả đáp;
- Đúng rồi, ta suýt nữa quên mất, mau mời mang vào đi!
......
Chương 650: Lời khước từ của Tôn phu nhân.
Chủ dịch quán thấy đúng là Trương Thừa đặt rượu thịt nên không hỏi nhiều nữa, để bọn họ mang vào dịch quán, bước vào cửa chính, người trung niên khẽ cười nói:
- Trương công tử không nhớ ta sao?
Trương Thừa áy náy đáp:
- Ta nhìn các hạ rất quen, chỉ là không nhớ ra đã gặp ở đâu?
- Ta làm Thương Tào ở phủ Đô đốc, họ Tưởng, chúng ta đã từng quen biết.
Trương Thừa vỗ trán, gã nhớ ra rồi, người này tên là Tưởng Hoán, biệt hiệu Tưởng Cốc thần, năm kia đã gặp y không chỉ một lần ở phủ Đô đốc, sau đó nghe nói được điều đi, không ngờ lại ở Thành Đô, hơn nữa nhìn bộ dạng, hẳn là thống lĩnh tình báo của Giang Đông ở Ích Châu.
Gã vội nói:
- Ta nhớ ra rồi, ngươi là Cốc thần.
Người trung niên cười ha hả:
- Đúng vậy!
Y khép nụ cười lại, nghiêm nghị nói với Trương Thừa:
- Ngô hầu có lệnh khẩn cấp cho các ngươi, ta muốn gặp Lã tướng quân.
Trương Thừa gật đầu:
- Xin mời!
Trong phòng, Lã Phạm một mình uống rượu buồn, việc liên minh trở nên bế tắc, nếu chậm chễ không giải quyết được, gã sẽ chuẩn bị phải về phục mệnh, gã biết rằng Lưu Cảnh chắc chắn sẽ không nhượng bộ, nhưng Ngô hầu cũng không chịu nhượng bộ, gã ở lại Thành Đô cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Đúng lúc này, Trương Thừa bước nhanh tới cửa, khom người nói:
- Tướng quân, người của tửu quán Giang Nam có việc gấp cầu kiến.
Lã Phạm cũng hơi ngây người, gã làm Chính sứ, đương nhiên càng hiểu rõ địa vị của tửu quán Giang Nam, gã lập tức ý thức được hẳn là Giang Đông có truyền tin đến, chỉ có điều gã hơi nghi ngờ tin tức đến bằng cách nào? Gã cũng mới đến Thành Đô ba ngày, sao tin tức của Giang Đông lại tới nhanh như vậy?
- Mời hắn vào!
Một lát sau, Trương Thừa dẫn trưởng quầy Tưởng Hoán vào phòng, Tưởng Hoán quỳ xuống hành lễ nói:
- Ti chức tham kiến Lã tướng quân!
- Hóa ra là Tưởng cốc thần.
Lã Phạm mỉm cười:
- Xin miễn lễ!
Tưởng Hoán đứng thẳng dậy, rút ra một bức thư tình báo đưa cho Lã Phạm.
- Đây là thư bồ câu khẩn mà Giang Đông truyền đến một canh giờ trước, đây là lần đầu tiên, ty chức không dám chậm trễ liền lập tức đưa tới.
Lã Phạm cũng có chút khiếp sợ trong lòng, lại là thư bồ câu, phải biết rằng từ Giang Đông đến Ba Thục đâu chỉ ngàn vạn dặm, thư bồ câu ít nhất phải trung chuyển vài lần, hơn nữa rủi ro cực lớn, tình huống này rất ít khi xảy ra, giờ lại đưa thư bồ câu đến, điều này chứng tỏ nội dung trong thư cực kỳ quan trọng.
Gã nhận lấy thư tình báo, lập tức mở ra xem một lượt, hồi lâu không nói gì, lúc này, Trương Thừa ra hiệu cho Tưởng Hoán lui ra, đợi trong phòng chỉ còn lại y và Lã Phạm, y mới hỏi:
- Tướng quân, đã xảy ra chuyện gì?
Lã Phạm thở dài:
- Quân Tào phản công Hợp Phì, tình thế Hợp Phì nguy cấp, hiện Ngô hầu cũng đích thân dẫn viện quân tới Hợp Phì rồi, người hy vọng chúng ta lập tức ký hiệp ước đồng minh với Lưu Cảnh.
- Nhưng quận Kỳ Xuân thì làm thế nào?
Trương Thừa bối rối hỏi.
Lã Phạm trầm ngâm:
- Trong thư Ngô hầu không đề cập, nhưng người đã bảo chúng ta lập tức ký kết, vậy thì quận Kỳ Xuân hẳn là từ bỏ, Tương tham quân thấy thế nào?
Trương Thừa gật đầu:
- Tướng quân nói đúng, Lưu Cảnh không thể trả quận Kỳ Xuân cho chúng ta, Ngô hầu vội vã kết minh, chỉ có thể là chúng ta từ bỏ quận Kỳ Xuân thôi.
Lã Phạm chắp tay bước mấy bước, lại cúi đầu suy nghĩ một lát, cuối cùng thở dài nói:
- Ta đoán Lưu Cảnh vẫn chưa biết sự việc ở Hợp Phì, chúng ta cũng đừng thể hiện quá nóng vội, ngày mai tiếp tục bàn bạc với phủ tướng quân, có điều hôm nay ta muốn đi thăm Thượng Hương công chúa, xem người có thể giành lấy chút lợi ích cho Giang Đông không.
Tôn Thượng Hương đã sớm biết việc Lã Phạm tới Thành Đô, phu quân cũng chuyển thư nhà của mẫu thân cho nàng, theo lý, Lã Phạm là người mai mối nàng và Lưu Cảnh, lại là nguyên lão Giang Đông, quan hệ với phụ thân vô cùng tốt, lão giống như bậc cha chú của mình, tới Thành Đô chắc chắn phải tới thăm mình, đây là lẽ thường tình, Tôn Thượng Hương cũng nóng ruột muốn biết một số việc của quê nhà qua lời Lã Phạm.
Tuy nhiên Tôn Thượng Hương chờ ba ngày rồi vẫn không thấy Lã Phạm tới gặp mình, điều này làm cho nàng có chút không vui. Buổi chiều, đúng lúc Tôn Thượng Hương chuẩn bị đi thăm Đào Trạm, bà quản gia bỗng đến bẩm báo có khách quý Giang Đông tới thăm, điều này khiến nàng rất xúc động, nhưng cũng có hơi bực mình.
Tôn Thượng Hương định nói không gặp nhưng nghĩ lại, nàng vẫn nên kìm nén tâm trạng không vui trong lòng lại, tới khách quý đường.
Trong quý khách đường, Lã Phạm đang chuyên tâm uống trà, lúc này, gã nghe thấy tiếng ngọc bội kêu, chỉ thấy mười mấy thị nữ vây quanh Thượng Hương công chúa xinh đẹp bước vào, Lã Phạm vội đứng dậy thi lễ:
- Vi thần tham kiến Thượng Hương công chúa!
- Lã tướng quân không cần đa lễ, mời ngồi!
Tôn Thượng Hương được gả cho Lưu Cảnh cũng gần ba năm, tính cách đáo để của nàng khi còn nhò cũng đã giảm đi nhiều, mực dù trong tâm khảm vẫn thẳng thắn ngay thẳng như cũ, nhưng trước mặt người ngoài, nàng lại có thêm thái độ ung dung của quý phu nhân, nàng biết trong một số trường hợp nàng đại diện cho Lưu Cảnh, nên cũng phải chú ý chút lễ nghĩa, kể cả trước mặt đồng hương cũng không ngoại lệ.
Lã Phạm thấy Tôn Thượng Hương cười chúm chím, phong thái thong dong, trong lòng không khỏi kinh ngạc, đây là Thượng Hương công chúa trước đây luôn hấp tấp dẫn theo một đám nữ kỵ binh khiến người Giang Đông đau đầu sao? Hoàn toàn cảm giác là một người khác.
Gã khẽ thở dài một tiếng trong lòng, Công chúa của bọn họ đã trưởng thành rồi, đây mới là người con gái đẹp nhất Giang Đông, lúc này. Tôn Thượng Hương sai thị nữ dâng trà lên, rồi mới mỉm cười hỏi:
- Lã Công tới Thành Đô khi nào? Chỉ có một mình Lã Công sao?
Lã Phạm vội khom người đáp:
- Vi thần tới đây ba ngày trước, vì bận công sự nên không đến thăm Công chúa trước, lần này tới Thành Đô, ngoài vi thần ra còn có Trưởng công tử của Trương quân sư, hắn là Phó sứ.
- Ra là thế.
Tôn Thượng Hương cười hỏi:
- Sao Trương công tử không đến gặp ta?
Lã Phạm nhất thời không biết trả lời thế nào, Trương Thừa không cùng đến với gã là vì có chút xấu hổ, năm đó Tôn Sách muốn thông gia với Trương Chiêu, gả muội muội Thượng Hương Hứa cho Trương Thừa, hai bên đều đã hứa hẹn, do Tôn Sách qua đời nên hôn sự này lại bị bỏ mặc đấy, Trương Chiêu cũng không nhắc tới.
Nhưng Lã Phạm là người trong cuộc, gã rất rõ căn nguyên hậu quả, Trương Chiêu rất muốn thông gia với Tôn thị, chỉ là Ngô lão phu nhân phản đối hôn sự này, bà thấy tuổi tác hai người chênh lệch hơn mười tuổi, không phù hợp, vì Ngô lão phu nhân phản đối nên Tôn Quyền cũng làm bộ như không biết, hơn nữa Tôn Quyền muốn thông gia với danh môn ở Ngô Quận là Cố thị, tức là con trai của Cố Ung, vì thế hôn sự này đã thất bại.
Chuyện này Tôn gia từ lâu đã không để ở trong lòng nữa, nhưng Trương gia vẫn không quên, Trương Thừa không chịu đi cùng mình, chứng tỏ trong lòng vẫn nhớ đến chuyện này, Lã Phạm gượng cười giải thích:
- Bởi vì ngày mai phải bàn bạc chuyện liên minh với phủ tướng quân, Trương công tử phải chuẩn bị rất nhiều tài liệu, cho nên không có thời gian tới bái kiến Công chúa, xin Công chúa thứ lỗi.
Tôn Thượng Hương cũng chỉ là buột miệng thì hỏi, chứ không để tâm, nàng cũng không biết trước đây giữa mình và Trương Thừa còn có hôn ước, tuy nhiên kể cả biết thì cũng chẳng có ý nghĩa gì, dù sao nàng đã được gả cho Lưu Cảnh từ lâu rồi. Tôn Thượng Hương hỏi tiếp:
- Mẫu thân của ta dạo này sức khỏe ra sao?
- Lão phu nhân mặc dù sức khỏe yếu, nhiều bệnh nhưng vấn đề không lớn, an dưỡng cẩn thận cũng sẽ trường thọ, xin Công chúa yên tâm, Ngô hầu và các tộc nhân khác đều khỏe, có cả thư lão phu nhân gửi Công chúa, Công chúa đã nhận được rồi chứ!
- Lưu tướng quân đã đưa cho ta, đa tạ Lã Công mang thư tới đây.
Im lặng một lát, Lã Phạm lại chậm rãi nói:
- Lần này vi thần đi sứ Thành Đô là phụng mệnh Ngô hầu, muốn kết minh với Châu Mục, hai nhà cùng chống lại Tào Tháo, nhưng ý của Ngô hầu là hai bên tốt nhất đạt được hiệp ước liên kết với tư thái bình đẳng, vì thế vi thần vẫn đang đàm phán với phủ tướng quân, chỉ có điều...
Không đợi Lã Phạm nói hết, Tôn Thượng Hương đã quyết đoán xua tay ngăn y lại, nàng nghiêm nghị nói:
- Ta hiểu ý của Lã Công, nhưng khi ta và phu quân thành hôn đã có ba chương ước pháp, ta tuyệt đối không tham gia vào việc giữa hai nhà Lưu – Tôn, nếu Lưu tướng quân nể mặt ta chiếu cố Giang Đông, đó là tâm ý của ngài, không liên quan đến ta, xin Lã Công chuyển lời đến huynh trưởng ta, ta là vợ của Lưu tướng quân, nếu nhất định muốn ta ra mặt, ta sẽ chỉ nghiêng về phía Lưu tướng quân, ngược lại gây bất lợi cho Giang Đông, do đó trước mặt ta tốt nhất đừng nói đến việc làm mọi người đều không vui.
Lã Phạm sau một lúc mới âm thầm thở dài, lời này gã cũng không dám nói với Ngô hầu…
Đêm đến, sau một cuộc ân ái triền miên, Lưu Cảnh cảm thấy cơ thể có chút mệt mỏi, hắn nhắm mắt lại, Tôn Thượng Hương thì như một con mèo lười biếng rúc sát vào người chồng, ánh đèn bên giường le lói, làm cho làn da nhẵn nhụi mà đàn hồi của nàng nổi lên một lớp sáng bóng mỡ màng, nàng cũng khép hờ hai mắt lại, còn đắm chìm trong sự vui sướng âm ỉ bên người.
Lưu Cảnh khẽ vuốt tóc nàng, dịu dàng nói:
- Chúng ta rất cố gắng rồi, trời xanh chắc sẽ cho chúng ta một đứa con thôi!
- Chàng vẫn chưa gắng sức đủ mà!
Tôn Thượng Hương hé miệng cười nói:
- Thiếp nghe đại tỷ nói, trước đây hai người để có được Trí nhi, đó mới gọi là vất vả, chàng hiện giờ là đang lười biếng thì có.
- Nàng muốn ta mệt chết à!
Lưu Cảnh trở mình ấn nàng xuống dưới người mình, hôn môi nàng, cười hì hì hỏi:
- Nương tử còn muốn nữa không?
Đôi mắt Tôn Thượng Hương như sao sáng, mơ màng, nàng khẽ gật đầu, Lưu Cảnh quay người thổi tắt đèn, lại một lần nữa chìm trong ân ái với Tôn Thượng Hương.
- Phu quân, hôm nay Lã Công tới thăm thiếp.
Trong bóng đêm, Tôn Thượng Hương khẽ nói.
- Ta biết, lúc ở Tương Dương y cũng nói với ta muốn tới thăm nàng.
Lưu Cảnh dùng giọng điệu cười nhạo nói tiếp:
- Nghe nói toàn thể già trẻ Giang Đông đều mong ngóng nàng có thể ôm con về thăm nhà mẹ đẻ.
Tôn Thượng Hương nhéo cánh tay hắn một cái, hờn dỗi nói:
- Chàng đang cười nhạo thiếp sao?
- Không có! Ta nào dám cười nhạo hiền thê.
- Tha cho chàng không dám đó!
Tôn Thượng Hương lại cúi đầu thở dài:
- Hôm nay ôm heo nhỏ, bỗng nhiên thiếp cũng muốn một đứa con gái, thiếp sẽ trang điểm cho nó như công chúa, thiếp còn dạy nó học nữa.
- Nàng không muốn dạy nó luyện võ ư?
Lưu Cảnh cười tiếp lời.
- Không dạy!
Tôn Thượng Hương lắc đầu.
- Không phải người đàn ông nào cũng sẽ giống phu quân ta, thích một cô gái luyện võ.
Lưu Cảnh thấy xúc động khó tả, hắn thương hại vuốt ve khuôn mặt của Tôn Thượng Hương.
- Sẽ có mà, trời xanh nhất định sẽ cho chúng ta một đứa con gái.
- Vâng!
Tôn Thượng Hương đáp lại một tiếng, dụi mặt vào vai chồng, dịu dàng nói:
- Ngủ đi! Tối nay chàng rất mệt rồi.
Lưu Cảnh vẫn đang nghĩ đến Giang Đông, hôm nay hắn vừa nhận được tin tình báo, Trương Liêu dẫn năm mươi ngàn đại quân tấn công Hợp Phì, cứ như thế thì Giang Đông sẽ cấp thiếp hy vọng mình xuất binh, mâu thuẫn của quận Kỳ Xuân cũng tự nhiên được tháo gỡ dễ dàng.
Hắn vốn nghĩ rằng Tôn Thượng Hương sẽ nhắc chuyện kết minh Giang Đông với mình, không ngờ nàng không hề đề cập tới, khiến Lưu Cảnh vô cùng cảm động.
Hắn cúi đầu nhìn thê tử, thấy nàng đã ngủ liền cẩn thận đặt đầu nàng xuống gối, còn hôn lên má nàng, không lâu sau, hắn cũng chìm trong giấc ngủ thật say.
Chương 651: Xuất binh Hợp Phì.
Sáng sớm ngày hôm sau, xe ngựa của Lưu Cảnh đã phủ Phiêu Kỵ tướng quân trong sự hộ tống của hơn một trăm thân vệ kỵ binh, đây là lần đầu tiên trong năm nay hắn tới nơi này.
Lúc này vừa bước qua giờ mão, trời vẫn còn chưa sáng rõ, bầu trời phía đông nhuộm đỏ ánh bình minh, từng đường ánh rạng đông xuyên qua tầng mây, bao phủ lên toàn bộ thành trì một tầng vàng óng.
Bên ngoài đại môn phủ tướng quân, liên tục có rất nhiều quan viên đến vào triều, mấy viên quan đang ân cần thăm hỏi, hàn huyên nói chuyện với nhau trước đại môn, lúc này có người hô:
- Châu Mục đến rồi!
Các quan viên lần lượt tránh đường, xe ngựa của Lưu Cảnh từ từ dừng lại, hắn bước xuống từ trên xe, gật đầu cười với đám đông, các quan cùng nhau tiến lên khom người thi lễ:
- Tham kiến Châu Mục!
- Sớm như vậy đã vội tới xuất triều, vất vả cho mọi người rồi.
Mọi người đều cười nói:
- Bọn ty chức đã quen rồi, trái lại Châu Mục nam chinh bắc chiến, tâm lo chuyện thiên hạ mới là vất vả thật sự.
Lưu Cảnh cười bước vào đại môn phủ tướng quân. Phủ tướng quân chính là châu nha của Ích Châu trước đây, qua mấy lần sửa chữa đã tạo nên khu kiến trúc gần năm trăm mẫu, khí thế khoáng đạt, bước vào đại môn sẽ thấy một quảng trường rộng lớn, ở giữa lập song khuyết, chính diện là Tập hiền đường của phủ tướng quân, trên thực tế chính là chính điện, hai bên là các quan sở.
Sau lưng đại đường nghị sự là nội đường nghị sự trước kia, giờ đổi tên là Bình Chương đài, cũng là nơi năm Thượng thư thảo luận chuyện chính vụ quân nước, xung quanh có mười ba kiến trúc tương đối nhỏ, đối diện với Thập tam Tào, là cơ quan thi hành cụ thể của Bình Chương đài.
Bên trái Bình Chương đài là quan phòng của Lưu Cảnh, tuy nhiên hôm nay Lưu Cảnh không đi thẳng vào quan phòng của mình, mà tới Bình Chương đài, hắn đã ký mệnh lệnh ở Hán Trung, tuyên bố thành lập chế độ năm Thượng Thư, nhưng đây vẫn là lần đầu tiên hắn tới Bình Chương đài.
Lưu Cảnh vừa bước vào Bình Chương đài đã chạm mặt Tư Mã Ý. Tư Mã Ý khẽ giật mình, vội tới thi lễ:
- Sao Châu Mục lại tới đây?
Lưu Cảnh cười đáp:
- Nghỉ ngơi ba ngày cũng đủ rồi, Trọng Đạt sau khi từ Tương Dương trở về không nghỉ ngơi đã sao?
- Vi thần cũng nghỉ một ngày, có điều công việc quá nhiều, vi thần được các vị Thượng thư mời đến nghị sự.
- Nói ra là ta đã đẩy những việc chính vụ vụn vặt cho mọi người rồi, ta thoải mái rồi nhưng các ngươi lại vất vả, nghĩ lại vẫn thấy có chút áy náy.
Lưu Cảnh mỉm cười nói.
Lúc này, sau lưng có tiếng nói vang vọng truyền tới:
- Châu Mục nên tập trung tinh lực suy xét thiên hạ đại sự, những việc chính vụ vụn vặt này để bọn ty chức gánh vác thay Châu Mục là được.
Lưu Cảnh quay đầu lại, hóa ra là Đổng Hòa liền cười gật đầu:
- Hóa ra là Đổng Thượng thư!
Đổng Hòa vội tiến đến thi lễ:
- Tham kiến Châu Mục!
Đổng Hòa trước đây là thủ lĩnh của Đông Châu sĩ ở Ba Thục, y đảm nhiệm chức một trong năm Thượng thư, chính là đại diện cho lợi ích của Đông Châu sĩ; Phí Quan lại đại diện cho lợi ích của phe bản thổ ở Ba Thục; Từ Thứ đại diện cho phe Giang Hạ trước đây; Tư Mã Ý đại diện cho phe phương bắc, còn Tưởng Uyển đại diện cho Kinh Châu hệ, năm Thượng thư đều có bối cảnh thế lực riêng. Là người giữ quyền lực cao nhất, mặc dù bản thân Lưu Cảnh không thích cục diện phân rõ phe phái thế này nhưng hắn cũng phải thích ứng với thực tại, cân bằng nhu cầu lợi ích các bên, nếu không nội bộ sẽ xảy ra tranh giành lợi ích, từ đó ảnh hưởng đến đại kế thiên hạ của hắn.
Lưu Cảnh hỏi Đổng Hòa:
- Mọi người đã tới chưa?
Đồng Hòa gật đầu:
- Hôm nay phải bàn bạc chuyện liên minh với Giang Đông, mọi người đến từ sáng sớm rồi, chiều qua Lã Phạm đã gửi một bức thư đến, tỏ ý muốn từ bỏ quận Kỳ Xuân, mau chóng kết minh, vì thế mọi người phải bàn bạc phương án cụ thể.
Lúc này, Tòng sự Phí Y bước nhanh lên, thi lễ với Lưu Cảnh rồi nói với Tư Mã Ý và Đổng Hòa:
- Đã đến giờ rồi, hai vị Thượng thư xin mời!
- Đang gấp rút rồi, chúng ta đi thôi! Hôm nay ta muốn dự thính một chút.
Lưu Cảnh cười ha hả, lững thững đi vào nội đường.
Trong nội đường bố trí trang trọng, bốn cột trụ lớn đứng sừng sững ở đại sảnh, treo những bức màn che cao mấy trượng, ở giữa đặt năm chiếc bàn hình bán nguyệt, trải đệm mềm, đây là chỗ ngồi của năm Thượng thư, phía sau còn có mấy chục chiếc bàn nhỏ, đó là vị trí của các Thương thư tòng sự và Thập tam Tào Tào lệnh cùng các chủ quan, thông thường chỉ có Thượng thư tòng sự ngồi, các chỗ khác đều trống, chỉ có một số nghị sự đặc biệt quan trọng thì bọn họ mới tham gia.
Ở phía trên bên trái chỗ ngồi của năm Thượng Thư, còn có một chiếc bàn rất lớn, đó là chỗ ngồi của Lưu Cảnh, trên bàn trải gấm vàng óng ánh và đặt hai con dấu của Châu Mục. Đương nhiên, chiếc bàn này chỉ có ý nghĩa tượng trưng, thực ra cũng là đặc điểm của chính trị Hán Đường, Hoàng đế không quản chính vụ, thực quyền chính vụ nằm trong tay Tướng quốc.
Nhưng cũng không phải hoàn toàn chiếm hết quyền lực của Lưu Cảnh, hôm nay chủ yếu thảo luận việc liên minh với Giang Đông, vì thế hôm qua Từ Thứ đã đặc biệt tới bái kiến Lưu Cảnh, trưng cầu ý kiến của hắn, hơn nữa quyết nghị liên minh cuối cùng vẫn cần Lưu Cảnh ký tên mới có thể thông qua.
Lưu Cảnh ngồi xuống chỗ của mình, hắn không can thiệp vào việc nghị sự của năm Thượng thư, đây là vấn đề nguyên tắc, hắn cũng không muốn phả bỏ nguyên tắc này, lúc này, năm vị Thượng thư đều đang ngồi, nghị sự vẫn chưa chính thức bắt đầu.
Lưu Cảnh cười nói:
- Nghị sự còn chưa bắt đầu thì ta nói với mọi người một tin trước, Tào Tháo đã phái Trương Liêu dẫn năm mươi ngàn quân phản công Hợp Phì, hiện tại tình thế ở Hợp Phì căng thẳng, Tôn Quyền nóng lòng muốn chúng ta xuất binh trợ chiến.
Nội đường lập tức xôn xao tiếng bàn luận, mọi người giờ mới biết tại sao sứ giả Giang Đông lại nóng lòng muốn kết minh, hóa ra là Hợp Phì xảy ra chiến sự, lúc này, Phí Quan hỏi:
- Xin hỏi Châu Mục, tin tức này có từ lúc nào?
- Đây là tin tức tối qua ta vừa nhận được, nghe nói Tôn Quyền đã đích thân dẫn quân tới Hợp Phì, chiến cục hẳn là bất lợi cho Giang Đông, cho nên Tôn Quyền mới nóng ruột muốn kết minh.
- Vậy Châu Mục quyết định xuất binh sao?
Tưởng Uyển lại tiếp lời hỏi.
Lưu Cảnh cười đáp:
- Việc này phải xem chư vị và sứ giả Giang Đông đàm phán thế nào, nếu có thể thỏa đàm, ta sẽ xuất binh, ngoài ra hôm qua ta cũng nói với Nguyên Trực, hồ Bành Trạch đe dọa khá lớn tới Sài Tang, huyện Bành Trạch có thể giao trả cho Giang Đông, nhưng hồ Bành Trạch thì không thể trả, hiện giờ tình hình đã thay đổi, Giang Đông đã chủ động yêu cầu kết minh, vậy thì ngoài đường thủy Trường Giang ở phía đông quận Kỳ Xuân ra, các vùng đất còn lại đều không nhượng bộ.
……
Việc kết minh của hai nhà Tôn – Lưu do Tôn Quyền nhượng bộ nên cuối cùng đã đi đến nhất trí, Kinh Châu giữ được quận Kỳ Xuân, huyện Bành Trạch và hồ Bành Trạch, cuối cùng chỉ nhượng bộ rất ít, trả lại đường thủy Trường Giang dài ba trăm dặm ở phía đông quận Kỳ Xuân cho Giang Đông.
Kết minh còn cần chủ công hai nhà ký tên đóng ấn, đi đi về về ít nhất mất mấy tháng, trong khi tình thế của Hợp Phì đã cực kỳ khẩn trương, Lưu Cảnh liền đồng ý để thủy quân Kinh Châu đi trước một bước, chạy tới cứu viện Hợp Phì.
Sáng nay, trên mặt sông phía đông Sài Tang, một đội thuyền gồm năm trăm chiến thuyền đang xếp thành hàng chạy trên mặt sông, đội tàu có thanh thế lớn, kéo dài mấy chục dặm, đây là hai mươi ngàn thủy quân Kinh Châu do Cam Ninh dẫn đầu tới Hợp Phì trợ giúp quân Giang Đông theo lệnh của Lưu Cảnh.
Trên chiếc thuyền đầu tiên, Cam Ninh tay cầm chiến đao nhìn chăm chú vào mặt sông mênh mông, y trở về Giang Hạ chưa đến một tháng, lại tiếp tục khởi hành đi Hợp Phì, có lẽ trải qua cuộc chiến Hợp Phì, y vô cùng lo lắng đối với cuộc phản công Hợp Phì lần này của Tào Tháo, không biết Hổ Báo kỵ của quân Tào có tham chiến hay không, nếu Hổ Báo kỵ cũng ở trong đó thì tình thế của quân Giang Đông quả thật bất lợi.
Đang trầm tư thì có binh lính chỉ vào mặt sông hét lên:
- Cam tướng quân, bên kia hình như có thuyền đang gọi chúng ta!
Cam Ninh đi đến mạn thuyền, chỉ thấy một con thuyền năm trăm thạch đang quay đầu, trên cột buồm treo quân kỳ của quân Giang Đông, một mặt hồng kỳ đang tung bay, đây là cờ hiệu, tức là thỉnh cầu lên thuyền, Cam Ninh lập tức ra lệnh:
- Đi chậm lại, tiếp đối phương lên thuyền!
Chiến thuyền từ từ đi chậm lại, không lâu sau, con thuyền của Giang Đông đã tới gần, một tên lính báo tin trèo lên thuyền, gã tiến lên quỳ một gối thi lễ:
- Ty chức là quân hầu của quân Giang Đông, phụng mệnh của Ngô hầu tới Giang Hạ truyền tin.
Nói xong, gã rút một ống thư ra, hai tay dâng lên Cam Ninh, đây là thư tay do Lỗ Túc viết cho Cam Ninh, đương nhiên, nếu là thư tay của Tôn Quyền thì nên là viết cho Lưu Cảnh, rõ ràng thời gian đã không kịp nữa.
Cam Ninh mở ống thư ra xem, giọng điệu của Lỗ Túc trong thư khá cấp thiết, hy vọng y có thể mau chóng xuất binh chi viện Hợp Phì, Hợp Phì đang trong tình thế nguy cấp.
Điều này khiến Cam Ninh không khỏi giật mình, tại sao Lỗ Túc lại vội vã như vậy? Còn nữa tại sao tình thế của Hợp Phì lại nguy cấp, tại sao không phải là Tiếu huyện hay Thọ Xuân? Trong thư không có câu trả lời, Cam Ninh liền hỏi tên quân hầu đưa thư:
- Quân Giang Đông đã từ bỏ Tiếu huyện và Thọ Xuân chưa?
Quân hầu thở dài:
- Tiếu Huyện đã từ bỏ rồi, nhưng Thọ Xuân lại là binh bại, Hoàng tướng quân ở Thọ Xuân đã bị quân Tào hỏa công, chiến thuyền thiêu rụi hầu như không còn, tổn thật hàng chục ngàn người, Hoàng tướng quân bị buộc phải rút về Hợp Phì.
- Thế Ngô hầu đã tới đâu rồi?
Cam Ninh lại hỏi.
- Khi ty chức xuất phát thì Ngô hầu đang ở Nhu Tu Thủy, tiến về phía Hợp Phì, vì sợ quân Tào hỏa công nên không đi đường thủy, chiến thuyền đều dừng lại ở Nhu Tu, đi theo đường bộ tới Hợp Phì.
- Ngô hầu dẫn theo bao nhiêu quân đội?
- Chừng một trăm ngàn quân.
Nghe thấy Tôn Quyền dẫn một trăm ngàn quân đi cứu viện Hợp Phì, Cam Ninh thở phào nhẹ nhõm, y cười nói với quân hầu:
- Yên tâm đi! Ta chính là tới Hợp Phì để trợ giúp quân Giang Đông, ta sẽ mau chóng đến.
- Đa tạ Cam tướng quân!
Quân hầu xuống thuyền, lúc này, Thẩm Di chậm rãi bước tới cạnh Cam Ninh thì thầm:
- Tướng quân, Tôn Quyền không dám đi thuyền lên phía bắc mà lại trông ngóng thủy quân chúng ta, điều này hình như có gì đó khó lường!
- Việc này ta biết!
Cam Ninh thở dài:
- Tôn Quyền không phải bụng dạ khó lường, mà là việc bày rõ trước mắt, giữ Hợp Phì phải cần thủy quân, gã lại sợ hỏa công không dám đi thuyền, trông cậy chúng ta tới, có điều quân Giang Đông nếu trận này bại, e rằng không bao giờ dám bắc chinh nữa, bất lợi đối với việc chia sẻ áp lực của chúng ta, xét từ đại cục, chúng ta nhất định phải ném sự bất mãn với quân Giang Đông đi.
Nói đến đây, Cam Ninh lập tức hạ lệnh:
- Truyền lệnh của ta, tốc độ chiến thuyền tăng thêm ba mươi phần trăm nữa.
Tốc độ chiến thuyền của thủy quân Kinh Châu vốn chạy đều đặn trên mặt sông, nay một lần nữa tăng tốc, Cam Ninh đã thay đổi kế hoạch tiếp viện, trước đây dự tính tám ngày tới Hợp Phì, nay đổi thành năm ngày, thủy quân Kinh Châu chạy ngày đêm không ngừng nhỉ, nhưng dù sao đường xá xa xôi, mà lúc này, nguy cơ của Hợp Phì đã vô cùng cấp bách.
Chương 652: Đại chiến Hợp Phì.
Trương Liêu khi rút binh về Phàn Thành đã bị quân Hán bao vây, gần như toàn quân bị diệt, nếu không phải Tào Tháo dùng điều kiện chính trị cực lớn để chuộc quân đội của y ra thì ngay cả bản thân Trương Liêu cũng sẽ trở thành tù binh của quân Hán, nhưng Tào Tháo không vì y suýt nữa khiến hậu quân bị tiêu diệt mà lạnh nhạt với y, trái lại, khi Tào Tháo rút quân về Nghiệp Đô, lại lần nữa trọng dụng Trương Liêu, lệnh cho y dẫn năm người ngàn quân thu phục Hợp Phì.
Biết hổ thẹn sau đó sẽ dũng mãnh, sự nhẫn nhịn trong lòng Trương Liêu ở Kinh Châu cuối cùng đã trút hết xuống quân Giang Đông, năm mươi ngàn đại quân bức lui quân Giang Đông ở Tiếu huyện, rồi thừa thắng xông lên tấn công Thọ Xuân, đốt cháy chiến thuyền quân Giang Đông ở Phì Thủy, ba trăm chiến thuyền của quân Giang Đông đều bị đốt sạch banh, hơn mười ngàn quân chỉ chạy thoát được hơn trăm người, số binh lính còn lại toàn bộ chết trong lửa lớn và dưới mũi tên.
Trương Liêu có tác phong quyết đoán, lập tức dẫn quân xuôi phía nam tấn công Hợp Phì, lúc này Hợp Phì chỉ còn lại hơn mười ngàn quân canh giữ, chủ tướng Hoàng Cái vô cùng sợ hãi, trong đêm gửi thư cầu cứu Tôn Quyền.
Trong Liêu bao vây tấn công Hợp Phì đã quá mười ngày, lần này đánh thành Hợp Phì, hai bên đều có tổn thất, nhưng quân Tào có năm mươi ngàn người, trong khi quân Giang Đông chỉ có hơn mười ngàn lính, tổn thất hàng nghìn người đối với quân Tào không có ý nghĩa lớn, nhưng lại ảnh hưởng mạnh mẽ tới Giang Đông, binh lực Hoàng Cái đã không đủ mười ngàn, sao ông ta có thể giữ được thành Hợp Phì chứ?
Tuy nhiên lúc này Trương Liêu lại không vội vàng đánh hạ Hợp Phì nữa, mà y kiên nhẫn chờ đợi viện quân của Giang Đông tới, chuyển sang chiến lược bao vây thành đánh viện binh.
Quân Tào hạ đại doanh ở bên ngoài thành phía bắc của Hợp Phì, trải dài mười mấy dặm, lều trại nối tiếp nhau, khí thế to lớn đồ sộ, đây là kế tăng bếp mà Trương Liêu áp dụng, chỉ có năm mươi ngàn quân nhưng lại hạ trại quy mô một trăm ngàn đại quân, như vậy sẽ tạo nên áp lực cực lớn cho quân Giang Đông trong thành, khiến cho sĩ khí quân Giang Đông sụt giảm, cả ngày hoảng loạn bất an.
Trong đại trướng quân Tào, Trương Liêu đang cùng Phó tướng Lý Điển bàn bạc đối sách, lần này bọn họ phối hợp hết sức ăn ý, không còn sự mâu thuẫn nhỏ như ở Kinh Châu, có một số việc dù không nói toạc ra, nhưng trong lòng hai người bọn họ đều hiểu, khi giết năm quân sĩ đó ở Kinh Châu, xung quanh ngoài thân binh của Trương Liêu ra, chỉ có một người khác là Lý Điển, ngoại trừ Lý Điển ra, Tào Hồng còn có thể từ đâu mà biết được chi tiết lúc đó?
Nhưng hai người bọn họ đều không nói thẳng ra, hơn nữa sau khi tới Hợp Phì, Trương Liêu không còn so đo việc Lý Điển làm chuyện lén lút sau lưng nữa, hai người toàn lực ứng phó với quân Giang Đông, thời gian dần qua cũng làm phai nhạt sự bất hòa trong quan hệ của bọn họ.
- Hiện chủ lực của quân Giang Đông đã qua Sào hồ, còn cách Hợp Phì khoảng năm mươi dặm.
Trương Liêu dùng cây gỗ chỉ vào đoạn bắc Sào hồ trên sa bàn, trầm giọng nói:
- Nghe nói lần này chủ lực quân Giang Đông do Tôn Quyền đích thân dẫn binh, nếu cuộc chiến này chúng ta có thể đánh bại triệt để Tôn Quyền, vậy thì ít nhất trong năm năm nữa Tôn Quyền sẽ không còn dám dòm ngó phương bắc nữa, như thế sẽ phá vỡ ý nghĩa kết minh giữa Lưu Cảnh và Tôn Quyền.
Lý Điển gật đầu:
- Văn Viễn nói đúng, quả thật như thế, chúng ta không thể chỉ nghĩ đến việc đoạt lại Hợp Phì mà càng phải suy xét cho đại cục, hoàn toàn xóa bỏ dã tâm bắc chinh của quân Giang Đông, như vậy khi chúng ta đối phó với Lưu Cảnh sẽ không cần lo phía đông nam xảy ra chuyện nữa.
Nói đến đây, Lý Điển nhận lấy cây gỗ chỉ vào Giang Hạ hỏi:
- Văn Viễn nghĩ Kinh Châu có xuất binh viện trợ Giang Đông không?
Trương Liêu thở dài:
- Đây cũng là điều ta lo lắng, nếu Giang Châu xuất binh, hoặc là đi qua quận An Lục, qua Nhữ Nam cắt đứt đường lui của chúng ta, đây là đường bộ, hoặc là sẽ đi theo đường thủy Trường Giang tới Hợp Phì, đây là đường thủy, mặc dù đường bộ khá gần nhưng ưu thế của Kinh Châu là thủy quân, ta nghĩ bọn họ sẽ không bỏ ưu thế mà chuốc lấy tình thế xấu đâu, đặc biệt Tào Chân từng dẫn kỵ binh làm cho thủy quân Kinh Châu bị thương nặng, Cam Ninh hẳn là còn rất nhớ.
Lý Điển im lặng một lát nói tiếp:
- Thật ra ta lo thủy quân Kinh Châu sẽ tới kịp thời, chỉ sợ với binh lực của chúng ta đối phó với liên quân Tôn – Lưu sẽ lực bất tòng tâm, ta đề nghị mau chóng xuất chiến, đập tan quân Giang Đông trước khi viện quân Kinh Châu chưa tới, Tôn Quyền vì trốn tránh trách nhiệm nhất định sẽ chỉ trích quân Kinh Châu cứu viện bất lực, như thế sẽ gây ra mâu thuẫn giữa hai nhà Tôn – Lưu.
Trương Liêu giơ ngón tay cái lên cười nói:
- Thừa tướng thường nói với ta, Mạn Thành có tài danh soái, suy nghĩ cẩn thận, nghe được tiếng sấm sét ở nơi yên ắng, quả nhiên không sai, ta nghe theo lời của Mạn Thành, hôm nay sẽ công phá Hợp Phì, chuẩn bị nghênh chiến chủ lực của Tôn Quyền.
Trương Liêu lập tức hạ lệnh:
- Truyền lệnh của ta, đại quân tấn công mạnh mẽ bắc môn!
Y lại nói với Lý Điển:
- Binh lực của Hoàng Cái không đủ, tất sẽ nghĩ gặp may, cho rằng người phương bắc không quen thủy chiến, sẽ không đi theo đường thủy vào thành, Man Thành có thể dẫn ba ngàn quân từ bến Tiêu Dao qua sông để vào thành, phá địch ngay trong đêm nay.
Lúc này đã chạng vạng tối, trống trận trong đại doanh quân Tào bỗng gõ ầm ầm, quân Giang Đông ở đầu thành lập tức khẩn trương, có người vội vàng chạy xuống thành bẩm báo, không lâu sau, Hoàng Cái và Lã Mông nghe tin chạy lên đầu thành, quân Tào dưới thành đã được điều động quy mô lớn, từng đoàn quân Tào như các dòng sông hợp về biển lớn, từ bốn phương tám hướng tập kết về bên ngoài bắc thành, chiến kỳ như mây, giáo thương như rừng, thanh thế oai hùng.
Vẻ mặt Hoàng Cái nghiêm trọng khác thường, trong thành hiện ông ta chỉ có sáu ngàn quân phòng thủ, làm sao có thể ngăn cản quân Tào tiến quân quy mô lớn được, ông thở dài nói với Lã Mông:
- Chiến lược của quân Tào rất rõ ràng rồi, bọn họ chần chừ không chịu công thành chính là đang vây thành đánh viện binh, chờ viện quân của chúng ta đến, giờ thấy viện binh sắp đến nên quân Tào liền quyết định công thành, đây là cuộc tấn công vào thành chính thức, bọn chúng nhất định muốn công hạ Hợp Phì trước đêm nay.
Lã Mông lo lắng hỏi:
- Viện binh của chúng ta sắp tới rồi, nhanh nhất sáng ngày mai có thể đến, chúng ta có thể giữ vững được đến sáng mai không?
- Ta không biết!
Hoàng Cái lắc đầu, nỗi lo trong ánh mắt càng thêm nặng nề, ông kiên quyết nói với Lã Mông:
- Bất kể thế nào chúng ta đều phải dốc toàn lực giữ vững Hợp Phì, nhìn từ tình hình mấy hôm này quân Tào đắp sông có thể thấy quân Tào sẽ tấn công bắc môn và tây môn, bên bắc môn ta phụ trách trấn thủ, Tử Minh sẽ dẫn hai ngàn quân giữ tây môn, chỉ cần kiên trì trụ vững đến khi Ngô hầu đến, chúng ta đã lập được công lớn rồi.
- Ty chức tuân lệnh!
Lã Mông hành lễ, dẫn một đội quân vội vàng chạy tới hướng tây môn, lúc này Hoàng Cái hít sâu một hơi, lớn tiếng ra lệnh:
- Truyền lệnh của ta, tất cả binh lính và dân phu toàn bộ lên thành tham gia phòng ngự.
Quân Giang Đông không chỉ có sáu ngàn binh lính mà còn trưng tập được hai mươi ngàn dân phu cường tráng, gia tăng huấn luyện đơn giản, phát cho bọn họ vũ khí rồi cùng nhau tham gia giữ thành, hai mươi ngàn dân phu này cũng là hy vọng cuối cùng của Hoàng Cái.
Trời mới chập tối, năm mươi ngàn đại quân của quân Tào đã tập kết xong, bọn họ chia làm hai đường, một đường gồm hai mươi ngàn người tấn công Tây thành, Trương Liêu đích thân dẫn ba mươi ngàn lính công đánh Bắc thành, quân Tào ngoài thành đốt đuốc lên, mấy chục ngàn ngọn đuốc chiếu rọi thành trì sáng như ban ngày, trong từng hồi trống trận trào dâng, quân Tào bắt đầu xông vào tường thành như thủy triều.
Qua mười mấy ngày vây thành, mặc dù quân Tào không công thành nhưng bọn họ cũng không nhàn rồi, mà tranh thủ ngày đêm không ngừng dùng bùn đất lấp sông bảo vệ thành, mất mười mấy ngày, bất kể là sông bảo vệ thành ở bắc thành hay tây thành thì đều được đắp quá nửa, sông bảo vệ thành vốn rộng mấy chục trượng đã bị biến mất một phần, còn những phần biến mất của đoạn sông bảo vệ thành này đã trở thành chiến trường chính cho quân Tào công thành tối nay.
Mấy chục ngàn quân Tào vác hàng trăm chiếc thang chen chúc nhau chui lên chỗ hổng dài hai dặm đấy, đông nghịt như đàn kiến, phía sau bọn chúng, mười cỗ xe ổ khổng lồ đang chậm rãi lao tới tường thành.
- Ầm! Ầm! Ầm!
Tiếng trống trận dữ dội dường như muốn gõ nát tâm can của mọi người, mũi tên bắn như mưa cả trên thành và dưới thành, tạo nên từng mảng lớn mây tên đen nghìn nghịt, ép cho các binh lính ở trên và dưới thành đều không thở nổi.
Mười mấy máy ném đã hạng nặng của quân Tào luân phiên phóng ra, từng tảng đá lớn đập vào đầu thành, đá vụn bay lung tung, tường thành sụp đổ, trong tiếng gào thét thê thảm liên tiếp, binh lính Giang Đông cũng giết đỏ cả mắt, bọn họ dùng đá lớn và lăn cây để đập về phía thang công thành của quân Tào, chỉ thấy từng tối liên tiếp binh lính quân Tào bị đập ngược lại rớt xuống thành, phát ra tiếng kêu thê lương.
- Tướng quân, đông bắc nguy cấp rồi, các huynh đệ không chống đỡ nổi nữa!
Một tên lính gấp rút bẩm báo với Hoàng Cái:
- Xe ổ đã tới gần thành trì, binh lực quân địch quá nhiều.
Hoàng Cái cũng nhìn thấy, ba cỗ xe ổ ép sát góc phía đông bắc, vô số quân Tào dọc theo xe tấn công về phía đầu thành, hơn một trăm binh lính Giang Đông liều chết chống cự, quả thật đã sắp chống đỡ không nổi nữa rồi, Hoàng Cái gấp đến độ đổ mồ hôi đầy đầu, quay đầu lại hô:
- Tất cả quân hậu bị đi tiếp viện góc đông bắc!
- Khởi bẩm tướng quân, quân hậu bị đã bị ép lên toàn bộ rồi ạ.
- Vậy hãy để dân phu, điều ba ngàn dân phu lên thành.
Hoàng Cái hét lớn.
Đúng lúc này, lại một tên lính chạy vội tới, gấp rút bẩm báo:
- Hoàng tướng quân, tây thành nguy cấp, sắp không cản nổi nữa rồi, Lã tướng quân thỉnh cầu trợ giúp.
Hoàng Cái hít sâu một hơi, xua tay ra hiệu binh lính chờ một chút, lúc này, tên lính chạy ra điều động dân phu sợ hãi chạy tới bẩm báo:
- Hoàng tướng quân, toàn bộ dân phu đều chạy mất rồi, chỉ còn lại mấy chục người.
Hoàng Cái ngây người, ông bước nhanh tới trước tường góc lan can, thò đầu nhìn xuống dưới, chỉ thấy chỗ dân phu tập kết trống không, quả thực không nhìn thấy một bóng người, các loại binh khí ném đầy đất, hàng chục ngàn dân phu chạy trốn hết sạch, khiến cho Hoàng Cái lạnh người, binh lính cứu viện ở bên cạnh nói:
- Dân phu tây thành cũng chạy hết, bọn họ không chịu bán mạng cho quân Giang Đông.
Hoàng Cái tâm trạng hoảng loạn, làm sao bây giờ? Mới một canh giờ đã không chống đỡ nổi, thật sự phải bỏ thành mà chạy sao?
Ông chợt nhớ ra một việc liền quay ngoắt đầu lại hỏi:
- Tình hình ở phía bến Tiêu Dao thế nào?
- Hồi bẩm tướng quân, phía bến Tiêu Dao rất yên tĩnh, không có quân Tào tiến công.
Khi Hoàng Cái đang bố trí binh lực, lo lắng quân Tào từ bến Tiêu Dao ở phía đông vào thành nên đã bố trí riêng một ngàn quân ở phía đó, một ngàn binh lính ấy đã trở thành cây cỏ cứu mạng của ông, quân Tào đa phần là binh lính phương bắc, không giỏi thủy chiến, khả năng vào thành từ bến Tiêu Dao cực nhỏ, mặc dù cũng có một chút chút khả năng, nhưng Hoàng Cái giờ chẳng quan tâm nữa, ông lập tức hạ lệnh:
- Lệnh cho Trương tướng quân bỏ phòng ngự ở bến Tiêu Dao, lập tức dẫn quân đến chi viện bắc thành và tây thành.
Một ngàn quân phòng thủ Giang Đông ở bến Tiêu Dao nhận được mệnh lệnh của Hoàng Cái đã chia làm hai đường đến cứu viện bắc thành và tây thành, phòng ngự ở bến Tiêu Dao biến mất, lúc này, thuyền quân Tào chờ đợi đã lâu xuất hiện, tổng cộng hơn trăm chiếc thuyền nhỏ, chở đầy ba ngàn quân Tào lặng lẽ tiến vào trong thành.
Quân Tào quả thật không giỏi thủy chiến, nhưng Hoàng Cái lại bỏ qua một sự thật, Tào Tháo nhiều năm huấn luyện thủy quân trong hồ Huyền Vũ phía bắc Nghiệp Đô, qua nhiều năm huấn luyện, quân Tào lúc này đã không còn là quân Tào yếu ớt sợ nước như ở đại chiến Xích Bích nữa, ít nhất đi thuyền đã không còn là vấn đề, huống hồ mặt nước ở bến Tiêu Dao yên lặng, sóng không lớn nên hoàn toàn không gây ảnh hưởng tới quân Tào.
Lý Điển tay cầm trường thương và tấm chắn, ánh mắt sắc bén nhìn chằm chằm phía trước, y không nhìn thấy bất kỳ quân địch nào, từng chiếc thuyền nhỏ chậm rãi cập bờ, quân Tào chuẩn bị đổ bộ, Lý Điển nhảy lên bờ, y cảnh giác nhìn bốn phía một lát rồi vung tay lên, vô số quân Tào rời thuyền lên bờ, nhanh chóng tập kết ở trên bờ.
Không lâu sau, ba ngàn quân Tào đã tập kết xong, Lý Điển hô lớn:
- Các huynh đệ, phá thành ngay trong đêm nay, người đầu tiên xông vào thành sẽ được thưởng hai trăm lượng!
Được việc trọng thưởng cám dỗ, ba ngàn quân Tào chen lấn xô đẩy xông vào trong thành Hợp Phì.
Chương 653: Tương kế tựu kế.
Cho dù có 1 ngàn binh lính đến tiếp viện cho bắc thành và tây thành nhưng quân Tào càng lúc càng bị nhiều xe phá đâm vào tường thành. Phòng ngự đầu thành cuối cùng cũng bị phá, vẫn còn góc đông bắc, quân Giang Đông bị quân Tào đánh tan. Mấy trăm quân Tào chen chúc xông lên đầu thành, bọn họ nhanh chóng chiếm đầu thành mở ra một thông đạo.
Hoàng Cái dẫn theo hơn 1 ngàn binh lính chống đỡ quân Tào một cách khổ sở. Lúc này có một tên lính chạy đến thấp giọng bẩm báo:
- Hoàng tướng quân, góc đông bắc thất thủ rồi.
Hoàng Cái quay đầu nhìn lại chỉ thấy quân địch ở góc đông bắc không ngừng xông lên thành, có chưa đến 100 tên lính liều mạnh chống cự. Trong lòng Hoàng Cái nóng như lửa đốt, ông quát tên cấp dưới bên cạnh:
- Ngươi nhanh chóng dẫn theo ba trăm huynh đệ đến phòng ngự góc đông bắc!
Vừa dứt lời thì trong thành có tiếng kêu la thảm thiết, có lính vội chạy vào khóc lóc hô lên:
- Hoàng tướng quân, mấy ngàn quân Tào từ bến sông Tiêu Dao đang giết vào thành!
Hoàng Cái chỉ cảm thấy đấu ong ong, rồi trở nên trống rỗng. Lúc này có hơn 10 gã thân binh đang nhìn ông chờ quyết sách. Hoàng Cái chậm rãi thở dài, vẻ mặt đầy chua xót, mặc dù liều chết chống cự nhưng Hợp Phì cũng bị thất thủ rồi.
Kế hoạch lúc đầu của Tôn Quyền là đợi cho thủy quân Kinh Châu đến rồi hai binh cùng hợp một chỗ. Do thủy quân Kinh Châu đi đường thủy, y dẫn theo 100 ngàn quân đi đường bộ, thủy bộ đồng tiến cứu Hợp Phì. Nhưng một phong thư cầu viện của Hoàng Cái lại tới, Tôn Quyền cũng biết tình thế Hợp Phì nguy cấp không thể chậm trễ nữa.
Y không đợi được thủy quân Kinh Châu đến nữa mà ngày đêm hành quân đến Hợp Phì. Đối với Tôn Quyền mà nói, Hợp Phì có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng trong bản đồ phía bắc Trung Nguyên. Chỉ cần thủ vững Hợp Phì, một khi Tào Tháo bị Lưu Cảnh đánh ở tuyến tây, bất cứ lúc nào y cũng có thể xuất phát về Trung Nguyên.
Ngược lại, nếu mất Hơp Phì, chỉ e trong vòng 10 năm Giang Đông cũng không thể dùng binh lên bắc. Có thể nói, cuộc chiến Hợp Phì có liên quan đến cuộc chiến trong tương lai của Giang Đông. Là một nơi an toàn hay là bắc đồ Trung Nguyên để từ đó thống lĩnh thiên hạ.
Chính vì sự quan trọng của Hợp Phì nên Tôn Quyền mới đích thân dẫn theo 100 ngàn đại quân lên bắc cứu viện cho Hợp Phì.
Một trăm ngàn đại quân dọc theo bờ đông Bỉ Thủy hăng hái hành quân lên bắc. Lúc này bọn họ còn cách Hợp Phì có 20 dặm chỉ cần đi một canh giờ nữa là đến. Trong lòng Tôn Quyền nóng như lửa đốt, mấy canh giờ trước y đã nhận được tin cầu viện của Hoàng Cái nói, quân Tào đã bắt đầu tấn công vào thành Hợp Phì trên quy mô lớn nhưng bây giờ lại không có tin tức gì, khiến Tôn Quyền đứng ngồi không yên.
Một trăm ngàn đại quân kéo dài hơn 10 dặm, chạy gấp trên đường bên bờ sông lớn, lúc này đã là canh tư, hai bên đường vẫn tối om, không một ngọn đèn, yên tĩnh lạ thường. Chỉ có tiếng hành quân dồn dập của đại quân lên bắc.
Bỗng nhiên có thị vệ chỉ về phía trước hô to:
- Tướng quân mau nhìn về phía trước, hình như có đội quân.
Tôn Quyền ghìm chặt chiến mã, dường như y đã nhìn thấy mấy dặm về phía trước có một đội quân đang gấp rút chạy về phía này. Tiếng vó ngựa xôn xao, lúc này Thái Sử Từ dẫn theo 3 ngàn nỏ binh tinh nhuệ của quân Giang Đông bố trí trận hình phòng ngự trên đường, 3 ngàn quân nỏ đang giương nỏ lạnh lùng nhắm về phía bắc.
Có một đội kỵ binh vội chạy lên trước tìm hiểu tình hình. Một lát sau, có lính về bẩm báo:
- Khởi bẩm chủ công, là Hoàng tướng quân và Lã tướng quân.
Tôn Quyền trầm xuống, y lập tức biết rằng Hợp Phì đã xảy ra chuyện. Một lúc lâu sau y mới ra lệnh nói:
- Dẫn Hoàng tướng quân đến gặp ta.
Rất nhanh, một đội kỵ binh dẫn Hoàng Cái tiến lên, cả người Hoàng Cái toàn là máu, trên người trúng mấy mũi đao, nhìn ông có vẻ kiệt sức, ông đi lên ôm quyền thi lễ nói:
- Ty chức có tội, không thể bảo vệ Hợp Phì, hổ thẹn với chủ công!
Quả nhiên là Hợp Phì đã thất thủ, trong lòng Tôn Quyền vô cùng chán nản. Một lúc lâu sau y mới thở dài nói với xung quanh:
- Dẫn Hoàng lão tướng quân đi trị thương!
Hoàng Cái vô cùng áy náy trong lòng, ông muốn nói gì đó nhưng rồi lại không thể mở miệng đành đi theo binh lính. Tôn Quyền bảo người tìm Lã Mông đến hỏi ông ta:
- Còn bao nhiêu quân đội?
- Khởi bẩm chủ công, còn lại hơn 2 ngàn người!
Tôn Quyền đau đớn vô cùng, 2 vạn người trấn thủ Hợp Phì mà chỉ còn lại hơn 2 ngàn người. Tổn thất quá thê thảm và nghiêm trọng nhưng số tổn thất vẫn đang tiếp tục tăng lên. Quan trọng Hợp Phì là nơi trọng yếu đã bị mất khiến y khó lòng mà chấp nhận được. Y trầm tư một lúc lâu sau mới không cam lòng hỏi:
- Quân Tào còn bao nhiêu?
- Khởi bẩm chủ công, quân Tào lúc đầu có hơn 5 vạn 3 ngàn người, nhưng qua đại chiến, bọn chúng cũng bị tổn thất 7-8 ngàn người, có lẽ bây giờ chỉ còn hơn 4 vạn người.
Lúc này, Lỗ Túc chậm rãi thúc ngựa lên phía trước nói:
- Tường thành Hợp Phì cao rộng, chúng ta cũng không mang vũ khí phá thành cỡ lớn, chỉ e khó mà phá thành, chi bằng rút về Giang Đông trước sau đó tình tiếp.
Tôn Quyền lắc đầu nói:
- Ta hao binh tổn tướng mất gần 2 vạn người, cứ như vậy mà về ta thực sự không cam lòng.
Lục Tốn ở bên cạnh hiểu được tâm tư của Tôn Quyền liền chắp tay nói:
- Khởi bẩm chủ công, vi thần cho rằng chúng ta vẫn có hy vọng cướp lại Hợp Phì.
- Ngươi nói tiếp đi!
Tôn Quyền lập tức trở nên linh hoạt.
Lục Tốn cười nói tiếp:
- Như Lỗ đô đốc nói, thành Hợp Phì tường thành cao rộng khó mà tấn công, nhưng Hợp Phì lại có một nhược diểm, chúng ta có thế nắm lấy nhược điểm này. Lã tướng quân chắc là biết nhược điểm này ở chỗ nào?
Nói đến đây, Lục Tốn liếc nhìn Lã Mông cười cười. Từ cuộc chiến Sài Tang năm đó, Lục Tốn dẫn binh chạy trốn trước khiến Lã Mông bị bắt. Quan hệ của Lã Mông và Lục Tốn vẫn không được tốt nhưng hai người không biểu lộ ra ngoài, chỉ âm thầm làm khó đối phương.
Tôn Quyền lại hỏi Lã Mông:
- Nhược điểm ở chỗ nào?
Trong lòng Lã Mông rất khó chịu, ý của Lục Tốn chính là ám chỉ họ phòng ngự không nghiêm cho nên mới bị quân Tào đột nhập vào bến sông Tiêu Dao, chỉ có điều không thể không trả lời Ngô hầu. Lã Mông chỉ khom người nói:
- Khởi bẩm chủ công, nhược điểm của Hợp Phì chính là bến sông Tiêu Dao, là một hồ nước không có tường thành, có thể trực tiếp qua hồ vào thành.
Lúc này, Tôn Quyền bỗng hiểu ý của Lục Tốn, y lập tức hỏi:
- Ý của Lục tướng quân là, có thể đợi cho thủy quân Kinh Châu đến, lợi dụng thủy quân Kinh Châu đến để đột phá bến sông Tiêu Dao?
Lục Tốn gật đầu:
- Ý của vi thần chính là như vậy!
Lỗ Túc ở bên cạnh vội la lên:
- Xin Ngô hầu hãy bình tĩnh, chúng ta đang tiếp viện cho Hoàng tướng quân chứ không phải phá thành. Chúng ta chuẩn bị không đầy đủ nếu thay đổi quyết định gấp gáp như vậy chỉ e bất lợi cho cục diện. Ngô hầu nên rút quân trước chuẩn bị chu đáo rồi hãy tấn công Hợp Phì.
Tôn Quyền đã có mưu mô với Hợp Phì từ lâu, làm sao có thể dễ dàng từ bỏ chứ? Y không nghe theo lời khuyên của Lỗ Túc mà hạ lệnh:
- Truyền lệnh của ta, đại quân tiếp tục lên bắc, đóng quân ở bên Tiêu Dao phía đông Hợp Phì!
Một trăm ngàn đại quân lại xuất phát, lũ lượt hướng về phía thành Hợp Phì. Một canh giờ sau họ đã đến bờ bến Tiêu Dao, phía đông thành Hợp Phì bắt đầu dựng trại trên một mảnh đất trống.
Trong doanh trại của quân Giang Đông hoàn toàn yên tĩnh, qua 1 ngày 1 đêm hành quân tức tốc, lính đã kiệt sức đang nghỉ ngơi trong đại trướng, còn quân Tào cũng vừa mới cướp được Hợp Phì cần phải ổn định lại, tạm thời không tấn công quân Giang Đông. Cả hai bên tạm thời ngừng chiến.
Trong doanh trại quân Giang Đông, Lục Tốn vội vàng đi đến trước đại trướng của Tôn Quyền nói với thị vệ:
- Xin hỏi Ngô hầu đã ngủ chưa?
Lúc này, có tiếng của Ngô Quyền trong đại trướng vọng ra:
- Mời Bá Ngôn vào!
Lục Tốn gật đầu với thị vệ rồi nhanh chóng bước vào. Trong đại trướng, Tôn Quyền đang đứng khoanh tay xem xét địa hình trên sa bàn. Đây cũng là công cụ tác chiến tiên tiến mà Giang Đông học tập Kinh Châu. Sau đại chiến Xích Bích, Tôn Quyền liền sai người làm sa bàn Giang Đông. Mấy trăm thợ thủ công mất 1 năm cuối cùng cũng làm thành công sa bàn toàn cảnh Giang Đông, bao gồm cả Kinh Châu và mấy nơi của Giang Bắc. Phía bắc xa xôi chính là Thọ Xuân, sa bàn dài khoảng 3 trượng, do 8 mảnh sa bàn nhỏ ghép lại, rất dễ để mang theo lúc hành quân.
Lục Tốn tiến lên thi lễ nói:
- Tham kiến Ngô hầu!
- Bá Ngôn có chuyện gì sao?
Tôn Quyền hỏi.
Lục Tốn gật gật đầu nói:
- Vi thần tuần tra doanh trại, phát hiện các tướng sĩ vì Hợp Phì thất thủ mà sĩ khí mê muội, nếu chúng ta muốn đánh thắng trận chiến này thì nhất định phải nâng cao sĩ khí, lòng quân.
- Ta cũng biết sĩ khí không phấn chấn, Bá Ngôn có cách gì hay không?
Tôn Quyền nhìn chằm chằm mà hỏi.
- Khởi bẩm Ngô hầu, cách để nâng cao sĩ khí rất đơn giản, chính là phải đánh thắng trước, như vậy sĩ khí sẽ lên cao. Vi thần có 1 kế, có thể đánh bại quân Tào.
- Kế gì, mau nói tiếp!
Lúc Tốn cười cười:
- Vừa rồi, vi thần đi thăm Hoàng lão tướng quân bị thương, ông ấy có nói cho vi thần biết. Kho lương thực của Hợp Phì chỉ còn hơn 3 vạn thạch, phần lớn lương thực đều được giữ ở Thọ Xuân. Nếu quân Tào định đánh lâu dài với chúng ta thì chắc chắn phải vận chuyển lương thực từ Thọ Xuân đến. Chắc sẽ rất nhanh được vận chuyển bằng đường thủy đến Hợp Phì. Vi thần nguyện mang một đội quân đi phục kích thuyền lương thực, cướp lấy Thọ Xuân.
Tôn Quyền cảm giác Lục Tốn vẫn chưa nói hết, lại hỏi:
- Bá Ngôn nói chưa hết?
- Vâng, Vi thần còn muốn nói, chỉ cần quân Giang Đông lên bắc đánh Thọ Xuân, tất nhiên quân Tào sẽ cho binh bảo vệ Thọ Xuân. Chúng ta sẽ tiêu diệt luôn đội viện quân này. Cho dù quân Kinh Châu không đến nhiều nhất một tháng quân Tào cũng sẽ duy trì không nổi mà rút quân.
Tôn Quyền nhìn chăm chú vào sa bàn lúc lâu. Thọ Xuân ở phía bắc Hợp Phì, lấy sự liên kết giữa Hợp Phì với Phì Thủy quả thực chỉ cần cắt đứt Phì Thủy thì lương thực từ Thọ Xuân sẽ không thể vận chuyển về Hợp Phì được. Đề nghị của Lục Tốn đúng là thượng sách. Tôn Quyền lại trầm tư một lát rồi hỏi:
- Nếu Bá Ngôn dẫn quân đi thì cần bao nhiêu quân?
- Vi thần cần 3 vạn người, 1 vạn người làm sáng, 2 vạn người làm tối. Binh lực của quân Tào không nhiều lắm, nhiều nhất cũng chỉ cần phái mười ngàn người lên bắc. Như vậy vi thần có thể nắm chắc tiêu diệt được hoàn toàn mười ngàn quân Tào này.
Tôn Quyền gật gật đầu:
- Ta giao cho ngươi 3 vạn người, Chu Thái tướng quân làm phó tướng, hy vọng các ngươi đừng làm ta thất vọng.
Lúc Lục Tốn hiến kế cắt đứt đường vận chuyển lương thực địch cho Tôn Quyền thì trên đầu thành Trương Liêu và Lý Điển cũng đang nhìn đại doanh của Giang Đông phía xa.
Lý Điển chỉ vào đại doanh của Giang Đông cười nói:
- Không ngờ Tôn Quyền lại đóng quân ở bến sông Tiêu Dao, có thể thấy bọn họ muốn qua bến Tiêu Dao vào phá thành, nhưng bọn họ không có chiến thuyền.
Trương Liêu lo lắng nói:
- Chắc là bọn họ trông chờ vào chiến thuyền viện quân Kinh Châu. Một khi thủy quân Kinh Châu đuổi tới, cũng phải có ít nhất là 300-400 chiến thuyền. Bọn họ lại chiếm ưu thế về binh lực, rất có thể chúng ta sẽ thủ không vững Hợp Phì nhưng vấn đề bây giờ, biết rõ kế hoạch của quân Giang Đông chúng ta lại không có cách nào.
- Phải có đối sách chứ!
Lý Điển quay lại nhìn chằm chằm vào Trương Liêu.
Trương Liêu gật đầu nói:
- Quả thực là có 1 đối sách, chính là quyết chiến với quân Giang Đông, lúc thủy quân Kinh Châu còn chưa đến hãy đánh bại quân Giang Đông.
- Nhưng nếu quân Giang Đông không muốn tác chiến với chúng ta thì sao? hoặc là họ cắt đứt đường vận chuyển lương thực của ta?
Lý Điển không nói thêm gì nữa, vấn đề này họ đã nghiên cứu từ lâu. Lương thực trong thành chỉ còn 3 vạn, dân thường cũng đều không đủ lương thực, mà ở Thọ Xuân lại có hơn 10 vạn thạch lương thực. Trương Liêu đã phái người đi Thọ Xuân giục chuyển lương thực, bây giờ e rằng quân Giang Đông đã biết điều này mà phái quân đi cắt đứt đường vận chuyển lương thực của họ rồi.
Trương Liêu thản nhiên nói:
- Chắc chắn là quân Giang Đông sẽ phát hiện ra chúng ta không đủ lương thực, cũng chắc chắn sẽ có người đề nghị cắt đứt đường lương thực của ta. Thậm chí, còn dụ chúng ta lên bắc, khiến cho thành trống, nhưng nếu chúng ta dự liệu trước thì có thể tương kế tựu kế.
Chương 654: Trương Liêu khoe uy.
Vào canh 3, một đội quân Tào khoảng 3 vạn người rời khỏi thành Hợp Phì, đi dọc theo Phì Thủy lên bắc. Còn 1 canh giờ trước, hai đội quân Giang Đông cũng rời khỏi doanh trại, đi về phía Thọ Xuân.
Quân Giang Đông bố trí một lượng lớn thám báo ở các vùng gần Hợp Phì, khiến 3 vạn quân Tào vừa mới ra khỏi thành lên bắc lập tức đã bị thám báo của quân Giang Đông phát hiện. Mấy tên kỵ binh chạy như bay đến doanh trại Giang Đông:
- Chúng ta có tin tình báo quan trọng muốn bẩm báo với Ngô hầu!
Kỵ binh la lớn trong bóng đêm.
Lính gác đi lên kiểm tra kỵ binh báo tin rồi lập tức tránh đường. Kỵ binh xoay người xuống ngựa rồi chạy vội vào doanh trại lao về phía đại trướng trung quân.
Lúc này, Tôn Quyền vừa mới ngủ không lâu thì bị thị vệ nhẹ nhàng đánh thức:
- Ngô hầu, thám báo có tình hình khẩn cấp muốn bẩm báo!
Tôn Quyền xoay người ngồi dậy, khoác một chiếc áo bào đi ra ngoài trướng, tên thám báo đồn trưởng lập tức quỳ gối xuống bẩm báo:
- Khởi bẩm Ngô hầu, chúng ta phát hiện đại quân Tào đã rời thành đi về hướng bắc.
Tôn Quyền phấn chấn, đây đúng là tin mà y muốn nghe nhất, y lập tức hỏi:
- Có bao nhiêu quân Tào?
- Có khoảng 3 vạn người!
- Bao nhiêu?
Tôn Quyền ngạc nhiên hỏi lại.
- Khởi bẩm Ngô hầu, có khoảng 3 vạn người.
Tôn Quyền hơi căng thẳng, số quân Tào xuất binh nằm ngoài dự liệu của y. Ban đầu y nghĩ chỉ có khoảng 1 vạn quân Tào lên bắc, như vậy 3 vạn quân Giang Đông có thể đủ để tiêu diệt 1 vạn quân Tào, nhưng bây giờ không ngờ quân Tào lại xuất 3 vạn binh, đội quân đang bắc tiến của y sẽ gặp phải một chút nguy hiểm.
Y trầm tư một lát rồi hỏi:
- Các ngươi phải xác định số người, chắc chắn là lính Tào mà không phải dân phu giả dạng chứ?
Tên đồn trưởng thám báo lắc đầu:
- Chắc là khoảng 3 vạn người, không phải dân phu giả dạng, từ trạng thái hành quân có thể nhìn ra được, hơn nữa trong đó còn có 5 ngàn Hổ báo thiết kỵ.
Tôn Quyền giật mình kinh hãi, lại còn có 5 ngàn kỵ binh trong lòng y càng căng thẳng hơn, y lẩm bẩm:
- Lạ thật, lẽ nào Trương Liêu không cần thành Hợp Phì sao?
Trầm tư một lúc lâu sau, Tôn Quyền khoát tay lệnh cho thám báo rút lui, y chỉ vào thị vệ nói:
- Mau dẫn Lã Tử Minh tướng quân đến gặp ta!
Không lâu sau, Lã Mông đã vội vàng đi tới, ông ta cũng ngủ chưa được bao lâu thì đã bị thị vệ của Tôn Quyền đánh thức, ông ta đi lên thi lễ:
- Mạt tướng tham kiến chủ công!
- Tử Minh tướng quân, ta hỏi ngươi, nếu chúng ta toàn lực tấn công Hợp Phì, quân Tào dựa vào 1 vạn quân đội thì có thể thủ thành Hợp Phì được bao lâu?
- Khởi bẩm chủ công, nếu đối phương có dân phu trợ giúp, có thể thủ được 3 canh giờ!
- Nhưng các ngươi chỉ giữ được hơn 1 canh giờ?
Lã Mông thở dài:
- Lòng người Hợp Phì không ở Giang Đông, dân phu không chịu giúp sức, nếu là quân Tào thủ thành thì có lẽ họ sẽ trợ giúp. Hơn nữa, quân Giang Đông không có nhiều vũ khí phá thành còn quân Tào thì có mấy chục tổ xe. Cuối cùng dùng tổ xe mà tấn công, vi thần nói thật nếu 3 canh giờ mà đánh được Hợp Phì cũng là giỏi rồi.
Tôn Quyền chắp tay sau lưng đi đi đi lại, không phải là y không muốn tấn công thành Hợp Phì. Y đang suy nghĩ vì sao quân Tào lại dám xuất 3 vạn quân lên bắc. Rõ ràng không phải đi Thọ Xuân mà đi bảo vệ thuyền lương thực ở phía nam. Lã Mông phân tích như vậy, y đã hơi hiểu ra, quân Tào đương nhiên cũng phải cân nhắc nhiều lần, điều kiện tiên quyết là phải đảm bảo giữ vững thành trì mới phái 3 vạn quân lên bắc.
Nhưng cứ như vậy, quân đội của Lục Tốn sẽ nguy hiểm, đối phương có 3 vạn quân, còn có 5 ngàn thiết kỵ, nếu làm không tốt ngược lại họ sẽ bị quân Tào tiêu diệt. Nghĩ như vậy, trán Tôn Quyền mướt mát mồ hôi, lúc này y nói với Lã Mông:
- Lã tướng quân, ta cho ngươi 2 vạn quân, ngươi lập tức lên bắc hợp quân với Lục Tốn. Nếu đã giao chiến ngươi có thể tấn công quân Tào từ phía sau, nếu bọn họ vẫn chưa giao chiến ngươi hãy lệnh cho Lục tướng quân lập tức rút về đại doanh.
Nói xong, Tôn Quyền lấy kim bài của mình đưa cho Lã Mông:
- Tất cả phải nhờ Tử Minh rồi!
- Ty chức tuân lệnh!
Lã Mông vội nhận kim bài, thi lễ rồi lui xuống. Tôn Quyền khoanh tay đi ra trước đại trướng nhìn màn đêm mà khẽ thở dài, y không thể nửa phần khinh địch.
Cái gọi là” Binh bất yếm trá”, có nằm mơ y cũng không ngờ lúc này thành Hợp Phì đã gần như một tòa thành rỗng tuếch, chỉ có 3 ngàn lính và 1 ngàn dân phu trấn thủ. Còn đại quân đang ở bến sông Tiêu Dao phía tây, Trương Liêu dẫn theo 1 ngàn tinh binh chỉnh đốn sẵn sàng đang đợi tin của Lý Điển.
Lúc này, có một gã thám báo quân Tào vội chạy lại:
- Bẩm báo tướng quân, lại có 2 vạn quân Giang Đông rời khỏi doanh trại lên bắc rồi.
Trương Liêu cười đắc ý, điều này đã nằm trong dự liệu của y. Tôn Quyền nghe nói có 3 vạn quân lên bắc, y sao có thể không lo lắng 3 vạn quân Giang Đông đã bắc tiến trước đó chứ. Đương nhiên, y sẽ phải quân đội đi tiếp ứng, điều này quá đỗi bình thường.
Nhưng cứ như vậy, đại doanh ở bờ đông bến sông Tiêu Dao chỉ còn có 5 vạn quân, tương đương với binh lực của họ. Đây là tương kế tựu kế, một nửa quân Giang Đông đã được điều đi.
Y nhìn bầu trời, đã là canh tư, y quay đầu hạ lệnh:
- Phấn chấn lên cho ta, phá địch ngay đêm nay!
Tinh thần của 1 vạn quân Tào phấn chấn hẳn lên. Lúc này, Trương Liêu vung tay lên, 1 vạn quân Tào dọc theo đường mòn hành quân về hướng bến đối diện sông Tiêu Dao. Trên bán đảo của bến sông có một con đường thủy hẹp, cách bờ tây khoảng 10 trượng, có thể dùng thuyền nhỏ để tạo thành cầu nổi.
Lúc trước khi giao chiến với quân Kinh Châu, Tào Chân đã dẫn kỵ binh chính là lợi dụng con đường nhỏ này để giết tiểu doanh trại bờ tây của sông, diệt sạch 3 ngàn quân Kinh Châu, đại tướng Trần Sóc phải bỏ mình. Lúc này, Trương Liêu vẫn muốn lợi dụng con đường này bất ngờ đánh vào doanh trại trung tâm của quân Giang Đông.
Đã gần đến canh năm, doanh trại quân Giang Đông hoàn toàn yên tĩnh, đây là lúc đen tối nhất trước khi trời sáng, cũng là lúc binh lính ngủ say sưa nhất. Trên tháp canh của đại doanh, mấy tên lính đang đi đi đi lại, nhìn chăm chú ra bên ngoài rất cảnh giác.
Đúng lúc này có tiếng vó ngựa dồn dập phá tan sự yên tĩnh của bóng đêm, chỉ thấy mấy tên thám báo chạy đến hô to:
- Mau gõ chuông cảnh giác, quân Tào giết đến rồi!
Vừa dứt lời, hơn 10 mũi tên phóng từ xa tới, hai gã thám báo kêu lên thảm thiết lật nhào xuống ngựa. Còn một tên khác sợ đến mức chạy kinh hồn bạt vía, hai tên lính trên tháp xanh cũng sợ đến ngây cả người ra rồi cũng kịp phản ứng, vội vàng gõ chuông cảnh báo.
- Keng... keng.... keng...
Tiếng chuông trên tháp canh vang lên, 1 ngàn binh lính đang trực vội chạy đến cửa lớn. Tất cả cung tên giương lên nhắm ra ngoài đại doanh. Lúc này mặt đất từ xa đã bắt đầu rung lên, xa xa vọng lại thứ âm thanh nghe như sấm rền. Tên Nha tướng cầm đầu bỗng ý thức được điều gì đó bỗng hô lớn:
- Đây là kỵ binh, mau đi bẩm báo với Ngô hầu, kỵ binh quân Tào giết đén rồi!
Trong đêm tối, chỉ thấy một đội quân nghìn nghịt chạy từ hướng tây bắc đến xông về phía đại doanh quân Giang Đông, tốc độ càng lúc càng nhanh. Dễ dàng nhìn thấy mũi thương sáng loáng, phía sau kỵ binh là hơn 2 vạn quân Tào dưới sự chỉ huy của Lý Điển, họ reo hò đánh về phía đại doanh quân Giang Đông.
Đây là 3 vạn đại quân Tào lên bắc, lên bắc chỉ là một mánh khóe lớn của họ, là kế dụ địch. Sau khi lừa quân Giang Đông lên bắc, họ lại hăng hái quay đầu xuôi về nam lao thẳng về phía đại doanh quân Giang Đông. Lúc này trong doanh trại quân Giang Đông chỉ còn có 5 vạn người, còn quân Tào là hơn 4 vạn người, binh lực hai bên tương đương nhau. Hơn nữa, quân Tào lại có 5 ngàn Hổ báo kỵ binh, hơn nữa quân Tào còn dùng chiến thuật đánh bất ngờ khi người ta chưa kịp phòng bị.
Bọn họ muốn trước khi trời sáng lợi dụng việc đánh đột kích để tiêu diệt quân Giang Đông, chấm dứt trận chiến trước khi quân đội của Lục Tốn và Lã Mông gấp gáp trở về. Đây là một sách lược vô cùng can đảm, quân Tào chỉ có 1 canh giờ, nhất định phải làm được ổn, chuẩn, nhanh, độc. Nếu trận chiến trên bến sông Tiêu Dao này có thể thành công, uy danh của Trương Liêu sẽ lẫy lừng thiên hạ.
Quân Tào đánh lén quân Giang Đông khiến họ không kịp đề phòng. Trong đại doanh thành một cảnh hỗn loạn, 1 ngàn cung nỏ binh lao tới góc tây bắc để nghêng chiến, chỉ bắn một vòng tên thì 5 ngàn Hổ bao kỵ binh đã giết vào đại doanh của quân Giang Đông. Bọn họ cứ 1 trăm người thành một đội, đột kích liều chết xông vào đại doanh giết binh sĩ quân Giang Đông người ngã ngựa đổ, tử thi có ở khắp nơi.
Lúc này, Lỗ Túc dẫn theo 1 ngàn quân đội quần áo vẫn chưa nghiêm chỉnh lên nghênh chiến, họ vội vàng rất nhiều lính còn chưa mặc áo giáp, đội mũ giáp, thậm chí còn chưa kịp đi giày thì lại càng không có thời gian để mà chỉnh đốn đội ngũ. Dưới lệnh của Lỗ Túc, 1 ngàn quân xách trường mâu xông lên, liều chiến với 5 ngàn kỵ binh.
Cho dù binh sĩ khó mà cản được sự tấn công của kỵ binh nhưng vẫn tranh thủ được chút thời gian quý giá cho Tôn Quyền tập kết quân đội rút lui.
Lý Điển dẫn theo 2 vạn 5 nghìn quân cũng giết vào đại doanh Giang Đông, còn Lăng Thống và Toàn Tông cũng mang 5 ngàn quân vừa mới chỉnh đốn xong lên nghênh chiến với quân của Lý Điển.
Đúng lúc này, phía tây nam bỗng xuất hiện cảnh đại loạn. Trương Liêu đích thân dẫn theo 1 vạn quân Tào từ con đường nhỏ trực tiếp xông vào đại doanh quân Giang Đông. Một vạn quân Tào đột nhiên xông tới khiến 2 vạn quân Giang Đông đang tập kết lại rơi vào cảnh hỗn loạn. Sĩ khí quân Giang Đông sụp đổ, chạy trốn tứ tung, quân Giang Đông bại binh như núi đổ.
Trương Liêu huy động trường đao làm gương lên trước, theo sau y là 1 ngàn kỵ binh. Dưới lưỡi đao của Trương Liêu vô số lính bị tử thương. Trương Liêu suất lĩnh kỵ binh mở một đường máu lao thẳng đến trước đại trướng trung quân. Mười mấy tên kỵ binh vung đao chém đứt cán đại kỳ của quân Giang Đông. Đại kỳ bao gồm cả cột cờ cũng đổ ầm xuống, đại trướng trung quân hừng hực cháy lớn.
Lúc này trời đã tang tảng sảng, trong cảnh hỗn chiến Trương Liêu thấy mười mấy tên lính Giang Đông đang bảo vệ một gã có chòm quai nón chạy trốn về hướng đông. Người này mặc trang phục của quan văn phẩm thấp, Trương Liêu không dể ý liền xông lên quát hỏi:
- Tôn Quyền đâu?
Gã đàn ông râu quai nón chỉ về phía bắc nói:
- Người đội mũ giáp màu vàng chính là ông ta.
Trương Liêu vừa quay đầu lại lờ mờ nhìn thấy trong loạn quân có một gã đội mũ giáp màu vàng liền mừng thầm, quay ngựa đuổi về phía bắc. Gã nam tử có chòm râu quai nón thở phào nhẹ nhõm rồi liều mạng chạy trốn về hướng đông.
Trương Liêu chạy được trăm bước lại không thấy tên đội mũ màu vàng kia dâu liền bắt một gã lính Giang Đông hỏi:
- Tôn Quyền đâu?
Gã lính sợ hãi trả lời:
- Chính là người vừa rồi tướng quân hỏi.
Trương Liêu ngạc nhiên:
- Là tên râu quai nón mắt xanh kia sao?
- Đúng vậy!
Trương Liêu hối hận nhưng lại không thể bỏ qua cho Tôn Quyền, y không cam lòng lại đuổi về hướng đông. Phía sau y có cả ngàn ky binh quân Tào đuổi theo. Lúc này, y lại nhìn thấy bóng dáng của Tôn Quyền liền mừng thầm, hô lớn:
- Tôn Quyền, để đầu lại.
Tôn Quyền bị Trương Liêu đuổi đến cùng đường, y đang kêu khổ thấu trời, lần này chết là cái chắc. Đúng lúc này, một đội quân Giang Đông hơn 1 ngàn người mà dẫn đầu là đại tướng Thái Sử Từ lao tới, ông ta hét lớn:
- Tướng địch, chớ làm tổn thương chủ ta!
Ông ta giương thương lên nghênh chiến với Trương Liêu. Trương Liêu biết Thái Sử Từ võ công cao cường nên không dám khinh định. Một đao bổ về phía trước, hai con chiến mã tương giao, hai người chiến đấu kịch liệt.
Chương 655: Thái Sử quy hề.
Trương Liêu và Thái Sử Từ đại chiến hơn 50 hiệp bất phân thắng bại. Nhưng lúc này thuộc hạ của Thái Sử Từ đã bị kỵ binh của Trương Liêu giết gần như không còn một ai. Hơn 1 ngàn kỵ binh đã bao vây cuộc chiến của hai tướng.
Thái Sử Từ thấy tình hình không ổn, cho dù mình có đánh bại Trương Liêu thì cũng chưa chắc đã phá được vòng vây ra ngoài, chỉ có thể nhân lúc đám kỵ binh không dám bắn tên mà liều chết xông ra mới may mắn tìm được đường sống.
Hai ngựa lần lượt thay đổi, Thái Sử Từ tìm cơ hội quay đầu ngựa lại chạy bạt mạng về phía nam. Mấy chục tên kị binh xách trường mâu đâm tới. Thái Sử Từ trái đâm, phải giết, chỉ trong nháy mắt đã khiến mấy tên kỵ binh ngã ngựa phá khỏi trùng vây.
Trương Liêu lại cười lạnh lùng, treo đại đao lên rồi tháo đại cung 3 thạch, rút một mũi tên Lang Nha ra giương cung bắn nhắm vào Thái Sử Tử. Dây cung buông lỏng, một mũitên bắn ra nhanh như tia chớp.
Thái Sử Từ vừa mới thoát khỏi vòng vây không kịp chuẩn bị bỗng nghe thấy phía sau có tiếng gió nhưng không kịp tránh, sau lưng tràn đến một cơn đau nhức, mũi tên đâm trúng giữa lưng, suýt nữa y ngã ngựa.
Y nhịn cơn đau nhức này, giục ngựa phi gấp, một lát sau chạy được khá xa. Lúc này, một gã Nha tướng dẫn theo mấy trăm bại binh Giang Đông chạy trốn đến, theo Thái Sử Từ chạy về hướng nam.
Trương Liêu thấy Thái Sử Từ đã chạy được xa cũng không đuổi theo nữa mà đi tìm Tôn Quyền, nhưng cũng không còn thấy tăm hơi của y đâu nữa.
Trương Liêu nghĩ mình đã uổng công tha cho Tôn Quyền, trong lòng hối hận vô cùng liền vứt cung tên xuống đất.
Đúng là Thái Sử Từ liều mình cứu nên Tôn Quyền mới thoát nạn. Dưới sự bảo vệ của hơn 100 tên thị vệ, y hoảng sợ chạy trốn về hướng đông bắc.
Chạy xa được mười mấy dặm, bỗng phía trước xuất hiện một đội quân trùng trùng điệp điệp hướng về phía nam. Tôn Quyền lập tức ngây dại, lẽ nào lại gặp quân Tào sao?
- Là quân Giang Đông!
Một gã thị vệ nhận ra cờ chiến của đối phương.
Tôn Quyền vui sướng vô cùng giục ngựa lên trước.
Đây là 5 vạn quân Giang Đông vội vàng quay về đại doanh do Lục Tốn và Chu Thái chỉ huy. Lục Tốn không thấy quân Tào lên bắc mà lại gặp quân Lã Mông đến tiếp viện.
Lục Tốn lập tức tỉnh ra, bọn họ đã trúng kế điều binh của quân Tào cho nên mới vội vàng dẫn quân xuôi nam nhưng lại không dám đi quá gấp vì sợ nửa đường gặp phục kích.
Đến lúc họ đuổi đến đại doanh thì trời đã sáng rõ. Quân Tào đã thành công đánh bất ngờ vào đại doanh quân Giang Đông, nhưng đúng lúc bọn họ lại nhận được tin Tôn Quyền chạy trốn về phía bắc.
Lục Tốn quỳ xuống trước mặt Tôn Quyền thỉnh tội:
- Ty chức bất tài bị trúng kế của quân Tào khiến quân Giang Đông thảm bại, Ngô hầu lâm nguy, xin Ngô hầu hãy giết ty chức đi để tạ lỗi với tướng sĩ đã phải bỏ mình.
Tôn Quyền đỡ y dậy cũng rơi lệ nói:
- Ngươi quá lời rồi, kế sách căn bản không hề có sơ hở chỉ có điều kế của quân Tào cao hơn một bậc, thực ra là ta cũng sai.
Lúc này, Lỗ Túc, Lăng Thống đã dẫn toàn bộ tàn quân đến, 5 vạn quân bọn họ chỉ còn tập hợp lại chưa đến 1 vạn người.
Lỗ Túc đi lên bẩm báo nói:
- Khởi bẩm Ngô hầu, quân Tào đã lui về thành Hợp Phì, đại doanh không còn địch nữa, mời Ngô hầu trở về.
Tôn Quyền đỡ lấy cánh tay của Lỗ Túc rưng rưng hàng lệ nói:
- Ta hối hận đã không nghe lời của Tử Kính đến nỗi hôm nay phải bại trận, 10 vạn tướng sĩ đã tổn thất quá nửa. Ta còn mặt mũi nào mà đi gặp phụ lão Giang Đông?
Mọi người đều khuyên Tôn Quyền, nói tác chiến ban đêm phần lớn binh lính sẽ chạy loạn, thương vong chưa chắc đã quá nửa, cuối cùng y mới bình tĩnh trở lại gật đầu nói:
- Chắc chắn là bọn lính đã chạy trốn về phía nam, rút về hướng nam trước đi.
Quân Giang Đông thu dọn lều trại, chậm rãi rút về phía nam.
Trên đường xuôi nam họ không ngừng thu nạp bại quân. Lúc này có một gã thị vệ vội vàng tiến lên nói nhỏ với Tôn Quyền mấy câu khiến y chấn động, vội vàng đi theo thị vệ vào rừng cây.
Trong rừng cây có một toán lính Giang Đông, có kẻ hô to:
- Ngô hầu đến rồi.
Mọi người rối rít, Tôn Quyền vội tiến lên chỉ thấy Thái Sử Từ đang nằm trên mặt đất, mũi tên sau lưng đã được rút, máu tươi nhuộm đỏ cả chiến giáp, mặt y như giấy vàng, hôn mê bất tỉnh, rõ ràng là không sống được nữa rồi.
Tôn Quyền cầm tay Thái Sử Từ, nước mắt rơi như mưa, khóc gọi:
- Tử Nghĩa! Tử Nghĩa!
Thái Sử Tử dần tỉnh lại, hơi thở yếu ớt nói:
- Vi thần vì báo ân đi theo Khổng Bắc Hải, lại gặp Bá Phù, theo ông ta nam chinh bắc chiến. Tiếc là Bá Phù đi sớm, thần sống được đến hôm nay. Bây giờ tử chiến nơi sa trường, chết cũng có ý nghĩa, mong chủ công chăm sóc con ta, để nó lại dốc sức cho quân Giang Đông.
Nói đến đây, Thái Sử Từ thở dài một tiếng:
- Đại trướng phu sống trong loạn thế mang theo Tam Xích kiếm lập công bất thế, nay chí chưa toại, tiếc là phải chết.
Nói xong, Thái Sử Từ nhắm mắt, Tôn Quyền kinh hãi đau đớn kêu lên một tiếng rồi cũng ngất đi.
Thái Sử Tử tử trận, Tôn Quyền vô cùng đau xót hạ lệnh cho toàn quân chịu tang. Quân Giang Đông rút về hướng nam trong buồn bã, hai ngày sau thì đến Nhu Tu Khẩu, trên đường đi số quân thu nạp đã được gần 2 vạn tàn quân. Lúc này, quân Tào một lần tập kích bất ngờ trong đêm đã khiến quân Giang Đông thương vong hơn 3 vạn người, bao gồm cả đại tướng Thái Sử Từ phải bỏ mình.
Trận chiến trên bến sông Tiêu Dao khiến uy danh của Trương Liêu vang xa hiển hách, lấy 4 vạn quân mà đánh 10 vạn quân Giang Đông khiến Tôn Quyền hồn bay phách lạc. Sau cuộc chiến trên bến Tiêu Dao, danh tiếng của Trương Liêu ở quân Giang Đông đã gần bằng Lưu Cảnh, thậm chí hung danh còn vượt xa hắn, trẻ con Giang Đông chỉ nghe tên cũng không dám khóc đêm nữa.
Tôn Quyền cũng không còn lòng dạ nào mà tấn công Hợp Phì nữa mà ở Nhu Tu Khẩu chuẩn bị qua sông về phía Nam. Nhưng đúng lúc này, Cam Ninh dẫn theo 2 vạn thủy quân Kinh Châu cuối cùng cũng chạy đến Nhu Tu Khẩu
Sau khi đội thuyền của quân Kinh Châu đã trải qua 4 ngày hăng hái trên sông Trương Giang cuối cùng cũng đến Nhu Tu Khẩu, sau đó lại tiến vào Nhi Tu Thủy lên phía bắc, hai ngày sau là đến Hợp Phì. Tổng cộng thời gian đi là 6 ngày, giảm được số ngày so với đi bộ là từ 8 đến 10 ngày.
Nếu tất cả đều bình thường, chắc chắn bọn họ sẽ kịp tham gia vào cuộc chiến Hợp Phì. Cái gọi là “Trạng thái bình thường” chính là sau khi quân Giang Đông đến Hợp Phì sẽ giằng co với quân Tào trong một thời gian ngắn, theo thời cơ mà chiến. Nhưng quân Giang Đông lại không bình thường, đến Hợp Phì vào ban đêm lại bạo phát một trận chiến với quân Tào, điều này không cho thủy quân Kinh Châu cơ hội xuất chiến.
Mấy trăm chiến thuyền của quân Kinh Châu lẳng lặng bỏ neo ở bờ sông rộng lớn. Mấy dặm phía xa có thể lờ mờ nhìn thấy đại doanh của quân Giang Đông, Cam Ninh hạ chiến thuyền, được sự bảo vệ của hơn 100 thân hộ vệ đi vào đại doanh của quân Giang Đông.
Chờ một lúc, thị vệ của Tôn Quyền dẫn y vào đại trướng trong quân. Trong đại trướng, Tôn Quyền đang thảo luận với Lỗ Túc việc rút quân. Mặc dù trong tay họ còn có 7 vạn quân, thêm nữa là 2 vạn thủy quân Kinh Châu như vậy là 9 vạn, mà trong thành Hợp Phì chỉ có hơn 4 vạn quân Tào. Tính từ binh lực thì liên quân Tôn Lưu rất mạnh.
Nhưng Tôn Quyền lại mất đi ý chí chiến đấu, mất đi dũng khí tiếp tục tấn công Hợp Phì rồi. Qua một đêm thảm chiến, y đã hồn bay phách lạc, mất hết sĩ khí, không muốn đánh tiếp nữa mà chỉ một lòng muốn về Kiến Nghiệp.
Ý kiến tiếp tục tấn công Hợp Phì của Lỗ Túc cũng không được tán thành. Rõ ràng, bọn họ chuẩn bị không đủ, đến mấy trăm cái thang phá thành cũng đã bị quân Tào đốt mất, bọn họ lấy gì mà phá thành đây? Lỗ Túc chủ trương nghỉ ngơi mấy năm nữa, sau khi chuẩn bị đủ sức thì lại suy nghĩ tấn công lên bắc.
Lỗ Túc thấy Tôn Quyền lo lắng liền khuyên nhủ:
- Ngô hầu không cần phải áy náy, thắng bại là chuyện thường của nhà binh. Thần tin là dân chúng Giang Đông sẽ hiểu lần bại trận ở Hợp Phì này. Dù sao sức mạnh của chúng ta vẫn còn kém hơn Tào Tháo rất nhiều. Thắng trước, bại sau là chuyện rất bình thường.
- Sao ta lại không biết chứ.
Tôn Quyền thở dài nói:
- Chỉ có điều, tổn thất 3 vạn quân và 2 vạn quân lúc trước khoảng 5 vạn người, con số này đã vượt xa tổn thất tây chinh 3 năm về trước. Tổn thất 3 năm đó luôn là gánh nặng cho ta, lần này sao ta lại có thể phụ lòng phụ lão Giang Đông chứ?
- Ngô hầu quá lo lắng rồi, thất bại bây giờ và thất bại 3 năm trước đây không giống nhau. Ba năm trước chúng ta lấy lực của cả nước mà tây chinh, tổn thất về chiến thuyền và vật tư khiến chúng ta chật vật mất mấy năm trời. Còn lần này, tuy tổn thất về quân đội khá thê thảm và nghiêm trọng nhưng cũng may là tổn thất về vật tư không lớn, chúng ta cũng không phải động viên sức mạnh của cả nước. Lần thất bại này không ảnh hướng lớn đến dân chúng, chỉ là một chiến bại bình thường không cần phải giải thích gì với phụ lão Giang Đông. Thậm chí cũng không cần phải cho nhiều người Giang Đông biết về thất bại này.
Tôn Quyền lặng im gật gật đầu, Lỗ Túc nói có mấy phần có lý. Lúc này, trước trướng có thị vệ báo:
- Khởi bẩm Ngô hầu, chủ tướng Cam Ninh của thủy quân Kinh Châu đến cầu kiến!
Đương nhiên là Tôn Quyền biết thủy quân Kinh Châu đã đến. Y đã từng hi vọng thủy quân Kinh Châu đến biết bao, nhưng bây giờ suy nghĩ của y đã thay đổi không hề hi vọng họ đến chút nào. Y không muốn nhận ân tình này nữa, quan trọng hơn là y không muốn phải mất mặt trước Lưu Cảnh hoặc thuộc hạ của hắn.
Lỗ Túc thấy Tôn Quyền trầm ngâm không nói liền nhỏ giọng khuyên nhủ:
- Nếu họ đã đến Ngô Hầu hãy cứ gặp một lần!
- Được rồi, mời Cam tướng quân vào.
Tôn Quyền nói với thị vệ với vẻ bất đắc dĩ.
Cam Ninh ngoài trướng chờ một lúc, mặc dù là võ tướng nhưng suy nghĩ của y khá tinh tế. Nếu Tôn Quyền hi vọng mình đến thì chắc chắn sẽ đích thân ra đón để tỏ thành ý. Nhưng bây giờ Tôn Quyền vẫn ngồi trong trướng mà tuyên lời yết kiến, chứng tỏ rằng Tôn Quyền đã lạnh nhạt với mình, hoặc là Tôn Quyền không còn muốn tấn công Hợp Phì nữa.
“Xem ra Nhu Tu Khẩu chính là điểm cuối của mình rồi”. Cam Ninh thầm nghĩ trong lòng.
Cam Ninh đi theo thị vệ vào đại trướng, trong lòng y hơi bất mãn về sự thất lễ của Tôn Quyền. Mình không phải là sứ giả, lại càng không phải là cấp dưới của Giang Đông mà là đại diện cho Châu mục đến đây trợ giúp quân Giang Đông, là chủ tướng của thủy quân Kinh Châu, cho dù thân phận của Cam Ninh có thấp kém thì Tôn Quyền cũng phải đứng dậy nghênh đón chứ không phải ngồi ở đó chờ mình đến thi lễ.
Lỗ Túc cũng cảm nhận được sự thất lễ của chủ công liền vội vàng đưa mắt ra hiệu cho Tôn Quyền, còn ông ta đứng dậy trước cười nói:
- Cam tướng quân đi đường vất vả rồi!
Đương nhiên Tôn Quyền không phải là người không hiểu lễ nghi, y không nhấc nổi mình để đứng lên đón tiếp Cam Ninh là vì y cần thể hiện thái độ bất mãn này. Vì quân của Cam Ninh đến muộn mới khiến y thất bại thảm hại như vậy. Tôn Quyền chính là muốn đổ tránh nhiệm tấn công Hợp Phì thất bại lên đầu quân Kinh Châu. Như vậy, y cũng có cái lý để mà giải thích với phụ lão Giang Đông, cho nên y chẳng để ý gì đến sự ra hiệu của Lỗ Túc.
Cam Ninh thấy Lỗ Túc thi lễ thì lại đi lên khom người về phía Tôn Quyền:
- Kinh Châu Cam Ninh tham kiến Ngô hầu!
Tôn Quyền khoát tay lạnh nhạt nói:
- Cam tướng quân không cần đa lễ, mời ngồi!
Cam Ninh ngồi cuống nói:
- Nghe nói tướng quân Thái Sử Từ đã bỏ mạng nơi sa trường, Cam Ninh vô cùng đau xót, nguyện đại diện cho Châu mục đến trước mộ Thái Sử tướng quân bái tế!
- Đa tạ, ý tốt của Cam tướng quân, mộ của Thái Sử Từ cách đây không xa, cứ việc tùy ý!
Giọng của Tôn Quyền rất lanh nhạt, rồi y lại chuyển đề tài nói:
- Ta từng phái sứ giả đi Giang Hạ cầu viện, không biết Cam tướng quân có gặp không?
- Gặp ở nửa đường!
- Xin hỏi gặp ở chỗ nào?
Tôn Quyền lại truy vấn.
Cam Ninh cảm giác giọng điệu của Ngô Quyền không có thiện ý, trong lòng rất không thoải mái cho nên cũng lạnh lùng nói:
- Khởi bẩm Ngô hầu, là phía đông Sài Tang.
- Chẳng trách!
Tôn Quyền thở dài một tiếng:
- Ngày nào ta cũng trông mong viện quân Kinh Châu đến, có thể nói như mong sao, mong trăng nhưng các ngươi mãi vẫn không đến khiến ta không thể ngăn cản được thể tấn công trên nước của quân Tào, cuối cùng bại bởi quân Tào, thực sự khiến người ta quá tiếc nuối!
Lỗ Túc ngẩn người ra, sao Ngô hầu lại nói như vậy? Cam Ninh cũng nghe ra trong câu nói của y có điều không ổn liền bất mãn nói:
- Ý của Ngô hầu là vì thủy quân Kinh Châu đến không đúng lúc cho mới gây ra thất bại cho quân Giang Đông sao?
Chương 656: Phế hậu lập phi.
Sự thẳng thắn của Cam Ninh khiến Tôn Quyền khó mà có thể thích ứng ngay được, sắc mặt của y cũng trùng xuống lạnh lùng nói:
- Ta không có ý này nhưng thủy quân Kinh Châu mà đến kịp thời thì quân Giang Đông đã không đến mức bị thua như vậy.
Tôn Quyền đã nói ra cảm nhận của mình, nếu thủy quân Kinh Châu đến đúng lúc thì y cũng không cần phải phái binh lên bắc chặn thuyền lương thực của quân Tào, ít nhất thủy quân Kinh Châu cũng có thể thay phần này. Như vậy, quân Tào cũng không dám tập kích ban đêm mà lộ liễu như vậy.
Dù là lý lẽ như vậy nhưng trong chuyện này cũng không đuợc hợp lý cho lắm, ví như quân Giang Đông vì sao lại không đợi thủy quân Kinh Châu đến rồi cùng lên bắc?
Trong lòng Cam Ninh rất bất mãn liền đứng lên giận dữ nói:
- Ta nhận được lệnh của Châu mục liền lập tức dẫn binh đi Hợp Phì, ngày đêm hành quân vốn phải mất 9 ngày mới đi hết lộ trình nhưng 7 ngày chúng ta đã tới, cũng không hề tiếp viện ven đường, thành ý như vậy xin hỏi Ngô hầu còn không hài lòng ở chỗ nào?
Lỗ Túc thấy họ cãi vã liền vội vàng hòa giải:
- Cam tướng quân hiểu lầm rồi, không phải là Ngô hầu bất mãn với thủy quân Kinh Châu, mà là tiếc vì không thể liên hợp tác chiến thôi.
Cam Ninh cứng rắn nói:
- Ta cũng rất tiếc, nhưng phải nói rõ ràng, quân Giang Đôg thất bại trách nhiệm không phải do quân Kinh Châu. Hai bên chúng ta đã hẹn ngày gặp, chúng tôi thực sự đã cố gắng hết sức, ta quả thực đã tận lực. Nếu Ngô hầu vẫn bất mãn thì có thể khiếu nại lên Châu mục.
Tôn Quyền cười lạnh một tiếng rồi nói:
- Chắc chắn là ta sẽ nói chuyện này với Lưu Châu mục.
Lúc này, rốt cuộc Cam Ninh cũng đã hiểu được ý của Tôn Quyền. Ý của y chính là muốn đổ trách nhiệm bại binh lên đầu mình để che dấu đi sự bất lực của y. Cam Ninh giận dữ, quay mặt thi lễ rồi nhanh chóng bước đi.
Lô Túc vội vàng đi theo ra ngoài khuyên Cam Ninh:
- Cam tướng quân xin bớt giận, Ngô hầu nhà tôi vì thương tiếc cho cái chết của Thái Sử tướng quân cho nên có hơi xúc động chứ thực sự không có ý vô lễ với tướng quân đâu, mong Cam tướng quân đừng so đo.
Cam Ninh thở dài:
- Lỗ đô đốc không cần khuyên ta nữa, ta chỉ là một tướng dưới trướng của Châu mục phụng lệnh xuất binh. Nếu lần sau hai nhà Tôn Lưu lại liên hợp, chỉ cần Châu mục có lệnh ta vẫn sẽ cố gắng hết sức, tuyệt đối không vì chuyện tư mà làm hỏng việc công. Nhưng ta phải nói rõ ràng với Châu mục, lần này chúng tôi đã cố gắng hết sức, quân Giang Đông thất bại không phải là trách nhiệm của chúng tôi, xin đô đốc hãy thông cảm.
Trong lòng Lỗ Túc bất đắc dĩ đành phải tiễn Cam Ninh ra khỏi doanh trại, rồi lại vội vàng quay về, chỉ thấy Tôn Quyền khoanh tay đi đi đi lại trong đại trướng, ánh mắt lặng lẽ, không hề giận, ông ta khẽ thở dài nói:
- Ngô hầu làm gì vậy?
Tôn Quyền khoanh tay nhìn lên nóc đại trướng, một lúc lâu sau mới lạnh lùng nói:
- Ta đang làm gì, trong lòng ta rất rõ. Nếu Lưu Cảnh không gánh vác trách nhiệm của việc bại binh, lẽ nào còn muốn Tôn Quyền ta gánh vách sao? Tử Kính, nếu ngươi ngồi ở vị trí của ta, ngươi sẽ hiểu nỗi khổ tâm của ta thôi.
Lỗ Túc cười khổ nói:
- Nhưng như vậy sẽ ảnh hưởng đến sự liên hợp hai nhà Tôn Lưu.
Tôn Quyền lắc lắc đầu:
- Từ trước đến giờ chưa bao giờ hắn thật lòng muốn giúp ta, đến giờ ta cũng chưa bao giờ thật lòng muốn giúp hắn. Chẳng qua cũng chỉ là lợi dụng nhau mà thôi. Nếu hắn không đồng ý giúp ta vậy thì cũng đừng mơ lần sau ta sẽ giúp hắn. Chuyện chính là như vậy, Tử Kính đừng khuyên ta nữa.
Lỗ Túc thấy chủ công quyết tâm muốn đổ trách nhiệm bại binh lên quân Kinh Châu, trong lòng quả thực rất nặng nề, tràn đầy chua xót vì khuyên bảo cũng không hiệu quả.
Sáng sớm ngày hôm sau, mấy trăm chiến thuyền Giang Đông cập bờ Trường Giang. Bảy vạn quân Giang Đông lên thuyền, đội thuyền đi về hướng đông, trở về Kiến Nghiệp, Cam Ninh đứng ở đầu thuyền nhìn đội thuyền Giang Đông đi xa mà cắn chặt môi. Tôn Quyền gây khó dễ khiến y cảm thấy vô cùng thất vọng và đau khổ.
- Tướng quân, chiến thuyền đều đã chuẩn bị xong, có thể xuất phát bất cứ lúc nào!
Phó tướng Thẩm Di bẩm báo.
Cam Ninh gật đầu:
- Xuất phát!
Mấy trăm chiến thuyền Kinh Châu cũng chậm rãi quay đầu đi vào Trường Giang, giương buồm đi về phía Giang Hạ.
Tào Tháo dẫn quân về Nghiệp Đô đã được 3 ngày rồi, lão lấy tội mưu phản hạ lệnh xử trảm huynh đệ, con cháu Phục Hoàn gần trăm người cùng với cha con Mã Đằng đang bị giam giữ ở trong ngục, cũng đày gia quyến Phục thị hơn mấy chục người đến Liêu Đông sung quân.
Tào Tháo rất hài lòng về thủ đoạn và cách xử trí của đứa con trưởng Tào Phi. Nhất là Phục hoàng hậu, Tào Phi hành hình bằng cách dùng gậy đánh chết hai con trai của nàng nhưng lại không giết Phục hoàng hậu. Hành động khôn khéo như vậy khiến Tào Tháo rất khen ngợi, chứng tỏ đứa con trưởng của ông ta đã có đầu óc chính trị, biết chuyện gì nên làm chuyện gì không nên làm. Trong chuyện này đúng là làm rất tốt.
Màn đêm buông xuống, Tào Tháo và Hoa Hâm đi đến Dịch Đình cung. Dịch Đình cung từ xưa đã là nơi nhốt cung nữ phạm tội, cũng là nơi gia quyến của các đại thần bị giam giữ. Thực tế đó là một nhà giam dành cho nữ tử trong cung, những nữ nhân thân mang tội danh bị ép lao động tại nơi này, thường bị nhốt cả đời.
Nhưng qua mười mấy năm chiến loạn, số cung nữ hoàng cung đã giảm đi nhiều. Hơn nữa Lưu Hiệp là một hoàng đế bù nhìn, đương nhiên Tào Tháo sẽ không phí nhiều tiền cho y, điều này làm cho số thái giám và cung nữ trong cung tổng cộng lại cũng chỉ có hơn hai trăm, số nữ phạm tội bị nhốt chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.
Cho nên trong Dịch Đình Cung rất rộng, gần như không nhìn thấy cung nữ bị nhốt, cũng không có thủ vệ gì, phòng cung có vẻ như nhiều năm rồi chưa được tu sửa, rách nát rất nhiều. Có mấy tên thị vệ dẫn đường phía trước, Tào Tháo đè chặt chuôi đao bước nhanh đằng sau, Hoa Hâm nhắm mắt đi theo, phía sau còn có một đám thị vệ.
Hoa Hâm thầm cảm thấy may mắn, may là y khuyên Tào Phi đừng giết Phục Thọ nếu không hậu quả đã vô cùng nghiêm trọng. Bây giờ, xem ra, Tào Tháo đúng là đã có thỏa thuận gì đó với Lưu Cảnh. Cho dù, Tào Tháo không nhắc đến nhưng Hoa Hâm cũng có thể đoán ra được.
Chỉ có điều y hơi căng thẳng, chính là đợi lát nữa Phục Thọ tuyệt đối đừng lỡ miệng nói nàng biết thỏa thuận giữa Tào Tháo và Lưu Cảnh. Nếu một khi Tào Tháo truy ra bọn y không bắt được hoạn quan tiết lộ bí mật thì Hoa Ham y sẽ không gánh nổi rồi.
Tào Tháo bước nhanh vào trước khu kiến trúc đã cũ nát, chỗ này có hơn 20 tên lính gác. Lão đi thẳng vào điện phủ cũ nát, trong hành lang trống rỗng phủ đầy mạng nhện và tro bụi, ở một góc phòng có hơn 10 bàn tay thò ra khỏi lan can, trong phòng chỉ có một cái giường lớn và một bình nước tiểu.
Một người phụ nữ đang ngồi trên giường, tóc tai bù xù ôm một đống chăn đã rách, ánh mắt nhìn Tào Tháo đầy thù hận, nàng chính là đương kim Hoàng hậu Phục Thọ, nàng đã biết tin con trai mình bị giết, lúc này trong lòng nàng chỉ còn sự hận thù vô hạn.
Tào Tháo đến gần chỗ lan can nhìn nàng, cười lạnh nói:
- Ta đối xử với ngươi không tệ, ngươi lại có ý muốn hại ta, đây là ngươi gieo gió thì gặt bão thôi. Ta không giết ngươi là đã nhân nhượng với ngươi lắm rồi!
Hoa Hâm đứng bên cạnh sợ Phục Thọ lại nói ra chuyện của Lưu Cảnh liền hét lớn:
- Phục Thọ, Thừa tướng nói chuyên với ngươi vì sao ngươi không kiến lễ?
- Ngươi là con chó ác!
Phục hoàng hậu nghiến răng mắng Hoa Hâm:
- Sẽ có ngày ngươi chết mà không có chỗ chôn.
Hoa Hâm giận dữ, y đang định chửi thì lại phát hiện ra sắc mặt ác liệt của Tào Tháo đành phải nuốt cục tức vào lòng. Một lúc lâu sau Tào Tháo mới nói:
- Nể tình quân thần, ta sẽ không giết ngươi nhưng cũng không để ngươi ở Nghiệp Đô. Ngày mai sẽ đưa ngươi đến Hứa Xương, ngươi hãy tự bảo trọng!
Nói xong, Tào Tháo xoay người đi ra đi đến cửa, chợt nghe thấy tiếng lạnh lùng của Phục Thọ:
- Hôm nay ngươi kiêu ngạo như thế sau này Lưu Cảnh sẽ bỏ qua cho gia tộc họ Tào ngươi sao?
Tào Tháo bị chấn động, quay đầu nhìn Phục Thọ chằm chằm, một lúc sau lão hừ lạnh một tiếng rồi bước nhanh. Ra khỏi phòng lão dừng lại nói với Hoa Hâm:
- Ngay đêm nay hãy đưa ả đến cung cũ ở Hứa Đô, không được làm bà ta bị thương, dựa theo chế độ Tần phi chăm sóc cho ả, không được để bất cứ ai tiếp xúc với ả ta.
- Vi thần tuân lệnh!
Tào Tháo dặn dò xong liền đi về phía cung chính, Hoa Hâm quay đầu lại nói với binh lính trông coi:
- Mau đi chuẩn bị xe ngựa, cửa xe phải được phong nghiêm, tìm hai cung nữ phạm tội hầu hạ ả ta. Một lúc nữa sẽ xuất phát đi Hứa Đô.
Bọn lính lập tức đi lo việc, có mấy tên chạy đi tìm xe ngựa. Trong phòng, Phục hoàng hậu cười lạnh liên hồi. Cuối cùng bây giờ nàng cũng tin đúng là Lưu Cảnh và Tào Tháo có thỏa thuận với nhau, cho nên Tào Tháo mới không dám giết mình, nếu không lão sao có thể buông tha cho mình chứ?
Lúc này, có một gã lính đi đến trước lan can thấy xung quanh không có người liền nhét một tờ giấy vào phòng giam. Phục Thọ ngạc nhiên, vội vàng đứng dậy nhặt tờ giấy nhanh chóng mở ra, chỉ thấy hàng chữ “hãy tự bảo trọng, sẽ có ngày tự do”.
Phục Thọ nhét tờ giấy vào miệng nhai rồi nuốt xuống, nàng quay về giường lặng yên không nói gì. Nàng có thể đoán ra ai đưa tờ giấy này đến, giống như thị vệ La Thanh vào lúc mấu chốt đã nói với mình tin tức kia, trong đây chắc chắn có ván cục giữa Tào Tháo và Lưu Cảnh.
Nàng chợt nhớ đến con mình, trong lòng buồn bã vô cùng nước mắt lại rưng rưng. Rồi nàng lau nước mắt, cắn chặt răng lẩm bẩm:
- Ta biết rồi, nhất định ta sẽ đợi đến này Tào tặc bị chém đầu.
Trong cung, Lưu Hiệp ngồi sau bàn, vẻ mặt căng thẳng cả người hơi run run. Y nhìn Tào Tháo với ánh mắt cung kính và tràn đầy sợ hãi. Tào Tháo lại quỳ dưới chân Lưu Hiệp, cung kính dập đầu thi lễ:
- Thần ở Kinh Châu xa xôi, không thể ngăn chặn nghịch thần tạo phản kịp thời để Thánh thượng phải kinh hãi. Thần vô cùng đau đớn, hận không thể lấy thân mình chịu thay hoàng thượng.
Lưu Hiệp tận mắt nhìn hai đứa con trai của mình bị Tào Phi phái thị vệ đến nhét vào túi đánh chết, lúc này y đã không còn tức giận nữa mà là sự sợ hãi. Y sợ mình nói sai một câu cũng sẽ bị nhét vào túi đánh cho đến chết.
Nếu lúc trước Lưu Hiệp còn muốn đoạt lại quân quyền, nhưng kể từ sau chuyện của Phục Hoàn bị cha con Tào Tháo dùng thủ đoạn tàn độc dọa cho vỡ mật gần chết thì đừng nói là lấy lại quân quyền mà ngay cả đến tư cách làm một bù nhìn y cũng không có nữa rồi.
Lưu Hiệp run run một lúc lâu sau mới hỏi:
- Hoàng hậu của trẫm, Thừa tướng định xử trí thế nào?
Tào Tháo không đợi Lưu Hiệp tuyên mình bình thân lão đã ngồi ngay ngắn, thản nhiên nói:
- Phục Hoàn mưu nghịch, có ý đồ ép Thánh tượng đi Thái Sơn. Đây là tội đại nghịch bất đạo, phải tru di cửu tộc, nhưng vi thần niệm tình Hoàng hậu trong cung cho nên không thất đức, cho nên đề nghị Thánh thượng mở cho bà ta một lối thoát, thần đề nghị giữ lại ngôi vị hoàng hậu nhưng không để cho bà ta ở bên cạnh Thánh thượng nữa, thần đề nghị đưa bà ta đến Hứa Đô an trí.
Tào Tháo mở miệng là nói đề nghị, Lưu Hiệp một lúc lâu không nói ra lời. Đây đâu phải đề nghị gì, rõ ràng là quyết định của Tào Tháo, trong lòng y hỗn loạn, muốn đưa Phục hoàng hậu đi Hứa Đô nhưng lại giữ lại danh hiệu Hoàng hậu, đây là ý gì chứ?
- Thánh thượng!
Tiếng của Tào Tháo cao lên:
- Vì sao không trả lời đề nghị của vi thần?
Lưu Hiệp sợ đển mức cả người khẽ run:
- Trẫm chuẩn tấu!
Tào Tháo đắc ý mỉm cười, lại chậm rãi nói:
- Hậu cung không thể một ngày không chủ, tuy Hoàng hậu không ở đây nhưng Nguyên phi có thể làm chủ hậu cung thay mặt cho hoàng hậu. Con gái thần tên Tiết, năm nay vừa tròn 16 tuổi, tướng mạo song toàn có thể lập làm Nguyên phi xin Thánh thượng đồng ý.
Lưu Hiệp không dám không đồng ý, y thầm thở dài đành bất đắc dĩ nói:
- Trẫm nguyện phong con gái của Thừa tướng làm Nguyên phi!
Chương 657: Tin của Quan Trung.
Mùa hè oi bức dần qua đi, trời tối mát mẻ, hơi thở mùa thu bắt đầu nồng đậm, tháng 8 đến, tế tháng 8 cũng dần dần đến cửa từng nhà. Tết Trung thu cũng là một ngày lễ tế thần truyền thống, thời gian ước chừng sau Bạch Lộ khoảng một ngày, người ta làm lễ hiến tế các thần.
Ngày này nhà nào cũng phải treo cây cỏ thi, yêu cầu trước ngày lễ 7 ngày không được có tang sự hoặc sinh đẻ. Ngày lễ này cần cả nhà đoàn viên đi ra khỏi thành tế sơn thần và hà bá, thực ra là để đi chơi thu. Bởi vì lễ Bạch Lộ phần lớn rơi vào khoảng mười lăm tháng 8, cho nên tế tháng tám thường là đến trước tết Trung thu.
Nhưng so với tết thì rằm tháng 8 cũng chỉ là một ngày tết nhỏ bình thường, ngoài thời gian hoặc điều kiện cho phép người ta, phần lớn người ta phải vì cuộc sống hối hả khó mà cả nhà được đoàn viên, nhiều lắm cũng chỉ treo được một vòng cây cỏ trước nhà để thể hiện ngày lễ đang đến gần.
Còn hai ngày nữa mới đến tế tháng 8 nhưng ở Trường An đã có rất nhiều người chuẩn bị cỏ thi, chuẩn bị đi chơi thu. Chỉ có điều mưa thu kéo dài làm cho kế hoạch đi chơi có hơi khó khăn.
Lúc này Trường An đã mát mẻ, mùa hè năm nay hơi dài mãi mới đến thời tiết Bạch Lộ, mưa thu kéo dài mới chấm dứt. Nhưng mọi người đã quen với mùa hè nóng bức, nghe nói mùa hè nóng là binh tai chi tướng. Rất nhiều người Trường An tin rằng, mùa thu này sẽ có đại chiến.
Đại chiến như lời của người Trường An đúng là xảy ra ở tuyến tây quận Thiên Thủy, cuộc chiến quân Hán bắc phạt. Vốn dĩ mùa xuân năm nay đã bùng nổ quân Hán bắc phạt lần hai, vì cuộc chiến Kinh Châu ở tuyến đông mà phải gặp trở ngại. Từ khi thế cục tuyến đông dần ổn định, chiến tranh tuyến tây lại lặng lẽ xuất hiện lần nữa.
Quân Hán bắc phạt đã được hơn 2 năm mà vẫn chưa thành công. Người Quan Trung dần dần đã thích ứng với chiến tranh, họ không bị ngạc nhiên nữa, mọi người đều sống cuộc sống bình thường. Cái gọi là chiến tranh cũng chỉ là những lời nói chuyện của kẻ say rượu trong quán.
Trưa hôm nay, người qua lại tây môn thành Trường An bắt đầu như bình thường. Khách từ bắc chí nam hối hả, rất náo nhiệt. Ti lệ Giáo úy Chung Diêu quản lý Trường An đã được mười mấy năm, dần dần đã khôi phục lại phồn vinh sau loạn Hoàng Cân.
Trường An có khoảng gần 30 ngàn người, còn có hơn 10 vạn thương nhân đi buôn, binh lính... từ khắp nơi đổ về khiến cho một tòa đô thành cổ xưa từng từng nhiều lần bị chiến tranh giày xéo đã bừng lên sức sống.
Có lẽ vì chiến tranh xảy ra ở quận Thiên Thủy cách Quan Trung khá xa vì thế mà Quan Trung cũng không đề phòng cẩn mật, thậm chí là khá buông lỏng. Đứng trước cửa thành không thấy binh lính, chỉ thấy có mấy lão tốt đang ngồi ngủ gật bên thành mặc cho người ngựa đi nườm nượp ra khỏi thành.
Lúc này có một đội thương nhân vận chuyển một lượng lớn hàng hóa bằng lạc đà vào thành Trường An. Đây là thương nhân từ Tây Vực xa xôi đến, bọn họ mang theo hương liệu Tây Vực, vải vóc, bảo thạch, vải Hồ và đồ bằngbạc, bọn họ muốn vận chuyển tơ lụa của Trung Nguyên về phía tây. Đế chế La Mã ở phương tây có thể đổi tơ lụa lấy vàng, các thương nhân Túc Lặc buôn bán bắt đầu từ thời kì Đông Hán, không quản ngàn dặm xa xôi đến Trung Nguyên mua tơ lụa.
Đội thương nhân này có 500-600 con lạc đà và hơn 100 thương nhân. Phần lớn bọn họ đều có mũi cao mắt sâu, người mang đậm nét phong sương của Tây Vực. Bọn họ dỡ hàng ở kho cách cửa thành khoảng 1 dặm, sau đó lạc đà phải dắt ra ngoài thành gửi nuôi, người thì ở lại trong thành.
Dẫn đầu đoàn thương nhân là một ông già khoảng 60 tuổi, trên mặt đầy nếp nhăn nhưng nụ cười lại rất lương thiện. Ông ta tên là Aba Đức, đã đi trên con đường tơ lụa 40 năm rồi, trải qua bao khó khăn, ông ta có thế nói tiếng Hán rất lưu loát cũng rất am hiểu cách đối nhân xử thế của người Trung Nguyên.
Ông ta đi đến trước một thương nhân trẻ tuổi cung kính thi lễ:
- Mã công tử tôn quý, theo thỏa thuận, chúng ta phải chia tay rồi!
Vị Mã công tử này có thân hình cao lớn, đầu đội mũ nhọn mái rộng của người Túc Đặc, để chòm râu ngắn, mặt mũi sáng sủa, ánh mắt rất sáng. Y còn dẫn theo mấy tùy tùng khôi ngô, họ không phải là người Túc Đặc mà phần lớn là thương nhân người Hán trà trộn vào.
Mã công tử này chính là Mã Đại, Giáo úy của quân Hán. Lúc trước, y phụng lệnh Lưu Cảnh liên hệ với Vương Khương Nam Cung Tác, hy vọng ông ta có thế phát động chiến tranh với người Đê, do đó khiến kỵ binh người Đê rời khỏi quân Tào. Nhưng sau khi Tào Tháo bình định được Mã Siêu, đội quân tiên phong lại đi thẳng về Hà Hoàng và Lương Châu, Đê Vương Dương Thiên Vạn và Khương Vương Nam Cung Tác lo ngại cái oai của Tào Tháo nên đều mang con trai đến Trường An làm con tin.
Cho dù Nam Cung Tác có lòng muốn giúp Lưu Cảnh, tấn công người Đê, làm suy yếu sự ủng hộ của kỵ binh người Đê đối với quân Tào, nhưng vì con trai độc nhất của ông ta đang phải ở Trương An làm con tin, cho nên thái độ của ông ta vẫn mập mờ, muốn bán ngựa cho Lưu Cảnh nhưng lại trậm trễ không chịu đồng ý tấn công người Đê, sợ chọc giận đến quân Tào.
Cho nên, nếu muốn khiến người Khương tấn công người Đê thì nhất định phải giải quyết nỗi buồn phiền của Nam Cung Tác, cứu con trai của ông ta đang làm con tin ở Trường An ra thì sẽ giải quyết được điểm mấu chốt để người Khương xuất binh.
Mã Đại từ Trương Dịch đến đây, cải trang thành thương nhân Đông Tiến, lợi dụng mấy tháng ngừng chiến, phòng bị lơi lỏng thuận lợi qua được quận Thiên Thủy đang bị quân Tào khống chế, đi theo đội thương nhân này vào thành Trường An.
Mã Đại cười thi lễ nói:
- Đa tạ Aba Đức, sau này chúng ta sẽ có ngày gặp lại.
- Sau này gặp lại!
Mọi người chia tay với Mã Đại, Mã Đại dẫn theo mấy tên tùy dùngỉời khỏi đội thương nhân đi về phía đông. Không lâu sau đã đến phố Nam An của Trường An tìm một lữ xá không lớn lắm ở cuối phố. Lữ xá này không nổi bật, nhìn bên ngoài rất bình thường không phải là nơi thu hút, có thể nhìn ra họ rất xem nhẹ chuyện kinh doanh.
Nhưng trước khi Mã Đại đến Trường An đã biết lữ xá coi nhẹ việc kinh doanh này không ngờ lại chính là điểm tình báo mà quân Hán thiết lập ở Trường An. Lần này cần nghĩ cách cứu Nam Cung Bá Ngọc con trai của Nam Cung Tác ra, cho nên lữ xá này có tác dụng rất lớn.
Vào lữ xá, có một tiểu nhị uể oải ra đón:
- Mấy này nay tiểu điếm phải dọn dẹp, không đón khách, xin mấy vị đi nơi khác cho!
Mã Đại lấy lệnh bài ra, tiểu nhịn nhìn qua sắc mặt lập tức thay đổi. Gã bước nhanh đến cửa lớn, nhìn ra bên ngoài một chút rồi lập tức đóng cửa lại nói với Mã Đại:
- Mời đi theo tôi!
Gã để cho đám tùy tùng nghỉ ngơi ở gian ngoài rồi dẫn Mã Đại đi vào trong sân, đến một gian phòng gõ cửa:
- Chưởng quầy, bọn họ đến rồi!
- Mời vào!
Trong phòng vọng ra một tiếng nói ấm áp, nghe thì tuổi của người này cũng không lớn lắm.
Mã Đại đẩy cửa đi vào, trong phòng sạch sẽ có một gã văn sĩ khoảng 30 tuổi đang ngồi, dáng người cao gầy, lông mày thanh thoát. Y tiến lên cười chắp tay thi lễ nói:
- Chào đón Mã tướng quân đã đến!
- Ngươi biết ta?
Mã Đại ngạc nhiên nói.
Tên văn sĩ kia gật đầu:
- Lúc trước ta đã nhận được thư nhanh của Pháp quân sư, biết Mã tướng quân sắp tới.
Y vừa cười vừa tự giới thiệu:
- Tại hạ họ Chu, tên Trí, người Trường An, vốn là thư tá của Phủ tướng quân, hai năm trước phụng mệnh đến Trường An lập điểm tình báo này.
- Hóa ra là Chu tiên sinh, thất lễ rồi!
Mã Đại thi lễ, hai người ngồi xuống, lúc này Mã Đại mới thầm hiểu. Chu Trí này biết mình tới chắc chắn cũng biết nhiệm vụ của mình, y liền dò hỏi:
- Chu tiên sinh biết nhiệm vụ lần này ta đến chứ?
Chu Trí gật đầu:
- Trong thư Pháp quân sư đã dặn dò, trước đó ta đã đi nghe ngóng nhưng đêm nay mới có tin. Mời Mã tướng quân nghỉ ngơi trước đã, tối nay chúng ta lại bàn.
Mã Đại từ Trương Dịch đến đây, đi đường cũng đã mệt mỏi liền gật đầu cười nói:
- Vậy phiền tiên sinh rồi!
Đêm đến, một tên tiểu nhị cầm đèn ồng dẫn Mã Đại đến căn phòng ban ngày đã tới, ngoài Chu Trí ra, còn có thêm 1 người nữa, đó là một người đàn ông trung niên khoảng 40 tuổi có vẻ hơi béo. Ông ta cung kính gật gật đầu với Mã Đại, vẻ mặt tươi cười.
Mã Đại ngồi xuống, lúc này Chu Trí mới cười giới thiệu với y:
- Vị này là Khâu quản sự, là đại chưởng quầy của quán rượu Vọng Nguyệt Lâu lớn nhất ở Trường An. Vọng Nguyệt Lâu là sản nghiệm của Kinh Châu Đào gia, Mã tướng quân biết chứ?
Lúc này Mã Đại mới bừng tỉnh ngộ, Chu Trí mở một lữ xá kinh doanh nhỏ, thuộc hạ chưa đến 3 người. Mã Đại còn đang khó hiểu như vậy thì họ hoạt động tình báo thế nào đây? Hóa ra là bọn họ lợi dụng việc kinh doanh của Đào gia ở Trường An.
Chu Trí hiểu được suy nghĩ của y liền cười bổ sung nói:
- Không chỉ có Đào gia, mấy cửa hàng lớn của quận Hán Trung cũng có hợp tác với chúng ta. Chúng ta phải hành sự cẩn thận như vậy mới bí mật.
Mã Đại gật gật đầu:
- Ta hiểu rồi.
Lúc này, Khâu quản sự cười nói:
- Về con trai của Khương Vương Nam Cung Tác, ta đã đi thăm dò rồi, cậu ta ở trong quận Nha, có người chăm sóc riêng, thực tế là theo dõi, rất ít khi được ra ngoài.
- Người này bao nhiêu tuổi rồi?
Mã Đại hỏi.
- Khoảng 9 tuổi, tên là Bá Ngọc, Chung Diêu đối xử với cậu ta không tệ. Còn cử một nho sinh chuyên dạy cho cậu ta đọc sách viết chữ. Ngoài ra, cậu ta còn có 1 tùy tùng họ Khương, con trai của gã cùng học với Bá Ngọc, tuổi của hai đứa trẻ này xấp xỉ nhau.
Khâu quản sự giới thiệu Mã Đại cũng đã hiểu phần nào, như vậy chắc là không sai rồi, chính là người này.
Mã Đại trầm ngâm một lúc rồi nói:
- Nhưng có cách nào tiếp xúc với đứa trẻ này không?
Chu Trí ở bên cạnh cười hỏi:
- Có thể bắt đầu từ vị nho sinh dạy bọn trẻ học không?
- Không được!
Khâu quản sự lắc đầu phủ định:
- Vị nho sinh kia là một quan học bác sĩ của Trường An, ông ta và Chung Diêu là bạn thân sẽ không giúp chúng ta đâu. Nhưng có thể bắt đầu từ tay tùy tùng họ Khương, ta có cách để y đến quán rượu của chúng ta.
Mã Đại suy nghĩ một chút rồi hỏi:
- Người tùy tùng này tên là gì? Là người thế nào?
Khâu quản sự cười nói:
- Y là tộc nhân của đệ nhất vọng tộc Khương thị Thiên Thủy. Thiên Thủy Khương thị thực tế là người Khương đã được Hán hóa, người này tên là Khương Quýnh.
- Hóa ra là y.
Mã Đại ngạc nhiên nói.
Khâu quản sự và Chu Trí nhìn nhau, hai người cùng hỏi:
- Mã tướng quân quen người này?
Mã Đại gật đầu:
- Người này vốn dĩ là phụ tá của Thái thú Vi Khang, Vi Khang chết trong cuộc tranh đoạt huyện Ký với huynh trưởng tôi. Tên Khương Quýnh này chạy trốn được, không ngờ lại là tùy tùng của Nam Cung Bá Ngọc, chỉ e chuyện này không dễ làm rồi.
Mã Đại rất lo lắng, Khương Quýnh là phụ tá tâm phúc của Vi Khang, mà huynh trưởng mình lại giết chết Vi Khang thì tên Khương Quýnh này sẽ đồng ý giúp mình sao?
Chu Trí ở bên cạnh cười nói:
- Trước khác giờ khác, bây giờ Mã tướng quân là đại diện cho Châu mục, lại muốn cứu người quay về Lương Châu. Ta nghĩ chắc chắc Khương Quýnh sẽ hiểu, hơn nữa con trai của người này cũng nổi tiếng là thần đồng, tên là Khương Duy, có khả năng thiên phú về đọc sách, học võ, thông minh hơn người. Đương nhiên là y cũng không muốn con trai mình mãi mãi không thể nổi danh.
Chương 658: Ve sầu thoát xác.
Quán rượu Vọng Nguyệt ở thành Trường An là một quán rượu lớn rộng 5 mẫu đất, do ba tòa kiến trúc tạo thành, có thể phục vụ cùng một lúc cho 200 người ăn cơm. Vì khu đất này rất đắt, hơn nữa cũng đã nghiên cứu để bố trí quán rượu, thức ăn ngon đã làm cho quán rượu này rất nổi tiếng ở Trường An, được vinh danh là “Trường An đệ nhất tửu quán”.
Hằng ngày đều có quan lại quyền quý và danh môn vọng tộc đến Trường An ăn cơm, thậm chí có rất nhiều thương nhân vì mộ danh mà đến, việc kinh doanh vô cùng phát đạt. Nhưng thực tế, rất ít người biết được bối cảnh của quán rượu này, chỉ biết đông chủ của nó là một đại thương nhân của quận Nam Dương. Không ai ngờ thực ra đông chủ của nó chính là Đào thị Kinh Châu.
Trưa hôm nay, quán rượu Vọng Nguyệt cũng nhộn nhịp như thường ngày, khách ra vào nườm nượp. Một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi đi đến trước quán, y chính là Khương Quýnh tùy tùng của con trai Khương Vương. Hôm nay, y đồng ý lời mời của bạn bè đến quán này uống rượu.
Khương Quýnh khoảng 30 tuổi, dáng người khá cao, vạm vỡ nhưng không thô lỗ, từng cử chỉ hành động toát ra một khí chất tao nhã. Mặc dù y là người Khương nhưng đã bị Hán hóa từ mấy đời trước, y cũng không khác gì người Hán, hơn nữa lại văn võ song toàn, tài hoa xuất chúng. Nếu không phải do loạn Mã Siêu thì y cũng không bỏ chạy đến Lương Châu.
Khương Quýnh đi đến trước quán rượu, hơi do dự chắp tay nói với một tiểu nhị:
- Ta có hẹn bạn đến đây, bạn của ta họ Dương, không biết đã đặt chỗ chưa?
Tiểu nhị sửng sốt rồi vội vàng hỏi:
- Khách nhân là họ Khương đúng không?
- Đúng vậy!
Tiểu Nhị vội vàng cười nói:
- Dương thư tá có đặt phòng, mời Khương tiên sinh đi theo tôi.
Khương Quýnh vui vẻ gật đầu, đúng là y và thư tá quạn nha Dương Vân có hẹn đến đây uống rượu. Y liền đi theo tiểu nhị vào quán, tiểu nhị dẫn y di vào một phòng về mặt trái, rồi đi thẳng lên tầng 3. Điều này khiến cho Khương Quýnh thấy lạ, sao lại đặt phòng ở chỗ khuất như vậy?
Lầu 3 gần như không có khách, bọn họ đi đến tận cùng, tiểu nhị chỉ vào phòng ở cuối nói:
- Chính là chỗ này, xin mời!
Khương Quýnh do dự một chút rồi đẩy cửa đi vào, đi vào phòng y lập tức ngẩn người ra, thấy có 3 người ngồi trong phòng, bên phải là Dương Vân bạn mình, còn người bên trái là một gã văn sĩ mặc nho bào, thần thái rất thư nhàn.
Nhưng người ngồi ở chính giữa mắt to, mày rậm, dáng người khôi ngô tuấn tú, tuy đầu đội bình khăn nhưng lại có một khí chất rất dũng mãnh. Khương Quýnh chỉ cảm thấy người này nhìn rất quen, hình như đã gặp ở đâu rồi thì phải.
Trong lòng y có hơi nghi ngờ, lui về sau một bước, có hai gã người Hán cao lớn hung hăng chặn ở cửa. Khương Quýnh cảm thấy bất an, y nhìn chằm chằm vào 3 người hỏi:
- Các ngươi muốn làm gì?
Mã Đại khoát tay cười nói:
- Mời Khương tiên sinh ngồi, chúng tôi không có ác ý!
Khương Quýnh càng cảm thấy người này rất quen, nhưng lại không nhớ nổi đã gặp ở đâu, y chần chừ một lúc rồi đi lên trước ngồi xuống nói:
- Các ngươi có chuyện gì?
Mã Đại lấy một mũi tên ngắn đúc bằng đồng thau ở trong người ra giao cho Khương Quýnh cười tủm tỉm nói:
- Khương tiên sinh biết mũi tên này chứ?
Khương Quýnh ngây cả người ra, đương nhiên là y biết, đây chính là lệnh tiễn đồng của Nam Cung Tác, dùng để tập kết các bộ lạc người Khương, gọi là Khương Vương Lệnh. Y chậm rãi cầm lên, nhìn kĩ một chút rồi lại nhìn Mã Đại:
- Huynh là người Nam Cung Khương vương phái đến?
- Đúng thế, nhưng thân phân thật của ta là Giáo úy quân Hán, tại hạ họ Mã, chúng ta đã từng gặp nhau.
- Huynh là...
Khương Quýnh bỗng nhận ra người trước mặt, không ngờ là Mã Đại em trai của Mã Siêu, y lập tức vừa sợ vừa giận rồi bỗng đứng lên, căm tức Mã Đại nói:
- Hóa ra là ngươi!
Mã Đại cũng đứng lên chắp tay về phía y nói:
- Chuyện của Vi Khang ta xin lỗi nhưng Khương tiên sinh nên biết, hai đứa cháu và chị dâu của ta đều chết trong tay Vi Khang, chúng ta không vô duyên vô cớ mà giết người.
Khương Quýnh vốn là phụ tá cho Thái thú Vi Khang quận Thiên Thủy, chịu ơn của Vi Khang. Y tận mắt thấy cả nhà Vi Khang bị Mã Siêu sát hại. Tuy không phải Mã Đại xuống tay nhưng Mã Đại là em trai của Mã Siêu cũng không tránh khỏi liên quan. Khương Quýnh nghĩ đến tình cảnh thê thảm đó thì tức giận, lồng ngực hổn hển, nhìn Mã Địa chằm chằm như muốn phun ra lửa giận.
Lúc này, Dương Vân ở bên cạnh vội vàng đứng dậy khuyên nhủ:
- Khương huynh bớt giận, Mã tướng quân bây giờ là Giáo úy quân Hán, lần này là chịu sự ủy thác của Khương Vương đến Trường An.
Khương Quýnh lại nhìn vào lệnh tiễn đồng trên bàn, y nhịn cơn lửa giận trong lòng chậm rãi ngồi xuống rồi lạnh lùng hỏi:
- Có chuyện gì mời nói!
Mã Đại cũng ngồi xuống, nghiêm nghị nói:
- Ta chịu sự ủy thác của Khương Vương, đặc biệt đến đón Tiểu vương tử đi. Ta biết Khương tiên sinh có mối hận thù với ta nhưng bây giờ là việc công, hy vọng tiên sinh công tư phân minh, có oán hận gì chúng ta hoàn thành chính sự rồi nói tiếp.
Khương Quýnh dần tỉnh táo lại, rất nhanh y đã hiểu được điều huyền bí trong đó. Đây hẳn là Lưu Cảnh đã lôi kéo Khương Vương, còn Nam Cung Tác cũng nguyện dựa vào Lưu Cảnh cho nên mới có chuyện Giáo úy quân Hán đến cứu Nam Cung Bá Ngọc. Thực ra, Khương Quýnh cũng rất lo lắng cho sự an nguy của con trai mình và Bá Ngọc, hơn nữa y cũng không muốn Khương Duy con trai mình trở thành con tin, mãi mãi không thể nổi danh.
Khương Quýnh cúi đầu trầm tư một lúc lâu sau mới nói:
- Muốn đi cứu Bá Ngọc cũng không dễ, đừng nói đến người trông coi, cho dù là rời khỏi quận nha thì cũng sao có thể rời khỏi Trường An và Quan Trung?
Mã Đại thấy y đã có ý hợp tác liền mừng rỡ, vội vàng nói:
- Chúng ta có cách rời khỏi Quan Trung, quan trọng là phải rời khỏi được quận nha đã. Khương tiên sinh có thượng sách gì không?
Khương Quýnh gật đầu:
- Thực ra, 2 ngày này sẽ có 1 cơ hội.
Nam Cung Bá Ngọc là con trai độc nhất của Khương Vương Nam Cung Tác, cũng là Khương Vương tương lai, cậu ta bị giam lỏng ở Trường An làm con tin. Vì quân Hán bắc phạt, Tuân Du cũng lo lắng Lưu Cảnh sẽ lôi kéo Khương Vương liền lệnh cho Chung Diêu giám sát chặt chẽ Nam Cung Bá Ngọc, không chỉ có giam lỏng cậu ta ở quận nha mà còn phái theo hơn 10 binh lính chuyên đi canh giữ.
Nhưng dù sao Bá Ngọc cũng không phải là tù phạm, Chung Diêu cũng không dám làm quá. Một mặt hạn chế sự tự do của cậu ta, mặt khác y phái quan học Bác Sĩ Lâm Phưởng dạy Bá Ngọc đọc sách, đồng thời Chung Diêu còn chấp nhận để mỗi tháng bọn họ được ra ngoài chơi một lần.
Cơ hội như lời của Khương Quýnh nói chính là lần đi chơi này. Vừa đúng lúc hai ngày nữa sẽ đến ngày được đi chơi, kế hoạch đi chơi đã được Bác Sĩ Lâm Phưởng vạch ra từ trước đó. Theo phong tục chắc chắn phải ra khỏi thành đi tế sơn thần và hà bá, cho nên lần này đi chơi là để họ ra khỏi thành thưởng thu.
Sáng sớm, Nam Cung Bá Ngọc và Khương Duy lên một chiếc xe ngựa, Lâm Bác Sĩ có việc không đi theo được, chỉ có Khương Quýnh và khoảng hơn 10 binh lính đi để trông chừng, ra khỏi thành một vòng sẽ quay lại, xe ngựa chậm rãi khởi động, đi ra khỏi quận nha chạy về phía ngoại thành Trường An.
Nam Cung Bá Ngọc mới chỉ 9 tuổi, chẳng qua cũng chỉ là một đứa bé yếu đuối, chưa trưởng thành không có chủ kiến, nhưng bạn của cậu ta là Khương Duy thì lại thông minh hơn người. Tuy mới 11 tuổi nhưng mưu trí hơn hẳn người thường, can đảm cẩn trọng, lần này chạy trốn Khương Duy đóng vai trò là một nhân vật quan trọng.
Hôm nay mưa thu lất phất rơi, có cảm giác mát mẻ. Bọn họ đều mặc áo bào đen, đầu đội mũ, mũ chính là một cái nón tre, vành tre có bọc lụa mỏng, phủ khăn che mặt, bình thường các cô gái thường hay đội khi đi ra ngoài. Nhưng Khương Di nói có rất nhiều người đi thưởng thu rồi, bọn họ không muốn bị ai nhận ra, hơn nữa lại có mưa nên phải đội loại mũ này để ra ngoài. Đám lính trong coi chúng thấy cũng có lý liền đồng ý để chúng giả dạng như vậy.
Xe ngựa chạy qua góc tường, lúc này Khương Duy liền đá Nam Cung Bá Ngọc một cái, Nam Cung Bá Ngọc liền quát to:
- Mau dừng xe, bụng ta đau quá, ta phải đi đại tiện!
Khương Duy cung hô theo:
- Ta cũng muốn đi đại tiện!
Xe ngựa dừng lại, vị trí của họ lúc này chính giữa chỗ thuộc quận nha và cổng thành. Quay về quận nha hơi xa một chút, chỉ cách cổng có 1 đoạn. Gã lính cầm đầu thấy khó xử nhìn xung quanh thấy cách đó không xa có một căn phòng rách nát, chỉ chắn bằng mấy bức tường liền chỉ vào tường đó nói:
- Đi sang bên kia, đi nhanh về nhanh!
Khương Duy và Bá Ngọc liền nhảy xuống xe ngựa, cùng nhau chạy về phía tường. Mấy tên lính cưỡi ngựa lên trước, bám theo chúng từ xa, rất nhanh hai đứa trẻ đã biến mất sau bức tường đó, không bao lâu, hai đứa trẻ xách quần chạy ra, chúng đội mũ, cúi đầu chạy, cũng không nói gì mà lên thẳng xe ngựa.
Tên quan quân thét lệnh:
- Xuất phát!
Xe ngựa tiếp tục đi chạy về thành phía nam. Chạy đi rất xa rồi Khương Quýnh hơi quay đầu nhìn lại, liếc nhìn về phía bức tường, đợi xe ngựa biến mất, một chiếc xe ngựa khác đi tới, dừng ở chỗ tường đó, lúc này có hai cậu bé đội mũ từ sau đoạn tường đó đi ra, chính là Nam Cung Bá Ngọc và Khương Duy, hai cậu bé vừa rồi có cách ăn mặc giống hệt chẳng qua chỉ là hai thế thân trước đó trốn ở đó mà thôi. Nam Cung Bá Ngọc và Khương Duy lại nhanh chóng lên xe ngựa, xe ngựa quay đầu lao như bay.
Không lâu sau, Nam Cung Bá Ngọc và Khương Duy được đưa vào hậu viện của lữ xá, chưởng quầy Chu Trí chắp tay cười nói với hai cậu bé:
- Hai vị tiểu huynh đệ đã kiên nhẫn chờ ở đây nửa tháng, đợi sóng gió qua đi chúng ta sẽ rời khỏi Quan Trung.
Khương Duy lo lắng hỏi:
- Vậy cha ta thì sao?
Chu Trí khẽ cười nói:
- Yên tâm đi! Ngoài thành sẽ có một đại tướng võ công cao cường, ông ta sẽ cứu phụ thân ngươi, chúng ta đã sắp xếp cả rồi.
Đại chủ quản của Trường An không phải là Tuân Du mà là Ti lệ Giáo úy Chung Diêu. Chung Diêu trấn thủ Trường An đã nhiều năm, có tình cảm rất sâu sắc với nơi này, vì mùa xuân quân Hán không phát động bắc phạt, tất cả mọi người đều cho rằng có khả năng quân Hán sẽ phát động bắc phạt vào mùa thu. Cho nên, vào thu Chung Diêu vô cùng bận rộn, vì tích cực chuẩn bị cho chiến tranh.
Quan phòng của Chung Diêu cũng cách không xa phòng giam lỏng của Nam Cung Bá Ngọc. Nhưng trong thời gian này, y đã không còn thời gian mà để ý đến Bá Ngọc nữa, gần như cũng bỏ qua cả chuyện con tin của Khương Vương. Buổi trưa, Chung Diêu vào trong phòng giữa viết thư cho Tào Tháo.
Lúc này, trong sân có tiếng bước chân dồn dập, có người ở ngoài cửa bẩm báo:
- Khởi bẩm Giáo úy, xảy ra đại sự rồi!
Chung Diêu dừng bút nói:
- Vào nói đi!
Một gã thị vệ đi vào phòng khom người nói:
- Con trai của Khương Vương mất tích rồi.
Chung Diêu ngẩn người ra:
- Chuyện gì vậy, nó không ở quận nha sao?
- Khởi bẩm Giáo úy, hôm nay là lễ tháng 8, bọn họ ra ngoại thành thưởng thu, kết quả là được người ta cứu đi rồi, phần lớn đám lính trông coi đã bị giết, chỉ còn một người may mắn bị thương. Theo gã ta nói, bọn họ bị mười mấy tên người Khương phục kích, chúng cướp xe ngựa chạy trốn về phía tây rồi.
Chung Diêu giận dữ nhảy dựng lên nói:
- Lập tức phái người đuổi theo, nhất định phải bắt nó về cho ta.
Thị vệ lĩnh lệnh ra ngoài, Chung Diêu khoanh tay đi đi đi lại trong phòng. Lúc này người Khương lại cứu người đi, đây chắc chắn là Khương Vương đã bắt tay với Lưu Cảnh. Đây không phải là chuyện tốt, sẽ ảnh hưởng đến cả cuộc chiến, trong lòng y vừa hận vừa nóng ruột liền ra lệnh:
- Người đâu!
Một gã thuộc hạ lập tức đi vào, khom người nói:
- Xin Giáo úy chỉ bảo!
Chung Diêu lấy lệnh bài của mình ra đưa cho tên cấp dưới nói:
- Ngươi lập tức đi huyện Trần Thương, tìm Tào Nhân tướng quân, mời ông ta phong tỏa con đường phía tây không được để con tin của Vương Khương chạy ra khỏi Quan Trung.