Virtus's Reader
Binh Lâm Thiên Hạ

Chương 708: CHƯƠNG 708: ĐẠT ĐƯỢC THỎA HIỆP.

Tin tức Triệu Vân dẫn quân công phá Thái Nguyên tương tự cũng được truyền đến đại doanh quân Hán, cả đại doanh tưng bừng nhộn nhịp, các tướng sĩ đều mừng rỡ như phát điên, Lưu Cảnh liền hạ lệnh khao tam quân, giết lợn thịt dê, còn thưởng cho mỗi người một bình rượu, các tướng sĩ ăn no uống say, sĩ khí dâng cao, các đại tướng đều xin đi giết giặc, muốn tấn công Tào doanh, lập thêm công mới, Lưu Cảnh chỉ cười mà không hứa.

Trưa nay, Lưu Cảnh đang thảo luận kế sách ứng phó với Quân Tào trong đại trướng, Tư Mã Ý cười nói:

- Đoán chừng Tào Tháo cũng được biết việc của Tịnh Châu, chắc hẳn lão hiểu dụng ý thật sự của chúng ta, để xem lão có biết điều nhượng bộ hay không để xoay chuyển tình hình nguy khốn hiện nay, ta phỏng chừng rất nhanh nữa Tào Thào sẽ phái người đến cầu hòa.

Lưu Cảnh cũng thở dài:

- Ý định ban đầu của ta chỉ là muốn dùng Tịnh Châu để đổi lấy Quan Lũng, chứ không muốn lấy Tịnh Châu, không ngờ quan phủ các quận Tịnh Châu đều tỏ thái độ ủng hộ quân Hán của ta, điều này làm ta có chút khó xử, nếu ta từ bỏ Tịnh Châu, chẳng phải sẽ khiến bọn họ thất vọng, cũng sẽ liên lụy đến bọn họ.

Tư Mã Ý khuyên nhủ Lưu Cảnh:

- Vấn đề của Tào Tháo chính là địa bàn chiếm cứ quá nhiều nhưng lại không có sự kiểm soát thực lực tương ứng, mới dẫn đến tình cảnh khắp nơi đều bị động như hôm nay, đây là vết xe đổ, Châu Mục phải rút kinh nghiệm, không được tham lam quá nhiều, không sát thực tế, còn về các quan viên kia, phần lớn có rất nhiều quan hệ với thế gia địa phương, bọn họ chưa chắc đã ủng hộ Châu Mục, chẳng qua là bất mãn với Tào Tháo mà thôi, ta nghĩ có Châu Mục ở bên như hổ rình mồi, Tào Tháo cũng không dám rửa sạch quan trường Tịnh Châu một cách quá đáng, nhiều nhất là mất bò mới lo làm chuồng, lung lạc thế gia Tịnh Châu, ổn định quan trường, Châu Mục không cần áy náy gì với bọn họ.

Lưu Cảnh cũng biết hiện hắn vẫn chưa thâu tóm được thực lực của Hà Đông, nóng vội trái lại sẽ làm hắn bị động, phải làm đến nơi đến chốn, dần dần từng bước, biết tiến thoái mới là vương đạo, Lưu Cảnh cười nói:

- Mặc dù như thế, nhưng khiến bọn họ thất vọng cũng làm ta áy náy trong lòng, đây là lẽ thường tình.

Tư Mã Ý suy nghĩ một lát lại nói:

- Nếu Châu Mục cảm thấy băn khoăn, có thể bảo Triệu tướng quân nói chuyện với bọn họ, xin bọn họ hiểu cho, đây không phải là muốn vứt bỏ bọn họ, như vậy bọn họ cũng sẽ tâm phục khẩu phục.

- Nói rất đúng, đây là biện pháp hay.

Hai người đang nói thì một tên thị vệ đứng ở cửa đại trướng bẩm báo:

- Khởi bẩm Châu Mục, Tào Tháo phái sứ giả đến, hình như là Trình Dục.

Lưu Cảnh và Tư Mã Ý liếc nhau một cái, Lưu Cảnh không nhịn được bật cười:

- Không ngờ lại phái quân sư tới đàm phán, xem ra Tào Tháo đúng là rất cấp bách rồi.

Tư Mã Ý vội nói:

- Để vi thần đi nói chuyện với y!

Lưu Cảnh gật đầu cười nói:

- Nhưng về lễ nghi vẫn cần, Trình Dục là người ta kính trọng, ta muốn đích thân tới tiếp đón y.

Trình Dục chỉ dẫn theo một tên tùy tùng đi qua cầu nổi đến, y đứng chắp tay, nhìn thế giới tuyết trắng xóa ở nơi xa, tuyết dày chừng một thước, thời tiết như vậy thì hai quân đánh nhau như thế nào chứ? Lưu Cảnh rõ ràng không có ý tấn công Trung Nguyên, chỉ là tạo áp lực thôi.

Lúc này cửa đại doanh mở ra, tiếng trống nhạc vang lên, Trình Dục hơi ngẩn người, quay đầu nhìn, chỉ thấy từng đội binh lính lễ nghi xếp thành hai hàng, mấy chục tướng lĩnh vây quanh Lưu Cảnh đi ra từ trong doanh trại, Trình Dục vội tiến lên thi lễ:

- Châu Mục đích thân ra đón, Trình Dục thật không xứng!

Lưu Cảnh chắp tay đáp lễ với hắn rồi nói:

- Trọng Đức tiên sinh là danh sĩ thiên hạ, nổi tiếng xa gần, Lưu Cảnh cũng kính trọng và ngượng mộ đã lâu, hôm nay tiên sinh đích thân đến đây, Lưu Cảnh sao dám vô lễ, mời tiên sinh theo ta vào doanh trướng.

Mặc dù Lưu Cảnh rất khách khí, nhưng ý tứ lại rõ ràng, hắn đích thân ra đón không phải vì Trình Dục là quân sư của Tào Tháo, mà vì kính trọng danh tiếng của Trình Dục, điều này làm cho Trình Dục rất cảm động, cũng có chút đắc ý, y vuốt râu cười nói:

- Châu Mục khách khí như thế, Trình Dục cung kính không bằng tuân mệnh.

Trình Dục đi theo Lưu Cảnh vào đại doanh quân Hán, chỉ thấy doanh trướng trong đại doanh ngay ngắn, mặt đất sạch sẽ, các binh lính đi lại có trật tự, hai ba người cũng xếp thành hàng, tuyệt đối không có lính hành quân đơn độc, từ những chi tiết này có thể nhìn ra quân Hán huấn luyện rất nghiêm chỉnh, không hổ là kình địch của Quân Tào.

Trình Dục âm thầm gật đầu, cùng Lưu Cảnh đi vào đại trướng trung quân, hai người ngồi xuống, Tư Mã Ý và Cam Ninh ngồi hai bên, không đợi Trình Dục cất lời, Lưu Cảnh liền dẫn đắt chủ đề trước, cười nói:

- Nghe tin sau trận chiến Xích Bích, tiên sinh không mưu quân sự nữa mà luôn phò tá việc chính vụ, ta cũng thấy đáng tiếc, mưu lược quân sự mới là sở trường của tiên sinh.

Trình Dục không rõ ý của câu này liền cười gượng gạo:

- Thừa tướng tuổi đã cao, chính vụ hàng ngày đều giao cho Phi công tử, mấy năm nay ta luôn phò tá Phi công tử.

- Ra là thế!

Lưu Cảnh lại hỏi:

- Tiên sinh thấy Phi công tử và Thực công tử, ai thích hợp làm Thế tử hơn?

Trình Dục ngẩn người, lập tức hiểu ra, Lưu Cảnh muốn nói đến vấn đề nối nghiệp của Tào Tháo, có lẽ muốn mượn lời của mình để truyền đạt đến Tào Tháo cái gì đó, y thản nhiên cười, không lộ thanh sắc:

- Đây là chuyện nhà của Thừa tướng, kẻ bề tôi không tiện hỏi nhiều.

- Cũng không đúng, Thế tử của Thừa tướng liên quan đến hưng vong của nước Ngụy, sao lại là việc nhà? Hơn nữa, tiên sinh chẳng phải đã sắp xếp cho Phi công tử chinh phạt Liêu Đông sao? Sao nói là không hỏi đến?

Nói đến đây, Lưu Cảnh thản nhiên nhìn Trình Dục, Trình Dục thầm kêu lợi hại trong lòng, không ngờ chuyện này lại bị Lưu Cảnh nhìn thấu, khó tránh Tào Tháo chỗ nào cũng bị động, Trình Dục vừa không thừa nhận, cũng không phủ nhận, mỉm cười hỏi:

- Ta nghe Thừa tướng nói, lần trước khi gặp mặt Châu Mục khuyên Thừa tướng lập Thực công tử làm Thế tử, lý do là sao?

- Thật ra Tào Phi là hạng người gì, Trình tiên sinh còn rõ hơn ta, gã sẽ không chỉ cam tâm làm một Ngụy công nho nhỏ, từ lợi ích của ta mà nói, ta chỉ mong sao gã phế truất Đương kim thiên tử, lập Ngụy thay Hán, sau đó ta sẽ có thể danh chính ngôn thuận kế thừa Hán thống, chỉ có điều như vậy thì Tào thị cách ngày diệt môn không xa nữa rồi, ta kính phục Tào Thừa tướng thống nhất phương bắc, có công với xã tắc, vì thế ta mới khuyên lão, đừng đi tiếp lên phía trước nữa, còn đi nữa tức là vực sâu vạn trượng, Trình tiên sinh là tâm phúc của Thừa tướng, cũng là tri âm của lão, nên khuyên Thừa tướng yêu quý thanh danh sau khi chết của mình, như vậy mới xứng với ơn tri ngộ của Thừa tướng, tiên sinh nghĩ sao?

Những lời này được Lưu Cảnh nói với vẻ rất thành khẩn, khiến Trình Dục cũng có chút hổ thẹn, quả thật y không lo nghĩ đến danh tiếng sau khi chết thay cho Tào Tháo, còn cực lực ủng hộ Tào Phi, cũng là vì lợi ích của mình, về điểm này y không bằng Tuân Du, Tuân Du trước sau không chịu tham gia vào cuộc tranh giành giữa Tào Phi và Tào Thực.

Trình Dục thở dài đáp:

- Lời vàng ngọc của Châu Mục, ta sẽ chuyển đến Thừa tướng, lần này ta tới đại doanh quân Hán là muốn bàn chuyện bãi binh giữa hai nhà, không biết

Không chờ Trình Dục nói hết, Lưu Cảnh đã cắt lời, khoát tay cười nói:

- Chính sự thì buổi chiều hãy bàn, giờ đã gần trưa rồi, ta phải tiếp đãi tiên sinh trước đã.

Ăn cơm trưa xong, Trình Dục nghỉ ngơi một lát, lúc này mới có người đến mời Trình Dục đi bàn chính sự, Trình Dục bước vào đại trướng nhưng lại không thấy Lưu Cảnh, chỉ có một mình Tư Mã Ý ở đây, lúc này y mới hiểu ra, Lưu Cảnh không đàm phán với y mà là Tư Mã Ý, Trình Dục liền gượng cười, mình đúng là hồ đồ rồi, Lưu Cảnh ngang hàng với Thừa tướng, sao lại đàm phán với mình chứ?

Trình Dục nghĩ thông điều này nên cũng buông xuôi, ít ra thì Lưu Cảnh cũng chịu đàm phán với y, đây là một khởi đầu tốt đẹp, y vội tiến lên chắp tay cười nói:

- Để Tư Mã quân sư phải chờ lâu.

Lúc hoàng hôn buông xuống, Trình Dục trở về tới Tào doanh, Tào Tháo lập tức sai thị vệ đi mời y đến đại trướng của mình, hai người ngồi xuống, Tào Tháo sốt ruột liền hỏi:

- Thế nào rồi?

- Tóm lại không để cho Thừa tướng phải thất vọng, ít nhất chúng ta đoán không sai, Lưu Cảnh chuẩn bị kết thúc chiến dịch này bằng cách đàm phán, chỉ là về chi tiết vẫn cần hai bên cân nhắc tiếp, đặc biệt một số điều kiện của hắn, ty chức lo Thừa tướng khó có thể chấp nhận.

- Nói thử xem, hắn có điều kiện gì?

Tào Tháo bình tĩnh hỏi.

- Một là về Tịnh Châu, Lưu Cảnh không muốn rút quân, kế đến Quân Tào rút quân từ Quan Lũng, lấy Đồng Quan làm ranh giới.

Sắc mặt của Tào Tháo rõ ràng tối sầm lại, điều kiện đầu tiên lão đã không thể chấp nhận, Lưu Cảnh muốn chiếm giữ Tịnh Châu, sao có thể? Lát sau, lão lạnh lùng hỏi:

- Còn gì nữa không?

- Còn nữa, đó là điều kiện về chính trị và kinh tế, có ba điều, một là xin Thiên tử phong hắn làm Hán vương; Hai là Thừa tướng phải bảo đảm Phục Hoàng hậu tuyệt đối an toàn, không được phế truất Phục hậu; Ba là hoàn toàn mở cửa buôn bán, mở rộng Trừng Thủy, khơi thông đường sông giữa Nhữ Thủy và Dục Thủy.

Tào Tháo chắp tay đi qua đi lại trong đại trướng, lúc này lão đã hoàn toàn bình tĩnh, trong ba điều kiện cuối của Lưu Cảnh thì hai điều đầu tiên về căn bản không thành vấn đề, điều một thì lần trước lão cho con trai Tào Thực đi sứ Thành Đô đã bày tỏ thái độ rồi, muốn sách phong Lưu Cảnh làm Vương, chỉ là bản thân Lưu Cảnh không đồng ý; Còn điều thứ hai, bảo đảm an toàn của Phục Hoàng hậu, lão cũng đã đồng ý với Lưu Cảnh lần trước khi rút quân khỏi Kinh Châu, cũng chỉ là lời cũ nhắc lại, mấu chốt là điều thứ ba, mở cửa buôn bác, khai thác đường thủy, điều này mới là quan trọng nhất, hai điều trước chẳng qua là để che dấu điều thứ ba.

Tào Tháo rất rõ tình hình sau khi mở cửa buôn bán, cũng hiểu rõ hậu quả khi tiền của Kinh Châu lưu thông ở phương bắc, trước đây Giang Đông chẳng phải cũng bị Kinh Châu bóc lột như vậy, lấy đi rất nhiều vật tư, đặc biệt là quặng sắt, sắt luyện hảo hạng đều đổ vào Kinh Châu, nếu như mình mở cửa giao dịch, có lẽ cũng sẽ bị bóc lột y như vậy.

Tào Tháo chần chừ không nói, lúc này, Trình Dục lại khuyên nhủ:

- Thật ra Thừa tướng cũng không cần quá lo lắng việc buôn bán, phương bắc không phải là Giang Đông, không dễ bị bóc lột như thế, hơn nữa mở cửa mậu dịch là việc của hai bên, vật tư phương nam tương tự cũng sẽ đổ về phương bắc, huống hồ Lưu Cảnh đã chiếm lĩnh được vùng Quan Lũng, đã không còn là Chư hầu phương nam nữa, hắn cũng phải suy xét cho phương bắc, vì thế vi thần nghĩ Lưu Cảnh đưa ra điều kiện thứ ba thực sự không phải là bóc lột phương bắc.

- Vậy ý của hắn là gì?

Tào Tháo quay đầu lại hỏi.

- Ty chức cũng đã thảo luận qua chuyện này với Tư Mã Ý, ý của Tư Mã Ý nói là Lưu Cảnh muốn thông qua mậu dịch để tăng cường giao lưu nam bắc, mở rộng qua lại với phương bắc, đặt nền tảng cho việc hòa hợp thống nhất thật sự của Thiên hạ sau này.

- Thì ra là thế!

Lúc này Tào Tháo mới chợt hiểu, tên Lưu Cảnh này quả nhiên là tài trí mưu lược kiệt xuất, hiểu được điểm này, sự lo lắng của Tào Tháo cũng biến mất, lão cũng ủng hộ nam bắc giao lưu hòa hợp, điều này phù hợp với tư tưởng thiên hạ của lão, về phương diện thống nhất nam bắc, Tào Tháo luôn là người khởi xướng tích cực, bất luận tương lai ai nắm giữ thiên hạ nhưng quan niệm chính trị của Tào Tháo lại không hề thay đổi.

Tào Tháo lại suy ngẫm một lát mới nói:

- Ba điều kiện cuối ta có thể đồng ý với hắn, nhưng hắn phải rút quân khỏi Tịnh Châu, điểm này không được hàm hồ, hai bên lấy sông Hoàng Hà và Đồng Quan làm ranh giới, vũ khí mang về kho, cho dân chúng nghỉ ngơi lấy lại sức.

- Vi thần hiểu, ngày mai vi thần lại đi đàm phán với Lưu Cảnh.

Qua ba vòng đàm phán, Lưu Cảnh và Tào Tháo cuối cũng đã đạt được thỏa hiệp, Tào Tháo công nhận việc Lưu Cảnh chiếm giữ Quan Lũng, quân Hán thì rút khỏi Tịnh Châu, hai bên lấy Hoàng Hà và Đồng Quan làm ranh giới, mặt khác, Tào Tháo biểu tấu lên Thiên tử phong cho Lưu Cảnh làm Hán Vương, bảo đảm an toàn của Phụ Hoàng hậu, đồng thời hai nhà Tào – Lưu mở cửa buôn bán, còn về việc khơi thông đường sông giữa Nhữ Thủy và Dục Thủy thì hai bên sẽ hiệp thương cụ thể.

Ngày thứ ba sau khi hai bên đi đến nhất trí, Lưu Cảnh và Tào Tháo lần lượt ký tên và hiệp nghị hòa giải, tạm thời chấm dứt cuộc chiến giữa hai bên kéo dài gần mười năm, các bên tự rút lui, bắt đầu nghỉ ngơi hồi phục sức khỏe, nhưng cùng với sự mở rộng về phía tây của thế lực Giang Đông, quan hệ giữa Kinh Châu và Giang Đông bắt đầu xuất hiện sự rạn nứt.

Chương 709: Chức quan mới của Đào Chính.

Tuyết rơi lả tả ở quận An Lục, tuyết đọng dày tới một thước, thế nhưng ở quận Giang Hạ lại chỉ rơi ít tuyết, giữa núi cao nước biếc, giống như mái tóc mai của người đẹp hết thời, thi thoảng điểm màu trắng tuyết.

Tám vạn đại quân rút lui khỏi quận An Lục, nghỉ ngơi chỉnh đốn ở quân doanh Hạ Khẩu, còn Lưu Cảnh cũng không về Thành Đô ngay, mà nhân cơ hội này thị sát Giang Hạ, sáng sớm nay, Lưu Cảnh đã ngồi thuyền từ từ ép sát bến tàu Kỳ Xuân.

Thái thú quận Kỳ Xuân Đào Chính từ sớm đã dẫn một đám quan viên nghênh đón Châu Mục ở trên bến tàu. Đào Chính vốn giữ chức Trưởng sử quận Kỳ Xuân, ba năm trước, sau khi quận Kỳ Xuân chính thức thuộc về Kinh Châu, Đào Chính liền chính thức được thăng chức từ Trưởng sử lên Thái thú, y ở đây đã được bốn năm rồi.

Danh tiếng của y ở quận Kỳ Xuân rất tốt, năm ngoái khi chuẩn bị điều đi giữ chức Thái thú Nam quận, các bô lão quận Kỳ Xuân đã không cho y đi, ép y ở lại đây, Lưu Cảnh cũng nhìn thấy rất rõ thành tích của y, qua ba năm y quản lý, quận Kỳ Xuân đã từ một quận nhỏ lạc hậu, dân cư thưa thớt, thành trì cũ nát, dần dần trở thành quận có sản lượng lương thực đứng thứ năm ở Kinh Châu, chỉ xếp sau Tương Dương, Giang Hạ, Nam quận và Trường Sa, thậm chí vượt qua cả quận Linh Lăng.

Vì thế, phủ tướng quân đặc biệt phái người tới quận Kỳ Xuân điều tra ngầm, lúc này mới biết, dân số của quận đã tăng từ mười ngàn hộ lên đến hơn ba mươi ngàn hộ, dân số chủ yếu từ quận Lư Giang và Dự Chương đổ vào, ở quận Kỳ Xuân, dân chúng từ Dương Châu dời đến đều có ruộng canh tác của họ, mỗi hộ đều có hơn một trăm mẫu ruộng, quan phủ không bị ràng buộc phải cung cấp trâu cày và có thể miễn trừ lao dịch, trẻ con đi học được quan phủ cung cấp chỗ ăn ở, như vậy đã thu hút được lượng lớn dân chúng Dương Châu di cư đến, giúp dân số nhanh chóng gia tăng.

Cùng lúc đó, hãng buôn Đào thị chuyển toàn bộ kho hàng đến quận Kỳ Xuân, đội tàu cũng dừng lại hết ở đây, quan phủ mỗi năm thu được rất nhiều của cải, dân chúng bình thường cũng rất dễ tìm được việc kiếm tiền.

Trên thực tế, sự trỗi dậy của quận Kỳ Xuân chủ yếu dựa vào tài lực của Đào gia đã ủng hộ rất lớn cho quận Kỳ Xuân, đây là việc mà giới quan trường Kinh Châu đều biết rõ, Đào chính cũng bởi vậy đã đạt được công trạng mà người khác phải mất mười năm mới làm được, có điều chỉ cần Lưu Cảnh ngầm ưng thuận thì cũng không ai nói vì về “công trạng đặc biệt” này, dù sao quận Kỳ Xuân quả thật đã trỗi dậy rồi và cũng không hề làm giả.

Lưu Cảnh bước nhanh xuống boong thuyền, Đào Chính dẫn đám quan viên tiến ra chào đón, cùng nhau khom người thi lễ:

- Tham kiến Châu Mục!

Lúc này mấy tên thị vệ phía sau Lưu Cảnh đều bật cười khúc khích, Lưu Cảnh giờ mới phát hiện ra, mười mấy viên quan đều mặc quan bào cũ bạc màu, có người trên quan bào còn chắp vá, rõ ràng đã được bàn bạc chuẩn bị.

Lưu Cảnh vừa bựcc mình vừa buồn cười, nói với mọi người:

- Các vị cũng không cần xoắn xuýt nghênh đón ta quá thế, ta chỉ là tới thăm anh vợ của ta một lát thôi, mọi người hãy cứ thoải mái đi.

Mọi người nhìn quan bào của nhau, đúng là có phần quá mức, đám đông đều ngượng ngùng bật cười.

Lưu Cảnh trở mình lên ngựa, cùng mọi người đi về phía huyện thành, lần tới huyện thành Kỳ Xuân trước đã rất nhiều năm, cùng Tôn Quyền ký kết hiệp ước ứng phó với quân Tào ở đây, sau đó lập tức xảy ra đại chiến Xích Bích. Trong trí nhớ của Lưu Cảnh, huyện Kỳ Xuân cũ nát và lộn xộn, mặt đất lầy lội không chịu nổi, thế nhưng huyện Kỳ Xuân lúc này lại khiến hắn sáng mắt.

Từng dãy nhà chỉnh tể trật tự, rõ ràng đều mới được xây dựng, hai bên trồng đầy cây xanh, mặt đường lát đá xanh, đường phố rộng rãi mà sạch sẽ, trẻ con phần lớn mập trắng, nhà nhà đều mở cửa, hương án đặt trên cửa, quỳ lạy nghênh đón mình vào thành.

Đào Chính nhìn ra sự tán thành trong mắt Lưu Cảnh, y có phần ngượng ngùng giải thích:

- Khoảng bốn năm trước, ty chức tập trung toàn thể dân chúng đến bàn bạc, mọi người đã đặt ra quy định, nhà ở đều xây giống nhau, trước sau nhà trồng cây xanh và hoa, không được phép vứt rác bừa bãi, lại càng không được ỉa đại bậy bạ, đá trên các phố lớn ngõ nhỏ đều do dân chúng toàn huyện cùng nhau lát nên, nguyên liệu đá cũng không tốn bao nhiêu tiền, mất mấy năm cố gắng, huyện Kỳ Xuân đã thay đổi rất lớn, di dân từ Dương Châu tới đã vào huyện thành rồi đều không muốn đi.

Lưu Cảnh quả thực rất hài lòng với cảnh sắc đường phố trước mắt, đặc biệt thích sự sạch sẽ gọn gàng nơi đây, hắn lại cười hỏi:

- Nếu trái với quy định thì xử thế nào? Ý ta nói, ngươi bỏ được một số thói xấu bẩn thỉu của dân chúng sao?

- Rất đơn giản, quy tắc là do mọi người quyết định, mỗi nhà mỗi hộ đều ấn dấu vân tay, giả dụ không tuân thủ sẽ nghiêm trị, lần đầu tiên thì đánh năm mươi roi trước mặt mọi người coi như cảnh cáo, lần thứ hai tái phạm sẽ bị đuổi cả nhà ra khỏi huyện Kỳ Xuân, tới sống ở vùng quê gần đó, không cho vào thành nữa, có điều tới giờ, chỉ mới đánh mười mấy người, không có nhà nào bị đuổi ra khỏi thành, mọi người đều rất thích sự sạch sẽ trong lành này nên sẽ tự giác duy trì.

Lưu Cảnh gật đầu, hắn vẫn phải thừa nhận Đào Chính quả rất có năng lực, không chỉ bởi vì là anh vợ của mình.

Thật ra Lưu Cảnh luôn rất quan tâm đến sự phát triển của Đào gia trong quan trường, hiện giờ Đào gia đã không chỉ là thương nhân, mà cũng dần có tiếng nói trên quan trường, ngoài Đào Chính giữ chức Thái thú Kỳ Xuân ra, Thái thú quận Âm Bình Dương Lượng cũng là em rể của Đào Thắng, ngoài ra còn bốn năm con cháu Đào gia giữ chức quan viên các quận huyện, ngay cả bản thân Đào Thắng cũng vì Đào gia đã có những cống hiến lớn lao với Kinh châu mà được phong làm hương hầu.

Tuy nhiên điều khiến Lưu Cảnh hài lòng là, con cháu Đào gia khiêm tốn chăm chỉ, không bao giờ làm những việc xấu ức hiếp dân chúng, trái lại được mọi người tôn trọng, trong quan trường cũng thanh liêm, kỷ luật. Đương nhiên, điều này có liên quan đến sự giàu có của Đào gia, bọn họ chỉ bỏ tiền ra cho mọi người chứ không hề kiếm tiền về trong nhà, Đào Chính là một vị quan tốt giản dị thanh liêm như thế, năm nào cũng được đánh giá là tốt nhất.

Lưu Cảnh bước vào quận nha nói chuyện với mọi người mấy câu, đám đông đều biết điều lui ra, trong phòng chỉ còn lại Lưu Cảnh và Đào Chính, Lưu Cảnh mỉm cười nói:

- Lần này ta đến quận Kỳ Xuân, chủ yếu là để bàn với ngươi một việc, chính xác là muốn bảo ngươi làm một việc.

Đào Chính cũng không vì y là anh vợ của Lưu Cảnh mà quên mất lễ nghi trên dưới, y cung kính khom người nói:

- Xin Châu Mục cứ chỉ bảo, vi thần đương nhiên sẽ tuân theo.

Lưu Cảnh gật đầu, trầm ngâm một chút:

- Là thế này, ta định điều ngươi đến Trường An nhận chức Thái thú quận Kinh Triệu kiêm Trường An lệnh, ngươi có đồng ý không?

Dù là Đào Chính đã có tâm lý chuẩn bị, nhưng vẫn bị kinh hãi, đảm nhiệm chức quan chính ở Trường An, y biết điều này đồng nghĩa với cái gì, trước đây Thái Diễm giữ chức Thái thú Tương Dương kiêm Tương Dương lệnh, về sau Đổng Hòa nhận chức Thái thú Thục quận kiêm Thành Đô lệnh, tuy nhiên giờ Đổng Hòa là một trong ngũ tướng, tương lai dời đô đến Trường An thì y sẽ là quan chính của kinh thành, Đào Chính không hề thấy vui sướng mà cảm nhận được áp lực nặng nề, y biết phân lượng của chức vụ này.

Lâu sau, y thấp giọng nói:

- Ty chức lo năng lực không đủ, cuối cùng sẽ khiến Châu Mục thất vọng.

Lưu Cảnh đứng dậy vỗ vai y, nói ý sâu sa:

- Ngươi phải hiểu một điều, nếu không có địa vị cao của Đào gia thì địa vị của Hán Vương phi tương lai e rằng sẽ bất ổn.

Đào Chính toàn thân chấn động, y bỗng hiểu ra, Lưu Cảnh đang muốn xây dựng thế lực ngoại thích cho muội muội, y thấy vừa cảm động vừa sợ hãi.

- Cảm tạ sự coi trọng của Châu Mục với Đào gia, ty chức chỉ lo không đủ kinh nghiệm, giữ chức Trường An lệnh sẽ khiến người khác dị nghị.

Lưu Cảnh mỉm cười:

- Ngươi nghĩ sẽ có người chỉ trích sao?

- Vi thần hiểu rồi, tuyệt đối sẽ không để Châu Mục thất vọng.

Lưu Cảnh gật đầu:

- Vậy là được rồi, Y Tịch mai mốt sẽ tới nhậm chức Thái thú Kỳ Xuân, ngươi bàn giao xong hãy đi thẳng tới Trường An, Giả Hủ sẽ tuyên đọc bổ nhiệm của ta trước mặt mọi người.

……

Lưu Cảnh chỉ ở lại huyện Kỳ Xuân có hai canh giờ, ăn xong cơm trưa, hắn liền đi thuyền tới mỏ đồng Giang Hà ở bở bên kia Trường Giang, núi Lục Đồng luôn là mỏ đồng và là nơi sản xuất mỏ vàng lớn nhất Kinh Châu, thậm chí là của cả phương nam, đây cũng là nơi cung cấp nguyên liệu đồng để đúc tiền Kinh Châu, nhất cử nhất động của nó đều có ảnh hưởng trong chính quyền Kinh Thục.

Hiện tại, mỏ đồng có sáu ngàn lính, khoảng một trăm ngàn người lấy quặng và tinh luyện kim loại ở đây, ngoài hơn mười ngàn người là lao động chiêu mộ ở địa phương ra, hơn tám mươi ngàn còn lại đều là tội phạm và tù binh của Kinh Châu và Ích Châu, sử dụng tù binh để đào mỏ đã là quy định nhiều năm nay của Kinh Châu, dù là tù binh của Tào quân hay quân Giang Đông, nếu không muốn gia nhập quân Hán thì phải phục dịch ba năm ở mỏ, sau khi mãn hạn sẽ phóng thích hồi hương.

Tuy nhiên cùng với hiệp ước hòa giải ngưng chiến được ký kết giữa quân Hán và quân Tào, tình hình tăng mạnh tù binh đã có sự xoay chuyển, theo đó tù binh liên tục được phóng thích, gây ra hiện tượng giảm bớt số lượng thợ mỏ ở đây, lần này Lưu Cảnh tới thị sát mỏ cũng chính vì nguyên nhân này.

So với tám năm trước, núi Lục Đồng hiện giờ đã thay đổi rất nhiều, trước là dùng một con sông nhỏ để vận chuyển khoáng thạch ra, nhiều nhất chỉ đi được thuyền kéo trăm thạch, nhưng giờ đường sông được đào sâu rộng hơn, đã cho phép những thuyền hàng năm trăm thạch qua lại, năng lực vận chuyển khoáng thạch cũng tăng lên mạnh mẽ, thậm chí không cần trung chuyển ở hồ Tây Tắc mà trức tiếp chuyển tới Hạ Khẩu.

Tuy nhiên thứ vận chuyển ra bây giờ không phải là khoáng thạch, mà là phôi đồng thô hoặc khối kim loại đã được luyện xong ở mỏ, ngay từ năm năm trước quận Giang Hạ đã xây dựng khu chế luyện trong mỏ, có mấy chục chiếc lò cao ngày đêm không ngừng nghỉ để luyện ra những thỏi đồng thô từ khoáng thạch, sau đó chuyển đến Hạ Khẩu tinh luyện và đúc tiền.

Lưu Cảnh đi cùng với người giám sát mỏ Đặng Chi và Giáo úy Trương Dực bước vào khu thợ mỏ rộng lớn, Đặng Chi năm ngoái đã tới đây nhậm chức giám sát mỏ, phụ trách khai thác và tinh luyện toàn bộ mỏ đồng, còn phụ trách thêm cả việc quản lý thợ mỏ, trong khi đó Trương Dực thì dẫn sáu ngàn quân canh giữ, chịu trách nhiệm cho an ninh ở mỏ và giám sát tù binh.

Khu thợ mỏ rộng khoảng mấy ngàn mẫu, bốn phía xây tường bao quanh, cứ cách trăm bước lại có một tháp canh, cảnh giới nghiêm ngặt, toàn toàn bộ khu thợ mỏ có năm ngàn đại trướng, doanh trướng sắp hàng chỉnh tề, đường rộng sạch sẽ, tổng cộng chia làm mười khu để quản lý, giữa mỗi khu đều có tường bao cao bằng đầu người ngăn cách.

Đặng Chi vừa đi vừa giới thiệu cho Lưu Cảnh:

- Khởi bẩm Châu Mục, hiện nay mỗi đại trướng có hai mươi người, lập một thập trưởng, hàng ngày mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ, mỗi tuần nghỉ một ngày, làm việc và nghỉ ngơi rất có quy luật, trị an cũng tốt, trong thời gian vi thần giữ chức giám sát mỏ, không hề xảy ra bạo động, chỉ xảy ra hai cuộc chạy trốn, bắt giữ được hơn ba trăm người, trừng phạt theo quy định, kéo dài thời gian phục dịch năm năm.

Lưu Cảnh gật đầu hỏi tiếp:

- Thức ăn thì thế nào?

- Thức ăn không khác biệt so với quân đội lắm, được ăn no, ba ngày ăn một bữa thịt, theo quy định, những tù binh này cũng có tiền tiêu vặt hàng tháng, mỗi tháng một trăm tiền, lúc phóng thích đều tính ra vàng để trả, gần như mỗi người có thể kiếm được một cân vàng về nhà, tội phạm cũng thế.

Lúc này, bọn họ đã tới khu Đông Tam, đây là khu phóng thích, tất cả tù binh chuẩn bị đến hạn phóng thích thì trước một tháng sẽ được chuyển đến sống ở đây, gồm một ngàn doanh trại tạo thành, mỗi trướng chỉ có mười người, hầu hết thời gian chỉ có năm sáu người ở, nhưng lần này lại chặt kín toàn bộ.

Đây là lần phóng thích quy mô lớn nhất từ khi xây dựng khu thợ mỏ đến nay, phóng thích một lần mười bốn ngàn người, đây là vì sau khi quân Hán chiếm lĩnh Quan Lũng đã phóng thích toàn bộ tù binh người Quan Lũng, những tù binh thật sự mãn hạn ba năm chỉ có chưa đến ba ngàn người, số còn lại đều là tù binh người Quan Trung hoặc Lũng Hữu.

Lưu Cảnh vừa bước vào khu Đông Tam đã nghe thấy tiếng ầm ĩ truyền đến.

Chương 710.1: Người trong tộc quay về phía nam.

- Xảy ra chuyện gì thế?

Trương Dực gào lên xông tới, trong lòng gã cực hận, bình thường đều yên lặng phóng thích, sao hôm nay Châu Mục đến thị sát lại ầm ĩ gây ra chuyện, đúng là vả vào mặt gã.

Chỉ thấy mấy trăm tù binh ôm đầu gối ngồi chồm hổm trên mặt đất, gây gộc của binh lính hai bên đánh tới tấp như mưa, một gã quân hầu tiến lên bẩm báo:

- Khởi bẩm tướng quân, những tù binh này giả mạo là người Quan Lũng, mưu đồ lừa bịp để vượt qua cửa ải nhưng sau khi bị người khác tố cáo đã điều tra ra, bọn họ không phục liền kêu la gây chuyện, được các huynh đệ chế phục rồi.

Trương Dực mặt xanh mét ra lệnh:

- Lôi bọn họ đi, mỗi người đánh một trăm gậy!

Hơn ngàn tên lính lôi đám người này đi như hổ như sói, mấy trăm người gào khóc cầu xin, liều mạng dập đầu xin tha, lúc này Lưu Cảnh đi lên trước hỏi:

- Có chuyện gì đấy?

- Những tù binh này đoán chừng là muốn giả mạo người Quan Lũng để lừa dối vượt cửa ải, bị điều tra ra nhưng lại không cam lòng nên ra sức kêu la.

Lưu Cảnh đến trước mặt một gã tù binh trẻ tuổi, liếc mắt dò xét gã rồi hỏi:

- Ngươi là người ở đâu? Sao lại phải mạo hiểm chạy trốn, lẽ nào ngươi không biết hậu quả nghiêm trọng sao?

Gã tù binh trẻ tuổi rơi nước mắt đáp:

- Khởi bẩm tướng quân, tại hạ là người quận Hà Gian, tham gia cuộc tạo phản Tô Ngân nhưng bị trấn áp, ép làm quân Tào, bị bắt làm tù binh khi Ký Thành bị dìm, tại hạ đã rời nhà năm năm rồi, thực sự rất nhớ cha mẹ, khẩn cầu tướng quân tha cho tại hạ lần này, lần sau sẽ không dám chạy trốn nữa.

Đám tù binh đều cảm giác vị tướng quân trước mặt này dường như là quan lớn, ngay cả giám sát mỏ và Giáo Úy cũng đều cung kính lễ độ trước mặt hắn, bọn họ cùng quỳ xuống xin tha thứ, tiếng khóc vang lên ầm ĩ, khẩn cầu tha cho bọn họ một lần, bọn họ đều biết, không chỉ đơn giản là đánh một trận mà thời gian phục dịch còn phải kéo dài năm năm, điều này khiến bọn họ vô cùng sợ hãi.

Lưu Cảnh gật đầu:

- Lần này tha cho bọn họ đi! Lần sau không có ngoại lệ đâu.

Trương Dực quát:

- Coi như các ngươi may mắn, Châu Mục tha cho các ngươi lần này, lần sau ai dám chạy trốn nữa, ta sẽ phạt gấp đôi, dẫn bọn chúng đi!

Đám tù binh nghe nói là Châu Mục đều vô cùng xúc động, dập đầu cảm tạ, tiếng khóc vang một vùng, đám binh sĩ lôi chúng đi, trong lòng Lưu Cảnh rất lo lắng, im lặng bước ra khỏi khu thợ mỏ. Đặng Chi và Trương Dục cảm nhận được tâm trạng Châu Mục không vui nên rất bất an dẫn Lưu Cảnh tới kho hàng, kho hàng gần sát bờ sông, do ba khu kiến trúc lớn tạo thành, cất giữ năm ngàn tấn thỏi đồng, mỗi thỏi đồng nặng khoảng hai mươi cân, đều được xếp chồng lên nhau gọn gàng, trong kho hàng xếp đầy thỏi đồng, quy mô rất đồ sộ.

Lưu Cảnh bước vào phòng nghỉ ngơi ở bên trong kho hàng ngồi, có thị vệ dâng trà cho hắn, mãi đến lúc này, Lưu Cảnh mới nói với Đặng Chi và Trương Dực:

- Bởi vì ta vừa ký kết hiệp ước hòa giải với Tào Tháo nên chúng ta cần nghỉ ngơi lấy lại sức, ít nhất trong ba đến năm năm sẽ không xảy ra chiến tranh, nếu theo quy định phóng thích tù binh, e rằng ba năm nữa mỏ sẽ không còn thợ mỏ nữa rồi, vì thế ta đặc biệt tới đây thị sát mỏ là để giải quyết vấn đề này.

Đặng Chi và Trương Dực nhìn nhau, Đặng Chi cẩn thận nói:

- Trước đây Từ Trưởng sử từ đưa ra một phương án, nhưng vì cái giá quá lớn nên không được thực thi, vi thần thấy giờ có lẽ có thể suy xét.

- Nói xem nào, phương án gì?

Lưu Cảnh không nhớ rõ Từ Thứ từng đề xuất phương án gì.

- Lúc ấy, Từ Trưởng sử nói, có thể đổi các tù binh thành thợ mỏ chính thức, để bọn họ đi lại tự do, nâng cao đãi ngộ để giữ lại, đương nhiên sẽ có một bộ phận thợ mỏ muốn ở lại.

Lưu Cảnh nhớ ra, năm đó Từ Thứ quả thật từng đề xuất phương án này, nhưng tại sao không thực hiện thì Lưu Cảnh nhất thời cũng quên mất, hắn trầm ngâm hỏi:

- Ngươi thấy khả thi sao?

- Hồi bẩm Châu Mục, tuy ở mỏ đồng đều thống nhất với bên ngoài gọi là thợ mỏ, nhưng thực tế trong nội bộ chia thành thợ mỏ, nô bộc và tội phạm, nô bộc chính là tù binh với khoảng bày mươi ngàn người, hiện nay mỗi tháng được trả một trăm tiền, trong khi đó thợ mỏ được trả một nghìn tiền mỗi tháng, nếu chuyển toàn bộ nô bộc làm thợ mỏ thì gánh nặng quả thực rất lớn, trước đây chính vì điểm này mà không thực hiện, nhưng vi thần đoán nếu được đi lại tự do và thu nhập cao thì ít nhất có ba mươi ngàn người đồng ý ở lại, đồng thời người nhà của họ cũng sẽ từ phương bắc xuống Giang Hạ, rất có lợi cho việc bổ sung dân số Kinh Châu, mặc dù chi phí sẽ rất lớn nhưng đối với mỏ đồng mà bọn họ khai thác được thì chút chi phí này không đáng là gì.

Đặng Chi cố gắng đề cử cho Lưu Cảnh dùng phương án này, y giống Từ Thứ, phản đối lợi dụng tù binh để làm nô bộc, mấy lần y đã đề nghị thay đổi phương án nhưng đều không có kết quả, hiếm khi hôm nay được Châu Mục chủ động nêu ra kế hoạch lâu dài của mỏ, Đặng Chi nhân cơ hội này muốn đề xuất phương án của mình.

Y lại nhanh chóng nháy mắt với Trương Dực, bảo gã giúp mình nói mấy lời, đối với Trương Dực mà nói, rời khỏi mỏ đi đánh trận mới là lý tưởng của gã, gã cũng không muốn ở mỏ lâu để nhìn người khác lập công phong tước, Trương Dực hiểu ý của Đặng Chi liền nói với Lưu Cảnh:

- Nếu như chuyển nô bộc thành thợ mỏ thì cũng không cần sáu ngàn quân đội canh giữ, chỉ cần hai ngàn người trông giữ tội phạm và bảo vệ kho hàng là được, nhưng vậy cũng tiết kiệm được khoản chi lớn, ty chức cũng cảm thấy nếu gia quyến của đám thợ mỏ có thể tới mỏ đồng, có lẽ mỏ đồng sẽ hình thành một huyện thành mới, đó là chuyện tốt.

Lưu Cảnh gật đầu, hắn từng nghĩ sẽ đổi thời gian phục dịch của tù binh lên thành năm năm, nhưng sau khi đến mỏ, hắn đã bỏ ý nghĩ này, hắn cũng không để ý đến chi phí cao thấp mà điều hắn lo là cách kéo dài mỏ đồng này.

Trầm tư một lát, Lưu Cảnh nói với Đặng Chi:

- Ngươi hãy điều tra trước đi, xem sau khi chuyển thành thợ mỏ, sẽ có bao nhiêu người ở lại, nếu có thể đảm bảo ba mươi ngàn người ở lại thì ta sẽ xem xét phương án của ngươi, điều tra xong viết một bản báo cáo chi tiết, sau khi Bình Chương đài phê chuẩn thì có thể thực thi.

Đặng Chi mừng rỡ, vội vàng thi lễ nói:

- Vi thần tuân mệnh!

Rời khỏi mỏ, Lưu Cảnh lại đi Vũ Xương, mấy ngày sau hắn rời khỏi quận Giang Hạ, trở về Thành Đô.

Thời gian dần tới hạ tuần tháng mười hai, năm Kiến An thứ mười chín sắp sửa đến gần, nhà nhà ở Thành Đô đều quét dọn sạch sẽ, giăng đèn kết hoa, dâng các loại cống phẩm lên từ đường, trong thành đâu đâu cũng vang tiếng pháo đốt, lũ trẻ cũng bắt đầu được may áo mới, các thiếu nữ nghĩ đến việc thêm đồ trang sức, ba ngày trước năm mới, Thành Đô xảy ra một trận tuyết lớn, khắp trong ngoài thành lập tức biến thành biển tuyết trắng xóa, tuyết rơi báo hiệu năm được mùa, càng làm gia tăng thêm không khí năm mới.

Chương 710.2: Người trong tộc quay về phía nam.

Phủ của Lưu Cảnh cũng giăng đèn kết hóa, năm nay vui mừng hơn năm ngoái, không chỉ vì Tôn Thượng Hương mang thai mà còn bởi chiến tranh chấm dứt, phải nghỉ ngơi lấy lại sức mấy năm, có nghĩa là thời gian cả nhà đoàn tụ sẽ nhiều hơn.

Lưu Cảnh đã trở về phủ một ngày trước, lúc này hắn đang bàn bạc với Lưu Hổ và Lưu Hiền trong thư phòng về việc sắp xếp tế tộc, năm nay, gia tộc Lưu thị sẽ tập trung ở Thành Đô, tham dự lễ tế năm mới mỗi năm một lần, đây cũng là lần đoàn tụ đầu tiên của gia tộc Lưu thị kể từ năm Kiến An thứ thứ mười.

Lưu Cảnh không để tâm tới chuyện vụn vặt như tế tộc mà giao hết cho Lưu Hổ lo liệu, năm nay tế tộc sẽ do Lưu Hổ và Lưu Hiền toàn quyền chủ trì, Lưu Hổ cười nói:

- Năm nay rất khác so với bình thường, người trong tộc ở Nghiệp Đô cũng đều đã tới Thành Đô dưới dự dẫn dắt của Tam thúc, người không biết đúng không!

Lưu Cảnh quả thật không biết, người trong tộc ở Nghiệp Đô cũng có bảy phòng, đã đi theo Lưu Tông tới Nghiệp Đô, từ đó về sau không còn qua lại, có điều từ sau khi Lưu Độ tới Nghiệp Đô, giữa mọi người trong tộc dần dần liên hệ với nhau, không ngờ bọn họ lại tới Thành Đô tham gia hiến tế nữa, đây đúng là lần đầu tiên.

- Không biết Lưu Tông có tới không?

Lưu Cảnh cười hỏi.

Lưu Hiền lắc đầu:

- Chỉ có hắn không chịu tới, nghe phụ thân nói, những người trong tộc đi cùng hắn tới Nghiệp Đô đều sống rất nghèo túng, bị người khác xem thường, chỉ dựa vào một chút tiền hàng tháng phủ Thừa tướng phát để sống qua ngày, không thì miệng ăn núi lở, trong đó còn có ba phòng đã khởi nghiệp buôn bán, bọn họ cực kỳ oán hận Lưu Tông, năm nay Lưu Tông vốn cũng muốn tổ chức tế tộc ở Nghiệp Đô nhưng kết quả mọi người trong tộc đều theo phụ thân tới Thành Đô, giờ đang ở trong tộc quán của Lưu thị.

Nói đến đây, Lưu Hiền lại chần chừ hỏi:

- Bọn họ đều rất muốn gặp Châu Mục, không biết Châu Mục có thể bớt chút thời gian gặp bọn họ một lần không?

Chưa đợi Lưu Cảnh tỏ thái độ, Lưu Hổ ở bên cạnh đã tức giận nói:

- Chẳng phải bọn họ muốn chút lợi ích sao, trước đây thì ngạo mạn lờ Kinh Châu đi, giờ thấy Kinh Châu lớn mạnh lại mặt dày đến nhờ vả, đám người nịnh nọt đó, gặp bọn họ làm gì?

Lưu Cảnh khoát tay cười:

- Lão Hổ nói những lời này quá cực đoan rồi, chim còn biết chọn cây tốt mà đậu, huống hồ là con người, đây cũng là lẽ thường tình, dù sao là người trong cùng một tộc, ngàn dặm xa xôi từ Nghiệp Đô tới đây, cũng không được quá lạnh nhạt với bọn họ, như thế này đi! Bảo bọn họ chọn ra hai đại diện, ngày mai tới phủ tướng quân gặp ta.

Lưu Hiền mừng rỡ vội vàng khom người:

- Ty chức sẽ đi nói với bọn họ.

Lúc này ngoài cửa có tiếng cậu con trai cả Lưu Trí:

- Phụ thân, hài nhi đến rồi.

Lưu Cảnh cười đáp:

- Mau vào!

Lưu Trí bước nhanh vào, năm nay nó bảy tuổi, dáng người vừa phải, tướng mạo rất giống mẫu thân, vô cùng tuấn tú, còn ôn hòa lễ phép, Lưu Cảnh cũng rất thích đứa con này, hắn gọi con trai đến đây cũng là muốn để Lưu Trí cung tham gia việc tế tộc.

Lưu Trí bước vào phòng quỳ xuống thi lễ với phụ thân, tiếp đó bái kiến Lưu Hổ và Lưu Hiền:

- Trí nhi bái kiến hai vị bá phụ!

Lưu Trí là chủ công tương lai nên văn võ bá quan trên dưới ở Kinh Châu và Ba Thục đều vô cùng coi trọng nó, quan tâm nó bội phần, tuy nhiên Lưu Hổ lại dành cho nó một sự yêu quý khác, xuất phát từ tình thân, Lưu Hổ vội kéo nó dậy, ôm bên cạnh mình và ngồi xuống, cười hỏi:

- Ta nghe Từ Thượng thư nói, cháu đổi sư phụ rồi phải không?

Sư phụ trước đây của Lưu Trí là Lai Mẫn, học thức uyên bác, dạy Lưu Trí đọc sách họ phú, rất có tiến bộ, nhưng y có một nhược điểm cực lớn, đó là yêu rượu như mạng, sau khi uống rượu thường thất lễ, nửa năm trước có người tố giác y uống rượu chơi gái, chuyện này bị Đào Trạm biết được, nàng cực kỳ bất mãn liền viết một phong thư cho Bình Chương đài, yêu cầu đổi sư phụ cho Lưu Trí, sau khi Bình Chương đài thảo luận đã nhất trí quyết định Tần Mật sẽ đảm nhận làm sư phụ cho Lưu Trí.

Chuyện này đương nhiên Lưu Cảnh cũng biết, Đào Trạm đã viết thư cho hắn trước và được sự đồng ý của phu quân, đầu tiên ý của Lưu Cảnh là giữ lại Lai Mẫn, rồi tìm một sư phụ khác cho con, tuy nhiên Lai Mẫn đã làm chuyện thất đức sau khi uống rượu thì quả thật không nên tiếp tục làm sư tôn của con trai nữa.

Lưu Trí sợ sệt liếc nhìn phụ thân, khẽ nói:

- Trí nhi đổi sang Tần sư phụ, Lai sư phụ sức khỏe không tốt nên về quê dưỡng bệnh rồi.

Lưu Hiền ở bên cạnh bật cười, tên tiểu tử này rất biết ăn nói! Rõ ràng là bị miễn vì thất đức sau khi uống rượu mà nó lại nói là sức khỏe không tốt xin cáo từ, giỏi lắm, cư xử với mọi người rộng lượng, rất có phong thái của kẻ bề trên, Lưu Cảnh cũng gật đầu:

- Con hãy chịu khó theo Tần sư phụ đọc sách học tập, hôm nay gọi con tới đây là vì sắp đến ngày hiến tế rồi, gia tộc chuẩn bị cử hành lễ tế tộc một năm một lần, theo lý, con phải đủ mười một tuổi mới được tham gia, nhưng phụ thân chuẩn bị phá lệ, cho con năm nay bắt đầu tham gia tế tộc, chiều mai, con hãy theo hiền bá bá tới từ đường học lễ, hiểu chưa?

Tất cả bọn trẻ đều hết sức tò mò với sự vật mới, Lưu Trí cũng không ngoại lệ, từ lâu nó đã nghe sư phụ nói đến tầm quan trọng của tế tộc, nhưng chưa bao giờ có cơ hội tham gia, năm nay phụ thân phá lệ bảo nó tham gia khiến nó vô cùng phấn khích, vội quỳ xuống thi lễ:

- Hài nhi hiểu rồi.

Lưu Cảnh vỗ vai đứa con bé bỏng, cười nói:

- Đi đi! Đi nói cho mẫu thân biết, người sẽ chuẩn bị áo bào buổi hiến tế cho con.

Lưu Trí khấu đầu lui ra, lúc này Lưu Cảnh mới nói với Lưu Hổ và Lưu Hiền:

- Mấy hôm nay ta sẽ rất bận, việc chuẩn bị cho buổi tế tộc phải giao cho hai vị huynh trưởng rồi.

- Châu Mục yên tâm, chúng ta sẽ bố trí ổn thỏa.

Đúng lúc này, quản gia vội vàng chạy đến, ở cửa bẩm báo:

- Khởi bẩm lão gia, sứ giả của Thiên tử tới rồi!

Lưu Cảnh lập tức đứng dậy, hắn biết đây là sứ giả Thiên tử phái đến để sắc phòng hắn làm Hán Vương.

Cuối năm Kiến An thứ mười tám, Lưu Cảnh cử hành nghi thức sắc phong long trọng, nhận sắc phong của Thiên tử, Hán đế Lưu Hiệp chính thức sắc phong Lưu Cảnh làm Hán Vương, sắc phong Đào thị làm Hán Vương phi, Tôn thị làm Lệnh phi, đồng thời chấp thuận cho Lưu Cảnh xây dựng nước Hán, đất phong gồm Kinh Châu, Ích Châu và Quan Lũng, đồng cỏ phì nhiêu mấy ngàn dặm, dân số ngàn vạn người.

Tin tức Lưu Cảnh được sắc phong làm Hán Vương truyền đi, khắp thành reo mừng nhộn nhịp, Lưu Cảnh vì thế hạ lệnh, đại xá tù nhân, miễn giảm một năm tiền thuế và lao dịch trong cả nước để cùng chúc mừng.

Bên trong nghị sự đường của Bình Chương đài, hàng trăm đại thần quỳ lạy chúc mừng Lưu Cảnh:

- Chúc mừng Châu Mục vinh dự trở thành Hán Vương điện hạ!

Mọi người vui mừng khôn xiết, chủ công được phong làm Hán Vương, nước Hán được thành lập, đây là thời khắc mà bọn họ tha thiết mong ước, cuối cùng đã được thực hiện, Từ Thứ không kìm được nước mắt lã chã rơi, từ khi Sài Tang tự lập đến nay suốt mười năm rồi, bọn họ từng bước đi từ yếu đến mạnh, từng bước mở rộng lãnh thổ, từ hai ngàn binh sĩ mở rộng lên mấy trăm ngàn binh giáp, lãnh thổ vạn dặm, nhớ lại sự bé nhỏ cô độc giữ thành năm đó thì sự thay đổi kinh thiên động địa này khiến Từ Thứ hết sức xúc động.

Chương 711.1: Bàn bạc dời đô.

Lưu Cảnh cười nói với mọi người:

- Mặc dù là Hán vương, nhưng ta vẫn hy vọng mọi người gọi ta là Châu Mục, như vậy thân thiết hơn.

- Không được!

Đổng Hòa bước ra thi lễ, nghiêm nghị nói:

- Không lập quy củ, không thành phương viên, Điện hạ không được tùy tiện xưng hô như trước kia, Điện hạ tôn trọng cách xưng hô của mình cũng chính là tôn trọng đám ty chức.

Tư Mã Ý cảm thấy Đổng Hòa có phần quá nghiêm túc và không hiểu cho tâm trạng của Lưu Cảnh, gã cười cười hòa giải:

- Đổng Thượng Thư nói không sai, bọn ty chức cũng sắp thăng vị rồi, Điện hạ xưng là Châu Mục thì bọn ty chức không thể vẫn gọi là một đám Châu lại được!

Lời này rất nhẹ nhàng, lập tức khiến không khí căng thẳng trong đại đường dịu lại, Lưu Cảnh cũng cười nói:

- Mọi người đều đã muốn thăng chức, vậy ta cũng đành không làm khó nữa, ta đi trước một bước vinh dự được thăng Hán Vương điện hạ, có điều Đổng Thượng thư nói rất hay, không lập quy củ, không thành phương viên, chúng ta đã lập quốc thì phải có khí thế của một nước, chức quan của chúng ta tăng lên thì bổng lộc cũng phải tăng, đại tướng của chúng ta sẽ trở thành tướng quân, những thứ này đều phải thay đổi dần dần.

Nói đến đây, nụ cười của Lưu Cảnh biến mất, vẻ mặt trở nên cực kỳ nghiêm túc, cao giọng nói:

- Năm ngoái Tào Tháo đã lập nước Ngụy, đất phong bao gồm Trung Nguyên Hà Bắc, trên thực tế đã chiếm lĩnh được cả triều đình, thế nhưng, chỉ cần triều đình trung ương chưa bị hủy diệt thì Vương triều Đại Hán sẽ vẫn tồn tại, chúng ta cũng đã thành lập nước Hán, xin mời chư quân cùng ta cố gắng, lấy nước Hán làm nền tảng, chấn hưng Vương triều Đại Hán, tái hiện Đại Hán huy hoàng!

Mọi người cùng khom lưng:

- Vi thần nguyện hết lòng tận tụy để Đại Hán phục hưng, chết thì mới thôi!

- Các vị mời về quan nha đi! Ta muốn bàn một số việc kiến quốc với mấy vị Thượng thư, tin rằng sẽ có tin tức tốt lành mà mọi người mong đợi.

Đám đông tràn đầy hy vọng, lần lượt lui khỏi nghị sự đường, trong đại đường chỉ còn lại năm vị Thượng thư và thị trung Doãn Mặc, lúc này Lưu Cảnh khoát tay cười nói:

- Các vị mời ngồi đi!

Mấy vị Thượng thư ngồi xuống, Lưu Cảnh nói với mọi người:

- Chắc hẳn mọi người đều biết, lần này phong Hán Vương là một trong những điều kiện thỏa hiệp mà ta và Tào Tháo đã đạt được, cũng do ta chủ động đề xuất, đây là vì chúng ta đã công chiếm Quan Lũng, đã có nền móng lập quốc, còn về việc xưng hô chức quan thật ra đều là vấn đề nhỏ, công việc trọng đại mà chúng ta phải xem xét dời đô, đây mới là vấn đề mà hôm nay ta muốn thảo luận với các vị.

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, quả thực có phần đột ngột, buổi sáng mới nhận sắc phong, mọi người đều đang nghĩ đến việc thay đổi cách xưng hô chức quan, không ngờ Lưu Cảnh đi thẳng vào vấn đề, bàn bạc chuyện dời đô với mọi người, không cần nói mọi người cũng hiểu, ngay cả Tư Mã Ý luôn hiểu Lưu Cảnh cũng cảm thấy hơi bất ngờ,

Lúc này Từ Thứ khom người nói:

- Điện hạ muốn dời đô tới Trường An, đám ty chức có thể hiểu, nhưng ty chức nghĩ giờ vẫn không phải lúc, ít nhất điều kiện trong một hai năm chưa được chín muồi, một là dân cư Quan Trung nghèo khổ, Trường An rách nát, cần chúng ta toàn lực khôi phục, kế đó là Lũng Hữu vẫn chưa đổn định, đám Hung Nô ở Khương Đê và phương bắc không chịu quy thuận, đe dọa lớn tới Quan Trung, nếu muốn dời đô đi Trường An thì trước tiên phải dẹp yên bốn dân tộc thiểu số, nếu không loạn trong giặc ngoài, chúng ta rất khó đứng vững ở Quan Lũng.

Tư Mã Ý cũng khuyên nhủ:

- Điện hạ quên Dương Thiên Vạn rồi sao? Đê Hồ cấu kết với Tào Tháo, suýt nữa đặt chúng ta vào chỗ chết ở Kỳ Sơn, hiện cũng không phái sứ giả đến nhận sai cầu hòa, rõ ràng không phục chúng ta, còn nữa Lương Châu đến giờ cũng không có tin tức, mặc dù chúng ta có được cái danh của Quan Lũng nhưng không có được cái thực của nó, ty chức nghĩ nên lợi dụng cơ hội dừng chiến với Tào Tháo để tập trung tinh lực bình định Quan Lũng, tạo điều kiện cho việc dời đô đến Trường An.

- Tất cả mọi người đều nói đúng, ta nói dời đô đến Trường An không có nghĩa là lập tức phải dời đô, mà là chúng ta phải bắt đầu chuẩn bị. Ví dụ lưu dân Quan Trung của Hạ Trung phải được điều về, còn nữa gần đây ta đi tới mỏ đồng Giang Hạ, ta định phóng thích toàn bộ tù binh, nhưng điều kiện là bọn họ phải ở lại Quan Trung, đây là để gia tăng dân số Quan Trung, còn về nhân sự ở mỏ đồng, có thể chiêu mộ thêm thợ mỏ người Man Di, mỗi tháng một nghìn tiền, cao hơn thu nhập làm lính, nhất định sẽ có rất nhiều người đồng ý, ngoài ra Ba Thục cũng có rất nhiều tam phụ lưu dân, cũng chính là Đông Châu sĩ, chỉ cần chúng ta dùng lợi ích để mê hoặc họ thì ty chức nghĩ rất nhiều người đều muốn đến Quan Trung.

- Lợi ích hấp dẫn mà Điện hạ nói là chỉ miễn thuế phú sao?

Tưởng Uyển ở bên cạnh dè dặt hỏi, gã quản lý thuế phú nên rất nhạy cảm với chuyện này.

Lưu Cảnh gật đầu:

- Không riêng gì miễn thuế phú, còn cả thụ điền, khi ở Hán Trung ta từng nói chuyện với một lão nông đến từ Quan Trung, cả nhà ông ta sở dĩ ở lại Hán Trung mà không chịu quay về Quan Trung là vì lợi ích mỗi mẫu nửa đấu gạo, giả dụ chúng ta miễn năm năm tiền thuế ở Quan Trung, ta nghĩ không chỉ di dân Quan Trung tranh nhau quay về, mà ngay cả Hà Bắc, Trung Nguyên cũng sẽ có rất nhiều người muốn dời đến Quan Trung, hai năm nữa, ta tin Quan Trung chắc chắn thay đổi lớn.

Tâm trí hùng tráng này của Lưu Cảnh không chỉ khiến những người phương bắc như Từ Thứ và Tư Mã Ý động lòng, mà ngay cả những người ở Ba Thục thời gian dài như Phí Quan, Đổng Hòa cũng dạt dào cảm xúc mênh mông, lúc này, Doãn Mặc đứng lên nói:

- Ta hoàn toàn ủng hộ phương án của Điện hạ, nên tiến hành sớm đừng chậm trễ, ta hy vọng chúng ta có thể quyết định trước năm mới để toàn lực thực thi sau khi năm mới qua đi.

Mọi người đều bày tỏ sự ủng hộ, ngay cả Tưởng Uyển thấy miễn thuế năm năm hơi nhiều cũng gật đầu đồng ý, còn về thụ điền, đất vô chủ hoang hóa ở Quan Trung cực nhiều, hoàn toàn có thể thu hồi lại để thụ điền lại, điều này quan phủ nên thực thi trước một bước.

Lúc này, Lưu Cảnh kiên quyết nói:

- Chư vị đã ủng hộ như thế, chúng ta sẽ phân công hợp tác, Bình Chương đài phụ trách khôi phục kinh tế dân số Quan Trung, ta sẽ dẫn quân đội bình định Tứ Di ở Quan Lũng, tạo môi trường an toàn để dời đô.

……

Lưu Cảnh trở lại quan phòng, một gã thị vệ tiến lên nói:

- Hổ tướng quân dẫn theo hai lão già đã đợi Châu Mục rất lâu rồi, nói là người cùng tộc với Châu Mục.

Lưu Cảnh giờ mới nhớ ra, hôm nay hắn bảo người trong tộc tới phủ tướng quân tìm hắn nên liền gật đầu:

- Mời họ vào!

Một lát sau, Lưu Hổ dẫn theo hai lão già bước nhanh vào, đáng nhẽ Lưu Hiền sẽ dẫn họ tới, nhưng Lưu Hiền phải giúp Lưu Trí học nghi thức lễ tế, vì thế Lưu Hổ đã dẫn bọn họ đến, hai lão già sớm đã bàn bạc với nhau, tuyệt đối không ra vẻ trưởng bối trước mặt Lưu Cảnh, thậm chí cả lễ nghi của người trong tộc cũng đều không có, vừa bước vào phòng, hai người đã vội vã quỳ xuống hành lễ:

- Lưu Phương, Lưu Ý bái kiến Hán Vương điện hạ!

Hai lão giả này đều là tộc đệ của Lưu Biểu, huyết thống khá thân thiết, sở dĩ Lưu Cảnh muốn tiếp kiến bọn họ ở phủ tướng quân là vì không muốn làm lễ vãn bối với hai người, hắn thấy hai người này quỳ xuống gọi hắn là Hán Vương điện hạ thì rất thú vị, sự ác cảm trong lòng hắn đã tốt hơn nhiều, liền vội vàng đỡ họ dậy cười nói:

- Hai vị đứng lên! xin đứng lên!

Hắn lại dặn dò thị vệ:

- Chuẩn bị ghế đệm!

Hai gã thị vệ trải ghế đệm, Lưu Cảnh mời bọn họ ngồi xuống, Lưu Hổ cũng ngồi một bên, Lưu Phương lớn tuổi o hơn cười nói:

- Nghe nói Điện hạ được phong làm Hán Vương, bọn tại hạ quả thật rất vui, giờ tôn thất mặc dù còn có một số quận vương, nhưng phần lớn hữu danh vô thực, đâu giống như Điện hạ, nắm trong tay ngàn dặm giang sơn xã tắc, đây mới là chân mệnh thiên tử, con rối chó má ở Nghiệp Đô có là cái gì.

Chương 711.2: Bàn bạc dời đô.

Lưu Hổ nghe lão nói thô tục trắng trợn quá liền ho một tiếng thật mạnh, trợn trừng mắt nhìn lão, Lưu Phương giờ mới ý thức được mình thất lễ, lão lúng túng cười gượng hai tiếng:

- Ý của ta là nói...

Lưu Cảnh không đợi lão nói tiếp liền khoát tay cười nói:

- Ta hiểu, không cần giải thích nữa, có điều ta muốn biết tình hình hiện tại của Lưu Tông và Thái phu nhân, bọn họ thế nào.

- Lưu Tông đã hết thuốc chữa, trẻ con ở Nghiệp Đô cũng đều biết y là hoạn quan, thanh danh đã mất, cả ngày ăn uống thả cửa, mập như con lợn, Thái phu nhân từ lâu đã mặc kệ y, Điện hạ không biết sao, ba năm trước Thái phu nhân đã tái giá rồi.

Lưu Cảnh ngẩn ra, quả thật hắn không biết việc này, liền vội hỏi:

- Tái giá với ai rồi?

- Thái Thú quận Thường Sơn Hạ Hầu Nghi, Điện hạ biết người này không?

Lưu Cảnh nhướn mày:

- Hình như là đệ đệ của Hạ Hầu Uyên.

- Đúng là người này, nghe nói là do Thái Mạo dẫn đường, tên Hạ Hầu Nghi cường tráng như trâu, Thái phu nhân mảnh mai thế kia, làm sao chịu được sự làm nhục của gã chứ.

Lưu Hổ ở bên cạnh lại ho mạnh một tiếng, một lần nữa cắt lời lão, bất mãn trừng mắt với lão, lão già này cũng gần đã sáu mươi tuổi rồi sao ăn nói lung tung vậy, Lưu Phương sợ tới mức không dám lên tiếng nữa.

Lưu Cảnh hiểu ra, Thái Mạo trước đây muốn gả con gái cho Hạ Hầu Bá, kết quả Thái Thiếu Dư không chịu, lão không còn cách nào liền gả quả muội cho Hạ Hầu Nghi, để bấu víu vào cây đại thụ như Hạ Hầu thị, có thể nói đã tính toán chu toàn, Thái phu nhân tái giá thì nàng cũng không phải chôn cất cạnh mộ Lưu Biểu rồi, đây không phải là chuyện xấu.

Lưu Cảnh không có thời gian tán gẫu với hai lão già này, thấy bọn họ chỉ tỏ thái độ mà thôi nên hắn liền trấn an bọn họ một chút, Lưu Cảnh cười nói:

- Tạm thời đừng vội vã rời Nghiệp Đô đi, ở lại Nghiệp Đô cũng có thuận lợi, bình thường qua lại với Tam thúc nhiều một chút, ta sẽ bảo Tam thúc chăm sóc mọi người, có gì khó khăn, Tam thúc sẽ tiếp tế, khi mọi người gần đi, ta cũng sẽ tặng mỗi người một phần hậu lễ, coi như là chút tâm ý của ta.

Lưu Phương và Lưu Ý mừng rỡ, vội vàng quỳ xuống dập đầu cảm tạ, Lưu Cảnh quả có chút mệt mỏi, liền nháy mắt với Lưu Hổ, bảo y dẫn hai người này đi, Lưu Hổ mời hai người này đi, không lâu sau lại vội vàng quay về:

- Châu Mục tìm ta sao?

Lưu Cảnh gật đầu:

- Ngồi xuống đi! Ta muốn bàn bạc chuyện bộ binh trọng giáp với huynh.

Tinh thần Lưu Hổ phấn chấn lên, đây mới là chủ đề mà y hứng thú nhất, Lưu Cảnh khoanh tay đến trước cửa sổ, chăm chú nhìn mai vàng đua nở trong tuyết bên ngoài cửa sổ, trầm tư một lát hỏi:

- Ta muốn mở rộng bộ binh trọng giáp lên tám ngàn người, tức là tăng thêm hai ngàn người nữa, trong vòng hai tháng có thể luyện được không?

Lưu Hổ suy nghĩ một lát rồi đáp:

- Huấn luyện thì không có vấn đề gì, mấu chốt là trang bị, trọng giáp và trảm mã đao đều rất tốn thời gian, hiện giờ trong kho của ta chỉ nhiều hơn năm trăm bộ, trong hai tháng chế tạo ra một ngàn năm trăm bộ e rằng không thực tế.

- Ta đã từng cân nhắc, có một nghìn Trảm mã đao tồn kho, ngoài ra Ưng Kích quân còn có năm trăm cái, có thể điều về đây, đao đã có rồi, mấu chốt là trọng giáp, ta sẽ tổ chức ba nghìn thợ thủ công ngày đêm chế tạo, lệnh cho bọn họ trong hai tháng phải làm ra một nghìn năm trăm cây, ngươi chỉ lo huấn luyện được hai ngàn tân binh cho ta.

- Không thành vấn đề, ty chức dùng thủ đoạn huấn luyện tàn khốc nhất, bảo đảm bọn họ đủ tư cách!

Nói đến đây, Lưu Hồ dè dặt hỏi:

- Chẳng lẽ phải đánh Đê Hồ sao?

Lưu Cảnh khẽ mỉm cười:

- Ai nói huynh ngu, đúng là nhìn lầm rồi, huynh thông minh hơn bất cứ ai khác.

Từ khi chiếm được Lũng Tây, đường Kỳ Sơn trở thành đường thương khách bận rộn, dù đã là cuối tháng nhưng trên đường Kỳ Sơn băng tuyết vẫn chưa tan, đường cực kỳ khó đi, nhưng thương đội đã gấp gáp thì cũng chẳng đếm xỉa đến đường đi gian nan, bôn ba lặn lội trên đường Kỳ Sơn phủ đầy băng tuyết, tương lai da lông, dược liệu và súc vật từ Lũng Hữu sẽ buôn tới đất Thục, còn tơ lụa, đồ sứ và các vật dụng hàng ngày của Thục sẽ được buôn đến Lũng Tây và Lương Châu.

Trưa hôm nay, ở phía bắc Kỳ Sơn có một nhóm thương đội quy mô khá lớn, trên thực tế số người không nhiều, chỉ hơn ba mươi người, nhưng bọn họ buôn hàng nghìn con chiến mã, thể hiện quy mô khổng lồ, một gã dẫn đầu cầm cờ một mặt hai con cá chép với hàm ý đây là thương đội của thương hành Đào thị.

Đào gia đã không còn là thương nhân bình thường nữa, mà chuyển thành quân thương, quân thương chính là thương nhân chuyên phục vụ cho quân Hán, bao gồm vận chuyển đồ quan nhu, xử lý chiến lợi phẩm, vận chuyển tù binh v.v…, lợi nhuận cực lớn.

Ở Kinh Châu, Đào gia nắm một đội thuyền Trường Giang đồ sộ, chuyên vận chuyển mua bán quặng sắt và lương thực, thật ra cũng là để phục vụ cho quân đội, vì thế, hai huynh đệ Đào Thắng và Đào Lợi đều có chức quan, Đào Thắng được phong làm Hương hầu, treo danh hiệu Ngự Sử đại phu.

Đào Lợi được phong làm Đình hầu, treo chức vụ Giáo Úy, dù đều là hư danh nhưng là thân phận quan viên thực sự, thương đội đến từ Kinh Châu chính là do Đào Lợi chỉ huy, trên danh nghĩa Đào Lợi đi Lương Châu mua ngựa cho quân đội, nhưng thực tế đi thực hiện nhiệm vụ bí mật mà Lưu Cảnh giao cho y, liên lạc với người Khương để liên hợp tấn công Đê Hồ.

Sứ giả của Khương Vương cũng cùng xuôi phía nam với Đào Lợi, sứ giả là một người đàn ông hơn ba mươi tuổi, cũng là phụ thân của Khương Duy tên là Khương Quýnh, lúc trước dẫn theo con trai của Khương Vương trốn khỏi Trường An, giờ làm phụ tá dưới trướng Khương Vương, y phụng mệnh Khương Vương tới gặp Lưu Cảnh để bàn bạc cụ thể về việc tấn công Đê Hồ.

Đoàn quân chạy gấp rút, nhưng vào lúc này, mấy kỵ binh hộ vệ người Khương chạy gấp tới, hô lớn:

- Phía sau có rất đông thổ phỉ không nhìn rõ đang đuổi theo, mau đi!

Đào Lợi kinh ngạc, sao Kỳ Sơn đạo lại xuất hiện đạo phỉ, Khương Quýnh phản ứng cực nhanh, lập tức hiểu ra, vội la lên:

- Không phải đạo phỉ gì đâu, nhất định là đám người Đê đến cản đường chúng ta.

Đào Lợi lập tức nóng lòng như lửa đốt, gã cuống quýt nói:

- Nơi này cách động phía trên gần nhất cũng khoảng năm mươi dặm, làm sao chúng ta tới kịp.

- Không kịp cũng phải trốn, nếu không sẽ chết ở đây!

Khương Quýnh thúc ngựa chạy trốn, Đào Lợi cũng cuống quýt đánh ngựa chạy gấp, mười mấy tên thuộc hạ thúc giục chiến mã chạy băng băng, phía sau có mười kỵ binh người Khương đi sau cùng.

Lúc này, tiếng vó ngựa truyền đến như sấm, rất nhanh, phía xa xuất hiện một lũ kỵ binh đuổi theo đông nghìn nghịt, tốc độ cực nhanh, có tới mấy trăm người, bọn họ đã giết chết mười tên kỵ binh người Khương rớt lại phía sau rồi tăng tốc truy đuổi.

Những người này đều mặc da bào màu đen, đầu đội mũ da, tay cầm cung tiễn trường mâu, cách ăn vận giống như mã phỉ núi Kỳ Sơn trước đây, tuy nhiên mã phỉ Kỳ Sơn đã bị quân Hán tiêu diệt hầu như không còn, đây thực ra là kỵ binh của Đê Hồ từ Lũng Tây truy đuổi tới, mục tiêu của bọn họ chính là Đào Lợi và sứ giả của Khương Vương tên là Khương Quýnh.

Đại tướng Đê Hồ dẫn đầu nhìn theo đoàn ngựa thồ ở xa phía trước, y cười dữ tợn:

- Đuổi theo mau, giết bọn chúng!

Chương 712: Vương phi và gia sự.

Kỵ binh Đê Hồ liên tiếp truy đuổi, bụi đất tung bay, bọn chúng cách mục tiêu ngày một gần, mười mấy kỵ binh quân Hán cũng bị bọn chúng giết chết, hơn ngàn chiến mã im lặng tậm trung ở bên đường, con đường gập ghềnh khiến chúng không thể chạy trốn tiếp nữa, đành phải bất an chờ đợi sự an bài của số phận.

Nhưng mục tiêu của kỵ binh Đê Hồ lại không phải là đám ngựa này, mục tiêu của bọn chúng là hai người vẫn đang chạy thục mạng phía trước, cách chỉ hơn một trăm bước, kỵ binh Đê Hồ có kỹ thuật cưỡi ngựa siêu phàm bắt đầu hai chân điều khiển ngựa, gương cung lên bắn.

Tầm bắn cung tên của Đê Hồ thua xa quân đội Trung Nguyên, mặc dù bọn chúng cũng có một số cung ghép từ Trung Nguyên đến, nhưng phần lớn cung tiễn của người Đê vẫn là cung đơn tương đối nguyên sơ, tầm bắn chỉ sáu bảy mươi bước.

Mũi tên dày đặc phóng tới, hầu hết đều rơi xuống chỗ cách phía sau Đào Lợi và Khương Quýnh khoảng mười mấy bước, tuy nhiên cũng có mấy mũi tên mạnh hơn, vượt qua cả đỉnh đầu họ, tiếng rít vùn vụt, Đào Lợi và Khương Quýnh sợ đến toát mồ hôi, liều mạng thúc ngựa chạy trốn, trong lúc họ sắp tuyệt vọng thì phía trước bỗng nhiên xuất hiện một đội quân, là đội trâu gỗ chở lương thực, khoảng hơn ngàn xe trâu gỗ đang xếp thành hàng đi nhanh về phía này.

- Cứu mạng!

Đào Lợi kêu to.

- Phía sau quân Đê Hồ đuổi giết, cứu bọn ta với!

Giờ khắc này bọn họ lại nhìn thấy hy vọng liền lớn tiếng kêu cứu, gắng sức chạy về phía đội trâu gỗ, đội trâu gỗ từ Thượng Phương cốc tới, vận chuyển lương thực tới huyện Tân Ký, đại tướng dẫn đầu là Vương Bình, y bỗng nhiên nghe thấy tiếng kêu cứu phía trước liền ghìm chặt chiến mã, chỉ thấy trên con đường phía trước của có hai kẻ hối hả chạy tới, một trước một sau, vẻ mặt sợ hãi, phía sau bụi đất tung bay, tiếng vó ngựa như sấm, rõ ràng có đội quân lớn truy binh.

Y ngây người, khoát tay ra lệnh:

- Tên nỏ chuẩn bị!

Hơn ngàn tên lính người Man lần lượt lấy tên nỏ ra, giương nỏ cài tên, xếp thành trận địa công kích trên đường, rất nhanh, bọn Đào Lợi đã chạy tới. Đào Lợi thường qua lại đường Kỳ Sơn nên quen Vương Bình, gã kích động hô lớn:

- Vương tướng quân, cứu bọn ta, phía sau có Đê Hồ truy đuổi!

Vương Bình cũng nhận ra Đào Lợi, y kinh ngạc, vội vàng ra lệnh:

- Cung nỏ chuẩn bị, bắn đám truy binh phía sau đi!

Đám Đào Lợi nhanh như gió xông qua lũ lính vận chuyển lương thực cho người Man, mấy chục Man binh lập tức bố trí chướng ngại trên đường bằng cách dùng xe trâu gỗ, lúc này, kỵ binh Đê Hồ dần đuổi tới, bọn họ liều lĩnh đánh ngựa đuổi theo, quân Đê Hồ phía trước phát hiện trước mặt có sự khác lạ, không đợi bọn chúng ghìm chặt chiến mã, mũi tên dày đặc đã bắn ra rợp trời, mũi tên mạnh mẹ, bắn thủng đầu lâu và ngựa của kỵ binh, kỵ binh Đê Hồ đều kêu la thảm thiết rớt xuống ngựa.

Kỵ binh phía sau cuối cùng ghìm chặt chiến mã, đại dướng cầm đầu thấy phía trước có vô số binh lính quân Hán, biết bọn chúng không giết nổi mục tiêu, cộng thêm nơi đây đã là vùng đất kiểm soát thực tế của quân Hán rồi, một khi trước sau đều bị chặn thì bọn chúng chạy không thoát.

- Rút lui!

Đê tướng dẫn đầu hô to một tiếng, dẫn theo mấy trăm kỵ binh quay đầu đi, lát sau đã không còn thấy bóng dáng.

Vương Bình thấy Đê Hồ chạy trốn liền sai người đi lên phía trước xem xét, lúc này, Đào Lợi và Khương Quýnh tiến lên cảm tạ, hai người vẫn chưa hoàn hồn, vô cùng cảm kích ơn cứu viện của Vương Bình, giờ Vương Bình mới biết Đào Lợi đi cùng sứ giả Khương Quýnh, y cũng thầm thấy may mắn, may vì mình quyết đoán, nếu không suýt chút nữa xảy ra chuyện lớn.

- Hai vị xin yên tâm, ta sẽ đích thân hộ tống hai vị xuôi phía nam, trên đường xuống phương nam sẽ không còn bất kỳ nguy hiểm nào.

- Đa tạ Vương tướng quân cứu giúp!

Lúc này, lũ thuộc hạ của Đào Lợi mới đuổi tới nơi, thuật lại cho gã sự tàn bạo của người Đê, khi bọn chúng đi còn cướp mất quá nửa số ngựa, Đào Lợi trấn an bọn họ, hiện giờ giữ được tính mạng là quan trọng hàng đầu, ngựa bị cướp cũng không đáng gì nữa.

Gã chắp tay với Vương Bình bày tỏ sự cảm ơn lần nữa, Vương Bình sắp xếp quân sĩ vận chuyển lương thực, dẫn năm trăm lính hộ vệ, rồi mới cười nói với hai người:

- Đi thôi! Tiếp tục lên đường.

Đào Lợi và Khương Quýnh gật đầu, dưới sự bảo vệ của quân Hán tiếp tục xuôi xuống phía nam.

Mấy ngày nay trong phủ Lưu Cảnh cũng đang bừa bộn, chủ yếu là do Lưu Cảnh được sắc phong làm Hán Vương, Đào Trạm được sắc phong làm Hán Vương phi, phủ trái cũng trở thành vương phủ, điều này liên quan đến rất nhiều sự thay đổi chi tiết quy củ, cách xưng hổ phải đổi, lễ nghi phải đổi, quy định cũng khác, biển bài cũng phải đổi v.v… Cho dù Lưu Cảnh và Đào Trạm đều không quá để ý đến vấn đề lễ nghi thân phận, nhưng dù sao lời nói và việc làm của họ cùng Hán Vương phủ đại diện cho bộ mặt của cả nước Hán, vì thế rất nhiều chuyện cũng không tự chủ được, nhất định phải thay đổi.

Tuy nhiên Đào Trạm vẫn cố gắng đơn giản hóa, nàng không muốn bị quấy nhiễu bởi những lễ nhghi rườm rà, đặc biệt phải ràng buộc người trong phủ không được lấy danh nghĩa của Hán Vương phủ đi quấy rối vơ vét tài sản người khác.

Mặt khác, Tôn Thượng Hương mang thai cũng là một chuyện đại sự, một tháng trước nàng đã có dấu hiệu đẻ non khiến trên dưới Lưu phủ đều vô cùng căng thẳng, dốc sức bình sinh mới miễn cưỡng bảo vệ được thai nhi.

Đào Trạm không dám khinh suất, nàng biết, một khi có dấu hiệu đẻ non, sau này bất cứ lúc nào cũng có thể sinh non, cứ phải đến đủ tháng mới thở phào nhẹ nhõm được, hiện giờ Tôn Thượng Hương mới mang thai hơn sáu tháng, đang là lúc nguy hiểm nhất.

Ánh lửa trong phòng ấm áp, mùi thơm dịu nhẹ vấn vương trong chiếc lư đồng ở góc phòng, căn phòng tràn ngập mùi gỗ đàn hương thoang thoảng, Tôn Thượng Hương nửa nằm nửa ngồi trên giường, trên người đắp chiếc chăn nhẹ, sắc mặt có vẻ xanh xao, nàng đã ăn mấy thìa cháo rồi đặt bát cháo lên bàn, đôi mi thanh tú hơi nhíu mày nói:

- Đại tỷ, tỷ nói tướng quân khi nào trở về?

Đào Trạm hiểu được lo lắng của nàng, nàng ấy sợ Lưu Cảnh không về kịp lúc đứa bé ra đời liền cười an ủi nàng:

- Còn ba tháng nữa cơ mà! Ta nghĩ chàng chắn chắn về kịp.

Tôn Thượng Hương thở dài, có chút trách móc:

- Vừa mới trở về hai tháng đã lại đi rồi, Hán Vương như chàng cũng bận rộn quá, việc gì mà không thể giao cho thuộc hạ làm sao?

- Cũng không có cách nào.

Đào Trạm gượng cười một tiếng:

- Tào Tháo sắp sáu mươi tuổi rồi cũng vẫn muốn thân chinh, huynh trưởng nàng chẳng phải cũng thế sao? Bọn họ đều có số vất vả, nghe nói lần này đi quét sạch đám người Hồ, chỉ mong chàng đừng mang theo con gái của tù trưởng về.

Tôn Thượng Hương cười khúc khích.

- Hóa ra đại tỷ lo lắng chàng ở bên ngoài phong lưu vô độ?

Đào Trạm đỏ mặt, vội lắc đầu:

- Chàng không phải người như vậy, ta cũng không nhỏ nhen đến thế, chỉ có điều, ai! Ta không thích giao tiếp với con gái người Hồ, quy tắc thế này thế kia không giống với chúng ta, rất khó sống cùng nhau.

- Đại tỷ nói có lý, muội cũng không thích.

Tôn Thượng Hương giảo hoạt cười nói:

- Chi bằng chúng ta cùng viết thư cho chàng, cảnh cáo chàng một chút.

Đào Trạm do dự một chút:

- Chuyện này thôi bỏ đi.

Tôn Thượng Hương biết trong lòng Đào Trạm muốn, chỉ có điều trở ngại thân phận, không tiết viết thư như thế, nàng cũng mặc kệ, chàng dám cả gan dẫn Hồ nữ về đây thì hãy chờ xem, Tôn Thượng Hương cười cầm tay Đào Trạm khẽ nói:

- Chuyện này đại tỷ đừng bận tâm, để muội viết thư.

Đào Trạm cũng biết tướng quân rất sủng ái Thượng Hương, những chuyện nam nữ này, chàng không bao giờ nghe ý kiến của mình nhưng lại để ý đến cảm nhận của Thượng Hương, mặc dù đôi khi Đào Trạm cũng không thoải mái về điểm này, nhưng tấm lòng nàng khoan dung, hơn nữa bản thân Tôn Thượng Hương cũng là một người lòng dạ đơn giản, làm người khác yêu thích, nàng cũng rất kính trọng mình, vì thế Đào Trạm cũng cố gắng không so đo tranh giành sủng ái, để giữ gìn sự hòa thuận trong nhà.

Lúc này nàng cũng không nhịn được cười:

- Ta nói rõ trước nhé! Ta không có suy nghĩ này, không liên quan đến ta.

Tôn Thượng Hương nháy mắt mấy cái:

- Đương nhiên, đại tỷ là Hán Vương phi, nên lấy đại cục làm trọng, đanh đá như muội mới không bỏ qua cho chàng.

Nói đến đây, hai người đều mỉm cười, lúc này ở cửa có thị nữ bẩm báo:

- Khởi bẩm Vương phi, Đào hương hầu ở bên ngoài cầu kiến!

Đào hương hầu chính là phụ thân của Đào Trạm, tên là Đào Thắng, mặc dù cùng ở Thành Đô nhưng rất ít đến thăm con gái, Đào Trạm biết phụ thân nhất định có chuyện liền gật đầu nói:

- Bảo Đào hương hầu chờ chút, ta đến ngay.

Nàng quay sang nói với Tôn Thượng Hương:

- Nàng nằm nghỉ ngơi đi, tối ta đến thăm nàng.

- Vâng! Dẫn cả Châu nhi và Thiền nhi đến nữa, mấy ngày không gặp hai đứa nó, nhớ quá.

Đào Trạm dặn dò vài câu rồi nhanh bước ra phía ngoại trái.

Trong quý khách đường ở ngoại trái, Đào Thắng tâm sự nặng nề ngồi trên ghế đệm uống trà, hai tháng nay lão cũng rất bận rộn, vừa mới từ Trường An trở về, con trai thăng chức lầm Thái thú quận Kinh Triệu kiêm Trường An lệnh, đây là việc lớn của Đào gia, thậm chí còn quan trọng gấp mười lần so với hương hầu như lão, Đào Thắng thỉnh giáo qua Giả Hủ, Giả Hủ nói với lão, nhiều nhất hai năm nữa nước Hán sẽ dời đô đến Trường An, con trai Đào Chính nếu không có bất ngờ gì xảy ra sẽ là Kinh Triệu Doãn đầu tiên, nếu chiến tích cao thì mười năm nữa y thậm chí có thể vào Bình Chương đài làm Tướng.

Đào Thắng hết sức kích động, nếu phụ thân dưới cửu tuyền biết được, không biết sẽ vui mừng thế nào, nhưng lão cũng biết rõ, việc thăng chức lớn của con trai hoàn toàn là vì con gái đã trở thành Hán Vương phi, là do Lưu Cảnh muốn gây dựng ngoại thích, nâng cao địa vị của con gái, vì thế lão biết mình nên làm chút gì đó, lão muốn nói với con gái, cho nó hiểu được hướng đi của gia tộc.

Lúc này, tiếng ngọc bội vang lên, Đào Trạm từ bên ngoài đi vào nội đường, Đào Thắng vội vàng đứng dậy, tiến lên thi lễ:

- Tham kiến Vương phi!

Đào Trạm hơi ngẩn người:

- Phụ thân, sao phải như vậy?

- Đây là lễ nghi, ta không hạ bái đã là rất vô lễ rồi.

Đào Thắng cười nói:

- Đây không chỉ là thể diện của con, ta phải giữ thể diện cho Hán Vương.

Đào Trạm yên lặng gật đầu:

- Phụ thân mời ngồi đi!

Đào Thắng ngồi xuống, cúi người cười nói:

- Con cũng biết chuyện huynh trưởng con giữ chức Thái thú quận Kinh Triệu chứ?

- Con đã nghe nói, có điều không phải tướng quân nói với con, con nghe đại tẩu nói, mấy ngày trước đại tẩu có đến đây.

- Những việc này Hán Vương không nói cho con sao?

Đào Thắng hỏi với giọng khó hiểu.

- Phụ thân!

Đào Trạm có vẻ bất mãn kéo dài giọng nói.

- Trước đây con đã nói với cha, con không quản việc của Đào gia, cũng mong Đào gia đừng mượn danh nghĩa của con làm càn ở bên ngoài, còn về vấn đề thăng chức của huynh trưởng, con và tướng quân đã có ước định từ lâu, chàng không cần nói những chuyện này với con, con cũng không muốn biết.

Đào Thắng có chút xấu hổ, lão lặng im mãi mới nói:

- Ta đương nhiên nhớ con đã từng nói, tuy nhiên có một số việc cũng không thể quá cực đoan, dù sao con là con gái Đào gia, hơn nữa huynh trưởng con đảm nhiệm chức Thái Thú quận Kinh Triệu kiêm Trường An lệnh cũng có liên quan đến con, đây là sự thật, con không thể phủ nhận.

- Phụ thân, con không phủ nhận, con chỉ nói con không muốn biết những việc này, tướng quân suy nghĩ thế nào, con sẽ không can thiệp, càng không chủ động đề xuất chàng chiếu cố Đào gia, phụ thân hiểu ý của con chứ? Chuyện của Đào gia có lẽ liên quan đến thân phận của con, nhưng không can hệ gì với con cả.

Đào Thắng cười gật đầu:

- Ta có thể hiểu được, con không can dự vào chính trị là hành động sáng suốt, chỉ có điều là một thành viên của Đào gia, một người con gái thì nên biết gia chủ như ta, cũng là phụ thân của con suy nghĩ ra sao, ta hy vọng con hãy nêu ra chút đề xuất.

Đâò Trạm trầm ngâm giây lát:

- Phụ thân cứ nói, con xin nghe.

Chương 713: Sứ giả người Khương.

Đào Thắng thấy con gái trả lời rất miễn cưỡng, trong lòng thầm thở dài, con gái sau khi gả cho Lưu Cảnh vẫn rất đối lập ít tiếp xúc với Đào gia, mấy lần đến Đào gia đều là để thăm ông nội, ông nội qua đời thì nàng liền không tới Đào gia nữa, chỉ sợ Đào gia mượn thân phận nàng đi làm chuyện bậy bạ.

Đào Thắng cũng hiểu được con gái, dù sao Đào gia trong quá trình từng bước trở thành thương nhân lớn đã làm không ít chuyện ám muội rồi, nhưng từ khi Đào gia bắt đầu chuyển hướng từ thương trường sang quan trường, đã rất chú ý bảo vệ danh tiếng của mình.

Thế nhưng điểm này con gái dường như không hiểu, còn Lưu Cảnh rất quan tâm đến Đào gia, liên tục tạo cơ hội để Đào gia chuyển sang quan trường, ví dụ như giúp Đào gia trở thành quân thương, mượn sản nghiệp của Đào gia ở các nơi để thu thập tình báo, thăng chức cho Đào Chính v.v…

Đào Thắng rất cảm kích sự quan tâm của Lưu Cảnh dành cho Đào gia, nhưng cũng cảm thấy buồn vì sự xa cách giữa con gái và Đào gia, lão chậm rãi nói:

- Trạm nhi, trước tiên con phải hiểu một điều, Đào gia đã không còn buôn bán cho mình nữa rồi, tất cả việc làm ăn từ trước chúng ta đều đã nhượng đi rồi, bao gồm thuyền vận, cũng không còn nhận vận chuyển hàng hóa dân dụng nữa rồi, chúng ta chỉ vận chuyển quặng sắt, lương thực, dầu hỏa và than đá, đây đều là vật tư của quân đội và chính quyền, còn về buôn bán hàng hóa cũng đều là quân phẩm, hiện giờ chúng ta là quân thương rồi, có lẽ con không biết, ngay ở tửu quán và lữ xá của Đào gia ở các nơi đều đồng thời thu thập tình báo cho quân Hán, vì thế chúng ta đã không phải là thương nhân đơn thuần nữa.

Đào Trạm cười khổ một tiếng:

- Theo chủ ý của con, con chỉ mong Đào gia tránh xa quan trường chính trị càng xa càng tốt, thà làm thương nhân đơn thuần còn hơn.

- Nhưng con phải đối mặt với sự thật, con là Hán Vương phi, nhà mẹ đẻ của Hán Vương phi là một thương nhân nhỏ, ông ngoại của con con là một trưởng quầy nhỏ, con nghĩ các con còn có thể bảo vệ được địa vị của mình sao?

Đào Trạm im lặng hồi lâu không nói, nàng nhớ trước đây ông nội không chịu gả nàng cho Lưu Cảnh, giờ xem ra, lúc đó ông nội quả thật có tầm nhìn xa, nhưng rất nhiều chuyện nàng đã không tự chủ được nữa, đặc biệt dính đến con cái của mình, đó là yếu điểm lớn nhất của Đào Trạm.

Đào Trạm cúi đầu thở dài:

- Vậy phụ thân đến tìm con làm gì? Muốn nói gì đây?

- Ta đã nói rõ rồi đó! Đào gia không cần con ban cho sự chiếu cố đặc biệt, chỉ hy vọng Đào gia trên con đường thăng chức, con đừng cản trở, đừng ngăn Hán Vương thăng quan tiến chức cho Đào gia, con có thể không nghe không hỏi.

- Nhưng giờ con cũng không nghe không hỏi mà.

- Hiện tại dù là thế, nhưng không có nghĩa là sau này, Trạm nhi, nếu có một ngày huynh trưởng con sẽ thăng làm Tướng quốc, con sẽ ngăn cản sao?

Đào Trạm ngẫm nghĩ một lát rồi lắc đầu nói:

- Con không biết, con thật sự không biết, nếu như huynh trưởng giữ chức Tướng quốc là bất hạnh của Vương triều và nhân dân, con nghĩ con nhất định sẽ phản đối, đương nhiên, nếu quả nhiên huynh ấy có năng lực, thanh liêm và danh tiếng cao minh, con cũng sẽ rất vui mừng, xin phụ thân hiểu cho nỗi khổ tâm của con, Đào gia nếu như vì con mà đạt được những thứ không nên có được, vậy thì không phải là có lợi cho gia tộc, thậm chí còn là tai học, phụ thân còn nhớ kết cục của đại tướng quân Hà Tiến không?

Đào Thắng không biết làm sao, đành thở dài nói:

- Được rồi! Việc sau này để sau này nói đi, ta vì huynh trưởng của con được thăng làm Thái thú Kinh Triệu mà trong lòng quá kích động, cho nên mới tìm con, thôi đi, coi như ta không nói gì, các cháu ngoại của ta khỏe chứ!

Đào Trạm cười nói:

- Chúng đều rất khỏe, con gọi chúng ra gặp ông ngoại nhé.

Nói xong, nàng đang định dặn dò thị nữ thì Đào Thắng vội khoát tay nói:

- Không cần, lần sau đi! Hôm nay ta còn có việc quan trọng, lần sau ta lại đến thăm chúng.

Đào Thắng đứng lên cười nói:

- Ta xin cáo từ!

Đào Trạm vẫn tiễn phụ thân ra ngoài viện, nhìn bóng dáng vội vã của phụ thân, nàng không khỏi khẽ thở dài, lại nhớ đến lời dặn dò lần cuối của ông nội trước lúc lâm chung.

- Lý lịch của Đào gia quá thấp hèn, không thể vị trí thấp kém mà ở chức vị cao được, đó là rước họa, cần tích lũy lâu dài, đợi hai đời nữa thì gia thế căn cơ đã sâu, khi đó hãy từ tư đi lên cũng không muộn, ta chỉ lo phụ thân con nóng vội, dẫm vào bi kịch của Hà Tiến năm xưa, con là người biết chuyện, phải khuyên can phụ thân, khuyên can Đào gia, nhớ lấy! Nhớ lấy!

Giờ khắc này, Đào Trạm hạ quyết tâm, bất kể thế nào cũng phải ngăn cản huynh trưởng thăng làm Tướng quốc.

……

Ở quận Võ Đô của Hán Trung, gần năm mươi ngàn đại quân tinh nhuệ đã tập kết nhiều ngày, sáng sớm, Vương Bình dẫn theo Đào Lợi và Khương Quýnh cứu được trên đường tới đại doanh của quân Hán, lúc này trong đại trướng trung quân, Lưu Cảnh đang cùng quân sư Pháp Chính, Bàng Thống và đại tướng Mã Siêu bàn bạc phương án cụ thể cho cuộc tây chinh này.

Mã Siêu hiểu biết rất sâu sắc tình hình của Lũng Tây, liền cười nói trước tiên:

- Mặc dù tục ngữ có câu bắc Khương nam Đê, thật ra cũng không hoàn toàn như thế, chủ yếu là vì Vương trướng của người Khương ở Trương Dịch, còn Vương trướng của người Đê ở Lũng Tây, nhưng thực tế một vùng Lũng Tây người Hồ hỗn tạp, đều có người Khương, người Đê, người Thổ Cốc Hồn, người Hung Nô v.v… trú ngụ, trong đó người Đê là nhiều nhất, người Đê lại phân thành hai nhánh, một nhánh là người Đê Phu Hãn, thủ lĩnh tên là Tống Kiến, lại là người Hán.

- Người Hán?

Bàng Thống kinh ngạc hỏi:

- Lại là người Hán sao? Ta vẫn cứ nghĩ gã là người Đê.

Mã Siêu cười đáp:

- Rất nhiều người đều cho rằng lão là người Đê, ngay cả bản thân lão cũng tự xưng là người Đê, nhưng trên thực tế phụ thân lão là người Hán, mẫu thân là người Đê, nhưng lão mặc dù có huyết thống người Hán mà lại thù hận triều đình Trung Nguyên, lão đã cát cứ hơn ba mươi năm, thiết lập quan sở, thế lực mở rộng tới Hà Hoàng, tự xưng là Bình Hán Vương, từ cái tên này có thể thấy được dã tâm của lão.

- Nói tiếp đến nhánh người Đê khác đi!

Lưu Cảnh ở một bên nói.

- Một nhánh người Đê khác chính là Hưng Quốc Dương Thiên Vạn mà từng quen biết với chúng ta, lão là người Đê thực sự, được tôn làm Đê Vương, hiệu xưng trăm ngàn giáp binh, chiếm giữ quá nửa quận Lũng Tây, người này nham hiểm giảo hoạt, thay đổi thất thường, nói lão trung thành với Tào tháo cũng không chắc, trước đây lão thấy thế lực của chúng ta yếu nên liên hợp với Tào quân để đánh chúng ta, hiện giờ chúng ta tiến lên phía bắc chiếm giữ Quan Lũng, có lẽ lão lại bắt đầu hối hận, nhất định sẽ phái sứ giả đến cầu hòa, nhưng Điện hạ đừng tin lão.

Lưu Cảnh gật đầu, trầm tư một lát lại hỏi:

- Thổ Cốc Hồn và Hung Nô thế nào? Ban nãy ngươi nói Lũng Tây cũng có.

- Thế lực của Hung Nô chủ yếu ở phía bắc Quan Trung, thế lực của chúng ở Lũng Tây rất nhỏ, chỉ có mấy bộ lạc bé, không cần quan tâm, Thổ Cốc Hồn thực ra là một nhánh Tiên Ti, nghe nói từ Liêu Đông tới, bộ lạc đặt tên theo tên gọi của thủ lĩnh, mấy đời thủ lĩnh của bọn họ đều gọi là Thổ Cốc Hồn, thế lực cũng không lớn, bị người Khương và người Đê châm chọc là “Thổ Cốc Dương”, tức là nói bọn họ ngoan ngoãn, dễ bị chinh phục.

Lưu Cảnh chắp tay đi qua đi lại trong đại trướng, trên thực tế, những điều Mã Siêu nói hắn đều rất rõ, để cấn công Hà Hoàng ở Lũng Tây, hắn đã chuẩn bị gần hai tháng nay, nắm rõ như lòng bàn tay tình hình ở đó, nhưng có một việc, Lưu Cảnh lại chần chừ không quyết định, đó là một tiếng trống chấn hưng tinh thần để giết sạch người Hồ ở Lũng Tây, vẫn cùng cả ơn huệ và uy hiếp, đánh vào mặt tư tưởng là chính.

Theo chủ ý của y, người Hồ phần lớn bướng bỉnh không chịu thuần phục, còn bắt nạt kẻ yếu, nếu có thể, dẹp yên một lần để chấm dứt hậu họa về sau là tốt nhất, nhưng mặt khác Lưu Cảnh cũng biết, người Hồ đa phần sống theo đồng cỏ và nguồn nước, thu đi xuân tới, giết không hết, nhiều nhất là đuổi đi, có thể đuổi tộc người này thì tộc người mới lại đến, đây là do hoàn cảnh địa lý thảo nguyên quyết đinh, cũng không thể để dân tộc nông canh đi chăn ngựa thả dê, rõ ràng không hiện thực lắm.

Ban nãy Mã Siêu nhắc tới ba chữ “Thổ Cốc dương”, lập tức đã cho Lưu Cảnh một gợi ý, để dân tộc du mục tồn tại, nhưng phải bỏ đi sự hung hãn, giữ lại sự ôn thuận.

Trong lúc Lưu Cảnh trầm tư thì ngoài trướng có thị vệ bẩm báo:

- Khởi bẩm Điện hạ, Vương Bình tướng quân dẫn theo hai người, một là Đạo nhị gia, người kia là sứ giả người Khương.

Lưu Cảnh mừng rỡ, hắn chần chừ không xuất binh ở quận Vũ Đô, chính là đang chờ tin tức của Đào Lợi, giờ cuối cùng đã tới, hắn liền nói ngay:

- Mời bọn họ vào!

Không lâu sau, thị vệ dẫn ba người vào, Vương Bình quỳ một gối thi lễ, Đào Lợi và Khương Quýnh cũng quỳ xuống hành lễ, Lưu Cảnh vội mời bọn họ đứng dậy, cười hỏi:

- Vương tướng quân sao lại đi cùng?

Đào Lợi liền mang chuyện giữa đường gặp người Đê truy kích, may mắn được Vương Bình cứu ra kể tỉ mỉ cho Lưu Cảnh, Lưu Cảnh giờ mới biết bọn họ gặp khó khăn, gật đầu nói:

- Xem ra người Đê đã cảm thấy nguy cơ rồi, cũng từ một khía cạnh chứng tỏ bọn chúng đã có chuẩn bị, nhắc nhở ta phải đề phòng bọn chúng đánh lén.

Lưu Cảnh cười hỏi Khương Quýnh:

- Khương tướng quân mang đến cho ta tin tức gì?

Khương Quýnh xuất thân là danh môn Khương thị ở quận Thiên Thủy, mặc dù là người Khương nhưng đã hoàn toàn Hán hóa, chỉ là vì tránh loạn Mã Siêu mà chạy tới Tây Lương, lúc này Mã Siêu ở ngay một bên nhưng gã lại coi như không nhìn thấy, rút một bước thư ra dâng lên Lưu Cảnh:

- Đây là thư viết tay của Khương Vương cho Hán Vương điện hạ, mời Điện hạ xem qua!

Lưu Cảnh mở thư ra xem kỹ, Khương Vương Nam Cung Tác muốn xuất binh cùng quân Hán đánh người Đê, nhưng trong thư y đưa ra một điều kiện, chính là mong được giao toàn bộ tù binh người Đê cho người Khương, Lưu Cảnh xem xong thư, thản nhiên cười hỏi Khương Quýnh:

- Nghe nói tướng quân có một đứa con tên là Khương Duy, thông minh hơn người, giờ vẫn đang ở Tây Lương sao?

Khương Quýnh có chút kỳ quái trong lòng, Hán Vương hỏi con mình làm gì? Gã vội khom người đáp:

- Con trai ty chức ở Tây Lương, cùng học với con trai của Khương Vương.

Lưu Cảnh gật đầu nói:

- Cuộc chiến tranh giành ở Lũng Tây đã yên ổn, gia tộc Khương thị đã dời tới thành Tân Ký, tướng quân chỉ là tạm lánh tới Lương Châu, nên đưa con trai trở về gia tộc mới đúng, nếu tướng quân muốn, có thể đưa lệnh lang tới Long Trung ở Tương Dương, nơi đó danh sĩ đại nho rất nhiều, Bàng Đức Công, Tư Mã Huy, Tuân Lệnh Quân hiện đều thụ đồ ở Long Trung, ta có thể viết thư tiến cử, để lệnh lang được nhận nền giáo dục tốt hơn, thế nào?

Khương Quýnh hết sức kinh ngạc, Hán Vương không ngờ lại trọng dụng con trai mình như thế, đương nhiên, con trai mình không phải là con trai của Khương Vương, không có giá trị gì làm con tin, chắc hẳn hắn xuất phát từ ý tốt, mặc dù không hiểu lý do Hán Vương quan tâm đến con trai mình, Khương Quýnh cũng không có ý định đưa con trai mình đến Tương Dương học, nhưng gã vất rất cảm kích sự quan tâm của Hán Vương dành cho con trai mình, liền vội vã thi lễ:

- Ý tốt của Hán Vương ty chức vô cùng cảm kích, chỉ là sự việc quá đột ngột, ty chức cần phải suy nghĩ.

Lưu Cảnh cười nói:

- Ta sẽ viết một bức thư tiến cử, có đưa con trai đi Long Trung hay không, ngươi tự quyết định đi!

Chương 714: Không hề có thành ý.

Lưu Cảnh sai người đưa Khương Quýnh đi nghỉ ngơi, rồi lại nháy mắt với Đào Lợi, bảo gã ở lại, Vương Bình cũng cáo lui. Lưu Cảnh liền mới Đào Lợi ngồi xuống, nói cho mọi người tình hình đi sứ Khương Hồ.

Đào Lợi thở dài:

- Thẳng thắn nói, lần này ấn tượng của ta với Khương Vương Nam Cung Tác rất không tốt, mặc dù ta quen biết lão đã mười mấy năm, trước đây thấy lão thành khẩn thẳng thắn, đối xử với moi người nhiệt tình, là người biết làm ăn, nhưng lần này cảm giác hoàn toàn thay đổi, người này rất hay dối trá, hơn nữa nham hiểm xảo quyệt, đưa ra rất nhiều điều kiện không an phận, lần này trở về từ Trương Dịch, lão lại chỉ phái mười kỵ binh bảo vệ bọn ta, ta rất nghi ngờ, chính là lão đã ngấm ngầm thông báo cho người Đê nên người Đê mới truy sát bọn ta.

Bàng Thống nhíu mày hỏi:

- Lần trước Mã Đại tướng quân đi sứ Trương Dịch, Khương Vương rất khiêm tốn, một lời đồng ý xuất binh, hơn nữa cũng làm được rồi, giờ chúng ta đã chiếm lĩnh Quan Lũng, đáng nhẽ lão càng phải khiêm tốn mới đúng, sao lại giở mặt, hơn nữa còn thông báo cho người Đê ngầm hiết hại các ngươi, chẳng lẽ tính mạng của Khương Quýnh cũng không quản sao?

- Đây là điểm hám lợi của Khương Vương, lần trước lão muốn đạt được lương thực và sắt thô nên xuất binh tấn công người Đê, nhưng cuối cùng chúng ta chỉ cấp lương thực cho lão, tinh sắt thượng đẳng mà lão muốn lại không cho nên trong lòng lão thầm căm tức, lần này liền tỏ vẻ không vui, muốn thị uy phủ đầu chúng ta, còn về tính mạng của Khương Quýnh, thật ra lão không bận tâm.

Mã Siêu ở bên cạnh nói:

- Đào Công nói hoàn toàn chính xác, Khương Vương đúng là người như vậy, trước đây ta không tới nương nhờ lão chính là sợ lão bán đứng ta cho Tào Tháo.

Lưu Cảnh vẫn không nói gì, hắn nhớ lại tình tiết năm đó, Nam Cung Tác bán ngựa cho Giang Hạ, nhìn thì vô cùng khỏe mạnh, nhưng tất cả chiến mã đều đã bị thiến, không hề hàm hồ với những điểm then chốt, Lưu Cảnh thầm cười nhạt, đưa thư của Nam Cung Tác cho mọi người:

- Các ngươi xem thư của lão đi!

Mọi người nhận lấy thư truyền đọc, Pháp Chính cười nhạt một tiếng:

- Khương Vương ra điều kiện giao toàn bộ người Đê cho lão, có thể nhìn thấy được dã tâm của Nam Cung Tác, lão muốn thống nhất Khương Đê, không chỉ chiếm cứ bãi cỏ Trương Dịch mà còn muốn mở rộng lên Hà Hoàng, sợ là sau khi chúng ta tiêu diệt xong người Đê thì sẽ phải đối mặt với một Khương Hồ lớn mạnh, rất rõ ràng, Nam Cung Tác muốn lợi dụng chúng ta.

Lưu Cảnh cân nhắc một lát lại hỏi Đào Lợi:

- Người Khương hiện giờ thực lực ra sao?

Đào Lợi vội khom người đáp:

- Vấn đề này ty chức đã hỏi Khương Quýnh trên đường, Khương Quýnh nói, người Khương hiện có hai trăm ngàn người, có thể tập trung năm mươi ngàn kỵ binh, có điều bộ lạc rất nhiều, Nam Cung Tác chẳng qua là tù trưởng của bộ lạc lớn nhất nên được các bộ lạc đề cử làm Khương Vương.

Lưu Cảnh đứng lên nói:

- Đã như vậy, chúng ta không cần liên hợp với người Khương, trực tiếp tiêu diệt Dương Thiên Vạn và Tống Kiến, còn về người Khương thì để đánh xong người Đê hãy nói.

Tối hôm đó, Lưu Cảnh liền hồi đáp một bức thư cho Nam Cung Tác, khéo léo từ chối đề nghị liên hợp với người Khương tấn công người Đê, phái người hộ tống Khương Quýnh trở về Trương Dịch, ngay lúc Khương Quýnh vừa đi, Lưu Cảnh lập tức hạ lệnh toàn quân xuất phát, suốt đêm tiến quân về phía bắc.

Năm vạn quân Hán đi dọc lên phía bắc, trang bị nhẹ nhàng, ba ngày sau đã tới Thượng Phương cốc, lúc này Thượng Phương cốc đã xây dựng lên một tòa quân thành, trong đó có một ngàn binh, tích trữ một trăm ngàn thạch lương thực, bầu trời đã tối, Lưu Cảnh liền hạ lệnh toàn quân trú doanh ở ngoài quân thành nghỉ ngơi.

Khi đại doanh vừa hạ xong thì lính tuần tra lại dẫn một sứ giả người Đê tới đại doanh, gã sứ giả này chính là Qua Viên hai lần trước đi sứ quân Hán, gã lo lắng bất an đi vào đại trướng, quỳ xuống dập đầu khóc không ra tiếng:

- Tội thần Qua Viên khấu kiến Hán Vương Điện hạ, khẩn cầu Hán Vương Điện hạ tha thứ cho sự ngu muội của người Đê, bọn tại hạ nguyện chuộc lại những tội nghiệt từ trước của bọn tại hạ bằng thành ý lớn nhất, nguyện làm chó ngựa cho Hán Vương, hiến sức cho Hán Vương tấn công Tào quân.

Lưu Cảnh cười nhạt một tiếng khinh thường”

- Tội nghiệt các ngươi phạm phải đã không thể tha thứ, chuyện cho tới bây giờ, chỉ có thể dùng đầu của các ngươi chuộc tội, không còn con đường thứ hai.

Qua Viên xợ khiếp vía, khổ sở cầu khẩn:

- Bọn tại hạ nguyện giao mười ngàn con chiến mã, ba trăm ngàn con dê, nguyện hiến những thiếu nữ đẹp nhất của người Đê cho Hán Vương, chỉ khẩn cầu Hán Vương bỏ qua cho bọn tại hạ.

Lúc này, Bàng Thống ở một bên nói nhỏ với Lưu Cảnh vài câu, Lưu Cảnh hiểu ý liền lạnh lùng hỏi:

- Đã có thành ý, vậy thì chuẩn bị khi nào giao cho bọn ta?

Qua Viên nhìn thấy được một tia hy vọng, cuống quýt dập đầu trả lời:

- Mười ngày nữa sẽ giao hàng, tuyệt đối không một chút lừa gạt.

- Được rồi! Ta sẽ cho các ngươi một cơ hội nữa, mười ngày nao giao hàng ở huyện Thủ Dương, nếu dám cả gan lừa dối, ta sẽ tiêu diệt toàn tộc các ngươi, cút đi cho ta!

Lưu Cảnh gầm lên một tiếng, Qua Viên sợ tới mức vắt giò lên cổ chạy, lúc này, Lưu Cảnh quay đầu hỏi Bàng Thống:

- Sao quân sư biết bọn chúng lừa gạt?

- Rất đơn giản, bọn chúng biết rõ quan hệ giữa Đào Công và Điện hạ, còn muốn chém giết sạch, nếu có nửa ý đầu hàng thì bọn chúng sẽ không chừa cho mình chút đường sống sao?

Lưu Cảnh gật đầu, một câu của Bàng Thống đã chạm tới điểm mấu chốt, từ đó thấy được, Đê Hồ đầu hàng ắt có sự lừa dối.

……

Quận Lũng Tây là một quận lớn nhất khu vực Lũng Tây, Phu Hãn ở phần tây bắc là lãnh địa do Bình Hán Vương Tống Kiến xây, thế lực xa mãi tới khu vực Hà Hoàng, còn phần đông bắc là địa bàn của Dương Thiên Vạn, bao gồm một bộ phận của quận Nam An và quận Kim Thành.

Vùng này thành trì rất thưa thớt, đồng cỏ ngàn dặm, cỏ nuôi súc vật tươi ngon, là nơi cư trú lý tưởng của dân tộc du mục, người Đê đã sống nghìn năm ở vùng này, sinh sản ra tất cả lớn nhỏ mấy trăm bộ lạc.

Tám ngày sau, trên thảo nguyên cách phía bắc huyện Thủ dương trăm dặm mọc lên hàng nghìn lều trại lớn nhỏ, trải dài hơn mười dặm, đây là do Dương Thiên Vạn tập trung toàn bộ hơn một trăm bọ lạc do y cai quản với gần hai trăm ngàn người lại cùng nhau, có cả mấy chục ngàn chiến mã và một triệu con dê, trong đó còn bao gồm ba vạn kỵ binh Đê Hồ tinh nhuệ, rất rõ ràng, Dương Thiên Vạn chuẩn bị một trận quyết thư hùng với quân Hán rồi.

Dương Thiên Vạn khoảng năm mươi tuổi, dáng người cường tráng, khuôn mặt góc cạnh rõ ràng, hằn lên vô số nếp nhăn, đôi mắt nhỏ cực kỳ nham hiểm độc ác, y giữ chức Khương Vương gần hai mươi năm, đánh gần trăm chiến dịch lớn nhỏ, thống nhất được Đông Đê, trở thành chủ của người Đông Đê.

Y để Qua Viên đi cầu xin quân Hán, chẳng qua muốn tranh thủ thời gian tập kết các bộ lạc, tổ chức quân đội lớn mạnh, hiện tại ba mươi ngàn kỵ binh người Đê đã đến nơi, Dương Thiên Vạn không còn sợ hãi nữa, lúc này, y khát vọng chiến đấu với quân Hán một trận, chỉ là năm mươi nghìn người thôi mà, ba mươi ngàn kỵ binh của y đủ để quét sạch quân địch.

Một gã kỵ binh chạy như bay vào đại trướng bẩm báo:

- Khởi bẩm Đại vương, quân Hán đã tiến sát cách ba mươi dặm rồi ạ!

Dương Thiên Vạn cười lớn đứng dậy, giây phút làm thịt quân Hán đến rồi, y hét lớn:

- Truyền mệnh lệnh của ta, tất cả kỵ binh lên ngựa chuẩn bị chiến đâu!

……

Lúc này, Lưu Cảnh dẫn chủ lực quân Hán tới cách đại doanh Đê Hồ hai mươi dặm nữa, phía trước là thảo nguyên mênh mông bát ngát, Lưu Cảnh dường như cảm thấy được điều gì đó, hắn chăm chú nhìn phía xa một lát rồi khoát tay ra lệnh:

- Bày trận!

Tiếng trống gõ vang, mấy chục ngàn quân Hán triển khai trận hình, năm mươi máy bắn đá khổng lò xếp thành một hàng, sau máy bắn đá là sáu ngàn tên nỏ, sắp thành ba hàng, sáu ngàn bộ quân giương cung lên, mũi tên lạnh lùng nhắm thẳng phía trước.

Phía sau nỏ binh là tám ngàn bộ binh trọng giáp, sau nữa là ba mươi ngàn quân trường mâu chủ lực, rất lạ là năm ngàn kỵ binh quân Hán lại không tìm thấy trong đội ngũ.

Bốn vạn năm ngàn quân Hán nghiêm chỉnh đứng chờ, gió lớn thổi tung bay vương kỳ của nước Hán, Lưu Cảnh đứng dưới đại kỳ, lạnh lùng nhìn chăm chú phía trước, lúc này hắn đã nhìn thấy một đường màu đen rất dài.

Hắn nhìn sắc trời, đã là lúc xế chiều rồi, trận chiến này nhất định phải kết thúc trước khi trời tối, mấy chục ngàn kỵ binh Đê Hồ càng lúc càng tiến gần, đại chiến nổ ra.

……

Tiếng chân như sấm, đại địa chấn động, kỵ binh Đê Hồ ngày một tới gần, một ngàn bước, tám trăm bước, sáu trăm bước, bốn trăm bước… đã dần dần áp sát tầm bắn của máy bắn đá.

Máy bắn đã của quân Hán đã phát động, liên tiếp kình phong vang lên, mấy chục khối đá lớn bay lên không trung tạo thành trận mưa đá dày đặc trên bầu trời, phát ra tiếng vang kinh dị, gào thét rơi xuống đỉnh đầu đám kỵ binh Đê Hồ.

Một đám kỵ binh Đê Hồ chạy trên cùng ngã xuống ngựa, đá lớn đập trúng binh lính, đầu người trong nháy mắt bị đập bay đi, máu thịt lẫn lộn, chiến mã bị ném trúng kêu thảm ngã sấp xuống, đè chết đám binh lính đang ngồi trên ngựa, đá lớn lăn lông lốc giữa những tiếng kêu gào thảm thiết, tử thương vô số.

Một trận mưa đá đã làm cho hơn ba trăm kỵ binh tử thương, khiến cho bộ dạng kiêu ngạo điên cuồng của đám kỵ binh Đê Hồ bị áp chế, nhưng bọn chúng vẫn không ngừng tiến công, người trước ngã xuống người sau tiến lên, tiếp tục lao vào đại doanh quân Hán, đợt mưa đá thứ hai đổ tiếp xuống, lại là một đám người ngã ngựa, lúc này, quân tiên phong của bọn chúng cách đại doanh quân Hán chưa tới mười bước.

Nỏ binh của quân Hán được phát động, một tiếng trống vang lên, sáu ngàn cung nỏ đồng thời bắn ra, mưa tên dày đặc bay lên trời, hình thành trận mây tên màu đen dài dằng dặc trên không trung, loáng chốc biến thành điểm đen, ùn ùn bắn xuống đầu đám kỵ binh Đê Hồ.

Kỵ binh Đê Hồ rối rít giơ lá chắn ra đỡ, nhưng tên nỏ của quân Hán hùng bá thiên hạ, không chỉ vì tầm bắn xa mà lực đạo mạnh mẽ, tấm chắn và áo giáp bình thường cơ bản không ngăn nổi, đặc biết là ném bắn từ không trung xuống, khi mũi tên hạ xuống càng mang theo trọng lực của nó khiến cho tấm chắn gỗ của kỵ binh Đê Hồ trở thành vật trang trí mà thôi.

Tên nỏ thấu giáp với lực đạo mạnh mẽ và nặng đã xuyên thủng tấm chắn của kỵ binh, bắn thủng áo giáp, kỵ binh trúng tên ào ào rớt khỏi ngựa, tiếng kêu rên khắp nơi, lập tức đợt tên thứ hai, thứ ba như mưa rơi gào thét bay tới, dày dặc khiến mọi người không thở nổi, mũi tên dài bắn ra xuyên thủng tấm chắn, bắn thủng mặt và ngựa của quân địch.

Đám kỵ binh Đê Hồ này như thể bị bão tố tàn phá hoa mầu, ngã xuống từng mảng, máu me văng tung tóe khắp nơi, binh lính chết trong tiếng kêu rên bi thảm, khí thế của kẻ địch biến mất nhanh chóng, mười ngàn kỵ binh bắt đầu dao động, tháo chạy, tứ tung bốn phía, giống như kình phong thổi bay mây đen, chỉ một lát mây đã tan biến, lần tấn công đầu tiên của kỵ binh Đê Hồ đã bị tan giã, bọn chúng bị đánh trầm trọng, quân Hán vẻn vẹn chỉ bắn hai đợt tên mà mười ngàn kỵ binh đã giảm mất ba phần, gần ba nghìn người chết.

Dương Thiên Vạn đứng phía sau xem cuộc chiến phải rít lên từng hồi, y chưa từng nhìn thấy cung tiễn mạnh mẽ bá đạo như thế, tầm bắn cung tiễn của người Đê chênh lệch quá xa so với quân Hán, dù sao cũng tiễn cũng không phải là điểm mạnh của người Đê, người Đê giỏi cưỡi ngựa bắn cung ở cự ly ngắn, ngay cả người Khương giỏi cung tiễn cũng không thể so được với cung tiễn của quân Hán, Dương Thiên Vạn sợ hãi khiếp vía.

Chương 715: Tàn sát người Hồ ở thảo nguyên.

Nhuệ khí của kỵ binh Đê Hồ đã biến mất sạch dưới tên nỏ mạnh mẽ của quân Hán, khẩu hiệu bảo vệ quốc gia hô vang ban nãy cũng tan tành theo mây khói, mọi người đều bất an xem xét đường lui của mình, bọn chúng vốn đều là dân du mục bình thường, làm thế nào bảo vệ tài sản nhỏ bé của mình mới là việc lớn hàng đầu mà bọn chúng quan tâm.

Trong khi cảm xúc giết địch mãnh liệt biến mất trong trận mưa tên tanh mùi máu, bắt đầu khiến bọn chúng có cảm giác sợ hãi, rất nhiều người đều đổ dồn ánh mắt hoài nghi về phía Dương Thiên Vạn, tại sao khi tiến công lão lại trốn ở phía sau, sau khi tình cảm mạnh mẽ và điên cuồng của kỵ binh Đê Hồ vô tình bị trận mưa tên của quân Hán đánh tan, bọn chúng đã bắt đầu tỉnh táo lại.

Nhưng điều này nằm trong dự liệu của Dương Thiên Vạn, lão biết ý chí chiến đấu của người Đê dễ bị tiêu tan, quy chỉ có lấy người nhà của bọn chúng ra làm con tin, chúng mới liều mạng chiến đấu với quân Hán.

Dương Thiên Vạn chỉ chiến đao về phía lều trại xa tít tắp phía sau, hét lớn:

- Thê nữ phụ mẫu của các ngươi đều ở phía sau, nếu các ngươi không liều mạng, ai sẽ bảo vệ thê nữ của các ngươi? Bọn họ sẽ trở thành nô lệ của người Hán, cha mẹ các ngươi bị giết, thê tử bị dâm nhục, con cái bị bán đi, đầu của các ngươi trở thành chiến quả của quân địch, treo tít trên cây tre thật cao.

Giọng nói khàn khàn của Dương Thiên Vạn vang dội trên thảo nguyên, từng câu lão nói đều làm lay động kỵ binh Đê Hồ một cách sâu sắc, khiến ý chí chiến đấu vừa mới biến mất của bọn chúng lại lần nữa bùng cháy lên.

Mấy chục ngàn kỵ binh giơ đao hô lớn:

- Quyết không lui bước!

Dương Thiên Vạn một lần nữa vung đao hô to:

- Vì vinh dự của thảo nguyên, đánh bại bọn chúng, giết sạch quân Hán!

- Giết sạch quân Hán!

Mấy chục ngàn người hô vang, chiến mã phi nhanh, mấy chục ngàn kỵ binh như từng mảng mây đen, gào rít lao đến trong cơn cuồng phong thổi mạnh, mặt đất rung lên bần bật, thảo nguyên đang nỉ non.

……

Lưu Cảnh đứng trên một đồi cỏ thấp lạnh lùng nhìn kỵ binh Đê Hồ ùn ùn kéo đến, mặt hắn lộ vẻ tươi cười tàn khốc.

- Quân cung nỏ lui về phía sau, bộ binh trọng giáp chuẩn bị!

Sáu ngàn quân cung nỏ lui về phía sau như thủy triều, giống hết như màn trướng được kéo ra, lộ ra tám ngàn bộ binh trọng giáp xếp hàng ngay ngắn phía sau, bọn họ xếp thành tám phe, mỗi hàng có một ngàn quân.

Bọn chúng trông đều lực lưỡng, cực kỳ khỏe mạnh, tay cầm một thanh Trảm Mã Đao dài hai trượng, trên người mặc giáp trụ lấp lánh ánh sáng, trên mặt chỉ lộ ra đôi mắt lạnh lùng khác thường, như thể đám thợ săn, lạnh lùng nhìn chằm chằm con mồi rơi vào bẫy.

Phía sau tám ngàn bộ binh trọng giáp là ba mươi ngàn quân trường mâu, trong tay mỗi người nắm cây mâu sắc dài một trượng năm thước, xếp thành ba phương trận khổng lồ, chủ tướng Ngụy Diên đã truyền đạt mệnh lệnh của Hán Vương, đánh bọc sườn kỵ binh Đê Hồ từ sau lưng để ngăn chặn bọn chúng trốn thoát.

- Tùng!

Tiếng trống vang lên, thong thả mà mạnh mẽ.

- Tùng! Tùng!

Tiếng trống có phần nặng nề, bộ binh trọng giáp từng bước ép sát kỵ binh Đê Hồ đang xông tới, từng bước đi đều làm mọi người khiếp vía, từng bước đi khí thế như núi.

Lúc này, Dương Thiên Vạn trong kỵ binh Đê Hồ hô to một tiếng:

- Xông lên!

Đám kỵ binh Đê Hồ bỗng tăng tốc, bọn chúng biết chỉ có giết lui quân địch mới có hy vọng sống, bản năng bảo vệ người thân khiến chúng liều mạng, bọn chúng giơ cao trường đao, múa may trường mâu, điên cuồng tấn công quân Hán, giống như gió bão mưa rào rào lao đến, bộ binh trọng giáp lại đứng bất động như ngọn núi sừng sững.

Lưu Hổ người mặc trọng giáp, tay cầm Trảm Mã Đao dài một trượng chín thước, toàn thân chỉ lộ ra hai con mắt, ánh mắt cực kỳ lạnh lẽo, đằng sau hắn là tám nghìn bộ binh trọng giáp đứng xếp thành hàng.

Tám ngàn bộ binh trọng giáp xếp mỗi hàng một ngàn người, tổng cộng sáu mươi hàng, trước sau cách xa nhau một trượng, toàn bộ đã thay trọng giáp, tám người người xếp hàng chỉnh tề như tường đồng vách sắt, sát khí hào hùng.

Tốc độ của kỵ binh Đê Hồ càng lúc càng nhanh, tiếng vó ngựa như sấm rền, khí thế hệt như sóng to gió lớn, cuốn phăng tất cả, làm tan tác tất cả, lao về phía binh lính quân Hán phòng ngự dày đặc với sự dữ dằn không gì đỡ nổi.

Ba hàng bộ binh trọng giáp đầu tiên của quân Hán liền ngồi xuống, tập trung sát vào nhau, chuôi đao cắm xuống mặt đất, ba nghìn chuôi đao giống hệt như rừng đao dày đặc.

Đám kỵ binh như cuồng phong bão táp tiến đến trước mặt quân Hán, chiến thuật của kỵ binh là muốn phá bỏ trận hình của quân địch, tiến vào thủ phủ của địch.

Nhưng bọn chúng lại nhìn thấy rừng trường đao sáng lấp lánh, lưỡi nhọn sắc ngắm trúng lồng ngực bọn chúng, kỵ binh phía trước đã không kịp trở tay, hoảng sợ hét lớn, không ít kẻ nhằm nghiền hai mắt lại.

Máu me văng khắp nơi, tiếng kêu thảm thiết vang vọng thảo nguyên, lực tấn công mạnh mẽ của kỵ binh Đê Hồ không xâm nhập được vào trận hình của quân Hán, trái lại còn bị chặn đứng bởi ba nghìn Trảm Mã Đao sắc bén, gần ba nghìn kỵ binh đã phải trả giá thê thảm, bọn chúng bị lưỡi dao đâm thủng.

Lưu Hổ giơ cao Trảm Mã Đao lên, tám ngàn bộ binh trọng giáp đồng thời phát ra một tiếng hô long trời lở đất:

- Giết!

Lưu Hổ vung Trảm Mã Đào, tám ngàn bộ binh trọng giáp đã phát động thế tấn công, khí thế ngưng trọng như núi, từng bước lao vào đám kỵ binh Đê Hồ đông ùn ùn kia.

Kỵ binh Đê Hồ cũng múa may trường mâu, đâm về phía bộ binh trọng giáp, cháu trai của Dương Thiên Vạn là Dương Đạt cưỡi ngựa dẫn đầu, gã vung trường mâu, hét lớn một tiếng, đâm về phía tên thủ lĩnh quân Hán có thân hình vạm vỡ.

Thủ lĩnh bộ binh trọng giáp là đại tướng Lưu Hổ, y hét lớn, giơ Trảm Mã Đao hung mãnh đón đầu, đao thế linh hoạt, lập tức bổ cả người Dương Đạt cùng với chiến mã dang xông tới trước mặt y ra thành hai nửa, máu bắn tung tóe, nội tạng tràn lan.

Bộ binh trọng đao vung vẩy trường đao, từng bước tiến lên, đao quang huyết ảnh, lúc bổ lúc đâm, đánh đâu thắng đó, đầu và thân tàn của kỵ binh Đê Hồ lăn lông lốc trên mặt đất, tiếng kêu thảm thiết vang vọng thảo nguyên, ở hai bên của bọn chúng, mũi tên quân Hán bay như châu chấu, khiến bọn chúng chết thảm hại, kỵ binh Đê Hồ bị thương xuống ngựa quỳ gối cầu xin, nhưng vẫn bị bộ binh trọng giáp dàn trận chém thành trăm mảnh, máu chảy thành sông, thi thể chất đầy, tạo nên một cảnh tượng sát sinh trên thảo nguyên.

Trên đồi cỏ, Lưu Cảnh cưỡi ngựa vẫn nhìn chăm chăm cuộc giết hại trên thảo nguyên, mặt không biến sắc, ánh chiều tà đã nhuộm đỏ thảo nguyên, khắp nơi là những tiếng kêu thảm thiết tuyệt vọng, tiếng la khóc thê lương cùng vang lên, Lưu Cảnh không nhúc nhích, Vương Bình đứng bên cạnh không đành lòng liền khẽ khuyên nhủ:

- Điện hạ, không bằng chấp nhận cho chúng đầu hàng đi!

Lưu Cảnh lạnh lùng liếc nhìn Vương Bình khiến y không dám nói tiếp nữa.

- Truyền lệnh của ta, kỵ binh xuất kích!

……

Một ngọn hỏa tiễn được bắn cao lên trời, vạch ra một đường khói đen sì rất dài, đây là mệnh lệnh xuất kích, phía sau đồi cỏ cách mười mấy dặm, tám ngàn kỵ binh quân Hán đã tập kết từ lâu đợi lệnh, khi vệt khói đen này được vạch lên bầu trời, Mã Siêu thét lớn:

- Xuất kích!

Tám ngàn kỵ binh đồng thời phát ra tiếng hò hét, chiến mã lao nhanh, trường mâu lấp lánh, ùn ùn kéo về phía đại doanh người Đê, đại doanh người Đê ở cách đó mười dặm, chỉ có chưa đến ba ngàn kỵ binh bảo vệ, khi kỵ binh quân Hán đông nghìn nghịt xuất hiện ở cách đó không xa, cả đại doanh như ong vỡ tổ, phụ nữ ôm trẻ nhỏ liều mạng chạy trốn, người già quỳ xuống đất khẩn cầu ông trời, số đông hơn là trốn trong lều trại, cuộn mình trong góc lều run rẩy.

Ba ngàn kỵ binh người Đê lao lên ứng chiến, nháy mắt đã đụng độ với kỵ binh quân Hán, kỵ binh quân Hán chia làm hai đường, Mã Siêu dẫn năm ngàn kỵ binh chiến đấu kịch liệt với người Đê, Mã đại dẫn ba ngàn kỵ binh xông vào đại doanh người Đê, chiến mã phi nhanh, đại trướng quay cuồng, kỵ binh chạy gấp đuổi theo đám phụ nữ và trẻ em chạy trốn, nhanh chóng vây quannh ép bọn họ quay về đại doanh.

Bên ngoài đại doanh, Mã Siêu chỉ huy kỵ binh quân Hán kết thành từng trận hình, tách rời kỵ binh Đê Hồ để đánh, kỵ binh quân Hán về kỹ thuật cưỡi ngựa có lẽ không bằng đối phương, chiến đấu đơn độc cũng sẽ yếu hơn đối phương, nhưng bọn họ được huấn luyện nghiêm chỉnh, trận hình chỉnh tề, lợi dụng sức mạnh tập thể chiến đấu với Đê Hồ, hiệu quả tác chiến hoàn toàn khác nhau, huống hồ binh lực quân Hán vượt xa đối thủ.

Tiếng la khóc vang lên khắp đại doanh, tiếng cầu khẩn không ngớt, tiếng khóc rung trời khiến cho kỵ binh Đê Hồ không còn lòng dạ chiến đấu, lần lượt quay đầu ngựa chạy về phía đại doanh, nhưng lại bị kỵ binh quân Hán bao vây, trường mâu chọc ngược xuống ngựa, mũi tên nhanh như sét đánh, trường đao chém xuống, máu me phụt ra, kỵ binh người Đê chết thê thảm, ngoài cách vứt trường mâu đầu hàng ra thì bọn chúng không còn lựa chọn nào khác.

Sắc trời đã gần đến lúc hoàng hôn, xa xa cuộc chiến trên chiến trường chinh đã tới hồi gay cấn nhất, kèn lệnh nức nở, chiến mã hí liên hồi, trường đao kêu leng keng, tiếng vó ngựa như sấm, Trảm Mã Đao vung chém, máu me tràn ngập, khắp mặt đất là đầu người lăn lông lốc và những thân thể cụt tay cụt chân, chất đầy thảo nguyên, tám ngàn bộ binh trọng giáp tiến lên như tường đồng vách sắt, giết cho người Đê Hồ ngã ngựa, liến tiếp bại lui, còn ba mươi ngàn trường mâu kết thành ba trận hình lớn, bọc đánh từ phía sau, cắt đứt đường chạy trốn của kỵ binh Đê Hồ.

Kỵ binh Đê Hồ đã chết hơn mười ngàn người, sĩ khí đê mê, dấu hiệu bại trận xuất hiện, Dương Thiên Vạn căng thẳng trong đội ngũ, bất kể y gào lớn thế nào cũng vô dụng tiếng kêu thảm thiết trên chiến trường đã che mất giọng khàn khàn của y.

Đúng lúc này, một gã kỵ binh chạy tới, khóc lóc bẩm báo:

- Đại vương, kỵ binh quân Hán đã xông vào đại doanh chúng ta, lính bảo vệ chết thê thảm, không ngăn cản được.

Dương Thiên Vạn lập tức sợ ngây người ra như bị sấm sét đánh trúng, ba đứa con nhỏ của y đều ở trong đại doanh, Dương Thiên Vạn quát to như phát điện, quay đầu ngựa chạy về, hàng trăm kỵ binh thị vệ cũng chạy theo y, bọn chúng chạy từ ra từ đường nối giữa hai phương trận trường mâu ở góc tây nam, hướng về đại doanh người Đê.

Nhưng chỉ chạy được vài dặm, đã có một nhóm ba nghìn kỵ binh nghênh đón, đại tướng dẫn đầu chính là Mã Siêu, họ chuẩn bị tập kích kỵ binh Đê Hồ từ phía sau lưng, nhưng vừa hay gặp Dương Thiên Vạn, Mã Siêu liếc một cái nhận ra Dương Thiên Vạn liền hô to:

- Hồ tù trưởng đừng chạy!

Y thúc ngựa chạy lên trước, đỉnh thương đâm xuống, Dương Thiên Vạn biết Mã Siêu, lập tức sợ đến nỗi hồn vía bay lên mây, quay đầu bỏ chạy, nhưng đã muộn rồi, chỉ chạy được mười mấy bước đã bị Mã Siêu đuổi kịp, Dương Thiên Vạn hô lớn:

- Mã đô đốc, nể giao tình trước đây, tha ta một mạng!

Mã Siêu cười nhạt một tiếng:

- Ngươi đi thương lượng với Diêm vương đi!

Y liền đâm một thương xuyên vào ngực Dương Thiên Vạn khiến lão mất mạng, ngã xuống ngựa, Mã Siêu tiến lên cắt đầu lão, sai người dắt Ngọc Long bảo mã của Dương Thiên Vạn đi, thị vệ của Dương Thiên Vạn thấy chủ công đã chết đều không còn muốn chiến đấu, chạy tán loạn bốn phía nhưng bị kỵ binh quân Hán bao vây, dưới trận mưa tên dày đặc, kỵ binh Đê Hồ chết hơn phân nửa, mấy chục người còn lại sợ đến nỗi xuống ngựa đầu hàng.

Lúc này, tin tức đại doanh người Đê bị quân Hán tập kích đã lan truyền khắp chiến trường, tin tức này như sấm sét bất ngờ giáng xuống, làm chút sĩ khí cuối cùng của kỵ binh Đê Hồ nhanh chóng sụp đổ, tất cả mọi người đều quay đầu ngựa, liều chết chạy trốn nhưng bị quân trường mâu và quânđao thuẫn bao vây, cùng đường, mũi tên bên ngoài liên tục bắn ra, khiến cho kỵ binh Đê Hồ chết thê thảm, lòng quân hoàn toàn tan rã.

Lúc này, Lưu Cảnh ra lệnh kết thúc chiến dịch:

- Kẻ đầu hàng có thể miễn tội chết, kẻ chống cự giết tất bất luận tội!

Trong tiếng hô vang của quân Hán thúc giục đầu hàng, đám kỵ binh người Đê tuyệt vọng lần lượt xuống ngựa quỳ xuống đầu hàng, hơn nghìn tên lính không muốn đầu hàng, chuẩn bị phá vây chạy trốn cũng bị mấy nghìn bộ binh trọng giáp bao vây, chém giết sạch.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!