Virtus's Reader
Binh Lâm Thiên Hạ

Chương 716: CHƯƠNG 716: LẠI ĐÁNH PHU HÃN.

Chiến tranh cuối cùng đã kết thúc khi trời vừa mới tối lại, ba vạn kỵ binh Đê Hồ bị chém giết một vạn năm ngàn người, còn lại hơn một vạn người toàn bộ thành tù binh, không chỉ có thế, gần hai vạn người Đê già, trẻ, phụ nữ cũng trở thành tù binh của quân Hán, giành được đại tháng đầu tiên trong chiến dịch với người Hồ kể từ khi quân Giang Hạ thành lập đến nay, một mẻ lưới bắt sạch bộ lạc người Đông Đê.

Trời đã tối, từng đội trai, gái người Đê bị tước vũ khí, áp giải về phía đất trống đằng sau, hai trăm người ngồi khóc lóc trên thảo khuyên, bọn họ giống như hơn hai trăm ngàn con dê chỉ đợi làm thịt, không còn lựa chọn, số phận của họ sẽ do quân Hán quyết định, bốn phía có tám ngàn kỵ binh quân Hán trông giữ bọn chúng.

Mấy trăm quý tộc người Đê bị giam giữ trong một đại trướng khác, huynh đệ, con cháu của Dương Thiên Vạn đã bị giết sạch, đam quý tộc này là thủ lĩnh các bộ lạc, bọn họ càng sợ hãi hơn, tuyệt vọng chờ đợi giây phút bị giết hại đến.

Trong đại trướng trung quân, Lưu Cảnh đang cùng Bàng Thống và Pháp Chính thảo luận việc sắp xếp cho những người Đê này, giết sạch những phụ nữ và trẻ em tay không tấc sắt này rõ ràng không thực tế lắm, cũng không phải truyền thống của quân Hán, sự chia rẽ hiện giờ là làm thế nào bố trí yên ổn cho họ, dời bọn họ vào đất Thục, dung hợp với dân Hán hay để bọn họ tiếp tục ở lại Lũng Tây, khôi phục cuộc sống trước đây của họ.

Lưu Cảnh thiên về cách dời bọn họ vào đất Thục, nhưng Bàng Thống và Pháp Chính lại nhất trí cho rằng nên giữ bọn họ ở lại Lũng Tây, Bàng Thống nói:

- Điện hạ có nghĩ tới không, ở Lũng Tây còn có những người Hồ như người Khương, người Thổ Cốc Hồn, Hung Nô, Tây Đê v.v…, dời những người Đông Đê này đi thì khoảng trống để lại lập tức sẽ bị người Hồ khác thế vào, trái lại sẽ cổ vũ người Hồ khác lớn mạnh, chi bằng để cho bọn họ ở lại Lũng Tây, để người Hồ ở đây đa dạng hóa, cũng có lợi cho sự thống trị của chúng ta, mấu chốt là biến những người Hồ này thành dê, để Đê Hồ trở thành dê Đê, trở thành con dân của chúng ta, có lợi cho nguồn gốc chiến mã và súc vật của chúng ta.

- Sĩ Nguyên nói không sai!

Pháp Chính cũng bổ sung:

- Bọn họ là người Hồ, quen với cuộc sống du mục, rời bọn họ tới đất Thục, có thích ứng được với nông canh không là một chuyện, mấu chốt là đa số họ là phụ nữ và trẻ em, còn cần quan phủ bỏ tiền bạc lương thực ra chăm sóc họ, ngược lại gia tăng thêm gánh nặng cho quan địa phương, nếu như đề dính dáng tới phân chia đất đai, còn sẽ khiến người Thục căm thù, gây nên xung đột, ty chức cũng không tán thành cưỡng chế Hán hóa bọn họ, nên làm từ từ.

Lưu Cảnh gật đầu, lại quay sang hỏi Mã Siêu:

- Ý kiến của Mạnh Khởi thế nào?

Mã Siêu thản nhiên đáp:

- Biên cương nước Hán đều là con dân của Điện Hạ, hà cớ gì để ý đến Hán hay Hồ?

Lưu Cảnh thấy ba người đều không chủ trương di dân nên hắn cũng không kiên trì nữa, liền nói với thị vệ:

- Đi gọi trưởng lão mấy bộ lạc chính đến đây.

Không lâu sau, năm vị trưởng lão bộ lạc lớn tuổi được đưa vào đại trướng, bọn họ quỳ xuống khóc không ra tiếng:

- Khẩn cầu Hán Vương điện hạ tha mạng cho bộ tộc chúng tôi, đừng giết chúng tôi!

- Ta vốn không muốn giết người, nhưng các ngươi hết lần này đến lần khác đối địch với ta, giúp kẻ xấu làm điều ác, là các ngươi tự chuốc vạ vào mình thôi!

Lưu Cảnh lạnh lùng nói.

Một lão già cầm đầu dập đầu nói:

- Hồi bẩm điện hạ, chúng tôi cũng là bị Dương Thiên Vạn hiếp bức, hơn nữa lão mê hoặc dân du mục trẻ tuổi chúng tôi, nói quân Hán muốn cướp bãi cỏ, đoạt thê nữ và giết hại người già chúng tôi, thanh niên bị lão lừa gạt, vì bảo vệ thê nhi và quê hương mới đánh nhau với quân Hán, bọn họ tuyệt đối không phải trời sinh muốn đối đầu với quân Hán, chỉ cần Điện hạ cho chúng tôi một cơ hội, chúng tôi nguyện quy hàng Điện hạ, trở thành con dân của Điện hạ.

- Chúng tôi nguyện quy hàng Điện hạ!

Các trưởng lão phía sau lần lượt hòa theo.

Lưu Cảnh thấy lão già này suy nghĩ rõ ràng, tiếng Hán lưu loát liền hỏi:

- Ngươi tên là gì? Là trưởng lão của bộ lạc nào?

- Hồi bẩm Điện hạ, tiểu lão tên là A Quý, là thủ lĩnh của bộ lạc Cừu Trì.

Mã Siêu ở bên cạnh bổ sung thêm:

- Cừu Trì là bộ lạc người Đê lớn thứ hai chỉ xếp sau bộ lạc Hưng Quốc, trưởng lão A Quý rất đáng tin cậy.

Lưu Cảnh trầm ngâm chốc lát nói tiếp:

- Các ngươi đã muốn trở thành con dân nước Hán, ta cũng không giết hại các ngươi nữa, ta có thể tha cho các ngươi một con đường sống, cũng sẽ không chiếm đoạt tài sản của các ngươi, nhưng ta có hai điều kiện, thứ nhất, các người phải thực hiện lời hứa trước đây của Dương Thiên Vạn, dâng mười ngàn chiến mã và ba trăm ngàn con dê cho quân Hán, tiếp theo, tất cả thiếu niên quý tộc dưới mười bốn tuổi đều phải tới Thành Đô học, sau mười tám tuổi có thể quay lại Lũng Tây.

Năm vị trưởng lão vô cùng xúc động, dập đầu lạy ta, A Quý nói:

- Chúng tôi hoàn toàn đáp ứng yêu cầu của Hán Vương, mặt khác ở bãi cỏ Tây Sơn chúng ta còn vô số con ngựa, nguyện sẽ chọn tiếp hai mươi ngàn tuấn mã nữa để hiến tặng cho Hán Vương điện hạ!

Lưu Cảnh cũng hài lòng với thái độ của bọn họ liền gật đầu đáp:

- Đã như vậy thì dê có thể giảm xuống một trăm ngàn con, từ hôm nay trở đi, A Quý là Đê Vương, thay thế cho Dương Thiên Vạn, mặc khác, quan Hán sẽ bảo vệ các ngươi không bị người Khương ức hiếp.

Năm lão già nhìn nhau, không ngờ quân Hán lại đồng ý bảo vệ bọn họ khỏi sự ức hiếp của người Khương, cả năm người đều rơi lệ nói:

- Sớm biết Hán Vương ân đức như thế này, chúng tôi tội gì để cho Dương Thiên Vạn lừa gạt, chết vô ích nhiều con cháu như vậy, chúng tôi xin thề ở đây, tuyệt đối không hai lòng, nguyện đời đời làm con dân Đại Hán.

Năm trưởng lão cắt cổ tay lấy máu xin thề, Lưu Cảnh mừng rỡ, chính thức sắc phong cho A Quý làm Đê Vương mới, tối hôm đó, Lưu Cảnh hạ lệnh thả người Đê về nhà, trả lại tài sản của họ, hơn hai trăm ngàn người Đê thu dọn lều trại và tài sản trong tiếng khóc cảm kích, dưới sự dẫn dắt của tân Đê Vương A Quý, bon họ cung bầy dê quay về đồng cỏ quê hương họ.

Quân Hán lập tức giết dê nấu rượu, khao thưởng tam quân, sau hai ngày nghỉ ngơi chỉnh đốn, năm mươi ngàn quân Hán tiếp tục tây tiến, trùng trùng điệp điệp hướng về thành Phu Hãn, phát động tấn công người Tây Đê.

Người Tây Đê có điểm khác biệt với người Đông Đê, thủ lĩnh của người Tây Đê Tống Kiến là một cường hào người Hán ở Lũng Tây, ba mươi năm trước gây chiến ở Phu Hãn, dần dần chinh phục hơn hai trăm bộ lạc lớn nhỏ của Tây Đê và người Thổ Cốc Hồn ở vùng Hà Hoàng, xây dựng một đội quân tám vạn người, nhiều lần đánh bại quan binh tới, cuối cùng triều đình đã ngầm đồng ý sự tồn tại của lão.

Tống Kiến thù hận nhà Hán, tự lập là Bình Hán Vương, thành lập chính quyền Vương phủ, sắc phong Vương hậu, Vương tử, cũng lập ra các chức quan như Thượng thư, Thị trung, thống trị địa phương, thực tế lão đã là chính quyền cát cứ tồn tại ba mươi năm rồi.

Phu Hãn là một thành đá kiên cố chu vi hơn mười dặm, bên trong xây dựng hoàng cung và phủ đệ của các đại thần rực rỡ huy hoàng, cuộc sống có hàng ngàn vạn nô lệ hầu hạ bọn chúng, trong vương cung địa cung chất đống vô số vàng bạc châu báu, cùng với da lông quý giá chất cao như núi, ngoài ra còn có ba mươi ngàn quân đội đóng giữ, trong kho hàng chất giữ lượng lớn lương thực, đủ để quân đội dùng một năm.

Tống Kiến từ đầu đã muốn liên hợp với Dương Thiên Vạn đối phó sự tấn công của quân Hán, nhưng vì giữa bọn họ có thù hận rất sâu, cộng với Dương Thiên Vạn tự tin có thể đánh bại quân Hán vì thế liên minh giữa bọn chúng không thành, lúc này, Tống Kiến đã nghe được tin Dương Thiên Vạn bị bại trận đã chết, lão vô cùng sợ hãi, lập tức lệnh cho hai đứa con trai Tống Kỳ và Tống Lân cầm kim tiễn của lão tới các bộ lạc, triệu tập quân đội chi viện cho thành Phu Hãn.

Nhưng tình thế dường như có chút bất ổn, đã năm ngày trôi qua mà viện quân các bộ lạc vẫn trì trệ chưa tới, Tống Kiến chắp tay đi lại trên đầu thành, nóng ruột như kiến bò trên chảo nóng.

Tống Kiến năm nay khoảng sáu mươi tuổi, lúc còn trẻ dáng người bậc trung, tướng mạo xấu xí, giờ đã qua tuổi sáu mươi, trở thành một lão già gày bé, mặc vương bào được dệt từ tơ vàng ngọc sợi, đầu đội vương miện nam hàng trăm viên đá quý, mặc dù dáng người nhỏ gầy nhưng có đến mấy chục thê thiếp, sinh hạ hàng trăm người con, có tài sản nhiều vô số kể, có lẽ là vì con cái và của cái quá đông làm cho lão có quá nhiều vướng bận, không thể rời khỏi thành Phu Hãn được.

Lúc này, có binh lính chỉ về phía xa hô to:

- Vương gia, Nhị vương tử đã trở về!

Tống Kiến ghé nhìn vào lỗ châu mai, chỉ thấy con trai thứ Tống Lân dẫn theo mười mấy người nhếch nháng chạy về, lão ngây người, sao không có quân đội? Tống Kiến lập tức hạ lệnh:

- Dẫn hắn đến gặp ta!

Không lâu sau, mấy tên thị vệ dẫn Tống Lân vào thành, Tống Lân quỳ gối trước mặt phụ thân kêu khóc:

- Hài nhi suýt nữa bị giết, không còn được gặp lại phụ thân.

- Xảy ra chuyện gì, con mau nói đi!

- Hài nhi đi triệu tập quân đội người Đê, không ngờ trước đó A Quý đã phái người chạy đi các bộ lạc truyền tin, bảo bọn họ đừng chống cự quân Hán, những bộ lạc này nghe theo lời mê hoặc của A Quý, không chịu xuất binh nữa, trái lại còn nhốt hài nhi, chuẩn bị dâng lên Lưu Cảnh, may mà tùy tùng liều chết cứu giúp, hài nhi mới trốn về được.

Tống Kiến nghe được há hốc mồm, lão còn trông cậy vào ba mươi ngàn quân đội người Đê tới chi viện nhưng hiện giờ không có nữa rồi, lão cực kỳ nóng ruột, quay đầu ra lệnh:

- Nhanh chóng phái người đi Hoàng Trung tiếp ứng Trưởng công tử.

Vừa dứt lời, đằng xa lại có kỵ binh chạy về, đó là tùy tùng của con cả Tống Kỳ, tên tùy tùng hoảng sợ hô lớn dưới thành:

- Vương gia, Trưởng công tử xảy ra chuyện rồi.

Đứa con cả Tống Kỳ là đứ con Tống Kiến yêu mến nhất, là Thái tử kế thừa sự nghiệp của lão, nghe nói con trai gặp chuyện, mắt lão tối sầm lại, suýt nữa ngã sấp xuống, lão đỡ lấy lỗ châu mai, vội sai người dẫn tùy tùng tới, tên tùy tùng quỳ trên mặt đất rơi lệ nói:

- Bọn tại hạ theo Trưởng công tử tới Hoàng Trung lệnh cho Thổ Cốc Hồn xuất binh, nhưng bọn họ lại tìm đủ cách thoái thác, không chịu xuất binh, bọn tại hạ đành phải quay về, giữa đường gặp phải một nhóm kỵ binh quân Hán, Trưởng công tử bị loạn tiễn bắn chết, phần lớn huynh đệ đều chết hết rồi, chỉ còn mấy người chạy thoát được.

Tống Kiến quát to một tiếng, ngửa mặt ngã quỵ, thị vệ vội cứu lão tỉnh lại, Tống Kiến nước mắt rơi như mưa, nghiến răng nghiến lợi:

- Không trả được thù này, Tống Kiến ta thề không làm người!

Lão cởi bỏ vương bào, thay áo giáp, dẫn ba vạn quân ngày đêm tuần tra ở đầu thành, Tống Kiến mặc dù là Tây Đê Vương, nhưng kỵ binh phải dựa vào người Đê và Thổ Cốc Hồn, hiện giờ hai nhà đều không muốn xuất binh, làm lão mất đi sự trợ giúp kỵ binh, chiến mã trong thành chưa đến ngàn con, binh lính trong thành đa số là bộ binh người Hán, Tống Kiến biết rõ ba vạn quân đội trong thành không phải là đối thủ của quân Hán, lão chỉ có thể dựa vào thành trì cao lớn kiến cố và lương thảo đầy đủ để giằng co với quân Hán, cuối cùng quân Hán sẽ không đánh mà lui.

Đây là bí quyết giúp Tống Kiến mấy chục năm nay nhiều lần đánh bại quân đội triều đình đến tiễu trừ, lần nào cũng đúng, lần này, lão vẫn muốn lợi dụng bí quyết này đánh bại quân Hán của Lưu Cảnh, sau đó tiếp tục đi thu thập lũ người Đê và người Thổ Cốc Hồn dám phản bội lão.

Buổi chiều ngày thứ bảy, chủ lực của quân Hán cuối cùng đã xuất hiện, từ xa từng đợt trống trận vang lên, chỉ thấy quân Hán thanh thế lớn mạnh chầm chậm tiến đến thành Phu Hãn, Tống Kiến hô lớn:

- Tất cả quân đội vào chỗ, cung tiễn thủ chuẩn bị!

Ba vạn quân đội dàn đầy đầu thành, cung tiễn dày đặc nhắm thẳng vào năm mươi ngàn đại quân cách đó mấy dặm, Lưu Cảnh ghìm chặt chiếm mã dưới tinh kỳ phủ rợp trời đất, hắn lạnh lùng dò xét thành đá kiên cố phía trước, hắn có kinh nghiệm công thành vô cùng phong phú, tòa thành này làm hắn cười nhạt một tiếng, lập tức hạ lệnh:

- Truyền lệnh của ta, toàn quân trú doanh tại chỗ!

Chương 717: Bình định Lũng Tây.

Quân đội trên đầu thành bất an nhìn quân Hán hạ đại doanh ở bên ngoài, đại doanh với thanh thế đồ sộ kéo dài hơn mười dặm, đây là lần đầu tiên trong mấy chục năm nay bọn chúng nhìn thấy quan binh quy mô khổng lồ như thế.

Mấy năm trước đây, cũng có không ít lần quan binh tới bao vây tiễu trừ, nhưng nhiều nhất là hơn mười ngàn quân, thậm chí chỉ có mấy ngàn người, không quy mô và khí thế như hôm nay.

Đây vẫn chỉ là trí nhớ của một bộ phận cực nhỏ binh lính lớn tuổi, triều đình đã hai mươi năm nay không phái binh tới tiễu trừ bọn họ, đối với lớp binh sĩ trẻ, thậm chí không biết chiến tranh phải đánh thế nào?

Không ít binh lính đều sợ hãi ngồi chồm hỗm xuống, lấy tay che mặt, sắc mặt Tống Kiến nhợt nhạt nhìn ra đại doanh ngoài thành, lão cũng ý thức được, lần này khác với trước đây, nhưng lão đã không còn lựa chọn nữa rồi.

Cả nhà Dương Thiên Vạn bị xử tử, đó là kết cục của lão, Tống Kiến biết không phải ở chỗ đầu hàng hay không, mà Lưu Cảnh sẽ không dễ dàng tha thứ cho kẻ hay ngáy ở cạnh giường, Dương Thiên Vạn là một trong số đó, rõ ràng Tống Kiến lão cũng thế.

- Phấn chấn lên cho ta!

Tống Kiến vung kiếm hô to:

- Quân địch không có vũ khí công thành, bọn họ không phá được thành trì của chúng ta đâu!

Không ai hô theo lão, trên đầu thành vẫn là không khí lặng ngắt.

Màn đêm dần buông xuống, quân Hán không có bất kỳ hành động công thành nào, binh lính bắt đầu rút về quân doanh trong thành nghỉ ngơi, đầu thành chỉ cón lại năm ngàn binh lính, đúng lúc này, từ trong quân doanh của quân Hán lao ra những bóng đen khổng lồ.

Đây là một trăm máy bắn đá loại lớn, có thể ném những viên đá lớn nặng năm mươi cân từ khoảng cách ba trăm bước vào đầu thành, quân Hán mất một buổi chiều để lắp ráp một trăm chiếc máy như thế này.

Mười con trâu khỏe kéo một chiếc máy bắn đá đi trước cánh đồng bát ngát, cách đầu thành càng lúc càng gần, binh lính trên đầu thành cũng phát hiện ra sự khác thường, bọn chúng to nhỏ thì thầm với nhau, gõ chuông cảnh báo, ‘keng! Keng! Keng! ’ tiếng chuông chói tai vang khắp thành Phu Hãn, đám binh lính vừa mới nằm ngủ nhốn nháo dậy, cầm vũ khí chạy tới đầu thành.

Lúc này, binh lính trên đầu thành đều đang căng thẳng nhìn những chiếc máy bắn đá cỡ lớn, ở thành Phu Hãn không có vũ khí phòng ngự như vậy, rất nhiều binh lính đều là lần đầu tiên nhìn thấy.

Một trăm chiếc máy ném đá loại lớn đã được mở ra kêu xèo xèo, bình gốm dầu hỏa khổng lồ đặt trên túi sắt, cùng với một tiếng trống nặng nề vang lên, một trăm chiếc máy bắn đá đồng thời quăng ra những chiếc can dài, bắn trăm bình gốm đựng đầy dầu hỏa lên phía đầu thành.

Tiếng “Cạch! Cạch!” vang lên, bình gốm vỡ vụn, lượng lớn dầu hỏa chảy đầy đầu thành, trong không khí tràn ngập mùi dầu hỏa nồng nặc khó chịu, điều này khiến binh lính đầu thành hoảng sợ bất an, bọn chúng không biết chất lỏng này là gì?

Liên tiếp ba lượt bắn, đã có ba trăm bình dầu hỏa được ném lên đầu thành, dầu hỏa giăng khắp đầu thành phía đông, lúc này, hàng chục quả cầu dầu hỏa bị đốt cháy bay lên không trung, vạch từng đường lửa chói mắt, đập ầm ầm xuống đầu thành, dầu hỏa được đốt lên, lửa nhanh chóng lan ra trong tiếng kêu la cực kỳ kinh sợ của đám quân giữ thành, dần dần, toàn bộ đầu thành đều bị đại hỏa nuốt sống.

Rất nhiều binh lính chạy không kịp, bị lửa cháy nuốt gọn, vô số người lửa đang kêu thảm chạy trốn, rất nhanh, một cái đầu rơi xuống đất, nhưng máy bắn đá của quân Hán vẫn vô tình ném từng bình gốm dầu hỏa lên đầu thành, khiến cho hỏa thế càng thêm mạnh mẽ, nửa canh giờ sau, cả bức tường thành dài vài dặm đều bị lửa nuốt trọn.

Tôn Kiến đứng trên nóc vương cung, trợn mắt há hốc mồm nhìn cảnh tượng này, lão quả thực không dám tin vào mắt mình, đây chính là lửa lớn địa ngục đến nuốt sạch bọn chúng, lão cầm kiếm đi lảo đảo về vương cung, trong vương cung tiếng khóc rung trời, đám thê thiếp và con cái lão chạy trốn tứ tung, Tống Kiến dường như không nhìn thấy gì nữa, đi vào căn phòng của mình, ầm ầm đóng cửa lại.

Cuộc tấn công của quân Hán ngoài thành đã bước vào giai đoạn thứ hai, thành Phu Hãn không sát sông nhưng vẫn đào một con mương cạn, trong mương bố trí kín gai nhọn và sừng hươu, nối liền bởi một cây cầu treo sừng sững.

Lúc này, mấy chục binh lính quân Ưng Kích đá qua được con mương khô hạn, bọn chúng leo lên cầu treo, dùng chiếc búa lớn chém vào khóa sắt trên cầu treo, ánh lửa văng khắp nơi, chỉ trong chốc lát, xích sắt đứt rời, chiếc cầu treo khổng lồ rời xuống ầm ầm, bụi banh tung trời.

Cách đó không xa, một trăm đại hán dáng người vạm vỡ ôm lấy một cây chùy công thành lớn, được chế từ một thân cây ngàn năm tuổi, đường kính sáu thước, dài mười trượng, phía trước bọc bằng gang, cứng chắc vô cùng.

Lửa cháy bừng bừng trên đầu, khói đặc ngút trời, bọn họ không phải lo sẽ có binh lính bắn tên từ đầu thành xuống nữa, trong tiếng thét ra lệnh của Ngụy Diên, hàng trăm đại hán ôm lấy chùy công thành lao về phía trước, bọn họ hét lớn một tiếng, đầu chùy khổng lồ đập vào cửa thành, chỉ nghe tiếng vang long trời lở đất, cửa thành lắc lư rất mạnh, cát đất bên trên đổ rào rào xuống, trên tường thành xuất hiện những khe nứt quanh co.

Đám lính lùi về phía sau, tiếp tục hô to, ôm lấy chùy công thành phi lên trước, một lần nữa đập vào cửa thành, tiếng va đập phát ra dường như khiến lòng người tan nát, cửa thành đã biến đạng, hiện ra những khe hở lớn, có thể nhìn thấy binh lính trong thành đang chạy trốn thục mạng.

- Tiếp tục!

Bọn lính một lần nữa lùi lại phía sau, chùy công thành như giông bão lần thứ ba đập lên cánh cửa chính, cánh cửa không còn chịu được lực va đập nặng mấy chục nghìn cân nên cửa thành đã bị đập pháp, để lộ ra một lỗ đen khổng lồ, từ xa, Lưu Cảnh cười nhạt, đánh hạ tòa thành đá nhìn tưởng kiên cố này không cờ đơn giản vậy, hắn vung chiến đao hạ lệnh:

- Xông vào thành đi!

Năm nghìn kỵ binh xông lên dưới sự chỉ huy của Mã Đại, như nước thủy triều trào dâng, chúng múa may trường mâu và chiến đao lao vào thành Phu Hãn, tiếp đó hai mươi ngàn lính trường mâu cũng xông vào trong thành, quân coi thành phía trong đã bị lửa mạnh dọa vỡ mật, rối rít quỳ xuống đất đầu hàng, quân Hán không gặp phải sự chống cự nào cả, Mã Đại dẫn đầu, chỉ duy hơn một ngàn kỵ binh tiến vào vương cung.

Một canh giờ sau, Lưu Cảnh được sự bảo vệ của mấy trăm kỵ binh đã chậm rãi tiến vào thành Phu Hãn, trong thành đã bị quân Hán khống chế hoàn toàn, từng đội tù binh ủ rũ bị quân Hán áp giải về quân doanh, khắp nơi đều có binh lính quân Hán tuần tra, bọn họ đập phá từng đại môn của phủ đệ, giải hết mọi người trong phủ đi, bắt đầu triệt để lục soát trong phủ, đây là mệnh lệnh của Lưu Cảnh, tiền bạc tìm ra một phần sẽ được dùng để khao thưởng tam quân.

Lưu Cảnh đi vào vương cung, vương cung đã bị hơn một ngàn binh lính chiếm đóng, tất cả thê thiếp con cái của Tống Kiến đều bị đuổi tới một gian phòng lớn, lúc này, Mã Đại tiến lên thi lễ:

- Khởi bẩm Điện hạ, chúng ta tìm được lối vào địa cung rồi.

- Tống Kiến đâu?

Lưu Cảnh hỏi, đây là tên đầu sỏ gây họa nên hắn tuyệt không thể bỏ qua người này.

- Tống Kiến đang ở trong địa cung, đã uống thuốc độc tự vẫn rồi, mời Điện hạ theo ty chức tới địa cung.

Lưu Cảnh gật đầu, đi theo Mã Đại vào trong địa cung, cửa vào của địa cung nằm nay dưới giường trong phòng ngủ của Tống Kiến, phủ lên bởi một tấm sắt lớn chu vi một trường, bên trên là một tấm thảm lông tinh xảo, đây là do tiểu thiếp được Tống Kiến sủng ái nhất dẫn binh lính đi tìm được chỗ vào này.

Tấm sắt được mở ra, hai bên có lính canh gác, Lưu Cảnh đi theo Mã Đại tiến vạo địa cung, địa cung cách mặt đất chừng một trượng, là cung điện dưới đất cực kỳ rộng lớn, gồm bảy tám căn phòng lớn, mỗi phòng đều chất đầy của cải, vàng bạc, châu báu, da lông quý, khiến người nhìn hoa cả mắt.

Thi thể của Tống Kiến ở trong một kho báu chất đầu những chiếc rương lớn đã được phát hiện, trong rương đều là thoi vàng, vùng Phu Hãn có rất nhiều vàng, ba mươi năm qua Tống Kiến đã vơ vét gần như một nửa số vàng ở đây, chất đống trong địa cung của lão, lên tới mấy chục nghìn cân, lần này là một trong những thu hoạch lớn nhất trong cuộc tây chinh của quân Hán.

Lúc này, thi thể của Tống Kiến được hai tên lính nâng lên, mặt lão đen thui, rõ ràng là uống thuốc độc mà chết, Lưu Cảnh nhìn người này, không khỏi lắc đầu.

- Đào hố chôn cất cho lão!

- Điện hạ, con cái thê thiếp của lão nên xử trí thế nào?

Mã Đại khẽ hỏi.

Lưu Cảnh trầm tư một lát nói:

- Con trai lão nhất loạt xử tử hết, không giữ lại hậu họa, phụ nữ thì chia lộ phí thả họ về quê nhà, ai không có chỗ để đi thì có thể phân cho quan quân làm vợ.

Mã Đại càng quan tâm đến ba vạn tù binh, đa phần bọn họ là người Hán ở khu vực Hà Hoàng, tổ tiên bọn họ hai trăm năm trước từ vùng Quan Lũng đến, sống bằng nông canh, nhưng vì hàng năm hỗn cư với người Khương Đê, nên rất nhiều người giỏi cưỡi ngựa, hoàn toàn có thể chọn quân tinh nhuệ trong đó để thành lập kỵ binh.

Y đề nghị tiếp:

- Trong ba mươi ngàn người này có không ít người Hán giỏi cưỡi ngựa, Điện hạ, bọn họ là tài nguyên quý báu đấy!

Lưu Cảnh gật đầu, hắn cũng suy nghĩ như thế liền cười nói:

- Ba vạn tù binh có thể miễn tội, thả họ về nhà tiếp tục nông canh, nếu không có đất thì bảo quan phủ quận Bình Tây chia đất cho họ, bọn họ phải trở thành nông dân tự canh tác, ngoài ra, trong ba vạn người này, hãy chọn ra mười ngàn người tinh nhuệ giỏi cưỡi ngựa để xây dựng kỵ binh mới.

Mã Đại mừng rỡ, vội khom người nói:

- Ty chức hiểu rồi, sẽ đi xử lý ngay đây.

Lưu Cảnh quay đầu lại nói với Vương Bình:

- Chuyển toàn bộ tài sản của thành Phu Hãn về đại doanh, giao cho Pháp quân sư xử lý, sau đó cải tạo thành Phu Hãn thành quân thành, đóng ba ngàn quân.

Vương Bình vội đáp lại, Lưu Cảnh dặn dò xong liền xoay người đi ra ngoài thành, hắn gặp Mã Siêu ở cửa thành lập tức nói với gã:

- Mạnh Khởi có thể sắp xếp một trăm đội kỵ binh, cầm lệnh tiễn của ta đến các nơi, cho dù là người Đê hay người Thổ Cốc Hồn đều triệu tập tất cả tù trưởng lập tức đến Phu Hãn gặp ta.

- Ty chức tuân mệnh!

Mã Siêu lập tức quay đầu ngựa về đại doanh, nửa canh giờ sau, một trăm đội kỵ binh rời khỏi đại doanh quân Hán, lao tới các vùng nhanh như gió để triệu tập tù trưởng các bộ lác tới yết kiến Hán Vương Điện hạ.

Ba ngày sau, hàng tăm tù trưởng từ các vùng của Lũng Tây và Hà Hoàng kéo tới, Dương Thiên Vạn bị giết, Tống Kiến đã chết, những việc này làm kinh động đám tù trưởng, thêm vào đó A Quý đã phái sứ giả tới các vùng tuyên dương ân đức của Hán Vương, người Đê đều tràn đầy hy vọng tới yết kiến Hán Vương.

Trong một chiếc trướng tròn khổng lồ, mấy trăm tù trưởng tập trung lại để Lưu Cảnh mở tiệc chiêu đãi, Lưu Cảnh nâng chén cao giọng nói với mọi người:

- Các vị đều là con dân của vương triều Đại Hán, thần phục với thiên tử, hiện giờ triều đình đã chuyển Quan Lũng thành lãnh thổ của nước Hán, vậy thì chư vị ngồi đây cũng là thần dân của nước Hán, Lưu Cảnh ta sẽ không xua đuổi mọi người khỏi quê hương của mình, hy vọng các vị giống như người Hán có thể an cư lạc nghiệp, sinh sản con cháu, đời đời kiếp kiếp chung sống hòa thuận bình đẳng, đều giống như thần dân Đại Hán ta, được quân Hán bảo vệ, gánh vác nghĩa vụ đến cùng, vì minh ước ngày hôm nay, chúng ta uống một chén.

Đám tù trưởng đều nghe ra trong lời nói có điểm khác với trước đây, trước bọn họ chỉ là thần dân Đại Hán trên danh nghĩa, không cần nộp thuế phú, hàng năm chỉ dâng lên quan phủ mấy tấm da dê mang tính tượng trưng, coi như bọn họ đã là thần dân của Đại Hán rồi, nhưng hôm nay trong lời nói của Lưu Cảnh có thêm một câu “được quân Hán bảo vệ, gánh vác nghĩa vụ tới cùng”, có nghĩa là từ hôm nay trở đi bọn họ phải nộp thuế cho quan phủ, đây không phải là việc bọn họ có thể từ chối, đám tù trưởng không biết làm sao, đành cùng nâng chén, hô to Hán Vương vạn tuế, cùng nhau uống chén rượu thần dân thoáng chút chua xót này.

Lưu Cảnh mỉm cười, Hán Hồ bình đẳng không chỉ là nói miệng nữa, mà về thuế phú cũng phải như nhau, như vậy mới thực sự là thần dân Đại Hán.

Chương 718.1: Cha con Khương thị.

Khương Quýnh vài ngày trước đã sớm quay về Tây Lương, y trình lên thư tay của Lưu Cảnh gửi cho Khương Vương Nam Cung Tác, có thể nhìn ra Nam Cung Tác đối với nội dung trong thư không vui vẻ gì mấy, theo đó liền lạnh nhạt với Khương Quýnh, lệnh y về nhà nghỉ ngơi, rồi âysau đó không còn tin tức nào nữa.

Nhà của Khương Quýnh ở trong nội thành Trương Dịch, huyện Trường Dịch cũng là vương thành của người Khương, trong thành có đầy kiến trúc của người Hán và lều trướng người Khương, chủ trướng của Khương Vương Nam Cung Tác liền được dựng ở trung tâm huyện thành, mà nhà của Khương Quýnh thì ở góc phía tây huyện thành, là một tòa tiểu viện chiếm hai mẫu đất, tiểu viện kiên cố vững chắc, là một tòa thượng đẳng tiểu viện, vốn là tòa nhà của một thương gia, thương gia đó mười mấy năm trước đã thoát ly khỏi Kinh Châu, tòa tiểu viện này liền bỏ trống không, Nam Cung Tác vì để cảm kích Khương Quýnh mang nhi tử từ Trường An trở về liền đem tòa tiểu viện này thưởng cho y làm nơi cư ngụ.

Trong nhà chỉ có hai cha con Khương Quýnh cùng với mấy tên nô bộc, thê tử của Khương Quýnh tạm thời ở tại nhà mẹ đẻ tại Quan Trung, nàng không biết hai phụ tử bọn họ trước mắt đang ở Lương Châu, đối với Khương Quýnh mà nói, Tây Lương cũng là nơi dừng chân tạm thời, chỉ cần thế cục Lũng Tây được bình ổn thì y sẽ đưa nhi tử rời khỏi Lương Châu.

Hai ngày này, tâm tình của Khương Quýnh thật sự không tốt lắm, một tên phụ tá khác của Nam Cung Tác lén nói cho y biết, lần trước y cùng Đào Lợi đi đất Thục bị Đê Hồ đuổi giết, trên thực tế là do Nam Cung Tác tiết lộ tin tức cho Dương Thiên Vạn, mục đích là muốn mượn tay của Dương Thiên Vạn giết chết Đào Lợi, chọc giận Lưu Cảnh xuất binh Lũng Tây, khiến cho Người Khương có được lợi ích trong đó nhiều hơn nữa.

Về phần Khương Quýnh y chỉ là trùng hợp thời gian, đây cũng chính là phán đoán đích thực của Đào Lợi hoàn toàn chính xác, y còn ở trên đường bảo vệ cho Nam Cung Tác, cho rằng Nam Cung Tác không thể bán đứng bọn họ, chính là cái tin tức này khiến cảm xúc của y trầm trọng, cho dù y tin tưởng Nam Cung Tác chưa chắc đã muốn giết chính mình, nhưng Nam Cung Tác hiển nhiên không có coi trọng mạng của y, Đê Hồ mà giết Đào Lợi, không nghi ngờ là sẽ giết luôn y, Nam Cung Tác làm sao không nghĩ đến việc này?

Giờ khắc này, Khương Quýnh rốt cuộc nhìn ra trong xương cốt Nam Cung Tác cũng không hề tin nhiệm mình, có thể trên danh nghĩa y là người Khương, nhưng trên thực tế đã không phân biệt với người Hán rồi, Nam Cung Tác đã có lòng phòng bị đối với y, căn bản cũng không đối đãi y như với người Hán.

Buổi chiều, Khương Quýnh rầu rĩ không vui quay trở về tiểu viện, hôm nay y đi từ biệt với Nam Cung Tác, chuẩn bị quay trở về Thiên Thủy, Tào Tháo là Lưu Cảnh đã đạt thành hiệp nghị ngưng chiến, Quan Lũng đã quy thuận Quân Hán, thế cục Thiên Thủy cũng liền hoàn toàn ổn định trở lại, đây là lúc y quay trở về rồi, cũng đón thê tử về, cả nhà có thể đoàn tụ rồi.

Nhưng Nam Cung Tác lại trốn tránh không gặp, y đợi đến gần một canh giờ Nam Cung Tác cũng không đồng ý gặp mặt, khiến tâm tình của y buồn bực, nhưng mà y đã quyết định, mặc kệ Nam Cung Tác có đáp ứng hay không, y cũng phải rời đi.

Khương Quýnh vừa về tiểu viện, nhi tử Khương Duy liền từ trong tiểu viện đi ra, cười nói:

- Phụ thân sao giờ mới về?

Khương Duy năm nay đã mười ba tuổi, thân hình cao lớn, thể trạng cường tráng, đôi lông mày vô cùng thanh tú, cậu đi theo phụ thân học sách luyện võ, đặc biệt võ nghệ tiến bộ thần tốc, đến ngay cả đám thị vệ bên người Nam Cung Tác đều không phải đối thủ của cậu.

Nhìn ánh mắt nụ cười sáng lạn tươi tắn của nhi tử, tâm tình Khương Quýnh lập tức thoải mái lên, y cũng cười nói:

- Vốn là đi cáo từ với Khương Vương nhưng y không chịu gặp mặt ta, thôi đi, ta để lại cho y một bức thư, chúng ta trực tiếp rời khỏi.

Dừng một lúc, Khương Quýnh lại hỏi:

- Con đã từ biệt với Nam Cung Bá Ngọc chưa?

Khương Duy gật gật đầu, cậu lấy ra một thanh kiếm khảm bảo thạch, đây là Bá Ngọc tặng cho cậu làm kỷ niệm, cậu cũng tặng cho thanh kiếm của mình cho gã rồi, lúc này, Khương Duy nhớ ra một việc, vội vàng nói:

- Phụ thân, Bá Ngọc khuyên chúng ta không nên trở về quận Thiên Thủy, đi Thục Trung hoặc là Quan Trung đều được.

- Vì Sao?

Khương Quýnh nhướn mày, không hiểu hỏi.

- Có thể là y biết được một chút tin tức, có thể Người Khương sẽ tấn công Lũng Tây.

- Cái gì?

Khương Quýnh chấn động, vội vàng giữ chặt bả vai nhi tử trầm giọng hỏi:

- Tin tức này có thật không?

- Là Bá Ngọc nói cho con biết, nguyên nhân cụ thể không biết, nhưng gã là vương tử, hẳn là tin tức rõ ràng hơn so với chúng ta.

Khương Quýnh biết quan hệ giữa nhi tử và vương tử Nam Cung Bá Ngọc cực kỳ tốt, nhân phẩm Nam Cung Bá Ngọc cũng không tệ, so với phụ thân gã thì gã tâm địa lương thiện, nếu như gã nói như vậy, nhất định là thật rồi, nhưng quận Thiên Thủy là căn cơ của gia tộc Khương thị nhà y, nếu người Khương tấn công quận Thiên Thủy, chẳng phải là hủy hoại căn cơ của gia tộc y sao.

Tuy rằng Khương Quýnh có còn mấy tình cảm gì đối với gia tộc nhưng dù sao cũng là gia tộc của y, hơn nữa y xuất sứ y Thục Trung, lại cam đoan Nam Cung Tác có thành ý, hiện tại Nam Cung Tác lại thừa dịp thời Quân Hán công đánh người Đê chuẩn bị công đánh Lũng Tây đang binh lực trống không, điều này khiến Khương Quýnh sau này làm sao đối mặt với Lưu Cảnh.

Khương Quýnh không kịp nghĩ ngợi, lập tức với nhi tử nói:

- Mau mau đi thu dọn đồ đạc, chúng ta lập tức đi ngay.

Rất nhanh, cha con Khương Thị thu dọn được một túi đò đạc, hai người dẫn ngựa ra khỏi tiểu viện, trở mình lên ngựa, chạy về hướng ngoài thành. Chính lúc y rời khỏi tiểu viện chưa lâu thì kỵ binh người Khương tiến đến bao vây lấy tiểu viện của Khương Quýnh, bọn họ phụng mệnh Khương Vương đến bắt Khương Quýnh, không để y rời khỏi Lương Châu.

- Bọn họ vừa mới đi chưa bao lâu, mau đuổi theo!

Một ngàn kỵ binh quay đầu ngựa lại, như gió bay điện chớp đuổi theo hướng bắc môn.

Khương Quýnh mang theo nhi tử ra khỏi bắc môn, chính tại lúc này, Khương Quýnh nghe thấy đằng sau tiếng võ ngựa như sấm, y quay đầu lại, chỉ thấy không xa bụi đất tung bay, một chi kỵ binh hung hãn chạy về hướng y. Khương Quýnh hoảng sợ thất sắc, y biết là Khương Vương không chịu bỏ qua cho y.

- Đi phía nam!

Y mang theo nhi tử chạy đi hướng phía nam, y chỉ có thể đi Đại Đầu Bạt cốc, xuyên qua Kỳ Liên sơn, có thể trực tiếp đến Hà Hoàng, hiện tại đại quân Lưu Cảnh hẳn là ở phía bên đó, phụ tử hai người một đường chạy gấp, nhưng phía sau hơn ngàn truy binh đuổi theo sát, càng ngày càng gần.

Khương Quýnh thấy tình thế nguy cấp, liền nói với con trai:

- Con đi đến Hán Trung tìm Lưu Cảnh, y từng đáp ứng với ta đưa con đi Tương Dương đọc sách, con đi mau!

- Phụ thân, con muốn cùng đi với phụ thân.

- Đừng ngốc nữa, Nam Cung Tác sẽ không giết ta, nhưng con mà để y bắt được, ta vĩnh viễn sẽ không thoát được, con đi đi!

Chương 718.2: Cha con Khương thị.

Khương Duy cắn chặt môi, thúc ngựa gia tốc chạy nhanh. Khương Quýnh nhìn thấy con trai đã chạy xa mới ghìm chặt chiến mã, chặn lại truy binh phía sau, một lát, hơn ngàn truy binh đuổi tới, tướng lĩnh cầm đầu không thấy có Khương Duy liền quát to:

- Đuổi theo Khương Duy, trực tiếp giết nó!

Khương Quýnh lúc này mới hiểu được, hóa ra bọn họ là vì nhi tử của mình mà đến, y lập tức vừa sợ vừa giận, hét lớn một tiếng, vung đao chém truy binh đang chuẩn bị đuổi theo nhi tử ngã trên mặt đất. Kỵ binh người Khương giận dữ, vô số trường mâu đâm tới y, Khương Quýnh trốn tránh không được, liền bị loạn thương đâm chết ở cửa cốc Đại Đấu Bạt cốc.

Một ngàn kỵ binh tiếp tục đuổi theo về hướng trong, Khương Vương có lệnh, nhất định phải đuổi theo Khương Duy, chết hay sống không cần quản.

Đại Đấu Bạt cốc là một khe của ngàn dặm Kỳ Liên sơn, cũng là một thông đạo rất trọng yếu giữa Lương Châu và Hà Hoàng, thọc sâu gần hai trăm dặm, phía bắc hướng đến quận Trương Dịch, phía nam là bắc hồ Thanh Hải, là đường tắt từ Hà Tây tiến vào khu vực Hà Hoàng, nó giảm bớt hơn ngàn dặm lộ trình, vị trí chiến lược cực kỳ trọng yếu.

Trước khi quân Hán quét sạch người Đê Lũng Tây, phía nam cốc đạo này là do một ngàn quân đội của Tống Kiến đóng giữ nơi hiểm yếu, phòng ngự kỵ binh Khương Hồ từ phương bắc đánh tới.

Từ sau khi Tống Kiện bị giết, phòng ngự ở đây liền do quân Hán tiếp quản, Lưu Cảnh từ đám tù binh người Hán của Tống Kiện chọn ra một ngàn người, tiếp quản đóng giữ Đại Đấu Bạt cốc, do một tên nha tướng thống soái, nơi đóng giữ chính là lối ra ở phía nam Đại Đấu Bạt cốc.

Chi quân đội này không chỉ phải giữ vững chỗ yếu hại của nam cốc khẩu, đồng thời còn đâm sâu hướng phía bắc hơn mười dặm, xây dựng ba tòa chòi canh gác, tiện cho dễ dàng báo động trước.

Trưa hôm nay, một chi hai mươi kỵ binh Quân Hán tổ thành một đội trinh sát tuần tra như ngày thường đi tuần tra trong Đại Đầu Bạt cốc, bởi vì độ cao so với mặt biển cho dù đã là thời tiết cuối xuân nhưng khí trời vẫn còn khá rét lạnh, phải mặc quân phục dày dày để chống cái lạnh.

Tuần tra được hơn hai mươi dặm, chính lúc kỵ binh chuẩn bị quay đầu trở về trạm gác, một gã kỵ binh liền chỉ về phía bắc hô to:

- Các ngươi mau nhìn, đó là cái gì?

Mọi người cùng nhau hướng phía bắc nhìn đi, chỉ thấy xa xa trên núi xuất hiện một chấm đen nhỏ, hình như là một con ngựa, đội kỵ binh liền cùng nhau thúc ngựa chạy nhanh đến, đến gần hơn quả nhiên là một con ngựa ô, trên ngựa còn có một người, người đã hôn mê ngất đi, hai tay mềm rủ xuống, nhìn y phục trên người, không giống người Hồ, lại giống người Hán, vả lại tuổi tác cũng không lớn, nhiều nhất là mười bốn mười lăm tuổi.

Đội kỵ binh đều giật mình kinh hãi, phải biết được trong cốc dã thú hoành hành, đơn thuần một người đi lại không bị lang thú ăn thịt là một chuyện cực kỳ hiếm thấy. Đội trưởng cầm đầu vừa nhìn, thấy trên dây lưng thiếu niên có đeo một thanh trường kiếm khảm bảo thạch, đây không phải người bình thường có thể có được, y thử xem hơi thở của thiếu niên, vẫn còn hơi, liền lập tức truyền lệnh nói:

- Cho y uống chút rượu, đem y trở về!

Bọn binh lính tưới cho thiếu niên mấy ngụm rượu mạnh, sau đó dẫn cậu chạy về hướng trạm gác.

Trong lầu hai của trạm gác, đồn trưởng đưa bảo kiếm cho một y dược hái thuốc nói:

- Vương tiên sinh, người biết chữ, xem xem chuôi kiếm có khắc chữ gì?

Vị Y tượng này tên là Vương Xuân, là một người Hán, vốn dĩ là quan viên triều đình, lúc loạn Lý Thôi liền mang theo thê tử chạy trốn tới quận Tây Bình, y thuật của y rất cao minh, mở ra một hiệu khám, danh tiếng càng lúc càng lớn, được người Hồ Hà Hoàng Hồ tôn xưng y là thần y, mấy hôm nay y vừa hay ở Đại Đấu Bạt cốc hái thuốc.

Vương Xuân tiếp nhận bảo kiếm rồi nhìn nhìn, ánh mắt lộ ra một vẻ kinh ngạc, nói:

- Đây là Khương văn, ý tứ là kiếm của Vương tử, hẳn là bội kiếm của con trai Khương Vương.

- Đây rõ ràng là một người Hán, thế nào lại là con trai của Khương Vương, chẳng lẽ gã là Nam Cung Bá Ngọc?

Đồn trưởng không hiểu hỏi.

- Người này thân phận không bình thường, ta đi hỏi thăm y một chút.

Vương Xuân đi theo đồn trưởng đi xuống lầu, ở sau chuồng ngựa nhìn thấy thiếu niên được cứu trở về, cậu giờ đã tỉnh, được Vương Xuân chữa trị, thân thể phát sốt cũng khôi phục nhiệt độ bình thường, cậu ôm lấy đầu gối ở trong một bụi cỏ cúi đầu không nói, không biết đang nghĩ gì?

Vương Xuân đi đến trước dùng Khương ngữ cười hỏi:

- Ngươi là quý tộc Người Khương sao?

Thiếu niên biết là Vương Xuân đã cứu mình nên rất cảm kích y, lắc lắc đầu nói:

- Ta không phải, ta là con cháu Khương Thị Thiên Thủy, cha ta vốn là phụ tá Thái thú Thiên Thủy Vi Khang.

Thiếu niên đúng là Khương Duy, phụ thân liều chết chặn đám kỵ binh người Khương truy kích, để cho cậu có thể trốn thoát được, ở trong cốc chạy trốn hai ngày hai đêm, cũng là bởi vì cậu tỉnh táo nên mới khiến cho cậu không bị dã lang tập kích, cuối cùng được trinh sát tuần tra quân Hán cứu.

Vương Xuân gật gật đầu:

- Hóa ra là con cháu danh môn Khương Thị, vậy sao ngươi lại từ phía bắc chạy đến đây, còn là một thân một mình nữa?

Giọng điệu Vương Xuân ôn hòa, tươi cười hiền lành, Khương Duy chua xót, liền nói từ đầu đến cuối sự việc hai cha con, cuối cùng rơi lệ nói:

- Phụ thân chặn truy kích của kỵ binh người Khương, sinh tử không biết, cảm tạ hai vị thúc bá cứu tiểu tử một mạng, Khương Duy khắc sâu vào trong lòng.

Nói xong, cậu liền quỳ xuống dập đầu lạy ba cái trước mặt Vương Xuân và đồn trưởng. Vương Xuân vội vàng nâng cậu dậy nói:

- Hài tử, đừng khách khí, chúng ta ở trong cốc gặp nhau cũng coi như là duyên phận.

Đồn trưởng vốn là rất thích bảo kiếm của cậu, thấy vị thiếu niên này hiểu lễ như vậy, y quả là có chút ngượng ngùng, đem bảo kiếm giao lại cho Khương Duy:

- Đây là bảo kiếm của ngươi, rất chân quý đấy, nên cất kỹ vào.

Khương Duy lắc đầu:

- Xin tướng quân giúp ta đổi một thanh kiếm khác, kiếm này ta coi như lễ ta tạ ơn tướng quân.

- Ha Ha! Đây làm sao mà được cơ chứ?

Trong lòng đồn trưởng mừng rỡ, trên bao kiếm khảm năm viên bảo thạch đều lớn như trứng chim bồ câu, ít nhất gia trị vạn tiền, thiếu niên lại tặng cho y, y cũng liền không khách khí nhận lấy:

- Như vậy đi! Ta giúp ngươi bảo quản, sau này ngươi có thể tới tìm ta nhận lại.

Đồn trưởng khách khí hai câu, lại thân mật hỏi han:

- Khương thiếu lang là muốn quay về quận Thiên Thủy sao? Ta có thể phái hai tên binh lính đưa người trở về.

Khương Duy suy nghĩ một chút nói:

- Ta bị người Khương đuổi giết, có thể là bởi vì ta biết một chút bí mật quân sự của Khương Vương, ta muốn đi diện kiến Hán vương điện hạ, có được không?

Vương Xuân gật gật đầu:

- Nghe nói Hán vương đang ở quận Tây Bình luyện binh, ta vừa hay cũng phải trở về quận Tây Binh, chúng ta có thể đi cùng nhau tới đó.

Đồn trưởng cũng cười nói:

- Có Vương y thần đồng hành, ta liền không cần phái binh hộ tống rồi, thanh danh của y, cho dù là phỉ tặc cũng phải quỳ xuống dập đầu với y đấy.

Khương Duy thu thập một chút, liền theo Vương Xuân rời khỏi trạm gác, một già một trẻ cưỡi ngựa đi về hướng nam.

Chương 719: Binh tiến Tây Hải.

Lưu Cảnh sau khi tiêu diệt Tống Kiến bộ cũng không có lập tức suất quân tây tiến Quan Trung, mà là tiếp tục lưu lại Hà Hoàng, củng cố sự khống chế đối với khu vực Hà Hoàng. Hán triều ở khu vực Hà Hoàng xây dựng nên huyện Phá Khương và huyện Lâm Khương, thời kì Vương Mãng thiết lập quận Tây Hải, nhưng nơi quản lý có hiệu quả cũng chỉ ở một vùng cốc địa Hà Hoàng của phía đông Tây Hải. Tận đến mấy trăm năm sau thời kỳ Tùy Văn Đế mới đưa toàn bộ bắc bộ cao nguyên nhét vào bản đồ vương triều Trung Nguyên, đặt tên là quận Tây Hải.

Ba mươi năm trôi đi, trung ương triều đình quản lý đối với quận Tây Bình cũng đã là vô danh hữu thực, trên danh nghĩa quan phủ của quận Tây Bình là do triều đình bổ nhiệm, nhưng trên thực tế bọn họ lại nghe lệnh bởi Bình Hán Vương Tống Kiến.

Giữa Tống Kiến và trung ương triều đình cũng giữ vững tình hình như vậy, cho triều đình mặt mũi, còn lão lại nhận được lợi ích bên trong, quận Tây Bình là phạm vi thế lực của lão, từ sau khi Lưu Cảnh dẹp yên Tống Kiến, quận Tây Bình cũng liền thuận lợi quy về Hán quốc, nhưng chí hướng Lưu Cảnh cũng không dừng ở đây, hắn còn tiếp tục bành trướng về hướng phía tây, đem toàn bộ khu vực Tây Hải sát nhập vào địa đồ Hán quốc, thành lập quận Tây Hải.

Tây Hải cũng chính là hồ Thanh Hải của đời sau, ở thời kì Lưỡng Hán, Tây Hải có phạm vi chiếu rọi mênh mông, phương viên mấy ngàn dặm, hồ nước thuần khiết xanh thẳm, là một viên minh châu ở trên cao nguyên, ven hồ xung quanh là một thảm thảo nguyên mênh mông vô bờ. Lúc này xung quanh hồ Tây Hải vẫn là khu vực thưa thớt vạn dặm, người Khương sinh sống ít ỏi quanh đây.

Một chi người Khươngsinh sống trước tiên ở nơi này, nhưng lại có ít nhiều khác biệt với người Khương ở Trương Dịch - khu vực Hà Hoàng, được xưng là Sinh Khương, cũng chính là chưa từng trải qua quá trình Hán hóa, vẫn duy trì được cuộc sống nguyên thủy của người Khương, bọn họ vốn là cũng sinh sống ở khu vực Hà Hoàng, do nhiều lần tạo phản, từng gặp phải một lần trấn áp của vương triều Hán, chi Người Khương này liền chạy đến cao nguyên phía tây của Tây Hải, ở trên cao nguyên, bọn họ lấy chăn thả bắt cá mà sống, mấy trăm năm này trải qua cuộc sống nghèo khó trong yên lặng.

Nhưng cũng có thương nhân không quản gian khổ, không ngại ngàn dặm đến cao nguyên, dùng đồ thường nhật để trao đổi ngựa và bảo thạch của bọn họ, đặc biệt ngựa ở đây là giống Hán Huyết Bảo mã năm đó Hán Vũ đế ở Đại Uyên chinh phục được, nuôi thả ở đây, cộng thêm ở trên cao nguyên khí hậu rét lạnh thiếu dưỡng khí, khiến cho nơi đây chiến mã được sinh ra không chỉ to lớn khỏe mạnh, mà sức lực chịu được cũng vô cùng tốt, có thể nói là trân phẩm trong loài ngựa, vẫn là bảo mã mà tướng lĩnh Trung Nguyên tha thiết mơ ước.

Nhưng Hán Vương Lưu Cảnh suất lĩnh quân đội đến, đánh vỡ sự yên tĩnh của cao nguyên, tuy rằng các tù trưởng của người Khương cũng có dã tâm kiêu hùng bừng bừng, nhưng bản tính của người Khương tương đối ôn hòa lương thiện, không tàn bạo như dân tộc du mục phương bắc, bọn họ tuy rằng bị quân đội Hán triều xua đuổi nhưng vẫn là nén giận xuống, không dám phản kháng, yên lặng sinh sống ở trên cao nguyên hai trăm năm, sinh con đẻ cái.

Người Khương sinh sống ở cao nguyên Tây Hải khoảng hơn hai vạn, chia làm ba bộ lạc, phân bố ở tứ phía Tây Hải, vẫn thực hiện như chế độ nguyên thủy là tộc trưởng bộ lạc nắm quyền. Lúc này Lưu Cảnh dẫn một vạn năm ngàn kỵ binh quân Hán trú đóng ở bờ nam Tây Hải, hắn lần này tiến nhập cao nguyên, một mặt là muốn lợi dụng điều kiện của cao nguyên để huấn luyện kỵ binh, một mặt khác là tính toán thành lập Quận Tây Hải.

Đương nhiên, khu vực cao nguyên cũng không thích hợp canh nông, hắn cũng không có khả năng di dời người Hán đến nơi này sinh sống, ở nơi này vẫn là chăn nuôi là chủ yếu, hắn là suy xét để người Khương sáp nhập làm thần dân Hán quốc, mở rộng nghề chăn nuôi, làm cho nơi này thành nơi sản xuất chiến mã của quân Hán.

Trong đại trướng tiếng cười vang lên không ngừng, mấy tên dũng sĩ trong quân ở trong trướng biểu diễn đấu vật, trên bàn là núi thịt biển rượu, bày đầy đủ các loại hoa quả tươi của Trung Nguyên, Lưu Cảnh tọa ở bên trong, hai bên là hơn mười trưởng lão bộ lạc của người Khương, bọn họ được Lưu Cảnh mời đến để làm khách, nhận được thịnh tình khoản đãi của Hán vương.

Tuy nhiên trong tất cả các trưởng lão không phải ai cũng vui vẻ, có vài người có tâm sự nặng nề, bọn họ là người hiểu biết, quân đội Trung Nguyên lên đến cao nguyên không phải là đơn giản như là khách qua đường, sợ rằng bọn họ là nhìn trúng mảnh đất thảo nguyên màu mỡ này.

Trưởng lão cầm đầu người Khương tên là A Bảo, có chút thông hiểu Hán ngữ, lão dùng Hán ngữ nói với Lưu Cảnh:

- Điện hạ nói muốn khôi phục lại Quận Tây Hải như tiền Hán triều, nhưng trước kia Quận Tây Hải chỉ là khu vực Hà Hoàng, mà ngay cả thành dã ba góc của phía tây tại bờ đông Tây Hải, vương triều Trung Nguyên cũng không vượt qua địa khu cao nguyên, lần này vì sao Điện hạ lại suy xét sáp nhập toàn bộ khu vực cao nguyên vào Quận Tây Hải vậy?

Lưu Cảnh cười nói:

- Quận Tây Hải do Vương Mãnh thiết lập thật ra cũng bao gồm cả khu vực cao nguyên, chỉ là quận trị ở bờ đông Tây Hải mà thôi, ta cũng chỉ là khôi phục lại lãnh thổ Đại Hán ngày trước, có gì không thỏa đáng hay sao?

A Bảo biến sắc, lão dùng Khương ngữ nói với các trưởng lão khác mấy câu, tiếng cười biến mất, không khí trong đại trướng lập tức trở nên ngưng trọng, A Bảo lại lạnh lùng nói:

- Điện hạ muốn khôi phục lãnh thổ Đại Hán, cũng không có gì không được, nhưng chúng ta ở đây từng đời sinh sống gần hai trăm dặm, sớm đã biến nơi này thành gia viên của chính mình, an cư lạc nghiệp, cũng chưa từng xâm phạm đến Hà Hoàng, điện hạ hiện tại muốn thu hồi mảnh đất này, có phải là muốn đuổi chúng tôi di tản về hướng tây nữa phải không?

Lưu Cảnh mỉm cười:

- Trưởng lão quá đa nghi rồi, nơi đây khí hậu lạnh buốt, không thích hợp nông canh, ta thu hồi lại mảnh đất này cho ai sinh sống chứ? Mọi người vẫn có thể cùng tộc nhân của mình sinh sống ở đây như cũ, không có ai đuổi các ngươi đi, chỉ là các ngươi cần phải trở thành thần dân của Hán quốc, tiếp chịu quản lý của quan phủ.

- Quan phủ sẽ quản lý chúng tôi như thế nào? Muốn thu thuế chúng tôi, hay là làm lao dịch, hay là khiến chúng tôi giống tổ tiên chịu sự bóc lột của quan phủ?

A Bảo lại phiên dịch vài câu với mọi người, mười mấy trưởng lão đều trầm mặc, nhìn bọn họ có thể nhận ra, tiếp nhận quản lý của quan phủ chính là bóc lột bọn họ, bọn họ không thể chấp nhận.

Lưu Cảnh cũng không hề phát hỏa, vẫn như cười nói:

- Vì sao có quan phủ quản lý lại nhất định là trưng dịch thu thuế, vì sao lại nhất định là phải là người ta phái đến quản lý, chẳng lẽ ta không thể bổ nhiệm người của các người làm Thái thú sao? Ví như A Bảo trưởng lão, ta cảm thấy để ngươi làm Thái thú là không ai thích hợp hơn rồi, không cần các ngươi nộp thuế đóng phú, cũng không cần các ngươi phục lao dịch, chiến mã và dê bò của các ngươi, ta dùng lương thực và vải vóc đến trao đổi, nếu ta cần người lao động, ta cũng sẽ trả các ngươi thù lao xứng đáng với các ngươi, các ngươi cảm thấy như thế nào?

Sắc mặt A Bảo thoáng dịu ôn hòa đi một chút, đem phiên dịch lại những lời của Lưu Cảnh cho mọi người, trong đại trướng lập tức một xôn xao, mọi người hạ thấp giọng nghị luận. Lúc này, A Bảo nói với Lưu Cảnh:

- Điện hạ, có thể cho chúng ta ở trướng khác thảo luận một chút hay không.

- Được!

Lưu Cảnh lập tức phân phó thuộc hạ dẫn bọn họ đến đại trướng bên cạnh thảo luận, đợi cho các trưởng lão đều rời khỏi hết, Pháp Chính cười nói với Lưu Cảnh:

- Thật ra ta cảm thấy kiến nghị của Bàng quân sư cũng không tệ, dự tính mở rộng quận Tây Bình, bao gồm toàn bộ phía tây Tây Hải trong đó, cũng không cần thiết lập đơn độc Quận Tây Hải, bọn họ cũng sẽ không còn chống đối như vậy nữa.

Lưu Cảnh lắc lắc đầu:

- Nếu là như vậy, so với trước có gì khác biệt chứ? Vẫn chỉ là lãnh thổ trên danh nghĩa, mấu chốt không phải ở mảnh đất đó, mà là con người, nhất định phải khiến người Khương nơi đây trở thành thần dân của Hán quốc, để bọn họ ý thức được, bọn họ cũng là người Hán quốc, sau khi trải qua mấy chục năm đồng hóa sẽ dần dần nộp thuế phú giống người Khương Đê ở khu vực Hà Hoàng.

- Nếu bọn họ không đáp ứng thì sao?

Lưu Cảnh lạnh lùng cười:

- Quân đội của ta đã lên đến cao nguyên này, đối với bọn họ trước tiên dùng thủ đoạn dụ dỗ, nếu không biết điều, vậy đừng trách ta không khách khí.

Pháp Chính cười khổ một tiếng nói:

- Tên A Bảo này rất khôn khéo, tuy rằng đề xuất thảo luận, thì nên hiểu được sự lợi hại trong đó, ta nghĩ bọn họ là muốn nhận được lợi ích lớn nhất.

- Chỉ cần không xúc phạm đến đến ranh giới cuối cùng, cho bọn họ chiếm được lợi cũng không sao, ta nghĩ chỉ cần cho con cháu của bọn họ sau khi nếm được lợi ích của thần dân Đại Hán xong lại cho bọn họ tự do, khôi phục cuộc sống nghèo khổ như trước, chỉ sợ rằng lúc ấy bọn họ không chịu khổ được nữa.

Lúc này, hơn mười trưởng lão lại trở lại trong đại trướng, trong lòng mọi người đều biết, Lưu Cảnh suất lĩnh một vạn năm ngàn kỵ binh đến cao nguyên, nếu như bọn họ dám không đáp ứng, hôm nay họ cũng không có đường về rồi, bộ tộc của bọn họ cũng sẽ bị diệt tộc, quân Hán sẽ đưa người Thổ Dục Hồn dễ bảo hơn đến thay thế bọn họ, điểm này, trong lòng bọn họ biết rõ, trải quả một cuộc thảo luận, mọi người rốt cuộc đã ra quyết định, so với bị diệt vong, chi bằng học cách thảo hiệp.

A Bảo ôm quyền nói:

- Khởi bẩm Hán Vương điện hạ, chúng tôi thảo luận xong rồi, chúng tôi có ba điều kiện, nếu như điện hạ có thể đáp ứng, chúng tôi nguyện quy thuận làm thần dân Hán quốc.

- Mời nói, ta rửa tai lắng nghe.

- Điều kiện thứ nhất đó là hứa hẹn vừa rồi của Hán Vương điện hạ, không cần chúng tôi nộp thuế dâng phú, cũng không cần chúng tôi phục lao dịch, xin hỏi đây là trong thời gian ngắn hay dài?

Lưu Cảnh giơ ra năm đầu ngon tay:

- Thời hạn năm mươi năm, sau năm mươi năm, dựa theo một nửa thuế phú của người Đê ở Hà Hoàng để nộp, vĩnh viễn không thay đổi, ta có thể cam kết trên văn bản.

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, trong lòng A Bảo thầm nghĩ ''điều kiện như vậy thật sự không tệ, ít nhất không thiệt''. Lão liền gật gật đầu, lại nói:

- Điều kiện thứ hai là Tthái thú nhất định phải do tộc nhân của chúng tôi đề cử, không nhất định là tộc nhân của chúng tôi, là người Hán cũng được, nhưng cần có được sự nhất trí ủng hộ của chúng tôi mới được.

Lưu Cảnh cười:

- Điều kiện này cũng không thành vần đề, ngoài ra, ta còn cần phái mấy tên quan phủ đến đảm nhiệm Quận thừa, Tòng sự, ta nghĩ các vị cũng nên đáp ứng đi!

- Có thể phái quan văn đến, chúng tôi có thể tiếp nhận.

A Bảo hít sâu một hơi, nói đến điều kiện thứ ba trọng yếu nhất:

- Điều kiến thứ ba của chúng tôi là liên quan đến việc quân đội đóng giữ.

- Chờ một chút!

Sắc mặt Lưu cảnh thay đổi, cắt ngang lời nói của lão:

- Lời nói thô tục ta nói trước, nếu như đã là lãnh thổ Hán quốc, ta sẽ nhất định phải đóng quân ở Quận Tây Hải, đây chính là giới hạn của ta, vấn đề có thể thương lượng về quân đóng ở đây chỉ là bao nhiêu mà thôi.

Trên mặt mọi người đều lộ ra vẻ thất vọng, bọn họ vốn là không hy vọng Hán quân trú đóng, hiện tại Lưu Cảnh kiên quyết không đáp ứng, bọn họ chỉ có thể lui lại một chút rồi, A Bảo nói:

- Kỳ thực Điện hạ đã trú đóng một ngàn quân ở Đại Đấu Bạt cốc phía bắc Tây Hải, đây chính là trú quân ở Quận Tây Hải rồi, chẳng lẽ còn phải gia tăng thêm trú quân sao?

Lưu Cảnh nghiêm nghị nói:

- Ở Đại Đấu Bạt cốc trú quân là vì thông đạo trọng yếu, quan hệ đến trú quân ở Quận Tây Hải không lớn, ta dự định ở Hải Tây và Hải Đông xây dựng một tòa quân thành, mỗi tòa trú quân một ngàn người, ngoài ra ở khu vực Hà Khúc xây dựng một tòa quân thành, cũng trú quân một ngàn, như vậy toàn bộ Quận Tây Hải sẽ có bốn ngàn trú quân, quân phí và lương thảo không cần các người chịu, nếu như con cháu các ngươi nguyện ý tòng quân, ta cũng sẽ rất hoan nghênh, đây là kế hoạch ta đã sớm định rồi.

A Bảo thấy thái độ kiên quyết của Lưu Cảnh, lại cùng mọi người thương nghị một lúc, cuối cùng cũng đáp ứng:

- Vậy chúng ta một lời là định!

Chương 720: Khương Duy đã đến.

Trong đại trướng, Lưu Cảnh đứng trước địa đồ có chen vài cờ nhỏ, đây là hắn chuẩn bị ở Tây Hải cao nguyên xây dựng ba toà quân thành, hơn nữa phía Bắc Tây Hải có quân trại Đại Đấu Bạt Cốc, như vậy xung quanh có nơi quân trú, trên cơ bản ngăn giữ các yếu điểm chiến lược của cao nguyên Tây Hải.

Pháp Chính chỉ chỉ Hà Khúc nói:

- Ta ở Hán Trung nghe nói địa khu Hà Khúc Hoàng Hà là một mảnh đất trù phú, dân cư đông đúc, khí hậu ấm áp, đất đai phì nhiêu, rất thích hợp cho nông canh bên kia cũng chia phần đất cho người Khương, đất Thục cho người Hán, làm nông canh cho nên người Quan Trung có tục ngữ là "Xanh tử Hà Khúc mạch, ngạ tử Quan Trung lương".

- Những lời này có ý gì?

Lưu Cảnh tò mò hỏi

- Ý của những lời này chính là tuy rằng Quan Trung có đất đai phì nhiêu, có được sản lượng lương thực khá cao nhưng thuế phú cũng cực kỳ cao, một năm làm lụng vất vả mới thu hoạch được lương thực ấy nhưng sau khi nộp thuế phú chỉ còn lại đủ sống tạm qua ngày, còn Hà Khúc bên kia không có quản lý của quan phủ, sản lượng cũng không thấp nên thu được bao nhiêu đều có thể giữ lại không cần thuế phú, cho nên nói "xanh tử Hà Khúc mạch".

Lưu Cảnh gật gật đầu nói:

- Đối với người Hán ở Trung Nguyên mà nói ở đó chính là bảo địa né tránh thuế đất đai, ta thật hy vọng không có nhiều người Hán sẽ qua bên đó.

- Quả thật không nhiều lắm, chỉ có mấy ngàn người, chủ yếu năm đó dân chạy nạn trốn loạn Lý Thôi, nguyên bản có mấy vạn người, sau đó phần lớn đi Hán Trung và Ba Thục, hiện tại bên đó khoảng chừng bốn năm nghìn người.

Lưu Cảnh kỳ quái liếc nhìn Pháp Chính, Pháp Chính sao có thể không biết được, Pháp Chính hiểu được nghi vấn của Lưu Cảnh thản nhiên cười lớn:

- Đơn giản vì ta từng đi qua, sau đó mới đi Ba Thục.

- Thì ra là thế, vậy tại sao không lưu lại Hà Khúc, nơi đó sao không giữ được người lại?

Pháp Chính nhẹ nhàng thở dài một tiếng:

- Mọi người không ở nơi đó sinh sống vì họ có cảm giác không được an toàn, cảm giác khi rời xa Trung Nguyên lại không có đất đai để ở, sống một nơi cô độc như thế khiến người ta không thể chịu nổi, mặc dù không có quan phủ thu thuế nhưng lại luôn luôn sợ tai họa rình rập, nếu có tai họa tổn thất cũng không nhỏ.

- Ví dụ như tai họa gì?

Lưu Cảnh lại hỏi.

- Ví như sợ xung đột giữa dân địa phương người Khương và những cường hào xảo quyệt, nhưng quan trọng hơn chính là trộm cướp, khi mùa thu hoạch vừa đến bọn trộm cướp hoành hành trộm của người dân, thậm chí còn xông vào nhà giết người gian dâm, cho nên tất cả mọi người dần dần không ở nơi này nữa mà lục đục quay về Trung Nguyên, chủ yếu đi Hán Trung và Ba Thục, ở đó mặc dù thuế phú cao nhưng cuộc sống vẫn bình yên hơn nhiều.

Lưu Cảnh khoanh tay đi qua đi lại trong đại trướng vài bước, lẩm bẩm:

- Nói tới chuyện này ta nghĩ mình cần phải đi xem qua một chút.

Lúc này một gã thi vệ ở cửa bẩm báo nói:

- Khởi bẩm Điện hạ, bên ngoài quân doanh có một thiếu niên bảo là con trai của Khương Thiếu Thường, đồng hành cùng y còn có một danh y, có chuyện quan trọng cần cầu kiến Điện hạ.

Lưu Cảnh ngẩn ra, Khương Thiếu Thường là ai? Pháp Chính lại cười nói:

- Khương Thiếu Thường chính là Khương Quýnh.

Lúc này Lưu Cảnh chợt hiểu, như vậy thiếu niên kia chính là Khương Duy rồi, hắn vội nói:

- Cho họ tiến vào.

Lưu Cảnh nhìn Pháp Chính cười nói:

- Ta nghe Mã Đại nói, thiếu niên này là một người khá thông minh, nếu cho học hỏi thêm nhất định sẽ là người tài giỏi, Hiếu Trực không ngại nhận hắn chứ.

Pháp Chính gật đầu cười cười, y cũng có vài phần hứng thú.

Không lâu sau, vài tên thị vệ dẫn Khương Duy và Vương Xuân tiến vào doanh trại, vốn bọn họ muốn đi quận Tây Bình nhưng khi đi ngang qua Đại Đấu Bạt Cốc nghe nói Lưu Cảnh ở phía nam Tây Hải luyện binh nên liền vượt qua Tây Hải mà tới, Vương Xuân lo lắng sợ Khương Duy đi một thân một mình, gã lại đối với vùng này khá tinh tường nên dẫn Khương Duy xuôi Nam, nhanh chóng liền tìm được nơi dừng chân của quân Hán.

Khương Duy quỳ xuống thi lễ:

- Vãn bối Khương Duy bái kiến Hán Vương Điện hạ!

Lưu Cảnh vội đỡ người cậu dậy, cười tủm tỉm hỏi:

- Phụ thân ngươi đâu rồi, sao lại đến nơi này một mình?

Khương Duy rơi lệ nói:

- Chúng ta trốn ra từ Trương Dịch đến đây, phụ thân sinh tử không rõ, ta đi tránh qua Đại Đấu Bạt Cốc nghe nói Điện hạ ở phía Nam Tây Hải nên liền chạy đến.

- Hóa ra là vậy.

Lưu Cảnh trấn an cậu vài lời, ánh mắt dừng lại trên người Vương Xuân, thấy y tuổi chừng ngoài năm mươi dáng người không cao, có phong phái tiên đạo liền hỏi:

- Vị tiên sinh này là ai?

Vương Xuân khom người thi lễ nói:

- Thảo dân Vương Xuân, làm nghề y ở Hà Hoàng, chỉ là thảo thuật hương y mà thôi, sợ Khương Thiếu Lang một thân một mình đến đây cho nên thần đi cùng hắn, đa tạ Điện hạ đã quan tâm.

Pháp Chính bên cạnh kinh ngạc nói:

- Có phải các hạ chính là Thái Thường Thừa Vương Trọng Khanh của năm đó không?

Vương Xuân khẽ mỉm cười:

- Chuyện đó đã hai mươi mấy năm rồi, không ai còn nhớ nữa, nếu ta đoán không lầm năm đó ngươi là Pháp Hiếu Trực được xưng là Tam Phụ Thần Đồng.

- Đúng, ta chính là Pháp Chính.

Pháp Chính có chút kích động vội giới thiệu cùng Lưu Cảnh:

- Vị trưởng bối này chính là đệ đệ Vương Doãn, nhận chức Thái Thường Thừa, kể từ khi Lý Thôi công phá thành Trường An huynh ấy liền không thấy tông tích, lúc này ta mới biết hóa ra chính là Vương thần y, năm đó là Vương Thái Thường.

Lưu Cảnh cũng thi lễ cười nói:

- Ta có nghe Đê Vương A Quý có nói Hà Hoàng có một thần y là Vương Xuân, hóa ra chính nói các hạ, ngưỡng mộ đã lâu.

Vương Xuân thấy Lưu Cảnh đối với quá khứ của mình không có hứng thú, xem trọng mình của hiện tại nên trong lòng y thật có hứng thú, đây đúng là điều y muốn vội khiêm tốn nói:

- Thảo thuật hương y mà thôi, không dám xưng là thần y.

- Vương tiên sinh quá khiêm tốn rồi, mời ngồi.

Vương Xuân cũng không khách khí, nhanh chóng ngồi xuống, y nghe danh Lưu Cảnh đã lâu cũng muốn tận mắt nhân vật huyền thoại này một chút. Lúc này, Lưu Cảnh cũng kéo Khương Duy ngồi cùng hỏi cậu:

- Nói cho ta biết có chuyện gì xảy ra?

Khương Duy liền mang chuyện phát sinh ở Trương Dịch kể lượt qua một lần, Lưu Cảnh không khỏi âm thầm cười lạnh một tiếng, Nam Cung Tác này thực sự có can đảm thừa dịp mà tấn công Lũng Tây sao?

Nhưng vẻ mặt hắn không lộ ra điều gì, cố trấn an Khương Duy nói:

- Yên tâm đi, nếu phụ thân ngươi bị bắt, ta sẽ lệnh cưỡng chế Nam Cung Tác giao người.

- Đa tạ Điện hạ đã quan tâm, vãn bối muốn nhắc nhở Điện hạ, Nam Cung Tác là kẻ vong ơn phụ nghĩa, dù Điện hạ có đối tốt với y thế nào y cũng xem việc đó là đương nhiên, chỉ cần không làm theo ý y, y sẽ ghi hận trong tâm, lại bóc lột bộ tộc tàn khốc, hơn nữa thật sự không được nhân tâm, Điện hạ có thể thấy được thói kiêu căng của y.

Lưu Cảnh thấy một dứa bé mới mười hai mười ba tuổi có thể nói ra những lời này liền gật đầu:

- Ta biết rồi, vừa lúc ta định đến Hà Khúc xem thế nào, cháu đi chung với chúng ta đi.

- Nhưng....

Khương Duy vội la lên:

- Nam Cung Tác có ý tiến công Lũng Tây, Điện hạ phải nhanh chóng quay về mới phải chứ!

Lưu Cảnh khẽ mỉm cười:

- Nói thật ta đang chờ Nam Cung Tác tiến công Lũng Tây, dứt khoát ta sẽ cho y một đòn chí mạng.

Trong tâm Khương Duy lúc này mới ngộ ra, thì ra Hán Vương muốn tìm cớ để trừng trị Nam Cung Tác. Vương Xuân bên cạnh cười nói:

- Ta từng đến Hà Khúc chữa trị, bên kia địa hình cùng phong tục cũng có chút hiểu biết, nếu Hán Vương Điện hạ không chê, ta nguyện dẫn đường cho Điện hạ.

Lưu Cảnh mừng rỡ, hắn đang cần một người quen thuộc tình hình ở Hà Khúc, khi thấy Vương Xuân xung phong nhận hắn lập tức chắp tay hành lễ:

- Như thế, đa tạ Vương tiên sinh nhiều.

Địa khu Hà Khúc là nơi cua quẹo đầu tiên của Hoàng Hà, vùng này cây cỏ xanh um, khí hậu ấm áp, đất đai phì nhiêu, nước tưới dồi dào đồng bằng rộng lớn. Từ xưa đến này đã là cao nguyên Thanh Tạng thì có khá ít đất nông nghiệp, thời triều Đường, Thổ Phiên xâm phạm Trung Nguyên, địa khu Hà Khúc là vùng đất sản xuất lương thực tiếp tế quan trọng cho quân đội Thổ Phiên.

Thời Tam quốc, địa khu Hà Khúc lại có một vài người Khương, bọn họ thuộc loại một chi của Thiêu Đương Khương ở địa khu Hà Khúc làm canh tác nông nghiệp, từ khi Đổng Trác và Lý Thôi gây loạn, một lượng lớn dân chúng Quan Lũng trốn vào hướng Tây Hà Khúc, ở địa khu Hà Khúc này khai hoang canh tác, trải qua cuộc sống tự cung tự cấp đồng thời bọn họ cũng mang đến kỹ thuật nông canh tiên tiến, khiến địa khu Hà Khúc càng ngày càng phát triển.

Từ khi chiến loạn ở Trung Nguyên dần dần được ổn định, người Hán ở địa khu Hà Khúc cũng dần dần trở về quê nhà khiến cuộc sống phồn vinh của dân chúng nơi này trở nên tiêu điều hơn. Lúc này đã đến tháng năm, đúng trưa ngày hôm ấy một đội kỵ binh quân Hán trùng trùng điệp điệp dùng bè mà vượt sông Hoàng Hà, hướng vào địa khu Hà Khúc.

Đội quân đó chính là mười lăm nghìn kỵ binh quân Hán được Lưu Cảnh suất lĩnh, hơn một tháng huấn luyện ở cao nguyên, nên sức chịu đựng của kỵ binh tăng khá cao, kết quả sự huấn luyện này thật sự được Lưu Cảnh tán thưởng, hắn thậm chí còn nghĩ sẽ xây dựng một trại huấn luyện ở cao nguyên, tiếp tục cho đội quân khác đến huấn luyện, việc này sẽ mang lại lợi ích cho quân đội phía Nam vì tính kiên nhẫn tác chiến không đủ.

- Điện hạ, dường như Pháp quân sư rất thích Khương Duy.

Mã Đại đi bên cạnh cười nói cùng Lưu Cảnh.

Lần này Mã Siêu không đến cao nguyên tham gia huấn luyện mà ở Lũng Tây cũng cố quân Hán chiếm lĩnh Lũng Tây, đó là nguyên nhân Lưu Cảnh không lo lắng khi nghe tin Nam Cung Tác có ý tấn công Lũng Tây với quy mô lớn. Lũng Tây có Mã Siêu và Bàng Thống suất ba vạn quân trấn thủ, nên Lưu Cảnh mới có thể thư thái như vậy.

Lúc trước Mã Đại đã từng là đại tướng kỵ binh ở Tây Lương, phương diện huấn luyện kỵ binh thậm chí còn mạnh hơn huynh trưởng Mã Siêu của gã, cho nên lần này huấn luyện ở cao nguyên Mã Đại được toàn quyền phụ trách.

Lưu Cảnh cũng khẽ cười nói:

- Mặc dù Khương Duy còn niên thiếu nhưng ta cảm giác suy nghĩ của nó rất chín chắn, tuy chưa được trưởng thành nhưng lối suy nghĩ tỉ mỉ tinh thế, cẩn thận, nếu nó được học hỏi thêm tương lai chẳng khác nào Đặng Ngải, cũng sẽ là một vị đại tướng độc chắn một phương, nếu Pháp quân sư có ý, ta cũng muốn y trở thành sư phụ của Khương Duy.

Mã Đại cũng gật gật đầu cười nói:

- Khương Duy cũng có thể lại một đại tướng luyện võ, huynh trưởng tại hạ cũng đang tìm kiếm đồ đệ, Mã gia và Khương gia có quan hệ cũng thân thiết không bằng bảo huynh trưởng ta dạy võ nghệ cho nó, Điện hạ cảm thấy thế nào?

- Chỉ cần hai bên nguyện ý thì ta không có ý kiến gì cả.

Lúc này, Pháp Chính cũng đi chậm ngựa lại song song cùng Lưu Cảnh, Lưu Cảnh cười hỏi:

- Tên đồ đệ này có khiến Hiếu Trực hài lòng không?

Pháp Chính gật đầu cười nói:

- Người này như ngọc thô chưa được mài dũa vậy, Pháp Chính chỉ sợ mình tài hèn học ít không dạy nổi y, ta nghĩ để y đến Tương Dương học ở trường, có Bàng Đức Công, Tuân Lệnh Quân dạy dỗ nền tảng trước, năm năm sau lại đến ta dạy.

- Hiếu Trực suy nghĩ khá chu toàn, thật sự khiến người ta kính nể.

Tuy rằng Lưu Cảnh rất quan tâm đến sự phát triển của Khương Duy nhưng hắn vẫn không để lộ ra, hắn là Hán Vương, biểu hiện ra ngoài quan tâm người nào đó quá sẽ ảnh hưởng khá lớn, hắn liền giao Khương Duy cho Pháp Chính và Mã Đại, như thế là được rồi.

Lưu Cảnh cười cười sau đó lại chuyển đề tài nói về địa khu Hà Khúc, hắn dùng roi ngựa chỉ ra nơi xa có vùng đất phì nhiêu, cảm khái nói:

- Đất đai phì nhiêu như thế, lại có nước non đầy đủ, ánh mặt trời chiếu sáng nhưng lại ở nơi hoang vu này thật là đáng tiếc, chúng ta nhất định phải sử dụng triệt để.

Lúc này Vương Xuân dẫn đường cũng dùng roi ngựa tiến lên trước nói:

- Khởi bẩm Điện hạ, vùng này chưa thể nói là tốt nhất, cách hướng Đông Bắc hai trăm dặm nơi có nhân khẩu tụ tập đông đúc, đó mới chính là vùng đất báu vật thiên hoa, sản lượng lúa mì so với địa khu Hà Hoàng cao gấp hai lần, hơn nữa Hoàng Hà nước chảy chậm có thể dựng cầu trên mặt sông, hướng Đông có thể đi Hà Hoàng, hướng Bắc nhanh đến Tây Hải, giao thông khá tiện lợi.

Vương Xuân nói một hơi khiến Lưu Cảnh khá chú ý, hắn cười nói:

- Quả thật ta không thể chờ được, lệnh binh lính tăng thêm tốc độ.

Chương 721: Thiết lập quận Hà Khúc.

Hai ngày sau, quân Hán đã tới Hà Khúc nơi có người dân sinh sống, nơi tụ tập dân cư này so với Trung Nguyên chênh lệnh quá xa, đi vài dặm mới nhìn thấy một gia đình, nơi này đất đai rộng rãi, nhà nhà đều có đất đai khá rộng, đối với họ mà nói không phải không có đất để làm mà chính không có người để làm.

Đội quân chậm rãi hành quân trên đường lớn, hai bên là đồi núi chập chùng cùng nhiều hoa dại đầy khắp nơi, muôn hoa đua nở. Xa xa là rừng rậm còn nguyên sơ, nước sông xanh biếc trong suốt thấy tận đáy, những con cá lớn ở giữa sông uốn lượn mình trong sóng nước, những cá chép lớn nhảy lên khỏi mặt nước, vẩy cá dưới ánh mặt trời sáng rạng rỡ, hết thảy những cảnh vật này đều nằm ngoài tâm trí của con người.

Lưu Cảnh thấy quân lính gặp sông suối đều vô cùng khoái trá liền cười nói:

- Hãy nghỉ ngơi tại chỗ một canh giờ.

Mệnh lệnh được truyền xuống, bọn lính hoan hô thật lớn chạy về chỗ con sông, vùi đầu vào nước sông trong suốt uống nước thỏa thích, chiến mã cũng đi đến sảng khoái thưởng thức nước sông ngọt lành, tiếng cười vang rộng cả bờ sông. Lúc này Lưu Cảnh thấy trên gò núi có một gia đình, nhìn kiểu dáng xây dựng như phòng xá ở khu Quang Trung, dường như có người đang hướng bên này nhìn trộm, hắn liền nhìn Pháp Chính và Vương Xuân cười nói:

- Đi thăm hỏi dân bản xứ một chút.

Ba người Lưu Cảnh được hơn mười thị vệ bảo vệ đi lên đồi núi, đi đến trước nhà, một tên lính tiến lên gọi lớn:

- Có ai không?

Sau một lúc lâu mới có một lão già đi ra, nơm nớp lo sợ nói:

- Có chuyện gì không?

Đúng là khẩu âm vùng Phùng Dực Quan Trung, Pháp Chính cũng dùng tiếng Quan Trung nói:

- Lão trượng là đồng hương của ta rồi.

Lão già sửng sốt bất ngờ vui lên:

- Vị tiên sinh này cũng là người quận Phùng Dực sao?

- Ta là người Mi huyện.

Lão già lập tức kích động lên:

- Ta cũng là người Mi huyện, ta là người An Viễn Hương, tiên sinh là người ở đâu?

Vừa nói đến đây lão già bỗng nhiên ý thức được mình có chút bất kính, lão nhìn thoáng qua Lưu Cảnh bất an nói:

- Các người đến đây có chuyện gì sao?

Lưu Cảnh ôm quyền cười nói:

- Chúng ta là quân Hán, đi ngang qua nơi này muốn nhờ lão trượng một chút.

Lão già này không biết quân Hán, tưởng rằng quan binh Hán triều liền gật đầu:

- Mời vào!

Ba người Lưu Cảnh theo lão già đi vào nhà, thị vệ đứng lại trong sân, trong phòng trang bị đơn sơ, đất được nặn thành bàn, có lẽ tự bản thân làm, còn có một đứa trẻ khoảng năm sáu tuổi sợ hãi đứng sau lưng lão.

- Mời ngồi, nhà tôi khá sơ sài.

Ba người Lưu Cảnh ngồi gần bàn nhỏ, lão lại mang ra mấy bát để bọn hắn uống nước. Lưu Cảnh mời lão ngồi xuống hỏi:

- Xin hỏi lão trượng, địa khu Hà Khúc này đại khái có bao nhiêu gia đình ở, bao gồm cả người Khương và người Hán.

- Lão thật sự cũng không biết chính xác, tuy nhiên đầu năm nghe người ta nói qua khoảng chừng có ba bốn ngàn gia đình gì đó, người Khương khoảng hai ngàn hộ, còn lại đều là người Hán, bọn họ đều là bà con, khoảng tám chín nghìn người đã chung sống trong vài thập niên. Người Khương và người Hán vẫn cho nhau thông hôn nên khó có thể phân biệt được, như con rể của ta cũng chính là người Khương nên có thể giao lưu ngôn ngữ.

Lưu Cảnh quay đầu liếc nhìn vào trong, hắn cảm giác trong buồng có người, đoán có lẽ vợ lão và con dâu không dám ra, hắn liền cười hỏi:

- Lão dường như có vẻ sợ quân đội?

Lão thở dài nói:

- Đáng lẽ thấy người cùng quê ta phải vui mới phải, nhưng năm đó nhà chúng ta đã bị quan binh hại thảm, ta cảm thấy như mới ngày hôm qua thật sự không đành, chính thế nên hãy tha lỗi cho sự vô lễ vừa rồi của lão.

Lưu Cảnh cười nói:

- Chúng ta là quân Kinh Châu, không phải đội quân Quan Trung.

- Ồ, Kinh Châu ta có đi qua, còn gặp Lưu Châu Mục, người này đối xử rất tốt, không biết hiện tại ông ta thế nào?

- Lưu Kinh Châu từ mười năm trước đã qua đời rồi, lão rời khỏi Quang Trung lúc nào?

- Năm Hưng Bình thứ hai, Lý Thôi gây loạn, ta mang người nhà rời khỏi Quan Trung đến đây, nhoáng mới đó mà đã hai mươi năm rồi.

Lão già không kìm được thở dài

- Lão trượng vẫn chưa một lần trở về quê hương sao?

Pháp Chính bên cạnh thân thiết hỏi han.

Lão lắc đầu:

- Năm đó ta có ba con trai, đứa con cả nhà ta bị loạn quân giết chết, con thứ mới mười sáu tuổi bị bắt đi gia nhập quân ngũ đến nay sống chết thế nào ta cũng không rõ. Lúc đó ta mới bốn mươi tuổi mang theo vợ cùng đứa con út chạy khỏi Quan Trung, đi theo đám dân chạy nạn đến đây, mới đó mà đã hai mươi năm, đôi khi ta cũng muốn trở lại quê nhà nhưng không dám.

Lão ôm chầm cháu trai nước mắt rơi lã chã nói:

- Hơn nữa còn cháu ta, nó chưa bao giờ rời khỏi đây, chẳng lẽ nó phải ở nơi này cả đời sao?

Lưu Cảnh yên lặng gật đầu cười nói:

- Lão trượng không cần phải sợ hãi, Quan Trung đã kết thúc chiến tranh rồi, hiện tại đang được xây dựng trở lại, nhiều người Ba Thục, Hán Trung đã trở về quê nhà, quan phủ sẽ phân phối dân cư, trong vòng năm năm miễn thuế, sau mười năm mới tiến hành thu thuế, giảm lao dịch, giảm thuế phú. Lúc này lão trở về quê không có vấn đề gì cả, nếu lão trượng không muốn trở về thì ở Hà Khúc này cũng không có gì xấu cả.

- Vì sao?

Lão vừa lau nước mắt vừa hỏi.

Lưu Cảnh cười cười nói:

- Vì ta quyết định thành lâp quận Hà Khúc, kết hợp với Lâm Thao, Lũng Tây để di chuyển người Hán đến nơi này, miễn thuế phú lao dịch năm mươi năm. Trước khi cải tạo huyện thành Hà Khúc, ta sẽ chiêu mộ lao động, cũng giống như lão và con trai có thời gian có thể tham gia, ta phải bảo vệ sức dân, sẽ không có gì mệt nhọc, còn có thể kiếm được tiền.

Lão giả vừa cao hứng lại vừa kinh ngạc, cao hứng vì rốt cuộc triều đình cũng xây dựng lại quận Hà Khúc, hơn nữa lại còn miễn thuế phú lao dịch năm mươi năm, còn kinh ngạc vì thấy vị tướng quân này nhìn còn khá trẻ không ngờ lại có thể quyết định thành lập quận huyện, có thể thấy được thân phận của hắn không tầm thường.

Pháp Chính có ý nói toạc thân phận của Lưu Cảnh nhưng Lưu Cảnh lại lắc đầu không cho, hắn đứng dậy chắp tay nói:

- Không quấy rầy lão trượng nữa chúng tôi xin cáo từ.

Lưu Cảnh lại lệnh thân binh mang tặng lão năm cái da dê làm lễ gặp mặt, lão vô cùng cảm ơn đưa tiễn họ ra cửa, lúc này Vương Xuân không kìm được hỏi Lưu Cảnh:

- Điện hạ thật sự quyết định thành lập quận Hà Khúc sao?

Lưu Cảnh dùng roi ngựa chỉ vào phong cảnh xa xa nói:

- Một vùng đất giàu có phì nhiều như thế, là kho bấu chưa được tìm ra, sao ta có thể làm như không thấy được chứ. Tuy nhiên việc thành lập quận huyện là việc lâu dài, ta tính mở đồn điền trong này giảm bớt nhân số binh trú quanh Tây Hải. Quân đội chuyển tới huyện Hà Khúc, xây dựng nơi huấn luyện, sau này tất cả quân Hán cứ nửa năm đến Hà Khúc tập luyện một lần.

Vương Xuân trầm ngâm một chút nói:

- Nếu Điện hạ có ý định khai thác phát triển Hà Khúc, ta cũng nguyện vì Điện hạ dốc sức, chuyển nhà đến Hà Khúc ở.

Lưu Cảnh cười to:

- Nếu Vương tiên sinh nguyện đến, không ngại thì hãy đảm nhiệm chức Thái thú Quận Hà Khúc này.

Vương Xuân ngạc nhiên, y vừa muốn xua tay từ chối nhưng Lưu Cảnh lại nhanh chóng rời đi, xa xa nghe âm thanh hắn truyền đến:

- Làm thầy thuốc cúng tứ phương, làm Thái thú được người người xem trọng, tiên sinh không cần từ chối nữa.

Vương Xuân cũng không khỏi cảm thấy run sợ, năm nay lão mới năm mươi bốn tuổi, làm tiếp mười năm Thái thú có thể lưu danh trăm năm. Trái tim giành cho giới quan trường nguội lạnh giờ lại bắt đầu nóng lên lần nữa.

Sau khi quân Hán tiêu diệt Dương Thiên Vạn và Tống Kiến, chư Hồ Lũng Tây đã hoàn toàn thần phục Hán quốc, nhưng vùng người Hồ ở Lương Châu lại thủy chung không đến yết kiến. Ở Lương Châu có phần đông người Hồ cư trú, tuy nhiên mấy năm trước Mã Siêu tiến quân đội đến Quan Trung phần lớn thế lực chính ở Lương Châu là người Hồ, ví như Dương Thu Quân chính là quân đội Đê Hồ ở Lương Châu.

Sau khi Mã Siêu mang một trăm ngàn đại quân Tây Lương đã bị quân Tào đánh tan, hầu hết bộ phận người Hồ đều bỏ mình ở Quan Trung, điều này cũng khiến thế lực người Hồ ở Lương Châu bị giảm khá nhiều, tiếng kêu than vang khắp trời, đồng dạng tạo cho Khương Vương Nam Cung Tác ở Trương Dịch một cơ hội. Y là thế lực người Khương duy nhất trong chư Hồ Lương Châu không tham gia chiến đấu, y lợi dụng cơ hội người Hồ Lương Châu suy vong mà thâu tóm khắp nơi. Thời gian trôi qua gần hai năm, trên cơ bản y đã thống nhất đại bộ phận người Hồ ở Lương Châu, trở thành đại tù trưởng của mấy trăm bộ lạc người Hồ.

Cường thế mạnh mẽ sẽ khiến tính khí ngang ngược kiêu ngạo, những lời này nói về Nam Cung Tác cũng không oan chút nào, y đã có kỵ binh hơn bốn năm vạn liền tự nhận bản thân có thể sánh ngang cùng các chư hầu Trung Nguyên. Y không chỉ bóc lột thâu tóm các bộ phận tàn khốc đồng thời cũng mua chuộc thế lực thống trị trên địa bàn, đầu tiên là đuổi quan viên Thái thú quận Trương Dịch và Tửu Thuyền ra khỏi, bắt đầu thu thuế nông dân người Hán sinh hoạt tại hai huyện này.

Nhưng ngay khi y chuẩn bị động thủ với quan phủ quận Võ Uy thì đã truyền đến tin Lưu Cảnh và Tào Tháo ngưng chiến tiến hành thỏa hiệp, địa khu Quan Lũng chính thức do Lưu Cảnh quản lý, Hán quốc được thành lập, điều này khiến Nam Cung Tác định hạ độc thủ phải rút tay về, một mặt vì y kiêng kị quân Hán, mặt khác quân Hán chiến thắng quân Tào cũng đuổi quân Tào khỏi Quan Lũng, điều này khiến y sợ hãi chết khiếp.

Bước tiếp theo Lưu Cảnh muốn đối phó với người Đê Lũng Tây, trong lòng Nam Cung Tác cũng có chút chờ mong, y nguyện ý xuất binh trợ giúp quân Hán tiêu diệt người Đê, có như vậy thế lực của y khi tiến vào Lũng Tây cùng địa khu Hà Hoàng kịp thời. Y đã sớm muốn giết vào Lũng Tây, chỉ bởi vì Dương Thiên Vạn liên thủ với Tống Kiến khiến cho y không chiếm được lợi ích gì, hiện tại cơ hội đã tới rồi.

Nhưng mọi chuyện diễn ra ngoài dự liệu của Nam Cung Tác, quân Hán căn bản không cần sự trợ giúp của y cũng có thể tiêu diệt Dương Thiên Vạn và Tống Kiến, cũng giữ được Đại Đấu Bạt Cốc. Rõ ràng không cho phép thế lực của gã xuôi Nam khiến cơ hội tấn công Lũng Tây cũng tan thành mây khói, điều này khiến Nam Cung Tác giận dữ lên án mạnh mẽ Lưu Cảnh bội bạc.

Nam Cung Tác cân nhắc tỉ mỉ, rốt cuộc cũng không kìm nén được những âu lo trong lòng, y quyết định thử quân Hán một chút, lấy cớ thảo phạt Tào Tháo phái huynh đệ Nam Cung Kỷ suất mười ngàn quân tiến đến quận Võ Uy chuẩn bị trục xuất quan viên triều đình ra khỏi quận Võ Uy. Một khi đã thực hiện được Nam Cung Tác sẽ chiếm lĩnh toàn bộ hành lang Hà Tây, khiến khổ tâm gìn giữ mấy trăm năm qua của Hán triều đối với Tây Vực tan thành mây khói.

Nhìn thấy quân đội Khương Hồ sắp đánh tới với quy mô lớn, Hộ Khương Giáo Úy, Võ Uy Thái Úy, Thái thú Đỗ Kỳ khẩn cấp sai người đến quận Kim Thành hướng quân Hán cầu viện.

Lúc này ba vạn quân Hán chủ lực đã rời khỏi quận Lũng Tây và quận Tây Bình, tạm thời đóng ở bờ Bắc Hoàng Hà quận Kim Thành, do Trấn Tây tướng quân Mã Siêu thống soái, Bàng Thống làm quân sư, Lưu Hổ làm phó tướng.

Mệnh quân Hán đóng quân ở quận Kim Thành là Lưu Cảnh cố ý an bài, vì Lưu Cảnh không đồng ý điều kiện Nam Cung Tác yêu cầu, cũng không liên thủ với Nam Cung Tác tấn công người Để. Không thể nghi ngờ gì chính muốn loại bỏ những ký kết ngầm với Nam Cung Tác lúc trước. Lưu Cảnh biết được gã ta sẽ không từ bỏ ý đồ tất nhiên sẽ có hành động khiêu khích, mà quận Kim Thành nương tựa vào quận Võ Uy, một khi Nam Cung Tác có hành động thì quân Hán lập tức nhanh chóng xuất binh.

Trên thực tế cho dù Nam Cung Tác không có động tĩnh thì quân Hán cũng sẽ không bỏ qua cho y, y chiếm lĩnh Trương Dịch và Tửu Tuyền, hai quận này vốn thuộc về Hán triều, khiến quận Đôn Hoàng treo tới Tây Vực.

Hán triều hỗn loạn và suy nhược nhất là lúc mất đi hành lang Hà Tây, hiện tại Quan Lũng đã là lãnh thổ của Hán quốc, Lưu Cảnh sao có thể dễ dàng tha thứ cho người Khương khi chúng chiếm lĩnh hai quận Trượng Dịch và Tửu Tuyền.

Buổi trưa, thư cầu cứu của Thái thú Võ Uy Đỗ Kỳ đã đưa đến đại doanh quân Hán.

Chương 722: Một trận đánh đón đầu (thượng)

Trong trướng đại soái một gã báo tin cho Mã Siêu có nhận thư tín của Thái thú Võ Uy Đỗ Kỳ, Mã Siêu đọc sơ qua một lần, trong thư Đỗ Kỳ nói rõ tình thế cấp bách thế nào, khẩn cầu Mã Siêu nhanh chóng xuất binh, bảo vệ quận Võ Uy cho vương triều Đại Hán. Mã Siêu đọc xong thư mang lại đưa cho Bàng Thống, lúc này mới hỏi người lính báo tin:

- Khương binh đã đánh đến thành Võ Uy rồi sao?

- Khởi bẩm Mã tướng quân, bỉ chức nghe nói đối phương đã xuất binh, bỉ chức đến đây đã mất thời gian một ngày rưỡi, quân Khương hẳn đã đến trong thành quận Võ Uy rồi.

- Quận Võ Uy hiện tại có bao nhiêu quân?

Mã Siêu hỏi đến.

Người báo tin thời dài:

- Quận binh chỉ có vài trăm người, Đỗ Thái thú lại chiêu mộ gia đinh cường hào ước chừng hơn một ngàn người, nhiều nữa chỉ có thể huy đông mấy ngàn dân chúng tham gia thủ thành, vấn đề là người Khương có vũ khí công thành, chúng ta thủ không được bao lâu.

Mã Siêu gật đầu nói:

- Ta biết rồi, ta sẽ nhanh chóng xuất binh.

Mã Siêu cho người thông báo để binh lính báo tin nghỉ ngơi, lúc này nói với Bàng Thống:

- Kỵ binh của chúng ta đều đi cao nguyên rồi, quân đội còn lại đều là bộ binh, quân sư cảm thấy có tới kịp không?

Bàng Thống cười nói:

- Đỗ Kỳ này rất khéo léo, ta đoán khi thấy quận Tửu Tuyền bị người Khương chiếm lĩnh liền đã chuẩn bị, hẳn trong thành Trương Dịch có thám tử, đối phương vừa động binh thám tử liền thả chim bồ câu đưa tin. Hơn nữa người Khương tuy có kỵ binh nhưng nếu bọn họ mang theo vũ khí công thành nên tốc độ khá chậm. Theo khoảng cách cho thấy, hẳn là chúng ta cách thành Võ Uy gần hơn, ta cảm thấy hai bên đến Võ Uy thời gian cũng không sai biệt lắm, chỉ cần chúng ta xuất binh đúng lúc, hành quân nhanh chóng nhất định có thể đuổi đến thành Võ Uy trước người Khương.

Lưu Hổ bên cạnh lên tiếng nói:

- Trọng giáp bộ binh chúng ta có ngựa vận chuyển, hành quân rất nhanh nguyện đi trước làm quân tiên phong.

Mã Siêu lắc đầu cười:

- Hổ tướng quân có thể đi trước nhưng không thể làm tiên phong, nếu Trọng giáp bộ binh có chuyện gì ta có thể nào ăn nói với Điện hạ được, quân tiên phong phải để người khác đi.

Y lập tức ra lệnh:

- Lệnh Vương Bình tướng quân lập tức đến liều lớn.

Nửa canh giờ sau, đại tướng Vương Bình suất lĩnh năm nghìn Man quân làm quân tiên phong, ban ngày hành quân đêm đã đến thành Võ Uy. Mã Siêu tự mình dẫn mười lăm ngàn quân cùng năm nghìn quân chủ lực Trọng giáp bộ binh của Lưu Hổ xuất phát chậm một chút, Bàng Thống và lão tướng Nghiêm Nhan làm hậu quân suất năm nghìn quân áp giải đồ quân nhu theo sau.

Quận Võ Uy là quận lớn ở Hà Tây, nhân khẩu nơi này ước chừng hơn ba vạn hộ, hơn phân nửa đều là người Hán thời kì Lưỡng Hán dời đến hành lang Hà Tây khai hoang đồng ruộng, trải qua hơn hai trăm năm khổ tâm gây dựng đã hình thành quận Võ Uy có từng thửa ruộng, khe rãnh ngang dọc. Quan trọng hơn là quận Võ Uy không bị loạn quân tấn công, cuộc sống người dân yên ổn cũng, cũng có không ít dân Quan Trung trốn đến nơi này góp phần tăng cường sự phồn vinh của Võ Uy.

Mặc dù là gần Tây Vực nhưng dân chúng nơi này rất thượng võ, vả lại phần đông họ là người đọc sách giống như Giả Hủ, tài trí như Vương Túc vậy, cũng xuất ra một quân phiệt như Đổng Trác. Trước mắt Thái thú quận Võ Uy là danh thần Đỗ Kỳ, gã là người vô cùng tài giỏi, yêu thương dân như con. Dưới sự cai quản của gã, quận Võ Uy người người được an cư lạc nghiệp, người Hán người Khương, người Đê Hồ cùng sống hòa thuận với nhau.

Đỗ Kỳ được triều đình bổ nhiệm làm Thái thú, đương nhiên cũng là lương thần do Tào Tháo lựa chọn. Tuy rằng gã không giống Quốc Uyên, Trình Dục trung thành với Tào Tháo nhưng cũng không giống Tuân Úc trung thành với Hán Vương, gã cũng không cổ hủ, giỏi nhận định tình hình, hiện tại toàn bộ Quan Lũng đều cấp cho Hán quốc. Đối với Quan Lũng bắt đầu từ quan viên trong triều đình mà nói có thể vứt bỏ việc làm quan trở về Nghiệp Đô, có thể tiếp tục giữ lại làm, đương nhiên giữ lại phải được sự đồng ý của Lưu Cảnh.

Trước mắt quan viên địa khu Quan Lũng có ba loại khác nhau, một loại là quan viên sáu quận ở Lũng Tây trên cơ bản đều biểu hiện sự trung thành với Lưu Cảnh nên có thể giữ lại làm, tiếp đến quan viên ba quận Quan Trung toàn bộ rút lui về Quan Trung, do Lưu Cảnh một lần nữa phái người đến tiếp nhận chức vụ, một loại khác đó là quan viên không tỏ rõ thái độ, ví như Đỗ Kỳ chính là loại thứ ba này.

Ngay cả Đỗ Kỳ cũng không biết mình nên đi theo con đường nào nhưng lúc này gã chẳng thèm quan tâm đến tiền đồ, trong thâm tâm gã chỉ có ý nghĩ duy nhất làm thế nào để bảo vệ dân chúng quận Võ Uy. Bốn cửa thành Võ Uy mở ra, dân chúng chạy nạn chen chúc nhau vào thành, tiếng phụ nữ và trẻ em chạy nạn khóc gọi cha mẹ, loạn thành một bầy.

- Thái thú, có khi nào Khương địch Trương Dịch trộn lẫn trong đám người vào thành không?

Quận Thừa Lý Tể lo lắng hỏi.

Đỗ Kỳ thở dài nói:

- Dù có năng lực thế nào nhưng muốn vào thành cũng phải có được thân phận rõ ràng, cho dù Nam Cung Tác cho người trà trộn vào thành cũng không có cách nào, kỵ binh người Khương chuẩn bị đánh vào chúng ta chỉ có thể làm việc trong khả năng của mình thôi.

Quận Thừa Lý Tế lại hỏi:

- Quân Hán thật sự sẽ cứu chúng ta sao?

- Nhất định như thế.

Đỗ Kỳ tự tin cười nói:

- Đã đánh mất quận Võ Uy cũng đánh mất hành lang Hà Tây, Lưu Cảnh sao có thể dễ dàng tha thứ, sở dĩ hắn ta an bài đội quân ở Kim Thành chính là vì phòng bị người Khương, quân Hán nhất định sẽ đến trợ giúp, ta chỉ lo lắng một điều, không biết bọn họ có đuổi tới trước người Khương được không?.

Lý Tế yên lặng gật gật đầu, y có thể hiểu được sự tự tin của Đỗ Kỳ, trầm mặc một lát cẩn thận dò xét:

- Thái thú, có điều này không biết ta có nên hỏi không?

Đỗ Kỳ liếc mắt nhìn gã một cái, có chút bất mãn nói:

- Từ Thế, chúng ta đã làm cùng nhau bốn năm rồi, có điều gì không thể nói chứ?

Lý Tế cười khổ nói:

- Ta muốn hỏi Thái thú, sau chuyện này trở lại Nghiệp Đô hay vẫn tiếp tục lưu lại quận Võ Uy?

Đỗ Kỳ khẽ mỉm cười nói:

- Ta thì sao cũng được điều quan trọng là thái độ của Lưu Cảnh đối với Hà Tây, nếu hắn ta kiên quyết nhất định phải đoạt lại Hà Tây khôi phục quận Trương Dịch và quận Tửu Tuyền như trước thì ta nguyện ý trung thành cùng hắn, nhưng nếu hắn sợ Nam Cung Tác, để bọn chúng chiếm lĩnh Trương Dịch và Tửu Tuyền, người như vậy cũng không làm được trò trống gì, như thế ta hồi hương làm ruộng cho khỏe.

Lý Tế cười nói:

- Ta cũng nghĩ như Thái thú, chúng ta là quan nhân ở Hà Tây, thật sự đối với vùng đất này rất có cảm tình.

Đúng lúc này có binh lính hô lớn:

- Có quân đội đến rồi.

Đỗ Kỳ chấn động liền vội hỏi:

- Ở đâu?

- Ở phía Nam, Thái thú hãy xem đi!

Lòng Đỗ Kỳ nhẹ nhàng thở ra, gã nhẹ nhang vén mảnh vải hướng nhìn ra xa đã thấy từ ngoài cánh đồng rộng lớn xuất hiện một lớp người trùng trùng điệp điệp cùng tinh kỳ phấp, đúng là một đội quân. Đỗ Kỳ gật gật đầu mỉm cười, là bộ binh không phải kỵ binh, nhất định chỉ có thể là quân Hán.

Y vô cùng mừng rỡ nói:

- Là viện quân chúng ta đến rồi.

Trên đầu thành tiếng hô vang như sấm, quân Hán đến đã mang hy vọng khá lớn cho họ nên khiến binh lính kích động vô cùng.

Một khắc sau, quân đội dần dần đến thành Võ Uy đúng là quân do Vương Bình dẫn năm nghìn quân tiên phong tiến đến, bọn họ đều là Man binh, am hiểu hành quân, sức chịu đựng khá tốt, hơn nữa quân phục lại rất giản đơn nhẹ nhàng nên di chuyển khá nhanh, chỉ một ngày một đêm đã tới thành Võ Uy. Quân lính cảm thấy mệt mỏi vô cùng, dù có mệt mỏi nhưng bọn họ vẫn cố gắng duy trì trận hình, không muốn quân coi giữ Võ Uy xem thường họ.

Lúc này Đỗ Kỳ mang theo hơn mười quan viên cưỡi ngựa ra thành đón, y ôm quyền nói:

- Xin hỏi có phải đội quân Hán Vương không?

Vương Bình cũng đáp lễ nói:

- Đúng vậy, ta là đại tướng Vương Bình dưới trướng Hán Vương, Sứ quân có phải là Đỗ Thái thú?

Đỗ Kỳ mừng rỡ:

- Ta là Đỗ Kỳ, cuối cùng các vị cũng tới rồi, mời vào thành.

Vương Bình gật đầu quay đầu ra lệnh nói:

- Vào thành!

Đội ngũ xếp thành hàng tiến vào thành, lúc này Vương Bình hỏi:

- Xin hỏi Thái thú, có tin tức gì của Khương Hồ không?

- Tạm thời chưa có, có thể bọn chúng đã tiến vào quận Võ Uy, có lẽ hôm nay sẽ tới nơi, không ngờ các vị đến với tốc độ khiến người khác phải kinh ngạc.

Tự đáy lòng Đỗ Kỳ khá kính nể quân Hán, y thật sự không thể nào tin được bộ binh quân Hán lại tới nơi trước kỵ binh người Khương, y cũng thấy được sự mệt mỏi hiện lên trên mặt binh lính, lại vội nói:

- Quân doanh đã chuẩn bị xong cả, các vị hãy nghỉ ngơi trước sau đó chúng ta bàn lại cách phòng chống người Khương.

Vương Bình cười nói:

- Đa tạ Thái thú, có chuyện khác ta muốn hỏi, trong thành có vũ khí nhiều không, quân lính ta vì giảm bớt gánh nặng mang theo nên đều không mang theo khôi giáp.

- Vũ khí thì có, trong kho có hơn một vạn bộ vũ khí, chính là vũ khí năm đó Đổng Trác lưu lại, vài ngày trước ta đã kiểm tra, còn sử dụng khá tốt, hoàn toàn không có vấn đề gì, tướng quân cứ việc lấy dùng.

Vương Bình nhẹ lòng nói:

- Vậy trước tiên lấy vũ khí, sau đó cho họ ăn uống no nê, buổi chiều có thể tiến vào phòng ngự, xin Thái thú hiểu cho, ta muốn toàn quyền tiếp quản phòng ngự.

Đỗ Kỳ gật gật đầu, đây là điều tất nhiên, y đã chuẩn bị tâm lý rồi.

.....

Lúc xế chiều, kỵ binh Khương Hồ mới tới nơi, từ phương xa đất bụi bay khắp bầu trời đánh tới hướng thành Võ Uy, đại kỳ trắng tung bay trong bụi đất, quy mô di chuyển lớn hơn mười ngàn người, đi sau đội ngũ hơn một ngàn con chiến mã chở mấy trăm thang để công thành cao mấy trượng, có lẽ vì mang theo thang công thành nên đã kìm hãm tốc độ hành quân của kỵ binh Khương Hồ, làm cho bọn họ không thể di chuyển nhanh được.

Đại tướng dẫn đầu chính là đệ đệ của Khương Vương Nam Cung Tác tên là Nam Cung Tín, y ghìm chặt chiến mã, xa xa nhìn thành Võ Uy cao lớn, trên đầu thành binh lính thưa thớt, tác phong quân đội không chỉnh tề, phần lớn mặc trang phục gia đình, điều này cũng cho thấy họ là những người dân bình thường, quân số khoảng một ngàn người.

Trong lòng y không khỏi cười lạnh một tiếng, lấy ra một phong thư giao cho thân binh nói:

- Mang tin này bắn vào trong thành, yêu cầu Hán quan phải rời thành.

Thân binh tiếp nhận thư nhanh chóng giục ngựa tiến lên, nhìn đầu thành hô lớn:

- Tướng quân nhà ta có lệnh, mời Hán quan rời đi, nếu không sau khi phá thành thành công thì cả nhà sẽ bị giết, tịch thu tài sản.

Gã hô to ba bốn lần, mang thư này bắn lên đầu thành, sớm có binh lính nhặt được mang giao cho chủ tướng Vương Bình. Vương Bình cùng đội quân của y không có trên đầu thành mà ẩn thân dưới thành, trên đầu thành vẫn là binh lính hỗn tạp.

Lúc này Thái thú Đỗ Kỳ cũng nghe tin mà tới, Vương Bình mang tin đưa cho y:

- Đúng là thư của Vương Khương Nam Cung Tác, yêu cầu chúng ta vứt bỏ Võ Uy.

Đỗ Kỳ mở phong thư ra đọc một lần, trong thư viết cũng có chút khách khí mời quan triều đình rời khỏi Võ Uy, để người Khương tạm quản, sau khi thiên hạ tạm ổn sẽ trả lại cho triều đình và đảm bảo sự an toàn cho người Hán. Đỗ Kỳ cười lạnh nói:

- Lúc trước quận Trương Dịch và quận Tửu Tuyền chính vì như vậy nên đã bị bọn họ cưỡng bức mà đoạt được, hiện tại đến lượt quận Võ Uy, nằm mơ đi!

Vương Bình lại cười nói:

- Đám người Khương này không được thông minh cho lắm, muốn cùng hành quân, nếu phái ba nghìn kỵ binh làm quân tiên phong tiến đến trước chỉ sợ thành Võ Uy đã không giữ được rồi, chúng ta có thể tương kế tựu kế, theo kế hoạch ban đầu hành động.

Đỗ Kỳ gật gật đầu đi lên đầu thành, y đỡ lấy lỗ châu mai, hô lớn với quân binh báo tin dưới thành:

- Ta chính là Thái thú Đỗ Kỳ, có thể rời khỏi thành trì, hãy cho ta thời gian nửa canh giờ, chúng ta sẽ rời đi.

Binh lính trở về bẩm báo tin cho Nam Cung Tín, Nam Cung Tín gật gật đầu:

- Vậy cho bọn chúng nửa canh giờ.

Chương 723: Một trận đánh đón đầu (hạ).

Sau nửa canh giờ, cửa thành Nam mở ra, hơn mười cỗ xe ngựa, hơn hai trăm kỵ mã gia đinh hộ vệ rời khỏi thành Võ Uy đi hướng Nam, lập tức có kỵ binh Khương Hồ phát hiện đã nhanh chóng trở về bẩm báo cho Nam Cung Tín, một lát sau một gã tùy tùng cưỡi ngựa vội chạy tới, lớn giọng hô:

- Thái thú và Quận thừa đã đi rồi, Đỗ Thái thú khẩn cầu tướng quân đối xử tử tế dân chúng trong thành.

Nam Cung Tín cười to:

- Đã biết điều như vậy chúng ta đương nhiên đối xử tử tế.

Lúc này Võ Uy mở cửa thành Bắc, trên đầu thành cắm lên cờ hàng, đầu thành hơn mười người hô to:

- Quận Võ Uy nguyện trung thành cùng Nam Cung đại vương.

Nam Cung Tín mừng rỡ quay đầu ra lệnh nói:

- Vào thành.

Đội quân kỵ binh Khương Hồ bắt đầu xếp thành hàng vào thành, nhưng khi kỵ binh Khương Hồ tiến vào thành không đến hơn ngàn người, phục binh hai bên nổi lên cung tên bắn nhanh về phía kỵ binh người Khương, kỵ binh Khương Hồ kêu lên thảm thiết ngã xuống ngựa, kỵ binh còn lại quay đầu ngựa trốn đi, hai ngàn phục binh reo hò xông lên trước dùng trường mâu đâm vào chúng.

Trong thành phát sinh biến cố đồng thời phục binh trên đầu thành cũng nổi lên bốn phía, cây lăn xuống như mưa đá đánh xuống đầu kỵ binh Khương Hồ, mấy ngàn phục binh ở hai bên giương cung bắn nhanh, kỵ binh Khương Hồ không kịp đề phòng lập tức người ngã ngựa đổ, tiếng kêu thảm thiết vang vọng ngoài thành.

Biến cố xảy ra đột ngột khiến kỵ binh phía sau sợ tới mức quay đầu ngựa chạy trốn, mười ngàn kỵ binh bị đánh bại như núi đổ, chạy một hơi ra ngoài vài dặm, Nam Cung Tín vẫn chưa hoàn hồn, một lúc sau mới vững tâm lại mới bắt đầu ý thức được y đã bị trúng kế. Xe ngựa đi ra khỏi thành không phải là gia quyến gì của Thái thú mà chỉ lừa gạt y. Nam Cung Tín vô cùng xấu hổ, binh lính kiểm kê quân số người tổn thất đã vượt qua hai ngàn người, điều này khiến Nam Cung Tín càng giận dữ hơn, y nâng đao chỉ vào thành trì hô lớn:

- Đợi khi công phá thành trì thành công, ta tàn sát hết dân chúng trong thành để rửa mối nhục này.

Lúc này một gã đại tướng tiến lên nhỏ giọng nói:

- Kỳ lạ thật, sao trong thành bất ngờ xuất hiện mấy ngàn binh lính chính quy nhỉ, trước khi đi không phải Đại Vương nói quận Võ Uy không có quân đội sao?

Nam Cung Tín hừ mạnh một tiếng, đại khái y đã đoán được chút manh mối, có lẽ viện quân của Lưu Cảnh chạy tới rồi.

Ánh mắt hung ác của Nam Cung Tín nhìn lên đầu thành, trên đầu thành đại kỳ phấp phới, quân coi giữ dày đặc khác với lính thưa thớt lúc trước, một gã đại tướng khuyên nhủ:

- Đối phương thủ thành quân số cũng không ít, thành trì cao lớn chắc chắn chúng ta dù có đánh hạ được Võ Uy cũng sẽ bị tổn thất thê thảm, không bằng đánh thị trấn khác đi.

Nam Cung Tín gật gật đầu, nghiến răng nói:

- Bọn họ có thể thủ thành Võ Uy, ta không tin bọn chúng có thể thủ ở trấn khác, không rửa mối hận này ta tuyệt không bỏ qua.

Nam Cung Tín lúc này ra lệnh nói:

- Truyền lệnh xuôi Nam đến huyện Thương Tùng.

Huyện Thương Tùng là huyện lớn thứ hai của quận Võ Uy gần với Huyện Cô Tàng thuộc sở tại thành Võ Uy, nhân khẩu hơn vạn người cách tám mươi dặm về phía Nam ngoài thành Võ Uy. Huyện Thương Tùng là nơi khá thấp, dễ dàng bị tấn công, điều quan trọng nơi đó không có quân canh giữ, nếu có thể bắt người cướp của trên vạn người trở về có thể lập công với Nam Cung Tác. Hơn nữa Nam Cung Tín cũng có một ý tưởng, chính là bức bách viện quân thành Võ Uy ra khỏi thành như vậy có lợi kỵ binh Khương tác chiến.

Kỵ binh Khương Hồ nhanh chóng thay đổi phương án tác chiến, không còn tấn công thành Võ Uy nữa mà tiếp tục xuôi Nam trùng trùng điệp điệp đánh về Huyện Thương Tùng cách hơn tám mươi dặm.

Trên đầu thành, Vương Bình kinh ngạc nhìn kỵ binh Khương Hồ xuôi Nam, y không ngờ Khương Hồ buông tha thành Võ Uy xuôi Nam, rất nhanh, y liền cười lạnh, người Khương đánh giá thấp quyết tâm quân Hán bảo vệ Hà Tây, bọn họ nghĩ chỉ có một mình viện quân nơi này thôi sao. Đúng lúc đó Đỗ Kỳ bước nhanh tới bất an nói:

- Vương tướng quân, người Khương nhất định tấn công Huyện Thương Tùng rồi, bên kia thành trì thấp bé, không có quân canh giữ chúng ta nên làm thế nào bây giờ?

- Đỗ Thái thú yên tâm, Mã tướng quân xuất binh muộn hơn chúng ta không bao lâu, người Khương nhất định sẽ gặp quân Hán chủ lực ở nửa đường.

Mặc dù Vương Bình trấn an nhưng Đỗ Kỳ vẫn rất lo lắng, nếu chẳng may quân Hán chủ lực không đến kịp thì sao? Vương Bình thấy được sự lo lắng của y liền cười nói:

- Dù không tới kịp ta cũng khiến người Khương tuyệt không thể thực hiện được, bọn họ không phải muốn chúng ta dẫn binh ra thành tác chiến sao, ta sẽ làm như bọn chúng muốn.

Vương Bình lập tức phái hai thám báo đi thám thính tình hình Khương Hồ, gã hạ lệnh Nha tướng Triệu Dũng suất hai ngàn quân thủ thành, bản thân mình dẫn ba ngàn quân rời thành Võ Uy, từ từ tiến về hướng phía Nam. Y đi cách thành Võ Uy cũng không xa, một khi có quân chủ lực Khương Hồ quay đầu giết trở lại y có thể trở lại thành trì bất cứ lúc nào.

Tám ngàn kỵ binh Khương Hồ mang theo thang công thành đánh tới hướng Huyện Thương Tùng, lộ trình tám trăm dặm bọn họ đi ít nhất cũng hai canh giờ, lúc này trời đã xế chiều, bọn họ dù có tới Huyện Thương Tùng thì trời cũng đã tối, nhưng Nam Cung Tín cũng không nghĩ đến chuyện này, cơn giận nghẹn trong lòng y, y thề không khiến Huyện Thương Tùng máu chảy thành sông y không làm người.

Ước chừng đi hơn một canh giờ, hoàng hôn cuối cùng cũng đã ụp xuống nhưng cũng chưa quá tối, bầu trời phía Đông vẫn còn màu vàng nhạt, hoàng hôn bao phủ cả bầu trời, trong không trung hiện lên mảng sương mù mỏng manh, đúng lúc này những tên thám báo nhanh chóng quay về, khẩn trương bẩm báo:

- Tướng quân, phía trước mười lăm dặm phát hiện ra quân Hán, ước chừng trên dưới mười lăm ngàn binh.

Nam Cung Tín cả kinh, tại sao lại gặp quân Hán, y cố gắng tỉnh táo hỏi:

- Là kỵ binh hay bộ binh?

- Hầu hết là bộ binh.

Vẻ mặt Nam Cung Tín lộ ra tia cười độc ác, bọn y có tám ngàn kỵ binh, đối phương có mười lăm ngàn bộ binh, tuy nhiều gấp đôi bọn y nhưng với lực lớn mạnh của kỵ binh thì có thể lấy một địch hai, hơn nữa đội quân của y là đội quân của Khương Vương mà không phải dân chăn nuôi, sức chiến đấu dũng mãnh, nếu không nhân cơ hội này thống kích quân địch sẽ khiến cho người ta xem thường Nam Cung Tín y.

Y quay đầu hướng sang vài tên đại tướng nói:

- Như thế nào đây? Theo ta chiến đấu chống quân địch.

Vài tên đại tướng ngơ ngác nhìn nhau, vẻ mặt lộ vẻ khó xử, có một người nói:

- Nhưng trời đã tối rồi, chúng ta lại không am hiểu tác chiến ban đêm.

- Ngươi nói cái gì?

Nam Cung Tín tay nắm trường mâu giục ngựa đến trước mặt gã tướng lĩnh này, hung tợn nhìn gã:

- Ngươi lặp lại lần nữa xem?

Tướng lĩnh kia sợ bị y giết nên sợ hãi cúi đầu:

- Nguyện theo ý tướng quân.

- Tốt lắm, vậy còn các ngươi thế nào?

Mọi người bất đắc dĩ đành phải nói:

- Nguyện theo tướng quân tác chiến.

Nam Cung Tín cười ha hả, y phi nhanh tới trước mặt giơ cao trường mâu hô lớn:

- Hỡi dũng sĩ người Khương, cơ hội chúng ta trả thù đã tới, phía trước có quân Hán xuất hiện đều là bộ binh, chúng ta dùng gót sắt đạp bọn chúng thành đống thịt nhão, khiến bọn chúng thủ phục dưới chân chúng ta.

Bọn kỵ binh đều hô to:

- Toàn quân diệt địch.

Nam Cung Tín dùng trường mâu chỉ phía trước:

- Xuất kích.

Tám ngàn kỵ binh ầm ầm chạy đi, gót sắt dẫm đạp mạnh xuống đất, tiếng vó ngựa vang như sấm, bụi vàng bay cao cuồn cuộn, họ giơ cao trường mâu hò hét nhanh chóng phóng ngựa chạy lên trước.

Quân Hán từ phía Nam đi đến đó chính là mười lăm ngàn quân chủ lực của Mã Siêu, bọn họ một đường hướng Bắc hành quân đã đi qua Huyện Thương Tùng, đi khoảng bốn mươi dặm nữa là đến thành Võ Uy.

Đúng lúc này, xa xa vài tên thám báo kỵ binh chạy về khẩn cấp báo:

- Khởi bẩm tướng quân, phía trước có ước chừng mười ngàn kỵ binh đánh tới, khoảng cách chưa tới mười dặm.

Các tướng chấn động, sao lại không có tin tức của Vương Bình, kỵ binh Khương Hồ đánh đến đây, Mã Siêu lạnh lùng nói:

- Chỉ có mười ngàn kỵ binh mà dám làm càn sao?

Gã lập tức ra lệnh:

- Bày trận, đón đánh kỵ binh Khương Hồ.

Lúc này Lưu Hổ tiến lên nói:

- Mạnh Khởi, trận đầu tiên này hãy để cho chúng ta.

Mã Siêu khẽ mỉm cười nói:

- Hổ tướng quân yên tâm, ta hiểu rõ chiến thuật của người Khương, trận thứ nhất cho binh lính bắn tên áp chế nhuệ khí của chúng, lại cho bộ binh ra đánh giết, trước tiên xin Hổ tướng quân thay đổi trang phục.

Lúc này Lưu Hổ mới nhớ ra trọng giáp bộ binh của y vẫn chưa thay trang phục, trọng giáp bộ binh bình thường chỉ mặc trang phục nhẹ nhàng hành quân, khi bắt đầu chiến trận mới thay đổi trang phục, thay đổi trang phục cũng có thời gian nhất định, Mã Siêu nói vậy là đang tranh thủ thời gian cho y, mặt y đỏ lên, lập tức chạy phía quân doanh rống to:

- Còn nhìn cái gì, không nhanh thay đổi trang phục đi.

Mười lăm ngàn quân Hán bày trận ở cánh đồng bao la rộng lớn, quân chia làm ba đội, trước tiên sẽ có bốn ngàn cung nỏ binh, tiếp đến là năm ngàn Trọng giáp bộ binh, tiếp đến là sáu ngàn bộ binh trường mâu, năm nghìn con chiến mã vận chuyển trọng giáp bộ binh thì nhanh chóng lui về phía sau, tạm thời rời khỏi chiến trường, từng nhánh quân đội theo thứ tự trận hình mà đứng, cách nhau vài dặm.

Lúc này tất cả mọi người cảm nhận được mặt đất đang run rẩy, đây là kỵ binh Khương Hồ đã đánh tới rồi, chiến mã cũng cảm thấy bất an, phun ra tiếng kêu phì phù trong mũi, quân lính nắm chặt trường mâu trong tay, mồ hôi toát ra không ngớt.

Từ xa đã thấy người đông nghìn nghịt như mây đen cuồn cuồn đánh tới, khiến thiên địa nơi này cũng biến sắc, tiếng vó ngựa như sấm rền trong mây đen hỗn loạn, trời đất đều rung chuyển, tám ngàn kỵ binh Khương Hồ tạo nên thanh thế có thể phá hủy một vùng.

Chiến mã của Mã Siêu cảm thấy cuộc đại chiến đến gần nên cảm thấy sợ hãi hí vang trời, hai chân trước giơ cao nhưng Mã Siêu lại không chút sợ hãi, tay gã cầm trường thương, tư thế vô cùng oai dũng, gã giơ cao trường thương hô to:

- Dũng sĩ quân Hán không cần phải sợ, thời khắc lập công đã đến rồi, giết hết kỵ binh Khương Hồ cho ta!

Một vạn năm trăm quân Hán cũng hô lớn:

- Chiến thắng, chiến thắng, chiến thắn!

Niềm tin quân Hán tăng cao, tiếng la ngất trời khí thế hùng mạnh ngăn chặn cảm giác sợ hãi khi kỵ binh Khương Hồ đánh tới. Bọn họ ai cũng có vị trí và cương vị riêng, lạnh lùng nhìn chăm chú vào quân địch đang tiến đến.

Mặt trời chiều xa xa, một đường hắc tuyến kéo dài vài dặm xuất hiện tại cuối cánh đồng bát ngát, không chút nghỉ ngơi ùn ùn kéo đến, khí thế ngất trời đánh về hướng quân Hán. Khóe miệng Mã Siêu lộ ra nụ cười ác ý, gã đang chờ đợi giờ khắc này, một trận chiến này sẽ mang đến địa vị đô đốc Tây Lương cho gã.

- Cung nỏ chuẩn bị.

Gã hạ mệnh lệnh thứ nhất.

Hai ngàn nỏ binh và hai ngàn cung binh cùng đồng thời xếp thành hàng, nỏ binh tiến lên phía trước cung binh đứng phía sau, nỏ binh bắn lên thì cung binh chuẩn bị lần lượt thay phiên nhau.

Hai ngàn nỏ binh xếp thành ba hàng, trước sau cách một trượng, hàng thứ nhất ngồi xuống, hai ngàn nỏ giương lên, lạnh lùng nhắm ngay bọn quân kỵ binh Khương Hồ lao đến.

Kỵ binh Khương Hồ càng lúc càng gần, sát khí ngập trời dường như muốn phá hủy hết thẩy mọi thứ trong thiên địa:

- Giết.

Dưới đại kỳ màu trắng, kỵ binh Khương Hồ trong nháy mắt đã lọt vào tầm bắn tên nỏ của quân Hán, Mã Siêu lạnh lùng ra lệnh:

- Bắn.

- Tùng tùng tùng.

Tiếng trống lớn nổ vang, sáu trăm nhánh tên nỏ chợt phóng ra, hình thành một mảng tên đen gào thét mà phóng tới hướng kỵ binh Khương Hồ, chỉ một thoáng kỵ binh Khương Hồ bị ười ngã ngựa đổ, gần ba trăm người bị trúng tên.

Tiếp sau đó tên nỏ hàng thứ hai của quân Hán lại phóng tới, binh lính Khương Hồ xung phong lên trước ngã xuống đất kêu thảm thiết, cung tên hàng thứ ba lại thét gào, tên nỏ dày đặc như mưa rào đổ xuống, bắn thủng tấm chắn và áo giáp của kỵ binh Khương Hồ, từng tốp kỵ binh quay cuồng rơi xuống đất, bị chiến mã đạp thịt nát xương tan.

Ba hàng nỏ binh quân Hán động tác thuần thục, tên nỏ, tiến nỏ, phát nỏ thay nhau phóng ra. Mới chỉ bắn ra ba lượt nhưng kỵ binh Khương Hồ đã tổn thất hơn một nghìn ba trăm người, tổn thất thê thảm và nghiêm trọng khiến sát khí kỵ quân Khương Hồ nhanh chóng biến mất, đầu trận tuyến hơi có chút hỗn loạn, quân tiên phong Khương Hồ lúc này đã bị đánh lùi hơn ngoài sáu mươi dặm.

Nỏ binh quân Hán nhanh chóng nhặt trường mâu xông lên như thủy triều cuồn cuộn, bọn họ trở thành hộ vệ quân cánh tả của Trọng giáp bộ binh, cung binh phía sau chờ đã lâu bắt đầu bắn, cung binh sử dụng trường cung binh tiễn, tiễn dài ba thước ba làm bằng thép rất sắc bén, lấy góc ngắm cùng chiều cao bắn ra, hai ngàn mũi tên như mưa đá trút xuống, lực vô cùng mạnh mẽ khiến cả người lẫn ngựa đều bị bắn thủng.

Xông ra trước nhất có năm trăm kỵ binh Tây Lương và chiến mã đều trúng tên ngã xuống, tử thi chết chồng chất, quân Hán phóng tiễn cực nhanh khiến kỵ binh Khương Hồ xông lên trước đều bị bắn ngã ngựa, hơn nữa còn được sự phối hợp của nỏ binh, kỵ binh Khương Hồ chết thê thảm và nghiêm trọng, kỵ binh đã bị đại loạn.

Cung binh lại nhanh chóng nhặt trường mâu lui lại, trở thành hộ vệ phía bên hữu của Trọng giáp bộ binh. Trong sắc trời chiều, năm nghìn Trọng giáp bộ binh đã xuất hiện.

Chương 724: Kỵ binh phát sinh biến cố.

Trường đao như rừng rậm, Trảm Mã Đao sáng như tuyết trong bóng tối phát ra ánh sáng âm trầm lạnh lẽo, ở sau chiến đao dày đặt là Trọng giáp bộ binh như tường đồng vách sắt, bọn họ nửa ngồi nửa quỳ, chuôi đao cắm xuống mũi đao sắt bén chĩa lên không trung, lợi dụng đại địa kiên cố mà phản kích sự tấn công của kỵ binh, đây là phương pháp đối phó kỵ binh hữu hiệu nhất, kỵ binh gặp được lực phản kích với số lượng lớn nhỏ có ảnh hưởng tương ứng.

Kỵ binh Khương Hồ xông tới như cuồng phong, bọn họ đối mặt với đao dày sáng bóng lóe lên như tử thần đang đợi, những tiếng kêu gào tuyệt vọng thê thảm. Kỵ binh Khương Hồ ầm ầm đụng vào rừng đao, tứ chi vỡ vụn, máu tươi tung tóe khắp nơi, thi thể người cùng ngựa trong nháy mắt chất chồng đầy mặt đất. Lực lượng xung kích cực lớn của đợt sóng đầu tiên đụng phải rừng đao ngăn trở, kỵ binh phía sau cũng không ghìm ngựa kịp va vào nhau, kỵ binh Khương Hồ bị vây trong cảnh hỗn loạn. Trong lúc hỗn loạn, Trọng giáp bộ binh bỗng nhiên đứng dậy, tay múa trường đao, Trảm Mã Đao dày đặc chém giết về hướng kỵ binh.

Cuộc chiến lúc này gần như không thể nào trì hoãn được, Trọng giáp bộ binh có kinh nghiệm tác chiến phong phú, đã trải qua những đợt huấn luyện đánh đêm nghiêm ngặt nhất, đối phó với Hổ Báo Kỵ của quân Tào cũng không chịu thua kém huống chi đánh đối phó với đội kỵ binh người Khương yếu kém này.

Trọng giáp bộ binh triển khai thần uy, giết quân địch rên kêu khắp nơi, thây chất đầy đất, mùi máu tanh xông khắp không gian. Gần nửa canh giờ sau tám ngàn kỵ binh Khương Hồ đã chết quá nửa, kỵ binh Khương Hồ chết quá nhiều mà sợ hãi, sĩ khí nhanh chóng lụi tàn.

Nam Cung Tín dẫn đầu quân tiên phong chạy thoát ra khỏi chiến trường, ngay sau đó mấy ngàn kỵ binh liều mạng chạy trốn giống hệt tuyết lở, trong cuộc hỗn loạn người nọ giẫm lên người kia, có không ít binh lính té xuống chiến mã, bị chiến mã đi sau giẫm đạp thành bùn.

Kỵ binh Khương Hồ chạy một mạch xa hơn hai mươi dặm nhưng vẫn chưa hoàn hồn được, sau khi đi ngang qua rừng cây, trong rừng vang lên tiếng mõ, sau đó nhanh chóng một loạt tiễn phóng ra, bại quân Khương Hồ không trốn tránh kịp bị trúng tên ngã xuống, mấy trăm người bị bắn rơi xuống đất. Kỵ binh Khương Hồ vừa mới dừng lại thấy vậy hoảng sợ, liều mạng tiếp tục chạy trốn.

Trong rừng cây ánh lửa nổi lên bốn phía, một chi quân đội giết đi ra, đúng là ba nghìn quân của Vương Bình, bọn họ đi sau ngăn cản đường lui của quân địch Khương Hồ, Vương Bình gương mẫu lao ra, vừa lúc gặp Nam Cung Tín, y nhận ra đây chính là chủ tướng quân địch bèn nhanh chóng vung đao giết đi lên.

Vương Bình trên chiến mã hét lớn, nhanh chóng vọt tới trước mặt Nam Cung Tín, đao thế linh hoạt sắc bén bổ vào Nam Cung Tín. Nam Cung Tín trở tay không kịp, đầu người bị Vương Bình đánh một đao bay khỏi, chiến mã chạy đi vài chục bước thi thể không đầu mới rớt ầm xuống ngựa.

Vương Bình thấy quân địch không có ý chí chiến đấu liền quay đầu lại quát lớn:

- Giết cho ta, ai lấy đầu luận thưởng.

Binh lính như được tiếp thêm sức mạnh lao tới, gào kêu xung phong liều chết tiến lên dùng trường mâu đâm đám kỵ binh ngã xuống, một đao lập tức găm xuống đầu người, dắt bên hông tiếp tục đuổi giết người kế tiếp.

Trong chiến dịch này kỵ binh Khương Hồ gặp phải đả kích thảm liệt, mười ngàn kỵ binh cuối cùng cũng chỉ còn lại chưa tới ba ngàn quân nhanh chóng trốn về Trương Dịch, ngay cả chủ tướng Nam Cung Tín cũng chết trong tay Vương Bình.

Trời vừa sáng, quân Hán đã xếp thành hàng ngũ chậm rãi đi vào thành Võ Uy, Mã Siêu nhìn thấy thành trì quen thuộc trong lòng vô cùng thỏa mái, đi xa nhiều năm y đã được trở về.

- Mã đô đốc.

Cách đó không xa có người gọi y.

Mã Siêu quay đầu lại, thấy là Thái thú Võ Uy Đỗ Kỳ, năm đó y khi mới đến Tây Lương đúng lúc Đỗ Kỳ từ quận Hà Đông đến nhận chức, mới đó mà đã bốn năm năm rồi.

Mã Siêu xoay người xuống ngựa, nhanh chóng đi lên trước:

- Đỗ Thái thú không nên gọi ta là Mã đô đốc, ta bây giờ là Trấn Tây tướng quân của Hán quốc.

- Vậy gọi là Mã tướng quân đi.

Đỗ Kỳ thi lễ cười nói:

- Ta rất cảm kích khi được Mã tướng quân đến giúp cứu quận Võ Uy, ta đại diện hai trăm ngàn dân quận Võ Uy........

Không đợi gã ta nói xong Mã Siêu đã khoát tay:

- Đỗ Thái thú có lẽ không biết Quan Lũng đã thuộc Hán quốc, đây chính là do triều đình quyết định, hai trăm ngàn dân Võ Uy..... Không cần cảm ơn ta.

- Ta cũng biết thế, nhưng thói quen thì vẫn cảm ơn.

Đỗ Kỳ cười cười lấy ra một cuốn thư đưa cho Mã Siêu:

- Đây là thư Hán vương điện hạ gửi cho tướng quân đến lúc đêm qua, lúc ấy Vương Bình tướng quân đã rời đi.

Mã Siêu ngẩn ra, y vội vàng tiếp nhận thư tín lại có chút không hiểu:

- Thư này từ đâu đưa tới.

- Từ quận Trương Dịch đưa tới, Mã tướng quân nghĩ vì sao?

Mã Siêu suy nghĩ một chút lập tức như bừng tỉnh, người đưa tin từ Đại Đấu Bạt Cốc đến, hiện Điện hạ bây giờ đang ở cao nguyên, y mở thư đọc lướt qua, chậm rãi gật đầu, sau đó cất thư đi, hỏi Đỗ Kỳ:

- Trong thư Hán vương điện hạ nói nếu Đỗ Thái thú nguyện ý ở lại thì có thể đảm nhiệm chức Thái thú quận Võ Uy.

Đỗ Kỳ thản nhiên cười nói:

- Ta muốn biết quận Tửu Tuyền thì làm sao?

Mã Siêu nhìn thoáng qua Quận thừa Lý Tể bên cạnh nói:

- Hán vương điện hạ bổ nhiệm Lý Quận Thừa đảm nhiệm làm Thái thú Tửu Tuyền.

Đỗ Kỳ và Lý Tể nhìn nhau mừng rỡ, điều này nói lên Lưu Cảnh có ý thu phục Tửu Tuyển và Trương Dịch, hai người cũng thi lễ, Đỗ Kỳ nói:

- Xin Mã Siêu chuyển lời với Châu Mục, Đỗ Kỳ và Lý Tế nguyện vì Hán quốc dốc hết sức mình.

Mã Siêu vội vàng đáp lễ nói:

- Hai vị Thái thú không cần khách khí, trong thư Hán vương Điện hạ có nói muốn thu phục Trương Dịch và Tửu Tuyền, phải nhổ hoàn toàn thế lực của Nam Cung Tác ra khỏi Trương Dịch, ta nhanh chóng xuất binh đến Trương Dịch, quận Võ Uy tạm thời nhờ hai vị Thái thú rồi.

Đỗ Kỳ có chút lo lắng nói:

- Chỉ sợ binh lực của Mã tướng quân không đủ.

Mã Siêu khẽ mỉm cười nói:

- Còn có một vạn hậu quân sắp đến, như vậy tổng cộng ta có ba vạn quân, hơn nữa chúng ta còn có một đội quân thần bí chưa xuất hiện.

.........

Đại Đấu Bạt Cốc chắn xuyên con đường ngàn dặm Kỳ Liên Sơn, phía Bắc giáp với quận Trương Dịc, Nam tiếp giáp phía Bắc Tây Hải dài chừng ba trăm dặm, chiến lược cực kỳ quan trọng, cũng là con đường quan trọng nối liền từ Hà Hoàng tiến vào hành lang Hà Tây.

Khác với mấy nhánh thông đạo Chung Nam nối liền Hán Trung và Quan Trung, con đường Đại Đấu Bạt Cốc trống trải, rộng chừng vài dặm đến hơn mười dặm, thực vật cao nguyên trải dài, cũng tồn tại nhiều loại động vật hoang dã, hơn nữa khoảng cách độ cao với mực nước biển tương đối nhiều, khí hậu lại thay đổi liên tục, con đường này luôn rình rập những nguy hiểm.

Nhất là những loài sói hoang hay lui tới con đường này nên tạo nên mối uy hiếp lớn đối với thương khách, trong những bụi cỏ có lẫn lộn vô số khúc xương trắng.

Trưa hôm đó, một đội quân mười lăm ngàn người tạo thành đội kỵ binh đang bôn ba hành quân trong Đại Đấu Bạt Cốc, bọn họ đúng là kỵ binh quân Hán ở Hà Khúc luyện tập dã ngoại trở về. Họ không đi quận Tây Bình mà vòng đường bờ Bắc Tây Hải từ Đại Đấu Bạt Cốc xuyên thẳng qua hànhg lang Hà Tây, đồng thời Lưu Cảnh cũng phái người thông báo cho Mã Siêu, lệnh y tấn công Bắc Trương Dịch, từ mặt Nam phối hợp với hắn.

Có thể nói việc Lưu Cảnh dẫn kỵ binh đến vùng cao nguyên luyện tập ở một múc độ nào đó cũng chính là để xuyên qua Đại Đấu Bạt Cốc, từ phía bắc tạo nên khí thế áp đảo đối với Khương Hồ. Từ lúc bắt đầu đạt thành hiệp nghị với Tào Tháo về Quan Lũng, Lưu Cảnh đã quyết định nhổ thế lực Khương Hồ ở hành lang Hà Tây, hắn thật không cam tâm nhìn Nam Cung Tác chiếm lĩnh Trương Dịch và Tửu Tuyền.

Sở dĩ hắn vẫn thương nghị cùng Nam Cung Tác để đối phó Đê Hồ chẳng qua chỉ là một kế hoãn binh, không cho Khương Đê liên kết, sau khi đã hoàn toàn tiêu diệt Dương Thiên Vạn và Tống Kiến, thời cơ thu phục hành lang Hà Tây đã dần dần chín muồi, đấy cũng là nguyên nhân Lưu Cảnh chỉ cười với tin báo của Khương Duy, không phải hắn không xem trọng mà hắn đã sớm có kế hoạch bố trí sẵn.

- Điện hạ.

Đội thám báo kỵ binh đi trước chạy đến báo cáo cắt đứt dòng suy nghĩ của Lưu Cảnh, hắn ghìm dây cương hỏi:

- Có chuyện gì thế?

- Chúng ta bắt được hai thám báo của Khương Hồ, bọn họ có tin tình báo quan trọng.

Đội trưởng thám báo vẫy tay một cái, bọn lính mang hai gã kỵ binh Khương Hồ áp giải lên, Lưu Cảnh nhìn bọn chúng, hỏi:

- Có tin gì?

Hai gã kỵ binh Khương Hồ không nói được Hán ngữ, họ nói qua một lần được gã thị vệ phiên dịch lại:

- Điện hạ, bọn chúng nói trước đây mấy ngày có một cuộc đại chiến, đội kỵ binh của chúng đã đánh cùng quân Hán ở quận Võ Uy, kết quả đại bại mà về.

Lưu Cảnh lập tức hứng thú lại nói:

- Bảo bọn chúng nói chi tiết một chút.

Hai gã kỵ binh Khương Hồ liền kể lại tỉ mỉ tình tiết đã xảy ra, Lưu Cảnh mới biết được quận Võ Uy phát sinh chiến sự, quân Hán chủ lực bây giờ đang ở quận Võ Uy chứ không phải ở Kim Thành, Lưu Cảnh lập tức quay đầu chạy về phía xe ngựa của của Pháp Chính.

Mấy ngày nay Pháp Chính vì đi đường mệt nhọc nên thân thể có chút không khỏe, đành ngồi trong xe ngựa hành quân, y nghe nói Hán Vương tìm đến mình, vội vàng cố lấy lại tinh thần, mở cửa xe cười áy náy, nói:

- Làm phiền điện hạ rồi.

Lưu Cảnh thấy sắc mặt y quá kém, vội nói:

- Quân sư không cần ngồi dậy, nghỉ ngơi thật tốt đi, chỉ có điều có tình huống này cần thảo luận với quân sư một chút.

- Điện hạ cứ nói đừng ngại.

Lưu Cảnh liền mang thuật lại khẩu cung của kỵ binh Khương Hồ nói qua một lần, cuối cùng nói:

- Theo thế cục bây giờ xem ra người Khương bị quân Hán đánh bại ở Võ Uy, quân sư cho rằng bước tiếp theo Nam Cung Tác sẽ cầu hòa trốn tránh cuộc chiến hay vẫn sẽ mang binh tác chiến?

Pháp Chính trầm tư chốc lát nói:

- Thần cảm thấy điều quan trọng phải xem nội bộ người Khương bị áp lực thế nào, nếu bọn họ bị áp lực cuộc chiến lớn thì khả năng Nam Cung Tác cầu hòa rất cao, với tin tình báo mang về thì Nam Cung Tác dùng vũ lực duy trì sự thống trị người Khương, đối với bộ lạc người Khương bóc lột vô cùng tàn bạo, gã ta bị thất bại ở Võ Uy sẽ tác động đến sự thống trị của gã, cho nên ta cảm thấy khả năng Nam Cung Tác cầu hòa rất lớn.

Lưu Cảnh gât gật đầu, lại hỏi:

- Ta cũng cảm thấy khả năng y cầu hòa rất lớn, hơn nữa quân sư xem xem chúng ta có nên chấp nhận sự cầu hòa này không? Hay là thừa dịp này diệt trừ luôn Nam Cung Tác?

Pháp Chính mỉm cười:

- Lúc trước không phải Điện hạ làm rất khá sao? Trước tiên ổn định Nam Cung Tác, giải quyết người Đê ở Lũng Tây lại mang dây đeo vào cổ Nam Cung Tác, kéo nhanh một chút để quân Hán tranh thủ thời gian và thời cơ chiến đấu, hiện tại sao không tiếp tục?

Lưu Cảnh cười to, ý nghĩ của hắn và Pháp Chính tuy không nói mà hợp, hắn bây giờ phải bố trí quân đội bao vây tiễu trừ toàn thành, nhưng trước đó, nhất định phải ổn định Nam Cung Tác trước.

Hắn chấp tay thi lễ:

- Ta hiểu nên làm thế nào rồi, quân sư hãy nghỉ ngơi thật tốt.

Lưu Cảnh quay đầu ngựa phi nhanh về đội quân phía trước.

Buổi chiều ngày kế tiếp, kỵ binh quân Hán đi qua Đại Đấu Bạt Cốc tiến vào quận Trương Dịch, theo địa thế đi chậm lại, đầu óc của quân lính cũng nhẹ nhàng khoan khoái hơn, tinh thần phấn chấn hơn trước nhiều.

Bọn họ tiến vào hành lang Hà Tây, liếc nhìn xung quanh khắp nơi là thảo nguyên rộng lớn, nhìn không biết được nơi nào là giới hạn, khắp nơi có thể thấy được dê, bò, ngựa đi thành đàn. Nếu nói quận Võ Uy còn đồng ruộng bao la thì quận Trương Dịch là bãi cỏ rộng lớn, nơi này Hán triều coi trọng nhất là bãi cỏ, cũng là nơi phát ra nhiều chiến mã của triều Hán.

Từ khi triều đình Hán Mạt suy yếu, Hán Vương đã mất đi sự không chế đối với Hà Tây, trước sau bị thế lực Đổng Trác, Mã Đằng, Hàn Toại cát cứ chiếm đóng. Năm năm trước, Tào Tháo ở Quan Trung đánh bại Mã Siêu và Hàn Toại, diệt hoàn toàn quân Tây Lương, hành lang Hà Tây không có thế lực khống chế nên bị Khương Hồ thừa dịp mà nhảy vào, dần dần chiếm cứ hai quận Tửu Tuyền và Trương Dịch.

Nhưng vì hành lang Hà Tây có chiến lược vô cùng quan trọng, nhất định cục diện này sẽ không kéo lâu dài, dù quân Lưu Cảnh không đến thì quân Tào cũng sẽ tiến vào Hà Tây, khôi phục sự thống trị của vương triều Trung Nguyên đối với Hà Tây.

Lưu Cảnh thấy sắc trời đã tối liền hạ lệnh:

- Truyền lệnh của ta trú doanh tại chỗ.

Đúng lúc này, một đội thám báo mang vài trưởng lão người Khương tới đại doanh quân Hán.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!