Virtus's Reader
Binh Lâm Thiên Hạ

Chương 806: CHƯƠNG 806: QUAN NGỰ SỬ ĐÀI MỚI.

Mã Quân bảo các đồ đệ mang theo năm bộ phong nỏ, vì tầm bắn của nó khá xa nên trong hậu viện không thể thí nghiệm được, mọi người liền đi thẳng đến cánh đồng phía Bắc, nơi này đã được mấy chục học trò chuẩn bị người rơm mặc áo giáp, tay cầm lá chắn làm dáng vẻ như kỵ binh đang hăng hái tấn công vô cùng khí thế.

Đã tới nơi để các sinh đồ làm thí nghiệm, Lưu Cảnh gật gật đầu nói:

- Bắt đầu đi!

Mã Quân vung lục kỳ, mười lăm tên đệ tử chạy ra xa, ba người điều khiển một bộ phong nỏ, trong đó có hai người lên dây cung, một người cầm mũi tên lên rồi phát bắn, loại phong nỏ này có đặc điểm là có thể liên tục bóp cò, đây cũng là loại phát minh mới.

Cái gọi là bóp cò liên tục chính là không cần trang bị từng mũi tên mà sử dụng luôn một hộp tiễn đựng đầy mũi tên. Một phong nỏ trang bị mười hộp tiễn, tổng cộng có ba trăm mũi tên sắt, lúc tác chiến trực tiếp trang bị ba mươi hộp nỏ tên đặt vào trong giỏ sắt, sau một vòng bắn ra, lại lấy ra hộp không, thay vào hộp tiễn khác, như vậy trong thời gian ngắn có thể liên tục bắn ra nhiều mũi tên, không cần nhắm chuẩn, mà chỉ cần lực sát thương quy mô lớn là được.

Hai đầu dây cung nối với hai bàn kéo được thiết kế uốn lượn hình chữ thập xoắn, cần có hai binh lính đồng thời vặn, phối hợp ăn ý, hơn nữa dây cung và hộp lắp mũi tên không hề xung đột với nhau nên ai cũng tự thực hiện nhiệm vụ của mình.

Chỉ nghe những tiếng lạch cạch trên dây cung, Mã Quân sử dụng hồng kỳ vẫy lên, chỉ nghe âm thanh ken két phát ra, năm phong nỏ đồng thời bắn ra, một trăm năm mươi mũi tên sắt giống hệt như châu chấu bay ra dày đặc phi thẳng về trước kỵ binh người rơm ngoài ba trăm dặm, liền thấy xa xa một đám người ngã ngựa đỗ.

- Lần nữa.

Mã Quân hét lên một tiếng, lục kỳ huy động, các đệ tử nhanh chóng thực hiện động tác thuần phục, lên dây cung, trang bị hộp tiễn, bắn ra, gần như hành văn liền mạch lưu loát, lại một lần nữa mưa tên bắn ra liên tiếp năm hộp tên, trong lòng Lưu Cảnh ngầm tính kỵ binh lúc này đã ngoài ba mươi bước, hắn hô lớn:

- Ngừng.

Phong nỏ không bắn nữa Lưu Cảnh dẫn vài tên thị vệ cưỡi ngựa chạy vội lên trước đếm hơn trăm kỵ binh rơm bị ngã trước mặt, hình nộm người bị bắn ra tán loạn, trên thân thể trên chiến mã và trên tấm lá chắn bị bắn thủng cắm đầy thiết nỏ. Quả nhiên loại thiết nỏ này uy lực kinh người, tất cả bì giáp và tấm lá chắn đều bị bắn thủng, Lưu Cảnh gật gật đầu hài lòng với kết quả này.

Lúc này một gã thị vệ cầm tấm lá chắn đưa cho Lưu Cảnh nói:

- Điện hạ, tấm lá chắn này có chút kỳ quái.

Lưu Cảnh tiếp nhận tấm lá chắn quan sát, tấm lá chắn này rất mỏng chỉ được ghép từ hai miếng ván gỗ bình thường, nó tương đương như tấm lá chắn của người Khương, thuộc tấm lá chắn xưa nhất, so với tấm lá chắn của quân Hán thì kém xa, căn bản không ngăn cản được mũi tên thiết nỏ.

Mã Quân tiến lên cười nói:

- Người Hung nô không dùng tấm lá chắn, bọn họ chủ yếu là dùng hai lớp bì giáp, ở đây dùng tấm lá chắn chỉ là gia tăng sự khó khăn hơn mà thôi.

Nhưng điều Lưu Cảnh nghĩ không phải là tấm chắn của người Hung nô, hắn suy nghĩ đến quân Tào, hắn lấy ra một tấm chắn của quân Hán, đây cũng là tấm chắn ba năm trước thợ thủ công nghiên cứu chế tạo ra, quân Tào cũng làm nhái lại nên hai tấm chắn Hán Tào hoàn toàn giống nhau.

Loại tấm lá chắn này được làm bằng loại gỗ rắn chắc bao trùm bằng da trâu sống, lại được dùng vải bố ngâm qua dầu rồi quấn quanh, sau đó lại liên tục ngâm vào trong dầu sau đó phơi khô, để tạo ra một loại tấm chắn này phải mất thời gian nửa năm, tên thông thường không thể nào bắn thủng.

Lưu Cảnh nhướng mày nhìn Mã Quân nói:

- Nếu đổi lại là tấm lá chắn của quân Hán hoặc quân Tào thì sẽ thế nào?

Mã Quân lắc đầu:

- Thương vong giảm nhiều hơn.

Mã Quân thấy Lưu Cảnh có chút không hài lòng, vội giải thích:

- Điện hạ, ba trăm bước tầm bắn sát thương thật không dễ, dù là dùng cường nỏ năm trăm bước cũng khó có thể xuyên qua, phong nỏ dùng thiết làm mũi tên, sức đột phá của nó khá lớn. Khi nghiên cứu chúng thần nhắm vào kỵ binh Tạp Hồ nghiên cứu chế tạo ra, nó hoàn toàn có thể xuyên qua hai lớp áo giáp, hơn nữa kỵ binh Tạp Hồ không sử dụng tấm lá chắn, điện hạ cũng không cần suy nghĩ nhiều.

Bất đắc dĩ Lưu Cảnh đành cười nói:

- Được rồi, có thể tiến hành chế tạo với quy mô lớn, tạo ra hai ngàn đài mất thời gian bao lâu?

- Khởi bẩm điện hạ, chúng thần có trâu gỗ cường đại nên hai ngàn đài chỉ cần thời gian bốn tháng.

Lưu Cảnh gật gật đầu:

- Vậy quyết định như vậy đi, Mã Giáo úy nhanh chóng trình lên Bình Chương Đài việc này, ta sẽ để bọn họ đặc biệt phê duyệt, mau chóng khởi công chế tạo.

- Vi thần tuân lệnh!

Lưu Cảnh lại nhặt lên một nhánh nỏ cười nói:

- Ta đối với thiết nỏ này rất hứng thú, xin Mã Giáo Úy hãy nghiên cứu một chút chúng ta làm thế nào mới có thể xuyên thấu qua tấm lá chắn của quân Tào. Trong Quân Giới Viện có thể tiếp thu ý kiến của anh em để có thể tìm ra phương án tốt nhất, ta sẽ thưởng ba trăm lượng hoàng kim cho người nào làm ra được.

Mã Quân quay đầu lại thoáng nhìn các sinh đồ, gật đầu nói:

- Điện hạ nói cũng có lý, dùng giải thưởng lớn khích lệ đổi mới đó cũng là biện pháp tốt, hạ thần sẽ công khai treo giải thưởng trong Quân Giới Viện.

Lưu Cảnh vỗ vỗ bờ vai của Mã Quân, bước nhanh trở về, hắn trở mình lên ngựa từ xa nói vọng lại với Mã Quân:

- Ta chờ tin tốt lành của Mã Giáo Úy.

Hắn quay đầu lên ngựa, mấy trăm thị vệ đi theo hộ vệ cũng phi nhanh ra hướng ngoài Quân Giới Viện, nhanh chóng đã ra khỏi cửa chính, Mã Quân lại nhìn thiết nỏ trong tay mình không khỏi lâm vào trầm tư.

Một chiếc xe ngựa chậm rãi đi trên đường cái Nghiệp Đô, hai bên dường có hơn mười kỵ binh hộ vệ, người đi đường nhìn xe ngựa chăm chú, trên ngựa có cắm lá cờ hàng hình tam giác, trên đó có ba chữ "Ngự Sử Đài" màu đen, ba chữ kia biểu thị quyền uy thật lớn.

Chiếc xe quan di chuyển trong dòng người tấp nập, người đối diện nhanh chóng tránh nhường đường để xe Ngự Sử Đài đi trước. Bên trong xe ngựa Dương Thiêm dựa vào xe nhìn xuyên màn xe, thấy một chiếc xe ngựa đối diện, đó là xe của Hồng Lư Tự vì sợ hãi quyền uy của y mà chủ động né tránh, điều này khiến trong lòng Dương Thiêm vô cùng đắc ý, y rất thích loại cảm giác được tôn trọng này.

Dương Thiêm trở về Nghiệp Đô đảm nhiệm Ngự Sử Trung Thừa đã ba ngày rồi, y cảm giác như chính mình đang năm mơ. Hai tháng trước y vẫn chỉ là tiểu nhân đổi hoàng kim giả ở chợ nam Thành Đô, nhưng chỉ trong chớp mắt đã đảm nhiệm chức quan lớn của Ngụy Quốc, trong tay nắm quyền giám sát thật to lớn, đúng là vận mệnh con người thật kỳ diệu.

Nhưng Dương Thiêm cũng biết không vô duyên mà trên trời lại rơi xuống mẩu bánh ngon cho ai cả, vận mệnh này được quyết định trong buổi sáng cách đó hai tháng, y gặp một người khách đặc biệt, chính là Hán Vương Lưu Cảnh, đúng là sự xuất hiện của Hán Vương Lưu Cảnh đã hoàn toàn đổi vận mệnh của y.

Lúc này y tựa như con diều bay lượn trên không trung, dù y có rạng rỡ cỡ nào nhưng hiện tại vận mệnh của y nằm trong tay Hán Vương điện hạ, điều này khiến Dương Thiêm thật không có cách này thoát ra, bên tai y vẫn còn vang vọng những lời nói của Lưu Cảnh khi gặp y ở Quan Trung: " Ngươi có thể an tâm đầu quân ở Ngụy Quốc, ta sẽ cho ngươi trở thành vị quan lớn của Ngụy Quốc, sẽ không bóc trần ngươi, khiến ngươi đi lên từng bước một nhưng ngươi không được quên bản thân mình, nếu ngày nào đó ngươi quên thân phận thật sự của mình, ngươi sẽ tan theo mây khói rơi vào mười tám tầng địa ngục".

Dương Thiêm cúi đầu thở dài một tiếng, y biết rằng chính mình được Hán quốc xếp vào vị trí thám tử cao nhất ở Ngụy Quốc, mặc dù y không muốn nhưng cũng không thể nào tự chủ được, lúc này xe ngựa chậm rãi dừng lại, một tên lính nói:

- Dương trung thừa, đã đến phủ của Trưởng công tử rồi.

Dương Thiêm nhìn thăm dò, quả thật đã đến phủ của Tào Phi, y xuống xe gựa bước nhanh đến cửa chính, một gã thị vệ tiến lên nói:

- Công tử đang đợi Trung thừa, xin mời theo ta.

Dương Thiêm gật đầu đi theo thị vệ hướng vào trong phủ, mới hôm trước y có gặp qua Tào Phi, hôm nay Tào Phi liền có chuyện qua trọng cần gặp, trong lòng y có chút không yên nhanh chóng đi thẳng một mạch vào thư phòng của Tào Phi. Lúc này đáng lẽ Tào Phi ở quan phòng mới đúng nhưng lại cho gọi y đến phủ tiếp kiến, Dương Thiêm đã ý thức được nhất định có việc tư mật cần tìm y.

Ở bên ngoài thư phòng thị vệ ở cửa bẩm báo:

- Khởi bẩm công tử, Dương Trung thừa đến.

- Mời vào.

Trong phòng truyền đến thanh âm của Tào Phi, xem ra tâm tình rất tốt, Dương Thiêm vội chỉnh sửa trang phục bước nhanh vào thư phòng. Tào Phi đang ngồi ở bàn phê duyệt tấu chương, Dương Thiêm liền vội tiến lên bái lễ:

- Vi thần tham kiến Thừa tướng.

Tào Phi đặt bút xuống cười nói:

- Miễn lễ.

- Tạ ơn Thừa tướng.

Dương Thiêm ngồi thẳng người, có vẻ không yên nhìn Tào Phi, Tào Phi cảm giác được sự khẩn trương của y, mỉm cười nói:

- Mấy ngày rồi đã quen thuộc Ngự Sử Đài chưa?

- Cảm tạ Thừa tướng quan tâm, vi thần cũng quen dần rồi ạ.

Tào Phi gật gật đầu:

- Địa phương mà Dương Trung thừa vốn phụ trách giám sát nhưng thực tại địa phương giám sát đó đã nằm trong tay Tam đệ ta, ngươi chen vào không được đâu. Cho nên ta đã bẩm báo Ngụy Công đổi để ngươi giám sát bách quan, nhưng ngươi cũng nên hiểu đây là hư chức, thật sự không có quyền trong tay.

Dương Thiêm yên lặng y biết được ý của Tào Phi, thực quyền giám sát bách quan nằm trong tay Ngụy Công, y vượt qua Ngự Sử Đài thành lập Giáo sự, dùng mấy trăm quan Giáo Sự giám sát kinh thành, trong đó cũng bao gồm bá quan văn võ, Ngự Sử Đài chỉ có quyền giám sát trên danh nghĩa.

Tào Phi cười cười lại nói:

- Tuy rằng thực quyền trên tay Ngụy Công nhưng không phải nói Ngự Sử Trung thừa ngươi chỉ dùng để trang trí, thực tế ngươi có thể sử dụng quyền giám sát, đây là hai cơ cấu giám sát hoàn toàn khác nhau Ngự Sử Đài ngoài sáng, Giáo Sự ở trong tối, ngươi có thể quang minh chính đại tiến hành giám sát buộc tội, còn Giáo Sự chỉ có thể âm thầm báo cáo cho Ngụy Công. Hơn nữa ta tiến cử ngươi với Ngụy Công nên trong mức độ nào đó Ngụy Công sẽ ủy quyền thích hợp cho Ngự Sử Đài, ngươi hiểu không?

- Vi thần hiểu ạ, đây chính là sự ưu ái của Thừa tướng đối với vi thần.

Tào Phi rất hài lòng với cách xưng hô của Dương Thiêm, y lấy một chồng hồ sơ dày thật dày giao cho Dương Thiêm:

- Vụ án này phát hiện ra hơn mười ngày trước có liên lụy đến Dương Bưu và Thôi Lâm, hai người này tư thông với Hán quốc, ta nhất định phải thông qua Ngự Sử Đài để buộc tội, nhưng lúc ấy trong Ngự Sử Đài chúng ta không có người, nên chỉ có thể chờ ngươi đến, hiện tại đã đầy đủ chứng cớ, xem như vụ đại án đầu tiên trong tay ngươi đi.

Trong lòng Dương Thiêm cả kinh, y nhớ đến lời Lưu Cảnh nói "sau khi ngươi trở về kinh Tào Phi sẽ nhanh chóng có đại án giao cho ngươi, ngươi phải làm hết sức".

Hóa ra những lời Lưu Cảnh nói chính vì việc này, xem ra Tào Phi và Lưu Cảnh sớm có phối hợp với nhau, y lật xem hồ sơ, càng xem càng kinh hãi quả nhiên Dương Huấn đã tìm hiểu Thành Đô, rốt cuộc cũng có vụ án rồi nhưng trong lòng y cũng cảm thấy khó xử, dù gì y cũng được xem là con cháu Hoằng Nông Dương Thị, vậy mà đối phó với gia chủ, làm thế nào nhìn mặt gia tộc đây?

Tào Phi nhìn y chăm chú, dường như cũng nhìn ra được điểm khó xử của y liền lạnh lùng hỏi:

- Chẳng lẽ ngươi không muốn tiếp nhận vụ án này?

Dương Thiêm sợ tới múc run cả người vội vàng nói:

- Vi thần không dám.

- Nếu đã như thế thì phải làm cho tốt vào, ta tin tưởng Ngụy công sẽ thưởng thức hành vi quân pháp bất vị thân của ngươi, đây có lẽ là bước đầu để ngươi thăng quan rất nhanh, để ta xem ngươi có nắm được cơ hội này không.

Trong lòng Dương Thiêm ngầm thở dài, chuyện tới nước này y không còn sự lựa chọn nào khác, y quyết định chắc chắn, cúi đầu nói:

- Vi thần sẽ dốc toàn lực.

Tào Phi mỉm cười gật đầu:

- Đi đi, Dương Huấn bị nắm thóp hắn ta chỉ còn nước phục tùng, hắn sẽ phối hợp với ngươi, đừng để ta thất vọng.

- Vi thần tuân mệnh.

Dương Thiêm đứng dậy rời khỏi phủ Tào Phi, đi ra khỏi viện tử, một luồng gió thổi đến gã mới phát hiện sau lưng mình áo ướt đẫm.

Chương 807.1: Vụ đại án kinh thiên.

Tâm tình hôm nay của Tào Tháo quả thật không được tốt, Trình Dục mang đến cho lão một tin xấu, ở Trường An Quân Giới Viện của quân Hán đã nghiên cứu chế tạo một loại binh khí mới có tên là phong nỏ, khoảng cách sát thương khoảng ba trăm bước, đối với kỵ binh lực sát thương khá lớn nên tạo thành uy hiếp khá lớn đối với Hổ Báo Kỵ.

Điều khiến Tào Tháo tức giận không phải kiểu vũ khí quân Hán phát minh, quân Hán thường xuyên phát minh ra vũ khí mới điều này cũng đã quen rồi, điều mấu chốt chính bọn lão không hăng hái tranh giành, từ mấy năm trước cũng bắt chước quân Hán thành lập trường thủ công học, nhưng không chế tạo ra binh khí tiên tiến giống quân Hán.

Tào Tháo hừ mạnh một tiếng nhìn thị vệ hai bên, nói:

- Nhanh cho gọi Trưởng công tử cho ta.

Trường học Thợ thủ công Ngụy quốc là do Tào Phi phụ trách, Tào Tháo giận dữ muốn dạy dỗ con lão, thị vệ chỉ dạ một tiếng vội chạy như bay đi.

Lúc này Trình Dục bên cạnh khuyên nhủ:

- Xin Ngụy công bớt giận, chuyện này kỳ thật cũng không đơn giản như vậy.

- Trọng Đức hãy nói tiếp để ta nghe xem.

Tào Tháo kiềm chế lửa giận, chậm rãi ngồi xuống.

Trước mắt Trình Dục là mưu sĩ thứ nhất của Tào Tháo, là tâm phúc đáng tin cậy nhất của Tào Tháo, cơ cấu mật thám tinh nhuệ của Tào Tháo là Giáo Sự, nằm trong tay Trình Dục. Trình Dục vì nắm giữ được tin tức thợ thủ công quân Hán nghiên cứu chế tạo vũ khí mới, đã đặc biệt sắp xếp hai mật thám trong đám sính đồ tại trường học thợ thủ công quân Hán.

Tuy bọn họ không tiếp xúc với trung tâm cơ mật nhưng có thể biết được tin tức chế biến một vài binh khí quan trọng, như việc tiến hành thử nghiệm phong nỏ ở cánh đồng trống, như thế phần đồng sinh đồ có thể xem được, mật thám nằm vùng của Trình Dục cũng nằm trong đó.

Trình Dục cười nói:

- Quân Hán nghiên cứ loại phong nỏ này kỳ thật không phải đối phó với chúng ta mà chính Tạp Hồ Quan Lĩnh, loại vũ khí này được quân Hán trực tiếp thực hiện trong chiến dịch chinh phạt Tạp Hồ, nên đối với chúng ta ảnh hưởng không lớn.

Tào Tháo gật đầu, rốt cuộc lão cũng nhìn ra được nguyên nhân thật sự Lưu Cảnh không thực hiện chiến dịch ở Hợp Phì, thì ra quân Hán sắp phát động cuộc chiến chống Tạp Hồ, vì Hán Quốc dời đô về Trường An mà phải giải trừ những phiền phức trước, lúc này binh khí mới nhất là phong nỏ được xuất hiện hiển nhiên nhằm vào kỵ binh Tạp Hồ, lý do này Tào Tháo cũng tán thành.

Lão trầm ngâm một lát lại hỏi:

- Phong nỏ xuất hiện nhằm vào Hồ kỵ là không sai nhưng vì sao Trọng Đức thấy nó không ảnh hưởng lớn đến chúng ta?

Trình Dục khẽ mỉm cười:

- Vì sau khi thí nghiệm phong nỏ Lưu Cảnh ở Quân Giới Viện đưa ra giải thưởng công khai, nếu ai có thể đề xuất phương án đột phá được tấm lá chắn của quân Tào sẽ được trọng thưởng ba trăm lượng hoàng kim, vì thế có thể thấy được phong nỏ chỉ có thể bắn qua tấm lá chắn người Hồ nhưng không bắn qua tấm lá chắn của quân Tào cho nên mới treo giải thưởng như thế.

- Trọng Đức có ý nói tấm lá chắn của ta có thể phòng ngự được phong nỏ của quân Hán sao?

- Chắc chắn là như vậy!

Trình Dục lấy ra tấm bản vẽ phác thảo đặt trên bàn nói:

- Điều mấu chốt nó có thể bắn ra trong vòng ba trăm bước, bất luận cung nỏ nào đến tầm bắn này cũng hết đà, phong nỏ cũng không ngoại lệ, nhưng vì trong vòng ba trăm bước lực sát thương khá lớn, quân Hán sử dụng phong nỏ với mũi tên sắt, lợi dụng sức nặng của mũi tên sắt để bắn với lực mạnh và bay xa, tất nhiên từ trên cao mà bắn xuống. Bì giáp và lá chắn gỗ của Tạp Hồ không thể phòng ngự được lực bắn mạnh như thế, nhưng tấm lá chắn của chúng ta có thể ngăn cản được, cho nên dù có lợi hại nhưng lá chắn vững chắc chúng ta chỉ cần tăng thêm phòng ngự vững chắc của lá chắn, phong nỏ đối với chúng ta cũng không có uy hiếp lớn.

Tào Tháo chăm chú nhìn vào sơ đồ phác thảo, sau một lúc lâu mới nói:

- Kỳ thật chúng ta có thể làm nhái phong nỏ, gậy ông đập lưng ông khiến quân Hán nếm thử chút tư vị của phong nỏ.

Trình Dục cười khổ:

- Phong nỏ này nhìn bên ngoài thì đơn giản nhưng thực tế muốn chế tạo nó hoàn mỹ, mũi tên theo đúng hướng không phải là điều dễ dàng, chỉ dựa vào bản vẽ phác thảo do người ta chứng kiến hẳn là khó chế tạo ra được phong nỏ, trừ phi chúng ta có được phong nỏ thực tế và được nghe kể một cách tỉ mĩ tiến trình nghiên cứu.

Tào Tháo khoanh tay đi qua đi lại vài bước, quay đầu nói:

- Không phải Lưu Cảnh muốn dùng nó đối phó với Hồ kỵ sao? Chỉ cần nó đã bắt đầu thực hiện trong cuộc chiến thì chúng ta nhất định có thể lấy được phong nỏ, ta hy vọng mọi thứ có đều được chuẩn bị trước, sau khi lấy được phong nỏ cần nhanh chóng làm phong nỏ nhái với quy mô lớn.

Lúc này thị vệ đến bẩm báo:

- Khởi bẩm Ngụy công, Trưởng công tử đến.

Tào Tháo ngẩn ra, sao có thể đến nhanh như thế? Lão lập tức nói:

- Cho nó vào.

Trong chốc lát Tào Phi vội vàng đi vào, quỳ xuống thi lễ:

- Hài nhi bái kiến phụ thân.

- Phi nhi, con muốn đến gặp ta đúng không?

- Vâng, con có công văn khá quan trọng phải mang đến cho phụ thân thẩm duyệt.

Nói xong, Tào Phi tiến lên trình tấu chương, Tào Tháo tiếp nhận nhanh chóng đọc sơ qua nội dung, là Ngự Sử Đài buộc tội Thái Úy Dương Bưu và Tư Không Thôi Lâm, lão để một bên hỏi Tào Phi:

- Vi phụ tìm con là muốn hỏi vể trường học thợ thủ công, vì sao thợ thủ công của quân ta không thể giống quân Hán, không ngừng phát triển binh khí mới? Hàng năm ta trích nhiều tiền chi như vậy rốt cuộc cả ngày bọn chúng đang làm gì?

Nói xong lời cuối cùng ngữ khí của Tào Tháo vô cùng bất mãn, Tào Phi vội vàng nói:

- Xin phụ thân bớt giận, thợ thủ công chúng ta chỉ mới thành lập ba năm còn thợ quân Hán đã hơn mười năm rồi, kỹ thuật tích lũy càng ngày càng cao chúng ta không thể nào bì được với đối phương. Binh khí mới được nghiên cứu ra bởi trong quá trình tích lũy kinh nghiệm cùng sự sáng tạo, nhưng ưu thế của chúng ta thợ thủ công chúng ta cũng có kinh nghiệm phong phú giỏi nhái hàng, ví như yên ngựa, bánh xe có cánh quạt di chuyển thuyển, máy bắn đá, cải tiến nỏ Đại Hoàng, còn có tấm chắn, áo giáp vẩy cá hai lớp, mới nhất chính là trâu gỗ. Có thể nói ngoại trừ đao giáp của trong giáp bộ binh còn lại đại bộ phận binh khí và đồ phòng ngự của chúng ta đều mô phỏng chế tạo ra.

Bên cạnh Trình Dục cũng khuyên nhủ:

- Ngụy công, hạ thần cũng phải nói lời công đạo, đối với thợ thủ công chỉ có ba năm nghề mà có thể làm thế không phải là chuyện dễ dàng gì, Ngụy công không nên nghiêm khắc với Trưởng công tử.

Tào Tháo cũng cảm thấy yêu cầu của mình rất nghiêm, lão liền thu lại sự tức giận của mình nói với Tào Phi:

- Gần đây nhận được tin tức thợ thủ công quân Hán đã phát minh là kiểu phong nỏ mới, uy lực cực lớn nhưng tấm lá chắn của ta có thể phòng ngự được. Ta hy vọng thợ của Ngụy quốc cũng có thể nghiên cứu ra tấm lá chắn dễ sử dụng hơn cho kỵ binh, phải lớn hơn nhẹ hơn, chắc hơn. Truyền lệnh ta, ai nghiên cứu được tấm lá chắn tốt nhất ta có thể thưởng năm trăm lượng hoàng kim.

Chương 807.2: Vụ đại án kinh thiên.

- Hài nhi tuân mệnh.

Lúc này Tào Tháo mới bỏ qua việc phong nỏ, lão cầm tấu chương Ngự Sử Đài buộc tội lên, kỳ thật lão cũng rất hứng thú muốn xem ai buộc tội Dương Bưu và Thôi Lâm.

Tào Phi đứng bên cạnh vụng trộm nhìn chăm chú vào thay đổi sắc mặt của phụ thân y, theo lý, y không nên tự tay mang tấu chương lên cho phụ thân mình, nhưng chính Hoa Hâm đã nhắc nhở y, nếu tấu chương của Ngự Sử Đài tới tay Đổng Chiêu trước sẽ bị Đổng Chiêu lấy cớ không có thật mà giữ lại, sau đó thông báo cho Tào Thực chuẩn bị trước, cuối cùng hiệu quả sẽ giảm đi nhiều. Hơn nữa Dương Thiêm cũng là người một nhà, phụ thân cũng sẽ biết gã buộc tội cũng có liên quan, nên y trực tiếp mang đến không có gì là không tốt cả.

Tào Phi phát hiện sắc mặt phụ thân mình đã bắt đầu thay đổi, vẻ u ám buồn bã, y vụng trộm liếc thư tín trong tay lão, hẳn đến đoạn Thôi Diễm viết thư cho Dương Huấn, Tào Phi nhớ rõ trong đó viết "Thời cơ thời cơ, sẽ làm khi có biến", "biến" này chính là chỉ sau khi Tào Thực đăng quang sẽ có biến.

Tào Tháo lại mở tiếp một phong thư khác đọc, sắc mặt càng lúc càng âm trầm, cuối cùng lão cũng đọc được thư của Tào Thực viết cho Dương Bưu, nội dung trong thư khiến lão giận không kiềm được, rốt cuộc lão phẫn hận vỗ bàn mạnh một cái quát:

- Gọi Tào Thực đến cho ta.

Thị vệ chạy như bay đi, Tào Phi cẩn thận nói:

- Phụ thân, Ngự Sử Trung thừa đang đợi ở ngoài, có nên cho y vào triệu kiến không?

Tào Tháo hừ mạnh một tiếng nói:

- Phải tuyên y đến gặp ta.

Lúc này Trình Dục đứng bên cạnh ngầm thở dài, tuy rằng ông ta không biết Tào Tháo đọc thư gì nhưng y có thể cảm nhận được hẳn Tào Phi cho Thào Thực một đòn nghiêm trọng, dường như chứng cứ vô cùng xác thực, khó tránh Ngụy công giận dữ như thế, xem ra tranh đấu giữa huynh đệ đến hồi gay cấn rồi.

Trình Dục đã từng là người luôn ủng hộ Tào Phi, nhưng khi ông ta và Tào Phi kết giao sâu sắc ông ta đã dần phát hiện ra tính cách của Tào Phi có nhiều chỗ thiếu sót, lòng dạ tăm tối, tính tình bạc bẽo, dã tâm hực hực, một lòng muốn thay thế Hán triều. Nếu Tào Phi lên ngôi, Hán triều nhất định sẽ bị diệt vong, Trình Dục cũng không muốn gánh lấy tội lỗi thiên cổ này nên dần dần thoát khỏi Tào Phi, duy trì trung lập không ủng hộ Tào Phi cũng không ủng hộ Thào Thực.

Nhưng đồng thời Trình Dục cũng không nguyện nhìn Ngụy quốc bị trận tranh đấu huynh đệ mà lâm vào nội chiến, Trình Dục khuyên Tào Tháo:

- Ngụy công tuổi tác đã cao không nên nổi giận, sau khi hỏi rõ sự thật chiếu theo luật pháp mà xử trí cũng được.

Tào Tháo lại chậm rãi ngồi xuống cố khống chế tâm trạng, dù sao lão cũng là người nắm quyền lực tối cao trong thiên hạ, biết làm thế nào để điều chuyển sự tức giận của mình, lão cũng ý thức được đấy chính là hai đứa con trai tranh đấu, lúc này không thể mất đi lý trí, Tào Tháo cảm kích hướng sang gật đầu với Trình Dục, rốt cuộc cũng tỉnh táo lại.

Lúc này thị vệ dẫn Ngự Sử Trung Thừa Dương Thiêm vào nội đường, Tào Phi nháy mắt với gã, Dương Thiêm liền hiểu ý, tiến lên quỳ thi lễ:

- Vi thần Ngự Sử Trung Thừa Dương Thiêm bái kiến Ngụy Công.

Tào Tháo nhanh chóng liếc qua Tào Phi, lão nhanh chóng kịp phản ứng, phần thư buộc tội này nếu đúng thì phải do Ngự Sử Đại Phu Đổng Chiêu giao cho lão mới đúng, sao lại vượt qua Đổng Chiêu trực tiếp Ngự Sử Trung Thừa mang lên cho lão, còn thông qua tay con cả lão nữa, điều này cho thấy đứa con cả này đang cố trả thù Tam tử Tào Thực rồi.

Tào Tháo không còn tức giận nữa mà thản nhiên hỏi Dương Thiêm:

- Ngươi làm thế nào phát hiện được thư của Dương Bưu mang cho Lưu Cảnh?

Dương Thiêm cúi đầu nói:

- Khởi bẩm Ngụy Công, một tháng trước đúng lúc Đổng Đại Phu đi sứ Thành Đô, bỗng nhiên Dương Huấn cũng đến Thành Đô mà tìm vi thần, y mời vi thần hỗ trợ, nói y muốn gặp Lưu Cảnh muốn thay Dương Thái Úy đưa một phong thư cho Lưu Cảnh, nhưng vi thần không có năng lực như thế nên khéo léo chối từ. Sau đó thần nghe nói y đến đón xe ngựa Lưu Cảnh, nói được lệnh Dương Thái Úy mà đến, Lưu Cảnh liền cho y vào Hán Vương phủ, sau đó y nhanh chóng rời khỏi Thành Đô.

- Sự việc xảy ra hơn một tháng trước sao lúc này ngươi mới bẩm báo?

Tào Tháo lớn tiếng quát.

Dương Thiêm liền lạy sát đất, rưng rưng nói:

- Dù sao vi thần cũng sinh ra là người của Hoằng Nông Dương thị, Dương Thái úy chính là gia chủ thần, bán đứng gia chủ, bán đứng gia tộc, vi thần khó mà làm được, vi thần có tội, nguyện bị Ngụy công xử phạt.

Sắc mặt Tào Tháo nguội lại, hỏi tiếp:

- Vậy sao lúc này ngươi lại ra tay?

- Vi thần vì chuyện này mà đau khổ một tháng, Ngụy công lại đề bạt vi thần làm Ngự Sử Trung Thừa, nếu không thể là chính nhân, làm sao có được chính nhân, vi thần liền quyết định xử theo công lý, thế nên thần bắt đầu điều tra việc này, cũng lấy được toàn bộ lời khai của Dương Huấn. Dương Huấn vì muốn thoát thân nên mang tất cả thư tín giao cho vi thần, vi thần tuy là người của Hoằng Nông Dương thị nhưng không dám vì tư mà bỏ việc công, nguyện lấy thân chỉnh triều cương.

Tào Tháo gật gật đầu, ánh mắt lộ vẻ tán thành, mặc kệ Dương Thiêm có phải do Trưởng công tử sai khiến hay không nhưng loại quân pháp bất vị thân này đáng được tán thưởng. Bên cạnh Trình Dục lại lắc đầu, Ngụy công thực sự hồ đồ rồi, Dương Bưu không thừa nhận Dương Thiêm là tộc nhân Hoằng Nông Thị thì làm gì có quân pháp bất vị thân, rõ ràng là tìm cơ hội trả thủ, cam lòng làm chó săn. Trong lòng Trình Dục vô cùng khinh bỉ nhưng lúc này ông ta không muốn nhúng tay vào việc này.

Lúc này thị vệ báo:

- Thực công tử đã đến, đang ở ngoài đợi tiếp kiến.

Tào Tháo hừ một tiếng nói:

- Bảo hắn tiến vào.

Một lát sau, Tào Thực vội vàng đi vào, trên đường đi gã đã nghe phong phanh dường như huynh trưởng tố cáo gã, điều này khiến phụ thân giận dữ, trong lòng gã lúc này không yên vội tiến lên quỳ xuống thi lễ:

- Hài nhi Tào Thực bái kiến phụ thân.

Tào Tháo lấy bức thư Tào Thực viết cho Dương Bưu ném vào đứa con, lạnh lùng nói:

- Điều này là giả đúng không?

Tào Tháo nhìn qua phong thư, trong đầu đã tối mặt tối mày rồi, phong thư này sao có thể nằm trong tay phụ thân, trong lòng gã thống hận Dương Bưu nhưng lại không dám không thừa nhận nói:

- Đúng chính là con viết.

Tào Tháo thấy gã thừa nhận, không khỏi giận quá thành cười:

- Tốt, sau khi đăng vị sẽ tôn sùng Nho gia, dựa vào sĩ tộc phù chính Hán Đế, đứa con quý hóa của ta biết ta phạm sai lầm lớn nên phải sửa chữa vi phụ, điều này thật khiến vi phụ cảm động vô cùng, rất cảm động!

Tào Thực sợ tới mức không dám nói tiếng nào, Tào Tháo nhìn gã nửa ngày bỗng vỗ bàn rầm một tiếng hét lớn:

- Ta hiện còn chưa chết, còn chưa tới phiên ngươi tôn Nho diệt Pháp, tên nghịch tử này, ta không ngờ ngươi cấu kết với đảng phản bội phá hủy giang sơn của ta, xem như ta không có đứa con như ngươi.

Tào Tháo giận đến cực điểm, hộc ra một ngụm máu, ngửa mặt lên trời ngã quỵ xuống.

Tào Phi và Trình Dục đều sợ hãi đến ngây người, bọn họ đồng thời kịp phản ứng cùng nhau chạy đến đỡ lấy Tào Tháo:

- Phu thân!

- Ngụy Công!

Tào Thực khóc rống lên, dập đầu liên tục, máu tươi trên trán chảy ròng, Dương Thiêm bên cạnh không khỏi rét run lên từng đợt, hôm nay y mới lĩnh giáo được cuộc đấu tranh chính trị tàn khốc cỡ nào. Rõ ràng Tào Phi âm thầm cấu kết với Lưu Cảnh cuối cùng lại trở thành Tào Thực tư thông với Hán quốc, huynh đệ làm gì còn có thân tình nữa?

Chương 808: Thanh toán sĩ tộc.

Một lúc lâu sau Tào Tháo mới chậm rãi tỉnh lại, lão thở dài một tiếng ngơ ngác nhìn nóc nhà, Tào Phi vội vàng nói với thị vệ:

- Còn không mau mời ngự y?

Vài tên thị vệ sợ hãi nhanh chóng chạy như bay đi, Tào Tháo khoát tay ra hiệu Tào Phi đỡ lão dậy, lão thấy Tào Thực mặt đầy máu, lòng lão đau nhói, lại thương cảm, liền vung tay nói:

- Ngươi đi xuống trước đi?

Tào Thực dập đầu khóc ròng nói:

- Tội con đáng chết vạn lần, khẩn cầu phụ thân xử phạt thật nghiêm khắc.

Trình Dục thấy Tào Thực không hiểu điều này vội tiến đến nâng đỡ Tào Thực, nhỏ giọng nói:

- Thực công tử đi xuống trước đi, không cần ở đây khiến phụ thân ngài thêm tức giận, đi nhanh đi.

Tào Thực bất đắc dĩ đành phải lui xuống, lúc này Tào Tháo cắn răng một cái hướng Dương Thiêm nói:

- Dương Trung thừa, ta ban ngươi kim bài điều binh, điều tra rõ vụ án này cho ta, bất kể là Thái úy hay Tư Không dám tư thông với địch quốc, ngươi cần phải nghiêm trị cho ta.

- Vi thần tuân lệnh Ngụy công.

Sự yên tĩnh của Nghiệp Đô bị khuấy động bởi binh lính xuất hiện trên phố, đó là hai ngàn Túc Vệ quân trực thuộc Tào Tháo võ trang đẩy đủ, học sĩ của Đại thành Tây trên đường trở nên hỗn loạn, mọi người nghiêng ngả chạy trốn bốn phía, lại bị đánh ngã trên mặt đất, tiếng ngựa hí vang vọng, tiếng gọi cha gọi mẹ, tiếng gào thét... toàn bộ những học sĩ trên đường đi cũng lâm vào cảnh hỗn loạn.

Hai ngàn binh lính quân Tào có mục tiêu rõ ràng, bao vây phủ Thái úy Dương Bưu, nhanh chóng có binh lính tiến lên phá cửa. Lúc này Dương Bưu ở trong thư phòng đang chăm chú đọc sách, lão không biết nguy hiểm đang tới gần, bỗng nhiên lão nghe được tiếng huyên náo truyền đến liền nhướng mày, không biết ai trong phủ cãi nhau ầm ĩ như thế?

Đúng lúc trong viện có người dồn dập chạy đến, Dương Bưu ngẩng đầu thấy Dương Tu thở hồng hộc nói:

- Phụ thân, có việc không tốt rồi, quân Tào bao vây phủ đệ chúng ta, có binh lính xông vào.

- Tại sao lại vây quanh phủ chúng ta?

Dương Bưu không vui hỏi.

- Con không biết, nhưng phụ thân nhanh chóng đi tránh mặt đi.

- Tránh mặt?

Dương Bưu cười lạnh một tiếng nói:

- Tại sao ta phải tránh mặt, đây là nhà của ta, đường đường là phủ đệ Thái Úy, đâu phải nhà dân mà chó mèo nào xông vào cũng được, bọn họ xông vào nhà của ta thì phải cho ta lời giải thích thích đáng.

Vừa dứt lời đã thấy nhóm binh lính vọt vào sân, vây quanh thư phòng, hai mươi mấy tên lính vọt vào thư phòng vây cha con Dương thị. Cầm đầu là một gã Nha tướng tiến lên trước nói:

- Chúng ta phụng mệnh bắt giữ cha con Dương thị, mời các ngươi theo chúng ta, không cần phản kháng vô ích.

- Là ai muốn bắt ta?

Dương Bưu lạnh lùng hỏi.

Lúc này Dương Thiêm đi tới khom người thi lễ, đưa kim bài nói:

- Khởi bẩm Thái úy, đây là lệnh của Ngụy công, Thái úy thông đồng với địch, Ngụy Công giao trách nhiệm cho Ngự Sử Đài điều tra việc này, xin Thái Úy và Đức Tổ đi theo Ngự Sử Đài đi, chúng ta phải làm cho đúng phép tắc hỏi một vài câu.

- Hóa ra là ngươi.

Dương Bưu lập tức hiểu ra, Dương Thiêm là người của Tào Phi, việc này đương nhiên do Tào Phi ra tay với lão rồi, trong lòng Dương Bưu cũng có chút hoảng sợ, lão lớn tiếng quát to:

- Ta muốn gặp Ngụy Công.

- Sẽ cho Thái Úy có cơ hội gặp Ngụy Công nhưng không phải lúc này, lúc này mời Thái Úy theo Ngự Sử Đài chúng ta.

- Ngươi tính toán dễ ăn vậy sao?

Bỗng nhiên Dương Tu giận dữ, y bước nhanh ra ngoài tìm Tào Thực để cầu cứu, Dương Thiêm nháy mắt cho Nha tướng, Nha tướng hiểu ý chạy theo sau Dương Tu dùng cán kiếm nhắm gáy y đập một phát, Dương Tu kêu thảm một tiếng ngã nhào ra đất.

Dương Bưu thất kinh vội hô lớn:

- Không được làm ẩu.

Dương Thiêm lạnh lùng nói:

- Nếu Thái Úy phối hợp với chúng ta, chúng ta sẽ không làm tổn thương hắn.

- Được rồi.

Dương Bưu đành bất đắc dĩ thở dài nói:

- Ta đi theo các ngươi.

Lão tiến lên đỡ con trai dậy, bọn lính bao vây xung quanh đi ra phía cửa phủ đi ra ngoài, bên ngoài cửa phủ đã có một chiếc xe ngựa ngừng đợi sẵn, Dương Bưu và Dương Tu lên xe, xe ngựa nhanh chóng phóng về phía thiên lao.

Đồng thời trong thời gian Dương Bưu bị bắt, Thôi phủ cũng có hơn một ngàn binh lính xâm nhập mang Tư Không Thôi Lâm và Thôi Diễm ra khỏi phủ, áp giải về hướng thiên lao.

Tin tức Dương Bưu và Thôi Lâm đồng thời bị bắt lập tức lan ra toàn thành, bách quan và dân chúng Nghiệp Đô đều bàn luận việc này. Dù sao Dương Bưu và Thôi Lâm cũng là lãnh tụ của sĩ tộc phương Bắc, hai người bọn họ bị bắt, rất nhiều người đều có thể cảm nhận được sĩ tộc phương Bắc sắp sửa gặp phải cơn bão tố thanh trừ rồi.

.....

Trước cung Đồng Tước, Tào Thực đã quỳ suốt một buổi sáng, vì cứu Dương Tu, cứu sĩ tộc phương Bắc ủng hộ gã, gã liều lĩnh quỳ nơi này cầu xin phụ thân bỏ qua cho cha con Dương Bưu, bỏ qua cho huynh đệ Thôi thị, ít nhất có thể xử nhẹ đi cũng được. Nhưng lúc này Tào Tháo không còn sủng ái gã nên lão không gặp mặt, có viết thư lão cũng không trả lời.

Tào Thực quỳ một buổi sáng cảm thấy toàn thân đau đớn, đầu choáng váng, mắt hoa cả lên đã khó có thể duy trì được, nhưng so với sự mệt mỏi của thân thể trong nội tâm tuyệt vọng càng làm cho gã thống khổ hơn. Lúc này một gã hoạn quan chạy vào đỡ Tào Thực dậy nhỏ giọng nói vào tai gã:

- Phu nhân nói công tử nên đứng lên, không cần quỳ nữa.

Có lẽ mẫu thân gã không đành lòng để gã chịu khổ, sống mũi Tào Thực cay cay, nhỏ giọng hỏi:

- Mẫu thân ta nói gì?

- Phu nhân nói Dương Thái Úy tư thông với địch quốc chứng cớ vô cùng xác thực, công tử không nên tiếp tục biện giải vô ích, còn nếu công tử có nguyện vọng gì thì nên đi tìm Trình quân sư.

Tào Thực yên lặng gật đầu, gã vốn định lấy tình phụ nghĩa để đổi lấy sự nhượng bộ của phụ thân nhưng xem ra không có hiệu quả, chỉ còn có thể đi tìm Trình Dục hỗ trợ, hoạn quan nhắc nhở đúng tâm tư của gã, gã thở dài nói:

- Ngươi hãy chuyển lại cho mẫu thân ta, cảm ơn sự quan tâm của người nhưng làm người không thể vô nghĩa, cha con Dương thị dù có làm gì không phải, nhưng dù họ ủng hộ ta một ngày ta cũng phải có nghĩa vụ cứu họ.

Hoạn quan cười khổ một tiếng dìu gã lên xe ngựa, nói:

- Công tử đi nhanh đi.

Tào Thực chỉ bảo phu xe:

- Đến phủ đệ Trình quân sư.

Xe ngựa nhanh chóng chạy đi hướng phủ đệ Trình Dục, xe ngựa chạy nhanh một mạch, không bao lâu liền tới trước cửa phủ Trình Dục, đúng lúc gặp được con cả Trình Dục là Trình Vũ đang hồi phủ. Trình Vũ khoảng chừng bốn mươi tuổi đảm nhiệm chức Tham quân, là văn chức quan quân của quân Tào, y nhận ra xe ngựa cho Tào Thực liền đón cười nói:

- Là Thực công tử sao?

Tào Thực mở cửa xuống xe chắp tay nói:

- Đường đột tới chơi không biết có lệnh tôn ở trong phủ không?

Trình Vũ nhìn sắc trời một chút, gật đầu nói:

- Mỗi trưa phụ thân đều trở về nhà nghỉ ngơi một lát, Thực công tử mời vào phủ, ta đi bẩm báo phụ thân.

Mặc dù Tào Thực biết lúc này đến chơi là quấy rầy giấc nghỉ trưa của Trình Dục nhưng y không có cách nào, đành phải thất lễ mà đi theo Trình Vũ vào trong phủ.

Lúc này Trình Dục vừa mới dùng song bữa cơm trưa đang ngồi trong thư phòng uống trà, lão mặc kệ chính vụ thế nào, chỉ hiệp trợ Tào Tháo tham mưu giải quyết những việc quân cơ đại sự, mỗi buổi sáng lão đi vòng Nghiệp cung lấy tin tình báo mới nhất sau đó trở về phủ, ngủ trưa một canh giờ sau đó viết báo cáo phân tích tình hình cho Tào Tháo.

Hôm nay Trình Dục nhận được tin Hán quốc ở Hán Trung và Ba Thục điều hai trăm ngàn dân phu, cũng thuyên chuyển ba vạn chiếc trâu gỗ, điều này khiến Trình Dục ý thức được quân Hán bắt đầu cuộc chiến chống Tạp Hồ rồi. Theo giờ giấc của quân Hán, từ lúc bắt đầu chuẩn bị chiến tranh ba tháng sau đó là cuộc chiến bùng nổ, lúc này là cuối tháng hai, hơn như vậy chậm nhất đầu tháng sáu là quân Hán dụng binh với Tạp Hồ rồi.

Đang trầm tư suy nghĩ, bên ngoài vang lên tiếng bước chân, âm thanh Trình Vũ vang lên:

- Phụ thân đang nghỉ ngơi sao?

- Có chuyện gì?

Trình Dục hỏi.

- Khởi bẩm phụ thân, Thực công tử khẩn cấp cầu kiến phụ thân, hiện đang chờ ở nhà khách.

Không ngờ Tào Thực lại đến đây, khóe miệng Trình Dục lộ ra nụ cười khổ, lão đương nhiên biết được Tào Thực tìm lão có chuyện gì, nhất định nhờ lão chuyện của hai nhà Dương Thôi rồi. Sáng nay lão nghe nói Tào Thực quỳ gối trước Đồng Tước cung, hẳn không có hiệu quả cho nên gã mới đến tìm lão.

Trình Dục thật sự không muốn sẽ tham dự vào việc này, lão biết rõ vấn đề ở nơi nào. Tuy rằng Tào Tháo lấy cớ tư thông với địch quốc mà bắt giữ bọn họ nhưng trên thực tế sĩ tộc phương Bắc ủng hộ Lưu Cảnh sớm muộn cũng công khai bí mật, qua nhiều năm như vậy Tào Tháo đều mắt nhắm mắt mở, không có khả năng lúc này lại bỏ qua.

Nguyên nhân khiến Tào Tháo tức giận căn bản do Dương Bưu và sĩ tộc muốn lợi dụng Tào Thực để thực thi chủ trương chính trị của họ, cổ động Tào Thực tôn sùng Nho đạo giúp đỡ sĩ tộc, điều này không nghi ngờ chính nhằm vào hàn môn pháp gia và hai đại quốc sách cơ bản dương Ngụy ức Hán của Tào Tháo, điều này không nghi ngờ gì chính nguyên căn khiến Tào Tháo tức giận, cuối cùng cũng không nhịn được.

Lúc trước Tào Tháo dùng cách tặng nhân sâm ngàn năm và mười con heo để cảnh báo Dương Bưu, nhưng Dương Bưu chỉ yên phận một chút sau đó lại không chịu đứng yên, lúc này không ngờ lại rơi vào trên người Tào Thực, vậy làm ôn Tào Tháo có thể tha thứ cho bọn họ.

Chỉ có điều trong chính trị Tào Thực vẫn còn quá non, đấu sao lại huynh trưởng Tào Phi của gã. Hiển nhiên chuyện này do một tay Tào Phi bày ra, trong đó điều mấu chốt chính là đề bạt Dương Thiêm làm Ngự Sử Trung thừa, đó chính là con đao sắc bén của Tào Phi, lại bắt được đám người Dương Bưu mà không mất chút gì. Ra một đòn đã thành công, trên danh nghĩa là đả thương sĩ tộc phương Bắc, nhưng trên thực tế là nhằm vào Tào Thực.

Tin tưởng sau chuyện này Tào Thực sẽ hoàn toàn mất đi sự tín nhiệm của phụ thân, cơ hội kế thừa phụ thân của gã cũng thấp hơn. Trình Dục tuy không thích gì Tào Phi nhưng lão không thể không thừa nhận Tào Phi là người có thủ đoạn chính trị cực kỳ cao minh, có thể nắm được điểm yếu của Tào Tháo.

Chỉ có điều Tào Thực đến đây Trình Dục không tiếp gã cũng không được, chỉ bất đắc dĩ đành nói:

- Mời Thực công tử ngồi tạm, ta tức khắc ra liền.

Trình Dục đứng lên thay đổi trang phục, sau đó thong thả đi ra Quý Khách Đường.

Trong Quý Khách Đường, Tào Thực đứng ngồi không yên chờ đợi Trình Dục. Trình Dục là hy vọng duy nhất của gã, nếu Trình Dục không giúp được gã thì gã thật sự không cứu được cha con Dương thị rồi. Người ủng hộ dựa dẫm vào gã lại có kết cục như thế, sau này ai còn dám ủng hộ Tào Thực gã nữa, Tào Thực biết rõ điều này đối với gã quan trọng thế nào.

Lúc này từ xa nghe tiếng cười sang sảng của Trình Dục:

- Để Thực công tử đợi lâu rồi.

Tào Thực cuống quít đứng dậy tiếp đón, thi lễ thật sâu:

- Tào Thực đến đây đường đột, quấy rầy sự nghỉ ngơi của quân sư.

Trình Dục khoát tay nói:

- Đã đến rồi thì ngồi xuống, Thực công tử không cần áy náy, mời ngồi.

Trong lòng Tào Thực cảm kích vô cùng, lại thi lễ liền ngồi xuống, gã thở dài nói:

- Quân sư nói vậy có lẽ cũng đoán được mục đích đến đây của ta, ta khẩn cầu Trình quân sư thay ta hướng phụ thân cầu xin sự tha thứ cho cha con Dương thị, ân đức của quân sư Tào Thực vô cùng cảm kích.

Trình Dục uống một ngụm trà, nheo mắt lại chậm rãi nói:

- Ta có thể thay công tử mà cầu xin cho cha con Dương thị, tuy nhiên lão phu có một lời mong công tử suy nghĩ kỹ.

Chương 809: Phản ứng dây chuyền.

- Vãn bối nguyện nghe theo lời quân sư dạy bảo.

Tào Thực thành khẩn nói.

- Nếu công tử nguyện ý nghe, ta khuyên công tử một lời, cứu người có thể nhưng ngươi phải cam đoan với phụ thân phải hoàn toàn đoạn tuyệt quan hệ với sĩ tộc phương bắc, nếu không người không cứu được mà tiền đồ của công tử cũng xem như xong, đây là một nguyên tắc, ta hy vọng công tử suy nghĩ kỹ.

Một lúc lâu Tào Thực không nói được gì, gã đương nhiên hiểu được ý của Trình Dục, gã biết được nguyên nhân tức giận của phụ thân, thật sự bởi vì quan niệm chính trị của phụ thân và sĩ tộc trái ngược nhau, mà tư tưởng của Tào Thực cũng nhất trí với sĩ tộc là cùng tôn sùng đạo Nho. Trên thực tế Tào Thực cũng phản đối phụ thân theo tư tưởng hàn môn Pháp gia, nhưng mâu thuẫn này được gã che giấu trong lòng, tận đến lúc sau khi cha con Dương thị bị bắt giữ, xung đột quan niệm chính trị giữa Tào Thực và phụ quân mới bạo phát.

Thật sự đoạn tuyệt với sĩ tộc phương Bắc thì rất dễ dàng, nhưng nếu làm như vậy sau này còn ai ủng hộ gã nữa, trong chuyện này lợi hại thế nào Tào Thực đang cân nhắc. Trình Dục cũng trầm mặc, nếu ngay cả việc này Tào Thực cũng không làm được có thể cho thấy gã không có thành ý, như vậy, Trình Dục lão cần gì phải nhúng tay vào vũng bùn này.

Tào Thực thở dài nói:

- Ta sẽ giải thích với phụ thân, nhưng dù có thế nào vẫn xin quân sư giúp ta lần này, Tào Thực ghi khắc trong tâm ân tình này.

Trình Dục trầm ngâm một lát nói:

- Cũng được, chiều này ta cũng muốn đi gặp Ngụy công, thuận tiện nhắc đến việc này, ta sẽ làm hết sức nhưng thật sự không dám hứa hẹn điều gì với công tử.

- Chỉ cần quân sư làm hết sức là Tào Thực vô cùng cảm kích rồi.

Tào Thực cáo từ, Trình Dục vẫn như cũ ngồi ở Quý Khách Đường trầm tư không nói. Lúc này Trình Vũ tiễn bước Tào Thực về vội vã chạy nhanh vào, y nhìn phụ thân lo lắng nói:

- Phụ thân muốn thay Thực công tử ra mặt sao?

Trình Dục lắc đầu nói:

- Ta không phải là thay mặt hắn, nhưng chỉ có điều hắn đã đến tới tận cửa cầu cứu, ta cũng không nên từ chối.

- Nhưng nếu thế phụ thân sẽ đắc tội với Trưởng công tử, phụ thân cũng biết Tào Phi là người lòng dạ hẹp hòi, tính toán chi li, một khi y đăng ngôi nhất định vì chuyện này mà gây phiền phức cho Trình gia chúng ta.

Trình Vũ nói khá hàm súc, y không nói Tào Phi sẽ gây sự với Trình Dục vì Trình Dục tuổi cũng đã cao có lẽ không thể nào trả thù được, nhưng hậu bối thì không có khả năng thoát thân. Trình Dục hiểu tâm tư của con mình, thản nhiên cười nói:

- Mấy năm nay ta đắc tội với người của Tào Phi có thể nói nhiều không đếm xuể, y sau này có trả thù không không nói đến nữa, mà có Lưu Cảnh, Tào Phi cũng không dám làm quá phận, con không cần lo lắng, ta giúp Dương Bưu thật ra là vì ân tình của bản thân, điều này không quan hệ gì đến Tào Thực cả, ta tự biết chừng mức.

Trình Vũ thấy phụ thân suy xét mọi chuyện chu toàn nên cũng không khuyên răn gì thêm, Trình Dục đứng lên nói:

- Ta sẽ đi gặp Ngụy công bây giờ, con chuẩn bị ngựa cho ta.

- Phụ thân không ngủ trưa sao?

- Tình hình hôm nay có chút đặc biệt, ta cũng không thể nào ngủ được, tốt nhất là đi gặp Ngụy công.

Trình Dục trở vào thư phòng lấy báo cáo của lão rồi nhanh chóng đi ra xe ngựa, đi về hướng cung Đồng Tước, không bao lâu sau đã đi đến trước cửa cung, Trình Dục đến nói với thị vệ:

- Xin hãy vào bẩm báo với Ngụy công, Trình Dục cầu kiến.

Thị vệ chạy như bay đi một lát quay lại cười nói:

- Ngụy công nói, từ sau quân sư không cần chờ ngoài cung, có chuyện gì trực tiếp tiến cung, chúng ta không được ngăn cản.

Trình Dục cười cười đi thẳng vào trong cung, đến quan phòng Tào Tháo, một gã nội thị tiến lên cười nói:

- Ngụy công đang đợi quân sư đến, xin mời.

Trình Dục tiến vào gian phòng đã thấy Tào Tháo khoanh tay đứng trước cửa sổ, nhìn ra không trung một cách xuất thần, Trình Dục vội tiến lên thi lễ:

- Vi thần tham kiến Ngụy công.

Tào Tháo quay đầu khẽ mỉm cười:

- Ta suy nghĩ Thực nhi sẽ tìm ai cầu cứu, nhưng không ngờ lại tìm đến Trọng Đức.

Trình Dục cười khổ một tiếng nói:

- Thực công tử quả thật đã tới tìm thần, tuy nhiên không phải thần muốn giúp hắn, mà thần chỉ cân nhắc giữa lợi và hại. Thần cảm thấy Ngụy công không cần làm quá căng tình hình, chỉ cần giáo huấn sĩ tộc là được, nếu làm quá căng bọn họ sẽ trực tiếp qua lại với Lưu Cảnh, như thế sẽ có nhiều bất lợi cho chúng ta, xin Ngụy công suy nghĩ.

- Ngươi nói bất lợi với tình huống của chúng ta là ý gì?

Tào Tháo lại hỏi.

- Ý vi thần là bọn sĩ tộc sẽ dời tài sản đến Hán quốc, sĩ tộc phần lớn là gia tộc quyền thế, khống chế phần đông đất đai và nhân khẩu, một khi khiến cho bọn họ khủng hoảng tất nhiên sẽ khiến họ gom góp tài sản và cả người dời đi, điều này tổn hại mất một phần thuế phú thu vào của chúng ta.

Tào Tháo trầm tư một lát rốt cuộc gật đầu:

- Trọng Đức nói đúng, ta suýt nữa không tính đến chuyện này, cứ làm theo ý kiến của ngươi đi.

- Ngụy công cần lập uy cảnh cáo sĩ tộc, nhưng lại phải suy sét dụ dỗ nắm chắc bọn họ trong tay, vi thần đề nghị già có thể tha nhưng trẻ thì không, làm thế vừa thể hiện sự nhân từ của Ngụy công lại vừa có thể hạn chế tính kiêu ngạo của bọn sĩ tộc, có thể nói là một công đôi việc.

Tào Tháo mỉm cười nói:

- Không hổ là quân sư, việc này chắc chắn thành công, cứ làm theo lời quân sư nói.

Trong lòng Trình Dục hơi ổn định lại, lão lại lấy báo cáo ra nói:

- Khởi bẩm Ngụy công, đây là báo cáo vi thần đề nghị khi Lưu Cảnh sắp phát động cuộc chiến diệt Hồ, phương án của vi thần là đối ngoại cắt giảm quân bị, đối nội phải tu sữa nội chính, giảm thuế phú, tăng việc rèn luyện quân binh vì tương lại Trung Nguyên là nền tảng của sự tranh bá.

Tào Tháo chậm rãi gật đầu:

- Lời nói của Trọng Đức rất hợp với ý ta.

Mùa xuân năm Kiến An thứ hai mươi, vụ án Dương Thôi thông đồng với địch chấn động dân cả nước rốt cuộc cũng đã xử lý, vì chứng cớ vô cùng xác thực nên Dương Tu và Thôi Diễm bị Tào Tháo hạ lệnh xử trảm, còn Thái úy Dương Bưu và Tư Không Thôi Lâm được tha, cắt chức thành dân thường, cưỡng chế ở nhà đóng cửa suy nghĩ về tội lỗi của mình, vụ đại án Dương Thôi cũng vì thế mà hạ màn.

Trời tờ mờ sáng tiếng chuông vang lên, quan thủ thành hét to một tiếng:

- Mở cửa.

Tây môn Nghiệp Đô chậm rãi mở ra, một đội binh lính từ bên trong thành chạy đi ra, mấy trăm nông và thương nhân ngoài thành xếp thành hàng chờ bắt đầu đi vào trong thành.

Chuyện này ngày nào cũng phát sinh, cảnh tượng ấy bọn lính tập mãi thành thói quen, đối với cảnh tượng hỗn loạn này khá thờ ơ, trong tiếng ồn ào chửi bậy mọi người bắt đầu chen lấn vào thành. Người ngoài thành vào càng ngày càng ít, lúc này cách cửa không xa trên con đường vẫn còn hai chủ tớ đang đứng. Chủ nhân khoảng chừng năm mươi tuổi đầu đội bình khăn mặc áo bào màu xanh, da trắng nõn cưỡi trên một con lừa màu trắng, theo sau là một gã trẻ tuổi khoảng mười tám mười chín tuổi, mặc áo vạt ngắn trên vai gánh bộ hòm sách, bộ dáng hai người này vô cùng bình thường, nhìn chẳng khác nào là thư sinh du học.

- A bá, người ngoài thành đã hết sao chúng ta không đi vào.

Người trẻ tuổi sốt ruột khó chịu nói.

Người đàn ông trung niên vuốt râu chậm rãi nói:

- Không vội, chờ họ đi hết rồi chúng ta đi vào cũng không sao.

Người đàn ông trung niên tên là Vương Thần, đến từ Thái Nguyên, tuy nhìn quần áo đơn giản nhưng lão là gia chủ của Vương thị - một trong bảy đại thế gia ở Thái Nguyên. Vương thị ở Thái Nguyên thời Đổng Trác cực kỳ thịnh, lấy Tư Đồ Vương Doãn làm nhân vật đại biểu, nhưng trong loạn Lý Thôi, gia tộc Vương Doãn bị họa diệt môn, Thái Nguyên Vương thị cũng bị đả kích khá lớn.

Nhưng đó dù sao cũng là đệ nhất thế gia Tịnh Châu nhân tài xuất hiện lớp lớp. Chỉ trong thời gian ngắn hơn hai mươi năm, Thái Nguyên Vương thị một lần nữa lại hưng thịnh trở lại, không chỉ có con cháu trải rộng làm quan khắp Tịnh Châu mà cũng có một vài nhân vật được làm quan lớn trong triều đình, ví như đệ đệ của Vương thần là Vương Lăng làm quan đảm nhiệm chức Ngụy quốc Thượng thư.

Ở Hán quốc cũng có không ít con cháu Vương thị làm quan, ví như con trai Vương Thần là Vương Vũ tham gia cử sĩ Tương Dương, được bổ nhiệm làm Giang Huyện thừa, còn nữa, em trai của Vương Thần là Vương Xuân lại được Lưu Cảnh phong làm Thái thú quận Hà Khúc, vì Hán quốc khai thác phát triểu Hà Khúc.

Đối với thế gia mà nói, quyền lực cũng không quan trọng, chỉ có kế thừa mới là nhất, quyền lực chẳng qua chỉ là công cụ của việc kế thừa thôi cho nên bất kể làm quan ở Ngụy quốcc hay Hán quốc đối với gia tộc Vương thị cũng chỉ là một chuyện.

Lần này Vương Thần tự mình đến Nghiệp Đô chính vì vụ án Dương Bưu, cha con Dương Bưu bị bắt, huynh đệ Thôi Lâm bị bắt. Hai tộc trưởng của sĩ tộc đều bị bắt bỏ tù, việc này đối với thiên hạ là một chấn động lớn, vì tìm kiếm chân tướng, Vương Thần không tiếc ngàn dặm bôn ba chạy đến Nghiệp Đô.

Binh lính thủ cửa thành không làm khó lão, dù sao người cưỡi lừa du ngoạn thật sự nhiều lắm nên lão thuận lợi tiến vào Nghiệp Đô. Lần trước Vương Thần đến Nghiệp Đô là năm năm trước, lão đã quên mất phủ đệ huynh đệ của mình ở nơi nào rồi.

- Lão gia, để con đi hỏi thăm.

Người tùy tùng đi cùng hỏi thăm đường, rốt cuộc đã tìm được phủ của Thượng thư Vương Lăng, tùy tùng chạy lên bậc thang nói:

- Nhanh đi bẩm báo với lão gia nhà ngươi, nói gia chủ ở Thái Nguyên đến rồi.

Vương Lăng là đệ đệ của Vương Thần, làm quan nhiều năm trong triều đình, y tuy có xuất thân sĩ tộc nhưng lại được Tào Tháo ưu ái thăng quan tiến chức nhanh chóng. Ở Ngụy quốc sau khi lên đảm nhiệm chức Thượng thư, quyền cao chức trọng, năm nay Vương Lăng mới năm mươi tuổi, là cháu của tiền Tư Đồ Vương Doãn, là nhân vật thứ hai trong gia tộc Vương thị Thái Nguyên.

Dù có thế nào Vương Lăng cũng không ngờ huynh trưởng đến Nghiệp Đô, y mời huynh trưởng vào thư phòng lệnh thị nữ dâng trà, lúc này mới cười nói:

- Huynh trưởng sao lại đột nhiên đến nơi này, ở Thái Nguyên xảy ra chuyện gì sao?

Vương Thần uống một ngụm trà, chậm rãi nói:

- Ở Thái Nguyên không có chuyện gì xảy ra cả nhưng Nghiệp Đô lại xảy ra đại sự, sao ta có thể không tới được.

Vương Lăng trầm ngâm nói:

- Huynh trưởng nói đến đại án hai nhà Dương Thôi thông đồng với địch sao?

- Đúng vậy, tình hình bây giờ thế nào rồi?

- Dương Bưu và Thôi Lâm đã được thả ra, cắt chức quan, Dương Tu và Thôi Diễm đưa ra công khai xử trảm, ngày xử trảm người đến tấp nập hơn phân nửa mọi người ở Nghiệp Đô đến xem, nhìn cảnh đó thật là bi thảm, đệ đến nay vẫn chưa quên được, nhớ tới liền thấy khó chịu.

Vương Lăng thở dài một tiếng, giọng điệu vô cùng bi thương.

Vương Thần cũng ảm đạm, một lúc lâu lão mới thở dài một tiếng nói:

- Giết gà dọa khỉ, Tào Tháo giết Dương Tu và Thôi Diễm chỉ để cho thế gia chúng ta xem thôi, lão ta cảnh cáo chúng ta, nếu ai còn dám qua lại với Lưu Cảnh, ngay cả tính mạng của chúng ta cũng khó bảo toàn được.

- Cho dù là như vậy huynh trưởng cũng không cần kích động như vậy, còn đặc biệt đến Nghiệp Đô một chuyến, sự việc này kỳ thật không nghiêm trọng như vậy.

- Lời này ngươi nói có ý gì?

Vương Thần nhướng mày hỏi:

- Sao nói là sự việc này không nghiêm trọng như vậy?

- Chuyện này kỳ thật không riêng gì vì cảnh cáo thế gia mà còn có liên quan đến tranh giành Phi Thực, lần đọ sức này Tào Thực đại bại, hắn ta kế thừa Ngụy quốc chỉ là hy vọng mong manh.

- Tào Tháo tuyên bố lập Thế tử sao?

- Còn chưa, không nhanh như thế, thân thể của Ngụy công cũng không khỏe, không sống được mấy năm nữa rồi.

Vương Thần trầm mặc chốc lát nói:

- Ta không quan tâm đến cuộc tranh giành giữa Phi Thực, ta chỉ quan tâm đến vận mệnh của gia tộc Vương thị chúng ta, lần này đại án Dương Thôi cho thấy Tào Tháo chắc chắc mất thiên hạ, Lưu Cảnh sớm muộn cũng lên nắm quyền, ta quyết định gia tộc Vương thị chúng ta hoàn toàn nhập về Lưu Cảnh, ta đến Nghiệp Đô chính muốn thương lượng với đệ việc này, đệ cũng viết phong thư đi, ta thay đệ mang đến Trường An.

- Huynh trưởng sao không chờ thêm thời gian nữa.

Vương Thần lắc đầu:

- Đại án Dương Thôi khiến tất cả trái tim sĩ tộc băng giá rồi, ta nghĩ Thôi thị ở Bắc Lăng và Thanh Hà, Dương thị ở Hoằng Nông, Tuân thị ở Dĩnh Xuyên thời gian đều đã đưa ra lựa chọn cho mình, sự việc không nên chậm trễ nữa, chúng ta đến Trường An sớm ngày nào chiếm được thế ngày đó.

Chương 810: Thám báo gặp phong ba

Những năm đầu Đông Hán, Hung Nô bị phân liệt thành hai bộ Nam và Bắc. Từ khi Bắc Hung Nô bị quân Hán và Nam Hung Nô đánh bại, bị buộc phải di cư về phía tây. Tiên Ti Đông Hồ nhân cơ hội quật khởi ở thảo nguyên Mạc Bắc, thế lực của Nam Hung Nô không ngừng bị chèn ép, chỉ có thể phát triển về hướng nam.

Cuối thời Đông Hán, Nam Hung Nô lại phát sinh nội chiến, Thiền Vu Khương Cừ bị kẻ phản loạn giết chết. Con trai y là Vu La Phu lưu vong đến Trung Nguyên, phát triển ở vùng Tịnh Châu và Trung Nguyên. Cũng chính là từ lúc này, người Hung Nô bắt đầu tham dự sâu vào loạn Hán Mạt.

Vu La Phu lưu vong Trung Nguyên được bảy năm thì qua đời, đệ đệ là Hô Trù Tuyền kế nhiệm vị trí Thiền Vu, tịnh phong cho trưởng tử Lưu Báo của Vu La Phu làm Tả Hiền Vương, phong cho thứ tử Khứ Ti của Vu La Phu làm Hữu Hiền Vương.

Không lâu sau, dưới sự giúp đỡ của Viên Thiệu, Hô Trù Tuyền dẫn quân Hung Nô lưu vong giết trở về Nam Hung Nô, phục quốc thành công, khống chế được một lãnh thổ rộng lớn bao gồm phía nam Âm Sơn, bắc bộ Tịnh Châu và vùng Hà Sóc.

Tuy rằng trung tâm quyền lực của Nam Hung Nô bắc thượng thuận theo việc Hô Trù Tuyền phục quốc, nhưng Nam Hung Nô vẫn duy trì thế lực mạnh mẽ ở Trung Nguyên như trước. Trong đó Tả Hiền Vương Lưu Báo khống chế vùng bắc bộ Tịnh Châu, mà Hữu Hiền Vương Khứ Ti thì khống chế vùng Quan Nội.

Sau khi thế lực phương nam của Lưu Cảnh vừa đoạt được Quan Lũng, không thể tránh được mà chạm mặt với thế lực của Nam Hung Nô.

Mặc dù đã trôi qua một năm, nhưng quân Hán lần lượt đánh bại thế lực Khương Đê ở Lũng Tây và Hà Tây, ổn định phía tây Quan Trung. Nhưng cùng với chế định của một quốc sách trọng đại của Hán Quốc dời đô về Trường An, quân Hán rốt cuộc cũng không thể không bắt đầu đối mặt với thế lực Nam Hung Nô thâm nhập Trung Nguyên đã lâu, mà đứng mũi chịu sào chính là thế lực của Hữu Hiền Vương Khứ Ti ở vùng Quan Nội.

Vùng Quan Nội cũng tức là khu vực Thiểm Bắc và Ninh Hạ ngày nay, Hán Vương thiết lập tại đây bốn quận là Thượng Quận, quận Bắc Địa, quận Sóc Phương và quận An Định. Nhưng từ cuối thời Đông Hán đến nay, các dân tộc xung quanh đều ùa vào Quan Nội, trong đó người Hung Nô là nhiều nhất, sử gọi là "Nhân khẩu Quan Nội hơn trăm vạn, có một nửa là Nhung Địch, Hung Hán tạp cư."

Trên thực tế, vùng Quan Nội chỉ do người Hung Nô làm chủ đạo, ngoài ra còn có Ô Hoàn, Khương, Đê, Hạt, Tiên Ti, tạp Hồ cùng sinh sống. Kỵ binh mang giáp có hơn hai mươi vạn, uy hiếp Quan Trung và Hà Đông như hổ rình mồi. Hán Quốc dời đô Trường An, khoảng cách đến thế lực Hung Nô nhất cũng không quá hai trăm dặm đường, trong vòng một ngày là thiết kỵ Hung Nô có thể giết đến Trường An.

Mặc dù Lưu Cảnh biết rõ thế lực Hung Nô hùng mạnh, nhưng tình thế lại mạnh hơn người, giải trừ uy hiếp của tạp Hồ ở Quan Nội đối với Quan Trung đã trở thành điều kiện tiên quyết, cũng là khiêu chiến rất lớn mà Lưu Cảnh không thể không đối mặt.

Nhưng tình hình của vùng Quan Nội phức tạp, người Hung Nô tới lui bất định. Trong các tộc tạp Hồ hỗn cư, có người Hồ được Hán hóa cùng làm nông canh để sinh sống với người Hán, cũng có Hồ tộc dùng mãnh sống bằng du mục. Cho nên, định ra một kế sách đánh Hồ toàn diện, liền trở thành nhiệm vụ thiết yếu trước khi quân Hán ồ ạt tiến công.

Quận An Định tọa lạc giữa Lũng Tây và Quan Nội, trong đó có Lục Bàn Sơn kéo dài ngàn dặm nằm vắt ngang, trở thành thành lá chắn thiên nhiên ở phía bắc Quan Trung, khiến cho quận An Định bị phân làm hai.

Lưu vực Kinh Thủy phía nam Lục Bàn Sơn là vùng tập trung nông canh, nhân khẩu đông đúc, đất đai phì nhiêu, từ xưa đã là nơi giàu có và đông đúc của Quan Trung. Nơi này có mấy vạn nhân khẩu, trong đó người Hán chiếm một nửa, ngoài ra còn có Khương, Ô Hoàn và một bộ phận người Hung Nô. Bọn họ là người Hồ được Hán hóa, lấy nông canh làm nghiệp, phối hôn với nhau, ranh giới với người Hán đã mơ hồ.

Buổi sáng hôm nay, một đội kỵ binh thám báo quân Hán khoảng hai mươi người phi ngựa dọc theo Lục Bàn Sơn và hà cốc hăng hái lao nhanh về phía tây bắc. Đội kỵ binh thám báo này trực thuộc Tế Liễu Doanh. Bọn họ phụng lệnh của Chủ tướng Tế Liễu Doanh Bàng Đức bắc thượng quận An Định thăm dò tình báo, chủ yếu là thăm dò tình hình vùng Tiêu Quan.

Đội kỵ binh thám báo này do một gã Quân hầu chỉ huy, có tên là Vi Tấn, người Kinh Triệu, một chi của đại tộc Vi thị ở Kinh Triệu, tuổi tầm hai mươi sáu hai mươi bảy, thân hình cao lớn khôi ngô, gương mặt rộng, mũi to, làn da ngăm đen, vốn mang văn chức Tòng quân ở Tào doanh, sau khi đầu hàng quân Hán thỉ đảm nhiệm chức Quân hầu thám báo, tuy chỉ có một năm, nhưng vô cùng thông minh khéo léo.

Kỵ binh phi nhanh như chớp xông lên một ngọn đồi thấp. Rừng tùng trên sườn đồi rậm rạp, cao vút bốn phía, là vị trí tốt nhất để thăm dò tình hình xung quanh. Vi Tấn thấy trời đã sắp đến giữa trưa, liền nói với đám kỵ binh:

- Xuống ngựa nghỉ ngơi tại chỗ, nửa canh giờ sau xuất phát!

Đám kỵ binh đều xuống ngựa, lấy túi nước trên lưng ngựa xuống, cho chiến mã uống nước và ăn cỏ khô. Lo xong chiến mã, bọn họ cũng tự mình tìm nơi ngồi xuống, uống nước ăn lương khô. Vi Tấn tìm được một tảng đá lớn bằng phẳng, lấy một tấm bản đồ thám báo ra.

Trước mắt bọn họ đang ở trong sơn mạch của Lục Bàn Sơn, buổi sáng đã đi xuyên qua Đàn Tranh Hiệp (hiệp là eo sông), tiến vào trong một thung lũng của Lục Bàn Sơn, bốn phía núi cao sừng sững, địa thế trong thung lũng thấp phẳng, khắp nơi là ruộng lúa mạch mênh mông bát ngát. Vi Tấn vẽ ra một hình tam giác nhỏ trên địa đồ, đấy chính là ngọn đồi bọn họ đang đứng.

- Trương Vũ, tới đây một chút!

Vi Tấn quay đầu hô một tiếng. Lập tức, một gã Thập trưởng tất tả chạy đến:

- Quân hầu tìm thuộc hạ sao?

Vi Tấn dùng thanh gỗ chỉ vào ngọn núi kéo dài liên miên, hỏi:

- Nơi chúng ta đang đứng có tên là gì, Tiêu Quan ở đâu?

Binh sỹ Trương Vũ chính là người bản địa, rất quen thuộc với tình hình xung quanh. Gã gác bàn tay lên trán nhìn ra đằng xa một hồi, ngoài mười mấy dặm chính là Lục Bàn Sơn kéo dài mà hiểm trở, bốn phía núi cao ngất trời, bọn họ vừa lúc bị vây trong một thung lũng nho nhỏ trong quần sơn kia.

Trương Vũ suy nghĩ rồi nói:

- Nơi này có tên là Trú Hương Cốc, là một thung lũng có tiếng của Lục Bàn Sơn, chịu sự quản hạt của huyện Ô Thị. Nếu thuộc hạ nhớ không lầm, phía trước hẳn là một có tiểu trấn, tên là trấn Na Thành, là nơi tiếp tế cuối cùng trước khi thương nhân xuất quan. Lúc nhỏ thuộc hạ đã từng đi qua đây một lần, cửa hàng rất nhiều. Rời khỏi trấn Na Thành đi về phía bắc thêm bảy tám dặm nữa sẽ tiến vào chỗ núi cao cốc sâu. Mộc Hiệp Quan trong Tiêu Quan ở tận cùng phía bắc. Kỳ thực Tiêu Quan cũng không phải là một quan ải, mà là do ba tòa quan ải tạo thành. Từ phía bắc là Mộc Hiệp Quan, đến phía nam là Lục Bàn Quan, ở giữa là Ngõa Đình Quan. Đoạn đường tổng cộng dài khoảng hai mươi mấy dặm, địa thế hiểm yếu, có xây Trường Thành. Ở ngoài ba tòa quan khẩu lần lượt xây dựng ba tòa quân thành, nhưng mà có lẽ đều đã bị bỏ không.

Vi Tấn vừa nghe, vừa dùng bút chì than ghi chép trên địa đồ. Y thu hồi bản đồ, đi đến bìa rừng tùng phía bắc nhìn ra xa, thấy loáng thoáng được một tiểu trấn. Lúc này, một thương đội gồm hơn trăm con lừa ngựa, chứa đầy hàng hóa đang từ bên cạnh ngọn đồi đi qua, đi về phía tiểu trấn. Nơi đó có lẽ là trấn Na Thành.

Vi Tấn trở về nói với đám binh sỹ:

- Nghỉ ngơi thêm một chút thì xuất phát, đêm nay nhất định phải qua được Mộc Hiệp Quan.

Sau nửa canh giờ, Vi Tấn ra lệnh một tiếng, các binh sỹ đếu nhất loạt lên ngựa, thúc ngựa lao xuống đồi, dọc theo quan đạo gấp gáp chạy về phía trấn Na Thành, cả đoạn đường bụi đất cuồn cuộn. Lúc cách tiểu trấn chỉ còn một dặm, phía trước bỗng có mấy người thương nhân cưỡi ngựa chạy đến, vẻ mặt sợ hãi gấp gáp, liều mạng phất tay về hướng bọn họ. Vi Tấn nhận ra, chính là thương đội mà y nhìn thấy trên sườn đồi cách đấy không lâu.

- Đã xảy ra chuyện gì?

Vi Tấn tiến lên nghênh đón, hỏi.

Mấy người thương nhân nhìn thấy quân Hán, trong lòng hơi ổn định, vây quanh Vi Tấn mồm năm miệng mười:

- Kỵ binh người Hồ đang cướp sạch tiểu trấn, đến đâu thì giết người cướp của đến đó, toàn bộ hàng hóa của chúng tôi đều bị cướp đi rồi.

Vi Tấn cả kinh, quân đội người Hồ rất ít tiến vào Tiêu Quan, sao hôm nay lại xuất hiện? Y liền hỏi:

- Có bao nhiêu kỵ binh người Hồ?

- Có hơn hai ngàn người, các ngài đi nhanh đi! Chắc chắn là bọn họ còn muốn nam hạ.

Vi Tấn lập tức ý thức được mức độ nghiêm trọng của vấn đề, đã có mấy ngàn Hồ kỵ đi xuyên qua Lục Bàn Sơn tiến vào địa giới Quan Trung. Đây là hành vi khiêu khích quân sự cực kỳ nghiêm trọng, là tình báo vô cùng trọng yếu, thậm chí có liên hệ đến toàn bộ chiến cục.

Y nhất định phải báo cáo cho Chủ tướng, Vi Tấn lập tức nói với Trương Vũ:

- Ngươi dẫn theo mười huynh đệ lập tức trở về quân doanh bẩm báo việc này với Bàng tướng quân.

- Tuân mệnh!

Trương Vũ vung tay lên:

- Đi theo ta!

Y chỉ huy mười tên thủ hạ quay đầu đi về phía nam, mấy người thương nhân cũng đi cùng bọn họ, dần dần đã đi xa. Vi Tấn thấy đám người Trương Vũ đã biến mất, mới nói với mười tên thủ hạ còn lại:

- Bỏ qua trấn Na Thành, chúng ta đi Tiêu Quan xem thử.

Bọn họ đi theo một con đường nhỏ khác, ý đồ vòng qua khỏi trấn Na Thành, không ngờ bọn họ vừa đi ra khỏi đó một dặm đường, trên đỉnh đầu liền có một mũi tên bắn qua, phát ra tiếng rít the thé (đây là một loại mũi tên có thể phát ra tiếng kêu khi bắn). Vi Tấn giật mình kinh hãi, ghìm chặt chiến mã, chỉ thấy từ bốn phương tám hướng có mấy trăm Hồ kỵ xông đến, bao vây, vô số mũi tên đã nhắm vào bọn họ.

- Đừng chống cự!

Vi Tấn thấp giọng ra lệnh. Bất kể như thế nào bọn họ cũng không đánh lại mấy trăm kỵ binh, sẽ không không mà chịu chết. Y thấy những tên Hồ kỵ này thân mặc bì giáp màu đỏ, liền đoán được bọn họ hẳn là người Ô Hoàn.

Lúc này, một gã đầu lĩnh Hồ kỵ thúc ngựa đi ra. Bộ dạng của gã cực kỳ hùng tráng, nước da ngăm đen, một đôi mắt báo linh hoạt, sắc bén nhìn chằm chằm vào Vi Tấn, một lúc lâu sau mới lạnh lùng nói:

- Các ngươi là người nào, tới đây làm gì?

Thứ tiếng gã nói là Hán ngữ, không lưu loát, miễn cưỡng có thể nghe hiểu. Vi Tấn ngạo nghễ nói:

- Đây là lãnh thổ của Hán Quốc, chúng ta đang tuần tra, không phải là hoàn toàn chính đáng sao? Các ngươi là ai, dám giết người phóng hỏa trong lãnh thổ Hán Quốc!

Gã đầu lĩnh Hồ kỵ híp mắt theo dõi y, trong mắt hoài nghi bất định. Bỗng nhiên gã cười phá lên, mấy trăm Hồ kỵ ở bốn phái cũng cười theo, gã đầu lĩnh Hồ kỵ vừa dứt tiếng cười, liền lãnh đạm nói:

- Thấy các ngươi không chống cự, ta tha các ngươi một mạng. Người đâu! Dẫn bọn chúng về doanh địa.

Mấy trăm Hồ kỵ xông lên, tước đoạt binh khí của bọn họ, trói hai tay họ ra sau lưng, dắt ngựa của bọn họ đi về phía Tiêu Quan.

Đám Hồ kỵ này là một đại bộ lạc của tộc Ô Hoàn. Người Ô Hoàn chia ra làm hai bộ, bộ phận chủ yếu thì chuyển đến Liêu Đông và U Châu, một bộ phận khác thì chuyển đến Thượng Quận và quận An Định của Quan Nội, cùng sống chung một chỗ với người Hung Nô, thủ lĩnh Lỗ Tích tự xưng là Ô Hoàn Vương.

Mà bộ lạc Ô Hoàn ở quận An Định có khoảng hơn ba vạn người, có bảy ngàn kỵ binh tinh nhuệ, Tù trưởng tên là Biên Thứ, mà thủ lĩnh kỵ binh Ô Hoàn đã bắt thám báo quân Hán làm tù binh chính là con trai Xích Ninh. Gã dẫn hai ngàn kỵ binh thâm nhập Kinh Thủy, chuẩn bị đoạt lấy nhân khẩu tài vật, không ngờ lại vừa lúc gặp phải thám báo quân Hán.

Xích Ninh có chút lo lắng Tướng Hán đến, không nam hạ nữa, mà áp giải đám người Vi Tấn trở về đại doanh, bẩm báo với phụ thân.

Bọn họ đi một mạch về phía bắc, xuyên qua khe núi gập ghềnh trong lòng Lục Bàn Sơn, ra khỏi Mộc Hiệp Quan, dưới chân núi Lục Bàn Sơn chính là huyện Cao Bình. Lúc này, huyện thành đã trở thành cứ điểm của người Ô Hoàn ở quận An Định. Hơn phân nửa nhân khẩu trong huyện thành đã bỏ chạy, nhà ở trong thành đều bị người Ô Hoàn chiếm cứ, dùng để an trí cho phụ nữ trẻ con và người già yếu.

Ở ngoài thành có mấy ngàn đại trướng, một nhánh sông như đai ngọc vắt ngang tòa thành, đây chính là doanh địa của Ô Hoàn An Định. Phía bắc mấy trăm dặm đều là địa bàn của họ, dùng chăn nuôi mà sống, một nhóm người gieo trồng lúa mỳ trên đất đai phì nhiêu ở bốn phía.

Biên Thứ năm nay tuổi đã ngoài năm mươi, thân hình cao to cường tráng, có hơn mười người thê thiếp, sinh cho lão một đàn con trai, nhưng chỉ có hai đứa con trai sống đến tuổi trưởng thành. Trưởng tử Ô Huyền, đang làm thị vệ bên cạnh Hữu Hiền Vương Hung Nô, thứ tử Xích Ninh thì đi theo bên cạnh lão.

Một năm trở lại đây, trong lòng Biên Thứ có chút bất an. Quân Hán xuất binh mạnh mẽ với quy mô lớn ở Lũng Tây và Hà Tây, tiêu diệt các bộ người Khương Đê. Tuy rằng vẫn chưa bắc thượng, nhưng một điềm báo chẳng lành đã bao trùm lấy các bộ ở Quan Nội. Chiếu theo cách nghĩ của Biên Thứ, nên đi Trường An biểu lộ sự thần phục đối với Lưu Cảnh, theo truyền thống mà tiến công dê bò. Mấy trăm năm qua, người Ô Hoàn đều tiến cống với vương triều nhà Hán, cầu đạt được sự che chở của vương triều.

Nhưng hai tháng trước, trưởng tử mang đến mộc tiễn lệnh của Hữu Hiền Vương Khứ Ti từ Xa Diên Trạch đến, các bộ tộc không được tự tiện đầu hàng Hán Quốc, kẻ trái lệnh diệt tộc. Việc này khiến Biên Thứ không dám phái người đến Trường An thần phục. Ngày ngày lão đều khẩn cầu trời xanh phù hộ, quân Hán xuất binh Thượng Quận trước, để tên Lỗ Tích kia đau đầu đi.

Lúc này, có thị vệ ngoài đại trướng bẩm báo, Thiếu tù trưởng Xích Ninh đã trở về, còn bắt được mấy tên thám báo quân Hán. Tin tức này khiến cho Biên Thứ chấn động.

Chương 811: Hán kỵ vừa đến

Biên Thứ cuống quít chạy ra khỏi đại trướng, nghênh diện con trai Xích Ninh bước nhanh đến:

- Chuyện ra sao?

Biên Thứ huơ tay lớn tiếng hỏi:

- Sao con lại bắt giữ thám báo của quân Hán?

Xích Ninh quả thật có chút khinh bỉ đối với sự nhát gan của phụ thân, gã hừ một tiếng, nói:

- Nếu không bắt bọn họ, việc chúng ta cướp bóc trấn Na Thành há không phải sẽ truyền về Quan Trung sao?

Biên Thứ đỏ mặt. Sai con trai suất quân đi về phía nam Lục Bàn Sơn cướp bóc lương thực và tài vật là ý của lão, chỉ định tốc chiến tốc thắng, không ngờ lại chạm trán thám báo quân Hán, bắt thì không được, mà không bắt cũng không xong. Biên Thứ ngây ngẩn cả nửa ngày trời, rồi mới nói với con trai:

- Nếu đã bắt rồi, cũng không còn cách nào khác, tạm thời không nên làm họ bị thương, chỉ cần nhốt lại là được. Ngoài ra dẫn thủ lĩnh của bọn họ đến đây, ta muốn hỏi một chút.

Xích Ninh quay đầu căn dặn vài câu, mấy tên binh sỹ chạy đi như bay. Biên Thứ trong lòng lo lắng, xoay người trở về đại trướng. Con trai Xích Ninh đi theo vào, nói:

- Phụ thân sợ cái gì chứ, có người Hung Nô ở phía sau chống đỡ. Nếu như quân Hán đến, cứ để người Hung Nô đánh là được.

Biên Thứ thở dài:

- Sự tình nào có đơn giản như vậy, Lưu Khứ Ti nổi danh âm độc. Y đã sớm muốn nuốt chửng Ô Hoàn chúng ta, chỉ sợ y mượn cơ hội này để chúng ta đánh nhau với quân Hán. Cuối cùng y đến vét, tiện thể ăn luôn cả bộ khúc của chúng ta.

- Vậy Lỗ Tích thì sao, y không phải sẽ tự xưng là Ô Hoàn Vương chứ? Lúc này hẳn là y sẽ ra mặt mới đúng.

Xích Ninh nhướng mày nói.

Biên Thứ vẫn lắc lắc đầu:

- Bình thường chúng ta lờ y, lúc này trông cậy y xuất đầu, có lẽ không có khả năng lắm. Ta chỉ hy vọng quân Hán xuất binh Thượng Quân, để cho Lỗ Tích đến khẩn cầu chúng ta.

Hai cha con đang nói chuyện, thì mấy tên binh sỹ dẫn thủ lĩnh thám báo Vi Tấn đi vào. Vi Tấn đứng thẳng người, ngẩng đầu nhìn đại trướng, không nói một lời. Xích Ninh giận dữ, rút đao đặt lên cổ y, quát to:

- Ngươi cho rằng ta không dám giết ngươi sao?

- Bỏ đao xuống!

Biên Thứ giận dữ quát một tiếng:

- Đi ra ngoài cho ta.

Xích Ninh hừ thật mạnh một tiếng, thu đao vào vỏ, xoay người giận đùng dùng rời khỏi đại trướng. Biên Thứ tiến lên trước, dùng Hán ngữ thuần thục của mình cười nói:

- Ta nghĩ có lẽ là hiểu lầm, xin vị Tướng quân này đừng để ở trong lòng.

- Hiểu lầm?

Vi Tấn khinh thường cười lạnh, nói:

- Quân đội của các ngươi giết người cướp của ở trấn Na Thành, chạm trán với chúng ta, các ngươi sợ chuyện xấu lộ ra ngoài, liền bắt giữ chúng ta. Ta không hiểu, hiểu lầm ở chỗ nào?

Biên Thứ thở dài:

- Thật không dám dối gạt Tướng quân, chúng ta đi xuyên qua Lục Bàn Sơn, thật sự không phải là vì giết người cướp của, mà là muốn đi bắt tộc nhân bỏ trốn. Kết quả là quân kỷ không nghiêm, dẫn đến việc vi phạm quân kỷ xảy ra. Ta sẽ tự mình nghiêm minh trừng phạt. Tiếp theo là bọn chúng bắt các ngài, là vì cực kỳ ít gặp quân Hán ở vùng Lục Bàn Sơn, bọn chúng cho rằng quý quân muốn gây bất lợi cho chúng ta, cho nên ta mới nói là có thể có hiểu lầm.

Vi Tấn lắc lắc đầu, nói:

- Phía nam Lục Bàn Sơn thuộc về Quan Trung, chúng ta tuần tra ở biên cảnh, là việc hoàn toàn chính đáng, cũng không gây bất lợi với các người, mà là các người tự tiện vượt biên, bắt giữ binh sỹ trinh sát, đây là hành vi đối địch. Nếu thật là hiểu lầm như ngươi nói, vậy xin hãy lập tức thả chúng ta trở về, sau đó phái người giải thích lý do các người vượt biên. Như thế có lẽ có thể tránh được chiến tranh. Ta nói như thế thôi, tự ngươi suy xét đi!

Trong lòng Biên Thứ quả thật có chút khó xử, cái gọi là hiểu lầm chẳng qua chỉ là lão nói cho có thôi. Lão muốn từ trong miệng tên quân Hán này moi ra kế hoạch xuất binh của đối phương, cứ như vậy mà thả về, lạo lại không cam tâm. Lão suy nghĩ một chút lại nói tiếp:

- Các ngài chưa từng trinh sát ở Tiêu Quan, sao lần này lại xuất hiện. Ta chỉ có thể hiểu được là vì các ngài chuẩn bị xuất binh. Ta không có ý đối địch với các ngài, nhưng nếu các ngài nhất định phải xuất binh tiến công bộ tộc của ta, ta sẽ động viên kỵ binh bộ tộc, cùng các ngài đánh một trận tử chiến.

Vi Tấn cười lạnh một tiếng, quay đầu nhìn ra ngoài trướng, không thèm để ý đến lão. Biên Thứ lại ba lần bốn lượt truy hỏi, Vi Tấn không thèm nhìn. Không biết làm sao, Biên Thứ đành phải ra lệnh cho tả hữu áp giải y xuống. Lúc này, Xích Ninh lại tiến vào trướng, nói:

- Phụ thân, lòng phòng người không thể không có. Nếu chúng ta không sớm chuẩn bị, một khi quân Hán giết đến, chúng ta sẽ mang nỗi lo diệt tộc.

Tuy rằng Biên Thứ cầu trời cho quân Hán đánh Thượng Quận, nhưng sự xuất hiện của kỵ binh thám báo quân Hán khiến cho lão ý thức được, quân Hán cực kỳ có thể muốn đi ra theo đường Tiêu Quan. Nếu là như vậy, bọn họ quả thật đã lâm vào hiểm cảnh rồi. Biên Thứ không có chủ kiến, đành phải thở dài nói:

- Vậy theo ý của con, chúng ta nên làm gì bây giờ?

- Rất đơn giản, chúng ta đem phụ nữ trẻ em và người già yếu lui về huyện Tam Thủy, hài nhi đích thân dẫn bảy ngàn quân tinh nhuệ bảo vệ Tiêu Quan. Nếu quân Hán thật đi theo ngõ Tiêu Quan, chúng ta có thể kịp thời cầu viện Hung Nô, nếu quân Hán đi Thượng Quận, thì chúng ta sẽ suất quân đi cứu viện Lỗ Tích, nhân cơ hội thôn tính bộ khúc của hắn.

Huyện Tam Thủy các huyện Cao Bình hơn ba trăm dặm về phía bắc, cũng là một tòa huyện thành do bọn họ khống chế, địa thế khá chênh lệch, quả thật có thể dời người già phụ nữ trẻ em đến đó trước. Chỉ có điều, việc Biên Thứ nghĩ đến là muốn đàm phán với quân Hán. Đàm phán thành công, bọn họ có thể tiếp tục ở lại Cao Bình. Đàm phán thất bại, bọn họ lui về huyện Tam Thủy cũng được. Như thế bọn họ liền nắm thế chủ động trong tay.

Nghĩ vậy, Biên Thứ liền gật gật đầu:

- Cứ dựa theo phương án của con mà làm!

Mấy ngày sau, một đội kỵ binh quân Hán khoảng sáu ngàn người đã đến huyện Ô Thị. Đội kỵ binh này do Thiên tướng Bàng Đức thống soái. Hồi đầu năm ngoái, Bàng Đức được điều từ Tương Dương đến Trường An, đảm nhiệm chức Chủ soái Tế Liễu Doanh, phụ trách huấn luyện kỵ binh. Trong thời gian hơn nửa năm, y đã dẫn một vạn năm ngàn kỵ binh đi tập huấn ở cao nguyên Tây Hải, mãi cho đến tháng trước mới dẫn quân trở về Quan Trung.

Mấy ngày trước, Bàng Đức nhận được bẩm báo của thám báo. Một đội kỵ binh Ô Hoàn vượt quan Lục Bàn Sơn, tiến vào địa giới Quan Trung giết người cướp của. Điều này đã cho quân Hán một cái cớ để xuất binh, Lưu Cảnh lập tức hạ lệnh Bàng Đức xuất binh đoạt lấy Tiêu Quan.

Huyện Ô Thị là một huyện nhỏ, thành trở nhỏ hẹp, nhân khẩu chỉ có mấy ngàn, lấy canh điền làm kế sinh nhai, trong dân cư có một nửa là người Ô Hoàn. Biên Thứ lợi dụng việc truy bắt những người dân Ô Hoàn này làm cái cớ, phái binh xuyên qua Lục Bàn Sơn tiến hành cướp bóc.

Quân đội của Bàng Đức vừa đến huyện Ô Thị, Biên Thứ liền phái sứ giả mang mười thám báo quân Hán đã bắt được trả trở về, cũng lệnh cho sứ giả đưa đến một công văn. Trong công văn giải thích với quân Hán về nguyên nhân mà quân Ô Hoàn vượt biên.

Bàng Đức đã đuổi sứ giả về, sai người tìm Quân hầu thám báo Vi Tấn đến. Vi Tấn tiến lên quỳ một gối hành lễ:

- Tham kiến Bàng tướng quân!

Bàng Đức biết rõ mỗi một tên quan quân từ Quân hầu trở lên, người tên Vi Tấn này y cũng nhận ra, là con cháu của Kinh Triệu Vi thị, lúc trước đọc sách sau lại tòng quân, là quan quân văn võ song toàn mà quân đội ít có. Vốn dĩ Vi Tấn là Tòng quân dưới trướng Chung Diêu, rất được Chung Diêu coi trọng, bị bắt trong trận chiến Trần Thương, sau khi đầu hàng quân Hán liền được điều đi nhậm chức trong đội thám báo, lúc huấn luyện ở cao nguyên Tây Hải cực kỳ khắc khổ, lưu lại ấn tượng sâu sắc cho Bằng Đức.

Bàng Đức mở tấm bản đồ do Vi Tấn vẽ, một lúc sau mới thản nhiên hỏi:

- Vì sao lúc bị bao vây, ngươi muốn binh sỹ không chống cự?

Vi Tấn ôm quyền nói:

- Hồi bẩm Tướng quân, ty chức và thủ hạ làm thám báo. Chức trách của thám báo là thăm dò hướng đi của quân địch, tìm hiểu địa hình, nắm rõ bố trí của quân địch, hoặc là tiêu diệt thám tử quân địch. Còn khoe cái dũng của kẻ thất phu mà phản kháng vô ích, bỏ thân nơi hoang dã, thì tuyệt không xứng làm thám báo, cũng không đủ tư cách làm tướng lĩnh.

Bàng Đức chậm rãi gật đầu, lại hỏi tiếp:

- Vậy ngươi có tình báo gì để báo cáo?

- Khởi bẩm Tướng quân, ty chức bị giam giữ ở trong huyện Cao Bình, tận mắt nhìn thấy người già yếu, phụ nữ và trẻ con rút khỏi, nghe nói là đi huyện Tam Thủy. Lúc ty chức trở về đi qua Mộc Hiệp Quan, phát hiện quân đóng ở Quan Nội có thay đổi rất lớn.

- Có thay đổi gì?

Bàng Đức hứng chí hỏi.

- Lúc đầu khi ty chức bị áp giải qua cửa quan, ba ngọn lửa hiệu trên Trường Thành đã lạnh tanh, nhìn không thấy một binh sỹ, nhưng khi trở về, lại phát hiện cùng nơi đó đã đóng trọng binh. Bởi vậy có thể suy đoán, người Ô Hoàn cũng không có ý đầu hàng, chuẩn bị dựa vào địa thế hiểm yếu cùng chúng ta quyết chiến!

- Vậy tại sao người Ô Hoàn còn muốn trả các ngươi trở về, còn viết thư cầu hòa nói lời khiêm tốn nữa?

Bàng Đức cầm công văn trong tay huơ tới lui.

Vi Tấn cười lạnh nói:

- Bởi vì Tướng quân có chuyện không biết, người viết thư là Tù trưởng Biên Thứ. Lúc lão thẩm vấn ty chức, ty chức đã cảm thấy lão thái độ không chừng, trong lòng khó quyết đoán, lão muốn dùng cái giá nhỏ nhất để đổi lấy lợi ích bản thân. Mà người lãnh binh là con trai lão Xích Ninh, y lại là người cứng rắn chủ chiến. Y không đồng ý với phụ thân.

- Làm sao ngươi biết bọn họ không hợp ý nhau về thái độ đối với quân Hán?

- Bởi vì khi ty chức trở về, ở cửa quan, Xích Ninh đã cảnh cáo một câu. Ty chức chính tai nghe Xích Ninh mắng to phụ thân yếu đuối. Y dùng tiếng Hung Nô, cho rằng ty chức nghe không hiểu. Nhưng trên thực tế, ty chức hoàn toàn có thể nghe hiểu được tiếng Hung Nô, chỉ là sau khi ty chức bị bắt không biểu lộ ra mình biết nói tiếng Hung Nô, vì vậy có được không ít tình báo hữu ích.

Bàng Đức cười ha ha, giơ ngón cái lên khen:

- Đến bị bắt cũng thăm dò được tình báo, đây mới là thám báo đủ tư cách. Lần này bị bắt, ngươi có công!

Vi Tấn mừng rỡ, khom người thi lễ:

- Đa tạ Tướng quân nhân đức!

- Ta không phải là nhân đức, chỉ là luận theo sự việc mà nói thôi, ngươi không cần phải cảm tạ ta.

Bàng Đức trầm ngâm một hồi, lại nói:

- Nếu Ô Hoàn bố trí trọng binh ở Mộc Hiệp Quan, quả thật bất lợi với kỵ binh của chúng ta tiến công. Ta viết một phong thư, ngươi lập tức đến Trường An giao phong thư này cho Hán Vương điện hạ, cũng giáp mặt báo cáo tình báo của Ô Hoàn ở An Định cho ngài.

Vi Tấn tiến lên gật gật đầu:

- Nguyện dốc sức vì Tướng quân!

Chương 812: Mưu đồ của tiểu nhân vật

Vi Tấn chỉ huy mười thủ hạ chạy một mạch về Trường An. Sáng hôm sau, Vi Tấn chỉ huy đội kỵ binh thám báo đã đến huyện Thuần Cô. Huyện Thuần Cô là một huyện nằm ở cực nam của quận An Định. Đi qua huyện Thuần Cô, là tiến vào vùng Kinh Triệu. Bọn họ không dừng lại ở huyện thành, trực tiếp đi qua khỏi huyện thành Thuần Cô. Lúc tiếp tục phi nhanh về phía nam chưa được năm dặm, đám người Vi Tấn đều ghìm chặt chiến mã, chỉ thấy trên quan đạo, cách đó hơn mấy mươi bước xuất hiện đại đội binh sỹ, tay cầm quân nỏ, chặn ngang đường đi bọn họ.

Một lát sau, một gã quan quân chạy đến, lớn tiếng hỏi:

- Các ngươi là ai?

Vi Tấn thấy đối phương cũng là quân Hán, liền tiến lên chắp tay nói:

- Chúng ta là bộ hạ của Bàng tướng quân, đến Trường An bẩm báo quân tình cho Hán Vương.

Quan quân liếc mắt nhìn bọn họ, lại hỏi:

- Có gì làm bằng chứng?

Vi Tấn lấy quân bài của của mình ra ném qua, gã quan quân cầm rồi xem tới xem lui, sau đó liền nói với thủ hạ:

- Thu hồi binh khí của bọn họ, dẫn bọn họ đến đại trướng của Hán Vương.

Lúc này Vi Tấn mới biết, hóa ra Hán Vương đang ở huyện Thuần Cô. Trong lòng y vừa khẩn trương, vừa mong chờ, lệnh cho thủ hạ giao nộp binh khí, rồi theo binh sỹ đi về phía nam. Bọn họ rất nhanh đã tiến vào quân doanh. Lều trướng kéo dài mấy mươi dặm, như che trời phủ đất, ít nhất cũng phải mấy vạn đại quân. Bọn họ đi đến trước một tòa đại trướng to lớn được canh giữ sâm nghiêm. Đây chính là Vương trướng, binh sỹ trinh sát tuần tra giao bọn họ cho thị vệ của Hán Vương.

Lại trải qua một lượt kiểm soát nghiêm ngặt, thị vệ mới dẫn Vi Tấn đi đến trước trướng.

Trong đại trướng, có đặt một cái sa bàn khổng lồ, dài rộng đều ba trượng, do bốn cái sa bàn nhỏ tạo thành. Lưu Cảnh đang cùng Giả Hủ, Pháp Chính, Triệu Vân, Trương Nhậm và các quan văn võ đứng trước sa bàn bàn bạc về quân tình.

Mấy ngày trước, Lưu Cảnh nhận được tin tức từ Bàng Đức, đã có mấy ngàn Hồ kỵ vượt qua Lục Bàn Sơn, tiến vào địa giới Quan Trung giết người cướp của. Đây là tình hình chưa từng xảy ra sau cuộc chiến Quan Độ. Lúc Tào Tháo còn nắm Quan Trung trong tay, Hồ kỵ trước giờ đều không dám tiền vào Quan Trung một bước. Nay quân Hán của hắn đã khống chế được Quan Trung, Hồ kỵ lại dám vượt biên giết người. Điều này khiến Lưu Cảnh tức giận vạn phần, đồng thời cũng giúp hắn tìm được cái cớ để xuất binh.

Sau khi ra lệnh cho Bàng Đức xuất động sáu ngàn kỵ binh, hắn lại đích thân chỉ huy tám vạn đại quân xuất phát về hướng Tiêu Quan. Hắn muốn lợi dụng cơ hội lần này, nhấc tay một cái là khống chế được Tiêu Quan, hình thành thế tiến công về phía quận An Định.

Lúc này, Giả Hủ cẩm thanh gỗ, đang giới thiệu cho mọi người về phân bố thế lực của Hồ kỵ ở Quan Nội:

- Từ phía bắc Quan Trung đến quận Sóc Phương, chủ yếu có ba thế lực lớn của người Hồ, đó là thế lực Hung Nô, thế lực Ô Hoàn và thế lực Khương Đê. Ngoài ra, người Hạt, người Tiên Ti và bộ lạc người Thổ Dục Hồn thì thuộc loại thế lực nhỏ, chủ yếu dựa vào Hung Nô, có thể không cần để tâm đến bọn họ.

- Không biết phạm vi thế lực của bọn họ phân chia như thế nào?

Lưu Cảnh lại hỏi.

Giả Hủ mỉm cười:

- Phạm vi thế lực của bọn họ có đặc điệm, gọi là "Song hoàn nhất điểm", cái gọi là "Điểm" chính là chỉ quận Sóc Phương phía tây. Nơi này là địa bàn của người Khương Đê, khá độc lập, trên cơ bản không qua lại với người Hung Nô và Ô Hoàn, nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với người Khương Đê ở Lũng Tây.

Lưu Cảnh gật gật đầu:

- Nói tiếp về song hoàn đi.

- Song hoàn (hoàn là vòng) này thực tế chính là người Ô Hoàn và người Hung Nô. Người Ô Hoàn ở vòng trong, phân bố ở giữa quận An Định, Thượng Quận và quận Bắc Địa, là vòng vây thứ nhất ngăn quân Hán bắc thượng. Người Ô Hoàn lại do hai mươi mấy bộ lạc tạo thành, trong đó có ba bộ lạc lớn hơn, một là bộ lạc Ô Hoàn An Định, Tù trưởng tên là Biên Thứ; một là bộ lạc Ô Hoàn Bắc Địa, Tù trưởng tên là La Kim; một bộ lạc khác chính là bộ lạc Ô Hoàn Thượng Quân, cũng chính là chủ lực của người Ô Hoàn, thủ lĩnh là Ô Hoàn Vương Lỗ Tích, binh lực khi các bộ lạc Ô Hoàn hợp lại với nhau nhiều nhất có bốn năm người (Không biết tác giả có nhầm lẫn gì không?), so với người Hung Nô quả thật là kiến so với voi.

Giả Hủ dùng thanh gỗ chỉ về phía bắc, lại tiếp tục nói:

- Người Ô Hoàn không đáng bận tâm, mấu chốt là người Hung Nô, người Hung Nô là vòng tròn lớn trong hai cái vòng đó, ở khu vực Trung Nguyên ít nhất có trăm vạn nhân khẩu, phân bố ở Sóc Phương, Hà Sáo, quận An Định, quận Bắc Địa và phía bắc Thượng Quận, cùng với vùng Tịnh Châu phía bắc Thái Nguyên. Người Hung Nô ở Trung Nguyên do Tả Hữu Hiền Vương thống soái. Tả Hiền Vương Lưu Báo, nắm giữ lãnh thổ rộng lớn phía bắc Thái Nguyên. Mà thế lực Hung Nô chúng ta đối mặt lần này là Hữu Hiền Vương. Lúc xảy ra loạn Lý Thôi, Khứ Ti và đám tặc soái Bạch Ba Lý Nhạc, Hàn Xiêm, Hồ Tài có công bảo vệ Thiên Tử, được ban họ Lưu, nên có tên là Lưu Khứ Ti. Bộ khúc có mấy mươi vạn, kỵ binh mang giáp có hơn mười vạn, tác chiến dũng mãnh cường hãn, là kình địch của chúng ta.

Giả Hủ lại dùng thanh gỗ chỉ về phía Xa Diên Trạch ngoài Trường Thành, nói:

- Trước mắt, nha trướng của Hữu Hiền Vương Lưu Khứ Ti cho hai chỗ, một ở Xa Diên Trạch, tên gọi là Đông trướng (đông là mùa đông), một cái khác ở Hà Sáo, tên gọi là Hạ trướng. Bây giờ là cuối tháng năm, chiếu theo lý thì bọn họ hẳn là đã trở về Hà Sáo. Chẳng qua là do tình hình Quan Nội căng thẳng, nên Lưu Khứ Ti hiện vẫn còn đang ở Xa Diên Trạch.

Lưu Cảnh trầm tư một hồi, lại nói:

- Bất kể là đi Tiêu Quan đạo, hay là đi Lạc Thủy đạo, chúng ta đều phải đối mặt với người Ô Hoàn trước tiên. Vì phòng ngừa Quan Trung trống rỗng sau khi chúng ta xuất binh, bị Hồ kỵ từ đường khác thừa cơ mà vào, ta quyết định thực thi sách lược phòng ngự phản kích. Trước tiên công chiếm Tiêu Quan, thành lập phòng ngự chắc chắn ở Tiêu Quan, rồi mới đi theo Lạc Thủy đạo, tiến công chủ lực Ô Hoàn Vương ở Thượng Quận.

Triệu Vân ở một bên tiếp lời:

- Hiện tại, mấu chốt là phải hiểu rõ tình hình ở Tiêu Quan.

Y vừa dứt lời, thị vệ ở ngoài trướng liền bẩm báo:

- Khởi bẩm Điện Hạ, Bàng Đức tướng quân phái thám báo đến bẩm báo quân tình.

Lưu Cảnh mỉm cười:

- Buồn ngủ lại gặp chiếu manh, Bàng tướng quân thật là hiểu rõ chúng ta mà!

Mọi người liền cười phá lên, Lưu Cảnh lập tức ra lệnh:

- Dẫn bọn họ vào đây!

Một lát sau, Vi Tấn tất tả đi vào đại trướng, quỷ một gối hành lễ:

- Quân hầu thám báo Vi Tấn tham kiến Hán Vương Điện Hạ, phụng lệnh của Bàng tướng quân đến truyền tin, mời Điện Hạ xem qua.

Y lấy một quyển trục ra, hai tay dâng lên. Một tên thị vệ tiếp nhận quyển trục, đưa cho Lưu Cảnh. Lưu Cảnh mở quyển trục ra, gấp gáp đọc qua một lần, hắn lại liếc nhìn gã thám báo trước mặt, cười nói:

- Ngươi chính là thám báo bị bắt giữ trong thư sao?

Trên mặt Vi Tấn lộ ra vẻ xấu hổ, ôm quyền nói:

- Ty chức thăm dò tình báo gặp bất lợi, bất hạnh bị kỵ binh Ô Hoàn bắt làm tù binh. Tù trưởng Ô Hoàn Biên Thứ sợ quân Hán, lại thả chúng ty chức trở về.

- Nhưng trong thư của Bàng tướng quân khen ngươi có thừa, nói ngươi thâm nhập hang hổ để thăm dò tình hình quân địch, là một thám báo ưu tú.

- Bàng tướng quân đã quá lời rồi, ty chức hổ thẹn không dám nhận.

Lưu Cảnh nhìn y chăm chú một lúc, thản nhiên nói:

- Từ trước đến nay, Bàng tướng quân có sao nói vậy, không nói ngoa, ngươi không cần giải thích nữa. Nói một chút về tình hình của Ô Hoàn ở An Định đi, Bàng tướng quân bảo rằng ngươi hiểu rất rõ.

Trong lòng Vi Tấn xúc động, việc này rõ ràng chính là nhờ Bàng Đức tiến cử mình trước mặt Hán Vương. Y trầm tư một lát, liền mang những gì mình tai nghe mắt thấy nhất nhất báo cáo một cách mạch lạc cho Lưu Cảnh và các quan lớn ở đó.

Lưu Cảnh tán thưởng gật gật đầu, lời của Bàng Đức nói không ngoa. Người này quả là một nhân tài, văn võ song toàn khó gặp. Hơn nữa xuất thân danh môn Kinh Triệu, từng đảm nhiệm chức Tòng quân dưới trướng Chung Diêu, rất được Chung Diêu coi trọng. Không ngờ nhân tài như vậy lại chỉ đảm nhiệm chức Quân hầu, quả thật có chút đáng tiếc. Trong lòng Lưu Cảnh không khỏi sinh lòng luyến tiếc người tài, chỉ vào sa bàn cười nói:

- Ngươi hãy bổ sung những chuyện ngươi biết vào sa bàn đằng kia đi!

- Tuân lệnh!

Vi Tấn tiến đến trước sa bàn, y từng đảm nhiệm chức Tòng quân dưới trướng Chung Diêu, cực kỳ hiểu rõ sa bàn. Y nhanh chóng mà cẩn thận, dùng cờ xí và tượng binh sỹ đánh dấu trên sa bàn, rất nhanh đã hoàn thành. Lưu Cảnh đi lên phía trước, nhặt thanh gỗ chỉ về phía mấy ngọn cờ nhỏ màu xanh lam ở phía bắc huyện Cao Bình, hỏi:

- Đây là cái gì?

- Hồi bẩm Điện Hạ, đây là những phụ nữ, trẻ con và người già yếu của Ô Hoàn di chuyển về huyện Tam Thủy. Bình thường là dùng xe bò, tượng đất để đánh dấu, nhưng ty chức không tìm thấy mấy thứ đó, nên đành phải dùng cờ màu xanh lam để thay thế.

- Chung Diêu dùng xe bò, tượng đất và dê cừu để đánh dấu Hồ dân sao?

- Vâng! Ngài ấy không thíc dùng cờ xí, đều dùng người gốm xe gốm nho nhỏ để đánh dấu, vô cùng hình tượng, vừa nhìn đã hiểu.

Lưu Cảnh gật gật đầu:

- Ta rất thích loại biện pháp này của Chung Diêu, về sau ta cũng sẽ cân nhắc sử dụng. Ngoài ra ta còn muốn biết, nếu như muốn lấy được Tiêu Quan, chúng ta phải dụng binh như thế nào?

Suốt dọc đường, Vi Tấn đều suy nghĩ về vấn đề này. Y vốn là Tòng quân, làm tham mưu kế sách vào thời chiến, y vô cùng am hiểu. Vi Tấn trầm ngâm một hồi liền nói:

- Tuy rằng Tiêu Quan là nơi hiểm yếu quan trọng, nhưng cũng chỉ là đối với Hồ kỵ phía bắc mà thôi, còn đối với phía nam thì không hiểm yếu. Mấu chốt là Bàng tướng quân toàn là kỵ binh, để kỵ quân trèo đèo lội suối quả là không thực tế. Nếu như là một đội quân am hiểu về núi non, từ mặt nam công hạ Tiêu Quan sẽ dễ như trở bàn tay.

- Nói cụ thể thử xem!

Lưu Cảnh đưa thanh gỗ cho y, lúc này đám người Giả Hủ, Triệu Vân cũng có chút thích thú, hăng hái vây quanh, nghe vị quan quân cấp thấp này chậm rãi giải bày.

Vi Tấn dùng thanh gỗ chỉ vào Trường Thành phía trên Tiêu Quan, nói:

- Kỳ thực Tiêu Quan là chỉ một tuyến phòng ngự dài hai mươi mấy dặm từ Mộc Hiệp Quan, Ngõa Đình Quan và Lục Bàn Quan, còn có tên là Tam Quan Khẩu. Bởi vì binh lực người Ô Hoàn rất phân tán, chủ yếu tập trung trên ba quan ải. Nhược bằng chúng ta tấn công tam quan, ty chức đề nghị đi Ngõa Đình Hiệp Cốc ở giữa, đoạt lấy Ngõa Đình Quan trước, sau đó lại đi ra Lục Bàn Sơn, bọc hậu quân Ô Hoàn. Một đội quân khác thì bắc thượng men theo Trường Thành, tiến công Mộc Hiệp Quan, đoạt lấy huyện Cao Binh. Người Ô Hoàn chiến đấu trên ngựa lợi hại, nhưng tác chiến ở vùng núi, chỉ e là không được đâu.

Vi Tấn nói đến đây, trong mắt mọi người đều tỏ ý tán thưởng. Người này quả nhiên không tồi. Lưu Cảnh cười nói:

- Xem ra Vi quân hầu là một người có tài làm Tòng quân!

Vi Tấn hiểu ý của Lưu Cảnh, vội vàng quỳ một gối nói:

- Trước đây ty chức từng đảm nhiệm chức Tòng quân dưới trướng của Chung Diêu, nhưng một lòng muốn ra trận giết địch, cho nên mới chủ động xin làm thám báo, khẩn cầu Điện Hạ cho phép ty chức tiếp tục dốc sức trên chiến trường.

- Đương nhiên là cũng có thể!

Lưu Cảnh nghiêm nghị nói:

- Nhưng mà tiền quân là dựa vào quân công mà luân phiên phong thưởng, không liên quan đến tài hoa làm Tòng quân của ngươi, ngươi có hiểu không?

- Ty chức hiểu, ty chức nguyện ý tích lũy công lao thăng chức.

Lưu Cảnh rất tán thưởng khí phách của y, lại cười nói:

- Một khi đã như vậy, ta liền giao cho người một nhiệm vụ quan trọng. Nếu như hoàn thành tốt, ta sẽ thăng cho người làm Phó giáo úy.

Vi Tấn mừng rỡ, ôm quyền nâng lên cao nói:

- Ty chức nguyện xông vào nơi dầu sôi lửa bỏng!

Lưu Cảnh lập tức lệnh cho tả hữu:

- Tìm Đặng Ngải đến đây.

Một lát sau, có một vị tướng lĩnh trẻ tuổi oai hùng, chính là Đặng Ngải. Đặng Ngải năm nay hai mươi tuổi, vừa chính thức tòng quân năm ngoái, cũng đảm nhiệm chức quân hầu, y tiến vào trướng quỳ một gối thi lễ:

- Tham kiến Hán Vương Điện Hạ!

Lưu Cảnh lấy một mật lệnh, đưa cho Vi Tấn:

- Vi quân hầu làm chính, Đặng Ngải làm phó, hai người các ngươi có thể dẫn hai mươi quân Ưng Kích đến quận Bắc Địa. Nhiệm vụ của các ngươi đều nằm trong mật lệnh, việc này là sự tình trọng đại, các người cần phải cẩn thận.

Đặng Ngải và Vi Tấn nhìn nhau, cùng nhau thi lễ, nói:

- Tuân lệnh!

Hai người đứng dậy đi, Giả Hủ dõi theo bóng lưng của Đặng Ngải, cười nói:

- Nhiệm vụ nguy hiểm như vậy lại giao cho Đặng Ngải, Điện Hạ không lo lắng sao?

Lưu Cảnh thản nhiên nói:

- Người Hung Nô có câu ngạn ngữ, hùng ưng không bay lên trời cao, vĩnh viễn sẽ kém người ta một bậc. Ta không hy vọng y trở thành một con hùng ưng không bay lên trời cao.

Lưu Cảnh lập tức nói với mọi người:

- Đã có tình báo tỉ mỉ của Tiêu Quan, chúng ta có thể xuất chinh Tiêu Quan. Nhanh chóng lệnh cho ba người Vương Bình, Lưu Chính cùng Mã Đại đến đại trướng nghe lệnh!

Chương 813: Công hãm Ngõa Đình

Tiêu Quan tọa lạc tại Ninh Hạ, huyện Cố Nguyên ngày nay. Dãy núi Lục Bàn Sơn vắt ngang qua Quan Trung ở phía tây bắc, trở thành lá chắn phía tây bắc của Quan Trung. Thông đạo chủ yếu từ Quan Lũng tiến vào Quan Trung chính là hà cốc do các dòng sông Vị Hà, Kinh Hà tạo thành. Mấy cái hiệp cốc to lớn đâm xuyên qua Lục Bàn Sơn cũng trở thành thương đạo chủ yếu của con đường tơ lụa, đồng thời cũng là con đường trọng yếu để dân tộc du mục phương bắc đánh vào Quan Trung.

Bắt đầu thời triều Tần, vương triều Trung Nguyên liền men theo Lục Bàn Sơn xây dựng Trường Thành để phòng ngự, Tiêu Quan trứ danh cũng từ đó mà hình thành.

Tiêu Quan không phải một quan ải, mà là một đoạn trong hệ thống phòng ngự của Trường Thành dài khoảng hai mươi mấy dặm, sự thật chính là tam điểm nhất tuyến.

Một điểm phía nam là Lục Bàn Quan, do ba cửa ải Khỏa Bố Sơn, Tiên Đế Sơn, Lũng Đông Nguyên tạo thành, được xây dựng thành cứ điểm quan trọng, chỗ cao còn được dựng đài phong hỏa để báo hiệu.

Mà một điểm ở giữa nữa chính là Ngõa Đình Hiệp, nơi này cũng là một hiệp cốc khổng lồ, băng ngang qua Lục Bàn Sơn. Triều Tần liền dựa vào thế núi mà xây dựng một tòa quan ải kiên cố ở đây, có tên là Ngõa Đình Quan.

Còn một điểm phía bắc chính là Mộc Hiệp Quan, ngoài quan là huyện Cao Bình. Nơi này cũng là nơi tập trung quân đội Ô Hoàn. Ba tòa quan ải này hợp lại gọi là Tiêu Quan, còn gọi là Tam Quan Khẩu.

So với dốc núi Nhai Đình gập ghềnh, Tiêu Quan cốc đạo bằng phẳng hơn nhiều, đối với thương đội, kỵ binh hay quân đội có súc vật kéo càng tiện lợi. Vì vậy, từ xưa Tiêu Quan cùng với đường Lũng Quan đã trở thành hai con đường quan trọng ra khỏi Quan Trung.

Mấy chục năm qua tạp Hồ không ngừng xâm lấn về phía nam, Tiêu Quan đạo cũng dần rơi vào tay người Hồ, lần lượt bị các dân tộc du mục Hung Nô, Ô Hoàn khống chế. Trước mắt thì Tiêu Quan đạo đã bị người Ô Hoàn ở An Định khống chế.

Tiêu Quan đạo giống như một nút buộc trên y phục, thắt chặt hai mảnh vạt áo Lũng Tây và Quan Nội lại cùng một chỗ, cũng chính là vì nguyên do này, thu phục Tiêu Quan đã trở thành bước đầu tiên của quân Hán trong chiến dịch Quan Sóc.

Nhưng mấy mươi năm nay, phạm vi thế lực của Hán Hồ đã dần ổn định. Phía bắc Tiêu Quan thuộc về thế lực tạp Hồ, phía nam Tiêu Quan là thế lực của vương triều Trung Nguyên. Sự phân chia phạm vi thế lực này đã trở thành một giao ước ngầm giữa hai bên, được hai bên tán thành. Mà muốn phá vỡ giao ước ngầm này, nhất định phải chờ cơ hội xuất hiện.

Mà chính vào lúc này, người Ô Hoàn ở An Định lại tập kích quấy nhiễu dân chúng Quan Trung, giết người cướp của, hung ác tàn bạo. Đây là một cái cớ cực kỳ tốt để cho quân Hán xuất binh.

Ở ngoài Ngõa Đình Hiệp Cốc là núi non chập chùng, thế núi cao dần về hướng đông. Ở chỗ địa thế hiểm yếu nơi cửa hiệp cốc đã xây dựng nên quan ải Trường Thành kiên cố, dễ thủ khó công. Ngoài ra lại dựa vào thế núi mà xây dựng một tòa quân thành. Tòa quân thành dài hai dặm, rộng một dặm, thành cao chừng hai trượng bảy tám thước đến ba trược sáu bảy thước, tường thành dày một trượng ba thước, gốc tườn thành thì dày hai trượng sáu thước, trên dựng địch lâu (thành lâu trên tường thành dùng để phòng ngự quân địch, còn gọi là tiêu lâu), công sự dày đặc, tám tòa đôn đài (một loại đài cao được xây dựng để báo nguy) lớn nhỏ, bảy con đường dẫn nước, đứng sừng sững như một hùng trấn. Đây chính là thành Ngõa Đình trứ danh.

Thành Ngõa Đình được xây dựng vời thời Xuân Thu Chiến Quốc. Ban đầu là vì phòng ngự Ô Nhung, cho nên cọn gọi là huyện Ô Thị, sau đó huyện Ô Thị được dời về phía đông, thành Ngõa Đình liền trở thành một tòa quân thành thuần túy, trước mắt đang bị người Ô Hoàn khống chế. Trong thành có năm trăm trú binh, còn có một ngàn binh sỹ trên Trường Thành, hình thành một hệ thống phòng ngự có chút nghiêm mật.

Từ khi Tù trưởng Ô Hoàn Biên Thứ cảm thấy quân Hán muốn bắc thượng đến nay, dưới sự chỉ huy của Xích Ninh, quân đội Ô Hoàn đã đồn trú một đạo trọng binh bảy ngàn người ở Tiêu Quan, đề phòng quân Hán bắc thượng.

Đêm nay, trời tối gió thổi mạnh, mây đen che lấp mặt trăng, đưa tay không thấy năm ngón. Một đội quân đang cấp tốc hành quân trong sơn đạo hiệp cốc, hướng về Ngòa Đình Quan cách đó mấy dặm.

Đội quân Hán này khoảng tám ngàn năm trăm người, toàn bộ đều là quân đội trực thuộc dưới trướng lc. Trong đó Vương Binh chỉ huy ba ngàn Man binh, Lưu Chính dẫn năm trăm Ưng Kích Quân, cùng với Mã Đại chỉ huy năm ngàn kỵ binh. Nhiệm vụ của bọn họ là đoạt lấy Ngõa Đình Quan cùng với thành Ngõa Đình ở Quan Ngoại, rồi đi đường vòng bắc thượng chặn đánh quân Ô Hoàn.

Lưu Chính và Phó tướng Nhâm Bình dẫn năm trăm Ưng Kích Quân đi trước. Từ sau khi đoạt được Quan Trung, Ưng Kích Quân vẫn nằm trong trạng thái nghỉ ngơi và chỉnh đốn. Mặc dù Lưu Chính không cam chịu sự buồn tẻ, mang năm trăm Ưng Kích Quân đến cao nguyên Tây Hải huấn luyện gần một năm, nhưng một năm không có hành động về quân sự, hầu như vẫn làm cho Lưu Chính phát bệnh. Đêm nay, rốt cuộc thì Ưng Kích Quân cũng đã tiếp nhận nhiệm vụ đầu tiên trong một năm qua. Lưu Chính mừng rỡ như điên, y tự mình dẫn năm trăm tinh nhuệ, đến Ngõa Đình Quan.

Nhiệm vụ của Ưng Kích Quân là đoạt lấy Ngõa Đình Quan và thành Ngõa Đình, việc tác chiến sau đó liền giao cho Man binh và kỵ binh. Vượt qua một sườn núi, phía trước đã phát hiện vô số điểm sáng xếp thành một đường thật dài trong bầu trời đêm, đó chính là Trường Thành, còn điểm sáng là đuốc của người Ô Hoàn, trong đó chỗ tập trung ánh lựa là thành lâu của Ngõa Đình Quan.

Trên thực tế, Ngõa Đình Quan là một bộ phận của Trường Thành, tường thành cao hai trượng, ở ngoài là sườn dốc lớn thoai thoải, chênh lệch độ cao đến mấy mươi trượng, địa thế vô cùng hiểm yếu. Mà từ Quan Nội đi đến cơ bản là địa thế ngang bằng với tường thành, chỉ cần đặt chân lên Trường Thành cao hai trượng liền có thể đoạt được quan ải.

Nhưng rất nhanh, Ưng Kích Quân liền phát hiện sự tình không đơn giản như vậy. Một gã thám báo chạy đến như bay, đứng trước mặt Lưu Chính bẩm báo:

- Khởi bẩm Tướng quân, đã thăm dò được tình hình ở quan ải.

Lưu Chính lập tức ra lệnh:

- Dựng trướng!

Mấy tên binh sỹ rất nhanh đã dựng lên một tòa hành quân trướng hai tầng ở phía sau lưng, bốn góc được che kín. Trong trướng thắp nến, ánh sáng không lọt được ra ngoài. Trên thảm có đặt một mô hình khắc gỗ của quan ải. Hai bên đều có một đoạn tường thành, hầu như giống với Ngòa Đình như đúc.

Lưu Chính cùng Nhâm Bình trải thảm ngồi xếp bằng hai bên, nghe báo cáo của thám báo. Gã thám báo chỉ vào mô hình nói:

- Tuy rằng tường thành của quan thành không cao, nhưng trên quan thành tụ tập số lượng lớn quân địch. Nếu leo lên thành, ắt sẽ phải kịch chiến với quân địch. Quân địch có ưu thế, chúng ta sẽ tổn thất thảm trọng.

Lưu Chính chìm vào suy nghĩ một hồi, lại hỏi:

- Nếu như đi lên từ tường thành hai bên thì sao?

- Trên tường thành hai bên tuy không có nhiều binh sỹ, nhưng được xây dựng trên núi, núi non hiểm trở, mà còn có đá trơn trượt, khó có thể leo lên.

- Phía dưới tường thành rộng bao nhiêu?

Nhâm Bình đột nhiên hỏi.

- Khoảng chừng hai đến ba thước.

Lưu Chính gật gật đầu, nói với gã thám báo:

- Ngươi lui xuống trước đi!

Gã thám báo lui xuống, trong trướng chỉ còn lại hai người Lưu Chính cùng Nhâm Bình. Lưu Chính thở dài nói:

- Mấu chốt là chúng ta không mang theo thang công thành, bốn phía trơ trọi chỉ có đá, không có cây cối, chỉ có thể dựa vào dây thừng mà trẻo lên thành. Nhưng một khi bị phát hiện, dây thừng rất dễ dàng bị cắt đứt.

Nói đến đây, Lưu Chính lại liếc nhìn sang Nhâm Bình, hỏi thử:

- Ngươi cảm thấy sao?

- Không đi quan thành, đi từ tường thành hai bên thôi!

Thái độ của Nhâm Bình rất rõ ràng, nói:

- Thế núi hai bên tuy dốc, nhưng đối với Ưng Kích Quân chúng ta mà nói, thật sự không để vào trong mắt. Mấu chốt hơn là mặt trên còn có chỗ đặt chân, chỉ cần có chỗ đặt chân, chúng ta có thể dễ dàng leo lên thành.

Lưu Chính trầm tư, dứt khoát quyết định:

- Thế thì đi từ tường thành hai bên đi!

Trên đầu thành, mấy trăm binh sỹ Ô Hoàn đang tuần tra. Trước mắt, trên Ngõa Đình Quan có một ngàn người, do một Thiên nhân trưởng chỉ huy. Bọn họ chia làm ba nhóm, suốt đêm tuần tra trên tường thành không ngừng. Đêm nay trời đặc biệt tối, chính là cơ hội tập kích, binh sỹ Ô Hoàn cũng cảnh giác khác thường, tăng cường tuần tra trên quan thành.

Chỉ có điều, binh lực của bọn họ thật sự không đủ, không thể quan tâm đến toàn bộ tường thành trong vòng mười mấy dặm. Chỉ có thể dùng phương thức tuần tra khứ hồi đối với phòng ngự của tường thành. Ở một sườn núi cao hơn mười trượng, Nhâm Binh yên lặng chú ý động tĩnh trên tường thành.

Trên tường thành có đốt đuốc, ánh sáng nhàn nhạt chiếu lên tường thành, có thể mơ hồ thấy hình dáng của binh sỹ tuần tra. Nhâm Binh rất nhanh đã tính ra được, cứ khoảng nửa nén hương, binh sỹ tuần tra sẽ xuất hiện một lần. Nói cách khác, bọn họ có thời gian nửa nén hương, thế là đủ rồi.

Nhâm Bình xoay người gật gật đầu với hai tên binh sỹ, hai tên binh sỹ lập tức bám vào vách núi leo lên. Hai người đều là cao thủ leo núi, thể trọng rất nhẹ, trên tay có vuốt thép, trên người mang dây thừng. Hai người giống như thằn lằn, nhanh chóng leo lên núi. Nợi bọn họ lựa chọn có sườn núi có thể nghỉ chân, chỉ cần leo lên thêm mười trượng là đến chân tường thành.

Không lâu sau, hai tên binh sỹ đã cắm một cái cọc, ném hai sợi dây thừng xuống dưới. Nhâm Bình chỉ huy trăm binh sỹ nhanh chóng leo lên. Không lâu sau, một trăm binh sỹ đã toàn bộ leo lên vách núi, đứng sát bên tường thành. Lúc này, một tên binh sỹ lặng lẽ trẻo xuống từ trên đầu thành, bẩm báo bên tai của Nhâm Bình:

- Phụ trách đám binh sỹ tuần tra này tổng cộng có mười người, bọn họ luân phiên tuần tra khứ hồi.

Trong lòng Nhâm Bình nhanh chóng tính toán. Hiện tại leo lên tường thành đã dễ dàng như trở bàn tay, nhưng xử lý mười tên binh sỹ tuần tra như thế nào, không để cho bọn họ phát ra bất kỳ âm thanh gì, mới là cái khó. Tuy rằng nhìn có vẻ khó khắn, nhưng không làm khó được binh sỹ Ưng Kích Quan thân mang tuyệt kỹ.

Nhâm Bình gọi mười tên thần xạ thủ đến, thấp giọng nói với bọn họ:

- Các ngươi mỗi người phụ trách bắn một tên lính gác, dùng dược nỏ, không được để cho bọn họ lên tiếng!

Thập trưởng thủ lĩnh gật gật đầu:

- Tuân lệnh!

Mười tên thần xạ thủ lấy dây thòng lọng ra, ném lên tường thành, nhanh chóng leo lên trên. Mười thần xạ thủ rất nhanh đã vào vị trí phục kích, tay cầm nỏ quân, kiên nhẫn chờ đợi binh sỹ tuần tra đi tới. Không lâu sau, mười tên binh sỹ tuần tra xếp hàng đi đến. Trong bóng đêm, mười cây nỏ quân lạnh như băng nhắm vào bọn họ.

Lúc này, Thập trưởng "Suỵt!" một tiếng, mười binh sỹ tuần tra đồng thời quay đầu, đây chính là thời cơ. Chỉ nghe tiếng nỏ vang lên "Tách! Tách!". Mười mười mũi tên tẩm kịch độc bay nhanh như chớp, cắm vào yếth ầu của mười tên lính gác, mười tên lính gác hầu như đồng thời ôm lấy yết hầu, nhũn người ngã xuống mặt đất, từ đầu đến cuối không hét thảm được một tiếng.

Thập trưởng nhẹ nhàng lau mồ hôi trên trán một cái, gã cũng căng thẳng đến cực điểm, gã quát khẽ một tiếng, mười tên binh sỹ nhảy lên thành, động tác nhanh nhẹn, thay đổi y phục của binh sỹ Ô Hoàn, tiếp tục xếp hàng tuần tra trên đầu thành. Nhâm Binh ở phía dưới thấy bọn họ đắc thủ, cũng thấp giọng ra lệnh, từng đội từng đội binh sỹ bắt đầu nhanh chóng leo lên phía trên.

Trên tường thành mở ra một lỗ hổng, năm trăm binh sỹ Ưng Kích Quân toàn bộ xông vào. Mỗi người bọn họ thân thu đều mạnh mẽ, trèo lên vách núi, rồi lại tiếp tục leo lên tường thành. Không đến nửa canh giờ, toàn bộ năm trăm binh sỹ đều đã đặt chân lên tường thành.

Trên tường thành xuất hiện mấy trăm quân Hán đông nghịt. Bọn họ nhanh chóng xếp thành hàng, tay cầm khiên và chiến mã đao, đằng đằng sát khí. Lưu Chính ra lệnh một tiếng:

- Xuất phát!

Năm trăm binh sỹ Ưng Kích Quân bắt đầu xếp hàng hăng hái chạy về phía quan thành. Quan thành là một toàn ung thành hình vuông, dài rộng hai mươi trượng, cổng thành trước và sau có xây thành lâu, phía dưới là cửa sắt. Lúc này, đã là canh một, quân Ô Hoàn bố trí hai trăm năm mươi binh sỹ trên quan thành. Bốn phía cắm đuốc, chiếu sáng quan thành rõ như ban ngày.

Lúc này, binh sỹ trên thành đã nghe thấy trong Quan Nội có tiếng vang khác thường, hình như tiếng hí của chiến mã. Bọn họ lập tức khẩn trưởng hẳn lên, hết sức chăm chú quan sát tình hình phía dưới thành. Lúc này, trên tường thành phía bắc bỗng phát ra một loạt tiếng chém giết. Mấy trăm binh sỹ Ưng Kích Quân của quân Hán mãnh liệt giết đến, khiến trên quan thành trở nên đại loạn. Tiếng kẻng báo động vang vọng trong bầu trời đêm "Keng! Keng! Keng!".

Ưng Kích Quân đã hơn một năm không chiến đấu, sát khí đã bị kìm nén đủ rồi. Bọn họ thế như chẻ tre, giết cho binh sỹ Ô Hoàn khóc la cả ngày, thây ngã đầy đất, rất rất nhanh đã chiếm lĩnh được thành lâu. Có binh sỹ kéo bàn tời cổng thành của thành lâu, cổng thành ken két mở ra. Vương Bình thấy cổng thành đã bắt đầu mở, y vung đao hô to:

- Giết vào đi!

Ba ngàn Man binh hò hét vang trời, theo sau Vương Bình xông vào cổng thành. Bọn họ như thủy triều mãnh liệt, nuốt chửng lấy mấy trăm binh sỹ Ô Hoàn khác vừa mới bừng tỉnh từ trong mộng đẹp.

Vỏn vẹn chỉ một khắc, quan thành đã rơi vào tay quân Hán. Lúc này, dưới sự chỉ huy của Mã Đại, năm ngàn kỵ binh đã giết vào quan thành. Lúc này, quân Hán chia binh làm hai lộ, Vương Bình dẫn ba ngàn man quân đánh về hướng Mộc Hiệp Quan, mà Lưu Chính và Mã Đại thì dẫn quân ra khỏi Ngõa Đình Quan, đi về phía thành Ngõa Đình ở Quan Ngoại.

Chương 814: Tiêu Quan bị chiếm

Quân Hán đột phá ở Ngõa Đình Quan, nhưng chủ lực quân Hán lại đang ở Mộc Hiệp Quan ngoài hai mươi mấy dặm. Mục đích của quân Hán rất đơn giản, đó là đoạt lấy Tiêu Quan. Nhưng điều kiện tiên quyết để đoạt được Tiêu Quan là phải đánh tan người Ô Hoàn chiếm ở khu vực Tiêu Quan, mà Mộc Hiệp Quan chính là cứ điểm của người Ô Hoàn.

Quân Hán đã Đàn Tranh Hiệp, tiến vào trấn Na Thành trong bồn địa. Dân chúng ở trấn Na Thành đã bỏ trốn không còn một ai, trong tiểu trấn chất đầy tử thi. Đã trải qua bảy tám ngày, thời tiết khá nóng bức, trong không khí tràn ngập mùi thối gay mũi. Tiểu trấn đã không thể có người đến ở nữa. Vì đề phòng ôn dịch xảy ra, Lưu Cảnh hạ lệnh cho một mồi lửa thiêu rụi trấn Na Thành. Lửa cháy hừng hực nuốt chửng tiểu trấn, lủa bốc lên trên không trung đến hơn mười trượng, khói đặc cuồn cuộn bay lên trời.

Lưu Cảnh đứng trên một sườn núi nhỏ, chăm chú nhìn ngọn lửa đang thiêu đốt. Ánh mắt của hắn lại ném về những ngọn núi cao sừng sững. Trường Thành vắt ngang, uốn lượn giữa những ngọn núi kia, một lỗ hổng giữa ngọn núi lớn chính là Mộc Hiệp Quan trứ danh. Lúc này, Giả Hủ chậm rãi đi lên trước cười nói:

- Ngọn lửa này có lẽ sẽ thiêu đốt ý chí chiến đấu của người Ô Hoàn hầu như không còn.

Lưu Cảnh khẽ lắc đầu:

- Dựa vào ngọn lửa này vẫn chưa đủ, vẫn phải cần đến sự phối hợp từ phía Ngõa Đình Quan. Ta hy vọng bọn họ không làm ta thất vọng.

- Bọn họ đều là tướng sỹ thân kinh bách chiến, sẽ không khiến cho Điện Hạ thất vọng, nhưng ngược lại, người Ô Hoàn có lẽ sẽ khiến cho Điện Hạ thất vọng rồi.

- Tại sao?

Lưu Cảnh quay đầu lại, nhìn chăm chú vào Giả Hủ.

Giả Hủ cười rồi giải thích:

- Nếu Biên Thứ thật sự có thành ý cầu hòa, y phải đích thân đến tạ tội với Điện Hạ trước khi đại quân của chúng ta tiến vào Đạn Tranh Hiệp, khôi phục lại chức Hộ Ô Hoàn Giáo Úy như trước đây. Thế thì, chúng ta có thể dùng cái giá nhỏ nhất để đoạt lấy Tiêu Quan và quận An Định.

Lưu Cảnh lại chăm chú nhìn về phía núi xa một hồi, thản nhiên nói:

- Nói thật, ta không hy vọng bọn họ đầu hàng, hiện tại Hộ Ô Hoàn Giáo Úy của triều Hán xem ra hoàn toàn là một sai lầm. Để cho người Hồ tự trị, kết quả cuối cùng chính là người Hồ cát cứ. Xu thế hiện tại đã quá rõ ràng rồi. Nhược bằng ta không quan tâm đến, lại trải qua thêm mấy mươi năm, Ngũ Hồ sẽ kiến quốc. Khi đó, muốn chinh phục bọn chúng liền trở nên khó khăn. Cho nên, ta muốn lợi dụng cơ hội lần này, dùng thiết và huyết để chinh phục bọn chúng, đánh cho bọn chúng hoàn toàn tan tác, dung nhập vào trong người Hán.

Giả Hủ trầm ngâm một lát, liền nói:

- Ô Hoàn và Khương Đê có lẽ là còn có thể, nhưng Hung Nô thì chắc là không được. Dù sao căn cơ của bọn chúng trên thảo nguyên phía nam Âm Sơn, nhiều nhất cũng chỉ đánh tan bọn chúng, ép bọn chúng lui về thảo nguyên.

- Trước tiên cứ đi bước đầu đã!

Lưu Cảnh hít sâu một hơi. Lúc này, hắn thấy một tên binh sỹ báo tin đang cùng với thị vệ đứng ở một nơi cách đấy không xa, liền hỏi:

- Bên phía Ngõa Đình Quan có tin tức gì không?

Binh sỹ báo tin chính là do Lưu Chính phái đến, y vội vàng tiến lên quỳ một gối thi lễ, nói:

- Khởi bẩm Điện Hạ, Lưu tướng quân đã đoạt được Ngõa Đình Quan và thành Ngõa Đình. Mã Đại tướng quân dẫn năm ngàn kỵ binh xuất quan đi về phía bắc. Vương Bình tướng quân thì dẫn ba ngàn Man binh men theo Trường Thành bắc thượng, tùy thời mà chuẩn bị đoạt lấy Mộc Hiệp Quan.

- Tình hình thương vong thế nào?

Lưu Cảnh lại truy hỏi.

- Hồi bẩm Điện Hạ, Ưng Kích Quân hy sinh sáu người, bị thương hai mươi mốt người, đều xảy ra khi tấn công Ngõa Đình Quan.mà thành Ngõa Đình lại không gặp bất kỳ sự chống cự nào. Binh sỹ Ô Hoàn trong thành thấy thành quan đã mất, liền bỏ thành chạy trốn, quân ta tổng cộng diệt địch hơn ba trăm người, bắt được gần tám trăm hàng quân.

Lưu Cảnh gật gật đầu, trận chiến này đánh rất đẹp, nên mới có sự cách biệt về thương vong như thế. Hắn lại cười nói với Giả Hủ:

- Quân sư, bỗng nhiên ta có một ý tưởng, có lẽ chúng ta không cần phải dừng chân ở Tiêu Quan, vẫn có thể tiếp tục bắc thượng.

Giả Hủ trầm tư một hồi, rồi nói:

- Sở dĩ có sự cách biệt về thương vong, một mặt dĩ nhiên là vì Ưng Kích Quân là tinh nhuệ của quân Hán, mặt khác cũng có liên quan đến việc người Ô Hoàn không có sở trường đánh công thủ thành trì. Nếu người Ô Hoàn dùng kỵ binh ngênh chiến với chúng ta, thì tình hình sẽ khác. Xin Điện Hạ đừng nóng lòng, vẫn nên thận trọng bước từng bước.

- Quân sư nói rất đúng, ta đã hơi nóng nảy rồi.

Lưu Cảnh tiếp nhận lời khuyên của Giả Hủ. Trong lòng hắn thầm trù tính về thời gian, Vương Bình chỉ huy Man binh hẳn là giờ đã tiếp cận được Mộc Hiệp Quan, hắn lo lắng Vương Bình thất bại, liền quay đầu ra lệnh:

- Lệnh cho Ngô Ban đến gặp ta!

Ngô Ban thống soái năm ngàn trọng thuẫn nỏ quân, có lợi thế trong chi viện. Một lát sau, Ngô Ban chạy đến như bay, ôm quyền thi lễ:

- Tham kiến Điện Hạ!

Lưu Cảnh ra lệnh:

- Ngươi dẫn năm ngàn trọng thuẫn nỏ quân tiền về Mộc Hiệp Quan, chi viện cho Vương Bình tướng quân, không được sai sót!

- Ty chức tuân mệnh!

Ngô Ban lui xuống, y lập tức chỉ huy năm ngàn trọng thuẫn nỏ quân, từ đường nhỏ vòng qua trấn Na Thành, hăng hái tiền về phía Mộc Hiệp Quan.

Quân Hán đã chiêu mộ được tám ngàn Man binh, bọn họ cực kỳ am hiểu chiến đấu vùng núi. Nhưng phần lớn thời gian, bọn họ chủ yếu đảm nhận nhiệm vụ của binh sỹ hậu cần, phụ trách thao tác mộc ngưu vận chuyển lương thực trên đường núi, mà tham dự tác chiến chỉ có một lần, đó là khi đánh với Khương binh ở Hà Tây, dưới sự chỉ huy của Vương Bình, đánh một trận kịch liệt với Khương binh.

Hôm nay là lần thứ hai bọn họ trực tiếp tham dự tác chiến, cùng là do Vương Bình chỉ hủy. Ba ngàn Man binh gánh vác trọng trách đoạt lấy Mộc Hiệp Quan. Sau khi chiếm lĩnh được Ngõa Đình Quan, Vương Bình liền dẫn quân men theo Trường Thành bắc thượng, đi hơn hai mươi dặm đến Mộc Hiệp Quan.

Đoạn Trường Thành này là do nước Tần xây dựng vào thời Chiến Quốc, chủ yếu phòng ngự Tây Nhung xâm lấn Quan Trung. Trải qua sự ăn mòn của của năm tháng, gần năm trăm năm từ thời hậu kỳ Chiến Quốc đến thời hai triều Tần Hán, Trường Thành đã cũ nát lắm rồi. Đoạn Trường Thành dài mười mấy dặm ở giữa đã sập xuống, đội quân phải hành quân trên sườn núi vừa dốc vừa gập ghềnh khúc khuỷu.

Mà lúc này, đặc điểm am hiểu tác chiến vùng núi của các binh sỹ Man tộc liền được thể hiện ra một cách vô cùng nhuần nhuyễn. Bọn họ đi nhanh một mạch, như giẫm trên đất bằng. Lúc trời vừa sáng, ba ngàn quân mà Vương Bình chỉ huy đã đến Mộc Hiệp Quan. Đội quân nằm rạp người phía sau một bãi đá lởm chởm, hành quân về phía trước thêm hai dặm thì sẽ đến đoạn đầu của Trường Thành. Nhưng quân địch bất ngờ đi đến, chỉ thấy ở đằng xa cách đó chừng mấy dặm, một đội quân Ô Hoàn hơn hai ngàn người men theo Trường Thành nhanh chóng đi về phía bên này.

Vương Binh thoáng suy nghĩ, lập tức đoán được hướng đi của đội quân này, hẳn là tiếp viện cho Ngõa Đình Quan. Đêm qua lửa hiệu ở thành Ngõa Đình đã được đốt lên, hiển nhiên là bên phía Mộc Hiệp Quan đã nhận được tin tức. Bọn họ không thiện hành quân đêm, nên đợi đến sau khi trời sáng mới vội vàng đến tiếp viện.

Quân địch càng lúc càng gần, Vương Bình khoát tay về phía sau, ra hiệu cho các binh sỹ không được nóng nảy. Đợi quân địch tiến vào vùng núi, y lại thấp giọng nói với Phó tướng Cốt Đóa:

- Ngươi hãy dẫn theo một ngàn huynh đệ đi vòng qua triền núi, cắt đứt đường lui của bọn họ.

Cốt Đóa gật gật đầu, lui xuống phát tay ra lệnh:

- Doanh thứ nhất đi theo ta!

Y chỉ huy một ngàn binh sỹ nhanh chóng chạy về phía chân núi, đánh một vòng lớn đi ra phía sau lưng quân địch, còn Vương Bình thì kiên nhẫn chờ đợi quân địch đến gần. Hai ngàn binh sỹ Man tộc dưới trướng y đều giương cung lắp tên, vận sức chờ phát động.

Đội quân này quả thật là do Xích Ninh phái đến tiếp viện Ngõa Đình Quan. Tuy rằng đêm qua trên thành Ngõa Đình xuất hiện lửa hiệu, nhưng quan thành lại không có lửa hiệu. Điều này khiến cho Xích Ninh vô cùng hoang mạng. Chỉ có thể có hai khả năng, hoặc là Ngõa Đình Quan bị quân Hán lấy thế sét đánh không kịp bưng tai mà tóm gọn, quân trên quan thành không kịp châm lửa hiệu, hoặc là quân Hán công phía Lục Bàn Quan ở phía nam, từ đường Quan Ngoại vòng đến, tấn công thành Ngõa Đình ở Quan Ngoại.

Nhưng bất kể là khả năng nào, quân Ô Hoàn đều không có cách nào hành quân trong màn đêm, đêm tối đến độ đưa tay không thấy rõ năm ngón. Chủ yếu chính là vì mười mấy dặm đường ngăn trở, bọn họ chỉ có thể chờ đến sau khi trời bắt đầu sáng mới xuất phát đi Ngõa Đình Quan. Nhưng bọn họ lại không ngờ, nửa đường sẽ giáp mặt với quân Hán đang bắc thượng.

Hai ngàn quân Ô Hoàn đã rời khỏi đoạn đầu của Trường Thành, đang hành quân qua đám đá lởm chởm một cách gian nan. Đúng lúc này, binh sỹ ở tiền phương bỗng trở nên rối loạn, bọn họ phát hiện quân địch nấp trong đám đá kia. Chỉ nghe thấy một tràng tiếng mõ vang lên, quan Hán Man tộc giương cung bắn, mấy ngàn mũi tên bay về phía binh sỹ Ô Hoàn đứng dày đặc. Binh sỹ Man tộc phần lớn là xuất thân từ thợ săn, tiễn pháp tinh chuẩn, lại chịu sự huấn luyện nghiêm khắc của quân Hán, cộng với cung tên chất lượng thượng thừa của quân Hán đã giúp cho bọn họn như hổ thêm cánh. Một trận loạn tiễn bắn qua, binh sỹ Ô Hoàn tử thương mấy trăm người, lập tức trở nên đại loạn.

Bọn họ đều quay đầu lui về phía sau, nhưng phía sau lại có một đội quân của địch đánh tới, cắt đứt đường lui của bọn họ. Vương Binh thấy Cốt Đóa đã dẫn quân đuổi đến, liền hét to một tiếng:

- Giết lên nào!

Hai ngàn Man binh hò hét vang trời, múa chiến đao và trường mâu xông vào đám binh sỹ Ô Hoàn. Song phương chiến đấu kịch liệt trên đám loạn thạch.

Trên thành Mộc Hiệp Quan, Xích Ninh ngơ ngác nhìn về phía đám khói đằng xa, đã lan đến bầu trời của Mộc Hiệp Quan, che lấp đi tia nắng mặt trời của buổi sáng sớm. Trên bầu trời những đám mây màu nâu đen lượn lờ, dường như ngày tận thế sắp diễn ra. Tất cả binh sỹ Ô Hoàn đều sợ hãi, bọn họ vốn dĩ là kỵ binh tung hoành trên đồng bằng, giờ lại như chim ưng sa xuống đất, đứng trên quan thành ngăn cản quân Hán bắc thượng.

Xích Ninh cúi đầu thở dài, gã không ngừng phân binh đi cứu Ngõa Đình Quan, khiến cho quân phòng thủ Mộc Hiệp Quan đã không còn đến ba ngàn người. Một khi chủ lực quân Hán đánh tới với quy mô lớn, gã có thể ngăn cản được sao?

Lúc này, một tên binh sỹ vội vã chạy đến bẩm báo:

- Bẩm báo Thiếu tù trưởng, quân đội của chúng thuộc hạ đi chi viện cho Ngõa Đình Quan gặp phải tập kích của quân địch, thương vong thảm trọng, sắp chống đỡ không được nữa rồi.

Xích Ninh giật bắn người, quay đầu nhìn về phía nam, đoạn tường Trường Thành cách nơi này chỉ có năm sáu dặm đường, nếu như đội quân của mình bại trận, há chẳng phải là quân Hán sẽ lập tức đánh tới. Trong lúc lòng gã loạn như ma, thì có binh sỹ chỉ xuống dưới thành hô to:

- Mau nhìn, quân địch đến rồi!

Xích Ninh cũng nhìn thấy, dưới chân núi có một đội quân Hán mấy ngàn người đang nhanh chóng đi về phía bên này, đã càng lúc càng gần, rõ ràng là đến tiếp viện quân Hán dắp đánh tới đầu thành. Trong lòng Xích Ninh lo sợ từng đợt, bị tiêu diệt gọn gàng, nên bắt đầu nảy sinh ý thoái lui. Gã lập tức hô to với tả hữu:

- Chuẩn bị rút lui!

Sỹ khí của binh sỹ Ô Hoàn đã hạ thấp, sớm đã chờ đợi mệnh lệnh này. Mặc dù Xích Ninh chỉ nói là "Chuẩn bị rút lui", nhưng mấy ngàn binh sỹ Ô Hoàn trên đầu thành đều lũ lượt đi xuống dưới thành, chạy về phía thành Dương Mã ở Quan Ngoại. Gần vạn con chiến mã đều được nuôi ở trong thành Dương Mã.

Không đến thời gian một chung trà, gần ba ngàn binh sỹ rút lui quá nửa. Binh sỹ trên đầu thành đã không còn đến ngàn người, đám binh sỹ hô to:

- Thiếu tù trưởng, mau rút lui đi! Mọi người đều đi cả rồi.

Lúc này, trên tường thành phía nam xuất hiện vô số đào binh, có đến mấy trăm người. Đây chính là tàn quân Ô Hoàn bị đội quân của Vương Bình đánh tan. Ba ngàn binh sỹ Man tộc hô to, đánh úp quan thành. Cùng lúc đó, năm ngàn trọng thuẫn nỏ binh do Ngô Ban chỉ huy cũng đánh đến dưới quan thành, vô số nỏ quân đang ngắm về phía quan thành.

Đám thân binh khẩn trương, mấy người xông lên kéo gã, nhưng không đợi thân binh lôi đi, Xích Ninh đã xoay người chạy xuống dưới thành. Kỳ thực gã hiểu rõ hơn bất kỳ ai, nếu còn không rút lui, gã sẽ không còn cơ hội nữa.

Chỉ có điều, Xích Ninh nằm mơ cũng không ngờ, năm ngàn kỵ binh quân Hán đã bao vây phía ngoài quan thành, triển khai quân trận trên khoảng đất trống, cầm mâu giơ lên. Bọn họ đã cắt đứt con đường rút lui về phía bắc của binh sỹ Ô Hoàn.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!