Virtus's Reader
Binh Lâm Thiên Hạ

Chương 815: CHƯƠNG 815: DÃ TÂM CỦA HUNG NÔ

Dưới sự chỉ huy của Tù trưởng Biên Thứ, mấy vạn phụ nữ, trẻ con và người già yếu của tộc Ô Hoàn xếp thành đội ngũ thật dài rút về phía bắc. Mục đích của bọn họ là huyện Tam Thủy cách đó ba trăm năm mươi dặm, nơi đó cũng là một huyện thành còn nằm trong sự khống chế của người Ô Hoàn.

Mặc dù đường xá không phải là xa xôi, nhưng tốc độ hành quân của bọn họ chậm rãi vô cùng. Ngựa dùng để vận chuyển vật dụng, người già nâng đỡ nhau, phụ nữ ôm con, trong đó còn có bầy dê lẫn vào, gian nan bắc hành. Đã tám ngày bọn họ vẫn chưa đến huyện Tam Thủy, mọi người đều đã mệt không chịu nổi.

Mấy vạn người ngồi trên bãi đất trống nghỉ ngơi. Trong lòng Biên Thứ lại có chút lo lắng. Hai ngày trước, lão đã phái binh sỹ đi huyện Tam Thủy trước để sắp xếp nơi ăn chốn ở, nhưng đến giờ tên binh sỹ lại không hồi âm, khiến cho trong lòng lão có một loại bất an khó hiểu. Lẽ nào bên phía huyện Tam Thủy đã xảy ra chuyện gì rồi sao?

Lo lắng duy nhất của Biên Thứ là người Hung Nô. Mấy vạn người già, phụ nữ, trẻ con này di tản, không có binh sỹ bảo hộ. Đối với người Hung Nô mà nói, chính là bầy dê không được nhốt kỹ. Người Hung Nô mưu đồ bọn họ đã lâu, cơ hội này người Hung Nô sao lại bỏ qua cơ chứ?

Trong lòng Biên Thứ có chút hối hận, lão không nên rút lui về huyện Tam Thủy, mà phải lui về Thượng Quận. Tuy rằng quan hệ của lão với Lỗ Tích cũng không tốt lắm, nhưng dù sao cũng là người đồng tộc. Nhiều lắm thì Lỗ Tích cũng chỉ có thái độ lãnh đạm một chút, chứ không ăn tươi nuốt sống bọn họ.

Nhưng việc đã đến nước này, hối hận cũng vô dụng, Biên Thứ chỉ có thể nghĩ theo hướng tốt. Dù sao thì hàng năm bọn họ phải tiến công cho Hung Nô năm vạn con dê. Người Hung Nô nhìn phần dê tiến cống đó, cũng sẽ không làm khó lão. Hơn nữa, nha trướng Hung Nô ở Xa Diện Trạch ngoài ngàn dặm. Cho dù Lưu Khứ Ti nhận được tin tức, cũng chưa chắc có thể đuổi đến kịp.

Quan trọng hơn là trưởng tử Ô Huyền của Biên Thứ làm thị vệ bên cạnh Lưu Khứ Ti, xét về điểm này, Lưu Khứ Ti cũng nên không làm điều gì quá đáng. Nghĩ vậy, tảng đá lớn trong lòng Biên Thứ mới được buông nhẹ xuống.

- Tù trưởng, phía bắc có quân đội đang đến!

Có tên binh sỹ bỗng nhiên quát to lên.

Biên Thứ giật mình, đứng dậy quay mặt nhìn về hướng bắc, chỉ thấy một đám đen xuất hiện trên đất trống cách đó mười dặm về phía bắc, che trời phủ đất, có đến mấy vạn kỵ binh. Biên Thứ lập tức như rơi vào hố băng, điều lão lo lắng nhất rốt cục cũng đã xảy ra, kỵ binh Hung Nô vẫn kịp lúc đuổi đến. Đây cũng chả phải là đến chi viện cho lão. Bọn họ là con sói của thảo nguyên, nếu bị họ nuốt lấy, đến xương cũng sẽ không nhả ra. Người già, phụ nữ, trẻ con trong đội ngũ cũng trở nên khẩn trương, tất cả đều đứng dậy, không ít thiếu phụ ôm con thấp giọng khóc.

Lúc này, một đội kỵ binh Hung Nô đã nhanh chóng phi đến, tên binh sỹ dẫn đầu cầm lệnh tiễn hô to:

- Biên Thứ tù trưởng có ở đây không?

Biên Thứ liền tiến lên hành lễ:

- Ta ở đây!

- Hữu Hiền Vương đã đến, ngài lập tức đến gặp Hiền Vương.

Biên Thứ thầm thở ra một hơi, nhưng lại không dám không đi, đành phải trở mình lên ngựa, dẫn mười mấy thị vệ đi theo tên kỵ binh nọ phi về phía bắc.

Hữu Hiền Vương Lưu Khứ Ti chỉ huy tám vạn quân Hung Nô đến không phải là ngẫu nhiên. Quân Hán điều binh quy mô lớn ở Quan Trung, khiến cho Lưu Khứ Ti cảnh giác. Mà lúc bấy giờ, Ô Huyền đã nhận được cảnh báo từ diều hâu của người trong tộc gửi đến, Lưu Khứ Ti mới biết tin tức quân hán bắc thượng. Y lập tức đích thân dẫn tám vạn đại quân hỏa tốc nam hạ, ngăn chặn quân Hán binh phạt tái thượng (tái thượng là vùng biên giới).

Kỵ binh Hung Nô đã tạm dừng hành động, dựng lên một tòa đại trướng rộng khoảng hai mẫu trên bãi đất trống. Trong đại trướng, Lưu Khứ Ti đang khoanh tay đi qua đi lại. Năm nay y đã ngoài bốn mươi, thân hình tầm trung, đầu to, có một chùm râu rậm dài, đôi mắt nhỏ như lóe tinh quang, có vẻ linh hoạt, sắc bén như đao.

Lưu Khứ Ti đã tham gia cuộc chiến tranh bá của các chư hầu ở Trung Nguyên, có thể nói lưu loát tiếng Hán, cũng hết sức quen thuộc với đám người Viên Thiệu, Tào Tháo. Kiến An nguyên niên, y còn tham gia bình định loạn Lý Thôi, vì có công hộ giá Hán Đế mà được ban cho họ Lưu, phong làm Trấn Bắc Tướng Quân.

Lưu Khứ Ti cũng từng suy xét đến việc tham dự vào cuộc chiến tranh bá Trung Nguyên, nhưng bởi vì Tào Tháo thống nhất phương bắc. Y và Tả Hiền Vương Lưu Báo đều bị Tào Tháo đánh bại, cuối cùng đã vứt bỏ ý định tiến quân Trung Nguyên, trở về giữ Quan Nội Hà Sóc, củng cố phạm vi thế lực hai mươi mấy năm của Hung Nô.

Bởi vì Tào Tháo trường kỳ tác chiến với phương nam, nên dần dần có một giao ước ngầm với người Hung Nô. Phía đông lấy Thái Nguyên làm ranh giới, còn phía tây lấy Lục Bàn Sơn làm ranh giới. Phía bắc ranh giới này là thuộc về phạm vi thế lực của Hung Nô. Còn phía nam là phạm vi thế lực của Tào Tháo. Gần mười năm trôi qua, hai bên trước giờ vẫn không vượt tuyến, Lưu Khứ Ti cũng chấp nhận kiểu phân chia thế lực như thế này.

Nhưng cùng với việc thế lực phương nam bành trướng lên phía bắc, quân Hán đã mở đầu phá vỡ sự cân bằng của thế lực Hồ Hán ở Hà Tây, Lưu Khứ Ti liền cảm thấy được sự uy hiếp. Hiện giờ quân Hán rốt cục đã xuất binh theo Tiêu Quan đạo, điều này khiến cho tâm tình của Lưu Khứ Ti không khỏi trở nên căng thẳng.

- Xem ra người Ô Hoàn không đáng tin cậy!

Lưu Khứ Ti ngẩng đầu nhìn đỉnh trướng rồi lẩm bẩm.

Mưu sỹ Lý Lệnh của Lưu Khứ Ti cười nói:

- Nếu như Hiền Vương muốn nhân cơ hội này thâu tóm Ô Hoàn, ty chức lại cảm thấy bây giờ vẫn chưa phải lúc.

Lý Lệnh là cháu của mưu sỹ Lý Nho của Đổng Trác năm đó. Sau khi Lý Thôi bị Tào Tháo đánh bại, Lý Nho liền bỏ chạy về Thượng Quận, ẩn cư nơi đồng quê. Năm ngoái, Lưu Khứ Ti nghe ngóng được tin tức, liền đích thân đến cửa để thỉnh cầu, nhưng Lý Nho lại đi xa, không rõ tung tích, chỉ gặp được Lý Lệnh có tài nhưng không gặp thời. Tuy là hiến mưu cho dị tộc nhưng Lý Lệnh không kìm nổi sự hấp dẫn của việc làm chủ mưu, cuối cùng đã nhận lời trở thành mưu sỹ của Lưu Khứ Ti.

Gã giúp đỡ Lưu Khứ Ti bày kế, xử lý nội chính, giúp cho thế lực của Lưu Khứ Ti cường đại lên từng ngày, đã dần có thể đương cự với Tả Hiền Vương Lưu Báo. Quả thật là Lý Lệnh hiểu Lưu Khứ Ti, nghe nói người Ô Hoàn không đáng tin cậy, gã liền biết được Lưu Khứ Ti đang chú ý đến người Ô Hoàn. Mấy vạn người già, phụ nữ, trẻ con này đang ở trước mắt bọn họ, đương nhiên là Lưu Khứ Ti sẽ không bỏ qua cơ hội này.

Tuy nhiên, Lý lệnh không tán thành Lưu Khứ Ti thâu tóm thế lực của Biên Thứ, gã thấy Lưu Khứ Ti nhìn mình với vẻ mặt nghi ngờ, liền khuyên nhủ:

- Kỳ thực nuốt chửng Biên Thứ không khó, nhưng hậu quả lại rất nghiêm trọng, Hiền Vương đã cân nhắc đến cảm thụ của Ô Hoàn Vương chưa?

Lưu Khứ Ti lập tức hiểu ý của Lý Lệnh, y chần chừ một hồi, rồi nói:

- Ý ngươi là Lỗ Tích sẽ đầu hàng quân Hán?

Lý Lệnh gật gật đầu:

- Môi hở thì răng lạnh, nhược bằng Hiền Vương muốn nuốt lấy bộ tộc của Biên Thứ, Lỗ Tích sẽ cho rằng Hung Nô mới là đại địch của người Ô Hoàn. Nếu Lưu Cảnh lại nhân cơ hội lôi kéo, Ô Hoàn nhất định sẽ vì vậy mà đầu hàng quân Hán. Hiền Vương đã vì cái nhỏ mà mất cái lớn rồi, chẳng bằng cứ chờ đợi, đợi Lỗ Tích bị quân Hán đánh bại, chúng ta lại lấy cớ cứu viện Ô Hoàn, nhấc tay một cái thâu tóm người Ô Hoàn. Lúc đó, không phải chỉ có mấy vạn người già, phụ nữ, trẻ con nữa.

Lưu Khứ Ti cúi đầu trầm tư thật lâu, rồi lại nói:

- Vạn nhất Lỗ Tích và Biên Thứ không chiến mà hàng, há chẳng phải là ta không thu hoạch được gì sao?

Lý Lệnh cười ha ha:

- Lúc trước Hiền Vương lo lắng Ô Hoàn và Tào Tháo âm thầm qua lại, mới giữ con trai của Biên Thứ là Ô Huyền, con trai của Lỗ Tích là Thi Lợi ở bên cạnh làm tin. Hiện tại hai người bọn chúng đều nằm trong tay của Hiền Vương, còn cần phải lo lắng người Ô Hoàn đầu hàng sao? Hơn nữa, thứ tử Xích Ninh của Biên Thứ hiếu chiến, hắn cũng sẽ cổ động người Ô Hoàn đánh nhau với quân Hán. Nếu Hiền Vương vẫn cảm thấy lo lắng, còn có thể phái một viên Đại tướng đi viện trợ Lỗ Tích. Danh nghĩa là viện trợ, nhưng trên thực tế lại là giám sát. Thế thì tuyệt đối không có sai sót nữa.

Lưu Khứ Ti rốt cuộc cũng đã quyết định:

- Ta nghe theo lời của tiên sinh, phái trưởng tử Lưu Mãnh dẫn một vạn quân đi viện trợ Lỗ Tích, buộc hắn phải chống đỡ quân Hán bắc thượng.

Y lập tức nói với tả hữu:

- Bảo Lưu Mãnh đến gặp ta!

Một tên thân binh tất tả chạy đi. Lúc này, một tên thân binh khác lại đi đến trước trướng bẩm báo:

- Khởi bẩm Hiền Vương, Biên Thứ cầu kiến.

Lưu Khứ Ti vốn muốn nhốt Biên Thứ lại, nhân cơ hội mà cướp đoạt phụ nữ và trẻ con của lão. Nhưng thời khắc này, y đã đổi ý, liền nói:

- Dẫn vào đây!

Biên Thứ vội vã đi vào đại trướng, Lưu Khứ Ti nở nụ cười nghênh đón, ôm chặt lấy Biên Thứ.

- Có thể nhìn thấy Tù trưởng bình an, lòng ta cũng an ủi!

Biên Thứ rơi lệ nói:

- Thanh niên cường tráng của Ô Hoàn chống đỡ Lưu Cảnh bắc chinh ở Tiêu Quan, phụ nữ và trẻ con di chuyển qua đây, mong Hiền Vương thương xót.

- Ta chính là đến chi viện cho các ngươi, yên tâm đi! Ta sẽ hộ tống các ngươi đến nơi an toàn, không biết Tù trưởng muốn đi đâu? Đi Xa Diên Trạch hay là sao?

Xa Diên Trạch là sào huyệt của người Hung Nô, đi vào đó như dê đi vào miệng cọp, Biên Thứ nào dám đi, lão liền nói:

- Chúng ta tính đi huyện Tam Thủy, hoặc là đi Thượng Quận, hội hợp với Ô Hoàn Vương.

- Huyện Tam Thủy cũ nát, đến sói cũng không phòng được, sao có thể kháng cự được sự tiến công của quân Hán. Đừng đi nơi đó, đi Thượng Quận thì được. Ta sẽ sai trưởng tử Lưu mãnh dẫn quân hộ vệ các ngươi đi, sau đó ta đích thân dẫn quân nam hạ, chiến đấu với quân Hán.

Biên Thứ mừng rỡ, không ngờ Hung Nô không nuốt mất phụ nữ và trẻ con, quả thật là một niềm vui ngoài ý muốn. Lão vội vàng thi lễ, nói:

- Hết thảy đều nghe theo sự sắp xếp của Hiền Vương.

Lưu Khứ Ti cười âm hiểm, nói với trưởng tử Lưu Mãnh ở bên cạnh:

- Con dẫn một vạn dũng sỹ của bộ lạc Độc Cô hộ tống người Ô Hoàn đi Thượng Quận đến chỗ Lỗ Tích. Sau đó con cứ ở lại Thượng Quận, hiệp trợ người Ô Hoàn chống lại quân Hán bắc thượng, đã nghe chưa?

Lưu Mãnh không biết làm sao, đành phải khom người nói:

- Con biết rồi!

Buổi chiều, Lưu Mãnh chỉ huy một vạn kỵ binh hộ vệ mấy vạn người già, phụ nữ, trẻ con người Ô Hoàn bắt đầu rút lui về hướng đông, đi về phía Thượng Quận cách đó mấy trăm dặm, còn Lưu Khứ Ti thì chỉ huy mấy vạn kỵ binh tiếp tục xuôi nam, nhưng lần này y chậm rãi hành quân. Y không thật sự muốn quyết chiến với quân Hán, mà đứng ngoài nhìn cuộc chiến của quân Hán và người Ô Hoàn, sau đó tùy thời cơ mà hành động. Hai ngày sau, Lưu Khứ Ti dẫn quân đến một bãi đất trống cách Tiêu Quan khoảng hơn trăm dặm, đóng đại doanh ở đây.

Lúc Xích Ninh dẫn mấy ngàn quân Ô Hoàn rút lui về phía bắc thì liên tục gặp phải sự truy cản của kỵ binh quân Hán, hao binh quá nửa, cuối cùng chỉ còn hơn một ngàn người chạy thoát khỏi sự truy kích của quân Hán trở về, đi theo sau Xích Ninh như chó chết chủ, chạy về phía Thượng Quận.

Quân Hán lập tức chiếm lĩnh Tiêu Quan, bắt được hơn bốn ngàn binh sỹ Ô Hoàn, chiến mã gần vạn con, dê bò hơn mười vạn, đồng thời lại chiếm được huyện Cao Bình. Nhưng quân Hán lại không tiếp tục bắc tiến nữa, mà sửa chữa cường hóa phòng ngự của Tiêu Quan.

Lưu Cảnh tiếp nhận lời khuyên của Giả Hủ, thận trọng từng bước, đánh chắc thắng chắc, còn phái ra mấy mươi tiểu đội thám báo đi về phía bắc thăm dò tin tức. Dù sao kẻ địch cường đại nhất của Tái Bắc không phải là Ô Hoàn, mà là Hung Nô thực lực mạnh mẽ, còn có người Khương và người Đê như một con rắn độc đang chiếm cứ quận Bắc Địa, quân Hán không được có nửa điểm sơ suất.

Bởi vì quân Hán đã phát động chiến dịch đoạt Tiêu Quan, nên đã sản sinh ra sức ảnh hưởng cực kỳ lớn đối với dân chúng vùng lân cận. Hơn hai ngàn hộ dân Hán và người Ô Hoàn Hán hóa lấy nông canh làm kế sinh nhai không theo Biên Thứ rút về phía bắc, mà lựa chọn ở lại.

Nhưng đám mây chiến tranh u ám đã bao trùm lấy Quan Nội. Người Hán và người Ô Hoàn Hán hóa lũ lượt kéo đến Tiêu Quan, mỗi ngày đều có một số lượng lớn dân chúng dìu già dắt trẻ tiến vào Tiêu Quan, chạy nạn vào Quan Trung.

Lưu Cảnh khoanh tay đứng trên quan thành, nhìn dòng người tỵ nạn đang trốn vào Quan Trung kéo dài không dứt. Trong lòng hắn có một dự cảm chẳng lành, cực kỳ có khả năng là người Hung Nô đã ra tay. Lúc này, một đội kỵ binh thám báo từ phương bắc vội vàng chạy đến dưới thành hô to:

- Khởi bẩm Điện Hạ, đã phát hiện địch tình của người Hung Nô!

Chương 816: Sơ chiến Hung Nô

Gã thám báo tiến vào quan thành, thi lễ bẩm báo:

- Khởi bẩm Điện Hạ, phát hiện chủ lực của quân Hung Nô ngoài sáu mươi dặm, khoảng sáu bảy vạn kỵ binh, nhưng bọn họ không nam hạ, mà đóng đại doanh.

Tin tức này có chút nào ngoài dự liệu của Lưu Cảnh, hắn không ngờ kỵ binh Hung Nô sẽ đến nhanh như thế, vừa đoạt được Tiêu Quan, quân Hung Nô liền xuất hiện. Lúc này, Lưu Cảnh chợt nhớ đến một chuyện, vội vàng hỏi tả hữu:

- Kỵ binh của Mã Đại đã trở về chưa?

- Hồi bẩm Điện Hạ, Tướng quân dẫn quân truy kích người Ô Hoàn, vẫn chưa trở về.

Lưu Cảnh lập tức lấy ra một cây lệnh tiễn, đưa cho Quân hầu thám báo:

- Đi tìm Mã Đại tướng quân, lệnh cho y lập tức rút quân về, không được tác chiến với quân địch.

- Tuân lệnh!

Gã Quân hầu thám báo tiếp nhận lệnh tiễn, nhanh chóng chạy xuống dưới thành. Lưu Cảnh đứng nhìn một đại thám báo phi về hướng bắc, trong lòng quả thật có chút lo lắng. Hắn trầm ngâm một chút, rồi lại nói với thị vệ bên cạnh:

- Mau đi mời Giả quân sư đến đây.

Không bao lâu, Giả Hủ vội vã chạy đến, khom người nói:

- Tham kiến Điện Hạ!

- Quân sư hãy miễn lễ.

Lưu Cảnh liền nói cho Giả Hủ biết về tình báo phát hiện chủ lực của quân Hung Nô. Giả Hủ nhíu mày, y cũng không ngờ rằng kỵ binh Hung Nô lại đến nhanh như thế này. Y nghĩ tới nghĩ lui rồi nói:

- Tên Lưu Khứ Ti này thần đã từng có qua lại hồi hai mươi năm trước. Tuy người này là người Hồ, nhưng sống lâu ngày ở Trung Nguyên, hiểu rất rõ tình hình của Trung Nguyên, lại còn vô cùng giảo hoạt, phàm việc gì cũng lấy chữ lợi làm đầu. Năm đó sau khi y hộ giá thụ phong, Tào Tháo lại lệnh cho y truy kích tàn quân của Lý Thôi, y lại lấy lý do binh sỹ mệt mỏi mà cự tuyệt. Bởi vì quân nhu của Lý Thôi đã bị Tào Tháo đoạt mất, truy kích tàn quân của Lý Thôi cũng không kiếm chác được gì. Y trú binh ngoài sáu mươi dặm, chỉ e là đang mưu đồ lợi ích lớn nhất cho bản thân.

Lưu Cảnh trầm tư một hồi, lại nói:

- Ý của Quân sư là Lưu Khứ Ti thật sự chỉ muốn ngồi làm ngư ông đắc lợi ư?

Giả Hủ chậm rãi gật đầu:

- Nhất định là như thế, y muốn chờ chúng ta và người Ô Hoàn lưỡng bại câu thương rồi mới xuất binh. Lúc đó chẳng những là muốn đối phó chúng ta, mà còn thâu tóm cả người Ô Hoàn. Nhưng y lại sợ người Ô Hoàn đầu hàng chúng ta, cho nên mới đứng ngoài sáu mươi dặm đốc chiến. Một khi người Ô Hoàn có ý đầu hàng, y sẽ lập tức tiến công Ô Hoàn. Nếu thần đoán không sai, thì y nhất định sẽ phái tâm phúc đi giám sát người Ô Hoàn.

Lưu Cảnh nhìn chăm chú về phía bắc, có chút lo lắng, nói:

- Ta rất lo cho Mã Đại và kỵ binh của y, bọn họ truy kích tàn quân của Xích Ninh vẫn chưa về. Nếu như bọn họ bị binh sỹ tuần tra của Hung Nô bắt gặp, người Hung Nô sẽ không để bọn họ trở về một cách đơn giản như vậy. Ta nhất định phải tiếp ứng cho Mã Đại.

- Có thể đi tiếp ứng cho Mã Đại, nhưng Điện Hạ không thể mạo hiểm, có thể cho Bàng Đức chỉ huy kỵ binh đi tiếp ứng.

Lưu Cảnh gật gật đầu, lập tức quay đầu ra lệnh:

- Mau đi tìm Bàng Đức đến gặp ta!

Mã Đại dẫn năm ngàn kỵ binh phụ trách chặn đường người Ô Hoàn rút về phía bắc. Mặc dù y đã bày ra ba tuyến cản đường, nhưng vẫn có hơn một ngàn kỵ binh phá vỡ được ba tuyến này của y, chạy trốn về phía Thượng Quận, bao gồm cả Chủ tướng Xích Ninh của người Ô Hoàn. Trong lòng Mã Đại không cam, liền dẫn quân truy kích một mạch về hướng đông bắc, đuổi mãi đến hơn trăm dặm, trảm địch hơn bốn trăm người. Lúc này trời đã tối, quân Hán không quen đường sá, cuối cùng Mã Đại mới hạ lệnh ngừng truy kích.

Màn đêm đã lặng lẽ buông xuống, năm ngàn kỵ binh nghỉ ngơi qua đêm bên cạnh một con sông nhỏ. Bọn họ từ Ngõa Đình Quan qua đây, tổng cộng đã truy kích một đêm một ngày, người ngựa sớm đã mỏi mệt. Các binh sỹ trùm kín chăn ngủ thật say, chiến mã thì đứng bên cạnh chủ nhân lẳng lặng gặm cỏ trên đất, hoặc cũng cùng chủ nhân đi vào giấc ngủ.

Mã Đại thì lại không sao ngủ được, y ngồi xếp bằng bên bờ sông, mượn ánh trăng sáng để xem một tấm bản đồ. Bọn họ truy kích quân địch quá xa, đã khó tìm ra đường. Vùng này núi non trùng điệp, lối rẽ rất nhiều, địa hình hết sức phức tạp. Mà y không quen thuộc đối với địa hình vùng này cho lắm, khiến trong lòng y quả thật có chút lo lắng. Lương khô bọn họ mang theo chỉ đủ duy trì một ngày, một khi lạc đường, có thể mấy ngày cũng không trở về được Tiêu Quan. Quan đội của y ắt sẽ gặp phải sự uy hiếp về lương thực.

Đương nhiên, khi tình thế quẫn bách, bọn họ có thể giết chiến mã được vượt cửa ải này. Nhưng làm kỵ binh, chiến mã chính là huynh đệ của bọn họ, không người này nguyện ý giết huynh đệ của mình để đỡ cơn đói, trừ phi bọn họ tìm được tiếp viện kịp thời. Mã Đại bất đắc dĩ thở dài một tiếng. Bản đồ trên tay y quá đơn giản, chỉ vẽ bừa một lộ tuyến quanh co khúc khuỷu thông đến Tiêu Quan. Nhưng trên thực tế, bọn họ gặp phải vô số con đường, hầu như đều đi về hướng nam. Rốt cuộc là con đường này mới thông đến Tiêu Quan?

Mã Đại xếp tấm bản đồ, rồi lại nhìn bốn phía một lượt. Dường như bọn họ đã dấn thân vào dưới một bầu trời rộng lớn. Một vầng trăng sáng nhô lên trên bầu trời màu lam, trong lòng Mã Đại thầm nghĩ: "Bọn họ nhất định phải tìm được một người dẫn đường mới được.

Sáng sớm hôm sau, khi trời vẫn chưa sáng hẳn, mấy gã thám báo đã dẫn đến một tên mục dân người Ô Hoàn và hơn trăm con dê.

- Tướng quân, chúng thuộc hạ phát hiện ra người này ở bờ sông phía trước.

Mã Đại mừng rỡ, hơn trăm con dê có thể miễn cưỡng bổ sung làm thức ăn cho các binh sỹ. Quan trọng hơn là, đã có một người dẫn đường. Y lập tức ra lệnh cho thám báo dẫn tên mục dân kia đến. Tên mục dân sợ đến run lẩy bẩy, quỳ trên đất dập đầu khẩn cầu tha mạng. Mã Đại ôn hòa nói với gã:

- Chúng ta sẽ không tổn thương người, người chỉ cần nói cho chúng ta biết, theo con đường nào có thể đến huyện Cao Bình?

Tên mục dân nơm nớp lo sợ chỉ về một khe núi bên cạnh con sông nhỏ:

- Theo con đường bên đó đi thẳng, thì có thể đến huyện Cao Bình, không có đường rẽ.

Mã Đại mừng rỡ, căn dặn tả hữu:

- Đưa cho hắn một con ngựa, thả hắn đi.

Tên mục dân Ô Hoàn ra khỏi nơi quân đội tá túc, gã cưỡi ngựa chạy lên một khe núi. Trơ mắt nhìn binh sỹ quân Hán đang lột da làm thịt dê, gã hận đến đôi mắt đều sắp phóng ra lửa, liền xoay ngựa, chạy về hướng tây.

Đúng ngọ, Mã Đại đã dẫn đại quân đến một huyện thành bỏ hoang. Nơi này là huyện Cố Nguyên, bị bỏ hoang mấy năm. Huyện thành đã nhiều lần bị người Hung Nô cướp bóc, đã sớm bị đốt cháy thành bãi đất trống, chỉ còn lại một vòng tường thành hiu quạnh đứng sừng sững dưới chân Lục Bàn Sơn. Tìm được tòa thành Cố Nguyên cũ kỹ này, Mã Đại liền biết rằng bọn họ chỉ còn cách Tiêu Quan năm mươi dặm. Có tòa huyện thành này để tham chiếu, không cần nhìn bản đồ, y cũng biết đi đi về đâu.

Nghỉ ngơi nửa canh giờ, Mã Đại xoay người lên ngựa, ra lệnh cho thủ hạ:

- Gia tăng tốc độ, trở về Tiêu Quan ăn tối!

Các binh sỹ đều nhất loạt lên ngựa, thúc ngựa nhanh chóng chạy về phía nam, bụi đất tung bay, che lấp cả bầu trời. Nhưng bọn họ chỉ vừa chạy ra hơn mười dặm, thì trên một ngọn đồi ở phía trước mấy dặm, bỗng xuất hiện vô số chấm đen nhỏ. Ngay sau đó, trên đồi núi hai bên cũng xuất hiện vô số những điểm đen, đó là kỵ binh. Mã Đại lập tức nhận ra, y khoát tay hô to:

- Ngừng tiến về phía trước!

Năm ngàn kỵ binh quân Hán đều ghìm chặt chiến mã, bất an kéo lấy dây cương. Người sáng suốt đều sẽ nhìn ra, đã đối diện có ít nhất hơn một vạn kỵ binh. Mã Đại nhận ra đại kỳ đầu sói của đối phương, y lập tức ra lệnh:

- Là quân địch, chuẩn bị chiến đấu!

Đội kỵ binh mà Mã Đại gặp phải là cánh trái của người Hung Nô, là một đội kỵ binh của người tộc Yết, khoảng ba ngàn người. Người Yết là biệt chi của người Hung Nô, cũng là quân nô lệ của người Hung Nô. Diện mạo của bọn họ hơi khác với người Hung Nô, rõ ràng là có đặc điểm của người da trắng, mũi cao mắt sâu, phần lớn đều để râu.

Người Yết chịu sự áp bức của người Hung Nô một cách sâu sắc, nhưng cũng vì vậy đã tạo nên tính cách dân tộc tàn bạo, thích nhất là cướp bóc gian dâm. Bọn họ được Lưu Khứ Ti chỉ định làm cánh trái, hoạt động khá tự do, liền nhân cơ hội tìm kiếm thôn xóm người Hán hoặc người Ô Hoàn, giết chóc cướp bóc.

Thủ lĩnh của đội kỵ binh người Yết này tên là Thạch Nhu, tuổi tầm ba mươi. Y là con trai của Đại tù trưởng bộ lạc người Yết, mặt đầy sẹo, bộ dáng cực kỳ hung hãn, sử dụng một thanh đại đao năm mươi cân, giết người vô số. Một canh giờ trước, Thạch Nhu đã được một gã mục dân Ô Hoàn chạy đến báo cáo tin tức, một đội kỵ binh quân Hán đang từ phía đông chạy qua đây, chỉ có mấy ngàn người. Thạch Nhu quyết định thật nhanh, dẫn một vạn ba ngàn quân bản bộ đuổi đến chặn đường quân Hán.

Thạch Nhu cưỡi ngựa đứng trên đồi, lạnh lùng nhìn về phía kỵ binh quân Hán ở mấy dặm đằng xa, nhân số không đến một nửa quân mình. Thạch Nhu khinh miệt, cười lạnh một tiếng, nói với mười mấy viên Đại tướng bên cạnh:

- Rất kỳ lạ, người Trung Nguyên sao lại cũng có kỵ binh, chẳng lẽ trồng ra kỵ binh sao?

Mười mấy viên đại tướng cười phá lên. Thạch Nhu gỡ cây tù và to lớn trên chiến mã xuống, ngửa đầu thổi mạnh. Ngay sau tiếng "U" mười cây tù và cũng cùng nhau thổi. Tiếng tù và vang vọng trên vùng đất. Kỵ binh người Yết đội nhiên phát động, một vạn ba ngàn ky bịnh từ ba hướng xuất kích, vạn mã phi nhanh, mặt đất đang rung chuyển, bụi đất che lấp bầu trời. Kỵ binh như cuồng phong bạo vũ xông về phía kỵ binh quân Hán.

Mã Đại thống soái kỵ binh Tây Lương nhiều năm, cũng có kinh nghiệm phong phú về kỵ binh. Nếu như là tướng lĩnh kỵ binh bình thường, dưới tình huống quân địch chủ động xuất kích, tám chín phần sẽ dùng cung nỏ để chặn, đây là chiến thuật nhất quán của quân Hán. Nhưng Mã Đại lại có thể căn cứ theo tình hình thực tế để đưa ra chiến thuật.

Mã Đại không hạ lệnh dùng nỏ tiễn bắn. Quân địch phân làm ba đường đánh tới, diện xuất kích quá lớn, mà binh lực của bọn họ bị vây trong hoàn cảnh xấu. Nếu dùng cung nỏ, tuy rằng có thể gây sát thương lên một bộ phận quân địch, nhưng quân Hán sẽ gặp phải sự xung kích mãnh liệt của kỵ binh. Đối với quân đội không có chiến xa làm chướng ngại vật mà nói, bị kỵ binh cường đại xung kích là một việc cực kỳ đáng sợ.

Dưới tình hình như vậy, chỉ có đồng thời xung kích đối phương, lấy cứng đối cứng mới là chiến thuật tốt nhất. Mã Đại nâng đao hô to:

- Các kỵ binh quân Hán, đây là thời khắc vinh quang của các nguoi, hãy khiến cho quân địch run rẩy dưới sự chiến đấu và vó ngựa của chúng ta đi!

Mã Đại hô khản cả giọng:

- Giết!

Năm ngàn quân Hán nâng mâu hét lên:

- Giết!

Tiếng hét xông thẳng lên trời. Kỵ binh quân Hán ầm ầm tiến lên, lấy một khí thế không thể chống đỡ bắt đầu xung kích. Hai đội kỵ binh càng lúc càng gần nhau, chỉ còn một chút nữa là chạm mặt. Chiến mã như gió cuốn giết về phía trước, xông lên mạnh liệt, dữ dội như gió lốc. Thiết mâu, chiến đao đâm vào mũ sắt, phát ra những âm thanh chói tai. Tiếng khóc, tiếng kêu thảm thiết phát ra.

Kỵ binh quân Hán tựa như một thanh thiết kiếm, giết ra một đường máu trong đám quân địch đông nườm nượp. Kỵ binh quân Hán dũng mạnh khó sánh, trên con đường máu đó, giẫm đạp tất cả, áp đảo tất cả, đánh tan tác tất cả, chẻ đôi kỵ binh người Yết, xông thẳng vào đại kỳ đầu sói ở trung tâm quân địch. Bắt giặc trước tiên phải bắt vua, giết được Chủ tướng quân địch, hoặc đánh tan trung quân của quân địch, chính là thủ đoạn tốt nhất để lấy ít đánh nhiều.

Thạch Nhu lại không ở dưới đại kỳ đầu sói, y sớm đã đoán được quân Hán sẽ tấn công đại kỳ, giết chết mình mà thu hoạch thắng lợi. Lúc bắt đầu xung phong y đã thoái lui ra phía sau đội ngũ. Lúc này, Thạch Nhu híp mắt nhìn quân Hán xung phong, trong mắt không giấu được sự dắc ý. Quân Hán lao thẳng vào trung quân, là đã nằm trong lòng bàn tay của y rồi.

Thạch Nhu lại giơ tù và lên thổi mạnh, "U! U! U!", đây là mệnh lệnh tiến công của hai cánh quân hai bên. Hai cánh kỵ binh trái phải giống như hai cái đuôi của bọ cạp, hung hãn đánh mạnh mẽ vào hai bên quân Hán.

Chương 817: Kỵ binh người Yết

Mã Đại dẫn đầu, vung đao giết ra một con đường máu, giết thẳng đến cây đại kỳ đầu sói. Một viên Đại tướng quân địch ở dưới cây đại kỳ mua thiết côn nghênh diện Mã Đại. Mã Đại thấy tướng địch đuầ đội kim trụ, trong lòng mừng rỡ, đây ắt là Chủ tướng quân địch.

Y vùng trường đao, mũi đao mượn lực đẩy thiết côn ra. Đại đao lập tức thuận theo thiết côn đánh xuống, đao quang chợt lóe, "Sựt!", máu tươi phun ra. Thủ cấp của tướng địch bị chém văng ra xa hơn một trượng, thi thể ngã quỵ dưới ngựa.

Mã Đại kẹp hai chân vào bụng ngựa, xoay người bổ một đao vào cây đại kỳ. Đại đao sắc bén, cây đại kỳ kêu "Rắc!" một tiếng rồi gãy thành hai đoạn, cây đại kỳ đầu sói cao ba trượng đang ầm ầm ngã xuống. Giết tướng, đốn cờ, thế như chẻ tre, nhưng Mã Đại không nhìn thấy được cảnh quân địch đại loạn như trong kỳ vọng. Ngược lại, thế công của quân địch càng thêm mãnh liệt. Trong lòng y lập tức có chút bất an, chẳng lẽ viên tướng đội kim trụ mà y giết chết không phải là Chủ soái quân địch sao?

Đúng lúc này, một tên thủ hạ chỉ về phía sau quân địch hô to:

- Tướng quân mau nhìn!

Mã Đại cũng nhìn thấy, ở phía sau quân địch lại xuất hiện một cây đại kỳ đầu sói. Dưới cây đại kỳ đầu sói, mờ hồ thấy được một viên Đại tướng đội kim trụ. Y bỗng ý thức được mình đã trúng kế. Cái mà bọn họ vừa rối mới kích sát, không phải là trung quân quân địch, chỉ là một cây kỳ giả. Trung quân thật sự vẫn còn đang ở phía sau, cách mấy trăm bước, căn bản là không giết đến nổi.

Lúc này, Phó tướng Lãnh Bào đánh tới, hô to:

- Mã tướng quân, nhân số quân địch quá đông, chúng ta đã bị bao vây rồi.

Mã Đại cũng nhìn thấy quân địch từ hai cánh bao vây. Nếu tiếp tục chiến đấu, thì cuối cùng bọn họ chắc chắn sẽ toàn quân bị diệt. Mã Đại lập tức ra lệnh cho Lãnh Bào:

- Dẫn quân theo ta phá vây ra ngoài!

Lãnh Bào lập tức chạy trở về chỉnh đốn quân mã. Lúc này, Mã Đại chỉ huy mấy trăm kỵ binh tinh nhuệ đánh về phia đông năm, nơi quân đích yếu nhất. Bọn họ giống như một nấm đấm thép, giết cho quân địch người ngã ngựa đổ. Cuối cùng đã mở ra một lỗ hổng, mấy ngàn ky bịnh quân Hán đã tiếp nhận mệnh lệnh phá vây. Bọn họ nhất cổ tác khí, theo sau tiền quân của Mã Đại, xông ra khỏi vòng vây của quân địch, chiến mã phi nhanh, rút về phía tây.

Mã Đại dẫn kỵ binh quân Hán một hơi xông ra khỏi mười mấy dặm, chạy nhanh đến huyện Cố Nguyên bỏ hoang. Bọn họ trức tiếp tiến vào huyện thành. Điều vạn hạnh chính là hai cái cổng thành đều vẫn còn hoàn hảo. Mã Đại chỉ hủy binh sỹ nhanh chóng dùng thanh gỗ to dài chèn vào cổng thành.

Lãnh Bào thì dẫn hai ngàn binh sỹ xông lên đầu thành, y ra lệnh cho các binh sỹ nấp sau lỗ châu mai. Giương cung kéo nỏ chuẩn bị, kiên nhẫn chờ đợi kỵ binh người Yết ngày càng tiến sát lại gần.

Mắt thấy kỵ binh người Yết sắp xông đến cổng thành, Lãnh Bào đột nhiên hô to một tiếng:

- Bắn!

Hai ngàn binh sỹ cùng nhau hiện thân, hai ngàn mũi tên bắn về phía kỵ binh người Yết như mưa rào. Mấy trăm quân địch đang xông lên phía trước không kịp đề phòng, từng mảng từng mảng bị bắn ngã, tử thương vô số. Kỵ binh ở phía sau thấy tình thế không ổn, đều ghìm chặt chiến mã, quay đầu ra khỏi tầm bắn của nỏ tiễn quân Hán.

Mã Đại dưới thành chỉ huy binh sỹ vận chuyển đá tảng chặn hai cổng đông tây. Điều vạn hạnh là những căn nhà bỏ hoang trong thành tuy bị thiêu hủy, nhưng tường thành của huyện thành lại vẫn còn hoàn chỉnh, không xuất hiện sự hủy hoại với diện tích lớn. Ngoại trừ hai cổng thành, thì một góc tường thành phía đông bắc đã sụp xuống, để lộ ra một lỗ hỗng rộng hơn hai mươi trượng. Một tên Nha tướng suất lĩnh năm trăm binh sỹ phòng ngự tại lỗ hổng này.

Lúc này, Mã Đại đã kiểm tra lại nhân số, tâm tình của y lập tức trở nên trầm trọng. Sau một hồi ác chiến với quân địch, y tổn thất một ngàn bốn trăm huynh đệ, trong thành chỉ còn hơn ba ngàn năm trăm kỵ binh, mà tổn thất của quân địch không nhiều, trông có vẻ cũng không tới hai ngàn người. Một trận kịch chiến, hai bên tổn thất tương đương, nhưng cơ số quân Hán rất nhỏ, hơn một ngàn bốn trăm người thương vong, đã gần đến ba thành. Mà đối phương hầu như không bị ảnh hưởng gì.

Trong lòng Mã Đại cực kỳ ảo não. Phải biết rằng đội quân y suất lĩnh chính là kỵ binh tinh nhuệ, là Nha Môn Quân của Hán Vương. Tổn thất thảm trọng như vậy, y giao phó với Hán Vương như thế nào đây?

Tòng quân Triệu Kham an ủi y:

- Tình hình có lẽ không xấu đến vậy. Lúc ấy các huynh đệ phá vây mấy chỗ, bên chúng ta có ba ngàn năm trăm người, rất có thể nơi khác cũng có huynh đệ phá vây ra được. Hơn nữa chúng ta giao chiến cùng quân địch vẫn chưa đến nửa canh giờ, hẳn là tổn thất sẽ không thảm trọng như vậy.

Kỳ thực Mã Đại cũng cảm thấy sẽ có binh sỹ phá vây ra từ nơi khác, nhưng chung quy y vẫn cảm thấy đây là trách nhiệm của mình, không muốn mang lòng cầu may. Y thở dài, nói:

- Bất kể như thế nào, trận chiến này ta không nên phô trương cái dũng nhất thời, nên trực tiếp thoái lui đến thành Cố Nguyên, thương vong sẽ nhỏ hơn nhiều.

- Sự việc đã đến nước này, Tướng quân tự trách cũng vô dụng, vẫn nên cố gắng bảo vệ cho tòa thành cũ kỹ này đi!

Mã Đại yên lặng gật gật đầu, thì vào lúc này, một tên binh sỹ chạy đến bẩm báo:

- Khởi bẩm Tướng quân, quân địch đã chuyển về gốc đông bắc.

Mã Đại giật mình, quân địch chắc chắn muốn vào thành từ chỗ tường thành sập xuống ở góc đông bắc. Y ảo não, lập tức giục ngựa chạy về hướng đông bắc.

Kỵ binh người Yết không mang theo các loại vũ khí công thành như thang mây. Hơn nữa, cho dù có mang theo thang, mà chiến mã không thể vào thành thì đối với bọn họ mà nói cũng không có ý nghĩa gì. Kỵ binh người Yết đương nhiên cũng có lựa chọn, hoặc là chờ đợi kỵ binh quân Hán lương tận thủy tuyệt (lương hết, nước hết), tự mình đánh ra, hoặc là bọn họ nghĩ cách đánh vào thành.

Thạch Nhu lựa chọn cách sau. Y không biết tình hình lương thảo của kỵ binh quân Hán, không biết quân Hán có thể chống chọi được mấy ngày. Quan trọng hơn là, nơi này cách Tiêu Quan chỉ có mấy mươi dặm, y biết rằng một bộ phận kỵ binh quân Hán đang đột phá vòng vây đi về phía nam, rất có thể sẽ dẫn viện quân đến. Y nhất định phải nhanh chóng tiêu diệt đám kỵ binh ít ỏi này. Một khi thành công, sẽ có lợi rất nhiều đối với bộ tộc của y.

Thạch Nhu đã nhận được tin tức của thám tử, góc tường thành phía đông bắc có một đoạn bị sập xuống, chiều rộng hai mươi mấy trượng, lại không có sông hộ thành. Bọn họ hoàn toàn có thể xông vào.

Thạch Nhu lập tức suất lĩnh sáu ngàn kỵ binh chạy đến góc thành trì phía đông bắc. Y vẫn duy trì áp lực tiến công tại hai cổng thành phía đông và tây, khiến cho quân Hán trên đầu thành không thể tập trung binh lực đến phòng ngự ở góc đông bắc.

Chỗ sập xuống của tường thành ở góc đông bắc đã trở thành tiêu điểm nổ ra trận kịch chiến giữa hai quân. Quân Hán tập trung một ngàn năm trăm binh sỹ phòng ngự chỗ tường thành bị sập, do Chủ tướng Mã Đại đích thân chỉ huy. Lúc này, quân Hán đã dùng hơn ngàn cây trường mâu cắm vào lỗ hổng đó, mũi mâu xiên ra ngoài, hình thành một hàng rào trường mâu. Đây là phương pháp phòng ngự địch tập doanh khi hạ trại, đã được quân Hán dùng làm phòng ngự.

Triệu Khiêm đề nghị với Mã Đại:

- Tướng quân, chẳng bằng dùng đá tảng chặn lỗ hổng lại, để cho kỵ binh quân địch không thể vượt qua.

Kinh nghiệm đánh kỵ binh của Mã Đại vô cùng phong phú, y lắc lắc đầu:

- Trong thành không có đá tảng, toàn là đá vụn, ngược lại sẽ dễ hình thành độ dốc, tạo điều kiện cho kỵ binh từ chỗ cao lao xuống, bất lợi cho việc phòng ngự của chúng ta.

Triệu Khiêm đành phải vứt bỏ ý tưởng này, nhưng Mã Đại lại cười nói:

- Có thể dùng túi lương khô chứa bùn đất, làm công sự che chắn ở lỗ hổng, có lợi cho cung tiễn của chúng ta bắn tên.

Y ra lệnh một tiếng, mấy trăm binh sỹ đều dùng mấy ngàn túi lương khô chứa bùn đất, chất đống ở bên trong lỗ hổng. Tuy rằng không có tác dụng nhiều đối với kỵ thuật tinh của người Hồ, nhưng lại tạo cho binh sỹ quân Hán một lá chắn ẩn thân.

Mắt thấy quân địch tụ tập ở ngoài góc đông bắc càng lúc càng nhiều, một ngàn năm trăm quân Hán cũng lập trận chờ đón. Mã Đại thiết lập ba điểm phòng ngự, Nha tướng La Tốn và Tòng quân Triệu Khiêm dẫn ba trăm binh sỹ phòng ngự bên trên tường thành hai bên lỗ hổng, dùng cung nỏ bắn xuống quân địch.

Mã Đại thì đích thân dẫn chín trăm người phân bố phía sau lỗ hổng rộng hơn hai mươi trượng, dùng nỏ tiễn và trường mâu phòng ngự. Bọn họ vừa bố trí xông, phiá đối diện liền truyền đến tiếng tù và tiến công của người Yết, "U!", đợt tấn công thứ nhất của hai ngàn kỵ binh chợt bắt đầu, xông đến lỗ hổng như che trời phủ đất, bụi đất đầy trời, tiếng vó ngựa nện xuống đất kịch liệt, chấn động đến nỗi khiến cho trái tim của binh sỹ quân Hán dường như sắp nhảy ra ngoài.

Kỵ binh của quân địch càng lúc càng gần, ba trăm bước, hai trăm năm mươi bước, hai trăm bước, một trăm năm mươi bước. Sát khí tràn ngập mặt đất. Ánh mắt của Mã Đại chăm chú nhìn vào đám kỵ binh. Đối phương không có thuẫn, người ngựa đều khoát một tấm bì giáp thật dày. Ngoài năm mươi bước, cung tiễn bình thường đừng hòng bắn xuyên bì giáp. Còn đối với nỏ tiễn cường đại, chỉ có thể có hiệu quả sát thương trong vòng trăm bước, nếu như tính cả thời gian lên dây. Kích thứ nhất của bọn họ nhất định phải có hiệu quả.

Sự huấn luyện nghiêm khắc của quân Hán đã bày ra uy lực vào thời khắc này. Mặc dù kỵ binh người Yết sớm đã xông vào phạm vi sát thương của nỏ tiễn, nhưng không có mệnh lệnh, ai cũng không được tự tiện bắn tên. Lúc kỵ binh quân địch đã đánh vào trong tám mươi bước, Mã Đại liền hét to một tiếng:

- Nỏ tiễn, BẮN!

Một tràng tiếng mõ vang lên, một ngàn nỏ tiễn cùng phát ra âm thanh ken két, tiếng nỏ lách cách, một ngàn mũi nỏ tiễn gào thét bắn ra, dày đặc như mưa rào, hối hả bay về phía đám kỵ binh. Mũi tên mạnh mẽ bắn xuyên hai lớp bì giáp. Tiếng kêu thảm thiết đột ngột phát ra, chiến mã kêu thảm, quay cuồng ngã xuống đất, đám kỵ binh cũng đều bị trúng tên, từ trên ngựa ngã xuống. Hơn ba trăm tên xông lên đầu tiên đã tử thương quá nửa.

Nhưng nỏ tiễn mạnh mẽ vẫn khó có thể ngăn cản thiết kỵ ngườ Yết. Kỵ binh phía sau xung phong đánh tới, giẫm lên mặt đất đầy thi thể, tiếp tục xông vào lỗ hổng một cách mãnh liệt, trong nháy mắt đã xông đến ngoài năm mươi bước. Mã Đại không chút kinh hoảng, lạnh lùng hạ lệnh:

- Cung tiễn, BẮN!

Tiếng trống trận bỗng vang lên, đây là mệnh lệnh bắn tên. Năm trăm cung tiễn giương lên, mũi tên dài lao nhanh về phía kỵ binh quân địch. Năm trăm mũi tên gần như đồng thời thoát khỏi dây cung bay ra, vẽ ra từng đường thẳng mạnh mẽ, nhắm thẳng vào kỵ binh địch. Kỵ cung bắn ra trong vòng năm mươi bước, tốc độ không gì sánh nổi. Chỉ trong nháy mắt lại có gần hai trăm mấy kỵ binh Yết Hồ kêu thảm ngã xuống. Chiến mã phía sau bị trượt ngã, tên kỵ binh từ trên lưng ngựa lập tức quay cuồng rồi rơi xuống đất, náo loạn trong khoảng năm mươi bước gần tường thành.

Đối với hai ngàn kỵ binh thanh thế to lớn, tổn thất gần năm trăm người vẫn khiến cho khí thế xung kích của bọn họ bị áp chế mạnh mẽ, bắt đầu có kỵ binh chuẩn bị quay đầu trở về. Nhưng Thạch Nhu lại thổi tù và tiến công, liên tục thổi. Giống như mê hồn thuật của vu sư, kỵ binh Yết Hồ lại lần nữa được nâng cao sỹ khí, tiếp tục phóng ngựa xông đến.

Đây là một truyền thống đặc thù của người Yết. Nếu như trên anh dũng hy sinh trên chiến trường, thì vợ con của bọn họ đều sẽ nhận được sự hậu đãi của tộc nhân. Ngược lại, nếu ai lâm trận bỏ trốn, thì vợ con của người đó sẽ chịu đủ mọi sự kỳ thị, tài sản cũng sẽ bị tộc nhân đoạt đi, chia cho người khác.

Chính là vì như thế, nên Yết Hồ tác chiến vô cùng dũng mãnh, đồng thời cũng tàn bạo khác thường. Dưới tiếng tù và thổi vang, khí thế của kỵ binh lại trở nên mãnh liệt, liều lĩnh xông về phía lỗ hổng của tường thành. Nhưng nghênh đón bọn họ lại là hơn ngàn cây trường mâu sắc nhọn cắm trên đất. Kỵ binh phía trước đã không còn cách nào dừng bước, trơ mắt nhìn trường mâu càng lúc càng gần, đám kỵ binh đều tuyệt vọng hét thảm.

Trong một tràng tiếng kêu thảm thiết, mũi mâu sắc bén dâm xuyên qua chiến mã, xuyên qua bộ ngực của kỵ binh. Huyết vụ tràn ngập trong không khí, mấy trăm kỵ binh Yết Hồ chết thảm tại chỗ, nhanh chóng tạo thành một bức tường thi thể cao hơn một trượng.

Ngay sau đó, cung tiễn và nỏ tiễn lại lần nữa bắn ra một cách dày đặc, kỵ binh phía sau may mắn tránh được trường mâu lại khó thoát khỏi mũi tên vô tình, nhất loạt ngã xuống. Không ít binh sỹ bị thương muốn bò lên, lại bị tên bắn xuyên qua người, dính vào mặt đất. Đám kỵ binh còn lại đều sợ đến mức hồn phi phách tán, dùng hết sức bình sinh quay đầu chạy trốn, rút lui như thủy triều. Vỏn vẹn chỉ một lần công kích, hai ngàn kỵ binh Yết Hồ đã thương vong quá nửa.

Chương 818.1: Đường tơ kẻ tóc

Thạch Nhu nổi trận lôi đình, nâng đao chỉ về phía thành trì, nghiến răng nghiến lợi nói:

- Nếu như để ta phá được thành, ta sẽ róc thịt từng tên các ngươi!

Cơn phẫn nộ khó kìm nén, y lại giơ tù và, dùng hết sức thổi, "U!", hơn trăm cây tù và cùng thổi. Lúc này, kỵ binh Yết Hồ đã nhận được bài học khinh địch. Toàn bộ năm ngàn kỵ binh tham gia tấn công, Thạch Nhu đích thân ra trận. Y đứng sau đội quân đốc chiến, y nhất định phải tấn công vào lỗ hổng.

Mã Đại khẽ biến sắc, y cũng biết rằng quân địch đang muốn liều mình một phen. Y lập tức điều sáu trăm binh sỹ từ tường thành hai bên xuống dưới, gia tăng phòng ngự tại lỗ hổng. Lúc này, Lãnh Bào chỉ huy bảy trăm binh sỹ từ chỗ cổng thành phía đông và tây chạy đến viện trợ. Kỵ binh Yết Hồ không tấn công cổng thành quy mô lớn nữa, bọn họ không cần phải duy trì quá nhiều binh lực ở hai nơi này. Mỗi cổng thành chỉ để lại bốn trăm người phòng ngự. Các binh sỹ còn lại thì toàn bộ đều chạy đến lỗ hổng, giúp cho phòng ngự ở đây đạt đến hai ngàn bảy trăm người, dường như đã có thể đương cự lại kỵ binh Yết Hồ xung kích tấn công.

Mã Đại nhanh chóng điều chỉnh lại tiễn trận phòng ngự, không phân thành cung binh và nỏ binh nữa, cũng không tính toán khoảng cách nữa, mà chia làm ba lượt bắn. Chín trăm người một lượt, luân phiên bắn. Tên bay dày đặc như vũ bão, bắn về phía Hồ kỵ đang cuồn cuộn đánh tới. Dưới sự bức bách của sát khí, kỵ binh Yết Hồ cũng trở nên cuồng bạo khó sánh. Kỵ binh phía trước bị bắn ngã, kỵ binh dày đặc ở phía sau lập tức nhảy qua, không đình trệ chút nào. Kỵ binh chết trận thây chất như núi, nhưng kỵ binh Yết Hồ lại càng lúc càng gần. Ngay cả hơn ngàn cây trường mâu cũng bị kỵ binh giẫm nát. Cơn sóng dữ Yết Hồ cuồng bạo mãnh liệt ập đến.

Mã Đại thấy cung nỏ và trường mâu cắm dưới đất đã không còn cách nào để ngăn cản kẻ thù tấn công, y liền hô to:

- Trường mâu quân, bày trận!

Binh sỹ quân Hán lập tức thay đổi trận hình. Bọn họ vứt bỏ cung nỏ, nhặt trường mâu lên, nhanh chóng xếp thành trường mâu phương trận. Ba trăm người thành một hàng, tổng cộng đã xếp thành chín hàng, lấp kín cả lỗ hổng rộng hơn hai mươi trượng. Trường mâu như rừng. Những thanh trường mâu thẳng tắp nhắm thẳng vào kỵ binh người Hồ đang điên cuồng xông đến.

- Giết!

Thạch Nhu rống to như đang nổi điên, mấy ngàn kỵ binh cùng nhau hét to:

- Giết!

Kỵ binh Yết Hồ rốt cục cũng đã đánh đến trước đoạn tường, mà lỗ hổng rộng hơn hai mươi trượng không đủ để mấy ngàn kỵ binh cùng xung kích. Cơn sóng lớn trở thành từng cơn sóng nhỏ điên cuồng. Hơn trăm kỵ binh xông đến, nghênh diện với trường mâu quân. Cuối cùng, hai quân đã chạm trán với nhau. Đây là một cảnh tượng cực kỳ thảm thiết. Mấy chục binh sỹ quân Hán bị đẩy bay ra ngoài, gần trăm kỵ binh Yết Hồ cũng chết thảm dưới trường mâu. Nhưng trận hình của song phương vẫn không có chút hỗn loạn. Mà trường mâu quân cũng nhanh chóng bổ sung vào chỗ khuyết.

Hai bên bắt đầu kịch chiến ở cái lỗ hổng rộng hơn hai mươi trượng đó. Tử thi chồng chất, tầng tầng lớp lớp, không phân biệt được là quân Hán hay là Hồ kỵ. Máu tươi nhuộm đỏ cả tường thành và mặt đất. Mặc dù kỵ binh Yết Hồ dũng mãnh, nhưng lỗ hổng kia quá hẹp khiến cho bọn họ không thể phát huy ưu thế của kỵ binh. Ngược lại, quân Hán vứt bỏ chiến mã, dùng trường mâu bộ binh nghênh chiến lại chiếm được ưu thế về địa lợi, khiến cho ưu thế về binh lực của kỵ binh Yết Hồ bị triệt tiêu. Thế lực song phương ngang bằng nhau, tiếng trống gõ vang như sấm, tiếng tù và vang dội, tiếng chém giết rung trời.

Tòng quân Triệu Khiêm thấy mấy hàng trường mâu binh của quân Hán ở phía sau hầu như không phát huy được tác dụng, y liền hô to:

- Ba hàng binh sỹ phía sau, nhặt cung nỏ lên, theo ta lên thành!

Chín trăm binh sỹ lại lần nữa nhặt cung nỏ và tên, chạy lên đầu thành hai bên. Bọn họ đứng trên cao, nhìn xuống, giương cung kéo nỏ, những mũi tên dày đặc bắn về phía Hồ kỵ dưới thành. Kỵ binh ngoài thành lập tức trở nên đại loạn.

Thạch Nhu đã giết đến đỏ cả mắt, y trừng đôi mắt đỏ như máu, ra lệnh cho tả hữu:

- Điều toàn bộ kỵ binh đến đây!

Tiếng tù và vang lên, năm ngàn kỵ binh ở cổng thành đông tây cùng chạy đến góc đông bắc, tham gia trận chém giết tấn công vào trong. Thạch Nhu quyết tâm, cho dù đánh đến người cuối cùng, y cũng phải xông vào thành.

Trận chiến công thành tanh mùi máu này đã diễn ra kịch liệt từ giữa trưa đến lúc hoàng hôn. Song phương tử thương thảm trọng, thi thể chất cao như núi. Kỵ binh Yết Hồ tử thương hơn bốn ngàn người mà thương vong của quân Hán cũng vượt hơn ngàn, mà kỵ binh Yết Hồ thì vẫn còn hơn bảy ngàn quân, gấp ba lần quân Hán. Lúc này, hai bên đều đã lâm vào tình trạng kiệt sức, mà kỵ binh Yết Hồ đã đánh vào trong thành hơn mười trượng, bị quân Hán liều chết bao vây. Mắt thấy quân hán đã sắp không thủ được lỗ hổng, kỵ binh Yết sắp phá vây vào thành.

Thì đúng lúc này, ở phía xa bỗng mơ hồ truyền đến một tiếng trống. Binh sỹ hai phía đều giật mình, chỉ thấy đàng xa xuất hiện chi chít những điểm đen, cát bụi đầy trời, mặt đất bắt đầu rung chuyển. Đây là một đội kỵ binh hơn ngàn người đánh tới, là Hung Nô hay là quân Hán? Trong lòng mỗi người đều tràn đầy hy vọng, đồng thời lại ẩn chứa nỗi tuyệt vọng.

Bỗng nhiên, mấy trăm binh sỹ quân Hán trên đầu thành vang lên tiếng hoan hô. Bọn họ nhìn thấy xích kỳ quân Hán, mọi người đều kích động quát to:

- Là quân Hán! Là kỵ binh của chúng ta!

Viên quân đánh tới, khiến cho sỹ khí của quân Hán được đại chấn, làm cho quân địch bị giết đến liên tiếp bại lui. Kỵ binh Yết Hồ đã bị đuổi ra ngoài thành. Thạch Nhu mặt xám xịt, trong lòng phẫn hận cực kỳ. Tại sao người Hung Nô lại không đến viện trợ cho mình? Bắt đắc dĩ, y đành phải hô to một tiếng:

- Rút quân!

Y quay đầu ngựa bỏ chạy về phía bắc. Mấy ngàn Hồ kỵ binh bại như núi đổ, bọn họ chạy trối chết. Mà lúc này, sáu ngàn kỵ binh do Bàng Đức chỉ huy đã đánh tới từ hai phía. Kỵ binh quân Hán che trời phủ đất tiến thẳng về phía Yết Hồ, cắt đôi Hồ kỵ. Mã Đại nhìn thấy Bàng Đức, trong lòng kích động vạn phần, tinh thần tỉnh táo, y hô to:

- Lên ngựa truy kích!

Những binh sỹ quân Hán còn lại đều nhất loạt lên ngựa, từ lỗ hổng xông ra, đi theo sau viện quân mà truy kích địch, giết cho kỵ binh Yết Hồ người ngã ngựa đổ, thây chất đầy đồng, đuổi đến hơn hai mươi dặm. Thạch Nhu chỉ mang theo không đến bốn ngàn kỵ binh đào thoát khỏi sự truy kích của quân Hán. Hơn một vạn ba ngàn kỵ binh đã tổn thất mất chín ngàn người. Trong lòng Thạch Nhu đau buồn muôn phần, y cũng không dám trở về đại doanh, mà trực tiếp chỉ huy số kỵ binh còn lại bỏ chạy về phía bộ lạc Yết tộc ở phía bắc.

Nhưng quân hán cũng phải trả cái giá trầm trọng giống như vậy. Năm ngàn kỵ binh thương vong gần nửa. Nếu như không kịp thời thoái lui đến tòa thành Cố Nguyên cũ kỹ để cố thủ, bọn họ chắc chắn sẽ toàn quân bị diệt. Mặc dù như thế, thương vong thảm trọng của kỵ binh quân Hán cũng là tổn thất thảm trọng nhất từ khi kỵ binh Giang Hạ được thành lập ở huyện Vũ Xương đến nay.

Chương 818.2: Đường tơ kẻ tóc

Cuối cùng, Mã Đại cũng đã dẫn tàn quân trở về Tiêu Quan. Lưu Cảnh đích thân ra ngoài năm dặm nghênh đón. Tổn thất thảm trọng này, lại đồng thời tạo nên đội ngũ kỵ binh chiến tích huy hoàng.

Lúc Lưu Cảnh xuất hiện trước mặt đội ngũ, Mã Đại xoay người xuống ngựa, nhanh chóng bước đến trước mặt Lưu Cảnh quỳ một gối xuống, ôm quyền lên cao thỉnh tội:

- Ty chức lỗ mãng, để cho kỵ binh tổn thất thảm trọng, nguyện chịu phạt theo quân pháp!

Lưu Cảnh xuống ngựa, nâng y dậy, nói:

- Bảo ngươi đi truy kích người Ô Hoàn là lệnh của ta, không liên quan đến ngươi. Ai lại ngờ rằng kỵ binh Hung Nô lại nam hạ nhanh như thế. Ngươi lấy năm ngàn kỵ binh đối chiến với một vạn ba ngàn kỵ binh. Mặc dù tổn thất thảm trọng, nhưng cuối cùng đã khiến cho quân địch bị trọng thương. Ngươi tuy bại mà vinh.

Trong lòng Mã Đại cảm động dị thường, nước mắt không kìm nỗi mà rơi xuống. Lưu Cảnh vỗ vỗ bờ vai của y, lại đi đến trước mặt các kỵ binh. Y thúc ngựa chạy lên một chỗ đất cao, ôm quyền thi lễ thật sâu với các binh sỹ. Đây là một sự cảm kích không bằng lời nói, là sự cảm kích của Chủ soái đối với binh sỹ sau trận khổ chiến, là sự ủng hộ đối với binh sỹ liều chết tác chiến, so với những lời lẽ hoa mỹ, nó càng có thể đánh vào lòng người. Các binh sỹ lập tức kích động vô cùng, rất nhiều binh sỹ không kìm nổi, vung tay cao giọng hô to:

- Vạn tuế!

Tiếng hét của bọn họ kéo theo sự háo hức của các binh sỹ khác:

- Hán Vương Điện Hạ vạn tuế!

Tiếng tung hô vang tận trời xanh.

Trong một đại trướng ở huyện Cao Bình, Lưu Cảnh triệu tập các tướng lĩnh cấp cao thương nghị về việc tác chiến với Hung Nô. Trước tiên, Mã Đại báo cáo tỉ mỉ về kinh nghiệm chạm trán với kỵ binh Hung Nô với Lưu Cảnh, sau cùng y thở dài nói:

- Tuy rằng kỵ binh của chúng ta huấn luyện kỹ càng, nhưng so với kỵ binh Hung Nô, bất kể là kỹ thuật cưỡi ngựa và năng lực tác chiến đơn lẻ đều yếu hơn đối phương. Chúng ta chỉ chiếm ưu thế về vũ khí và trận hình. Nếu không phải có tòa thành Cố Nguyên cũ kỹ làm chỗ dựa. Chúng ta ắt sẽ toàn quân bị diệt. Tuy cuối cùng đánh cho quân địch trọng thương, nhưng đó vẫn chỉ là phương pháp dùng bộ binh thủ thành, không liên quan đến kỵ binh. Nếu chúng ta muốn đánh bại Hung Nô, vẫn còn phải bắt tay vào làm vũ khí sở trường của chúng ta.

Lời nói của Mã Đại khiến cho mọi người trong trướng đều xôn xao. Trong tiếng xôn xao đa phần mang thái độ hoài nghi. Mã Đại rõ ràng là không có đủ lòng tin. Lúc này, Triệu Vân lại tiếp lời, hỏi:

- Xin hỏi Mã tướng quân, nếu như chúng ta không phải lấy năm ngàn người đánh với một vạn ba ngàn người, mà là một vạn kỵ binh đánh với một vạn kỵ binh, kết quả sẽ như thế nào?

- Nếu như là một vạn với một vạn, chúng ta dựa vào ưu thế trận hình và vũ khí, hẳn là sẽ có thể đánh bại quân Hung Nô. Nhưng vấn đề là kỵ binh của chúng hiện chỉ có một vạn người, mà kỵ binh Hung Nô ít nhất có đến mười vạn. Binh lực hoàn toàn không cân xứng. Ta không phải là nâng cao người Hung Nô, hạ thấp uy phong của mình, mà là trả lời theo thực tế, kỵ binh của Hung Nô quả thất rất dũng mãnh. Kỵ binh của chúng ta tác chiến không chiếm được thế thượng phong.

Ngụy Diên ở bên cạnh giận dữ nói:

- Theo ta được biết, quân Tào cũng đã đánh với Hung Nô ở U Châu, hai lần đều đánh bại kỵ binh Hung Nô. Ngay cả quân Tào cũng có thể đánh bại người Hung Nô, vì sao chúng ta lại không được?

Sự nghi ngờ của Ngụy Diên đã khơi dậy sự cộng hưởng từ các Đại tướng. Trong đại trướng lập tức trở nên ồn ào. Lưu Cảnh vỗ bàn thật mạnh, quát:

- Tất cả yên lặng cho ta!

Trong đại trướng lập tức lại trở nên yên tĩnh. Lúc này, Giả Hủ vuốt râu cười nói:

- Điện Hạ, có thể cho thần nói hai câu được không?

- Quân sư cứ nói!

Giả Hủ không chút hoang mang, nói:

- Thần cần phải làm rõ một vài chuyện cho mọi người hiểu. Đầu tiên, kỵ binh quân địch mà Mã Đại tướng quân chạm trán không phải là người Hung Nô, mà là kỵ binh Yết Hồ. Đây là một chi của người Nguyệt Thị, trước giờ nổi danh chiến đấu hung mãnh. Người Hung Nô cũng dùng bọn họ làm quân nô. Người Yết hung ác tàn bạo, cướp đoạt thành tính. Lần này có thể làm cho bọn chúng bị trọng thương, đã là phúc của dân Hán. Tiếp theo là, sở dĩ quân Tào có thể đánh bại người Hung Nô hai lần, chủ yếu là vì trong quân Tào có ba vạn kỵ binh Ô Hoàn, không thua gì người Hung Nô, lại có binh khí và khôi giáp tiên tiến, giúp người Ô Hoàn như hổ thêm cánh. Tính cả Hổ Báo Kỵ, quân Tào tổng cộng có năm vạn kỵ binh tinh nhuệ nhất, trước mắt do Tào Chương thống soái, tương lai sẽ là kình địch của chúng ta.

Lưu Cảnh gật gật đầu:

- Quân sư nói rất đúng. Trong tác chiến, việc đầu tiên là phải biết mình biết người. Nếu như đến cả người Yết, người Hung Nô. người Ô Hoàn cũng không phân biệt rõ. Nếu như chúng ta không biết chủ lực của kỵ binh quân Tào là người Ô Hoàn. Vậy thì chúng ta còn hồ đồ đánh tiếp, chỉ e rằng sẽ gặp khó khăn. Chúng ta nhất định phải hạ thấp tư thế. Phải biết rằng, chúng ta có thể đoạt được Tiêu Quan, không phải là vì chúng ta tác chiến dũng mãnh, mà là bởi vì binh lực của chúng ta vượt xa đối phương. Quan trọng hơn là người Ô Hoàn căn bản không biết thủ thành, không thể dương dương tự đắc nữa, nhất định phải hiểu rõ. Thực lực của kỵ binh chúng ta không bằng kẻ địch, đây là sự thật.

Các tướng lĩnh trong đại trướng đều trầm mặc. Lúc này, Triệu Vân lập trầm giọng nói với Giả Hủ:

- Quân sư có thể nói rõ một chút về sự khác biệt của người Hồ với nhau hay không, chúng ta có lẽ sẽ có thể lợi dụng mâu thuẫn giữa người Hồ, tiêu diệt từng bộ phận.

Giả Hủ mỉm cười, nói:

- Lời này của Triệu tướng quân đã nói đến điểm mấu chốt. Tuy rằng người Yết bị người Hung Nô coi như nô lệ, trường kỳ chịu áp bức, nhưng bản thân người Yết rất tàn bạo, lại cam chịu làm chó săn cho Hung Nô, cho nên các bộ tộc trên thảo nguyên đều cực kỳ căm hận người Yết. Lần này, người Yết bị áp chế, ta tin rằng sẽ có bộ tộc khác thừa cơ xuống tay với bọn họ. Ô Hoàn, Tiên Ti, Nhu Nhiên đều có thể. Ta cảm thấy người Ô Hoàn lại có thể lôi kéo được. Theo ta được biết, từ sau khi Tào Tháo đánh cho người Ô Hoàn đại bại ở Liêu Đông, người Ô Hoàn đã dần chuyển từ du mục sang nông canh, từ đồng ruộng ở bốn phía của huyện Cao Bình, cũng nhìn thấy được người Ô Hoàn đang chuyển đổi từ du mục sang nông canh. Nếu lần này chúng ta bắc phạt thành công. Vậy thì người Ô Hoàn có thể hoàn toàn chuyển thành dân tộc nông canh, sau cùng dung nhập vào Hán tộc. Nhưng nếu lần này chúng ta thất bại, chỉ sợ người Ô Hoàn cũng sẽ bị Hung Nô thâu tóm, một lần nữa trở thành dân tộc du mục, trở thành mối họa lớn ở phương bắc của chúng ta.

Lưu Cảnh cũng lâm vào trầm tư, hắn cũng ý thức được lần bắc phạt này chuẩn bị không đầy đủ, không có một sách lược rõ ràng. Hắn cần yên tĩnh suy tư cho tốt. Thì đúng lúc này, ngoài trướng có binh sỹ cao giọng bẩm báo:

- Khởi bẩm Điện Hạ, có thám báo cấp báo!

- Vào đây!

Một lát sau, một gã thám báo nhanh chân bước vào, thi lễ, bẩm báo:

- Khởi bẩm Điện Hạ, chúng thần phát hiện chủ lực của quân Hung Nô đang rút lui về phía bắc.

Chương 819.1: Cưỡng ép ra lệnh

Việc kỵ binh Yết Hồ bị áp chế tự tiện rút quân đối với người Hung Nô mà nói là một đả kích không ngờ đến, làm cho kế hoạch của Lưu Khứ Ti rối loạn. Thêm vào việc Lưu Mãnh dẫn một vạn kỵ binh đi đến bộ tộc Ô Hoàn, khiến cho binh lực của người Hung Nô không đủ để chống lại quân Hán. Nếu như còn không rút lui, chỉ e là quân Hán sẽ không đi tấn công Ô Hoàn, mà trực tiếp tấn công Hung Nô. Bất đắc dĩ, Lưu Khứ Ti mới dẫn quân rút lui về phía bắc ngay trong đêm.

Nhưng Lưu Khứ Ti không rút về hang ổ Xa Diên Trạch, mà rút về phía bắc thêm một trăm dặm. Ở ngoài một trăm sáu mươi dặm quan sát cuộc chiến giữa quân Hán và người Ô Hoàn. Đối với Hung Nô cơ động mà nói, một trăm sáu mươi dặm chẳng qua chỉ là hành trình một ngày. Bất kể là Ô Hoàn bại hay là quân Hán bại, y đều có thể dùng tốc độ nhanh nhất để nam hạ thu gom chiến lợi phẩm.

Đồng thời, một trăm sáu mươi dặm cũng là một khoảng cách an toàn. Một khi quân Hán đánh tới với quy mô lớn, bọn họ cũng có thể kịp thời rút quân về Xa Diên Trạch, thậm chí là rút về Hà Sào. Lưu Khứ Ti sẽ không buôn bán lỗ vốn, y rút lui trăm dặm về phía bắc, chẳng qua chỉ là rút quân chiến lược, mục đích là vì tranh thủ thêm nhiều lợi ích cho mình.

Tuy nhiên, đối với việc quân Hán thừa cơ lấn tới và người Hung Nô lấy lui làm tiến, tình cảnh của người Ô Hoàn có vẻ rất là bị động. Một mặt là vì người Ô Hoàn là vòng thứ nhất gặp phải quân Hán bắc thượng. Người Ô Hoàn đứng mũi chịu sào, trở thành lá chắn tự nhiên của người Hung Nô. Lần này, quân Hán đoạt được Tiêu Quan, đánh bại bộ tộc của Biên Thứ, không thể nghi ngờ là đã mang đến áp lực khổng lồ cho người Ô Hoàn.

Mặt khác, Lưu Khứ Ti ra lệnh cho trưởng tử Lưu Mãnh dẫn một vạn kỵ binh hộ tống người già phụ nữ trẻ con của bộ tộc Biên Thứ đến Thượng Quận. Trong có vẻ là ủng hộ người Ô Hoàn, nhưng thực tế chính là giám sát người Ô Hoàn, phá hỏng con đường hòa giải của người Ô Hoàn với quân Hán. Kỳ thực là bức ép người Ô Hoàn quyết chiến với quân Hán.

Người Ô Hoàn không phải là người Hung Nô, bọn họ là một chi của người Đông Hồ, cùng với Tiên Ti là một trong các bộ lạc Đông Hồ. Thời Tần mạt, sau khi Đông Hồ bị Hung Nô đánh tan, một bộ phận người Đông Hồ di cư đến Ô Hoàn sơn rồi đổi tên thành Ô Hoàn bộ. Trăm năm sau, Hán Vũ Đế đánh bại Hung Nô, dời Ô Hoàn bộ về năm quận ở biên cương là Chỉ Cốc, Ngư Dương, Hữu Bắc Bình, Liêu Đông, Liêu Tây, bắt đầu bố trí Hộ Ô Hoàn Giáo Úy, nhiệm vụ là giám hộ các bộ Ô Hoàn không được ngầm qua lại với Hung Nô.

Ô Hoàn vốn dĩ là bộ lạc du mục, sau khi di cư về phía nam bắt đầu phát triển nông nghiệp. Cuối thời Đông Hán, Ô Hoàn bị Nam Hung Nô bức bách, lại lần nữa phân liệt thành Đông Tây Ô Hoàn, đại bộ phần di cư đi Liêu Đông, một phần nhỏ thì di cư vào Quan Nội.

Người Ô Hoàn di cư vào Quan Nội có khoảng hơn hai mươi vạn người, ba mươi mấy bộ lạc lớn nhỏ, phân bố ở Thượng Quận và quận An Định. Trong đó, bộ tôc Lỗ Tích ở Thượng Quận và bộ tộc Biên Thứ ở quận An Định là lớn nhất. Lỗ Tích liền tự phong làm Ô Hoàn Vương, trở thành thủ lĩnh được người Ô Hoàn tôn kính.

Trước khi quân Hán chưa đoạt được Quan Trung, người Ô Hoàn cùng thần phục Hung Nô và Tào Tháo, hằng năm tiến cống một lượng lớn dê cho người Hung Nô, đồng thời lại thượng cống mang tính tượng trựng cho Tào Tháo, lây lất qua ngày trong hoàn cảnh sinh tồn bị kèm kẹp.

Nhưng kể từ khi quân Hán chiếm lĩnh được Quan Trung, đặc biệt là quân Hán lần lượt tấn công các bộ tộc Khương Đê ở Lũng Tây và Hà Tây, áp dụng sách lược đối với người Hồ hoàn toàn khác với quân Tào. Điều này khiến cho các bộ tộc Ô Hoàn ở Thượng Quân đều bị vây trong một không khí khẩn trương cực độ. Ô Hoàn Vương Lỗ Tích phái người đi Nghiệp Đô cầu viện Tào Tháo, thỉnh cầu kế sách chống lại quân Hán.

Lúc này, Lỗ Tích đã nhận được tin tức quân hán đoạt được Tiêu Quan. Tin tức này khiến cho y đêm không an giấc, người Ô Hoàn mất đi cứ điểm này ở quận An Định, bước tiếp theo sẽ đến lượt Thượng Quận.

Lỗ Tích tuổi tầm năm mươi, thân hình cao lớn, tóc hoa râm. Sau khi biết tin Lưu Mãnh dẫn một vạn quân hộ tống người già phụ nữ trẻ con của Biên Thứ đến Thượng Quận, Lỗ Tích trở nên trầm mặc, ngày qua ngày trở nên tiều tụy.

Nha trướng Ô Hoàn được thiết lập ở huyện Cao Nô, cũng chính là Diên An sau này. Bọn họ không chiếm cứ huyện thành, mà đóng đại doanh mấy ngàn mẫu bên cạnh sông Nô Thủy ở thành bắc. Mấy ngàn nhân khẩu lấy bán canh bán mục (nửa canh nông, nửa du mục) làm nguồn sống.

Tối hôm đó, Lỗ Tích ngồi trầm tư một mình trong đại trướng. Lúc này, một tên thân vệ ở ngoài trướng bẩm báo:

- Khởi bẩm Đại tù trưởng, lính gác của chúng ta đã gặp được sứ giả quân Hán, hiện đã ở ngoài đại doanh.

Lỗ Tích giật mình, liền nói:

- Nhanh chóng dẫn sứ giả đến chỗ ta.

Trong lòng y trở nên rối loạn. Sứ giả quân Hán đến quá đột ngột, khiến cho y không kịp chuẩn bị gì cả. Nhưng y ổn định lại tâm tình rất nhanh, trước tiên gặp sứ giả quân Hán rồi hẵng hay.

Không lâu sau, vài binh sỹ dẫn theo một người văn sỹ hơn ba mươi tuổi tiến vào. Người văn sỹ ôm quyền thi lễ, nói:

- Tại hạ là Tòng quân dưới trướng Hán Vương, tên Tần Mật, phụng lệnh Hán Vương đi sứ Ô Hoàn.

- Hóa ra là Tần tòng quân, mời ngồi!

Lỗ Tích có thể nói lưu loát tiếng Hán, cũng khá hiểu lễ tiết, y xua tay mời Tần Mật ngồi xuống. Tần Mật ngồi xuống, thị nữ dâng rượu sữa ngựa lên. Lỗ Tích uống một ngụm rượu sữa, mặt lạnh như tiền nhìn chăm chú vào Tần Mật. Đối với Tần Mật, y mong chờ, nhưng lại có chút lo lắng.

- Tần tòng quân sao lại đến nơi này?

Lỗ Tích không kìm nổi liền mở miệng hỏi trước.

Tần Mật cười tủm tỉm nói:

- Phụng lệnh Hán Vương Điện Hạ, cùng Tù trưởng bàn một chút về tương lai của Ô Hoàn.

Lỗ Tích chấn động, đây cũng là tin tức mà y khát vọng nghe được. Y liền cười nói:

- Xin Tần tòng quân cứ nói, ta nguyện rửa tai lắng nghe!

- Tù trưởng hẳn cũng biết, ở Lũng Tây quân Hán không phải chỉ giết chóc. Đối với những kẻ lòng mang địch ý, ngoan cố không nghe lời, chúng ta sẽ tiêu diệt không chút do dự. Nhưng đối với người Khương và người Đê nguyện quy hàng Hán Quốc, cam tâm tình nguyện làm dân Hán Quốc, chúng ta sẽ đối đãi tận tình, không đoạt lấy đất đai của họ, cũng không thay đội phương thức sinh hoạt của bọn họ. Bọn họ tiếp tục an cư lạc nghiệp, yên bình mà sinh sôi nảy nở.

Lỗ Tích cúi đầu không nói, sau một lúc lâu mới thở dài:

- Từ thời Hán Vũ Đế, chúng ta vẫn là thần dân của Hán triều, triều đình còn thiết lập Hộ Ô Hoàn Giáo Úy, tiến hành thống trị Ô Hoàn. Hán Vương Điện Hạ là hậu duệ của Đại Hán, rất nhiều người cho rằng ngài là người thừa kế Hán triều. Bảo chúng ta thần phục Hán Quốc cũng không phải không thể, chỉ có điều Hán Vương Điện Hạ có thể bảo đảm cho cuộc sống của chúng ta vẫn y như trước không?

Tần Mật mỉm cười:

- Nếu Ô Hoàn muốn duy trì phương thức sống du mục trước đây, cũng không phải là không được, nhưng không thể ở Thượng Quận. Chúng ta có thể phân cho một bãi chăn thả ở Lũng Tây hoặc Hà Tây, dùng để an trí người Ô Hoàn. Hà Tây cây cỏ tốt tươi, tốt hơn Quan Nội rất nhiều.

Lỗ Tích biến sắc, cắn răng hỏi tiếp:

- Nếu như chúng ta không muốn rời khỏi Thượng Quận thì sao?

Nụ cười trên mặt Tần Mật biến mất, lạnh nhạt nói:

- Nếu như không nguyện ý rời khỏi Thượng Quận cũng được, nhưng không thể tiếp tục duy trì cuộc sống du mục, nhất định phải chuyển thành nông canh. Chúng ta sẽ toàn lực ủng hộ người Ô Hoàn về kỹ thuật canh tác và trâu cày.

Lỗ Tích không có hé răng, điều này khiến cho y không có cách nào trả lời. Một lúc lâu sau, y mới thấp giọng nói:

- Dù sao thì sự tình trọng đại, hãy để ta suy nghĩ thêm một chút đi!

Tần Mật gật gật đầu nói:

- Hán Vương Điện Hạ cũng biết sự tình trọng đại, sẽ không bắt Tù trưởng lập tức bày tỏ thái độ. Nhưng có một chuyện tại hạ phải nói rõ ràng, nếu Tù trưởng chấp nhận phương án của chúng ta, xin mời di chuyển cả tộc về hướng đông trong vòng năm ngày, tạm thời rời khỏi Thượng Quận, đừng làm ảnh hướng đến cuộc quyết chiến của chúng ta với Hung Nô. Nếu trong năm ngày không có động tĩnh, chúng ta sẽ coi như Ô Hoàn đã cự tuyệt thiện ý của Hán Vương Điện Hạ.

Chương 819.2: Cưỡng ép ra lệnh

Tần Mật được Lỗ Tích phái binh sỹ đưa ra ngoài đại doanh. Lỗ Tích thì một mình trầm tư suy nghĩ trong đại trướng. Điều kiện toàn bộ chuyển đổi thành nông canh của Lưu Cảnh quả thật khiến y khó có thể chấp nhận, lẽ nào bọn họ thật sự muốn dời đến Hà Tây ư?

Lúc này, màn trường bị xốc lên, thê tử trẻ tuổi của y là Na Nghê bưng một chén canh thảo dược đi vào. Lỗ Tích từng có ba người thê tử, hai người trước đều vì sinh khó mà chết, để lại cho y hai đứa con gái. Mà người thê tử thứ ba là Na Nghê năm nay vừa mới hai mươi tuổi, còn trẻ hơn so với con gái lớn của y, nhưng lại là người sinh cho y đứa con trai độc nhất A Lư.

Cũng từ đó mà Na Nghê được Lỗ Tích sủng ái vô cùng. Dáng người nàng xinh đẹp đoan trang, là mỹ nhân có tiếng trong tộc Ô Hoàn, đến Lưu Khứ Ti cũng có ý đồ với nàng. Nhưng rốt cục nàng đã trở thành nữ nhân của Ô Hoàn Vương Lỗ Tích.

Na Nghê mang chén canh thảo dược đặt lên chiếc bàn nhỏ trước mặt trượng phu, rồi nằm phía sau lưng y. Nàng ôm lấy cổ của trượng phu, ghé vào tai y thấp giọng nói:

- Hùng ưng chỉ vì tuổi già mà tiều tụy, chàng thân thể cường tráng như trâu, còn có thể đánh gấu giết báo, sao lại trở nên tiều tụy?

Lỗ Tích vỗ nhẹ lên bàn tay mềm mại của thê tử, cười nói:

- Nàng không cần phải lo lắng, ta chỉ có chút tâm sự, mấy ngày nữa là xong rồi. À mà La Kim có đến không?

- Hắn đã đến rồi, thiếp bảo hắn vào được chưa?

- Bảo hắn vào đây đi!

Na Nghê gật gật đầu, xoay người đi ra ngoài. La Kim là huynh đệ cùng cha khác mẹ với Ô Hoàn Vương Lỗ Tích. Y là Tù trưởng của bộ lạc Ô Hoàn lớn thứ ba. Bộ lạc của y sinh sống ở quận Bắc Địa, giữa Thượng Quận và quận An Định. Lỗ Tích chính là nhận được tin tức của Tiêu Quan từ nơi y.

Không lâu sau, La Kim nhanh chân bước vào đại trướng. Lỗ Tích đứng dậy ôm chặt người huynh đệ. Hai người ngồi xuống. La Kim có chút gấp gáp, liền thấp giọng nói:

- Quân Hán và bộ lạc người Yết đã bạo phát kịch chiến, huynh trưởng có biết không?

Trong lòng Lỗ Tích dâng lên một sự kinh hỷ, liền hỏi:

- Việc này xảy ra khi nào?

- Hai ngày trước, có khoảng năm ngàn kỵ binh quân Hán truy kích tàn quân của Xích Ninh, đang trên đường rút quân về thì gặp phải đội quân của Thạch Nhu. Hai quân bạo phát kịch chiến ở tòa thành Cố Nguyên cũ kỹ. Năm ngàn kỵ binh quân Hán đối chiến một vạn ba ngàn Yết kỵ. Huynh trưởng đoán xem kết cục sau cùng như thế nào?

Lỗ Tích lắc lắc đầu nói:

- Năm ngàn đối chiến một vạn ba ngàn, cho dù là quân Hán huấn luyện đầy đủ đi chăng nữa, chỉ e là cũng khó ngăn cản được sự xung kích của kỵ binh người Yết. Phải biết rằng kỵ binh người Yết là tinh nhuệ trong người Hung Nô.

- Ban đầu đệ cũng cho là như thế, nhưng tin tức cuối cùng nhận được là, quân Hán tuy tổn thất thảm trọng, nhưng kỵ binh người Yết lại thảm bại. Một vạn ba ngàn người chỉ còn lại ba ngàn người bỏ chạy, trực tiếp chạy về thảo nguyên.

Lỗ Tích ngẩn người, một lúc lâu sau mới lẩm bẩm:

- Làm sao có thể? Kỵ binh người Hán trở nên mạnh mẽ như vậy từ lúc nào?

- Nghe nói không phải là dựa vào kỵ binh, mà quân Hán dựa vào tòa thành Cố Nguyên phản kích, cuối cùng viện quân của bọn họ đến, Thạch Nhu mới bị thảm bại.

Lỗ Tích gật gật đầu. Hẳn là như vậy, nếu như dựa vào kỵ binh để đánh bại người Yết, đánh chết y cũng không tin. Nhưng sức chiến đấu của quân Hán không quan trọng, điều quan trọng là quân Hán đã tác chiến chính diện với người Hung Nô. Cứ như vậy, quân Hán không còn rảnh tay bận tâm người Ô Hoàn. Bọn họ trở thành kẻ bàng quan, đây chính là kết quả mà Lỗ Tích mơ ước đã lâu.

Nhưng không đợi Lỗ Tích biểu hiện sự vui sướng ra ngoài, La Kim đã tạt cho y một gáo nước lạnh:

- Đệ còn muốn báo cho huynh trưởng một tin tức, người Hung Nô đã rút lui về phía bắc.

Trong lòng Lỗ Tích hy vọng sống sót vừa xuất hiện lại tan vỡ trong nháy mắt. Sau một lúc lâu y mới thở dài. Rốt cục y đã lĩnh giáo được sự tinh minh người Hung Nô. Bất kể như thế nào cũng phải đẩy quân Hán đến Thượng Quận trước. Lỗ Tích lắc lắc đầu lại nói tiếp:

- Vừa rồi đệ có đề cập đến Xích Ninh, hiện tại y đang ở chỗ đệ à?

La Kim cười khổ một tiếng, lại không nói rõ. Nhưng Lỗ Tích cũng đã hiểu, Xích Ninh nhất định đang ở chỗ của La Kim. Nhưng dù là như thế, mối họa có chuyển về phía đông không? Còn có mấy vạn già trẻ mà Biên Thứ dắt theo. Muốn quân Hán không để ý đến Thượng Quận cũng không thể.

Nghĩ đến điều kiện hà khắc của Lưu Cảnh, Lỗ Tích ôm đầu, đau khổ rên rỉ một tiếng, y phải làm gì đây?

- Đệ nghe nói sứ giả quân Hán đến, có phải không?

La cẩn thận hỏi.

Lỗ Tích gật gật đầu, liền thuật lại một lần về điều kiện mà Tần Mật nói cho y, sau cùng lại thở dài, nói:

- Người Ô Hoàn làm sao có thể toàn bộ chuyển sang nông canh, nhiều nhất cũng chỉ ba thành. Nhưng nếu không đáp ứng, chúng ta phải di cư đến Hà Tây, chúng ta phải làm gì bây giờ?

- Nếu như huynh trưởng thật sự không muốn đi Hà Tây, chẳng bằng chúng ta lại đi hòa đàm cùng Lưu Cảnh lần nữa, xem xem có thể giải quyết vấn đề địa vị của người Ô Hoàn một cách thích đáng hay không.

- Ta nghĩ nên làm vậy. Nhưng Lưu Mãnh dẫn một vạn quân đang ở chỗ chúng ta. Nếu ta dám cả gan lén qua lại với quân Hán, thì tên đồ tể kia sẽ nuốt chửng ta.

Đúng lúc này, một tên thị vệ ở ngoài trướng gấp gáp nói:

- Tù trưởng, Lưu Mãnh đã đến, muốn gặp Tù trưởng.

Vừa dứt lời, chỉ nghe thấy giọng nói của Lưu Mãnh ở ngoài truyền vào:

- Quan hệ giữa ta và Tù trưởng các ngươi như thế nào, còn cần các ngươi bẩm báo sao? Cút hết cho ta!

Lỗ Tích và La Kim đồng thời đứng dậy. Chỉ thấy màn trướng được vén lên, Lưu Mãnh dáng vẻ như gấu xông vào đại trướng. Y dừng bước, liếc chằm chằm vào Lỗ Tích, lại cười khan một tiếng, hỏi La Kim:

- Hóa ra La Kim tù trưởng cũng ở đây, nhất định là đã mang tin tức đến!

Lỗ Tích biết người này bề ngoài thô lỗ, nhưng trên thực tế thì khôn khéo vô cùng. Tần Mật vừa mới đi, y liền chạy đến, hiện nhiên là vì nhận được tin tức, hoài nghi mình và quân Hán tư thông.

La Kim khom người thi lễ, cười nói:

- Quả thật là ta mang theo tin tức, việc Thạch Nhu bị quân Hán đánh tan, hẳn là Mãnh tướng quân cũng biết chứ!

- Hóa ra là chuyện này, ta cũng có nghe qua, nhưng Thạch Nhu tự tiện xuất binh, bị ưu thế binh lực của quân Hán bao vây phục kích, thất bại cũng là do y tự chuốc lấy. Hai vị Tù trưởng không cần để chuyện này trong lòng, sẽ không ảnh hưởng đến đại cục đâu.

Lỗ Tích giấu diếm thanh sắc, hỏi:

- Thạch Nhu bại trận, ta không để trong lòng. Tuy nghiên, nghe nói Hữu Hiền Vương cũng theo đó mà rút quân về phía bắc, không biết là vì duyên cớ gì?

Lưu Mãnh không trả lời nghi vấn của y, mà đi vào đại trướng ngồi xuống, nói với Lỗ Tích:

- Hôm nay, ta và Biên Thứ tù trưởng lại bàn. Y nói quân Hán chiếm được Tiêu Quan, bước tiếp theo ắt sẽ tấn công Thượng Quận, ta cũng hoàn toàn tán thành với phán đoán này của y. Đối với quận An Định và Thượng Quận, quân Hán đã ổn định được thế cục, nhất định phải tích cực ứng đối. Trước tiên phải tập trung quân đội. Không biết Đại tù trưởng chuẩn bị khi nào sẽ phát ra Ô Hoàn Xích Mộc Lệnh?

Xích Mộc Lệnh là mệnh lệnh quân sự tối cao của người Ô Hoàn, còn gọi là Tụ Binh Lệnh. Những bộ lạc Ô Hoàn nhận được mệnh lệnh này, nhất định phải lập tức phái quân đội tập kết ở chỗ của Đại tù trưởng. Lưu Mãnh vừa nhận được mệnh lệnh của phụ thân, yêu cầu y đốc thúc Ô Hoàn xuất binh. Mà đúng lúc này, y lại nhận được tin tức sứ Hán bí mật đến Ô Hoàn gặp Lỗ Tích.

Lưu Mãnh vừa giận vừa sợ, liền lập tức đến bức bách Lỗ Tích phát Xích Mộc Lệnh.

Lỗ Tích lắc lắc đầu:

- Xích Mộc Lệnh chỉ có thể được phát ra vào thời điểm nguy cấp nhất, ba mươi năm qua cũng chỉ phát ra một lần. Hiện tại, quân Hán không có dấu hiệu tấn công Thượng Quận, ta cảm thấy tạm thời không cần phải phát Xích Mộc Lệnh.

- Đợi quân Hán đánh tới thì đã muộn rồi. Đại tù trưởng, Xích Mộc Lệnh là ý của phụ thân ta, nếu ngài không chịu tuân lệnh, hậu quả này chỉ e là ngày gánh không nổi. Ta nói trước những lời không hay, nếu Ô Hoàn có dị tâm với chúng ta, vậy thì Ô Hoàn không chỉ đối mặt với một kẻ địch là quân Hán đâu. Trước hừng đông ngày mai, Ô Hoàn nhất định phải phát ra Xích Mộc Lệnh, nếu không thì Đại tù trưởng hay tự lo cho bản thân đi!

Nói xong, Lưu Mãnh cười lạnh mấy tiếng, đứng dậy nhanh chân bỏ đi. Lỗ Tích nhìn y đi xa, trong lòng cảm thấy nặng trĩu lạ thường. Đúng lúc này, lại có binh sỹ chạy đến bẩm báo:

- Khởi bẩm Tù trưởng, một vạn kỵ binh Hung Nô đã ở ngoài đại doanh của chúng ta, xếp quân trận, bất cứ lúc nào cũng có thể tấn công chúng ta.

Một vạn quân Hung Nô đã đến trước mặt, Lỗ Tích lập tức ngây dại. Cho dù là bây giờ y điều binh tập kết cũng không kịp, càng không có cách nào di tản mấy mươi vạn phụ nữ trẻ con. Sau một hồi lâu, y và La Kim lại nhìn nhau, cùng thở dài, xem ra bọn họ đã không còn con đường nào để lựa chọn nữa rồi.

Vạn bất đắc dĩ, Lỗ Tích đành phải lấy ra ba cái Xích Mộc Lệnh biểu thị cho quân lệnh tối cao của Ô Hoàn, căn dặn thân binh:

- Các ngươi cầm Xích Mộc Lệnh đến các bộ lạc, ra lệnh cho bọn họ trong vòng ba ngày, dẫn quân tập trung đến Nha trướng Ô Hoàn.

Chương 820: Tin tức về Ô Hoàn..

Nửa tháng sau khi quân Hán chiếm lĩnh Tiêu Quan, thành trấn đó bắt đầu xây dựng lại, thành trấn đã bị đốt thành đất trống, sau đó quân Hán chôn hài cốt sâu xuống đất, rửa sạch đống hoang tàn, bắt đầu xây dựng từng tòa kho hàng thật lớn. Khoảng cách từ thành trấn tới Mộc Hạp Quan ước chừng bảy dặm, cách Ngõa Đình Quan cũng không đến mười dặm, vị trí chiến lược vô cùng trọng yếu.

Hơn nữa nơi này là một mảnh bồn địa bên trong Lục Bàn Sơn, đất đai bồn địa phì nhiêu, nguồn nước sung túc, hoàn toàn có thể biến nơi này thành đồng ruộng quân khẩn. Mặt khác, tại thành trấn hoang tàn kia, Lưu Cảnh quyết định xây dựng một tòa quân thành giống như ở Kỳ Sơn Đạo, dùng để cất chứa lương thực và quân tư, trở thành căn cứ bảo đảm hậu cần cho Tiêu Quan.

Ngoài ra, quân Hán lại điều động hai vạn binh lính, tu sửa đoạn Trường Thành giữa Ngõa Đình Quan và Mộc Hạp Quan bị sụp xuống, kiến lập nên một thông đạo đi nhanh giữa ba quan. Tuy rằng mục tiêu chiến lược của quân Hán là đẩy mạnh biên giới lên hướng bắc, đoạt lại thổ địa quan nội bị Hung Nô, Ô Hoàn và đám dân tộc du mục chiếm lĩnh, nhưng xây dựng một tường phòng ngự Quan Trung vững chắc, đối với việc giữ gìn Quan Trung cùng với an toàn của Trường An thì có vẻ quan trọng hơn nữa.

Nhưng tăng cường kiến thiết phòng ngự cũng không phải là việc cấp bách của quân Hán. Đối với quân Hán mà nói, tích cực chuẩn bị cho cuộc đại chiến sắp bùng nổ mới là việc đặc biệt nặng nề của quân Hán, từ khi Tham quân Tần Mật đi sứ Ô Hoàn thất bại, cũng có nghĩa là cánh cửa chiêu hàng Ô Hoàn đã đóng lại, cuộc tranh giành ích lợi đã trở nên gay gắt, chiến tranh là không thể tránh né.

Đống hoang tàn ngoài thành trấn, Lưu Cảnh và hơn mười người tướng lĩnh cao cấp đang thị sát đám lính dọn dẹp đống phế tích ở trấn nhỏ, nhưng cái bọn họ quan tâm không phải là đống phế tích này, mà là việc sử dụng khối thổ địa này. Cho dù các tướng lĩnh đều nhất trí ủng hộ xây dựng quân thành, nhưng Pháp Chính vẫn chủ trương gắng sức thực hiện quân dân cùng làm.

- Điện hạ nên biết, Tiêu Quan không chỉ là pháo đài quân sự, đồng thời cũng là con đường tơ lụa trọng yếu nhất biên tái, thương đội từ Quan Trung tới, chí ít có ba phần là từ Tiêu Quan biên cương xa xôi. Từ trước kia, thành trấn buôn bán vô cùng phồn thịnh, cũng là được nhờ sự giúp đỡ của các thương đội lui tới. Thương đội từ phía đông đến, trải qua eo sông Đạn Tranh nhấp nhô gập ghềnh, nhân mã đều đã mỏi mệt không chịu nổi, lúc này bọn họ cần nghỉ ngơi và tiếp tế tiếp viện, thành trấn kia chính là chỗ nghỉ ngơi tốt nhất, nếu biến thành trọng trấn quân sự, mà không suy xét dân dụng, điều này bất lợi đối với thương đội từ biên cương xa xôi, xin điện hạ suy nghĩ kỹ.

Pháp Chính vừa dứt lời, Trương Nhậm bên cạnh liền kiên quyết phản đối nói:

- Yếu địa quân sự, sao lại cho thương nhân pha tạp tùy ý tiến vào? Trong quân thành, lấy kho tích trữ làm chính, chứa đựng lượng lớn lương thực, cỏ khô và vật tư quân sự, thương nhân lui tới không ngừng, cực dễ dàng bị gian tế lẫn lộn vào trong thành. Một khi gian tế đốt lửa ở trong thành, hậu quả thiết tưởng không chịu nổi, ty chức kiên quyết phản đối quân dân lưỡng dụng.

Lời Trương Nhậm nói khơi dậy phần đông tướng lĩnh đồng tình, mọi người đều đồng ý, Lưu Cảnh cười cười nói:

- Đề nghị của Pháp quân sư cũng có đạo lý, Trương tướng quân phản đối cũng không sai, nhưng ta tin tưởng hẳn là có biện pháp giải quyết.

Lưu Cảnh chỉ ra hai chỗ ngã ba phía trước cười nói:

- Chỗ lối rẽ có một cái lối nhỏ cũng có thể nối thẳng tới Mộc Hạp Quan, đường nhỏ kia ta đã đi qua, có vẻ cũng bằng phẳng, chỉ là khá hẹp, có thể lệnh cho binh lính mở rộng, rồi đầm chặt mặt đất, xây dựng cầu mới, liền biến thành một thương đạo rất tốt. Sau đó ở chỗ rẽ lại xây dựng một cái trấn nhỏ, đem lữ xá, cửa hàng, tửu quán và điếm nghỉ ngơi tiếp tế tiếp viện an trí ở trấn mới trên. Sau khi thương nhân nghỉ ngơi tiếp tế tiếp viện, liền trực tiếp đi theo thương đạo tới Mộc Hạp Quan, cũng không cần lại đi tới quân thành. Như vậy vừa có thể đảm bảo quân thành an toàn, cũng có thể đảm bảo thẳng đường thương đạo, mọi người nghĩ như thế nào?

Pháp Chính gật gật đầu:

- Đây là phương án tốt nhất, vi thần hoàn toàn đồng ý.

- Ý kiến của các ngươi thì sao?

Lưu Cảnh lại quay đầu lại hỏi hơn mười người tướng lĩnh.

Trương Nhậm khom người nói:

- Ty chức không có ý kiến, nhưng hy vọng xây dựng một chỗ trạm gác ở trên đồi cao, phòng ngừa thương nhân đi nhầm vào quân thành.

Lưu Cảnh mỉm cười, nói với Trương Nhậm:

- Xây dựng tháp canh ở trên đồi cao là nhất định rồi, nhưng chưa chắc là vì phòng ngừa thương nhân đi nhầm vào quân thành, Trương tướng quân quá lo rồi.

Mọi người cũng cười theo, đúng lúc này, từ xa một đội kỵ binh quân Hán chạy tới, một lát chạy tới trước mắt, kỵ binh dẫn đầu ôm quyền nói:

- Khởi bẩm điện hạ, đội vật tư Trường An đã đến!

Lưu Cảnh khum tay che nắng trên mắt nhìn lại, thấy xa xa xuất hiện một đường dài màu xám, dài chừng hơn mười dặm, hắn mừng rỡ trong lòng, cười nói với các tướng:

- Vật tư tiếp tế tiếp viện của chúng ta tới rồi, đi xem một chút!

Hắn phóng ngựa lên đón, mọi người cũng đều giục ngựa, đi theo Lưu Cảnh chạy tới hướng đội vận chuyển vật tư.

Việc tiếp tế tiếp viện quân tư của quân Hán đều thông qua hai đường thuỷ bộ. Trước đó do thuyền hàng chở dọc theo Kính Thủy, vận chuyển một lượng lớn vật tư đến huyện Kính Dương, lấy huyện Kính Dương làm trung chuyển, lại dùng xe súc vật kéo và trâu gỗ vận chuyển vật tư đến ngoài Tiêu Quan một trăm năm mươi dặm.

Chi đội vận chuyển này có quy mô khổng lồ, do mười lăm ngàn chiếc xe súc vật kéo và sáu ngàn trâu gỗ tạo thành, hơn hai vạn người tham gia vận chuyển, mặt khác còn có hai ngàn kỵ binh tham gia hộ vệ, vận chuyển đại lượng lương thực vật tư tới tiền tuyến Tiêu Quan.

Chi đội vận chuyển hậu cần này do Tư mã quân Hán là Lý Nghiêm toàn quyền phụ trách, Lý Nghiêm nguyên là Thái thú quận Võ Đô, đương nhiệm Tư mã quân Hán, thống lĩnh hậu cần vật tư quân Hán, chức quan trong quân Hán lớn gần với quân sư của quan văn. Y đi ở phía trước đội ngũ, có binh lính bẩm báo, Hán Vương điện hạ tới rồi, Lý Nghiêm vội vàng giục ngựa tiến lên, nghênh đón Lưu Cảnh tới. Y ở trên ngựa khom người nói:

- Vi thần Lý Nghiêm tham kiến Hán Vương điện hạ!

Lưu Cảnh gật gật đầu cười nói:

- Lý Tư mã một đường khổ cực!

Lý Nghiêm vội vàng lấy ra một quyển trục, đưa cho Lưu Cảnh:

- Đây là danh sách vật tư, mời điện hạ xem qua.

Lưu Cảnh tiếp nhận quyển trục, mở ra nhìn thoáng qua, chủ yếu là lương thực và quân giới, nhưng ở cuối danh sách, không ngờ hắn thấy được một ngàn đài phong nỏ, Lưu Cảnh lập tức mừng rỡ, hắn còn tưởng rằng phong nỏ còn cần thời gian, không nghĩ tới đã đưa tới một ngàn đài, hắn vội vàng hỏi:

- Phong nỏ ở nơi nào?

- Ở trong đội ngũ trâu gỗ, mời điện hạ đi theo ta.

Lý Nghiêm đưa Lưu Cảnh đi vào trong đội ngũ, nơi này là chỗ sáu ngàn đài trâu gỗ tập trung, đứng kín cả một vùng, dài chừng vài dặm, Lưu Cảnh liếc mắt một cái liền thấy bộ phận trâu gỗ không giống bình thường, trâu gỗ bình thường có màu đỏ, mà bộ phận trâu gỗ này lại có màu đen, kỳ thật không có bộ phận tiễn phòng ngự ở phần đầu trâu, quan trọng hơn là hai bên được trang bị bàn tời, đây là dấu hiệu của phong nỏ.

Lúc này, một gã nam tử chừng ba mươi tuổi tiến lên khom mình thi lễ:

- Tham kiến điện hạ!

Lưu Cảnh nhận ra y là Mã Quân, môn sinh đắc ý của La Thịnh, người của thành Nam Quận, nguyên là viện chủ viện thợ cung nỏ. Thuỷ chiến năm xưa, phong nỏ chính là do y phát minh, lục chiến lần này, phong nỏ cũng là do y và sư phụ Mã Quân cùng nhau nghiên cứu chế tạo, y vì sự tiến bộ binh khí của quân Hán mà tạo ra những cống hiến trác tuyệt, đảm nhiệm chức quan Phó Giáo úy. Năm ngoái, Lưu Cảnh phong mười ba thợ thủ công là Đình hầu, La Thịnh cũng là một trong số đó, được phong làm Tả đình hầu.

Lưu Cảnh cười nói:

- Nghe nói ngươi đã mang đến một ngàn đài phong nỏ, đều đã được thí nghiệm rồi sao?

- Hồi bẩm điện hạ, tất cả phong nỏ đều nhất nhất qua kiểm nghiệm rồi, hoàn toàn đạt tiêu chuẩn.

La Thịnh xoay người mở đáy hộc của một đài phong nỏ, bên trong là hộp đựng đầy tên bằng sắt tinh:

- Điện hạ mời xem, mỗi đài phong nỏ chứa mười hộp đựng tên, một hộp có ba mươi mũi tên nỏ, một ngàn đài phong nỏ có ba trăm ngàn mũi tên nỏ, có thể sử dụng lặp lại.

- Tốt lắm!

Trong lòng Lưu Cảnh hết sức vui mừng, nói với các tướng lĩnh:

- Có phong nỏ đến rồi, ta rất chờ mong đánh một trận với Hung Nô.

Các tướng lĩnh phần lớn chưa từng gặp qua uy lực của phong nỏ, trong lòng đều đầy nghi hoặc, Triệu Vân cười hỏi:

- Điện hạ, khi nào thì biểu diễn một chút cho chúng ta xem?

Lưu Cảnh vui vẻ nói:

- Đợi lát nữa ta bảo La Giáo uy diễn thử cho mọi người xem!

Hắn vung tay lên:

- Đều chở những thứ đó về quan đi!

Đội vận chuyển một lần nữa khởi động, trùng trùng điệp điệp chạy tới về hướng kho hàng mới thiết lập dưới Tiêu Quan.

Lưu Cảnh suất lĩnh mọi người trở lại Tiêu Quan, Triệu Vân cùng với các tướng lĩnh đều nhìn diễn thử phong nỏ, Lưu Cảnh thì cùng Pháp Chính bước nhanh đi trở về thành lâu Tiêu Quan, vừa rồi có binh lính bẩm báo, Giả quân sư có việc gấp tìm hắn.

Đi vào thành lâu, chỉ thấy Giả Hủ đang đứng ở trước sa bàn trầm tư, Lưu Cảnh đi lên trước cười nói:

- Quân sư có tìm ta có chuyện gì?

Giả Hủ ngẩng đầu thấy Lưu Cảnh và Pháp Chính tiến vào, vội vàng nói:

- Vừa rồi có thám báo báo lại, các bộ lạc quân đội Ô Hoàn đang tụ tập ở Thượng Quận, số lượng quân đội tạm thời chưa xác minh rõ ràng, chí ít có mấy vạn người.

Lưu Cảnh gật gật đầu, đây là trong dự đoán của hắn, Tần Mật đi sứ thất bại, cũng có nghĩa chiến tranh phải xảy ra, lúc này, Pháp Chính bên cạnh nói:

- Điện hạ, ta cảm giác dường như Ô Hoàn cũng cũng không nguyện ý cùng chiến tranh với chúng ta, bọn họ cũng có chuyện bí mật khó nói, nếu không Tần Tham quân cũng sẽ không bị bọn họ dùng lễ tiễn xuất cảnh.

Lưu Cảnh cười lạnh một tiếng nói:

- Ô Hoàn đơn giản là bị Hung Nô hiếp bức, không thể không đánh với chúng ta một trận, nhưng mặc kệ bọn họ là thái độ gì, một trận chiến này đều không thể tránh né. Một khi chúng ta bị đánh bại, Ô Hoàn cũng sẽ không chút lưu tình đồ sát chúng ta, cho nên không thể vì bọn họ có chuyện gì khó xử mà sinh lòng trắc ẩn.

- Vi thần cũng không phải sinh lòng trắc ẩn đối với bọn họ, mà là cho rằng Ô Hoàn không cam lòng bị Hung Nô sử dụng mà sẽ không toàn lực ứng phó, có lẽ chúng ta có thể tìm kiếm được thời cơ chiến đấu từ trong đó.

Lưu Cảnh gật gật đầu:

- Quả thật có thể lợi dụng loại tâm thái này của Ô Hoàn, tuy nhiên đợi lúc lâm chiến rồi quan sát, bây giờ còn nói còn quá sớm.

Lưu Cảnh đối với đề nghị của Pháp Chính cũng không quá nhiệt tình, không phải hắn không biết tâm tính cầu hòa của Ô Hoàn, nhưng mục đích Ô Hoàn cầu hòa là duy trì hiện trạng, đây cũng là kết quả Lưu Cảnh không muốn tiếp nhận, nếu giảng hòa với Ô Hoàn có thể gấp rút khiến cho hai bên dắt tay đối phó Hung Nô, hoặc là tránh cho quân Hán song tuyến chiến tranh, đến nỗi hai mặt thụ địch, như vậy Lưu Cảnh cũng nguyện ý hoà đàm với Ô Hoàn, đây cũng là nguyên nhân chủ yếu hắn phái Tần Mật đi sứ Ô Hoàn.

Nhưng một khi Ô Hoàn quyết định xuất binh đối với quân Hán, như vậy những chỗ tốt Lưu Cảnh vẫn chờ mong đều biến mất, dưới loại tình huống này, Lưu Cảnh tự nhiên đoạn tuyệt ý niệm hoà đàm với Ô Hoàn trong đầu, hắn phải lợi dụng trận chiến này phá huỷ Ô Hoàn, sau đó hoàn toàn cải tạo Ô Hoàn.

Lưu Cảnh lại hỏi Giả Hủ:

- Quân đội Ô Hoàn tập kết ở nơi nào?

Giả Hủ dùng cây gỗ chỉ vào một thị trấn:

- Nơi này là huyện Điêu Âm, quân đội Ô Hoàn tập kết ngay tại phía bắc không xa huyện Điêu Âm, mà không phải ở nơi ở của bọn họ là huyện Cao Nô.

“Huyện Điêu Âm?”, trong lòng Lưu Cảnh cả kinh, vị trí của huyện Điêu Âm không phải là nhỏ, hắn đi đến trước sa bàn nhìn kỹ, chỉ thấy huyện Điêu Âm ở bờ tây Lạc Thủy, dọc theo hà cốc Lạc Thủy có thể trực tiếp đi vào Quan Trung, điều này làm cho trong lòng Lưu Cảnh không khỏi lo lắng. Người Ô Hoàn đang tập kết ở huyện Điêu Âm, mục đích của bọn họ có phải là vì trực tiếp tiến công Quan Trung hay không?

Giả Hủ dường như hiểu được sự lo lắng của Lưu Cảnh, cười nói:

- Điện hạ không cần lo ngại, ta có thể mời một người tới giải trừ lo lắng của điện hạ.

Giả Hủ lập tức bảo thị vệ:

- Đi mời Đức Ban lại đây một chuyến.

......

----------oOo----------

Chương 821: Kì binh xuất kích.

Một lát, thị vệ dẫn một lão giả trên dưới sáu mươi tuổi tiến vào, lão tiến lên quỳ xuống thi lễ:

- Tiểu dân Ban Đức, bái kiến Hán vương điện hạ!

Giả Hủ ở một bên giới thiệu, nói:

- Vị Ban Đức lão nhân này, vốn cũng là một tù trưởng của bộ lạc Ô Hoàn. Mấy năm trước bộ lạc của lão toàn bộ chuyển thành nông canh, sinh sống ở huyện Điêu Âm, vì không chịu nổi thuế má trầm trọng của người Hung Nô, lão liền suất lĩnh tộc nhân dời vào Quan Trung, được an trí ở ở huyện An Định, lão rất quen thuộc tình hình của Lạc Thủy.

Lưu Cảnh gật gật đầu, tiến lên nâng lão dậy cười nói:

- Đối với dân du mục chuyển thành nông canh ta luôn luôn là vô cùng hoan nghênh, không cần đa lễ, xin đứng lên!

Ban Đức có vẻ rất kích động, lão lại xung phong nhận việc nói:

- Ta rất quen thuộc với đại tù trưởng Ô Hoàn Lỗ Tích, tiểu dân nguyện ý thay điện hạ đi khuyên bảo tù trưởng về hàng nước Hán.

- Chuyện này cũng không cần phải gấp, tuy nhiên ta muốn biết, sau khi các ngươi chuyển thành nông canh, vẫn duy trì cách sống của bộ lạc du mục từ trước sao?

Đây là vấn đề Lưu Cảnh cảm thấy hứng thú nhất, cho tới bây giờ, hắn tiếp xúc với không ít dân tộc du mục chuyển thành dân tộc nông canh, nhưng đều không ngoại lệ, đều là bị quan phủ cưỡng ép an trí, đối với dân tộc du mục tự nguyện chuyển thành nông canh, Lưu Cảnh vẫn là lần đầu tiên gặp được, tràn ngập tò mò đối với cuộc sống trước mắt của bọn họ.

Ban Đức cười khổ một tiếng nói:

- Cách sống nông canh và du mục là hoàn toàn bất đồng, không đơn giản như định cư và di cư, mới một năm thời gian, biến hóa rất lớn, mấu chốt là từng nhà càng thêm coi trọng đối với lợi ích của bản thân, nhất là người trẻ tuổi, cũng không nguyện lấy thêm ra tài vật phụng dưỡng trưởng lão bộ lạc. Phần lớn người trẻ tuổi còn sửa lại họ của dân tộc Hán, học tập nói Hán ngữ. Kỳ thật tù trưởng như ta đây cũng chỉ là danh nghĩa, hiện tại ta chỉ là một tộc trưởng, chỉ có thể quản thúc đến con cháu của huynh đệ ta.

Lưu Cảnh gật gật đầu, điều đó và ý nghĩ của hắn cơ bản ăn khớp, phương thức sản xuất thay đổi, cách sống và văn hóa tất nhiên đều sẽ cải biến, Hán hóa không thể tránh né, bộ lạc thích ứng chế độ sinh hoạt du mục sẽ tự nhiên giải thể tiêu vong, hơn nữa người trẻ tuổi càng muốn nhận văn hóa Hán. Tuy nhiên hắn cũng thật không ngờ, mới một năm thời gian, biến hóa lại lớn như vậy, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, bọn họ đã chuyển thành nông canh đã nhiều năm rồi, hẳn là đã sớm có biến hóa.

Lúc này, Giả Hủ lại nhắc nhở Lưu Cảnh:

- Điện hạ không muốn hỏi một chút tình hình của Lạc Thủy sao?

Một câu nhắc nhở Lưu Cảnh, hắn hiện tại lo lắng nhất chính là kỵ binh Ô Hoàn có thể theo Lạc Xuyên Đạo thẳng hướng Quan Trung hay không, hắn liền hỏi:

- Hiện nay Lỗ Tích đã tập kết binh lực, lão trượng cho là gã sẽ xuôi nam theo bờ Lạc Thủy, tiến vào Quan Trung sao?

Ban Đức cúi đầu suy nghĩ một chút nói:

- Lỗ Tích có ý tưởng tấn công Quan Trung hay không ta không biết, tuy nhiên bây giờ là tháng sáu, đúng là thời kỳ nước lên của Lạc Thủy, lòng sông đã chứa đầy nước. Hơn nữa phía bắc Nghi Vân Cốc có một đoạn lộ trình ước chừng ba mươi dặm, tên là eo sông Bạch Mã, nơi đó dòng nước chảy xiết, hai bên là vách đá dựng đứng, núi cao cách trở, căn bản không có đường có thể đi, trừ phi bọn họ đi bè da dê xuôi nam, nếu không bọn họ chỉ có thể đợi tới mùa đông.

- Mùa đông có thể đi bộ xuôi nam?

Lưu Cảnh lại truy vấn.

- Mùa đông Lạc Thủy kết băng, đương nhiên có thể theo trên mặt băng xuôi nam, kỳ thật sau khi tháng tám nhập thu, nước sông dần dần cạn đi, thì đã có thể dọc theo lòng sông xuôi nam, không hề cần đi bè da dê.

Lưu Cảnh khoanh tay đi qua đi lại, nghe ý tứ của vị lão nhân này, chỉ là bởi vì một đoạn dòng nước chảy xiết eo sông Bạch Mã mà không thể xuôi nam, nhưng nếu người Ô Hoàn sử dụng bè da dê lớn, là có thể đưa nhân mã tiến vào Quan Trung, vẫn có uy hiếp nhất định.

Lúc này, Ban Đức lại thật cẩn thận nói:

- Điện hạ, tiểu dân cũng không cho rằng người Ô Hoàn sẽ tiến binh Quan Trung.

- Vì sao?

Lưu Cảnh nhìn lão một cái hỏi.

- Bởi vì người Ô Hoàn không có dã tâm tiến binh Quan Trung, chưa từng có tiền lệ. Mấy trăm năm qua, người Ô Hoàn sinh hoạt dưới bóng ma Hung Nô, vì sinh tồn mà giãy dụa, chưa bao giờ nghĩ tới muốn tiến quân Trung Nguyên.

Lưu Cảnh đương nhiên tin tưởng người Ô Hoàn không có loại dã tâm này, nhưng nếu như là dưới sự cưỡng bức của người Hung Nô, thì cũng khó nói.

Hắn cũng không nói toạc, liền gật gật đầu cười nói:

- Đa tạ lão trượng giải thích nghi hoặc, ta sẽ hết sức trợ giúp người Ô Hoàn thoát khỏi vòng ckhống chế của người Hung Nô, hy vọng lão trượng ở tạm mấy ngày, có lẽ ta còn chỗ cần đến lão trượng.

Ban Đức vô cùng cảm kích, quỳ xuống dập đầu, chậm rãi lui xuống, Lưu Cảnh lập tức nói với Pháp Chính:

- Lập tức truyền lệnh quân Hán dẫn mười ngàn quân Bắc thượng theo bờ Lạc Thủy, hạ trại tại một chỗ thích hợp ở Vân Cốc, bảo bọn họ cần phải kéo xích sắt ở trên mặt sông Lan Giang.

Pháp Chính lập tức đi viết quân lệnh, lúc này, Lưu Cảnh lại hỏi Giả Hủ:

- Quân sư cảm thấy ta nên chủ động xuất kích nghênh chiến kỵ binh Ô Hoàn, hay là nên phòng bị Hung Nô, bế quan bất chiến?

Giả Hủ cười cười nói:

- Vấn đề này rất vi diệu, cũng rất khó trả lời. Ta nói có thể xuất kích, cũng nói không thể xuất kích, mấu chốt ngay tại Lưu Khứ Ti. Nếu chúng ta có thể kéo trụ Hung Nô, như vậy là chúng ta có thể toàn lực tiến công Ô Hoàn.

Lưu Cảnh trầm tư một lát, lãnh đạm nói:

- Nếu muốn bám trụ Hung Nô, tốt nhất đó là xuất kỳ binh!

Vị trí của Xa Diên Hải ở vào phía bắc Trường Thành, phía nam Hà Sáo bên trong hoang mạc mờ mịt, hơn mười nhánh sông rót vào, cuối cùng tạo thành một hồ nước ngọt sóng sánh, nó và Cư Diên Hải được xưng là hai viên minh châu sáng nhất Tái Bắc. Thời Hán triều, ở phía đông bờ nam Xa Diên Thủy từng có huyện Xa Diên, bởi vì Hung Nô xâm lấn, thị trấn đã bị bỏ hoang.

Bốn phía Xa Diên Hải bị sa mạc và thảo nguyên phức tạp vây quanh, ven bờ hơn mười dặm là màu xanh của hoa cỏ, cỏ nuôi súc vật tốt tươi, bãi cỏ mênh mông và nguồn nước sung túc khiến nơi này trở thành nơi bộ lạc của Lưu Khứ Ti trải qua mùa đông, mùa hè bọn họ bình thường đều trở về bình nguyên Hà Sáo.

Nhưng năm nay lại không giống năm ngoái, bởi vì thanh tráng đều theo Lưu Khứ Ti xuôi nam, hơn mười vạn phụ nữ và trẻ em cũng vốn không dời về Hà Sáo, mà là ở lại tại Xa Diên Hải, không ngừng cung cấp đại lượng dê bò cho tướng sĩ tiền phương.

Trưa hôm nay, ở một cánh rừng bên cạnh cách Xa Diên Hải ước chừng hai trăm dặm, một chi kỵ binh ba nghìn người đang hăng hái lao nhanh theo hướng bắc, chi kỵ binh này do Mã Đại suất lĩnh, kỵ binh lệ thuộc trực tiếp vào Lưu Cảnh. Trải qua năm sáu ngày tu dưỡng và bổ sung binh lính, bọn họ lại lần nữa ra đi, phụng lệnh Lưu Cảnh, kỳ binh tập kích Xa Diên Hải, sào huyệt của Lưu Khứ Ti.

Lúc này, kỵ binh đã chạy tới cuối rừng rậm, một gã quân hầu quen thuộc địa hình nói với Mã Đại:

- Tướng quân, nghỉ ngơi một chút đi! Lại đi theo hướng bắc chính là hoang mạc dài hai mươi dặm rồi.

Mã Đại ghìm chặt chiến mã, gặp cách đó không xa có một sông nhỏ, liền hạ lệnh:

- Đi tới bờ sông nghỉ ngơi!

Bọn lính đều quay đầu ngựa lại, chạy tới sông nhỏ cách đó không xa. Một lát, người đến khiến sông nhỏ ồn ào, náo nhiệt dị thường. Nhân mã uống thoải mái nước sông trong suốt ngọt lành này. Nước sông lạnh lẽo, ở giữa mùa hè nóng bức quả thực giống như thiên đường, không ít binh lính đều nhảy xuống sông.

Mã Đại cũng xoay người xuống ngựa, tìm một bụi cỏ ngồi xuống, một tên binh lính múc một bình nước đưa cho y, Mã Đại uống vài ngụm nước, đánh giá một chút địa hình bốn phía, phương bắc mơ hồ có thể thấy được dãy núi thật lớn, chỗ gần là sa mạc trắng loá, ở ánh mặt trời bắn thẳng đến xuống, nhiệt khí lưu động, giống hệt hỏa lò.

Y nhướn mày, hỏi quân hầu dẫn đường Lý Dục:

- Chẳng lẽ nhất định phải đi qua sa mạc sao? Không có đường tắt nào khác?

Lý Dục có phụ thân là thương nhân, từ nhỏ y theo phụ thân nhiều lần đi tới đi lui giữa thảo nguyên và Quan Trung, vô cùng quen thuộc đối với địa hình bên này, y cười cười nói:

- Dãy núi phía xa kia tên là Bạch Vu Sơn, trên núi có xây dựng Trường Thành, từ nơi này đến Bạch Vu Sơn ước chừng hai mươi dặm, một đường đều là hoang mạc, cũng có một chút thực vật xanh, nhưng đại bộ phận là sa mạc. Qua Bạch Vu Sơn chính là thảo nguyên, lại đi theo hướng bắc năm mươi dặm là tới Xa Diên Hải, mùa hè đi một đoạn đường chân núi hoang quả thật rất thống khổ. Tuy nhiên ta biết một lục lộ khác, là một đồng cỏ ước chừng một dặm, nối thẳng qua Sơn Hạp Cốc, người Hung Nô xuôi nam tất đi đường này.

Mã Đại mừng rỡ:

- Lục lộ này ở nơi nào?

Lý Dục chỉ về phía đông:

- Đi theo bờ sông nhỏ này theo hướng đông vài dặm liền đến!

Mã Đại uống nhanh thêm mấy ngụm nước lạnh, thời tiết nóng biến mất, y hạ lệnh:

- Nửa canh giờ nghỉ ngơi sau xuất phát!

......

Kỵ binh quân Hán đi vội theo hướng tây vài dặm, đã dần dần tới cái gọi là Lục Lộ, quả thật danh xứng với thực, ở chung quanh một mảnh sa mạc nóng cháy, một khối lục địa màu xanh rộng cả dặm hiện lên có vẻ vô cùng đột ngột, cũng vô cùng đẹp mắt, tựa như một tấm thảm màu xanh lục, nối thẳng tới Bạch Vu Sơn phía xa.

Đúng lúc này, hai gã thám báo chạy gấp tới, ôm quyền bẩm báo với Mã Đại:

- Khởi bẩm tướng quân, tại thung lũng phía trước phát hiện đội tiếp tế tiếp viện người Hung Nô, chỉ là bầy cừu hơn vạn con.

Mã Đại và phó tướng Lãnh Bao nhìn nhau, Mã Đại vội hỏi:

- Có bao nhiêu quân đội hộ vệ?

- Người cũng không nhiều lắm, ngoại trừ mấy chục người dân chăn nuôi, kỵ binh hộ vệ chỉ có khoảng ba trăm người.

- Ít kỵ binh như vậy?

Mã Đại khẽ cau mày, ít kỵ binh như vậy có thể làm cái gì.

Lúc này, quan dẫn đường Lý Dục cười nói:

- Mã Tướng quân có điều không biết, nơi này kỵ binh hộ vệ không phải phòng chúng ta tập kích, mà là dùng để phòng sói. Bầy cừu nhiều như vậy, ban đêm nhất định sẽ dẫn tới rất nhiều sói hoang, nhưng sói hoang tuy nhiều, ba trăm kỵ binh cũng đủ rồi.

Mã Đại lúc này mới chợt hiểu, kỳ thật y cũng biết, ở Hà Tây cũng cần phòng sói giống vậy, chỉ có điều y ở quân Hán nhiều năm, thói quen phòng sói của người Hồ Hà Tây như y nhất thời có chút quên mất.

Trong mắt Lãnh Bao có một loại hưng phấn không che dấu được, gã xoa tay nói:

- Chỉ có ba trăm người, chúng ta hoàn toàn có thể diệt cùng lúc, không lưu người sống.

Mã Đại suy nghĩ một chút nói:

- Kỳ thật không cần tiêu diệt, chặn đường về ở phía bắc, để ra thông đạo phía nam, làm cho bọn họ đi về phía Lưu Khứ Ti báo tin, bức Lưu Khứ Ti rút lui về phía bắc, không phải mục đích của chúng ta đã đạt sao?

Lãnh Bao vỗ trán, nhịn không được bật cười:

- Ta thật sự là hồ đồ rồi, chúng ta chính là muốn khiến Lưu Khứ Ti biết nguy hiểm, còn toàn diệt làm cái gì?

Mã Đại gật gật đầu:

- Việc này không nên chậm trễ, chúng ta lập tức hành động.

Lúc này y chia ra ba đường, lệnh Lý Dục dẫn năm trăm người thủ khe sâu, phòng ngừa người Hung Nô trốn về Xa Diên Trạch báo tin. Còn lại hai nghìn năm trăm người chia binh làm hai đường, Mã Đại dẫn một đội theo phương hướng đông bắc mà tiến công, Lãnh Bao dẫn một đội tiến công từ hướng tây bắc, hai mặt giáp công đội tiếp tế tiếp viện người Hung Nô.

Bố trí xong, Mã Đại trở mình lên ngựa, lớn tiếng ra lệnh:

- Các huynh đệ ra sức một chút, buổi tối có thể ăn no một bữa thịt dê nướng.

......

----------oOo----------

Chương 822: Tiến thẳng tới sào huyệt.

Chủ lực Hung Nô trước mắt trú binh chỗ cách Xa Diên Trạch cũng không xa, không đến hai trăm dặm, bởi vì ban ngày thời tiết nóng bức, đội tiếp tế tiếp viện Hung Nô phần lớn là sau khi mặt trời lặn mới hành quân, ban ngày thì tránh ở chỗ thoáng mát để tránh nắng.

Mã Đại bọn họ gặp được chi đội tiếp tế tiếp viện này chỉ là một chi đội ngũ quy mô nhỏ, chỉ có vạn con dê, sĩ binh hộ vệ cũng không nhiều, vẻn vẹn ba trăm tên kỵ binh.

Sau khi mặt trời dần dần xuống núi, sức nóng của mặt đất bay đi cực nhanh, rất nhanh liền lạnh xuống, tới ban đêm sẽ còn cảm thấy rét lạnh, đây cũng là đặc điểm của sa mạc. Cho nên mặt trời vừa mới xuống núi, đội ngũ tiếp tế tiếp viện liền xuất phát.

Mấy chục người chăn nuôi vội vàng xua hơn vạn con dê dọc theo Lục Lộ chậm rãi xuất phát về hướng nam. Hai bên có ba trăm kỵ binh hộ vệ, cảnh giác nhìn động tĩnh bốn phía, bọn họ chủ yếu là phòng ngự bầy sói xâm nhập.

Ngay lúc sắc trời xẩm tối, màn đêm còn chưa hoàn toàn buông xuống, phương bắc bỗng nhiên truyền đến tiếng vó ngựa dồn dập, chỉ thấy hướng đông bắc và hướng tây bắc đồng thời xuất hiện hai nhóm kỵ binh lớn, như nước lũ cuồn cuộn đang ào tới hướng bầy cừu bên này.

Ban đầu, kỵ binh Hung Nô vẫn còn kinh nghi, không biết kỵ binh ở đâu ra, đợi nhóm kỵ binh lớn vọt tới ngoài trăm bước, bọn họ mới thấy rõ không ngờ là kỵ binh quân Hán. Bọn lính Hung Nô lập tức đại loạn, đều rút đao nghênh chiến. Còn dân chăn nuôi thì sợ tới mức mất hồn mất vía, chẳng quan tâm đến bầy dê, liều mạng thúc ngựa chạy trối chết, bầy dê cũng chạy trốn khắp bốn phía.

- Chĩa vào! Chĩa vào bọn họ!

Một gã Ngũ Bách nhân trưởng Hung Nô cao giọng hô to, nhưng thanh âm của gã bị tiếng vó ngựa như sấm át mất. Kỵ binh Hung Nô bị khí thế hùng mạnh của quân địch làm kinh sợ, không ít binh lính thúc ngựa chạy trối chết về hướng nam.

Nháy mắt, hai tốp kỵ binh quân Hán như cuồng triều hợp nhất, lấy một sức mạnh không thể chống đỡ giết vào bên trong kỵ binh Hung Nô. Ngay lập tức, thi thể bị chém đứt rơi đầy trên cỏ, máu tràn ngập, tiếng kêu thảm thiết không ngừng vang lên.

Kỵ binh quân Hán nhanh chóng bao vây hơn trăm tên tàn quân Hung Nô chưa kịp chạy trốn. Bọn họ không lưu tình chút nào, tên bắn như mưa, bắn chết toàn bộ tàn quân Hung Nô. Tính cả hơn mười người dân chăn nuôi không kịp chạy trốn, cũng cùng nhau chết thảm ở dưới loạn tên, mấy ngàn con dê béo cũng thành lương thảo tiếp tế tiếp viện của kỵ binh quân Hán.

Một lúc lâu sau, mấy ngàn quân Hán làm thịt dê nướng ở bờ sông nhỏ, vô cùng náo nhiệt, Lãnh Bao tìm được Mã Đại, bẩm báo:

- Ta mang các huynh đệ kiểm lại quân địch bỏ mình, trốn mất hai mươi mấy tên quân địch và bộ phận dân chăn nuôi, còn lại toàn bộ bị chúng ta tiêu diệt rồi.

- Ngươi bắt được tù binh rồi hả?

Mã Đại nghe được ngụ ý của Lãnh Bao, cười hỏi.

Lãnh Bao gật gật đầu:

- Quơ được một gã Bách phu trưởng bị thương chưa chết, gã rất phối hợp, nhất nhất khai báo, nếu tướng quân muốn biết tình hình Xa Diên Trạch, thì cũng có thể hỏi gã một chút.

Mã Đại mừng rỡ, y đương nhiên muốn nắm bắt được tình hình Xa Diên Trạch, lập tức nói:

- Đi! Hỏi gã một chút đi.

Xa Diên Trạch là một hồ nước ngọt trên cao nguyên, bốn phía là đồng cỏ tốt tươi, là một chỗ sống lý tưởng của dân tộc du mục. Về sau, Hán Vũ Đế phản kích Hung Nô quy mô lớn, thế lực Hán triều không ngừng mở rộng lên phía bắc, theo việc triều đình khai thác, phát triển địa khu Hà Sáo, Xa Diên Trạch cũng thành một nơi trung chuyển quan trọng. Hán Vương triều xây dựng huyện Xa Diên ở nơi đây, cư ngụ hơn ngàn gia đình người nhà của quân Hán, khai khẩn thổ địa, gieo trồng lương thực.

Nhưng từ cuối thời Hán, thế lực nam Hung Nô xuôi nam, Hà Sáo thất thủ, huyện Xa Diên cũng bị người Hung Nô chiếm lĩnh. Người Hán bị khu trục hoặc là giết chóc, ruộng tốt khai thác, phát triển ra cả trăm năm đều dần dần trở nên hoang vu, Xa Diên Trạch lại lần nữa biến thành thiên đường của người Hung Nô.

Trước mắt, Hữu Hiền Vương Lưu Khứ Ti khống chế được tất cả hơn mười bộ lạc Hung Nô lớn nhỏ, khoảng chừng gần trăm vạn dân chúng, trong đó bản bộ của ông ta ước chừng hơn hai mươi vạn người, gọi là Độc Cô Bộ, sinh hoạt ngay tại bờ đông Xa Diên Trạch cùng với chỗ giao nhau giữa hai sông của bình nguyên Hà Sáo, mùa hè ở Hà Sáo chăn thả, mùa đông thì dời về Xa Diên Trạch.

Nhưng năm nay bởi vì nguyên nhân quân Hán Bắc thượng, Độc Cô Bộ không dời về Hà Sáo, mà trải qua mùa hè nóng nực ở Xa Diên Trạch. Do lúc này đây, quân Hán tiến công Tiêu Quan khá đột ngột, khiến Lưu Khứ Ti không kịp triệu tập quân đội các bộ lạc mà ông ta khống chế, chỉ suất lĩnh năm vạn kỵ binh bản bộ cùng với hơn một vạn kỵ binh người Yết xuôi nam.

Đại bộ phận thanh tráng theo Lưu Khứ Ti xuôi nam, hơn mười vạn phụ nữ và trẻ em, người già yếu thì ở lại Xa Diên Trạch, phụ trách cung cấp tiếp tế tiếp viện cho quân đội tiền phương. Lưu Khứ Ti lại để lại mười ngàn quân đội hộ vệ gia quyến cũng như bảo hộ đường vận chuyển lương an toàn.

Lưu Khứ Ti chưa bao giờ nghĩ tới quân Hán sẽ đánh lén nơi ở của ông ta, chuyện như thế này mặc dù từng xảy ra ở thời Hán Vũ Đế, nhưng dù sao mấy trăm năm qua đi, cho dù người Hung Nô còn nhớ rõ đoạn lịch sử này, nhưng chi tiết lịch sử bọn họ đã sớm phai nhạt.

Vào lúc canh ba, Mã Đại suất lĩnh quân Hán đã tới Xa Diên Trạch, bọn họ ẩn thân ở phía sau một đồi núi thấp. Mã Đại và hơn mười người từ quân hầu đến tướng lĩnh thì dừng ngựa ở trên gò núi, nhìn chăm chú về liên doanh Hung Nô phía xa. Từ những ánh đuốc lập lòe mà phán đoán, mảnh doanh địa này ít nhất kéo ba mươi dặm, có hơn vạn đỉnh lều trại.

Từ trong miệng tù binh bị bắt đã biết được, Lưu Khứ Ti để lại mười ngàn quân đội hộ vệ đại doanh, nhưng trong đó hơn bốn ngàn người đang hộ vệ tiếp tế tiếp viện ven đường, không ở trong đại doanh, đại doanh đó hẳn là chỉ còn có hơn năm ngàn binh lính.

Mặc dù kỵ binh đóng giữ đại doanh Hung Nô nhiều hơn quân Hán, nhưng Mã Đại vẫn hạ quyết tâm, y nói với vài tên tướng lĩnh:

- Lưu Khứ Ti hiện tại hẳn là đã biết tình hình, cực khả năng đã đi Bắc thượng, chúng ta không có thời gian để tiếp tục kéo dài nữa.

Lãnh Bao cũng gật đầu nói:

- Chúng ta có thể dùng hỏa công, lửa lớn thiêu đốt hoàn toàn có thể gây ra hỗn loạn, chúng ta còn có cơ thừa dịp.

Mã Đại quyết định thật nhanh nói với mọi người:

- Cứ năm mươi người thành một đội, xuống tay phải tàn nhẫn, phụ nữ, người già yếu và trẻ em đều giết hết, tận lực làm cháy nhiều lều trại, rút khỏi trước hừng đông!

Mọi người cùng nhau khom người thi lễ:

- Tuân lệnh!

Mọi người đều quay đầu ngựa lại, chạy xuống núi đi tiếp đón bộ hạ, Mã Đại lại nói với Lãnh Bao:

- Ngươi dẫn theo một ngàn huynh đệ tập kích đàn dê ngựa của bọn họ, giết chết bầy cừu, mang chiến mã đi. Đã không có tiếp tế tiếp viện ở phía sau, tin tưởng Lưu Khứ Ti nhất định sẽ rút về Hà Sáo.

Lãnh Bao gật gật đầu:

- Ta hiểu!

Hai người vỗ tay thật mạnh, phân biệt quay đầu ngựa xuống đồi.

Lúc này đã qua canh ba, canh bốn chưa tới, đúng lúc mọi người đang ngủ say nồng. Trong ngoài đại doanh, không có nhiều lính gác qua lại trinh sát tuần tra, phần lớn lính gác đều tập trung ở chỗ nhốt đàn dê ngựa. Chiếm đất gần hai ngàn mẫu, đàn dê ngựa này có gần trăm vạn con dê và vạn con chiến mã, đây là tài sản quan trọng nhất của dân tộc du mục, cũng là lương thực cơ bản của bọn họ.

Vào mùa hè, phải vô cùng để ý bầy sói đánh lén ban đêm, bởi vậy có mấy trăm tên kỵ binh trinh sát tuần tra bốn phía đàn dê ngựa. Ở bên ngoài một dặm, Lãnh Bao suất lĩnh một ngàn kỵ binh quân Hán đã sẵn sàng trận địa đón quân địch. Bọn họ kiên nhẫn chờ đợi, Lãnh Bao cũng cực kỳ hồi hộp, đây là lần thứ hai đại chiến sau khi y gia nhập kỵ binh. Vài ngày trước chiến đấu kịch liệt với kỵ binh Yết Hồ, tuy rằng cuối cùng đánh bại Yết Hồ, nhưng bọn họ cũng đồng dạng tổn thất thê thảm và nghiêm trọng, coi như thắng trong bại.

Còn lần này có thể thành công hay không liên quan đến tiền đồ của y. Y vốn là thuộc cấp của Trương Nhậm, về sau lại theo Hoàng Trung. Đầu năm y được Hoàng Trung mạnh mẽ đề cử, trở thành quân lệ thuộc trực tiếp Hán Vương, trở thành phó tướng kỵ quân. Trước mắt mặc dù y chỉ là chức Giáo úy, nhưng trước khi xuất phát Hán Vương tự mình gặp bọn họ, là nhìn ra được Hán Vương coi trọng lần tập kích bất ngờ này thế nào. Nếu trận chiến này có thể thành công, cực khả năng y sẽ được thăng làm Trung Lang Tướng, ngày này y chờ mong đã lâu.

Bỗng nhiên, một gã quân sĩ thấp hô một tiếng:

- Tướng quân, mau nhìn!

Lãnh Bao lập tức từ trong trầm tư bừng tỉnh, y ngưng thần nhìn kỹ, chỉ thấy vài dặm ngoài xa, trong đại Hung Nô doanh dấy lên một mảnh ánh lửa, đây là Mã Đại đã phát động ra công kích, lập tức y ra lệnh cho thủ hạ:

- Chuẩn bị xuất kích!

Một ngàn kỵ binh quân Hán bắt đầu kích động lên, nắm chặt trường mâu, rút chiến đao ra, giương cung lắp tên, chỉ đợi đến một tiếng ra lệnh cuối cùng.

Lúc này, hai gã thám báo chạy vội tới, ở ngoài vài chục bước liền cao giọng hô:

- Tướng quân, trinh sát tuần tra Hung Nô đều rút lui!

Lãnh Bao chờ đợi đúng là giờ khắc này, y rút đao lớn tiếng hô:

- Các huynh đệ, cơ hội lập công đang ở trước mắt, theo ta giết!

- Giết a!

Trong một vùng tiếng hô, một ngàn kỵ binh chợt phát động, tiếng chân như sấm, giống như nước lũ vỡ đê đánh tới đàn dê ngựa bên ngoài một dặm. Lúc này, mấy trăm trinh sát tuần tra xung quanh đàn dê ngựa bị lửa cháy phía đại doanh kinh động, đều chạy trở về cứu giúp người nhà, khiến cho trinh sát tuần tra bên này chỉ còn lại có hơn hai mươi người. Bọn họ ngăn cản không nổi kỵ binh quân Hán đang mãnh liệt đánh tới, hoặc chết ở dưới đao quân Hán, hoặc thúc ngựa liều mạng chạy trốn. Kỵ binh quân Hán ầm ầm phá thông hàng rào, vọt vào chiếm khoảnh đất rộng lớn nhốt đàn dê ngựa, lưỡi mâu bổ xuống, tùy ý giết chóc trong đàn dê gần trăm vạn con.

.....

Giết chóc thảm thiết cũng xảy ra ở trong đại doanh. Hai ngàn kỵ binh quân Hán vọt vào đại doanh của người Hung Nô. Năm mươi kỵ binh làm một đội, do một tên đồn trưởng suất lĩnh, bọn họ tay cầm cây đuốc lao nhanh tung hoành ở trong đại doanh, đốt doanh trướng, vô tình giết chóc phụ nữ, trẻ em và người già chạy trốn khóc hô.

Trong đại doanh, khói đặc cuồn cuộn, lửa cháy tràn lan khắp nơi, nhi đồng và phụ nữ nghiêng ngả lảo đảo chạy trốn, khóc hô không ngớt, nhưng đợi bọn họ chỉ có chiến đao vô tình bổ chém và trường mâu đâm giết.

Mã Đại suất lĩnh hai trăm kỵ binh vẫn vọt tới giải đất trung tâm, lúc này y thấy đỉnh doanh trướng lớn nhất, chiếm chừng hai mẫu đất, bốn phía lều lớn được quây kín xung quanh, khí thế phi phàm, y lập tức ý thức được, đây chính là vương trướng của Lưu Khứ Ti rồi.

- Đốt nó!

Mã Đại hạ lệnh.

Mấy cây đuốc được ném tới, đỉnh lều lớn này lập tức bốc cháy lên, hỏa thế càng lúc càng lớn. Lúc này, từ trong đại trướng vang lên thét chói tai, hơn mười nữ nhân chạy ra, tuổi không bằng nhau, có người trong lòng còn ôm đứa nhỏ.

Trong đó còn có một nam tử trẻ tuổi khoảng hai mươi mấy tuổi, đang mặc bào phục tơ lụa, tay cầm một chiến đao. Tuy rằng quần áo văn nhã, nhưng bộ dáng lại có vẻ hung hãn. Gã hét lớn một tiếng, vung đao đánh tới hướng một gã kỵ binh quân Hán.

Mã Đại lập tức ý thức được những nữ nhân này là thê thiếp của Lưu Khứ Ti, người trẻ tuổi mà quần áo hoa lệ cũng có thể là con cháu của Lưu Khứ Ti. Cực có thể là con thứ Cáo Thăng Viên của Lưu Khứ Ti. Mã Đại đang định ra lệnh cho binh lính bắt sống, nhưng đã chậm, mấy mũi tên bắn nhanh tới, bắn thủng ngực người trẻ tuổi, khiến gã gục ngay tại chỗ.

Mã Đại giục ngựa tiến lên, dùng mũi đao đâm xoay ngược người trẻ tuổi lại, gã đã khí tuyệt bỏ mình, trước ngực có treo một cái kim bài nhỏ. Y dùng mũi đao đâm vào kim bài, nắm trong tay nhìn kỹ, chỉ thấy mặt trên dùng văn tự tiểu triện của Hán có khắc bốn chữ 'Lưu Cáo Thăng Viên', quả nhiên là con thứ của Khứ Ti.

Mã Đại bất đắc dĩ, đành phải chỉ vào vài nữ nhân đang ôm đứa nhỏ nói:

- Đem nữ nhân ôm đứa nhỏ bắt đi, còn lại giết chết ngay tại chỗ!

Trong một vùng tiếng kêu gào thê thảm, thê thiếp Lưu Khứ Ti đều bị giết, chỉ có ba nữ nhân trẻ tuổi ôm đứa nhỏ bị quân Hán bắt đi. Kỵ binh quân Hán lại trại cướp sạch những lều chất đầy kim châu mỹ ngọc, phóng hỏa thiêu hủy tất cả vương trướng.

Lửa bừng bừng thiêu đốt, khói đặc ngút trời, thây ngang khắp đồng, trận giết chóc này ước chừng giằng co hai canh giờ, cho đến khi sắc trời sáng rõ, kỵ binh quân Hán mới thổi kèn rút quân, 'Ô ——' trong tiếng kèn vang dội, vô số đội kỵ binh quân Hán từ trong đại doanh Hung Nô lao ra, nhanh chóng hội tụ thành một cỗ nước lũ, đội ngũ cấp tốc chạy gấp về hướng đông.

......

----------oOo----------

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!