Ba vạn liên quân Hán Khương chia thành hai đường. Một do Liêu Hóa thống lĩnh, dẫn mười ngàn quân lên phía bắc đánh chiếm Linh Châu. Một đạo quân khác là do Mã Siêu tự mình thống lĩnh, xuôi về phía nam nghênh chiến với quân chủ lực của Hung Nô.
Liêu Hóa dẫn mười ngàn quân từ bến phía nam vượt qua Hoàng Hà, quân đội rất nhanh đi về hướng bắc.
Mấu chốt của việc giành được Linh Châu là ở huyện thành Linh Châu. Đây là nơi đóng quân của Lưu Mãnh, trong thành có mấy ngàn quý tộc Hung Nô sinh sống. Còn các du mục bình thường thì coi Linh Châu là trung tâm, phân bố ở trên thảo nguyên trong phạm vi trăm dặm. Trên thực tế, khu vừa người Hung Nô đang chiếm chưa đến ba phần của Linh Châu, kể cả trong các thảo nguyên khác ở dưới Hạ Lan Sơn cũng đều chưa có người Hung Nô xuất hiện. Một phần cũng là vì đã là đầu mùa đông, người Hung Nô cần tụ cư qua mùa đông. Mặt khác là vì người Hung Nô mới chiếm được Linh Châu chưa lâu nên vẫn chưa bố trí xong.
Trời chưa sáng, mười vạn quân do Liêu Hóa thống lĩnh đã tới cách Linh Châu mười dặm. Nơi này vốn là đồng ruộng của người Khương, không có trại của dân du mục. Cánh đồng rộng lớn hoang tàn vắng vẻ, xa xa là vài ngọn cây thưa thớt trong cơn gió lạnh thấu xương. Cảnh vật vô cùng hiu quạnh.
Liêu Hóa nhìn trời, đã qua canh năm nhưng ở phía đông vẫn chưa có chút ánh sáng nào. Trên bầu trời đêm quang đãng có một vài ngôi sao sánh lấp lánh. Tuy rằng đã qua thời điểm tối nhất của đêm nhưng bóng đêm vẫn còn rất dày, đúng là cơ hội tốt để công thành.
Lúc này, hai tên lính thám báo quay về, thi lễ bẩm báo với Liêu Hóa:
- Khởi bẩm Phó đô đốc, ty chức đã xác minh được tình hình ở trên đó.
- Ở trên thành hiện giờ có bao nhiêu quân?
- Trên thành chỉ có bốn nhóm tuần tra, mỗi nhóm ở một bên thành. Mỗi nhóm có khoảng hai mươi người. Ngoài ra, ở phía nam và bắc thành còn có mấy tên lính, còn lại thì không hề có quân địch.
Quân địch cũng không nhiều nhưng Liêu Hóa vẫn còn có chút do dự. Điều quan trọng là hiện giờ Liêu Hóa cũng không biết được tình hình binh lính ở trong huyện Linh Châu. Theo lý, Lưu Mãnh không thể đem toàn bộ quân đội đi, sẽ luôn luôn giữ lại một phần quân để đóng quân ở nơi trọng yếu. Có nên thăm dò tình hình binh lực ở trong thành trước rồi mới xuất binh công thành?
Nhưng sau khi suy nghĩ một hồi lâu, cuối cùng Liêu Hóa vẫn quyết định lập tức công thành. Liêu Hóa có một vạn quân, lại tập kích bất ngờ, dù ở trong thành có quân thì cũng không thể ngăn cản được sự tấn công của y. Liêu Hóa lập tức tìm thuộc hạ đắc lực Trương Ấn.
Trương Ấn đi theo Liêu Hóa nhiều năm, từ một tên Thập trưởng lập công thăng làm Nha tướng, là phụ tá đắc lực của Liêu Hóa. Trương Ấn tiến lên ôm quyền nói:
- Xin tướng quân hạ lệnh!
- Ta cho ngươi một ngàn tinh nhuệ, còn có hai mươi thang công thành. Nhân lúc quân địch hiện giờ không đủ, nhanh chóng đoạt phía tây thành, sau đó phóng hỏa ra hiệu để ta dẫn đại quân vào thành.
- Tuân lệnh!
Trương Ấn dẫn theo một ngàn binh sĩ mau chóng đi về phía tây thành. Liêu Hóa nhìn họ đi xa rồi mới ra lệnh:
- Đại quân chuẩn bị xuất kích!
Một ngàn quân dưới sự chỉ huy của Trương Ấn nhanh chóng tiếp cận thành. Thành cũng không cao lắm, chỉ khoảng hai trượng bốn thước, trèo lên một cây đại thụ là có thể nhìn thấy rõ tình hình ở trong thành. Một người lính thám báo ở trên cây thấp giọng nói:
- Tướng quân, lính tuần tra đi về phía nam rồi!
Trương Ấn xua tay chặn lại nói:
- Đi về góc tây bắc!
Trong bóng đêm, các binh sĩ nhanh chóng chạy băng qua. Lúc này, lính ở trên thành đúng lúc đang quay lưng về phía họ. Một ngàn binh sĩ vô cùng nhanh chóng, chạy tới bên mép thành hào, ném xuống vài tấm ván để đi qua hào. Đúng lúc này, trên thành bỗng vang lên tiếng chuông chói tai. Bọn họ tránh được lính tuần tra ở phía tây thành không ngờ lại bị lính gác ở phía bắc phát hiện ra.
“Keng keng keng!”
Cùng với tiếng chuông vang lên, có binh sĩ ở trên thành hô to:
- Mau đi bẩm báo, có quân địch tập kích!
Trên thành có tên bắn xuống, hai binh sĩ không tránh kịp bị tên bắn trúng, kêu lên thảm thiết rồi rơi xuống hào. Lúc này, Trương Ấn quyết đoán nói:
- Bám thành!
Hai mươi chiếc thang công thành dựng vào tường thành, năm trăm binh sĩ nhanh chóng bám vào leo lên thành. Năm trăm binh sĩ còn lại thì giương cung, dày đặc mũi tên bắn lên thành, chặn hai mươi tên lính gác lại. Quân Hán bỗng ngừng bắn, chỉ thấy Trương Ấn nhảy lên, dẫn đầu đánh lên thành, trường thương trong tay chĩa về phía quân Hung Nô, liên tiếp đâm trúng ba tên lính Hung Nô.
Càng lúc càng nhiều quân Hán lên được thành, mười mấy tên lính Hung Nô thấy tình hình không ổn liền quay đầu chạy xuống dưới thành, hô lớn:
- Là quân Hán, quân Hán lên thành rồi!
- Không cần lo cho bọn họ!
Trương Ấn ngăn các binh sĩ muốn đuổi theo, hạ lệnh:
- Chiếm cửa tây trước!
Mấy trăm binh lính hô to một tiếng, đồng loạt đánh về phía cổng thành tây.
Lúc này Liêu Hóa đã dẫn quân tới một cánh đồng rộng lớn cách thành khoảng hai dặm. Trong lòng Liêu Hóa có chút khẩn trương. Bầu trời đã bắt đầu lờ mờ sáng, nếu không mau chóng cướp thành thì sẽ không kịp thời gian mất.
Trong lúc đó, một gã tướng quân người Khương, Dương Tốc nhanh chóng tới gần Liêu Hóa thấp giọng hỏi:
- Tướng quân tìm ta sao?
Liêu Hóa nói với người đó:
- Sau khi phá thành, bởi quân Khương vào thành nên ta muốn dẫn quân đi thu hàng dân du mục người Khương.
Dương Tốc mừng rỡ. Trong thành phần lớn đều là quý tộc Hung Nô, của cải rất nhiều, bọn chúng cần phải đưa tiền ra rồi. Nhưng gã lập tức nghĩ tới chuyện người Hung Nô đã giết hại người Khương, liền nghiến răng nghiến lợi hỏi:
- Sau khi khi phá được thành có thể giết toàn bộ người trong thành không?
Liêu Hóa suy nghĩ một lát liền gật đầu nói:
- Nếu như đã muốn giết hết thì phải làm gọn một chút. Đàn ông ở trong thành, dù là già trẻ cũng không để lại một ai. Ngoài ra, kho lương và phủ của Lưu Mãnh nhất định phải thuộc về quân Hán, các người không được phép động tới. Còn một điều phải nhớ kỹ, đó là không được phóng hỏa đốt thành!
Dương Tốc ôm quyền thi lễ:
- Ty chức rõ rồi!
Gã xoay người đi, Liêu Hóa lại nói với một binh sĩ ở bên cạnh:
- Đợt lát nữa nói với Trương Ấn, để cho họ chiếm được kho lương thực và vũ khí và phủ của Lưu Mãnh, hơn nữa là khống chế được cổng thành rồi thì không cho bất cứ một ai thoát!
Các binh sĩ đều đồng thanh hô một tiếng, lập tức chạy về phía cổng thành. Đúng lúc này, trên thành có một ngọn lửa bùng lên vô cùng bắt mắt. Dương Tốc kích động hô to một tiếng:
- Các huynh đệ, thời gian báo thù đến rồi, đánh vào thành!
Năm nghìn binh sĩ người Khương hét lên giận dữ. Họ thúc chiến mã, múa đao đánh vào trong thành. Còn Liêu Hóa thì chỉ huy bốn ngàn kỵ binh quân Hán đi về phía bắc thành. Mục đích của họ là mục dân bình thường, không cho phép bọn trốn về Hà Sáo.
Tiếng khóc và tiếng kêu thảm thiết vang lên dữ dội từ trong thành. Quân lính người Khương giết người đỏ cả mắt. Họ không quan tâm đến là nam hay nữ, già hay trẻ, trong thành trở thành một cuộc tàn sát đẫm máu.
Lưu Mãnh dẫn đầu một vạn kỵ binh Hung Nô ra khỏi Linh Châu chỉ có hai ngày. Kỵ binh Hung Nô dọc theo sông Thanh Thủy xuôi về phía nam, cuối cùng cũng đã tới huyện Cao Bình. Cao Bình giờ đã là một tòa thành trống không. Mới ba giờ trước, khói lửa truyền tới từ huyện Tam Thủy cũng đã cảnh cáo thủ quân ở Tiêu Quan.
Lúc này quả thật không có nhiều người trấn thủ Tiêu Quan, chỉ có bốn ngàn người, do thuộc cấp của Triệu Vân là Lương Tụng chỉ huy. Lương Tụng nhìn thấy khói lửa liền ra quyết định, rút một ngàn quân trấn thủ huyện Cao Bình về Tiêu Quan, tập trung lực lượng để bảo vệ Tiêu Quan. Đồng thời cũng rút cả hơn hai trăm hộ dân cư và thương nhân về thành.
Cùng đó, Lương Tụng lại phái người về huyện An Định để cầu viện, hy vọng ba nghìn quân đội đang đóng ở huyện An Định có thể đến viện trợ mình.
Khi Lưu Mãnh đánh đến Tiêu Quan, trời đã tối. Vũ khí công thành trong tay gã chỉ có hơn mười chiếc thang, khó có thể uy hiếp được Tiêu Quan. Lưu Mãnh liền ra lệnh cho quân đội tiến vào chiếm huyện Cao Bình, lại sai người đi chặt cây để làm thang.
Đêm đến, Lưu Mãnh đứng ở trên tường thành huyện Cao Bình, ngắm nhìn những dãy núi sừng sững ở phía xa, cùng với bức tường thành tối đen của Tiêu Quan. Trong lòng gã bỗng có một sự buồn phiền không hiểu được. Nguyên nhân của sự buồn phiền này là do lần xuất binh này là do Lưu Mãnh tự ý xuất binh. Phụ thân Lưu Khứ Ti của Lưu Mãnh hy vọng con trai mình nhan chóng nắm bắt cơ hội để tổ chức lại Linh Châu, sau đó họ sẽ biến Linh Châu thành trọng địa hậu cần, phát động thế công về Hà Tây, chiếm lĩnh hành lang Hà Tây. Một khi họ đã chiếm toàn bộ khu vực Quan Lũng, họ sẽ xây dựng một lực lượng lớn chưa từng có trước đây, có thể ngang hàng với địa vị bổn bộ của Hung Nô, không cần phải nhìn sắc mặt của Hô Trù Tuyền nữa. Đây là tâm nguyên lớn nhất của phụ tử Lưu Khứ Ti, thành lập đế quốc của chính mình.
Nhưng Thiền vu Hung Nô Hô Trù Tuyền lại yêu cầu Lưu Khứ Ti xuất binh, cũng chính là hành động lần này, một khi quân Hán chủ lực rời khỏi Tiêu Quan, hướng về huyện Cao Nô, Lưu Mãnh sẽ dẫn quân đi đánh lén Tiêu Quan, hoặc là cắt đứt tiếp viện của quân Hán. Tuy rằng Lưu Mãnh biết mình phải nghe theo lời của phụ thân, lấy đại cục và tiền đồ làm trọng nhưng trong xương cốt của gã lại nguyện ý chấp hành mệnh lệnh của Thiền vu. Đây là thời khắc mà gã mong đợi đã lâu, phá được Tiêu Quan, giết nhập Quan Trung, lập nhiều chiến công cho đế quốc Hung Nô.
Lưu Mãnh không chịu được sự hối thúc của Hô Trù Tuyền nữa, mà phụ thân lại không có tin tức. Sau một hồi do dự, Lưu Mãnh quyết định nghe theo lệnh của Thiền vu, tập kích Tiêu Quan, hoặc là cắt đứt đường tiếp viện của quân Hán.
Nhưng lúc này, Tiêu Quan không hề đơn giản như gã nghĩ, không phải chỉ có một tòa thành trống không mà có không ít quân đang đóng ở đó, muốn chiếm được Tiêu Quan cũng không phải là điều đơn giản. Điều này khiến cho trong lòng Lưu Mãnh hơi hụt hẫng. Có lẽ ngày mai gã có thể thay đổi mục tiêu, hướng thẳng vào lòng chảo Mã Lĩnh, cắt đứt đường tiếp viện của quân Hán. Đây cũng là một nhiệm vụ khác mà Hô Trù Tuyền giao cho Lưu Mãnh. Một khi quân Hán xuất binh từ Tiêu Quan, tiếp viện của quân Hán rất có thể sẽ đi qua đường sông Mã Lĩnh. Nếu chặt đứt đường tiếp viện của quân Hán, khiến quân Hán chủ lực không cần đánh mà bại thì đây sẽ là một công lao rất lớn.
Nghĩ vậy, Lưu Mãnh thầm hạ quyết tâm sáng mai sẽ cẩn thận quan sát lại một lượt, nếu Tiêu Quan thật sự khó mà đánh được thì sẽ không cần phải cố để hao tổn binh tướng. Việc đi đánh đường tiếp viện của quân Hán đơn giản mà kết quả thu được lại lớn hơn.
Lưu Mãnh vừa mới quyết định thì từ phía xa có tiếng vó ngựa truyền tới, có người ở dưới thành hô to:
- Tiểu Vương gia đang ở đâu?
Giọng nói có chút lo lắng.
Lưu Mãnh khẽ giật mình, bước nhanh về phía tây thành, nhìn xuống dưới. Hình như là hai tên lính Hung Nô, Lưu Mãnh lập tức ra lệnh:
- Dẫn họ lên gặp ta!
Một lát sau, hai tên lính được dẫn lên. Hai tên lính sợ hãi, nhìn thấy Lưu Mãnh liền nói:
- Tiểu Vương gia, chúng tôi là lính gác ở bến nam Hoàng Hà. Sáng nay, một đội quân từ phía tây đến, đã vượt qua Hoàng Hà đi về Linh Châu.
Lưu Mãnh thất kinh, nắm áo của tên lính hét lớn:
- Là quân từ đâu tới?
Tên lính sợ sệt nói:
- Hình như là quân đội từ Hà Tây tới, có quân Hán cũng có cả quân Khương, khoảng chừng 1 vạn người.
Lưu Mãnh trừng mắt, quát lớn một tiếng, đẩy tên lính ra, đi tới chỗ tường thành, nói lớn vào trong thành:
- Lập tức tập hợp toàn quân, sào huyệt của chúng ta đã bị bao vây!
Chương 873: Cuộc chiến ác liệt.
Sáng sớm, hơn một vạn kỵ binh Hung Nô băng qua cánh đồng rộng lớn còn. Bụi vàng bay kín trời, vó ngựa như tiếng sấm rền, ầm ầm chuyển động. Dường như cả ngọn Lục Bàn Sơn sừng sững cùng rung chuyển theo.
Trong lòng từng người lính Hung Nô đều như lửa đốt. Vợ con và nhà cửa của họ đều ở Linh Châu, nếu như quân Khương thật sự tiến vào Linh Châu thì sẽ vô cùng kinh khủng. Rất nhiều người đều run lên sợ hãi, họ nghĩ tới cảnh lúc trước chính họ đã giết hại người Khương ở Linh Châu, không ngờ báo ứng đã đến nhanh như vậy.
Lưu Mãnh càng lo lắng hơn. Ba con trai của Lưu Mãnh đều chưa đầy mười tuổi, còn có hơn mười thê thiếp và bốn con gái. Lưu Mãnh là người hiểu rõ nhất mình sẽ bị trả thù như thế này, đó là một đả kích không thể chịu đựng nổi.
Hơn một vạn kỵ binh Hung Nô không tiếc mã lực, liên tục thúc ngựa, phi như điên đến tận lúc hoàng hôn. Chiến mã thật sự không chạy nổi nữa, mọi người dường như cũng đều đã mệt đến không nói ra hơi. Hơn một ngàn con chiến mã đều đã mệt lử, cuối cùng kỵ binh Hung Nô đành phải cho ngựa đi chậm lại.
Nhưng ngay lúc này, có tiếng kèn từ phía trước truyền tới. Tiếng kèn vang vọng ở giữa nơi hoang vắng, ngay sau đó ở phía đông và phía tây đều có tiếng kèn cùng lúc vang lên.
Tất cả kỵ binh Hung Nô đều hoảng sợ nhìn về phía trước, chỉ thấy ở trên ngọn đồi phía trước cách vài dặm bỗng trở nên xám xịt, ở phía đông và phía tây cũng là một màu xám xịt như vậy.
Hai vạn liên quân Hán Khương do Mã Siêu thống lĩnh cuối cùng cũng xuất hiện, bao vây từ ba phía. Đến lúc này người Hung Nô thì đã kiệt sức, còn họ thì lại được nghỉ ngơi dưỡng sức, chống mâu mà đợi.
Lưu Mãnh giống như bị rơi vào hố băng vạn trượng, quay đầu lại nhìn binh sĩ và chiến mã. Người thì kiệt sức, ngựa thì đã mệt lử, trận này phải đánh thế nào đây? Nhưng Lưu Mãnh cũng hiểu một điều, nếu quay đầu để chạy chết thì cái chết đến càng nhanh hơn.
Đúng lúc này, tiếng trống ầm ầm vang lên. Liên quân từ ba phía đồng thời phát lệnh tấn công. Họ reo hò rồi lao thẳng về phía kỵ binh Hung Nô.
Mặc dù quân Hung Nô đã quá mệt rồi nhưng họ không còn lựa chọn nữa. Trong thời khắc sinh tử này, ngoài việc liều chết đánh cuộc một lần thì họ không còn còn đường nào khác.
- Giết!
Kỵ binh Hung Nô cũng hô lớn, thúc ngựa, giơ cao trường mâu và chiến đao xông về phía liên quân mà nghênh chiến, tiếng trống ầm ĩ, chiến mã lao đi. Kỵ binh quân Hán và quân Khương cũng dữ dội xông lên, mang theo niềm tin khôi phục vương triều Đại Hán, mang theo lửa hận báo thù. Hai bên ngày càng gần, cuối cùng cũng lao vào nhau, tiếng đao mâu va chạm leng keng dữ dội.
Ở giữa cánh đồng mênh mông, hai phía chém giết quyết liệt. Quân đội Hung Nô tuy rằng cả người và ngựa đều kiệt sức nhưng dù sao họ cũng là những tráng sĩ ở trên thảo nguyên, họ biết rằng sao có thể vì sức ngựa, mà cũng họ nắm chắc số mệnh là sẽ thua.
Nếu như đối phương chỉ có người Hán thì có lẽ họ đầu hàng vẫn còn một con đường sống. Nhưng đối phương phần lớn lại là người Khương, nghĩ đến mình đã giết hại người Khương ở Linh Châu, nếu như rơi vào tay người Khương thì họ sẽ sống không bằng chết.
Quân Hung Nô quyết sống mái, càng đánh lại càng hăng. Mà sức đấu của người Khương rõ ràng lại yếu hơn người Hung Nô, giết một lính Hung Nô thì phải trả giá bằng hai binh sĩ người Khương. Kỵ binh người Khương tổn thất vô cùng nghiêm trọng. Nếu không có năm nghìn quân Hán chống đỡ, chỉ dựa vào một vạn rưỡi kỵ binh người Khương thì cũng sẽ đại bại dưới tay Hung Nô.
Lưu Mãnh tìm kiếm chủ tướng của quân địch khắp mọi nơi. Gã cũng biết rõ đạo lý “bắt giặc trước phải bắt vua”, chỉ cần giết được chủ tướng của quân địch trước thì trận chiến này quân Hung Nô sẽ nắm chắc phần thắng. Lưu Mãnh bỗng nhìn thấy ở dưới cờ của người Khương có một thủ lĩnh người Khương mặc áo giáp không giống với những người khác, còn là kim giáp. Đây chính là dấu hiệu chủ tướng của người Khương.
Lưu Mãnh hét lên một tiếng, thúc ngựa xông tới. Tướng Khương mà Lưu Mãnh nhìn thấy chính là Bắc Cung Huấn. Trong lòng Bắc Cung Huấn lo lắng, sức chiến đấu của quân Hung Nô rất mạnh, quân đội của mình không phải là đối thủ, nếu cứ tiếp tục như vậy thì rất có thể họ sẽ thất bại.
Đúng lúc này, Bắc Cung Huấn thấy một đại tướng quân địch mặc giáp màu đen đang phi về phía mình, lập tức nhận ra đối phương không phải ai khác ngoài Lưu Mãnh. Bắc Cung Huấn liền chột dạ. Lưu Mãnh được gọi là dũng tướng số một Hung Nô, mình có thể địch nổi sao?
Nhưng tình hình trước mắt đã không còn thời gian để y nghĩ ngợi nữa, Lưu Mãnh đi xông tới, ánh đao lóe lên, đại đao bổ về phía cổ Bắc Cung Huấn. Bắc Cung Huấn đành phải bất chấp, vung thương nghênh chiến.
Mã Siêu thống lĩnh năm nghìn quân Hán chiến đấu kịch liệt với quân Hung Nô ở bên phía cánh phải. Cho dù Hung Nô chỉ có ba nghìn quân nhưng vẫn chiến đấu ác liệt với năm nghìn quân của quân Hán, không hề rơi vào thế hạ phong.
Điều này khiến cho Mã Siêu thầm giật mình. Đối phương sau một chặng đường xa đã vô cùng mệt mỏi nhưng sức chiến đấu vẫn vô cùng dũng mãnh như vậy, lấy mười ngàn địch hai vạn quân, không hề rơi vào thế hạ phong một chút nào. Hơn nữa một vạn rưỡi quân Khương lại bị kỵ binh Hung Nô đánh cho lùi liên tiếp, khiến cuộc chiến bắt đầu chuyển biến xấu. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì cuối cùng người thất bại sẽ chính là họ.
Lúc này, một tướng lĩnh người Khương chạy tới, hô lớn:
- Mã Đô đốc cứu tướng quân chúng tôi!
- Nam Cung tướng quân ở đâu?
Tướng lĩnh người Khương đó chỉ về phía tây bắc:
- Ở đó!
Mã Siêu vừa quay đầu lại, lập tức mắt trợn trừng lên, chỉ thấy tướng quân Bắc Cung Huấn của quân Khương đang chiến đấu kịch liệt với một gã tướng lĩnh Hung Nô vóc dáng vô cùng to lớn. Tên tướng lĩnh Hung Nô đầu đội nón trụ vàng, dùng một thanh Kim bối khảm sơn đao, vô cùng dũng mãnh. Bắc Cung Huấn đã bị đánh đến loạng choạng, không còn sức mà chống cự nữa.
- Kẻ đó chính là tướng quân Hung Nô, Lưu Mãnh!
Tướng lĩnh người Khương nói thêm.
Lúc này Mã Siêu mới biết, kẻ được gọi là dũng tướng số một Hung Nô Lưu Mãnh cũng coi như có chút bản lĩnh. Mã Siêu nhìn thấy Bắc Cung Huấn bị đánh bại, cũng không lưỡng lự mà rút cung tên, giương cung lắp tên. Nhưng vẫn chậm một bước, Lưu Mãnh đã hét lên một tiếng, một đao chém Bắc Cung Huấn thành hai mảnh.
Kỵ binh bốn phía lập tức hoan hô như sấm. Mã Siêu giận tím mặt, rút thương thúc ngưạ chạy như bay. Trong chốc lát đã tới trước mặt Lưu Mãnh, hướng đầu thương về phía Lưu Mãnh.
Lưu Mãnh vừa mới giết chủ tướng của quân Khương, trong lòng vô cùng đắc ý. Đang ngửa mặt lên trời cười lớn, không ngờ có một gã tướng người Hán chạy tới, chĩa thương vào mặt mình, tốc độ nhanh không gì sánh nổi, Lưu Mãnh sợ tới mức cúi đầu xuống. “Rắc” một tiếng, trường thương đã đâm sát đến đầu Lưu Mãnh, đánh bay mũ giáp của gã.
Lưu Mãnh cả kinh, tim như ngừng đập. Gã thúc ngựa đi vào chục bước mới dám quay đầu lại đánh giá tướng quân người Hán này, chỉ thấy đó là một vị tướng khoảng ba mươi tuổi, cưỡi bạch mã, tay cầm ngân thương, mặc áo bào trắng, dáng người cao gầy, vai rộng, khuôn mặt vô cùng anh tuấn.
- Ngươi nào kẻ nào?
Lưu Mãnh hét lớn. Gã cũng cảm thấy quen quen nhưng không thể nhớ nổi là ai.
Mã Siêu cười lạnh một tiếng:
- Ngươi về hỏi phụ thân, trận chiến Cao Nô năm đó, vết thương ở trên vai trái của ông ta đã khỏi chưa?
Mười mấy năm trước, Viên Tào đại chiến, Thứ sử Tịnh Châu Cao Can nhờ quân Hung Nô trợ chiến. Mà Mã Đằng nhận được lời mời của Chung Diêu, lại phái Mã Siêu đến viện trợ quân Tào, đã gặp quân đội của Lưu Khứ Ti tại huyện Cao Nô. Trong trận hỗn chiến, Lưu Khứ Ti bị một thương của Mã Siêu làm bị thương vai trái, vì vậy mà quân Hung Nô phải rút chạy.
Lưu Mãnh lập tức hiểu ra:
- Ngươi là Mã Siêu!
- Đúng là ta, ngươi chịu chết đi!
Mã Siêu thúc ngựa chạy nhanh tới, đầu thương hướng thẳng vào cổ họng Lưu Mãnh. Lưu Mãnh hoảng hốt. Sức mạnh của Mã Siêu danh chấn thiên hạ, nếu sớm biết Mã Siêu ở đây thì Lưu Mãnh không bao giờ muốn tìm tướng địch để đấu.
Nhưng Lưu Mãnh đã không còn đường lui nữa. Gã nhìn thấy tốc độ của thương vô cùng nhanh, nháy mắt đã tới trước mặt. Chín đầu thương rung rung trước mặt gã. Lưu Mãnh đành hét lớn một tiếng, vung đao bổ tới phần eo của Mã Siêu. Đây gọi là lưỡng bại câu thương, hoặc là Mã Siêu sẽ rút thương, hoặc là cả hai đều chết.
Mã Siêu cười giễu cợt, rút thương về đỡ. “Keng” một tiếng rất lớn. Cán thương đánh bật một đao của Lưu Mãnh ra. Sức ở cánh tay lại tiện đà ép xuống, mũi thương quét ngang, đánh vào cổ của Lưu Mãnh.
Lưu Mãnh vừa mới vui mừng rằng mình phán đoán chính xác, quả nhiên Mã Siêu rút thương về đỡ, không ngờ mũi thương của đối phương lại quay trở lại ngay, nhanh đến nỗi Lưu Mãnh khó có thể phản ứng kịp. Lần này gã không tránh kịp nữa. “Rắc” một tiếng giòn vang, xương cổ của Lưu Mãnh đã bị đánh gãy. Trước mắt Lưu Mãnh trở nên tối sầm lại, chỉ cảm thấy trước ngực đau dữ dội. Trường thương của Mã Siêu đã đâm xuyên qua ngực của gã.
Lưu Mãnh hét to một tiếng, chết thảm tại chỗ. Mã Siêu đâm cho thi thể của Lưu Mãnh rơi xuống ngựa, ra lệnh cho binh sĩ ở phía sau:
- Chém đầu của hắn để thị chúng!
Một quân hầu xuống ngựa chặt đầu Lưu Mãnh, dùng trường mâu giơ lên. Hơn mười hộ vệ chạy dọc chiến trường, hô lớn:
- Lưu Mãnh đã chết! Lưu Mãnh đã chết!
Lưu Mãnh chết thảm làm lung lay lòng quân Hung Nô, sĩ khí bắt đầu giảm. Còn sĩ khí của quân Hán và quân Khương thì lại lên cao, thế cục đã dần chuyển trở lại.
Trận chiến kéo dài hơn hai canh giờ, quân đội Hung Nô người thì kiệt sức, ngựa thì hết hơi, cuối cùng cũng không cầm cự nổi nữa. Đầu tiên là cánh phải quân Hung Nô bị quân Hán đánh cho tan tác, đánh bại cánh phải kéo theo sự thất bại của toàn quân. Mấy ngàn quân Hung Nô bị thua trận, quay đầu chạy trốn. Liên quân Hán Khương một mạch đuổi giết, quân Hung Nô bị giết, thây ngang khắp đồng, máu chảy thành sông.
Người Khương lại vô cùng hận người Hung Nô, tuyệt đối không chấp nhận cho hàng, giết tất cả quân Hung Nô.
Mã Siêu nói thế nào cũng không ngăn được sự căm thù của người Khương, nên đành phải để họ tự quyết định.
Nhưng trận chiến này, liên quân Hán Khương cũng gọi là thắng thảm. Hại vạn liên quân bị thương vong hơn năm ngàn người, ngay cả tướng quân Bắc Cung Huấn của người Khương cũng bị Lưu Mãnh chém chết.
Mã Siêu thu dọn chiến trường, lập tức chỉ huy quân bắc tiến đánh tiếp về Linh Châu.
Chương 874: Đông viện Cao Nô.
Lúc này, chiến dịch Linh Châu đã chấm dứt. Mười mấy vạn người già, phụ nữ và trẻ em Hung Nô trở thành tù binh của quân Hán. Còn người Khương tấn công thành Linh Châu, ngoài phủ của Lưu Mãnh và nhà kho bị quân Hán khống chế, tất cả người trong thành đều bị người Khương giết hại. Người Hung Nô ở trong thành Linh Châu có khoảng sáu ngàn người, hầu hết đều là quý tộc Hung Nô, huynh đệ, thê thiếp, con cháu cùng với nô bộ của các tù trưởng bộ lạc lớn nhỏ.. người Khương giết không tha một ai, giết đỏ cả mắt rồi, bất kể nam nữ, già trẻ, chủ nhân hay tôi tớ…. đều bị giết hại hầu như không còn, bên trong thành Linh Châu đã biến thành địa ngục Tu La.
Dựa theo giao ước của hai bên, tất cả mấy trăm vạn trâu bò của người Hung Nô đều thuộc về người Khương, còn lại lãnh thổ và nhân khẩu thì thuộc về quân Hán. Nhưng người Khương bị tổn thất nghiêm trọng trong trận chiến với kỵ binh Hung Nô, hơn bốn ngàn người chết trận. Để ai ủi những người đã chết, Mã Siêu lại hạ lênh lấy hai trăm tấm da dê ở trong kho làm trợ cấp chiến tranh đưa cho người Khương.
Trong thành Linh Châu, hơn một ngàn quân Hán đang bận rộn xử lý thi thể. Người Khương đã rút khỏi thị trấn, đóng quân ở phía tây huyện thành, giết ngựa thịt dê, uống rượu ăn mừng. Theo phong tục của người Khương, sau khi thắng trận sẽ tiến hành ăn mừng ba ngày ba đêm.
Mà đại doanh quân Hán ở phía đông huyện thành, ngoài tám ngàn quân Hán còn có hơn mười vạn mục dân bình thường Hung Nô bị quân Hán bắt được. Quân Hán canh phòng rất nghiêm ngặt, không chỉ để đề phòng người Hung Nô chạy trốn mà còn muốn đề phòng người Khương uống say quá đến cướp đoạt phụ nữ.
Mã Siêu cùng Liêu Hóa cùng đi thị sát thị trấn bị tàn phá hai lần trong hai tháng này. Trong huyện thành đã không còn nhìn thấy người Hung Nô nữa, khắp nơi đều là những binh sĩ quân Hán đang bận rộn đang chôn và hỏa táng các thi thể.
Liêu Hóa lắc đầu, thở dài nói:
- Quân Khương thật sự quá tàn bạo, quân đội không có kỷ luật gì, không chỉ giết tất cả già trẻ lớn bé trong thành, ngay cả trước đó ta đã hạ lệnh không cho đốt nhà họ cũng không nghe theo. Thị trấn này coi như đã bị hủy hoại gần hết rồi.
Mã Siêu không nói gì. Giết hết quý tộc người Hung Nô chính là ý của y, mượn tay quân Khương giết người cũng không sao. Nhưng thị trấn này đã bị phá hủy gần hết thật sự cũng có chút đáng tiếc. Mã Siêu nhìn một số ít căn nhà vẫn chưa bị cháy, có thể tưởng tưởng đô thành mà tươi đẹp mà Khương Vương A Hoãn đã dùng hai mươi năm khổ tâm để dựng nên mà lại bị hủy hoại như vậy.
Nghĩ đến hai mươi năm xây dựng vất vả của Khương Vương, Mã Siêu lập tức nghĩ đến một chuyện, liền hỏi:
- Của cải châu báu của Khương Vương trước kia có còn ở đây không?
Lieu Hóa gật đầu:
- Ta hạ lệnh quân Hán được khống chế phủ đệ của Lưu Mãnh. Ta nghĩ tất cả của cải đều ở trong phủ của Lưu Mãnh, quả nhiên là đúng vậy. Mời đô đốc đi theo ta!
Lieu Hóa đưa Mã Siêu đi vào trong phủ Lưu Mãnh. Nơi này vốn là cung điện của Khương Vương A Hoãn, cũng là nơi duy nhất ở trong thành còn nguyên vẹn. Nơi này mô phỏng theo kiến trúc cung điện của Trung Nguyên, trang hoàng vô cùng nguy nga, có thể thấy được các món đồ sứ đắt tiền và thảm đến từ Ba Tư.
Hai người đi đến hậu trạch, đi đến một căn phòng lớn được canh phòng nghiêm ngặt. Căn phòng được xây bằng đá tảng, không hề có cửa sổ, cửa chính cũng được đúc bằng sắt thô, có tám người lính đứng gác ở cửa.
- Mở cửa!
Liêu Hóa ra lệnh.
Hai người lính mở chiếc khóa đồng, đẩy cổng sắt ra. Mã Siêu đi vào, lập tức bị kinh ngạc. Nơi này chính là một kho hàng, bày đầy các kệ sắt. Trên kệ là đủ các loại đồ vàng bạc cùng với các loại bát ngọc bình pha lê, nhiều nhất là các hộp ngọc, mỗi hộp đều đựng các món châu báu vô cùng quý giá.
Ở bên trong cùng xếp gần trăm chiếc hòm gỗ lớn nhỏ:
- Những thứ đó là gì?
Mã Siêu chỉ vào những chiếc hòm hỏi.
Liêu Hóa cười cười nói:
- Lúc chúng tôi vào cũng vô cùng kinh ngạc. Mấy thứ này hẳn là vốn ở trong nhà kho của các quan thương người Khương, ở trên còn có đánh số và có trong sổ sách ghi chép của quan thương, nhưng bây giờ đã trở thành của cải của Lưu Mãnh.
Lieu Hóa đi lên trước, mở mấy chiếc hòm gỗ ra. Lập tức kim quang lóe ra sáng đến chói mắt, bên trong là từng thỏi vàng, toàn bộ đều là hoàng kim. Mã Siêu cũng có chút ngây dại, từ từ đi lên trước, nhẹ nhàng sờ số hoàng kim đó.
Mã Siêu đã nghe các đại thần người Khương chạy đến Hà Tây nói, Khương Vương vì xây dựng đất nước mà hai mươi năm nay cũng đã tích góp được một số lượng hoàng kim lớn, khoảng chừng hơn năm vạn cân. Đó là số của cải lớn nhất của người Khương ở Linh Châu, giấu ở trong nhà kho ở trong cung. Không ngờ số hoàng kim đó lại ở trong nhà của Lưu Mãnh.
Mã Siêu lập tức quay lại ra lệnh cho Liêu Hóa:
- Lập tức phong tỏa tin tức, không cho người Khương biết về số hoàng kim này.
Mã Siêu ngừng một chút rồi dứt khoát nói:
- Đêm dài lắm mộng, số hoàng kim và của cải này không thể ở lại Linh Châu. Chúng ta phải vất vả vận chuyển một chuyến rồi, đêm nay xuất phát luôn. Ngươi dẫn theo hai ngàn kỵ binh, đưa số của cải này tới Tiêu Quan.
Liêu Hóa lập tức khom người thi lễ:
- Tuân lệnh!
Ngay ngày hôm sau khi Mã Siêu đưa quân đánh chiếm Linh Châu, Triệu Vân chỉ huy năm vạn đại quân cũng đã tới huyện Cao Nô. Lúc này trời đã tối, đại quân dựng trại nghỉ ngơi ở trên một cánh đồng rộng lớn cách huyện Cao Nô chừng hai mươi dặm.
Quân đội hạ trại trên đường hành quân nên không cần phải có tường che, chỉ có mái che, sau đó dùng xe ngựa chở quân nhu vây quanh một vòng, ở phía ngoài cùng cắm hai mươi vạn tấm mâu tạo thành một mâu trận phòng ngự ở bên ngoài.
Nhưng Triệu Vân tính tình cẩn thận, lại phái thêm năm trăm trinh sát tuần tra ở bên ngoài trại trong phạm vi mười dặm. Như vậy dù là quân Hung Nô muốn đánh lén trong đêm cũng rất khó.
Trong đại trước đặt một chiếc sa bàn dài hai trượng. Đây là chiếc sa bàn địa hình Quan Nội vừa mới chế tác xong, tổng cộng có hai chiếc, chiếc còn lại ở trong tay Lưu Cảnh.
Triệu Vân đang cùng với Pháp Chính đứng trước sa bàn thảo luận chiến lược tác chiến. Trong lòng Pháp Chính có chút đắc ý, mặc dù các phương pháp từ trước tới giờ đều bị các tướng lĩnh kiên quyết phản đối, nhưng cuối cùng Hán Vương điện hạ vẫn cho y và Triệu Vân xuất chinh đi Cao Nô. Sự tín nhiệm này khiến cho Pháp Chính vô cùng cảm kích, cũng trở nên cẩn trọng hơn.
Pháp Chính nhặt cây gỗ lên, chỉ vào thành Cao Nô nói:
- Theo tình báo mới nhất, hiện giờ quân Hung Nô ở Cao Nô còn khoảng một vạn người, không công thành nữa mà phòng ngự là chính. Đại doanh ở phía nam thành, bên cạnh còn có một tòa Dương Mã thành xây bằng bùn đất, đây là nơi hậu cần quân lương quan trọng của quân Hung Nô. Nhưng ta dám khẳng định, binh lực trong đại doanh của quân Hung Nô nhiều nhất chỉ có năm ngàn người.
- Tại sao?
Triệu Vân không hiểu.
Pháp Chính khẽ mỉm cười:
- Thật ra rất đơn giản, nếu như là trọng địa hậu cần thì người Hung Nô sẽ phải liên tục cho quân đưa lương thực về phía nam. Tám vạn đại quân Hung Nô ở phía nam tiêu hao rất nhiều lương thực, chỉ đưa một chuyến thì không thể đủ, nhất định là phải vận chuyển liên tục. Như vậy ít nhất sẽ cần khoảng sáu đội, ba đội đi, ba đội về. Họ cũng không có dân phu, mỗi đội ít nhất là một ngàn người. Trong sáu đội đó thì cứ cho là có một đội đã về được đến đại doanh, cho nên trong đó nhiều nhất chỉ có năm ngàn người.
Triệu Vân gật gật đầu tán thưởng:
- Quân sư quả nhiên rất cao mình, nhìn thấu cả tiểu tiết, hiểu rõ cả bên trong. Nếu như binh lực của địch đã không nhiều thì sáng mai chúng ta có thể một trận mà tiêu diệt sạch kẻ thù không?
Lát sau Pháp Chính mới nói:
- Tuy rằng đây là chính đồ phá địch nhưng theo ý ta thì tốt nhất vẫn là nên áp chứ không nên đánh.
Câu nói rất hàm súc của Pháp Chính thật ra chính là không đồng ý với ý nghĩ của Triệu Vân. Triệu Vân hiểu ý, vội chắp tay:
- Xin quân sư chỉ giáo.
Trong các tướng quân của quân Hán, Pháp Chính thích nhất là Triệu Vân. Không chỉ có Pháp Chính thích, cả các quân sư khác như Bàng Thống, Giả Hủ, Tư Mã Ý đều thích làm việc với Triệu Vân. Vì Triệu Vân tuy rằng có địa vì cao trong quân đội, nhưng lại vô cùng khiêm tốn, thương lính như con, kính trọng quan quân, được quan quân khắp nơi đều yêu quý.
Lần này Triệu Vân và Pháp Chính xuất binh, có thể sẵn sàng nghe mọi ý kiến của Pháp Chính khiến cho Pháp Chính vô cùng cảm động, quyết tận tâm phụ tá, giành chiến công cho Triệu Vân.
Pháp Chính thong thả, nói:
- Triệu tướng quân cũng biết là cuộc chiến giữa Hung Nô và quân Hán lần này là vì cái gì chứ?
Triệu Vân trầm ngâm một chút rồi nói:
- Ta có nghe Hán Vương điện hạ nói, chúng ta muốn dời đô về Trường An thì nhất định phải loại trừ uy hiếp từ phía bắc, đánh đuổi Hung Nô, thu phục các quận ở Quan Nội.
- Định đô chỉ là một phần, quan trọng hơn là giành lại vùng đất Quan Lũng đã mất, xây dựng lại đến quốc Đại Hán. Như vậy, đến khi Hán Vương kế thừa ngôi vị của Hán triều mới có thể khiến người trong thiên hạ cảm thấy Hán Vương danh đúng với thực. Đây chính là đang thu phục lòng người trong thiên hạ.
Triệu Vân yên lặng gật đầu, chợt nhớ tới một chuyện, lại hỏi:
- Nếu đã như vậy, vì sao Điện hai lại phải đồng ý với Tào Tháo đứng ra làm chủ, còn dùng danh Thiên tử. Đây chẳng phải là đã vi phạm với dự định ban đầu của Hán Vương sao?
Pháp Chính mỉm cười:
- Đây chỉ là một loại thái độ chính trị thôi. Nhưng lẽ phải ở trong lòng người. Quân Hán đánh bao nhiêu thì Tào Tháo đánh bằng đó. Việc đúng sai, tin tưởng người khác trong lúc này đều có một bản trướng, không cần phải cố sức giải thích.
- Ta hiểu rồi!
Triệu Vân gật đầu.
Pháp Chính lại nói tiếp:
- Cho nên chúng ta nhất định phải xuất phát từ đại cục, phải lợi dụng chiến dịch lần này đánh cho người Hung Nô trở nên tàn phế, mấy chục năm nữa cũng không dám đi về phía nam nữa.
- Mời quân sư cứ nói thẳng, ta sẽ nghe sự sắp xếp của quân sư.
Pháp Chính vuốt râu nói:
- Sở dĩ ta nói áp mà không đánh nghĩa, vì áp lực bức bách phải vận chuyển lương thực cho Thiền vu Hung Nô ở phía nam, hắn nhất định sẽ phái người cầu viện Lưu Báo. Đợi đại quân của Lưu Báo đi qua Hà Tây, Tào Tháo sẽ xuất binh đi Tịnh Châu, đánh thẳng vào hang ổ của Lưu Báo. Và khi Lưu Báo rút lui về phía đông, đó chính là cơ hội của chúng ta. Chúng ta nhất định phải đánh một trận đánh tan quân đội của Lưu Báo, hoàn toàn tiêu diệt người Hung Nô ở Tịnh Châu.
- Nếu nhưng vậy Thiền vu Hung Nô nhân cơ hội này rút về phía bắc, trốn khỏi sự truy quét của quân ta thì chẳng phải sẽ vô cùng đáng tiếc sao?
Pháp Chính cười híp mắt nói:
- Thiền vu Hung Nô có thể chạy trốn được hay không còn phải xem ý trời.
Triệu Vân bừng tỉnh, khom người thi lễ:
- Được quân sư hiến kế đó là vinh hạnh của Triệu Vân này!
Chương 874: Đông viện Cao Nô.
Hô Trù Tuyền dẫn ba vạn kỵ binh cuối cùng đã lui tới được huyện Điêu Âm. Còn năm vạn quân do Lưu Cảnh tự chỉ huy vẫn áp sát từng bước, không rời khỏi Hô Trù Tuyền trong phạm vi mười dặm. Trong Lạc Xuyên đạo là đường rừng, những bãi đất hai bên sông lại rất hẹp, bất lợi cho kỵ binh tác chiến.
Hô Trù Tuyền lại lo lắng ở phía sau mình có phục binh khiến cho mình rơi vào thế gọng kìm bị tấn công từ cả hai phía nên không dám khinh thường, vừa phái binh sĩ đi dò xét, vừa chận rãi thoái binh.
Lúc này, Hô Trù Tuyền đã mặc kệ sự sống chết của Đạt Man. Y ý thức được, lần xuôi về phía nam này bọn họ đã rơi vào bẫy của quân Hán. Bây giờ chỉ cần họ có thể bình an trở về thảo nguyên đã là rất may mắn rồi.
Ba vạn quân Hung Nô đã tới huyện Điêu Âm. Đây cũng là một trạm trung chuyển hậu cần của Hung Nô, có ba nghìn quân đóng ở đây. Vào được huyện Điêu Âm, lấy được lương thảo tiếp viện rồi, lúc này mới khiến Hô Trù Tuyền thở phào nhẹ nhõm.
Huyện Điêu Âm là nơi rộng nhất ở trên đường đi Lạc Xuyên đạo. Nơi này vốn là một thung lung giao với Lạc Xuyên đạo, địa thế rộng mở thông suốt. Bên trong thung lung là một vùng đất bằng phẳng rộng lớn rất thích hợp cho kỵ binh hành động. Kỵ binh Hung Nô có thể cùng quân Hán đánh một trận rồi.
Nhưng Hô Trù Tuyền án binh bất động ở huyện Điêu Âm cũng không phải để chuẩn bị quyết chiến cùng với quân Hán mà y vừa nhận được tin tức của đội vận chuyển lương thảo. Năm vạn quân Hán chủ lực đã đến phía bắc đối diện huyện Cao Nô, như vậy là đã tạo thành thế gọng kìm đối với quân đội của Hô Trù Tuyền.
Điều này khiến y vô cùng sợ hãi. Nếu Hô Trù Tuyền tiếp tục đi về phía bắc thì sẽ đi vào trong rừng rậm của Lạc Xuyên đạo, hai nhánh quân Hán ở phía nam và phía bắc sẽ tập kích ở đó. Kỵ binh không thể ra tay được, lượng thực không có, nhưng vậy thì có khác gì với Lưu Khứ Ti bị vây trên Trực Đạo chứ?
Hô Trù Tuyền lập tức phái một nhóm quân tâm phúc chạy tới Tịnh châu, dùng kim tiễn để lệnh cho Tả Hiền Vương Lưu Báo xuất binh về Cao Nô. Đây là cũng giao hẹn từ trước của họ, Lưu Báo hứa với Hô Trù Tuyền là ít nhất sẽ phái năm vạn quân tinh nhuệ đến huyện Cao Nô tham gia trận chiến. Bây giờ chính là lúc để thực hiện lời hứa.
Trên thành, Hô Trù Tuyền lòng nóng như lửa đốt nhìn về phía nam. Y có thể nhìn thấy quân doanh của quân Hán ở cách mười dặm. Họ đóng quân trên một bãi đất trống, Hắc Long Đại Kỳ ở trên đại doanh tung bay trong gió.
Hô Trù Tuyền khẽ thở dài. Đó là vương kỳ của quân Hán, chứng tỏ Hán Vương Lưu Cảnh đang ở trong đại doanh. Lúc này, Hô Trù Tuyền lại nhìn về phía tây nam, ngoài ba mươi dặm chính là Điêu Lệnh Quan. Hô Trù Tuyền nhớ tới đại quân của Lưu Khứ Ti bị quân Hán bao vây ở Trực đạo. Lương thực của họ sớm đã hết, cũng không biết bây giờ họ sống chết ra sao?
Còn có Trục Nhật Vương Đạt Man, hiện giờ có lẽ là đã bị quân Hán tiêu diệt, thật sự không biết sau khi trở về mình sẽ phải ăn nói thế nào với phụ thân.
- Thiền vu!
Đại tù trưởng người Yết Thạch Lặc xuất hiện ở phía sau Hô Trù Tuyền, cúi người nói:
- Vi thần có chuyện muốn bàn bạc với Thiền vu.
- Chuyện gì?
Thạch Lặc do lực một lát rồi nói:
- Vi thần muốn chỉ huy quân đến Trực đạo, đi cứu viện Hữu Hiền Vương.
Hô Trù Tuyền biết Thạch Lặc không phải muốn đi cứu viện Lưu Khứ Ti mà là muốn đi cứu con trai Thạch Nhu đang ở cùng với Lưu Khứ Ti. Trong lòng Hô Trù Tuyền có chút áy náy, liền nhẹ nhàng nói:
- Thuộc hạ của ngươi đã không còn nhiều nữa, chỉ sợ không thể đánh được Ngọ Đình Quan.
Thạch Lặc cắn răng nói:
- Vi thần còn có năm nghìn binh sĩ người Yết, liều chết cũng muốn đánh Ngọ Đình Quan. Vi thần tin rằng họ có chiến mã làm thức ăn nên bây giờ vẫn còn sống.
Câu này lại nhắc nhở Hô Trù Tuyền. Đúng vậy! Lương thực của Lưu Khứ Ti tuy rằng đã bị cắt đứt nhiều ngày nhưng họ có thể giết ngựa chiến làm thức ăn, ít nhất cũng có thể chống đỡ được nửa tháng. Bây giờ mình bỏ mặc họ quả là có chút không nhân từ.
Dù sao Hô Trù Tuyền cũng là người đứng đầu Hung Nô, Lưu Khứ Ti là một quý tộc quan trọng của Hung Nô. Hô Trù Tuyền không để ý đến sống chết của Lưu Khứ Ti, khi trở về cũng khó mà ăn nói với các quý tộc khác. Hơn nữa, nếu có thể nghĩ cách cứu được học ra cũng có thể tăng thêm sức mạnh cho mình.
Tuy nhiên, muốn Hô Trù Tuyền phái toàn lực đi cứu viện thì không thể được. Lưu Cảnh đang như hổ rình mồi ở bên cạnh, nếu như phấn tán binh lực thì sẽ bị hắn tiêu diệt từng bộ phận.
Hô Trù Tuyền lại đánh giá Thạch Lặc một chút, trong lòng thầm nghĩ: “Người này một lòng muốn cứu con, tất nhiên sẽ liều mạng tấn công Ngọ Đình Quan, chi bằng cứ cho ông ta đánh cuộc một phen.”
Nghĩ vậy, Hô Trù Tuyền cười nói:
- Đại tù trưởng dẫn năm ngàn người e là không đủ. Ta cho ngươi thêm năm nghìn quân và hai mươi chiếc thang công thành. Tổng cộng là một vạn quân, hy vọng ngươi có thể công phá được Ngọ Đình Quan để cứu con trai.
Thạch Lặc nén cảm động trong lòng, liền vội vàng thi lễ:
- Ơn cứu tử này của Thiền vu, Thạch Lặc xin được ghi lòng tạc dạ.
Trong lòng Thạch Lặc như lửa đốt, lập tức dẫn theo một vạn quân rời khỏi huyện Điêu Âm, hướng về phía tây nam. Hô Trù Tuyền nhìn họ đi xa, lại nhìn đại doanh của quân Hán ở phía nam, trong lòng lại cảm thấy lo lắng. Một vạn quân này đã quá lộ liễu, chỉ sợ không thoát khỏi con mắt của thám báo quân Hán. Lưu Cảnh sẽ để họ đi cứu người thuận lợi sao?
Đúng lúc Hô Trù Tuyền nhìn về phía đại doanh quân Hán thì Lưu Cảnh cũng đang đứng ở trên một bãi đất trống, nhìn về huyện Điêu Âm ở phía bắc. Hiện giờ tất cả chiến lược của Lưu Cảnh, chính là một chữ “giữ”, giữ người Hung Nô ở Quan Nội, không thể trở về thảo nguyên. Hiện giờ đã là cuối tháng mười, chỉ cần vào tháng mười một là sẽ có tuyết lớn.
Lúc này Lưu Cảnh đã nhận được thư nhanh của Triệu Vân, nói rằng năm vạn quân chủ lực đã tới huyện Cao Nô, ngăn chặn con đường Thiền vu Hung Nô lên phía bắc, hoàn thành kế hoạch xây dựng thế gọng kìm từ hai phía nam bắc.
Đồng thời, dựa theo kế hoạch ban đầu ở Ung Huyện, Mã Siêu có thể cũng đã tấn công Linh Châu. Binh lực ở Linh Châu rất yếu, chỉ cần Mã Siêu không khinh thường thì có thể thuận lợi chiếm được Linh Châu.
Một kế hoạch đã đường sắp xếp từng bước một, hiện giờ sẽ chờ Lưu Báo tới phía tây Hoàng Hà cứu viện thì có thể tạo điều kiện cho quân của Tào Tháo ở Thái Nguyên. Đây cũng là sách lược đã bàn trước với Tào Tháo khi Tư Mã Thiên đi sứ ở Thái Nguyên.
Đúng lúc này, một viên thám báo chạy tới, từ xa đã hô lớn:
- Khởi bẩm Điện hạ, phát hiện ra một đạo quân Hung Nô một vạn người ra khỏi huyện Điêu Âm, đi về phía tây nam.
Lưu Cảnh khẽ giật mình, đi về phía tây nam sao, đây chính là Điêu Lệnh Quan mà! Không lẽ Hô Trù Tuyền còn muốn đi cứu Lưu Khứ Ti hay sao?
Nghĩ vậy, Lưu Cảnh lập tức quay đầu lại nhìn Lưu Hổ ở phía sau…
Thạch Lặc dẫn quân đi rất từ tốn và cẩn thận. Mặc dù trong lòng như lửa đốt nhưng ông ta cũng không dám hạ lệnh đi nhanh. Bụi đất và tiếng vó ngựa sẽ thu hút sự chú ý của quân địch.
- Đại tù trưởng, chúng ta bây giờ là đang đi bộ à?
Một thiên phu trưởng Hung Nô vô cùng bất mãn với việc đi chậm, thúc ngựa tiến lên lạnh lùng nói với Thạch Lặc:
- Chúng ta là kỵ binh, còn đối phương là bộ binh. Ở giữa cánh đồng rộng lớn này quân Hán phải là người sợ chúng ta. Nếu chúng dám đuổi theo thì ta sẽ cho chúng một bài học.
Thạch Lặc nén sự căm tức trong lòng. Đối phương chỉ là một gã Thiên phu trưởng mà dám vô lễ như vậy, có thể thấy người Hung Nô căn bản cũng không xem người Yết ra gì. Nhưng hiện giờ Thạch Lặc cũng không dám đắc tội với người Hung Nô, ông ta còn cần sự trợ giúp của họ để có thể phá được Ngọ Đình Quan. Thạch Lặc nén tức giận nói:
- Đây là mệnh lệnh của Thiền vu, không thể để chúng ta bị lộ. Nếu tướng quân có bất mãn có thể trở về nói với Thiền vu. Còn hiện giờ chúng ta nhất định phải hành quân thận trọng, không thể đối phương phát hiện ra chúng ta.
Thiên phu trưởng thấy Thạch Lặc nhắc đến Thiền vu không khỏi hừ lạnh một tiếng, không nói thêm gì nữa, liền xoay người đi nhưng đi được vài bước lại dừng lại nói:
- Chỉ sợ thám báo quân Hán đã sớm phát hiện ra chúng ta rồi.
Thạch Lặc liền cảm thấy lo lắng. Ông ta biết rằng Thiên phu trưởng nói rất có lý. Thám báo của Lưu Cảnh rải đầy ở ngoài thành, động tĩnh của họ khi ra khỏi thành rất lớn, đối phương sao có thể không biết.
Thạch Lặc nén tiếng thở dài trong lòng. Chuyện đã đến nước này, họ cũng chỉ có thể di một bước tính một bước.
Kỵ binh Hung Nô đi về phía tây nam, có một mảnh rừng ở cách xa thung lũng, Đại doanh quân Hán tuy đóng ở chỗ cao, chỗ gần nhất cũng chỉ cách ba dặm nhưng không dễ phát hiện ra bọn họ.
Kỵ binh Hung Nô cũng vô cùng cẩn thận, không làm kinh động đến đại doanh quân Hán. Khi họ đi qua đại doanh quân Hán, Thạch Lặc mừng rỡ trong lòng, lập tức ra lênh tăng tốc. Một vạn kỵ binh giơ roi thúc ngựa, nhanh như chớp đã đến bên ngoài cách Điêu Lệnh Quan mấy chục dặm.
Khi họ đi về phía tây nam không lâu, Trực Đạo phía trước bỗng hiện ra trước mắt, nhưng Thạch Lặc chợt ghìm chặt cương ngựa, bất an nhìn phía trước, chỉ thấy đường vào Trực đạo ở giữa hai tòa sơn cốc, mà ở trước sơn cốc, một đội quân đang chặn đường đi của họ.
Đội quân này không giống như quân đội bình thường, binh sĩ nào cũng mặc trọng giáp, từ đầu đến chân đều dầy đặc, chỉ lộ ra đôi mắt. Trên tay mỗi người cầm một thanh trường đao dài một trượng rưỡi, cán đao dài, sáng chói dưới ánh mặt trời.
Đối phương là bộ binh trọng giáp, có khoảng ba nghìn người, xếp hàng ngay ngắn, phong tỏa kín con đường rộng khoảng sáu mươi trượng. Thạch Lặc quay đầu lạnh lùng nói với Thiên phu trưởng:
- Không phải ngươi muốn cùng quân Hán quyết chiến một trận sao? Bây giờ cơ hội tới rồi, ngươi có đồng ý xung phong không?
Trong lòng Thiên phu trưởng cũng có chút bất an, nhưng vừa rồi đúng là gã đã nói như vậy, cho nên lúc này không thể thối lui được, đành phải cao giọng nói:
- Ta đương nhiên là đồng ý!
- Được! Ta cho ngươi ba nghìn quân, chúc ngươi kỳ khai đắc thắng!
Thạch Lặc lớn tiếng quát:
- Đánh trống trợ uy.
“Tùng! Tùng! Tùng!” trống trận dồn dập vang lên. Đây là mệnh lệnh tác chiến. Thiên phu trưởng mua may trường mâu hét lớn:
- Theo ta tấn công!
Kỵ binh Hung Nô chuyển động, chạy như bay trên cánh đồng rộng lớn như cuồng phong bão táp. Bọn họ múa may chiến đao, gào thét. Kỵ binh Hung Nô như một thanh trường mâu vô cùng sắc bén, lại vừa giống một chiếc thiết trùy mạnh mẽ, muốn phá tung quân địch, giẫm đạp thành bùn.
- Giết!
Tiếng vó ngựa của kỵ binh Hung Nô long trời lở đất, dùng toàn bộ sức lực xông tới đoàn bộ binh trọng giáp.
Lưu Hổ sớm đã quen với tất cả chuyện này. Khi quân địch còn cách khoảng hai trăm bước, Lưu Hổ lạnh lùng ra lệnh:
- Bốn hàng xuất đao!
Tiếng trống vang lên, một nghìn sáu trăm binh sĩ xếp thành bốn hàng ở phía trước hai bước, nửa quỳ nửa ngồi xuống đất, chuôi dao chạm đất, mũi dao hướng về phía trước. Chín trăm thanh Trảm Mã Đao tạo thành một cánh rừng đao dày đặc.
Kỵ binh Hung Nô cuối cùng cũng như mây đen cuồn cuộn xông tới. Dẫn đầu là ba trăm kỵ binh, nhanh như sấm sét, vô cùng khí thế, bụi bay đầy trời, mang theo lực ngàn quân lao vào hàng bộ binh trọng giáp.
Trong tiếng kêu thê thảm, đoàn kỵ binh rầm rầm lao vào rừng đao, máu chảy ngập tràn, tứ chi bay tung tóe. Nhưng cùng lúc đó, một lực mạnh không gì tả nổi từ mũi đao truyền tới chuôi đao, cuối cùng biến mất ở trên đại địa. Đây là điểm khó khăn nhất mà bộ binh trọng giáp phải đối phó với kỵ binh. Đó là ở lần va chạm này, lực tác động sẽ vô cùng mạnh, nhưng nếu có thể đứng vững được thì kỵ binh ở phía sau sẽ bị va chạm liên tiếp, khiến cho họ chết thê thảm.
Bộ binh trọng giáp đã trải qua hàng trăm trận chiến, sớm đã có kinh nghiệp chiến đấu. Cho dù gió bão có lớn đến đâu có tạt vào mặt họ vẫn đứng vũng như núi Thái Sơn, chỉ có hơn mười binh sĩ bị lực quá lớn đánh bay ra ngoài.
Hầu hết các binh sĩ đều đứng vững trước sự tấn công của kỵ binh Hung Nô. Ba trăm kỵ binh Hung Nô cả người và ngựa đều chết gần hết. Người thì bị mũi đao đâm thủng, người thì ngã lên mũi đao, người thì ngã xuống ngựa, tứ chi bay khắp nơi. Người và ngựa chết chồng chất ở trước trận địa của bộ binh trọng giáp.
Lực mạnh như vậy mà không thể phá thủng được quân địch đã đem lại phiền toái lớn cho kỵ binh Hung Nô. Những kỵ binh phía sau không dừng được ngựa liên tiếp đụng vào nhau, kêu lên thảm thiết.
Lưu Hổ nhìn thấy vòng tấn công thứ nhất đã biến mất lại cao giọng ra lệnh:
- Xếp hàng ứng chiến!
Tám hàng ba nghìn bộ binh trọng giáp nhanh chóng xếp thành trận địa, giơ đao về phía trước từng bước tiến lên chiến đấu kịch liệt cùng với ba nghìn kỵ binh Hung Nô. Tiếng trống như tiếng sấm, tiếng kêu rung trời, cả cánh đồng đầy mùi máu tanh.
Chương 876: Đội quân đến từ phía Đông.
- Đại tù trưởng, các huynh đệ bị giết vô số.
Một tên Thiên phu trưởng người đầy máu chạy tới trước mặt Thạch Lặc la lớn.
Tim của Thạch Lặc đang run rẩy, cả người lạnh ngắt, mặc dù y đã trải qua rất nhiều chuyện, nhưng cảnh tượng đầy mùi máu tanh trước mặt như thế này thực cũng khiến y như rơi vào hầm băng.
Trên chiến trường dài chưa đầy hai trăm bước, chất đầy thi thể của kỵ binh Hung Nô và kỵ binh người Yết, mấy ngàn thi thể tầng tầng lớp lớp, gần như không có một thi thể nào đầy đủ. Đầu người với vẻ mặt dữ tợn, tứ chi lộ ra xương trắng, thân thể bị chém đứt, máu đỏ của người và ngựa trộn lẫn với nhau, hội chung thành một dòng suối nhỏ, chảy đến bụi cỏ ven đường.
Cảnh tượng máu tanh tàn khốc này khiến cho rất nhiều binh lính Hung Nô trẻ tuổi sợ tới mức toàn thân run rẩy. Ba đợt tấn công thất bại, đã chôn vùi tính mạng của hơn ba nghìn người, kỵ binh quân Hán được trang bị đầy đủ vẫn vững vàng như cũ, bọn họ chỉ chết hơn mười người.
Sự tổn thất binh lính đối lập tàn khốc như vậy khiến trong lòng Thạch Lặc lạnh ngắt, y hoàn toàn tin rằng, cho dù toàn quân bỏ mạng thì cũng đừng mơ tưởng sẽ xông qua được đao trận như núi kia của quân Hán.
- Thu binh!
Thạch Lặc đau khổ ra lệnh.
Tiếng chuông của quân Hung Nô gõ vang, hơn hai ngàn kị binh rút lui giống như thủy triều, quân Hán cũng không đuổi theo. Bọn họ chậm rãi lui về phía sau, khiến chiến trường máu tanh hoàn toàn trống trải. Đó đơn giản không phải là chiến trường, mà là lò sát sinh, rất nhiều binh lính Hung Nô không chịu được quay đầu đi, nhung bọn họ không có cách nào để lảng tránh mùi máu tanh ở khắp mọi nơi.
Thạch Lặc ngơ ngác nhìn về binh lính trọng giáp ở cách xa mấy trăm bước, đây quả thực là đội quân y chưa bao giờ thấy qua, quả thực chính là khắc tinh của kỵ binh, sau khi giết chết mấy ngàn kỵ binh, bọn họ chỉ tổn thất mấy chục người.
Nhìn lớp đao lạnh như rừng rậm sáng lấp lánh, nhìn lớp người sắp như núi, Thạch Lặc không khỏi thở dài một tiếng, quay đầu ra lệnh:
- Rút về huyện Điêu Âm.
Binh lính Hung Nô sớm đã bị giết cho sợ hãi run rẩy, lúc nghe Thạch Lặc hạ lệnh, tất cả liền quay đầu ngựa lại hướng về phía Bắc mà chạy, bọn họ vội vàng muốn rời xa đám ác ma đồ tể đến từ địa ngục này, cách bọn họ càng xa càng tốt.
Chiến mã chạy gấp, tiếng vó ngựa như sấm, hơn sáu ngàn kỵ binh Hung Nô và kỵ binh người Yết rất nhanh liền chạy trốn sạch sẽ, chỉ để lại một trận thi thể máu thịt lẫn lộn.
Mấy ngàn kỵ binh Hung Nô chạy dọc theo đạo Tây Nam bên cạnh sườn núi hướng về thị trấn Điêu Âm, lúc này bọn họ đã không còn quan tâm sẽ kinh động đến đại doanh quân Hán ở cách vài dặm ngoài, cũng không lo phía trước liệu có phục binh hay không, mỗi người đều hồn bay phách lạc, cứ một mực chạy trối chết.
Khi bọn họ vừa mới chạy được vài dặm, bọn họ đột nhiên dừng lại, trên đường trước mặt bị chắn ngang mười cây đại thụ to lớn, Thạch Lặc vạn phần kinh ngạc, lúc uộh đến dọc đường bình phẳng, nào có cây lớn như vậy chặn đường.
- Không xong rồi!
Y bỗng nhiên phản ứng, Hán quân nhất định có mai phục.
Nhung đã chậm, chỉ nghe trên đỉnh đầu truyền đến một hồi mõ vang, bên trái sườn núi xuất hiện hơn mười ngàn tên cung thủ của quân Hán, cùng đồng loạt giương cung, hướng về kỵ binh Hung Nô dưới chân núi mà bắn tên, vạn mũi tên như trận bão, dày đặc lao về phía kỵ binh người Yết và Hung Nô dưới chân núi.
Đám kỵ binh xoay sở không kịp đề phòng, ào ào té ngựa, tiếng kêu thảm thiết vang vọng một vùng, đám kỵ binh loạn thành một vòng, còn Thạch Lặc đầu đội mũ bạc, thân mang giáp vàng chính là trọng điểm bắn tên của quân Hán. Trong nháy mắt, y cả người lẫn ngựa bị bắn thành con nhím, ầm ầm ngã xuống, chỉ sau hai đợt phục kích bằng tên, kỵ binh liền chết quá nửa.
Bên phải của Tây Nam đạo là một dãy núi thấp kéo dài, bên phải là một con song nhân tạo bề rộng chừng năm sáu trượng, từ phía bắc đào kênh dẫn nước tới, lại từ con sông này phân ra vô số nhánh mương nhỏ, chảy về đồng ruộng ở trong thung lũng, tạo thành một hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh.
Ở phía đông của con sông nhân tạo này là một mảnh rừng rậm, rừng rậm hiện lên một mảnh dài, chiều rộng chỉ hơn trăm trượng, dài có hơn mười dặm. Mảnh rừng này từng là một phần của rừng rậm trong thung lũng, khiến cho thung lũng trở thành ruộng tốt, mảnh rừng này cũng trở thành sự tồn tại may mắn cuối cùng, trở thành chỗ che mưa trú gió của những người đào sông.
Còn hiện tại, mảnh rừng rậm hình chữ nhật này lại trở thành nơi chạy trốn của lính Hung Nô, mấy ngàn binh lính may mắn thoát chết phóng ngựa nhảy xuống lòng sông, may là vào mùa đông, nước dưới sông rất cạn, ngoại trừ một số nhỏ bị bắn chết ở dưới sông, số binh lính còn lại đều phóng ngựa qua được bờ bên kia.
Nhưng vận xấu lại cứ một nối tiếp, mấy ngàn binh lính vừa mới lên được bờ bên kia, trong rừng rậm đối diện lại truyền đến một hồi mõ vang, mấy ngàn mũi tên từ bốn phương tám hướng bắn về phía kỵ binh Hung Nô đi đầu không còn đường thoát. Kỵ binh Hung Nô kêu thảm thiết, té ngựa, chiến mã trúng tên, chỉ chạy được vài bước liền ngã xuống sông.
Tên trong rừng rậm chỉ bắn ra một lần, mấy ngàn quân Hán cầm thương dài từ trong rừng lao ra, trường thương sắc bén đâm vào kỵ binh Hung Nô ở bờ sông. Bọn họ không chút lưu tình, ngay cả rất nhiều binh lính Hung Nô quỳ xuống đầu hàng cũng vô tình bị đâm chết, thi thể người ngựa đều bị đâm rơi xuống sông. Ngoại trừ không tới hai trăm kỵ binh do một gã Thiên phu trưởng dẫn đầu dọc theo hướng bắc dưới sông phá vòng vây thành công ra, còn lại hơn sáu ngàn kỵ binh Hung Nô bị hai mươi ngàn quân Hán mai phục bị tiêu diệt hoàn toàn.
Hai mươi ngàn quân Hán nhanh chóng rút về đại doanh, trên quan đạo Tây Nam, trong dòng sông nhỏ, đường bờ sông bên cạnh rừng rậm khắp nơi đều là thi thể của kỵ binh người Yết và quân Hung Nô bị ghết, từng bầy quạ đen ở trên trời bay quanh, hưng phấn xà xuống.
Sau đó, những thi thể này toàn bộ đều bị ném xuống dòng sông, đoạn sông dài hơn mười dặm này cũng theo đó mà bỏ hoang, trở thành phần mộ của người Hung Nô, dân bản xứ lại một lần nữa đào một con sông mới ở phía bên kia rừng rậm.
Tin tức quân Thạch Lặc bị quân Hán tiêu diệt toàn bộ truyền đến huyện Điêu Âm, Hô Trù Tuyền giật mình trợn mắt há mồm, y mới ý thức được bản thân mình đã xem vấn đề này quá đơn giản, Lưu Cảnh sao có thể để bọn họ thuận lợi đi Ngọ Đình quan cứu người, hơn nữa binh lực bọn họ vì chuyện này mà bị phân tán, Lưu Cảnh liền bắt lấy cơ hội này, diệt bọn họ cùng một lúc.
Trong lòng Hô Trù Tuyền vạn phần hối hận, y quả thật không nên đưa ra quyết định ngu xuẩn này, Thạch Lặc là muốn đi cứu con, cho nên bất kể hậu quả, còn bản thân y không những không ngăn cản, đã vậy còn cho hắn ta thêm năm ngàn quân, ngây thơ cho rằng bọn họ có thể đánh hạ được Ngọ Đình quan, thả quân đội của Lưu Khứ Ti, y quả thật quá ngu xuẩn rồi.
Suốt đêm, Hô Trù Tuyền nhốt mình trong phòng ngẫm lại, y đã hiểu rõ điểm yếu của mình, bên cạnh y không có một quân sư đa mưu túc trí nào phụ tá, mới khiến cho y nhiều lần ra chiêu một cách hồ đồ.
Từ lúc mới bắt đầu quyết định tiến về phía Nam, bọn họ đã phạm vào tính sai lầm của chiến lược, khiến họ sau này càng ngày càng bị động, cuối cùng phải nuốt quả đắng hôm nay, nhưng nếu bên cạnh y có một mưu sĩ tài trí hơn người, cũng sẽ không rơi vào kết cục như hôm nay.
Lúc trời sáng, Hô Trù Tuyền cuối cùng từ trong phòng đi ra, hai mắt y đỏ bừng, thanh âm khàn khàn nói với đám thị vệ canh ở bên ngoài:
- Truyền lệnh của ta. Tử thủ thành trì, không được phép manh động.
Hô Trù Tuyền cuối cùng đã nghĩ thông suốt một điểm, tuy rằng mục đích của Lưu Cảnh là kéo lê y trên Lạc Xuyên đạo, nhung nếu y vội vàng rút lui về Bắc, sẽ càng chết thảm hại hơn. Phía Bắc có năm vạn quân Hán chủ lực chặn đường, phía Nam có Lưu Cảnh đích thân dẫn năm vạn đại quân truy kích, có mười vạn đại quân trước sau giáp kích, còn y chỉ còn lại hơn hai vạn người, cuối cùng sẽ giống như Thạch Lặc, bị loạn tên bắn thành con nhím.
Bị tiêu diệt cùng với toàn quân, chi bằng chờ đợi quân cứu viện của Lưu Báo, có lẽ khi đó y còn có thể có một đường sống.
Quận Tây Hà thuộc Tịnh Châu, nơi này ở phía tây núi Lã Lương, là một quận gần nhất giữa Tịnh Châu và Quan Nội, chỉ cách bởi một nhánh Hoàng Hà, quận Tây Hà lấy Tưu Thủy làm ranh giới. Phía bắc Tưu Thủ thuộc địa bàn của người Hung Nô, còn phía Nam là do người Hán kiểm soát.
Vài thập niên, hai bên vẫn duy trì kí kết ngầm này, phía Nam Tưu Thủy người Hán tụ tập đông, lấy huyện Ly Thạch làm trung tâm, phân bố những mảnh ruộng lớn.
Còn phía Bắc Tưu Thủy nhân khẩu thưa thớt, vùng quê hoang vắng, tuy cũng có vài người Hung Nô làm nông nghiệp, nhung cũng có nhiều nông trường của nhiều dân du mục.
Buổi sáng hôm đó, ở cửa sông nơi Tưu Thủy nhập vào Hoàng Hà xuất hiện vô số quân Hung Nô, thanh thế lớn, một cái nhìn qua không thấy giới hạn, bờ sông chất đầy cả thảy mấy ngàn con bè da dê lớn nhỏ, quân Hung Nô chuẩn bị vượt sông Hoàng Hà từ chỗ này.
Cửa sông Tưu Thủy chính là chỗ vượt Hoàng Hà lý tưởng, thời triều Hán, nơi này có một bến, nhung bây giờ đã thành hoang phế, đoạn này nước bằng phẳng, đường sông cũng không rộng, dưới mặt sông không có nước xoáy ngầm, cực kỳ thích hợp cho bè vượt qua Hoàng Hà, mỗi lần người Hung Nô muốn vượt qua Hoàng Hà đều chọn nơi này.
Bên bờ sông Hoàng Hà, mười mấy tên tướng lĩnh Hung Nô vây quanh một gã thủ lĩnh hơn bốn mươi tuổi, người này đầu đội nón vàng, người mặc giáp vàng, làn da hơi đen, ánh mắt như mắt chim ưng nhìn chăm chú vào mười tấm bè da dê ở trên mặt sông.
Gã chính là Tả Hiền Vương Lưu Báo của Hung Nô, Lưu Báo là em ruột của Lưu Khứ Ti, huynh đệ hai người một đông một tây, khống chế phương Bắc Trung Nguyên. Lần này Lưu Báo sở dĩ đồng ý xuất binh, thật ra cũng không phải do thỉnh cầu của Hô Trù Tuyền, mà là yêu cầu của huynh trưởng Lưu Khứ Ti gã, đương nhiên, cũng là phán đoán của bản thân Lưu Báo với thế cục.
Thế lực Lưu Cảnh tiến vào Quan Lũng, không chỉ uy hiếp tới lợi ích của Lưu Khứ Ti, một khi quân Hán Đông tiến qua Tịnh Châu, tất nhiên cũng sẽ uy hiếp tới lợi ích thiết thân của Lưu Báo. Vào năm trước, quân Hán thừa dịp Tịnh Châu trống không, dễ dàng cướp lấy Thái Nguyên, mặc dù sau đó Lưu Cảnh rút lui ra khỏi Tịnh Châu, nhung hành động của hắn lại làm cho Lưu Báo thấy được nguy hiểm sau này.
Cũng chính là dựa vào suy xét này, Lưu Báo mới dứt khoát quyết định thừa dịp lực lượng quân Hán còn chưa lớn mạnh, phối hợp với Lưu Khứ Ti hoàn toàn đánh bại quân Hán, đuổi thế lực Lưu Cảnh ra khỏi Quan Lũng.
Chương 877.1: Lựa chọn thông minh.
Chỉ có điều Lưu Báo vẫn có chút lo lắng quân Tào, quân Tào tập kết ở Thái Nguyên một trăm ngàn binh lực, cho dù lời giải thích mà Tào Tháo nói với gã là duy trì trung lập, giữ Tịnh Châu ổn định, nhưng trong một trận phục kích sứ giả quân Hán ở Thử Tước cốc, Tào Tháo lại xuất binh để bảo vệ sứ giả quân Hán, việc này khiến trong lòng Lưu Báo dấy lên một màn bóng ma, tuy nhiên chuyện này là gã không hợp đạo lý. Quân Hung Nô tự tiện vượt qua biên giới, không thông báo trước với Tào Tháo, cho nên đôi bên đối với sự kiện này đều duy trì sự im lặng.
Tuy nói như vậy, nhưng Lưu Báo vẫn nhận định Tào Tháo là một người cực kỳ nham hiểm, cho dù lão xuất binh hiệp trợ Lưu Cảnh, cũng chỉ là làm ra vẻ một chút. Đối với Tào Tháo mà nói, Lưu Cảnh mới là thỏa thuận lớn nhất của lão, chứ không phải Hung Nô, có thể mượn tay Hung Nô diệt trừ kình địch Lưu Cảnh này, Tào Tháo cớ sao không làm?
Lưu Báo tin tưởng vào phán đoán của mình, tuy nhiên gã cũng là người cẩn thận, gã sẽ không đem toàn bộ đội quân tám vạn theo đến Cao Nô, mà để lại ba vạn quân, để cho con cả Lưu La làm thống soái, chính gã đích thân dẫn năm vạn đại quân, chuẩn bị vượt sông đi Cao Nô, phối hợp với đại quân của Hô Trù Tuyền, nghênh chiến với chủ lực quân Hán.
Về mặt này thì có một vấn đề, Lưu Báo vốn không nghe ngóng tin tình báo sự thực, gã không biết Lưu Khứ Ti bị vây ở Trực đạo, cũng không biết Hô Trù Tuyền ở Lạc Xuyên đạo đã gặp phải áp vây lớn, gã nhận được thư chuyển nhanh do Hô Trù Tuyền đưa tới, chỉ nói là, chủ lực của quân Hán cuối cùng bị dẫn dụ tới thành Cao Nô, bảo gã xuất binh theo kế hoạch ban đầu, phối hợp chủ lực của Hung Nô nghênh chiến với quân Hán. Đây là điểm ngươi lừa ta gạt của nội bộ Hung Nô, Hô Trù Tuyền rất rõ rằng nếu nói sự thật với Lưu Báo thì gã sẽ không xuất binh.
Lưu Báo nằm mơ cũng không nghĩ tới, trong một tháng ngắn ngủi, đại quân Hung Nô cũng đã rơi xuống mức sắp diệt vong.
Lúc này, một gã tướng lĩnh cưỡi ngựa chạy như bay tới, khom người với Lưu Báo bẩm báo:
- Khởi bẩm Hiền Vương, thử nghiệm hoàn tất, có thể vượt sông được rồi.
Lưu Báo gật đầu, lớn tiếng ra lệnh:
- Truyền lệnh toàn quân qua sông.
Thế đối chọi song song giữa quân Hán và đại quân Hung Nô ở huyện Điêu Âm vẫn duy trì như trước, lúc này Lưu Cảnh đã nhận được tin tức đã chiếm Linh Châu. Việc Linh Châu bị công hạ là điều nằm trong dự liệu, nhưng điều khiến Lưu Cảnh cảm thấy phấn khích chính là Liêu Hóa sau khi công phá được huyện Linh Châu, phát hiện ra còn bảo vệ thành công năm vạn hoàng kim vốn do Khương Vương A Hoãn phí thời gian hai mươi năm tích cóp được.
Xác nhận là hoàng kim chứ không phải vàng ròng, số hoàng kim này đã được chuyển vào Tiêu Quan, đang trên đường hướng về Trường An. Kết quả này khiến Lưu Cảnh rất hài lòng, năm vạn cân hoàng kim này lại thêm mười vạn cân hoàng kim mà bọn họ tự dự trữ được, dựa vào số hoàng kim này làm cơ sở, hắn có thể chậm rãi khống chế được thiên hạ từ phương diện tiền tệ.
Trong đại trướng, Lưu Cảnh đang cùng với Tư Mã Ý vừa đi sứ trở về thảo luận tình hình Tịnh Châu. Từ sau khi Tư Mã Ý vào Tào Tháo đạt được thống nhất, liền dùng cách chuyển thư khẩn cấp, đem kết quả thương lượng tới Quan Trung, bây giờ bọn hắn không nói thêm về việc thương lượng nữa, mà là đang thảo luận tình hình của Tịnh Châu. Trên đường quay trở về, Tư Mã Ý đã dạo quanh phía Nam của Tịnh Châu một vòng, hiểu được phong thổ nhân tình của Tịnh Châu, cũng thăm hỏi một số sĩ tộc lớn của Tịnh Châu.
- Điện hạ! Sự giàu có và đông đúc của Tịnh Châu thật sự là nằm ngoài dự liệu của ta, hơn nữa năm quận phía Nam của Tịnh Châu, nhân khẩu dày đặc, đất đai phì nhiêu, nguồn nước dồi dào, mạch cây lúa một năm hai vụ, mấy năm nay hàng năm mùa đều thu hoạch lớn, ta bây giờ mới hiểu, Tào Tháo vì đâu mà coi trọng Thái Nguyên như thế, lương thực của Tịnh Châu là thứ đảm bảo triệt để cho việc khôi phục thực lực của lão.
Tư Mã Ý rất cảm khái, cũng kỳ vọng rất lớn vào sau này quân Hán có thể cướp được Tịnh Châu, Lưu Cảnh gật gật đầu cườ inói:
- Tịch Châu có Thái Hành Sơn che chắn, không bị loạn Khăn Vàng tấn công, mặc dù Tịnh Châu cũng xảy ra một ít chiến tranh, nhưng những trận chiến này chủ yếu phát sinh ở phía Bắc Thái Nguyên, trên cơ bản thì không lan đến gần phía Nam Tịnh Châu, cho nên vài chục năm nay, phía Nam Tịnh Châu mới có thể duy trì ổn định, nhân khẩu sinh sôi, nhân khẩu dư nhiều thì sẽ di chuyển tới Quan Trung. Tương lai sau khi chúng ta cướp lấy Tịnh Châu, ta định sẽ di dân từ Tịnh Châu đến Quan Nội, cho bọn họ hưởng chút lợi ích từ thuế má, làm cho Quan Trung và Linh Châu phát triển thêm nữa.
Tư Mã Ý cũng biết rằng Lưu Cảnh hiểu được tình hình của Tịnh Châu từ miệng của rất nhiều dân di cư, gã trầm ngâm một lát lại hỏi:
- Điện hạ dự định khi nào thì tấn công Tịnh Châu, sau khi thắng đại chiến Hung Nô lần này sao?
Lưu Cảnh lắc lắc đầu:
- Sau khi kết thúc đại chiến Hán Hung lần này, chúng ta sẽ phải dời đô, chính thức chuyển dời đô thành đến Trường An. Chuyện này cần ít nhất thời gian là nửa năm, sau đó tĩnh dưỡng một thời gian ngắn, sẽ bắt đầu chuẩn bị cuộc chiến Hợp Phì.
Tư Mã Ý yên lặng gật đầu, trong lòng gã có chút tiếc nuối, gã hy vọng Lưu Cảnh có thể đánh hạ Tịnh Châu trước, làm suy yếu nơi sản sinh lương thực của Tào Tháo. Tuy nhiên gã cũng biết cuộc chiến Hợp Phì đối với toàn bộ chiến cuộc là rất quan trọng, đánh hạ Hợp Phì, Bắc có thể khống chế Trung Nguyên, Nam khống chế Giang Đông, vừa hoàn thành vòng vây với Tào Tháo, đồng thời cũng có thể can thiệp vào nội chiến ở Giang Đông, có tác dụng hết sức quan trọng.nếu không phải việc dời đô dẫn đến đại chiến Hán Hung thì cuộc chiến Hợp Phì sớm đã nổ ra rồi.
Tư Mã Ý không nhắc tới Tịnh Châu nữa, gã chuyển đề tài, cười nói:
- Vậy Điện hạ chuẩn bị đối phó Hung Nô như thế nào, là nhân cơ hội này diệt hoàn toàn Hung Nô, hay là lưu lại một Hung Nô yếu thế?
Lưu Cảnh khẽ mỉm cười:
- Ngươi là quân sư, những lời này hẳn là ta nên hỏi ngươi mới đúng.
Tư Mã Ý biết Lưu Cảnh nhất định đã lên kế hoạch, liền cười nói:
- Chi bằng chúng ta cùng viết các đáp án quan trọng lên bàn tay, sau đó so sánh thử xem.
- Ý kiến thú vị đó.
Lưu Cảnh vui vẻ đồng ý, hai người quay lưng lại, viết đáp án trên tay, hai người xoay người lại, Lưu Cảnh cười nói:
- Ta muốn xem Trọng Đạt viết trước.
Tư Mã Ý giang hai tay ra, chỉ thấy trên bàn tay viết hai chữ “Tiên Ti”, Lưu Cảnh không kìm được cười:
- Người hiểu ta, chỉ có Trọng Đạt.
Hắn cũng mở tay mình ra, trên bàn tay cũng viết hai chữ Tiên Ti như vậy, hai người nhìn nhau, cùng cười lớn.
Lưu lại một Hung Nô yếu thế, theo quy luật của thảo nguyên, hắn không thể chú ý Trung Nguyên, mà phải xoay sở đối phó với Tiên Ti có thế lực tương đương. Nếu không thì tiêu diệt Hung Nô, chỉ sẽ làm lợi cho Tiên Ti không công, khiến Tiên Ti nhanh chóng trở thành cường địch ở thảo nguyên. Sau khi thống nhất thiên hạ, quân Hán cần nghỉ ngơi lấy lại sức, tích trữ lực lượng, sau đó mới có thể hoàn toàn bình định loạn phương Bắc, việc này cần có thời gian, mà trong lúc này Hung Nô và Tiên Ti giằng co, vừa hay quân Hán sẽ thắng được quãng thời gian quý giá.
Lưu Cảnh lập tức cười nói với Tư Mã Ý:
- Mời Trọng Đạt an tọa, xem ta an bài hậu sự của Hung Nô như thế nào.
Trong lòng Tư Mã Ý khó hiểu, nhưng gã cũng không hỏi nhiều, chỉ lẳng lặng ngồi một bên, Lưu Cảnh lập tức lệnh cho thị vệ:
- Đem Đạt Man đến đây.
Một lúc sau, vài tên thị vệ dẫn theo một tên Đạt Man đầu trọc tiến vào, Đạt Man sau khi bị vây ở Lộc Minh Cốc, không giống như Lưu Khứ Ti liều mạng công thành phá vây, mà lựa chọn đầu hàng. Gã ra lệnh cho đám thủ hạ, đội quân mấy ngàn tên bỏ vũ khí xuống, cởi trần thân trên, đến trước Lộc Minh Quan quỳ xuống đất cầu xin tha thứ, xin Lưu Cảnh tiếp nhận đầu hàng.
Đạt Man và Lưu Khứ Ti không giống nhau, Lưu Cảnh tuyệt đối sẽ không tiếp nhận Lưu Khứ Ti đầu hàng, nhất định phải thấy đầu của hắn ta, còn Đạt Man đối với Lưu Cảnh mà nói, lại có giá trị quan trọng, hắn liền tiếp nhận sự đầu hàng của Đạt Man.
Chương 877.2: Lựa chọn thông minh.
Đạt Man bị dẫn đến lều lớn, quỳ xuống dập đầu nói:
- Bái kiến Hán Vương Điện hạ.
Lưu Cảnh khoát tay cười nói:
- Trục Nhật Vương không cần đa lễ, mời ngồi.
Đạt Man nghe Lưu Cảnh gọi mình là Trục Nhật Vương, trong lòng lập tức dâng lên một tia hy vọng, Đạt Man thật ra cũng không ngu xuẩn, chỉ có điều y theo đuổi thanh sắc, phóng đãng không kềm chế được, cho nên vẫn bị Hồ Trù Tuyền cho là ăn chơi trác táng, nhiều nhất chỉ sai y đi sứ, hoặc theo quân làm tham mưu, vân vân.
Nhưng trên thực tế, Đạt Man cũng có những suy nghĩ nhất định, y quả quyết ra lệnh đầu hàng, cũng luồn cúi với Lưu Cảnh, như vậy mới bảo toàn tính mạng, đối với quý tộc Hung Nô luôn coi trọng danh dự, thì rất khó mà làm được điểm này.
Lưu Cảnh lại nói:
- Sau đại chiến lần này, ta cho rằng Hung Nô chắc sẽ nảy sinh một vài thay đổi, Hồ Trù Tuyền không thích hợp tiếp tục làm người đứng đầu của Hung Nô, ta hy vọng Hung Nô có thể đổi một Thiền Vu, một người sẽ cùng ta và quân Hán làm việc tốt.
Đạt Man thở dài nói:
- Lần này quân Hung Nô bị tổn thất nghiêm trọng như vậy, hoàn toàn là trách nhiệm của Hồ Trù Tuyền, cho dù Điện hạ không đề cập tới, nội bộ Hung Nô cũng sẽ phản đối hắn làm tiếp Thiền Vu, địa vị của chính hắn sẽ không ổn, lúc này cha ta sẽ không ủng hộ hắn nữa, hắn chỉ có thể rớt đài thôi.
Lưu Cảnh gật gật đầu:
- Phụ thân Vân Đan của ngươi đúng là nhận vật số hai của Hung Nô, kinh nghiệm từng trải vô cùng lão luyện, lại trí khôn thâm sâu, ta nguyện ủng hộ ông làm tân chủ của Hung Nô.
Đạt Man vội vàng đứng dậy thi lễ:
- Đa tạ Điện hạ đã ưu ái. Nhưng phụ thân thân thể không được khỏe, tuổi đã cao, chỉ sợ không có tinh lực đứng đầu Hung Nô, năm đó các bộ tộc đều đề cử ông làm Thiền Vu, nhưng bị phụ thân khéo léo từ chối nên mới có chuyện Hồ Trù Tuyền đăng vị.
Lưu Cảnh khẽ mỉm cười:
- Nếu phụ thân ngươi không đồng ý, vậy thì để ngươi đảm nhiện chức vị Thiền Vu, ngươi thấy sao?
Đây mới là trọng điểm mà Lưu Cảnh muốn nói. Hắn giữ Đạt Man lại, chính là đã nhìn thấu Đạt Man, để y đứng ra đảm nhiệm là Thiền Vu của Hung Nô. Người này là hạng người bình thường, ham hưởng thụ, lại không có tâm chí lớn, biên cương phương Bắc sẽ không đáng lo ngại.
Đạt Man lập tức ngây ngẩn cả người, đây là chuyện y chưa bao giờ nghĩ tới, y sao có thể có cơ hội trở thành Thiền Vu Hung Nô, có Lưu Khứ Ti và Lưu Báo ở đó, như thế nào cũng không tới lượt y, y nhìn Lưu Cảnh nghi ngờ, thấy ánh mắt của Lưu Cảnh rõ ràng không phải nói đùa, mà cực kỳ nghiêm túc.
Giờ khắc này, dục vọng quyền lực trong lòng Đạt Man bỗng nhiên bốc cháy hừng hực, vì sao mình lại không được, phụ thân là nhân vật có thực lực của Hung Nô, y lại là con trai độc nhất của phụ thân, người Hung Nô chỉ dựa vào thực lực để nói chuyện, y hoàn toàn có thể kế thừa cái ghế Thiền Vu, huống hồ lại có Lưu Cảnh ủng hộ.
Đạt Man bỗng nhiên hiểu ra, y quỳ xuống giơ tay nói:
- Cảm ơn Điện hạ đã coi trọng ta, Đạt Man ta bây giờ xin thề, ta nếu được làm Thiên Vu của Hung Nô, nhất định sẽ chung sống hòa thuận với Điện hạ. Quân Hung Nô vĩnh viễn sẽ không xâm phạm phía Nam, nếu phản bội lời thề này, trời tru đất diệt.
Lưu Cảnh chậm rãi gật đầu, hắn nhìn Đạt Man chăm chú, điềm nhiên nói:
- Sau đại chiến lần này, biên giới mà ta xác định sẽ là chuẩn, ta không cho phép quân Hung Nô xâm phạm phía Nam một bước, nếu không ta sẽ liên hợp với Tiên Ti, tiêu diệt toàn bộ Hung Nô, ngươi hiểu không?
Đạt Man lau ít mồ hôi trên trán, gật đầu:
- Ta sẽ ghi nhớ.
Lưu Cảnh sai người dẫn Đạt Man đi, hắn quay đầu lại nhìn Tư Mã Ý, thản nhiên cười, hỏi:
- Thế nào?
Tư Mã Ý giơ ngón tay cái về phía hắn, khen từ đáy lòng:
- Điện hạ cao minh.
Một đội kỵ binh thám báo ở trên cao nguyên mênh mông chạy gấp gáp, hai bên là đồng cỏ trải dài, chỗ xa hơn chính là khu rừng rậm rạp, kéo dài suốt Bắc Nam, cùng với dãy núi cao ngất tạo thành một thể, phảng phất giống như một chiếc áo bào màu xanh lá cây buộc lên dãy núi.
Nhưng bây giờ đã là những ngày cuối tháng mười, sắp bước vào mùa rét đậm, vài ngày tới, Hoàng Hà sẽ bắt đầu đóng băng, sau đó sẽ đón tuyết đầy trời, thời tiết dần dần gây bất lợi cho người Hung Nô. Đại chiến Hán Hung cũng đang đi vào cao trào cuối cùng, bất kể đối với quân Hán hay đối với người Hung Nô, năm ngày cuối cùng chính là thời khắc quyết định vận mệnh.
Đội kỵ binh thám báo xông vào một ngọn núi thấp, xa xa có thể nhìn thấy đại doanh của quân Hán khí thế hùng vĩ, đồn trưởng dẫn đầu hô to một tiếng, dẫn theo đám người hướng về đại doanh quân Hán phóng tới.
Đại doanh của quân Hán đã biến thành kết cấu tường, bản tường là dùng đầu gỗ với đất sét xây dựng, vô cùng chắc chắn.cách mỗi năm mươi bước còn xây một toàn tháp canh, có lính gác ở trong tháp canh để cảnh giác ở phía xa.
Dựa theo lệnh của Hán Vương Lưu Cảnh, quân Hán vẫn án binh bất động từ đầu, chờ đợi thời cơ đến, thời cơ đó chính là quân Hung Nô ở Tịnh Châu vượt sông Hoàng Hà.
Lúc này, đội kỵ binh chạy tới trước đại doanh, giơ quân bài lên hô to:
- Đồn thám báo thứ tám hồi doanh, có quân tình khẩn cấp cần bẩm báo chủ tướng.
Cửa đại doanh vừa mở, một gã sĩ quan đang trực đi ra, nghiệm chứng quân bài, hướng về đám người nói:
- Vào doanh đi.
Thám báo tiến vào đại doanh, dưới sự hướng dẫn của lính gác, dọc theo đường cái chậm rãi đi tới, đi thẳng tới trước lều lớn, một trinh sát tiến lên bẩm báo, một sát sau, một tên binh lính thân cận của Triệu Vân đi ra nói với đồn trưởng thám báo:
- Tướng quân lệnh cho ngài vào trong bẩm báo.
Đồn trưởng liền vội vàng đi theo tên lính vào đại doanh. Ở trong đại doanh, các tướng lĩnh đang cùng nhau thảo luận chuyện binh, Triệu Vân thấy đồn trưởng thám báo tiến vào, liền cười nói với mọi người:
- Mọi người cùng nghe tin tình báo mới nhất nào.
Đồn trưởng tiến lên quỳ một gối bẩm báo:
- Khởi bẩm Triệu tướng quân, ty chức dẫn đầu các huynh đệ phát hiện chủ lực của quân Hung Nô ở Tịnh Châu.
Mọi người lập tức thấy hứng thú, trong đại trướng liền yên tĩnh hẳn, tất cả mọi người đều lắng tai nghe thám báo bẩm bảo, Triệu Vân lại hỏi:
- Là phát hiện chủ lực của Tịnh Châu ở chỗ nào?
- Hồi bẩm tướng quân, là ở kênh Chương Ly.
Triệu Vân lập tức đứng dậy đi vào sa bàn, mọi người cũng xấn tới, Triệu Vân chăm chú nhìn sa bàn một lát, dùng một cây gõ chỉ vào trong đó, một khe núi cách sông Hoàng Hà không xa, nói:
- Là ở chỗ này sao?
Đồn trưởng thám báo nhìn một hồi, lúc này mới gật gật đầu:
- Chính là chỗ này.
Pháp Chính ở bên cạnh lại hỏi thêm:
- Các ngươi phát hiện quân Hung Nô lúc nào, bọn họ đang làm gì?
- Hồi bẩm quân sư, là chạng vạng ngày hôm qua, lúc ty chức phát hiện, bọn họ đang trú doanh.
- Có bao nhiêu đội quân, trang bị như thế nào?
Đây là câu hỏi của Bàng Đức.
- Hồi bẩm Bàng tướng quân, ước chừng hơn năm mươi ngàn người, toàn bộ là kỵ binh, trang bị giáp da và trường mâu, tuy nhiên không giống như kỵ binh Hung Nô trước kia, đám kỵ binh này có cả khiên, rất nhiều binh sĩ cũng có cung tên giống chúng ta.
Đây là chuyện hợp lý, quân Hung Nô Tịnh Châu ở Trung Nguyên thời gian dài, tuy rằng không thể trang bị áp giáp ngư lân, nhưng có được tấm khiên và cung tên của quân Trung Nguyên cũng hết sức dễ dàng, Triệu Vân gật gật đầu nói với mọi người:
- Đợi Tào Tháo ra tay không biết tới khi nào, chúng ta cũng không thể đem hy vọng chiến thắng ký gửi vào Tào Tháo được, ta đề nghị chủ động xuất kích, bước đầu tiên chính là tiêu diệt đại doanh hậu cần của Hồ Trù Tuyền.
Mã Đại bước ra nói:
- Nhiệm vụ tiêu diệt đại doanh hậu cần hãy giao cho ty chức, ta chỉ cần một canh giờ là có thể nhổ hết chúng.
Triệu Vân đồng ý với thỉnh cầu của Mã Đại, vừa cười nói:
- Mã tướng quân, dê bò trong đại doanh cũng có thể để cho chúng ta sử dụng.
- Ty chức tuân lệnh!
Chương 878: Hung Nô Tịnh Châu.
Đại doanh hậu cần của Hô Trù Tuyền vẫn nằm trong giám thị của quân Hán, trong đại doanh chỉ có bốn ngàn binh lính Hung Nô, không có mệnh lệnh của Triệu Vân, bọn họ không dám vứt bỏ doanh mà đi, nhưng cũng không dám đuổi dê bò rời khỏi đại doanh xuôi nam, như vậy bọn họ chắc chắn chết không thể nghi ngờ, bọn họ giống như sơn dương bị bức vào một góc tường, bất lực đợi đồ tể tới giết, hoặc là chủ nhân đến cứu mình.
Đúng lúc này, bọn họ nhận được tin tức Hung Nô Tịnh Châu vượt qua Hoàng Hà, trong quân doanh sôi trào, bọn lính đều thu thập hành trang, chuẩn bị lui về hướng đông, hội hợp với quân đội Tả Hiền Vương.
Nhưng vào lúc này, trên tháp canh quân doanh gõ vang tiếng chuông cảnh báo, có binh lính chạy trốn hô to:
- Quân Hán theo phía tây giết đến rồi!
Gần như tất cả binh lính đều cảm nhận được đại địa đang run rẩy, xa xa bụi đất tung bay, kỵ binh quân Hán đông nghìn nghịt đang lao về phía đại doanh, trong đại doanh Hung Nô hồn loạn thành một bầy, quân tâm hoảng loạn, đều lên ngựa chạy khỏi quân doanh, lúc này, bọn họ đã chẳng quan tâm hơn mười vạn con dê bò, chỉ để ý tính mạng của bản thân.
Nhưng kỵ binh Hung Nô vừa mới chạy chưa được ba dặm, tên bắn che phủ trời đất từ trong khu rừng bên cạnh vút tới, kỵ binh Hung Nô đều kêu thảm trúng tên, ngay sau đó là tiếng trống như sấm, vô số binh lính quân Hán từ trong rừng cây lao ra.
Lúc này quân Hán trong huyện thành Cao Nô đã nhận được tin tức của Triệu Vân, dưới sự suất lĩnh của tn, ba nghìn quân đội liền mai phục bên trong rừng cây bên cạnh, tn đầu tầu gương mẫu, hô lớn:
- Các huynh đệ, rửa nhục ngày hôm nay, giết!
Quân coi giữ Cao Nô bị đại quân Hung Nô bao vây mấy tháng trời, trong lòng người nào cũng nghẹn lửa giận, giờ khắc này, bọn họ rốt cục được trút giận, ai nấy đều gào thét vọt tới kỵ binh Hung Nô, dù đều là bộ binh, nhưng tác dụng của họ là chặn quân địch chạy trốn lại.
Trường mâu đâm nhanh, chiến đao bổ chém, kỵ binhHung Nô lòng nóng như lửa đốt, liều chết muốn mở một đường máu, mà binh lính quân Hán phẫn hận hết mức, chết sống cũng không cho chúng phá vây, song phương chiến đấu kịch liệt cùng một chỗ.
Mà đúng lúc này, Mã Đại suất lĩnh mười ngàn kỵ binh quân Hán rốt cuôc đã đánh tới, ngựa tăng tốc, nháy mắt liền giết vào trong đội ngũ của người Hung Nô, làm kỵ binhHung Nô tán loạn, lộn xộn, bọn họ nhanh chóng vây quanh, hai chi quân Hán hội hợp, cắt đứt đường lui của binh lính Hung Nô.
Tiêu diệt đại doanh hậu cần của Hung Nô chỉ là một nhạc đệm nho nhỏ, mà nghênh chiến quân đội của Lưu Báo mới là nhiệm vụ trọng yếu của quân Hán. Triệu Vân suất lĩnh năm vạn đại quân một đường đi về hướng đông, buổi chiều ngày hôm sau, rốt cuộc bọn họ đã đụng phải đại quân của Lưu Báo bên cánh đồng bát ngát ngoài trấn Táo Lâm, Triệu Vân lập tức thét ra lệnh đại quân triển khai trận hình trên cánh đồng.
Năm vạn quân Hán do ba vạn kỵ binh và hai vạn bộ binh tạo thành, kỵ binh ngoại trừ năm nghìn người Hán, còn lại hai vạn năm ngàn người đều là do quân Hán chiêu mộ người Ô Hoàn và người Khương tạo thành.
Những người này hoàn toàn khác với liên quân Khương Hán do Mã Siêu chỉ huy, những kỵ binh này mặc dù là người Ô Hoàn và người Khương, nhưng bọn họ là biên chế chân chính trong quân Hán, ở Tế Liễu doanh tiếp nhận ba tháng huấn luyện nghiêm ngặt
Bất kể quân kỷ, trận pháp, trang bị đều hoàn toàn giống quân Hán, bọn họ đã thoát thai hoán cốt, hơn nữa tự thân bọn họ có kỹ thuật cưỡi ngựa tài giỏi, bọn họ chính là một đội kỵ binh quân Hán tinh nhuệ nhất, hoàn toàn có thể chống lại kỵ binh Hung Nô.
Mặt khác Triệu Vân còn mang theo một vũ khí bí mật, vũ khí này dùng để đối phó với kỵ binh, đó chính là phong nỏ, tổng cộng có ba nghìn bộ, do chín ngàn tên lính sử dụng, nhưng này chín nghìn người đồng thời cũng là trường mâu bộ binh, bọn họ có thể đầu nhập chiến đấu bất cứ lúc nào.
“U...”, quân Hán thổi kèn lên, không trung mây đen dầy đặc, phương bắc gào thét, tiếng kèn đặc biệt thê lương dưới mây đen.
Năm vạn quân Hán bày đại trận ba cánh ở trong cánh đồng bát ngát mờ mịt, Bàng Đức dẫn mười ngàn kỵ binh làm cánh tả, Mã Đại dẫn mười ngàn kỵ binh làm hữu quân, Lãnh Bao dẫn mười ngàn kỵ binh làm hậu viện, phương trận mười ngàn trường mâu quân do Triệu Vân tự mình suất lĩnh làm tiên phong, sau phương trận ẩn giấu ba nghìn bộ phong nỏ, do Trương Dực Thống soái.
Lúc này, đại quân của Lưu Báo ngoài bốn dặm cũng chậm rãi ngừng lại, nhanh chóng bày trận, Lưu Báo đã từ miệng vài tên bại binh đại khái hiểu được chiến cuộc trước mắt, y mẫn cảm ý thức được, Hô Trù Tuyền cũng không hề nói thật với mình, ông ta đã che giấu mình vài tin tức quan trọng.
Đầu tiên là quân đội huynh trưởng Lưu Khứ Ti của mình đã bị nhốt ở Trực đạo hơn mười ngày, vẫn không thể thoát thân, tiếp đó là Hô Trù Tuyền rơi vào cạm bẫy của quân Hán, bị quân Hán kéo vào trong Lạc Xuyên đạo, cũng khó thoát thân.
Dưới tình huống như vậy, Hô Trù Tuyền lại phát kim tiễn lệnh, mệnh lệnh Tịnh Châu Hung Nô qua sông tây tiến, cùng bao vây tiễu trừ quân Hán chủ lực ở huyện Cao Nô.
Quân Hán chủ lực đã tới huyện Cao Nô, nhưng đại quân Hô Trù Tuyền lại ở đâu? Rõ ràng là gạt mình đến cứu giúp y, hoặc là y lợi dụng mình dụ quân Hán chủ lực đi, trong lòng Lưu Báo căm hận vô cùng.
Nhưng lúc này y không còn đường lựa chọn, y đã đối mặt với quân Hán chủ lực, có thể nói, y hoàn toàn rơi vào bẫy của Hô Trù Tuyền rồi.
Trong lòng Lưu Báo phẫn uất, lớn tiếng quát lệnh:
- Truyền mệnh lệnh của ta, đại quân bày trận, chuẩn bị xuất kích!
Lúc này, một gã Vạn phu trưởng lặng lẽ tới gần Lưu Báo, thấp giọng nói:
- Trận hình này của quân Hán dường như hơi kỳ quái.
Lưu Báo ánh mắt híp lại, y cũng phát hiện, bình thường quân Hán đều là cung nỏ thủ đứng hàng đằng trước, hai bên là kỵ binh hộ vệ, mà tại đây, kỵ binh hai bên không có vấn đề, nhưng cung nỏ thủ đâu? Không thấy bóng dáng.
- Ty chức hoài nghi, trong quân đội khả năng cất giấu cái gì đó?
Lưu Báo chăm chú nhìn một lát, lắc đầu nói:
- Mặc kệ bọn chúng cất dấu cái gì, chúng ta đều phải đối mặt.
Vạn phu trưởng lập tức khom người nói:
- Ty chức nguyện suất quân làm tiên phong, tấn công chủ trận quân địch.
- Tốt!
Lưu Báo lập tức ra lệnh:
- Ngươi có thể dẫn mười ngàn kỵ binh làm tiên phong, tấn công bộ binh quân địch, ta sẽ an bài quân đội đấu hai cánh quân địch, hy vọng ngươi có thể chặt bỏ soái kỳ quân địch cho ta.
- Tuân lệnh!
Vạn phu trưởng quay đầu lại lớn tiếng quát lệnh, lập ức tiếng trống trận quân Hung Nô vang lên, “thùng thùng thùng”, trong tiếng trống trời rung đất chuyển, một chi mười ngàn kỵ binh Hung Nô từ trong đội ngũ lao ra, bọn họ không ngừng thúc dục chiến mã, quơ chiến đao, khí thế chạy chồm như sấm, đại địa run rẩy, bụi đất tràn ngập, sát khí ngút trời, thổi quét tới bộ binh quân Hán cách vài dặm.
Lưu Báo lập tức quay sang ra lệnh hai gã Vạn phu trưởng khác:
- Các ngươi suất bản bộ, bám trụ quân Hán hai cánh trái phải cho ta, yểm hộ Tát Đạt tấn công trung tâm quân địch.
Hai gã Vạn phu trưởng tiếp lệnh đi, một lát, hai chi mỗi chi mười ngàn kỵ binh Hung Nô từ hai bên trái phái giết ra, đội kỵ binh ba vạn người tạo thành hình tam giác tấn công nhanh về phía quân Hán, Lưu Báo khẩn trương nhìn chăm chú vào ba vạn quân đội tấn công, đây là lần đầu tiên y phái ra số lượng kỵ binh như vậy, hy vọng bọn họ đừng cho mình thất vọng.
Triệu Vân lạnh lùng nhìn chăm chú vào quân địch chạy tới, khi ba chi kỵ binh đã thành trận hình, Triệu Vân lập tức ra lệnh:
- Phong nỏ biến trận!
Lệnh kỳ trên đài chỉ huy múa may, hồng kỳ giơ lên, lục kỳ chém ra, mười ngàn trường mâu bộ binh tiền phương nhanh chóng thoái lui về sau, lộ ra ba nghìn bộ phong nỏ xa, năm trăm bộ nỏ xa xếp thành một hàng, tổng cộng sáu hàng, trận tuyến dài đến một dặm, vừa lúc bao trùm lên một vạn kỵ binh hàng đầu tiên.
Ba nghìn phong nỏ xa này đều là thân trâu gỗ, thể tích cực lớn, kiên cố, một mặt nó là nỏ xe của quân Hán, nhưng đồng thời nó cũng có một tác dụng khác, chính là chướng ngại chiến xa bộ binh, đây là chiến pháp được đúc kết trong tác chiến trường kỳ giữa người Hán và dân tộc du mục, dùng chiến xa làm chướng ngại, khi bộ binh dùng chiến tác chiến với du mục kỵ binh, khiến du mục kỵ binh không thể phát huy ưu thế chạy với tốc độ cao, mãi cho đến triều Tùy Dương Tố đánh với kỵ binh Đột Quyết mới cuối cùng bỏ chướng ngại chiến xa.
Mà lúc này, ba nghìn nỏ xa trâu gõ được đẩy đi, tác dụng mê hoặc cực lớn, Lưu Báo và các tướng lĩnh Hung Nô đều bị mê hoặc, lúc này bọn họ mới hiểu, hóa gia đó là vũ khí thần bí giấu trong đội ngũ quân Hán, đó là mấy ngàn chiếc chiến xa.
Lưu Báo hừ lạnh một tiếng, chỉ là mấy ngàn chiếc chiến xa, cũng có thể ngăn trở năm vạn kỵ binh tấn công sao? Lưu Báo cảm thấy y hoàn toàn không cần đầu nhập năm vạn kỵ binh vào chiến trường, chỉ đầu nhập ba vạn kỵ binh là đủ.
Nhưng có một vài đại tướng tỉnh táo suy nghĩ phát hiện ra trận hình chiến xa dường như có điểm khác biệt, không phải là trận hình vòng tròn truyền thống, mà là xếp thành hàng trận, đây có lẽ là một loại vũ khí bí mật của quân Hán.
Mười ngàn kỵ binh Hung Nô tiên phong càng ngày càng gần, vọt vào vòng năm trăm bước, ba nghìn bộ phong nỗ xa cũng đã chuẩn bị xong, ba mươi mũi tên sắt lóe ra hàn quang quỷ dị dưới ánh mặt trời.
Mười ngàn kỵ binh vọt vào ba trăm bước, kỵ binh che trời phủ đất, tựa như một bức thảm đen lớn, di chuyển trong cánh đồng bát ngát, tất cả kỵ binh đều quát to lên:
- Giết!
Một gã lính gác chạy tới trước mặt Triệu Vân cao giọng:
- Tướng quân, kỵ binh quân địch đã tiến vào trong tầm bắn!
Triệu Vân đáp trán nhìn kỵ binh Hung Nô che phủ trời đất đánh tới, ác nghiệt ra lệnh:
- Bắn!
Ba nghìn bộ phong nỏ sớm đã bày trận sẵn sàng đón quân địch, theo một tiếng ra lệnh của chủ tướng Triệu Vân, lệnh kỳ ra hiệu phong nỏ bắn phất xuống, trống tiếng nổ lớn, một ngàn bộ phong nỏ chợt phóng ra, ba vạn mũi tên sắt bay lên trời, đông nghìn nghịt một mảnh, tựa như châu chấu đói khát gào thét bay tới kỵ binh Hung Nô đối diện đang lao tới.
Vạn phu trưởng cầm đầu phát hiện mũi tên nỏ dày đặc phóng tới, cao giọng hô to:
- Là tiễn thỉ!
Kỵ binh Hung Nô luôn luôn không thích dùng tấm chắn, bởi vì tấm chắn sẽ ảnh hưởng việc phát huy tác chiến của bọn họ ở trên lưng ngựa, họ dùng bì giáp hai lớp để phòng ngự, vô cùng chắc chắn, ngoài tám mươi bước, tên bình thường không thể bắn thủng bì giáp trên người họ được.
Nhưng quân đội của Lưu Báo trường kỳ sinh hoạt tại Trung Nguyên, chịu ảnh hưởng lớn của quân đội Trung Nguyên, hơn nữa Trung Nguyên nhiều năm chiến tranh, đại lượng binh khí sớm không khống chế được, Hung Nô cũng đã nhận được lá chắn nhẹ của quân đội Trung Nguyên, làm thành trang bị cố định của họ.
Mắt thấy tên dày đặc phóng tới, không cần thủ lĩnh hạ lệnh, kỵ binh Hung Nô đều giơ tấm chắn lên, tấm chắn đặt trước bì giáp, chúng hoàn toàn có thể phòng ngự được tên nỏ bình thường, nhưng kỵ binh Hung Nô có nằm mơ cũng không ngờ được hôm nay bọn họ đối mặt không phải là tên nỏ bình thường mà là mũi tên sắt.
Mũi tên sắt đầu nặng đuôi nhẹ, tự thân nó đã có sức nặng làm gia tăng tốc độ, khiến nó có lực đánh vào và lực xuyên thấu hùng mạnh ở trên không trung, chỉ nghe những tiếng phập phập vang lên, mũi tên sắt đã bắn thủng tấm chắn, cũng bắn thủng bì giáp hai lớp của người Hung Nô, từng tiếng kêu thảm thiết vang vọng.
Chương 879: Một trận chiến mấu chốt.
Binh lính bị trúng tên rơi xuống, chiến mã bị trúng tên gục đổ, kỵ binh trên ngựa lập tức ngã lăn ra ngoài, ba vạn mũi tên sắt đã tạo nên tổn thất hơn 1300 binh sĩ, dù chết thê thảm và nghiêm trọng, nhưng vẫn không hề ảnh hưởng đến sự tấn công của kỵ binh Hung Nô.
Nhưng quân Hán có ba nghìn bộ phong nỏ, dùng xạ kích tam đoạn bắn tới liên tục, khi một ngàn bộ phong nỏ lần đầu tiên bắn ra xong, đợt phong nỏ thứ hai và thứ ba cũng lần lượt được bắn, không đợi kỵ binh Hung Nô kịp thở, mũi tên sắt che phủ trời đất lại tiếp tục xuất hiện, lực đạo càng thêm mạnh mẽ, không có gì kiên cóo mà không phá nổi, kỵ binh Hung Nô bị bắn ngã lăn, tấm chắn và bì giáp không thể ngăn được từng mũi tên nỏ đoạt mệnh, tiếng kêu rên vang vọng vùng quê.
Phong nỏ của quân Hán thời khắc này đã bộc lộ được uy lực hùng mạnh, vòng thứ nhất chín vạn mũi tên sắt bắn ra, mười ngàn kỵ binh Hung Nô chết gần nửa, mà khoảng cách của họ còn cách quân Hán 180 bước.
Nhưng tin dữ cũng không vì điều này mà tiêu trừ, tinh túy của xạ kích tam đoạn chính là vĩnh viễn không đình chỉ, khi nhóm mũi tên nỏ thứ ba bắn ra, nhóm phong nỏ đầu tiên đã thay xong hộp đựng tên, hai tên lính lay động bàn tời, lên đủ dây cung, bọn họ hành động nhanh gọn, mau lệ.
Không cần mệnh lệnh, binh sĩ xạ kích lập tức vận huyền đao, “băng” một tiếng, dây cung mạnh mẽ bắn ra, ba mươi nhánh tên nỏ sắt bay lên trời, mũi tên nỏ sắt chung quanh tụ tập thành một vùng, nhanh chóng tạo thành một đám mây đen mũi tên nỏ sắt rộng chừng một dặm, lúc này đây, chúng không chỉ đả kích kỵ binh phía trước, mà còn bao trùm cả hai vạn kỵ binh ở hai mặt.
Bắt đầu từ thời Chiến Quốc, quân Trung Nguyên và kỵ binh Hung Nô đã không ngừng bùng nổ các loại chiến tranh lớn nhỏ, dù kỵ binh Hung Nô lấy kỹ thuật cưỡi ngựa và kỵ xạ thành thạo chiếm ưu thế chủ động trên chiến trường, nhưng quân đội Trung Nguyên lại vĩnh viễn ưu thế về vũ khí, nhất là tên nỏ, cũng mang đến lực sát thương rất lớn cho kỵ binh Hung Nô.
Giữa Hán triều về sau, từ khi kỵ binh quân Hán không ngừng gia tăng, bắt đầu tiến hành chủ động công kích đối với quân đội Hung Nô, cung nỏ hùng mạnh trở thành pháp bảo chiến thắng của quân Hán, cũng trở thành nhân tố trọng yếu khiến người Hung Nô bại vong.
Hôm nay, vũ khí của quân Hán dưới sự dốc lòng nghiên cứu và chế tạo của bậc thầy thợ thủ công Mã Quân, đã có bước tiến nhảy vọt vượt bậc, nhất là sự xuất hiện của một lượng lớn xạ vũ khí đại quy mô là phong nỏ và liên nỏ, lấy số lượng thủ thắng, đã tạo thành lực sát thương cực kỳ khủng bố.
Nhưng loại binh khí này cũng không phải có thể tùy ý sử dụng, dù là Lưu Bị và Tôn Quyền lấy được nguyên bộ bản vẻ, bọn họ cũng không thể bắt chước, điều này cần thực lực kinh tế hùng mạnh làm hậu thuẫn, phong nỏ dùng là mũi tên sắt, một chi mũi tên sắt cần một lượng lớn nhân công và tài liệu, tiền bạc, huống chi là một lần bắn sẽ bắn chín vạn mũi tên sắt, ba lượt sẽ bắn ra hai mươi bảy vạn mũi tên sắt, loại tiêu hao cực lớn này, không phải Giang Đông hay là Giao Châu có thể chịu đựng nổi.
Đương nhiên, mũi tên sắt có thể thu về sau mỗi cuộc chiến, nhưng cho dù là như vậy, sau khi thu về vẫn phải nấu lại và đánh chế lại một lần nữa, cũng tiêu hao một lượng lớn nhân lực và vật lực.
Cũng chính bởi vì phí tổn cực lớn, quân Hán cũng không dễ dàng sử dụng loại vũ khí sát thương đại quy mô này, dùng đạo đạn đánh ruồi bọ, bất kể ai cũng chịu không nổi loại tiêu hao này, cho đến tận lúc này, quân Hán cũng chỉ là đánh với kỵ binh Ô Hoàn và kỵ binh Lưu Mãnh, hôm nay là lần thứ ba, cũng là lần đầu tiên sử dụng đại quy mô.
Ba nghìn bộ phong nỏ liên tiếp phát ra ba lượt chín lần, đã bắn ra hai mươi bảy vạn mũi tên sắt, gây cho kỵ binh Hung Nô tổn thất thảm trọng, ba vạn kỵ binh chết gần nửa, dù nhiều kỵ binh là vì chiến mã trúng tên ngã xuống đất, nhưng đối với kỵ binh tốc độ chạy cao mà nói, một khi ngã ngựa, không chết tức tổn thương, cho dù may mắn không chết, cũng sẽ vì bị thương mà mất sức chiến đấu.
Công hiệu quan trọng của một lượng lớn phong nỏ là lực sát thương, mà sản phẩm phụ chính là mang đến cho kỵ binh Hung Nô chấn động tâm lý rất lớn, bất luận là một chi du mục kỵ binh đều khó có thể chịu đựng được năm thành thương vong, cho dù là quân đội Trung Nguyên huấn luyện có tố chất thì nhiều nhất cũng chỉ chịu đựng được bảy thành thương vong, chiến tử đến người cuối cùng, đây chẳng qua là hành động bất đắc dĩ trong tuyệt cảnh, một khi vượt qua cực hạn của chịu đựng, hoặc là lui lại, hoặc là bại lui, chứ không có lựa chọn thứ ba.
Hai mươi bảy vạn mũi tên nỏ sắt đã làm tổn thất một vạn năm ngàn kỵ binh, không chỉ có khiến kỵ binh Hung Nô đang tấn công không thể chịu đựng nổi, mà Lưu Báo cũng không nén được tức giận, liên thanh hô to:
- Rút quân! Rút quân!
Tiếng chuông rút quân gõ vang, một vạn năm ngàn kỵ binh còn lại như thủy triều về phía sau, Triệu Vân bắt được cơ hội này, lập tức hạ lệnh:
- Kỵ binh xuất kích!
Ba vạn kỵ binhquân Hán từ hai cánh chạy đi, vượt qua chiến trường đầy mũi tên sắt, sấm sét xuất kích, như gió bão mưa gào thẳng hướng đến kỵ binh Hung Nô chưa hoàn hồn. Lưu Báo bất đắc dĩ, nếu lúc này bại lui, bọn họ chắc chắn toàn quân tan tác, y đành phải hạ lệnh kỵ binh nghênh chiến.
Hai chi kỵ binh triển khai chém giết máu tanh trên vùng quê rộng lớn, rất nhanh, Triệu Vân suất lĩnh một vạn năm ngàn bộ binh, ba tổ phương trận trường mâu cũng đầu nhập vào chiến trường.
Bốn vạn năm ngàn người đánh với một vạn năm ngàn kỵ binh Hung Nô, dù kỵ binh Hung Nô đã gặp phải đòn tấn công của phong nỏ, tổn thất thê thảm và nghiêm trọng, nhưng một vạn năm ngàn kỵ binh này dù sao cũng được Lưu Báo huấn luyện nhiều năm, sức chiến đấu rất mạnh, cho dù trên tâm lý bị tổn thương nặng, trên binh lực cũng không bằng quân Hán, nhưng vẫn ngoan cường phản kích như cũ, quân Hán cũng chỉ hơi chiếm được thế thượng phong, ưu thế cũng không rõ ràng.
Một trận chiến này ước chừng đánh hơn hai canh giờ, sắc trời dần dần tối xuống, lúc này, Lưu Báo phái một gã sứ giả giơ cờ trắng tìm chủ tướng Triệu Vân, sứ giả ở trên lưng ngựa khom người nói:
- Sắc trời đã tối, hai quân hỗn chiến khó có thể nhận ra địch ta, Đại vương nhà ta đề nghị tạm thời dừng chiến, ngày mai lại tái chiến.
Triệu Vân cũng biết kỵ binh mới chiêu mộ này cũng vừa được huấn luyện ba tháng, chưa đủ ở phương diện đánh đêm, nhất là người Ô Hoàn hình thức giống người Hung Nô, đánh đêm khó mà phân biệt được, rất dễ gây ra ngộ thương, y liền gật gật đầu:
- Các ngươi có thể rời khỏi chiến trường, ta không đuổi theo là được!
Sứ giả chạy về bẩm báo với Lưu Báo, Lưu Báo có chút do dự, nếu y lui lại, lại bị quân Hán truy kích, vậy rất có thể tạo thành toàn quân tan tác, điều này làm cho y chậm chạp chưa quyết định được, lúc này, một gã Vạn phu trưởng bên cạnh nói:
- Đại vương, chủ soái đối phương là Triệu Vân, rất giữ chữ tín, danh dự cao, ta nghĩ hắn không dùng quỷ kế lừa chúng ta đâu.
Lưu Báo cũng biết trong đêm tối khó có thể chiến đấu, đành gật đầu:
- Truyền lệnh lui lại!
“Tu...”
“Tu...”
Tiếng kèn rút quân thổi dài liên tục, đây là mệnh lệnh rút quân của kỵ binh Hung Nô, gần ba vạn kỵ binh Hung Nô không tiếp tục chiến đấu nữa mà đều quay lại, nhanh chóng rút lui khỏi chiến trường. Triệu Vân cũng lập tức hạ lệnh:
- Để quân địch rút lui, không được đuổi theo!
Lúc này, đại tướng Lãnh Bao chạy lên nói:
- Quân địch gấp gáp rút quân, trận hình hỗn loạn, hơn nữa quân tâm không xong, ty chức nguyện dẫn mười ngàn kỵ binh truy kích, nhất định có thể đánh tan đối phương.
Bàng Đức và vài tên đại tướng cũng có ý tưởng này, cùng nhau nhìn Triệu Vân. Triệu Vân lắc đầu:
- Đối phương phái sứ giả đi gặp, ta đã nhận lời, lại không thể nói không giữ lời, truyền lệnh tam quân, lập tức chỉnh đốn đội hình, không được truy kích.
Tâm ý Triệu Vân đã quyết, mọi người cũng không cưỡng cầu nữa, đều chỉnh đốn quân đội, kiểm kê thương vong, cũng chậm rãi rút ra chiến trường, lúc này Trương Dực suất lĩnh năm nghìn Lưu thủ trường mâu quân đã thu dọn sạch mũi tên sắt đầy đất, đồng thời cũng giết chết hết những kỵ binh Hung Nô chưa chết hẳn.
Quân Hán rút lui đến thị trấn Táo Lâm nghỉ ngơi dưỡng thương, mà Trương Dực thì dẫn năm nghìn quân phòng ngự ở bốn phía, chờ trời sáng.
Pháp Chính làm mưu sĩ không tham chiến, y và một đám quan quân văn chức ở lại trong trấn Táo Lâm, có năm trăm binh lính bảo hộ, tuy rằng binh lính bảo hộ không nhiều, nhưng tin tưởng cũng không xảy ra vấn đề gì.
Năm trăm binh lính phô trương thanh thế, vô số đại kỳ cắm đầy trong ngoài trấn nhỏ, lại chuẩn bị mấy trăm trống lớn, đợi nếu thấy kỵ binh Hung Nô đến đánh lén thì sẽ nổi trống lên, thanh thế sẽ giống như có năm ngàn người, cho dù không dọa được quân địch đánh lén lui lại, cũng sẽ dẫn quân Hán đến trợ giúp, có quân sư ở đây, sao xảy ra chuyện gì được?
Cho nên chúng quan văn cũng rất thong dong, hoặc là chơi cờ, hoặc là đọc sách, hoàn toàn không hề giống như đang có chiến tranh, tuy nhiên Pháp Chính lại không nhàn rỗi như vậy, làm quân sư, y cần trù sách diệu kế, mưu tính toàn cục, mười dặm đang tiến hành đại chiến sinh tử, y lại tự giam mình trong phòng, đứng trước sa bàn cẩn thận cân nhắc đối sách.
Vào đêm, Pháp Chính đi qua đám binh lính đang ngủ say, bước nhanh vào lều lớn của Triệu Vân. Trong đại trướng, Triệu Vân đang nghe Trương Dực báo cáo, tìm hiểu tình hình tổn thất ngày hôm nay.
Đúng lúc Triệu Vân thấy Pháp Chính đi vào, vội vàng đứng lên cười nói:
- Quân sư tới vừa lúc, ta đang muốn phái người đi mời đây.
- Triệu tướng quân hôm nay khổ cực rồi.
Pháp Chính cười cười, cùng Triệu Vân ngồi xuống, thân thiết hỏi han:
- Nghe nói hôm nay cũng chưa phân thắng bại, song phương đều tự rút quân, không biết chúng ta tổn thất như thế nào?
Triệu Vân thở dài:
- Trước đó Hán Vương điện hạ có nói, nếu trận chiến hôm nay để giành chiến thắng không dựa vào chiến lực nhân mã, toàn bộ dựa vào công của phong nỏ, trận chiến này mới hoàn tất, ta mới biết Hán Vương đã có dự kiến trước, hôm nay nếu không có phong nỏ dương oai, trận chiến này quân Hán tất bại, mặc dù như thế, một trận chiến này quân Hán chết hơn bốn ngàn người, mà Hung Nô thương vong ước trên hai vạn, trong đó hơn phân nửa là bị phong nỏ bắn, còn lại là thương vong mã chiến tương đương với quân Hán.
Pháp Chính thấy vẻ mặt Triệu Vân nghiêm trọng, biết y là vì quân Hán thương vong thê thảm và nghiêm trọng, liền khuyên nhủ:
- Tướng quân không cần để tâm quá, Hung Nô ưu thế là chiến mã, quân Hán ưu thế là cung nỏ, từ xưa đã là như thế, chúng ta có phong nỏ, chẳng qua là kéo dài nhân lực, thắng là thắng rồi, tướng quân hẳn nên hài lòng về sự chênh lệch thương vong của hai vạn quân địch với thương vong bốn ngàn quân ta mới đúng.
Triệu Vân gật gật đầu, lại hỏi:
- Ngày mai chúng ta tiếp tục tác chiến với quân đội Hung Nô, tiếp tục đối cứng đánh bại quân Hung Nô hay là dùng mưu kế để thắng đây?
Pháp Chính suy nghĩ một chút nói:
- Ta tin tưởng hiện tại Tào Tháo hẳn là đã xuất binh, nhưng thắng lợi của chúng ta không thể ký thác hoàn toàn trên người Tào Tháo, chúng ta có thể phân chia hai sách lược gấp – chậm để ứng đối.
- Cái gì gọi là phân chia hai sách gấp – chậm, mời quân sư chỉ rõ.
- Cái gọi là sách lược gấp, chính là ngày mai nếu Hung Nô nghênh chiến, chúng ta có thể cho toàn quân áp lên, một trận chiến đánh tan quân địch, nếu ngày hôm nay Hung Nô không chịu ứng chiến, chúng ta đây liền chọn dùng kế sách chậm rãi, giằng co với quân địch, đợi Tào Tháo ở Tịnh Châu chiến đấu kịch liệt, Lưu Báo gấp gáp lui lại là lúc chúng ta tập trung binh lực, một đòn giành thắng lợi cuối cùng.
Triệu Vân trầm tư chốc lát nói:
- Kế sách chậm mặc dù không tệ, nhưng chỉ sợ quân đội Thiền Vu Hung Nô từ Lạc Xuyên đạo xuất đến, từ phía sau tập kích chúng ta, cùng với Lưu Báo hai quân tiền hậu giáp kích, đối với chúng ta cực kỳ bất lợi.
- Điểm này không cần quá lo lắng, năm vạn quân của Hán Vương bám chặt quân đội của Thiền Vu, chỉ sợ đến lúc đó chúng ta và quân của Hán Vương tiền hậu giáp kích Hô Trù Tuyền.
Triệu Vân chậm rãi đi đến trước sa bàn vừa mới đưa tới, nhìn sa bàn trầm tư, hiện tại vị trí của bọn họ cách huyện Cao Nô ước sáu mươi dặm, mà cửa ra của Lạc Xuyên đạo ở tây nam Cao Nô ước hai mươi dặm, cũng tức là bọn họ cách Lạc Xuyên đạo tám mươi dặm, nếu quân đội Hung Nô thật sự từ Lạc Xuyên đạo xuất đến, bọn họ cũng không thể chặn lại rồi.
Đúng lúc này, bên ngoài bỗng nhiên truyền đến những tiếng ồn ào, tiếng ồn ào càng lúc càng lớn, Triệu Vân mày hơi chau mày, đi ra lều lớn, hỏi:
- Xảy ra chuyện gì?
- Tướng quân, tuyết rơi!
Triệu Vân cả kinh, ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, chỉ thấy trong bầu trời tuyết lớn như lông ngỗng bay bổng, hôm nay là mùng một tháng mười, trận tuyết lớn đầu tiên đến sớm hơn mười ngày so với năm ngoái.
Chương 880: Tào Tháo xuất binh.
Sáng sớm hôm sau, tuyết lớn mù mịt đã bao trùm cánh đồng bát ngát, trong đất trời mù mịt sương bụi, tuyết lớn tuy rằng ít hơn so với ban đêm, nhưng vẫn rơi không ngừng nghỉ, gào thét ở trong gió bắc, cuốn đập trong đó, giống như tơ xe bay múa bao quanh khắp nơi.
Tuyết lớn mang đến niềm vui cho quân Hán, lại khiến quân đội Hung Nô như lâm trong tuyệt cảnh. Trong đại trướng, Lưu Báo khoanh tay đi qua đi lại, trong lòng cực kỳ lo lắng, y vừa mới nhận được tin phát nhanh do con cả Lưu La vừa gửi từ Tịnh Châu tới, Tào Tháo đã đích thân dẫn mười vạn đại quân từ Thái Nguyên xuất binh rồi, chia binh làm hai đường, con thứ Tào Chương dẫn ba vạn quân tấn công quận Tây Hà, mà Tào Tháo thì tự mình dẫn bảy vạn đại quân tiến công quận Nhạn Môn.
Trước mắt Lưu Báo còn lưu lại ba vạn quân đội ở Tịnh Châu, chủ yếu tập trung ở quận Nhạn Môn, cũng có chút ít ở quận Tây Hà và quận Định Tương, lấy ba vạn đấu với mười vạn, dữ nhiều lành ít.
Lưu Báo hy vọng Tào Tháo chỉ là bày ra vẻ, chứ không phải thực sự tấn công, nhưng lý trí nói cho y biết, quân đội Hung Nô ở Quan Nội thất bại, Tào Tháo rất có thể sẽ ném đá xuống giếng, muốn nhân cơ hội tiêu diệt Hung Nô Tịnh Châu.
Nghĩ phong thư phát nhanh là phát ra năm ngày trước, trong năm ngày này cũng không biết đã xảy ra bao nhiêu chuyện, Lưu Báo lập tức nóng lòng như lửa đốt, chỉ hận không thể lập tức rút quân về Tịnh Châu, nhưng quân Hán vẫn như hổ rình mồi, khiến y không dám làm gì, hơn nữa nghĩ đến mũi tên sắt uy lực hùng mạnh của quân Hán, trong lòng y lại sợ hãi từng đợt, nếu khi y qua sông, quân Hán phóng ra hai đợt tên nỏ, tất cả bè da dê đều sẽ bị chìm nghỉm.
Rút quân không được, lo lắng không thôi, trong lòng Lưu Báo dần dần trút nỗi hận lên Hô Trù Tuyền, nếu không phải lão ta viết thư lừa mình, làm mình đến Cao Nô tham dự bao vây tiễu trừ quân Hán chủ lực, mình làm sao có thể dễ dàng qua sông tây tiến, nếu y thật sự biết trước chân tướng, đánh chết y cũng sẽ không qua sông chui vào bẫy này.
Lưu Báo càng nghĩ càng hận, bị lừa gạt sỉ nhục và lo lắng đối với Tịnh Châu khiến trong lòng y phẫn uất không chịu nổi, rút kiếm hung hãn bổ tới cái bàn, chẻ cái bàn thành hai đoạn.
Nhìn cái bàn bị chém gãy, tức giận trong lòng Lưu Báo thoáng chốc được giải phóng, trong ý nghĩ khôi phục lại chút lý trí, hiện tại y còn có một tia hy vọng, tức là đợi Hoàng Hà kết băng, mấy ngày nữa Hoàng Hà sẽ bắt đầu kết băng, một khi kết băng đông lại rồi, bọn họ có thể nhanh chóng theo mặt băng lui lại về Tịnh Châu, chỉ hy vọng con trai cũng không chịu thua kém, tử thủ quan ải không ra, tranh thủ thời gian cho mình.
Đúng lúc này, một tên binh lính ở ngoài trướng vải bẩm báo nói:
- Khởi bẩm Đại vương, quân Hán ước hơn ngàn kỵ binh ở ngoài doanh khiêu chiến, yêu cầu cùng chúng ta quyết chiến.
Lưu Báo vừa tức vừa giận, đối phương chỉ phái hơn ngàn kỵ binh tới khiêu chiến, rõ ràng là đến sỉ nhục mình, mặt sau nhất định có giấu đại quân, nghĩ đến tên nỏ sắt lợi hại của quân Hán, trong lòng của y đã không còn ý chí chiến đấu nữa, y đành phải nuốt cơn giận này, phất tay nói:
- Không chiến, nếu chúng tới gần, dùng loạn tiễn bắn cho ta.
Ngoài đại doanh Hung Nô, Mã Đại suất lĩnh một ngàn kỵ binh đang chửi ầm ĩ:
- Hung Nô không có trứng, không dám ra ứng chiến, ông đây chỉ có một ngàn người cũng phải giết các ngươi tè ra quần!
- Ngươi không phải hùng ưng thảo nguyên, mà là chuột đất thảo nguyên, chỉ dám trốn ở trong hang liếm lỗ đít, bố đi tiểu cũng có thể làm các ngươi bị ngập chết.
Có hơn trăm binh lính lập tức nhảy xuống, đái về phía đại doanh Hung Nô, cười to ầm ĩ. Đây là việc hết sức sỉ nhục đối với người Hung Nô, nếu là binh lính của Hô Trù Tuyền, có lẽ nghe không hiểu bọn họ đang mắng cái gì, nhưng người Hung Nô Tịnh Châu sống ở Trung Nguyên lâu dài, phần lớn hiểu tiếng Hán.
Mấy ngàn binh lính Hung Nô tức giận nổi điên kêu to, nhưng lại không dám kháng lệnh giết ra ngoài, chỉ liều mạng bắn tên, hận không thể khiến loạn tiễn này bắn chết đám binh lính quân Hán đã làm nhục mình, nhưng cách xa nhau hơn hai trăm bước, làm sao có thể bắn được đến?
Kỵ binh quân Hán la mắng hơn một canh giờ, quân Hung Nô lại thủy chung không chịu đi ra ứng chiến, Mã Đại liền đã biết bọn họ không muốn tái chiến cùng quân Hán, một lòng chỉ muốn rút quân trở về, gã thấy huynh đệ cũng mắng mệt mỏi, liền cười nói:
- Đám người Hung Nô không có trứng này không dám ứng chiến, chúng ta về đi.
Một ngàn quân Hán kỵ binh gõ trống đắc thắng dương dương đắc ý trở về đại doanh ngoài ba dặm, lúc này, tuyết rơi xuống càng lúc càng lớn, trong thiên địa trở nên mênh mông mù mịt.
Tào Tháo rốt cục đã chờ được cơ hội xuất binh, khi quân đội Lưu Báo vượt qua Hoàng Hà, Tào Tháo sớm sốt ruột khó chịu nổi lập tức hạ lệnh toàn quân Bắc Phạt, cũng công bố hịch' Thảo Hung Nô” với thiên hạ.
Hơn một tháng vừa qua, Tào Tháo quả thật có áp lực rất lớn, Lưu Cảnh và Hung Nô đã chiến đấu từ tháng 8 tới tháng 11, mà lão lại trì hoãn án binh bất động, điều này đưa tới những dị nghị trong triều đình, dù sao Thiên tử hạ chiếu, Tào Tháo lão là chủ soái, Lưu Cảnh là phó soái, nhưng kết quả là, chủ soái không làm gì, nhưng phó soái lại đang tác chiến với Hung Nô.
Điều này làm cho nhiều người thầm mắng Tào Tháo mua danh chuộc tiếng, cướp đoạt công lao của Hán vương, hơn nữa những sĩ tộc này có thù hận sâu đậm với Tào Tháo lại tận hết sức tuyên dương với các vùng chung quanh, chỉ trích Tào Tháo luôn cầu hư danh tư lợi, tổn hại đại nghĩa dân tộc.
Áp lực chính trị vô cùng lớn khiến cho Tào Tháo nhưng đứng đống lửa, như ngồi đống than, nhưng khiến lão lập tức xuất binh quyết chiến với Lưu Báo thì lại không thể, Lưu Báo có tám vạn kỵ binh tinh nhuệ, mà lão chỉ chuẩn bị mười vạn đại quân, binh lực chênh lệch không nhiều, mà trên thực lực lại không bằng kỵ binh Hung Nô, nếu nóng lòng xuất binh chiến một trận, lão nhất định không thể nghi ngờ.
Nhưng Tào Tháo rốt cuộc đã chờ được thời khắc Lưu Báo xuất binh, khi thám báo truyền tin tức về Lưu Báo qua sông đến, Tào Tháo lập tức hạ lệnh đại quân bắc tiến.
Hung Nô Tịnh Châu ủng hộ Viên Thiệu đầu tiên, sau khi Viên Thiệu bại vong, Lưu Báo nhanh chóng đạt thành thỏa hiệp với Tào Tháo, xác định phân giới tuyến giữa song phương, lấy Tưu Thủy quận Hà Tây ở phía tây núi Lữ Lương làm ranh giới, phía nam Tưu Thủy là ranh giới thuộc Tào Tháo, phía bắc thuộc khống chế của Hung Nô, mà phía đông núi Lữ Lương còn lấy Thái Nguyên làm ranh giới, phía bắc Thái Nguyên là thuộc quyền sở hữu của Hung Nô, còn phía nam bao gồm địa khu phía nam và thành Thái Nguyên thì là địa bàn của Tào Tháo.
Tào Tháo bởi vậy chia binh làm hai đường, một đường do con thứ Tào Chương suất lĩnh, lướt qua núi Lã Lương, tiến binh vào quận Tây Hà, cũng theo quận Tây Hà bắc tiến quận Nhạn Môn, mà Tào Tháo thì dẫn bảy vạn chủ lực từ thành Thái Nguyên xuất binh về hướng bắc, thu phục toàn bộ quận Thái Nguyên, lập tức tiến công người Hung Nô chiếm cứ quận Nhạn Môn, cũng ở đó hội hợp với quân đội của con trai Tào Chương.
Quân Tào một đường hành quân về hướng bắc, liên tiếp thu phục Vu huyện, huyện Tĩnh Nhạc, huyện Dương Khúc. Ba ngày sau, đại quân tiến vào quận Nhạn Môn, thẳng đến huyện Lâu Phiền. Huyện Lâu Phiền là vùng thuộc vương trướng của Lưu Báo, trên thực tế chính là một trong hai căn cơ của Lưu Báo.
Địa thế của huyện Lâu Phiền tây cao đông thấp, phía tây bắc là quần sơn liên tiếp, mặt đông lại là đồi núi không ngừng, phân bố bãi cỏ núi cao rộng lớn.
Bởi quân Tào quy mô bắc tiến, người Hung Nô cũng theo hướng bắc mà dời đi, nhưng bởi vì huyện Lâu Phiền là môn hộ của quận Nhạn Môn, vị trí địa lý cực kỳ trọng yếu, một khi đánh hạ được huyện Lâu Phiền, quân Tào có thể tiến quân thần tốc theo môn hộ tiến vào quận Nhạn Môn.
Vì thế, người Hung Nô để lại tám ngàn quân đội đóng giữ ở huyện Lâu Phiền, phân chia đóng ở huyện thành Lâu Phiền và Vân Đỉnh quan, theo hiểm mà thủ, hai tòa thị trấn cách nhau không tới mười dặm, quân Hung Nô có thể hô ứng lẫn nhau.
Đại quân của Tào Tháo đóng hạ đại doanh cách thị trấn khoảng mười dặm, Tào Tháo vì thu phục Tịnh Châu cũng đã chuẩn bị toàn vẹn, lão bí mật phái thám báo vẽ bản đồ địa hình bắc bộ Tịnh Châu, cũng căn cứ theo bản đồ địa hình làm ra một sa bàn đơn giản, tuy rằng không quá tinh chuẩn nhưng cũng có thể miễn cưỡng sử dụng.
Tào Tháo đứng trức sa bàn cùng các mưu sĩ, đại tướng thảo luận về sách lược tiến binh, lão dùng cây gỗ chỉ vào thành Lâu Phiền, nói với mọi người:
- Đối với Vân Đỉnh quan, Lâu Phiền không tốn công nhiều lắm, từ sa bàn nhìn ra được tường thành Lâu Phiền cũng không cao, nhiều nhất chỉ có ba trượng, hơn nữa thám báo nói, trên thành cũng không có máy bắn đá, ước chừng có bốn năm ngàn người trấn thủ, chúng ta chỉ cần xuất binh một vạn là có thể đoạt được huyện thành Lâu Phiền, mấu chốt là làm thế nào cướp được Vân Đỉnh quan, đường hiểm ải cao, cho dù đoạt được nó cũng sẽ tổn thất thê thảm và nghiêm trọng.
Lúc này, quân sư Trình Dục vuốt râu cười nói:
- Vân Đỉnh quan thích hợp dùng kế để lấy, có lẽ thần có một kế, có thể lấy được Vân Đỉnh quan dễ như trở bàn tay.
Tào Tháo mừng rỡ:
- Trọng Đức có thể nói ra kế không?
Phụng mệnh cướp lấy huyện Lâu Phiền là đại tướng Từ Hoảng, Tào Tháo cho y ba vạn quân đội, mệnh y trong vòng một canh giờ phải đoạt được huyện thành Lâu Phiền. Từ Hoảng lập tức hạ quân lệnh trạng, nếu quá một canh giờ mà không đánh hạ được huyện thành, y sẽ phải sách đầu về.
- Thùng thùng thùng!
Tiếng trống trận vang lên, ba vạn đại quân hò hét rung trời, bao vây trùng trùng huyện Lâu Phiền, hai mươi máy bắn đá trọng hình ầm ầm chạy đến ngoài huyện thành hai trăm bước, đây là máy bắn đá hùng mạnh nhất của Tào Tháo, cao ba trượng, cán ném dài năm trượng, cần trăm người kéo phát, có thể ném tung tảng đá lớn trăm cân ra ngoài ba trăm bước.
Quân Tào đã học được vũ khí dầu dính tiên tiến của quân Hán, dùng vải bố sau khi ngâm dầu thì phơi khô, chế thành hỏa bố, lại đem hỏa bố bọc bao quanh, tao thành một quả cầu vải đường kính đạt năm thước, quả cầu vải được thoa dầu hỏa sau đó bắn đi.
Trong tiếng ra lệnh của Từ Hoảng, hai mươi máy bắn đá trọng hình đồng thời phóng ra, chỉ thấy hai mươi hỏa cầu lớn bay lên trời, khói lửa và lửa lớn bùng lên gào thét đánh vào bên trong thành, rất nhanh gây nên một trận hỏa lớn trong thành. Bên trong thành tụ tập mấy ngàn mục dân Hung Nô, bọn họ đều là bình dân Hung Nô từ các nơi trốn đến, không kịp rút về phía bắc đành phải trốn ở trong thành tị nạn, mà lúc này hỏa cầu tập kích xuống, phụ nữ, trẻ em và người già sợ hãi khóc gào chạy trốn tứ phía.
Hỏa cầu chủ yếu là dùng để dẫn hỏa, hơn nữa là để đối phó với doanh địa lều trại dày đặc, hỏa cầu có thể tạo nên hiệu quả lớn, nhưng công chiến trong thành, hiệu quả thực chiến của nó cũng không biểu hiện rõ, lực sát thương cực yếu đối với quân coi giữ.
Sở dĩ Tào Tháo quyết định chọn dùng hỏa cầu, chủ yếu là suy xét đến sự uy hiếp cực lớn của nó đối với tâm lý của người Hung Nô, tưởng tượng thấy một quả cầu lửa lớn ở trên đầu xẹt qua, đối với người Hung Nô chưa bao giờ thấy dầu hỏa sẽ sinh ra tâm lý sợ hãi, do đó phá hủy toàn bộ sĩ khí quân tâm của binh lính Hung Nô.
Quân Tào chỉ bắn hai đợt hỏa cầu đã làm cho quân đội Hung Nô khủng hoảng, bắt đầu có binh lính quăng mũ cởi giáp trốn xuống dưới thành chạy vào nhà dân.
Lúc này, Từ Hoảng lại lạnh lùng hạ mệnh lệnh công thành:
- Truyền lệnh công thành!
Ba vạn Tào quân reo hò, theo bốn phương tám hướng giống như thủy triều xông vào huyện Lâu Phiền, bọn họ khiêng những thang công thành lớn, vừa chạy vừa giơ cao tấm chắn, chống đỡ tên dày đặc từ trên thành phóng tới, dù không ngừng có người bị bắn trúng, nhưng không có cách nào ngăn cản quân Tào toàn lực tiến công.
Huyện Lâu Phiền không có sông đào bảo vệ thành, nhưng có một rãnh sâu, trong khe cắm đầy trường mâu sắc bén, nhưng quân Tào dùng tấm ván gỗ bắc qua rãnh sâu, mấy ngàn quân Tào dẫn đầu lên thành nam, đáp lên hơn mười thang công thành, nhiều đội binh lính quân Tào mạo hiểm mưa đá, cây lăn nện xuống như mưa vẫn từng bước tiến công lên đầu thành.
Không đến nửa canh giờ, binh lính quân Tào ở phía nam đã lên được đầu thành, song phương ở trên đầu thành tiến hành chiến đấu kịch liệt, Từ Hoảng cưỡi ngựa từ xa nhìn quân Tào công thành, y thở nhẹ ra một hơi, quân lệnh trạng là yêu cầu y trong vòng một canh giờ đánh hạ thành trì, hiện tại xem ra không đến nửa canh giờ là có thể đoạt được thành trì rồi.
Lúc này, một tên binh lính cửa thành hô to:
- Tướng quân, cửa nam thành đã mở!
Chỉ thấy cửa nam thành bắt đầu mở ra, cầu treo chầm chậm thả xuống, Từ Hoảng mừng rỡ, quay đầu lại hô lớn với năm nghìn binh lính hậu bị:
- Các huynh đệ, theo ta tiến vào thành.
Y vung đại phủ, suất lĩnh năm nghìn binh lính phóng về hướng cửa thành đang mở rộng, trong những tiếng hò hét vang dội, năm nghìn quân Tào công vào huyện thành.