Một lát sau, Giả Hủ đi vào quan phòng của Lưu Cảnh, quả thật là y đến vì chuyện Ngụy Ngô. Sau khi Lưu Cảnh nhận được thư bồ câu khẩn cấp, cũng sao một bản cho Giả Hủ.
Tuy nhiên, ánh mắt của Giả Hủ không khẩn trương, mà ngược lại còn nở nụ cười trên mặt. Thần thái thong dong này khiến cho Lưu Cảnh cảm nhận được một tia hy vọng. Nội tâm trầm trọng của hắn cũng trầm tĩnh lại một chút.
Giả Hủ tiến lên, khom người thi lễ:
- Tham kiến Điện Hạ!
- Quân sư, mời ngồi!
Lưu Cảnh mời Giả Hủ ngồi xuống, hắn cũng ngồi xuống, lại lệnh cho thị vệ dâng trà. Giả Hủ cười nói:
- Dường như Điện Hạ có chút tâm sự nặng nề, là vì chuyện Ngụy Ngô kết minh mà lo lắng sao?
- Đúng vậy!
Lưu Cảnh thở dài một hơi rồi nói:
- Hậu quả của việc Ngụy Ngô kết minh quá nghiêm trọng, ta không tài nào thoải mái đối diện được!
- Kỳ thực thần cảm thấy cũng không phải quá nghiêm trọng. Trước đây chúng ta vừa hứa hẹn, lại kết minh, thần cũng nhớ không rõ là đã bao nhiêu lần, nhưng có lần nào có thể kéo dài. Cái gọi là kết minh chẳng qua chỉ là nhu cầu chính trị nhất thời, trải qua giai đoạn đó cũng sẽ vứt đi, Điện Hạ cũng không cần quá lo âu. Huống chi uy hiếp của việc Ngụy Ngô kết minh đối với chúng ta không lớn.
Lưu Cảnh rúng động, liền hỏi:
- Ý của Quân sư là sao?
Giả Hủ uống một ngụm trà nóng, không chút hoang mang, nói:
- Cục diện mà Điện Hạ lo lắng suy nghĩ chẳng qua chỉ là hình thành thế chân vạc, Tào Tháo phá cục ở hướng đông nam, từ đó mà hoàn toàn phá hỏng bố cục bán vây mà chúng ta phi tâm cơ mấy năm mới hoàn thành. Nhưng thần cho rằng khả năng này không lớn. Muốn đạt được thế chân vạc, nhất định phải là thế lực ngang nhau, mà Giang Đông lại là một cái chân thọt, sao có thể làm một cái chân được?
Lưu Cảnh yên lặng gật đầu:
- Quân sư cứ tiếp túc nói.
- Đầu tiên, chính là lực lượng của Giang Đông quá nhiều, bản thân Giang Đông thì đất hẹp người thưa, khó có thể tích cóp lực lượng. Mà mấy năm trước, Tôn Quyền nhiều lần chiến bại, cuộc chiến Hợp Phì lại bị tiêu diệt toàn bộ mười vạn đại quân, cơ sở do Tôn Sách gầy dựng bị tổn thất hầu như không còn. Chính quyền Giang Đông đã lâm vào hoàn cảnh nguy hiểm cực độ, dân oán sục dôi, sắp sụp đổ đến nơi. Lúc này, Tôn Quyền nên học tập Tào Tháo, dốc hết khả năng nghỉ ngơi lại sức, giảm thuế, khôi phục dân sinh kinh tế.
Lưu Cảnh không kìm nổi, ngắt lời cười nói:
- Nhưng lúc này thì Tôn Quyền lại đi sai phương hướng.
- Chính là như thế!
Giả Hủ cũng cười nói:
- Có lẽ Tôn Quyền cũng nhận ra được nguy hiểm của chính quyền, nhưng y lại càng coi trọng quyền uy của mình bị đánh mất, địa vị không ổn, cho nên y nóng lòng tìm kiếm cơ hội chiến thắng, vãn hồi cục diện. Mà lúc này, quân Giao Châu lại vừa vặn bắc thượng Kinh Nam, khiến cho Tôn Quyền nhìn thấy cơ hội. Y không màng đến việc dân oán sục sôi, lại lần nữa gia tăng thuế phú, hao phí tiền lương xuất binh, cuối cùng sa vào vũng lầy lưỡng bại câu thương, chính là chiến dịch này đã dẫn đến sự phân liệt của Giang Đông. Thần vẫn hay nói với mọi người, Giang Đông phân liệt là kết quả tất yếu sau khi Giang Đông tiêu hao hết thực lực. Mặc kệ Giang Đông có thống nhất lần nữa hay không, nó vẫn không cách nào tái khôi phục lại sự hùng mạnh trước kia, thậm chí là một nửa cũng không đạt được. Cho nên mặc cho Tôn Tào kết thông gia cũng được, Ngụy Ngô kết minh cũng cũng được, Điện Hạ không cần phải đặt Giang Đông ở trong lòng.
Những lời nói của Giả Hủ, làm cho sự âu lo trong lòng Lưu Cảnh biến mất, trong lòng cũng phấn khởi. Lưu Cảnh cảm thán, đứng dậy thi lễ thật sâu với Giả Hủ:
- Lời nói của Quân sư, đã giải trừ áp lực trong lòng ta, Lưu Cảnh vô cùng cảm kích.
Giả Hủ xua tay cười nói:
- Lời này của Điện Hạ thật là xa cách. Dù sao thì thần cũng nhận lương bổng cao nhất ở Hán Quốc, không ra chút sức, bản thân thần cũng biết ngại chứ! Bằng không thì ngày mai thần liền mặc giáp trụ ra trận, liều cái mạng già này đi đánh một trận, Điện Hạ cảm thấy sao?
Lưu Cảnh cười phá lên, mấy tên thị vệ tâm phúc đứng bên cạnh cũng không nhịn được mà phì cười, quả thật là Quân sư rất là hài hước.
Lưu Cảnh lại ngồi xuống, hắn thu lại nụ cười, trầm ngâm chốc lát rồi nói:
- Tuy là nói như vậy, nhưng Ngụy Ngô kết minh quả thật sẽ ảnh hưởng đến cuộc chiến Hợp Phì. Sơ sẩy một chút, ta sẽ lâm vào hoàn cảnh hai mặt thụ địch. Quân sư có kế sách phá giải chưa?
Giả Hủ gật gật đầu:
- Đây chẳng qua chỉ là một lựa chọn về chiến thuật mà thôi. Thần có ba kế sách, Điện Hạ có thể cân nhắc một chút.
Tinh thần của Lưu Cảnh rung lên, liền nói:
- Xin Quân sư cứ nói!
- Thần thích dùng thượng trung hạ sách để biểu đạt.
Giả Hủ cười nói:
- Trước tiên thần nói về thượng sách, cái gọi là thượng sách chính là buông bỏ cuộc chiến Hợp Phì, quay lại tiến công Tịnh Châu hoặc là Lạc Dương. Như vậy, cho dù Tôn Quyền có lòng cũng không giúp được cái lo của Tào Tháo, trừ phi y không biết sống chết, lại đi tiến công Lư Giang hay Kinh Châu. Nhưng thần nghĩ khả năng không lớn, không biết Điện Hạ nghĩ như thế nào?
Lưu Cảnh trầm ngâm một hồi, lại nói:
- Hiện tại thời cơ tiến công Tịnh Châu hay Lạc Dương vẫn chưa chín muồi. Hơn nữa, chiến sự phương bắc giằng co, Tôn Quyền sẽ nhân cơ hội thống nhất Giang Đông, tiện đường thôn tính Giao Châu thực lực yếu nhất, giúp cho Giang Đông có thể phát triển an toàn. Thượng sách không thỏa đáng lắm, xin Quân sư hãy nói về trung sách.
- Trung sách chính là tiếp tục kế hoạch đã định, phát động cuộc chiến Hợp Phì. Về phía Giang Đông, chúng ta cứ gặp chiêu thì phá chiêu, hết sức tránh để hai mặt thụ địch, hoặc giả có thể lợi dụng thế lực phản đối trong nội bộ Giang Đông.
Lưu Cảnh ngẫm nghĩ một chút, cũng không vội tỏ thái độ, lại nói:
- Vậy hạ sách thì như thế nào?
- Hạ sách cũng là buông bỏ cuộc chiến Hợp Phì. Tuy nhiên tương phản với thượng sách, trước tiên Điện Hạ cưới con gái của Tào Tháo, cũng đạt thành giao kết ngầm với Tào Tháo, trong vòng hai năm không tiến công Hợp Phì. Sau đó tập trung binh lực, trực tiếp tiêu diệt Giang Đông trước. Không có Giang Đông nữa, liên minh Ngụy Ngô dĩ nhiên là không còn nữa.
- Quân sư cảm thấy, Tào Tháo sẽ để ta tiêu diệt Giang Đông sao?
Lưu Cảnh cười, hỏi ngược lại.
Giả Hủ lắc lắc đầu:
- Thẳng thắn mà nói, thần không biết, có lẽ Tào Tháo sẽ tuân thủ nghiêm lời hứa với Tôn Quyền, xuất binh cứu viện Giang Đông, hoặc từ Nam Dương, hoặc trực tiếp từ Nhu Tu Khẩu vượt sông, cũng đều có thể.
Lưu Cảnh thở dài:
- Nếu ta là Tào Tháo, ta sẽ không ngồi yên mà nhìn, nhất định sẽ xuất binh cứu viện Giang Đông. Bởi vì chỉ có Tôn Tào liên minh, mới là kế sách phá cục duy nhất.
- Nói như vậy, Điện Hạ vẫn lựa chọn trung sách?
Lưu Cảnh chậm rãi gật đầu:
- Đây là ý thật sự của ta.
Giả Hủ mỉm cười:
- Nếu Điện Hạ đã chọn trung kế, vậy thần có một đề nghị.
- Xin Quân sư hãy nói!
Giả Hủ đi đến trước sa bàn, nhặt một thanh gỗ chỉ về phía Nam Dương:
- Một chuyện mấu chốt trong phát động chiến dịch Hợp Phì, chính là nằm ở mối liên hệ giữa Trường An và Kinh Châu. Thần đề nghị trước tiên Điện Hạ hãy đoạt lấy Nam Dương, khai thông cửa ải Nam Tương, để cho binh lực và vật tư của Quan Trung có thể trực tiếp đưa đến Tương Dương, lại từ Tương Dương đi đường thủy đến Hoàn Khẩu. Đồng thời cũng có thể phòng ngừa quân Tào gây áp lực từ phía Nam Dương, ổn định hậu phương Kinh Châu.
Lưu Cảnh gật gật đầu:
- Đây là kế sách cao minh!
Lưu Cảnh khoanh tay đi vài bước, dứt khoát nói:
- Chiến dịch Hợp Phì liên quan đến việc trọng đại, ta muốn đích thân đi trấn thủ!
- Nếu như Điện Hạ đích thân đi Hợp Phì, chi bằng trước tiên hãy an bài tốt bên phía Trường An đi.
Lưu Cảnh gật gật đầu:
- Ta sẽ tạm thời trao quyền lực cho Bình Chương Đài!
Nói đến đây, Lưu Cảnh quay đầu cười nói với Giả Hủ:
- Bên phía Trường An, còn phải thỉnh cầu Giả công thay ta trấn thủ.
Giả Hủ hiểu ý của Lưu Cảnh, ngài muốn giao quyền lực nhất định cho mình, để mình giám sát Bình Chương Đài. Sự tín nhiệm này khiến Giả Hủ hết sức cảm động, y yên lặng gật gật đầu:
- Lão thần nguyện vì Điện Hạ cúc cung tận tụy!
Lưu Cảnh lập tức ra lệnh:
- Lệnh Phí Y đến gặp ta!
Một lát sau, Thượng thư Tòng quân Phí Y bước nhanh vào quan phòng, khom người thi lễ, nói:
- Tham kiến Điện Hạ!
Lưu Cảnh chậm rãi ra lệnh:
- Đi thông tri cho Bình Chương Đài, sáng mai cử hành triều hội đặc biệt. Tất cả quan viên lương bổng ngàn thạch trở lên đều phải tham gia.
Đêm đã dần khuya, đèn trong thư phòng vẫn sáng. Trước một chiếc sa bàn nhỏ, Lưu Cảnh đang khoanh tay đi qua đi lại, lâm vào trầm tư. Tuy rằng ban ngày hắn đã tiếp nhận đề nghị của Giả Hủ, trước tiên phát động cuộc chiến Nam Dương, khai thông cửa ải Nam Tương.
Nhưng việc này không chỉ là bổ sung quân đội và vận chuyển vật tư, quan trọng hơn là phải thành lập một tuyến liên lạc cấp tốc từ Quan Trung đến Tương Dương. Dù sao thì phần lớn tin tức đều dựa vào chim bồ câu đưa thư thì không có cách nào hoàn thành, vẫn cần phải có khoái báo tám trăm dặm.
Nhưng phát động cuộc chiến Nam Dương cũng không đơn giản như vậy, cần phải tìm hiểu quân chiếm đóng tại vùng Nam Dương. Từ tình báo trước mắt mà nói, Tào Tháo bố trí mười vạn đại quân ở Hứa Đô và Lạc Dương, chia làm ba mươi sáu quân, do Tiền tướng quân Hạ Hầu Đôn trấn thủ Lạc Dương thống soái.
Có lẽ là chịu ảnh hưởng của việc mình muốn đi Lạc Dương bái tế tông miếu, Tào Tháo càng coi trọng tuyến phòng ngự Lạc Dương, bố trí năm vạn đại quân. Mà ở Hứa Xương có ba vạn quân tiếp viện. Nhưng ở vùng Uyển Diệp quận Nam Dương chỉ có hai vạn quân đồn trú. Đây là nguyên nhân quan trọng mà Giả Hủ đề nghị khai thông cửa ải Nam Tương.
Nhưng hiện tại Lưu Cảnh đang suy nghĩ nếu đại quân tiến công nam Dương, ba vạn quân Tào ở Hứa Xương có thể kịp lúc đến tiếp viện hay không? Nếu quân Tào thăm dò được tình báo ở Quan Trung, Hạ Hầu Đôn nhận được tin tức lúc mình xuất binh Thương Lạc. Y sẽ lập tức điều quân Hứa Xương đến Nam Dương. Nhìn vào lộ trình, quân Tào ở Hứa Xương hẳn sẽ đến Nam Dương trước mình.
Mấu chốt là phòng ngự của Uyển Thành. Uyển Thành cao to kiên cố, nếu như quân Tào đông, việc công thành sẽ chậm chạp. Điều này sẽ phạm vào dự tính ban đầu khi mình xuất binh, ngược lại sẽ khiến cho quân Hán sa lầy ở Nam Dương, từ đó mà ảnh hưởng đến đại cục.
Trong lòng Lưu Cảnh hiểu rất rõ, Giả Hủ chỉ là đưa ra phương hướng, nhưng tỉ mỉ lại là do hắn đắn đo suy nghĩ. Tấn công Nam Dương không phải là xuất binh thì có thể giải quyết, nhất định phải cẩn thận suy xét, kế hoạch ăn khớp với nhau.
Lúc này, trong đầu Lưu Cảnh đã thông suốt mạch lạc, hắn đi đến trước cửa sổ, đẩy cửa sổ ra, một luồng gió lạnh phả vào mặt, lập tức khiến cho suy nghĩ của hắn đã thanh tỉnh trở lại rất nhiều.
Lúc này đã là trung tuần tháng giêng, trong không khí đã có một chút ấm áp đầu xuân, không còn cái rét thấu xương của mùa đông nữa. Tuyết đọng trên mái nhà cũng bắt đầu có dấu hiệu tan ra. Mặc dù băng trong ao vẫn chưa tan, nhưng mấy đứa trẻ con đã không thể trượt trên băng nữa, rất dễ dàng bị ngã vào trong nước băng. Mùa đông giá rét qua đi, ngày xuân lại đến. Mùa xuân này hắn sợ rằng sẽ phải ở Hợp Phì.
Lúc này, Lưu Cảnh nhìn thấy trên con đường mòn nhỏ trong hoa viên đằng xa xuất hiện hai ngọn đèn lồng. Hai ả thị nữ đang cầm đèn dẫn đường, phía sau có một người đi theo, mơ hồ thấy bóng dáng, hẳn là Tôn Thượng Hương. Bất luận là Tiểu Kiều dáng người thon thả mảnh khảnh, hay là Đào Trạm dáng người đầy đặn, đều không có cao gầy như vậy.
Lưu Cảnh nở nụ cười, Tôn Thượng Hương vội vàng tìm mình như vậy, sẽ có chuyện quan trọng gì đây?
Chương 918: Xuất binh Nam Dương
Một lát sau, có tiếng gõ cửa từ bên ngoài thư phòng truyền vào, chỉ thấy Tôn Thượng Hương mang theo một bình trà nóng đứng ngoài cửa.
- Đã trễ thế này, sao còn chưa nghỉ ngơi?
Tôn Thượng Hương nhìn hắn với đôi mắt xa xăm, trong lời nói mang theo một chút oán giận.
Lưu Cảnh cầm tay nàng, chỉ cảm thấy bàn tay lạnh như băng, liền kéo nàng vào phòng, giúp nàng chà xát đôi bàn tay sắp đông cứng, cười nói:
- Ta đang đợi Tử Long, lát nữa nếu y không đến, ta sẽ đi nghỉ.
- Đã trễ như vậy rồi, thời tiết lại giá lạnh, chắc là Triệu tướng quân sẽ không đến đâu!
Tôn Thượng Hương nói xong, liền ngồi xuống bên cạnh chậu than, rót một chén trà cho Lưu Cảnh.
- Uống trà trước đi! Sắp nguội rồi.
Lưu Cảnh nâng chung trà lên, chậm rãi uống một ngụm, lại liếc nhìn Tôn Thượng Hương một cách cẩn thận, phát hiện trên trán nàng dường như mang theo một sự sầu lo khó có thể nhận ra, liền cười nói:
- Tâm tình của nàng không tốt sao?
- Tâm tình của thiếp chính làn như vậy, chưa nói là tốt hay không tốt. Bản thân thiếp cũng không biết, tóm lại là cảm thấy có một sự mất mát không nói ra được.
Tôn Thượng Hương cúi đầu thở dài.
Lưu Cảnh ngồi sau lưng nàng, ôm nàng vào lòng ngực của mình, đặt tay lên eo nàng, hỏi:
- Vẫn đang canh cánh trong lòng vì chuyện của Tiểu Kiều à?
Tôn Thượng Hương lắc lắc đầu:
- Chuyện như thế này, tức giận thì cũng đã tức giận rồi. Thiếp cũng đã thấu hiểu, lấy thân phận của chàng, mới có mấy người phụ nữ như thế, đã xem như là rất tiết chế rồi. Thiếp không cần phải tức giận.
- Vậy thì vì sao? Chân mày của nàng lại khó có thể giãn ra.
Tôn Thượng Hương trầm mặc một hồi, thấp giọng hỏi:
- Phu lang, sẽ có một ngày chàng sẽ thật sự tiêu diệt Giang Đông hay sao?
Lúc này, Lưu Cảnh mới hiểu được nguyên nhân làm Tôn Thượng Hương lo âu, hóa ra là vì lo lắng cho cố quốc. Hắn suy nghĩ một chút, nói:
- Chưa nói đến việc tiêu diệt Giang Đông, chỉ nói đến sự thống trị của vương triều Đại Hán đối với Giang Đông. Từ trước đến nay bao gồm cả phụ thân và huynh trưởng của nàng, họ đều là Hán thần, trong tương lai gia tộc nàng vẫn là Hán thần, chẳng lẽ không được ư?
Tôn Thượng Hương rúc vào trong lòng của trượng phu, cúi đầu thở dài, nói:
- Kỳ thực thiếp cũng biết, thiên hạ thống nhất, dân chúng Giang Đông sẽ không chịu nỗi khổ chiến tranh nữa. Đây là chuyện tốt. Nhưng cuối cùng thiếp vẫn lo lắng cho gia tôc của mình.
Nói đến đây, nàng ngẩng đầu, hai mắt đẫm lệ, mông lùng nhìn chằm chằm vào Lưu Cảnh, nức nở nói:
- Đến ngày đó, phu lang sẽ tiêu diệt gia tộc của thiếp sao?
Lưu Cảnh thương cảm ôm nàng vào trong lòng mình thật chặt, nhẹ nhàng lau đi khóe mắt ngấn lệ, dịu dàng nói:
- Nàng phải hiểu, khó khăn của Tôn thị tuyệt không phải do ta dựng lên. Tôn Bôn chết rồi, mười mấy người con của lão bị giết hại gần như không còn, chỉ còn lại Tôn Du và tộc nhân Ngô Quận. Một khi quân Giang Đông công phá huyện Ngô, ta tin rằng huynh trưởng của nàng tuyệt sẽ không bỏ qua cho bọn họ. Ta thật sự rất hoài nghi, trong tương lai gia tộc Tôn thị sẽ chỉ còn sót lại một mình huynh trưởng nàng hay không?
Rốt cuộc, Tôn Thượng Hương cũng không kìm nổi, nằm trong lòng trượng phu khóc rống lên, Lưu Cảnh cũng không khuyên nàng, mà đợi nàng từ từ bình tĩnh trở lại. Rất lâu sau, tâm tình của Tôn Thượng Hương cũng đã ổn định trở lại, nàng đưa khuôn mặt xinh đẹp như hoa lê gặp mưa, cầu xin trượng phu:
- Phu lang, chàng nhất định phải cứu gia tộc của thiếp!
Lưu Cảnh chậm rãi gật gật đầu:
- Ta sẽ tận lực mà làm!
Lúc này, có tiếng bước chân dồn dập từ bên ngoài truyền đến. Một ả thị nữ đứng ở cửa, nói:
- Khởi bẩm Vương Gia, Triệu tướng quân cầu kiến!
Lưu Cảnh biết đêm nay Triệu Vân sẽ về, liền căn dặn:
- Mời Tướng quân đến ngoại thư phòng của ta chờ một chút, ta lập tức đến ngay!
Ả thị nữ đi rồi, Lưu Cảnh nâng Tôn Thượng Hương dậy, cười nói:
- Nàng về phòng trước đi, đêm nay ta sẽ phục vụ nàng cho tốt.
Tôn Thượng Hương lau nước mắt, yên lặng gật gật đầu, xoay người rời khỏi thư phòng. Lưu Cảnh nhìn theo bóng lưng của nàng, không khỏi lắc lắc đầu. Tuy rằng hắn cũng hy vọng lấy cái giá nhỏ nhất để giải quyết Giang Đông, nhưng rất nhiều chuyện không thể quá để ý đến tình cảm nữ nhi.
Sau khi bước sang năm mới, Triệu Vân cũng bận rộn hơn bình thường. Thê tử Lý thị của y đã có thai tám tháng, đây là đứa con thứ hai của Triệu Vân. Trong lòng y trông mong vô cùng, cũng tạm thời bỏ bớt công việc trong tay, hằng ngày bầu bạn với thê tử, cùng đợi đứa bé ra đời.
Nhưng Triệu Vân cũng tuyệt sẽ không vì tư mà bỏ bê việc công. Mắt thấy công tác chuẩn bị chiến đấu cho cuộc chiến Hợp Phì bắt đầu được khẩn trương thực hiện, trong lòng y cũng ngứa ngáy, hy vọng mình có thể tham gia đại chiến lần này.
Triệu Vân ngồi trong ngoại thư phòng của Lưu Cảnh uống trà chờ đợi. Lúc này, trong viện truyền đến tiếng bước chân. Tiếng cười của Lưu Cảnh vang lên:
- Muộn như vậy còn bảo Tử Long đến đây, thật sự là rất có lỗi!
Triệu Vân vội vàng đứng dậy, khom người thi lễ với Lưu Cảnh đang đi vào gian phòng, nói:
- Vi thần tham kiến Điện Hạ!
Mặc dù giữa Lưu Cảnh và Triệu Vân có giao tình không tầm thường, trước giờ lúc nào Lưu Cảnh cũng xem Triệu Vân như huynh trưởng, nhưng từ khi Lưu Cảnh được phòng làm Hán Vương, Triệu Vân liền cật lực duy trì đạo quân thần giữa bọn họ. Đây không chỉ là vì giữ gìn quyền uy cho Lưu Cảnh mà còn là vì tiền đồ của bản thân Triệu Vân. Từ xưa đến nay, quân thần quá thân mật, chưa chắc là chuyện tốt.
Lưu Cảnh cũng có thể hiểu được chỗ khó xử của Triệu Vân, hắn cũng không cố ý biểu lộ quân hệ đặc biệt với Triệu Vân nữa, lấy quân hệ quân thần mà nói chuyện.
Lưu Cảnh khoát tay cười nói:
- Chúng ta ngồi xuống rồi nói!
Triệu Vân ngồi xuống, y hỏi trước:
- Không biết tình hình ở Hà Tây như thế nào rồi?
- Hà Tây đã tạm thời ổn định, ta nghĩ trong vòng hai năm sẽ không có vấn đề gì. Nhưng thời gian lâu hơn một chút thì khó nói đây. Ta cũng hy vọng Mã Mạnh Khởi có thể tự giải quyết tốt.
Ngừng một chút, Lưu Cảnh lại nói tiếp:
- Nếu như Hà Tây không thể ổn định, là uy hiếp cực kỳ lớn đối với việc chúng ta đông chinh. Cho nên hiện tại chỉ cần người Khương không làm gì quá đáng, ta cũng sẽ dung thứ, đợi sau mùa thu sẽ cùng bọn họ tính sổ.
Triệu Vân gật gật đầu:
- Nghe nói Điện Hạ muốn đích thân tọa trấn Hợp Phì, đúng không?
- Tào Tháo cũng tọa trấn ở Hợp Phì, vì sao ta không đi. Lần này ta cũng vận dụng mười lăm vạn quân, một trận chiến Hợp Phì, sẽ quyết định đại thế thiên hạ trong mười năm tới, vô cùng quan trọng đối với chúng ta. Trận chiến này chúng ta phải dốc toàn lực.
Cuối cùng, Triệu Vân cũng không nhịn nổi, nói:
- Điện Hạ, ty chức cũng hy vọng có thể tham chiến!
Lưu Cảnh biết y sẽ có yêu cầu này, liền mỉm cười, nói:
- Con của ngươi sắp sinh rồi, hay là lần này ở lại đi! Hơn nữa, tuy rằng ngươi ở Quan Trung, nhưng ta vẫn muốn giao cho ngươi một nhiệm vụ quan trọng.
Triệu Vân cười khổ một tiếng. Nếu Lưu Cảnh đã nói như vậy, thế thì lần này sẽ không còn cơ hội cho mình nữa. Y đành phải yên lặng gật đầu:
- Thần nguyện phục tùng sắp xếp của Điện Hạ.
Lưu Cảnh lại nói:
- Lần này ngươi không chỉ chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn cho Trường An, mà còn nhất định phải làm chệch hướng quân Tào ở Lạc Dương, không để cho bọn họ nam hạ viện trợ Nam Dương, nói cách khác, cần phải đóng trọng binh từ năm vạn trở lên ở Đồng Quan. Một khi quân Tào có dị động muốn nam hạ, liền lập tức xuất quan uy hiếp Lạc Dương, khiến cho quân Tào không thể thủ vững Lạc Dương. Nếu như ngươi có thể làm tốt chuyện này, cũng chính là đại công.
Triệu Vân đã hiểu ý đồ của Lưu Cảnh, lập tức đứng lên nói:
- Ty chức tuân lệnh!
Thời gian dần trôi, đã đến canh một, màn đêm càng thêm thâm trầm, một chút hơi thở của mùa xuân cũng đã biến mất, gió đêm trở nên giá buốt đến tận xương, trên đường cái sớm đã không còn người đi đường, đến mèo hoang chó hoang cũng không lộ diện, mà trốn trong hốc sống qua đêm giá rét này. Chỉ còn lại từng đống tuyến đen bẩn, chất ở ven đường, chờ đợi thời khắc tan ra hoàn toàn.
Đúng lúc này, một bóng đen vội vã chạy từ ngoài cổng lớn phía tây, động tác hết sức nhanh nhẹn, nhưng cũng rất cẩn thận, thỉnh thoảng lại nhìn dáo dác bốn phía. Bóng đen đi thẳng đến trước cửa chính của một tửu lâu bốn tầng. Tiếng gõ cửa vang lên, một lát sau, cửa kẽo kẹt mở ra, bóng đen lách người vào tửu quán, cửa chính lập tức đóng lại.
Trong bóng đêm, một tên tiểu nhị tay cầm đen đi trước, bóng đen sắc mặt âm trầm đi sau. Chỉ thấy y tuổi tầm ba mươi, khuôn mặt gầy dài, ánh mắt lạnh lùng. Người này chính là thủ lĩnh tình báo của quân Tào ở Trưởng An Trương Dương, cũng chính là Trương Lư Nhi lúc trước.
Hiện tại y đã thăng quan, không ai dám gọi y là Trương Lư Nhi nữa, tuy nhiên mọi người cũng rất hâm mộ y. Lúc trước chẳng qua chỉ là tên tiểu nhị, cũng vì có quan hệ không tầm thường với Dương Thiêm, kết quả được Dương Thiêm đề cử làm người nối nghiệp.
Tửu quán này là một trong những điểm tình báo của quân Tào thiết lập tại Trường An, chủ yếu phụ trách việc liên hệ. Trương Dương vừa đi vào hậu viện, chưởng quỹ của tửu quán liền chạy ra nghênh đón, cuống quít thi lễ với Trương Dương. Chưởng quỹ họ Tần, khoảng bốn mươi tuổi, là một đầu mục tình báo nhỏ.
Trương Dương khoát tay:
- Có chuyện quan trọng muốn báo cáo, vào phòng rồi nói!
Hai người đi vào gian phòng, Trương Dương tiện tay đóng cửa lại, rồi mới lấy ra một bức tình báo, đưa cho Tần chưởng quỹ, nói:
- Đây là tình báo cơ mật vừa mới nhận được. Quân Hán chuẩn bị xuất binh khoảng mười vạn người đến Đồng Quan, do Triệu Vân thống soái, bất cứ lúc nào cũng chuẩn bị tiến công Lạc Dương. Xin Hạ Hầu tướng quân khẩn cấp chuẩn bị tốt.
Tần chưởng quỹ tiếp nhận tình báo đọc một lần, hỏi:
- Hiện tại phải xuất phát chưa?
- Đương nhiên là phải suốt đêm đưa đến Lạc Dương.
Tần chưởng quỹ gật gật đầu:
- Ty chức lập tức đưa đến Lạc Dương.
Buổi chiều hôm sau, Triệu Vân suất lĩnh năm vạn đại quân chuẩn bị xuất binh Lạc Dương. Đại quân trá xưng mười vạn, cử hành nghi thức xuất binh long trọng ở ngoài thành Trường An, bái tế mã thần tứ phương. Trong tiếng trống trận ầm ĩ, "Mười vạn quân" trùng trùng điệp điệp tiến về phía Đồng Quan.
Mà tối ngày hôm sau kể từ lúc Triệu Vân xuất binh, năm vạn đại quân khác đã vượt qua Trường An, bí mật đi về hướng tây nam. Đội ngũ đi nhanh trên quan đạo, lại đi về phía huyện Thương Lạc.
Phía trước đội ngũ là đội quân tiên phong của Bàng Đức, y dẫn sáu ngàn kỵ binh tinh nhuệ đi trước. Lưu Cảnh lại lệnh cho Ngụy Diên và Trương Nhậm làm Đại tướng tả hữu quân, Trương Dực làm Đại tướng hậu quân, Lưu Cảnh đích thân tọa trấn trung quân, Vương Bình làm kỳ bài quan. Năm vạn đại quân đêm khuya hưng binh, đi thẳng về phía Nam Dương.
Hai ngày sau, đội ngũ đã đến Võ Quan.
Địa thế Quan Tây tương đối bằng phẳng, xuất quan đi về phía đông, lách qua Diên Sơn mà đi, vách cao cốc sâu, chật hẹp khó đi. Vì vậy Võ Quan là vùng đất giao tranh của binh gia thời cổ đại. Quan thành (quan này là quan trong quan ải, không phải là quan trong quan phủ) được xây dựng ở trên một chỗ đất cao bằng phẳng giữa hạp cốc. Bắc dựa vào Thiếu Tập Sơn nguy nga, nam sát nơi hiểm yếu. Quan thành có chu vi ba dặm, tường thành cao to kiên cố, dễ thủ khó công.
Đội ngũ nghỉ ngơi chỉnh đốn ở trước Võ Quan. Các Đại tướng đều nhận được mệnh lệnh của Lưu Cảnh, đến trướng trung quân. Trong đại trướng, ngoại trừ Hán Vương Lưu Cảnh ra, còn có Quân sư Pháp Chính, Tòng quân Tần Mật. Ngoài ra, còn có Võ Uy tướng quân Lưu Hổ, có thêm Thiên tướng như Bàng Đức, Trương Nhậm, Ngụy Diên, Trương Dực, mấy mươi quan quân từ Giáo úy trở lên tề tựu trong trướng.
Trong đại trướng có đặt một cái sa bàn khổng lồ, dài khoảng ba trượng, rộng hai trượng, do sa bàn các cùng Quan Trung, Kinh Châu cùng với Trung Nguyên ghép thành. Pháp Chính tay cầm khúc gỗ dài, giới thiệu với mọi người về bố trí của lần tấn công Nam Dương này.
- Lần này tấn công Nam Dương, quân đội của chúng ta có khoảng bảy vạn người. Ngoại trừ nam vạn chủ lực chúng ta từ Quan Trung nam hạ, còn có hai vạn quân do Chủ tướng Tương Phàn Văn Sính suất lĩnh. Mà quân địch chỉ có ba vạn người, do Đại tướng Tào Hồng và Phó tướng Lý Điển thống soái. Xét về số lượng quân đội, chúng ta chiếm ưu thế tuyệt đối. Tuy nhiên có một chuyện, chúng ta phải đặc biệt lưu ý!
Chương 919.1: Điều binh khiển tướng
Pháp Chính thấy ánh mắt của mọi người đều bị hấp dẫn đến chỗ y, y liền khẽ ho khan một tiếng, rồi mới cầm thanh gỗ chỉ vào Uyển Thành, không chút hoang mang, nói:
- Chỗ khó nhất quận Nam Dương chính là Uyển Thành. Sau khi Tào Tháo phá Trương Tú đã trùng tu Uyển Thành, thành trì càng cao to kiên cố hơn, vô cùng khó tấn công. Ta nghĩ, Bàng tướng quân hẳn là rất hiểu rõ điều này.
Ánh mắt của mọi người đều đổ dồn về phía Bằng Đức. Sau khi Bàng Đức theo Mã Siêu đầu hàng Lưu Cảnh, vẫn được an bài ở Tân Dã, từng tham dự mấy lần tác chiến với quận Nam Dương, thậm chí còn từng đóng giữ Uyển Thành, có thể nói là hiểu rõ tình hình của Uyển Thành như lòng bàn tay, y gật gật đầu nói:
- Quân sư nói không sai, Uyển Thành quả thật là rất khó tấn công. Uyển Thành có một cách gọi khác là "Lấy một địch ba", nói cách khác, Uyển Thành đóng quân một vạn, có thể chống đỡ được ba vạn quân công thành. Mà Uyển Thành vẫn là trọng địa hậu cần để quân Tào tiếngc ông Tương Phàn, trong thành dễ đào giếng, ít nhất có thể thủ vững được một năm.
Tất cả mọi người đều biết Bàng Đức là người chân thật, sẽ không nói ngoa. Y đã nói như vậy, thì rõ ràng là Uyển Thành quả thật cực kỳ khó tấn công. Nếu như Nam Dương thật sự có ba vạn quân đóng ở đây, vậy há chẳng phải là cần đến chín vạn người để tấn công Uyển Thành sao? Trong lòng mọi người không khỏi dâng lên một sự trầm trọng.
Pháp Chính lại mỉm cười, nói:
- Tuy nói là Uyển Thành khó mà tấn công, nhưng chúng ta vẫn có cơ hội. Đó chính là ba vạn quân của quận Nam Dương không phải toàn bộ đều đóng quân ở trong Uyển Thành.
Tất cả mọi người đều rúng động, quả thật hẳn là như vậy. Bàng Đức lại tiếp lời, cười nói:
- Năm đó chúng ta chiếm lĩnh quận Nam Dương, gặp phải quân Tào phản công quy mô lớn. Quân Tào đã lấy phương thức dùng kỵ binh đột kích để ngăn chặn quân đội các nơi của chúng ta tụ tập tại Uyển Thành. Lần này chúng cũng có thể dùng biện pháp này.
Lúc này, Lưu Cảnh, ngồi bên cạnh từ nãy đến giờ mà vẫn chưa nói gì, lại cười phá lên:
- Cách nghĩ của Bàng tướng quân hay lắm. Lần này ta điều sáu ngàn kỵ binh tinh nhuệ làm tiên phong, chính là muốn bắt chước chiến thuật năm đó của quân Tào.
Bàng Đức liền khom người nói:
- Ty chức tuân lệnh!
Lưu Cảnh gật gật đầu, lại cười nói với Pháp Chính:
- Xin mời Quân sư nói tiếp!
Pháp Chính chậm rãi nói:
- Căn cứ theo tình báo do Văn tướng quân cung cấp, quân Tào ở Nam Dương tổng cộng đóng quân ở bốn nơi. Đầu tiên là huyện Uyển, ước chừng một vạn quận, do Tào Hồng thống soái, sau đó là huyện Diệp.
Thanh gỗ của Pháp Chính lại chỉ về phía huyện Diệp, tiếp tục nói:
- Huyện Diệp là môn hộ của Hứa Xương, địa vụ chiến lược cực kỳ quan trọng, năm đó từng bị Liêu Hóa tướng quân cùng Lý Phù tòng quân phá được. Kể từ đó quân Tào đã bố trí binh lực gấp bội ở huyện Diệp, binh lực của huyện Diệp cũng có một vạn, do Đại tướng Lý Điển thống soái. Kế đến là huyện Dục Dương phòng ngự Tương Phàn và huyện Nam Hương phòng ngự Quan Trung, mỗi nơi có năm ngàn quân. Nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta chính là tập kích Nam Dương, ngăn chặn quân đội các nơi tụ tập ở Uyển Thành.
Bàng Đức trầm tư một lát, lại nói:
- Quân sư muốn sáu ngàn kỵ binh của ta phân ra ba đường sao?
- Không! Chia binh hai đường là được.
Pháp Chính dùng thanh gỗ chỉ vào huyện Dục Dương cười nói:
- Hán Vương Điện Hạ đã hạ lệnh cho Văn Sính tướng quân, hẹn canh ba đêm nay, Văn Sính tướng quân sẽ dẫn quân Tương Phàn bao vây Dục Dương. Bàng tướng quân chỉ cần ngăn chặn hai đội quân của huyện Nam Dương và huyện Diệp là được.
Trong lòng Bàng Đức lại yên lặng tính toán khoảng cách một chút. Từ Võ Quan đến huyện Nam Dương cách xa trăm dặm, quan đạo cũng không bằng phẳng lắm, muốn chạy đến huyện Nam Hương trước canh ba, quả thật rất khẩn trương về thời gian. Y liền ôm quyền thi lễ với Lưu Cảnh:
- Khởi bẩm Điện Hạ, ty chức muốn lập tức suất quân xuất phát!
Lưu Cảnh gật gật đầu:
- Có thể đi!
Bàng Đức lại thi lễ, xoay người rời khỏi đại trướng. Lúc này, Lưu Cảnh chậm rãi nói với mọi người:
- Đoạt lấy Nam Dương chỉ là một phần của đại chiến Hợp Phì, mục đích là khai thông cửa ải Nam Tương. Tuy rằng Nam Dương và Hợp Phì cách nhau khá xa, nhưng chiến dịch Hợp Phì liên quan đến toàn cục, cho nên chiến dịch sẽ không chỉ bùng phát ở khu vực Hợp Phì. Ngoài quận Nam Dương ra, còn có quận An Lục, vì đề phòng quân Tào từ Trung Nguyên nam hạ quận An Lục, chúng ta nhất định phải tăng mạnh phòng ngựa của Nghĩa Dương tam quan, cũng chính là Võ Thắng Quan, Cửu Lý Quan, Bình Tịnh Quan. Bảo vệ được ba quan ải này, quân Tào không có cách nào từ Trung Nguyên đánh vào quận An Lục. Trương Dực tướng quân đâu?
Trương Dực là tướng lĩnh quan trọng của hệ nam phương Ích Châu, cũng chính là tướng lĩnh đất Ba do Nghiêm Nhan làm thủ lĩnh, trong đó gồm có các Đại tướng như Trương Dực, Vương Bình. Trương Dực giỏi về thủ thành, lúc đầu Lưu Cảnh đã muốn xem xét việc để cho Tương Dực thủ Uyển Thành, nhưng nếu như vậy sẽ làm cho bên phía Văn Sính khó xử, cho nên Lưu Cảnh quyết định để cho Trương Dực trấn thủ quận An Lục.
Trương Dực tiến lên khom người nói:
- Ty chức ở đây!
Lưu Cảnh trầm giọng nói:
- Ta phong ngươi làm Dô úy quận An Lục, sau cuộc chiến Nam Dương, có thể dẫn một vạn quân đến quận An Lục, tiếp quản Nghĩa Dương tam quan. Chỉ cần bảo vệ được Nghĩa Dương tam quan, ta liền coi như ngươi lập được một đại công.
- Mạt tướng tuân lệnh!
Lưu Cảnh bố trí xong quân đội, lại cao giọng nói với mọi người:
- Hy vọng các vị anh dùng tác chiến, dùng thời gian ngắn nhất để đoạt lấy quận Nam Dương.
Mọi người cùng khom người thi lễ:
- Nguyện vì Điện Hạ phục vụ quên mình!
Từ khi Trình Dục dẫn đại quân đoạt lấy quân Nam Dương, bên phía Nam Dương vẫn nằm trong trạng thái đình chiến, quân Hán không vượt qua biên giới nữa. Cùng với việc chiến sự yên ổn mấy năm nay, dân sinh của quận Nam Dương dần dần khôi phục, thương nghiệp truyền thống cũng bắt đầu sôi động hẳn lên.
Bởi vì quận Nam Dương có địa vị chiến lược đặc thù, nam có thể đến Kinh Tướng, bắc thông Lạc Dương Hứa Đô, tây có thể vào Quan Trung và Hán Trung, đông thì giáp với Nhữ Dự. Vị trí đầu mối giao thông then chốt như vậy, khiến cho quận Nam Dương từ xưa đã buôn bán phát đạt, trên quan đạo dễ dàng bắt gặp các thương đội từ trời nam đất bắc.
Chương 919.2: Điều binh khiển tướng
Đúng ngọ, một thương đội gồm mấy mươi người và mấy trăm con la ngựa chở đầy hàng hóa từ đằng xa chầm chậm đi trên quan đạo. Những thương nhân này người nào người nấy dáng người tráng kiện, tinh thần dồi dào, khác nhau rất nhiều với những thương nhân bình thường phong trần mệt mỏi.
Thương đội này chính là đội thám báo đặc biệt do Phó thống lĩnh Ưng Kích Quân Nhâm Bình chỉ huy. Mục tiêu của bọn họ đương nhiên là muốn đi vào Uyển Thành. Tuy nhiên, trên đường bọn họ đã nhận được tin tức từ chỗ các thương đội khác, Tào Hồng phòng ngự cực kỳ nghiêm mật Uyển Thành, đã không còn cho thương đội từ ngoài vào thành. Y đặc biệt dời chợ ở trong Uyển Thành ra ngoài thành phía tây, gọi là chợ phiên, yêu cầu tất cả thương nhân đều phải giao dịch ở ngoài thành.
Không chỉ như thế, người vùng khác từ ba người trở lên cũng không được vào thành. Đây là quy củ do Trình Dục định ra năm đó, vẫn được Tào Hồng chấp hành một cách nghiêm khắc. Thương đội mấy chục người như bọn họ, căn bản là không có cơ hội vào thành.
Tuy rằng Uyển Thành kiểm tra nghiêm khắc, nhưng cũng không phải là không có cách, ví dụ như có thể phân tán ra rồi tự vào thành. Tuy nhiên, như vậy quá mất thời gian, cũng tương đối nguy hiểm. Nhâm Bình quyết định chọn dùng một phương pháp khác.
Cùng đi với Nhâm Bình đến Uyển Thành, ngoài bốn mươi ba tên thủ hạ ra, còn có Huyện lệnh huyện Trường An Đặng Hồng. Đặng Hồng thuộc gia tộc Đặng thị, một trong tam đại vọng tộc của Nam Dương, là con trai của Đặng Nghịa. Năm đó y và Thôi Thực, Tuân Chí cùng nhau trúng tuyển ở Tương Dương, trước kia được phái đi huyện Hoa Dương, Nam Quận để làm Chủ bộ, từng bước được thăng làm Huyện thừa và Huyện lệnh. Y làm việc kiên định, làm quan thanh liêm, có tiếng tăm rất tốt trong dân chúng.
Mùa hè năm ngoái, y được điều đến Quan Trung đảm nhiệm chúc Huyện lệnh huyện Trường An, bởi vì Trường An là đô thành, nên trên thực tế y đã mang quan giai tương đương với Quận thừa, trở thành người nổi bật trong lớp trẻ.
Bạn tốt của y Thôi Thực và Tuân Chí cũng không tồi. Mùa thu năm ngoái, Thôi Thực đã đảm nhiệm chức Thái thú Linh Lăng, mà vào năm kia thì Tuân Chí đã đảm nhiệm chức Thị ngự sử, chủ quản việc quan phủ tuần tra của Kinh Châu. Ở Trường AN đã truyền ra tin tức, sau khi nhiệm kỳ này của Tuân Chí kết thúc, rất có thể y sẽ được thăng làm Ngự sử Trung thừa.
Lần này, Đặng Hồng được Lưu Cảnh đặc biệt điều vào trong quân, làm một nhân vật quan trọng trong việc tấn công Nam Dương. Trong tam đại sỹ tộc quận Nam Dương, ngoại trừ Đặng gia ra, còn có gia tộc Hoàng thị của Lão tướng quân Hoàng Trung, cùng với gia tộc Trương thị của Trương Trọng Cảnh sở tại.
Tuy rằng Đặng Hồng làm quan ở Hán Quốc, nhưng dù sao y cũng là đích trưởng tử của gia tộc Đặng thị, có địa vị cực cao trong gia tộc, rất nhiều tộc nhân đều nhận ra. Đợi sau khi phụ thân Đặng Nghĩa của y qua đời, thì sẽ do Đặng Hồng tiếp nhận vị trí gia chủ.
Một đoàn người cách Nam Dương không đầy mười dặm, xa xa có thể thấy được tường thành hùng vĩ, giống như một con rồng vắt ngang trước mắt bọn họ. Hai bên quan đạo là đồng ruộng mênh mông bát ngát, cách đó không xa còn có những mảnh rừng cây cối xanh tốt, đứng sừng sững giữa những cánh đồng. Băng tuyết của vùng Nam Dương đã tan, đất đai đã nảy mầm những cây lúa mạch non xanh mượt, tiểu mạch vụ đông đã vượt qua mùa đông giá lạnh, bắt đầu sinh sôi nảy nở.
Đến giữa trưa, người đi trên quan đạo đã trở nên nhiều hơn, phần lớn đều là nông dân của vùng phụ cận, cũng có người giàu có đến Uyển Thành thăm người thân, ngồi trên xe ngựa rộng rãi, còn có không ít thương đội như bọn họ, hoặc là thương đội lớn có mấy trăm con la ngựa, hoặc là thương đội nhỏ mười mấy con la ngựa. Bọn họ đều đi đến chợ phiên ngoài thành phía tây.
- Đặng công tử, đây đều là đất đai của nhà công tử đó hả?
Nhâm Bình dùng roi ngựa chỉ về cánh đồng hai bên cười nói.
- Phía nam thì phải, phía bắc thì không phải. Phía bắc là đất đai của Hoàng gia, ít hơn Đặng gia mấy khoảnh.
- Nghe nói Đặng gia có năm trang viên ở quận Nam Dương, đây chỉ là một trong số đó à?
- Cũng không còn cách nào khác, nhân khẩu của Đặng gia khá là đông.
Đặng Hồng thản nhiên cười, chuyển đề tài. Y chỉ vào ngã ba trước mặt, nói:
- Nhâm đông chủ, đến ngã ba phía trước, chúng lại vòng sang hướng nam, đi thêm khoảng năm sáu dặm nữa thì đến.
Nhâm Bình gật gật đầu, quay đầu lại dặn dò:
- Tất cả đi theo, đừng để bị lạc.
Mọi người gia tăng tốc độ, rất nhanh đã đến trước ngã ba, lại đi vòng về hướng nam, đi khoảng năm sáu dặm, một tòa trang viên cổ xưa xuất hiện trước mắt bọn họ. Trang viên chiếm mấy trăm mẫu đất, ngoại trừ mười mấy kho hàng lớn ra, còn có mấy căn nhà bằng gỗ có hai tầng, chính là nơi ở của hơn trăm hộ tá điền.
Đây là trang viên Uyển Thành, một trong năm tòa trang viên của Đặng gia. Gần ba mươi khoảnh đất xung quanh đều thuộc về sở hữu của Đặng gia, do một người chấp sự phụ trách. Đặng Hồng thúc ngựa chạy vào trang viên, hô to:
- Long thúc có ở đây không?
- Công tử, là ngài sao?
Một ông lão tuổi tầm năm mươi từ trong căn nhà gỗ chạy ra, nhìn Đặng Hồng kích động vô cùng. Lúc này, có rất nhiều gia đinh đều đi ra thi lễ với Đặng Hồng, có mấy tên gia định vội vàng chạy vào trong nhà gỗ.
Nhâm Bình ở cách đó không xa lại cảm thấy có chút không ổn. Quá nhiều người biết Đặng Hồng trở về, sẽ mạo hiểm. Dù sao Đặng Hồng cũng là quan viên của Hán Quốc, một khi bị Tào Hồng biết được, y có phái người đến thẩm tra hay không?
Nhưng hiện tại phát hiện chuyện không ổn thì đã muộn rồi, Nhâm Bình đành phải áp dụng kế sách dự phòng, một khi vào thành, phải lập tức rời khỏi Đặng gia. Lúc này Đặng Hồng quay trở lại, cười nói:
- Nhâm đông chủ mời vào! Phụ thân ta vừa hay đang ở trong trang viên.
Nhâm Bình gật gật đầu, dẫn theo thủ hạ tiến vào nông trang Đặng thị. Bọn họ nghỉ ngơi ăn cơm trưa trong nhà gỗ. Khoảng nửa canh giờ sau, Đặng Hồng vội vã đi vào gian phòng, nói với Nhâm Bình:
- Nhâm đông chủ, xin mời đi theo ta!
Nhâm Bình căn dặn mọi người mấy câu, rồi mới đi theo Đặng HỒng đến một tòa nhà gỗ to lớn khác, đi thẳng vào trong phòng, chỉ thấy trong phòng có một lão nhân hai chân bị tật, tóc hoa râm, khuôn mặt gầy, chính là gia chủ Đặng Nghĩa của Đặng thị, cũng là phụ thân của Đặng Hồng, Trị trung Kinh Châu năm đó, ở Kinh Châu và Nam Dương đều có được uy vọng rất cao.
Mặc dù Tào Hồng cũng biết Đặng Nghĩa thiên về Kinh Châu, nhưng y có rất nhiều việc phải cầu cạnh Đặng Nghĩa, vô cùng khách khí với ông. Trên nhiều phương diện, Đặng Nghĩa cũng rất phối hợp với Tào Hồng, hai người cũng đã kết chút giao tình.
Nhâm Bình khom người thi lễ nói:
- Giáo úy quân Hán Nhâm Bình tham kiến Đặng công!
Từ miệng của con trai, Đặng Nghĩa đã nghe được tin tức quân Hán muốn tấn công quận Nam Dương, cũng biết là Hán Vương Lưu Cảnh đích thân dẫn quân tây tiến. Điều này khiến trong lòng ông giật mình. Lần này không tầm thường, chỉ e là quân Hán muốn chiếm lĩnh hoàn toàn Nam Dương rồi.
Dựa vào trí tuệ chính trị mấy mươi năm, Đặng Nghĩa đã biết mình phải xử lý việc này thế nào. Ông cười nói với Nhâm Bình:
- Ta có thể trợ giúp Tướng quân và thuộc cấp vào thành. Tuy nhiên, bên trong Đặng phủ có quân Tào đóng quân, trên danh nghĩa là bảo hộ nhưng trên thực tế là giám thị. Ta không thể dẫn các ngài vào Đặng phủ, hy vọng Nhâm tướng quân có thể hiểu cho.
Nhâm Bình lập tức nói:
- Cảm tạ Đặng công ủng hộ. Chúng ta không cần đến Đặng phủ, chỉ cần có thể vào Uyển Thành, chúng ta có thể tự mình sắp xếp.
Đặng Nghĩa mỉm cười:
- Bây giờ Uyên Thành không giống trước kia. Tào Hồng có treo giải thưởng, người vùng khác tập kết trên năm người, chỉ cần dân chúng tố cáo, có thể được trọng thưởng, cho nên các ngài vào thành cũng không thể tự tiện đi tìm lữ xá linh tinh, ta sẽ an bài chỗ ở cho các ngài. Ngoài ra, binh khí các ngài cần, Đặng gia cũng có thể cung cấp, cũng may là nhân số của các ngài không nhiều, nếu vượt qua năm mươi người thì ta cũng vô lực thôi.
- Đa tạ Đặng công, không biết chúng ta vào thành như thế nào?
- Nói đến thì cũng thật là khéo. Mấy hôm nay Tào Hồng mượn của ta một vạn thạch lương thực, cho nên hôm nay ta đến trang viên kiểm kê lương thực. Nếu các ngài không ngại ủy khuất, có thể giả dạng làm trang đinh của Đặng gia, mang lương thực vào thành!
Nhâm Bình trầm tư một hồi. Tuy rằng y cảm thấy đó không phải là phương án tốt nhất, nhưng ngoại trừ các này ra, y cũng không còn lựa chọn khác. Nhâm Bình đành phải gật gật đầu, khom người cảm tạ, nói:
- Đa tạ Đặng công đã an bài!
Chương 920: Dị động ở Uyển Thành
Đây là lần thứ hai Tào Hồng phụng mệnh trấn thủ Nam Dương. Tròng lần đầu tiên trấn thủ Nam Dương, bởi vì bị Văn Sính dẫn quân bất ngờ tập kích Nam Dương, khiến cho Tào Hồng đánh mất Uyển Thành, bị Tào Tháo khiển trách nặng nề. Mặc dù vậy, nhưng cuối cùng Tào Tháo vẫn bổ nhiệm Tào Hồng trấn thủ Nam Dương.
Nhận được bài học của lần thứ nhất, Tào Hồng khiêm tốn thỉnh giáo Trình Dục về kế sách thủ Nam Dương, Trình Dục dạy y ba kế sách. Thứ nhất là nghiêm cấm người ngoài tùy ý ra vào Uyển Thành, thứ hai là canh phòng nghiêm mật nội ứng, chú ý nhất cử nhất động của thế gia Nam Dương, thứ ba là gia cố phòng ngự của thành trì, chặn hết các lỗ hổng phòng ngự.
Tào Hồng theo đó mà nghiêm khắc chấp hành ba kế sách do Trình Dục chỉ bảo. Y dời nơi họp chợ ra ngoài Uyển Thành, nghiêm cấm thương nhân ngoại lai vào thành. Cho dù là người đến thăm người thân bạn bè, cũng phải nghiêm khắc kiểm tra đăng ký.
Sau đó là thực thi lệnh giới nghiêm vào ban đêm. Sau khi trời tối, tất cả cửa hàng tửu quán trong Uyển Thành nhất định phải đóng cửa, dân chúng bình thường không được ra phố. Người làm trái lại lệnh giới nghiêm, bất luận là thân phận gì, lần đầu tiên thì diễu phố cảnh cáo, lần thứ hai thì lập tức chém đầu thị chúng.
Về phần canh phòng nội ứng, Tào Hồng chủ yếu là giám sát mười tám gia tộc trong nội cảnh Nam Dương. Đặc biệt là ba đại gia tộc, Đặng thị, Trương thị và Hoàng thị, Tào Hồng phái người giám sát nghiêm mật.
Mặc dù đại đa số gia tộc của quận Nam Dương đều tỏ thái độ ủng hộ Tào Tháo, nhưng Tào Hồng không tin tưởng thành ý của bọn họ. Y biết rõ đa phần thế gia vọng tộc trong thiên hạ đều ủng hộ Hán Quốc ở Trường An. Theo cách nhìn của y, đại tộc Uyển Thành chẳng qua cũng chỉ là cỏ bám đầu tường mà thôi.
Về phần tam đại vọng tộc của Uyển Thành càng làm cho Tào Hồng cảnh giác. Đặng Nghĩa từng làm quan lớn ở Kinh Châu, con trai y lại được Hán Quốc trọng dụng, mà gia tộc Trương thị, bởi vì Trương Cơ, mà gia tộc Trương thị lại có dây mơ rễ má với Kinh Châu.
Về phần Hoàng thị càng không cần phải nói. Tuy rằng vì Gia Cát Lượng mà Hoàng Thừa Ngạn chủ yếu ủng hộ Giao Châu, nhưng một nhân vật quan trọng khác của Hoàng gia, Hoàng Trung lại là nhân vật đứng đầu quân đội quân Hán.
Cũng chính vì những duyên cớ này, mà tuy ngoài mặt Tào Hồng thiết lập chút giao tình với tam đại vọng tộc, nhưng lại ngầm phái người nghiêm mật giám sát tam đại thế gia.
Mấy ngày trước, Tào Hồng nhận được cấp lệnh của Tào Tháo từ Hợp Phì gửi đến, yêu cầu y tổ chức dân phu vận chuyển mười vạn thạch lượng thực của huyện Diệp đến Hợp Phì chuẩn bị chiến tranh. Tào Hồng không dám chậm trễ, lập tức tổ chức hai vạn dân phu của năm huyện Diệp, Trừu, Côn Dương, Lỗ Dương, Đổ Dương, trùng trùng điệp điệp vận chuyển quân lương đến Hợp Phì.
Mặt khác, lương thực huyện Diệp chuyển đến Hợp Phì, Tào Hồng lại lo lắng lương thực Nam Dương không đủ. Mấy ngày nay y đặc biệt triệu tập mấy đại tộc có điền sản ở Nam Dương, hy vọng bọn họ có thể chủ động bán lương thực cho quan phủ, duy trì lương thực tồn trữ của Nam Dương.
Đêm hôm nay, Tào Hồng đang ngồi trong thư phòng viết thư cho Tào Tháo, báo cáo tình hình của Nam Dương cho Tào Tháo. Căn cứ vào tình báo mới nhất mà y nhận được, quân Hán đã tăng binh quy mô lớn ở phía Đồng Quan, cực kỳ có thể muốn tấn công Lạc Dương. Ngoài ra, quân Văn Sính ở Tương Phàn tạm thời khá yên tĩnh, nhưng Tương Dương đã thực hiện giới nghiêm, nghiêm khắc kiểm tra người ra vào. Việc này nói rõ là chiến dịch Hợp Phì đã ảnh hưởng đến Tương Dương.
Đúng lúc này, có một loạt tiếng bước chân từ bên ngoài truyền vào, chỉ nghe giọng nói của Giả Quỳ từ ngoài sân truyền vào:
- Tử Liêm tướng quân, e là tình hình có biến!
Giả Quỳ từng đảm nhiệm chức Thứ sử Dự Châu, lúc đó Tào Hồng chủ quản quân sự của Nhữ Nam. Tuy rằng Mao Giới buộc tội Tào Hồng tự tiện mua bán tù binh Khăn Vàng, nhưng y lại giúp Tào Hồng biện giải, cho rằng Tào Hồng bán tù binh vì cá nhân tuy có tội, nhưng lại có công cứu vãn nhân khẩu đối với Nhữ Nam, cuối cùng giúp cho Tào Hồng miễn bị phạt.
Quan hệ cá nhân giữa Giả Quỳ và Tào Hồng cũng xem là tốt. Năm đó, con gái của Tào Hồng gả cho con trai của Tuân Úc Tuân Xán làm vợ là nhờ Giả Quỳ làm mai mối. Mà Tào Tháo cũng nhận được bài học lần trước, tận lực để cho các tướng hỗ trợ nhau, cho nên bổ nhiệm Giả Quỳ làm Thái thú Nam Dương, đồng thời kiêm nhiệm chức Quân sư cho Tào Hồng.
Tào Hồng giật mình, buông bút xuống, đứng dậy hỏi:
- Cái gì mà tình thế có biến?
Vẻ mặt Giả Quỷ trở nên ác liệt, gấp gáp nói:
- Ta vừa mới nhận được bồ câu truyền tin của Võ Quan, một đội quân Hán khoảng mấy vạn người vừa vượt qua Võ Quan.
Tin tức này khiến cho Tào Hồng chấn kinh, vội vàng hỏi:
- Không phải là nói quân Hán tăng binh Đồng Quan sao?
- Việc này đích thị là kế ám độ Trần Thương của lc, rõ ràng là tăng binh Đồng Quan, nhưng trên thực tế lại âm thầm xuất binh Võ Quan, chuẩn bị kỳ tập Nam Dương.
- Nhưng
Tào Hồng quả thật không hiểu:
- Sao quân Hán phải tấn công Nam Dương?
Giả Quỷ cười lạnh một tiếng, nói:
- Rất đơn giản. Quân Hán vì khai thông cửa ải Nam Tương, vật tư của Quan Trung có thể trực tiếp thông qua Đan Thủy rồi vào Hán Thủy, vận chuyển về tiền tuyến Hợp Phì, mà không còn phải đi qua Hán Trung hay Ba Thục nữa. Công hạ Nam Dương, đồng thời cũng tạo một lá chắn cho Tương Dương, phòng ngừa chúng ta tiến công Tương Phàn từ tây tuyến, giải vây cho Hợp Phì.
Sau một lúc lâu, Tào Hồng vẫn nói không nên lời, trong lòng y đã trở nên hỗn loạn, nhất thời không biết nên làm thế nào mới được. Giả Quỳ lại nhắc nhở y:
- Tử Liêm phải lập tức bẩm báo cho Ngụy Công, đồng thời lệnh cho quân đội các nơi đóng tại Nam Dương khẩn cấp tập kết về phía Uyển Thành.
Một câu nói đã thức tỉnh Tào Hồng. May mà bức thư y viết cho Tào Tháo vẫn chưa gửi, nhưng lúc này y cũng không lo đến việc viết thư nữa, liền lập tức ra lệnh cho thân binh:
- Mau truyền mệnh lệnh khẩn cấp của ta, lệnh cho quân đội đóng tại huyện Diệp, Nam Hương và Dục Dương ngay tức khắc rút về Uyển Thành!
Sắp xếp xong việc rút quân, Tào Hồng lại chắp tay nói với Giả Quỳ:
- Đa tạ tiên sinh chỉ bảo, ngoài ra về phương diện dân chính cũng cần phải kính nhờ tiên sinh ứng đối khẩn cấp cho tốt.
Đúng lúc này, một tên thân binh nhanh chóng bước đến, thấp giọng nói với Tào Hồng mấy câu, Tào Hồng không khỏi khẽ giật mình:
- Tin tức có đáng tin không?
- Thật sự đáng tin, có người tận mắt nhìn thấy.
Giả Quỷ ở bên cạnh hỏi:
- Tướng quân, đã xảy ra chuyện gì?
- Binh sỹ phái đi giám sát Đặng gia đã phát hiện ra trưởng tử Đặng Hồng của Đặng Nghĩa.
Giả Quỳ nhướng mày:
- Chính là con cháu Đặng gia đảm nhiệm Huyện lệnh Trường An đó sao?
- Chính là người này!
Giả Quỳ trầm ngâm chốc lát, nói:
- Vào lúc mẫn cảm như thế này, Đặng Hồng trở về, e rằng có dụng ý khác, Tướng quân không thể khinh suất.
Tào Hồng cười lạnh một tiếng, nói:
- Nếu Đặng gia muốn chủ động tham dự vào, ta sẽ không ngại thành toàn cho lão!
Nói xong, y lớn tiếng quát:
- Điểm năm trăm huynh đệ, theo ta đến Đặng gia!
Giả Quỳ hoảng sợ, liền nhắc nhở Tào Hồng:
- Tướng quân, ảnh hưởng của Đặng gia cực kỳ lớn, không thể quá lỗ mãng.
- Tiên sinh yên tâm, ta tự có chừng mực.
Tào Hồng bỏ lại một câu, liền xoay người bước nhanh ra ngoài.
Giả Quỳ nghĩ đến việc quân Hán sắp sửa đánh tới, trong lòng vô cùng lo lắng, tất tả đi về phía quận nha.
Đặng phủ tọa lạc ở thành bắc, là một tòa nhà lớn rộng một trăm năm mươi mẫu đất. Đặng thị thất phòng, ngoại trừ ba phòng không ở Uyển Thành ra, bốn phòng còn lại gần hai trăm mấy người đều sinh sống bên trong tòa nhà lớn này.
Màn đêm buông xuống, Đặng Nghĩa đang cùng con trai Đặng Hồng nói về tình hình của Hán Quốc. Nhâm Bình và bốn mươi ba Ưng Kích Quân đã lợi dụng cơ hội đưa lương thực mà trà trộn vào trong thành, tạm thời ở trong một biệt trạch khác của Đặng gia. Mà Đặng Nghĩa càng quan tâm đến tình hình của trưởng tử ở Hán Quốc, nhất định phải hỏi rõ ràng tình hình của con trai.
- Phụ thân, Hán Quốc quả thật rất khiến người ta phấn chấn, giúp cho người ta nhìn thấy tiền đồ. Con không phải là nói quan viên thanh liêm bao nhiêu, con cũng đã gặp qua không tham quan ô lại. Nhưng tổng quát mà nói, Hán Quốc từ trên xuống dưới đều có một tinh thần tích cực hướng về phía trước. Dáng vẻ âm u, trầm trầm tử khí của Đế quốc Đại Hán lúc trước hoàn toàn không còn nhìn thấy nữa. Quả thật là nó là một vương triều mới sắp được thành lập, tràn đầy sức sống và hy vọng. Đặc biệt là nhân dân đều ký thác hy vọng được sinh sống hạnh phúc lên trên người Lưu Cảnh, giúp cho ngài có uy vọng cao ngất ở Hán Quốc.
Đặng Nghĩa gật gật đầu thở dài:
- Từ rất nhiều năm trước, lc mới đến Kinh Châu không lâu, ta liền phát hiện ra đứa cháu trai của Lưu Cảnh Thăng không tầm thường, hơn xa Lưu Kỳ và Lưu Tông. Chỉ đáng tiếc năm đó ta vẫn là vì một ý niệm sai lệch không đi Giang Hạ, mà quay trở về Nam Dương. Nếu không thành tựu hôm nay của Đặng gia không thể lường được.
Đây là việc Đặng Nghĩa vẫn mãi canh cánh trong lòng. Năm đó ông rõ ràng là trợ giúp lc, hoàn toàn có thể đi Giang Hạ đảm nhiệm chức Trưởng sử, nhưng ông lại bị ma xui quỷ khiến, không đi Giang Hạ. Sau khi lc thống nhất Kinh Châu, khi mời ông đến Kinh Châu đảm nhiệm chức Biệt giá lần nữa, ông lại cố tình trúng gió nằm liệt giường.
Mất đi cơ hội đồng tâm hiệp lực với lc, là tiếc nuối lớn nhất trong cuộc đời Đặng Nghĩa. Ông chỉ có thể gửi hy vọng vào con trai, hy vọng lc có thể nể tình năm đó ông từ ám trợ Kinh Châu, cho con trai hay nói đúng hơn là Đặng gia thêm một cơ hội nữa.
Cũng may con trai không làm ông thất vọng, đã được thăng làm Huyện lệnh Trường An, tương dương với chức vị Quận thừa, qua mấy năm nữa, con trai liền có hy vọng được thăng lên làm Thái thứ, khiến cho ông tràn trề kỳ vọng đối với tương lai của Đặng gia.
Lúc này, Đặng Hồng lại nhỏ giọng nói:
- Phụ thân còn nhớ Sài Tang Đào gia không?
Đặng Nghĩa gật gật đầu:
- Đương nhiên là ta nhớ. Năm đó Đào Liệt đảm nhiệm chức Quận thừa Nam Dương, có quan hệ cực kỳ tốt với tổ phụ của con, hai nhà thường xuyên qua lại. Nhưng mà Đào gia quả thật là đã nắm được đại vận, sớm gả con gái cho lc, Đào gia chắc chắn là sẽ là ngoại thích đứng đầu.
Nói đến đây, Đặng Nghĩa không khỏi có chút kỳ quái, hỏi:
- Sao bỗng dưng con ta lại nhắc đến Đào gia?
Đặng Hồng ấp a ấp úng:
- Hài nhi quen biết với trưởng nữ của Đào Hàn, nàng rất có tình ý với hài nhi.
Đặng Nghĩa lập tức ngây người, nửa ngày sau mới phản ứng, ông có chút bất an, hỏi:
- Ý con là, con muốn cưới con gái của Đào gia?
Đặng Hồng gật gật đầu:
- Không biết ý của phụ thân như thế nào?
Con trại muốn cưới con gái Đào gia, tuy rằng Đặng Nghĩa vừa mới nói Đặng gia có giao tình với Đào gia, lại nói Đào gia có nắm đại vận, trở thành ngoại thích đứng đầu, nhưng để cho con trai làm rể Đào gia, trong lòng Đặng Nghĩa lại vô cùng không tình nguyện. Đặng gia là Nam Dương đệ nhất thế gia, làm sao có thể kết thông gia cùng một gia tộc thương nhân được, hơn nữa còn là con gái của tộc đệ của Đào Thắng.
Sắc mặt của Đặng Nghĩa lập tức trầm xuống, không chút do dự lắc lắc đầu:
- Mối hôn sự này ta không đồng ý!
- Nhưng, nhưng hài nhi đã thành thân cùng con gái Đào gia rồi.
Đặng Hồng ấp a ấp úng nói ra chân tướng. Đặng Nghĩa giống như bị sét đánh trúng, sửng sốt nửa ngày, mới đập bàn hét to:
- Nghịch tử, đại sự bực này, hà cớ gì ngươi không nói cho ta biết?
Đặng Hồng quỳ xuống:
- Phụ thân bớt giận, lần này hài nhi đến, cũng là vì bẩm báo với phụ thân về việc này.
- Nghịch tử! Người sắp làm ta tức chết rồi.
Đặng Nghĩa liên tục đập bàn, ván đã đóng thuyền mới trở về bẩm báo, tức giận đến nỗi gần như sắp thổ huyết.
Đúng lúc này, người quản gia vội vội vàng vàng chạy lên bậc tam cấp bẩm báo:
- Lão gia, đại sự không hay, Tào Hồng suất lĩnh quân đội bao vậy phủ đệ của chúng ta, y đang ở ngoài cửa lớn, bảo lão gia ra giải thích.
Tin tức này đến đột ngột như một bồn nước lạnh, lập tức giập tắt lửa giận hừng hực trong lòng Đặng Nghĩa. Mặc dù con trai làm ông nổi cơn tam bành, nhưng sự xuất hiện của Tào Hồng lại khiến cho trong lòng ông lập tức trở nên khẩn trương. Chẳng lẽ Tào Hồng đã biết việc mình ám trợ quân Hán?
Đặng Nghĩa hung hăng trừng mắt nhìn đứa con trai, lại nói:
- Xem ra là phiền toái do ngươi mang đến. Tào Hồng tới cửa, tuyệt sẽ không có chuyện tốt. Nếu như hắn hỏi đến ngươi, ngươi cứ nói là vì việc hôn sự mà về nhà bẩm báo, còn lại đừng nói gì cả.
- Hài nhi đã rõ!
Đặng Nghĩa lập tức ra lệnh cho mấy tên gia nhân dưới nhà:
- Đỡ ta đi ra ngoài cửa phủ!
Chương 921: Tầm nã toàn thành
Ở ngoài Đặng phủ ánh lửa chiếu sáng, mấy trăm cây đuốc soi rọi Đặng phủ rõ như ban ngày. Tào Hồng toàn thân mặc mũ trụ khôi giáp, tay đặt lên chuôi kiếm, vẻ mặt hồ nghi chờ đợi trước cửa lớn. Quan hệ giữa y và Đặng Nghĩa không tồi, lúc nào cũng hậu đãi Đặng Nghĩa, lại không ngờ rằng con trai của Đặng Nghĩa lại trở về vào lúc mấu chốt thế này, khiến cho y không thể không hoài nghi Đặng Nghĩa âm thầm cấu kết với quân Hán.
Trên thực tế, sớm đã có tin đồn Đặng gia ám trợ quân Hán, chỉ là không có chứng cứ xác thực. Tuy nhiên, Tào Hồng biết rằng lúc trước Đặng Nghĩa ám trợ Tuân Úc trốn về Tương Dương, giúp Tuân Úc tránh được một lần ám toán của Ngụy Công.
Chỉ dựa vào việc Tào Hồng là thông gia với Tuân úc, cho dù là y có biết nội tình, cũng sẽ che giấu giúp cho Đặng Nghĩa, nhưng nếu Đặng Nghĩa trực tiếp cấu kết với quân Hán, vậy thì tuyệt đối không thể tha thứ cho hành vi này.
Lúc này, cửa lớn Đặng phủ mở ra, hơn mười gia nhân khiêng Đặng Nghĩa ngồi trên một chiếc sạp gỗ đi ra. Đặng Nghĩa chắp tay cười nói:
- Muộn như vậy rồi mà Tử Liêm tướng quân còn đến Đặng phủ, có phải chê lương thực mà ta giao ra ít quá?
Nghĩ đến một vạn thạch lương thực Đặng gia chuẩn bị giao ra, sắc mặt của Tào Hồng thoáng dịu xuống, miễn cưỡng đáp lễ:
- Vốn dĩ không nên đến quấy rầy Đặng công nghỉ ngơi lúc nửa đêm, nhưng ta nghe được một tin tức, lệnh lang đã trở về Đặng phủ rồi, có chuyện này không?
- Tin tức của Tử Liêm tướng quân rất linh thông. Không sai, khuyển tử quả thật đã trở về thăm người thân, hôm nay vừa về đến, nó có vấn đề gì sao?
Theo lý, hai nước Hán Ngụy là địch quốc, Đặng Hồng làm quan Hán Quốc, y trở về nơi thuộc địa của Ngụy Quốc phải bị quan phụ địa phương bắt giữ, nhưng phương diện này có dính dáng đến một vấn đề về giao ước ngầm. Tỷ như không ít gia quyến của đại thần dưới trướng Tào Tháo cũng ở Hán Quốc, cho nên mấy năm trước Lưu Lôi và Tào tháo đã đạt thành hiệp nghị, cho phép quan lại có thể về nhà thăm người thân một cách bình thương, quan phủ hai bên cũng không được làm khó.
Hiệp nghị khác hai nhà không quá coi trọng, thay đổi liên tục, duy độc có hiệp nghị này hai bên trước giờ vẫn rất tuân thủ, trở thành một sự giao ước ngầm của hai bên, cũng chính là như vậy, Đặng Nghĩa mới có thể thản nhiên mà đối diện với sự chất vấn của Tào Hồng.
Tào Hồng cũng không thể trực tiếp xông vào trong phủ bắt người, nhưng y nhận định mấu chốt của việc Đặng Hồng trở về lần này, nhất định là có mục đích. Tào Hồng liền lạnh lùng nói:
- Sở dĩ ta biết lệnh lang hồi phủ, là vì chúng ta bắt giữ được một tên thám tử quân Hán, gã thừa nhận có liên quan với lệnh lang, cho nên ta muốn hỏi lệnh lang một câu, Đặng công có thể mời lệnh lang ra hay không?
Đặng Nghĩa lập tức biến sắc, ông thầm nghĩ: "Chẳng lẽ bọn Nhâm Bình đã bị bắt?"
Kỳ thực Tào Hồng chỉ tìm một cái cớ thôi, không thì y cũng không thể trực tiếp tìm Đặng Hồng. Nhưng Tào Hồng lại thấy Đặng Nghĩa biến sắc, trong lòng y lập tức dâng lên một nỗi hồ nghi, "Lẽ nào con trai của Đặng Nghĩa có vấn đề gì, nếu không hà cớ gì lão phải chột dạ như thế?"
- Đặng công, ta vì việc công mà đến, xin Đặng công phối hợp, tại hạ cam đoán sẽ không làm khó lệnh lang.
Đặng Nghĩa đã khôi phục thái độ bình thường, liền gật gật đầu, căn dặn quản gia:
- Đi mời trưởng công tử đến đây!
Quản gia vội vã đi, lúc này Đặng Nghĩa lại hỏi:
- Tử Liêm tướng quân thật sự cho rằng khuyển tử có liên quan đến thám tử quân Hán ư?
Đặng Nghĩa vừa hỏi như thế, khiến cho Tào Hồng cũng không nắm chắc. Bởi vì Đặng Nghĩa biến sắc có lẽ bởi vì Đặng Hồng có liên quan đến thám tử quân Hán, khiến cho trong lòng Đặng Nghĩa lo âu thấp thỏm. Điều cũng là thường tình của con người, ai nói con trai của Tào Hồng cấu kết với quân Hán, sắc mặt y cũng sẽ đại biến như thế.
Sắc mặt của Tào Hồng càng dịu xuống, cười nói:
- Đặng công đừng lo lắng, chỉ làm theo việc công. Dù sao thì hiện tại quan hệ giữa Ngụy Hán cũng đang khẩn trương, cho nên lệnh lang trở về lúc này, liền trông có vẻ hơi đường đột. Thân làm Chủ tướng Nam Dương, đương nhiên là tại hạ muốn hỏi thêm vài câu.
Đặng Nghĩa thở dài:
- Ta cũng biết khuyển tử trở về lúc này là không đúng lúc, nhưng bởi vì hôn nhân đại sự, nó cũng không thể không trở về, vẫn mong Tướng quân thông cảm một chút!
- Hóa ra là như thế, ta đã hiểu rồi.
Cùng lúc đó, Đặng Hồng đi theo sau người quản gia vội vã đi ra. Y đã biết được đại khái từ miệng của người quản gia, y tiến lên thi lễ với Tào Hồng:
- Đặng Hồng ra mắt Tử Liêm tướng quân.
Tào Hồng nhận ra Đặng Hồng, cười nói:
- Chúc mừng công tử được trở thành Huyện lệnh Trường An, tiền đồ vô lượng!
- Nào có! Nào có! Tướng quân quá khen rồi.
Tào Hồng cũng không đề cập đến việc có người chỉ điểm Đặng Hồng, mà thản nhiên hỏi:
- Không biết lần này công tử từ Trường An trở về, tổng cộng dẫn theo mấy tên tùy tùng?
- Vấn đề này quan trọng lắm sao?
Đặng Hồng có chút không vui, hỏi.
Tào Hồng nghiêm nghị nói:
- Sự tình liên quan đến sự trong sạch của công tử, đương nhiên là rất quan trọng. Nếu công tử chỉ thăm người thân, ta tuyệt sẽ không làm khó, nhưng ta bắt được thám báo quân Hán, người này cung khai là có liên quan đến công tử, ta nhất định phải đối chất với công tử.
Đặng Hồng trầm tư một lát, hỏi:
- Người này có quan hệ gì với ta?
Tào Hồng nói từng câu từng chữ:
- Y là tùy tùng của công tử.
- Toàn lời xằng bậy!
Đặng Hồng hừ lạnh một tiếng:
- Ta chỉ mang theo một lão bộc hồi hương, nào có tùy tùng thám tử gì. Tử Liêm tướng quân cho rằng Hán Vương Điện Hạ sẽ làm ra chuyện như thế này sao?
Tào Hồng cũng thản nhiên cười nói:
- Ta tin rằng nếu cần thiết, Hán Vương nhất định sẽ sắp xếp thám tử theo công tử trở về. Tuy nhiên, nếu công tử phủ nhận, vậy ta nể mặt lệnh tôn, tạm thời tin công tử một lần.
Nói đoạn, Tào Hồng vung tay lên:
- Đi!
Năm trăm binh sỹ đi theo Tào Hồng nhanh chóng rời khỏi Đặng phủ. Đặng Nghĩa nhìn bọn họ đi xa, trong lòng có chút trầm trọng, ông không ngờ Tào Hồng lại có thể dễ dàng buông tha cho con trai mình như thế. Điều này không phù hợp với tính cách của Tào Hồng, y đi một nước như thế, ắt có hậu hoạn.
- Phụ thân!
Đặng Hồng vừa muốn hỏi, lại bị Đặng Nghĩa khoát tay cắt ngang:
- Nơi này không phải là nơi để nói chuyện, đi vào phòng đi!
Hai cha con đi vào nội đường, Đặng Nghĩa thở dài:
- Sự tình e rằng không hay rồi đây!
- Phụ thân cho rằng thám tử mà Tào Hồng nói, không phải là Nhâm Bình?
Đặng Hồng lo lắng hỏi.
- Không thể!
Đặng Nghĩa lắc lắc đầu:
- Lúc đầu ta cũng cho là vậy, nhưng bây giờ xem ra, hẳn là Tào Hồng đang cố ý lừa chúng ta. Căn bản là y không có bắt được thám tử quân Hán gì cả.
- Sao phụ thân lại khẳng định như vậy?
- Rất đơn giản. Ưng Kích Quân của Nhâm Bình nếu như bị quân Tào phát hiện, vậy thì nhất định sẽ nảy sinh kịch chiến. Ta cũng sẽ biết được trong thời gian sớm nhất, dù sao bọn họ ẩn thân của trong biệt trạch của Đặng phủ. Nhưng bây giờ bên đó rất yên tĩnh, cho nên ta dám khẳng định không phải là đám người Nhâm Bình.
Đặng Hồng khẽ thở phào một hơi, lại vội vàng nói:
- Nhược bằng Tào Hồng có lòng nghi kỵ đối với chúng ta, thì bên phía biệt phủ cũng không an toàn. Phụ thân phải lập tức thông tri cho bọn họ rời khỏi mới được.
Đặng Nghĩa lắc lắc đầu, cười khổ một tiếng:
- Uyển Thành thực hiện giới nghiêm ban đêm, không cho bất kỳ kẻ nào ra ngoài. Ta nghĩ Tào Hồng nhất định đã phái người giám sát chúng ta, cho nên mới biết con về. Nếu bây giờ ta phái người đi thông tri cho bọn họ rời khỏi, ngược lại sẽ bị Tào Hồng nắm lấy nhược điểm, Đặng gia sẽ lâm nguy. Hiện tại chúng ta quyết không thể khinh cử vọng động.
Đặng Hồng cũng biết phụ thân nói đúng, trong lòng y vô cùng lo lắng, lại không có cách nào khác, đành phải yên lặng gật gật đầu.
Tào Hồng khoanh tay đi qua đi lại trong quận nha, lúc này y đã hoàn toàn tỉnh táo. Mắt thấy quân Hán sắp đánh tới, y chỉ cần cố thủ Uyển Thành, có thể đối đầu với sự tấn công của quân Hán, mấu chốt nằm ở hai vấn đề. Một, quân đồn trú ở các nơi nhất định phải lập tức rút về Uyển Thành. Y đã hạ mệnh lệnh khẩn cấp, chậm nhất vào sáng ngày mai sẽ có tin tức.
Mà vấn đề thứ hai mới càng khiến cho y lo lắng, đó là không thể có nội hoạn. Lúc trước, Trình Dục đã từng nói cho y biết, nhìn chung quân Hán công thành, đều là đặt một cái chêm ở trong thành trước, sau đó nội ứng ngoại hợp công hạ thành trì. Thủ Uyển Thành phải chú ý điều này.
Cho nên Tào Hồng vô cùng hoài nghi Đặng gia ám thông với quân Hán, nhưng y lại không muốn đả thảo kinh xà, chỉ có thể kiên trì chờ đợi chứng cứ. Lúc này, có hai tên thân binh dẫn theo một người đàn ông vội vàng đi vào, một tên thân binh bẩm báo:
- Bẩm báo Tướng quân, đã mang người đến.
- Cho hắn vào đây!
Người đàn ông trẻ tuổi được dẫn vào đại sảnh, gã quỳ xuống dập đầu nói:
- Tiểu dân Vương Thuận khấu kiến Tướng quân.
- Ngươi là xa phu của Đặng Nghĩa?
Tào Hồng hỏi.
- Đúng là tiểu dân.
Tào Hồng cười cười, tận lực dùng giọng điệu mềm mỏng hỏi:
- Ta hỏi ngươi, công tử Đặng Hồng nhà các ngươi lần này trở về rốt cuộc đã dẫn theo bao nhiêu tùy tùng?
Gã xa phu ngẫm nghĩ một lát, liền nói:
- Lúc vào thành chỉ có một lão bộc.
Tào Hồng ngẩn người, lập tức truy hỏi:
- Cái gì gọi là lúc vào thành chỉ có một người, chẳng lẽ khi vào thành không có ai khác sao?
- Hổi bẩm Tướng quân, công tử đến trang viên ngoài thành trước. Lúc ấy còn có hơn bốn mươi người, đều là thương nhân đi chung đường, nhưng sau khi vào thành, lại không thấy bọn họ đâu nữa.
Nắm đấm của Tào Hồng chậm rãi siết chặt lại. Quả nhiên không ngoài dự liệu của y, Đặng Hồng dẫn theo bốn mươi mấy người. Đây chẳng phải là quân Hán sao, cực kỳ có khả năng là Ưng Kích Quân tinh nhuệ nhất của quân Hán.
- Hơn bốn mươi người đi sau đó đã vào thành chưa?
Tào Hồng lại truy hỏi.
- Chuyện sau đó tiểu dân không biết, quả thật không biết.
Tào Hồng trầm tư một lát, phất tay ra lệnh:
- Dẫn gã xuống, thưởng một cân vàng ròng.
Gã mã phu thiên ân vạn tạ rồi đi ra. Lúc này Tào Hồng đã hiểu được, xế chiều hôm nay Đặng gia tổ chức mấy trăm người vận lương vào thành, bốn mươi người này ắt hẳn là trà trộn vào thành vào lúc này. Tào Hồng liền ra lệnh:
- Lệnh cho Phương Hằng, Quách Lương đến gặp ta!
Một lát sau, bộ tướng Phương Hằng và Quách Lương của Tào Hồng đã bước nhanh đến, hai người khom mình thi lễ:
- Tham kiến Tướng quân!
Tào Hồng nghiến răng nghiến lợi nói:
- Quân Hán có hơn bốn mươi mật thám ẩn nấp vào thành, hai người các ngươi mỗi người dẫn theo ba ngàn người bắt đầu lục soát. Bắt đầu từ lữ xá, tửu quán, điều tra từng nhà một, lục soát kỹ càng cho ta, người cung cấp manh mối, thưởng trăm lượng vàng, ai dám cả gan phản kháng, cứ giết tại chỗ, tất cả mọi hậu qua ta gánh vác. Đêm nay nhất định phải lùng cho ra thám tử quân Hán.
- Như vậy thì các binh sỹ sẽ buông lỏng quân kỷ!
Quách Lương nhắc nhở Tào Hồng. Việc điều tra như thế này rất dễ dàng biến thành quân đội cướp sạch toàn thành.
Tào Hồng lại nghiến răng nghiến lợi nói:
- Vậy thì coi như là phần thưởng của ta ban cho các huynh đệ!
Quân kỷ dưới con mắt của Tào Hồng không quan trọng, các binh sỹ phát tài một chút cũng có lợi cho việc đề cao sỹ khí, không thể dị nghị. Điều quan trọng hơn, là phải truy lùng cho được thám báo quân Hán. Hai viên Đại tướng hiểu được ý của Tào Hồng, cùng nhau ôm quyền thi lễ, vội vã đi.
Tào Hồng nói với thân binh:
- Triệu tập quân mã cho ta, đi Đặng phủ lần nữa!
Cùng với việc quân Tào lục soát toàn thành quy mô lớn, toàn bộ Uyển Thành bắt đầu trở nên xôn xao. Nhiều đội binh sỹ quân Tào chạy trên đường, quân tào dùng hết binh lực để lục soát toàn thành, người lăm người một đội, bắt đầu điều tra từng nhà.
Binh sỹ quân Tào phần lớn không phải là người bản địa. Dưới sụ uy hiếp của chiến tranh, ý nghĩ phát tài gia tăng, mỗi người đều trở nên cực kỳ hung ác. Dưới sự chỉ huy của Thập tưởng, bị lợi ích lay động, rất nhiều binh sỹ không chờ chủ nhân mở cửa, đã đá một cước vào cửa, xông vào.
Đêm giới nghiêm không còn yên tĩnh nữa, có thể tùy ý thấy được ánh lửa. Trên đường lớn hẻm nhỏ khắp nơi đều vang lên tiếng khóc, cùng với tiếng kêu thảm thiết lúc bị giết chết. Lúc soát bắt đầu biến thành binh sỹ đi đánh cướp. Người có chút phản kháng, liền bị binh sỹ lấy tội danh thông đồng với địch giết chết, gia tài bị cướp đoạt không còn gì. Rất nhiều nữ nhân trẻ tuổi bị làm nhục cũng bị binh sỹ giết chết, để che giấu tội ác.
Lúc này, Giả Quỳ cũng đã nhận được tin tức, vội vàng chạy đến quận nha. Một cảnh tượng tại quận nha xảy ra trước mắt khiến cho Giả Quỳ sợ ngây người.
Chương 922: Ân huệ Hoàng gia
Trong một tòa nhà dân đối diện với Quan Nha, mấy tên binh lính quân Tào đang hiếp dâm một cô gái trẻ, cô gái đang giãy dụa kêu khóc, cũng không làm được gì, trong sân còn có mấy thi thể, thấy được nỗi khổ dân chúng bị thảm sát, trước cửa đặt mười mấy gói đồ, mấy tên binh lính quân Tào này lục soát được tiền tài ở các nhà dân.
Giả Quỳ giận tím mặt, rút kiếm ra xông lên chém loạn xạ: - Bọn người các ngươi, giết các ngươi!
Trong bóng đêm, rất khó phân biệt được ai với ai, Thập trưởng cầm đầu hung tợn ra lệnh: - Tên khốn kia ở đâu đến, xử hắn cho ta!
Mấy tên binh lính quân Tào vung đao nhào tới, Giả Quỳ nói cho cùng cũng chỉ là người, làm sao là đối thủ của bọn binh lính này, chỉ tránh được hai cái đã bị một đao chém trúng sau lưng, Giả Quỳ kêu lên thảm thiết, trong lúc lảo đảo té ngã xuống đất, bọn binh lính mừng rỡ, xông lên một lượt, chuẩn bị chém loạn xạ vào người của Giả Quỳ.
Đúng lúc này, mười mấy tên nha dịch xông vào, bọn chúng thấy Thái Thú bị thương, lập tức trừng mắt, cùng nhau vung đao xông tới, chặn đám binh lính quân Tào lại, quan Tặc Tào chỉ vào bọn binh lính quát to: - Các ngươi dám giết Thái Thú, chán sống sao?
Binh lính quân Tào mới biết mình gây ra đại họa, sợ tới mức bọn chúng chạy tứ phía, có tên trèo tường bỏ chạy, có tên chạy trốn từ cửa sau, có hai tên lính chạy trốn không kịp, bị nha dịch bắt lấy, lúc này, mấy tên nha dịch đỡ Giả Quỳ đứng dậy, băng bó vết thương cho y.
Hơi thở Giả Quỳ đứt quãng, vết đao chém sâu hơn nữa tấc, khiến y bị thương rất nặng, đau đớn vô cùng dường như khiến cho y phải ngất đi, nhưng y cố nén đau, nói với Quận Thừa Tưởng Hân vừa chạy lại: - Ngươi mau đi tìm cho được Tào Hồng, lệnh hắn lập tức đình chỉ lục soát, nếu không ta phải phán hắn tội thông đồng với địch!
- Thái Thú xin an tâm dưỡng thương, tại hạ đây sẽ đi tìm Tào tướng quân ngay lập tức.
Tưởng Hân vội vàng đi, lúc này, Giả Quỳ cũng không chịu đựng không nổi nữa, trước mắt tối sầm, lại ngất đi thêm lần nữa.
Lúc này, Tào Hồng ở trong Đặng phủ, cửa lớn Đặng phủ bị binh lính quân Tào phá vỡ, cha con họ Đặng bị quân Tào khống chế, còn lại hơn hai trăm người Đặng gia toàn bộ bị đuổi tới hậu đường, chờ xử lý.
Mà năm trăm binh lính quân Tào thì đang lục tung các tủ trong Đặng phủ, lục soát cẩn thận, mỗi một chỗ có thể dấu người đều không bỏ qua, lục soát Đặng phủ rối tung lên, Tào Hồng ngồi nghiêm trong đại đường, kiên nhẫn chờ đợi kết quả lục soát tìm kiếm.
Lúc này y đã nhận được tin tức vô số binh lính nhân cơ hội đã gây rối cướp bóc, nhưng Tào Hồng không có động tĩnh, y hiểu rõ trong lòng, hiện nay sĩ khí quân Tào ở Nam Dương đang xuống, nếu quân Hán tiến hành cuộc tấn công quy mô lớn, tướng sĩ dưới tay y chưa chắc giữ được Uyển Thành, nếu không cho bọn tướng sĩ một chút lợi lộc, ai còn dám đồng ý bán mạng cho Tào Hồng y.
Hơn nữa, y thông qua việc tra hỏi quản gia thêm lần nữa được chứng thực, quả thật có hơn bốn mươi người thân phận không rõ ràng trà trộn vào thành, những người này đều vô cùng trẻ tuổi, mỗi người thể trạng cường tráng, trong lòng Tào Hồng đã nhận định, hơn bốn mươi người này nhất định là Ưng Kích quân của quân Hán, bọn họ đang có mặt trong thành, đối với Tào Hồng mà nói là cái gai trong lòng, cái đinh trong mắt, không tìm ra bọn họ, y quyết không bỏ qua.
Lúc này, một tên lính tháp tùng Quận Thừa Tưởng Hân bước nhanh vào đại đường, Tưởng Hân rốt cuộc đã tìm được Tào Hồng, gã vội nói: - Tử Liêm Tướng quân, việc lớn không ổn, Giả Thái Thú đã xảy ra chuyện rồi!
Tào Hồng ngẩn ra, lập tức hỏi: - Giả Thái Thú đã xảy ra chuyện gì?
- Giả Thái Thú ngăn một đám binh lính làm nhục con gái nhà lành, kết quả bị binh lính vây đánh, tình hình thương tích rất nặng.
Trong lòng Tào Hồng nhất thời bất an, y có thể không để ý người dân bị giết chóc, nhưng nếu Giả Quỳ xảy ra chuyện, y có thể sẽ ăn ngủ không yên, y lập tức đứng lên nói: - Nhanh dẫn ta đến gặp Giả Thái Thú!
Tưởng Hân khom người thi lễ nói: - Giả Thái Thú đang được đại phu cứu chữa, nhưng ông ấy có việc muốn ty chức chuyển lời đến Tướng quân.
- Ông ấy điều gì?
- Giả Thái Thú xin Tướng quân lập tức hạ lệnh đình chỉ lục soát, nếu không nếu không
- Nếu không cái gì?
- Nếu không Giả Thái Thú sẽ buộc tội Tướng quân với Ngụy công về tội thông đồng với địch!
- Tại sao ta thông đồng với địch? Tào Hồng tay đè chuôi kiếm, đằng đằng sát khí nhìn chăm chú vào Tưởng Hân hỏi
Mặc dù Tưởng Hân trong lòng sợ hãi, nhưng gã vẫn cố lấy hết dũng khí nói: - Bởi vì lính tùy tùng của Tướng quân cướp của giết người, sẽ hủy diệt danh dự của Ngụy Công ở Nam Dương và lòng dân, điều này không khác với việc đem Nam Dương tặng cho Lưu Cảnh, cho nên đó là tội thông địch phản bội Tào.
Tào Hồng sau một lúc lâu mới lạnh lùng nói: - Nếu Giả Thái Thú tỉnh lại, xin Quận Thừa chuyển lời với Thái Thú, đã có quân tinh nhuệ của quân Hán trà trộn vào thành, nếu không tìm ra bọn họ, Uyển Thành tất nhiên sẽ bị hủy trong tay bọn họ, vì đại cục, ta không thể không dùng hạ sách này, lục soát quyết sẽ không dừng lại, xin ông ấy thứ lỗi!
Nói xong, Tào Hồng lại quay đầu lại ra lệnh: - Đi điều tra xem binh lính nào làm Giả Thái Thú trọng thương, sau khi tìm được lập tức trảm thủ thị chúng, không cho phép những việc thảm sát như vậy tái diễn, kẻ nào trái lệnh trảm!
Lúc này, một gã quan quân chạy tới thấp giọng bẩm báo: - Bên trong phủ đã lục soát qua, quả thật không có người khả nghi, ngoài ra có người đầy tớ cung khai, Đặng gia còn có một tòa nhà, người mà chúng ta muốn bắt rất có thể đang ẩn núp trong đó.
Tào Hồng liền xoay người đi ra ngoài, lớn tiếng ra lệnh: - Bắt giam cha con họ Đặng, ngày sau xử trí, tất cả binh lính theo ta đến tòa nhà đó lục soát!
Tưởng Hân bất đắc dĩ nhìn Tào Hồng đi xa, Tào Hồng chỉ không cho phép giết chóc, chứ không ra lệnh không được cướp bóc tài sản, rõ ràng không có thành ý giải quyết vấn đề, Tưởng Hân chỉ biết thở dài, lại vội vàng chạy về quận nha.
Vị trí tòa nhà họ Đặng ở Bắc thành, cách tòa nhà chính không đến một dặm, diện tích khoảng một mẫu, vốn là chỗ ở của một thương nhân, sau khi thương nhân rời khỏi Nam Dương, liền bán tòa nhà này lại cho Đặng gia, Đặng gia liền dùng nó làm phòng khách, nhưng trong khoảng thời gian này tình thế Nam Dương căng thẳng, Đặng gia cũng không có khách gì, tòa nhà cũng đang đóng.
Lúc này, một đội binh lính vừa mới lục soát đến nơi đây, trên tấm bảng viết bốn chữ "Đặng thị biệt phủ" làm cho bọn họ không dám hành động lỗ mảng, Thập trưởng cầm đầu đang gõ cửa quát to: - Người bên trong mau ra mở cửa, chúng tôi chỉ phụng lệnh hành sự!
Quát to một hồi lâu, cũng không có ai để ý, Thập trưởng hơi nổi giận, hạ lệnh cho các binh lính: - Phá cửa cho ta!
Đúng lúc này, trong bóng đêm một ngọn đèn lồng vội chạy đến, hơn ngàn binh lính tay cầm đuốc, bọn họ nhanh chóng bao vây tòa nhà này lại, giương cung tuốt kiếm, trận địa sẵn sàng đón quân địch.
Tào Hồng thấy ánh lửa xuất hiện, cao giọng hỏi: - Có việc gì!
Thập trưởng sợ tới mức vội vàng quỳ xuống bẩm báo, - Ty chức dẫn dắt các huynh đệ vừa mới đến nơi đây, gõ cửa nhưng không ai trả lời, đang chuẩn bị phá cửa.
- Một đám ngu xuẩn!
Tào Hồng mắng một tiếng, lập tức hạ lệnh:
- Phá cửa chính xông vào đi, bất kể gặp được người nào, giết chết không tha!
Oành oành! liên tục mấy tiếng nổ lớn, cửa lớn bị cây gỗ lớn phá vỡ, mấy trăm tên lính Tào vung đao đi vào, rất nhanh, binh lính quân Tào liền lục soát xong tòa nhà, nhưng không thu hoạch được gì, binh lính quân Hán cũng không trốn ở chỗ này, khiến Tào Hồng thất vọng, y cũng đã hồ đồ, binh lính quân Hán rốt cuộc đang ẩn nấp ở đâu?
Nam thành cũng có một tòa nhà lớn gần trăm mẫu, nơi đây là tòa nhà chính của gia tộc họ Hoàng trong Tam đại vọng tộc ở Nam Dương, gia tộc họ Hoàng phân làm hai chi, một chi họ Hoàng ở Nam Dương, một chi họ Hoàng ở Giang Hạ, họ Hoàng ở Giang Hạ cũng chính là dòng chính của Hoàng Tổ, do thế lực mạnh mẽ của Hoàng Tổ, Hoàng gia trở thành một trong tứ đại thế gia ở Kinh Châu.
Nhưng do Hoàng Tổ bị quân Giang Đông tiêu diệt, Hoàng gia cũng dần dần thất thế, từ tứ đại gia tộc Kinh Châu ngày xưa xuống thành tam thế gia ở quận Nam Dương, còn xếp sau Trương gia.
Gia chủ Hoàng gia là Hoàng Thừa Ngạn, năm đó Hoàng Thừa Ngạn vì trốn tránh chiến loạn, đem gia tộc tạm thời chuyển đến Long Trung, bởi vậy đã có con rể là Gia Cát Lượng, tuy nhiên theo thời cuộc Kinh Châu, Hoàng Thừa Ngạn không đi cùng với con rể đến Giao Châu, mà chuyển về Nam Dương.
Mấy lần gây sức ép khiến Hoàng gia dần dần suy sụp, hơn nữa Gia Cát Lượng cũng không thể trợ giúp Hoàng gia, Hoàng gia bây giờ chỉ dựa vào địa vị ngày xưa và sự chiếu cố của đệ nhất tướng quân Hán Hoàng Trung, mới miễn cưỡng giữ được địa vị tam vọng tộc Nam Dương.
Mấy năm nay Hoàng Thừa Ngạn có chút khiêm tốn, rất ít đi ra ngoài, kể cả Hoàng gia cũng không tranh quyền thế, cả gia tộc toàn bộ đều sinh sống dựa vào tiền thuế của mười mấy khoảnh ruộng, tuy nhiên việc lục soát toàn thành vào tối hôm nay cũng đã lan đến Hoàng phủ, cũng may Hoàng gia vẫn có thế lực nhất định, đồn trưởng dẫn đầu việc lục soát mới không dám quá đáng, chỉ lục soát bên ngoài Hoàng gia, đồn trưởng sau khi nhận hối lộ của Hoàng gia, liền bỏ qua việc lục soát bên trong, thu binh rời Hoàng phủ.
Hoàng Thừa Ngạn tay cầm đèn lồng, được con trai thứ Hoàng Dự dìu, chậm rãi đi vào hậu viện, Hoàng Thừa Ngạn có hai trai một gái, người con gái Hoàng Nguyệt Anh gả cho Gia Cát Lượng, con trai trưởng Hoàng Tấn làm quan dưới trướng của Lưu Bị, đảm nhiệm chức Thái Thú quận Úc Lâm, và con trai thứ Hoàng Dự thì giữ ở bên mình, chịu trách nhiệm chăm sóc cuộc sống hàng ngày của Hoàng Thừa Ngạn.
- Phụ thân đi bên này, chậm một chút!
Sức khỏe của Hoàng Thừa Ngạn không tốt, đi vô cùng thong thả, ông cười gượng với con trai: - Ta tự cho mình thanh cao, nhưng cuối cùng vẫn phải theo thói thường của con người, dùng tiền tài hối lộ để tống cổ quân Tào, thật là mỉa mai lớn.
- Con ngược lại cho rằng phụ thân làm vậy rất đúng, nghe Tào Hồng hạ lệnh lục soát toàn thành, trên thực tế thì bọn tùy tùng bắt người cướp của, cả Uyển Thành bị quân Tào đập phá đến nỗi chướng khí mù mịt, mất một ít tiền là việc nhỏ, rất nhiều gia đình thê nữ bị làm nhục, cha mẹ bị giết, so ra, Hoàng gia đã rất may mắn rồi.
Hoàng Thừa Ngạn cười lạnh lùng nói: - Tào Hồng rất rõ muốn mượn việc này để làm phấn chấn lòng quân, tuy lòng quân đã phấn chấn, nhưng thanh danh của Tào Tháo ở Nam Dương cũng bị hắn hủy rồi, loại người này chỉ thấy cái lợi trước mắt, không nghĩ đến lâu dài, nhất định hắn giữ không được Nam Dương, quận Nam Dương cuối cùng cũng thuộc về quân Hán, cũng là điều hắn không phục Trương Liêu nhất, theo ta thấy, hắn còn kém xa Trương Liêu a!
Hoàng Dự chần chừ một lúc, nhỏ giọng hỏi: - Phụ thân như vậy muốn giúp đỡ quân Hán, muốn từ bỏ Lưu Bị sao?
Hoàng Thừa Ngạn lắc đầu, thở dài nói: - Ta cũng không biết vì cái gì? Nhưng ta quả thật không coi trọng Lưu Bị, bọn họ ở Giao Châu xa xôi, nhân dân đặc biệt ít, đất đai khô cằn, cho dù có thiên tài như Khổng Minh cũng không thể xoay chuyển thế cục, muốn cho Giao Châu cường thịnh, ít nhất cũng phải nỗ lực mấy đời, Lưu Cảnh nào cho bọn họ thời gian, khó lắm!
Hoàng Dự cũng trầm mặc, nếu như vậy, đại ca đi theo Lưu Bị phấn đấu gần mười năm, chẳng phải đều uổng phí sao?
Hai cha con đi vào nhà kho ở sau hậu viện, Hoàng Dự vừa mở cửa nhà kho, một đường đao sáng như tuyết chĩa vào cổ họng của y, sợ đến nỗi Hoàng Thừa Ngạn vội vàng nói: - Nhậm Tướng quân, chúng tôi!
Chiến đao rút lại, hai cha con bị kéo vào nhà kho, cửa chính lập tức đóng lại, một đoàn ánh sáng đèn hiện lên, lập tức chiếu sáng toàn bộ nhà kho, chỉ thấy mấy chục tên hắc y nhân đang trốn ở phía sau từng kệ sắt, chính là Nhậm Bình và hơn bốn mươi mấy tên thuộc hạ của y.
Tuy là Đặng Nghĩa đưa bọn họ vào ở trong tòa nhà họ Đặng, nhưng Nhậm Bình ngược lại không lưu lại đó lâu, y vô cùng khôn khéo cẩn thận, lúc ở trang viện của họ Đặng, bọn họ đã bị rất nhiều người thấy, Nhậm Bình biết rằng, bọn họ tiếp tục ở lại Đặng gia hiển nhiên sẽ không an toàn.
Lúc hoàng hôn, y bảo mọi người chia nhau rời phủ họ Đặng, đến Nam thành tìm Hoàng gia cầu sự giúp đỡ, sở dĩ lựa chọn Hoàng gia, một mặt bởi vì danh tiếng Hoàng Trung trong quân đội cực cao, chọn gia tộc của ông ta tránh nạn, theo bản năng của Nhậm Bình mách bảo sẽ không sai.
Thứ hai, Hoàng gia chính vì có liên quan với Giao Châu, quân Tào bình thường cũng sẽ không hoài nghi đến Hoàng gia, rất may mắn Nhậm Bình không phán đoán sai, Hoàng Thừa Ngạn đồng ý yêu cầu giúp đỡ của bọn họ, đưa bọn họ giấu kín trong nhà kho của hậu viện.
Trong nhà kho còn có một căn hầm rất bí mật, cho dù quân Tào lục soát đến nhà kho, bọn họ cũng có thể ẩn núp dưới hầm, tuy nhiên lúc này Nhậm Bình đã biết quân Tào lục soát ở Hoàng gia đã rút lui, bọn họ cũng không cần trốn tiếp ở dưới hầm.
Nhậm Bình bước lên thi lễ: - Sự che chở của Hoàng công đối với chúng tôi, chúng tôi vô cùng cảm kích.
Hoàng Thừa Ngạn cười vẫy tay: - Tướng quân không cần khách sáo, ta có hai vấn đề, không biết có nên hỏi hay không?
- Hoàng công cứ việc hỏi, nếu có thể trả lời, ta nhất định nói đúng sự thật.
Hoàng Thừa Ngạn lúc này mới hỏi: - Ta muốn biết, quân Hán khi nào sẽ tiến công quận Nam Dương?
Nhậm Bình trầm tư một lát, chậm rãi nói: - Thì bây giờ tiến công, quân Hán đã chia ra ba đường, tiến công quận Nam Dương rồi.
Hoàng Thừa Ngạn gật gật đầu, - Ta còn muốn biết, chủ soái của quân Hán lần này là vị Tướng quân nào?
Nhậm Bình cười lắc đầu: - Không phải vị Tướng quân nào mà là Hán Vương điện hạ đích thân suất quân.
Cha con họ Hoàng nhìn nhau, hai người đều có ngây ra.
----------oOo----------
Chương 923.1: Kỵ binh phục kích.
Diệp huyện ở Đông Bắc Uyển Thành, khoảng cách hai nơi đó khoảng một trăm tám mươi dặm, bởi vì Diệp huyện được gọi là “Yết hầu của Uyển Thành, bụng của Hứa Xương”, vị trí địa lý cực kỳ quan trọng, gánh vác trọng trách bảo vệ Hứa Xương, cũng vì như thế mà Tào Tháo đã bố trí mười ngàn trọng binh.
Chủ tướng Diệp huyện là phó tướng Lý Điển của Tào Hồng, vào hai canh giờ trước, Lý Điển đã nhận được bồ câu đưa tin khẩn của Tào Hồng, quân Hán ở Trường An đã tập kích với quy mô lớn, lệnh cho gã lập tức về Uyển Thành tập kết.
Mệnh lệnh này khiến Lý Điển cảm thấy giật mình, gã là phó tướng của Tào Hồng, cứu viện Uyển Thành thì không thể chối từ, nhưng gã lại có chút khó khăn, gã không thể bỏ Diệp huyện, khiến cho cửa chính Hứa Xương mở rộng, sau một hồi suy xét, Lý Điển quyết định cho bộ tướng Triệu Địch thống lĩnh năm ngàn quân ở lại giữ vững Diệp huyện, gã thì đích thân thống lĩnh năm ngàn quân nhanh chóng đến Uyển Thành tập kết.
Thời gian đã dần dần đến canh ba, năm ngàn quân Tào ở trên đường chính xếp thành hàng nhanh chóng hành quân, Lý Điển cưỡi ngựa chạy trước đội quân, gã và quân Hán giao chiến nhiều năm, đối với cách thức tác chiến của quân Hán đã khá hiểu rõ, quân Hán đặc biệt giỏi về kỵ binh, phục kích, trộm thành, lấy cái giá nhỏ nhất để đạt được thắng lợi.
Quan niệm thiên hạ của Lưu Cảnh, cố làm hết sức có thể trong chiến tranh giữ được những thanh niên cường tráng, tuy nhiên bản thân Lý Điển đối với suy nghĩ này cũng có chút tán thành, nhưng mối quan hệ của địch đối với đối phương ngươi chết ta sống, làm tướng quân Tào, giới hạn lớn nhất là giết chết quân địch, cũng đã trở thành trách nhiệm mà Lý Điển không thể từ chối.
Lý Điển vô cùng cẩn thận, không ngừng phái trinh sát dò đường trước, đoạn đường từ Diệp huyện đến Uyển Thành này đã xảy ra mấy lần phục kích, bao gồm lần bị kỵ binh Hổ Báo tàn nhẫn phục kích, cho đến nay khiến Lý Điển còn ghi nhớ mãi.
Cho dù mệnh lệnh khẩn cấp Tào Hồng gửi đi, nhưng sau khi đội quân đi được hơn ba mươi dặm, Lý Điển còn hạ lệnh toàn quân hành quân chậm lại, nơi này là vùng giáp ranh với vùng trũng Nam Dương, đồi núi nhấp nhô, rừng rậm rậm rạp, khe núi hai bên rất nhiều, rất dễ bị phục kích, chỉ còn đi thêm hai mươi dặm nữa, tiến vào giải đất bình nguyên, mới có thể tăng tốc.
Đúng lúc này, một tên thám báo chạy gấp đến, hô to từ xa:
- Quân đội ngừng hành quân!
Trong lòng Lý Điển chợt cảm thấy không ổn, lập tức ra lệnh:
- Ngừng hành quân!
Thám báo chạy đến, ngồi trên ngựa chắp tay bẩm báo:
- Khởi bẩm Tướng quân, ngoài năm dặm phía trước đã phát hiện điều khác thường, trong rừng có rất nhiều quân binh mai phục.
Trong lòng Lý Điển trùng xuống, quả nhiên gặp phục binh, gã cố sức làm cho mình bình tĩnh, lại hỏi:
- Có bao nhiêu quân lính mai phục, loại quân gì?
- Cụ thể số lượng không biết, mười huynh đệ đi thăm dò trước chỉ trốn về được một người, mình trúng ba mũi tên, đã bị trọng thương không thể cứu, hắn là tiễn binh trước khi chết.
Lý Điển xem xét địa hình một chút, đúng lúc bọn họ tiến vào một khe núi rộng không lâu, khe núi rộng khoảng nửa dặm, dài bảy tám dặm, thế núi hai bên nghiêng dốc đứng, lùm cây dài khắp và rậm rạp, kiểu địa hình này không có lợi cho quân bị phục kích, nhưng lại có lợi cho kỵ binh xung kích.
Lý Điển biết quân Hán sau khi chiếm đóng Quan Lũng, lực lượng kỵ binh tăng mạnh, do kỵ binh vốn là quân đội phía nam ít, dần dần chuyển thành kỵ binh, bộ binh đều là quân đội phía bắc hùng mạnh, nếu kỵ binh quân Hán đột kích, phiền phức của gã sẽ lớn lắm.
Nhưng kỵ binh chỉ phỏng đoán được, mà quân mai phục ở phía trước đã là thật, lúc này Lý Điển liền hạ lệnh:
- Truyền lệnh toàn quân, lập tức lùi về sau tập hợp.
Đây là sách lược hiệu quả để ứng phó quân mai phục, do lúc hành quân, hàng ngũ đi khá dài, một khi gặp mai phục thì sẽ bị cắt thành nhiều đoạn, do đó hình thành cục diện bất lợi cho mình, cuối cùng thoát không được vận mệnh toàn quân bị tiêu diệt.
Nếu việc đầu tiên phát hiện ra có phục binh, sách lược ứng phó tốt nhất là nhanh chóng tập kết, đem đội quân kéo dài xếp hàng lại thành trận, cho dù phục binh đánh ra, cũng không sợ chút nào.
Lý Điển quyết tâm phải rời khỏi con đường núi này, liền hạ lệnh tập kết về phía sau, gã vừa dứt lời, phía trước bỗng nhiên truyền đến tiếng trống trận ầm ầm, ngay sau đó tiếng kêu rung trời, phục binh này phát hiện bọn họ đã bị quân địch phát hiện, chuyển bị động thành chủ động, ra khỏi rừng rậm.
Lý Điển hô to:
- Nhanh chóng lùi về tập kết.
Không cần gã hạ lệnh, mấy ngàn binh sĩ quân Tào đều vội quay đầu chạy, chạy hướng ra ngoài thung lũng, trong sự hỗn loạn ồn ào, Lý Điển bỗng nhiên nghe thấy một âm thanh kỳ quái, dường như nhịp trống dồn dập hơn, bị tiếng trống phục binh và tiếng kêu bao trùm khắp.
Lý Điển tập trung lắng nghe, sắc mặt dần dần căng thẳng, gã bỗng nhiên hô lớn,
- Không ổn rồi!
Gã đã nghe thấy tiếng vó ngựa lao nhanh-một âm thanh kỳ quái, có lẽ vó ngựa được vải dày bao chặt, tiếng ngựa phi vô cùng nhỏ, nhưng số lượng quá nhiều, sau khi chạy đến gần mới có thể nghe được.
Lý Điển bỗng nhiên biết mình đã rơi vào bẫy của quân Hán, cái gọi là phục kích chẳng qua là mồi nhử, cố ý để làm cho mình phát hiện, khiến cho mình theo bản năng ra lệnh tập kết binh lực, tuy tập kết binh lực dàn trận bản thân không có sai, nhưng tập kết đội quân cần thời gian, trong sự xuất kích nhanh chóng của kỵ binh, quân đội thường sẽ tập kết không thành, ngược lại đúng lúc đó có lợi cho kỵ binh tiến hành tập trung đột kích tiêu diệt.
Lý Điển vội hô to:
- Ngừng lui binh, cung nỏ bày trận!
Nhưng đã quá muộn, ngoài năm mươi bước đột nhiên xuất hiện đội kỵ binh đông đúc lao nhanh tới, bọn họ được huấn luyện nghiêm chỉnh, như phong ba bão táp đến trong đêm tối, kỵ binh hùng mạnh này mới có thể làm được, trong đêm tối tập trung đột kích, chỉ có đội kỵ binh Hổ Báo của Tào Tháo mới có khả năng này, nhưng bây giờ quân Hán cũng có thể làm được rồi.
Lý Điển lòng nóng như lửa đốt, bây giờ chỉ có thể hy sinh tiền quân, hy vọng tiền quân này có thể hạn chế tối đa ngăn cản sự đột kích nhanh chóng của kỵ binh quân Hán, tranh thủ thời gian quý báu này cho hậu quân tập kết.
Lý Điển quay đầu ngựa lại liền chạy về phía hậu quân, gã chỉ chạy được hơn mười bước, liền nghe thấy phía sau truyền đến những tiếng kêu la thảm thiết thê lương, hơn một ngàn binh lính tiền quân đã bị dẫm đạp dưới móng sắt của quân Hán, trường mâu đâm nhanh, đâm xuyên qua ngực của quân địch, chiến đao như tia chớp, chém bay đầu quân địch, vó ngựa như sắt, đạp nát ruột gan trong ngực của quân địch, không bao lâu, máu tràn ngập, tứ chi bay tứ tung, tiếng la khóc, tiếng kêu thảm thiết vang khắp khe núi.
Lý Điển tuy có võ nghệ, nhưng đơn thương độc mã cũng khó địch lại sự tấn công dày đặc của kỵ binh, gã chỉ có thể nhanh chóng rút lui về hậu quân, tổ chức hậu quân tiến hành phản kháng, nhưng Lý Điển chạy không được trăm bước, bỗng nhiên sau vai một cơn đau nhức, khắp toàn thân mất hết sức lực, xuýt chút nữa gã đã rơi xuống ngựa, một mũi tên bắn trúng vào bả vai của gã trong đêm tối.
Hơn trăm bước, Bàng Đức thu hồi cung tiễn, tiếc nuối lắc đầu, mũi tên này bắn hơi chệch hai tấc, không thể bắn trúng tim của tướng địch.
- Tướng quân, hậu quân của quân địch đã tập kết.
Một tên kỵ binh lớn tiếng bẩm báo
Khóe miệng Bàng Đức lộ ra một tiếng cười lạnh lùng, lúc này hạ lệnh:
- Gõ vang trống trận!
- Tùng – tùng - tùng
Tiếng trống trận vang long trời lở đất, lệnh cho toàn bộ quân Hán xuất kích, Bàng Đức thống lĩnh ba ngàn kỵ binh cùng với một ngàn binh giả làm phục binh từ phía trước tiến thẳng về quân Tào, mà đúng lúc này, phần sau của quân Tào vừa tập kết xong cũng đã xảy ra đại loạn, phó tướng Lãnh Bao thống lĩnh ba ngàn kỵ binh từ phía sau đột kích tới, phát động tấn công mạnh vào phía sau của ba ngàn quân Tào vừa mới tập kích xong.
Lúc này, Lý Điển đã chạy về đến hậu quân, mặc dù vai gã trúng một mũi tên, không còn cách nào đơn thương độc đấu với Đại tướng của quân địch, nhưng chỉ huy tác chiến lại không bị ảnh hưởng, gã hô to:
- Lưng tựa lưng, tạo thành trường mâu trận!
Chương 923.2: Kỵ binh phục kích.
Quân Tào trú đóng ở Diệp huyện cũng là đội quân tinh nhuệ, cho dù gặp kỵ binh quân Hán tập kích bất ngờ, nhưng bọn họ phản ứng nhanh chóng, ngoại trừ hơn một ngàn tiền quân lui binh về phía sau không kịp, còn ba ngàn năm trăm hậu quân đã tập kết thành công, đối với yếu điểm hành trình, tập kết binh lực tuy dễ bị kỵ binh tập trung tiêu diệt, mà đối với quân tinh nhuệ, tập kết binh lực lại có thể hình thành sự chống cự hữu hiệu đối với kỵ binh.
Ở điểm này, Bàng Đức đã hơi khinh địch, trong quá trình hành quân của quân Tào, y nên nhân lúc đội quân đối phương kéo dài cho kỵ binh tiến hành đột kích, loại bỏ việc bao vây đối phương, làm như thế càng dễ bị đối phương phản kích, tuy nhiên khuyết điểm của chiến thuật này cũng thể hiện khá giống như thế, không thể lập tức tiêu diệt một số lượng lớn quân địch.
Bàng Đức đã loại bỏ chiến thuật cắt kim loại này, mà chọn dùng chiến thuật tập trung tiêu diệt, cố ý để lộ phục binh, khiến cho quân địch nhanh chóng tập kết, như vậy mặc dù có lợi cho việc tập trung tiêu diệt quân địch, nhưng một khi quân địch tập kết thành công, đồng nghĩa với việc tạo thành sự uy hiếp cho kỵ binh.
Trong sự cân nhắc lợi và hại, thì yêu cầu chủ tướng vô cùng hiểu rõ năng lực tác chiến của quân địch, ở điểm này Bàng Đức hơi có chút khinh địch rồi, điều này có liên quan đến việc y chỉ huy kỵ binh trong thời gian dài, đối với bộ binh luôn có một sự khinh miệt tận xương tủy.
Đội quân phía trước của quân Tào tuy bị kỵ binh quân Hán thảm sát tàn khốc, nhưng bọn họ cũng nhanh chóng đẩy mạnh cản trở kỵ binh quân Hán, cho quân Tào phía sau có thời gian tập kết, lúc kỵ binh quân Hán trước sau đến giáp kích, ba ngàn năm trăm quân Tào ở phía sau đã tập kết xong, nhanh chóng bày ra trận pháp trường mâu, lưng tựa lưng và chiến đấu kịch liệt với kỵ binh quân Hán.
Trận này chiến đấu kịch liệt thảm thiết, kỵ binh quân Hán bất luận là về số lượng hay vũ lực đều chiếm thế thượng phong, bọn họ tiến công dũng mãnh, giết chóc vô tình, đạp lên xương máu chất đống từng bước đẩy mạnh tiến về trước, nhưng quân Tào lại tử chiến đến cùng, chết rồi lại hồi sinh, dùng trận trường mâu dày đặc phản kích sự đột kích của kỵ binh quân Hán, không ngừng có chiến mã trúng mâu ngã sấp xuống, sau khi kỵ binh rơi xuống ngựa bị loạn mâu đâm chết.
Chiến tuyến rất ngắn khoảng nửa dặm, máu, thịt người - ngựa chết chất thành một bức tường máu thịt, cho dù quân Hán chiếm thế thượng phong, nhưng mỗi bước tiến về trước, đều phải trả giá thê thảm và nghiêm trọng, kế hoạch vốn là kết thúc trận đấu trong nửa canh giờ, một canh giờ qua đi, quân Tào vẫn còn hai ngàn quân, mà kỵ binh quân Hán lại tổn thất hơn ngàn.
Bàng Đức cũng có chút lo lắng, sự kháng cự ngoan cường của quân Tào khiến y chuẩn bị không kịp, tiếp tục đánh như vậy, cho dù là diệt toàn bộ đối phương, bọn họ cũng phải trả cái giá ít nhất cũng phải hai ngàn kỵ binh, cái giá phải trả này khiến y chịu không nổi, Bàng Đức bắt đầu hối hận, bản thân không nên khinh địch, nên nghe theo kiến nghị của Lãnh Bao, lúc quân địch hành quân tiến hành đánh bất ngờ, như vậy nhiều nhất chỉ tổn thất 200-300 người.
Đúng lúc này, một tên thân binh của Lãnh Bao cưỡi ngựa chạy vội tới, cao giọng hô:
- Tướng quân, Lãnh tướng quân kiến nghị dùng mũi nhọn đánh bất ngờ!
Một câu nhắc nhở Bàng Đức, y hung hăng vỗ vào trán, mình thật hồ đồ, lại quên mất cho kỵ binh mang vũ khí sắc bén nhất đối phó, y lớn tiếng rống to:
- Nhanh chóng lệnh cho kỵ binh mũi nhọn tiến lên!
Cái gọi là kỵ binh mũi nhọn, là một nhánh nhỏ đội kỵ binh được quân Hán bắt chước kỵ binh Quý Sương tạo thành, đặc điểm lớn nhất của nhánh kỵ binh này là mỗi người trang bị mười thanh đao ngắn chế tạo bằng thép cứng, đao ngắn dài năm thước, nặng mười cân, lấy hình giọt nước làm hình dáng bên ngoài, từ thô đến nhỏ, làm liền một mạch, đoạn trước bén nhọn vô cùng, bên ngoài rất giống mũi nhọn, cho nên gọi là kỵ binh mũi nhọn.
Bởi vì thanh đao thép này chế tạo không dễ, hao phí lớn, trước mắt chỉ tạo ra hơn một ngàn thanh, tổ chức và thành lập một nhánh kỵ binh mô hình nhỏ một trăm hai mươi người, mỗi người thân hình cao lớn, lực cánh tay hơn người, cưỡi những con ngựa cao to dũng mãnh, bằng lực cánh tay có thể phóng đao xa hơn ba mươi bước.
Phong nỏ tuy rằng cũng có thể bắn xuyên thủng lá chắn, tiêu diệt số lượng lớn quân địch, nhưng lúc địch ở quá gần ta, rất dễ làm tổn thương người khác, mà dựa vào lực ném ra mũi nhọn, thì còn thể hiện tương đối chính xác, tập trung, sức sát thương cực lớn.
Mặt khác cũng có thể sử dụng hỏa công, đem dầu hỏa vào trong đại trận của quân địch, khiến lửa dữ dội làm nhiễu loạn đội hình quân địch, nhưng đối với chiến mã lại không có lợi, rất dễ khiến cho chiến mã kinh động, ngược lại khiến cho kỵ binh rơi vào sự hỗn loạn, trong tình huống như vậy, khiến cho chiến thuật dùng mũi nhọn là tốt nhất.
Theo lệnh của Bàng Đức, một đội kỵ binh hối hả chạy đến, bọn họ chạy nhập vào kỵ binh tiền tuyến, lần lượt từ trong vỏ bao rút ra thanh đao ngắn sắc, ra sức ném vào trường mâu trận của quân Tào.
Hơn một trăm mũi nhọn vẽ ra một đường đen sáng trong bóng đêm, mũi nhọn tập trung ném vào trong trường mâu trận của quân Tào.
Một trăm hai mươi thanh đao sắc nhọn như một tia chớp màu đen, nhanh chóng và mạnh mẽ bắn vào trong trường mâu trận quân Tào dày đặc, tiếng kêu thảm thiết thê lương lập tức vang lên, lực ném đao cực lớn, mũi đao sắc nhọn, xuyên qua tấm chắn và áo giáp của binh sĩ quân Tào, phóng xuyên qua thân thể các binh sĩ, khiến vô số binh lính ngã xuống đất.
Ngay sau đó đợt thứ hai, đợt thứ ba, mỗi một đợt phóng ra không thương tiếc, đao ngắn bay nhanh, xẹt qua bầu trời đêm, mỗi một con đao hạ xuống đều sẽ có một tên binh lính chết thảm, sau năm vòng ném, số lượng quân Tào chết là hơn năm trăm người.
Lực sát thương mạnh mẽ của quân Hán khiến binh sĩ quân Tào sợ hoảng lên, nội bộ trường mâu trận bắt đầu dao động, Bàng Đức đã nhìn thấy quân địch phía Nam đã xuất hiện dấu hiệu chống đỡ hết nổi, quát to:
- Đánh trống xung kích!
Đích thân y quơ lấy dùi trống, ra sức gõ vang trống trận, tùng ! tùng! tùng tiếng trống đầy sự phấn chấn, đây là mệnh lệnh cuối cùng của một trận chiến, mấy ngàn kỵ binh quân Hán như cuồng phong vũ bão đã phát động cuộc tấn công mạnh mẽ cuối cùng vào trường mâu trận quân Tào.
Quân Tào cuối cùng ngăn cản không nổi, thống soái của trường mâu trận phía nam bị hủy, ý chí kháng cự trong nháy mắt đã biến mất, bọn lính giẫm đạp lên nhau, kêu khóc không ngớt, không để ý mọi thứ bỏ chạy tứ tán, càng nhiều người bỏ chạy lên núi, đây là đường ra duy nhất của bọn họ.
Việc tan vỡ quân Tào ở phía nam cũng kéo theo sự tan vỡ thế trận của đội quân phía bắc, Lý Điển ở phía bắc ngay lúc này, gã thấy thế trận không còn hy vọng, chỉ đành phải cố nén vết thương đau nhức dữ dội ở bã vai, cố chịu mũi thương đâm trúng, năm trăm binh lính cùng với gã liều chết phá vòng vây.
Trong sự hỗn chiến, Lãnh Bao thống lĩnh hai nhánh kỵ binh hơn ngàn người tiến thẳng vào hai đầu thung lũng, đã cắt đứt con đường lên núi chạy trốn của binh lính quân Tào, mà Lý Điển lại nắm chặt cơ hội kỵ binh quân Hán phân làm hai hướng, tìm được chỗ yếu điểm của quân Hán, quyết liều mình mở ra một đường sống, mang theo hơn một trăm binh lính chạy trốn về phía bắc.
Nhìn thấy chủ tướng chạy trốn, còn lại mấy ngàn binh lính quân Tào lại không còn đường sống, dần dần ném trường mâu, cởi áo giáp, quỳ xuống đất cầu xin đầu hàng, Bàng Đức thấy thế cục giành chiến thắng đã định, liền hạ lệnh:
- Đồng ý cho đầu hàng.
Chương 924: Binh áp Nam Dương
Từng nhóm binh lính quân Tào đầu hàng bị kỵ binh quát tháo ra lệnh đứng dậy, để tay lên đầu, xếp thành hàng rời khỏi chiến trường, binh lính rời đi, chiến trường tanh mùi máu khiến Bàng Đức cũng chịu không nổi thở dài một tiếng, trận chiến này, đối phương tuy tổn thất gần ba ngàn người, nhưng bảy ngàn kỵ binh của y cũng chết hơn ngàn người, trong lòng y buồn bã, quay đầu lại nói với Lãnh Bao: - Trận chiến này là ta khinh địch, tổn thất mới thê thảm và nghiêm trọng như vậy, ta phải thỉnh tội với điện hạ!
Lãnh Bao an ủi y nói: - Vốn tình báo thiếu hụt, chúng ta cũng không biết quân Tào dũng mãnh như thế, ta cho rằng không bàn đến việc tính nhầm, suy cho cùng ai cũng không phải là thần tiên, có thể tính toán chu đáo, có thể chiến đấu đến bước này, cuối cùng đánh tan quân Tào, cũng là thắng lợi của chúng ta, Tướng quân không cần giữ trong lòng.
Sự an ủi khuyên giải của Lãnh Bao khiến tâm trạng Bàng Đức đỡ hơn một chút, nhưng y vẫn vô cùng tự trách mình, khó mà tha thứ cho bản thân, lúc này y lại hỏi: - Lãnh tướng quân cảm thấy chúng ta là nhân cơ hội này hướng thẳng Diệp huyện, hay là tập kết ở Uyển Thành?
Lãnh Bao ngẫm nghĩ một chút nói: - Thám báo trước khi đi đã nói, Diệp huyện có mười ngàn quân canh giữ, chúng ta ở đây đã tiêu diệt năm ngàn người, vậy huyện thành kia hẳn là còn có năm ngàn người, đều là quân tinh nhuệ, dựa vào chúng ta là rất khó đánh hạ thành trì, quan trọng hơn là, Hán vương điện hạ cũng không có yêu cầu chúng ta tấn công Diệp huyện, mà là để cho chúng ta tham dự tấn công vây quanh Uyển Thành, chúng ta nên nghe theo lệnh của Hán vương, ở gần đây có hơn mười mấy thám báo, giám sát chặt chẽ phía Nam Tào quân.
Bàng Đức gật gật đầu: - Ngươi nói đúng, chúng ta nên nghe theo lệnh của Hán vương điện hạ, lập tức về phía nam Uyển Thành.
Y lập tức tìm đến một gã thám báo Nha tướng, lệnh cho hắn: - Ngươi có thể dẫn năm trăm kỵ binh thu dọn chiến trường, đồng thời cảnh giới dọc đường xuống phía nam, nếu có hàng loạt quân Tào về phía nam, phải lập tức thông báo cho chúng ta biết.
- Tuân lệnh!
Bàng Đức sắp xếp xong, liền nói với các tướng: - Lập tức quay đầu xuôi về phía nam, đi tới Uyển Thành!
Hơn năm ngàn kỵ binh đều quay đầu ngựa lại, áp tải tù binh quân Tào, trùng trùng điệp điệp hướng về Uyển Thành.
Lúc Lưu Cảnh thống lĩnh đội quân chủ lực đến nam hương huyện, thời gian đã là canh tư, lúc này hắn tuy chưa nhận được báo cáo của Bàng Đức, nhưng thông báo về cuộc chiến của huyện Dục Dương đã xảy ra, Văn Sính thống lĩnh hai vạn quân thần tốc xuất kích, bao vây tiêu diệt năm ngàn quân của huyện Dục Dương.
Lúc này quân phòng thủ ở huyện Nam Hương cũng đã nhận được lệnh điều động của Tào Hồng, đang chuẩn bị chạy đến Uyển Thành tập kết, nhưng vào lúc này, thám báo của quân Tào đã phát hiện quân Hán chủ lực đã tiến đánh sát ngoài mười dặm, quân phòng thủ vừa ra khỏi thành bị buộc phải từ bỏ đông tiến, ngược lại giữ vững thành trì.
Lưu Cảnh lập tức hạ lệnh đại quân bao vây Nam Hương huyện, chuẩn bị sau khi trời sáng tiến hành tấn công thành trên quy mô lớn.
Tướng phòng thủ của Nam Hương huyện tên là Vu Trạch, là tộc đệ của đại tướng quân Vu Cấm, luôn đi theo Vu Cấm, bởi vì quan hệ thân thiết với Vu Cấm mà khó có thể được thăng tiến, quan hệ giữa Tào Hồng và Vu Cấm cực kỳ tốt, Tào Hồng liền cho Vu Cấm một ân tình, thu nhận gã làm bộ tướng, Vu Trạch có chút nhạy bén, đầu óc tinh ý, rất được Tào Hồng tin cậy, trong thời gian mấy năm ngắn ngủi liền từ Nha tướng thăng làm Giáo úy.
Lúc này Vu Trạch giống một con kiến đang bò trên chảo nóng, ở trên đầu thành lo lắng đi qua đi lại, quân Hán ít nhất có bốn năm vạn quân, mà dưới tay gã chỉ có năm ngàn quân phòng thủ, Nam Hương huyện mặc dù không tính các huyện thành mục nát, nhưng so với Uyển Thành vẫn kém quá xa, một khi quân Hán tấn công quy mô lớn, gã căn bản là không giữ nổi thành.
Bất kể Vu Trạch suy nghĩ như thế nào, gã cũng không có lối thoát, càng không thể xin cứu viện của Tào Hồng, Vu Trạch thở dài, gã nhìn cái bóng cực lớn trong bóng đêm, trong lòng e ngại, đó là máy bắn đá cực lớn của quân Hán, huyện thành Nam Hương không lớn, một khi quân Hán dùng hỏa công, huyện thành sẽ trở thành một biển lửa.
Đúng lúc này, mấy tên lính chỉ xuống dưới thành hô to: - Tướng quân, hình như đã có kỵ binh đến.
Vu Trạch vội vàng vịn lỗ châu mai nhìn xuống phía dưới thành, chỉ thấy một tên kỵ binh tay cầm đuốc chạy hướng về phía này, gã bỗng nhiên biết được đây chính là kỵ binh truyền tin, vội vàng quay sang bọn lính quát:
- Không được bắn tên!
Kỵ binh chạy vội đến chân thành, hô lớn: - Hán vương điện hạ gửi tin cho Tướng quân!
Hô xong liền bắn một mũi tên ra, đầu mũi tên gắn một phong thư, có tên lính vội nhặt lên, chạy đến đưa trước mặt Vu Trạch, Vu Trạch nhìn kỵ binh truyền tin chạy xa, lúc này mới dùng ánh lửa tỉ mỉ xem thư, chỉ là ngoài phong thư khiến cho gã ngẩn ra, chỉ thấy tin viết trên phong thư Cảnh Hán vương gửi cho Vu Tướng quân - Giáo úy Ngụy quốc đây đúng là bút tích của Lưu Cảnh viết cho mình.
Gã không khỏi vừa mừng vừa lo, run rẩy mở phong thư, trong thư cũng là Lưu Cảnh tự tay viết, giao tranh với nhau, quân Hán không đành lòng tàn sát hàng loạt dân trong thành, đốc thúc gã lập tức đầu hàng, nếu không quân Hán không thể không dùng lửa thiêu toàn thành, không còn mảnh giáp, gia tộc Vu thị cũng sẽ trở thành tội nhân của Nam Hương huyện.
Lòng Vu Trạch khẽ lay động, điều Lưu Cảnh nhắc đến là gia tộc Vu thị, chẳng lẽ mục tiêu của hắn là huynh trưởng Vu Cấm của mình sao? Vu Trạch cũng biết quan hệ giữa Lưu Cảnh và huynh trưởng Vu Cấm hơi không bình thường, tuy là kết oán đã lâu, nhưng lại có một duyên phận đặc biệt.
Hơn nữa Vu Trạch cũng biết quân Hán đang dần dần lớn mạnh, mà quân Tào thì đang dần dần suy yếu, bất kể lòng người ủng hộ hay phản đối, vẫn là so sánh lực lượng quân sự, Lưu Cảnh thống nhất thiên hạ đã là xu thế tất yếu.
Quan trọng hơn là, hiện tại gã ngoại trừ con đường đầu hàng ra, căn bản là không có lối thoát, hoặc là huyết chiến đến cùng, có lẽ quân Hán căn bản cũng không cho bọn gã cơ hội này.
Vu Trạch suy nghĩ một lúc lâu, liền viết một phong thư hồi âm đơn giản, ngoắc tay gọi một gã thân binh tìm tới trước, chuyển thư cho hắn, lại nhẹ nhàng dặn dò: - Ngươi nhanh đi đến đại doanh của quân Hán.
Thân binh gật gật đầu, ngồi giỏ trúc xuống thành đi, nhìn thân binh đi xa, trong lòng Vu Trạch hấp thỏm không yên, không biết Lưu Cảnh sẽ trả lời mình cái gì đây?
Canh năm đã qua, ánh mặt trời bắt đầu ló dạng ở phía đông, trời đã sắp sáng rồi, Lưu Cảnh cả đêm không ngủ, vẫn ở trong đại trướng đi qua đi lại, lúc này hắn đã nhận được tốc thư do Bàng Đức phái người đem đến, quân Hán đã tiêu diệt toàn bộ năm ngàn viện quân Diệp huyện, nhưng trong tốc thư Bàng Đức cũng dám nói, bởi vì gã khinh địch mà khiến kỵ binh quân Hán tổn thất hơn một ngàn, đồng ý chấp nhận chịu phạt.
Hiện tại Lưu Cảnh tạm thời vẫn chưa nghĩ đến việc xử phạt Bàng Đức như thế nào, hắn chưa hề suy nghĩ chuyện này, hắn còn có vấn đề lớn hơn phức tạp hơn phải giải quyết.
Lần này quân Hán lấy ưu thế tuyệt đối tấn công Nam Dương, giành thắng lợi là điều tất nhiên, mấu chốt là làm sao mới có thể dùng cái giá thấp nhất để chiếm được Nam Dương, và chiếm lĩnh như thế nào củng cố được Nam Dương, đây mới là sự khiêu chiến ác liệt hắn cần phải đối diện.
Trước đó, mấy lần hắn chiếm lĩnh Nam Dương quận, nhưng mấy lần đều bị quân Tào đoạt lại, có quân Tào chủ động xuất kích, cũng có hắn chủ động rời khỏi.
Trên thực tế, Lưu Cảnh rất rõ vị trí chiến lược của Nam Dương, năm đó Lưu Biểu đồng ý Trương Tú chiếm cứ Uyển Thành, chính là hy vọng Uyển Thành có thể trở thành bức bình phong vững chắc, hôm nay giành được quận Nam Dương, không chỉ khiến chiến tuyến đẩy đến trước cửa lớn Hứa Xương, cũng khiến Kinh Châu không chịu sự uy hiếp của quân Tào.
Như thế vị trí chiến lược trọng yếu, quân Hán cuối cùng không thể chiếm lĩnh, một nguyên nhân rất quan trọng chính là chỉnh thể thực lực của quân Hán không bằng quân Tào, không thể không áp dụng chiến lược phòng thủ, bị bắt từ bỏ Nam Dương, ngược lại đem phòng tuyến lui về phía sau đến Hán Thủy.
Nhưng sau khi quân Hán giành được Quan Lũng, đã dần dần chuyển từ thế phòng thủ sang cân bằng chiến lược, mà trong bối cảnh này phát động chiến dịch Hợp Phì, cũng chính là phá vỡ sự lựa chọn tất nhiên của việc cân bằng chiến lược.
Khai thông ải đạo Nam Tương cũng là một phần của chiến dịch Hợp Phì, chiếm lĩnh quận Nam Dương và chiến lược yếu địa Hợp Phì, sự thắng lợi của cuộc đại chiến giành được Hợp Phì, là một bước then chốt chuyển từ chiến lược cân bằng sang chiến lược tấn công, ý nghĩa rất quan trọng.
Thực lực quân Hán đã có thể chống lại quân Tào, như vậy chiếm lĩnh lâu dài củng cố Nam Dương cũng sẽ trở thành điều có thể, chỉ cần quân Hán giữ vững tư thế uy hiếp Đồng Quan, quân Tào sẽ không dám hành động thiếu suy nghĩ ở quận Nam Dương.
Có thể nói, quận Nam Dương là một chiếc chìa khóa phá vỡ thế cục của cuộc đại chiến Hợp Phì, nắm giữ quận Nam Dương, sau này khi hắn xuất binh quy mô lớn Giang Đông, quân Tào sẽ không thể uy hiếp Kinh Châu ở phía tây, nắm giữ quận Nam Dương, cũng chính là đại cục phá vỡ sự liên minh Tôn Tào, đồng thời khiến quân Tào trong cuộc đại chiến ở Hợp Phì, một chân rơi vào thế bị động.
Để cho Lưu Cảnh cảm thấy may mắn chính là, chủ tướng phòng thủ Nam Dương là Tào Hồng mà không phải Trương Liêu, nếu là Trương Liêu, trong tình hình chiến cuộc bất lợi này y nhất định sẽ từ bỏ Uyển Thành, chuyển sang phòng thủ chắc chắn Diệp huyện, chỉ cần Diệp huyện không mất, Hứa Xương thì cũng sẽ không chịu sự uy hiếp của quân Hán.
Mà Tào Hồng lại không có mắt tinh tường kiểu cuộc chiến này, không chỉ cố thủ Uyển Thành, hơn nữa còn lệnh quân phòng thủ Diệp huyện nhanh đến chi viện Uyển Thành, không thể nghi ngờ là tự thanh lý môn hộ, đây cũng là nguyên nhân chính mà Tào Hồng không thể sánh bằng song hùng Hạ Hầu và Tào Nhân.
Đương nhiên, đây cũng là một nhược điểm của Tào Tháo, trong quân quyền dùng người không đúng, rõ ràng đem mười vạn đại quân Hợp Phì giao cho Trương Liêu, cuối cùng lão vẫn không an âm, đích thân chạy đến đốc chiến Hợp Phì, đây bằng với việc là không giao thực quyền cho Trương Liêu.
Mà Tào Hồng hai lần mất đi Nam Dương, Tào Tháo vẫn bổ nhiệm gã làm chủ tướng, chỉ có thể nói là vấn đề tín nhiệm trong lòng Tào Tháo.
Lưu Cảnh đang tự hỏi, lúc này, Pháp Chính cười đi vào lều lớn: - Điện hạ vẫn chưa nghỉ ngơi sao?
Lưu Cảnh thấy y quần áo chỉnh tề, cũng cười nói: - Chẳng phải quân sư cũng không hề nghỉ ngơi sao?
Pháp Chính gật gật đầu:
- Vi thần vừa mới đi một vòng quanh trại, đúng lúc gặp được binh sĩ phòng vệ bẩm báo, nói là chủ tướng Vu Trạch ở Nam Hương huyện phái tâm phúc đến cầu kiến điện hạ.
Đây là trong dự liệu của Lưu Cảnh, chính mình đã giữ thể diện cho Vu Trạch, gã ngoài việc đầu hàng ra, lại không còn lựa chọn nào khác, Lưu Cảnh liền khẽ mỉm cười hỏi: - Vu Trạch có yêu cầu gì?