Thời gian đúng vào giữa trưa, gió thổi hơi nóng như lửa đến ven hồ Thái Hồ, cả vùng đất nóng như bị thiêu, oi bức không chịu nổi, nhưng tiếng kèn trầm thấp vẫn văng vẳng ở phía nam.
Rất đông quân Hán có mặt ở nơi xa nhất của bờ Hà Đông của sông Ô Trình, trận chiến này rất quan trọng với hai bên. Cho dù quân Hán định vòng qua Ngô huyện bắc tiến lại bị do thám của quân Giang Đông phát hiện, từ đó bị quân Giang Đông chặn lại.
Thực tế có chiếm được Ngô huyện hay không đã không còn quan trọng, quân Hán cho dù có chiếm được Ngô huyện cũng không ảnh hưởng gì đến kết quả cuối cùng, mấu chốt là quân Hán phải chiến thắng được quân Giang Đông chặn đường tiến lên phía bắc. Bây giờ chỉ cần quân Hán đột phá được vòng vây ở phía bắc Thái Hồ, Tôn Quyền cho dù như thế nào cũng không thể tham dự vào cuộc chiến ở Hợp Phì.
Quân Hán cũng có gần tám nghìn quân, dưới sự lãnh đạo của Lục Tốn ở bãi bằng phẳng bên sông, phía sau cách mười dặm chính là huyện Ô Trình, ước chừng một trăm bước bên cạnh là sông Ô Trình, con sông gợn lên những sóng nắng lăn tăn.
Mùa hạ lượng nước dồi dào có thể đi thuyền lớn nghìn thạch, nối giữa Chiết Thủy và Thái hồ, nó thực ra chính là một nhánh của sông Chiết thủy, Chiết Thủy chảy ra biển, mà sông Ô Trình lại chảy về phía bắc vào Thái Hồ.
Hai đội quân cách nhau không đến một dặm, năm nghìn quân Giang Đông ở chỗ bãi đá tạo thành rất trận tiễn, phía trước là hai nghìn cung thủ, phía sau là ba nghìn bộ binh.
Hai nghìn cung thủ thực ra Thương binh sĩ, nhưng do bọn họ có thể kéo nỏ, tầm bắn xa. Khi quân Hán đến gần, Trường thương bộ binh phía sau nghênh chiến, cung thủ sẽ đổi trường thương, lại gia nhập vào chiến đấu.
Quân Hán cho dù có hơn tám nghìn quân, nhưng hai quân binh lực tương đương nhau, chỉ có thể nói nhân số của quân Hán nhiều hơn, nhưng về vũ khí thì quân Giang Đông chiếm ưu thế, nhất là cung nỏ của quân Giang Đông vô cùng sắc bén, là trang bị tốt nhất của quân Tào.
Mà đội quân này trước đây là quân Hội Kê, về trang bị vũ khí thua kém quân Giang Đông, chỉ là chiếm ưu thế về số lượng.
Chủ tướng quân Hán là Lục Tốn, y mặc dù còn trẻ nhưng kinh nghiệm tác chiến lại vô cùng phong phú, hơn nữa lại quen thuộc địa hình Giang Đông. Lần này quân Hán muốn nhanh chóng thoát đi, chỉ mang theo lương thực cho mười ngày, đi qua Thái Hồ đến quận Bì Lăng, đến quận Bì Lăng có thể có được lương thực.
Trong lòng Lục Tốn hiểu rõ đây là chiến dịch trọng yếu, nếu lần này bọn họ không giành chiến thắng, hoặc là binh lính bị thương và bị giết chết nhiều, lần chiến đấu với Giang Đông này có thể nhận lấy thất bại.
Lục Tốn nhìn bầu trời nắng gắt, y biết rằng nếu thời tiết cứ như vậy thì binh lính rất khó có thể duy trì thể lực sung mãn, sau một canh giờ, tướng sĩ hai bên đã không thể chịu đựng được cái nóng, sức chiến đấu giảm xuống rõ rệt.
Lục Tốn yên lặng nhìn quân Giang Đông ở phía xa, y ra lệnh:
- Đao thuẫn binh xuất kích.
Năm nghìn Đao thuẫn binh quân Hán đứng ra, giương cao tấm chắn lên, tay cầm đao, bụi bay mù mịt, sát khí dày đặc hai bên bờ sông Ô Trình, thổi quét về phía quân Giang Đông.
Quân Giang Đông đã bày sẵn trận địa đón địch, Tưởng Khâm khàn khàn ra lệnh:
- Cung thủ chuẩn bị.
Hai nghìn quân Giang Đông mỗi người tay cầm một nỏ quân, phía sau lưng có bình đựng cung tên, xếp thành ba hàng, sau khi Tưởng Khâm hạ lệnh, ba hàng đồng loạt bước lên kéo giãn khoảng cách, tầm bắn của quân Giang Đông là khoảng hai trăm bước, mà trong khoảng 120 bước là có lực sát thương lớn nhất.
Khi quân Giang Đông tới gần khoảng ba mươi bước, cung thủ lui lại để cho trường thương binh phía sau tiếp tục chiến đấu. Khi quân Hán vào tầm sát thương trong khoảng 90 bước, binh sĩ bình thường có thể bắn hai mũi tên, binh sĩ trải qua huấn luyện có thể bắn ba mũi tên.
Trong nháy mắt Đao thuẫn quân của quân Hán đã rơi vào tầm bắn, hai nghìn cung thủ giương cao cung, chếch 30 độ, quân địch càng ngày càng gần, bụi bay mù mịt, phủ kín cả trời, hoàn toàn không nhìn thấy bóng dáng của quân Hán, chỉ nghe thấy tiếng trống vang vọng. Sáu trăm mũi tên lượt thứ nhất của quân Giang Đông bay lên trời, gào thét bay về phía đám bụi đất vàng tràn ngập, lượt tiễn thứ nhất bắn xong, sau đó lượt thứ hai lượt thứ ba đều bắn ra, một vòng ba lượt tên, hai nghìn tên nỏ giống hết tấm lướt tên, che kín bầu trời bắn về phía Đao thuẫn binh của quân Hán.
Trong đám bụi đất màu vàng bắt đầu có tiếng kêu thảm thiết, mặc dù có lá chắn hộ vệ nhưng vẫn có binh lính trúng tên, té ngã trên mặt đất. Không ít mũi tên đã bắn xuyên qua tấm chắn của binh lính, trúng vào ngực hoặc mặt của binh sĩ quân Hán.
Nhưng binh lính quân Hán lúc này bị giết quá nhiều đến mức đỏ cả mắt, nên không màng sinh tử chạy về phía trước, cung tiễn thủ của quân Hán ở đằng sau cũng bắn ra, mũi tên rơi như mưa, mũi tên như châu chấu tạo ra thảm cảnh giết chóc trên chiến trường.
Hai đợt hơn bốn nghìn mũi tên bắn chết được bốn trăm người, binh lính quân Hán liền xông lên, cung thủ quân Giang Đông liền lui về phía sau, binh sĩ quân Giang Đông ở mặt sau đã cầm thương ứng chiến. Ngày càng gần, hai bên trên mặt đều lộ rõ sự tức giận, nhưng bỗng nhiên binh lính phía trước sắc mặt thay đổi, trở nên vô cùng hoảng sợ, nhưng bọn họ không thể dừng lại, chỉ thấy bọn họ nhắm mắt tuyệt vọng thét chói tai.
Một tiếng vang thật lớn trong phút chốc, hai đội quân ầm ầm lao vào nhau, phía trước có vô số người va vào nhau chết bi thảm, thân thể bị phá thành mảnh nhỏ, mũ giáp và trường thương bay lên trời, một cuộc chiến ác liệt đang diễn ra.
Binh lính đánh nhau theo từng đôi, lưỡi đao bổ, những tiếng kêu thảm thiết, xương cốt bị chém đứt kêu răng rắc, trước khi chết cổ họng còn không ngừng kêu răng rắc.
Chủ tướng của quân Giang Đông Tưởng Khâm vô cùng dũng mãnh, tay y cầm một thanh đại đao nặng sáu mươi cân chiến đấu với một tướng lĩnh trẻ tuổi của quân Hán, kinh nghiệm không đủ, chiến không đến mấy hiệp, không kịp né tránh, Tưởng Khâm phản công chém tướng lĩnh của quân Hán thành hai mảnh, nội tạng văng ra, máu tươi phun trào.
Bên kia chủ tướng của quân Hán là Lục Tốn vô cùng giận dữ, y tay cầm trường thương, phóng ngựa chạy về phía trước. Lúc này phó tướng của quân Giang Đông Phan Lung hét lớn một tiếng, y là đệ đệ của Phan Chương, tay cầm đại đao, y vốn có quan hệ không tốt với Lục Tốn, hôm nay thấy Lục Tốn, rốt cuộc kìm không được ý muốn giết người.
- Lục nghịch hãy tiếp một búa của ta.
Phan Lung bổ một búa, rất mạnh, Lục Tốn cười lạnh một tiếng, đỉnh thương đâm, hai người chiến đấu kịch liệt mười mấy hiệp. Lục Tốn phát hiện ra nhược điểm của Phan Lung, hai con ngựa chạy qua nhau, Lục Tốn phản công một thương đâm trúng sườn trái của Phan Lung.
Nơi này đúng là nhược điểm của Phan Lung, Tưởng Khâm cũng nhìn ra chỗ không ổn, hô to một tiếng:
- Tướng quân Phan Lung phòng thủ bên phải.
Nhưng đã quá muộn, Lục Tốn ra tay nhanh như chớp, một thương đâm xuyên qua giáp của Phan Lung, Lục Tốn hét lớn một tiếng nhấc Phan Lung lên giữa không trung, Phan Lung quay xuống dưới, một đôi mắt mở to tức giận trừng Lục Tốn, dùng phần sức lực cuối cùng nhổ nước bọt về phía Lục Tốn.
Đã đến xế chiều, nắng gắt như thiêu đốt mặt đất giống như đang nướng đất, xung quanh nóng hôi hổi, người giống như bị cho vào trong lò, khiến cho người ta không thể thở nổi.
Ở bên kia sông, cuộc chiến ác liệt vẫn tiếp tục, cuộc chiến ác liệt đã kéo dài hai canh giờ nhưng thể lực của hai bên đều giảm nhanh chóng, mồ hôi và máu loãng hòa vào nhau, binh lính Hội Kê không được huấn luyện nhiều, thể lực không bằng binh lính Ngô quận, dần dần bị rơi vào thế hạ phong, không ít binh lính vì cạn kiệt thể lực mà ngất đi.
Mà binh lính Giang Đông thể lực cũng giảm rõ rệt, tuy rằng chiếm được thế thượng phong nhưng cũng khó có thể đánh tiếp, chỉ có điều đang chiến đấu không thể rời khỏi chiến trường, cũng không biết trận chiến này bao giờ mới kết thúc.
Lúc này một tên lính do Tưởng Khâm phái đến hô lớn:
- Lục đô đốc, tướng quân nhà tại hạ muốn tạm thời ngừng chiến, Lục đô đốc có thể đáp ứng hay không?
Lục Tốn cũng biết binh lính của y không thể tiếp tục chiến đấu được nữa, y cũng đang muốn đồng ý. Nhưng vào lúc này phía đông lại truyền đến tiếng kèn vang dội, tiếng kèn giống như trận cuồng phong thổi đến, cũng mang đến sự ớn lạnh cho binh lính Giang Đông.
Chỉ thấy một đội quân ước chừng hai nghìn người của quân Hán chạy đến từ hướng đông, lá cờ phấp phới có thêu chữ “Hán”, đây là quân Hán ở quận Tân Đô, phía trước là hai nghìn kị binh sau còn có ba nghìn bộ binh, do chủ tướng Triệu Nghiễm cầm đầu, đúng lúc chạy đến cuộc chiến ở Ô Trình.
Sĩ khí quân Giang Đông nhanh chóng tan rã, bọn họ không còn ý chí để tiếp tục chiến đấu, liền chạy về phía thuyền hàng. Nhưng chỉ mới hai nghìn người lên thuyền thì kị binh quân Hán liền đuổi tới, chém giết quân Giang Đông như thái dưa thái rau, khiến tiếng kêu khóc vang vọng, quân Giang Đông chết như ngả rạ.
Tưởng Khâm biết không còn cách nào cứu binh lính, nếu không đi thì toàn quân sẽ bị tiêu diệt, y vội vã hô:
- Nhanh chóng lái thuyền đi vào Thái Hồ.
Bọn lính liều mạng chèo, một con thuyền lớn chạy vào Thái Hồ, mà binh lính Giang Đông không kịp lên bờ tuyệt vọng, khóc lớn nhìn con thuyền ở phía xa. Lúc này kị binh đuổi tới, binh lính Giang Đông không có đường lui, đều quỳ xuống đầu hàng, cầu xin tha mạng.
Tưởng Khâm mắt rưng rưng, y thở dài một tiếng, nếu bọn họ có năm nghìn thùng dầu hỏa thì cũng sẽ không thất bại thảm hại như vậy.
........
Năm nghìn quân Hán tới cứu viện mang đến cho Lục Tốn niềm vui bất ngờ. Y lập tức quay ngựa lại đi tiếp đón chủ tướng quân cứu viện - Triệu Nghiễm.
- Cảm tạ Triệu sứ quân tới đúng lúc khiến cho Lục Tốn thoát khỏi cảnh bại trận nhục nhã.
Lục Tốn cực kì thành khẩn biểu thị sự cảm kích với Triệu Nghiễm.
Triệu Nghiễm vốn là quan lớn của quân Tào, địa vị trong quân đội thậm chí cao hơn Trương Liêu, Tử Hoảng, nhưng do y là quan lớn nên ít ra trận đánh giặc vì vậy mà không nổi danh.
Nhưng Triệu Nghiễm luôn cao ngạo, sau khi đầu hàng Lưu Cảnh, luôn không hòa hợp với các tướng quân khác như Cam Ninh, Ngụy Diên. Lưu Cảnh liền cho y đảm nhiệm quan văn, trước sau đảm nhiệm thái thú của Trường Sa và Nam Quận.
Lần đại chiến ở Hợp Phì này, y được bổ nhiệm làm tổng đốc hậu cần, đốc thúc quân lương ở Kinh Châu. Nhưng Triệu Nghiễm vẫn không kìm nổi khát vọng muốn được xuất chiến, chủ động xin với Hoàng Trung cho đi giết giặc, tiến đánh Lục An, lại bị Từ Hoảng đánh bại, gần như toàn quân bị diệt.
Triệu Nghiễm cũng bị Hoàng Trung khiển trách, về làm quan hậu cần ở Sài Tang. Sau lần đại bại y khó có thể loại bỏ được sự sỉ nhục, cũng may Hán Vương điện hạ bao dung, cho y một cơ hội giết giặc để rửa hận, cho y năm nghìn quân, bao gồm hai nghìn kị binh đi đường bộ đến quận Tân Đô, tiếp viện cho Lục Tốn ở Ngô quận.
Lưu Cảnh ở trong thư dặn dò y rất nhiều, trong cuộc chiến ở Ngô quận phải coi Lục Tốn là chủ tướng, y chỉ đi tiếp viện Lục Tốn không phải đến thay thế Lục Tốn.
Đương nhiên cũng là bởi vì thảm bại ở Lục An, bây giờ Triệu Nghiễm đã không còn ngạo mạn như trước, y cực kì khiêm tốn cười nói với Lục Tốn:
- Ta cũng chỉ vừa may đến đúng lúc, tất cả đều do sự cố gắng của Lục đô đốc.
Sự khiêm tốn của Triệu Nghiễm lấy được thiện cảm của Lục Tốn, Lục Tốn cũng cười nói:
- Thẳng thắn mà nói, chỉ dựa vào quân lực của tại hạ, chỉ sợ khó giành được phần thắng, lần này có thêm quân tiếp viện của Triệu sứ quân, trận chiến này chúng ta nhất định sẽ giành thắng lợi.
Triệu Nghiễm gật đầu, chỉ vào khoảng không bên cạnh nói:
- Chúng ta ngồi xuống rồi nói.
Từ sớm đã có binh lính trải chiếu sẵn, Triệu Nghiễm lấy ra bản đồ Giang Đông, mở nó ra nói:
- Tại hạ muốn biết kế hoạch của Lục đô đốc.
Chương 944.1: Phá cục Giang Đông.
Lục Tốn trầm ngâm một lúc rồi nói:
- Không dối dạt Triệu sứ quân, Lâu Phát tướng quân đi đường biển, chuẩn bị tiến vào Ngô quận từ Tùng Giang, nếu không có chuyện ngoài ý muốn thì quân của y bây giờ hẳn đã vào Tùng Giang rồi.
Nói đến đây, Lục Tốn cười khổ:
- Ta cho binh trú ở huyện Tiền Đường, tại hạ trước đây cho rằng Hoàng Cái sẽ xuất binh xuôi nam như vậy Ngô huyện sẽ trống không. Như vậy Lâu tướng quân sẽ có cơ hội, nhưng không ngờ Hoàng Cái lại án binh bất động, nếu không phải lần này tại hạ chiếm được huyện Ô Trình, y chắc chắn sẽ không chịu xuất binh, tại hạ đoán rằng kế hoạch Lâu Phát tướng quân đánh lén Ngô huyện chắc không thành công rồi.
Triệu Nghiễm suy nghĩ một chút nói:
- Thật ra cũng không sao, Giang Đông kênh rạch chằng chịt, nếu Hoàng Cái vẫn tiếp tục án binh bất động, Lâu tướng quân có thể cho quân trực tiếp quay đầu bắc tiến đến quận Bì Lăng, quân Giang Đông chỉ cố thủ một tòa thành cô lập Ngô huyệ, n kì thật cũng chẳng có ý nghĩa gì rồi.
Lục Tốn quay đầu nhìn kị binh quân Hán, cười nói:
- Có kị binh ở đây tại hạ có một kế hoạch bất ngờ tập kích Ngô huyện.
Lục Tốn nói khẽ với Triệu Nghiễm vài câu, Triệu Nghiễm gật đầu cười nói:
- Kế này rất hay, cho dù Hoàng Cái biết có nguy hiểm nhưng y vẫn sẽ giống trước đây không hành động gì, tại hạ cho rằng kế này rất khả thi.
Tưởng Khâm kiểm lại quân số trốn thoát khỏi Thái Hồ, chỉ còn hơn một nghìn tám trăm người, tổn thất hơn ba nghìn người ở huyện Ô Trình, điều này khiến cho Tưởng Khâm vô cùng buồn bã, bắt đầu nghi ngờ tương lai của Ngô quận.
Đêm ngày hôm sau, đội thuyền của Tưởng Khâm men theo sông Tư Thủy về đến Ngô huyện chậm rãi đi vào thành. Hoàng Cái nghe tin Tưởng Khâm thất bại vội vàng chạy tới.
Trong lòng Tưởng Khâm hổ thẹn, quì xuống nói:
- Ty chức không thể chống lại sự tiến công của quân Hán, hao tổn binh tướng, đại bại trở về. Phan Lung tướng quân cũng bị Lục Tốn giết chết, đây là lỗi của ty chức, ty chức nguyện nhận tội với tướng quân.
Hoàng Cái vội vàng nâng y dậy, trấn an nói:
- Tưởng công không cần tự trách, ta nghe nói quân tiếp viện của quân Hán đến, bất kể là ai thì trận chiến này tất bại, đây không liên quan đến Tưởng công.
Tưởng Khâm thở dài:
- Kỳ thật trận này không phải chúng ta không có khả năng chiến thắng, nếu dầu hỏa là thật, tại hạ đã sớm đánh bại Lục Tốn, cướp lấy huyện Ô Trình rồi, cho dù quân tiếp viện của quân Hán đến ta cũng có thể giữ được thành, trận chiến này thất bại một nửa nguyên nhân là do chúng ta.
Hoang Cái kinh ngạc:
- Ý Tưởng công dầu hỏa là giả ư?
Tưởng Khâm cười khổ nói:
- Lão tướng quân không kiểm tra qua hay sao?
- Bình thường thì sẽ mở ra kiểm tra nhưng không ai nghĩ đó là giả nên không mở ra.
- Lão tướng quân vẫn nên đi kiểm tra một chút đi.
Hoàng Cái hạ lệnh cho người dưới quyền đi kiểm tra dầu hỏa, nhưng trong lòng ông vẫn không yên, tự mình đến kho hàng. Trong kho hàng rộng lớn mấy trăm binh lính cạy mở mấy trăm thùng dầu hỏa, kiểm tra từng thùng, sắc mặt Hoàng Cái thay đổi liên tục, ông đã nhìn ra có vấn đề.
Lúc này, một hạ cấp vào bẩm báo:
- Khởi bẩm lão tướng quân, tại hạ mở ba trăm thùng dầu hỏa chỉ có mười thùng là thật, số dầu hỏa còn lại đều là nước trộn với dầu, dầu hỏa thực tế chỉ có năm cân, còn lại thường là nước và dầu trộn lẫn.
Hoàng Cái sắc mặt trắng bệch, một lúc lâu sau mới oán hận nói:
- Ngô hầu làm như vậy không phải rất quá đáng với người khác sao.
Tưởng Khâm cũng đã từng vô cùng căm phẫn, y nói với Hoàng Cái:
- Ngô hầu đương nhiên sẽ không làm như vậy, đây chỉ sợ là Tào Tháo âm thầm phá rối, mười nghìn thùng dầu hỏa này là do Tào Tháo đưa đến, ngay từ đầu Tào Tháo đã không có lòng tốt, là chúng ta đã quá tin tưởng vào liên quân Tôn Tào rồi.
- Ngươi nói không sai, ta còn tưởng rằng có thể dựa vào năm nghìn thùng dầu hỏa để thủ thành, hiện tại Tào Tháo đã chặt đứt nốt niềm hi vọng cuối cùng của ta.
Hoàng Cái thở dài một tiếng, trong lòng cảm thấy cực kì phẫn uất.
Đúng lúc này một quân hầu chạy gấp tới, quì gối bẩm báo:
- Khởi bẩm lão tướng quân, do thám phía đông báo tin phát hiện một đội tàu của quân Hán ở cách Tùng Giang bốn mươi dặm, ước chừng năm mươi chiến thuyền, đều là chiến thuyền nghìn thạch.
Tin tức này khiến Hoàng Cái và Tưởng Khâm ngây ngẩn cả người, hai người ngơ ngác nhìn nhau, sao lại có đội tàu của quân Hán từ Tùng Giang đến đây? Hoàng Cái phản ứng đầu tiên, chỉ sợ đây chính là đội hải quân của quân Hán lui khỏi Ngô quận từ phía đông, Ngô hầu luôn phòng bị bọn họ, hiện tại không ngờ bọn chúng lại từ biển đánh vào đây.
- Đây là sách lược ban đầu của quân Hán, Lục Tốn ở huyện Tiền Đường dụ ta xuôi nam, đội quân này sẽ thừa dịp tấn công Ngô huyện. May mắn là ta án binh bất động, quả nhiên có điều bất thường trong này.
Hoàng Cái cảm thấy may mắn, ông lập tức lệnh cho binh lính đưa tin:
- Truyện lời cho đội do thám theo dõi sát sao đội tàu này, có bất kì chuyện gì xảy ra lập tức bẩm báo cho ta.
Trong lòng Hoàng Cái vô cùng lo lắng, hiện tại quân Hán đánh từ nhiều hướng, xem ra đã có đến hai vạn quân đội, hơn nữa lại chiếm được huyện Ô Trình, mà chính mình cố thủ Ngô huyện cũng không phải là biện pháp hay, một khi quân Hán từ huyện Ô Trình vượt qua Thái Hồ tiến về phía bắc, vấn đề này sẽ vô cùng nghiêm trọng.
Nhưng nếu như rời thành ngăn địch, ông lại không nắm chắc phần thắng, lại không phù hợp với sách lược của ông, trong lúc nhất thời Hoàng Cái rơi vào tình thế khó xử.
Ngày hôm sau lúc trời còn chưa sáng, Hoàng Cái lại nhận được tin cấp báo, đội tàu của quân Hán xuất hiện ngày hôm qua lại tiếp tục tiến về phía tây thêm hai mươi dặm, lại vòng theo hướng bắc đi dọc theo sông Lâu Giang hướng về quận Bì Lăng.
Hoàng Cái sợ hãi, ở quận Bì Lăng chỉ có chưa đến một nghìn quân, cũng là nơi trọng yếu dự trữ quân lương, liên quan đến an nguy của Giang Đông. Nếu như quân Hán chiếm được huyện Bì Lăng, Ngô hầu không thể không buông tha cho cuộc chiến ở Hợp Phì, đây đúng là kết quả Lưu Cảnh mong muốn.
Mặc dù biết tiến đánh quân Hán từ phía nam rất nguy hiểm nhưng Hoàng Cái không thể cho quân Hán tiến đến quận Bì Lăng. Y ra lệnh cho Tưởng Khâm dẫn năm nghìn quân đội thủ thành, Hoàng Cái dẫn năm nghìn quân đội ra khỏi thành chạy về hướng đông bắc, đội tàu quân Hán nhiều nhất chỉ đi được hơn mười dặm, nhiều nhất một ngày là ông ta có thể đuổi kịp.
Địa hình Giang Nam trũng, kênh rạch chằng chịt, rất nhiều hồ nước rất dễ đào kênh đào. Từ thời Xuân Thu Ngô Việt, Giang Nam liền đào kênh đơn giản để nối giữa Trường Giang và sông Tiền Đường.
Sau khi Tôn Quyền dời đô về Kiến Nghiệp, để tăng mạnh liên hệ giữa Ngô quận và Kiến Nghiệp, lại khơi thông kênh đào một lần nữa, bắt đầu hình thành nên kênh đào Giang Nam. Đến tận thời Tùy Dương Đế, vì để đánh vỡ thế giằng co giữa nam bắc thì bắt đầu cho đào kênh rạch, lúc này kênh đào Giang Nam mới chính thức hình thành, đến tận bây giờ vẫn sử dụng.
Chiến thuyền của quân Hán tiến về phía bắc, đi đúng và kênh đào chưa hoàn thành, kênh đào mới chỉ đến huyện Bì Lăng, có thể đi thuyền nghìn thạch, năm mươi chiến thuyền giương buồm trùng trùng điệp điệp tiến về phía bắc.
Chương 944.2: Phá cục Giang Đông.
Lúc hoàng hôn, Lâu Phát đứng ở đuôi chiếc thuyền cuối cùng, chống đao đứng. Lúc này ánh nắng không còn quá gay gắt, nắng chiều như lửa, nhuộm đỏ cả không trung. Lâu Phát thỉnh thoảng nhìn về phía bờ tây, hôm qua y mới nhận được tin của Lục Tốn, hy vọng y có thể phối hợp sử dụng kế dụ binh, dụ Hoàng Cái đi khỏi Ngô huyện.
Lâu Phát vui vẻ chấp nhận đề nghị của Lục Tốn, lệnh cho đội tàu đi Lâu Giang, đi về phía kênh đào Giang Nam ở phía bắc, đi thẳng đến huyện Bì Lăng. Lúc này đội thuyền của y đã cách Ngô huyện sáu mươi dặm, theo thời gian ước tính thì truy binh của Hoàng Cái hẳn phải đuổi kịp rồi.
Đúng lúc này binh lính ở trên cột buồm hô to:
- Tướng quân, phía bờ tây có địch.
Lâu Phát đi sang mạn trái thuyền, chăm chú nhìn về phía nam, không bao lâu sau, y quả nhiên nhìn thấy một quân đội đông nghìn nghịt đang chạy về phía bắc, đây chính là truy binh của Hoàng Cái, Lâu Phát hạ lệnh:
- Truyền lệnh của ta, đội tàu đi vào bờ thả neo, toàn bộ quân đội lên bờ.
Lâu Phát không dám khinh địch, kênh đào khá hẹp, nếu quân Giang Đông công kích bằng dầu hỏa, đội thuyền của y sẽ toàn bộ bị tiêu diệt. Đội tàu của quân Hán đi chậm lại, thả neo, toàn bộ quân Hán ở trên thuyền đều xuống, xếp thành trận địa cung tên ở bờ phía đông, giơ cao cung tên nhắm về phía địch ở bờ phía tây.
Không bao lâu, Hoàng Cái cầm đầu năm nghìn quân đuổi theo đội tàu, lúc này Hoàng Cái cũng phát hiện đối phương đã lên bờ, cung nỏ trận chuẩn bị sẵn trận địa đón quân địch, y phất tay ra lệnh:
- Dừng truy kích.
Năm nghìn quân Giang Đông ngừng chạy, một nghìn binh lính giơ lá chắn lên chậm rãi tới gần bờ, thăm dò hư thực của quân Hán. Ngay khi quân Giang Đông vừa đến bờ biển, bờ bên kia liền truyền đến tiếng bắn cung, từ trong khe thuyền bắn ra một trận tên dày đặc bắn về phía quân địch.
Chiều rộng của kênh đào là hơn ba mươi thước, trước đây vốn là một con sông nhỏ không rộng gì, chiến thuyền nghìn thạch rất khó đi qua. Do sông sâu nên nhìn có vẻ hai quân đang cách nhau năm mươi bước nhưng thực ra là không đủ, vừa đúng nằm trong tầm bắn tốt nhất của cung tên, nói cách khác lực lượng mạnh mẽ của nỏ quân có thể phá được lá chắn.
Một làn tên dày đặc bắn thủng tấm chắn của binh lính Giang Đông, bờ tây đột nhiên vang lên nhiều tiếng kêu thảm thiết, mấy trăm binh lính bị bắn thủng tấm chắn, những binh lính còn lại sợ đến mức nằm úp sấp trên mặt đất, không dám tiến lên cố gắng bò càng xa càng tốt.
Lâu Phát không hề rời thuyền, y đứng sau một câu cột buồm rất lớn, quan sát hướng đi của quân Giang Đông ở bờ tây, thấy quân Giang Đông đều mặc quần áo nhẹ cũng không mang theo đồ quân nhu, cũng không thấy bọn họ mang theo dầu hỏa hoặc túi da dầu hỏa.
Lâu Phát lập tức hiểu được, có lẽ việc y lo lắng sẽ không xảy ra, đối phương không có ý thiêu hủy thuyền, hơn nữa nhìn chiến thuật của đối phương là muốn cướp lấy thuyền, trước thử thực hư thế nào sau đó cho đại quân ào tới bơi qua sông đoạt thuyền.
Lâu Phát nhìn ra ý đồ của đối phương lập tức hạ lệnh:
- Truyền lệnh toàn quân lên thuyền.
- Keng keng keng! '
Tiếng chuông vang vọng dưới ánh nắng chiều, đây là tín hiệu lên thuyền, ba nghìn quân Hán ào lên thuyền như thủy triều, lập tức ngồi xuống bên cạnh mép thuyền, từng nhánh nỏ quân nhắm về phía quân Giang Đông ở chỗ cách chiến thuyền năm mươi bước.
Lúc này, Hoàng Cái cũng đã hạ lệnh đoạt thuyền, một nghìn binh lính tay cầm trọng thuẫn và mâu chậm sắc bén rãi tiến lên, đây cũng là phát minh của quân Hán, cách hai trăm bước có thể chống lại lực xuyên thấu của nỏ Đại Hoàng, quân Hán đã từng làm thí nghiệm, nó thậm chí còn có thể chống lại lực xuyên thấu của phong nỏ trong vòng 150 bước, mà nỏ quân bình thường khó có thể bắn xuyên được.
Chỉ có điều loại trọng thuẫn này rất khó chế tạo, làm ra một cái nỏ mất ít nhất một năm, bởi vì phải dùng ít nhất nửa năm để ngâm phơi, thợ thủ công của quân Tào cũng học cách làm loại trọng thuẫn này, mất ba năm để làm ra năm nghìn trọng thuẫn. Trương Liêu sau khi hỗ trợ quân Giang Đông đánh chiếm Ngô huyện đã để lại một nghìn trọng thuẫn trang bị cho một nghìn binh lính Giang Đông, lần này Hoàng Cái đem toàn bộ một nghìn Trọng thuẫn binh này đi.
Trọng thuẫn binh giơ cao lá chắn lớn, từng bước đi về phía bờ sông. Lúc cách bờ còn chưa đến năm mươi bước, một loạt tiếng mõ vang lên, cùng lúc có hơn một nghìn tên từ chiến thuyền bắn ra, mấy nghìn mũi tên bắn về phía binh lính Giang Đông ở bờ tây.
Lúc này, Trọng thuẫn có thể chống lại tên xuyên thấu không có bất cứ binh lính nào trúng tên, Lâu Phát ớn lạnh nhìn đám lính này, y thấp giọng ra lệnh:
- Ngừng bắn tên, chuẩn bị dầu hỏa.
Quân Hán từ trong thuyền lấy ra mấy nghìn bình dầu hỏa, loại bình gốm này cổ dài nhỏ, nối với dầu hỏa chỉ nặng có hai cân, rất thích hợp để binh lính ném, bình thường binh lính có thể ném khoảng ngoài ba mươi bốn mươi bước.
Nhưng vào lúc này, xa xa truyền đến một loạt tiếng động như sấm chớp, lục địa rung chuyển, loại chấn động này quân Giang Đông rất khó có thể hiểu được nhưng quân Hán lại hết sức quen thuộc, có binh lính hét to:
- Là Kị binh.
Quả nhiên, phía nam xuất hiện một màu đen xì, mà đám đen xì đó ngày càng tiến lại gần, biến thành chiến mã làm cho bụi bay mù mịt. Mặc dù chỉ có hai nghìn kị binh nhưng tạo ra tiếng động kinh thiên động địa.
Trong lòng Hoàng Cái trầm xuống, chuyện ông ta lo lắng nhất đã xảy ra. Trước khi ông ta xuất binh đã lo lắng có quân Hán ở phía nam đánh úp ở phía sau, nhưng ông không thể để chiến thuyền của quân Hán dễ dàng tiến đến quận Bì Lăng. Ông không thể không ra khỏi thành truy kích, chỉ hi vọng quân Hán không kịp tiến về phía bắc.
Nhưng bây giờ quân Hán đánh tới khiến cho chút hi vọng mỏng manh của ông bị dập tắt, ông liền hô lớn:
- Xếp thành hàng chuẩn bị nghênh chiến.
Lúc này nghênh chiến cũng không phải quyết định sáng suốt, quyết định sáng suốt là lập tức rút lui về phía bắc sau đó mới từ từ rút khỏi, như vậy kị binh quân Hán cũng bị kênh đào ngăn trở. Nhưng Hoàng Cái không lựa chọn phương án này, mà Lâu Phát cũng không cho ông ta cơ hội, Lâu Phát lập tức hạ lệnh cho quân xuống khỏi chiến thuyền xếp thành hàng chuẩn bị phối hợp với kị binh ở phía sau tiến đánh quân Giang Đông.
Tiếng trốn trận vang vọng, kị binh lấy khí thế tiến vào trong lòng quân Giang Đông. Lúc này, Lâu Phát cầm đầu ba nghìn quân Hán từ phía sau tiến đánh quân Giang Đông.
Bởi vì có sự xuất hiện của hai nghìn kị binh làm gia tăng tốc độ chiếm được Ngô quận của quân Hán. Quân đội của Hoàng Cái đại bại, tử thương vô số, Hoàng Cái không còn cách nào để trở về Ngô huyện chỉ có thể rút quân về quận Bì Lăng.
Mà khi Lục Tốn mang theo mười lăm nghìn quân đội tiến đánh Ngô huyện, mấy nghìn thanh niên bình dân của Ngô huyện đứng ở ngoài thành kêu gọi khiến cho dân chúng trong thành hưởng ứng, lòng quân dao động, binh lính đều bỏ trốn hết, chỉ trong vòng một canh giờ, năm nghìn quân đã bỏ trốn mất một nửa. Tưởng Khâm biết rằng đã mất đại thế, hạ lệnh cho quân đội mở cửa nam thành đầu hàng quân Hán, Lục Tốn đưa quân vào thành chiếm lấy Ngô huyện, đến lúc này, toàn bộ Ngô quận đã bị chiếm.
Ngô quận bị chiếm cũng có nghĩa quân Hán đã phá bỏ được hậu phương ở phía sau quân Giang Đông, chính quyền Tôn Ngô rơi vào bị động chưa từng có. Tôn Quyền hạ lệnh cho quân đội Lịch Dương lập tức quay lại Kiến Nghiệp. Y tự mình viết cho Tào Tháo một bức thư, viết rõ ràng Giang Đông rơi vào tình thế nguy cấp, mình không thể không rút quân. Đồng thời Tôn Quyền lại âm thầm viết một bức thư cho Lưu Cảnh biểu đạt mình rất muốn ngừng chiến với quân Hán, cam đoan Giang Đông sẽ không tham dự vào cuộc chiến tranh Hán Ngụy, quân Giang Đông chính thức rút lui khỏi cuộc chiến Hợp Phì.
Chương 945.1: Quyết sách Giang Đông.
Nhu Tu Khẩu, Hán Vương Lưu Cảnh tiếp đón sứ giả của Giang Đông. Không ngờ sứ giả của Giang Đông lại chính là Lỗ Túc người mà đã lâu không có tin tức.
Lỗ Túc đã rời khỏi trung tâm quyết sách của Giang Đông, đảm nhiệm Quận thừa Dự Chương. Không phải bởi vì Lỗ Túc ủng hộ liên minh Tôn Lưu mà là vì đấu tranh chính trị thất bại. Trong cuộc đấu tranh chính trị giữa các phái hệ ở Giang Đông, phái Lư Giang đã thất bại, Lỗ Túc là đại biểu của phái Lư Giang tất nhiên cũng không tránh khỏi can hệ.
Bộ Chất đứng đầu hệ ngoại thích và Trương Chiêu đứng đầu hệ phương bắc nắm hết quyền lực chủ yếu ở Giang Đông. Ngay cả hệ Cố Ung và Trương Ôn ở Ngô quận cũng bị gạt ra khỏi Kiên Nghiệp.
Nhưng lần này Lỗ Túc làm sứ giả, không phải vì Lỗ Túc đại biểu cho phái Lư Giang mà là Lỗ Túc là bạn tri giao của Lưu Cảnh, Tôn Quyền hi vọng có thể dùng mối quan hệ giữa Lỗ Túc và Lưu Cảnh để giảm bớt sự căng thẳng của mối quan hệ Tôn Lưu.
Trên một con thuyền năm nghìn thạch ở Nhu Tu Khẩu, Lưu Cảnh tiếp đón Lỗ Túc ở khoang lớn nhất của thuyền. Mấy năm không gặp, Lỗ Túc gần như đã thay đổi thành một người khác, gầy hơn rất nhiều, tóc đã bạc một nửa, có vẻ già đi rất nhiều.
Lưu Cảnh kinh ngạc nhìn Lỗ Túc:
- Tử Kính sao có thể già đến như vậy?
Lỗ Túc thi lễ, cười khổ nói:
- Đa tạ điện hạ quan tâm, năm trước thần lâm bệnh nặng, ảnh hưởng đến thân thể rất nhiều, nay cũng không thể khôi phục hoàn toàn.
Lưu Cảnh thở dài:
- Tử Kính mời ngồi.
Hai người ngồi xuống, Lưu cảnh cười hỏi:
- Nghe nói Tử Kính được bổ nhiệm làm quận thừa quận Dự Chương, quận Dự Chương tình hình tốt chứ?
- Quận Dự Chương rất tốt, nhân dân an cư lạc nghiệp, không bị ảnh hưởng của chiến tranh, lần này thần đến Kiến Nghiệp báo cáo công việc vừa lúc Ngô hầu giao cho nhiệm vụ này.
Nói đến đây, Lỗ Túc lấy ra thư mà Tôn Quyền tự tay viết, hai tay đưa cho Lưu Cảnh:
- Mời điện hạ xem.
Lỗ Túc trước khi đi đã an ủi Tôn Quyền, mục đích của Lưu Cảnh chính là muốn bức Giang Đông rút khỏi cuộc chiến ở Hợp Phì, không phải là chiếm Ngô quận. Cho nên khi Giang Đông đồng ý rút khỏi cuộc chiến ở Hợp Phì thì mọi chuyện đều dễ thương lượng.
Tuy nói như vậy nhưng trong lòng Lỗ Túc vẫn lo lắng. Hiện tại Lưu Cảnh đã không còn là Kinh Châu Mục, rất nhiều điều không giống trước kia. Mục đích cuối cùng của Lưu Cảnh là gì, kì thật Lỗ Túc cũng không biết, trong lòng ông ta vẫn luôn cảm thấy bất an.
Lưu Cảnh bất động thanh sắc xem hết thư của Tôn Quyền. Trong thư Tôn Quyền hứa rút khỏi cuộc chiến ở Hợp Phì hi vọng quân Hán có thể rút khỏi Ngô quận.
Tuy chuyện này dường như có chút vô lí nhưng Lưu Cảnh biết nếu Giang Đông dốc hết toàn lực phản công Ngô Quận, Lục Tốn chưa chắc đã giữ được thành. Một khi Tôn Quyền giành lại được Ngô quận, tiêu trừ nguy cơ ở hậu phương, y rất có thể sẽ lại bị Tào Tháo thúc ép xuất binh.
Lưu Cảnh tạm thời chưa nghĩ đến việc khai chiến với Giang Đông, nếu tạm thời có thể giảng hòa để kéo dài thời gian, bảo vệ quận Hội Kê trước, đặt nền móng để sau này tiến đánh Giang Đông.
Nghĩ vậy, Lưu Cảnh liền hỏi:
- Ý tứ của Ngô hầu là muốn chúng ta rút khỏi Ngô quận phải không?
- Đúng vậy, trong thư Ngô hầu cũng viết rất rõ ràng, chỉ cần quân Hán rút khỏi Ngô quận, Ngô hầu cam đoan sẽ rút khỏi cuộc chiến ở Hợp Phì.
Lưu Cảnh khoanh tay tiến lên vài bước, hắn quay đầu lại nói với Lỗ Túc:
- Tử Kính làm thế nào để ta có thể tin thành ý của y?
Trong lòng Lỗ Túc mừng thầm, ông ta nghe ra được Lưu Cảnh có ý thuận theo, nhưng mà có yêu cầu đối với việc lui binh, vội vàng nói:
- Không biết điện hạ muốn gì?
- Ta muốn Ngô hầu viết một bức thư công khai hứa hẹn, hứa sau khi quân Hán rút khỏi Ngô quận thì sẽ không tham dự cuộc chiến ở Hợp Phì nữa. Ngoài ra, quân Giang Đông không được tiến đánh quận Hội Kê một năm, thư này phải công khai tuyên bố cho mọi người.
Lỗ Túc trầm ngâm một lúc hỏi:
- Không biết điện hạ muốn công khai đến mức độ nào?
Lưu Cảnh ngẫm nghĩ một chút rồi nói:
- Ta cũng biết chỗ khó của Ngô hầu, ít nhất các quan lớn của Giang Đông đều phải biết nội dung bức thư hứa hẹn này.
Lỗ Túc đứng dậy thi lễ:
- Thần quay về bẩm báo cho Ngô hầu, khi Ngô hầu chấp nhận điều kiện của điện hạ, điện hạ phải lập tức cho quân rút khỏi Ngô quận.
- Đương nhiên rồi, ta rất chờ mong thành ý của Ngô hầu.
Lỗ Túc cáo từ, lúc này, quân sư Bàng Thống nói với Lưu Cảnh;
- Chỉ sợ Tào Tháo sẽ không để Tôn Quyền rút lui dễ dàng như vậy, điện hạ phải đề phòng Tôn Quyền bội ước.
Lưu Cảnh cười nói:
- Quân sư nghĩ Tào Tháo sẽ bức bách Tôn Quyền như thế nào?
- Đơn giản sẽ phái người trách cứ Tôn Quyền sao lại rút quân hoặc là ngừng viện trợ cho Tôn Quyền. Hơn nữa có thể từ đại cục bức ép Tôn Quyền, ví dụ như một khi quân Hán tiến đánh Giang Đông, Tào Tháo sẽ khoanh tay đứng nhìn,... Vi thần nghĩ rằng Tào Tháo sẽ tạo rất nhiều áp lực cho Tôn Quyền.
Lưu Cảnh khoanh tay tiến lên vài bước, hắn cũng thừa nhận lập luận của Bàng Thống cũng có lí. Khi Tôn Quyền không thể chịu đựng được áp lực do Tào Tháo tạo ra, y nhất định sẽ dốc toàn lực tiến công Ngô quận, đoạt lại Ngô quận một cách nhanh nhất, sau đó lại tiếp tục tham gia cuộc chiến ở Hợp Phì, khả năng chuyện này xảy ra rất lớn.
Lúc này, Bàng Thống tiếp tục nói:
- Vi thần nghĩ chuyện này thực ra rất tinh diệu, nếu chúng ta trợ giúp hết sức cho Tôn Quyền, Tôn Quyền cuối cùng chắc chắn sẽ hủy liên minh với Tào Tháo. Mấu chốt là chúng ta phải chiếm giữ Thái Hồ, chỉ cần chúng ta có ưu thế ở Thái Hồ. Lúc nào cũng có thể tăng binh cho Thái Hồ, có thể bức Tôn Quyền không thể không buông tha cho cuộc chiến ở Hợp Phì.
Lưu Cảnh đi đến trước bàn, nhìn phân bố sông hồ của Giang Đông trên sa bàn, từ Giang Đông đến Thái Hồ thực tế chỉ là một nhánh thủy lộ, chính là sông Lật Thủy. Tuy rằng đến Kiến Nghiệp cũng có sông Tần Hoài thông với Lật Thủy vào Thái Hồ nhưng nhánh sông này quá nhỏ, đến thuyền trăm thạch cũng không thể đi vào. Chỉ cần chặn ở cửa sông sẽ không có chiến thuyền nào của Giang Đông đi xuống phía nam được.
Ngược lại mình có thể chiếm lấy mấy đảo nhỏ ở Thái Hồ để thành lập căn cứ hậu phương. Chỉ cần khống chế được Thái Hồ là có thể kiếm chế quân Giang Đông ở Ngô quận, khiến cho Tôn Quyền không thể tham gia cuộc chiến ở Hợp Phì.
Nghĩ vậy, Lưu Cảnh ra lệnh:
- Đi tìm Thẩm Di đến đây.
Đúng như dự liệu của Lưu Cảnh, Tào Tháo không chấp nhận cho quân Giang Đông rút lui khỏi cuộc chiến ở Hợp Phì, không có thủy quân của quân Giang Đông phối hợp tác chiến ở phía đông nam, ưu thế của quân Tào mất đi ba phần. Cơ hội giành chiến thắng cũng giảm bớt bốn phần, cơ hội chiến thắng của quân Hán càng lớn.
Tào Tháo đương nhiên cũng biết nguyên nhân quân Giang Đông rút quân là bị quân Hán đánh vào hậu phương. Tuy nhiên Tào Tháo không cho rằng sự tình nghiêm trọng đến mức phá bỏ liên minh Tôn Tào. Quân đội của quân Hán cũng không nhiều, chỉ cần dốc sức phản công rất nhanh có thể giành lại, khôi phục lại trật tự như cũ.
Lão lập tức phái Trần Quần đi sứ Giang Đông, đàm phán với Tôn quyền. Điểm điểm mấu của Tào Tháo chỉ có một, lão tuyệt đối không cho phép quân Giang Đông rút khỏi cuộc chiến ở Hợp Phì.
Chương 945.2: Quyết sách Giang Đông.
Trong Kiến Nghiệp cung, Tôn Quyền sắc mặt nghiêm túc nhìn Trần Quần ngồi đối diện, nghe Trần Quần nói lại ý tứ của Tào Tháo:
- Ngụy công hi vọng Ngô hầu không vì một hậu phương nho nhỏ mà phá bỏ liên minh Tôn Tào. Dù sao cuộc chiến ở Hợp Phì cũng ảnh hưởng lớn tới Giang Đông. Tại hạ biết Ngô hầu hiểu được, một khi quân Hán chiếm được Hợp Phì, bắc nam tiến công, Giang Đông chắc chắc sẽ lâm vào tình thế nguy hiểm. Khi đó cho dù Ngụy công muốn cứu Giang Đông thì cũng lực bất tòng tâm. Còn về chuyện Giang Đông gặp phải khó khăn trước mắt, Ngụy công hoàn toàn có thể lý giải, hi vọng Giang Đông có thể nhanh chóng đánh duổi quân Hán, nếu Giang Đông cần viện trợ về vật tư, Ngụy công sẵn sàng giúp đỡ hết lòng.
Tôn Quyền trầm ngâm một lúc không nói gì, thái độ của Tào Tháo nằm trong dự liệu của y. Y cũng hiểu rằng Giang Đông rút khỏi cuộc chiến ở Hợp Phì ảnh hưởng rất lớn đến quân Tào, cũng biết hậu quả sau khi quân Hán chiếm được Hợp Phì. Nhưng Ngô quận và Hội Kê thất thủ làm cho y không thể bình tĩnh đối mặt được.
Đương nhiên Tôn Quyền biết cũng có thể dùng phương pháp tốc chiến tốc thắng để đoạt lại Ngô quận. Nhưng Vu Hồ ở trong tay quân Hán, bọn họ có thể tăng thêm binh bất cứ lúc nào cho Ngô quận qua Lật Thủy. Quan trọng hơn là y đã cầu hòa với Lưu Cảnh, hiện tại y lật mặt không nhận, nếu quân Giang Đông chịu nhục một lần nữa, y muốn cầu hòa cũng chỉ sợ không được. Hậu quả này khiến Tôn Quyền thấy vô cùng lo sợ, Tôn Quyền rơi vào thế khó xử.
Lúc này Trương Chiêu ở bên cạnh chậm rãi nói:
- Ngô quận thất thủ tạo áp lực rất lớn cho chúng ta, chúng ta nhất định phải nhanh chóng đoạt lại Ngô quận. Cho dù có đoạt lại được Ngô quận, chúng ta cũng phải tụ tập trọng binh cho Ngô quận, như vậy, binh lực tham gia cuộc chiến ở Hợp Phì cũng giảm bớt. Bây giờ quân Giang Đông cũng chỉ có khoảng sáu vạn người, ngoại trừ mười nghìn quân trấn giữ Kiến Nghiệp, chúng ta chỉ có thể điều động chưa đến năm vạn quân đội. Trấn thủ Ngô quận và Lăng quận ít nhất phải cần ba vạn quân. Như vậy cuối cùng chúng ta cũng chỉ còn có hai vạn quân đội trợ giúp cuộc chiến ở Hợp Phì, cũng chỉ là muối bỏ bể. Giang Đông hiện tại lâm vào hoàn cảnh khó khăn, chúng ta lực bất tòng tâm mong Trần sứ có thể chuyển lời đến Ngụy công.
Trần Quần lại nói:
- Khó khăn của Giang Đông Ngụy công hoàn toàn có thể hiểu được, vừa rồi tại hạ cũng nói, nếu Giang Đông nhân lực vật lực không đủ, quân Tào sẽ hết mức viện trợ.
Ngụ ý của Trần Quần chính là quân Tào đồng ý xuất quân đánh Ngô quận, cũng đồng ý cung cấp lương thực vật tư. Nói tóm lại chỉ cần Giang Đông xuất binh, quân Tào sẽ trợ giúp tất cả.
Đã nói đến mức này, Tôn Quyền cũng không thể cự tuyệt được, Tôn Quyền trầm ngâm một lúc nói:
- Như vậy để chúng ta thảo luận một chút, mời Trần trung thừa đi nghỉ ngơi trước, nếu có kết quả chúng ta sẽ lập tức thông báo cho trung thừa.
Trần Quần lui xuống nghỉ ngơi, trong sảnh chỉ còn bốn đại thần là Trương Chiêu, Bộ Chất, Lã Mông và Lỗ Túc. Lỗ Túc cảm thấy Tôn Quyền đã hơi dao động, trong lòng ông ta sốt ruột, vội vàng nói:
- Ngô hầu đã đáp ứng Lưu Cảnh sẽ không thay đổi dễ dàng như vậy chứ, chuyện này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự của Ngô hầu.
- Lời của Tử Kính thật khiến ta kinh ngạc.
Bộ Chất ở bên cạnh nói:
- Sự tình liên quan đến sự tồn vong của Giang Đông, sao có thể vì một chút thể diện mà dao động, không nói đến Ngô hầu cũng chưa nói lời hứa hẹn chính thức nào. Cho dù đã hứa hẹn, liên quan đến việc có được nhiều lợi ích cho Giang Đông, phá vỡ một lời hứa thì cũng có gì lạ đâu, Tử Kính không cần nhắc đến danh dự để ảnh hướng đến quyết định của Ngô hầu.
Lỗ Túc đang định phản bác, Tôn Quyền phất tay nói:
- Tử Kính không nên quá lo lắng như vậy, mọi người cùng thảo luận, cân nhắc lợi hại, ta tin tưởng nhất định sẽ tìm được biện pháp tốt nhất.
Nói đến đây, Tôn Quyền liếc qua Lã Mông nói:
- Ta muốn nghe ý kiến của bên quân đội.
Lã Mông cười khổ nói:
- Nếu như nói đến binh lực, sợ là chúng ta không thể chia thành hai hướng để chiến đấu. Giống như lời quân sư vừa nói, Ngô quận phải tăng thêm binh giữ thành, Kiến Nghiệp cũng cần có binh lính giữ thành, cuối cùng cũng chỉ có 2 vạn quân đội hỗ trợ cuộc chiến ở Hợp Phì, kì thật cũng chỉ là muối bỏ bể. Ngược lại còn bị quân Hán tập trung binh lực tiêu diệt trong một trận chiến. Tại hạ thấy chuyện quan trọng lúc này chính là có nên nhận sự trợ giúp của quân Tào hay không?
Trương Chiêu gật đầu:
- Nếu chúng ta nhận sự trợ giúp của quân Tào, để quân Tào thay chúng ta giữ Ngô quận, như vậy chúng ta có thể tập trung binh lực tham dự cuộc chiến ở Hợp Phì. Tại hạ đoán đây cũng là phương án của Tào Tháo, tuy để quân Tào giữ Ngô quận hộ có chút không ổn nhưng tại hạ tin rằng Tào Tháo nhất định sẽ không chiếm Ngô quận, hơn nữa sẽ tận tâm giữ vững.
- Nhưng chúng ta phải ăn nói thế nào với nhân dân Giang Đông cùng với dân chúng Ngô quận?
Lỗ Túc rốt cục không kìm được, lớn tiếng trách Trương Chiêu:
- Để quân Tào đóng quân ở Giang Đông như vậy có khác gì mất nước không? Dân chúng Giang Đông sao có thể tiếp nhận?
Sắc mặt của Trương Chiêu lập tức trầm xuống, người lão hận nhất chính là Lỗ Túc, trước kia đẩy Lỗ Túc đến quận Dự Chương chính là thủ đoạn của Trương Chiêu. Bây giờ Lỗ Túc dám trách cứ mình ngay trước mặt Ngô hầu, điều này khiến Trương Chiêu vô cùng tức giận, lão vừa muốn phát giận, Bộ Chất vội vàng hòa giải nói:
- Tử Kính hiểu nhầm rồi, đây chỉ là kế sách tạm thời thôi, khi cuộc chiến ở Hợp Phì chấm dứt, quân Tào sẽ rút khỏi, tuyệt đối sẽ không để quân Tào đóng quân lâu dài ở đây.
Lỗ Túc hừ một tiếng mạnh:
- Tại hạ kiên quyết phản đối để quân Tào đóng quân ở Giang Đông, nếu mọi người nhất quyết làm như vậy, tại hạ cũng không có gì để nói, ta chỉ là một quan chức nhỏ không thích hợp tham dự loại thảo luận như vậy.
ông ta thi lễ với Tôn Quyền:
- Ty chức cáo lui.
Không đợi Tôn Quyền đồng ý, ông ta đã xoay người cáo lui. Sắc mặt của Tôn Quyền vô cùng khó coi không ngờ Lỗ Túc lại vô lễ như vậy.
Đã không còn Lỗ Túc phản đối, mọi người rất nhanh liền đưa ra quyết định, Giang Đông nhất định phải giữ lại liên minh với Ngụy quốc, Tào Ngụy phải liên kết với nhau chống lại sự mở rộng của quân Hán về phía đông. Theo nguyên tắc này, Tôn Quyền lệnh cho Lã Mông làm đô đốc nam chinh, dẫn ba vạn đại quân nhanh chóng giành lại Ngô quận.
Cùng lúc này, Tào Tháo phái đại tướng quân Vu Cấm dẫn hai vạn đại quân đến bờ bắc Trường Giang, ngồi chiến thuyền của Giang Đông qua sông, cùng quân Giang Đông tiến đánh Ngô Quận.
Sáng sớm, một đội ba trăm chiến thuyền đi nhanh trong làn sương sớm có những tia nắng hắt xuống mặt hồ Thái Hồ. Thái Hồ rộng ba mươi sáu nghìn mét khoảnh (rộng 100 mẫu Trung Quốc, chừng 6,6667 hec-ta), giống như biển mênh mông không bờ. Trên con thuyền dẫn đầu, đại tướng thủy quân Thẩm Di đang chống thương đứng thẳng, mặc dù trên đùi y có thương tích nhưng không ảnh hưởng đến việc chỉ huy đội tàu.
Gió nhẹ miên man mang theo một chút mùi của buổi sớm, trong những ngày hè oi bức cơn gió này lại khiến cho người ta cảm thấy sảng khoái vô cùng. Gió lạnh quất vào khuôn mặt màu đồng, khuôn mặt đầy nếp nhăn tràn đầy sự kiên nghị, ánh mắt thâm thúy nhìn về phía xa xa, nơi đó chính là nơi đến của chuyến đi lần này, Tây Sơn trong Thái Hồ.
- Liêu tiên sinh trước đây đã từng đến đây chưa?
Thẩm Di cười hỏi tùy quân mưu sĩ Liêu Lập. Liêu Lập ba năm trước được bổ nhiệm làm thái thú quận Võ Lăng, gần đây được điều về làm thái thú quận Ba Tây. Y đến Trường An báo cáo công tác vừa hay có cuộc chiến ở Hợp Phì, y được Lưu Cảnh bổ nhiệm làm quân sư tham nghị tạm thời, theo quân nam chinh lần này. Lần này Thẩm Di mang quân viện trợ cho Ngô Quận, Lưu Cảnh lo bọn họ sơ suất liền cho Liêu Lập đi cùng y.
Chương 946: Gai độc.
Liêu Lập và Thẩm Di hợp tác đã nhiều năm, quan hệ rất tốt, y vuốt râu cười nói:
- Lúc còn trẻ đến Ngô quận học từng đi thuyền ra Thái Hồ chơi, nhưng mà chỉ đi không xa bờ lắm, đây là lần đầu tiên vào sâu trong Thái Hồ như vậy.
Thẩm Di chỉ vào một bóng đen ở phía xa xa nói:
- Kia chính là đảo Tây Sơn, Thái Hồ có hai đảo, một đảo liền với lục địa, được dân bản xứ gọi là đảo Đông Sơn. Một đảo khác độc lập gọi là đảo Tây Sơn, bây giờ Lâu Phát tướng quân đã chiếm được đảo Tây Sơn, trú doanh ở trên đảo, đã trở thành hậu phương thiết yếu rồi.
Liêu Lập gật gật đầu cười nói:
- Bên Lâu Phát tướng quân có hai trăm chiến thuyền thêm ba trăm chiến thuyền của chúng ta vậy thì có năm trăm chiến thuyền rồi. Có một đội tàu lớn ở trong địa phận Giang Đông tin chắc rằng Tôn Quyền sẽ khó ăn khó ngủ đây.
- Đây chính là ý của Hán Vương điện hạ, nếu Tôn Quyền không thức thời thì sẽ giáo huấn y một chút, thủy quân của chúng ta đến Giang Đông sẽ không rút về nữa.
Lúc này bởi vì do liên quân Tôn Tào dốc sức xuôi nam, mười tám nghìn quân chủ lực của quân Hán do Lục Tốn đứng đầu rút về quận Hội Kê, còn Lâu Phát thì dẫn năm ngàn người chia ra ngồi ở hai trăm chiến thuyền, trú đóng ở trên đảo Tây Sơn giữa Thái Hồ, trở thành một cây gai độc trong lòng Giang Đông.
Đi cùng quân Hán chủ lực rút khỏi Ngô quận không chỉ có tam đại thế gia mà còn cả hơn ba vạn gia đình ở Ngô quận, đem theo hết tất cả vật tư lương thực ở trong kho của quan huyện, chỉ lưu lại cho quân Giang Đông một tòa thành rỗng, một nơi vắng vẻ hoang tàn.
- Keng Keng keng!
Trên một tòa tháp ở đảo Tây Sơn vang vọng tiếng chuông, tất cả binh lính đi ra khỏi đại doanh, nhìn về phía mặt hồ, chỉ thấy một đoàn chiến thuyền trùng trùng điệp điệp đang đi về hướng đảo. Khi binh lính nhìn rõ Hắc Long chiến kỳ của quân Hán thì lập tức hoan hô, chủ lực thủy quân của quân Hán đã đến.
Đội tàu chậm rãi cập bến, Lâu Phát nhanh chóng ra chào đón, gắt gao ôm lấy Thẩm Di vừa xuống thuyền, bọn họ là phụ tá đắc lực của Cam Ninh, có giao tình mấy chục năm.
- Lão Thẩm, vết thương trên đùi không sao chứ
Lâu Phát quan tâm hỏi.
- Chỉ là da thịt bị tổn thương không phải vấn đề gì lớn.
Thẩm Di lấy ra quân lệnh của Lưu Cảnh, đưa cho Lâu Phát cười nói:
- Đây là mệnh lệnh của Hán Vương, ngươi làm chủ tướng ta làm phó tướng, chúng ta đều phải nghe theo đề nghị của Liêu quân sư.
Lâu Phát thi lễ với Liêu Lập, y nhìn lại quân lệnh một chút, hỏi:
- Mọi người lần này mang đến bao nhiêu quân đội.
- Tổng cộng sáu nghìn thủy quân, ba vạn thạch lương thực và năm nghìn thùng dầu hỏa, còn lều trại nơi này hẳn là không thiếu.
- Lương thực và lều trại không thiếu chỉ thiếu dầu hỏa.
Ba người đi vào lều lớn, Liêu Lập sai người mang sa bàn vào, Lâu Phát lập tức mỉm cười:
- Không ngờ mọi người lại mang đến đồ tốt như vậy, đây là một vũ khí lợi hại để giết giặc.
- Đây là sa bàn mới nhất điện hạ cấp cho chúng ta, vẽ vô đường sông hồ nước ở Giang Đông cùng tỉ mỉ, đúng là vũ khí lợi hại để đánh giặc, tại hạ muốn biết bây giờ quân Giang Đông đang ở đâu?
Lâu Phát nhặt một cây gỗ nhỏ chỉ vào Huyện Bì Lăng:
- Theo tin tức ta do thám được, năm nghìn quân tiên phong của Giang Đông đã qua huyện Bì Lăng, đến giữa trưa là có thể đến Ngô huyện, có ba vạn quân đội. Ngoài ra còn có hai vạn quân Tào cũng vào quận Bì Lăng, hiện tại vẫn chưa biết liên quân Tôn Tào có tiến đánh Hội Kê không?
Thẩm Di trầm ngâm một lúc nói:
- Quân Giang Đông biết chúng ta đóng quân ở đây không?
Nhưng lời này rất quan trọng, nếu quân Giang Đông biết có quân đội đóng quân ở trong Thái Hồ, bọn họ chưa chắc dám xuôi nam tấn công Hội Kê, sẽ cho nhiều quân trấn giữ Ngô quận và quận Bì Lăng, Lâu Phát hiểu ý của Thẩm Di, cười nói:
- Lục đô đốc cũng có ý này, muốn cho quân Giang Đông và quân Tào biết có sự xuất hiện của chúng ta để không cho bọn họ xuôi nam đánh Hội Kê.
Đúng lúc này, có một binh lính chạy đến cửa vội vàng bẩm báo:
- Khởi bẩm Lâu tướng quân, trong Thái Hồ phát hiện một đội tàu thăm dò khoảng mười thuyền nhỏ, đang tiến tới đây từ phía bắc.
Lâu Phát cười lạnh nói:
- Đây chính là thuyền đến từ trạm canh gác quận Bì Lăng, đến cũng nhanh thật.
Lâu Phát vừa muốn hạ lệnh cho quân đội xuất kích, Liêu Lập ở bên cạnh lại cười cười, nói nhỏ vài câu với hai người, Lâu Phát gật đầu nói:
- Không hổ là quân sư, như vậy chúng ta liền làm theo ý quân sư đi.
Sau nửa canh giờ, liền có một đội tàu do thám gồm mười thuyền nhỏ của quân Giang Đông đến gần bến tàu đảo Tây Sơn. Khi cách bên tàu còn một dặm, bọn họ liền không thể tiến lên, đằng trước là hơn mười thuyền trinh sát tuần tra của quân Hán xếp thành một hàng ngăn cản đường đi của bọn họ.
Mặc dù vậy bọn họ vẫn thấy được quy mô quân đội của quân Hán ở phía xa xa, gần bốn trăm chiến thuyền nghìn thạch thả neo ở bến tàu, hơn nữa còn có trăm thuyền hàng năm trăm tấn thạch, có rất nhiều lương thực vật tư, bọn lính đã bận rộn xếp hàng xuống.
Ở trên bờ có vô số lều trại, bốn phía xung quanh có hàng rào gỗ, lều trại phân bố kéo dài mấy dặm, quy mô lớn. Thuyền do thám không dám ở lại lâu, lập tức quay đầu chạy về phía bờ bên kia.
Lúc này, quân Giang Đông dưới sự chỉ huy của tướng quân Lã Mông đã chiếm được Ngô huyện. Nhưng điều khiến Lã Mông tức giận chính là, không ngờ Ngô huyện chỉ còn là một tòa thành rỗng, chỉ để lại mấy trăm người già, nhà kho quan huyện cũng trống rỗng, lương thực vật tư đều được chuyển đi không còn chút gì. Binh lính lục soát toàn thành chỉ tìm được không đủ trăm thạch lương thực.
Không bao lâu sau quân đội phái đi các huyện xung quanh đó cũng đều hồi báo là tất cả các huyện còn lại đều giống Ngô huyện, đa số nhân dân đều theo quân Hán rút về quận Hội Kê, đều đã trở thành tòa thành rỗng. Toàn bộ ba vạn dân chúng ở Ngô quận không ngờ chỉ còn không đến hai phần dân chúng.
Trong lòng Lã Mông khiếp sợ, không ngờ dân chúng Giang Đông lại cam tâm tình nguyện đi theo quân Hán rút lui, tránh khỏi sự quản lí của Giang Đông. Đây quả thực là sự sỉ nhục vô cùng lớn cũng đồng nghĩa với việc Ngô hầu đang dần mất đi sự tín nhiềm của nhân dân.
Đứng trên thành, Lã Mông nhìn thành trì trống trải, thở dài quay đầu nói với người vừa mới nhậm chức Thái Thú Ngô Quận - Hám Trạch:
- Hám Thái Thú, đã không còn dân chúng vậy Ngô quận còn ý nghĩa gì nữa.
Hám Trạch cười khổ một tiếng nói:
- Những lời này hẳn nên để tại hạ nói mới phải, làm Thái Thú một quận nhưng lại không có dân chúng để quản, đây coi như là tin lạ từ xưa đến nay đi.
Lã Mông trầm tư một lúc nói:
- Lúc chuẩn bị đi, Ngô hầu từng phân phó, nếu lần xuôi nam này thuận lợi có thể trực tiếp tiến đánh Hội Kê, lấy thực lực của chũng ta và quân Tào, năm vạn đại quân xuôi nam, quân Hán ở Hội Kê khó mà ngăn cản. Nhưng ta ở quận Bì Lăng nghe được đội tàu của quân Hán rút lui vào trong Thái Hồ, vậy thì có chút phiền toái, Hám Thái Thú thấy việc xuôi nam tiến đánh Hội Kê còn thực hiện được không?
Hám Trạch ngẫm nghĩ một chút nói:
- Điều này còn phải xem thực lực của quân Hán ở trong Thái Hồ thế nào, nếu chỉ có mấy nghìn người vậy thì không sao, chỉ cần để lại mười nghìn quân bảo vệ trọng địa hậu cần Ngô huyện, còn lại bốn vạn đại quân xuôi nam vẫn có thể lấy lại được quân Hội Kê. Nhưng nếu như quân đội trong Thái Hồ nhiều, vậy thì cần phải suy nghĩ kĩ.
Đang nói thì có binh lính đứng dưới thành bẩm báo:
- Lã đô đốc, đội tàu đi trinh sát đã trở lại.
Lã Mông cũng nhìn thấy cách đó không xa có một đội thuyền đang nhanh chóng tiến về phía này. Y mừng rỡ trong lòng, thuyền do thám do y phái đi lúc ở quận Bì Lăng rốt cục đã trở về.
Không bao lâu sau binh lính tuần tra đưa một binh lính đi do thám lên thành, người quân hầu cầm đầu quì xuống bẩm báo:
- Khởi bẩm đô đốc, chúng ta đã có tin tức của quân Hán.
- Tình hình quân Hán thế nào.
- Quân Hán chiếm đảo Tây Sơn, ở bến tàu có thả neo hơn năm trăm thuyền hàng, còn thuyền nghìn thạch thì có bốn trăm thuyền, thanh thế rất lớn.
Lã Mông như rơi vào hầm băng, một lúc lâu sau hỏi:
- Có bao nhiêu quân?
- Ty chức đếm qua số lều trại của quân Hán ước chừng có hơn ba nghìn lều, ty chức đoán có chừng hai vạn quân.
- Hai vạn?
Lã Mông thất thanh kêu lên, y quay đầu nói với Hám Trạch:
- Thái Thú nghĩ sẽ có đến hai vạn quân đội hay sao?
Hám Trạch thở dài nói:
- Ban đầu chiến thuyền của quân Hán chỉ có khoảng hai trăm thuyền, hiện tại tăng lên năm trăm thuyền thì chắc chắc viện quân đã đến từ Vu Hồ rồi. Tại hạ nghĩ Lưu Cảnh cực kì coi trọng quận Hội Kê, sẽ không ngồi yên xem chúng ta tấn công quận Hội Kê. Kì thật có hai vạn quân Hán cũng không phải là điều kì quái gì.
Tâm tình của Lã Mông hết sức nặng nề, Ngô hầu đã quá xem thường sự quyết tâm của Lưu Cảnh. Trước đây còn có thể đàm phán để quân Hán rút quân nhưng hiện tại Ngô Hầu đã bắt tay với Tào Tháo, không thể đàm phán nữa, quân Hán cũng sẽ không rút khỏi Giang Đông.
- Hám Thái Thú thấy tình hình Giang Đông bây giờ thế nào? Có thể thẳng thắn nói cho tại hạ biết không?
Hám Trạch lắc đầu:
- Nếu Lã tướng quân muốn nghe lời nói thật ta cũng không ngại nói rõ. Giang Đông chín quận thì hơn một nửa đã rơi vào tay quân Hán. Bốn quân Lư Giang, Hội Kê, Kiến An, Tân Đô đều bị quân Hán chiếm, quận Dự Chương và quận Cửu Giang bị Trường Giang khống chế, trên danh nghĩa thuộc về chúng ta nhưng trên thực tế lại do quân Hán khống chế. Mất đi sáu quận chúng ta chỉ còn Đan Dương, quận Bì Lăng và Ngô quận, nay tam đại thế gia của Ngô quận cũng theo quân Hán rút lui, chẳng lẽ bọn họ còn không hiểu rõ tình thế hay sao? Lã đô đốc, tình thế rất không ổn.
Lã Mông thở dài nói:
- Xem ra Ngô hầu liên minh với Tào Tháo là quyết sách sai lầm lớn nhất rồi.
- Tại hạ cảm thấy chưa hẳn đã sai lầm, Ngô hầu cũng biết nguy cơ đến gần mới cầu cạnh Tào tháo, ý đồ muốn có được sự ủng hộ của Tào tháo để khôi phục lại thế lực trước kia của Giang Đông. Chỉ có điều liên minh quá muộn, thực tế, Giang Đông đã mất gốc rễ, không phải bởi vì quân Hán mở rộng về phía dông mà là nội chiến ở Giang Đông. Chỉ có thể nói là Lưu Cảnh quá mạnh, tai họa ngày hôm nay của Giang Đông chính là sự việc đã định từ lần thất bại ở Sài Tang năm xưa.
Lã Mông yên lặng gật đầu, năm đó Lưu Cảnh nhiều lần bắt được rất nhiều binh lính Giang Đông lại toàn bộ thả đi, sớm thu được lòng dân. Ngô hầu lại hiếu chiến, sưu cao thuế nặng, mất đi lòng dân, cuối cùng rơi vào hoàn cảnh hôm nay, Lã Mông y mới ba mươi mấy tuổi, y nên đi nơi nào? Trong lòng Lã Mông vô cùng rối rắm.
Lúc này, Hám Trạch cười nói:
- Tại hạ chuẩn bị đi quanh Ngô quận một vòng, có thể là đi vài ngày, mong Lã đô đốc thay tại hạ chuẩn bị một con thuyền nhỏ.
Lã Mông đồng ý, lập tức sai người chuẩn bị thuyền cho Hám Trạch, buổi chiều, Hám Trạch mang theo hai gã tùy tùng rời đi.
Đảo Tây Sơn Thái Hồ, quân Hán vốn đã tháo xong vật tư, bọn lính xây dựng cơ sở tạm thời ở trên đảo, cực kì bận rộn. Thuyền trinh sát bốn phía cũng tăng lên hai trăm thuyền, xung quanh đảo Tây Sơn có rất nhiều thuyền trinh sát tuần tra.
Lúc này, một con thuyền trinh sát phát hiện ra một con thuyền nhỏ tiến lại từ phía đông, thuyền trinh sát tiền lại gần, binh lính quân Hán chấp mâu quát lớn:
- Dừng lại.
Thuyền nhỏ chậm rãi dừng lại, chỉ thấy từ trong thuyền đi ra một văn sĩ trung niên, chắp tay cười nói:
- Tại hạ là Thái Thú Ngô quận Hám Trạch, tại hạ muốn gặp tướng quân của mọi người.
Chương 947.1: Dương đông kích tây.
Sáng sớm một chiếc xe ngựa nhanh chóng rời khỏi thành Mạt Lăng đi về hướng Kiến Nghiệp, đây chính là xe ngựa của Kỵ Đô Úy Ngu Phiên. Thời gian gần đây Ngu Phiên không được vui cho lắm bởi vì huynh đệ của y Ngu Vọng đảm nhiệm Quận thừa quận Hội Kê khiến cho Tôn Quyền đối xử với y rất lạnh nhạt. Hơn nữa Ngu Phiên nhiều lần cứng rắn khuyên ngăn không nể mặt Tôn Quyền đã khiến cho Tôn Quyền vô cùng ghét y. Việc xảy ra ở Hội Kê chính là cái cớ để Tôn Quyền vịn vào đó giáng chức y xuống làm Huyện lệnh.
Ngu Phiên lấy một bức ra từ trong người, đây là thư tối hôm qua Hám Trạch phái người bí mật đưa tới. Ngu Phiên đến lúc này mới biết thì ra Hám Trạch đã đầu hàng quân Hán.
Hám Trạch ở trong thư nói rõ, Giang Đông đã hết hy vọng, Lưu Cảnh thống nhất phía nam là kết quả đã được định sẵn, khuyên y sớm đến Hội Kê. Lấy vị thế của Ngu gia ở Hội Kê, việc sau này Ngu Phiên xin vào triều đình Hán quốc hẳn là không thành vấn đề.
Ngu Phiên thầm thở dài, y biết rằng Hám Trạch nói đúng, Giang Đông quả thật đã hết hi vọng. Tuy Ngu Phiên là người cực kì sĩ diện, tuy y cũng rất bất mãn với Tôn Quyền nhưng muốn y lập tức phản bội Giang Đông, hàng quân Hán y lại không làm được. Hôm nay y tiếp tục khuyên can Tôn Quyền, mong Tôn Quyền có thể hiểu được nỗi khổ tâm của mình.
Xe ngựa đi vào trong thành Kiến Nghiệp, dừng lại trước cửa cung Kiến Nghiệp. Ngu Phiên xuống xe chỉnh lại mũ áo nhanh chóng bước lên bậc thang, hai thị vệ tiến lại ngăn cản, Ngu Phiên chắp tay cười nói:
- Xin bẩm báo với Ngô hầu có Ngu Phiên cầu kiến.
Thị vệ bước nhanh vào trong cung, trong nội đường cung Kiến Nghiệp, Tôn Quyền đang thảo luận chiến sự ở Ngô Quận với Trương Chiêu và Bộ Chất. Tôn Quyền đã nhận được tin tức của Lã Mông, Lục Tốn đã rút khỏi Ngô Quận, không chỉ có quân đội mà đại bộ phận dân chúng Ngô Quận cũng rút lui theo quân Hán. Ngô Quận trở thành tòa thành trống, tin tức này khiến Tôn Quyền vô cùng tức giận.
Trong lòng y hiểu rõ, nhân dân Ngô quận chưa chắc đã đồng ý rời khỏi quê hương, nhưng nếu tam đại thế gia Ngô Quận động viên bọn họ rút lui, dựa vào sức ảnh hưởng của tam đại thế gia rất dễ dàng tạo thành chuyện này. Hơn nữa theo tâm lý của dân chúng, đa số người sẽ rút lui theo, đây cũng là nguyên nhân Tôn Quyền không dám động đến tam đại thế gia, sức ảnh hưởng của bọn họ quá lớn.
Nhưng hiện tại tam đại thế gia Lục - Cố - Trương đang tìm chỗ đứng khác, quy phục quân Hán, đây có nghĩa là Tôn Quyền y đã đánh mất lòng dân Ngô Quận. Điều này khiến trong lòng Tôn Quyền vừa hận vừa vội, hận không thể tịch thu hết tài sản cùng giết hết tam đại thế gia, lại lo lắng mình không thể lấy lại Ngô Quận.
- Các ngươi nói xem, ta có nên hạ lệnh tiến đánh Hội Kê hay không?
Trương Chiêu dừng ở trước bàn trầm tư một lúc lâu nói:
- Lấy binh lực hiện tại của chúng ta cùng với hai vạn quân Tào, thực lực lớn hơn quân Hán rất nhiều hoàn toàn có thể đánh hạ Hội Kê. Tuy nhiên vi thần có chút lo lắng quân Hán, thực lực của bọn chúng không hề yếu, vạn nhất chúng chặt đứt đường lui của quân Giang Đông thì hậu quả rất khó lường.
Tôn Quyền gật gật đầu, lại hỏi Bộ Chất:
- Ý kiến của Trưởng sử thì sao?
Bởi vì Trương Hoằng ốm chết đợt đầu năm, Bộ Chất liền tiếp nhận chức Trưởng sử, trở thành nhân vật có quyền lực thứ hai ở Giang Đông, chỉ sau Trương Chiêu, điều này cũng có nghĩa đang chiếm được ưu thế ở Giang Đông. Bộ Chất dùng cây gỗ chỉ sông Chiết Thủy:
- Kì thật thần lo lắng quân Giang Đông không qua được sông Chiết Thủy. Binh lực thủy binh của quân Hán hơn chúng ta rất nhiều. Một khi quân Hán phong tỏa sông Chiết Thủy, chúng ta không thể vượt qua sông. Hơn nữa quân sư vừa nói, quân Hán ở Thái Hồ chặt đứt đường lui của chúng ta, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, vi thần đề nghị không nên gấp gáp tiến về phía nam, vẫn nên án binh chờ cơ hội.
Tôn Quyền khoanh tay đi tới đi lui vài bước, rốt cục thở dài nói:
- Đây cũng là ý đồ quân Hán bố trí quân ở Thái Hồ để làm chệch hướng quân xuôi nam của chúng ta. Các ngươi nói đúng không nên hành động thiếu suy nghĩ.
Đúng lúc này, một tên thị vệ ở ngoài bẩm báo:
- Khởi bẩm Ngô hầu, Ngu Đô úy cầu kiến.
- Không gặp.
Tôn Quyền khoát tay, không vui nói:
- Mời y về, nói ta không có thời gian gặp y.
Trương Chiêu ở bên cạnh khuyên nhủ:
- Ngu Trọng Tường là danh môn đứng đầu Hội Kê, lúc này Ngô hầu tận lực lôi kéo y để chuẩn bị cho việc thu hồi Hội Kê.
- Nhưng người này nói năng lỗ mãng, không biết tốt xấu, ta sớm đã không thể nhịn được y nữa, nếu không phải y đứng đầu Ngu gia thì ta đã sớm giết y rồi.
Tôn Quyền oán giận nói.
Bộ Chất cũng khuyên Tôn Quyền:
- Vi thần cho rằng bây giờ Ngu Trọng Tường đến mạng mình cũng khó giữ sẽ không tiếp tục khuyên ngăn Ngô hầu nữa. Ngô hầu cứ trấn an y sau đó thông qua y liên hệ với Ngu Vọng, để Ngu Vọng xoay chuyển lòng dân Ngô Quận, đây thực ra cũng là một con đường.
Bộ Chất nói vậy thực sự đã lay động được Tôn Quyền, dân chúng Ngô Quận đang được Ngu Vọng quản lí, hiện tại y quả thật cần cầu Ngu gia. Y hiện tại phải trấn an Ngu Phiên, phòng ngừa Ngu Phiên chạy trốn. Nghĩ vậy Tôn Quyền đành phải nhịn xuống cơn tức nói:
- Cho y vào.
Sau khi đại chiến Xích Bích kết thúc Tôn Quyền rời đô đến Kinh Khẩu, một năm sau lại dời đô đến Kiến Nghiệp. Hai lần dời đô khiến cho y hao tốn không ít nhân lực vật lực để xây dựng thành đô mới. Sau khi hoàn thành đô thành, Giang Đông cũng không còn nhiều của cải để tiếp tục xây dựng công trình gì lớn nữa, ngay đến việc bức thiết như đào kênh Tiền Đường cũng không làm được.
Có thể nói kênh đào này chính là mạch máu của Giang Đông, kênh đào này nối liền sông Tiền Đường và Trường Giang, chính là mấu chốt liên hệ toàn bộ Giang Đông. Do thiếu nhân lực vật lực nên Giang Đông chỉ đào thông từ huyện Bì Lăng đến Ngô huyện và khơi thông Tư Giang.
Như vậy sông Tiền Đường vắt qua sông Ô Trình, Thái Hồ, Tư Giang, kênh đào, vẫn có thể đến huyện Bì Lăng. Theo kế hoạch đoạn kênh từ huyện Bì Lăng đến Trường Giang sẽ hoàn thành trong vòng năm năm sau đó.
Trước đó, vận tải đường thủy từ Ngô Quận đến Kiến Nghiệp chỉ có thể đi đường vòng, đi Vu Hồ vào sông Lật Thủy. Trước khi nổ ra cuộc chiến ở Hợp Phì, những vận chuyển kiểu như vậy đều phải đi đường vòng mà cũng gặp rất nhiều chướng ngại.
Nhưng bây giờ quân Hán chiếm lĩnh Vu Hồ, cắt đường thủy trọng yếu này khiến cho quân Giang Đông không thể xuôi nam đến Ngô Quận, đương nhiên cũng có thể đi đường biển nhưng trước đây bởi vì Kinh Châu có hiệp ước hạn chế, chỉ cho chiến thuyền nhỏ đi qua, đa số là thuyền tám chín trăm thạch, hơn nữa không đủ kiên cố không thể đi trong biển. Thủy quân Kinh Châu lại khác vì để đi trên biển đã làm mấy trăm chiến thuyền có thể chống lại sóng to gió lớn.
Như vậy khiến quân Giang Đông rơi vào tình thế hết sức khó xử. Chiến thuyền ở Trường Giang không có cách nào cùng đại quân xuôi nam tiến về phía Ngô Quận. Quân Giang Đông chỉ có thể thông qua nhân lực, dùng xe vận chuyển lương thực vật tư đến quận Bì Lăng, lại từ Huyện Bì Lăng vận chuyển bằng thuyền nhỏ đến Ngô Quận.
Giang Đông có năm vạn đại quân thì có ba vạn quân xuôi nam tiến đánh Ngô Quận, đóng quân ở Kiến Nghiệp chỉ còn lại hai vạn quân, trong đó thủy quân chỉ còn lại mười nghìn, chiến thuyền còn lại hơn bảy trăm đang thả neo ở bờ sông, trong một tòa thủy trại rất lớn trên sông.
Chương 947.2: Dương đông kích tây.
Đêm đến, thủy trại vẫn an tĩnh giống ngày thường, một đội lính đi tuần tra trên bờ. Trong thủy trại mấy chục tên lính ngồi trên một chiếc thuyền tuần tra, cảnh giác chăm chú nhìn động tĩnh trên mặt sông. Quân Giang Đông rất cẩn thận, bọn họ rất sợ thám báo của quân Hán lẻn vào thủy trại đốt thuyền. Cho nên trong hai thủy trại có gần trăm thuyền trinh sát không kể ngày đêm tuần tra.
Đêm này người trực là đại tướng thuỷ quân Từ Thịnh, y cũng ngồi trên một con thuyền tuần tra thủy trại. Bây giờ đã là canh bốn đúng là lúc binh lính ngủ say nhất. Từ Thịnh cố vực dậy tinh thần đứng ở đầu thuyền nhìn chăm chú động tĩnh trên mặt sông, nhưng mấy tên lính phía sau nói chuyện lại hấp dẫn sự chú ý của y.
- Mọi người nói xem, quân Hán có thể nhân lúc quân ta xuôi nam mà ồ ạt tiến công Kiến Nghiệp hay không?
- Sao có thể, nếu quân Hán ồ ạt tiến công quân Tào sẽ không khoanh tay đứng nhìn đâu.
- Nói nhảm, quân Tào không có chiến huyền, chỉ là ở Giang Bắc hò thét cổ vũ, cố làm ra vẻ thôi.
Trong lòng Tự Thịnh tức giận quay đầu lại quát:
- Không chú ý tuần tra còn ở đấy nói lung tung cái gì?
Bọn lính sợ tới mức không dám hé răng nửa lời, đội thuyền im lặng, nhưng Từ Thịnh lại tâm phiền ý loạn. Y cũng sớm nghĩ tới mối nguy hiểm này, Lã Mông mang ba vạn đại quân xuôi nam, Kiến Nghiệp chỉ còn hai vạn quân, thủy quân có thể điều động cũng chỉ có mười nghìn. Nếu Lưu Cảnh thật sự có ác ý, ồ ạt tiến công Kiên Nghiệp thì bọn họ chắc chắc không ngăn cản nổi.
Từ Thịnh thở dài trong lòng, y chỉ có thể hy vọng vào mười mấy chòi báo hiệu ở bờ nam, hiện tại mấy chòi này vẫn chưa châm lửa, tức là tạm thời không có chiến thuyền quân Hán tiến về phía đông.
Trong lòng y cảm thấy may mắn nhiều hơn, có lẽ Lưu Cảnh sẽ không làm như vậy. Nhưng đúng lúc này, trên tháp canh chỗ cửa thủy trại truyền đến tiếng chuông vang đội, “đang đang đang…!”
Ban đêm có tiếng chuông này chỉ có một khả năng có người đánh lén thủy trại. Trong lòng Từ Thịnh kinh hãi, hạ lệnh cho thuyền quay đầu, đi tới cửa lớn của thủy trại, vài tên lính gác chạy xuống từ tháp canh hô lớn:
- Từ tướng quân, trên sông có thuyền địch.
Từ Thịnh nhảy lên ván dậm chạy về hướng cửa chính của thủy trại. Y đứng ở chỗ cao nhìn chăm chú mặt sông, lập tức hít một ngụm khí lạnh. Trên mặt sông ngoài thủy trại xuất hiện mấy trăm thuyền nhỏ, đạt đến nghìn thuyền.
Ở trước thuyền nhỏ là ba chiếc thuyền lớn chuyên dụng để phá trại, chính là Thiết đầu thuyền chuyên để phá vỡ thủy trại, đầu thuyền còn bao bọc một lớp thiết, ba chiếc thuyền đang lao nhanh về hướng này. Mà ở phía xa xa thì chính là vô số chiếc thuyền lớn đông nghìn nghịt của quân Hán, đứng sừng sững trên mặt sông, giống một tòa núi lớn kéo dài mười dặm.
Từ Thịnh gấp đến mức quát to:
- Nhanh chóng đốt lửa cảnh báo.
Y biết đã không còn kịp nữa, ba chiếc thuyền chuyên dùng để phá trại chỉ còn cách thủy trại gần trăm bước, Từ Thịnh nhảy xuống thuyền quát to:
- Lên bờ.
Thuyền nhỏ quay đầu, nhanh chóng chạy về phía bờ, trên chòi báo hiệu đã đốt lửa lên, bờ biển cũng được thắp sáng, ánh lửa hừng hực thiêu đốt, trong đêm hết sức chói mắt.
Nhưng tất cả đều không còn kịp nữa, thuyền của Từ Thịnh còn chưa kịp cập bến, chỉ nghe thấy phía sau truyền đến tiếng động long trời lở đất. Ầm một tiếng, ba chiếc thuyền phát trại đã đồng thời đâm vào hàng rào thủy trại, hàng rào thủy trại bị phá thành ba cái lỗ lớn, mỗi cái lỗ rộng khoảng mười trượng.
Thuyền nhỏ theo sát phía sau như bầy sói xông vào thủy trại từ lỗ hổng. Dầu hỏa trên thuyền nhỏ được đốt lên, gần trăm thuyền lửa vọt vào thủy trại khiến thủy trại xuất hiện cảnh tượng vô cùng hoành tráng. Nghìn thuyền cùng phát hỏa ánh lửa ngút trời chiếu xuống mặt sông một mảnh đỏ hồng.
Bởi vì quân Hán đánh bất ngờ vào lúc nửa đêm, quân Giang Đông không hề có chuẩn bị, trên mấy trăm chiến thuyền hầu như không có binh lính, hơn nghìn thuyền lửa vọt vào trong thuyền lớn khiến cho toàn bộ thủy trại chìm trong biển lửa.
Trên một con thuyền năm nghìn thạch ở phía ngoài, Lưu Cảnh ngắm nhìn thuyền lửa của quân Hán xa xa đột nhập vào thủy trại của quân Giang Đông, đốt cháy rất nhiều chiến thuyền, khóe miệng hắn cười lạnh một tiếng.
Tập kích thủy trại quân Giang Đông vào ban đêm là kế hoạch do Bàng Thống đề ra, Bàng Thống cũng hiểu rõ, từ Vu Hồ đến bờ nam Trương Giang của Kiến Nghiệp có tám tòa khói lửa, ngày đêm giám thị mặt sông, chiến thuyền của quân Hán đi theo bờ bắc. Cùng lúc đó, Bàng Thống tính rất chuẩn xác vị trí của mấy tòa khói lửa, khi đến gần tòa khói lửa thì đều là đêm khuya.
Ban đêm, tầm nhìn của tòa khói lửa bị hạn chế, không thể giám sát toàn bộ mặt sông rộng lớn. Quân Hán cứ như vậy tránh thoát được sự giám thị của tám tòa khói lửa ở bờ nam, im hơi lặng tiếng đến gần Kiến Nghiệp, canh bốn tấn công khiến cho quân Giang Đông trở tay không kịp.
Mười nghìn thùng dầu hỏa trên thuyền nhỏ toàn bộ được đốt cháy, giống hệt như biển lửa, khói lửa ngút trời. Lúc này hơn mười chiến thuyền đi qua đi lại bên ngoài thủy trại nghĩ cách cứu viện hơn mười nghìn binh lính đang ở trong biển lửa trong thủy trại.
Ngọn lửa đốt cháy thủy trại đã kinh động đến thành Kiến Nghiệp, Tôn Quyền được trăm binh lính hộ vệ đi xuống, chạy lên đầu thành Kiến Nghiệp nhìn ra thủy trại ở cách đó mười dặm, có thể nhìn thấy lửa cháy nuốt trọn toàn bộ thủy trại, mười dặm mặt sông một mảnh đỏ rực.
Tôn Quyền sắc mặt trắng bệch, tay nắm chặt chuôi kiếm, cả người hơi run lên. Y không thể nghĩ được rằng Lưu Cảnh lại độc ác như vậy, thừa dịp quân chủ lực của y xuôi nam bất ngờ tập kích thủy trại của y trên sông Trường Giang.
Không chỉ thủ đoạn độc ác mà kết quả hắn gây ra cũng vô cùng nghiêm trọng. Một khi quân Giang Đông không có chiến thuyền sao có thể tham gia cuộc chiến ở Hợp Phì? Hiện tại quân Hán đang đâm một nhát ở trong bụng quân Giang Đông, chẳng nhẽ bây giờ y lại phải viết một bức thư công khai hứa hẹn cho Lưu Cảnh sao? Dường như đã quá muộn rồi.
Tôn Quyền thở dài, y cảm thấy mình giống như bị Lưu Cảnh đùa bỡn trong lòng bàn tay, mưu lược của Lưu Cảnh y không có khả năng so sánh, thậm chí toàn bộ Giang Đông không hề nghĩ đến kết quả này. Ngày mai không biết y phải đối mặt với thần tử và tướng lĩnh như nào, y nhấc đá lên lại tự đem đá đập vào chân mình.
Trận hỏa hoạn này kéo dài một ngày một đêm, thiêu rụi chút tiền vốn cuối cùng của Giang Đông. Khi lửa tắt, thủy trại đã không còn, trên mặt sông đầy xác thuyền cháy màu đen, những boong thuyền và xác thuyền bị đốt cháy bị sóng xô vào bờ. Toàn bộ 800 thuyền chủ yếu là chiến thuyền của Giang Đông toàn bộ bị thiêu rụi, chỉ có một trăm thuyền nhỏ trăm thạch ở sông Tần Hoài nên có thể may mắn thoát khỏi.
Lúc này, chiến thuyền của quân Hán đã biến mất, đại công cáo thành, mấy trăm chiến thuyền của quân Hán cũng đã quay đầu rời đi trở về Nhu Tu Khẩu. Mặt sông không một bóng thuyền, trời u ám, những hạt mưa dày đặc bị gió thổi đi táp vào mặt, táp vào trên khuôn mặt tái nhợt của Tôn Quyền.
Bờ sông, có mười mấy quan văn võ theo Tôn Quyền đi thị sát bến tàu và thủy trại bị lửa thiêu rụi, hơn một trăm thuyền nhỏ tránh ở Tần Hoài bây giờ đang đi lại trên mặt sông, tuần tra tìm kiếm binh lính còn sống bị rơi xuống nước.
- Ngô hầu, may mà chỉ thương vong không đến trăm người, đây cũng là may mắn trong bất hạnh rồi.
Bộ Chất nhỏ giọng an ủi Tôn Quyền.
Tôn Quyền thở dài nói với Trương Chiêu:
- Quân sư, bây giờ chúng ta phải làm gì?
Chương 948: Bức ép ngừng đông chinh.
Trương Chiêu một lúc sau mới cười khổ nói:
- Không có chiến thuyền chỉ sợ chúng ta không thể tham gia cuộc chiến ở Hợp Phì, Tào Tháo có bức chúng ta cũng vô dụng. Vi thần đề nghị cử Tử Kính đi Nhu Tu Khẩu một lần nữa nói chuyện với Lưu Cảnh xem sao.
- Quân sư nghĩ Lưu Cảnh còn tiếp tục đàm phán sao?
- Hắn dù sao cũng là rể của Giang Đông, về mặt tình cảm không thể chối bỏ. Hơn nữa hắn vì đại chiến ở Hợp Phì cũng mong Giang Đông có thể ổn định, vi thần tin tưởng hắn sẽ đồng ý đàm phán.
Tôn Quyền gật đầu, quay đầu lại hỏi:
- Tử Kính đang ở đâu?
Có người trả lời:
- Lỗ Quận thừa sáng hôm nay đã trở về quận Dự Chương rồi.
Tôn Quyền mặt sầm xuống, trong lòng bực bội, thấy sông bị lửa thiêu, Lỗ Túc liền chạy mất, hiển nhiên ông ta không muốn tiếp tục đi sứ cho mình, Tôn Quyền lại hỏi:
- Vị sứ quân nào muốn thay ta đi sứ quân Hán?
Hơn mười người không có một ai trả lời, cho dù Trương Chiêu có thể an ủi Tôn Quyền có thể tiếp tục bàn lại nhưng trong lòng mọi người đều hiểu được, lần đi sứ quân Hán này chỉ là rước lấy nhục, dệt hoa trên gấm ai cũng chịu làm, nhưng đưa than sưởi ấm trong ngày tuyết rơi lại không có bao nhiêu người có dũng khí này.
Trong lòng Tôn Quyền càng tức giận:
- Chẳng nhẽ các ngươi không có ai muốn đi sứ hay sao?
Đúng lúc này Ngu Phiên bước ra nói:
- Nếu Ngô hầu không chê vi thần nguyện ý đi sứ Nhu Tu Khẩu.
Trong lòng Tôn Quyền và mọi người nhẹ nhõm hơn, cuối cùng cũng có người ra mặt, Tôn Quyền gật gật đầu:
- Ta sẽ viết một bức thư, phiền Trọng Tường đi một chuyến.
Lúc này có binh lính chỉ về phía sông hô to:
- Nhìn kìa, có chiến thuyền của quân Hán.
Mọi người đều nhìn về hướng sông, chỉ thấy trong làn mưa hơn một trăm thuyền một nghìn thạch đang ở giữa sông, sau có trang bị bàn đạp bánh xe cánh quạt, đây là chiến thuyền điển hình của quân Hán. Chiến thuyền diễu võ dương oai như đang đi tuần tra sông, thuyền nhỏ của Giang Đông đều tránh né.
Loại ức hiếp này khiến cho thần tử của Giang Đông đều cảm thấy chán nản, bọn họ đã không còn tiền vốn để tiếp tục giằng co với quân Hán nữa. Toàn bộ Trường Giang đều bị chiến thuyền quân Hán khống chế, Tôn Quyền thở dài một tiếng, xoay người đi về thành Kiến Nghiệp.
Quần thần nhìn chiến thuyền trên sông, đều lắc đầu, ánh mắt của ai cũng rất phức tạp. Giang Đông từng bước tiến tới suy vong, mà còn đánh mất thủy quân, đây chính là bước ngoặt mấu chốt nhất khiến Giang Đông suy bại. Không còn thủy quân không còn chiến thuyền, quân Giang Đông giống như hổ bị cắt mất nanh, sớm hay muộn cũng bị quân Hán chiếm. Mọi người tâm tình trầm trọng đi sát theo Tôn Quyền về Kiến Nghiệp.
Sở dĩ Ngu Phiên chủ động xin đi sứ là vì lần đi sứ này của Tôn Quyền là lần thứ hai, vì lợi ích của bản thân cũng như gia tộc, huynh đệ của y Ngu Vọng đã đầu hàng quân Hán, đảm nhiệm chức Quận thừa quận Hội Kê, nắm giữ chức to ở quận Hội Kê.
Ngu Phiên lại nhận được mật thư của Hám Trạch. Trong thư Hám Trạch nói Giang Đông đã mất ưu thế, phải nhanh chóng nghĩ đến tương lai. Ngu Phiên luôn nghĩ đi nghĩ lại, đúng lúc không có ai nguyện ý đi sứ quân Hán, y liền chủ động xin đi nắm lấy cơ hội này.
Ngu Phiên không cần đến Nhu Tu Khẩu đã gặp Lưu Cảnh. Thuyền nhỏ của y mới ra khỏi Kiến Nghiệp không bao lâu liền bị thuyền của quân Hán cản lại. Ngu Phiên được đưa tới bờ Bắc Trường Giang, chỉ thấy bờ Bắc Trường Giang có một con lâu thuyền năm nghìn thạch đang thả neo, xung quanh có rất nhiều thuyền nhỏ đang tuần tra, Ngu Phiên thầm nghĩ:
- Chẳng lẽ Lưu Cảnh ở ngay đây?
Ngu Phiên được người dẫn lên thuyền lớn, trực tiếp đi thẳng vào khoang thuyền. Trong khoang ánh đèn mờ mờ, ở giữa đặt một chiếc bàn rất lớn, trước bàn có một tướng lĩnh khôi ngô đang đứng. Ngu Phiên nhìn thoáng qua liền nhận ra đây là Hán Vương Lưu Cảnh.
Ngu Phiên vội vàng tiến lên khom người thi lễ:
- Hạ quan Ngu Phiên tham kiến Hán Vương Điện hạ.
Lưu Cảnh khẽ mỉm cười:
- Hóa ra là Ngu sứ quân, đã lâu không gặp.
- Hạ quan mang đến thư do Ngô hầu tự tay viết dâng lên Điện hạ, mong Điện hạ xem một chút.
Ngu Phiên lấy thư ra cung kính đưa lên cho Lưu Cảnh, Lưu Cảnh nhận thư nhưng không hề xem tùy tiện ném sang một bên, phất tay cười nói với Ngu Phiên:
- Ngu sứ quân mời ngồi.
Trong lòng Ngu Phiên hết sức kinh ngạc, y cảm thấy Lưu Cảnh coi trọng mình hơn bức thư tay của Tôn Quyền. Y cảm thấy có chút bất an, theo sau Lưu Cảnh ngồi xuống, Lưu Cảnh gọi người dâng trà, lúc này mới cười nói:
- Nghe nói Ngu sứ quân là người thiết diện vô tư, thẳng thắn chân thành, ta muốn thỉnh giáo Ngu sứ quân một chút, làm một quân nhân điều quan trọng nhất là gì?
Ngu Phiên uống một ngụm trà trầm ngâm không nói, y đi sứ vì Giang Đông, không ngờ đến đây Lưu Cảnh lại nói đến đạo làm người, Ngu Phiên chậm rãi nói:
- Tại hạ thường nói với Ngô hầu, đạo làm vua đầu tiên phải chính trực, bây giờ việc giữ vững cơ nghiệp mới quan trọng nhưng không phải làm theo khuôn phép cũ. Ngẫu nhiên chọn một người thật ra cũng không sao, chỉ cần không vi phạm một số nguyên tắc cấm kị mấu chốt.
- Ví dụ như?
Lưu Cảnh nghiêm túc hỏi.
Ngu Phiên thấy được thành ý của Lưu Cảnh, y cũng đơn giản nói:
- Ví dụ như việc dùng người, ngày trước Hán Vương Điện hạ công khai chiêu mộ nhân tài, chỉ có tài mới được trọng dụng, điều này rất tốt nhưng kết quả cuối cùng là đa phần con cháu quý tộc được trọng dụng. Điều này cũng không có vấn đề gì, dù sao ai cũng biết con cháu quý tộc nhân tài nhiều như mây, bọn họ được trọng dụng là chuyện hợp tình hợp lý. Rất nhiều con cháu hàn môn không làm gì chờ đợi năm thứ hai, nhưng không ngờ nhoáng cái nhiều năm cũng không có tin tức gì, chuyện kia cũng chỉ làm một lần, điều này khiến cho mọi người khó tránh khỏi nghi ngờ không biết dụng ý của Điện hạ là gì? Hoài nghi lời nói “chỉ có tài mới được trọng dụng” của Điện hạ có thành ý hay không?
Lưu Cảnh gật đầu, Ngu Phiên nói rất đúng, nhiều năm liền không có tiến hành công khai tuyển nhân tài, quả thật khiến cho rất nhiều sĩ tử thất vọng. Lúc này Ngu Phiên nói thẳng:
- Còn chuyện Bình Chương đài, Bình Chương đài là gì? Ở ngoài nhìn vào nghĩ là nơi dành cho thừa tướng làm việc, nhưng thừa tướng ở đâu ra? Tại hạ không hề thấy, chỉ thấy một đám người bị quyền lực che mờ lí trí, tại vị không chịu để cho người khác thay thế, Từ Thứ nắm quyền bao nhiêu năm rồi? Tưởng Uyển cũng bao nhiêu năm rồi? Còn cả Phí Quan và Đổng Hòa, bọn họ chẳng qua chỉ là quan lại nhỏ của đất Thục, có tài đức gì mà được giữ chức cao, Tư Mã Ý vừa quân vừa chính, y rốt cuộc là quân sư hay thượng thư? Điện hạ vừa muốn thống nhất thiên hạ, lại sợ hãi rụt rè, làm việc không có quy củ, cần phải biết rằng binh pháp có quỷ kế nhưng quân nhân phải quang minh chính đại, vương đạo, thậm chí hống hách, chỉ duy nhất không đi vào con đường dùng quỷ kế.
Lưu Cảnh thở dài nói:
- Tôn Quyền có tấm gương sáng như Ngu Trọng Tường lại không trọng dụng, vứt tới vứt lui đúng là ngu xuẩn. Nếu Ngu sứ quân nguyện ý đi theo nước Hán, ta sẽ bổ nhiệm sứ quân giữ chức Gián Nghị Đại Phu, có thể đeo kiếm vào triều.
Trong lòng Ngu Phiên cảm động, cúi người thật thấp thi lễ nói:
- Ngu Phiên cũng có tâm với Đại Hán nhưng Giang Đông gặp nạn, tại hạ không thể bỏ đi, mọng Điện hạ thấu hiểu cho tại hạ.
Lưu Cảnh gật đầu:
- Ta có thể hiểu được, ta không ép sứ quân, bất kể khi nào sứ quân đến ta đều mở rộng cửa đón chào.
Ngu Phiên nghĩ đến sự lạnh lùng và chán ghét của Tôn Quyền với mình, so sánh thiệt hơn, Lưu Cảnh lại khoan dung và coi trọng mình như thế khiến cho lòng y rối như tơ vò, không kìm được rơi lệ:
- Điện hạ coi trọng Ngu Phiên như vậy, tại hạ xin khắc ghi trong lòng.
Lưu Cảnh biết bây giờ thời cơ vẫn chưa chín muồi, hắn không nhắc đến chuyện đầu hàng nữa, tùy tiện lấy thư của Tôn Quyền xem qua một lần, nội dung trong thư đúng như dự liệu của hắn, Lưu Cảnh cười cười nói:
- Sự tín nhiệm của Ngô hầu ta đã từng thử qua, tuy nhiên do niệm tình Thượng Hương công chúa, ta đồng ý cho y thêm một cơ hội. Nhưng mà ta nói trước, hai vạn đại quân của quân Tào ở Ngô Quận, Ngô hầu định xử lí bọn họ thế nào?
Ngu Phiên cố làm cho mình bình tĩnh lại, quay trở lại chuyện chính sự, y vội vàng nói:
- Chúng ta còn một thuyền cũ có thể đưa bọn họ qua sông, Ngô hầu hi vọng Điện hạ không gây khó dễ cho bọn họ.
Lưu Cảnh thản nhiên cười nói:
- Chỉ sợ mời người đến thì dễ tiễn người đi thì khó.
Ngu Phiên ngẩn ra, y vừa định hỏi lại Lưu Cảnh đã khoát tay:
- Vừa rồi ta đã nói niệm tình công chúa Thượng Hương, ta đồng ý cho Giang Đông một cơ hội, ta có thể thả dân chúng Ngô Quận ra, cũng có thể trả lại quận Tân Đô cho y, thậm chí còn có thể trả lại Tưởng Khâm và binh lính đầu hàng cho y, hai bên lấy sông Chiết Thủy làm ranh giới, hai bên đều an toàn vô sự, mong sứ quân chuyển lời đến Ngô hầu đây là sự khoan dung cuối cùng của ta.
Ngu Phiên im lặng gật đầu, đây quả thật la thành ý lớn nhất của Lưu Cảnh có thể làm được, y lại hỏi:
- Không biết binh lính trú ở đảo Tây Sơn Thái Hồ có rút đi không?
Lưu Cảnh lạnh lùng nói:
- Chuyện tốt không thể để cho Giang Đông chiếm hết, nếu Tôn Quyền muốn ta rút quân khỏi Tây Sơn thì điều kiện chính là quân Tào phải rút khỏi Giang Đông. Nếu quân Tào không rút lui, ta sẽ không rút quân khỏi Tây Sơn. Nói tóm lại chỉ cần quân Tào còn ở Giang Đông thì quân Hán cũng nhất định ở lại Giang Đông, đây là lựa chọn bình đẳng.
Lưu Cảnh nói như đinh đóng cột, không hề có ý nhượng bộ. Đây là giới hạn cuối cùng của hắn, nếu hắn buông tha điểm mấu chốt này thì quận Hội Kê chắc chắn sẽ gặp nguy hiểm, hắn tin suy đoán của mình không sai. Cho dù quân Giang Đông không tham gia đại chiến ở Hợp Phì, Tào Tháo cũng sẽ không buông tha cho Giang Đông. Hắn tốn rất nhiều công sức mới đưa được quân đội vào Giang Đông sao có thể dễ dàng rút đi như vậy?
Đêm đến, Tào Tháo nhận được tin tức chim bồ câu từ Kiến Nghiệp chuyển tới, tin quân Hán đốt trụi chiến thuyền của quân Giang Đông khiến lão tức giận vô cùng, lão vỗ mạnh bàn một cái mắng:
- Tôn Quyền ngu xuẩn, khó trách bị Lưu Cảnh đánh cho thê thảm như vậy, đúng là quá ngu xuẩn, lại bị quân Hán thiêu rụi thủy trại chiến thuyền, y nên chết đi thì tốt.
Tào Tháo vừa tức vừa vội, không còn thủy quân Giang Đông phối hợp ở Trường Giang, trận chiến ở Hợp Phì này lão đã lâm vào thế bị động, Tào Tháo khoanh tay đi lại ở đại sảnh một lúc lâu, trong lòng vô cùng lo lắng.
Lúc này, Trình Dục khuyên lão:
- Đây thật ra cũng không phải sơ suất của Tôn Quyền, thực lực của y không bằng quân Hán, Ngô Quận lại gặp chuyện, y phái đại quân đi thu hồi lại liền để Trường Giang không còn người canh phòng. Cơ hội như vậy sao Lưu Cảnh lại không bắt lấy chứ, đây là kế rút củi dưới đáy nồi, chỉ cần phá hủy chiến thuyền của quân Giang Đông, quân Giang Đông sẽ không thể tiếp tục tham gia cuộc chiến ở Hợp Phì nữa. Chỉ có thể nói Tôn Quyền còn lâu mới xứng là đối thủ của Lưu Cảnh, cũng không phải do y ngu xuẩn.
- Ta mặc kệ y có ngu xuẩn hay không nhưng bây giờ đã không còn quân Giang Đông kiềm chế quân Hán từ phía sau, ta phải làm gì đây? Trận chiến ở Hợp Phì này ta phải tiếp tục đánh thế nào đây?
Tào Tháo thẹn quá hóa giận quát.
Trình Dục thở dài nói:
- Tình hình bây giờ Ngụy công cũng chỉ có thể đưa ra quyết định cuối cùng.
Chương 949: Các bên đều tăng quân tiếp viện.
Tào Tháo nhẫn xuống lửa giận, bắt chính mình tỉnh táo lại, nói với Trình Dục:
- Quân sư nói đi, hiện tại chúng ta phải làm như nào?
- Vi thần trước tiên muốn hỏi Ngụy công có định đem quân đội của Vu Cấm rút về không?
Tào Tháo lắc đầu:
- Không. Ở Giang Đông nhất định phải có quân đội của ta. Ta không thể để cho Lưu Cảnh dễ dàng chiếm được Giang Đông. Chỉ cần ở Giang Đông vẫn còn quân đội của ta, Tôn Quyền sẽ chống đỡ đến cùng, Lưu Cảnh cũng không dễ dàng phát động chiến tranh ở Giang Đông.
- Vi thần đoán Lưu Cảnh cũng sẽ không rút quân đóng ở Giang Đông về, sẽ tạo thành thế giằng co ở Giang Đông, cũng không thể tham gia cuộc chiến ở Hợp Phì. Chúng ta chỉ có một mình chiến đấu ở Hợp Phì, ty chức nghĩ Ngụy công nên tăng viện binh cho Hợp Phì.
Tào Tháo gật đầu:
- Ngươi nói đúng, trận chiến này ta không thể tiếp tục thua, ta sẽ điều năm vạn quân đến tiếp viện ở Hợp Phì, lại điều từ Nghiệp Đô hai vạn quân xuôi nam, như vậy quân ở Hợp Phì sẽ tăng lên mười lăm vạn.
Trình Dục lại nói:
- Vi thần đề nghị nên buông tha cái khác, Từ tướng quân cũng nên rút về Hợp Phì.
- Vì sao?
- Vì quân Hán đã khống chế được sông hồ Giang Đông, quân Hán sẽ từ Sào hồ đi Lục An, khiến cho Từ tướng quân trở tay không kịp. Tuy rằng bây giờ Lưu Cảnh vẫn chưa làm như vậy, nhưng một khi hắn phá được thế cục Giang Đông, hắn sẽ tiêu diệt vòng ngoài của chúng ta trước, tập trung binh lực đánh quân coi giữ Lục An, không bằng Ngụy công rút Từ tướng quân về trước.
- Nhưng một khi như vậy quân Hán cũng dễ dàng cắt đứt liên hệ giữa Thọ Xuân và Hợp Phì.
Trình Dục cười khổ nói:
- Thực tế cho dù có quân ở Lục An hay không, hắn đều có thể dễ dàng chặt đứt con đường vận chuyển từ Thọ Xuân đến Hợp Phì.
- Ngươi nói không sai.
Tào Tháo gật đầu:
- Quân Lục An là để đối phó với việc quân Hán tiến công đường bộ về phía tây, bây giờ đã không còn thủy quân của Giang Đông kiềm chế, chiến thuyền của quân Hán rất dễ dàng tiến về phía Bắc, không chế Sào Hồ. Chúng ta không có thủy quân rất dễ dàng bị quân Hán tiêu diệt từng bộ phận một, quân đội của Từ Hoảng nên rút về Hợp Phì.
- Có Văn Viễn và Công Minh trấn thủ Hợp Phì, ta thấy quân Hán muốn đánh bại Hợp Phì cũng không phải dễ dàng. Nếu ty chức không đoán sai, trận chiến này là trận chiến trường kì, ngắn thì nửa năm mà dài thì một năm, phải xem ai có thể kiên trì đến cuối cùng, Ngụy công nên trở về Nghiệp Đô đi.
Tào Tháo trầm ngâm vẫn lắc đầu:
- Lưu Cảnh trấn thủ Hợp Phì, ta cũng không thể đi. Cuộc chiến ở Hợp Phì liên quan đến sự tồn vong của Hán Ngụy. Nếu trận chiến này thất bại, không chỉ Giang Đông khó bảo toàn mà toàn bộ Trung Nguyên sẽ đối mặt với ba mặt giáp công của quân Hán. Ngụy quốc cũng rơi vào nguy hiểm, trận chiến này ta không thể thua.
Trình Dục bất đắc dĩ đành nói:
- Nếu đã như vậy để tướng quân Tào Nhân trấn thủ Thọ Xuân phòng ngừa quân Hán tiến công Thọ Xuân.
Bởi vì Giang Đông thất thế, Tào Tháo bị ép phải tăng binh cho Hợp Phì mà Lưu Cảnh lại không cần khống chế Giang Đông. Gần như cùng lúc với việc Tào Tháo quyết định tăng binh, Lưu Cảnh cũng quyết định tăng binh ở Nhu Tu Khẩu. Trước đây có tám vạn quân đóng ở đây, ở Sài Tang có mười nghìn quân, phải đánh bại hoàn toàn được quân Tào, phá được thành Hợp Phì, chỉ dựa vào tám vạn quân là không đủ. Lưu Cảnh hạ lệnh, ở Quan Trung và Ba Thục điều thêm sáu vạn đại quân tham gia cuộc chiến ở Hợp Phì.
Đồng thời hạ lệnh cho ba quận Giang Hạ, Nam Quận, Tương Dương tập hợp thuyền, tất cả thuyền từ ba trăm thạch trở lên đều điều động, cũng đưa ba trăm nghìn thạch lương thực ở Tương Dương và Vũ Xương chuyển đến Sài Tang.
Đối với Lưu Cảnh, chiến dịch ở Hợp Phì là không thể thua. Một khi hắn thua không chỉ để cho Tào Tháo phá vỡ thế cục ở phía đông nam mà còn khiến Tào Tháo và Tôn Quyền liên kết thành một. Lúc đấy Kinh Châu cũng khó bảo vệ, ưu thế chiến lược mấy năm nay hắn khổ tâm xây dựng cũng không còn. Ít nhất phải mười năm sau, giấc mộng hắn cướp được thiên hạ không thể thực hiện được.
Cũng chính vì không thể để thua trận chiến này, Hán quốc dốc sức ứng phó, dốc hết toàn lực đánh trận chiến không thua gì chiến dịch Xích Bích.
Kiến Nghiệp, Ngu Phiên mang về cho Tôn Quyền lời nhắn của Lưu Cảnh, đồng ý song phương nghị hòa, Lưu Cảnh gần như vô điều kiện ngưng chiến, cũng đồng ý một loạt yêu cầu của Tôn Quyền kể cả dân chúng Ngô Quận, phóng thích Tưởng Khâm và tù binh, trả lại quận Tân Đô. Nhưng thứ quan trọng nhất Lưu Cảnh lại không nhượng bộ chính là quận Hội Kê.
Lý do của Lưu Cảnh rất đơn giản, quận Hội Kê là chiếm được từ trong tay hai anh em Hạ thị, không phải đoạt từ trong tay Giang Đông cho nên Giang Đông không có quyền đòi lại quận Hội Kê từ trong tay quân Hán. Hơn nữa nhân dân Hội Kê còn ủng hộ Tôn Thiệu làm thái thú quận Hội Kê.
Sự cứng rắn của Lưu Cảnh khiến cho Tôn Quyền hết cách, dù sao Giang Đông cũng không còn tư cách đòi hỏi Hán quốc. Tôn Quyền đành chấp nhận để quân Hán chiếm lĩnh quận Hội Kê, chỉ có thể lùi để tính bước tiếp theo, hi vọng quân Hán có thể rút quân khỏi Thái Hồ.
Nhưng điều kiện rút quân của Lưu Cảnh rất rõ ràng, quân Tào không rút khỏi Giang Đông, quân Hán cũng không rút quân khỏi Thái Hồ, điều này khiến cho Tôn Quyền cảm thấy ghê tởm như nuốt phải con ruồi.
Ở đại sảnh, Tôn Quyền hung hăng ném chén trà xuống, “choang” một tiếng, chén trà bị đập nát, chỉ thấy Tôn Quyền rít gào như sấm vang vọng:
- Bọn chúng coi Giang Đông là kĩ viện hay sao? Muốn đến thì đến muốn đi thì đi. Cùng lắm thì quyết chiến đến cùng, Giang Đông bị phá nát, ta cũng không muốn nữa, giết sạch cướp sạch tùy chúng đi.
Lúc này Trương Chiêu bước nhanh vào trong nghe thấy tiếng mắng chửi của Tôn Quyền, lão thấp giọng hỏi một tên thị vệ chạy ra từ trong đại sảnh:
- Đã xảy ra chuyện gì?
Thị vệ thở dài nói:
- Đức Xu tiên sinh đã trở về từ Ngô quận mang theo một tin xấu. Quân Tào chiếm lấy huyện Bì Lăng không chịu rút quân về phía bắc. Vu Cấm nói đây là mệnh lệnh của Ngụy công, phòng ngừa bị quân Hán chặn lại ở Trường Giang, cho nên Ngô hầu đã nổi trận lôi đình.
Trương Chiêu gật đầu, lão biết rằng nguyên nhân Tôn Quyền nổi giận cũng không phải do quân Tào không chịu đi mà là quân Hán cũng có cớ để lưu lại Ngô Quận. Trương Chiêu không khỏi thở dài một tiếng, Tào Tháo là con cáo già, Giang Đông đã không còn chiến thuyền, Tào Tháo cũng không dễ dàng buông tha cho Giang Đông, quân Tào không chịu đi cũng là chuyện bình thường.
Lưu Cảnh biết quân Tào sẽ không đi cho nên mới lầy điều kiện là quân Tào rút về. Cho dù quân Tào muốn rút về cũng bị chiến thuyền của quân Hán ở Trường Giang chặn lại. Suy cho cùng Lưu Cảnh cũng không muốn buông tha lợi ích của Giang Đông, chỉ có Ngô hầu là người bị bọn họ đùa bỡn trong lòng bàn tay, đây chính là sự khác biệt.
Trương Chiêu cũng không muốn đi khuyên giải an ủi Tôn Quyền, chuyện như vậy không ai có thể khuyên, chỉ có thể dựa vào chính bản thân Tôn Quyền tự tỉnh lại, sau đó Giang Đông sẽ yên ổn.
Trương Chiêu lắc đầu, xoay người rời đi. Đã đến giữa trưa, Trương Chiêu tạm thời ngồi xe ngựa hồi phủ, đây cũng là thói quen nhiều năm của lão, giữa trưa phải về nhà ăn cơm, nghỉ trưa một lúc. Dù sao lão tuổi tác cao, thể lực không thể bằng lúc trước.
Ăn xong cơm trưa, Trương Chiêu ở trong thư phòng nghỉ ngơi, bên ngoài phòng có tiếng bước chân dồn dập, tới cửa thì ngưng lại, có vẻ rất do dự. Trương Chiêu nghe được đây là tiếng bước chân của đứa con cả, y biết rõ mình cần nghỉ ngơi vẫn còn đến thư phòng tất nhiên là có chuyện quan trọng cần nói.
- Vào đi.
Trương Chiêu ngồi dậy nói.
Cửa mở, đứa con cả Trương Thừa chậm rãi đi vào, quì gối thi lễ:
- Con quấy rầy phụ thân nghỉ ngơi rồi.
Trương Thừa đầu tiên là quan văn, đảm nhiệm chức Quận Thừa quận Lư Giang. Sau khi quận Lư Giang bị tặng cho Hán quốc, Trương Thừa liền gia nhập quân đội, được phong làm Phấn Uy tướng quân, làm Phó Đô Úy Đan Dương. Mà Đô Úy Đan Dương Chu Thái là tâm phúc của Tôn Quyền, nắm giữ mười nghìn quân, chức phó Đô Úy của Trương Thừa chỉ là hư danh.
Trương Thừa là người phóng khoáng, dễ kết giao, thêm việc có phụ thân nắm giữ chức cao trong triều, y có rất nhiều bạn bè, phần lớn là con cháu của các quan lớn. Bọn họ hằng ngày đều ở cùng nhau dần tạo thành giới quan lại thứ hai của Kiên Nghiệp.
Bọn họ cũng không hề ăn chơi trác táng, mỗi người đều có hoài bão và cách nhìn riêng, bọn họ thảo luận quốc sự, nói ra cách nghĩ của bản thân, lo lắng cho tiền đồ của Giang Đông. Thậm chí lợi dụng quan hệ để thay đổi các quyết định, là một lực lượng chính trị không thể bỏ qua.
Trương Chiêu gật đầu nói:
- Thừa nhi có chuyện gì gấp sao?
- Con nhận được tin tức, Thái Thú Ngô Quận Hám Trạch đầu hàng quân Hán, hiện tại đang đi Hội Kê.
- Cái gì?
Trương Chiêu giật mình kinh hãi vội hỏi:
- Chuyện này xảy ra lúc nào?
- Chuyện đã xảy ra được một thời gian, nghe nói là bị Lã Mông giấu diếm, hơn nữa người nhà của Hám Trạch cũng mất tích, có lẽ là được mật thám của quân Hán đưa đi Hội Kê rồi.
Trong lòng Trương Chiêu bây giờ rất hoảng hốt, chuyện Hám Trạch đầu hàng quân Hán là một chuyện đại sự. Y mở ra một mở đầu rất xấu, rất có thể sẽ dẫn đến hàng loạt quan viên Giang Đông vứt bỏ quan triều đầu hàng địch.
Trương Chiêu lo lắng vô cùng, Lã Mông sẽ không giấu diếm Ngô hầu chứ, chắc chắn là đã bí mật báo cáo cho Ngô hầu. Có lẽ là Ngô hầu muốn giấu diếm tin tức này thậm chí còn giấu cả mình, chắc Ngô hầu lo lắng cũng như mình vậy.
- Sao con lại biết tin này?
- Phụ thân, tin tức này đã lan truyền khắp Kiến Nghiệp, có thể nói là người người đều biết. Con vừa trở về từ phủ của Hám Trạch, mới biết được thê tử cùng con cái của y đã mất tích ba ngày, tin này chắc chắn là sự thật.
Trương Chiêu thở dài, không cần phải nói, tin tức này là do mật thám của quân Hán tung ra để nhiễu loạn quan trường và quân đội Giang Đông. Lưu Cảnh rõ ràng muốn giải hòa nhưng lại lén lút hạ độc thủ, thủ đoạn của người này thật độc ác.
Lúc này, Trương Thừa cắn chặt môi dưới ấp a ấp úng nói:
- Phụ thân, con biết rằng ưu thế của Giang Đông đã mất, đã trở thành con vật nhốt trong lòng, sớm muộn gì cũng bị quân Hán tiêu diệt.
- Chớ nói nhảm.
Trương Chiêu mất hứng cắt đứt lời của con cả, lão biết rằng đứa con muốn nói gì, lạnh lùng nói:
- Cuộc chiến ở Hợp Phì còn chưa bắt đầu, còn chưa biết ai là người chiến thắng cuối cùng. Nếu Tào Tháo đánh bại Lưu Cảnh, Giang Đông sẽ có thể trở mình. Tào Tháo nhất định sẽ giúp Giang Đông hùng mạnh trở lại để tạo thành thế chân vạc. Chúng ta thậm chí sẽ cướp lấy Kinh Châu và Giao Châu, chiếm lĩnh hơn nửa phía nam. Cho nên bây giờ con không được suy nghĩ bậy bạ, lại càng không được nói lung tung với bên ngoài.
- Vâng con hiểu rồi.
Dừng một chút, Trương Thừa lại nhỏ giọng nói:
- Phụ thân có thể cho con biết giữa Tào Tháo và Lưu Cảnh rốt cuộc ai có thể giành chiến thắng ở đại chiến Hợp Phì không?
Trương Chiêu cũng hiểu tâm tình của con trai, lão trầm ngâm chôc lát rồi nói:
- Thẳng thắn mà nói, Lưu Cảnh đang chiếm thế thượng phong, cũng không phải quân Hán lợi hại, sức chiến đấu của quân Hán và quân Tào như nhau. Nhưng do thực lực của Hán quốc mạnh hơn Ngụy quốc, Hán quốc đông dân, lương thực và sắt nhiều, lại chiếm được nhiều của cải của Hung Nô.
Mà Ngụy quốc tương đối nghèo nàn, dân Trung Nguyên giảm nhiều, lòng dân Hà Bắc không ổn định, một nửa Tịnh Châu không thể dùng. Nhưng ta thấy đó không phải là vấn đề, mấu chốt là sĩ tộc Trung Nguyên không ủng hộ Tào Ngụy. Đây mới là vấn đề mấu chốt, nếu Tào Tháo xử lý không tốt, chỉ sợ cuộc chiến này Tào Tháo không thể kiên trì đến cùng. Tuy nhiên cũng rất khó nói, với tính cách cáo già của Tào Tháo, một khi sách lược của Lưu Cảnh xảy ra sai sót cũng sẽ bị Tào Tháo lật ngược tình thế, Triệu Nghiễm đại bại ở trong tay Từ Hoảng chính là ví dụ điển hình nhất, cho nên bây giờ rất khó nhận định ai thắng ai thua, mà chỉ có thể đứng ngoài quan sát.