Tại Cung Kiến Nghiệp, trời còn chưa sáng, quân sư Trương Chiêu liền vội vàng chạy tới nội đường, hai người thị nữ đi trước đốt đèn lồng dẫn đường, một tên nội thị già vội vàng dẫn lão đi vào, vừa đi vừa lo lắng thấp giọng nói:
- Mấy hôm nay Ngô hầu ngủ không ngon, canh hai tối hôm qua còn tỉnh giấc, rồi nguyên cả đêm cũng không ngủ, tâm tư trùng trùng, mong quân sư sẽ giúp ông ấy nghĩ thông được.
Trương Chiêu gật đầu, trong lòng của lão cũng hiểu được vì sao Tôn Quyền lại lo lắng đên vậy, mấy ngày hôm trước Tào Tháo phái người mang mật thư đến, trong thư còn uy hiếp Tôn Quyền một cách trắng trợn, nếu Tôn Quyền không cố gắng hơn, một khi quân Hán tiêu diệt Giang Đông, quân Tào tuyệt đối sẽ không nhúng tay vào được.
Còn quân Hán tuy rằng ngoài mặt là đang rút quân khỏi Thái Hồ, nhưng trên thực tế chỉ là rút khỏi thuyền nhỏ, đổi thành chiếc thuyền lớn khoảng hai vạn thạch, chuyện rút quân ở đó, rõ ràng là để nhấn mạnh việc họ đã chiếm được Thái Hồ.
Còn vấn đề lương thực, nông dân ở Ngô quận đều chạy tới quận Hội Kê, lương thực của Ngô quận không biết là ai sẽ trồng trọt đây? Bởi Ngô quận lúc nào cũng là kho lúa của Giang Đông, nếu mất đi kho lúa này, Giang Đông lấy gì mà để nuôi dưỡng quân đội?
Như vậy trong ngoài đều gặp khó khăn, nếu Tôn Quyền còn có thể ngủ yên, đó mới là việc lạ.
Đi vào nội đường, chỉ thấy Tôn Quyền một mình ngồi ở công đường, ánh mắt kinh ngạc nhìn lên trên bản đồ, bên cạnh là ngọn đèn đồng thau mờ mờ tối, Tôn Quyền gần như không biết Trương Chiêu tiến vào.
Trương Chiêu bước nhanh về phía trước, khom người thi lễ nói:
- Vi thần tham kiến Ngô hầu!
Tôn Quyền thở dài:
- Mời quân sư ngồi!
Trương Chiêu ngồi xuống, nói nhỏ khuyên nhủ:
- Ngô hầu nên ngủ một lúc đi, nếu tiếp tục như vậy thì sẽ không chịu nổi mất.
Tôn Quyền nhìn ra sắc trời bên ngoài, bóng đêm thâm trầm, sao đầy trời, y không khỏi áy náy nói:
- Muộn như vậy mà mời quân sư đến, ảnh hưởng đến việc quân sư nghỉ ngơi, thật sự là rất xin lỗi!
Trương Chiêu biết rằng nửa đêm Tôn Quyền tìm mình đến, ắt hẳn là có chuyện gì trọng đại, lão cười cười, chờ Tôn Quyền nói tiếp.
Tôn Quyền gật gật đầu, nói:
- Ta đã suy tính trong vài ngày hôm nay, quyết định vẫn nên dựa vào kế sách của Tào Tháo, đành đi một nước cờ mạo hiểm.
Trương Chiêu biết được Tôn Quyền muốn làm cái gì, lão trầm ngâm một lúc nói:
- Nhưng hậu quả của nó thì…Ngô hầu đã nghĩ đến chưa?
- Sao ta lại chưa từng nghĩ đến chứ, ta cũng đã cân nhắc đến lợi và hại, nên cuối cùng mới quyết định là làm theo đề nghị của Tào Tháo, ta mới quân sư đến, là muốn thương lượng với quân sư một chút việc.
Trương Chiêu thấy Tôn Quyền đã đưa ra quyết định, lão cũng không phản đối nữa, trầm ngâm một lúc lâu sau nói:
- Vi thần cảm thấy, mấu chốt vẫn là vấn đề về thuyền, quân Hán đã phong tỏa mặt sông Vu Hồ và Nhu Tu Khẩu, nên thuyền dân của chúng ta không thể nào qua được.
- Ta biết thế, nhưng ta đã nghĩ ra một cách khác, cách đó có vẻ khả thi hơn.
Tôn Quyền cầm một trục cuốn tranh lên lên, đưa cho Trương Chiêu:
- Quân sư hãy nhìn cái này đi.
Quận Nam Dương, sau khi con đường Nam Tương bị quân Hán phong tỏa, tiêu điểm của trận chiến đã trở về Hợp Phì, Nam Dương trước đây cũng đã từng nổ ra những trận chiến lớn nhưng giờ cũng đang dần lắng xuống, dường như cả hai bên đều đã chấp nhận kết quả đó, những nơi quân Hán chiếm lĩnh bao gồm Uyển thành, mà quân Tào chỉ chiếm được khu Đông Bắc là Diệp huyện.
Diệp huyện được mệnh danh là “Cổ họng của Uyển Thành, bụng của Hứa Xương” nên có vị trí cực kỳ quan trọng, gánh vác trọng trách bảo vệ Hứa Xương ở phía nam, đồng thời đây cũng là nơi xuất nhập khẩu của vùng đông bắc, cửa ngõ của Uyển thành, chiếm được Diệp huyện thì chuyện tiến về phía Nam là vô cùng đơn giản, tạo cho Uyên thành một sự uy hiếp không hề nhẹ.
Hiện giờ có khoảng 6 ngàn quân Tào đang ở Diệp huyện, cầm đầu là đại tướng Lý Điển, còn ba vạn quân của Hạ Hầu Đôn thì vẫn đóng giữ ở Hứa Xương, bất cứ lúc nào cũng đều có thể trợ giúp cho Diệp huyện, đại chiến ở Hợp Phì cũng khiến quân Tào điều đi rất nhiều quân đội, Hạ Hầu Đôn không chỉ phụ trách nguyên việc phòng ngự Nam Dương, đồng thời còn chịu trách nhiệm về phía tây Lạc Dương, vậy nên gã không dám điều hết quân về phía Diệp huyện, vì nếu một khi quân Hán tập trung quy mô lớn đến để đè bẹp Lạc Dương, còn có quân để điều đến trợ giúp.
Biện pháp tốt nhất là khi quân Hán xuất binh từ Uyển thành, y phải lập tức phái quân chạy tới Diệp huyện để trợ giúp.
Cũng đúng là như vậy, cho dù chiến trận ở Hợp Phì cũng thắng giòn giã, nhưng Hạ Hầu Đôn cũng không dám xem thường, lệnh cho Lý Điển hằng ngày đều phải bẩm báo động tĩnh của Uyển thành.
Lý Điển cũng phái ra ba trăm tên thám báo, để những người này quan sát động tĩnh của Uyển thành, bọn họ đều hiểu rõ rằng, một khi quân Hán phá vỡ thế cục tuyến tây, sẽ có thể gây ra nguy hiểm cho Hợp Phì.
Hiện giờ có khoảng 2 vạn quân Hán đang đóng quân ở Uyển thành, điều này không giống với việc quân đội phân tán như quân Tào, quân Hán thì binh lực tập trung ở Uyển Thành, còn lại ở các huyện chỉ có khoảng vài trăm người, chủ yếu là để duy trì trật tự, đây cũng chính là những kinh nghiệm mà quân Hán đã học đươc từ quân Tào, không còn giẫm lên vết xe đổ của họ.
Mấy tháng qua, quân Hán ở Nam Dương chỉ làm duy nhất có một việc đó là huấn luyện hàng quân, bên trong chiến dịch ở Nam Dương, quân Hán đã bắt được hơn 15 ngàn tù binh quân Tào, trong đó tù binh Nam Dương có đến gần vạn người, cho nên muốn huấn luyện những tên tù binh này huấn luyện thành quân Hán, đây chính là nhiệm vụ quan trọng nhất của trú quân Nam Dương.
Thời gian thoắt cái cũng đã đến đầu tháng 9, cuối thu khí trời thoáng mát, từng cánh đồng kê chín rộ, cả vùng đất Nam Dương tràn đầy không khí vui sướng của mùa thu hoạch.
Vào thời khắc mà không ai nghĩ rằng sẽ xảy ra chiến tranh, thì bỗng nó lại giáng xuống cả thành Nam Dương.
Vào buổi chiều nọ, một đội binh bao gồm khoảng mười lăm ngàn người, họ hành quân hăng hái trên con đường cách Diệp huyện chừng 40 dặm về phía Nam, mười lăm ngàn quân đội toàn bộ đều cưỡi ngựa đi, trong đó còn có năm ngàn người đều được trang bị hai con ngựa.
Đội quân Hán mà được trang bị hai chiến mã thì có khoảng hai đội, một là kỵ binh của Quan Lũng, tiếp đó là bộ binh trọng giáp, bởi quân Hán đã thu được rất nhiều chiến mã trong quá trình ở tây chinh Khương Đê và bắc chinh Hung Nô, nên toàn bộ chiến mã này đều được trang bị cho quân đội, bất kể kỵ binh hay là bộ binh trong lúc hành quân đều được cưỡi ngựa.
Bộ binh trọng giáp cũng không ngoại lệ, chỉ là vũ khí của bọn họ vô cùng nặng nề, hơn nữa phần lớn đều có thân hình cao lớn, nên một con chiến mã là không đủ, do vậy mới phải chuẩn bị song mã. Một con là để chuyên chở vũ khí, chiến đao.
Quân Hán này đi đến Diệp huyện này có khoảng 5 ngàn bộ binh trọng giáp, do tướng quân Lưu Hổ suất lĩnh, quân đội của Lưu Hổ mới đuổi từ Quan Trung đến Nam Dương vào năm ngày trước, gã nhận được mệnh lệnh của Hán vương Lưu Cảnh, sai gã đi Nam Dương trợ chiến, giúp cho quân đội Nam Dương cướp lấy Diệp huyện.
Đây chính là quyết sách của Lưu Cảnh, lợi dụng tài lực suy yếu sau trận Hợp Phì của Tào Ngụy, nhiều tuyến tác chiến, tạo áp lực cho Tào Ngụy.
Đương nhiên, tấn công Diệp huyện chính là khâu mà chiến dịch ở Nam Dương còn chưa làm được, cướp lấy Diệp huyện, cũng đồng nghĩa với chiến dịch tại Nam Dương đã chiến thắng viên mãn.
Chương 956.2: Bất ngờ đánh Diệp thành.
Từ Uyển Thành đến Diệp huyện ước chừng một trăm dặm, mà từ Diệp huyện đến Hứa Xương chừng hai trăm dặm, cho dù là thám báo quân Tào có tra tìm được hành động của quân Hán, nhưng đợi đến khi thám báo chạy về báo cáo, và mời Hứa Đô tăng binh, hay đến khi viện trợ quân Tào chạy đến, thì cũng cần trải quan rất nhiều quá trình, viện quân Tào ít cũng phải hai ngày nữa mới có thể đuổi tới Diệp huyện.
Mà quân Hán lại hành quân vô cùng nhanh chóng, trong một ngày đã đến được Diệp huyện, như vậy quân Hán đã hơn được quân Tào ở Hứa Xương tận 1 ngày thời gian, thời gian đó cũng thể quyết định được vận mệnh của Diệp huyện.
Lưu Cảnh cũng đã suy xét đến điểm này, mới lệnh cho Lưu Hồ dẫn năm nghìn bộ binh trọng giáp hỗ trợ tấn công Diệp huyện.
Diệp huyện không có được thành cao lớn chắc chắn như Hợp Phì, tường thành cao không đến ba trượng, chu vi tường chừng 15 dặm, nhân khẩu có khoảng hơn ba vạn dân, nếu so sánh ra thì cũng chỉ là một tòa trung huyện, ưu thế của Diệp huyện không nằm ở thành trì, mà năm ở việc cách Hứa Xương bao xa, và quân viện trợ có liệu thể đến Hứa Xương kịp thời, cũng vì điều này mà Văn Sính vẫn chưa phát động tấn công Diệp thành.
Lúc này, chủ tướng Lý Điển đã nhận được tin là quân Hán đã rời khỏi Uyển Thành, thẳng hướng Diệp huyện, trước tiên y dùng chim bồ câu để truyền tin đến cho Hạ Hầu Đôn ở Hứa Xương, hiện tại quân Hán chỉ còn cách Diệp huyện chừng 30 dặm, mà viện quân của Hạ Hầu Đôn cũng đến lúc phải xuất phát rồi, tính theo góc độ thời gian, quân viện trợ của Hạ Hầu Đôn cũng phải đến chiều mai mới có thể đuổi đến Diệp huyện, nhưng quân Hán chỉ nửa giờ sau đã đánh đến rồi.
Trong lòng Lý Điền cảm thấy óc chút căng thẳng, năm đó y từng bị quân Hán bắt được, sau khi được phóng thích thì điều này đã để lại một nỗi nhục trong lòng của y, cũng chính vì chuyện đó mà khiến y bao năm qua vẫn dậm chân tại chỗ không thể tiến thân, mà những người như Trương Cáp, Trương Liêu, hay Tang Bá đồng chức cùng y trước đây đều đã được thăng chức, phong làm Hương hầu, tướng quân, còn y thì giờ vẫn chỉ là một quan nội hầu, Trung Lang Tướng.
Tào Hồng còn đã chết thảm ở Uyển Thành, lại càng khiến y cảm thấy áp lực, mặc dù lúc ấy y không có ở trong thành nhưng y là phó tướng của Tào Hồng, nên cái chết đó cũng khiến y khó mà tránh khỏi việc phải chịu một phần trách nhiệm.
Lý Điển dừng ở đầu thành, nhìn xa ra phía bên ngoài, màn đêm vừa buông xuống, trời còn chưa tối hẳn, bao trùm một bóng đen lạnh lẽo xuống, cánh đồng cũng hiển ra vẻ yên tĩnh, Lý Điền không khỏi cúi đầu thở dài một tiếng, nhưng cảm giác yên tĩnh đó cũng nhanh chóng bị phá vỡ.
Đúng như những gì Lý Điền lo lắng, chỉ sau nửa canh giờ, mười lăm ngàn quân Hán đã xuất hiện trong hai dặm đồi ngoài thành, hàng đàn những chú chim đang ngụ trên đó cũng đều bị kích động, cũng không khỏi khiến quân canh giữ trên đầu thành chú ý.
- Keng keng keng…! Tiếng cảnh báo gõ vang lên từ trên đầu thành, truyền đến khắp thành, mấy ngàn quân lính đang nghỉ ngơi phía tường thành cũng đứng dậy, chạy về phía đầu thành, Lý Điển cũng lên đầu thành, khẩn trương nhìn chăm chú vào đám quân Hán ngoài xa kia.
Lúc này đám lính đầu thành hô lớn lên, chỉ thấy một đạo quân phóng ngựa lao xuống triền núi, lao thẳng về phía thành trì, khiến đám quân Tào sợ đến mức ai nấy đều giương cung lên phòng thủ, Lý Điển lớn tiếng hét to:
- Không được hoảng loạn!
Lý Điển cảm thấy nhánh quân này có chút đặc biệt, bọn họ lại dùng song mã để lao đến, chẳng lẽ đây lại là kỵ binh Quân Hán ở Quan Lũng?
Lý Điền thật không ngờ tới, đây không phải là kỵ binh Quân Hán ở Quan Lũng mà là trọng giáp bộ binh dũng mãnh nhất của Quân Hán, bọn họ cách thành trì chừng ba trăm bước thì dừng ngựa.
Ba trăm bước là tầm bắn của máy bắn đá loại nặng, nhưng Quân Hán biết, thành trì xung quanh Diệp thành không rộng, nên không thể trang bị máy bắn đá loại nặng ở đầu thành, chỉ có máy bắn đã hạng nhẹ, tầm bắn cũng chỉ được khoảng 150 bước, không thể công kích quân đội đứng cách xa đó 300 bước.
Đương nhiên, phong nỏ có thể bắn được xa hơn chừng 300 bước, thậm chí các loại thiết nỏ của phong nỏ hung mạnh còn có thể bắt thấu trọng giáp của bộ binh, nó chính là khắc tinh của trọng giáp tinh binh, chỉ có điều số lượng loại nỏ này của quân Tào là không nhiều lắm, chỉ rơi vào khoảng một ngàn, lại còn đặt toàn bộ ở Hợp Phì, nên cũng coi như là giúp quân Hán tránh khỏi 1 kiếp nạn.
Tiếp đó còn có loại sàng nỏ, có thể bắn ra đại tiễn dài chừng ba thước, khả năng sát thương tầm 250 bước, lực bắn cũng mạnh, có thể bắn thấu được khôi giáp của trọng binh, ở đầu thành Diệp huyện có bố trí khoảng 150 bộ sàng nỏ như vậy, tuy nhiên chúng không phải dùng để đối phó với bộ binh trọng giáp, mà là đối phó với Tổ xa và máy bắn đá của quân Hán.
Trọng giáp bộ binh của quân Hán đã trải qua mấy lần cải tiến, không chỉ là khải giáp trở nên mỏng và nhẹ hơn, mà nó lại còn kiên cố và chắc chắn hơn trước, hơn nữa Trảm Mã Đao trong tay cũng có khả năng biến hóa lớn.
Do công nghệ đúc tiến bộ, Trảm Mã Đao cũng được cải tạo vài lần, ngoại hình trông đã khá giống với Mạch đao của đời sau, toàn thân dài chừng hai trượng, lưỡi dài 6 thước, hình đáng bên ngoài giống Tam Tiêm Lưỡng Nhận Đao đao, có thể chém đươc bằng 2 mặt. Cũng có thể dùng để ám sát.
Khi trọng giáp bộ binh sử dụng Trảm Mã đao, cần phải dùng đến sức lực của phần eo, sau khi tiến vào chiến đấu, trọng giáp bộ binh sẽ huy động Trảm Mã đao khiến nó trở nên như một bức tường, đây là vũ khí sắc bén nhất để đối phó kỵ binh, nhưng không chỉ dùng để đối phó với kỵ binh, khả năng công phá thành của nó cũng rất lớn.
Trước mắt, toàn bộ quân đội trong thiên hạ cũng chỉ có quân Hán là được trang bị Trảm Mã Đao, tất nhiên là sẽ được dùng vào những lúc tình thế nguy cấp, là bí mật được năm trăm người thợ bảo hộ kỹ lưỡng.
Còn một phương diện khác cũng có liên quan chủ yếu đến quân Hán quật khởi ở phía nam, năm đó bọn họ không có kỵ binh, vì đối phó với Hổ Báo kỵ của Tào Tháo, cũng chỉ có thể sử dụng trọng giáp bộ binh, đương nhiên điều này cũng có liên quan đến sức mạnh quốc gia, ngoại trừ nước Hán và nước Ngụy, quân Giang Đông vốn không thể trang bị được những thứ này.
Hiện giờ quân Hán có khoảng sáu ngàn kỵ binh trọng giáp, do Lưu Hổ làm chủ tướng, phó tướng là Lôi Đồng. Lần này Lôi Đồng không xuất chinh Nam Dương, mà là dẫn một ngàn trọng giáp bộ binh đóng giữ Đồng quan, bảo vệ sự an toàn của Quan Trung.
Lưu Hổ vinh dự được quân Hán phong là đệ nhất đao, không phải do gã võ nghệ cao cường mà là gã thống nhất đội quân trọng giáp bộ binh có sức chiến đấu hùng mạnh nhất, sử dùng Trảm Mã đao một cách sắc bén nhất, gã và Văn Sính đã đánh cược, trong vòng một canh giờ sẽ đánh hạ Diệp huyện, lúc này trong lòng gã sớm đã nóng lòng muốn thử, chỉ chờ để có thể có cơ hội nổi danh lần này.
Lúc này, một tên binh lính chạy đến bên cạnh Lưu Hổ nói:
- Văn đô đốc xin hỏi tướng quân, chúng ta cần nghỉ ngơi bao lâu?
Lưu Hổ cười ngạo nghễ:
- Không cần nghỉ ngơi, đợi đến lúc binh lính chúng ta ăn mặc chỉnh tề, 15 phút sau có thể tiến công!
Binh lính chạy vội về bẩm báo, Lưu Hổ quay đầu lại lớn tiếng quát to:
- Tất cả binh sĩ xuống ngựa, chuẩn bị tác chiến!
Mặc dù trọng giáp bộ binh không hề sợ sự đả kích của Tiễn Thỉ và cây lăn, nhưng bọn họ cũng có nhược điểm, mà nhược điểm lớn nhất chính là cồng kềnh, hành động bất tiện nên tất nhiên là không thể nhanh chóng mang vác thang mà chạy được, cho nên dùng trọng giáp bộ binh công thành, còn cần có quân đội khác bên ngoài yểm trợ trong lúc họ công thành.
Bộ binh trọng giáp còn đang thay trang phục, nhưng chủ tướng quân Hán Văn Sính lại phát ra lệnh tiến công.
- Uỳnh, uỳnh, uỳnh!
Quân Hán đang gõ những tiếng trống rộn vang, tiếng trống long trời lở đất, 10 ngàn quân Hán bắt đầu phát động tiến công Diệp huyện, binh lính che tấm chắn lên cao, giơ lên hàng trăm chiếc thanh cao công thành vọt tới thành trì.
Sắc mặt của Lý Điển trở nên tái nhợt, không ngờ quân Hán không cần nghỉ ngơi mà đã bắt đầu tấn công thành, giờ gã cũng đã hiểu ý đồ của quân Hán, quân Hán muốn lợi dụng khỏang thời gian khi mà viện quân chưa tới Diệp huyện để tiến đánh, hơn nữa còn chọn công thành vào ban đêm.
Cho dù Lý Điển lo lắng rằng khả năng chiến đấu trong đêm của quân đội là không đủ, nhưng lúc này gã đầu còn thời gian để mà suy xét, gã la lớn:
- Máy bắn đá chuẩn bị.
Chương 957: Diệp Thành thất thủ.
Trong tiếng trống tấn công ầm ầm, mười lăm ngàn quân Hán chia làm ba phương trận, bộ binh trọng giáp xếp ở hàng cuối cùng, cùng nhau tiến về phía Diệp Thành. Người dày đặc, nhìn từ xa, quân Hán san sát đen ngòm dưới ánh trăng giống như một đàn kiến, bao trùm toàn bộ phía ngoài Diệp Thành.
- Xông lên!
Trong tiếng trống, Văn Sính giơ cao thanh đao lên hét.
- Quét sạch quân Tào, chinh chiến thiên hạ, xông lên!
…
Trong tiếng hò hét vang lên như tiếng sấm của binh lính mười lăm ngàn quân Hán tiến lên Diệp Thành như dời non lấp biển, lúc này tất cả vũ khí công thành mà quân Hán sử dụng đều là chế tác ngay tại chỗ.
Đầu tiên là bè tấn công thành, dùng để vượt qua sông đào bảo vệ thành. Đoạn sông này không rộng, chỉ có ba trượng, quân Hán liền lấy mười cây đại thụ buộc lại, những cây đại thụ này đều là cây dương được chặt trong rừng gần đấy, vừa thẳng vừa dài, cây nào cây nấy bốn năm trượng. Giữ lại chạc cây, sau khi buộc chặt lại, buộc thêm một lớp da trâu đã làm chín, liền trở thành bè.
Loại bè này không chỉ có thể khiến quân Hán vượt qua sông đào bảo vệ thành, đồng thời cũng có thể dùng để để làm thành thang lên thành. Bên trên có các cành cây đặt ngang vừa với bước chân, vô cùng có lợi cho bộ binh tấn công thành.
Mười mấy tên lính đỡ một chiếc bè đi nhanh, nó đồng thời cũng có thể chống đỡ sự tấn công của máy bắn đá và cung tiễn của quân Tào.
Trong tiếng trống trận, mười lăm ngàn quân Hán đã rục rịch, đao thuẫn quân, trường mâu quân, cung nỏ quân cùng với bộ binh trọng giáp trùng trùng điệp điệp hợp thành một làn sóng đen đồ sộ, kéo về phía thành.
Trên đầu thành, quân Tào đã chuẩn bị đầy đủ, hai mười chiếc xe ném đá loại nhẹ được kéo ra hai hàng, loại này chỉ bắn cao tám thước, gậy ném dài hai trượng tư, xa nhất cũng chỉ ném xa một trăm tám mươi bước.
Đặc điểm lớn nhất của nó là rất nhỏ, thích hợp với tường thành không rộng của Diệp Thành, chỉ cần hai mươi người là có thể vận hành máy.
Bốn mươi cái máy bắn đá, một nửa dùng để phóng tảng đá lớn, một nửa dùng để phòng dầu hỏa bình gốm. Từng chiếc túi da đựng bình gốm mỏng chứa mười cân dầu hỏa, loại bình gốm bụng tròn này đã trải qua vô số cuộc khảo nghiệm, thay thế loại thùng gỗ dầu hỏa trước kia, trở thành vật tư quân sự cần thiết của quân Tào và quân Hán.
Quân Hán tiến công càng ngày càng gần, đã tiến vào ba trăm bước. Nếu như máy bắn đã loại nặng trăm người kéo là có thể bắn rồi, nhưng máy bắn đã của Diệp thành còn hơi nhỏ, tầm bắn chỉ có một trăm năm mươi đến một trăm tám mươi bước, Nha tướng quân phụ trách chỉ huy máy bắn đã hét:
- Chuẩn bị bắn!
Các binh sĩ vận hành máy bắn đá hồi hộp đến nỗi hai tay phát run lên bần bật, bất an chờ đợi lệnh phóng ra.
Nhưng chủ tướng Lý Điển lúc này đã bình tĩnh trở lại, gã chú ý nhìn chăm chú vào quân Hán tiến công như thủy triều, đang tiến dần vào thành trì. Gã phát hiện không có máy bắn đá và xe tổ, thậm chí không có thang mây loại lớn, khiến gã thoáng yên tâm. Lúc này một tên lính hô to:
- Tướng quân, quân địch đã tới hai trăm năm mươi bước!
Lý Điển gật gật đầu, lớn tiếng hét:
- Nỏ sàng bắn!
Nỏ sàng quân Tào chợt bắn ra, mỗi nỏ hai mũi tên, một trăm tên sắt dài ba tấc bắn về phía quân Hán. Quân tiên phong của quân Hán người ngã ngựa đổ, mười mấy tên lính bị bắn ngã.
Xạ kích mãnh liệt nhằm ngăn Nha tướng chỉ huy máy bắn đá, nhưng cờ đỏ trong tay y thủy chung vẫn nhất quyết không buông xuống. Cờ đỏ không buông xuống, bốn mươi tên chỉ huy thủ của quân Tào liền không dám hạ lệnh bắn.
Một trăm tám mươi bước, quân Hán cuối cùng đã đi vào tầm bắn, cờ đỏ trong tay Nha Tướng cuối cùng cũng hạ xuống.
- Bắn!
Bốn mươi tên chỉ huy quân Tào gần như đồng thời hô to.
Máy bắn đã đã hoạt động, bốn mươi chiếc gậy ném dài đã bật ra, khiến hai mươi tảng đá lớn và hai mươi bình gốm đựng dầu hỏa ném về phía quân Hán. Tảng đá xé gió rít mạnh, quay cuồng trên không trung, nhanh chóng xuất hiện trên đỉnh đầu quân Hán. Binh lính quân Hán hô to, trốn về hai bên, cho dù tảng đá chỉ nặng hai ba mươi cân, nhưng vẫn vô cùng uy lực.
Oành…
Một âm thanh vang lên, tảng đá nện xuống đất, bụi tung mù mịt, vài binh lính quân Hán trốn không kịp, bị nện vỡ óc, chết thảm tại chỗ.
Còn bình gốm đựng dầu thì vỡ vụn, dầu hỏa tạt ra tung tóe, bay ra ngoài ba trượng, quân Hán cũng biết lợi hại, lần lượt dùng đất vùi lấp dầu hỏa.
Lúc này một khối đá ba mươi cân đập trúng vào bè trên đỉnh đầu binh lính. Một tiếng “uỵch” vang lên, tiếp đó là âm thanh vỡ vụn, dây lưng trên bè bị đập gãy, mấy chục cây rơi xuống, mười mấy Hán binh ẩn dưới bè lảo đảo chạy, có người bị thân cây đập vào bị thương, quỳ rạp trên mặt đất rên lên khổ sở.
Đợt thứ hai máy bắn đá lại tiếp tục, lúc này quân Hán đã vào trong trăm bước, quân Tào phát hiện ra dầu hỏa không có tác dụng, liền đổi toàn bộ thành những tảng đá lớn. Bốn mươi khối đá lớn quay cuồng trên không trung, gào thét đập tới, trăm chiếc nỏ sang tiễn lớn lớn cũng phóng tới.
Binh lính quân Hán hô to trốn tránh, nhưng vẫn có không ít binh lính bị nện trúng, trong lúc nhất thời máu văng tung tóe, tấm chắn bị phá nát.
Cho dù máy bắn đá và nỏ sàng rất có uy lực, nhưng dù sao số lượng cũng quá ít, căn bản không thể sát thương, mười ngàn binh lính quân Hán đã xông đến chân thành, quân Tào trên thành bắn tên loạn lên, mũi tên như mưa đá nặng hạt, che phủ cả một bầu trời.
Binh lính quân Hán nâng lá chắn đón đỡ, không ngừng có người chết thảm trên mặt đất, trong mưa mũi tên, mấy ngàn binh lính quân Hán đem bốn bè dài đặt trên sông đào bảo vệ, tạo thành hai mươi mấy cây cầu tạm, từng chiếc bè trong chớp mắt lại biến đổi thành thang công thành cao ngất, từng chiếc đặt lên đầu thành.
Từng đám binh lính quân Hán dũng mãnh xông lên thang, bắt đầu leo lên phía trước. Mưa tên của quân Tào bắn đến, lại thêm những tảng đá nện xuống, từng đám binh lính quân Hán kêu lên thảm thiết, ngã từ trên thang ngã xuống. Người bị đá nện, người bị tiễn bắn trúng, tử thi dưới thành chồng chất như núi, ngay sau đó đám binh lính quân Hán lại điên cuồng bám lên cầu thang, liều lĩnh xông lên phía trước.
Lúc này, Lưu Hổ đã sốt ruột đỏ cả mắt đến trước mặt Văn Sính, lớn tiếng hô lớn:
- Đô đốc muốn chúng ta là vật bài trí sao?
Văn Sính áy náy nói:
- Ta chỉ muốn thủ thực hư quân thực, phía dưới còn có binh giáp bộ tấn công thành.
Ông ra lệnh:
- Binh công thành lui xuống, dùng cung tiễn áp chế đầu thành!
Mệnh lệnh truyền ra, binh lính quân Hán lui ra như thủy triều, sáu ngàn binh lính chuyển thành nỏ thủ, hướng đến đầu thành mà bắn, ngăn chặn quân Tào.
Lúc này, trong quân Hán vang lên tiếng nổ lớn, trời đất rung chuyển, năm nghìn binh lính trọng giáp bộ binh ra trận, bọn họ xếp thành năm hàng, người nào người nấy khôi ngô cao lớn, trong tay cầm trảm mã đao sắc bén, đi về phía thành trì. Bọn họ nện bước thong thả, nhưng mỗi bước đi đều khiến người ta kinh hồn lạc vía, giống như sự xuất hiện của bọn họ không thể cản nổi.
- Một trăm bước… năm mươi bước.
Mũi tên của quân Tào gào rít bắn đến, bắn lên đầu trọng giáp bộ quân, lần lượt gãy cong rơi xuống đất. Quân Tào trên thành xuất hiện hành động kỳ lạ, không ngờ đội quân này không sợ tiễn thỉ, làm bọn họ kinh hồn táng đảm. Lý Điển cũng hoang mang, quân Hán không ngờ lại phái ra Trọng giáp bộ binh.
Hơn mười chiếc thang khổng lồ đáp lên tường thành, móc vào lỗ châu mai, trọng giáp bộ binh bắt đầu trèo lên tường, quân Tào ở đầu thành lúc này mới phản ứng lại, lăn cây đá lớn nện xuống như mưa.
Một gã bộ binh trọng giáp quân Hán bổ đôi một khúc gỗ, lại bị tảng đá nặng đè lên trọng giáp, cho dù không chí mạng, nhưng lực lớn đập vào vẫn khiến y quay cuồng. Trảm mã đao giơ lên, quanh quẩn trên không trung giống như hoa băng đang bay lượn.
Quân Hán bị nện ngã dù sao cũng ít, bộ binh trọng giáp xếp hàng xông lên càng nhiều hơn, đỡ những khúc cây tảng đá lăn xuống, từng bước tiến công.
Lý Điển đã mồ hôi đầm đìa, gã dốc sức nghĩ cách, dùng tên bắn, dùng đá đập, dùng hỏa thiêu, những biện pháp gã có thể nghĩ ra đều đã áp dụng hết rồi, nhưng quân Hán trước mặt tất cả đều không làm nên chuyện gì. Sắc mặt gã trắng bệch, dường như trong khoảnh khắc nhìn thấy thành bị thất thủ.
Không! Nhất định có cách. Ánh mắt của gã bỗng nhiên nhìn vào cái thang, thân thang còn thô hơn cả đùi, được bao bằng da trâu chín.
Sau khi ngây người một lúc lâu, gã xông lên như điên, giơ bình gốm đựng dầu liều mạng đập vào thang. Đây có lẽ là cơ hội duy nhất của bọn họ rồi, binh lính của quân Tào mới như sực tỉnh, đồng loạt xông lên, đem những chiếc bình gốm đựng dầu hỏa dội xuống.
Lửa bắt đầu hừng hực thiêu đốt, mấy trăm quân Hán trên thang bị lửa nuốt hết, kêu thảm nhảy xuống, mắt thấy dường như trọng giáp bộ binh đã sắp chìm trong đám lửa.
Ở nơi này đang trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, trên không trung vang lên tiếng rống to như tiếng sét, một bóng đen khổng lồ như cuồng phong cuốn tới, Lưu Hổ vượt qua đám lửa hừng hực xông lên.
Trảm mã đao của y vung lên, lập tức máu ngập tràn. Ba gã quân Tào bị chặt thành sáu đoạn, trảm mã đao của y tung bay, chỉ trong nửa khắc hơn nửa binh lính quân Tào bị chém ngã xuống mặt đất.
Lý Điển đã tức đến đỏ mắt, gã quát to lên một tiếng, vung thiết thương xông lên, hợp lại cùng Lưu Hổ. Nhưng bộ binh trọng giáp được sự ủng hộ của chủ tướng, bọn họ không sợ lửa lớn, xông lên đầu thành. Càng ngày càng nhiều bộ binh trọng giáp xông lên, bắt đầu xếp thành hàng, kịch liệt chiến đấu với quân Tào, khiến cho binh sĩ quân Tào lần lượt bại lui.
Lý Điển và Lưu Hổ đại chiến hơn hai mươi hiệp, gã thấy quân Hán đã chiếm lĩnh đầu thành, biết đại thế đã mất, liền không có lòng dạ nào mà chiến đấu nữa, gã nhân lúc sơ hở, xoay người muốn chạy trốn, lại phát hiện ra xung quanh gã đã bị hơn trăm trọng giáp bộ binh bao vây.
Lưu Hổ cười to:
- Ngươi cho dù có giết ta, cũng đừng mơ có thể chạy đi!
Lý Điển hét lớn một tiếng, xoay người đánh về phía Lưu Hổ, không ngờ một chiếc lưới lớn nhào đến, kéo Lý Điển lại. Lý Điển liều mình giãy dụa, nhưng mấy chục Trảm mã đao sáng như tuyết đã chĩa thẳng trước ngực và cổ họng y. Lưu Hổ lạnh lùng nói:
- Ta kính trọng ngươi là một nam tử, mới không muốn giết ngươi, ngươi đừng tự rước lấy nhục.
Lý Điển thở dài một tiếng, đau khổ nhắm đôi mắt lại, lúc này Lưu Hổ ngửa mặt lên trời hét lớn một tiếng:
- Các huynh đệ, theo ta vào thành!
Y vung Trảm mã đao, dẫn mấy ngàn trọng giáp bộ binh vọt vào trong huyện thành, vị trí chiến lược này của quân Tào cuối cùng cũng rơi vào tay giặc. Lưu Hổ đồng thời cũng thắng cược, y không cần đến một canh giờ cũng đánh bại được Diệp thành.
Chương 958: Sứ giả Hung Nô đến.
Tháng 9 ở Trường An cũng giống như tháng ba vậy, là mùa mà khiến lòng người phải say mê, cuối thu khí trời mát mẻ, lương thực đang vào độ thu hoạch, tâm trạng của mọi người cũng vì thế mà vui theo, chiến tranh cũng đã dần dần xa, nên chuyện buôn bán cũng dần phát triển, Trường An một lần nữa lại xuất hiện cảnh tượng thịnh vượng thời Hán Đế.
Đầu tiên là số dân đã tăng lên nhanh chóng, thiên hạ các nơi người người chuyển đến đây không ngừng, trong một năm có khoảng 8 ngàn gia đình giàu có chuyển đến Trường An, nếu tính trung bình cứ một hộ khoảng 20 người, thì sơ sơ cũng có mười sau mười bảy vạn nhân khẩu gia tăng, còn có cả người nhà của các quan viên và các tướng rời đến đây nữa.
Chỉ trong một năm ngắn ngủi, dân số Trường An đã tăng mạnh từ 100 ngàn người lên đến ba trăm, mang đến không ít vấn đề về trị an, nhưng điều này cũng thúc đẩy sự phát triển của thành Trường An.
Trên thực tế, nếu tính cả những người thợ thủ công đến đây tìm việc hay những thương gia đến làm ăn buôn bán, cùng với cả quân đội đóng ở đây, thì nhân khẩu thực tế của Trường An đã tăng lên chừng 400 ngàn rồi.
Toàn bộ trong thành khắp nơi đang xây dựng các tòa nhà và cửa hàng, khiến thành Trường An biến thành một công trường có khí thế lớn.
Vào buổi trưa, một đám sứ thần Hung Nô chậm rãi đi vòa thành Trường An, đội ngũ khoảng trăm người, còn mang theo hơn một trăm con lạc đà, trên lưng lạc đà chở đầy vật phẩm quý báu, những vật phẩm này đều là lông da thượng hạng và dược liệu, cũng không thể thiếu được bạch kim và bảo thạch do Âm Sơn sản xuất ra, đây là lễ vật do Thiền Vu Đạt Man dâng lên cho Hán Vương Lưu Cảnh.
Đặc sứ của Đạt Man có tên là Hô Lan Thi Trục Lưu Đóa, là Cốc Lễ vương của Hung Nô, có địa vị cao trong quân Hung Nô, Thi Trục Lưu Đóa từng sống ở Thái Nguyên vài năm, có thể nói được khá nhiều tiếng Hán, cũng vì vậy nên mới có cái tên Lưu Đạc, cũng là một cái tên dịch sang tiếng Hung Nô, mọi người bình thường điều gọi y là Lưu Đóa đại vương.
Lưu Đóa tuổi chừng hơn 40, bộ dạng trông có vẻ già, tóc hoa râm, trên mặt có nhiều nếp nhăn, thoạt nhìn có khi còn nghĩ là đã hơn 60, đây là lần thứ 2 Lưu Đóa đến Trường An, mấy tháng trước, y cũng nhận được sự ủy thác của Thiền Vu Đạt Man đến Hán quốc đàm phán, về việc chuộc lại một số binh lính, phụ nữ và trẻ em Hung Nô đã bị bắt giữ.
Hán quốc cũng đồng ý yêu cầu của bọn họ, ra giá 50 con dê chuộc 1 người, cái giá này nằm trong phạm vi chịu đựng của quân Hung Nô, Lưu Đóa đáp ứng điều đó, tuy nhiên hai bên đều phải tự động bẩm báo cho chủ công, Lưu Đóa quay trở về thảo nguyên, còn Bình Chương đài nhanh chóng đưa tin đến Hợp Phì.
Lần này Lưu Đóa đến, chính là muốn đạt được hiệp định cuối cùng, còn cần hiệp thương một số vấn đề, người Hung Nô rất quan tâm đến chuyện những tộc nhân đã bị bắt giữ làm nô lệ kia, có thể nói bọn họ rất mong mỏi cứu được những binh lính Hung nô bị bắt đó về, còn về phần phụ nữ và trẻ em chỉ là một hình thức bịt mắt mà thôi.
Vào hai tháng trước, bọn họ và người Tiên Ti ở Mạc Bắc đã nảy ra một trận chiến kịch liệt vì tranh cướp một vùng đất, trước đó phần lớn là do bọn họ đi khiêu khích người Tiên Ti, còn lần này thì ngược lại, lại do người Tiên Ti khơi mào trước, tuy rằng lần này bọn họ đã đánh bại người Tiên Ti, song chính bọn họ cũng bị thương thê thảm và nghiêm trọng.
Quan trọng hơn là, đây chính là một hồi chuông cảnh báo, mà các dân tộc du mục thì lại rất mẫn cảm đối với chuyện này, người Hung Nô đã cảm nhận được người Tiên Ti muốn uy hiếp bọn họ, cho nên việc đi chuộc lại những binh lính Hung Nô đã bị bắt đã trở nên rất chi là cấp bách
Trên phố trong thành Trường An người đi người lại tấp nập, nhìn ai ai quần áo xiêm y đều rất chỉnh tề, hai bên đường ầm lên tiếng hò tiếng hét của những quán hàng lớn nhỏ, có nơi thì nhìn thấy người Tây Vực, nơi thì nhìn thấy người Hồ, còn có cả người Khương với trang phục truyền thống là áo đuôi ngắn và đi giày bó nữa; có nơi còn nhìn thấy cả người Ô Tôn với trang phục áo bào trắng và ống tay nhỏ hẹp; còn có cả những người có mũi cao mắt sâu chính là người Sương, hay như là đầu tóc cắt ngắn trên trán lại đeo băng đầu và trên đầu đội một chiếc mũ nhọn như người Túc Đặc.
Những người Tây Vực hay người Hồ đó phần lớn đều là thương nhân, dắt theo một đoàn lạc đà lớn, ánh mắt tràn đầy hy vọng phát tài, xem ra cũng không khác gì nhiều với sứ thần Hung Nô, vậy nên những người trong Trường An này cũng coi đám sứ thần Hung Nô kia giống như đám người Hồ đến đây buôn bán vậy, nên vẫn cúi đầu chào họ, như một kiểu hành lễ lịch sự.
Lưu Đóa thở dài một hơi, nói với tên phó sứ A Lợi rằng:
- Hai mươi năm trước ta đến Trường An, không nhầm khi đó là 2 năm sau khi kết thúc cuộc loạn của Lý Thôi, cũng chính là ở chỗ này, ta đã nhìn thấy những tấm tường đổ nát, ổ chuột ổ gà khắp nơi, toàn thành đều là những tên ăn mày, đàn bà phụ nữ thì áo không đủ mặc để che thân, đâu đâu cũng thấy người ta mang con đi bán, tình cảnh vô cùng thê lương, nhưng hôm nay lại được đến đây, trong lòng lại cảm thấy vô cùng khâm phục đế quốc Đại Hán, giờ mới hiểu vì sao Thiên Vu lại thuần phục Hán quốc như vậy, Lưu Cảnh quả thực là môt vị vua anh minh kiệt xuất.
A Lợi cũng gật gật đầu:
- Đại vương nói không sai, chỉ cần so với cách đây 2 tháng thôi mà cảm giác đã khác xa nhau rồi, mọi việc thật sự là biến đổi nhanh quá.
Hai người đang nói chuyện, bỗng hơn mười viên quan cưỡi ngựa đi đến, họ chừng ba mấy tuổi, đáng người thuộc hạng trung, trong đôi mắt họ nhận ra được sự tinh nhanh khôn khéo, Lưu Đóa chỉ cần liếc mắt ra là nhận được ra người này, đây chính là Hồng Lư Khanh Lưu Mẫn, người mà lần trước đã tiếp đón họ, Lưu Đóa mừng rỡ, phất tay hô to:
- Lưu sứ quân!
Lưu Mẫn cũng nhìn thấy y, giục ngựa tiến lên thi lễ cười nói:
- Ta đang muốn ra khỏi thành đi đón các ngài, không ngờ mọi người đã vào thành rồi.
Lưu Đóa cười ha hả:
- Người Hung Nô làm việc luôn nhanh gọn, dứt khoát và quyết đoán, nên chúng tôi không có ở bên ngoài thành nghỉ ngơi, mà đi thẳng vào trong luôn.
Lưu Mẫn quan sát bọn họ một chút, cười nói:
- Sao vương gia lại mang theo nhiều đồ vậy?
Lưu Đóa chỉ vào đoàn lạc đà hơn 1000 con phía sau nói:
- Tôi dẫn theo rất nhiều đặc sản thảo nguyên, đây đều là lễ vật mà Thiền Vu muốn mang đến cung tặng điện hạ.
Lưu Mẫn vui vẻ cười nói:
- Vương gia quả là vất vả rồi, mời theo tôi đi đến dịch quán để nghỉ tạm đã.
Trong lòng Lưu Đóa đang sốt ruột, vội vàng kéo Lưu Mẫn thấp giọng nói:
- Hiện còn sớm, đám thủ hạ kia có thể về dịch quán nghỉ ngơi, nhưng tôi muốn đến gặp các vị Thượng thư trước, không biết là có được hay không?
- Vương gia sao phải gấp vậy.
Lưu Mẫn nhìn sắc trời một chút, đúng là còn sớm, liền cười nói:
- Được rồi! Tôi sẽ dẫn Vương gia đi gặp Tư Mã thượng thư, hiện giờ đang là giờ ông ta chấp bút chính sự.
Lưu Đóa mừng rỡ: -
- Vậy làm phiền sứ quân rồi.
Cho dù Hán vương Lưu Cảnh không có ở Trường An, nhưng hắn đã xây dựng lên được một chế độ hết sức cân bằng, khiến cho dù không có hắn ở đây nhưng mọi việc vẫn có thể tiến hành suôn sẻ, chỉ có những việc trọng đại của đất nước mới cần đến sự ra mặt và quyết sách của Lưu Cảnh.
Mà chuyện có được coi là trọng đại hay không, thì còn phụ thuộc vào sự quyết định Thị Trung Doãn Mặc, Thị Trung chính là chức vụ giám sát Thượng thư, để tránh cho việc Thượng Thư tự ý khuyếch đại quyền lực của họ.
Trong Bình Chương đài, nhóm Thượng Thư đang tập trung trong phòng của Tư Mã Ý để thảo luận việc xuất binh đi Tịnh Châu, hôm nay là ngày thứ 5 Tư Mã Ý đảm nhận việc này. Cái gọi là chấp chính sự bút ương đương với chủ Tướng Quốc, ngoài những việc trọng đại cần hiệp thương ra, thì những việc nhỏ nhặt hơn sẽ do chủ Tướng Quốc lo liệu.
Chấp Chính sự bút vốn là chức vụ mà mười ngày sẽ đổi một lần, nhưng từ đầu năm ngoái, Lưu Cảnh đã nghĩ đến việc thay bằng cứ 10 ngày thay đổi 1 lần thì có vẻ sẽ bất tiện, cho nên đổi từ 10 ngày đổi 1 lần thành 1 tháng đổi 1 lần, như vậy mới có thể nhìn ra được ưu nhược điểm, điều này cũng tạo áp lực cho những ai đảm nhận chức vụ đó.
Tư Mã Ý đảm nhận Binh Bộ Thượng Thư, quản lý việc của binh bộ thường ngày, đây cũng là cải cách mới đầu năm nay, thành lập nên Ngũ bộ Cửu khanh, thiết lập 5 bộ Lại, Hộ, Binh, Hình, Công. Phân bố lại Từ Thứ đảm nhiệm chức Lại Bộ thượng thư, Tưởng Uyển đảm nhiệm Hộ Bộ thượng thư, Tư Mã Ý đảm nhiệm Binh Bộ thượng thư, Đổng Hòa đảm nhiệm Hình Bộ thượng thư, Phí Quan đảm nhiệm Công Bộ thượng thư, bên dưới họ đều lập ra hai Thị lang làm trợ thủ, khi nào đến lượt chấp chính, thì người đó sẽ quản lý mọi việc, cuối cùng là mọi việc sẽ nằm dưới sự giám sát của Thị Trung.
Tháng này đến lượt Tư Mã Ý quản lý toàn cục, Tư Mã Ý đưa bức thư mà Lưu Cảnh đã sai người đưa đến cho mọi người xem, cười nói:
- Đây là thư do Điện hạ tự tay viết, tất cả mọi người hãy nhìn một lượt đi! Giờ Điện Hạ đang muốn mở rộng chiến cuộc, không chỉ có muốn đánh Hợp Phì, mà còn muốn đánh Diệp huyện, tiến sát Hứa Xương, hiện giờ đang chuẩn bị xuất binh từ Lạc Dương vào Tịnh Châu, quả là rất náo nhiệt!
Mọi người đều nhận lấy thư và đọc một lần, Từ Thứ cười nói:
- Những việc này đều là vì Điện Hạ muốn phô trương thanh thế, tạo áp lực lên cho Tào Tháo, để suy yếu lực lượng của ông ta ở Trường An, nghe nói năm nay sản lượng lương thực của Tịnh Châu giảm, áp lực lên Tào Tháo sẽ càng lớn, e rằng ông ta sẽ sớm không chịu được.
Đổng Hòa vẫn chưa hiểu lắm hỏi:
- Quan Trung còn chưa vào mùa thu hoạch, sao lương thực của Tịnh Châu lại có thể giảm được?
Từ Thứ chỉ ra Tưởng Uyển cười nói:
- Ngài đi hỏi thần tài của ngài đi! Ông ấy biết rõ hơn chúng tôi đấy!
Tưởng Uyển chủ quản Bộ hộ, nắm trong tay tài chính, thuế vụ và dân số của Hán quốc, bởi vậy ai nấy đều gọi y là Tưởng thần tài. Tưởng Uyển thấy Từ Thứ gọi mình là thần tài, cười khổ nói:
- Lương thực của Tịnh Châu giảm là vì rất nhiều tá điền ở Hà Đông đều rời đến Quan Trung, khiến gần 70% ruộng ở đây không ai trồng cấy, tôi tính sơ sơ, năm nay sản lượng lương thực ở Hà Đông phải giảm đến 60%, quận Thượng Đảng giảm bớt 30%, quận Thái Nguyên cũng phải tầm đó, cho dù là Tào Tháo hạ lệnh bổ sung số lưu dân vào, cũng không bù lại được, mà cũng không kịp nữa, sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến sản lượng thu hoạch lương thực vụ thu sang năm.
Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, ai nấy mặt đều biết sắc, bởi từ trước đến giờ phía nam Tịnh Châu chính là kho lúa của Tào Tháo, nhất là quận Hà Đông, gần một nửa lượng thực của quân Tào là đến từ đây, nếu sản lượng thực sự giảm đi 70%, thì việc này đương nhiên sẽ tạo cho Ngụy quốc một áp lực vô cùng lớn.
Tưởng Uyển lại nói tiếp:
- Kỳ thật trải qua nhiều năm chiến tranh, các nơi nhân khẩu đều giảm mạnh, chúng ta đã phải dùng cách để thu hút nhiều nông dân hơn đến Quan Trung, nông dân ở Tịnh Châu đương nhiên là sẽ vì vậy mà thiếu, trừ phi Tào Tháo có thể thực thi việc “phân ruộng giảm phú”, nếu không thì nông dân ở đó sớm muộn rồi sẽ dời đi hết.
Tư Mã Ý gật gật đầu:
- Ta nghe nói Tào Phi đã phái người đi Tịnh Châu và Hà Bắc đo đạc thổ địa, đoán chừng là đang muốn học phần ruộng của chúng ta, chỉ có điều nước xa khó cứu được lửa gần, đại chiến Hợp Phì lấy đâu ra lượng thực? Điện hạ lại đang muốn khởi chiến ở Trung Nguyên và Tịnh Châu, Ngụy quốc lấy đâu ra lương thực mà chuẩn bị chiến tranh? Điện hạ lần này ra quyết định chiến với họ thật là một cao kiến!
Từ Thứ trầm tư một lát, lại hỏi Tưởng Uyển:
- Vậy tiền thuế lương thực chúng ta thu được liệu có đủ không?
Tưởng Uyển trầm ngâm một chút nói:
- Thật ra áp lực của chúng ta cũng rất lớn, lương thực ở kho Kinh Châu đã cạn, lương thực dự trữ ở Ích Châu cũng đã hết bảy phần, thậm chí chúng ta còn đã phản điều động điều lương thực tích trữ ở Kỳ Sơn, may mắn là không bị thiếu dê bò như năm ngoái, nên vẫn có thể chống cự, nói thẳng ra, cho dù là vụ mùa năm nay được thu xong, nhiều nhất cũng chỉ có thể duy trì nửa năm, hơn ai hết ta thực lòng rất hy vọng cuộc chiến ở Hợp Phì mau chấm dứt.
Vừa dứt lời, Tư Mã Ý liền ha hả cười nói:
- Tưởng thượng thư không cần phiền não, chúng tôi đã có 1 cuộc buôn bán lớn tới cửa rồi.
Chương 959.1: Chiến sự tuyến tây.
Lưu Đóa đi theo Lưu Mẫn đi vào Bình Chương đài, năm vị Thượng thư đang ở cửa chờ y đã lâu, mọi người cùng nhau chào, mọi người ai nấy đều rất vui vẻ và nồng nhiệt mời Lưu Đóa bước vào.
Mọi người khách chủ cùng nhau ngồi xuống, nhìn thấy sự hậu đãi của người Hán khiến trong lòng của Lưu Đóa cũng thấy cảm kích, nhưng y không quên phải giữ tỉnh táo, để tránh khỏi việc bị sự hậu đãi của đám Thượng thư này mê hoặc, quan trọng hơn là hiện giờ y đang rất sốt ruột, chỉ hy vọng có thể nhanh chóng đưa tù binh về lại thảo nguyên.
Tư Mã Ý cảm nhận được sự lo lắng của người này, khẽ cười nói:
- Ta xin thay mặt Hán Vương Điện hạ cảm ơn những lễ vật mà vương gia đã mang đến.
- Những lễ vật kia chỉ là chút lòng thành của cá nhân tôi, không đáng để nhắc đến, lần này tôi đến Trường An, là được sự ủy thác của Thiền Vu, hy vọng là có thể chuộc lại những tù binh, phụ nữ và trẻ em đã bị bắt.
Lần trước đi sứ Lưu Đóa còn che lấp không đề cập đến chuyện tù binh, chỉ nói phong thanh đến những thanh niên Hung Nô cường tráng, còn lần này thì y nói thẳng ra, mục đích lần này đến chính là vì những người đó.
Mấy vị Tướng quốc nhìn nhau, Tư Mã Ý cười nói:
- Chúng ta đã bẩm báo việc này với Hán vương, trên nguyên tắc thì ngài ấy đồng ý việc này, nhưng hy vọng là có thể tiến hành thương lượng ở một số vấn đề.
- Tôi chúng vậy, không biết là Hán Vương muốn biết rõ chi tiết nào?
Tư Mã Ý không chút hoang mang nói:
- Những điều Hán Vương cần bán gồm có, thứ nhất là trao đổi như thế nào, trao đổi một lần hay là luân phiên tiến hành? Điểm này rất cần phải làm rõ.
Lưu Đóa do dự một chút, bọn họ đến đây chủ yếu là muốn đem quân lính trở về, nhưng số năm triệu con dê đó bọn họ muốn trả dần trong vòng 2 năm, nhưng lần này dường như lại không được như vậy, y liền cẩn thận nói:
- Chúng tôi muốn chia việc nhận người Hung Nô về làm 2 đợt, số tù binh năm nay đưa về chúng tôi sẽ giao đổi bằng 2 triệu con dê, sang năm thì sẽ tiếp nhận thêm phụ nữ và trẻ em, số ba triệu con dê còn lại sẽ được trao trả cho quý quốc, không biết phương án này có được không?
Trong lòng mọi người đều thầm hiểu, chỉ sợ rằng sau khi người Hung Nô tiếp nhận tù binh về, hiệp định lần sau đó sẽ không thành, lúc này Từ thứ cười nói:
- Nếu phải luân phiên giao người, chúng tôi chỉ có thể giao trước cho bên các ngài phụ nữ và trẻ em, sang năm mới giao binh lính, nếu người Hung Nô không chịu đồng ý phương án này, thì có thể chọn cách trao đổi 1 lần, không biết Vương gia nguyện ý chọn phương án nào?
Trong lòng Lưu Đóa ngầm cười khổ, đây là tâm tư của Đạt Man, trước muốn dùng lễ vật hối lộ cho Lưu Cảnh, sau đó mới đưa ra phương án, nhưng xem ra phương án đó đã bị đối phương nhìn thấu dụng ý, nên không cách nào mắc mưu được, bất đắc dĩ, Lưu Đóa chỉ có cách gật đầu nói:
- Một khi đã như vậy, chúng tôi chọn cách trao đổi 1 lần! Hy vọng việc này có thể mau chóng hoàn thành.
Tư Mã Ý lại khẽ cười nói:
- Kỳ thật chủ công nhà ta còn đề xuất một phương án dự bị khác, đương nhiên nếu người Hung Nô không chịu, chúng tôi cũng không có ép.
- Mời Tư Mã Tướng quốc nói rõ, ta xin chăm chú lắng nghe.
- Trong tay chúng ta có tổng cộng 35 ngàn tù binh Hung Nô, chúng tôi có thể đưa trả các ngài tất cả số tù binh này, ngoài ra còn trao trả thêm 15 ngàn lão nhân Hung Nô, tổng cộng là 50 ngìn người, đổi lấy 5 triệu con đề, về phần 8 vạn phụ nữ và trẻ em, chúng tôi muốn giữ lại, không biết vương gia có thể tiếp nhận phương án này?
Đây là ý của Lưu Cảnh, hắn không muốn trả cho người Hung Nô tám vạn phụ nữ và trẻ em kia, giữ lại để làm lực lượng sinh sản, nếu trên thực tế Đạt Man chỉ muốn đón tù binh Hung Nô về, thì việc trả lại cho đối phương tất cả số tù binh là hợp lý, còn về phần 15 ngàn lão nhân Hung Nô thì đúng là một gánh nặng, Lưu Cảnh nghĩ là sẽ khó mà giữ được, nên nhất quyết trả cho họ.
Lưu Đóa trầm tư một lúc sau nói:
- Tôi có thể đồng ý phương án này, tuy nhiên số tù binh kia e rằng sẽ nhớ nhung gia quyến, mong các ngài có thể trả lại tất cả bọn họ cho chúng tô.
Tư Mã Ý mỉn cười:
- 35 ngàn tù binh, ít nhất có hai vạn người là có 20 ngàn người có gia quyến, vậy ít nhất là 45 vạn phụ nữ và trẻ em rồi, nếu Hung Nô muốn, chúng tôi đương nhiên có thể hoàn trả, chỉ có điều…
Tư Mã Ý không nói tiếp, gã ngụ ý rằng số gia quyến là phụ nữ và trẻ em kia phải tính giá khác, Lưu Đóa hiểu được ý đó, đây đúng là cách làm khó người khác của đối phương, lúc trước đã nói là 2 vạn tù binh, theo lý mà nói nên bao gồm người nhà của họ, đâu có chuyện đàn ông thì mang đi còn vợ và con họ thì để lại được, nhưng lúc ấy không có nói quá chi tiết, cho nên đã không nhắc đến chi tiết này, lúc này mới bàn thảo kỹ, mới lộ ra vấn đề này.
Tuy nhiên Lưu Cảnh đồng ý trả 35 ngàn tù binh cho y, cũng đồng nghĩa là trên thảo nguyên sẽ có thêm hơn 10 ngàn người, cũng coi như là mất tiền thêm cho số 15 ngàn người kia, nghĩ vậy, Lưu Đóa chậm rãi nói:
- Nếu dựa vào con số 40 ngàn, một người là 50 con dê, chúng tôi trả thêm 2 triệu con dê được chứ?
Tư Mã Ý thản nhiên cười:
- Ý của chủ công nhà ta không phải là cần 2 triệu con dê kia mà cần thêm 1 triệu con trâu kìa.
Lưu Đóa giật mình, y không ngờ Lưu Cảnh lại tham lam như vậy, lại còn muốn 1 triệu con trâu, thật sự thì không phải bãi cỏ nào cũng có thể nuôi được trâu, ở Hung Nô 1 con trâu tương đương với 10 con dê, ngay cả bọn họ mới có 2 triệu con trâu, cái giá này quả là cắt cổ.
Nhưng Lưu Đóa cũng biết là không thể thẳng thừng từ chối, y chậm rãi nói:
- Vậy có thể thỏa hiệp một chút được không, chúng tôi sẽ trả thêm 200 con dê, bên cạnh đó là 200 ngàn con trâu.
Tư Mã Ý đương nhiên biết là con số 1 triệu con trâu kia là không thực tế, chì có điều gã vẫn muốn đưa ra cái giá trên trời để đối phương tiện trả giá, Tư Mã Ý mỉm cười nói:
- Nếu người Hung Nô có thành ý, bên ta sẽ nhường một bước, hai triệu con dê thêm 500 ngàn con trâu, chúng ta sẽ tặng thêm cho người Hung Nô một món quà đặc biệt, ta tin rằng Thiền Vu nhất định sẽ rất thích.
- Là lễ vật gì vậy?
Tư Mã Ý lấy ra hai cuộn công văn, đưa cho Lưu Đóa, Lưu Đoa mở ra và nhìn, lập tức thay đổi sắc mặt, không ngờ Thiền Vu Tiên Ti Bộ Độ Căn đã gửi quốc thư đến cho Hán Vương Lưu Cảnh, thư được viết bằng tiếng Hán, bên đó có ý muốn liên minh với Hán quốc, cùng nhau tấn công Hung Nô.
Sắc mặt Lưu Đóa trở nên vô cùng khó coi, gã mử mặt khác của quyển công văn ra, Bộ Độ Căn muốn mua ba trăm cân sắt thô loại tốt nhất của Hán quốc.
Lúc này, trong lòng Lưu Đóa vô cùng hỗn loạn, Bộ Đội Căn đã giải hòa cùng 1 vị Thiền Vu khác của Tiên Ti là Kha Bỉ Năng, hai bộ lạc này của Tiên Ti đều đang nhòm ngó Hung Nô, nếu còn liên hợp với quân Hán, thì đồng nghĩa với việc Hung Nô sẽ bị diệt vong.
Chương 959.2: Chiến sự tuyến tây.
Từng giọt mồ hôi lạnh chảy xuống, y lấy hết dũng khí nói:
- Không biết Hán vương Điện hạ đã chuẩn bị trả lời ra sao?
Tư Mã Ý cười nói:
- Ta có thể nói thẳng cho vương gia rằng, chủ công nhà ta không hy vọng phương bắc sẽ xuất hiện một kẻ địch lớn mạnh, càng không hy vọng Hung Nô bị Tiên Ti tiêu diệt, cho nên chủ công nhà ta mới đề xuất là đem trả lại toàn bộ 35 ngàn tù binh cho Hung Nô, đây là thành ý của chủ công nhà ta, vương gia hiểu chứ.
Trong lòng Lưu Đóa cảm thấy nhẹ nhàng hơn, y biết rằng Lưu Cảnh đúng là đã có thành ý, nếu vậy bọn họ cũng phải biểu hiện thành ý của mình ra, liền cắn răng nói:
- Vậy cứ chiểu theo điều kiện của các ngài, tổng cộng là 7 triệu con dê và 500 ngàn con trâu, hy vọng có thể mau chóng đưa binh lính của chúng tôi về nước.
- Được, hiện đã chuẩn bị vào đông, vậy nên chúng ta sẽ cùng nhau trao đổi ở huyện Cao Nô.
- Còn số 300 ngàn cân sắt thô kia, Hán quốc vẫn sẽ bán cho Tiên Ti sao?
Lưu Đóa vẫn có chút không an tâm.
Tư Mã Ý lắc lắc đầu:
- Xin vương gia yên tâm, cũng tôi sẽ không bán dù chỉ 1 cân.
Ngay vào lúc Văn Sính và Lưu Hổ cùng suất quân tiến đánh Diệp huyện, đại tướng Triệu Vân cũng xuất lĩnh ba vạn quân Hán xuất phát từ Bồ Tân quan, vượt qua Hoàng Hà tiến công quy mô nam bộ Tịnh Châu.
Phía đông của bến Bồ Tân chính là quận Hà Đông Tịnh Châu, đây cũng là vùng đất trọng yếu của Tào Tháo, ở đây đã bố trí Điển Nông trung lang tướng, chiêu mộ lượng lớn nông phu quay lại trồng trọt ở quận Hà Đông.
Nhưng từ khi Hán quốc thực thi chính sách” Dẫn nông phân điền” ở Quan Trung, thì đã có hàng nhìn điển nông ở Hà Đông mang theo gia quyến của mình dời đến Quan Trung, chỉ trong có thời gian một năm mà đã có gần 2 vạn hộ, gần 200 ngàn người từ các quận Hà Đông, quận Thượng Đảng đều dời đến Quan Trung, khiến cho nhân khẩu Quan Trung tăng mạnh.
Trong đó quận Hà Đông đã phải chịu rất nhiều ảnh hưởng, bởi vì phần nhiều đất đai đã bị xói mòn, thổ địa hoang hóa, năm nay sản lượng của quận Hà Đông đã giảm đi bảy tám phần, vì vậy đã ảnh hưởng rất nhiều đến quân lương của quân Tào.
Đúng vào lúc quan viên ở Tịnh Châu không biết làm cách nào để giao nộp cho Ngụy Công, quân Hán lại đến tấn công, nên càng lâm vào tình trạng khủng hoảng, các quan viên đều bỏ thành mà chạy, binh lính nhìn thấy vậy cũng lần lượt hàng, cần chưa đến 3 ngày mà quân Hán đã có thể chiếm được quận Hà Đông, để từ đó tiếp tục tiến về phía quận Thái Nguyên.
Quân Tào đóng giữ ở Tịnh Châu chỉ có hơn 15 ngàn người, do đại tướng Hạ Hầu Thượng thống soái, tình thế nguy cấp, Hạ Hầu Thượng đã phát đi rất nhiều thư báo khẩn đến Nghiệp Đô.
Cùng vào lúc Triệu Vân dẫn 3 vạn quân xuất binh đến quận Hà Đông, thì đại tướng Trương Nhậm cũng dẫn 10 ngàn quân Hán ra Đồng Quan, hướng về Lạc Dương, bọn họ thế như chẻ tre, một người lĩnh cưỡi ba con chiến mã, thanh thế lớn, trùng trùng điệp điệp tiến về Lạc Dương.
Từ Đồng Quan đến Lạc Dương không xa chỉ cần 3 ngày hành quân là tới, mà trú binh của quân Tào ở Lạc Dương cũng không nhiều, chỉ có hơn 8 ngàn người, một phần là do Hạ Hầu Đôn thống soái, bởi vì quân Tào đã tập trung binh lực vào trận chiến ở Hợp Phì, nên tuyến phòng ngự tây tuyến cũng vì vậy mà để lỏng. Tuyến phòng ngự tây tuyến của quân Tào bao gồm Hứa Xương, Diệp huyện và Lạc Dương trước mắt chỉ bố trí bốn mươi lăm ngàn người.
Bốn mươi lăm ngàn người phải đối mặt với hai tuyến phòng ngự của Nam Dương và Lạc Dương, hiển nhiên là chả khác nào giật gấu vá vai, Hạ Hầu Đông không thể không chọn ra một cái quan trọng hơn, nên đã quyết là tập trung tinh lực ba vạn trọng binh cho Hứa Xương, như vậy cho dù là Diệp huyện gặp nguy hay Lạc Dương gặp khốn, quân đội ở Hứa Xương đều có thể kịp thời đến cứu.
Nhưng có một điều Hạ Hầu Đông không ngờ đến, mà y cũng không có khả năng nghĩ đến, chính là bố cục toàn cảnh mà Lưu Cảnh đã tạo nên, bất luận là xuất binh đánh Diệp huyện hay là Tịnh Châu, hay chăng là đánh đến Lạc Dương, nếu muốn đánh cả 3 tuyến cùng 1 lúc thì quân Hán đều có thể đồng thời tiến công.
Khi Hạ Hầu Đôn nhận được thư khẩn cầu của tướng phòng ngự Lạc Dương, thì khi này y đang xuất quân đến Diệp huyện, đại quân đóng ở bên ngoài Diệp huyện 5 đặm về phía bắc, còn chưa kịp phản công Diệp huyện, Lạc Dương đã lại phát tin xin cứu viện, khiến Hạ Hầu Đôn rơi vào tình thế khó xử.
Y phải làm sao để ứng đối chuyện này? Nên từ bỏ Diệp huyện để đến cứu Lạc Dương không, hay tiếp tục phản công Diệp huyện đây? Hạ Hầu Đôn cho dù là ở trọng trách đại tướng cũng khó mà quyết định, lúc này có binh lính bẩm báo:
- Đô đốc, Giả tiên sinh đang ở ngoài trướng vai cầu kiến.
Hạ Hầu Đôn vội vang nói:
- Mau mau mời vào!
Một lát sau, mưu sĩ Giả Quỳ vào, lúc trước khi quân Hán công chiếm Uyển thành, Giả Quỳ khi đó đang ở trong thành chữa thương nên sau trở thành tù binh của quân Hán, nhưng Lưu Cảnh không có miễn cưỡng ông ta, thả ông ta trở về Hứa Xương. Giả Quỳ đã ở đây dưỡng thương được mấy tháng rồi, thương thế cơ bản đã khỏi hẳn, Tào Tháo sai ông ta ở đây phụ trợ cho Hạ Hầu Đôn, lần này ông ta cũng đi theo Hạ Hầu Đôn đến cứu Diệp huyện.
Hạ Hầu Đôn mời Giả Quỳ ngồi xuống, liền vội nói:
- Tiên sinh cũng biết việc quân Hán xuất binh đến Lạc Dương chứ?
Giả Quỳ gật đầu:
- Tại hạ đúng là đến vì chuyện này, không biết Đô đốc định ứng phó ra sao?
- Hiện ta đang không biết nên làm thế nào!
Hạ Hầu Đôn thở dài 1 hơi, vừa liếc mắt nhìn Giả Quỳ, vừa hỏi:
- Tiên sinh hãy cho ta một lời khuyên đi?
Giả Quỳ không chút hoang mang nói:
- Xét theo thời gian, quân Hán xuất binh tiến đánh Diệp huyện và Lạc Dương gần như là cùng 1 lúc, từ đó thấy được sự bố trí thống nhất của Lưu Cảnh, ngụ ý chính là nhắm vào quân đóng ở Hứa Xương của chúng ta, nếu chúng ta đi cứu Lạc Dương, như vậy quân Hán sẽ thực sự chiếm được Diệp huyện, thậm chí còn có thể xuất binh đánh lén Hứa Xương, nhưng nếu chúng ta để mặc Lạc Dương, một khi Hàm Cốc quan thất thủ, Lạc Dương cũng khó lòng bảo vệ, đây mới là cái tiến thoái lưỡng nan, Đô đốc chỉ có thể giữ 1 cái, nếu muốn giữ cả 2, dựa vào binh lực hiện tại trong tay của chúng ta thì e rằng sẽ hoàn toàn thất bại.
- Tiên sinh nói rất đúng, đúng là ta chỉ có thể giữ được một cái, vậy ta nên giữ cái nào?
Giả Quỳ khẽ cười nói:
- Tôi muốn hỏi ngài một câu, Đô đốc nắm trong tay bao nhiều % là có thể đoạt lại được Diệp huyện.
- Diệp huyện có 5 ngàn trọng giáp bộ binh, còn có 10 ngàn quân tinh nhuệ của Văn Sính, mà ta chỉ có ba vạn quân, nói thật là đến 1 chút hy vọng cũng không có.
- Một khi đã như vậy, tại sao Đô đốc còn muốn bảo vệ Diệp huyện?
Hạ Hầu Đôn yên lặng gật đầu:
- Ta đã hiểu ý của tiên sinh.
Giả Quỳ lại nói:
- Tuy rằng từ bỏ Diệp huyện, nhưng cũng cần phải phòng rằng quân Hán sẽ đánh lén Hứa Xương, cho nên nhất định phải giữ lại 2 vạn quân để trấn thủ nơi này, chỉ có thể chia ra mười ngàn đi cứu Lạc Dương, nhưng 10 ngàn binh thì quá ít, Đô đốc cần lập tức thông báo với Ngụy công, xin ngài ấy có thể tăng thêm quân cho Lạc Dương, như vậy mọi chuyện nhất định sẽ ổn.
Hạ Hầu Đôn trầm tư một lát, cuối cùng cũng hạ quyết tâm:
- Vậy làm theo tiên sinh nói đi.
Chương 960: Lén giết sứ giả người Hồ.
So sánh với Trường An đang hướng tới phồn thịnh và lớn mạnh, Nghiệp Đô vào tháng chín lại có vẻ gì đó u ám, mặc dù cùng là mùa thu, cùng ánh mặt trời, nhưng mùa thu ở Nghiệp Đô lại đè nén và nặng nề.
Đây không chỉ là do mây đen của chiến sự Hợp Phì đã ảnh hưởng tới vua dân ở Nghiệp Đô, mà còn vì lương thực vụ thu của Tịnh Châu giảm sản lượng khiến tâm trạng mọi người đều trĩu nặng, thương nhân là những người nhạy cảm nhất, giá lương thực của Nghiệp Đô đã tăng từ tám mươi tiền một đấu gạo vào đầu tháng tám lên đến ba trăm tiền một đấu vào cuối tháng tám, hơn nữa vẫn còn đang tiếp tục tăng.
Ngày đầu tiên trong tháng chín đã dấy lên phong trào cướp gạo toàn thành, chỉ trong một ngày, giá lương thực đã tăng vọt đến năm trăm tiền một đấu gạo, về sau dưới sự can thiệp của quan phủ, giá lương thực mới từ từ giảm xuống còn ba trăm năm mươi tiền một đấu.
Giá lương thực tăng vọt đã ảnh hưởng cực lớn tới dân sinh, lòng người không yên, không nhìn thấy hy vọng ở tiền đồ, bắt đầu có tin đồn, không ít nhà giàu ở Nghiệp Đô đã lén lút tới Trường An mua đất xây nhà, chuẩn bị đường lui cho mình.
Trời vừa tối không lâu, đường phố đã trở nên vắng vẻ, trị an ở Nghiệp Đô gần đây không tốt, thường xảy ra chuyện cướp bóc đánh nhau, gây náo loạn khiến mọi người bàng hoàng, khi trời tối, nhà nhà đều đóng cửa, không ra đường nữa.
Lương thực thiếu và trị an không tốt cũng ảnh hưởng đến buôn bán, thương nghiệp vốn phồn thịnh bắt đầu trở nên tiêu điều, gần ba mươi phần trăm cửa hàng đóng cửa, chịu ảnh hưởng lớn nhất là các tửu quán, Tào Phi hạ lệnh cấm uống rượu, đã có nửa số tửu quán bị ép dừng kinh doanh, điều này khiến cho cuộc sống về đêm của Nghiệp Đô trở nên vắng lạnh.
Tửu quán Tam Tấn ở gần phía đông thành Nghiệp Đô cũng chịu ảnh hưởng rất lớn, tuy nhiên nó không ngừng kinh doanh, mà là kinh doanh ảm đạm, thời gian đóng cửa hàng ngày cũng kéo dài, hy vọng có thể cố gắng thu hút tửu khách.
Lúc này, trong tửu quán Tam Tấn vắng ngắt, cửa hàng không có lấy một người khách, hai gã tửu bảo ngồi buồn chán ngủ gật ở cửa, mong sớm đóng cửa một chút.
Lúc này rèm cửa được vén lên, luồng gió lạnh đập vào mặt, một vị khách bước vào, hai gã tửu bảo lập tức phấn chấn, chúng nhận ra đó là Ngự sử Trung thừa Dương Thiêm, là khách quen của cửa hàng.
- Hóa ra là Dương Trung thừa, muộn thế này còn đến uống rượu!
Hai gã tửu bảo cực kỳ nhiệt tình nói.
- Ừ!
Dương Thiêm hừ một cái, nhìn quanh đại sảnh tửu quán dò xét, nhưng lại không thấy chưởng quầy.
- Chưởng quầy các ngươi đâu?
Dương Thiêm hỏi.
- Đến đây! Đến đây!
Vương chưởng quầy dáng người mập mạp bước nhanh từ trong buồng ra, vẻ mặt tươi cười:
- Dương Trung thừa mời lên lầu!
Dương Thiêm có phòng riêng ở đây, y đi lên lầu hai, bước thẳng vào nhã thất mình thường dùng, vẫn theo quy tắc cũ, một bầu rượu, năm đồ ăn, lệnh cấm rượu không có gì ràng buộc với y.
Y tự rót rượu cho mình, chậm rãi uống, đương nhiên y không phải tới uống rượu, mà tới tìm Lý Phù.
Một thời gian rất dài trở lại đây Dương Thiêm đóng vai gián điệp hai mặt, vừa bán sức cho Tào Phi, vừa ngầm liên lạc với nước Hán, có điều cùng với sự suy vong của nước Ngụy, Dương Thiêm càng thiên về nước Hán, y phải để lại đường lui cho mình.
Cũng chính vì nguyên nhân này, tin tình báo mà y cung cấp cho nước Hàn cũng ngày càng có giá trị, ví như tình báo quan trọng về việc ngân khố nước Ngụy trống rỗng chính là do y tiết lộ, đã được Lưu Cảnh khen ngợi và cũng khiến Lưu Cảnh áp dụng quyết sách chiến tranh quốc lực.
Lúc này, cửa mở, Lý Phù bước nhanh vào, cười tủm tỉm nói:
- Muộn thế này, Dương Trung thừa có việc gấp sao?
Dương Thiêm gật đầu:
- Quả thật có tình báo quan trọng, Lý Sứ quân mời ngồi trước đã!
Lý Phù ngồi xuống rồi cũng rót cho mình một chén rượu, ánh mắt lạnh nhạt nhìn chăm chú vào Dương Thiêm, mặc dù Lý Phù phóng đãng ngang ngược, nhưng trong chính sự, gã tuyệt đối không hề hàm hồ.
Dương Thiêm trầm tư một lát nói tiếp:
- Hôm nay Tào Phi đã tiếp kiến một vị khách quan trọng, có thể liên quan đến thắng thua của chiến dịch Hợp Phì.
Lý Phù kinh ngạc, vội hỏi:
- Là vị khách nào?
- Là đặc sứ của Tiên Ti đông Thiền Vu Kha Bỉ Năng, người Tiên Ti đề nghị muốn dùng một triệu con dê đổi lấy một vạn cung tiễn và ba mươi vạn mũi tên của nước Ngụy, Tào Phi rất hứng thú, xem ra y đã đồng ý.
Vẻ mặt của Lý Phù bắt đầu nặng nề, gã đương nhiên biết đây là ý gì, một khi Tiên Ti và nước Ngụy đạt được giao dịch, một triệu con dê sẽ làm giảm rất nhiều nguy cơ tài chính của quân Tào, nó sẽ cực kỳ bất lợi cho chiến tranh quốc lực của chủ công.
Lý Phù lập tức hỏi:
- Đã đi tới thỏa thuận rồi sao?
- Ta nghe ý của Tào Phi, hình như hai bên đã có nhận thức chung, tuy nhiên Tào Phi phải xin chỉ thị của Tào Tháo, sứ giả Tiên Ti cũng phải về bẩm báo Kha Bỉ Năng.
Lý Phù do dự một lát lại hỏi:
- Sứ giả Tiên ti khi nào xuất phát?
Dương Thiêm hiểu được ý của gã, liền chậm rãi đáp:
- Sáng sớm ngày mai họ rời Nghiệp Đô quay về phương bắc, sứ thần có khoảng hai mươi người, còn ba trăm kỵ binh quân Tào bảo vệ, họ xuất biên từ U Châu, ba trăm kỵ binh sẽ bảo vệ họ đến địa giới U Châu, sau đó quân đội của Tào Chương lại hộ tống họ xuất biên.
Nói đến đây, Dương Thiêm rút một tấm bản đồ từ trong ngực ra, đưa cho Lý Phù.
- Đây là bản đồ lộ trình đi về của sứ giả Tiên Ti, do Tào Phi đích thân quyết định, ta đã vẽ lại bằng trí nhớ, Lý Sứ quân tự xem đi!
Nói xong, Dương Thiêm đứng dậy rời khỏi phòng, y khoác áo vào rồi vội vã đi, trong phòng, Lý Phù mở bản đồ ra, nhìn bản đồ đường đi đơn giản trên bản đồ, gã không khỏi chìm trong suy tư.
…
Người Tiên Ti từ đầu giống với người Ô Hoàn, cũng là một nhánh của Đông Hồ, do sống ở núi Tiên Ti nên có tên như vậy, sau khi Bắc Hung Nô bị tiêu diệt, Tiên Ti dần hùng mạnh lên, Thiền Vu Đàn Thạch Hòe từng môt lần thống nhất Tiên Ti, trở thành dân tộc du mục lớn mạnh nhất trên thảo nguyên, chiếm giữ hơn nửa sa mạc phía bắc.
Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, sau khi Đàn Thạch Hòe qua đời, Tiên Ti lại lần nữa bị chia tách, hình thành ba phần đông, trung, tây, trong đó Thác Bạt Tiên Ti ở phía tây và Mộ Dung Tiên Ti ở phía trung là cường thịnh hơn cả.
Để tranh giành địa bàn và quyền lãnh đạo, Thác Bạt Tiên Ti và Mộ Dung Tiên Ti đã đánh nhau trong một thời gian dài, dần dần trở nên suy yếu, biến thành mồi săn của Nam Hung Nô, Nam Hung Nô thường xuyên xuất binh bắt dê bò và người Tiên Ti.
Tuy nhiên năm ngoái, Nam Hung Nô bị nước Hán đánh trọng thương nguyên khí, khiến người Tiên Ti nhìn thấy được cơ hội, thủ lĩnh của Thác Bạt Tiên Ti là Bộ Độ Căn và thủ lĩnh Kha Bỉ Năng của Mộ Dung Tiên Ti đã hòa giải với nhau, mấy tháng trước, hai nhánh người Tiên Ti liên hợp xuất binh xâm lấn Âm Sơn, gây đại chiến với Nam Hung Nô ở dưới chân núi Âm Sơn, hai bên người chết thê thảm, người Tiên Ti không thể giành thắng lợi, cuối cùng buộc phải rút quân.
Người Tiên Ti đã ý thức được, nguyên nhân họ thất bại là vì binh khí không sắc bén bằng người Hung Nô, Bộ Độ Căn đã đề xuất mua ba mươi vạn cân sắt thô thượng hảo từ nước Hán, còn Kha Bỉ năng thì mua một vạn cung tên và ba mươi vạn mũi tên của nước Ngụy.
Sứ giả của Kha Bỉ Năng tên là Mộ Dung Chúc, khoảng hơn ba mươi tuổi, dáng vẻ vô cùng cường tráng, y cũng xuất thân từ quý tộc Tiên Ti, mặc dù bề ngoài thô lỗ nhưng tâm tư lại rất tinh tế, y đã nhìn thấy nguy cơ lương thực sắp xuất hiện trong nội bộ nước Ngụy, làm cho y càng có lòng tin hơn trong việc đạt được cuộc mua bán lần này.
Cho dù Tào Phi phải bẩm báo Tào Tháo, nhưng Mộ Dung Chúc biết, đó chẳng qua là hình thức, quân Tào muốn giành được thắng lợi trong cuộc chiến với quân Hán thì phải có lương thực dồi dào, họ không thể từ chối sức hấp dẫn của một triệu con dê.
Mộ Dung Chúc nóng lòng quay về nha trướng để báo cáo với Thiền Vu Kha Bỉ Năng, y cùng đi với hơn hai mươi người, ngoài ra Tào Phi phái ba trăm kỵ binh bảo vệ họ quay về phương bắc, họ sẽ từ U Châu xuyên qua dãy núi Yến Sơn, trở về nha trướng của Mộ Dung Tiên Ti.
Đội sứ thần đi lên phía bắc, qua quận Quảng Bình, quận Cự Lộc, quận An Bình rồi tiến vào quận Hà Gian chiều hôm nay, họ đã tới huyện Dịch Thành, đây cũng là biên giới giữa Ký Châu và U Châu.
U Châu là địa bàn của con thứ Tào Tháo tên là Tào Chương, cho dù Tào Phi đã là thế tử, nhưng y vẫn không muốn trở mặt với nhị đệ đang nắm giữ trọng quân trong tay, vì thế quân đội y phái đi sẽ không dễ dàng bước vào địa giới của U Châu, kỵ binh quân Tào hộ tống sứ giả Tiên Ti sẽ bàn giao cho kỵ binh U Châu ở đây, sau đó kỵ binh U Châu hộ tống sứ giả Tiên Ti rời khỏi lãnh địa U Châu.
Đội sứ giả cách huyện Dịch Thành còn khoảng mười dặm, phía trước không xa có một dịch quán, lúc này, một gã kỵ binh phi như bay về, bẩm báo với nha tướng hộ tống:
- Khởi bẩm Thi Tướng quân, dịch quán phía trước có kỵ binh mà Chương công tử phái tới, muốn giao nhận với chúng ta.
Thủ lĩnh kỵ binh hộ tống tên là Thi Lâm, là một nha tướng, gã hơi sững người, bình thường nên bàn giao trong huyện Dịch Thành, sao lại ở dịch quán, tuy nhiên ý nghĩ kỳ lạ trong lòng gã chỉ là thoáng qua, chuyện giao nhận này không nghiêm ngặt như thế, dịch quán cũng là chỗ ở của quan lại, theo họ thấy, huyện thành chẳng khác biệt gì với dịch quán.
Thi Lâm lập tức hạ lệnh:
- Tới dịch quán nghỉ ngơi!
Đội quân tăng tốc đến dịch quán, trong dịch quán đã có một trăm kỵ binh U Châu chiếm cứ, lúc này, một người đàn ông trung niên ăn mặc gọn gàng chậm rãi bước ra cửa, chắp tay cười nói:
- Tại hạ là tham quân tòng sự của U Châu tên là Hàn Bình, các vị chắc là sứ giả Tiên Ti tới từ Nghiệp Đô?
Thi Lâm thấy đối phương có phong thái ung dung, giong nói rất nặng mùi quan trường, gã không dám thất lễ, vội xoay người xuống ngựa đáp lễ:
- Đúng là chúng tôi.
- Thế thì đúng rồi, ta phụng lệnh của Kiêu Kỵ Tướng quân, tới giao nhận sứ giả, các vị đi đường vất vả rồi.
Hàn Bình lấy bao thư ra đưa cho Thi Lâm, Thi Lâm nhận lấy xem, là bao thư của quan U Châu, hộ tống sứ giả Tiên Ti xuất cảnh, bên dưới có con dấu của Tào Chương, xác nhận không sai, Thi Lâm không nghi ngờ, cười nói:
- Đã thế, lộ trình phía sau xin nhờ cậy các vị.
Hàn Bình cười cười:
- Tướng quân mời vào trạm dịch nghỉ ngơi một lát đã!
Thi Lâm thấy dịch quán quá nhỏ, không chứa hết binh lính của mình, hơn nữa đã bị linh lính đối phương chiếm hết từ lâu, gã liền lắc đầu:
- Ta còn phải trở về phục mệnh, không nghỉ ngơi nữa, để sứ giả Mộ Dung nghỉ ngơi vậy!
Gã cáo biệt Mộ Dung Chúc, rồi dẫn ba trăm kỵ binh quay đầu chạy nhanh về phía nam, nhanh chóng biến mất trên đường, Hàn Bình dõi ánh mắt lạnh nhạt nhìn họ đi xa, lúc này mới cười nói với Mộ Dung Chúc:
- Giờ trời vẫn sớm, chúng ta hãy lên đường gấp, nghỉ qua đêm ở trạm dịch phía bắc đằng trước, ta đã phái người tới đó sắp xếp chỗ ăn ngủ, Mộ Dung tiên sinh thấy thế nào?
Mộ Dung Chúc muốn nghỉ ngơi một lát mới đi, nhưng đối phương thúc giục lên đường, y cũng không tiện phản đối, đành gật đầu:
- Được rồi! Cứ nghe theo sự sắp xếp của Hàn tham quân!
Hàn Bình mừng rỡ, vội lệnh cho kỵ binh thuộc hạ chuẩn bị xuất phát, một trăm kỵ binh U Châu lần lượt lên ngựa, bảo vệ sứ thần Tiên Ti đi về phía bắc.
Đi khoảng bảy tám dặm, Mộ Dung Chúc phát hiện đường họ đi không phải là đường chính tới huyện thành, mà là một đường khác rẽ hướng tây bắc, trong lòng y có chút kỳ lạ liền hỏi:
- Hàn tham quân, chúng ta không tới huyện thành sao?
Chương 961: Ba đề nghị.
Hàn Bình lắc đầu, cười khổ nói:
- Không sợ Mộ Dung tiên sinh chê cười, nông dân trong huyện thành đang gây rối, mấy ngàn loạn dân đã bao vây huyện nha, yêu cầu huyện lệnh giảm thuế, cục diện vô cùng hỗn loạn, ta lo loạn dân sẽ bao vây tấn công các vị, cho nên không dám đi huyện thành.
Mộ Dung Chúc gật đầu, y cũng nghe nói chuyện này thường xuyên xảy ra ở Trung Nguyên, chả trách họ không dám đi huyện thành, y lại tò mò hỏi:
- Sao lại xảy ra chuyện nông dân gây rối?
Hàn Bình thở dài một tiếng:
- Còn không phải vì chiến tranh sao, Ngụy công điều tất cả lương thực xuống phía nam chuẩn bị chiến tranh, trong khi các nơi ở Hà Bắc năm nay đều xảy ra hạn hán, lương thực giảm sản lượng, Ngụy công còn muốn tăng ba mươi phần trăm thuế phú ở Hà Bắc, đám nông dân không thể nhịn được nữa, liền đứng lên gây chuyện, trên đường đi các ngươi không gặp phải sao?
Mộ Dung Chúc lắc đầu:
- Chuyện hán hán giảm sản lượng cũng có gặp, nhưng không nghe nói nông dân ở đây gây rối.
- Đó là Thi Tướng quân cố ý né tránh, năm nay thuế phú của Hà Bắc tăng ba mươi phần trăm, nông dân sao có thể không gây chuyện, đúng là chiến tranh tổn thương dân chúng!
- Hàn Tham quân nói đúng!
Mộ Dung Chúc không nghi ngờ nữa, theo kỵ binh U Châu men theo con đường nhỏ lên phía bắc, rất nhanh bọn họ đã bước vào đường đầm nước, đây chính là hồ Bạch Dương đời sau, cách đó không xa là mặt nước trắng xóa, họ đi dọc theo con đường nhỏ ven bờ, vùng này ít ai lui tới, đường lầy lội khó đi, suốt hai canh giờ, họ mới đi được chưa đến hai mươi dặm, lúc này trời đã dần tối đen.
Mộ Dung Chúc cũng bắt đầu tức giận, thúc ngựa đuổi theo Hàn Bình hô lớn:
- Hàn tham quân, đường bùn này căn bản không thể đi, ngươi có ý gì?
Mặt Hàn Bình đã biến sắc, lạnh lùng đáp:
- Rất xin lỗi, con đường của các ngươi đã chấm dứt rồi!
- Rốt cuộc ngươi là ai?
Mộ Dung Chúc thấy trong lòng bất an, lùi mấy bước liên tục, ngạc nhiên nhìn Hàn Bình chằm chằm.
- Ta họ Lý, tên là Lý Phù, đương nhiên cũng không phải tham quân U Châu gì đó, không giấu ngươi, kỵ binh U Châu tiếp ứng các ngươi vẫn đang khổ sở chờ đợi trong huyện thành, có điều chúng đã nhận được thư của ta, cho rằng các ngươi không đi tới U Châu nữa, đoán là đã quay về.
Mộ Dung Chúc chấn động, xoay người định chạy trốn, một gã kỵ binh bên cạnh hung hăng vươn mâu ra đâm, mũi mâu đâm xuyên qua lưng y, Mộ Dung Chúc kêu thảm một tiếng, lật người ngã khỏi ngựa.
Lý Phù hét lớn:
- Ra tay!
Một trăm thám báo quân Hán cải trang làm kỵ binh U Châu cùng nhau động thủ, tiếng kêu thảm thiết phát ra trong đầm nước, không lâu sau, hai mươi mấy tùy tùng Tiên Ti đều bị quân Hán giết chết sạch, thám báo quân Hán ra tay nhanh chóng, nhấn chìm toàn bộ xác xuống dưới bùn, đồng thời để lại chứng cứ của kỵ binh U Châu trên người chúng, lúc này mới nhanh chóng men theo đường cũ phi nhanh đi.
Lý Phù đương nhiên biết việc sứ giả Tiên Ti bị giết sớm muộn sẽ bị phát hiện, tuy nhiên ít nhất phải đợi đến sang năm sau khi khai xuân, hơn nữa đường xá tới Tiên Ti xa xôi, đợi chúng phát hiện truy cứu trách nhiệm, làm rõ chân tướng, lại đi đi về về hiệp thương, kể cả cuối cùng đạt được thỏa thuận thì cũng phải đợi tầm này sang năm, quân Hán cũng giành thắng lợi về mặt thời gian rồi.
Tào Phi gửi gắm tia hy vọng lên người Tiên Ti, nhưng y lại không biết, giấc mơ lấy thịt dê làm quân lương của quân Tào đã bị thám báo của quân Hán dẫn đầu là Lý Phù vô tình đánh nát rồi.
Tào Phi trước khi làm thế tử chủ quản chính vụ, nhưng lại không được nhúng tay vào quân sự, sau khi y nhập tự làm thế tử, cuối cùng đã giành được một bộ phần quyền quân vụ, cho dù chỉ là những việc hậu cần như gom góp tiền thuế, vận chuyển lương thảo, chiêu mộ binh lính, nhưng cũng là điều y tha thiết mơ ước, y đã có thể lợi dụng quyền lực trong tay để lung lạc đại tướng, được quân đội ủng hộ, khiến địa vụ càng thêm vững chắc.
Tuy nhiên không bột đố gột nên hồ, thời gian này Tào Phi quả thực bị áp lực quân sự khổng lồ của quân Hán và lương thực không đủ làm cho sứt đầu mẻ trán, quân Hán xuất binh đi Tịnh Châu, đã chiếm lĩnh được quận Hà Đông, xuất binh tới Lạc Dương, chiếm lĩnh quận Hoằng Nông và giằng co với quân Tào ở Hàm Cốc Quan, về phía Nam Dương, Diệp Huyện thất thủ, quân đội của Văn Sính đã đe dọa nghiêm trọng đến an toàn của Hứa Xương.
Thư cầu viện của Lạc Dương và Thái Nguyên đã liên tục đưa tới Nghiệp Đô, muốn Tào Phi đưa quân đội trợ giúp và chi viện tiền, hiện giờ giá lương thực ở Nghiệp Đô tăng vọt, lương thực bình ổn giá gạo các quan phủ cũng không lấy ra, đành dựa vào mệnh lệnh cưỡng chế không cho tăng giá.
Thế nhưng lúc này, Tào Tháo ở tận Thọ Xuân cũng viết thư khẩn tới, lệnh cho y lập tức gom góp ba mươi vạn thạch quân lương đưa đến Thọ Xuân, áp lực tài chính khổng lồ khiến cho Tào Phi gần như sắp ngã bệnh.
Vạn bất đắc dĩ, Tào Phi đành gõ cửa hỏi thăm Tuân Du, tìm cách hay để giải quyết vấn đề, Tuân Du vốn ở quê nhà Dĩnh Xuyên, đảm nhận chức quan nhàn rỗi là Tuần phong sử của Hứa Xương, không còn hỏi đến chính vụ quân sự nữa.
Nhưng hai tháng trước, Tào Tháo điều ông ta quay về Nghiệp Đô giúp đỡ Tào Phi xử lý chính vụ, mặc dù người đã về Nghiệp Đô nhưng Tuân Du lại lấy cớ bị bệnh đóng cửa không ra, Tào Phi cũng có cảm giác căn bản ông ta không có ý trợ giúp mình, nên không để ý tới ông ta nữa.
Nếu còn có lựa chọn, Tào Phi tuyệt đối sẽ không tìm Tuân Du hỏi kế, chỉ là giờ y bị ép tới sứt đầu mẻ trán, đành hạ bệ tới hỏi thăm bệnh tình của Tuân Du.
Con thứ của Tuân Du là Tuân Thích dẫn Tào Phi vào nội đường, cung kính nói:
- Phụ thân đợi thế tử ở nọi đường, xin mời!
Tào Phi gật đầu, bước thẳng lên bậc thềm, lại liếc mắt nhìn Tuân Du ngồi trên bàn uống trà, chứ không phải nằm trên giường bệnh như y tưởng tượng, trong lòng Tào Phi lập tức có chút không vui, rõ ràng Tuân Du không bị bệnh, nhưng lại không chịu ra nghênh tiếp, thậm chí còn ngồi trên đường đợi mình, là cấp gì mà vô lễ vậy?
Mặc dù trong lòng bất mãn, nhưng giờ y có việc cầu người, đành phải nén giận tiến lên hành lễ:
- Chất nhi tham kiến Tuân thế thúc!
- Hiền chất không cần đa lễ, mời ngồi!
Tuân Du thể hiện sự cách biệt, căn bản không coi mình là thần tử, chỉ coi mình là trưởng bối của Tào Phi, do đó cũng không đứng dậy đáp lễ với Tào Phi, Tào Phi ngồi xuống, y kìm nén bất mãn trong lòng, gương mặt tươi cười nói:
- Thấy thế thúc khí sắc còn tốt, cơ thể khỏe mạnh, chất nhi cảm thấy vô cùng vui mừng.
- Đâu có cơ thể khỏe mạnh, giá gạo ở Nghiệp Đô quá đắt, vi thúc đến cơm cũng ăn không nổi, hơi tàn sống qua ngày thôi, có điều hiền chất dường như sắc khí cũng không tốt, cơ thể hơi yếu, không phải cũng không ăn nổi cơm chứ!
Tuân Du tự cười chế giễu.
Tào Phi hung hăng cắn môi một cái, Tuân Du lại chế giễu mình ngay trước mặt, y gần như muốn bùng nổ ra, nhưng lại kiềm chế được, Tào Phi đành hậm hực đáp:
- Lương thực đều vận chuyển tới Hợp Phì rồi, chất nhi đâu có lương thực để bình ổn giá, thế thúc biết rõ tình hình gần đây của nước Ngụy, sao muốn làm khó chất nhi?
- Hóa ra là ta hiểu lầm hiền chất, rất xin lỗi!
- Thế thúc có điều không biết, mùa xuân là chuẩn bị chiến tranh Hợp Phì, chúng ta đã vận chuyển năm mươi vạn thạch lương thực tồn kho ở các nơi đi Thọ Xuân, vốn hy vọng lương thực thu hoạch vào mùa thu sẽ bù đắp lại, không ngờ lương thực thu hoạch ở Tịnh Châu giảm một nửa sản lượng, Hà Bắc lại có hạn hán, quan phủ các nơi đều thu không đủ bù chi, nhà kho đều không còn lương thực, trong khi chiến sự các nơi lại không dứt, quân Hán tấn công trên quy mô lớn, tiền mộ binh eo hẹp, phụ thân lại yêu cầu ta trù bị ba mươi vạn thạch lương thực đưa tới Thọ Xuân, ta quả là sắp bị bức chết rồi.
Nói đến đây, Tào Phi xót xa nhìn Tuân Du, hy vọng ông có thể nghĩ kế giúp mình, Tuân Du mỉm cười:
- Ta hiểu ý của hiền chất, hiền chất mong ta có thể đưa ra biện pháp, nhưng lâu rồi ta không hỏi tình hình chính trị đương thời, không hề biết gì về tình hình các nơi, sao có thể nhắm mắt làm liều? Thật xin lỗi, ta không giúp được hiền chất.
Tào Phi chán nản cúi đầu, lâu sau mới khẽ nói:
- Thế thúc và phụ thân cùng nhau xây dựng sự nghiệp mới có nước Ngụy ngày hôm nay, kể cả thế thúc không quản chính sự, nhưng xin nể giao tình mấy chục năm với phụ thân mà chỉ đường dẫn lối cho chất nhi!
Tuân Du gật đầu cười nói:
- Hiền chất đã nói tới mức này, nếu ta không tỏ thái độ thì thật uổng là trưởng bối, ta có thể đưa cho hiền chất ba đề nghị, cụ thể nên làm gì, hiền chất hãy tự xử.
Tào Phi mừng rỡ:
- Chất nhi xin kính cẩn lắng nghe lời bàn cao kiến của thế thúc.
Tuân Du cười nói:
- Đầu tiên, thế tấn công của quân Hán ngoài Hợp Phì ra hiền chất không cần để ý tới; Thứ hai, các nơi mặc dù kêu ngèo đói nhưng chưa chắc đã không có lương thực, chỉ cần Ngụy công về Nghiệp Đô, như vậy tất cả các vấn đề đều không còn là vấn đề nữa; Thứ ba, nếu cuộc chiến Hợp Phì kéo dài đến mùa đông, nước Ngụy ắt sẽ tan tác toàn bộ phòng tuyến, chỉ ba điều này nếu hiền chất làm được, tự nhiên có thể ngủ ngon lành.
Từ phủ Tuân Du bước ra, Tào Phi ngồi trong xe suy nghĩ về những lời Tuân Du nói, y mặc dù có phần hiểu được, nhưng vẫn không nhìn thấu đáo, giống như ngắm hoa trong sương, đã biết hình dáng hoa, nhưng lại không thấy dung nhan thật của nó.
Trở lại trong phủ, Tào Phi lập tức sai người mời Từ Dịch đến, Từ Dịch ngồi xuống cười nói:
- Công tử có chuyện gì gấp tìm ta?
- Ta vừa đi thăm Tuân Du, hỏi kế của ông ta, ông ta nêu ra ba điểm, ta lại không hiểu được hết, nên đặc biệt mời tiên xinh xem xét cặn kẽ thay ta.
Nói xong, Tào Phi đã kể lại ba câu của Tuân Du cho Từ Dịch nghe, Từ Dịch trầm tư một lát, xúc động thở dài:
- Không hổ từng là chủ mưu của Ngụy công, nhìn rất thấu đáo!
Từ Dịch khen ngợi không ngớt, nhưng lại quên mất Tào Phi đang đợi ở một bên, lúc này gã thấy trong mắt Tào Phi có vẻ bất mãn, vội vàng cười nói:
- Không phải công tử không tỉnh ngộ, mà là kinh nghiệm công tử không đủ, có việc không hiểu nguyên nhân, ví như điểm thứ hai, trên thực tế đã điểm phá quy định ngầm của giới quan trường, với của cải của nước Ngụy, trước kia vẫn còn có thể chống đỡ được cuộc chiến Xích Bích, kể cả đại chiến Xích Bích tổn thương nguyên khí, nhưng cũng không đến nỗi một trận đại chiến Hợp Phì đã đến bước sơn cùng thủy tận, quan phủ các nơi vẫn có chút tồn trữ, chỉ là không muốn lấy ra mà thôi, cho nên không đợi Nghiệp Đô thúc giục lương thực, đã giành nhau hô nghèo trước, nhưng một khi Ngụy công trở về, không ai dám giấu riêng.
Tào Phi hừ thật mạnh.
- Bọn chúng rõ ràng đang bắt nạt ta!
- Công tử không cần tức giận, quan trường đều như thế, đợi sau này công tử ngồi vào ghế Ngụy công, sẽ không có ai dám bắt nạt công tử nữa.
Tào Phi gật đầu, lại hỏi:
- Điều kiện đầu tiên và điều kiện thứ ba của Tuân Du là có ý gì?
Từ Dịch thở dài nói:
- Đây chính là cuộc chiến mà Lưu Cảnh phát động với chúng ta, bất luận tấn công Tịnh Châu hay Lạc Dương, đểu chỉ là quân Hán đang tạo thế, ép chúng ta ứng chiến, tiêu hao quốc lực của chúng ta, sau đó Lưu Cảnh trường kỳ kháng chiến ở Hợp Phì, cuối cùng kéo chúng ta suy sụp, nói cho cùng, chiến dịch Hợp Phì phải nhanh chóng kết thúc, hiện giờ chúng ta mặc dù vẫn có thể chặt đầu cá, vá đầu tôm, nhưng tài lực của chúng ta không qua nổi mùa đông, mục đích của Lưu Cảnh cũng đã đạt được.
Tào Phi chắp tay đi qua đi lại, suy nghĩ về các tin tức, lát sau, y hỏi với vẻ khó hiểu:
- Tuân Du bảo ta ngoài quân Hán tấn công ở Hợp Phì ra, ta không phải quản gì cả, nhưng nếu quân Hán công phá Thái Nguyên thì phải làm sao bây giờ? Còn cả Lạc Dương nữa, nếu Lạc Dương thất thủ, Hứa Xương sẽ không thể giữ nổi.
Từ Dịch chậm rãi nói:
- Ý của Tuân Công là, quân Hán cũng chỉ là phô trương thanh thế, thần hiểu thâm ý của Tuân Công, hoặc là chỉ binh lực Trường An đã trống rỗng, quân Hán không dám xuất binh ra ngoài quá lâu, một khi nội bộ có họa, nước Hán sẽ có đại loạn.
Chương 961: Ba đề nghị.
Tào Phi nhướn mày:
- Nội bộ nước Hán đều yên bình, sẽ có họa gì bên trong?
- Điều đó không thể chắc chắn, có thể do biên cương bất ổn, hoặc Khương Đê có dị tâm, hoặc Hung Nô sẽ ngóc đầu trở lại, nói không chừng Mã Siêu cũng đang chờ cơ hội cắt đất tự lập, tóm lại, nước Hán không thái bình lắm, do đó quân Hán sau một trận phô trương thanh thế, tất sẽ lui binh về Quan Trung.
- Ta hiểu!
Tào Phi gật đầu, y dứt khoát quyết định:
- Hứa Xương còn có mười vạn thạch lương thực, phía Từ Châu còn có mười vạn thạch lương thực tồn, ngày mai ta sẽ tới Hứa Xương, đích thân áp giải lương thực đi Thọ Xuân đổi phụ thân về.
- Công tử muốn đi Thọ Xuân?
Từ Dịch ngạc nhiên.
Tào Phi thản nhiên cười, nhưng không giải thích, có một số việc quả thật không thể nói ra, phụ thân đổ bệnh ở Thọ Xuân, tam đệ Tào Thực đã vội từ Hứa Xương đến Thọ Xuân hầu hạ phụ thân, Tào Phi y không đích thân đi Thọ Xuân, nếu chẳng may phụ thân nhất thời hồ đồ, để tam đệ trấn thủ Thọ Xuân thì làm sao đây?
Danh sách người ủng hộ tam đệ đến nay chưa được giao ra, vậy cuộc đấu tranh quyền lực giữa huynh đệ họ vẫn chưa kết thúc.
Từ sau mấy lần Lưu Cảnh tiến đánh Hợp Phì không thuận, liền dứt khoát dừng tất cả cuộc tấn công vào Hợp Phì, chuyển sang áp dụng chiến lược giằng co, nói một cách thiết thực là lấy Hợp Phì làm mồi nhử, níu chân mười vạn quân Tào ở Thọ Xuân, thực hiện cuộc chiến lâu dài chống đỡ bằng quốc lực.
Một mặt có lợi nhất của quân Hán là lưng dựa vào Trường Giang, lợi dụng Trường Giang để vận chuyển lương thực, như thế hao phí cực nhỏ, không chỉ vận chuyển lương thực từ Kinh Châu đến, thậm chí lương thực xa tít ở Ba Thục cũng có thể thông qua Trường Giang để chuyển đến Hợp Phì.
Một thuyền hàng lớn, chỉ cần mười người chèo thuyền là có thể vận chuyển lương thực lên đến mấy ngàn thạch, trái lại, lương thực của quân Tào từ các quận huyện Ký Châu, Tịnh Châu, Từ Châu và Dự Châu chuyển đến Thọ Xuân, phần lớn là thông qua đường bộ, hiệu suất cực thấp.
Trước tiên phải triệu tập mấy chục vạn dân phu, mỗi người nhiều nhất chỉ có thể vận chuyển hai ba thạch lương thực, mà trên đường sẽ phải tiêu hao mất một nửa, tram vạn thạch lương thực khi chuyển đến Thọ Xuân sẽ chỉ còn lại năm mươi vạn thạch.
Đây cũng là lý do tại sao Tào Tháo nhất định phải xây dựng kênh đào từ Thọ Xuân đến Hợp Phì, chính là hy vọng thông qua vận chuyển đường thủy để giảm bớt hao phí vận tải lương thực.
Tuy nhiên đối tượng thật sự tiêu hao lương thực lại là binh lính, bình thường lương thực cho binh lính có hạn lượng, mỗi người chỉ được lĩnh một thăng gạo một ngày, nhiều nhất chỉ có thể ăn lửng dạ, nhưng binh lính thời chiến phải ăn no, ai cũng biết, muốn để binh lính bán mạng, nhất định phải để họ được ăn no.
Bởi vì đa phần không đủ nước, thêm vào đó sức hoạt động lớn nên lượng cơm của các binh lính đều rất lớn, mỗi người ít nhất tiêu hao hai thăng gạo một ngày, một tháng là sáu đấu gạo, tính cả tiêu hao thối rữa và chuột, côn trùng, mười lăm vạn binh lính một tháng sẽ phải tiêu hao gần mười vạn thạch lương thực, trong khi đó quân Tào chuẩn bị chiến tranh Hợp Phì đã tích lũy được gần năm mươi vạn thạch lương thực, theo tiêu hao bình thường có thể chống cự được nửa năm.
Nhưng trên thực tế, lương thực của quân Tào phân bố rất mất cân bằng, trong thành Hợp Phì tích trữ được ba mươi vạn thạch lương thực, còn chi viện cho Giang Đông mười vạn thạch lương thực, như vậy trên thực tế lương thực tồn của Thọ Xuân chỉ còn lại mười vạn thạch.
Lương thực của thành Hợp Phì có thể chống cực cho quân phòng thủ một năm, nhưng lương thực ở Thọ Xuân còn thiếu rất nhiều, chỉ sau hai tháng, lương thực ở đây đã tiêu hao hầu như không còn.
Đây cũng là lý do Tào Tháo lệnh cho Tào Phi nhanh chóng gom góp ba mươi vạn lương thực, nhưng kể cả chuẩn bị được số lượng này, trừ đi tiêu hao trên đường, vận chuyển đến quân doanh nhiều nhất cũng chỉ còn hai mươi vạn thạch, hai mươi vạn thạch lương thực này có thể chống đỡ được bao lâu?
Huống chi Tào Phi căn bản không gom góp nổi ba mươi vạn thạch lương thực, chỉ có hai mươi vạn thạch từ Hứa Xương và Từ Châu, vận chuyển đến quân doanh cũng chỉ còn mười lăm vạn thạch.
Chiến tranh chính là tiêu hao quốc lực như vậy, không có quốc lực lớn mạnh làm hậu thuẫn, không ai chống cự được chiến dịch lớn kéo dài mấy tháng, thậm chí là nửa năm.
Đã tới trung tuần tháng chín, lương thực từ Hứa Xương và Từ Châu chuyển đến cũng lần lượt tới Thọ Xuân, khiến cho tám vạn quân Tào ở đây cuối cùng đã bớt đi nỗi lo gián đoạn lương thực.
Lúc này, Tào Phi cũng đã tới Thọ Xuân để khuyên nhủ phụ thân về Nghiệp Đô dưỡng bệnh, bệnh tình của Tào Tháo đã kéo dài mấy tháng, chiến sự Hợp Phì kéo dài liên miên, thêm vào đó quân Hán xuất binh bốn phía, mang đến áp lực cực lớn cho Tào Tháo, khiến bệnh tình vừa mới chuyển biến tốt đẹp của lão lại lần nữa nặng thêm.
Trái với tình huống tưởng tượng của Tào Phi, Tào Thực dù đã đến Thọ Xuân thăm hỏi bệnh tình của phụ thân, nhưng Tào Tháo lại không cho hắn bất cứ cơ hội nắm binh nào, sau mười ngày ở lại Thọ Xuân, Tào Tháo đã đuổi Tào Thực quay về Hứa Xương.
Trong hành cung ở Thọ Xuân, Tào Phi ngồi trước giường bệnh của phụ thân, kể lại ba đề nghị của Tuân Du cho phụ thân nghe, sức khỏe của Tào Tháo rất yếu, có điều đầu óc lại hết sức tỉnh táo, lão gật đầu đáp:
- Tuân Du là đại tài hiếm có, chỉ có Quách Gia và Giả Hủ mới có thể sánh vai, ba đề nghị của ông ta rất đúng trọng tâm, tuy nhiên có một số việc cũng không đơn giản như ông ta nghĩ.
- Ý phụ thân là gì?
- Ta muốn nói đến quân Hán xuất binh Tịnh Châu, dù chúng đã rút quân, nhưng ta nghe được tin, quận Hà Đông cơ bản đã trở thành quận trống không, dân chúng đều bị quân Hán bắt đi, quận Hà Đông còn lại chưa tới ngàn người, dân chúng ở quận Thượng Đẳng cũng bị bắt đi một nửa, lương thực thì bị quân Hán thu hoạch mất, thành trì trống trải, ngàn dặm đồng hoang, Phi nhi, chúng ta tổn thất thê thảm quá!
Tào Phi lặng lẽ gật đầu, những việc này y đều biết, vốn định giấu phụ thân, không ngờ phụ thân cũng biết, lúc này Tào Tháo lại cười nói:
- Có điều ta không mắc mưu, không tăng binh cho Lạc Dương và Thái Nguyên, cũng không vận chuyển tiền lương, làm cho mưu đồ mở rộng chiến cuộc của Lưu Cảnh không thực hiện được, điều này khiến ta rất vui, đôi thi sự việc đến bất ngờ khiến ta luống cuống tay chân, nhưng chỉ cần thản nhiên xử trí, không được dễ dàng bị đột phát tình huống, như thế sẽ nhận ra rất nhiều việc tự nhiên sẽ biến mất, lần này quân Hán xuất binh tới Trung Nguyên chính là như vậy, chẳng qua là phô trương thanh thế mà thôi.
Trầm tư một lát, Tào Phi dè dặt hỏi:
- Phụ thân có thái độ thế nào đối với cuộc mua bán của người Tiên Ti?
Tào Tháo cười lạnh một tiếng:
- Vận chuyển sắt thô, vũ khí cho dân tộc thảo nguyên là việc làm ngu xuẩn nhất, hy vọng việc này về sau con không cần xin chỉ thị của ta lần nữa, con là thế tử, nên có đầu óc chính trị tối thiểu nhất, một khi người Tiên Ti cường thịnh, tắt sẽ là họa lớn của Trung Nguyên, con hiểu không?
Ánh mắt của Tào Tháo nghiêm khắc nhìn con trai chăm chú, Tào Phi đỏ bừng cả mặt, cúi đầu đáp:
- Lời dạy bảo của phụ thân, hài nhi khắc cốt ghi tâm.
Chương 962.2: Giằng co ở Hợp Phì.
Tào Tháo gật đầu:
- Về điểm này Lưu Cảnh làm rất tốt, trước đây sau khi hắn chinh phạt người Đê và người Khương liền nghiêm cấm họ khai thác quặng nấu sắt, tất cả thợ thủ công của Hà Tây đều di chuyển vào trong, càng nghiêm cấm thương nhân bán vật tư chiến lược như sắt thô, dầu hỏa cho Hà Tây và thảo nguyên, kẻ trái lệnh sẽ bị tội chết, Phi nhi, những điều này đều là nguyên tắc, bất luận Lưu Cảnh hay là chúng ta đều phải tuân theo.
- Hài nhi nhớ rồi.
Trầm ngâm một lát, Tào Phi lại hỏi:
- Phụ thân chuẩn bị cứ giằng co với Lưu Cảnh như vậy sao?
Tào Tháo cười khổ một tiếng:
- Thế làm sao bây giờ? Ta không thể từ bỏ Hợp Phì, hắn không chịu rút quân, chẳng lẽ bảo ta rút quân sao?
- Nhưng kéo dài tiếp như vậy cũng không phải là cách, có thể nhanh chóng quyết chiến được không, trong ngoài phối hợp với quân đội trong thành Hợp Phì, tiêu diệt quân Hán ở dưới thành?
Tào Tháo khẽ lắc đầu:
- chúng ta chỉ có mười ba vạn quân, còn quân Hán lại có mười lăm vạn, không nói đến chuyện có thể giành thắng lợi hay không, kể cả chiến lực của chúng ta thắng đối phương một bậc, nhưng Lưu Cảnh muốn quyết chiến với chúng ta không? Quân đội chúng ta tới, hắn sẽ rút đi bằng đường thủy, thậm chí vòng sang phía bắc đánh lén Thọ Xuân, đốt hết lương thực của chúng ta bằng một mồi lửa, Phi nhi, Lưu Cảnh thân kinh bách chiến, cực kỳ giảo quyệt, chúng ta không thể có chút sơ suất nào.
Tào Phi mãi không nói nên lời, lời của phụ thân mặc dù có lý, nhưng lại không thể giải quyết vấn đề của Hợp Phì, Tào Phi bỗng hiểu ra, thực ra phụ thân cũng không biết nên làm thế nào?
Tào Tháo nhắm mắt lại, một lúc lâu sau, lại chậm rãi nói:
- Quân Hán dùng kế sách giằng co, ở lại Thọ Xuân cũng không có ỹ nghĩa, ta vẫn nên quay về Nghiệp Đô, để con trấn giữ Thọ Xuân, không được manh động, lắng nghe ý kiến của Trình Quân sư một chút.
- Hài nhi hiểu.
- Còn phía Tôn Quyền!
Tào Tháo lại dặn dò Tào Phi:
- Hai tháng trước, ta gây áp lực với Tôn Quyền, lệnh cho hắn phải phối hợp với quân ta hành động, gần đây ta nghe được tin, Tôn Quyền đã bắt đầu hành động từ một tháng trước, con phải chú ý chặt chẽ, một khi Tôn Quyền thành công, chiến dịch Hợp Phì sẽ chuyển biến xấu.
Tào Phi vội hỏi:
- Quân Giang Đông sẽ có hành động gì ạ?
Tào Tháo mỉm cười:
- Gọi là kế rút củi dưới đáy nồi!
Lão thì thầm với Tào Phi mấy câu, giờ Tào Phi mới hiểu ra liền gật đầu:
- Hài nhi biết rồi, sẽ để ý chặt chẽ tới hành động của quân Giang Đông, một khi quân Hán rút lui, hài nhi sẽ phản công quy mô lớn.
- Không được!
Tào Tháo biến sắc mặt, nắm lấy tay con trai:
- Nếu như con phản công, ắt sẽ rơi vào bẫy của Lưu Cảnh, hắn sẽ tương kế tựu kế, dụ con mắc câu, con quyết không được truy kích, cứ để chúng rút đi.
Tào Phi sợ toát mồ hôi, liên tục gật đầu:
- Hài nhi nhớ rồi.
Tào Tháo chăm chú nhìn y một lúc lâu, vẫn cảm thấy lo lắng, lại nói tiếp:
- Bất cứ chuyện gì đều phải bàn bạc với Trình Quân sư, không được sự đồng ý của Trình Quân sư, con tuyệt đối không được tự tiện hành động!
Tào Tháo lập tức lại triệu Trình Dục đến, dặn dò ông ta năm lần bảy lượt, bảo ông ta trợ giúp Tào Phi trấn thủ Thọ Xuân, còn lệnh chư tướng nghe lệnh của thế tử, sắp xếp xong rất nhiều công việc trong quân, Tào Tháo liền khởi hành quay về Thọ Xuân.
Cho dù tin Tào Tháo rời khỏi Thọ Xuân ngay cả rất nhiều tướng sĩ quân Tào cũng không được biết, nhưng quân Hán lại biết việc này trước tiên.
Trong đại doanh của quân Hán, Bàng Thống vội vàng đến trước đại trướng của Lưu Cảnh, hỏi mấy tên thị vệ:
- Điện hạ có trong đó không?
- Điện hạ có, đang trao đổi quân vụ với Cam Tướng quân.
- Hãy bẩm báo hộ ta, ta có việc quan trọng cầu kiến điện hạ.
Thị vệ bước nhanh vào đại trướng, trong đại trướng, Lưu Cảnh đang bàn bạc chuyện thuyền hàng mất tích cùng với Cam Ninh ở trước sa bàn, đây là chuyện xảy ra gần đây, một số thuyền thàng vô cơ mất tích trên sông, khiến Lưu Cảnh phải cảnh giác.
Do chiến tranh bùng nổ, Trường Giang đã cấm thương thuyền và thuyền chở khách đi lại, chỉ có thuyền hàng của quân đội và thuyền quan có thể đi trên đó.
Đội thuyền hậu cần của quân Hán thường đi thành đội, mấy trăm thuyền tạo thành một đội, nối liền gần trăm dặm, nhất định sẽ có chiến thuyền bảo vệ, kể cả như thế, mỗi lần đội thuyền tới đích đều nhận ra thiếu một hai chiếc thuyền, chuyện này xảy ra liên tục ba lần, mà không biết thuyền mất tích ở đâu.
Tổn thất mặc dù không lớn, nhưng bản thân chuyện này đã đe dọa đến vận chuyển hậu cần của quân Hán, Lưu Cảnh quyết định để Cam Ninh đích thân ra mặt, giải quyết ẩn họa.
Lưu Cảnh nói với Cam Ninh đầy tình ý sâu sa:
- Tích ít sẽ thành họa, một khi vận chuyển hậu cần không thông suốt, sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ chiến cuộc, Cam tướng quân, chuyện này phải giao cho ngươi rồi.
Cam Ninh ôm tay đáp:
- Xin điện hạ yên tâm, ty chức sẽ đích thân đi theo thuyền, trong vòng một tháng sẽ tìm được nguyên nhân và giải quyết ẩn họa.
Lúc này, thị vệ bẩm báo ở cửa trướng:
- Khởi bẩm điện hạ, Bàng quân sư có việc quan trọng cầu kiến.
Lưu Cảnh gật đầu:
- Mời ông ta vào!
Một lát sau, Bàng Thống bước vào đại trướng, tiến nhanh lên thi lễ:
- Vi thần bái kiến điện hạ!
Lưu Cảnh dừng bàn bạc với Cam Ninh, cười hỏi Bàng Thống:
- Quân sư có việc gì quan trọng thế?
- Điện hạ, vi thần nhận được tin, Tào Tháo đã rời khỏi Thọ Xuân quay về Nghiệp Đô, hiện tại Thọ Xuân do Tào Phi trấn thủ.
Lưu Cảnh lập tức mỉm cười:
- Xem ra sức khỏe lão đúng là không chống đỡ nổi nữa, ta còn tưởng lão sẽ chống cự với ta đến cùng cơ!
Cam Ninh bên cạnh liền nói xen vào:
- Điện hạ, ty chức thấy, đây là Tào Tháo muốn để con trai lão gánh trách nhiệm chiến bại!
Lưu Cảnh khoát tay:
- Không thể nói như vậy, Tào Phi dù sao cũng là thế tử, thanh danh cũng rất quan trọng, nếu Tào Tháo có suy nghĩ này, chi bằng để Tào Chương chỉ huy, thật ra ta có thể hiểu, ngươi xem hiện giờ Tào Tháo bày trận ở các nơi, Tào Chương trấn thủ U Châu, Tào Hồng trấn giữ Nam Dương, Tào Nhân thủ Từ Châu, Tào Hưu giữ Thanh Châu, Hạ Hầu Đôn trấn giữ Trung Nguyên, Hạ Hầu Thượng thủ Tịnh Châu, toàn bộ đều là người trong gia tộc lão, quân quyền tuyệt đối không thoát ra ngoài, về phía Hợp Phì và Thọ Xuân, quân đội nhiều như thế, đương nhiên sẽ do đích thân lão trấn thủ, lão thực sự không duy trì nổi, đương nhiên là do thế tử Tào Phi tới thay thế, điều này chẳng phải rất bình thường sao?
Cam Ninh gật đầu:
- Điện hạ nếu không nói rõ, ty chức thật sự không chú ý đến, xem ra Tào Tháo đã không tin tưởng người ngoài nữa.
Lưu Cảnh cười lạnh một tiếng:
- Tào tháo mất đi trí tuệ làm hùng vương, trở thành chủ giữ thành, e rằng kể cả Quan Trung của ta không có bóng lính nào, lão cũng không dám dòm ngó nửa bước.
Lưu Cảnh nói lời này là do bộc phát, quân đội hắn xuất binh Tịnh Châu và Lạc Dương, toàn bộ Quan Trung chỉ có ba nghìn binh lính trấn thủ Trường An, nếu hắn là Tào Tháo, hắn sẽ lập tức phái binh vượt Hoàng Hà, từ đường thẳng tiến vào Quan Trung, khi đó quân Hán không cần chiến sẽ tự loạn, đáng tiếc cả Tào Tháo và Tào Phi đều không có ý định này, chứng tỏ họ đã không còn suy nghĩ tiến công, chỉ muốn làm thế nào giữ vững được một chút địa bàn, chiến lược như thế sao có thể lâu dài?
Lúc này, Bàng Thống nói:
- Thọ xuân đã chuyển cho Tào Phi trấn thủ, chúng ta có thể tấn công Thọ Xuân, thử thăm dò hư thực của Tào Phi được không?
Lưu Cảnh lại lắc đầu:
- Cho dù Táo Tháo thay đổi thế trận thế nào, chúng ta đều không cần hành động, tiếp tục giằng co với quân Tào, cứ kéo dài tới mùa đông, Tào Tháo đương nhiên sẽ phải cầu hòa với chúng ta.