Virtus's Reader
Binh Lâm Thiên Hạ

Chương 971: CHƯƠNG 971.2: GIẢ HỦ ĐÃ ĐẾN.

Một tháng nữa ở Hợp Phì lại trôi qua, bây giờ đã là tháng giêng năm Kiến An thứ 22, tính đến bây giờ cuộc chiến Hợp Phì đã kéo dài được hơn nửa năm rồi. Với thời gian dài như vậy, hai bên khó mà tránh khỏi được những tổn thất nặng nề: quân Tào bị mất đi gần bốn vạn người, còn quân Hán cũng bị tổn thất nặng nề không kém - hơn hai vạn binh sĩ, trước tình trạng này hai bên cũng không ngừng bổ sung quân tiếp viện, số quân chi viện từ đầu đến giờ đã lên tới 20 vạn binh sĩ.

Chiến dịch kéo dài hàng tháng trời này còn là một thử thách cực lớn đối với thực lực của mỗi nước. Lương thực dự trữ của quân Hán cũng không còn nhiều, chắc cũng chỉ đủ cho vài ba hôm nữa thôi, trước tình hình đó họ đành phải dùng dê bò đổi lấy lương thực của người dân, trước sau điều động hơn ba trăm ngàn dân phu, số tiền đồng và vàng ròng dùng để chi tiêu cho trận chiến này nhiều vô kể, đồng thời các loại binh khí quân tư cũng rơi vào tình trạng thiếu thốn, còn hơn mười vạn thùng dầu mà quân Hán dự trữ được lúc trước đến bây giờ chỉ còn lại chưa đầy hai vạn thùng.

Cũng rơi vào tình trạng khốn đốn như quân Hán, thậm chí tình hình bên nước Ngụy càng khủng hoảng hơn nhiều: quốc khố ở Nghiệp Đô đã cạn kiệt, cả nước đang đứng bên bờ vực sụp đổ, trong khi đó số lương thực và vật tư mà quân Tào cần thì lại quá nhiều, lúc nào cũng cần tiếp viện từ những nơi khác đến, ngay cả kho lương thực của Tào Nhân ở Từ Châu cũng bị điều động hết sạch.

Trận chiến Hợp Phì này, số lương thực mà quân Tào nhận được từ tiếp viện đã gần 150 vạn thạch, phải chiêu mộ thêm hơn 80 vạn dân phu, gần một nửa lương thực bị hao phí trên đường đi. Không chỉ có lương thực bị hao tổn mà ngân lượng và các loại vũ khí quân tư cũng dần dần bị chôn vùi trong cuộc chiến không có hồi kết. Trong khoảng thời gian khó khăn gian khổ này thì giá lương thực ở Nghiệp Đô lại đột ngột tăng cao, khiến cho lòng quân không vững, lòng dân oán thán.

Với mục đích gom góp quân lương mà quan phủ vùng Hà Bắc không ngừng vơ vét lương thực, tăng sưu thuế, chính điều này đã khiến cho cuộc sống của người dân ở đây vốn đã nghèo khổ nay còn nghèo khổ hơn. Cuộc sống lầm than khiến cho nhân dân ở khắp nơi nổi dậy khởi nghĩa, đặc biệt là đến cuối tháng 12, cường hào Cao Hám quận Bột Hải tạo phản ở Nam Bì, tư xưng là Bạch Y Thiên Tử, giết hại tham quan đoạt lại lương thực, trong mấy tháng ngắn ngủi, gã đã tập hợp được mấy vạn dân đói, thanh thế của gã nổi lên nhanh chóng.

Không chỉ ở quận Bột Hải mà ở quận Thường Sơn và quận Hà Gian cũng lần lượt nổi lên những cuộc khởi nghĩa nông dân, đối mặt với hiện thực này Tào Tháo bất đắc dĩ hạ lệnh cho Tào Chương thống lĩnh ba vạn quân U Châu đến Hà Bắc bình loạn.

Tại Nghiệp Đô, Trưởng sử Từ Dịch vội vàng bước vào đài Đổng Tước, rồi đi thẳng đến trước Hồi Xuân Đường - nơi Tào Tháo đang dưỡng bệnh. Tên thị vệ nghe xong liền quay vào bẩm báo, không lâu sau bước ra nói với Từ Dịch:

- Từ trưởng sử, Ngụy công mời ngài vào trong.

Từ Dịch thở phào một cái, cuối cùng thì Ngụy công đã đồng ý gặp y rồi, y vội vàng bước vào trong. Từ Dịch chính là tâm phúc được Tào Tháo tín nhiệm nhất, trước khi Tào Phi lên nắm binh quyền, mỗi lần Tào Tháo đích thân xuất chinh đều giao cho y toàn quyền xử lý chính vụ, rồi đến bây giờ khi Tào Phi đang trấn thủ ở Thọ Xuân, sức khỏe của Tào Tháo không được tốt lắm thì một lần nữa trọng quyền xử lý chính vụ lại do một mình y gánh vác.

Chỉ có điều lần này, Từ Dịch phải chịu quá nhiều áp lực: cục diện chính trị trong ngoài nước Ngụy đang khiến y đau đầu, khổ não, y đã mấy lần khuyên Tào Tháo nên từ bỏ chiến dịch Hợp Phì nhưng Tào Tháo lại nhất quyết không nghe, không những thế còn không ngừng tăng tiếp viện cho Hợp Phì, cuối cùng cũng vì chuyện này mà lão không muốn gặp Từ Dịch. Lần này Từ Dịch đến tiếp kiến đã là lần thứ ba rồi, ông trời đúng là không phụ người có lòng, cuối cùng Tào Tháo đã đồng ý gặp Từ Dịch.

Tuy rằng quốc khố của nước Ngụy đang bị cạn kiệt, cục diện chính trị nguy cấp nhưng bệnh tình của Tào Tháo lại không nghiêm trọng hơn, không chỉ vậy bệnh tình của lão lại có một vài dấu hiệu tốt lên. Thêm vào đó, người con thứ của Tào Tháo - Tào Chương không phụ lòng kỳ vọng của lão, dẹp được đám loạn dân tạo phản ở Hà Bắc, cũng chính Tào Chương là người tự tay giết chết tên trùm thổ phỉ Cao Hám, những điều này khiến cho Tào Tháo rất vui mừng.

Nhưng buổi sáng hôm nay, Tào Tháo vừa nhận được thư khẩn của Tào Phi, trong thư Tào Phi lần đầu đề cập đến chuyện chấm dứt chiến dịch Hợp Phì, nguyên nhân là do sĩ khí quân Tào yếu đuối, tinh thần uể oải, chán ghét chiến tranh, hơn nữa số binh lính bỏ trốn đã hơn 6 nghìn người, trong đó số binh lính Hà Bắc là nhiều nhất, chừng hơn bốn nghìn người gì đó.

Càng nghiêm trọng hơn là số dầu hỏa trong thành Hợp Phì đã hết, máy bắn đá thì có đến tám phần là hư hỏng nặng, không thể cản nổi sự tấn công của quân Hán, cũng như phá hỏng cầu nổi của đối phương. Trong khi đó, những chiến thuyền quân Hán trên sông bảo vệ thành cứ thế được đà diễu võ dương oai, chẳng hạn như hai ngày trước, tướng thủ phía tây thành Hợp Phì đã đầu hàng quân Hán, cho quân Hán tấn công vào thành, buộc Tào Nhân phải đích thân ra trận, hơn nữa là anh dũng chiến đấu lắm mới có thể đánh lui quân Hán, bảo vệ được tây thành không bị thất thủ.

Không chỉ có thế, lương thực của Hợp Phì chỉ có thể duy trì được khoảng một tháng nữa, trong khi đó số lương thực ở Thọ Xuân cũng sắp hết, Tào Phi hi vọng có thể nhận được thêm 30 vạn thạch lương thực, nhưng nếu như tình hình không cho phép thì Tào Phi đề nghị cho phép kết thúc chiến dịch Hợp Phì.

Thực ra không phải Tào Tháo không biết gì, nhất là chuyện quốc khố của nước Ngụy không bằng với nước Hán, cũng không phải không biết Hợp Phì sớm muộn gì cũng sẽ rơi vào tay kẻ địch, chỉ là Tào Tháo đã có cách nghĩ riêng, lão hi vọng trận Hợp Phì kết thúc sẽ kéo theo sự sụp đổ của nước Hán, đồng thời khiến cho quân Hán không thể tấn công Giang Đông một lần nữa, cũng là kéo dài thời gian để Giang Đông khôi phục binh lực.

Tào Tháo hiểu rất rõ tầm quan trọng của Giang Đông, chỉ cần Giang Đông vẫn còn tồn tại, Lưu Cảnh sẽ không dám ngang nhiên tấn công nước Ngụy, nhưng một khi mất Giang Đông, Lưu Cảnh lại tiêu diệt được Lưu Bị, thống nhất phương nam, nước Ngụy sao tránh khỏi nguy hiểm.

Nhưng hiện thực vô tình đã đập tan tia hi vọng cuối cùng của lão, với tình hình như bây giờ, bất kể là quốc khố hay quân đội thì nước Ngụy cũng sắp không trụ được rồi.

Đang suy nghĩ miên man thì Từ Dịch bước vào trong, khom người, kính cẩn hành lễ:

- Vi thân tham kiến Ngụy công.

Tào Tháo thấy y gầy đi rất nhiều, cứ như già đi đến chục tuổi vậy, trong lòng không tránh được sự thương tâm, nhẹ nhàng nói với y:

- Thời gian này, đúng là vất vả cho Trưởng sử rồi.

Nghe được câu nói này từ Tào Tháo, Từ Dịch thấy mũi mình hơi cay, suýt nữa thì rơi nước mắt, giọng y run lên:

- Vi thân có khổ thêm, mệt thêm chút nữa cũng không sao, chỉ có điều nước Ngụy sắp không trụ được nữa rồi, không thể nào cắt giảm thêm được nữa, một ngày cũng chỉ được ăn hai bữa.

- Đám rác rưởi đó đúng là chỉ biết tốn cơm tốn gạo thôi!

Tào Tháo lạnh lùng hừ mạnh một tiếng, sau đó lão lại hỏi tiếp:

- Hiện tại chúng ta còn lại bao nhiêu lương thực nữa?

- Hồi bẩm Ngụy công, lương thực đã hết.

- Trong kho không phải là vẫn còn hai mươi vạn thạch nữa hay sao? – Tào Tháo nổi giận.

Từ Dịch sợ quá, chỉ biết cuống quít dập đầu:

- Ngụy công, đó chính là chỗ lương thực cuối cùng duy trì mạng sống của chúng ta, nếu bây giờ chúng ta lại tiếp viện cho Hợp Phì, chỉ sợ sau đó đến thần cũng phải chết đói mất.

Tào Tháo trừng mắt nhìn y, cuối cùng lão cũng phải từ bỏ cái ý nghĩ điều lương thực đến Hợp Phì, yên lặng một lúc rồi lão hỏi tiếp:

- Tình hình nước Hán bây giờ như thế nào?

- Tình hình của nước Hán tuy rằng cũng không được tốt lắm nhưng vẫn mạnh hơn chúng ta rất nhiều, ít nhất bọn chúng cũng còn mấy trăm vạn con dê bò, bây giờ lại là mùa đông nên rất thuận lợi cho việc vận chuyển thịt dê bò, đủ để đảm bảo lương thực cho quân binh.

Nghe những lời này khiến Tào Tháo bất mãn trong lòng:

- Ta hỏi là tình hình nước Hán bây giờ như thế nào? Mà như vậy đi, ngươi nói cho ta biết giá gạo ở Trường An bây giờ là bao nhiêu?

- Trường An sớm đã thực hiện chính sách phân phối lương thực, không cho phép việc mua bán lương thực, bao gồm cả trẻ nhỏ, mỗi ngày mỗi người sẽ đi lĩnh nửa thăng gạo, không chỉ vậy số dân đói khi đến Trường An cũng được đối xử như vậy, thậm chí khắp các con phố ở Trường An mỗi ngày vẫn có canh thịt dê để cung cấp cho dân chúng.

Tào Tháo khoanh tay đi qua đi lại trong phòng, đột nhiên lão dừng lại, nhìn lên trần nhà, rồi lại thở dài một cái:

- Ta đã quyết định chấm dứt chiến dịch Hợp Phì.

Chương 972.1: Đàm phán lần đầu.

Tào Tháo quyết định đàm phán hòa bình, đồng thời giao toàn quyền quyết định cho Thế tử Tào Phi trong lần đàm phán này. Trên thực tế, đây chính là một minh chứng hùng hồn cho việc thất bại thảm hại của quân Tào, đơn giản với tình hình quốc lực như bây giờ của nước Ngụy thì cầu hòa là một sự lựa chọn tất yếu.

Tào Tháo cũng hiểu rất rõ, thất bại ở Hợp Phì là điều khó tránh, nhưng nếu có thể bảo vệ được Thọ Xuân thì ở Hoài Hà vẫn có thể lấy phía nam làm cơ sở bảo vệ, càng quan trọng hơn là nhân dân ở Hợp Phì có thể di chuyển đến Thọ Xuân, giúp Thọ Xuân trở thành một tòa đại thành với hơn hai mươi vạn nhân khẩu.

Thọ Xuân, bất luận là về địa vị hay thực lực đều không thể so sánh được với Hợp Phì. Chuyện từ bỏ Hợp Phì, quay sang bảo vệ Thọ Xuân vẫn có thể giúp quân Tào có một tầm ảnh hưởng nhất định ở phía đông nam. Mặc dù vị trí chiến lược của Thọ Xuân trong vấn đề liên quan đến Giang Đông không thể bằng Hợp Phì nhưng phía sau Thọ Xuân là Hoài Hà, chỉ cần Thọ Xuân không thất thủ, cho dù quân Hán có muốn vượt Hoài Hà để lên Bắc Thượng Trung Nguyên cũng sẽ không dễ dàng như vậy. Ở phương diện này, Thọ Xuân cũng có vị trí chiến lược nhất định.

Đây chính là tính toán của Tào Tháo, từ bỏ Hợp Phì, bảo vệ Thọ Xuân, khiến cho quân Hán cũng rơi vào tình trạng quốc khố cạn kiệt, không thể không kí kết hiệp ước cầu hòa, chấp nhận để sức ảnh hưởng của quân Tào ở vùng phía nam sông Hoài.

Tuy rằng Tào Tháo suy nghĩ rất chu toàn nhưng Lưu Cảnh cũng chưa hẳn sẽ đồng ý, quân Hán đã phải dành cả một năm trời, dồn hết quốc lực vào chiến dịch Hợp Phì này, mục đích không đơn giản chỉ là muốn giành lấy quyền chủ đạo ở Giang Đông.

Tầng ý nghĩa sâu xa của chiến dịch Hợp Phì chính là ở chỗ tranh giành Giang Hoài, một khi cướp được Hợp Phì, hai bên Ngụy - Hán sẽ không lấy Trường Giang làm ranh giới phân chia nữa, mà ranh giới phân chia sẽ được dịch chuyển lên sông Hoài. Chuyện thay đổi đường ranh giới có liên quan rất mật thiết với việc giành được quận Nam Dương hay không.

Cho nên, chiến dịch Hợp Phì hoàn toàn không chỉ bao gồm có duy nhất một thành Hợp Phì, mà nó còn bao gồm cả Thọ Xuân, thậm chí có liên quan đến phía đông của thành Quảng Lăng, nói cách khác nó bao gồm tất cả các khu vực thuộc Giang Hoài, chỉ là đặt chiến trường ở thành Hợp Phì mà thôi. Nếu như, Tào Tháo phải nhận thua trong chiến dịch Hợp Phì lần này thì đồng nghĩa với việc lão sẽ mất luôn Thọ Xuân. Đây mới chính là những gì mà Lưu Cảnh hướng tới.

Hai bên đều có suy nghĩ riêng của mình, điều này có nghĩa là chỉ có thể tiến hành thương lượng trên bàn đàm phán mà thôi.

Buổi sáng hôm nay, một đội kỵ binh của quân Tào đi theo bảo vệ Tham quân Tế tửu Vương Lãng đến đại doanh quân Hán ở ngoài thành Hợp Phì. Vương Lãng năm nay khoảng 60 tuổi, đã từng giữ chức Thái thú ở quận Hội Kê, sau khi Tôn Sách tấn công Hội Kê, Vương Lãng phải vất vả lắm mới có thể quay về triều đình, đảm nhiệm chức vụ Gián Nghị Đại Phu, giữ chức Tham tư không quân sự, sau đó lại được bổ nhiệm chức Thái thú Ngụy Quận, lần này theo Tào Phi xuôi nam, ông ta được phong chức Tham quân tế tửu.

Vương Lãng là một trong những tâm phúc của Tào Phi, lần này ông ta đảm nhiệm Tham quân Tế tửu, chính là vị trí nắm được quyền chính vụ của quân Tào, dựa vào quân quyền Tào Phi đang hoàn toàn nắm trong tay, lần này nhận được chỉ thị của Tào Phi đến đàm phán với quân Hán để kết thúc chiến dịch Hợp Phì.

Trước đại doanh của quân Hán, quân sư Pháp Chính đã đợi ở đó rất lâu rồi. Nhìn thấy Vương Lãng đến, Pháp Chính liền niềm nở chạy ra tiếp đón:

- Vương công đi đường vất vả rồi.

Vương Lãng vội vàng xoay người, xuống ngựa sau đó cúi người hành lễ, vô cùng khách khí nói:

- Để Pháp quân sư phải đợi lâu rồi.

Con người của Vương Lãng hoàn toàn không có thành kiến với quân Hán, hơn nữa khi quân Hán chiếm được quận Hội Kê, khiến quân Giang Đông thất bại trở về, nếu xét về một khía cạnh nào đó thì Vương Lãng cũng giải tỏa được những uất ức ông ta đã giấu kín nhiều năm.

- Xin hỏi Hán Vương Điện hạ có ở trong quân doanh hay không? - Vương Lãng vừa cười vừa hỏi.

- Hán Vương Điện hạ đang ở Sào Hồ, hôm nay tạm thời không có mặt ở quân doanh.

Câu trả lời của Pháp Chính khiến cho Vương Lãng tỉnh mộng, ý của Pháp Chính là hôm nay cũng không phải là một ngày thích hợp để chính thức đàm phán với quân Hán. Cả hai bên bây giờ đều đang thám thính tình hình của nhau, Vương Lãng cười thầm đáp lại:

- Thế tử nhà chúng tôi hi vọng có thể sớm gặp được Hán Vương Điện hạ.

- Đây cũng chính là mong muốn của chúng tôi mà, Vương công, mời!

- Mời!

Pháp Chính mời Vương Lãng cùng Phó sứ Trần Kiểu vào trong đại doanh của quân Hán, bước đến thiên trướng hai bên phân chia chủ khách ngồi thành hai dãy: bên quân Hán người đồng hành với Pháp Chính còn có Chủ bạc Tần Mật, cả hai bên đều có Phó sứ, hơn nữa những người này đều là những nhân vật quan trọng, tầm cỡ, tất cả đều thể hiện sự quan tâm, coi trọng của hai bên đối với lần đàm phán này.

Lúc binh lính dâng trà nóng lên, Pháp Chính liền vui vẻ mở lời:

- Nghe nói Hà Bắc đã đón trận tuyết thứ hai rồi, xem ra mùa đông năm nay có vẻ đến hơi muộn thì phải.

- So với năm trước, mùa đông năm nay đến quả thực là hơi muộn, hơn nữa năm nay mới chỉ đón có hai trận mưa tuyết, nếu là năm ngoái thì chắc bây giờ đã đón ba trận bão tuyết cũng nên ấy chứ. Vả lại ảnh hưởng của mấy trận mưa tuyết nhỏ này đến giao thông đi lại là không lớn, không đáng để bận tâm.

Vương Lãng cố gắng không nhắc đến những bất lợi mà quân Tào gặp phải có liên quan đến thời tiết. Tuy là không nói nhưng trong lòng cả hai bên đều hiểu rất rõ, một khi có trận mưa tuyết thứ hai thì trận mưa tuyết thứ ba chẳng mấy chốc nữa sẽ đến. Hơn nữa đây cũng không đơn giản chỉ là một trận mưa tuyết, bởi nếu đây là một trận mưa tuyết lớn thì sẽ trở thành một trở ngại không nhỏ cho việc vận chuyển lương thực của quân Tào.

Đương nhiên, Lưu Cảnh vẫn chưa biết sự thực là lương thực của quân Tào đã hết, chuyện này chính là tin tình báo tuyệt mật của quân Tào, nếu như hắn biết được tin này thì hắn có nhất định sẽ cự tuyệt việc đàm phán với quân Tào, thay vào đó là tiếp tục tấn công, bao vây Hợp Phì, ép quân Tào phải hoàn toàn nhượng bộ hay không?

Trên thực tế, số lượng lương thực còn lại của quân Hán cũng chỉ đủ để duy trì đến đầu tháng hai. Nếu như đầu tháng hai mà số lương thực ở Sài Tang chưa vận chuyển đến thì quân Hán ở Hợp Phì sẽ không có gì mà ăn. Thông tin này cũng là tin tuyệt mật của quân Hán, và đương nhiên quân Tào cũng chưa hay biết.

Sau khi hai bên hàn huyên vài câu liền bắt đầu ngay vào vấn đề chính, Vương Lãng hắng giọng một cái rồi lên tiếng:

- Chiến dịch Hợp Phì kéo dài cũng được một năm rồi, chuyện này ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của bách tính trong thiên hạ, Ngụy công không đành lòng nhìn dân chúng tiếp tục phải chịu cảnh lầm than này nữa, nên đã mạnh dạn đề nghị hai bên cùng kết thúc chiến dịch Hợp Phì, hi vọng có thể nhận được sự ủng hộ từ phía quân Hán.

Nghe xong, Pháp Chính khẽ cười đáp lại:

- Vụ xuân cũng sắp tới rồi, Hán Vương nhà chúng tôi cũng nguyện ý kết thúc chiến dịch Hợp Phì, ủng hộ đề nghị của Ngụy công.

Cả hai bên đều đã thể hiện thái độ đồng ý kết thúc chiến dịch Hợp Phì rồi, nhưng chủ động đưa ra ý kiến này vẫn là bên quân Tào. Điều này có nghĩa quân Tào là người chủ động cầu hòa, nên quân Tào lần này nhất định phải nhượng bộ rồi, điểm này thì cả hai bên đều đã rõ, không cần phải nói ra.

Chương 972.2: Đàm phán lần đầu.

Vương Lãng trầm ngâm một chút rồi mới nói tiếp:

- Để bày tỏ thành ý của quân Tào, Ngụy công nhà chúng tôi nguyện ý nhượng lại Hợp Phì, rút quân về Thọ Xuân. Ngụy công cũng đề nghị rằng lấy huyện Thành Đức làm ranh giới phân chia, từ huyện Thành Đức xuôi về phía nam là của quân Hán, bao gồm cả vùng đất thuộc huyện Thành Đức, từ phía bắc trở lên sẽ là địa phận của nước Ngụy, không biết bên quân Hán các ngài có đồng ý với kiến nghị này của Ngụy Công hay không?

Ẩn ý sâu xa mà Vương Lãng muốn nói với Pháp Chính là quân Tào nhiều nhất cũng chỉ có thể nhượng huyện Thành Đức cho quân Hán mà thôi, đây chính là điều kiện nhượng bộ chưa nói ra của quân Tào.

Nghe vậy Pháp Chính chỉ biết lắc đầu mà rằng:

- Chúng tôi không cho rằng đấy chính là thành ý của Ngụy công, nếu như Ngụy công đúng là có thành ý như vậy thì chắc chắn sẽ lấy sông Hoài làm ranh giới phân chia, và nếu đúng như vậy thì quân Hán chúng tôi xin đảm bảo rằng, trong vòng hai năm quân Hán chúng tôi sẽ không vượt qua sông Hoài dù chỉ một bước.

Câu nói này của y lập tức khiến Vương Lãng thay đổi sắc mặt, đối phương quả nhiên muốn chiếm lấy Thọ Xuân, chuyện này thì tuyệt đối không thể! Ông ta vội quay sang phía Trần Kiểu nháy mắt với y. Trần Kiểu nhận được tín hiệu, hiểu ý ngay, lập tức nghiêm nghị cất giọng:

- Hợp Phì là yếu địa chiến lược thứ nhất của trận Giang Hoài, để bảo vệ Hợp Phì quân Tào đã dốc toàn bộ sức người sức của, thêm vào đó là cái giá quá đắt gây ra cái chết thảm của hàng vạn người, hiện tạ Hợp Phì vẫn còn trong tay quân Tào, chúng tôi đã vì bách tính trong thiên hạ, nguyện ý chủ động nhường lại Hợp Phì, chỉ tính riêng chuyện này cũng đã đủ để thể hiện thành ý của chúng tôi, hà cớ gì mà quân Hán các ngài vẫn có tư tưởng lòng tham không đáy, được voi đòi tiên như vậy?

Phó sứ quân Hán - Tần Mật cũng không khách khí mà đáp lại:

- Những lời vừa rồi của Trần trưởng sử đúng là hơi quá lời rồi, bây giờ Hợp Phì chẳng qua cũng chỉ là một thành trống, vậy thì chúng tôi cần một thành trống để làm gì? Nếu như chúng tôi chỉ muốn một thành trống thì hoàn toàn có thể xây dựng một Tân Hợp Phì là xong, hà tất phải bỏ ra nhiều nhân lực vật lực như vậy, mà cuối cùng lại chỉ chiếm được một tòa thành không? Hợp Phì bây giờ chẳng qua chỉ là một bãi chiến trường của Giang Hoài, quân Tào nếu như thực sự muốn kết thúc chiến dịch này, theo như tôi nghĩ các ngài nhất định phải nhường lại Giang Hoài.

Bất đồng quá lớn, hiện tại cả hai bên đều không muốn nhượng bộ nhau nữa, mãi một lúc sau mới thấy Vương Lãng lên tiếng:

- Quân Hán giành được Hợp Phì thì cũng đồng nghĩa với việc quân Tào mất quyền can thiệp vào Giang Đông, nếu như có một ngày Giang Đông xảy ra chiến sự, quân Tào cũng sẽ không nhúng tay tham dự, chỉ hi vọng Hán Vương Điện hạ có thể nghĩ đến đại cục, cho triều đình chúng tôi chút thể diện.

Lúc nãy thôi vẫn còn nói là Tào Ngụy nhưng đến bây giờ lại lôi cả triều đình vào cuộc, với ý đồ lấy triều đình ra để dọa nước Hán, điều này không khỏi khiến Pháp Chính cười nhạt một cái, đương nhiên là y hiểu ý đồ của Vương Lãng. Vương Lãng thực ra muốn lấy lí do quân Tào sẽ không can thiệp vào Giang Đông để nhượng bộ, nhưng đây đâu có phải là nhượng bộ, hơn nữa đây chính là kết quả tất yếu của chiến dịch Hợp Phì.

- Nhưng theo tôi được biết, Vu Cấm vẫn còn thống lĩnh hai vạn quân Tào trấn giữ quận Bì Lăng, cái này cũng được gọi là không can thiệp đến Giang Đông à? - Pháp Chính dùng giọng điệu mỉa mai hỏi lại.

Giang Đông mặc dù không có chiến thuyền lớn, nhưng vẫn còn một bộ phận dân cư dùng thuyền để buôn bán, nếu như quân Tào muốn rút khỏi Giang Đông thì cũng không phải là khó khăn gì, chỉ cần trực tiếp dùng những chiếc thuyền buôn đó chở binh lính qua sông là được, sau đó quân Tào có thể từ Giang Bắc quay về quận Quảng Lăng thậm chí là quay về quận Từ Châu cũng được. Nhưng quân Tào vẫn chưa có động tĩnh gì ở Giang Đông, điều này chứng tỏ Tào Tháo vẫn muốn lợi dụng đội quân này để bình ổn Giang Đông, phòng ngừa quân Hán sẽ hoàn toàn chiếm lấy Ngô Quận.

Vương Lãng gật gật đầu cười nói:

- Ta hiểu được nỗi lo lắng này của Pháp quân sư, thật ra lúc nãy ta cũng nói rồi, nếu như quân Hán có thể tiếp nhận thành ý của Ngụy công, thì chúng ta nhất định sẽ rút quân khỏi Giang Đông, đây chính là lời hứa của Ngụy công.

Nghe được câu nói này, Pháp Chính lại thản nhiên như không:

- Hán Vương Điện hạ chỉ có một yêu cầu duy nhất là lấy sông Hoài làm ranh giới phân chia, cho dù quân Tào có đồng ý rút quân khỏi Giang Đông hay không thì đó là chuyện của quân Tào, không hề liên quan đến buổi đàm phán lần này. Chúng ta không cần phải nói đến những chuyện xa vời đó, nếu không thì vấn đề của chúng ta sẽ đi đến Tịnh Châu, nếu như vậy thì lần đàm phán này sẽ không còn có ý nghĩa nữa, Vương công thấy sao?

Lời vừa dứt thì cả hai bên đều không nói gì nữa, vẫn là chưa tìm được lối đi chung, Vương Lãng vẫn cứng đầu mượn cớ về xin chỉ thị của Thế tử làm lý do thoái thác, rồi sau đó cáo biệt. Pháp Chính cũng đành phải tiễn ông ta ra về, rồi nhanh chóng đi vào lều của Hán vương Lưu Cảnh bẩm báo tình hình buổi đàm phán.

Lưu Cảnh đứng khoanh tay trước sa bàn, cố không cho phép bản thân được bộc lộ bất cứ cảm xúc gì khi nghe xong báo cáo của Pháp Chính. Hắn tin rằng thái độ của Vương Lãng hôm nay không phải là suy nghĩ của Tào Phi, mà chính là chỉ thị của riêng Tào Tháo mà thôi. Nói như vậy có nghĩa là Lưu Cảnh đã lường trước được thái độ này của Tào Tháo, lão ta vẫn luôn muốn treo đầu dê bán thịt chó, từ bỏ Hợp Phì để bảo vệ Thọ Xuân. Từ chuyện này có thể thấy rằng Tào Tháo càng già càng trở nên hồ đồ, lão ta thực sự cho rằng bản thân có thể làm chủ được thành Hợp Phì sao?

Trầm ngâm một lát, Lưu Cảnh hỏi:

- Thế còn ý kiến của Hiếu Trực thì sao?

Pháp Chính chần chừ một chút rồi mới đáp lại:

- Vi thần suy đi nghĩ lại rất nhiều lần, chuyện quân Tào không chịu nhường lại Thọ Xuân chưa chắc đã là chủ ý của Tào Phi, có lẽ đây chính là chỉ thị của Tào Tháo.

- Ý của Hiếu Trực là, cha con Tào Tháo bất đồng ý kiến? - Lưu Cảnh cười cười nói.

- Vâng, đối với Tào Phi nói, chuyện từ bỏ Thọ Xuân đương nhiên y không nỡ, nhưng nếu đem so sánh với binh quyền trong tay y bây giờ thì Thọ Xuân chẳng là cái gì cả.

Lưu Cảnh hiểu được ý của Pháp Chính, đối với Tào Phi, quan trọng nhất vẫn là bảo toàn quân của Tào Nhân, chứ không phải là giữ lấy Thọ Xuân. Hắn có thể lợi dụng điểm này để gây sức ép với Tào Phi buộc Tào Phi phải đến tìm Tào Tháo thương lượng.

Nghĩ đến đây, Lưu Cảnh lập tức hạ lệnh:

- Mời Hoàng lão tướng quân đến gặp ta!

Một lát sau, Hoàng Trung vội vàng bước vào, chắp tay cung kính hành lễ:

- Điện hạ xin cứ hạ lệnh!

Lưu Cảnh khoanh tay lạnh lùng nói:

- Từ bây giờ trở đi, gia tăng tiến độ tấn công Hợp Phì cho ta, không quan trọng việc thắng thua, chỉ cần hao tổn lực lượng quân Tào là được.

- Ty chức tuân lệnh!

Vừa dứt lời, Hoàng Trung liền vội vàng đi ra, Lưu Cảnh lại đi đến phía trước bàn, cầm túi gấm trên bàn lên. Đây chính là chiếc túi gấm mà năm ngoái trước khi Giả Hủ trở về Trường An đã đưa cho Lưu Cảnh, trong đó có cất giữ cẩm nang diệu kế chỉ được mở khi sang đầu năm mới. Thực ra thì hắn đã xem qua rồi, chỉ là hắn luôn trông ngóng đến lúc có thể thực hiện diệu kế này, bây giờ cuối cùng thì thời cơ cũng chín muồi rồi.

Chương 973.1: Từ Châu thất thủ.

Từ Châu là một châu khá nhỏ ở phía đông của Trung Nguyên, hạ hạt gồm bốn quận Lang Gia, Đông Hải, Bành Thành, Hạ Bì, trong buổi chiến loạn cuối thời Hán, Từ Châu cũng trải qua kiếp nạn, dân số tổn thất cực lớn, rất nhiều người đã chạy trốn tới Giang Đông và Kinh Châu, đến nỗi hàng ngàn dặm của Từ Châu không có tiếng gà gáy, dân cư sinh sống chỉ còn lại thưa thớt.

Tuy nhiên sau khi Tào Tháo thống nhất phương bắc, Từ Châu cũng theo đó yên ổn trở lại, mười mấy năm nay, dân số sinh sôi, đất hoang được khai khẩn, dần dần khôi phục sức sống.

Từ Châu là nơi đóng quân của Tào Nhân, khi nhiều nhất, Từ Châu có tới tám vạn trú binh, ba mươi vạn thạch quân lương, cùng với việc đại chiến Hợp Phì kéo dài quá lâu khiến Từ Châu cũng bị ảnh hưởng rất lớn, toàn bộ quân đội bị điều đi Thọ Xuân, quân lương cũng bị điều đi hết, lần lượt còn trưng tập năm vạn dân phu, khắp trên dưới Từ Châu đều rơi vào nỗi sợ hãi chiến tranh.

Trước mắt cả khu vực Từ Châu có ba nghìn trú quân, phòng ngự vô cùng trống rỗng, lúc này, tiêu điểm của hai quân Hán và Tào đều tập trung ở Thọ Xuân và Hợp Phì, toàn bộ khu vực Trung Nguyên ngoài Hứa Xương có hai vạn trú quân của Hạ Hầu Đôn ra, các quận huyện còn lại đều không có quân đội đóng giữ, chỉ có một số quân binh phụ trách duy trì trật tự.

Buổi chiều hôm nay, ở huyện Trúc Ấp điểm giao giới giữa Tiếu Quận và quận Bành Thành, một đội quân khoảng vạn người đang trên đường hăng hái hành quân về phía bắc, đội quân này do Đại tướng Ngụy Diên dẫn đầu với một vạn quân Hán, phụng mệnh của Lưu Cảnh đánh lén Từ Châu.

Hành động đánh lén Từ Châu lần này chính là kế sách đặt trong túi gấm của Giả Hủ, dùng Từ Châu để đổi lấy nhượng bộ đàm phán hòa bình ở mức độ lớn nhất của quân Tào.

Giả Hủ biết nhiều nhất Tào Tháo chỉ chống cự được một tháng nữa, sau năm mới, mọi phương diện đều cần lương thực, nguy cơ của Tào Ngụy sẽ bùng nổ lúc này, Tào Tháo dù thế nào cũng sẽ không thể tiếp tục chống đỡ, chỉ có cầu hòa kết thúc chiến tranh ở Hợp Phì.

Đương nhiên, quân Hán cũng có thể dùng cách không chịu đàm phán hòa bình, tiếp tục tấn công để ép quân Tào nhượng bộ, nhưng nếu có thể giành được Từ Châu thì sẽ thêm đòn bí mật quan trọng trong đàm phán của quân Hán, đến khi đó sẽ không phải đơn giản là chỉ nhượng một thành Hợp Phì như thế.

Hơn nữa chiếm lấy Từ Châu, bước tiếp theo của quân Hán đã có đường sống lựa chọn chiến lược, khiến quân Tào không đám dễ dàng trợ giúp Giang Đông, đây chính là kế một mũi tên trúng hai con chim của Giả Hủ.

Ngụy Diên nhìn bầu trời, ít nhất còn một canh giờ nữa là trời tối, y lập tức ra lệnh:

- Tăng tốc mau, dừng chân hạ doanh trại sau khi trời tối!

Một vạn quân Hán tăng nhanh tốc độ, tiến về phía quận Bành Thành.

Châu trị của Từ Châu là huyện Bành Thành, cũng chính là Từ Châu ngày nay, từ sau khi Lã Bố bị Tào Tháo tiêu diệt, huyện Bành Thành cũng bị hủy hoại trong loạn quân, sau này lại được xây thành tu sửa lần nữa, khôi phục huyện thành.

Về sau Tào Nhân đóng quân ở Bành Thành, gã cũng thấy thành trì quá thấp, bất lợi cho phòng ngự, liền hạ lệnh chiêu mộ ba vạn dân phu xây tường thành cao và rộng thêm, cho dù đã qua hai lần đại tu nhưng so với Bành Thành khi ở thời đại của Lã Bố thì thành trì hiện giờ vẫn không đủ cao và rộng lớn, đương nhiên đối phó với kẻ trộm như vậy cũng là đủ rồi.

Hiện tại chủ tướng đóng giữ ở Bành Thành tên là Chu Lương, là thuộc cấp của Tào Tháo, đầu tiên là cấp dưới của Viên Thiệu, sau đại chiến Quan Độ gã đã đầu hàng Tào Tháo và được phân làm thuộc hạ của Tào Nhân.

Sau khi đại quân của Tào Nhân đi tới Hợp Phì, Bành Thành chỉ còn lại ba nghìn quân đóng giữ, Chu Lương cũng có chút lo lắng, phòng ngự của Từ Châu trống không, một khi quân Hán tấn công Từ Châu, chỉ sợ quân đội của gã khó mà chống lại.

Tuy nhiên theo thời gian từng ngày trôi qua, nỗi lo của gã cũng tiêu tan bớt, sau khi qua năm mới, gã hoàn toàn không lo âu gì cả, cả ngày chìm trong tửu sắc, rất ít hỏi đến phòng thủ thành trì.

Hiện gã là chủ tướng của Bành Thành, gã không nắm chặt thời cơ hưởng thụ dư vị chủ tướng, một khi Tào Nhân trở về, gã lại phải rụt đầu rụt đuôi nhìn sắc mặt của người khác.

Tối nay, Chu Lương giống như mọi khi, tới thanh lâu Bích Phượng lầu lớn nhất Từ Châu để uống rượu mua xuân, bên trong Bích Phượng lầu là cảnh ca múa mừng thái bình, oanh oanh yến yến, vô cùng náo nhiệt.

Thời gian dần tới canh một, trong phòng ngủ tráng lệ nguy nga, tiếng cười nói không ngớt, Chu Lương uống rượu say mèm, mấy ả kỹ nữ đang thay phiên ngủ cùng gã, lúc này, một tên lính vội vàng chạy tới, đang định xông vào phòng nhưng lại bị mấy thân binh của Chu Lương ngăn lại, giận dữ mắng mỏ:

- Không hiểu quy tắc, lúc này có thể vào sao?

Binh lính vội la lên:

- Ngoài thành xảy ra tình hình khác lạ, nhất định phải bẩm báo Tướng quân ngay.

- Có tình hình gì khác lạ?

- Thám báo đi tuần tra buổi sáng đến giờ vẫn chưa trở về, Lý Tướng quân sợ xảy ra chuyện, bảo ta đến bẩm báo Chu Tướng quân.

- Điều này có gì ngạc nhiên, thám báo gặp chuyện gì chứ, ví như đi tuần tra chỗ xa hơn, nên không kịp quay về, chắc không có vấn đề gì đâu.

- Nhưng Lý Tướng quân nói, nhất định phải bẩm báo Chu Tướng quân.

Lý Tướng quân là Nha tướng trực đêm nay tên là Lý Cần, thân binh cũng không dám quá mức qua loa đại khái, đành đứng ngoài phòng gọi:

- Tướng quân, Tướng quân!

- Chuyện gì?

Trong phòng có giọng nói bực bội của Chu Lương vang lên.

- Lý Tướng quân nói, thám báo đi tuần tra hôm nay vẫn chưa về.

- Biết rồi, ngày mai hãy nói đi!

Thân binh bất đắc dĩ xua xua tay với tên lính báo tin, thể hiện gã cũng không còn cách nào, tên lính báo tin đành xoay người rời đi, chạy về đầu thành bẩm báo.

Mặc dù chủ tướng Chu Lương đắm chìm trong tửu sắc, nhưng không có nghĩa tất cả thủ tướng đều buông lỏng cảnh giới như gã, nha tướng Lý Cần chính là một trong số đó, Lý Cần là một trong ba Nha tướng dưới quyền của Chu Lương, là người bản địa, y không lo quân Hán sẽ vượt ngàn dặm tập kích bất ngờ Từ Châu, mà lo lũ loạn phỉ sẽ đánh úp thành Từ Châu.

Sau đại chiến Xích Bích, Từ Châu cũng bị ảnh hưởng rất lớn, số người gọi nhập ngũ cũng từ năm hộ gọi một ban đầu biến thành ba hộ gọi một nam như bây giờ, số lượng lớn thanh niên khỏe mạnh đi xa nên đã ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, hơn nữa mấy năm nay thuế phú nặng nề, khiến cho dân chúng Từ Châu kêu than, không chịu nổi gánh nặng, nạn trộm cưới biến mất nhiều năm giờ cũng xuất hiện lần nữa.

Bắt đầu từ năm ngoái, khắp vùng Từ Châu xuất hiện hai nhóm thổ phỉ, số lượng khoảng mấy trăm người, vào nhà cướp của, cưỡng đoạt dân nữ, khiến cho dân chúng các nơi ở Từ Châu bàng hoàng, đúng lúc Tào Nhân chuẩn bị phái binh đi dẹp thổ phỉ thì lại bùng phát đại chiến Hợp Phì, kế hoạch dẹp thổ phỉ cũng đành phải lùi lại.

Là người bản địa, Lý Cần đặc biệt căm hận nạn trộm cướp, cho dù y không có được quân lệnh dẹp thổ phỉ, nhưng bảo vệ Bành Thành, phòng ngừa loạn phỉ thừa dịp tấn công thành cũng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong phòng vệ của Lý Cần.

Hôm nay y nhận ra tình hình khác thường, ba đội tuần tra đi từ sáng sớm chỉ trở về có hai đội, còn một đội hai mươi người không quay về, khiến trong lòng y vô cùng lo lắng, không chỉ lo đội thám báo này gặp chuyện ngoài ý muốn, mà quan trọng hơn là, nếu họ gặp loạn phỉ, chứng tỏ lũ loạn phỉ hoạt động mạnh ở vùng Hạ Bì đã chuyển tới địa giới quận Bành Thành rồi.

Chương 973.2: Từ Châu thất thủ.

Lát sau, thuộc hạ chạy đi báo tin quay về, khom người nói:

- Tướng quân, Chu Lương Tướng quân nói ngài biết rồi, việc này sang năm hãy nói!

Lý Cần nhướn mày hỏi:

- Giờ hắn đang ở Bích Phượng lầu sao?

- Đúng vậy, giờ ngài không tiện gặp, mấy thân binh của ngài ấy không cho ty chức vào phòng bẩm báo.

- Chết tiệt!

Lý Cần khẽ chửi một câu, đập mạnh tay lên tường thành, y căm thù đến tận xương tủy sự hoang dâm vô sỉ của Chu Lương, hạng người ngu ngốc bất tài, chỉ vì gã là tâm phúc của Tào Nhân mới được thăng chức vị cao, còn người thật sự có tài năng lại bị chèn ép, không có ngày nổi danh.

Hận vẫn là hận, y không dám thể hiện quá mức, tên Chu Lương này thù rất dai, một khi biết mình bất mãn với gã, gã tất nhiên sẽ gây khó dễ cho mình, đây không phải lần đầu tiên.

Không biết làm sao, Lý Cần đành nén cơn giận, nói với binh lính xung quanh:

- Tối nay phải tăng cường cảnh giới, không được khinh thường.

Vừa dứt lời, dưới thành bỗng vang lên tiếng vó ngựa, thu hút sự chú ý của tất cả thủ tướng ở đầu thành, chỉ thấy một kỵ binh phi như bay tới, nhanh chóng đến bên dưới thành, hô lớn:

- Chủ tướng đang trực là ai?

Lý Cần nhận ra người này là một trong những thám báo tuần tra, lập tức vui vẻ, cao giọng nói:

- Ta là chủ tướng đang trực, đã xảy ra chuyện gì?

- Lý Tướng quân, bọn tại hạ bị loạn phỉ phục kích, các huynh đệ đã chết mất tám người, số còn lại đang bị truy kích, khẩn cầu tướng quân đi trợ giúp.

Lý Cần kinh ngạc, vội hỏi:

- Bị bao nhiêu loạn phỉ truy kích?

- Khoảng hơn một trăm người!

Lý Cần lo lắng, không chút do dự đáp:

- Năm trăm huynh đệ tiền doanh giữ thành, huynh đệ hậu doanh theo ta đi cứu viện!

Cửa thành mở ra, Lý Cần phi ngựa lên trước dẫn đầu chạy ra khỏi thành, phía sau là năm trăm binh lính, Lý Cần cao giọng hỏi:

- Hiện người đang ở đâu?

- Ở vùng núi hẻo lánh Hầu Sơn!

Vùng núi hẻo lánh Hầu Sơn nằm ở phía bắc Vân Long Sơn, cách thành trì khoảng hơn hai mươi dặm, Lý Cần lo binh lính bị tổn thất, không kịp hỏi kỹ, thúc ngựa phi nhanh về phía nam.

Mấy trăm quan binh men theo con đường phi một mạch gần hai mươi dặm, dần đến gần Vân Long Sơn, lúc này, Lý Cần bỗng nhiên sinh nghi, binh lính tuần tra cũng đang lui lại, mình phải gặp được bọn họ từ lâu rồi mới đúng, sao bây giờ vẫn không thấy bóng dáng?

Y ghìm chặt chiến mã, quay đầu lớn tiếng hỏi binh lính báo tin:

- Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, người ở đâu?

Binh lính báo tin tỏ ra vô cùng hoảng hốt, bỗng nhiên quay đầu ngựa chạy trốn, lao về phía rừng sâu, Lý Cần kinh ngạc, không đợi y kịp phản ứng, tiếng chiêng vang lên bốn phía, vô số bóng đen xông ra từ cánh rừng hai bên, bao vây kín quân Tào, binh lính quân Tào giật mình trợn mắt há hốc mồm, tay cầm trường mâu và chiến đao, lưng kề lưng hoảng sợ nhìn xung quanh, định tìm đường phá vây.

Lý Cần đã bình tĩnh lại, y phát hiện ít nhất có vạn người bao vây bọn họ, trường mâu như rừng, chiến kỳ như mây, áo giáp phát ra ánh sáng lạnh người dưới ánh trăng ảm đạm, đây tuyệt đối không phải thổ phỉ gì cả.

- Các ngươi là ai?

Lý Cần lớn tiếng quát.

Lúc này, mấy trăm cây đuốc được đốt lên, bính lính quân Tào lập tức xôn xao, trước mắt bọn chúng xuất hiện đội quân dày đặc, tầng tầng lớp lớp, bao vây quanh bọn chúng, Đại tướng dẫn đầu phóng ngựa đi ra, vung đại đao lên, lớn tiếng hét to:

- Ta là tướng Hán Ngụy Diên, các ngươi sao còn không mau đầu hàng?

Lý Cần sợ ngây người, không ngờ là quân Hán, sau một lúc lâu y chậm rãi quay đầu lại, thấy binh lính thuộc hạ đều buông vũ khí, có người còn cởi bỏ áo giáp, rõ ràng đều muốn đầu hàng, y lại nghĩ đến tên Chu Lương ngu ngốc vô dụng, không khỏi thở dài một tiếng, xoay người xuống ngựa, quỳ nói:

- Nha tướng Lý Cần xin đầu hàng quân Hán, chỉ khẩn cầu Ngụy Tướng quân đối xử tử tế với lê dân Từ Châu.

Ngụy Diên mừng rỡ, vội vàng tiến lên đỡ y dậy, cười nói:

- Quân Hán có quân kỷ nghiêm minh, tuyệt không quấy nhiễu dân thường, Hán Vương điện hạ đối xử tử tế với dân chúng thiên hạ, Tướng quân nguyện trung thành với Đại Hán, là hành động sáng suốt đấy!

Sau nửa canh giờ, Lý Cần dẫn đầu năm trăm binh lính quay về quận Bành Thành, năm trăm binh lính phía sau y đều do quân Hán đóng giả, trong bóng đêm cách đó một dặm, Ngụy Diên dẫn một vạn quân Hán đã chuẩn bị sắp xếp, xuất kích bất cứ lúc nào.

- Lý Cần chạy đến dưới thành hô to:

Trên thành mau mở cửa!

Binh lính giữ thành đều là thuộc hạ của y, thấy chủ tướng quay về, vội buông cầu treo xuống, mở cửa thành, Lý Cần thúc ngựa vào thành, binh lính quân Hán lập tức khống chế được cửa thành, châm một đống lửa lớn ở cửa, Lý Cần thấy tình thế nguy cấp, vội hô lớn:

- Lệnh cho tất cả huynh đệ giữ thành đều tới gặp ta!

Một lát sau, hai trăm binh lính giữ cửa thành nam lần lượt từ đầu thành chạy xuống, Lý Cần cao giọng nói:

- Ta về vì muốn bảo vệ tính mạng của mọi người, ta đã đầu hàng quân Hán, muốn sống thì hãy lập tức hạ vũ khí xuống. Nếu không tính mạng khó bảo toàn.

Bọn lính ngơ ngác nhìn nhau, không rõ sự tình, đúng lúc này, chỉ thấy ngoài thành bóng đen tràn ra, quân Hán đông rợp trời xông đến cửa thành, Ngụy Diên cưỡi ngựa dẫn đầu lao vào trong thành, đám binh lính đều nhìn thấy, sợ tới mức rối rít hạ binh khí, quỳ xuống đầu hàng.

Một vạn quân Hán im lặng tấn công Bành Thành, đông nghịt các phố lớn ngõ nhỏ ở gần thành phía nam, Ngụy Diên lớn tiếng hỏi:

- Lý Tướng quân, quân doanh ở đâu?

- Ngụy Tướng quân mời đi theo ta!

Lý Cần xoay người lên ngựa, dẫn theo Ngụy Diên và binh lính quân Hán chạy vào phía quân doanh trong thành.

Ngay trong lúc Từ Châu bị quân Hán đánh lén, cuộc chiến trên mảnh đất khô cằn ở thành Hợp Phì đã đánh tới bước cực kỳ thê thảm, quân Hán đã bố trí ba trăm năm mươi máy bắn đá loại lớn ở ba hướng tây, nam và bắc của thành Hợp Phì, ngày đêm không ngừng nghỉ bắn dầu hỏa và những tảng đá lớn vào trong thành.

Quân Hán quăng toàn bộ ba vạn thùng dầu hỏa cuối cùng vào trong cuộc chiến trên mảnh đất khô cằn, phần lớn thiêu cháy Hợp Phì thành đất khô, san thành đất bằng, một quả cầu lửa khổng lồ xẹt qua bầu trời, rơi xuống thành, khiến cho trong thành Hợp Phì bốc cháy hừng hực, quả cầu lửa thậm chí đâm vào kho hàng, khiến hai mươi mấy nhà kho của quân Tào bị thiêu rụi phân nửa.

Hơn nửa thành đô Hợp Phì đều chìm trong biển lửa, đầu thành cũng gặp phải sự tấn công mạnh mẽ của những tảng đá lớn, nhiều chỗ tường thành sụp xuống, tảng đá lớn gào thét bay tới làm cho lầu thành bị đập nát vụn, tiếp đó bị đại hỏa thiêu hủy.

Lửa cháy bừng bừng và những tảng đá to che trời phủ đất khiến quân Tào thương vong cực kỳ thê thảm, liên tiếp mười ngày công kích, quân Tào đã thương vong hơn hai vạn người, lương thực bị thiêu hủy quá nửa, chỉ còn lại tám ngàn thạch lương thực cất giữ trong hầm ngầm, cuối cùng chỉ có thể duy trì được mười ngày, binh lính quân Tào đê mê tới cực điểm, khí thế hung bạo tràn ngập trong đại doanh quân Tào, liên tục xảy ra những cuộc báo thù và đánh nhau bằng khí giới quy mô lớn giữa các binh lính, Tào Nhân bị giày vò đến mức sứt đầu mẻ trán, một ngày mấy lần cầu cứu Thọ Xuân.

Chương 974: Tối hậu thư.

Thành phía đông là khu vực duy nhất không bị quân Hán tấn công mạnh mẽ, cũng là đại doanh của quân Tào, trong đại trướng, Tào Nhân chắp tay đi qua đi lại, trong lòng bực bội làm gã gần như sắp buột miệng ra chửi ầm lên, gã muốn chửi Tào Phi, lương thực không có, Thọ Xuân còn giữ được cái đít gì, vẫn muốn bày trò, giả vờ cao thâm, chẳng lẽ cứ muốn để quân Hán tiêu diệt sạch quân Tào ở Hợp Phì thì y mới chịu nhượng bộ hay sao?

Tào Nhân còn muốn trách Tào Tháo hồ đồ, hiện giờ Thọ Xuân không có dầu hỏa, máy bắn đá hủy hoại hầu như không còn, tường thành đã sụp tám chỗ, quân Tào không còn sức tu sửa, quân Hán dùng chiến thuyền bất cứ lúc nào cũng có thể vượt sông giữ thành để tiến vào, nhưng quân Hán không công phá Hợp Phì, mà muốn đốt Hợp Phì thành mảnh đất khô cằn, không còn một cọng lông nào.

Ngụy Công sao cứ muốn một Thọ Xuân, mà không để ý tới an nguy của mấy vạn binh lính quân Tào?

Đúng lúc này, trong quân doanh truyền ra tiếng hò hét kinh hoàng, Tào Nhân còn tưởng lại xảy ra đánh nhau bằng binh khí, rút kiếm nổi giận đùng đùng xông ra, vừa đến cửa trướng, thân binh của hắn xông vào, vội hô to:

- Tướng quân, cầu lửa, đại doanh bị cháy rồi!

Tào Nhân kinh ngạc, lao ra ngoài trướng, cảnh tượng trước mắt khiến gã trợn mắt há hốc mồm, lại thấy một quả cầu lửa khổng lồ vượt qua đầu thành bắn tới, đặc biệt sáng chói mắt trong bầu trời đêm, mặc dù điểm rơi của quả cầu lửa còn cách quân doanh mấy trăm bước, nhưng sau khi nó rơi xuống, lại bắn lên cao, nhảy vọt mấy trăm bước, gào thét lao tới đại doanh, mấy trăm đại trướng ở góc đông bắc đã bị cháy, lửa lớn hừng hực thiêu đốt, các binh lính gào khóc chạy trốn, đại doanh vô cùng hỗn loạn.

Quân Hán bao vây tấn công trong mười ngày, tiến đánh ba phía nam, bắc, tây, duy chỉ buông tha cho phía đông, Tào Nhân cho rằng đây là vì sông bảo vệ thành ở phía đông quá rộng, máy bắn đá loại lớn của quân Hán không bắn nổi vào thành, do đó gã đã dời đại doanh quân Tào đến phía đông, không ngờ quân Hán lại bất ngờ tấn công.

Tào Nhân thấy hỏa thế càng lúc càng lớn, gất rút hô to:

- Không cần lo cho doanh trướng, lập tức rút lui! Rút lui!

Trong hỗn loạn, vô số binh lính quân Tào quăng mũ cởi áo giáp, binh khí và vật tư cũng không màng tới, chen chúc chạy ra ngoài đại doanh, rất nhiều binh lính chạy hơi chậm một chút, có lẽ là quay về lấy vật phẩm, đều bị lửa lớn vây quanh, chết thảm trong biển lửa.

Tào Nhân trơ mắt nhìn vô số binh lính bị lửa lớn nuốt gọn, hận đến muốn nổ tung mắt, bỗng nhiên, gã xoay người lên ngựa, thúc ngựa chạy về đầu thành hướng đông, dù thế nào gã cũng không hiểu nổi vì sao quân Hán có thể bắn cầu lửa vào thành từ phía đông, sông bảo vệ thành ở ngoài thành phía đông rộng tới một dặm, bất kỳ máy bắn đá nào cũng không thể bắn qua được khoảng cách này, quân Hán sao lại làm được?

Không giải tỏa được sự nghi hoặc này thì gã không thể yên lòng, lát sau, chiến mã của Tào Nhân xông lên đầu thành, trên đó không bị đá lớn công kích, cũng không có binh lính bảo vệ, Tào Nhân nhanh chóng nhìn thấy cảnh tượng khiến gã khó quên.

Chỉ thấy trên con sông bảo vệ thành xuất hiện một chiếc cầu nổi khổng lồ, rộng chừng năm mẫu, cao tới một trượng, mười chiếc máy bắn đá loại lớn đang luân phiên bắn trên cầu nổi, quăng từng quả cầu lửa to lớn vào trong thành.

Tào Nhân không kìm nổi liền thở dài một tiếng, nếu Tào Phi không nhượng bộ, bọn họ sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn, Tào Nhân quay đầu hỏi thân binh:

- Chúng ta còn có mấy con bồ câu đưa thư?

- Hồi bẩm Tướng quân, còn ba con!

- Toàn bộ phóng đi Thọ Xuân, nói cho Tào Phi, nếu y còn không hành động, ta sẽ mở thành đầu hàng!

Tào Nhân cuối cùng không thể nhịn được, ra tối hậu thư với Tào Phi.

Trong thành Thọ Xuân, để giải quyết nguy cơ cạn lương thực quân đội, Tào Phi sử dụng kế sách của Hoa Hâm, phái binh lính cố gắng lục soát lương thực các nhà giàu và dân thường ở Thọ Xuân, thực hành chế độ phân phối lương thực cực kỳ nghiêm khắc, mỗi ngày cho dân chúng chỉ một chút lương thực đủ sinh sống.

Cứ như vậy, trong tay quân Tào đã có mấy vạn thạch lương thực, lại có thể miễn cưỡng chống đỡ được một thời gian, ổn định quân tâm, phía Thọ Xuân bởi vậy mà dân chúng kêu than ầm ĩ, tiếng oán than dậy đất, Tào Phi cũng không thèm để ý, y hiểu rằng, Thọ Xuân sớm muộn cũng không giữ nổi, cần gì phải để ý quá tới ý dân của Thọ Xuân?

Tào Nhân quả thật đã trách lầm Tào Phi, gã không biết, vấn đề không phải nằm ở chỗ Tào Phi, mà là Tào Tháo kiên quyết không chịu nhượng Thọ Xuân, đối với Tào Phi mà nói, lui về phía bắc Hoàng Hà, đạt được thỏa thuận hòa bình trong hai năm với Lưu Cảnh sẽ có lợi cho Tào Ngụy khôi phục kinh tế, càng có lợi hơn để y dần dần tiếp quản đại quyền.

Quân Hán tiến công mạnh mẽ vào Hợp Phì khiến Tào Phi như con kiến bò trên chảo nóng, một khi quân Tào ở Hợp Phì bị quân Hán đánh tan, điều này sẽ tạo thành một đòn trí mạng cho thanh danh của y và kế hoạch nắm giữ quân quyền.

Mười ngày liên tiếp, gần như ngày nào y cũng phát quân báo khẩn cấp tới Nghiệp Đô, thậm chí không ngại khuếch đại tình hình nguy cấp ở Hợp Phì, kể ra quân lương của Thọ Xuân nguy cấp, nhưng tất cả quân báo của y đều như trâu đất xuống biển, không có bất cứ hồi âm nào.

Trong lúc này, tin Từ Châu bị quân Hán tập kích, Bành Thành thất thủ đã được truyền đến Thọ Xuân, Tào Phi bị đả kích nặng nề dường như đã mất đi lý trí, trong nội đường, chỉ nghe thấy tiếng gào thét giống lên như sấm của y.

- Cái gì gọi là toàn quyền do ta phụ trách, đây là toàn quyền sao? Cái gì ta cũng không được làm chủ, kể cả là một con chó cũng tự do hơn ta nhiều, ta không làm nữa, để tự lão đến giải quyết đi!

Hoa Hâm ở trong sân nghe thấy tiếng gào thét của Tào Phi, gã sợ tới mức chạy ào vào nội đường, cuống quít khẩn nài:

- Công tử gia của tôi ơi, xin ngài đứng chửi nữa, tai vách mạch rừng, nếu để Ngụy công biết được, ngôi vị của thế tử nguy rồi!

Chửi rủa được trút ra khiến Tào Phi dễ chịu hơn một chút, cũng dần bình tĩnh lại, y cũng ý thức được mình quá xúc động, y biết phụ thân đều cài tai mắt bên cạnh tam đệ và nhị đệ, lẽ nào bên cạnh mình không có tai mắt sao?

Nghĩ vậy, trong lòng Tào Phi không khỏi có chút hối hận, ngồi xuống mãi không nói nên lời, Hoa Hâm thấy Tào Phi đã bình tĩnh lại, liền khẽ giọng nói:

- Hai ngày nay thần nghĩ đi nghĩ lại lý do Ngụy công không chịu lên tiếng, rất có thể là Trình Dục cũng đang phát quân báo tới Ngụy công, trong khi quân báo của công tử có phần hơi khuếch đại, tất nhiên sẽ khiến Ngụy công không tin tưởng, nên Ngụy công mới chần chừ không chịu bày tỏ thái độ, chi bằng công tử cáo ốm, chuyển giao quyền đàm phán cho Trình Dục, thần tin sẽ có thể xoay chuyển.

Tào Phi gật đầu, suy đoán của Hoa Hâm không phải tin đồn vô căn cứ, từ khi mình chủ quản Thọ Xuân tới nay, Trình Dục cực ít khi lộ diện, dường như buông tay để mình tự làm, nhưng điều này không đúng với lời dặn dò của phụ thân trước lúc đi, chứng tỏ Trình Dục không phải buông tay mặc kệ, mà là đang âm thầm quan sát mình, đồng thời cũng báo cáo thế cục ở Hợp Phì cho phụ thân.

Hoặc là, phụ thân thông qua Trình Dục để tiếp tục nắm giữ chiến cục ở Hợp Phì, cho nên phụ thân không nghe theo ý kiến của mình, nghĩ đến đây, Tào Phi bỗng toát mồ hôi, y dường như cảm nhận được ánh mắt u ám của Trình Dục đang nhìn chằm chằm phía sau mình, còn phụ thân thì đang ở trên đầu mình lạnh lùng quan sát tất cả.

Hoa Hâm thấy Tào Phi đã hiểu, lại tiếp tục khuyên nhủ:

- Công tử thật ra không cần quá lo lắng, Từ Châu thất thủ, thần tin Ngụy công cũng không ngồi yên, sẽ nhanh chóng có chỉ thị tới đây, có thể Trình Dục sẽ chủ động tìm đến công tử.

Hoa Hâm vừa dứt lời, chỉ nghe dưới đường có thị vệ bẩm báo:

- Khởi bẩm thế tử, Trình Quân sư cầu kiến!

Quả nhiên Hoa Hâm nói trúng, điều đó chứng tỏ Trình Dục đúng là đang âm thầm qua lại với phụ thân, Tào Phi liền giơ ngón tay cái lên với Hoa Hâm, tỏ ý khen ngợi gã, rồi lập tức gật đầu nói:

- Mời ông ta vào!

Lát sau, Trình Dục vội đi vào nội đường, mặc dù Tào Tháo trước khi đi dặn dò Trình Dục phò tá thế tử Tào Phi, nhưng lại mật lệnh ông ta bất cứ lúc nào cũng phải báo cáo động hướng của Thọ Xuân và Hợp Phì cho mình, nắm được chiến dịch Hợp Phì thông qua Trình Dục.

Tuy nhiên bản thân Trình Dục cũng nhận ra mục đích chủ yếu của Tào Phi là muốn thông qua chiến dịch này để nắm quân quyền trong tay, vì thế Trình Dục cũng không hỏi đến, mặc cho Tào Phi sắp xếp điều động, chỉ là cứ cách hai ngày một lần dùng chim bồ câu đưa tin hồi bẩm với Tào Tháo về tình hình của Thọ Xuân và Hợp Phì.

Nhưng Từ Châu bị quân Hán đánh úp, Bành Thành thất thủ, tình thế lập tức chuyển biến xấu, điều này khiến Trình Dục cũng ngồi không yên, vội vã tới bàn bạc đối sách với Tào Phi.

Ông ta tiến lên một bước thi lễ:

- Vi thần tham kiến thế tử!

Lúc này, Tào Phi thực sự chán ghét lão già mưu kế thâm sâu này, y lạnh lùng hỏi:

- Trình quân sư khỏi bệnh rồi sao?

Trình Dục nghe ra được sự bất mãn trong giọng nói của Tào Phi, không khỏi thở dài, bản thân trung thành với Ngụy công, lại đắc tội với thế tử, đây cũng không phải chuyện tốt! Ông ta đành kiên trì nói:

- Vi thần tuổi đã cao, phò tá không đắc lực cho thế tử, mong thế tử thứ lỗi.

Hoa Hâm bên cạnh nhanh chóng nháy mắt với Tào Phi, nhắc Tào Phi hiện không được đắc tội với Trình Dục, Tào Phi đành cố nén nỗi oán hận với Trình Dục trong lòng lại, khoát tay nói:

- Quân sư mời ngồi!

Trình Dục ngồi xuống, chắp tay cười nói với Hoa Hâm:

- Hoa Trung thừa tới Thọ Xuân khi nào, ta lại không biết.

Không đợi Hoa Hâm mở miệng, Tào Phi liền lạnh lùng nói:

- Việc này ta đã bẩm báo với phụ thân rồi, rất xin lỗi, ta quên nói cho Trình Quân sư.

Trình Dục xấu hổ mỉm cười, liền quay lại chủ đề chính sự:

- Vi thần nghe nói Từ Châu bị quân Hán đánh lén, quận Bành Thành thất thủ, chuyện này rất nghiêm trọng, không biết thế tử chuẩn bị đối phó thế nào?

Hoa Hâm biết Tào Phi mặc dù bình tĩnh nhưng lửa giận vẫn chưa tắt hẳn, lời nói của Trình Dục rất có thể sẽ khiến Tào Phi mất lý trí, trong lòng gã vô cùng lo lắng, không ngờ Tào Phi lại hoàn toàn không hề nổi giận, vô cùng bình tĩnh đáp lại:

- Từ Châu bị đánh lén thực ra không lạ, binh lực của Trung Nguyên phần lớn đều tập trung ở Hứa Xương và Lạc Dương, không chỉ binh lực ở Từ Châu trống rỗng, mà Tiếu Quận cũng không có bao nhiêu binh lực, Lưu Cảnh vì muốn ép chúng ta nhượng lại Thọ Xuân nên đã không từ thủ đoạn, bao gồm cả tấn công mạnh mẽ Hợp Phì, không biết Trình Quân sư có biết không, mười ngày gần đây Hợp Phì đã tổn thất hơn hai vạn người, đã ăn bữa hôm lo bữa mai rồi.

- Vậy thế tử chuẩn bị ứng phó với cục diện khó khăn trước mắt như thế nào?

Trình Dục lại một lần nữa hỏi Tào Phi chuẩn bị ứng phó như thế nào, nếu như trước đây nửa canh giờ ông ta hỏi câu hỏi này, Tào Phi tất nhiên sẽ giận tím mặt, hung hăng lên án Trình Dục mạnh mẽ, nhưng Tào Phi lúc này đã hoàn toàn tỉnh táo, lấy lại sự khôn ngoan sâu sắc nhất quán của y.

Tào Phi thản nhiên hỏi:

- Đây đúng là điều ta muốn hỏi Quân sư, chúng ta nên làm gì bây giờ?

Chương 975: Hiệp ước dưới thành.

Tào Phi biết, Trình Dục tới tìm mình thì tất nhiên ông ta đã có phương án, nếu không ông ta còn xứng với vị trí Quân sư gì chứ?

Quả nhiên, Trình Dục khẽ cười nói:

- Thực ra vi thần cho rằng, quân Hán hoàn toàn có thể tiếp tục giằng co lâu dài, không cần động can qua lớn như vậy, lại tấn công mạnh mẽ Hợp Phì, còn đánh lén Từ Châu, rõ ràng là đang tạo áp lực với chúng ta, điều này cũng để lộ tình cảnh khó khăn của quân Hán, họ cũng sắp không chống đỡ nổi nữa, nóng lòng chấm dứt chiến tranh Hợp Phì.

- Nhưng nước Hán còn có mấy trăm vạn dê bò, sao lại nói lương thực không đủ?

Hoa Hâm bên cạnh xen vào hỏi.

Trình Dục ung dung đáp:

- Ta cũng biết quân Hán có mấy trăm vạn dê bò, nhưng vấn đề là làm thế nào vận chuyển đến Hợp Phì? Quân Hán ở Sào Hồ đã có mấy ngàn con thuyền, nhưng lại không thể ngược gió ngược dòng trở về Sài Tang, theo ta được biết, sau trung tuần tháng mười hai, quân Hán sẽ không còn đội thuyền tới từ Sài Tang nữa, chứng tỏ Sài Tang đã không còn thuyền, không có phương tiện vận chuyển, ngay cả Sài Tang có nghìn vạn thạch lương thực cũng là nước xa không hiểu khát gần.

Hoa Hâm bị nói cho á khẩu không nói được gì, lâu sau, gã cười khan một tiếng nói:

- Hóa ra tin tức của Trình Quân sư lại rất linh thông.

- Chưa nói tới linh thông, chỉ là quan tâm một chút đến thế cục mà thôi.

Tào Phi liền tiếp lời ông ta:

- Trình Quân sư đã luôn quan tâm đến thế cục, vậy không ngại cho ta biết, giờ ta nên làm thế nào?

Trình Dục trầm ngâm một lát, chậm rãi nói:

- Dựa vào thế cục hiện giờ, vi thần đề nghị thế tử lập tức hội đàm với Lưu Cảnh, từ bỏ Thọ Xuân, đổi lấy quân Hán rút lui khỏi Từ Châu, còn về phía Ngụy công, vi thần sẽ giải thích.

Tào Phi và Hoa Hâm nhìn nhau, trong mắt hai người đều lộ ra vẻ khiếp sợ, đặc biệt là Tào Phi, trong lòng cực kỳ rối loạn, Trình Dục sao dám quyết đoán như thế, chỉ có một lý do có thể giải thích, hoặc là Trình Dục vừa nhận được thủ lệnh của phụ thân, hoặc chính phụ thân đã giao quyền quyết định cho Trình Dục trước lúc đi.

Nguyên nhân đầu tiên không có khả năng lắm, vì không kịp về mặt thời gian, còn khả năng của nguyên nhân sau lớn nhất, Trình Dục luôn ngấm ngầm chịu đựng, chính là vì có quyền quyết sách thực sự trong tay.

Nhưng lúc này Tào Phi không kịp ngẫm nghĩ, y gật đầu:

- Ta sẽ lập tức phái người liên hệ với Lưu Cảnh.

Trình Dục lập tức cáo từ, ông ta vừa mới đi, Tào Phi đã ném mạnh chén trà vỡ nát, nghiến răng nghiến lợi nói:

- Một ngày nào đó, ta sẽ tiêu diệt cả nhà lão tặc này!

Bành Thành thất thủ đã trở thành cây rơm rạ cuối cùng áp đảo quân Tào, quân Tào đành phải chấp nhận toàn bộ điều kiện dừng chiến mà quân Hán đưa ra, thế lực của quân Tào rút lui đến phía bắc sông Hoài, từ bỏ Hợp Phì và Thọ Xuân, hai quân lấy sông Hoài làm ranh giới.

Để nhượng bộ, quân Hán đồng ý buông tha cho Bành Thành, quân đội rút khỏi Từ Châu, Lưu Cảnh đồng thời hứa hẹn, trong vòng hai năm, quân Hán sẽ không vượt qua sông Hoài một bước, đến đây, chiến dịch Hợp Phì kéo dài gần một năm cuối cùng đã chấm dứt.

Cùng với việc Lưu Cảnh và Tào Phi lần lượt ký vào hiệp ước, quân Tào bắt đầu từ bỏ Hợp Phì và thành Thọ Xuân, men theo cầu nổi trên sông Hoài rút lui về phía bắc, trên bờ phía bắc sông Hoài, Tào Phi nhìn quân Tào đang hoảng sợ rút về phía bắc, trong lòng có sự mất mát không nói ra được, trong đội ngũ rút về phía bắc loáng cái đã không nhìn thấy giới tuyến kia, toàn bộ đều là binh lính quân Tào, không hề có dân thường Thọ Xuân đi theo.

Tào Phi biết vấn đề nằm ở đâu, y tận thu lương thực của dân, dân chúng Thọ Xuân từ lâu đã hận y thấu xương, Tào Phi không khỏi thở dài, nói với Vương Lãng:

- Trận chiến này, chúng ta đã mất đi hoàn toàn lòng dân Giang Hoài rồi!

Vương Lãng an ủi Tào Phi:

- Thế tử cũng đừng nghĩ nhiều quá, chủ yếu vấn là dân chúng không muốn rời khỏi quê hương, đặc biết không muốn qua sông Hoài, từ xưa đã có câu Hoài Nam thủy phú, Hoài Bắc địa tích mà, dân chúng không muốn theo quân Tào rút về phía bắc là nằm trong dự liệu của vi thần.

Tào Phi cười khổ một tiếng, lại lắc đầu, quay ngựa lệnh cho

Tào Chân:

- Một khi quân Tào rút lui hết, lập tức phóng hỏa thiêu cháy cầu nổi.

- Tuân lệnh!

Tào Phi lập tức quất mạnh vào chiến mã, chiến mã hăng hái chạy về phía bắc, y không muốn liếc mắt nhìn lại Hoài Nam nữa, đối với y, chiến tranh đã kết thúc, y nên suy xét làm thế nào tiếp nhận đại quyền của Tào Ngụy đây.

Theo thỏa thuận đạt được của hai bên, quân Tào trước khi rút lui phải giao thành Thọ Xuân cho quân Hán, do đó vào buổi tối ký kết hiệp ước, binh lính quân Tào rút lui toàn bộ ra ngoài thành đóng quân, còn Pháp Chính dẫn đầu một nhóm quân Hán gồm ba nghìn người tiến vào chiếm giữ thành Thọ Xuân, đóng cửa thành, duy trì trật tự trong thành, tránh cho binh lính quân Tào thừa lúc binh bại cướp sạch Thọ Xuân.

Đây là Lưu Cảnh đã tiếp thu lời giáo huấn tung binh cướp sạch Uyển Thành của Tào Hồng, khống chế trước một bước thành Thọ Xuân có hai mươi vạn dân, phải nói đây là hành động cực kỳ cần thiết, từ đại loạn cuối đời Hán đến nay, binh bại thành loạn gần như đã trở thành định luật.

Vì thế Lưu Cảnh rõ ràng yêu cầu Tào Phi khi còn chưa truyền đạt thỏa thuận dừng chiến tới quân Tào, phải rút tất cả binh lính quân Tào ra khỏi thành, quân Hán lập tức tiến vào chiếm giữ, đóng cửa thành, cho dù tướng lĩnh quân Tào muốn nhân lúc loạn lác phát tài thì cũngkh ông kịp tung binh cướp sạch nữa, đồng thời cũng bảo vệ được an toàn cho hai mươi vạn dân chúng, khiến nhân dân khắp thành Thọ Xuân đều tràn đầy cảm kích đối với Hán Vương.

Trong ngày kế tiếp khi quân Tào rút toàn bộ qua sông Hoài, Lưu Cảnh dưới sự bảo vệ của mấy ngàn binh lính đã tiến vào thành Thọ Xuân, các con đường chính trong thành đã được quét dọn sạch sẽ, nhà nhà bày hương án ở cửa, dâng hương quỳ lạy, nghênh đón Hán Vương điện hạ vào thành.

Hợp Phì và Thọ Xuân đều thuộc quận Hoài Nam, Thọ Xuân chính là quận trị của quận Hoài Nam, khi Lưu Cảnh tới quận nha, Quận thừa Giả Phương dẫn mười mấy quan viên ra đón, đồng loạt quỳ xuống bái lạy Lưu Cảnh:

- Tham kiến Hán Vương điện hạ!

Lưu Cảnh bảo thân binh đỡ mọi người dậy, lập tức xoay người xuống ngựa cười nới với mọi người:

- Về sau Thọ Xuân và Hợp Phì phải dựa vào các vị rồi, mong mọi người không nề hà vất vả, làm việc vì dân chúng hơn nữa!

Mọi người mừng rỡ, ý của Hán Vương là muốn trọng dụng quan viên địa phương, bọn họ vây lấy Lưu Cảnh cùng đi vào đại đường như vì sao vây quanh mặt trăng, Lưu Cảnh ngồi ở trên cao, khoát tay lệnh cho mọi người cũng ngồi xuống, lúc này hắn mới hỏi:

- Ta muốn biết, trong thành có bao nhiêu người Hợp Phì?

Giả Phương thở dài đáp:

- Hiện giờ nhân khẩu ở Thọ Xuân có khoảng hai mươi một vạn, trong đó một nửa từ Hợp Phì tới, đa phần ở nhờ trong nhà dân, các cuộc hỗn loạn đã kéo dài một năm, thành Thọ Xuân đã không chịu nổi gánh nặng nữa rồi.

- Hiện nay vấn đề lớn nhất của Thọ Xuân là gì?

Lưu Cảnh lại hỏi.

Mọi người nhìn nhau, tất cả đồng thanh đáp:

- Vấn đề lớn nhất là đã không còn lương thực.

Giả Phương lo lắng nói:

- Khoảng mười ngày trước, quân Tào đã lục soát tất cả lương thực của dân trong thành, thực thi phân phối lương thực, mỗi hộ được chưa đến một hợp gạo một ngày, đến nỗi dân chúng không thể sống được, tiếng oán than dậy đất, hiện quân Tào đã rút khỏi, mang theo tất cả lương thực, hôm qua trong thành đã cạn lương thực rồi.

Pháp Chính ở bên cạnh tiếp lời:

- Giả Quận thừa nói không sai, trong thành quả thật không còn lương thực nữa, hôm qua vi thần đã lập năm mươi điểm phát chẩn cháo trong thành, mới gắng gượng qua một ngày, nếu không giải quyết vấn đề lương thực thì e rằng sẽ khiến dân chúng gây rối.

Lưu Cảnh gật đầu, quay lại hỏi Tần Mật:

- Hiện chúng ta còn bao nhiêu lương thực?

Tần Mật suy nghĩ một lát đáp:

- Quân lương của chúng ta còn đủ chống cự được hai mươi ngày, tuy nhiên hôm qua gió chuyển hướng sang gió đông, Cam Tướng quân đích thân dẫn đội tàu đi Sài Tang vận chuyển lương thực rồi.

Lưu Cảnh tính toán một lát, nếu thuận lợi thì mười ngày nữa lương thực sẽ được chuyển đến, hắn liền nói với Pháp Chính:

- Có thể lấy ra một nửa quân lương cứu tế cho dân chúng Thọ Xuân, giúp họ vượt qua mấy ngày khó khăn nhất này, một khi đội thuyền vận chuyển lương thực quay về, vấn đề này sẽ được xoa dịu.

Các quan viên đều cảm động trong lòng, cùng nhau dập đầu rơi lệ nói:

- Hán Vương điện hạ nhân từ, là may mắn của dân chúng Thọ Xuân!

Lưu Cảnh cười đáp:

- Dân chúng Thọ Xuân đã là con dân của ta, ta đương nhiên không thể bỏ mặc, có điều ta còn có mấy việc, muốn mọi người giúp đỡ.

- Xin điện hạ căn dặn.

Lưu Cảnh chậm rãi nói:

- Thành Hợp Phì về cơ bản đã bị hỏa chiến thiêu rụi hết, cần khôi phục lại, ngoài ra các vùng đã bắt đầu cày bừa vụ xuân, Thọ Xuân cũng không thể ngoại lệ, nên ta dự định thực thi quân quản thời hạn nửa năm ở Thọ Xuân và Hợp Phì, nói cách khác, hai mươi vạn dân trong thành Thọ Xuân đều phải tham gia lao động, đương nhiên trẻ con và người già có thể miễn, một số người tham gia đồn điền, một số tham gia xây dựng lại thành Hợp Phì, sau đó sửa chữa đường sông, khơi thông thủy lợi, coi như là điều kiện để quân Hán cung cấp lương thực, điều này cần các vị động viên các đại gia tộc, mọi người hợp mưu hợp sức, làm tốt công việc dân sinh.

Quan viên ngơ ngác nhìn nhau, thực ra bảo dân chúng lao động thì không có vấn dề gì, mấu chốt là vấn đề đất đai, trước đây đất đai ở Hợp Phì và Thọ Xuân đều có chủ, một khi thực thi đồn điền, tài sản đất đai làm thế nào?

Giả Phương bèn dè dặt nói ra lo lắng của mình:

- Điện hạ, người Hoài Nam coi đất đai là sinh mạng của mình, nếu mất đi đất đai, chỉ sợ sẽ khiến dân chúng cực kỳ bất mãn, thậm chí sẽ xảy ra bạo loạn, xin điện hạ minh giám.

Lưu Cảnh mỉm cười:

- Ta sẽ không tịch thu đất đai của dân chúng, chỉ là lấy thời gian nửa năm làm giới hạn, sau vụ hè sẽ khôi phục sở hữu đất đai vốn có, các ngươi trước tiên hãy làm tốt việc đăng ký đất đai, ngoài ra đầm nước Bạch Hạ đã nhấn chìm mất mấy vạn mẫu ruộng tốt, ước tính sẽ có không tí nhà bị tổn thất, có thể cho phép họ khai hoang mở điền lại, đồng thời miễn thuế mười năm, chư vị chỉ cần sắp xếp thỏa đáng những chuyện này, ta sẽ để chư vị thăng quan thêm một cấp nữa.

Mọi người đều vui mừng khôn xiết, đặc biệt Quận thừa Giả Phương càng vui sướng đến mức không ngậm được miệng, thế tức là, nửa năm sau gã sẽ được thăng làm Thái thú quận Hoài Nam.

Lưu Cảnh lập tức tạm thời bổ nhiệm Pháp Chính làm Đồn điền Giáo Úy ở Hoài Nam, dẫn một vạn quân phối hợp với dân chúng địa phương sửa thành đồn điền, khôi phục nền kinh tế Hoài Nam đã bị chiến tranh phá hoại.

Lưu Cảnh lập tức rời khỏi Thọ Xuân, dẫn đại quân đi thuyền quay về Nhu Tu Khẩu.

Chiến dịch với quân Tào mặc dù đã chấm dứt, nhưng không có nghĩa là quân Hán hoàn toàn kiểm soát được Giang Hoài, trên thực tế trước mắt họ chỉ khống chế được phía tây Giang Hoài, Giang Hoài chủ yếu do ba quận hợp thành, quận Lư Giang, quận Hoài Nam và quận Quảng Lăng, trong đó quân Hán đã khống chế được quận Lư Giang, quân Tào khống chế quận Hoài Nam và phía bắc quận Quảng Lăng, còn phía nam quận Quảng Lăng thì thuộc về Giang Đông.

Sau khi chiến dịch Hợp Phì kết thúc, quân Tào hoàn toàn rút khỏi Giang Hoài, quân Hán đã khống chế được phần lớn đất đai Giang Hoài, duy chỉ phần phía nam Quảng Lăng vẫn đang trong tay Giang Đông, tức là khu vực Giang Bắc ở phía đông huyện Lịch Dương.

Cũng không phải là Lưu Cảnh nhất định muốn chiếm lĩnh toàn bộ Giang Hoài, mà một khi quân Hán đã chiếm được phía nam Quảng Lăng, có nghĩa là quân Hán sẽ khống chế được cả Trường Giang, quân Giang Đông sẽ không có bất cứ cơ hội nào phục hưng thủy quân.

Lưu Cảnh đi qua đị lại suy nghĩ trong khoang thuyền, hắn phải nghĩ ra một cách để hợp tình hợp lý, hơn nữa là hợp pháp chiếm lĩnh lấy phía nam của Quảng Lăng, đóng quân ở bờ phía bắc Trường Giang.

Chương 976: Giả đạo diệt Quắc.

Thời gian dần đến đầu tháng hai, sau khi Cam Ninh dẫn đội thuyền vận chuyển lương thực tới Hợp Phì, đã hoàn toàn hóa giải được nguy cơ lương thực của quân đội và dân chúng, lúc này, khu vực Hợp Phì và Thọ Xuân đã bắt đầu xây công sự và đồn điền với khí thế ngút trời, mười mấy vạn thanh niên nam nữ khỏe mạnh dưới sự hiệp trợ của quân Hán đã cày ruộng chuyển đá, chặt phá cây cối, xây lại phòng xá, sửa sang thủy lợi, trên mảnh đất Sào Hồ hoang vu rộng lớn đã khôi phục lại sức sống tràn trề.

Nhưng quân Hán lại không rút quân về Kinh Châu, Lưu Cảnh hy vọng có thể mượn cơ hội này, giành lấy toàn bộ đất đai ở phía bắc Trường Giang, để chiến thuyền quân Hán có thể lui tới tuần tra trên mặt sông bên ngoài Kiến Nghiệp.

Trên chiến thuyền năm ngàn thạch ở Nhu Tu Khẩu, Lưu Cảnh và bảy tám đại thần quân Hán đang bàn bạc đối sách trước sa bàn, Lưu Cảnh chậm rãi nói với mọi người:

- Phương án ta xem xét chính là lợi dụng hai vạn quân Tào tấn công Vu Cấm, từ đó chiếm lĩnh toàn bộ phía nam Quảng Lăng.

Lưu Cảnh dùng cây gỗ chỉ vào sa bàn nói:

- Theo thỏa thuận đạt được giữa ta và Tào Phi, quân Tào phải rút lui toàn bộ khỏi phía nam sông Hoài, điều này cũng bao gồm cả hai vạn quân Tào đang đóng giữ ở Giang Đông hiện giờ, nhất định phải làm cho hai vạn quân Tào rút về phía bắc, hai vạn quân Tào của Vu Cấm cũng chỉ có thể từ quận Quảng Lăng rút về phía bắc, chỉ có quân Tào đóng lại quận Quảng Lăng không đi, chúng ta mới có thể lấy lý do quân Tào làm trái với hiệp ước, phát động tấn công với quân Tào, từ đó chiếm lĩnh bờ phía bắc Trường Giang.

Lưu Cảnh nói đến đây, thấy các tướng đều gật đầu, duy chỉ Bàng Thống trầm ngâm không nói, Lưu Cảnh liền hỏi:

- Bàng quân sư có ý kiến gì không?

Bàng Thống khẽ than thở:

- Chỉ sợ hiệp ước giữa chúng ta và Tào Phi không thể trói buộc được Vu Cấm, không có lệnh của Tào Tháo, Vu Cấm sao chịu rút khỏi Giang Đông về phía bắc, e rằng Tào Tháo sẽ không hạ lệnh như thế.

Lưu Cảnh cười nhạt nói:

- Nếu là như vậy, chúng ta sẽ phát động chiến dịch với quân Tào, đuổi quân Tào của Vu Cấm ra khỏi Giang Đông, đến lúc đó, chỉ sợ không cần chúng ta ra tay, Tôn Quyền cũng muốn thúc ép quân Tào rời đi.

Cam Ninh ở bên cạnh cũng cười nói:

- Tốt nhất Vu Cấm không chịu đi, như thế chúng ta mới có lý do tuyên chiến, đợi quân Tào rút về bờ phía bắc, chúng ta sẽ lập tức phát động tiến công, trực tiếp chiếm lĩnh bờ phía bắc Trường Giang.

Các tướng tranh nhau nói, nhao nhao ủng hộ xuất binh tới Giang Đông, thậm chí hy vọng có thể nhân cơ hội này trực tiếp tiêu diệt Giang Đông, nhưng Lưu Cảnh biết, hiện giờ thời cơ diệt vong Giang Đông vẫn chưa chín muồi, cần đi từng bước một.

Hắn khoát tay, trong khoang thuyền lập tức yên tĩnh, Lưu Cảnh nói với các tướng:

- Bất kể thế nào, việc nên làm vẫn phải làm, chúng ta có thể ngoại giao trước, quân sự sau.

Lúc này, Chủ bạc Tần Mật tiến lên thi lễ nói:

- Vi thần nguyện làm sứ giả đi tới Giang Đông!

Tin tức quân Tào thua trận ở Hợp Phì, bị buộc rút lui đến phía bắc sông Hoài từ lâu đã được truyền đến Giang Đông, lập tức đã gây chấn động mạnh cho vua dân Giang Đông, đối với dân chúng bình thường thì tin này đáng được ăn mừng, chiến tranh chấm dứt, nhà giàu không cần sống nơm nớp lo sợ nữa, đối với thương nhân, đây cũng là tin tốt, quân Hán sẽ không cần phong tỏa mặt sông nữa, cho phép thương thuyền đi buôn bán về phía tây.

Tuy nhiên đối với rất nhiều có học ở Giang Đông, tin tức này lại trĩu nặng, quân Hán chiếm lĩnh Giang Hoài, mục tiêu kế tiếp liệu có phải là Giang Đông?

Tuy nhiên đối với Tôn Quyền, kết quả này nằm trong dự liệu của y, từ khi quân Hán đổi chiến dịch ở Hợp Phì sang thành chiến tranh quốc lực, Tôn Quyền đã biết ngay, quân Tào nhất định bại trận, không phải vì đất đai của Tào Ngụy không đủ rộng, mà là trong vấn đề lương thực then chốt nhất trong chiến dịch này, quân Hán có ưu thế hơn.

Họ vừa mới đánh bại Hung Nô, có tiền lời chiến tranh khổng lồ, không chỉ chiếm được mấy trăm vạn con dê bò, mà còn có bãi cỏ Lũng Tây và Hà Tây, nguồn cung cấp quân lương không chỉ là đồng ruộng, xét về điểm này, quân Hán có thể giằng co lâu dài hơn.

Sau khi tin tức quân Tào rút lui về phía bắc được truyền đi, đối với Tôn Quyền, chỉ là chiếc giày thứ hai rơi xuống đất mà thôi, chứng thực cho suy đoán của y, Tôn Quyền không hề sợ hãi trước cái tin này.

Trái lại, chính hai vạn quân Tào ở quận Bì Lăng lại khiến Tôn Quyền khá phiền muộn, lý do rất đơn giản, y đã sắp không gánh nổi chi tiêu lương thực cho đội quân này nữa, hai vạn quân Tào mỗi tháng phải chi một vạn thạch lương thực, hoàn toàn do Giang Đông gánh vác, chúng đã đóng quân sắp được nửa năm, tiêu hao sáu vạn thạch lương thực của Giang Đông.

Trong khi đó ở khu sản xuất lương thực chính, Ngô Quyền vì không đủ nông dân trồng trọt, làm cho lương thực năm nay giảm sản lượng trên diện rộng, chỉ riêng lương thực của năm quận là Đan Dương, Bì Lăng, Tân Đô, Dự Chương và Cửu Giang còn phải chống đỡ cho ba vạn quân đội của Giang Đông, cung ứng lương thực căng thẳng, giá gạo trên thị trường không dưới ba trăm tiền một đấu, khiến áp lực của Tôn Quyền cực lớn.

Tôn Quyền muốn để quân Tào rút về phía bắc, nhưng y lại lo sợ sự uy hiếp của quân Hán ở Thái Hồ và quận Hội Kê, vì thế cứ chần chừ không quyết định, hơn nữa vào tháng mười một năm ngoái, y từng phái người đi thăm dò chủ tướng của quân Tào Vu Cấm, câu trả lời của Vu Cấm lại là phải có thủ lệnh của Ngụy công thì chúng mới có thể rút lui, điều này khiến Tôn Quyền càng phiền lòng, hay là Tào Tháo định cứ để quân Tào đóng quân ở quận Bì Lăng sao?

Trong hậu đường cung Kiến Nghiệp, Tôn Quyền có chút buồn phiền đi qua đi lại, vừa ban nãy, Vu Cấm sai người thúc giục hắn đòi ba tháng lương thực, tính ra là ba vạn thạch lương thực, nhưng trong phủ khố của y chỉ có năm vạn thạch, một khi cấp cho Vu Cấm thì quân đội của y làm sao bây giờ?

Nhu cầu của quân Tào giống như một cái hang không đáy có lòng tham vô tận, không lúc nào không quấy nhiễu tâm trạng vốn đã không yên bình của Tôn Quyền, điều khiến Tôn Quyền phẫn hận hơn là, Tào Tháo còn đồng ý cấp cho Giang Đông mười vạn thạch lương thực, đến giờ đã không còn tin tức gì, còn cả chuyện một vạn thùng dầu hỏa giả, y còn chưa kịp tìm Tào Tháo tính sổ.

Ngoài ra còn có một chuyện cũng khiến Tôn Quyền bất mãn trong lòng, trước đây Tào Tháo đồng ý gả con gái cho mình, nhưng từ khi chiến thuyền của chúng bị quân Hán thiêu rụi, Tào Tháo không bao giờ nhắc đến chuyện này nữa, như thể chưa từng hứa hẹn.

Cho dù Tôn Quyền đang buồn phiền vì chuyện của Tào Tháo và quân Tào, nhưng y cũng biết, lương thực mà quân Tào cần nhất định phải cấp, chỉ là có thể cấp trước một vạn thạch không, không phải một phát lấy ba vạn thạch ra ép bức y.

Đúng lúc này, một gã thị vệ vội đi tới, bẩm báo dưới đường:

- Khởi bẩm Ngô hầu, Trương quân sư có việc khẩn cấp cầu kiến!

Tôn Quyền gật đầu ra lệnh:

- Để ông ta tới gặp ta.

Không lâu sau, Trương Chiêu bước nhanh vào nội đường, cười nói:

- Ngô hầu, Lưu Cảnh lại phái Tần Mật đến.

Tôn Quyền không khỏi ngẩn ra:

- Lần này là vì sao?

- Thần đã hỏi Tần Mật, chính xác là Tần Mật không phải tới gặp Ngô hầu, mà đi tới quận Bì Lăng gặp Vu Cấm.

- Ông ta muốn gặp Vu Cấm làm gì?

Tôn Quyền không hiểu liền hỏi.

- Tần Mật không nói cụ thể, tuy nhiên lão thần cũng có thể đoán được đại khái, Lưu Cảnh hy vọng quân Tào rút khỏi Giang Đông.

Tôn Quyền lạnh lùng hừ một tiếng:

- Hắn muốn quân Tào rút quân, thế tại sao bản thân hắn không rút? Coi Giang Đông là cái gì.

Trương Chiêu cười khổ một tiếng nói:

- Ngô hầu đừng tự tìm phiền não, quân Hán đánh bại quân Tào, hai bên đã ký kết hiệp ước, quân Tào phải rút lui đến phía nam sông Hoài, bao gồm cả đội quân Tào ở Giang Đông, vì thế Lưu Cảnh phái sứ giả tới thúc giục Vu Cấm rút quân, cũng là hợp tình lý.

Tôn Quyền mãi không nói gì, chắp tay đi qua đi lại, bỗng nhiên y quay đầu hỏi:

- Lưu Cảnh bảo quân Tào rút đi, có phải chuẩn bị động thủ với Giang Đông không?

Sắc mặt của Tôn Quyền trở nên vô cùng chăm chú, ánh mắt lạnh lùng nhìn chằm chằm vào Trương Chiêu, việc y lo lắng và sợ nhất có tới bất ngờ hay không?

Trương Chiêu lắc đầu:

- Chỉ một chiến dịch Hợp Phì cũng khiến quốc lực nước Hán kiệt quệ, binh lính mệt mỏi, hơn nữa Giang Đông còn có thực lực, lòng quân lòng dân đều hướng về Ngô hầu, vì thế lão thần cho rằng, hiện hắn sẽ không tấn công Giang Đông, trong vòng một hai năm cũng sẽ không ra tay, nhưng hắn rất kiêng kị Tôn Tào liên minh, vì thế hắn nhất định phải buộc quân Tào tuân thủ hiệp định rút về phía bắc.

Tôn Quyền nghĩ một lát, quả thực cũng là như thế, y liền hơi hạ mình xuống, nói với Trương Chiêu:

- Thật ra ta cũng hy vọng quân Tào có thể rút khỏi Giang Bắc, ít nhất để Tào Tháo tự mình chịu gánh nặng quân lương của chúng, ta thực sự không đủ sức nữa, nhưng chỉ sợ Vu Cấm không chịu rút lui thì làm sao bây giờ?

Trương Chiêu khẽ mỉm cười:

- Vấn đề này lão thần nghĩ Ngô hầu không cần quá lo lắng, lão thần tin Lưu Cảnh sẽ có cách giải quyết.

Tôn Quyền dường như biết Lưu Cảnh sẽ dùng biện pháp gì để thúc ép quân Tào rời đi, y không khỏi khe khẽ thở dài:

- Chỉ mong đừng xuất hiện bi kịch giả đường diệt Quắc.

Mặc dù Tần Mật đi hội kiến chủ tướng của quân Tào ở Vu Cấm, nhưng xuất phát từ lễ tiết, Tôn Quyền vẫn tiếp kiến ông ta, hơn nữa Lưu Cảnh có thái độ gì với Giang Đông, chiến thuyền của quân Hán ở Thái Hồ có rút đi không, những việc này đều phải làm rõ.

Chỉ có điều Tôn Quyền không ôm hy vọng quá lớn với Tần Mật, có lẽ có thể thông qua Tần Mật để bày tỏ thái độ của mình cho Lưu Cảnh biết.

Trong nội đường, Tần Mật thong thả uống một ngụm trà, cười nói với Tôn Quyền:

- Quân Hán sở dĩ đóng quân ở Thái Hồ, là vì chống lại quân Tào ở quận Bì Lăng, chứ không phải nhắm vào Giang Đông, một khi quận Bì Lăng có thể rút khỏi Giang Đông, Hán Vương điện hạ cũng sẵn lòng cắt giảm trú quân ở Thái Hồ.

Trương Chiêu và Bộ Chất ngồi một bên liếc nhìn nhau, đối phương dùng từ rất thận trọng, lại dùng cắt giảm chứ không phải rút khỏi, điều này chứng tỏ quân Hán vẫn sẽ đóng quân ở Thái Hồ.

Đương nhiên, kể cả Tần Mật nói quân Hán sẽ rút đi, bọn họ cũng sẽ không tin, ăn được miếng thịt béo bở trong mồm sao có thể dễ dàng nhả ra, Tần Mật nói cắt giảm trú quân, liệu có mấy phần đáng tin.

- Không biết quân Hán chuẩn bị cắt giảm bao nhiêu trú quân?

Tôn Quyền không lộ thanh sắc hỏi.

- Cụ thể bao nhiêu ta cũng không rõ lắm, có điều ý của Hán Vương điện hạ là nói có thể thương lượng cụ thể, chỉ cần quân Tào rút đi, quân Hán rút toàn bộ cũng không phải là không thể.

Cách nói này khiến tinh thần mọi người có mặt đều hứng khởi hơn, quả thật như thế, chỉ cần quân Tào rút về phía bắc, quân Hán cũng không có lý do tiếp tục ở lại Thái Hồ, quân Hán nhất định sẽ đưa ra điều kiện rút quân, rút quân có điều kiện.

Đối với Tôn Quyền, quân Hán chịu rút khỏi Thái Hồ, giải trừ được mối nguy của Giang Đông, đây mới là việc quan trọng nhất, còn về điều kiện rút quân, chỉ cần không quá đáng quá, y cũng có thể chấp nhận.

Nghĩ vậy, Tôn Quyền vui vẻ cười nói:

- Vậy để Bộ Trưởng sử và Tần Chủ bạc cùng tới Tào doanh đi!

Chương 976: Giả đạo diệt Quắc.

Tần Mật đi nghỉ ngơi trước, trên nội đường chỉ còn lại ba người, lúc này, Tôn Quyền thở dài nói:

- Chúng ta rốt cuộc có muốn quân Tào rời đi không?

Trương Chiêu chần chừ một lát đáp:

- Trước đây Ngô hầu chẳng phải đã công khai tày tỏ thái độ hy vọng quân Tào rút khỏi Giang Đông rồi sao?

Tôn Quyền lắc đầu:

- Đó là chuyện của tháng mười một năm ngoái, khi đó Tào Tháo và Tào Phi đều không để ý đến, hiện giờ tình thế đã khác, quân Tào đã rút về phía bắc sông Hoài, nếu quân Tào ở Giang Đông lại đi nữa, e rằng ta sẽ không có trợ lực, nhưng nếu quân Tào không đi, ta lại không thể gánh được chi phí tiền lương của quân đội, nói thật, ta khó cả đôi đường!

Nói đến đây, Tôn Quyền lấy ra một phong thư, đưa cho Trương Chiêu và Bộ Chất.

- Đây là bức thư khẩn hôm trước Tào Tháo sai người đưa đến, ý của lão là mong chúng ta có thể công khai giữ lại quân Tào.

Trương Chiêu và Bộ Chất cũng không khỏi sững sờ, họ lại không biết chuyện Tào Tháo đã đưa thư tới, Ngô hầu cũng không nói cho họ biết, Trương Chiêu vội nhận lấy thư xem một lượt, Tôn Quyền nhìn y chăm chú rồi hỏi:

- Tử Bố có thái độ thế nào?

Trương Chiêu đưa thư cho Bộ Chất, cân nhắc mãi mới đáp:

- Vi thần cho rằng Tào Tháo bị ràng buộc bởi hiệp ước với Lưu Cảnh nên phải tỏ vẻ rút quân, nhưng lão lại không muốn rời khỏi Giang Đông, nên hy vọng chúng ta giữ lại, như thế lão có thể ăn nói với Lưu Cảnh.

- Ý của Trưởng sử thế nào?

Ánh mắt của Tôn Quyền lại chuyển sang phía Bộ Chất.

Bộ Chất thở dài nói:

- Tào Tháo muốn đẩy trách nhiệm cho chúng ta, thật ra trách nhiệm gì đó cũng không quan trọng, mấu chốt là quân Hán có rút quân khỏi Thái Hồ hay không, nếu quân Hán không chịu rút thì quân Tào cũng tốt nhất là giữ lại, nhưng nếu quân Hán chịu rút, quân Tào cũng không cần ở lại Giang Đông nữa.

Bộ Chất nhìn rất thấu đáo, trực tiếp nêu được căn nguyên vấn đề, tốt nhất hai bên đều rút quân!

Chỉ có điều điều kiện đầu tiên để quân Hán rút quân là quân Tào phải rời khỏi, điều này làm cho Giang Đông phải mạo hiểm, trước tiên để quân Tào rút quân, sau đó lại đàm phán với quân Hán, Tôn Quyền trầm tư thật lâu, cuối cùng gật đầu:

- Quân Tào ở lại Giang Đông, tác dụng thật ra cũng không lớn lắm, trái lại sẽ tạo cái cớ cho Lưu Cảnh tấn công, thôi được! Chúng ta sẽ tỏ thái độ rõ ràng, quân Tào phải rời khỏi Giang Đông.

Quận Bì Lăng cũng chính là vùng Thường Châu ngày nay, vào thời Tam Quốc, nơi này là trọng địa đồn điền của Giang Đông, Giang Đông đã đặc biệt bố trí Giáo úy điển nông của Bì Lăng ở đây, phụ trách đồn điền. Thế nhưng trong thời gian chiến tranh Hợp Phì, Tào Tháo vì hiệp trợ Giang Đông chống lại quân Hán ở quận Hội Kê, đã to gan đưa hai vạn quân của Vu Cấm tiến vào Giang Đông, đóng quân ở quận Bì Lăng, loáng cái đã hơn nửa năm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đồn điền của Giang Đông ở đây.

Lúc này chiến dịch Hợp Phì đã chấm dứt, toàn bộ quân Tào rút lui về phía bắc sông Hoài, theo thỏa thuận của hai bên, quân đội của Vu Cấm cũng phải lui về phía bắc sông Hoài, chỉ có điều quân đội của Vu Cấm là do Tào Tháo đích thân bố trí, không thuộc quyền cai quản của Tào Phi, do đó muốn quân đội của gã rút về phương bắc, nhất định phải có mệnh lệnh của Tào Tháo.

Đương nhiên, thỏa thuận dừng chiến giữa Tào Phi và Lưu Cảnh đã đại diện cho hai nước Hán Ngụy, nên Vu Cấm cũng phải tuân theo, chỉ là trong lúc này có vấn đề về thời gian, cần đợi sau khi Tào Tháo phê chuẩn hiệp ước dừng chiến, mới truyền mệnh lệnh, bảo quân đội của Vu Cấm rút về phía bắc.

Đây là quy trình nhất định phải làm, nói cách khác, có gấp cũng không gấp được, tuy nhiên hai quân Hán Tào không biết đã ký bao nhiêu hiệp ước, phần lớn đều không tuân thủ, hai bên cũng tập thành thói quen, Tào Tháo cũng không coi thỏa thuận ký kết tại Hợp Phì là cái gì cả, với lão, cuộc chiến Hợp Phì chẳng qua là thực lực không đủ, rút lui bằng một phương thức thể diện mà thôi, một khi khôi phục được thực lực, lão sẽ còn phái quân đội xuôi xuống phía nam đoạt lại Hợp Phì.

Tương tự, một khi quân Hán có đủ thực lực, họ cũng sẽ tìm cớ xé bỏ hiệp ước, đại quân vượt qua phía bắc sông Hoài, tuyệt đối sẽ không thực sự bị quản chế bởi thời hạn hai năm ngừng chiến.

Cũng chính bởi trong lòng hai bên có ký kết ngầm, nên Tào Tháo trên thực tế không muốn rút quân Tào ở Giang Đông về, lão hy vọng dùng đội quân này để kiềm hãm quân Hán tấn công Giang Đông, từ đó giữ được Giang Đông.

Tuy nhiên Tào Tháo lại không suy xét đến khả năng chịu đựng của Giang Đông, không nghĩ đến việc Giang Đông sẽ không chịu nổi chi phí tiền lương của quân Tào, Tôn Quyền đã công khai bày tỏ, mong đội quân Tào này có thể nhanh chóng rút khỏi Giang Đông.

Thế nhưng điều càng khiến Tào Tháo khó xử là, cho dù quân Tào đã từ Thọ Xuân rút về phía bắc, nhưng quân Hán ở Bành Thành lại chần chừ không có ý định rút về phía nam, cho dù hai bên đều không nói rõ, nhưng trong lòng Tào Tháo hiểu, nếu quân Tào ở Giang Đông không rút lui về phía bắc thì quân Hán ở Từ Châu cũng sẽ không rút về phía nam.

Chính vì cân nhắc điều này, Tào Tháo liền gửi cho Vu Cấm một bức thư khẩn qua chim bồ câu, trong thư nói về nguyên tắc đồng ý cho Vu Cấm rút về phía bắc, nhưng phải xem thái độ của Giang Đông, nói cách khác, nếu GiangĐông không để quân Tào rút lui, thì quân Tào sẽ tiếp tục ở lại quận Bì Lăng, còn về việc quân Hán ở Từ Châu chậm trễ không chịu rút lui về phía nam, Tào Tháo sẽ can thiệp tiếp với Lưu Cảnh.

Tôn Quyền cũng biết điều này, cho nên y mới phái Bộ Chất cùng tới Bì Lăng với Tần Mật, bày tỏ rõ ràng thái độ của Giang Đông, hy vọng quân Tào rút khỏi Giang Đông.

Trong đại doanh của quân Tào ở ngoài huyện thành Bì Lăng, Vu Cấm một mình ngồi trong đại trướng, có vẻ tâm sự nặng nề, trên bàn có một phong thư, là tộc đệ Vu Trạch vừa sai người đưa đến.

Chuyện Vu Trạch đầu hàng quân Hán ở Nam Dương, Vu Cấm cũng có nghe nói, lúc ban đầu gã có chút khẩn trương, chỉ sợ Vu Trạch sẽ liên lụy đến mình, nhưng Tào Tháo vẫn bổ nhiệm gã làm chủ soái quân Tào đóng ở Giang Đông, lúc này Vu Cấm mới thở phào, gã cũng vô cùng cảm kích sự tín nhiệm của Tào Tháo với mình.

Mà lúc này Vu Trạch lại viết một bức thư đến, đề nghị gã nhìn rõ đại thế thiên hạ, sớm có lựa chọn sáng suốt, đồng thời trong thư còn tiết lộ, Hán Vương đặc biệt coi trọng gã, nếu gã đầu hàng, chắc chắn sẽ được Hán Vương trọng dụng.

Thực ra Vu Cấm cũng biết rất rõ tình hình ngày một bất lợi cho Tào Ngụy, nước Hán không chỉ đã vượt qua Tào Ngụy về quân sự và quốc lực, mà sau khi Lưu Cảnh định đô ở Trường An còn giành được ưu thế về chính trị, người trong thiên hạ đã dần dần quên mất thiên tử bù nhìn ở Nghiệp Đô, mà coi Lưu Cảnh là người thừa kế của vương triều Đại Hán, Lưu Cảnh thống nhất thiên hạ chỉ là vấn đề thời gian.

Tình thế đã đến bước này, Vu Cấm sao không suy xét đến tiền đồ của mình, chỉ là Tào Tháo đối đãi với gã không bạc, hơn nữa từ sau khi Vu Trạch đầu hàng vẫn tín nhiệm gã như vậy, điều này khiến Vu Cấm sao nhẫn tâm phản bội Tào Tháo.

Về phần Lưu Cảnh đặc biệt xem trọng gã, Vu Cấm đương nhiên biết nguyên nhân nằm ở đâu, gã cũng chỉ có thể cười gượng, có lẽ năm đó gặp Lưu Cảnh đúng là duyên phận ông trời sắp xếp!

Đang nghĩ thì có binh lính bước nhanh tới cửa đại trướng bẩm báo:

- Khởi bẩm Tướng quân, sứ giả của Hán Vương là Tần Mật và sứ giả của Ngô hầu là Bộ Chất đang ở ngoài quân doanh cầu kiến.

Vu Cấm bỗng sững người, hai sứ giả lại dắt tay nhau đến, gã trầm tư một lát bèn đáp:

- Mời bọn họ đến thiên trướng ngồi tạm, ta sẽ đến ngay!

Không lâu sau, một gã quan quân mời Tần Mật và Bộ Chất vào thiên trướng:

- Hai vị sứ quân mời ngồi tạm, ta sẽ đi mời Tướng quân tới.

Chương 977.2: Ép Tào rút về phía bắc.

Quan quân vội vàng bước đi, Bộ Chất khẽ nhắc nhở Tần Mật:

- Vu Cấm chưa chắc chịu rút lui về phía bắc, Tử Sắc có thể kín đáo nhắc nhở gã, thái độ và ngữ khí không được cứng rắn, phòng khi gã giam giữ chúng ta làm vật thế chấp.

Tần Mật cười gật đầu:

- Yên tâm đi! Ta đã có tính toán trong lòng.

Lát sau, Vu Cấm bước nhanh vào đại trướng, gã vừa vào đã cười sang sảng nói:

- Không biết hai vị sứ giả đến, không nghênh đón từ xa, thứ tội! Thứ tội!

Tần Mật và Bộ Chất đồng thời đứng dậy, cùng thi lễ với Vu Cấm:

- Vu Tướng quân quá khách khí rồi.

Vu Cấm và hai người ngồi xuống, Vu Cấm hỏi Bộ Chất trước:

- Lương thảo trong quân chỉ chống cự được mấy ngày nữa, không biết khi nào Ngô hầu mới đưa được lương thảo tới?

Bộ Chất có vẻ cười xấu hổ:

- Ngô hầu đã đang sắp xếp!

- Vậy vẫn phải xin Trưởng sử thay ta thúc giục Ngô hầu, quân kỷ của quân Tào còn tốt, nhưng một khi cạn lương thực, ta lo các binh lính sẽ bị ép làm những hành vi tổn hại đến dân thường, đây là chuyện mà hai bên chúng ta đều không mong xảy ra.

Sự uy hiếp trắng trợn của Vu Cấm khiến mặt Bộ Chất biến sắc, nụ cười trên khuôn mặt y biến mất, sầm mặt không nói gì, Vu Cấm nhìn chằm chằm Bộ Chất với ánh mắt lạnh lẽo, thấy y không đáp lại mình, lúc này mới thầm hừ một tiếng, nở nụ cười, quay đầu nói với Tần Mật:

- Không biết Tần Chủ bạc đường xa đến, có việc gì gấp cần Vu Cấm ra sức?

Tần Mật lấy một quyển trục ra, đưa cho Vu Cấm:

- Đây là hiệp ước dừng chiến mà hai quân Hán Tào đã ký kết, trên đó có chữ ký chính tay của thế tử Ngụy công đại diện cho nước Ngụy, ta tin Vu Tướng quân cũng biết việc này, vậy theo hiệp ước giữa hai bên, quân Tào nhất định phải rút lui đến phía bắc sông Hoài, cũng bao gồm cả quân đội của Vu Tướng quân, Hán Vương điện hạ muốn biết, Vu Tướng quân chuẩn bị khi nào rút quân?

Vu Cấm chậm rãi nhận lấy quyển trục, mở ra xem, không ngờ là bản gốc, trên đó có chữ ý đồng ý của thế tử Tào Phi, gã trầm ngâm mãi mới đáp:

- Việc này ta cũng có nghe nói đến, theo quy định hiệp ước, ta quả thực nên rút lui về phía bắc, chỉ có điều quân quy của quân Tào nghiêm khắc, ta phải nhận được hổ phù rút quân và thủ lệnh của Ngụy công mới có thể rút quân, đường từ Nghiệp Đô đến Giang Đông xa xôi, cần một chút thời gian, xin Tần Chủ bạc chuyển lời đến Hán Vương điện hạ, ngay khi Ngụy Công truyền lệnh đến, ta sẽ lập tức rút về phía bắc.

Nói đến đây, Vu Cấm lại liếc nhìn Bộ Chất, cười nói:

- Đương nhiên, quân Tào rút lui về phía bắc còn phải được Giang Đông đồng ý, dù sao trước đây là Giang Đông mời quân Tào xuống phía nam, chủ nhân không mở miệng, kẻ làm khách cũng không nên tùy ý rời đi.

Vu Cấm vốn cho rằng Bộ Chất sẽ nói đi xin chỉ thị của Ngô hầu vân vân, cùng với mình khéo léo từ chối yêu cầu rút quân của Tần Mật, không ngờ Bộ Chất vì ban nãy Vu Cấm bức lương thực nên trong lòng cực kỳ không vui, ném hết lời nhắc nhở trước đây rằng Tần Mật phải dùng lời lẽ cô đọng khéo léo đi, Vu Cấm vừa dứt câu, gã đã lạnh lùng tiếp lời:

- Ngô hầu đã quyết định, tiếp nhận hiệp ước ngừng chiến giữa quân Hán và quân Tào, nếu quân Tào muốn qua sông rút lui về phía bắc, Giang Đông tuyệt không ngăn cản, đồng thời sẽ cung cấp thuyền vượt sông.

Sắc mặt của Vu Cấm lập tức u ám, ba người không ai nói gì, không khí trong đại trướng trở nên cực kỳ đè nén, qua một lúc lâu, Vu Cấm mới gật đầu nói:

- Thái độ của Giang Đông ta sẽ kịp thời chuyển tới Ngụy công, mặt khác chuyện rút quân như ban nãy ta đã nói, chỉ cần Ngụy công truyền mệnh lệnh, ta sẽ lập tức rút quân, đây cũng coi như thái độ chính thức của ta, cũng xin Tần Chủ bạc hồi bẩm với Hán Vương điện hạ.

Tần Mật khẽ mỉm cười đứng lên nói:

- Đã thế, ta xin cáo từ.

Vu Cấm cũng lạnh lùng liếc nhìn Bộ Chất, lại nói:

- Việc quân lương, vẫn mong Bộ Trưởng sử lưu tâm, quân lương của ta chỉ đủ chống cự ba ngày nữa, sau ba ngày sẽ xảy ra rất nhiều chuyện không vui, đến lúc đó đừng trách ta không nhắc nhở Giang Đông.

Bộ Chất không nói câu gì, theo Tần Mật cáo từ rời đi, Vu Cấm vẫn đưa họ ra khỏi đại doanh, nhìn đám người đó đi xa, trong lòng gã không khỏi thở dài, hiện giờ mình nên làm sao đây? Rút hay không rút?

Thật ra gã đã nhận được lệnh rút quân của Tào Tháo, chỉ là Tào Tháo bảo gã dùng Giang Đông để lấy lệ, cố gắng kéo dài thời gian, cuối cùng làm cho chuyện rút quân bị bỏ mặc đó.

Nhưng giờ Giang Đông đã bày tỏ thái độ rõ ràng, muốn mình rút quân, hơn nữa quân lương của gã nhiều nhất chỉ chống cự được mười ngày, nhìn ý tứ của Giang Đông là không chuẩn bị trích cấp lương thực cho chúng ta nữa, lẽ nào thật sự muốn ép gã tung binh cướp sạch quận Bì Lăng sao?

Ngụy công bảo mình xem thái độ mà hành động, gã lại làm thế nào được chứ? Quân Hán ngoại giao trước, quân sự sau, trước tiên phái sứ giả tới thúc mình rút lui về phía bắc, nếu mình không chịu rút quân, quân Hán tất nhiên sẽ tăng binh với ồ ạt vào Thái Hồ, đe dọa trực tiếp tới quận Bì Lăng, không chừng sẽ nhân cơ hội tiêu diệt Giang Đông.

Trong lòng Vu Cấm rối loan, lúc này gã lại nghĩ đến mật thư mà huynh đệ Vu Trạch đưa tới, do dự thật lâu, cuối cùng Vu Cấm thở dài, mình quả thật không thể đắc tội Lưu Cảnh, phải để cho mình đường rút lui thôi!

Sáng sớm hôm sau, Vu Cấm triệu tập tướng lĩnh tam quân, truyền đạt hợp ước dừng chiến đã ký kết giữa Hán và Tào, cùng lệnh rút quân của Ngụy công, chính thức tuyên bố quân Tào rút lui về phía bắc.

Hai vạn quân Giang Đông nhổ trại lên đường, trùng trùng điệp điệp tiến về phía Kinh Khẩu, sớm đã có binh lính chạy đi bẩm báo với Tôn Quyền, Tôn Quyền được biết quân Tào ở quận Bì Lăng quyết định rút về phương bắc, trong lòng vừa mừng thầm lại vừa có chút lo lắng.

Y lập tức lệnh cho Thái thú quận Đan Dương là Lã Phạm mau tới Kinh Khẩu, tập trung năm mươi thương thuyền cho quân Tào, trợ giúp quân Tào vượt sông, còn bảo Huyện lệnh Kinh Khẩu trích cấp năm nghìn thạch lương thực từ trong kho cho quân Tào, làm quân lương cho quân Tào rút lui về phía bắc.

Cùng lúc đó, Tôn Quyền lại âm thầm ra lệnh cho Đại tướng Hoàng Cái và Chu Thái mỗi người dẫn một vạn quân, bố trí ở vùng Kinh Khẩu, giám sát quân Tào vượt sông rút về phương bắc.

Ba ngày sau, hai vạn quân Tào đã tới Kinh Khẩu, lúc này trên bến tàu ngoài Kinh Khẩu đã có hơn năm mươi thuyền buôn neo đậu ở đó, phần lớn là thuyền hàng nghìn thạch, còn có năm ngàn thạch lương thực chất trên bến tàu.

Khi Vu Cấm dẫn các tướng tới bến tàu, Lã Phạm chờ đã lâu lập tức ra tiếp đón, từ xa đã chắp tay cười nói:

- Ngô hầu vốn định đích thân tới tiễn Vu Tướng quân quay về phía bắc, tiếc rằng công việc bận rộn, liền ủy thác cho ta thay mặt ngài bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Vu Tướng quân.

Lời nói màu mè cũng không đỡ được sự lạnh nhạt vì Tôn Quyền không chịu đến đưa tiễn quân Tào, có điều lúc này Vu Cấm đã không còn hứng thú với Giang Đông, tối qua gã lại nhận được thư bồ câu khẩn mà Tào Tháo gửi tới, lệnh cho gã lập tức lên phía bắc chiếm giữ Từ Châu, quân Hán ở Từ Châu đã rút quân khỏi Bành Thành về phía đông nam.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!