Đây là mệnh lệnh thứ hai của Tào Tháo, chính thức bảo gã rút khỏi Giang Đông, trong lòng Vu Cấm có chút kỳ lạ, theo lý, Từ Châu là phạm vi thế lực của Tào Nhân, nên là quân đội Tào Nhân tiến vào chiếm giữ Từ Châu mới đúng, sao bảo mình đi đóng giữ Từ Châu làm gì.
Điều này khiến cho Vu Cấm suy nghĩ mãi không có lời giải đáp, gã nhạy cảm ý thức được, rất có thể quân quyền trong nội bộ Tào Ngụy đã có điều chỉnh lớn, hẳn là liên quan đến thế tử, Vu Cấm có một sự lo lắng không hiểu nổi, lúc này gã cũng không để ý đến thái độ của Giang Đông
Vu Cấm gật đầu, gã nhìn mấy ngàn bao lương thực chất trên bến tàu hỏi:
- Số lương thực kia là quân lương cấp cho chúng ta sao?
Lã Phạm vội cười đáp:
- Đúng vậy, là quân lương Ngô hầu cấp cho quân Tào dùng trên đường, tổng cộng năm ngàn thạch!
- Chỉ có năm ngàn thạch, Ngô hầu các ngươi đang xua đuổi ăn mày đấy hả!
Vu Cấm cực kỳ bất mãn nói.
Lã Phạm vội vàng giải thích:
- Ngô hầu đưa một vạn thạch lương thực cho quân Tào, đây chỉ là một nửa, nửa kia nằm trong huyện Cao Bưu ở Giang Bắc, kho quan ở đó cũng có năm ngàn thạch lương thực tồn kho, Ngô hầu đã đưa thư tới Huyện lệnh của Cao Bưu, Vu Tướng quân có thể lấy năm ngàn thạch lương thực đi.
Sự nhỏ mọn của Tôn Quyền thực khiến người ta khinh bỉ, Vu Cấm lạnh lùng hừ một tiếng, lập tức dặn dò tướng lĩnh phía sau:
- Phái người đi nhận quân lương!
Gã lập tức chắp tay nói với Lã Phạm:
- Xin Lã công chuyển lời đến Ngô hầu, đa tạ sự quan tâm của Ngô hầu nửa năm nay, chúng ta sau này còn gặp lại!
- Chúc Vu Tướng quân thuận buồm xuôi gió!
Vu Cấm cáo từ Lã Phạm, dẫn đầu đội quân bắt đầu lên thuyền, từng chiếc thuyền lớn xuất phát, chậm rãi hướng tới Giang Bắc, để hai vạn đại quân lên thuyền mất một ngày, rốt cuộc toàn bộ quân Tào mới rời khỏi Giang Đông.
Lã Phạm vẫn đợi đến khi tốp quân Tào cuối cùng lên thuyền rời đi, y mới thở dài nhè nhẹ, quay đầu ra lệnh:
- Mau tới Kiến Nghiệp bẩm báo Ngô hầu, nói quân Tào đã rời khỏi Giang Đông.
Ngay trong lúc quân Tào đang chỉnh quân trên bờ Giang Bắc, Đại tướng Hoàng Trung và Cam Ninh mỗi người dẫn ba vạn quân nhanh chóng tiến quân vào quận Quảng Lăng, quân Hán chia làm hai đường, một đường men theo phía nam sông Hoài đông tiến, một đường xuyên qua Chiêu Quan, men theo phía bắc Trường Giang đông tiến, cực giống như muốn bao vây toàn diệt quân Tào.
Lúc này Vu Cấm dẫn đầu đại quân đã rời khỏi thị trấn quan trọng của Giang Bắc là thành Quảng Lăng, đang men theo Trung Độc Thủy hành quân về phía bắc, họ chuẩn bị vượt sông Hoài ở Hoài Âm.
Khu vực Giang Bắc ở thời kỳ Tam Quốc phân bố phần lướn đất đai bị nhiễm phèn cằn cỗi và đầm lầy, đại bộ phận dân chúng đều chuyển đến phía nam Trường Giang, khiến cho dân cư khu vực Giang Bắc thưa thớt, thành trì càng lác đác, mấy chục dặm cũng không thấy một bóng người, khắp nơi đều là đầm nước và rừng rậm.
Trên mảnh đất cằn cỗi này, điều quan trọng duy nhất chính là một kênh đào được khai thác vào thời Hán, tên là Trung Độc Thủy, kênh đào nối giữa sông Hoài và Trường Giang, buôn bán qua lại giữa Giang Hoài và Giang Đông nhộn nhịp, vật tư và lương thực của khu vực Giang Hoài có một nửa là vận chuyển qua Trường Giang, còn nửa kia được vận chuyển tới Giang Đông thông qua kênh đào Trung Độc Thủy.
Ở trung đoạn của kênh đào này có một huyện thành, gọi là huyện Cao Bưu, nơi đây là trạm trung chuyển của kênh đào, xây dựng rất nhiều kho lương thực và vật tư, trong đại chiến Hợp Phì, lương thực tồn kho trong kho quan ở các vùng của Giang Hoài về cơ bản đều đã bị điều đến Thọ Xuân, trong khi đó huyện Cao Bưu do thuộc Giang Đông nên may mắn được miễn, trong kho còn có năm ngàn thạch lương thực, Tôn Quyền đã hạ lệnh đưa cho quân Tào.
Vu Cấm đang lúc cần gấp năm ngàn thạch lương thực này, mới lệnh cho quân đội men theo Trung Độc Thủy lên phía bắc, sẩm tối hôm nay, mắt nhìn thấy cách huyện Cao Bưu không còn xa, nhưng trời bỗng nhiên đổ mưa to.
Màn đêm dần buông xuống, mưa càng lúc càng lớn, đường xá cũng trở nên lầy lội, hành quân khó khăn, quân Tào vốn định tới huyện Cao Bưu cắm trại đã buộc phải thay đổi kế hoạch, đành hạ trại qua đêm trong một khu rừng, trong cơn mưa lớn, các binh lính lội bì bõm, chạy ào ào vào rừng cây.
Vu Cấm dẫn theo mấy chục thân binh, cưỡi ngựa thị sát quân Tào hạ doanh trướng, do doanh trướng không nhiều, chỉ có mấy trăm cái, nên chỉ quan quân và binh lính bị bệnh mới được vào ở, còn hầu hết binh lính đành phải núp dưới gốc cây to, chen chúc nhanh qua đêm, cơm cũng không nấu được nên đành uống nước lã nhai gạo rang.
Lúc này đang vào tháng hai đầu xuân, trong cái ấm áp còn chút se lạnh, trong đêm mưa trời càng ẩm ướt và lạnh lẽo hơn, ngay cả Vu Cấm cũng lạnh đến run lẩy bẩy, phải quấn thêm một cái chăn lông, sĩ khí binh lính của gã đê mê, rét lạnh khó chịu nổi, không khỏi cúi đầu thở dài. Kiểu thời tiết và sự lạnh lẽo này rất dễ khiến cảm xúc của con người ta trầm xuống, cơ thể hơi yếu một chút cũng sẽ không chịu nổi được rét mà đổ bệnh.
Cách mười dặm về phía bắc chính là huyện thành Cao Bưu, đó là huyện duy nhất trước khi đến Hoài Âm, dân số khoảng hai nghìn hộ, trong thành có mười mấy nhà kho lớn, là trạm trung chuyển lương thực từ Giang Hoài đi phía nam tới Quảng Lăng, Vu Cấm được tin từ Lã Phạm rằng trong kho lương của Cao Bưu còn khoảng bốn năm ngàn thạch lương thực, điều này cực kỳ quan trọng với chúng.
Mặt khác, đám binh lính được tiến vào chiếm giữ thành trì, đối với đám lính mấy ngày nay hành quân vắng vẻ mà nói thì đây cũng là một sự an ủi rất lớn.
Gã vốn dự định vào trong thành Cao Bưu nghỉ ngơi ba ngày, thế nhưng mưa quá to, đường sá lầy lội khó đi, tối nay bọn họ không có cách nào tới huyện Cao Bưu nữa.
Lúc này, trong rừng cây bỗng vang lên tiếng vó ngựa dồn dập, chỉ nghe thấy thám báo lớn tiếng hỏi ngoài bìa rừng:
- Tướng quân đang ở đâu? Có quân tình khẩn cấp.
Vu Cấm kinh ngạc, thúc ngựa chạy ra khỏi rừng cây, đúng lúc gặp mấy tên thám báo:
- Đã xảy ra chuyện gì?
Vu Cấm hỏi.
Thám báo cầm đầu chắp tay trên ngựa đáp:
- Khởi bẩm Tướng quân, phía bắc có một nhóm quân Hán đang tới, khoảng hơn hai ngàn người, bọn chúng đi thuyền đến, mang theo rất nhiều thuyền.
Vu Cấm nghi hoặc trong lòng, hơn hai ngàn quân Hán xuôi phía nam, là chuyện gì thế? Gã lại hỏi:
- Chuyện xảy ra khi nào?
- Xảy ra một canh giờ trước.
Vu Cấm cúi đầu suy nghĩ một lát, đột nhiên bừng tỉnh, vội hỏi:
- Quân Hán vào thành Cao Bưu rồi sao?
- Huyện thành Cao Bưu đã bị quân Hán chiếm lĩnh rồi.
Vu Cấm lập tức khẩn trương, quân lương trong tay gã không nhiều, khó có thể chống cực cho bọn chúng tới Từ Châu, nghĩ đến việc lương thực trong kho quan ở các nơi của Giang Hoài đều đã bị điều đi Thọ Xuân, sự bổ sung duy nhất của bọn chúng chính là năm ngàn thạch lương thực ở huyện Cao Bưu này, nếu quân Hán chuyển hết lương thực đi, bọn chúng phải làm sao bây giờ?
Vu Cấm bất chấp việc có thể bùng nổ xung đột với quân Hán, bất kể thế nào, gã nhất định phải giữ lại năm ngàn thạch lương thực, Vu Cấm lập tức hạ lệnh cho Phó tướng vừa đến là Vương Tấn:
- Vương Tướng quân hãy dẫn ba ngàn binh mau tới huyện Cao Bưu, khống chế đội thuyền của quân Hán, không cho chúng chuyển lương thực đi, cố gắng đừng xảy ra xung đột, ta sẽ đến ngay sau.
Vương Tấn nhận lệnh, lập tức dẫn ba ngàn quân đội mưa chạy gấp tới huyện Cao Bưu cách đó mười dặm, Vu Cấm chờ thêm nửa canh giờ nữa, đợi mưa nhỏ hơn, gã mới dẫn năm ngàn quân đi chi viện Phó tướng Vương Tấn.
Nhưng trong lúc chỉ còn cách huyện Cao Bưu ba bốn dặm nữa, quân đội của Vu Cấm đã gặp mấy tên kỵ binh hối hả chạy về báo tin, kỵ binh dẫn đầu lớn tiếng bẩm báo:
- Khởi bẩm Vu Tướng quân, chúng ta chiến đấu ác liệt với quân Hán, hai bên thương vong thê thảm, Vương Tướng quân cũng bị trọng thương, khẩn cầu Tướng quân lập tức tăng viện.
Vu Cấm chấn động, giận dữ nói:
- Rốt cuộc là chuyện gì? Sao lại xảy ra chiến đấu kịch liệt?
- Chúng ta vội tới ngoài thành Cao Bưu, đúng lúc gặp quân Hán đang chuyển lương thực lên thuyền, Vương Tướng quân lệnh cho binh lính quân Hán dừng lại, nhưng quân Hán không chịu, hai bên trong lúc tranh giành lương thực đã xảy ra xung đột, lập tức nổ ra cuộc chiến dữ dội, chúng ta đã giết chết mấy trăm quân Hán ngoài thành, nhưng cũng bị quân Hán trong thành tập kích từ phía sau, các huynh đệ thương vong gần ngàn người.
Vu Cấm cũng biết, một khi tranh giành lương thực, xung đột là điều tất yếu, chỉ là gã hy vọng xung đột này cố gắng giảm bớt một chút, không cần làm ầm sự việc, nhưng không ngờ lại bùng nổ chiến đấu ác liệt, Phó tướng cũng bị trọng thương.
Vu Cấm vừa tức vừa vội, hạ lệnh cho thuộc hạ:
- Dốc toàn tốc lực mau tới huyện Cao Bưu!
Lúc này cuộc chiến vô cùng kịch liệt trên bến tàu ở phía bắc huyện thành Cao Bưu, mấy ngàn người đội mưa chém giết trong đêm tối, cung tiễn không thể sử dụng trong mưa, đành dùng trường mâu đâm chọc, chiến đao bổ chém, tiếng kêu la rung trời, giằng co một mất một còn, nước mưa hòa chung với máu, xác chết bị giẫm đạp trong bùn lầy, hai bên đều điên cuồng, thậm chí xuất hiện tình cảnh khó phân biệt địch ta, tàn sát lẫn nhau.
Mặc dù quân Hán chỉ có hơn hai ngàn người, binh lực kém hơn đối phương, nhưng khả năng đánh đêm lại mạnh hơn quân Tào, trong cuộc huyết chiến kéo dài một canh giờ, thương vong không bằng một nửa quân Tào, cho dù như thế thì quân Hán vẫn thương vong hơn bảy trăm người.
Đúng lúc này, một tiếng kèn tấn công từ xa vang đến, đây là tiếng báo hiệu viện quân của quân Tào đã đến, quân Tào vốn bị giết tới mức lần lượt tháo chạy bỗng lập tức chấn hưng sĩ khí, bắt đầu vồ đến quân Hán.
Lúc này, trong quân Hán vang lên tiếng chuông chói tai, hơn một ngàn quân Hán bắt đầu nhanh chóng rút lui về phía bắc, bỏ lại hàng trăm chiếc thuyền tới chở lương thực và mấy ngàn thạch lương thực, hoảng sợ rút chạy.
Vu Cấm không truy kích quân Hán chạy về phía bắc, gã hạ lệnh thu dọn chiến trường, chôn lấp bính lính hai bên bị chết trận, lại lệnh cho binh lính vận chuyển toàn bộ lương thực trong kho lên thuyền, khi trời sắp sáng, hai vạn quân Tào đã tới hết quận Cao Bưu, Vu Cấm vốn định nghỉ ở huyện Cao Bưu ba ngày, nhưng vì xảy ra cuộc chiến đấu tranh giành lương thực ở Cao Bưu nên gã cũng không muốn chậm trễ nữa, lệnh cho các binh lính chỉnh đốn đội hình, lập tức tiến lên phía bắc.
Nhưng Vu Cấm nằm mơ cũng không ngờ rằng, sự kiện tranh giành lương thực ở Cao Bưu đã diễn biến thành sự kiện nghiêm trọng quân Tào tập kích thương đội nước Hán ở Hoài Nam, phá hoại hiệp ước dừng chiến, giúp quân Hán tìm được cái cớ xuất binh, sáu vạn đại quân chia hai đường, nhanh chóng đánh về phía quận Quảng Lăng.
Chương 979.1: Cưỡng chiếm Quảng Lăng.
Không chỉ Vu Cấm không ngờ tới, mà ngay cả Tôn Quyền cũng không tưởng tượng được, mấy ngày thạch lương thực Giang Đông cất giữ ở huyện Cao Bưu lại trở thành mồi nhử để quân Hán đông tiến, khi Vu Cấm cấp bách cướp lấy mồi nhử này trong tay quân Hán, gã đã rơi vào cạm bẫy của quân Hán.
Vào ngày thứ ba sau khi xảy ra sự kiện ở Cao Bưu, Lưu Cảnh ở Nhu Tu Khẩu công khai chỉ trích hai vạn quân Tào đã phá hoại hiệp ước dừng chiến, chặn giết thuyền lương của quân Hán ở Cao Bưu, giết chết quân Hán bảo vệ thuyền, cướp mấy ngàn thạch lương thực, Lưu Cảnh nghiêm chỉnh nói rõ quân Hán tuyệt đối sẽ không ngồi im nhìn, nhất định phải khiến cho quân Tào chặn giết thuyền lương của quân Hán phải trả giá thê thảm hơn.
Thà chỉ trích quân Tào, cổ vũ sĩ khí, còn hơn nói cho Giang Đông một lý do, quân Hán tại sao xuất binh tới quận Quảng Lăng?
Sáu vạn quân Hán lập tức chia hai đường, Hoàng Trung dẫn ba vạn đại quân tiến vào huyện Hoài Âm trước, cắt đứt đường quay về phía bắc của quân Tào, còn Cam Ninh dẫn ba vạn thủy quân cập bờ huyện Quảng Lăng, quân đội phong tỏa mặt sông Trường Giang ở huyện Quảng Lăng, Cam Ninh lập tức dẫn hai vạn đại quân lên phía bắc, chiếm lĩnh huyện Cao Bưu, cắt đứt đường xuôi phía nam của quân Tào.
Hai vạn quân Tào của Vu Cấm bị nhốt ở giữa huyện Cao Bưu và huyện Hoài Âm, vùng này không có huyện thành và hương lý, mấy trặm dặm hoang vu vắng vẻ, hai vạn quân Tào tiến thoái lưỡng nan, nhanh chóng rơi vào nguy cơ sinh tồn nghiêm trọng, lương thực của quân Tào nhiều nhất chỉ chống cự được hơn mười ngày, một khi hết lương thực, bọn họ sẽ không được tiếp viện bất cứ cái gì, hai vạn quân rất nhanh sẽ lâm vào cảnh đường cùng.
Sự kiện Cao Bưu nhìn như một âm mưu của quân Hán, nhưng trên thực tế, nó lại là tất yếu để quân Hán đông tiến, ngay từ đầu khi thế lực quân Tào tiến vào Giang Đông, đã định trước quân Tào ở Giang Đông đừng mơ rời khỏi một cách yên bình, Lưu Cảnh nhất định phải cảnh cáo Tào Tháo, bất kỳ ý đồ xuất binh can thiệp vào Giang Đông đều nhất định phải trả giá thê thảm và nặng nề.
Sáu vạn quân Hán tiến quân vào Quảng Lăng, chuyện bao vây quân Tào sớm đã được truyền khắp Giang Đông, chấn động cả vua và dân Giang Đông, trở thành đại sự mà nhà nhà đều đang đàm luận.
Đương nhiên, tuyệt đại đa số dân chúng không rõ chân tướng, cũng không muốn phí sức cân nhắc cẩn thận sự kỳ quái trong đó, họ chỉ quan tấm đến bề nổi, tới tấp chửi rủa quân Hán chặn thuyền lương của quân Hán là tự tìm đường chết, rất nhiều người vui sướng khi người khác gặp họa đã suy đoán quân Tào không chống cự nổi mười ngày.
Trưa nay, Gia Cát Cẩn như thường ngày tới quán rượu Chương Ký tửu quán lớn nhất thành Mạt Lăng để dùng cơm, hiện Gia Cát Cẩn giữ chức Phó đô đốc Giang Đông kiêm Tả đô hộ, là văn quan trong quân chỉ xếp sau Quân sư Trương Chiêu, cực kỳ có địa vị ở Giang Đông.
Tuy nhiên tâm trạng của Gia Cát Cẩn vẫn buồn bực không vui, một mặt tất nhiên là vì gã chủ quản chiến thuyền Giang Đông, quân Hán thiêu sạch chiến thuyền Giang Đông nên gã có trách nhiệm không thể trốn tránh được, mặt khác cục diện chính trị ở Giang Đông ngày một sa sút, bệnh đã vào tận xương tủy, cắm sâu khó nhổ.
Gia Cát Cẩn biết rất rõ trong lòng, Giang Đông muốn khôi phục cường thịnh như trước năm thứ chín Kiến An, nếu không dốc lòng xây dựng đất nước trong hai mươi năm thì đừng mơ làm được.
Quân Hán càng ngày càng lớn mạnh đã không cho họ cơ hội nữa, nghĩ đến tiền đồ ảm đạm của Giang Đông, nghĩ đến tương lai tối tăm của mình, Gia Cát Cẩn thực sự cảm thấy nặng trĩu trong lòng.
Như thường ngày, Gia Cát Cẩn lên lầu hai, ngồi xuống vị trí gần cửa sổ mà gã thường ngồi, nói với tửu bảo:
- Vẫn theo quy tắc cũ đi! Một bầu rượu, ba đồ ăn.
- Gia Cát công ngồi tạm, lập tức tới ngay!
Tửu bảo thi lễ, bước nhanh rời đi.
Gia Cát Cẩn nhìn quanh đại đường, chỉ nghe thấy tiếng người huyên náo, khách chật kín, lầu một của tửu quán là đại đường, có thể ngồi tùy ý, giữa các vị khách không có ngăn cách, rượu và đồ nhắm cũng khá rẻ.
Còn lầu hai lại là trung đường, ngăn cách bởi các bình phong cao năm thước, chỗ ngồi lớn có nhỏ có, rất tùy ý, hoặc là hai người ngồi đối diện, hoặc nhiều người tụ tập uống, do bình phong ngăn cách nên giữa các vị khách đương nhiên cũng có chút riêng tư, còn lầu ba là nhã phòng đơn.
Gia Cát Cẩn không nhìn thấy những vị khách khác, nhưng có thể nghe thấy họ nói chuyện, lúc này, ở góc đông nam hình như có một nhóm người tụ tập ăn uống, bàn luận sôi nổi về sự kiện Cao Bưu xảy ra ở Giang Bắc, tiếng bọn họ rất to, vang đến rõ ràng bên tai Gia Cát Cẩn.
- Ta nói chuyện này có chút kỳ lạ mà! Mọi người có nhận thấy không, quân Hán tại sao lại vận chuyển lương thực từ Trung Độc Thủy, hơn nữa chúng chuyển cho ai? Thông thường là đi qua Trường Giang mới đúng, mọi người nói có đúng không?
- Ngưu lão đệ không biết rồi, nghe nói Thái thú Quảng Lăng Chu Phường tự mình mượn lương thực của quân Hán, thuyền lương quân Hán không dám đi qua Trường Giang vì sợ bị Ngô hầu biết được, cho nên mới gián tiếp đi qua Trung Độc Thủy, vừa lúc bị Vu Cấm bắt gặp, quân Tào đang thiếu lương thực, đương nhiên bọn họ sẽ không khách khí.
- Chuyện ngươi nói già trẻ ở Kiến Nghiệp đều biết, thực ra không đáng tin nhất, Quảng Lăng thiếu lương thực, sao Chu Thái thú không xin Ngô hầu lương thực? Căn bản đã nói không thông mà! Theo ta thấy, ở đây tất có ẩn tình, nói không chừng là thám báo quân Hán đóng giả thành thương đội, bị quân Tào phát hiện nên mới dẫn tới chiến đấu dữ dội.
Đám đông mỗi người một câu, dần trở thành tranh luận, Gia Cát Cẩn lắc đầu, gã thực sự không muốn nghe những lời tranh luận hoang đường này, lúc này, sát vách của gã lại vang lên một tiếng hừ, có người lầu bầu:
- Chẳng qua là kế sách giả đạo diệt quắc của Lưu Cảnh mà thôi, một lũ ngu dốt tự cho là đúng, còn dám nói bừa đại sự quân quốc, Giang Đông thật sự không còn người nào nữa!
Gia Cát Cẩn vô cùng kinh ngạc, đứng dậy nhìn sách chỗ ngồi ở sát vách, thấy có một vị phương sĩ, không nhìn ra tuổi tác, chỉ thấy ông ta tướng mạo thanh kỳ, mặc áo bào lông trắng, tay cầm một cây phất trần, có cảm giác tiên phong đạo cốt.
Gia Cát Cẩn vòng qua ngồi trước đối phương, chắp tay khom người hỏi:
- Xin hỏi vị tiên trưởng họ gì?
Phương sĩ khẽ mỉm cười:
- Gia Cát cư sĩ không đi giải quyết ưu phiền cho Ngô hầu, lại ngồi đây uống rượu, thật nhàn rỗi quá!
- Tiên trưởng biết ta sao?
- Hai mươi năm trước chúng ta từng có duyên gặp nhau một lần.
Gia Cát Cẩn nhíu mày ngẫm nghĩ, nhưng không thể nhớ ra chuyện của hai mươi năm trước, gã lại hỏi:
- Không biết tiên trưởng tu tiên ở đâu, pháp hiệu xưng hô thế nào?
Phương sĩ nhẹ nhàng vung phất trần lên:
- Ta là ai không quan trọng, cũng không thay đổi được xu thế thiên hạ, Gia Cát cư sĩ nhất định muốn biết sao?
Gia Cát Cẩn thấy ông ta nói năng không tầm thường, liền chuyển bình rượu của mình sang bàn phương sĩ, ngồi đối diện với ông ta, khẽ hỏi:
- Ban nãy phương trưởng nói, chuyện ở Cao Bưu chẳng qua là kế sách giả đạo diệt quặc của Lưu Cảnh, là như thế nào?
Phương sĩ cười ha hả:
- Ta không tin ngay cả một mánh khóe nhỏ mà Gia Cát Đô đốc cũng không nhìn ra, xin thần dễ tiễn thần khó, quân Hán tiến vào quận Quảng Lăng, Giang Đông còn có thể trông mong bọn chúng dời đi sao?
Gia Cát Cẩn ngây người một lát, lời của phương sĩ đã nói trúng tâm tư gã, gã cũng mơ hồ đoán được ý đồ của Lưu Cảnh không nhắm vào quân Tào, mà là Quảng Lăng, chỉ có điều gã vẫn có một số điều không nghĩ ra.
Chương 979.2: Cưỡng chiếm Quảng Lăng.
- Nếu Lưu Cảnh là vì Quảng Lăng, thực ra cũng không cần phí sức trắc trở như thế, trực tiếp rút quân ở Thái Hồ thay vào chiếm giữ Quảng Lăng, tin chắc Ngô hầu cũng sẽ đồng ý.
- Gia Cát Đô đốc nghĩ Lưu Cảnh quá đơn giản rồi, hiệp ước ở Thọ Xuân đã ký, Tào Tháo lại chần chừ không chịu cho Vu Cấm rời khỏi Giang Đông, nếu không phải Lưu Cảnh lấy Từ Châu ra để ép, quân Tào ở Giang Đông cũng tuyệt nhiên không rút về phía bắc, có thể thấy Tào Tháo trước sau không chịu buông tha cho Giang Đông, Lưu Cảnh đương nhiên phải cảnh cáo Tào tháo, khiến hai vạn quân Tào vào được nhưng không ra được, đó chẳng phải là cách cảnh cáo tốt nhất sao? Hơn nữa quận Quảng Lăng rõ ràng là quân Hán đoạt được từ trong tay Vu Cấm, liên quan gì đến Giang Đông? Còn chuyện rút quân ở Thái Hồ, còn phải xem tâm trạng của Lưu Cảnh nữa.
Gia Cát Cẩn lặng lẽ gật đầu, phương sĩ này quả thật nhìn vấn đề rất thấu đáo, Giang Đông không ai sánh kịp, Gia Cát Cẩn không khỏi kính nể trong lòng, bèn hỏi:
- Tiên trưởng nghĩ tiền đồ của Giang Đông ra sao?
Phương sĩ thản nhiên cười:
- Số trời đã định, cần gì phải hỏi nhiều?
Gia Cát Cẩn trầm lặng một lát, lại nói:
- Tiên trưởng có thể theo ta tới cung Kiến Nghiệp không, tin rằng Ngô hầu nhất định sẽ kính trọng tiên trưởng.
Phương sĩ ngửa đầu cười to, đứng dậy nghênh ngang rời đi, phía xa còn nghe thấy tiếng hát của ông ta vang đến:
- Trường cư tiên hương bất giác lão, nhàn du nhân gian biện hôn hiểu, cửu văn Giang Đông đa tuấn kiệt, nhất vấn phương tri học thức thiếu, quân sư trường sử giai trư thỉ, bất như Lư Giang ô giác lão.
Gia Cát Cẩn nghe được trợn mắt há hốc mồm, gã bỗng nhiên biết vị phương sĩ này là ai.
…
Trong cung Kiến Nghiệp, Gia Cát Cẩn thuật lại cuộc gặp gỡ trong tửu quán ngày hôm nay, vẻ mặt Tôn Quyền nặng nề, không nói lời nào, Trương Chiêu bên cạnh cười lạnh lùng, đầy khinh thường, trong lòng y thầm căm tức, lại dám chửi mình là phân lợn, quả là cả gan làm loạn.
- Gia Cát Đô hộ lại cũng tin những lời nói vô căn cứ của tên giang hồ giả thần giả thánh này sao? Hai mươi năm trước ông ta đã lừa biết bao người, ngay cả Tào Tháo và Lưu Biểu cũng bị ông ta bỡn cợt, hai mươi năm không gặp, giờ lại xuất hiện, còn trâng tráo đàm luận đại sự quân quốc, ông ta dựa vào gì mà biết căn nguyên? Tự cho là người ngoài cuộc tỉnh táo là có thể nhục mạ chúng thần Giang Đông, loại người này nên bắt lại chém đầu để răn đe mọi người, tránh cho ông ta tiếp tục mê hoặc mọi người bằng tà thuyết.
Gia Cát Cẩn thờ dài nói:
- Ông ta tuy ăn nói lỗ mãng, nhưng cũng nói có lý, e rằng cục diện hiện nay thật sự bị ông ta nói trúng, Lưu Cảnh tấn công quân Tào, chính là đang múa kiếm ở Hạng Trang, nhưng chí ở Bái Công, hắn là muốn lấy được quận Quảng Lăng của Giang Bắc.
Trong đại sảnh lặng im, lâu sau, Tôn Quyền mới chậm rãi nói:
- Nếu Lưu Cảnh thật sự vì Quảng Lăng, ta cũng không còn cách nào, người ta là dao thớt, ta là thịt cá, đành mặc cho hắn xâm lược, nhưng ta quan tâm hơn đến quân Hán trong Thái Hồ, quân Tào đã rút lui về phía bắc theo hiệp ước, vậy quân Hán trong Thái Hồ khi nào mới rút lui? Ta hy vọng Lưu Cảnh có thể cho ta ý kiến rõ ràng.
Nói đến đây, Tôn Quyền lại liếc mắt nhìn mọi người, cuối cùng ánh mắt của y dừng lại ở Gia Cát Cẩn:
- Tử Du thay ta đi sứ một chuyến tới Nhu Tu Khẩu, đến đàm phán với Lưu Cảnh, ta hy vọng hắn cho Giang Đông một câu trả lời, Giang Đông tuy yếu nhưng cũng có ranh giới của mình, nếu hắn bất chấp tôn nghiêm của Giang Đông thì Giang Đông cũng sẽ liều mạng với hắn!
Mọi người đều thở dài trong lòng, lời nói của Ngô hầu sao không có chút sức mạnh gì cả?
Gia Cát Cẩn cũng lặng lẽ gật đầu, thi lễ:
- Vi thần tuyệt sẽ không khiến Ngô hầu thất vọng!
…
Trên đồi Ngưu giác cách phía bắc huyện Cao Bưu khoảng bốn mươi dặm, năm vạn quân Hán đã bao vây kín hai vạn quân Tào đang mệt mỏi đói khát, Vu Cấm hạ lệnh chặt hết cây tùng trên đồi, dựng một vòng hàng rào, còn bố trí mấy ngàn lính bắn nỏ giằng co với quân Hán, nhưng quân Hán chỉ bao vây chứ không tấn công, thời gian đã trôi qua năm ngày.
Mặc dù quân lương của quân Tào vẫn duy trì được mười mấy ngày, nhưng sĩ khí quân Tào đê mê, tướng sĩ đa phần chán ghét chiến tranh, chỉ bị bao vây ba ngày đã bắt đầu có binh lính tuần tra một đi không trở về, đầu hàng quân Hán.
Vu Cấm cực kỳ tức giận, lệnh cho Đại tướng dưới quyền quản lý chặt chẽ binh lính, ai dám đầu hàng sẽ chém chết tại chỗ, mặt khác, gã thả mấy chục chim bồ câu đưa thư, cầu viện Tào Chân đang đóng quân ở Hoài Bắc.
Ngày thứ bảy của cuộc vây khốn, màn đêm lại lần nữa bao trùm cả vùng Giang Bắc, lúc này, trong đại doanh quân Hán ở phía nam lặng lẽ chuyển ra mười chiếc máy bắn đá loại lớn, khi cách đồi Ngưu giác bốn trăm bước, máy bắn đá chậm rãi dừng lại.
Lúc này, quân coi giữ doanh trại quân Tào đã phát hiện máy bắn đá giống như cự thần trong đêm tối, chúng rối rít sợ hãi, chạy về doanh trướng bẩm báo, không đợi Vu Cấm bố trí quân đội phòng ngự, máy bắn đá của quân Hán đã kéo ra xèo xèo, binh lính đặt vào bệ bắn những quả cầu màu đen khổng lồ.
Trong đêm đen, chỉ nghe thấy tiếng ‘thịch! Thịch’ phóng ra, mười quả cầu màu đen bay vọt lên trời, gào thét ném xuống đại doanh quân Tào ở phía xa, mấy ngàn binh lính quân Tào sợ đến mức gào thét, nhao nhao tìm chỗ trốn, nhưng thứ được ném vào không phải là quả bóng dầu hỏa, cũng không phải viên đá lớn có tính sát thương mạnh.
Quả cầu màu đen nổ tung trong không trung, vô số tờ giấy bay lả tả về phía đại doanh quân Tào theo hướng gió đông nam, mười quả cầu đen tung ra hơn một vạn mảnh giấy, trong đại doanh quân Tào phát ra tiếng gào thét, vô số binh lính ào ào tranh cướp mảnh giấy, mặc dù phần lớn đều không biết chữ, nhưng chúng lại lặng lẽ giấu vào trong ngực.
Lúc này, Vu Cấm nghe tin đã bước nhanh tới, có binh lính đưa mảnh giấy mà quân Hán bắn ra cho gã:
- Tướng quân, đều là những mảnh giấy giống nhau!
Vu Cấm nhìn chữ viết trên đó, hung hăng xé nát tờ giấy, thét lên ra lệnh:
- Yêu cầu tất cả quan tướng thu lại mảnh giấy, không được cho bất kỳ ai giữ riêng, kẻ nào trái lệnh đánh nặng một trăm roi!
…
Mấy hôm nay Giang Bắc liên tục có nắng, ban đêm cũng không còn ẩm ướt lạnh lẽo nữa, không khí đã ấm hơn chút, tuy nhiên tiết lạnh mùa xuân hơi se se vẫn khiến bính lính quân Tào khó ngủ vào ban đêm.
Đêm nay, trong đại doanh quân Tào đầy xao động và bất an, đám binh lính không có doanh trướng, đều lấy chăn lông quấn quanh người, túm năm tụm ba một chỗ bàn luận, không có ai bày mảnh giấy ra, nhưng tất cả mọi người đều kích động bàn tán về nội dung trong mảnh giấy.
Nội dung trong mảnh giấy đã được phá giải từ lâu, thực ra chỉ có một câu:
- Đầu hàng quân Hán, thả các ngươi trở về nhà, đoàn tụ với cha mẹ thê nhi.
Không ai nghi ngờ thành ý của Hán Vương Lưu Cảnh, ngay từ sau đai chiến Xích Bích chín năm trước, Lưu Cảnh đã hạ lệnh thả gần hai mươi vạn tù binh quân Tào quay về, để họ về nhà đoàn tụ với người thân, trong các chiến dịch về sau, tù binh quân Tào bị bắt cũng đa phần được trở về nhà sau vài năm, trên người còn có một khoản tiền.
Hán Vương đối đãi với mọi người nhân từ đã sớm đi sâu vào lòng dân chúng, hơn nữa ai cũng biết nước Hán thuế má thấp, ai cũng đều có đất đai, mặc dù không dám ước mong giàu sang, nhưng ít nhất có thể nuôi sống gia đình, không lo cơm áo, hấp dẫn mạnh mẽ tới dân chúng Trung Nguyên, tương tự cũng thu hút đám binh lính này.
Các quân quan cũng khó ngăn được binh lính tụ tập bàn tán, chỉ có thể mắt nhắm mắt mở, từng người trốn trong trướng suy nghĩ chuyện của mình.
Toàn bộ đại doanh quân Tào ngoài chủ tướng Vu Cấm ra, đã không còn ai muốn bán mạng cho Tào Tháo, lòng quân đã dần tan rã.
Chương 980: Hai điều kiện.
Vu Cấm mang theo tâm trạng nặng nề, một mình uống rượu trong đại trướng, mặc dù bề ngoài gã khích lệ sĩ khí, duy trì hy vọng của tướng sĩ quân Tào, nhưng chính gã lại không còn bao nhiêu lòng tin.
Gã biết rõ hơn ai hết, lương thực trong quân doanh chỉ duy trì được bảy tám ngày nữa, còn Tào Chân lại xa tít ở Hoài Bắc, không thể nào tới Quảng Lăng cứu viện mình được, kể cả Tào Tháo biết được chuyện mình bị vây khốn thì ít nhất cũng phải nửa tháng sau, khi đó quân đội đã cạn lương thực từ lâu.
Ngay cả gã cũng không biết nên làm thế nào bây giờ? Đầu hàng quân Hán, hiện giờ gã vẫn chưa làm được, nhưng nếu toàn quân bị diệt, gã lại khó ăn nói với Ngụy công, vu Cấm chìm trong sự hoang mang nghi hoặc về tương lai.
Đúng lúc này, một gã thân binh xông vào đại trướng, hoảng sợ hô lên:
- Tướng quân, binh lính doanh trại phía tây toàn bộ trở giáo đầu hàng rồi!
- Cái gì!
Vu Cấm nhảy dựng lên, đôi mắt long sòng sọc đỏ rực:
- Năm ngàn người đầu hàng hết rồi sao?
- Không phải toàn bộ, nhưng chỉ còn lại chưa đến ngàn người.
Vu Cấm xiết chặt nắm tay, lồng ngực phập phồng dữ dội, trong mắt đã có một tia mê man, thực ra những thứ này gã đều đoán được, quân Hán quăng ra nhiều mảnh giấy như thế, lời lẽ trên đó còn có tính sát thương hơn một vạn thùng dầu hỏa, gã biết rõ sẽ xảy ra cuộc chạy trốn quy mô lớn, nhưng lại không ngăn cản, chẳng phải vì gã biết không thể ngăn được dục vọng muốn sống của binh lính sao?
Vu Cấm thở dài, lại chậm rãi ngồi xuống, vẻ mặt ủ rũ chán chường, lâu sau, gã khẽ nỏi:
- Tình hình ở các đại doanh còn lại thế nào?
Thân binh lắc đầu:
- Ty chức không biết, chỉ nghe nói ở doanh trại phía tây.
Vu Cấm gượng cười một tiếng, không cần nói gã cũng nghĩ được, chắc cũng thế!
- Tướng quân!
Ngoài trướng vải còn có thân binh tới bẩm báo, thở hồng hộc nói:
- Doanh trại phía bắc và đông có lượng lớn binh lính phản bội chạy trốn, Từ Tướng quân và Mã Tướng quân cũng đã đầu hàng quân Hán.
Vu Cấm không hề kinh ngạc, kể cả toàn bộ binh lính chạy hết gã cũng sẽ không khiếp sợ nữa, gã biết đại thế đã mất, gã nên suy xét tới đường đi của mình.
Cúi đầu trầm tư một lát, Vu Cấm bỗng nhiên đứng dậy nói:
- Tìm toàn bộ thân binh của ta đến đây!
Thân binh của Vu Cấm có ba trăm người, đều đã đi theo gã nhiều năm, cực kỳ trung thành với gã, lúc này có binh lính dẫn ba trăm con chiến mã tới, còn cả rượu thịt và lương thực.
Vu Cấm nhìn sắc trời, đã canh ba rồi, gã nói với đám thân binh:
- Trước khi trời sáng, chúng ta nếu còn không đi thì thật sự không xong rồi, mọi người ăn no nê một bữa, mỗi người cầm theo một đấu gạo, chúng ta thừa lúc ban đêm lao ra, bất kể ai xông được ra, đều phải tới Nghiệp Đô báo cáo tình hình thực tế, mọi người nhớ kỹ chưa?
Mọi người đồng loạt đáp lại, đều tự lấy rượu thịt, ăn no nê một bước, sau đó buộc chặt khôi giáp, mang theo trường mâu đao cung, Vu Cấm xoay người lên ngựa, hét lên với ba trăm kỵ binh phía sau:
- Theo ta xông ra!
Ba trăm kỵ binh bỗng nhiên phát động, xông ra phía tây bắc, Vu Cấm sớm đã phát hiện ra quân canh giữ ở vùng này không nhiều, dường như cố ý để lại một chỗ hổng, gã nghi ngờ đây là do quân Hán cố ý tạo cơ hội cho gã, để gã rời đi, sau đó hai vạn quân Tào như rắn mất đầu, chỉ có thể đầu hàng.
Lúc này bên dưới sườn núi khắp nơi đều là binh lính quân Tào chạy trốn về đại doanh quân Hán, đông nghìn nghịt đầy trời, có hàng nghìn hàng vạn người, sĩ khí quân Tào đã hoàn toàn sụp đổ, trên đường không ngừng nghe thấy có người hô to:
- Đừng bắn tên nữa, chúng ta tới đầu hàng!
Rất nhiều âm thanh đều là của các bộ tướng quen thuộc của Vu Cấm, lòng gã đau như cắt, không nói lời nào, phóng ngựa chạy gấp, ba trăm kỵ binh mặc dù không nhiều nhưng lao xuống từ trên sườn núi, khí thế đó vẫn như một con rồng đen nhớn nhác, nhưng vượt khỏi dự liệu của mọi người, họ không bị uy hiếp về tính mạng, thậm chí ngay cả tiếng kêu không hữu hảo cũng không nghe thấy, họ lập tức xông ra khỏi chỗ hổng từ phía tây bắc, không có bất kỳ binh lính nào ngăn cản.
Trong giây phút xông ra khỏi chỗ hổng, trng lòng Vu Cấm bỗng nhiên có một ý nghĩ xót xa, có phải gã nên dẫn đại quân phá vây sớm hơn chút không, có lẽ còn bảo toàn được quá nửa quân đội, nhưng ý nghĩ này chỉ thoáng qua mà thôi, lý trí nói cho gã biết, quân Hán có thể dễ dàng tha cho ba trăm người bọn họ chạy trốn, nhưng tuyệt nhiên không có nghĩa là sẽ tha thứ cho quân đội gã đột phá vòng vây.
Cho dù phía trước vẫn tối đen, nhưng bóng ma chết bỏ mạng đã biến mất trong lòng họ, ba trăm kỵ binh nhanh chóng quất roi, thúc ngựa chạy nhanh về phía cánh đồng bát ngát phía tây bắc, tiếng vó ngựa từ từ biến mất.
Mùa xuân năm hai mươi hai Kiến An, hai vạn quân Tào đầu hàng quân Hán ở Quảng Lăng, chủ tướng Vu Cấm thừa dịp quân Hán ‘phòng ngự lỏng lẻo’ đã dẫn ba trăm thân binh chạy trốn, không còn chủ tướng, mấy ngàn binh lính cuối cùng cũng từ bỏ chống cự, nộp vũ khí đầu hàng quân Hán lúc trời sáng.
Cam Ninh lập tức dẫn quân xuôi phía nam, Thái thú Quảng Lăng Chu Phường đã cảm thấy Tôn Quyền không có ý bảo vệ Quảng Lăng, gã thay thường phục, đi một con thuyền nhỏ chạy khỏi Kiến Nghiệp, binh lính quân Hán không đánh mà dễ dàng chiếm giữ huyện Quảng Lăng thị trấn trọng điểm của Giang Bắc.
Cam Ninh lập tức bố trí quân đội, y bố trí ba vạn quân Hán và năm trăm chiến thuyền ở bờ bắc Trường Giang, từ Lịch Dương đến Quảng Lăng lập ba đại doanh thủy quân, đến đây, quận Quảng Lăng ban đầu thuộc về Giang Đông cũng bị quân Hán cướp về từ tay quân Tào, thuộc sở hữu của nước Hán, đối với Giang Đông, trú quân của nước Hán ở Giang Bắc giống như tảng đá lớn đè xuống đầu bọn chúng, khiến chúng khó thở nổi.
Bọn chúng giống như con vật nhỏ đáng thương bị uy hiếp, chỉ muốn cuộn mình trong hang ổ, nhưng trong hang của chúng cũng có một một cây gai độc khiến bọn chúng sợ hãi hơn, đó chính là chiến thuyền của quân Hán trong Thái Hồ.
…
Gia Cát Cẩn tới Nhu Tu Khẩu vào ngày kế tiếp sau khi Cam Ninh chiếm được quận Quảng Lăng, đại doanh quân Hán không ở Hợp Phì nơi họ đã chiến đấu gian khổ một năm, mà ở Nhu Tu Khẩu, giành được Hợp Phì và Thọ Xuân, họ đều nhớ nhà như dao cắt, kể cả Hán Vương Lưu Cảnh, họ đã ở Hợp Phì suốt một năm trời, hắn nên về nhà rồi, Nhu Tu Khẩu chính là điểm xuất phát quay về của họ.
Gia Cát Cẩn được binh lính dẫn lên con thuyền chính của quân Hán, một con thuyền lớn năm ngàn thạch, trong khoang thuyền tầng hai, Lưu Cảnh đang cúi đầu viết thư cho người thân, lúc này, binh lính bẩm báo bên ngoài:
- Điện hạ, người đã đưa tới rồi, đang đợi ở khoang khách tầng một.
Lưu Cảnh đặt bút xuống, thu bức thư nhà lại, gật đầu cười nói:
- Mời cả Bàng Quân sư tới khoang thuyền!
Không lâu sau, Lưu Cảnh tới khoang thuyền dành cho khách, lúc này Bàng Thống đang nói chuyện với Gia Cát Cẩn, thấy Lưu Cảnh bước vào, hai người đều đứng lên, Gia Cát Cẩn tiến lên thi lễ:
- Gia Cát Cẩn tham kiến Hán Vương điện hạ!
- Hóa ra là Gia Cát công, chúng ta đã nhiều năm không gặp, mời ngồi!
Lưu Cảnh khách sáo mời Gia Cát Cẩn ngồi xuống, lại bảo người dâng trà, Lưu Cảnh cười tủm tỉm nói:
- Gia Cát công nghe nói chuyện xảy ra ở quận Quảng Lăng rồi sao?
Trong lòng Gia Cát Cẩn khẽ giật mình, gã không hiểu tại sao Lưu Cảnh chủ động nhắc đến chuyện ở quận Quảng Lăng, gã cũng không tiện bác bỏ, đành gật đầu:
- Cũng có nghe qua.
- Gia Cát công cho rằng quận Quảng Lăng nên thuộc về ai?
Lưu Cảnh lại hỏi.
- Ta cho rằng quận Quảng Lăng thuộc về Giang Đông, không chỉ quan viên do Ngô hầu bổ nhiệm, mà ngay cả trú quân cũng là quân Giang Đông, đương nhiên, giờ có lẽ không phải nữa, nhưng điện hạ không thể phủ nhận sở hữu ban đầu của nó.
Lưu Cảnh cười lắc đầu:
- Đứng đầu một vùng đất chưa hẳn đã là vương thổ, nói gì đến quận Quảng Lăng, kể cả Giang Đông cũng là lãnh thổ của vương triều Đại Hán, Ngô hầu chẳng qua là được triều đình ủy thác, thay mặt thiên tử quản lý Giang Đông mà thôi, lẽ nào không đúng sao?
Gia Cát Cẩn trầm ngâm một lát đáp:
- Nếu điện hạ nhất định phải nói như vậy, ta cũng không còn cách nào, nhưng công đạo tự ở trong lòng mỗi người, điện hạ cưỡng chiếm quận Quảng Lăng có phù hợp đạo nghĩa hay không, ta nghĩ người trong thiên hạ tự có phán xét.
Lưu Cảnh cười ha hả:
- Nếu triều đình bổ nhiệm Lưu Cảnh ta làm Thái thú Quảng Lăng, vậy có công đạo hay không?
- Ta đã nói ban nãy, công đạo tự ở trong lòng mỗi người!
Nụ cười trên mặt Lưu Cảnh biến mất, hắn gật đầu nói:
- Xem ra nhất định phải để Giang Đông chủ động nói rõ từ bỏ Quảng Lăng, mới là hành động phù hợp đạo nghĩa, ta nghĩ Gia Cát công lần này tới đây, chẳng phải là muốn bàn bạc chuyện này với ta sao?
Lúc này, người ngu đi nữa cũng sẽ hiểu ý Lưu Cảnh, ý của hắn là hy vọng Giang Đông chủ động thừa nhận quận Quảng Lăng thuộc về nước Hán, có thể trao đổi bằng điều kiện khác, đương nhiên, điều kiện này chính là vấn đề đóng quân ở Thái Hồ, người bình thường đều sẽ cho rằng như vậy, cũng sẽ nghĩ đây là cuộc mua bán tốt, dùng chuyện rút quân ở Thái Hồ để đổi lấy sự thừa nhận đã trở thành sự thực.
Có điều Gia Cát Cẩn lại rất bình tĩnh, gã biết Lưu cảnh tuyệt đối sẽ không mua dây buộc mình, tự đưa mình vào chỗ chết, ý nghĩ mà Lưu Cảnh dẫn dắt gã trước tiên hướng đến quận Quảng Lăng, có lẽ chính là muốn trước khi bàn đến vấn đề đóng quân ở Thái Hồ, phải giải quyết vấn đề sở hữu của quận Quảng Lăng trước.
Gia Cát Cẩn lắc đầu:
- Ta tới gặp điện hạ không phải vì việc của quận Quảng Lăng, nói thẳng ra, quận Quảng Lăng rốt cuộc xảy ra chuyện gì, ta còn không rõ lắm, vì thế cũng không bàn tới, lần này ta đến gặp điện hạ là vì được Ngô hầu ủy thác, muốn bàn bạc với điện hạ vấn đề đóng quân ở Thái Hồ.
Lưu Cảnh thấy Gia Cát Cẩn không hề mắc mưu, không bị lời nói của mình mê hoặc, cũng không phải thầm khen sự bình tĩnh và lý trí của gã, trầm ngâm một lát, Lưu Cảnh lại cười hỏi:
- Không biết Gia Cát công có bao nhiêu quyền quyết định? Ta dự định ngày mai quay về Trường An, nếu hôm nay không quyết định được, e rằng phải phiền mời sứ giả Giang Đông tới Trường An bàn bạc.
- Ta có quyền lực nhất định, chỉ cần trong phạm vi hợp tình hợp lý, ta có thể thay mặt Ngô hầu ra quyết định, nhưng nếu điện hạ rao giá trên trời, thứ cho ta cũng phải bó tay.
- Cái gì gọi là rao giá trên trời, ta từ trước đến nay chưa bao giờ rao giá không thiết thực cả, hơn nữa ta đã ra điều kiện thì sẽ không bao giờ thay đổi.
Giọng nói của Lưu Cảnh rất bình thản, nhưng trong ngữ khí bình thản lại tràn đầy bá đạo và mạnh mẽ, nói cách khác, Giang Đông không còn đường lựa chọn, hoặc là không cần bàn lại, hoặc là phải chấp nhận điều kiện của hắn.
Gia Cát Cẩn thầm thở dài trong lòng, không biết làm sao đành hỏi:
- Ta muốn nghe điều kiện của điện hạ.
Lưu Cảnh giờ mới chậm rãi đáp:
- Quân Hán sẽ rút đi chín phần mười thủy quân ra khỏi Thái Hồ, một phần mười còn lại sẽ đóng quân ở Dương Tiện phía tây Thái Hồ, vì đợt rút quân lần này, Giang Đông phải đồng ý với ta hai điều kiện, thứ nhất, Giang Đông không được chế tạo lại chiến thuyền, cũng không được lợi dụng danh nghĩa chế tạo thuyền dân mà lén lút dựng chiến thuyền. Thứ hai, Giang Đông phải thừa nhận quận Quảng Lăng nằm trong hiệp ước dừng chiến của quân Hán Tào, nói cách khác phải công khai thừa nhận quận Quảng Lăng thuộc sở hữu của triều đình, chứ không thuộc Giang Đông, chỉ hai điều kiện này, khi nào Giang Đông làm được, ta sẽ rút quân khỏi Thái Hồ.
Chương 981: Quay về Trường An.
Lưu Cảnh và đại quân của hắn không đi đường Ba Thục, mà tới Tương Dương, sau đó vượt qua Hán Thủy tới quận Nam Dương mà họ đã giành được năm ngoái, Lưu Cảnh ở lại quận Nam Dương ba ngày, thị sát việc huấn luyện quân đội mới chiêu mộ, lại cùng đi với Văn Sính xuống Diệp Huyện tuần tra, khi hắn đứng trên đầu thành nhìn ra xa phương bắc, rất nhiều đại tướng đều đang suy đoán, Hán Vương điện hạ có phải đang nghĩ làm thế nào để tấn công Hứa Xương?
Tuy nhiên suy đoán của các đại tướng không có câu trả lời, ba ngày sau, mười vạn quân Hán rời khỏi Nam Dương dưới sự chỉ huy của Hán Vương Lưu Cảnh, men theo ải đạo Nam Tương, trùng trùng điệp điệp tiến về Trường An.
Lưu Cảnh rời khỏi Trường An viễn chinh sau tết Nguyên đán năm hai mươi mốt Kiến An, khi hắn một lần nữa đặt chân lên cửa thành Trường An, được dân chúng và quan viên ở Trường An chào đón long trọng, khi quân Hán xếp thành hàng tiến vào thành Trường An trong tiếng hoan hô của dân chúng, Lưu Cảnh nhận ra liễu rủ hai bên đường đã trở thành hàng nghìn hàng vạn cành cây xanh thẫm, hắn bỗng nhiên giật mình, giờ đã là tháng ba năm hai mươi hai Kiến An, hắn rời khỏi Trường An đã tròn một năm hai tháng.
Hơn một năm trôi đi, tất cả mọi thứ xung quanh đều đã thay đổi rất nhiều, thành Trường An đã có vô số những ngôi nhà mới, đường xá bằng phẳng rộng lớn, dân số gia tăng mạnh mẽ, chợ búa cũng được mở rộng, nhìn thấy được bộ mặt mới của một số quan viên tầng thấp nhất…
Nhưng đối với Lưu Cảnh, cảm nhận sâu sắc nhất chính là sự thay đổi người nhà của hắn, các thê thiếp không thay đổi nhiều, nhưng con cái hắn đều lớn rồi, con cả Lưu Trí cao lớn hơn nhiều, ngay cả con trai út cũng có thể tập tễnh bước đi.
Đây hết thảy đều khiến Lưu Cảnh có một cảm giác không chân thực, giống như cơ thể hắn đang trong cõi mộng, trong lúc hắn triền miên ân ái với thê tử Đào Trạm trong đêm, hắn mới chợt nhận ra tất cả đều là thật, ngay cả thân thể đầy đặn trắng như tuyết của thê tử hắn cũng chân thực như thế, hắn gần như sắp say rồi.
- Chàng làm sao thế?
Đào Trạm dịu dàng ôm đầu của phu quân vào ngực, để chàng vùi vào hai bầu ngực của mình, khẽ vuốt ve mái tóc đen rậm của chàng, dịu dàng cười hỏi:
- Giống như vừa mới nằm mơ tỉnh lại, chẳng lẽ chàng cho rằng đã mơ một năm sao?
Lưu Cảnh ngửi mùi hương thoang thoảng riêng có của phụ nữ trên người thê tử không biết chán, trên mảnh đất khô cạn ở sâu trong người hắn dường như đã được suối ngọt tưới róc rách chảy vào, lâu sau, hắn mới khẽ thở dài một tiếng:
- Lòng ta chưa bao giờ mệt mỏi và thả lỏng như bây giờ, lúc này ngay cả một đứa trẻ cũng dễ dàng giết chết được ta.
- Xem ra, chàng quả thật không tìm con gái bên ngoài.
Bàn tay của Đào Trạm nhẹ nhàng bới tóc chàng, lại vuốt ve khuôn mắt đang cứng nhắc của phu quân, trong lòng vừa thỏa mãn, vừa xúc động, đồng thời cũng có vài phần áy náy, nàng dùng hai bầu ngực của mình ép chặt vào mặt phu quân, thì thầm vào tai chàng:
- Thực ra kể cả chàng dẫn một cô gái về, ta cũng sẽ không bao giờ trách chàng, một năm nay, thực sự đã khổ cho chàng rồi.
- Đây chính là sự tàn khốc của chiến tranh, nói thực, ta không có thời gian nghĩ đến đàn bà, có lẽ các tướng sĩ cũng thế, giữ được tính mạng mới là chuyện phải ngày đêm suy nghĩ.
- Vậy khi nào chàng bắt đầu nghĩ đến đàn bà?
Đào Trạm khẽ cười hỏi.
- Chính là bây giờ!
Lưu Cảnh mỉm cười, hắn bỗng lật người, lại đè thê tử xuống dưới người mình, ngọn nến vừa được châm lên đã bị hắn thò tay dập tắt.
…
Sáng sớm ngày hôm sau, Lưu Cảnh đang ở nội thư phòng phê duyệt mấy văn điệp khẩn, lúc này, cửa phòng lặng lẽ mở ra, thê tử Đào Trạm bưng một chén trà sâm và một khay bánh ngọt bước vào, sự trở về của phu quân khiến nàng được tưới mát, qua một đêm, nét mặt nàng rạng rỡ hơn hẳn, trông cực kỳ xinh đẹp.
- Chàng uống trà sâm trước rồi ăn mấy miếng bánh ngọt đi!
Đào Trạm đặt chén trà và đĩa ngọc lên bàn phu quân, hé miệng cười, dịu dàng khuyên hắn.
Lưu Cảnh đặt bút xuống, bưng chén trà chậm rãi uống một ngụm, rồi cầm một miếng bánh trắng tinh lên, nhìn một lát rồi từ từ thưởng thức, cảm giác vừa xốp vừa mềm, thơm ngọt vừa miệng, hắn có chút ngạc nhiên nói:
- Đây là bánh gì, trước đây hình như chưa được ăn bao giờ.
- Đây là bánh ngọc của Bảo Chi Trai ở Nghiệp Đô, trước đây Trường An không có, mùa thu năm ngoái mới khai trương, một miếng bánh nhỏ đã bán ba mươi tiền, người bình thường ăn không nổi đâu!
Một khay này chẳng phải là một trăm năm mươi tiền sao?
Đào Trạm hơi gượng cười một tiếng đáp:
- Nhà chúng ta tổng cộng đã mua hai lần, lần đầu tiên là cho lũ trẻ nếm vị mới, lần này là vì chàng về nhà, đường đường là Hán Vương điện hạ nếu ngay cả bánh ngọc còn chưa được ăn, Vương phi ta sợ sẽ bị mọi người đâm vào xương tủy.
Lưu Cảnh nếm một miếng, cười nói:
- Thật ra cũng không sao, không cần làm khổ bản thân như thế, chỉ cần tiết kiệm giản dị một cách thích hợp, ta nghĩ cũng được rồi, dù sao thân ở chức vị cao, nếu quá hà khắc yêu cầu mình, đám quan viên bên dưới cũng rất khó xử.
- Chàng có thể nói như vậy, thiếp cũng yên lòng một chút.
Đào Trạm cười nhẹ, cúi đầu, lát sau nàng lại khẽ nói:
- Trước đây thiếp luôn vâng theo yêu cầu của chàng, cả nhà phải mặc áo vải, cố gắng cơm canh đạm bạc, cần cù tiết kiệm, nhưng sau này thiếp nhận thấy, rất nhiều phu nhân đều trốn tránh thiếp, hoặc khi tới gặp thiếp đều cố ý đổi quần áo rất cũ nát, bề ngoài tỏ ra giản dị, nhưng bên trong lại mặc lụa là gấm vóc, hoặc thị nữ mặc áo tơ lụa thượng hảo, chủ nhân lại mặc áo vải cũ, cảm giác này khiến thiếp rất khó chịu, cảm thấy cực kỳ dối trá, thậm chí là sự chống đối im lặng với thiếp, một năm qua, thiếp sống không dễ chịu lắm.
Lưu Cảnh hiểu cảm giác của thê tử, theo đuổi cái đẹp là bản tính của con người, nhưng trong quan trường lại chú trọng trên làm dưới theo, sự giản dị của Đào Trạm đương nhiên sẽ dẫn tới sự đối lập và bất mãn của rất nhiều người, hắn hoàn toàn có thể lý giải được.
Lưu Cảnh cầm tay vợ, dịu dàng nói:
- Cũng không cần khổ cực như vậy, ai cũng biết Lưu Cảnh ta là một trong những người có quyền lực nhất thiên hạ, nếu thê tử của ta lại chỉ mặc váy vải cài trâm gai, chỉ sợ ta sẽ trở thành Vương Mãng thứ hai rồi, thực ra cứ thuận theo tự nhiên là được.
Lưu Cảnh cầm một miếng bánh lên, nhẹ nhàng nếm một miếng, cười nói:
- Ví như miếng bánh ngọt này, lũ trẻ nhất định rất thích, hãy mua cho bọn chúng, nhưng phải ăn hết, không được lãng phí, hay ví như váy lụa, phụ nữ đều nên có, thê tử của ta cũng nên có, nhưng không được có mấy trăm hay mấy ngàn cái, còn cả trang sức nữa, người phụ nữ nào không có mấy món đồ trang sức yêu thích chứ, thê tử của ta cũng giống thế, nhưng không được chất đầy phòng, đây chính là tiết kiệm, nàng hiểu chưa?
Đào Trạm gật đầu, nàng hiểu ý của phu quân, Lưu Cảnh vừa cười vừa nói:
- Trường An quả thật thay đổi rất nhanh, lát nữa ta muốn đi dạo một chút, nếu không sẽ không nhận ra đô thành này nữa.
Đào Trạm thu dọn chén trà, đi ra ngoài phòng, khi tới cửa, bước chân nàng chần chừ một lát, lại quay đầu nói:
- Phu quân có thời gian đi thăm Thượng Hương đi!
Lưu Cảnh khi trở về vào tối qua, cũng nhận thấy Tôn Thượng Hương có chút khác thường, trong nụ cười của nàng có sự bi thương không nói ra được, khiến hắn đã nghĩ, chuẩn bị tối nay đến tìm nàng.
- Nàng ấy làm sao vậy?
Đào Trạm thở dài một tiếng:
- Mấy ngày trước nàng ấy nhận được một bức thư gấp của Giang Đông, liền trầm mặc, rất ít khi nhìn thấy nụ cười của nàng ấy, bọn thiếp cũng không biết đã xảy ra chuyện gì?
Lưu Cảnh gật đầu:
- Ta hiểu rồi!
…
Trong phòng, Tôn Thượng Hương đang buồn bã thu dọn quần áo vừa phơi khô xong, cho dù phu quân xa cách một năm trở về, nhưng nàng không thể nào vui vẻ được, trong đầu nàng không ngừng lặp đi lặp lại lời thỉnh cầu trong thư của huynh trưởng, Giang Đông sắp diệt vong, chỉ có nàng mới cứu được Giang Đông, cứu vãn được cơ nghiệp của Tôn thị.
Những lời nói này giống như tảng đá lớn, đè nặng trong lòng nàng, cướp đi nụ cười của nàng, đè nén khiến nàng không thở nổi.
Nàng khát khao chạy khỏi nơi này, thoát khỏi tất cả phiền não, nhưng nàng lại không có chỗ nào để trốn, thậm chí có lần nàng mong phu quân mãi mãi đừng trở về, như thế nàng sẽ không phải đối diện với lựa chọn khiến nàng khó mở lời này.
- Hình như nàng không vui lắm?
Phía sau bỗng vang lên giọng nói của phu quân Lưu Cảnh.
Tôn Thượng Hương giật mình, vội quay đầu lại, chỉ thấy Lưu Cảnh đứng dựa ở cửa, hai tay ôm trước ngực, thản nhiên nhìn nàng.
- Chàng vào thì nên nói một tiếng, làm thiếp giật cả mình.
Ánh mắt Tôn Thượng Hương không dám đối diện phu quân, nàng vừa xếp quần áo, vừa nói nhỏ.
Lưu Cảnh chậm rãi bước lên, tới trước mặt Tôn Thượng Hương, đưa tay khẽ nâng cằm nàng lên, chăm chú nhìn nàng một lúc liền cười nói:
- Ta về hình như nàng không hoan nghênh lắm, hay là nàng lại có… niềm vui mới?
Lời vừa nói ra, Lưu Cảnh biết mình đã nói sai, hắn không nên đùa như thế.
- Chàng đang nói bậy bạ gì đó?
Tôn Thượng Hương đẩy tay phu quân ra, lạnh lùng đáp:
- Chàng nghĩ ta là người đàn bà không giữ chuẩn mực đạo đức sao?
- Ta chỉ đùa một chút thôi, vì khi ở trên đường, rất nhiều binh lính đều nói đùa, chỉ sợ sau khi trở về nhà, họ lại sắp làm cha.
- Người khác thì có thể, nhưng chàng nghĩ xem ai dám đụng đến người đàn bà của chàng?
Tôn Thượng Hương ném quần áo lên giường, cắn răng căm hận nói:
- Hy vọng từ nay về sau chàng đừng đua như vậy với thiếp nữa, mãi mãi cũng không được nói những lời như thế, nếu không thiếp không giết được chàng thì sẽ giết chết chính mình.
Lưu Cảnh ôm nàng vào lòng, âu yếm vuốt ve khuôn mặt nàng, thì thầm nói:
- Ta thật ra muốn nhìn vẻ tức giận của nàng, lại trở về là Công chúa Thượng Hương trước đây, ta còn nợ nàng hai mũi tên, còn nhớ không?
Hai má của Tôn Thượng Hương khẽ cọ vào bàn tay phu quân, mặc dù có chút thô ráp nhưng lại ấm áp và dày rộng, khiến nàng cảm thấy có chỗ dựa, sự không vui trong lòng lập tức biến mất, nàng bỗng hiểu ra, thực ra phu quân cố tình chọc tức mình, thay mình che giấu bất an trong lòng, nàng từ lâu đã không phải là Công chúa ngốc ngếch trước kia nữa, nàng đã trở nên tinh tế hơn.
- Chàng bình an quay về, thiếp thật sự rất vui, rất vui!
Tôn Thượng Hương nhỏ giọng nói.
Lưu Cảnh gật đầu:
- Ta muốn đi xem Trường An, nàng đi cùng ta chứ!
- Được rồi! Thiếp đi thay quần áo.
Tôn Thượng Hương bước nhanh vào trong buồng, lát sau nàng thay một chiếc váy dài màu đỏ, xinh đẹp cười nói:
- Chiếc váy dài này bằng tơ lụa đấy, chàng sẽ không bảo thiếp lại thay sang váy vải đấy chứ!
- Cứ như thế! Nhìn rất đẹp, ta rất thích.
Tôn Thượng Hương bật cười:
- Bộ dạng của chàng như vậy, thật giống lần đầu tiên chúng ta gặp nhau, đi thôi!
Nàng khoác tay phu quân, lòng tràn đầy vui sướng đi ra ngoài viện.
…
Xe ngựa của Lưu Cảnh chậm rãi chạy trên đường Bình An, đây là tuyến đường chính quan trọng đi về phía đông tây, con đường này thông thẳng đến cung Vị Ương ngoài thành, Lưu Cảnh trước đây gần như ngày nào cũng đi qua, nhưng đã hơn một năm không gặp, hắn cảm thấy hai bên đường thay đổi rõ ràng.
Đã không còn nhìn thấy nhà dân cũ nát trước kia nữa, đều trở thành những ngôi nhà lớn mới đực tu sửa, cửa hàng ở sát khu thành phía tây càng mọc lên san sát, nhà này kề nhà kia, hầu hết đều mới được dựng lên, chất đầy các hàng hóa từ nam đến bắc.
- Thay đổi rất lớn phải không?
Tôn Thượng Hương ngồi đối diện phu quân cười hỏi.
Lưu Cảnh gật đầu:
- Ta không dám tin, mới một năm thôi mà thay đổi lại nhanh chóng như thế.
- Vậy giờ chúng ta đi đâu đây?
Tôn Thượng Hương khẽ cười hỏi.
Chương 982: Chợ phía tây Trường An.
Ở góc tây bắc ngoài thành Trường An có một khu chợ mới mở, nơi đây vốn là chỗ dân chúng cử hành tế xã, cùng với việc miếu thờ dần đổ nát hoang vu, vùng này trở thành đất hoang cho cỏ dại sinh sôi và chồn hoang lui tới.
Nhưng kể từ năm kia, quan phủ đã san bằng lại vùng này, mở chợ phía tây mới của Trường An, có thương nhân nhạy bén nhanh chóng ra tay mua đất, rất nhanh giá đất ở đây đã tăng vọt, hơn nữa còn khó kiếm, qua gần hai năm phát triển, chợ phía tây đã bước đầu có quy mô lớn hơn.
Cảnh tượng hoang vắng trước kia đã không còn bóng dáng, trên mảnh đất rộng mấy ngàn mẫu này đâu đâu cũng là cửa hàng san sát, cửa hàng, quán rượu, lữ xá mọc lên khắp nơi, thương nhân và khách hàng chen chúc nhau, xe bò và xe ngựa chở hàng từng chiếc nối đuôi nhau, thuyền bè trên sông bỏ neo dày đặc, trên bến tàu, dân phu dỡ từng bao hàng hóa từ trên thuyền xuống.
Chợ phía tây chủ yếu là chợ nhắm vào người Hồ phía tây, do đó thương nhân người Hồ ở vùng này đông nghịt, thỉnh thoảng có thể thấy những đội lạc đà dài từ phía tây tới, tiếng lục lạc vang lên, người Khương, người Ô Tôn, người Quý Sương, người Túc Đặc đâu đâu cũng thấy, cửa hàng châu báu của người Hồ, cửa hàng của người Ba Tư trong chợ đặc biệt bắt mắt với nét khác thường.
Xe ngựa của Lưu Cảnh chậm rãi đi vào chợ phía đông trong sự ồn ào và náo nhiệt, có ba mươi kỵ binh thị vệ bảo vệ xe ngựa của Hán Vương, nhưng không mặc quân trang, mà đổi thành trang phục thường dân, nhìn như đang bảo vệ đại phú thương từ xa tới, cảnh tượng như thế đã quá quen thuộc ở chợ phía tây, cũng không ai quá để ý vào chiếc xe ngựa được bảo vệ nghiêm mật này.
Lưu Cảnh ngồi trên xe ngựa, lặng lẽ nhìn những thay đổi của chợ phía tây, hắn cảm nhận sâu sắc sự thay đổi quá lớn trong một năm nay, có thể nói là những thay đổi nghiêng trời lệch đất, đặc biệt buôn bán phồn thịnh khiến hắn nhớ đến sự hoang vắng, rách nát cảm nhận được khi hắn dẫn quân đi qua nơi này trước đây, giờ lại trở thành khu chợ phồn hoa nhất thiên hạ.
- Phu lang, mau nhìn kìa!
Tôn Thượng Hương chỉ vào một cửa hàng ven đường vui mừng kêu lên.
Lưu Cảnh cũng nhìn thấy, đây là một cửa hàng của người Hồ vừa khai trương, tên là ‘kiếm người Hồ’, chuyên bán binh khí Tây Vực, ở cửa có hai gã người Ba Tư thân hình cao lớn, mặc áo giáp đang đứng, thắt lưng dắt loan đao, trông rất hiên ngang.
Sưu tập binh khí luôn là sở thích lớn nhất của Tôn Thượng Hương, mấy năm nay mặc dù nàng không còn cuồng nhiệt binh khí như trước đây, nhưng sở thích trong xương tủy nàng vẫn không thay đổi, bộ sưu tập của nàng chưa có binh khí Tây Vực, hôm nay lại nhìn thấy cửa hàng chuyên bán vũ khí Tây Vực ở chợ phía tây, sao có thể không khiến nàng hướng tới, ánh mắt tha thiết nhìn phu quân.
Lưu Cảnh hiểu tâm trạng thê tử, hơn nữa hắn cũng có chút hứng thú, ở đây liệu có nhìn thấy kiếm Quý Sương nổi danh hay loan đao Đại Mã Sĩ hay không
Tới cửa hàng người Hồ này xem thử!
Lưu Cảnh ra lệnh một tiếng, xe ngựa lập tức quay đầu, chạy về phía khu đất trống bên cạnh, mấy gã thị vệ đi trước một bước vào cửa hàng sắp xếp.
Một lát, một thương nhân trung niên người Túc Đặc được binh lính dẫn ra nhanh bước tới trước xe ngựa, khom người thi lễ nói:
- Tiểu dân Sử Lâm, tham kiến Hán Vương điện hạ!
- Ngươi là chủ của cửa hàng này sao?
Lưu Cảnh nghe y có thể nói tiếng Hán lưu loát, cũng cảm thấy có chút hứng thú.
- Vâng! Tiểu nhân là người nước Sử, trước đây đều buôn bán ở Lạc Dương, đã được mười năm, nửa năm trước mới chuyển đến Trường An.
Lưu Cảnh gật đầu nói:
- Ta không muốn ảnh hưởng đến việc buôn bán trong chợ, trong tiệm có phòng yên tĩnh không.
- Tiểu nhân hiểu, đã chuẩn bị xong, mời điện hạ vào tiệm theo cửa cánh.
Trước cửa tiệm người qua người lại, đi từ cửa chính rất dễ bị nhận ra, Lưu Cảnh xuống xe ngựa, dẫn Tôn Thượng Hương đi vào cửa hàng bằng cửa cánh, mấy tên thị vệ đi theo hai bên.
Trong cửa hàng không đông khách, đa phần ở bên ngoài, khách quý không có ai trong nội đường, chỉ có mấy cô gái người Hồ mời chào khách, chủ tiệm Sử Lâm dẫn họ tới quý khách đường ngồi, khách đường khá rộng rãi, hai bên treo đầy đao kiếm Tây Vực, nước Hán không cấm đao kiếm, nhưng không cho phép buôn bán nỏ và binh khí đài, cửa hàng này cũng không ngoại lệ.
- Điện hạ và Vương phi mời ngồi!
Sử Lâm cung kính mời Lưu Cảnh và Tôn Thượng Hương ngồi xuống, nhưng hai người lại rất tò mò với đao kiếm treo trên tường, đi tới trước tường xem xét kỹ, binh khí ở đây chủ yếu là kiếm Quý Sương và đao Ba Tư, cũng có binh khí của Trung Nguyên, đao, kiếm, cũng tiễn v.v…
Hình dáng của đao kiếm Tây Vực không khác nhiều so với Trung Nguyên, nhưng trang trí đều rất lộng lẫy, trên vỏ đao đa phần khảm đá quý và dùng tơ vàng quấn quanh, thậm chí rất nhiều chuôi kiếm cũng đúc từ vàng ròng, xem ra giá cả không hề rẻ.
Tuy nhiên Lưu Cảnh không chú ý đến bề ngoài, hắn quan tâm hơn đến tính năng thực chiến của đao kiếm, hơn nữa hắn biết sở dĩ kiếm Quý Sương nổi tiếng vì nó dùng thép Ô Tư vang danh từ lâu rèn thành, binh khí chế từ thép này cứng rắn mà rất bền, còn cực kỳ sắc bén, loại thép khối này sau khi bán đến phương tây, lại xuất hiện đao Ba Tư và đao Đại Mã Sĩ nổi danh.
Trên thực tế, Trảm mã đao của quân Hán cũng dùng kỹ thuật rèn đúc tương tự chế thành, chỉ là chất liệu thép kém hơn thép Ô Tư một bậc, chủ yếu là do chất lượng quặng sắt không đồng đều gây nên.
Lưu Cảnh lấy một thanh kiếm xuống, rút ra một nửa, chỉ thấy chuôi kiếm sáng loáng, cực kỳ sắc bén, tuy nhiên không phải chế từ thép Ô Tư mà là loại thép bình thường, hắn treo kiếm trở về, lại xem mấy thanh nữa, đều không hài lòng lắm, những đao kiếm này chỉ có thể miễn cưỡng xem là kiếm thượng đẳng.
- Nàng thấy thế nào?
Lưu Cảnh quay đầu cười hỏi Tôn Thượng Hương.
Tôn Thượng Hương có hiểu biết sâu rộng về kiếm, những thanh kiếm này mặc dù không tệ, nhưng vẫn không lọt nổi vào mắt nàng, nàng lắc đầu, có chút thất vọng đáp:
- Cũng chỉ bình thường thôi!
Lúc này chủ cửa hàng Sử Lâm tiến lên cười nói:
- Những đao kiếm này chỉ là một số đao kiếm trang sức, cho người thường ngắm nghía mà thôi, cửa hàng có mười mấy thanh đao kiếm cực phẩm quý giá, muốn dâng cho Vương phi đánh giá.
Ánh mắt Tôn Thượng Hương lập tức sáng lên, vội vã nói:
- Có thứ tốt sao không lấy ra?
- Mời Điện hạ và Vương phi ngồi tạm, tiểu nhân lập tức đến nhà kho lấy.
Lưu Cảnh và Tôn Thượng Hương ngồi xuống, hai người hầu dâng trà sữa lên, chủ cửa hàng Sử Lâm bước nhanh tới hậu viện lấy hàng, lát sau Sử Lâm dẫn hai gã tiểu nhị khênh tới mười mấy hộp gỗ, lần lượt đặt lên bàn, Tôn Thương Hương tiện tay mở một hộp ra, bên trong là một bảo kiếm da cá mập tạo hình cổ phác, trang trí vô cùng đơn giản.
Tôn Thượng Hương chậm rãi rút kiếm ra, lập tức một luồng khí lạnh phả vào mặt, đôi mắt đẹp của nàng ánh lên tia sáng kỳ lạ, nàng buột miệng khên:
- Kiếm tốt!
Lưu Cảnh cũng cầm lấy kiếm, chỉ thấy thanh kiếm này quả thực sắc bén lạ thường, hắn nhổ một sợi tóc trên đầu, nhẹ nhàng đụng vào lưỡi đao, sợi tóc lập tức bị cắt thanh hai đoạn, quả nhiên là một thanh bảo kiếm chém sắt như chém bùn, Lưu Cảnh lại nhìn thân kiếm, chỉ thấy trên đó có hoa văn dày đặc, đây chính là đặc trưng của thép Ô Tư.
Chủ cửa hàng đứng bên cạnh có chút đắc ý cười nói:
- Thanh kiếm Quý Sương này tên là Tước Minh, khi múa khua phát ra tiếng chim tước kêu, ba mươi năm trước được thợ thủ công nổi tiếng của nước Quý Sương rèn ra, năm kia tiểu nhân đã mua được từ một thương nhân Quý Sương, là thập đại bảo kiếm của cửa hàng.
Lưu Cảnh mặc dù có hứng thú với thứ đao kiếm này, nhưng không định trang bị chúng cho quân đội của mình, trong lòng hắn hiểu rõ, loại đao kiếm này chỉ danh cho hiệp sĩ đeo hoặc để sưu tầm, chứ không thể dùng cho quân đội, tất nhiên vừa là giá thành rèn đúc đắt đỏ, mặt khác thép Ô Tư khá cứng và giòn, không đủ tính dẻo, rất dễ chém nhiều lần sẽ gãy trong chiến tranh quy mô lớn.
Hắn kéo chuôi đao xuống, lại đưa cho Tôn Thượng Hương, lúc này, hắn thấy thị vệ bên dưới dường như muốn bẩm báo gì đó, liền hỏi:
- Có chuyện gì?
- Khởi bẩm điện hạ, nhà ngoài có một đại quản sự của Đào gia, nói có việc quan trọng bẩm báo điện hạ.
Chủ hiệu vội tiếp lời:
- Là Lý đại quản sự của hãng buôn Đào thị, ông ta tới mua đao, điện hạ muốn gặp ông ta không?
Đã là đại quản sự của Đào gia thì có thể gặp một chút, Lưu Cảnh liền gật đầu:
- Để ông ta vào!
Không lâu sau, một đại thương nhân dáng người hơi béo, khoảng hơn năm mươi tuổi bước vào, ông ta quỳ xuống thi lễ:
- Tiểu nhân bái kiến Hán Vương điện hạ!
Lưu Cảnh thấy ông ta hơi quen, liền cười hỏi:
- Ta hẳn là đã từng gặp Lý quản sự!
- Tiểu nhân và điện hạ đã gặp nhau nhiều lần, năm đó ở Phàn Thành, điện hạ vẫn là Đốc tào du chước, lần đầu tiên tới hãng buôn Đào thị chính là tiểu nhân tiếp đãi, về sau tiểu nhân đảm nhiệm quản sự ở cửa hàng Giang Đông, cũng gặp điện hạ mấy lần.
- Ta nhớ ra rồi, hình như tên ngươi là Lý Đình, đúng không!
- Đúng vậy!
Lưu Cảnh cười gật đầu:
- Lý quản sự tìm ta có việc sao?
Lý Đình vội đáp:
- Tiểu nhân hai hôm trước mới cùng Nhị lão gia trở về từ Đại Uyên.
Nhị lão gia chính là Đào Lợi, Lưu Cảnh lập tức nhớ đến chuyện hắn bảo Đào gia đi khai thác thị trường phương tây, không ngờ Đào Lợi đích thân đi, còn tới cả Đại Uyên, hắn lập tức thấy hứng thú, bèn hỏi:
- Nhị lão gia của các ngươi ở đâu?
- Nhị lão gia ở trong hãng buôn, hãng buôn ở phía trước không xa, chưa đến trăm bước, tiểu nhân có cần đi mời Nhị lão gia lại đây không?
Lưu Cảnh nghĩ một lát, dù sao Đào Lợi là trưởng bối, hắn nên tự mình đến thăm ông ta, hắn liền cười nói với Tôn Thượng Hương:
- Hay là chúng ta tới hãng buôn Đào thị trước, trở về chúng ta hãy xem kiếm.
Tôn Thượng Hương đều cực kỳ thích thú với những cực phẩm đao kiếm này, nàng mới thưởng thức một thanh, còn chưa xem kỹ những cái khác, đâu cam lòng rời đi, nàng liền cười hì hì nói:
- Nếu không phu lang tới hãng buôn trước đi, thiếp ở lại một lát sẽ qua đó.
Lưu Cảnh hiểu được tâm tư của nàng, liền gật đầu, căn dặn mấy tên thị vệ phía sau:
- Bảo vệ tốt Vương phi!
Tôn Thượng Hương đẩy Lưu Cảnh đi, xinh đẹp cười nói:
- Phu lang mau đi đi! Mấy người bọn họ võ nghệ còn không bằng ta, đâu cần họ bảo vệ, ta có bảo kiếm trong tay, ai dám bắt nạt ta?
Chủ cửa hàng Sử Lâm cười khổ nói:
- Vương phi nói đúng đó!
Lưu Cảnh cười ha hả, đứng dậy liền đi ra khỏi cửa hàng, Lý đại quản sự vội vã đi trước dẫn đường, nhanh chóng ra khỏi cửa tiệm.
Lưu Cảnh ngồi trên xe ngựa, rất nhanh đã tới hãng buôn Đào thị nằm ở vị trí trung tâm chợ phía tây, có điều biển hiệu không gọi là hãng buôn Đào thị, mà là hãng buôn Đông Hán, cái tên này là do Lưu Cảnh đặt, lấy từ ý Đông phương Hán quốc.
Cửa hàng có diện tích cực lớn, ít nhất khoảng năm mươi mẫu, chủ yếu là kho hàng và để điếm, có vẻ cực kỳ nổi bật trong khu chợ phía tây tấc đất tấc vàng, chỉ nhìn từ cửa hiệu lớn này đã chứng tỏ được thực lực hùng hậu của họ, hành thương người Hồ chú trọng mặt tiền cửa hàng, thương nhân từ Tây Vực đến đều muốn bán hàng hóa cho họ, khiến nó trở thành cửa hàng lớn hàng đầu ở chợ phía tây.
Đào Lợi nghe nói Lưu Cảnh tới, vội vàng ra đón, Lưu Cảnh thấy ông ta định quỳ, vội ngăn lại:
- Nhị thúc đừng như vậy!
- Được! Được! Điện hạ mời vào trong ngồi.
Đào Lợi mời Lưu Cảnh vào nội đường, hai người ngồi xuống, Lưu Cảnh cười hỏi:
- Nghe nói Nhị thúc vừa từ nước Đại Uyên trở về?
Chương 983: Cởi bỏ khúc mắc.
Đào gia từ hai năm trước đã bắt đầu rút lui mọi mặt khỏi thị trường Trung Nguyên, Đào Thắng đích thân đi Linh Châu mua mười vạn khoảnh đất, dùng điều kiện hậu đãi để chiêu mộ mấy ngàn Hán nông từ Quan Trung tới khai khẩn canh tác, dưới sự điều động của ông, một nhóm đại tộc Ích Châu và Quan Lũng cũng nhộn nhịp mua đất trồng trọt ở Linh Châu, cùng với việc thu được lợi nhuận, cũng giúp quan phủ mau chóng khôi phục sự phồn thịnh ngày xưa dưới sự cai trị của Hán Vương.
Nhưng Đào gia trồng trọt ở Linh Châu không phải vì lợi nhuận, lương thực thu hoạch được cũng chuẩn bị giao cho quan phủ không hoàn lại, Đào gia chủ yếu muốn mưu cầu vốn liếng chính trị, chỉ một năm đầu tiên Đào gia đã thua lỗ ở Linh Châu một trăm triệu tiền.
Thiệt hại lớn ở Linh Châu nhất định phải được bù lại ở phương diện khác, theo đề nghị của Lưu Cảnh, Đào gia bắt đầu buôn bán với Tây Vực, lấy lợi nhuận khổng lồ từ buôn bán Tây Vực để bù đắp tổn thất của Linh Châu.
Coi như là sự bồi thường cho việc đóng góp đất đai ở kinh thành của Đào gia, Lưu Cảnh đã tặng mấy nghìn con lạc đà bắt được từ tay Hung Nô cho Đào gia, thành lập thương đội Tây Vực đầu tiên của Đào gia.
Đã hơn một năm trôi qua, Đào gia đã quay trở lại Tây Vực nhiều lần, còn xây dựng kho hàng trung chuyển ở quận Đôn Hoàng, họ vận chuyển số lượng lớn hàng hóa phương tây về Trung Nguyên, đem đồ gốm sứ, tơ lụa của Trung Nguyên chuyển đến phương tây, từ đó kiếm được lợi nhuận kếch xù.
- Nghe nói Nhị thúc mới từ Đại Uyên trở về, lần này đi xa vậy!
Đào Lợi cười đáp:
- Lần này đi Đại Uyên chủ yếu là dò đường và tìm kênh nhập hàng, cũng là lần đi xa nhất đến phía tây trong đời ta.
- Nước Đại Uyên còn có ở đây không?
- Nước Đại Uyên vẫn còn, trước đây do phủ Đô Hộ Tây Vực của Đại Hán, có điều năm Vĩnh Sơ Nguyên đã phế phủ Đô Hộ Tây Vực, nước Đại Uyên lại bị người Nguyệt thị đánh bại, thần phục nước Quý Sương, trên đường có thể nhìn thấy đốt lửa báo động và thành lũy mà Đại Hán thiết lập, đáng tiếc đều đã bị bỏ đi rồi.
Lưu Cảnh yên lặng gật đầu:
- Một ngày nào đó, ta còn sẽ khôi phục lại phủ Đô Hộ Tây Vực, chấn hưng hùng phong Đại Hán.
- Hy vọng những năm tháng còn lại của đời ta có thể nhìn thấy ngày đó.
Đào Lợi nói đến đây lại cười nói:
- Lần này ta đi Đại Uyên, vốn định mua ngựa giống của Đại Uyên, nhưng họ căn bản không bán ngựa giống, kiểm tra rất nghiêm ngặt, về sau ta thông qua mấy thương nhân Túc Đặc đã mua được ba trăm con ngựa giống Hãn Huyết, ta định dùng chúng để làm giống, sinh sản bầy ngựa ở Lũng Tây.
Lưu Cảnh mừng rỡ:
- Ngựa giống giờ đang ở đâu?
- Ở trường ngựa quận Lũng Tây, tổng cộng hai trăm linh năm con.
Lưu Cảnh nhướn mày:
- Nhị thúc ban nãy chẳng phải nói mua được ba trăm con sao?
Đào Lợi không hé răng, lâu sau mới thở dài đáp:
- Còn một trăm con bị Mã Đô đốc giữ lại ở Hà Tây rồi.
- Mã Siêu?
Đào Lợi gật đầu, lại khẽ nói:
- Điện hạ, có câu này ta không biết nên nói hay không, có liên quan đến Mã Siêu, nếu điện hạ không muốn nghe, ta sẽ không nói nữa.
Trong lòng Lưu Cảnh có cảm giác bất ổn, trầm giọng nói:
- Nhị thúc cứ nói thẳng!
- Ta đề nghị điện hạ mau chóng điều Mã Siêu đi! Giữ gã ở lại Hà Tây sớm muộn gì cũng xảy ra chuyện.
- Nhị thúc nói cụ thể xem nào, thật ra ta cũng có nghe nói.
- Có lẽ điện hạ không biết, người Khương ở Hà Tây năm ngoái đã mua lượng lớn binh khí khôi giáp của nước Quý Sương, hơn nữa ở hành lang Hà Tây còn xuất hiện mấy nhóm mã phỉ, đều là người Khương và người Đê, chuyên cướp bóc của cải của thương nhân qua lại, thương nhân nếu muốn bình yên đi qua Hà Tây, trước tiên phải nộp một khoảng tiền phí bảo vệ không nhỏ ở Túc Châu, khiến cho lợi nhuận của thương nhân giảm mạnh, tiếng oán than dậy đất.
Đào Lợi mặc dù không nói rõ, nhưng chính là ám chỉ Mã Siêu dung túng người Khương và người Đê, trước đây Triệu Vân cũng đã nói chuyện này, giờ Đào Lợi lại nhắc đến lần nữa, tất nhiên vấn đề ngày càng nghiêm trọng.
Thật ra khi Lưu Cảnh ở Hợp Phì, cũng nhận được điệp văn từ Trường An gửi tới, trong đó có quan phủ Hà Tây lên án Mã Siêu che chở người Khương, khiến mâu thuẫn giữa người Khương và người Hán ở Hà Tây vô cùng gay gắt, rất nhiều đất đai người Hán bị chiếm đoạt, gia viên bị đốt, bị buộc phải trốn đi Lũng Tây.
Chỉ có điều quân Hán ở Hợp Phì đang dồn hết sức lực của đất nước vào đại chiến với quân Tào, nên không có sức để chú ý đến chuyện này, do đó cũng chỉ có thể vuốt ve Mã Siêu là chính, cố gắng không đụng đến lợi ích của gã.
Nếu nói Mã Siêu vì kiếm tiền mà thu phí bảo vệ với thương nhân qua lại, Lưu Cảnh có lẽ còn có thể dễ dàng tha thứ, nhưng Đào Lợi nhắc đến chuyện người Khương bí mật mua khí giáp của nước Quý Sương, điều này khiến Lưu Cảnh phải cảnh giác.
Một khi Mã Siêu tự lập ở Hà Tây, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng, Lưu Cảnh thầm nghĩ:
- Nguy cơ ở Hà Tây xem ra không thể kéo dài vô thời hạn nữa, nhất định phải giải quyết nhanh chóng.
…
Tôn Thượng Hương xem được mấy thanh kiếm rồi thôi, không xem tiếp nữa, lý do rất đơn giản, những đao kiếm cực phẩm này đều là đồ quý giá của cửa hàng, không bán ra ngoài, nàng có xem nhiều nữa cũng không ý nghĩa gì, trái lại khiến nàng thấy mất mát trong lòng.
Tôn Thượng Hương liền đẩy đao kiếm ra, đứng dậy cáo từ, chủ tiệm Sử Lâm mặc dù không muốn nhượng đao kiếm quý, nhưng ông ta cũng không muốn đắc tội với thứ phi của Hán Vương, nhỡ may chọc giận Hán Vương điện hạ, ông ta còn muốn làm ăn ở Trường An hay không.
Sử Lâm liền lấy một thanh đoản kiếm quý giá lâu năm, cũng rèn bằng thép Ô Tư tặng cho Tôn Thượng Hương, theo lời Sử Lâm nói, kiếm này ông ta không bán, chỉ tặng cho người thật sự hiểu kiếm, điều này khiến Tôn Thượng Hương vô cùng vui mừng, nhận lấy kiếm rồi cáo từ.
Lúc này xe ngựa vẫn ở hãng buôn chưa về, may mà hãng buôn không xa, từ xa đã có thể nhìn thấy kiến trúc cao lớn đó, Tôn Thượng Hương bèn đi bộ đến, nhân tiện có thể đi dạo chợ một lát.
Cho dù Tôn Thượng Hương đã ý thức được mình không được can thiệp vào đại sự quân quốc của phu quân, kể cả chuyện của Giang Đông nàng cũng tốt nhất không hỏi đến, nếu không không những chẳng giải quyết được vấn đề Giang Đông, mà trái lại sẽ ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng, chỉ có đợi khi phu quân hỏi mình, nàng mới có thể nói ra chuyện này, càng không thể vì thế mà tỏ sắc mặt, hờ hững với phu quân.
Tuy là nói như vậy, nhưng cứ nghĩ đến Giang Đông sắp bị diệt tới nơi, cơ nghiệp mà ba người phụ thân và hai huynh sáng lập sắp tiêu tan, trong lòng nàng vẫn có một sự khó chịu không nói ra được, là con gái của Tôn gia, nàng lại không thể thờ ơ khi đối diện với tình thế nguy cấp của Giang Đông, trơ mắt nhìn Giang Đông diệt vong, nhưng nàng lại không biết cầu xin phu quân thế nào, nỗi đau khổ ẩn sâu này cứ đè nén trái tim nàng, khiến nàng khúc mắc khó giải.
Tôn Thượng Hương đi trên đường tâm sự nặng nề, người đi đường cũng phần lớn không biết nàng, mấy tên du côn trong chợ thấy nàng xinh đẹp, định tiến đến trêu ghẹo, nhưng lại thấy phía sau nàng là bốn tùy tùng đeo đao cao lớn vạm vỡ, sợ đến mức không dám đụng tới nàng, đành nhìn trộm từ xa.
Đi được ba mươi mấy bước, Tôn Thượng Hương bỗng nghe thấy có người cao giọng rao hàng:
- Đồ sơn Đông Ngô thượng đẳng đây, bỏ qua là không có nữa.
Giọng nói này rõ ràng mang khẩu âm Giang Đông rất nặng, Tôn Thượng Hương chợt nghe được giọng nói quê hương, trong lòng bỗng vui sướng, quay đầu lại nhìn, chỉ thấy góc đường có một cửa hàng nhỏ, trước cửa hàng treo kỳ phiên viết hai chữ ‘đồ sơn’, ở cửa có đặt một cây đèn trúc chín đoạn, được sơn đen nhánh, chính là đồ sơn Đông Ngô trứ danh.
Nhìn thấy vật phẩm của quê hương, càng khiến nàng cảm thấy thích thú hơn cửa hàng đao kiếm, nàng vội đi tới, chỉ thấy cửa hàng rất nhỏ, rộng chưa tới sáu thước, dài khoảng hai trượng, chính là được ngăn cách ra từ cửa hàng tạp hóa sát bên, chủ tiệm là một đội vợ chồng trẻ, bộ dạng đều rất thanh tú, rất có khí chất của người Giang Nam.
Có thể thấy họ kinh doanh không tốt lắm, không có người ghé vào, hai vợ chồng ăn mặc đơn giản, mở tiệm này cũng chỉ có thể gắng gượng sống tạm, chàng trai thấy Tôn Thượng Hương chú ý đến cửa hàng mình, vội vã cười nói:
- A tỷ hãy vào xem, đồ sơn mà cửa hàng bán đều là đồ sơn Đông Ngô chính thống, là cửa hàng duy nhất ở Trường An.
Tôn Thượng Hương bước vào cửa hàng nhỏ, người phụ nữ ra đón, thi lễ rồi cười nói:
- A Tỷ tùy ý chọn lựa!
Tôn Thượng Hương nhìn người này một cái, cười hỏi:
- Các ngươi là người Ngô Quận sao?
Nàng nói bằng tiếng quê hương, hai vợ chồng nhìn nhau, lập tức cười nói:
- Hóa ra a tỷ cũng là đồng hương, chúng ta là người huyện Ô Trình.
Tôn Thượng Hương gật đầu, khó trách bọn họ không nhận ra mình, hóa ra họ là người huyện Ô Trình, nhưng huyện Ô Trình cũng thuộc Ngô Quận, lúc nhỏ nàng cũng sống một thời gian ở đây, huyện Ô Trình đã để lại ấn tượng rất tốt với nàng.
- Ta nguyên quán ở huyện Phú Xuân, tuy nhiên ta lớn lên ở Ngô Huyện, huyện Ô Trình cũng từng đi qua, củ ấu ở đó ngọt hơn ở Ngô Huyện, vì thế quê ta có câu củ ấu Ô Trình, ngó sen Ngô Huyện.
Người phụ nữ cười đáp:
- A tỷ nói đúng, có điều người Ô Trình đều nói ngó sen của Ngô huyện không đủ giòn, người Ngô Huyện lại nói củ ấu của Ô Trình không ngọt.
Nghe câu chế nhạo bằng tiếng địa phương, tiếng cười của Tôn Thượng Hương như chuông bạc vang vọng trong cửa hàng, tâm trạng nàng lập tức vui vẻ, lại nói tiếp:
- Ta ở Trường An đã nhiều năm, vẫn là lần đầu tiên gặp được đồng hương, các ngươi tới Trường An khi nào?
- Chúng tôi đến đây đầu năm ngoái để mưu sinh, tuy nhiên người Giang Đông ở Trường An rất nhiều, a tỷ thật sự chưa từng gặp sao?
- Ta rất ít đi ra ngoài, người Giang Đông ở Trường An nhiều không?
Chàng trai trẻ tuổi tiếp lời ở cửa cười nói:
- Ít nhất có mấy vạn người, không nhất định ở Trường An, phân bố ở các nơi của Quan Trung, riêng huyện Ô Trình của chúng ta đã có hàng ngàn người.
Tôn Thượng Hương gật đầu, lại kỳ quái hỏi:
- Sao tất cả đều chạy đi hết, quê hương không tốt sao?
Người phụ nữ khẽ thở dài:
- Ly hương nhục như chó, nếu không phải thực sự không sống nổi, ai muốn rời quê nhà chứ?
- Tại sao?
Tôn Thượng Hương hỏi:
- Sao lại không sống nổi?
Chàng trai đứng ở cửa nói:
- Xem ra đại tỷ rất ít liên lạc với quê nhà, thuế phú của Giang Đông quá nặng nề, quan phủ bóc lột tàn nhẫn, nhà của ta mấy đời kinh doanh đồ sơn, mỗi tháng trên một nửa thu nhập phải nộp vào thương thuế, còn cả thuế đầu người, thuế thuyền, thuế tây chinh, thanh niên trai tráng hoặc là đi tòng quân, không nhập ngũ thì phải phục lao dịch, ba tháng phục một tháng lao dịch, ai chịu nổi, gia cảnh của ta vốn không tệ, cuối cùng cũng bị sụp đổ, quan phủ ngày ngày tới cửa bức thuế, đành phải dẫn theo thê tử chạy trốn, đi theo thúc phụ tới Trường An mưu sinh.
- Những việc này chẳng nhẽ Ngô hầu không quản sao?
Tôn Thượng Hương tức tối nói.
Chàng trai cười nhạt một tiếng:
- A tỷ đang nói đùa sao! Nếu Ngô hầu thật sự mặc kệ, chúng tôi cũng sẽ không chạy khỏi quê nhà, chính vì y quản quá nhiều, quản quá ác độc, đòi tiền đòi lương thực, khắp nơi đều bắt phu nhập ngũ, huynh đệ ta ba người thì đại ca và nhị ca đều chết trận, bỏ lại mẹ góa con côi, cuối cùng đại tẩu nghèo đổ bệnh mà chết, nhị tẩu mang theo con đi cũng không biết tung tích, a tỷ không ở Giang Đông đương nhiên không biết, người Giang Đông đều gọi y là Tôn sài lang, hận không thể ăn thịt, lột da của y, nếu quân Hán tấn công Giang Đông, ta sẽ là người đầu tiên ghi tên tòng quân, giết về quê nhà.
Tôn Thương Hương cũng không biết mình rời khỏi cửa hàng thế nào, trong lòng nàng trống rỗng, tràn đầy mất mát, nàng nằm mơ cũng không ngờ được rằng, Giang Đông lại trở thành địa ngục, giang sơn Tôn thị mà phụ thân và huynh trưởng gây dựng, cuối cùng bị dân chúng căm hận, muốn vứt bỏ.
Nàng lại nhớ đến câu nói của chàng trai trẻ tuổi ‘Người Giang Đông đều gọi y là Tôn sài lang, hận không thể ăn thịt, lột da của y, nếu quân Hán tấn công Giang Đông, ta sẽ là người đầu tiên ghi tên tòng quân, giết về quê hương!
Nghĩ đến câu nói này, các dư vị cùng dồn lên trái tim nàng, Tôn Thượng Hương không khỏi khẽ thở dài một tiếng, huynh trưởng nếu thật sự bất nhân như thế, Giang Đông như vậy còn bảo vệ nó làm gì?
Chương 984: Cáo trạng kinh thành.
Màn đêm buông xuống, trong thành Trường An vẫn náo nhiệt, ánh đèn trong hai cửa thành đông tây nơi buôn bán khá tập trung vẫn sáng trưng, tiếng đàn sáo, nói cười vang trời, trong tửu quán, tiếng oản tù tì uống rượu liên tục không ngừng, sau khi thành Trường An đến giờ Hợi mới bắt đầu thực thi cấm đi lại ban đêm, còn trước thời điểm này, các hoạt động thương mại về cơ bản không bị ảnh hưởng.
Cũng chính vì lý do này, trong một giờ sau khi màn đêm vừa buông xuống, các nhà kinh doanh lớn đều buôn bán cực tốt, đặc biệt là tửu quán và thanh lâu, gần như nhà nào cũng chật ních, nhưng khi gần đến giờ Hợi, các cửa hàng lần lượt bắt đầu đóng cửa, người trên đường cũng đông lên, phần lớn đều đi vội vã, họ đều phải vội trở về nhà trước giờ Hợi.
Lúc này cách giờ Hợi còn mười lăm phút nữa, là lúc các cửa hàng đóng cửa ngừng kinh doanh, người đi đường vội trở về nhà, trên đường lớn thành phía tây Trường An cũng có hai bóng áo đen vội vã chạy đi, lúc này người qua lại trên đường vội vàng, không ai chú ý tới họ.
Lúc này hai người rẽ ngoặt vào một ngõ nhỏ, đi về phía trước mấy chục bước, đằng trước là một cánh cổng lớn treo một chiếc đèn lồng tử khí, phát ra ánh đèn màu vỏ quýt, trên đó viết hai chữ quán trọ.
Đây là một quán trọ giấu trong ngõ hẻm, tuy nhiên cũng có đánh dấu đèn lồng ở ngõ, giúp cho kinh doanh cũng không tệ, mấy khách thương vừa mới tới Trường An đang đứng ở cửa hỏi giá một gã tiểu nhị, rất nhanh đã được tiểu nhị dẫn vào trong.
Lúc này, hai gã áo đen đi tới cửa chính, nhìn vào tấm biển trên cửa, ánh đèn mờ mờ khiến họ mãi mới nhìn được chữ trên biển hiệu, trên đó viết quán trọ Vương thị.
Nơi bọn họ muốn tìm chính là đây, hai gã áo đen nhìn nhau, cùng đi vào trong, một gã tiểu nhị béo ra đón, khuôn mặt tươi cười nói:
- Hai vị khách nhân, quán đã kín khách, thật xin lỗi!
- Chúng ta không tới ở, mà tìm một người.
Một tên áo đen lạnh lùng đáp.
- Ồ! Các ngươi tìm ai?
- Nghe đây, chúng ta tìm một người đàn ông tới từ Hà Tây, tên là Lý Văn, có lẽ gã không dùng cái tên này, khoảng ba mươi tuổi, vóc dáng khá gầy, chỉ đi một mình tới Trường An, ngươi đi tìm gã lại đây!
Gã tiểu nhị béo cảm thấy giọng hai người này lạnh lùng, thái độ vô lễ, trong lòng có vẻ không vui, chửi thầm: ‘xin người khác giúp đỡ mà lạnh lùng như vậy, các ngươi là cái đếch gì! ’ Tuy nhiên thói quen nghề nghiệp khiến gã tiểu nhị béo vẫn tươi cười, thái độ thành khẩn nói:
- Hai vị khách nhân có thể chắc chắn gã sống ở quán trọ này sao?
- Chúng ta có thể khẳng định, gã đang ở đây!
Lúc này, tên tiểu nhị béo chợt phát hiện hai gã áo đen cầm đao trong tay, gã ngây người một lát, trong lòng có chút sợ hãi, vội nói:
- Ta đi kiểm tra, hai vị khách chờ một lát!
Gã xoay người vội vã đi tới đại sảnh, hai người áo đen cũng không chờ, mà theo sát gã đi vào đại sảnh, lúc này, trưởng quầy thấy tiểu nhị dẫn hai người bước vào, liền mắng:
- Chẳng phải đã nói với ngươi kín khách rồi, sao lại dẫn khách vào?
- Trưởng quầy, họ tới tìm người!
- Bọn họ tìm ai!
Gã tiểu nhị béo quay đầu liếc nhìn hai gã áo đen, dưới ánh đèn nhìn rõ tướng mạo của chúng, thấy hai người này vẻ mặt dữ tợn, ánh mắt hung ác, trong lòng gã càng thêm sợ hãi, vội vàng nói:
- Các ngươi hỏi trưởng quầy của ta đi! Ông ấy biết rõ từng người khách.
Nói xong, gã cười bồi lui đi, phía xa nghe thấy hai tên áo đen lạnh lùng hỏi:
- Chúng tôi tìm một người đàn ông tới từ Hà Tây.
Gã tiểu nhị béo hoảng hốt chạy tới hậu viên, chạy thẳng đến trước một phòng trọ, gõ cửa ầm ầm:
- Lý công tử! Lý công tử!
Cánh cửa mở ra kèn kẹt, lộ ra một khuôn mặt thanh tú, là người đàn ông vóc dáng gầy gò:
- Tiểu nhị, có chuyện gì không?
- Bên ngoài, bên ngoài có hai người tới tìm ngài, bộ dạng rất hung hãn, còn cầm đao nữa.
Người đàn ông sững sờ, liền hỏi:
- Là nha dịch quan phủ sao?
- Không phải! Là hai người áo đen, khẩu âm giống với ngài, Lý công tử, hình như bọn chúng không phải người tốt.
Lý công tử lập tức luống cuống tay chân:
- Nguy rồi, chúng nhất định là tới giết ta.
Lúc này, phía hành lang nghe thấy tiếng trưởng quầy:
- Hai vị mời qua bên này, Lý công tử ở gian phòng cuối cùng.
Gã tiểu nhị béo giật mình kinh hãi, nắm cổ tay Lý công tử chạy, chạy tới hậu viện, gã tiểu nhị chỉ về bức tường thấp phía trước, vội la lên:
- Trèo tường đi ra ngoài, bên ngoài là đường cái, chạy mau lên!
Gã tiểu nhị béo tự thấy đã tận tâm tận nghĩa, gã vắt chân lên cổ chạy về phía tiểu viện bên cạnh, loáng cái đã không thấy bóng dáng đâu, gã cũng không muốn bị liên lụy, cùng bị mất mạng.
Lý công tử luống cuống tay chân, chạy vội tới tường, chân tay vụng về bò lên bức tường thấp, trong lúc gã đang định lộn qua tường, một con dao găm sáng loáng phóng ‘vù’ tới, trúng vào vai trái của gã.
Lý công tử đau tới mức kêu thảm một tiếng, xoay người ngã xuống ngoài tường, hai gã áo đen rút đao phi như bay tới, nhảy vọt lên tường, thấy người mà bọn chúng muốn giết đã chạy được hai mươi bước, khẽ quát một tiếng, rồi nhảy xuống tường đuổi theo.
Sau đó trưởng quầy trợn mắt há hốc mồm, hóa ra bọn chúng đến giết người! Lúc này, gã tiểu nhị béo toàn thân run rẩy chạy từ trong đêm tối ra, nơm nớp lo sợ nói:
- Trưởng quầy, ngài vẫn chưa chết, đúng là mạng lớn!
Trưởng quầy giận dữ, giơ bàn tay ra đánh:
- Tên khốn kiếp này, lại ném cho ông đây hai tên sát nhân, ông phải đánh chết ngươi!
- Trưởng quầy tha mạng!
Lý công tử lảo đảo chạy trốn, mặc dù động tác vụng về, cơ thể lại gầy yếu, nhưng trái tim muốn sống khiến gã cố chịu đựng vết thương ở vai để liều mạng chạy thoát, chạy một mạch trăm bước, nhưng dù sao gã chỉ là thư sinh, sao chạy qua nổi hai tên thích khách sát thủ phía sau, mắt thấy hai gã sát thủ phía sau đã sắp đuổi kịp.
Đúng là mạng gã chưa đến lúc chết, đúng lúc này phía đối diện vừa hay có một đội binh lính tuần tra chạy tới, đã tới giờ giới nghiêm ban đêm, lính tuần tra bắt đầu chuẩn bị tuần tra ban đêm, Lý công nhìn thấy cứu tinh, liều mạng hô to:
- Cứu mạng! Giết người!
Binh lính tuần tra nghe thấy tiếng kêu gào, cùng nhau chạy lên:
- Ai đó?
Hai tên áo đen phía sau thấy binh lính đã đuổi tới, chúng đã chậm một bước, không giết được người này, đành quay đầu chạy về phía đêm đen, mấy binh lính đuổi theo phía sau hô:
- Đứng lại!
Lý công tử thả lỏng một hơi, lập tức ngã xuống đất, đồn trưởng dẫn đầu thấy gã toàn thân đầy máu, bỗng kinh ngạc, tiến đến vội hỏi:
- Ngươi là ai, ai muốn giết ngươi?
Ở cách nơi xảy ra vụ ám sát khoảng trăm bước, có một tòa nhà mới rộng khoảng ba mươi mẫu, đây chính là phủ đệ của Triệu Vân, được người Trường An gọi là phủ Tướng quân, phủ đệ mới được xây dựng xong từ năm ngoái, trên mảnh đất Đào gia hiến cho quan phủ.
Bình thường Triệu Vân không hay ở phủ trạch, nơi này chỉ có thê tử Lý thị và hai đứa con trai của y ở, lần này Hán Vương Lưu Cảnh quay về kinh thành, Triệu Vân cũng vội từ Đồng Quan trở về, chiều nay mới vừa tới Trường An.
Triệu Vân tắm rửa bụi đường, thay một bộ quần áo sạch sẽ, đang ngồi trong thư phòng viết báo cáo cho Lưu Cảnh, lúc này, quản gia tới cửa bẩm báo:
- Tướng quân, ngoài phủ có một đội binh lính tuần tra, hình như có chuyện gì quan trọng tìm Tướng quân.
Triệu Vân ngẩn ra, binh lính tuần tra tại sao lại tìm mình, y dừng bút, đứng dậy nói:
- Đi xem một lát!
Triệu Vân đi tới ngoài cửa chính, chỉ thấy dưới bậc thềm có một đội lính tuần tra, y liền hỏi:
- Các ngươi tìm ta có việc gì?
Đồn trưởng dẫn đầu vội tiến lên khom người thi lễ nói:
- Khởi bẩm Tướng quân, chúng ta đã cứu được một văn sĩ bị truy sát, gã nói là có chuyện quan trọng tìm Tướng quân, nói Tướng quân cũng biết gã.
Triệu Vân đã thấy hai tên lính khiêng một người, hình như là bị thương, y liền chậm rãi bước tới, giơ đèn lồng chiếu vào khuôn mặt người này, dò xét một lúc, gật đầu:
- Có hơi quen mặt, gặp ở đâu đó rồi, ngươi là người ở đâu?
Văn sĩ khẽ nói:
- Triệu Tướng quân không nhớ thần sao? Thần là Huyện lệnh Lý Văn của huyện Cư Diên, mùa đông năm kia ở huyện Cư Diên, Tướng quân từng đồng ý đưa giúp thần một phong thư.
- Là ngươi!
Triệu Vân lập tức nhớ ra, trước đây khi y bắc chinh người Hung Nô ở Cư Diên đã từng nói chuyện với người này, y lại liếc nhìn Lý Văn, thấy gã toàn thân đầy máu, vết thương không nhẹ, không khỏi kinh ngạc hỏi:
- Ngươi đây là… rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?
…
Trong nội thư phòng phủ Hán Vương, Lưu Cảnh ngồi sau chiếc bàn, chăm chú nhìn con trai Lưu Trí trước mặt, hôm nay là ngày thứ hai hắn trở về Trường An, hắn đã dần khôi phục sau chặng đường mệt nhọc, bắt đầu hỏi con trai trưởng về tình hình một năm qua.
Có câu hổ phụ sinh hổ tử, điều này dường như là một định số lịch sử, phía sau vô số anh hùng hào kiệt luôn có một đứa con bình thường, đương nhiên, đây cũng chỉ là vấn đề xác suất, bản thân sự xuất hiện các nhân vật anh hùng đã cực ít, cha và con đều trở thành anh hùng thực sự càng hiếm hoi hơn.
Không chỉ vì thiên phú, mà còn liên quan cực lớn đến kinh nghiệm sống và môi trường sinh tồn.
Nếu không có loạn Tần Mạt, Lưu Bang, Tiêu Hà chẳng qua chỉ là quan lại nhỏ, Tào Tham và Phàn Khoái cũng chỉ là dung dân tầm thường, Hạng Vũ nhiều nhất chỉ là tên côn đồ giết người, Trương Lương và Trần Bình chỉ là những thư sinh tật thế phẫn tục, Hàn Tín chẳng qua là kẻ lang thang tâm cao mệnh bạc, đâu có những nhân vật anh hùng này xuất hiện.
Nhưng sau khi thiên hạ thái bình, loạn thế tiêu vong, con cháu họ lại ở nơi nào?
Lưu Cảnh cũng hiểu được đạo lý này, vì thế hắn không trông mong con trai có thể vượt qua mình, hắn chỉ hy vọng con trai có thể trở thành quân chủ tỉnh táo, có triển vọng, kế thừa giang sơn do hắn khai sáng và phát triển nó tiếp tục phồn vinh.
Kỳ vọng với con trai lớn, yêu cầu cũng cao, đặc biệt một năm nay, Lưu Trí về cơ bản sáng nào cũng tới Bình Chương Đài học chính vụ, Lưu Cảnh cũng tin nó sẽ có thay đổi rất lớn.
Tuy nhiên chỉ nhìn từ dáng vẻ bề ngoài, thay đổi của Lưu Trí cũng rất lớn, nó đã mười tuổi, vóc dáng cao thêm một chút, mặc dù hơi yếu ớt, nhưng giữa cử chỉ giơ tay nhấc chân lại thể hiện sự thong dong và trưởng thành không phù hợp với lứa tuổi của nó, đây chính là thay đổi trong hơn một năm nay sau khi học chính vụ ở Bình Chương Đài.
Sự thay đổi này, Lưu Cảnh nhìn thấy được, trong lòng cũng thực sự cảm thấy vui mừng.
- Nói vậy, sáng nào con cũng tới Bình Chương Đài, buổi chiều thì cùng sư phụ học văn làm phú, đúng vậy không?
- Hồi bẩm phụ thân, đúng là như thế, hơn nữa hàng ngày hài nhi đều tới Bình Chương Đài, chưa bỏ một ngày nào.
- Ngày nghỉ cũng đi sao?
- Ngày nghỉ có Thượng thư trực ở đó, hài nhi cũng đi.
Lưu Cảnh gật đầu, hỏi tiếp:
- Thế còn thời gian con luyện võ tập thể dục thì sao?
Lưu Trí mãi không nói gì, về phương diện này quả thật nó thiếu sót, nó chậm rãi cúi đầu, nhỏ giọng nói:
- Hồi bẩm phụ thân, hài nhi rất ít luyện võ tập thể dục.
- Cái này không được, ta nhìn ra được sức khỏe của con không tốt lắm, thậm chí còn hơi gầy yếu, đây không phải là kế lâu dài, bắt đầu từ ngày mai, sáng dậy sớm luyện võ tập thể dục một canh giờ, liên hệ kiếm thuật, học cưỡi ngựa bắn cung, sau đó hãy tới Bình Chương Đài, ta sẽ sắp xếp thị vệ chuyên dạy con.
- Hài nhi hiểu.
Lưu Cảnh còn muốn thử thêm kiến thức của nó, lúc này, ngoài cửa có tiếng bước chân nhè nhẹ, ngay sau đó nghe thấy thê tử Đào Trạm nói ngoài cửa:
- Phu quân, Tử Long đến, nói có việc quan trọng cầu kiến.
Triệu Vân tới gặp mình, tất nhiên là có chuyện quan trọng, Lưu Cảnh gật đầu:
- Ta sẽ đi ngay!
Chương 985: Ẩn họa hiện rõ.
Lưu Cảnh dặn dò con trai vài câu, rồi mới bước nhanh về phía tiền viện, nhìn phụ thân đi xa, Lưu Trí mới khẽ thè lưỡi, chạy nhanh tới cạnh mẫu thân, Đào Trạm xoa đầu con trai cười hỏi:
- Bị phụ thân dạy dỗ sao?
- Nếu không phải Triệu bá phụ đến, nói không chừng sẽ bị phụ thân dạy cho một bài rồi.
- Không đâu! Phụ thân nhìn thấy con cũng rất thích, sao lại giáo huấn con chứ, hơn nữa Trí nhi một năm nay rất chăm chỉ, phụ thân càng không có lý do gì giáo huấn con.
- Phụ thân nói con quá gầy yếu, bắt đầu từ mai, sáng sớm hàng ngày phải luyện võ nghệ một canh giờ, sau đó mới được tới Bình Chương Đài.
- Con đúng là quá yếu, mẹ cũng muốn bồi bổ cơ thể cho con.
Hai mẹ con vừa đi vừa nói, dần dẫn cũng đi xa.
Còn Lưu Cảnh vội vã tới ngoại thư phòng, chỉ thấy Triệu Vân đang ngồi trong thư phòng uống trà, tâm trạng nặng nề, Lưu Cảnh bước vào cười hỏi:
- Hình như có tâm sự! Chẳng lẽ phía Đồng Quan xuất binh bất lợi sao?
Triệu Vân vội đứng dậy hành lễ, Lưu Cảnh khoát tay:
- Không cần đa lễ, chúng ta ngồi xuống nói chuyện.
Hai người ngồi xuống, thị nữ tiến đến dâng trà, Triệu Vân lúc này mới thở dài nói:
- Điện hạ còn nhớ năm kia sau khi thần xuất chinh ở Cư Diên trở về, có nói cho điện hạ một chuyện không?
Lưu Cảnh lập tức nhớ ra chuyện sáng nay Đào Lợi đã nói với hắn, liền gật đầu, thản nhiên nói:
- Ngươi là nói Mã Siêu, ông ta lại xảy ra chuyện gì?
- Vi thần dẫn theo một người, đang ở phòng kế bên, điện hạ không ngại theo thần đến gặp gã chứ.
- Là ai vậy?
- Lý Huyện lệnh của Cư Diên, gã đã bị thương.
Lưu Cảnh đứng dậy, tới ngoài cửa căn dặn thị vệ:
- Phòng kế bên có một người mà Triệu Tướng quân dẫn tới, hãy đưa gã tới đây gặp ta!
Lát sau, mấy tên thị vệ khiêng một chiếc cáng mềm bước nhanh vào, trên cáng là gã họ Ký đang bị thương, gã mất quá nhiều máu, sức khỏe rất yếu, sắc mặt trắng bệch.
Lý Văn nhìn thấy Lưu Cảnh, giãy dụa định ngồi dậy, thị vệ giữ gã lại, Lưu Cảnh tiến lên ngồi xuống trước mặt gã nói:
- Ngươi chính là Lý Huyện lệnh ở Cư Diên, người của đại tộc Lý thị ở Lũng Tây sao?
- Đúng là vi thần!
Triệu Vân đứng cạnh bổ sung thêm:
- Gã bị truy sát, may mắn được binh lính tuần tra cứu, nói có chuyện quan trọng tìm thần, nên các binh lính đã đưa gã tới phủ của thần.
- Ai muốn giết ngươi?
Lưu Cảnh hỏi.
Lý Văn cắn môi, nhìn thị vệ hai bên, Lưu Cảnh lập tức ra lệnh:
- Các ngươi đều lui ra!
Trong phòng chỉ còn lại ba người là Lưu Cảnh, Triệu Vân và gã, Lý Văn giờ mới cắn răng đáp:
- Là Mã Siêu phái người tới giết thần.
- Sao ông ta muốn giết ngươi?
- Bởi vì thần biết ông ta sắp mưu phản tự lập rồi.
Lưu Cảnh không vội, chậm rãi ngồi xuống trước, lúc này mới hỏi:
- Ngươi có chứng cứ Mã Siêu muốn tạo phản không?
- Điện hạ, vi thần không phải vì báo thù riêng mà đổ oan cho ông ta, kể từ năm ngoái, ông ta đã dùng cách bề ngoài thăng chức, bên trong ngầm giáng chức, rời binh quyền của từng tướng Hán thuộc hạ, mà để người Khương và người Đê nắm giữ quân quyền, đã điều đi mười ba tướng Hán rồi.
- Sao ngươi biết những chuyện này?
Lưu Cảnh nheo mắt lại, ánh mắt sáng ngời nhìn chăm chú vào gã hỏi.
- Những chuyện này đều là Mã Đại Tướng quân nói cho thần, y vốn còn có một phong thư, nhưng thần sợ bị Mã Siêu bắt được sẽ liên lụy đến y, nên vi thần đã đốt thư trên đường rồi.
Lưu Cảnh trầm tư không nói, hắn thấy ở đây hình như có chút lộn xộn, Mã Đại sao lại ủy thác cho tên họ Lý này tới đưa thư, sao y không phái thân binh tâm phúc đi? Hơn nữa Mã Đại đóng giữ ở quận Võ Uy, phái người đến Trường An càng thuận tiện hơn, sao lại liên quan đến Huyện lệnh Cư Diên?
- Sao ngươi lại biết Mã Đại?
Lý Văn hiểu được nghi ngờ của Lưu Cảnh, khẽ thở dài một tiếng đáp:
- Ty chức đã không phải là Huyện lệnh Cư Diên nữa rồi, mùa hè năm ngoái ty chức bị Mã Siêu điều đến Đôn Hoàng làm Chủ bạc, trên đường suýt nữa bị mã phỉ giết chết, là Tướng quân Mã Đại đã cứu ty chức, điện hạ có lẽ không biết, Mã Đại Tướng quân cũng không ở quận Võ Uy nữa rồi, đầu năm ngoái, Mã Siêu đã lấy cớ bảo vệ thương đạo, dẹp mã phỉ nên điều Mã Đại Tướng quân tới quận Đôn Hoàng, còn sai người giữ nghiêm ải đạo, không cho bộ hạ của Mã Đại xuôi xuống phía nam, Mã Đại Tướng quân nói, điện hạ đại chiến ở Hợp Phì, không còn sức để ý tới phía tây, không thể rút dây động rừng quá sớm, nên vẫn ngấm ngầm chịu đựng, đến đầu năm nay, phụ thân của vi thần qua đời, vi thần mới được tới Lũng Tây chịu tang, liền nhân cơ hội này đến Trường An, không ngờ vẫn bị Mã Siêu phát hiện ra.
Lưu Cảnh giờ mới hiểu ra nguyên do hậu quả trong đó, hắn thầm giận trong lòng, Mã Siêu lại dám tự tiện điều các Đại tướng đi, dám tự tiện thăng miễn Huyện lệnh, đủ thấy dã tâm của ông ta đã bừng bừng, Lưu Cảnh nén cơn giận trong lòng, gật đầu nói:
- Nói thế, ngươi thật ra là do Mã Đại phái tới báo tin!
- Quả đúng là như thế!
- Nhưng ngươi lại không có bất kỳ tín vật nào.
Lý Văn cắn chặt môi, chậm rãi nói:
- Thần nguyện lấy cái chết chứng minh!
- Điều này không cần, ngươi hãy dưỡng thương cho tốt trước, là thật hay giả, sự thật sẽ chứng minh tất cả.
Lưu Cảnh nở nụ cười, sau đó lệnh cho thị vệ khiêng Lý Văn ra, đồng thời sai người sắp xếp cho gã đi dưỡng thương, Lưu Cảnh lúc này mới nói với Triệu Vân:
- Xem ra Hà Tây đã có nguy cơ rồi.
Triệu Vân lặng lẽ gật đầu:
Nếu Lý Văn không đến Trường An, có lẽ Mã Siêu sẽ còn sắp xếp thêm mấy tháng nữa, nhưng giờ ông ta ám sát Lý Văn thất bại, chắc chắn ông ta sẽ không chờ nữa.
- Cũng không phải vì một mình Lý Văn, mà chiến dịch Hợp Phì kết thúc, quân Hán quay về Trường An, ông ta đã không chờ đợi nữa.
Lưu Cảnh xoay người đi tới trước cửa sổ, lặng yên chăm chú nhìn ra ngoài, lâu sau, hắn khẽ thở dài một tiếng:
- Ta vốn cho rằng ông ta là một anh hùng, một lòng muốn trọng dụng, bồi dưỡng ông ta, thậm chí để ông ta chủ quản Hà Tây, nhưng không ngờ, ta vẫn nhìn lầm người.
Triệu Vân hiểu được tâm trạng của Lưu Cảnh, liền an ủi hắn:
- Ông ta quả là một anh hùng, võ nghệ cao cường, giỏi chinh chiến, điểm này điện hạ không hề nhìn lầm ông ta, chỉ là bản thân ông ta chính là chư hầu một phương, cha con họ xưng bá Tây Lương, bị Tào Tháo đánh bại mới phải nương nhờ điện hạ, trong xương cốt ông ta không có lòng thần phục, một khi điều kiện cho phép, dã tâm của ông ta tự nhiên sẽ nảy sinh.
- Ngươi không cần an ủi ta, trong lòng ta biết rất rõ, trước đây Tào Tháo một lòng muốn chém tận giết tuyệt ông ta, không để lại hậu họa, nhưng ta lại thu dụng ông ta, còn bổ nhiệm ông ta cai quản Hà Tây, dẫn đến họa ngày hôm nay, xét về tài nhìn người, ta quả thực không bằng Tào Tháo!
Triệu Vân trầm mặc một lát đáp:
- Nếu điện hạ tin tưởng vi thần, thần nguyện dẫn quân tây chinh, bình định họa Hà Tây.
Lưu Cảnh quay đầu chăm chú nhìn Triệu Vân một lát, chậm rãi nói:
- Nếu ngay cả ngươi mà ta cũng không tin, vậy Lưu Cảnh ta thật sự là kẻ cô độc rồi.
Triệu Vân cảm động trong lòng, chắp tay nói:
- Ty chức có thể xuất phát bất cứ lúc nào!
Lưu Cảnh gật đầu:
- Xuất binh là chuyện chắc chắn, nhưng không vội nhất thời được, còn rất nhiều việc phải làm trước đã.
…
Triệu Vân cáo từ, Lưu Cảnh đi qua đi lại một mình trong thư phòng, Mã Siêu muốn cát cứ tự lập đã dần trở thành sự thực, điều này là một đòn rất mạnh giáng xuống người hắn, nó không phải là vì biên giới bị chia cắt, mà là sự phản bội đau thấu tâm can.
Hắn cho rằng mình đối đãi bằng chân thành và tín nhiệm là có thể đổi lấy lòng trung thành, nhưng sự thật chứng minh hắn vẫn nhìn lầm người, có lẽ hắn còn chưa đủ trưởng thành trong chính trị, có một số chuyện nên làm thì hắn lại không làm, hắn không thể kịp thời xây dựng một chế độ để bảo đảm lòng trung thành của quân đội.
Kể cả Lưu Cảnh hắn có uy danh cực lớn, các đại tướng đều trung thành với hắn, nhưng tương lai thì sao? Các đại tướng liệu còn trung thành với con trai của hắn?
Từ xưa đến nay, ràng buộc đối với quân đội đều không hạn chế ở cái gọi là trung thành, quan trọng hơn là chế độ, thời Tiên Tần chất thê nhi của đại tướng ở kinh thành, Tùy Đường thì tách rời tướng binh, sau khi phủ binh suy bại lại dùng hoạn quan để giám sát quân đội, kết quả dẫn đến họa hoạn quan, đời Tống thì dùng quan dẫn binh, cho nên bại dưới tay Liêu Kim, tiêu vong trước Mông Cổ, tới hậu thế còn có ủy viên chính trị v.v…, đủ kiểu đủ loại, đều là để quân quyền được nắm chặt trong tay của triều đình trung ương.
Còn Lưu Cảnh hắn không thể giống như Tào Tháo, giao quân quyền cho con cháu huynh đệ, cũng không thể noi theo Giang Đông, tập trung binh lính ở Kiến Nghiệp, không đóng quân ở các địa phương. Trong lúc thiên hạ còn chưa yên bình, hắn chỉ có thể dựa vào sự tín nhiệm với các đại tướng, giao quân đội cho họ.
Nhưng Mã Siêu lại phụ sự tín nhiệm của mình giành cho ông ta, có lẽ, mình không nên tin tưởng một chư hầu từng cát cứ một phương, mình nên để Mã Đại hoặc Bàng Đức tới cai quản Hà Tây, chính vì sự nhân từ trong ý nghĩ của mình, kết quả khiến cho Hà Tây sinh loạn.
Lưu Cảnh thầm tự trách mình, lúc này, một tên thị vệ đứng ở cửa bẩm báo:
- Điện hạ, Đào công đã tới.
Lưu Cảnh gật đầu:
- Mời ông ta vào đây!
Lát sau, Đào Thắng được thị vệ dẫn tới vội vã bước vào ngoại thư phòng:
- Điện hạ tìm ta sao?
Lưu Cảnh gật đầu:
- Nhạc phụ mời ngồi!
Đào Thắng không biết tại sao Lưu Cảnh tới tìm mình, trong lòng ông có chút bất an, hai ngày nay ông rất lo chuyện con gái Tào Tháo xuất giá, lo chuyện này có ảnh hưởng tới địa vị của con gái mình hay không, lúc này, Lưu Cảnh tới tìm mình, ông đương nhiên liên tưởng tới chuyện này.
Lưu Cảnh cảm nhận được sự căng thẳng của Đào Thắng, liền áy náy cười nói:
- Có thể lại phải xin nhạc phụ hỗ trợ.
Đào Thắng ngẩn người, ông mơ hồ cảm thấy hẳn không liên quan tới đàn bà, nếu chuyện liên quan đến con gái Tào Tháo, Lưu Cảnh sẽ nói xin lỗi Đào gia, nhưng hiện giờ muốn mình giúp đỡ, hiển nhiên không phải việc ông đang lo lắng, Đào Thắng lập tức thở phào nhẹ nhõm, cười đáp:
- Chỉ cần Đào gia có thể làm được, ta tuyệt đối không từ chối.
Lưu Cảnh gật đầu hỏi:
- Đào gia khai khẩn đất đai ở Linh Châu thế nào rồi?
- Nói ra quả thực khiến mọi người ngạc nhiên vui mừng, thông thường đất hoang trở thành đất được khai khẩn phải cần ít nhất ba đến bốn năm, nhưng đất đai ở Linh Châu cực kỳ phì nhiêu, chỉ cần canh tác một năm là đã gieo trồng được hoa màu rồi, hơn nữa ánh nắng đầy đủ, tưới tiêu tiện lợi, ta chuẩn bị mùa hè năm nay bắt đầu trồng ngô, sau khi thu hoạch vụ thu sẽ trồng lúa mì vụ đông, tức là có thể một năm hai vụ rồi.
Lưu Cảnh thở dài, áy náy nói:
- Ta xin nhạc phụ giúp đỡ, chính là hy vọng Đào gia nhường cho ta mười vạn khoảnh đất.
Lưu Cảnh quả thực rất khó mở lời, hắn biết Đào gia, vì mười vạn khoảnh đất này không chỉ hao phí lượng lớn nhân lực và vật lực, chỉ tính riêng riền đã đầu tư vào đó một trăm triệu, dùng để đo đạc đất đai, chiêu mộ nông dân và xây dựng cải tạo thủy lợi, hiện có thể trồng trọt được thì mình lại muốn thu nó lại.
Nhưng hắn cũng không còn cách nào, giờ đất đai có thể lập tức sử dụng ở Linh Châu cũng chỉ có mười vạn khoảnh đất đã khai hoang của Đào gia thôi.
Đào Thắng yên lặng gật đầu:
- Nếu điện hạ muốn thu về, Đào gia có thể lập tức giao ra.
Lưu Cảnh ngẫm nghĩ một lát, liền giải thích:
- Thực sự ta không lừa gạt Đào gia, cũng không có ý cưỡng đoạt, mà là phía Hà Tây xảy ra chuyện, ta muốn chuyển dân Hán ở Hà Tây đi với tốc độ nhanh nhất, lại không muốn nói rõ với họ, chỉ có thể dùng cách dụ dỗ bằng cái lợi, cho họ đất đai ở Linh Châu, hơn nữa phải dùng đất đã khai hoang, đành để Đào gia chịu uất ức.
Đào Thắng giờ mới bừng tỉnh, hóa ra là vì chuyện của Hà Tây, tối qua ông ta cũng nghe huynh đệ Đào Lợi nói đến cảnh hỗn loạn ở Hà Tây, chỉ là không ngờ vấn đề sẽ nghiêm trọng và gấp gáp như thế, ông lập tức đáp:
- Ta sẽ phái người cả đêm đi thông báo cho quản sự ở Linh Châu, lệnh cho họ giao đất đai cho quan phủ.
Dừng một chút, Đào Thắng lại nói:
- Mặt khác, còn mấy ngàn hộ tá điền ta chiêu mộ, thỉnh cầu điện hạ chiếu cố thỏa đáng.
Lưu Cảnh gật đầu:
- Ta sẽ coi họ giống như dân di cư ở Hà Tây, cùng sắp xếp luôn cho họ.
Trên thực tế Lưu Cảnh cũng từng nghĩ qua, người Hán ở vùng Hà Tây không nhiều, quận Võ Uy thì đông hơn một chút, toàn bộ cộng lại cũng chỉ có hơn một vạn hộ, thêm cả tá điền, nhiều nhất là hai vạn hộ, kể cả mỗi hộ nhận hai khoảnh ruộng, cũng mới hết bốn vạn khoảnh đất, còn thừa ra sáu vạn khoảnh nữa.
Lưu Cảnh chuẩn bị dùng nó để sắp xếp cho dân tị nạn ở Hà Bắc và Trung Nguyên, chịu ảnh hưởng của cuộc chiến Hợp Phì lần này nên Hà Bắc và Trung Nguyên đều xảy ra thiếu lương thực, rất nhiều dân tị nạn đổ vào nước Hán, một vùng ở gần Quan Trung đã có gần hai mươi vạn dân tị nạn tới, khiến quan phủ chịu gánh nặng rất lớn, hắn phải sắp xếp cho họ ruộng đất có thể trồng trọt được ngay, đồng thời cũng có thể làm phong phú thêm Linh Châu, đất đai của Đào gia vừa hay có chỗ dụng võ.
Mặc dù điều này quả thực không công bằng lắm với Đào gia, nhưng tin rằng mình sẽ đền bù cho Đào gia ở phương diện khác.
Chương 986: Đối sách với Hà Tây.
Ngày hôm sau khi trời còn chưa sáng Lưu Cảnh đã dậy tới cung Vị Ương, đây là ngày thứ ba hắn trở về Trường An, còn quá nhiều chính vụ phải xử lý, cho dù thực thi chế độ phân quyền thời chiến giao quyền lực ở hạn độ lớn nhất cho Bình Chương Đài, nhưng kể cả như thế thì vẫn chất đống rất nhiều việc quan trọng đợi phê chuẩn.
Xe ngựa của Lưu Cảnh đi vào cung Vị Ương dưới sự bảo vệ của mấy trăm kỵ binh, hắn xuống xe ngựa đi vào phòng quan phòng mà mình đã xa cách một năm nay, trái ngược với thay đổi to lớn của Trường An, thư phòng không có bất kỳ thay đổi gì, như thể tối qua mới vừa rời đi.
Lúc này đã vào tháng ba, tiết trời dần ấm áp, chậu lửa được đốt lên, trong phòng sạch sẽ không có hạt bụi nào, Lưu Cảnh đẩy cửa sổ ra, một luồng gió sớm trong lành phả vào mặt.
Lúc này dường như có cảm giác gì đó, Lưu Cảnh quay đầu lại chỉ thấy Từ Thứ đang đứng ở cửa, hắn bật cười:
- Nguyên Trực hàng ngày đều đến sớm vậy sao?
- Không phải hàng ngày.
Từ Thứ chậm rãi bước vào phòng cười nói:
- Đoán điện hạ sáng nay đến sớm nên thần ra khỏi cửa sớm hơn một chút, quả nhiên như thế!
- Ngồi xuống đi!
Lưu Cảnh mời Từ Thứ ngồi xuống cười nói:
- Đoán là sau khi trở về mọi người đều sẽ tố khổ rằng một trận đại chiến Hợp Phì đã vét sạch của cải trong nhà.
- Đến giai đoạn cuối quả thực lương thực vô cùng căng thẳng, sau vụ thu hoạch mùa thu thì đã được hóa giải, mấu chốt nhất là Hung Nô mang tới mấy trăm vạn con dê và bò, cứu chúng ta trong lúc cấp bách nhất, giai đoạn cuối chúng thần toàn chuyển thịt dê bò ra tiền tuyến, điện hạ hẳn là cảm nhận sâu sắc chứ!
- Đương nhiên cảm nhận sâu sắc, sau tháng chín ngày nào cũng ăn thịt dê nấu, thịt dê nướng, thịt dê rán thay đổi đủ kiểu, giờ nhìn thấy thịt dê là sợ rồi.
Đến đây hai người đều bật cười ha hả, lúc này tiểu đồng bước vào dâng trà cho họ, Lưu Cảnh uống một ngụm nói tiếp:
- Xem xong báo cáo của Bình Chương Đài liên quan đến Hung Nô khiến ta lo lắng, không phải bởi Hung Nô mà là hai nhánh đông tây Tiên Ti của người Tiên Ti đã liên hợp lại, một khi họ hợp thành một thể tất sẽ trở thành bá chủ thảo nguyên. Hung Nô bị diệt vong cũng sẽ trở thành điều tất yếu. Người Tiên Ti sớm muộn sẽ trở thành mối đe dọa lớn nhất của Trung Nguyên.
- Ý của điện hạ là hỗ trợ Hung Nô đối phó với Tiên Ti?
- Ta từng nghĩ như vậy nhưng luôn cảm thấy không an toàn khi phó thác sang một dân tộc du mục khác. Đương nhiên để hai dân tộc tự tàn sát lẫn nhau cũng không tồi, nhưng xét cho cùng còn phải dựa vào chính bản thân mình, chúng ta nhất định phải dùng vũ lực mạnh mẽ để khống chế dân tộc du mục thảo nguyên, không cho phép bất kỳ dân tộc nào phát triển lớn mạnh.
Từ Thứ trầm ngâm một lát:
- Nhưng nếu như chỉ dựa vào dân số đông và tài lực thì e rằng khó duy trì được quân lực hùng mạnh.
- Đúng thế, chiến dịch Hợp Phì lần này chỉ có mười mấy vạn quân và một năm chiến tranh mà gần như tiêu hao hết tài lực của chúng ta. Nếu mấy chục vạn quân thì căn bản chúng ta không gánh nổi. Trong khi đó với dân tộc du mục thì toàn dân đều là lính, chiến đấu để nuôi chiến đấu, rất dễ dàng động viên mấy chục vạn người xuôi phía nam. Nếu họ có đủ quân đội thì chúng ta phải dựa vào binh khí hùng mạnh phát triển mạnh mẽ như nỏ ong, dầu hỏa và bộ binh trọng giáp. Những thứ này đối phó với vũ khí sắc bén của dân tộc du mục thì chỉ cần hai đến ba vạn quân là có thể đánh bại mấy chục vạn dân chúng du mục.
Hai người nói đến đây thì Lưu Cảnh liền chuyển chủ đề hỏi:
- Liên quan đến Hà Tây, Bình Chương Đài có nghe được tin gì không?
- Chúng thần biết Mã Siêu vượt quyền can thiệp vào chuyện bổ và miễn nhiệm quan viên địa phương, cũng biết ông ta tự tiện thu thuế cao của các thương nhân qua lại ở Túc Châu. Ngoài ra, người Khương và người Đê ở Hà Tây đáng nhẽ ra phải đưa lãnh thổ tới Trường An trong tháng một, nhưng năm nay đến giờ vẫn chưa đưa tới.
Đến lúc này Từ Thứ thở dài một tiếng:
- Chúng thần vốn định cử người đi chất vấn Mã Siêu, nhưng xét thấy chiến sự Hợp Phì khẩn trương nên nín nhịn, đành phải giảm thuế ở Trường An đối với các khách thương Tây Vực, coi như là đền bù tổn thất cho họ. Điện hạ! E rằng cục diện Hà Tây không được ổn lắm!
Lưu Cảnh biết Từ Thứ đành phải nói thẳng một cách khá hàm súc chuyện Mã Siêu muốn mưu phản, nhưng tất cả mọi người đều hiểu việc của Hà Tây không thể không giải quyết.
Lưu Cảnh trầm ngâm một lát liền nói với thị vệ đứng ở cửa:
- Đi dò la xem các Thượng thư còn lại đã đến chưa.
Thị vệ vội vã đi, lát sau trở về bẩm báo:
- Điện hạ, các Thượng thư đều đến rồi.
Lưu Cảnh lập tức nói với Từ Thứ:
- Chúng ta tới nghị sự đường bàn bạc cụ thể về chuyện này.
Trong nghị sự đường mọi người tập trung đông đủ, Doãn Mặc tuổi đã cao cũng vội tới, hơn một năm nghị sự với mọi người, trong lòng Lưu Cảnh đã cảm thấy thân thiết, hắn cười nói với mọi người:
- Trước tiên phải cảm tạ các vị đã tận tình dạy bảo khuyển tử, có thể nhận ra thay đổi rất lớn, điều này đều nhờ sự giúp đỡ của các vị, Lưu Cảnh vô cùng cảm kích!
Lưu Cảnh đứng lên khom người thi lễ với mọi người, đám đông vội xua tay không dám nhận, Đổng Hòa thẳng thắn nói:
- Điện hạ chịu giao công tử cho chúng thần, chính là đã tin tưởng chúng thần, quan trọng hơn chúng thần đều hy vọng tương lai công tử có thể trở thành một vị chủ công có triển vọng, như vậy chúng thần đã tận trách nhiệm.
Tất cả mọi người đều tỏ vẻ đồng ý, Đổng Hòa bày tỏ thái độ, Tưởng Uyển cũng cười:
- Công tử bản tính khoan dung, nhân hậu, giản dị, chúng thần đã sớm phát hiện khi công tử đọc các văn điệp, đặc biệt quan tâm tới dân sinh dân tình, chúng thần đều tin rằng công tử nhất định sẽ trở thành vị vua nhân từ, đây là may mắn của thiên hạ!
- Bây giờ nói còn quá sớm, phải xem sau này!
Lưu Cảnh không nói đến chuyện của con trai nữa, mà đi thẳng vào việc của Hà Tây, hắn chậm rãi nói với mọi người:
- Mọi người chỉ sợ vẫn chưa hiểu sâu tình hình ở Hà Tây, ta đã nhận được mật báo của Mã Đại rằng Mã Siêu đã đề bạt mười ba Đại tướng người Khương để nắm giữ quân quyền, ngoài ra quân đội ở Hà Tây đã tăng lên ba vạn, trong đó có hai vạn người Khương và Đê, quân Hán chỉ có một vạn, chủ yếu bố trí ở hai vùng Võ Uy và Đôn Hoàng, cuối năm kia ta đã biết tình hình hỗn loạn ở Hà Tây nhưng vì phải sắp xếp cho chiến dịch Hợp Phì nên đành phải thỏa hiệp với Mã Siêu, nhưng hiện giờ chiến dịch Hợp Phì đã kết thúc, khôi phục trật tự ở Hà Tây cũng đã trở thành hiện thực, giờ ta muốn các ngươi xem xét rốt cuộc còn bao nhiêu tài lực vật lực cho phép xuất binh bình định Hà Tây?
Bên trong nghị sự đường đều lặng im hồi lâu, Tưởng Uyển lên tiếng trước:
- Điện hạ nếu muốn toàn lực tấn công Hà Tây, chúng thần đương nhiên ủng hộ, nhưng chúng thần cũng phải báo cho điện hạ biết tình hình thực tế của ngân khố. Hiện tại trong kho quan của Trường An còn mười ba vạn thạch lương thực tồn kho, ban đầu là hơn ba mươi vạn thạch nhưng vì năm ngoài đã vay lương thực của dân chúng, nên sau khi lương thực vụ thu nhập kho đã phải trả cho họ, chỉ dựa vào lương thực tồn kho ở Trường An chắc chắn không đủ, tuy nhiên chúng thần có thể điều quan lương ở Hán Trung và Ích Châu tới, ước tính lương thực tồn kho cuối cùng có thể đạt bốn mươi vạn thạch, có điều cần một chút thời gian.
Lưu Cảnh cười:
- Các vị nghĩ vấn đề quá nghiêm trọng rồi, đây không phải là chiến dịch Hợp Phì, không cần quá nhiều quân đội, nhiều nhất chỉ cần xuất năm vạn binh, thời gian cũng không quá lâu. Dự tính khoảng mười vạn thạch lương thực là đủ, hơn nữa còn rất nhiều dê bò chưa xuất chuồng cũng có thể bổ sung làm quân lương. Vấn đề lo lắng không nằm ở lương thực, mà là vấn đề quan viên ở Hà Tây và dân Hán, một khi Hà Tây phản loạn thì họ là những người chạy trốn đầu tiên, nên phải chuyển họ ra trước.
- Điện hạ muốn chuyển dân Hán ở Hà Tây tới Quan Trung sao?
Tư Mã Ý hỏi.
- Không! Gánh nặng của Quan Trung đã quá nặng nề rồi, ta định bố trí cho họ đến Linh Châu, Đào gia đã khai khẩn được mười vạn khoảnh đất ở Linh Châu, hiện giờ đã thuyết phục được Đào gia giao toàn bộ số đất đai này cho quan phủ, đủ để sắp xếp cho năm vạn hộ dân, không chỉ thế, Đào gia còn muốn hiến tặng mười vạn thạch lương thực và hai mươi vạn đoạn vải cho dân di cư, như thế không chỉ dân Hán ở Hà Tây mà ngay cả dân di cư ở Trung Nguyên và Hà Bắc cũng có thể được bố trí. Chuyện mà các vị phiền lòng đã được giải quyết hết rồi.
Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, cũng không khỏi vui mừng khôn xiết. Năm ngoái Hà Bắc và Trung Nguyên lần lượt gặp thiên tai, cộng thêm ảnh hưởng nghiêm trọng của chiến dịch Hợp Phì, khiến cho rất nhiều cơ dân tràn vào Quan Trung và Kinh Tương, lên tới mười vạn người. Những người dân nghèo đói này cần lượng lớn lương thực và vật tư, đem đến gánh nặng nặng nề cho nước Hán, khiến các Thượng thư ở Bình Chương Đài khổ không thể tả.
Hiện giờ Lưu Cảnh yêu cầu Đào gia nhượng lại đất đai, Đào gia còn muốn tặng lương thực và vải vóc, điều này rõ ràng đã giải quyết được việc khiến mọi người nhức đầu nhất, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm. Từ Thứ than thở:
- Đào gia hào hiệp như vậy, là phúc của điện hạ!
Lưu Cảnh khẽ cười:
- Đào Thắng nói vải vóc và lương thực đều ở Ba Thục, muốn vận chuyển đến Quan Trung cũng không dễ dàng. Tuy nhiên cũng không cần chuyển đến Quan Trung mà để ngay tại Thành Đô dùng chi cho quân đội, sau đó mở kho phủ Trường An sắp xếp cho cơ dân. Ngoài ra, ta cần Bình Chương Đài bố trí lượng lớn nhân lực tới Linh Châu giúp Đào Chính sắp xếp cho dân di cư, chỉ dựa vào quan phủ Linh Châu căn bản khó có thể hoàn thành được trọng trách này, công việc rất nhiều, cũng rất vụn vặt, hy vọng mọi người lao tâm hơn nữa cùng sắp xếp ổn thỏa mọi việc, sau đó quân Hán sẽ có thể xuất binh tới Hà Tây.
Mọi người yên lặng gật đầu, Tư Mã Ý đứng dậy:
- Xin điện hạ yên tâm, Bình Chương Đài đã có kinh nghiệm sắp xếp, sẽ bố trí ổn thỏa mọi việc, có điều vi thần muốn nhắc nhở điện hạ phải kịp thời phái trọng binh tới bảo vệ Đại Đấu Bạt Cốc, ngăn người Khương ở Hà Tây liên kết với Hà Hoàng.
Câu nói của Tư Mã Ý đã nhắc nhở Lưu Cảnh, nếu Mã Siêu thực sự tạo phản ở Hà Tây, tất nhiên sẽ xuất binh công chiếm Đại Đấu Bạt Cốc, khi đó không chỉ Hà Tây có nguy cơ, mà ngay Hà Hoàng và Lũng Tây cũng sẽ bị đe dọa nghiêm trọng, phải giữ vững quan ải hiểm yếu trước, Lưu Cảnh gật đầu:
- May mà Tư Mã Thượng thư nhắc nhở, ta quả thực chưa nghĩ tới điều này.
Bàn bạc xong với các Thượng thư về chuyện của Hà Tây, Lưu Cảnh liền trở về quan phòng của mình, vừa tới cửa thì một gã thư tá chạy tới bẩm báo:
- Bàng Tướng quân tới cầu kiến điện hạ!
Lưu Cảnh hơi ngẩn ra, Bàng Đức không ngờ lại tới đây, vốn cũng định sai người mời Bàng Đức tới, dù sao trước đây Bàng Đức là phụ tá đắc lực của Mã Siêu, nếu Mã Siêu tạo phản Bàng Đức có hưởng ứng hay không? Mặc dù Lưu Cảnh biết Bàng Đức là người trung nghĩa, nhưng vấn đề vẫn phải suy xét, giờ Bàng Đức tự tìm đến chính là để tỏ rõ thái độ!
Nghĩ tới đây Lưu Cảnh liền hỏi:
- Giờ đang ở đâu?
Vừa nói xong, Bàng Đức từ trong viện đi ra, quỳ một gối chắp tay thật cao:
- Ty chức đặc biệt tới thỉnh tội điện hạ.
Lưu Cảnh vội đỡ dậy:
- Bàng Tướng quân cớ gì nói ra những lời này?
- Điện hạ!
Lưu Cảnh không đợi ông ta nói tiếp liền xua tay ngắt lời:
- Nơi này không được, theo ta đi!
Lưu Cảnh dẫn Bàng Đức vào quan phòng bảo ngồi xuống, lại lệnh cho các thị vệ đều lui cả ra, lúc này mới ngồi đối diện dịu dàng hỏi:
- Đã xảy ra chuyện gì?
Bàng Đức lấy ra một phong thư đưa cho Lưu Cảnh:
- Tên Mã Siêu ngày hôm qua sai người đưa mật thư cho ty chức, mong ty chức dẫn kỵ binh tới Hà Tây bạo động, phục hưng Tây Lương, ty chức có tội!
- Lẽ nào Bàng Tướng quân đã đồng ý?
- Nếu đồng ý thì hôm nay ty chức đã không tới gặp điện hạ.
- Thế tội gì?
Bàng Đức do dự một chút bỗng rơi lệ:
- Ngay từ mùa xuân năm ngoái Mã Siêu đã sai người tới ngầm báo cho ty chức, bảo ty chức nghĩ cách tới Hà Tây nhậm chức, mặc dù không nói rõ nhưng ty chức đoán được dụng ý, chỉ vì ty chức nhất thời hồ đồ lại giấu diếm chuyện này, cho đến hôm qua ty chức mới biết ở Hà Tây đã chuẩn bị rất nhiều tiền lương binh khí, sắp xếp tướng người Khương nắm giữ binh quyền, ty chức có tội, nếu năm ngoái ty chức báo với điện hạ thì sẽ không dẫn đến đại họa ngày hôm nay.
Lưu Cảnh thản nhiên cười:
- Bàng Tướng quân đừng tự trách mình, thật ra ta sớm đã biết sẽ có mối họa ngày hôm nay, khi Tử Long xuất chinh đến Cư Diên Hải đã phát hiện manh mối, nhưng vì phát động chiến dịch Hợp Phì nên đành phải giả như không biết gì, tối qua Mã Đại đã phái Chủ bạc của Đôn Hoàng là Lý Văn tới mật báo nhiều nhất hai ba tháng nữa Hà Tây sẽ có loạn, bảo ta sớm chuẩn bị.
Bàng Đức thoáng có chút an ủi trong lòng, hóa ra điện hạ sớm đã biết, liền lập tức đứng dậy chắp tay nói:
- Ty chức nguyện làm tiên phong dẹp loạn Hà Tây!
Lưu Cảnh chăm chú nhìn hồi lâu:
- Biết Lệnh Minh Tướng quân trung nghĩa, sẽ không phản bội, ta cũng muốn tin tưởng Lệnh Minh nên đã chủ động thỉnh lệnh muốn để Tướng quân chỉ huy kỵ binh bảo vệ Đại Đấu Bạt Cốc.
Bàng Đức bỗng nhiên hiểu được dũng khí và sự tín nhiệm cực lớn trong quyết định của Hán Vương, trong lòng ông ta vô cùng cảm động, sống mũi cay cay quỳ xuống khóc:
- Cảm tạ điện hạ tín nhiệm, ty chức thề với trời xanh dù chết cũng không bao giờ phản bội điện hạ!
Lưu Cảnh vội vàng đỡ dậy, trầm giọng nói:
- Phía Hà Tây có lẽ còn cần một chút thời gian rút dân, nhưng Đại Đấu Bạt Cốc lại vô cùng cấp bách, đoán chừng Mã Siêu đã hành động, tối nay Lệnh Minh hãy xuất phát suốt đêm, phải bằng mọi giá giữ được Đại Đấu Bạt Cốc.