Một vạn kỵ binh quân Hán dưới sự chỉ huy của Đại tướng Bàng Đức và Phó tướng Lãnh Bao đã trùng trùng điệp điệp thẳng hướng Hà Hoàng, đại đội kỵ binh lao nhanh trong đêm tối đen như mực, cuốn bụi vàng cuồn cuộn trên đường, chỉ có hành quân ban đêm mới không bị chú ý, ánh trăng vắng lặng chiếu lên khôi giáp của binh lính, phát ra tia sáng kim loại lấp lánh, từng đội nối tiếp nhau, giống như một cơn lũ sắt thép tuôn trào về phía tây.
Đội kỵ binh này vừa mới quay về từ Hợp Phì, còn chưa kịp hưởng thụ vinh quang của thắng lợi, cũng không kịp đoàn tụ với người thân, lại phải lên đường viễn chinh, chạy tới Hà Tây đang sắp bị phân liệt.
Trước các kỵ binh, đã có năm trăm tướng sĩ của Ưng kích quân xuất phát trước, chạy tới Đại Đấu Bạt Cốc, một khi Đại Đấu Bạt Cốc thực sự bị quân đội Mã Siêu chiếm lĩnh, địa hình hiểm trở không phải là thế mạnh để kỵ binh có thể công phá được, phải dùng quân đội đặc thù mới có hy vọng, quân đội đặc chủng của quân Hán chính là Ưng Kích Quân.
Trên thực tế, bản thân Đại Đấu Bạt Cốc đã thuộc Hà Tây cai quản, do một Nha tướng dẫn đầu một ngàn binh lính đóng giữ, đều là bộ hạ của Mã Siêu, chỉ có điều Lưu Cảnh không biết, Nha tướng và một ngàn binh lính đóng giữ này đã bị binh lính quân Khương thay thế chưa, một khi thay thế thì cục diện mà họ phải đối mặt sẽ trở nên phức tạp, họ phải công chiến cửa cốc, hơn nữa còn không được để cho Hà Tây biết được, nếu không sẽ kích động Mã Siêu động thủ trước.
Mấy ngày sau, đại đội kỵ binh tiến vào quận Lũng Tây, cách Đại Đấu Bạt Cốc đã không còn xa, còn trong lúc này, năm trăm binh lính Ưng Kích Quân đã tới đích, họ ẩn mình trong một khe núi cách Đại Đấu Bạt Cốc khoảng hai mươi dặm.
Phó tướng Nhậm Bình chỉ huy hơn mười người đi trước dò xét tin tức, số binh lính còn lại đều ở trong thung lũng uống nước ăn lương khô, tranh thủ thời gian nghỉ ngơi, để bất cứ lúc nào cũng duy trì được thể lực dồi dào, đội quân này đã thân kinh bách chiến từ lâu, không cần căn dặn, họ đều biết mình nên làm gì.
Chủ tướng Lưu Chính ngồi trên một tảng đá lớn, kiên nhẫn đợi tin tức của Nhậm Bình, lúc này, tiếng ngựa chạy khe khẽ mà dồn dập truyền đến, mười mấy chiến mã móng quấn vải gai dày đã chạy đến cửa cốc, là đội của Phó tướng Nhậm Bình đã trở về, phía sau một con chiến mã trong đó còn chở một bao vải.
Lưu Chính phấn chấn, vội vàng nhảy xuống khỏi tảng đá lớn, ra đón họ: - Tình hình thế nào rồi?
- Đúng như Điện hạ lo lắng!
Nhậm Bình trầm giọng trả lời, y quay đầu vẫy tay, hai tên lính khiêng bao vải lớn lại, cởi bỏ dây thừng, một tên lính hai tay bị trói chặt, miệng nhét vải gai xuất hiện trong bao vải, nhìn ngoại hình của gã, rõ ràng là một tên lính người Khương.
- Đây là một binh lính tuần tra ở cửa cốc, bị chúng ta bắt được, gã sẽ nói cho Tướng quân tất cả tình báo.
Lưu Chính rút dao găm, lôi vải gai trong miệng tên lính ra, lưỡi dao sắc bén kề sát vào cổ gã, Lưu Chính lạnh lùng hỏi: - Trong Đại Đấu Bạt Cốc còn có bao nhiêu binh lính quân Hán?
Ý của Lưu Chính là hỏi còn có bao nhiêu binh linh người Hán, câu này Nhậm Bình đã hỏi rồi, tên lính người Khương mãi sau mới đáp: - Không còn nữa, toàn bộ là người Khương và người Đê.
Lưu Chính lại hỏi thêm vài câu, tên lính người Khương trả lời ấp a ấp úng, Lưu Chính vô cùng sốt ruột, không hỏi gã nữa mà quay đầu nói với Nhậm Bình: - Ngươi đã hỏi gã rồi, hãy nói cho ta biết tình hình ở cửa cốc.
Nhậm Bình bước đến trước một tảng đá lớn, bày ra mấy viên đá, nói với Lưu Chính: - Đây chính là cửa cốc, trước mắt cửa cốc có khoảng một ngàn lính, chia làm hai điểm trú binh.
Nhậm Bình lại dùng hai viên đá nhỏ đặt hai bên tảng đá lớn.- Đây chính là hai điểm đóng quân, hoàn toàn giống như trên bản đồ, một phía bắc, một ở phía nam, cách nhau mười lăm dặm, mỗi điểm có năm trăm lính, họ liên lạc với Hà Tây bằng chim ưng đưa thư.
- Chim ưng đưa thư ở đâu? Lưu chính trầm giọng hỏi, đây là vấn đề y quan tâm nhất.
- Thám báo nói, ưng nô đều ở doanh trại phía bắc.
Lưu Chính trầm tư một lát mới nói tiếp: - Chúng ta phải chia quân ra hai đường, ta dẫn một nửa huynh đệ tới doanh trại phía bắc, ngươi phụ trách chiếm lấy doanh trại phía nam, đồng thời ra tay, phải vừa nhanh vừa mạnh, chém tận giết tuyệt!
Nhậm Bình gật đầu lại hỏi: - Khi nào động thủ?
Lưu Chính nhìn ánh trăng:
- Giờ là khoảng canh một, ta dẫn quân leo đi từ núi phía sau, không tốn bao nhiêu thời gian, vào canh ba chúng ta đồng thời hành động!
Nhậm Bình cười nói: - Canh ba chính là lúc phần lớn mọi người dạy đi tiểu đêm, chi bằng canh bốn ra tay, ta nghĩ sẽ nắm chắc hơn.
Lưu Chính hiểu được ý của Nhậm Bình, thực ra là cho mình thêm chút thời gian, dù sao vách núi đá vô cùng khó đi, phải đi mười lăm dặm cũng không dễ, y nghĩ một lát liền vui vẻ đồng ý: - Vậy đổi sang canh bốn động thủ đi!
Hai người lập tức chia binh, Lưu Chính dẫn ba trăm người chạy tới bên ngoài cửa cốc, còn Nhậm Bình dẫn hai trăm người lặng lẽ lần mò về phía trong cửa cốc.
Đại Đấu Bạt Cốc là một đoạn cốc phía đông nam trong dãy núi Kỳ Liên kéo dài ngàn dặm, hình thành một con đường tắt từ Hà Tây nối thông với Hà Hoàng ở Lũng Tây, nơi này cao ba ngàn năm trăm mét so với mặt biển, trên đỉnh núi quanh năm tuyết đọng, đoạn cốc dài khoảng trăm dặm, có hình thế bắc rộng nam hẹp, trong đó mấy chục dặm phía nam là hẹp và hiểm trở nhất, khe núi chỉ rộng hơn mười trượng, cửa ải hiểm yếu, hai bên khe sâu là những ngọn núi kỳ quái đứng sừng sững, vách đá cao chót vót, dày đặc những viên đá hình thù kỳ dị, có thể nói là một người trấn ải, vạn người không qua được.
Đại Đấu Bạt Cốc thuộc Hà Tây cai quản, ngay từ đầu nơi đây đã được bố trí một ngàn quân Hán, nhưng vào mùa hè năm ngoái, trong lúc trận chiến Hợp Phì kịch liệt và say sưa nhất thì nội bộ Hà Tây đã thực hiện điều chỉnh lớn trong đóng quân, một vạn quân Hán bị điều đến quận Đôn Hoàng ở phía bắc và quận Võ Uy ở phía nam, còn ba quận Trương Dịch, Tửu Tuyền và Cư Diên lại do hai vạn quân đội người Khương Đê đóng giữ.
Trú quân ở Đại Đấu Bạt Cốc cũng bị thay đổi, một ngàn quân Hán trước đây đã bị điều đi, đổi thành một ngàn lính Khương, binh lính người Khương và Đê về danh nghĩa cũng là quân Hán, nhưng họ lại chỉ nghe theo mệnh lệnh của Mã Siêu, không thèm để ý tới quân lệnh của Trường An.
Đây cũng là một ẩn họa để lại từ năm trước, khi quân Hán tiến công Lũng Tây và Hà Hoàng, đã đánh tan hoàn toàn người Khương và người Đê, còn cho họ ở chung với người Hán, chuyển sang canh tác nông nghiệp, còn chuyên một số bộ lạc kiên quyết không chịu chuyển sang nông canh tới cao nguyên Thanh Hải, khiến cho bộ lạc Khương Đê ban đầu không ngừng bị thu nhỏ và tiêu vong trong mấy năm về sau.
Còn với người Khương và Đê ở Hà Tây, Lưu Cảnh khi đó lo mức độ thay đổi quá lớn, sẽ dẫn tới sự phản kích của người Khương ở Linh Châu và người Hung Nô ở Quan Nội, do đó đã giữ lại bộ lạc ban đầu, không tiến hành cải tạo nông canh như Lũng Tây và Hà Hoàng, điều này khiến người Khương và Đê ở Hà Tây chỉ thần phục nước Hán về bề ngoài mà thôi.
Trong khi đó sau khi lính Khương tham gia tấn công người Hung Nô, đặc biệt là người Hung Nô ở Cư Diên Hải bị tiêu diệt, việc phân phối lợi ích liên quan đã dấy lên sự bất mãn mạnh mẽ của người Khương và người Đê ở Hà Tây, mấy tù trưởng bộ lạc lớn bắt đầu bàn bạc đòi tự lập, đi đến nhất trí với Mã Siêu trong chuyện mưu tính khôi phục Tây Lương.
Một ngàn lính Khương được bố trí trong Đại Đấu Bạt Cốc chính là quân trực thuộc của Mã Siêu, dùng chim ưng đưa thư để liên lạc với thành Trương Dịch, tuy nhiên lúc này do Mã Siêu còn chưa công khai khởi binh tự lập nên phòng ngự trong Đại Đấu Bạt Cốc cũng không đặc biệt nghiêm mật, chưa bước vào trạng thái thời chiến, chỉ là đóng giữ giống như bình thường, đúng giờ đổi trạm đổi gác cho nhau, lính gác cũng không nhiều, quân kỷ cũng không đủ nghiêm khắc, ví như mất tích một lính gác nhưng không khiến quân canh giữ cảnh giác hơn.
Nhậm Bình dẫn hai trăm binh lính chạy gấp trên đường, lần lượt nhổ được hai trạm gác, dần dần tiến sát quân doanh đóng quân.
Quân doanh phía nam nằm ở trong cửa ải khe núi, chân núi là mấy chục doanh trướng, trên sườn núi có một tòa quân bảo, chân núi có bất kỳ động tĩnh gì thì trong quân bảo sẽ lập tức phát hiện ra, sau đó bắn khói lửa thông báo cho quân doanh phía bắc, sau đó quân doanh phía bắc sẽ thả chim ưng đưa thư thông báo tới thành Trương Dịch.
Ưng Kích Quân mai phục ở cách cửa ải khe núi mấy trăm bước, chờ đợi thời gian đã hẹn đến gần, Nhậm Bình quan sát địa hình xung quanh, địa hình ở đây về cơ bản thống nhất với địa hình trên sa bàn mà họ nhìn thấy trước khi xuất phát, nhưng có một số chi tiết không thể hiện trên sa bàn.
Ví như cửa cốc có hàng rào gỗ to, mấy tên lính tuần tra đi lại trong hàng rào, chủ yếu là ngăn mãnh thú xâm nhập, sói và báo hoang cùng các mãnh thú khác trong Đại Đấu Bạt Cốc cực nhiều, đe dọa an toàn của những thương khách qua lại, đồng thời cũng là mối uy hiếp lớn đối với binh lính đóng quân, giống như khi họ phát hiện mất tích một tên lính gác, phản ứng đầu tiên là chắc đã bị mãnh thú tấn công, đây là chuyện thường thấy trong khe núi, họ cũng không để tâm lắm.
Nhậm Bình quan sát một lát, trong lòng đã có tinh toán, y gọi mấy Bộ tướng lại thì thầm dặn dò mấy câu, rồi lập tức dẫn năm mươi người đi vòng từ bên hông hướng tới tòa quân bảo ở giữa sườn núi.
Thời gian dần trôi đi, trong khe núi vẫn yên lặng, thấy sắp đến canh bốn, đây là lúc mọi người thường ngủ say nhất vào ban đêm, mọi âm thanh trong khe núi đều không còn, ngay cả loài chim kiêu hoạt động vào đêm cũng không thấy bóng dáng.
Nhậm Bình dẫn năm mươi thuộc hạ đã leo đến vách đá ở phía sau quân doanh, cách quân bảo trên sườn núi chỉ hơn mười trượng, Nhậm Bình chăm chú nhìn một bóng đen trên đỉnh quân bảo, đó là một tên lính đang quấn thảm quanh người ngủ say trong góc, đỉnh quân bảo chính là chỗ phóng khói lửa, ở đây chắc chắn có binh lính canh gác.
Chỉ có điều hiện giờ không phải thời chiến, chỉ đi tuần như bình thường, các binh lính đều không cảnh giác, tên lính canh trạm đương nhiên không thức nổi, đang trốn trong góc ngủ.
Nhậm Bình khoát tay, tất cả mọi người đều im lặng, y chậm rãi giơ thủ nỏ lên, ngắm chuẩn vào bóng đen cao mười mấy trượng, thủ nỏ này chuyên dụng cho thám báo, kích thước không bằng một nửa quân nỏ thông thường, cực kỳ nhẹ nhàng, có thể bắn bằng một tay, tầm bắn sát thương chỉ khoảng ba mươi bước, tên nỏ dài bốn tấc, đầu mũi tên có bôi kịch độc, gặp máu là tỏi, đây là vũ khí tốt nhất để phục kích trạm gác ngầm.
Tạch! một tiếng vang nhỏ, tên nỏ ngắn và nhỏ bắn ra như tia chớp, trúng vào cổ của binh lính đang ngủ say, tên này kêu lên một tiếng đau đớn, co giật hai cái rồi chết luôn.
Lúc này, Nhậm Bình lại khoát tay, mười mấy sợi dây thừng được ném xuống, năm mươi binh lính nuối nhau leo xuống, từng người nhanh nhẹn như khỉ vượn nhảy lên đỉnh tòa quân bảo.
Họ lấy ống trúc ra, thổi vào lượng lớn khói mê lên tầng chót của quân bảo, lát sau, mười mấy binh lính đá văng cửa sổ chui vào trong, nhanh chóng giết chết tên lính canh giữ trong tầng chót, họ cứ thế mà làm, không lâu sau đã giết chết toàn bộ binh lính trong ba tầng quân bảo, kể cả một gã quân hầu và mấy tên đồn trưởng.
Đúng lúc này, phía xa bỗng xuất hiện ánh lửa, mơ hồ có tiếng kêu la vang đến, lúc này quân doanh phía bắc đã nổ ra cuộc chiến ác liệt, Nhậm Bình quyết đoán kịp thời, một cây hỏa tiễn được bắn ra, đây là tín hiệu xuất kích, một trăm năm mươi binh lính mai phục dưới chân núi nhất loạt ào ra, chạy về phía hàng rào của khe núi.
Người Khương để đề phòng sói hoang và mãnh thú xâm nhập, đã chọn trú doanh ở một khe núi, còn cắm hàng rào gỗ to ở miệng khe, như thế, quả thật có thể phòng ngừa mãnh thú tấn công ban đêm một cách hiệu quả.
Nhưng mọi việc có lợi tất có hại, hạ trại như thế này lại khiến trú binh dễ bị quân địch ngăn ở trong khe núi, Nhậm Bình chính là đã lợi dụng nhược điểm này trong đại doanh của đối phương, đánh lén quân bảo trên sườn núi, khiến quân Hán chiếm được ưu thế nhìn từ trên cao xuống.
Năm mươi tên lính lưng vác túi da dầu hỏa, họ lần lượt gỡ túi da ra, phun dầu hỏa xuống đại doanh dưới chân núi, sau đó ném mấy cây đuốc xuống khe núi, trong quân doanh lập tức bốc lửa cháy rừng rực.
Chương 988: Rút dân ở Hà Tây.
Binh lính người Khương đang ngủ say thì bị lửa lớn đánh thức, bọn chúng liều mạng chạy ra khỏi doanh trướng, tranh nhau chạy về phía miệng khe núi, gần như tất cả mọi người đều mặc áo giáp nhưng không kịp mang theo binh khí, thậm chí rất nhiều người còn đi chân trần.
Lúc này lửa lớn đã bao phủ một nửa đại doanh, khói đặc cuồn cuộn, thế lửa nhanh chóng lan tràn, mấy trăm binh lính ngoài chạy ra ngoài khe núi ra không còn lối thoát nào nữa.
Nhưng ngay trước hàng rào quân doanh, một trăm năm mươi lính Ưng Kích quân đã giơ cung nỏ lên, xếp thành ba hàng lần lượt bịt chặn miệng khe núi, lạnh lùng ngắm mũi tên về phía binh lính người Khương đang chạy trốn ra ngoài, một tướng lĩnh quân Hán khẽ hô một tiếng: - Hàng thứ nhất bắn!
Năm mươi mũi tên bỗng nhiên bắn ra, bay vút về phía người Khương đang tháo chạy, trong đêm đen binh lính người Khương không kịp đề phòng đều bị bắn ngã xuống đất. Lúc này, hàng lính quân Hán đầu tiên nhanh chóng ngồi xuống lắp tên, hàng thứ hai lại bắn năm mươi mũi tên nhanh như chớp về phía quân địch, tiếp theo đó là binh lính hàng thứ ba giương nỏ bắn ra.
Động tác của binh lính quân Hán nhanh chóng và chuẩn xác, liên tiếp bốn trăm năm mươi mũi tên được bắn về phía quân địch trong thời gian ngắn nhất, lực sát thương cực lớn, hơn hai trăm binh lính người Khương bị bắn ngã, thi thể chất đầy miệng khe núi.
Tiếng kêu khóc trong khe núi vang rung trời, bên trong lửa rừng rực, bên ngoài là mũi tên đoạt mệnh, khiến binh lính người Khương tiến thoái lưỡng nan. Vô số người chết trong biển lửa, rất nhiều người giơ hai tay khóc hô đầu hàng, chạy ra miệng khe núi khẩn cầu tha mạng, nhưng quân Hán lại không chút nể tình vẫn bắn chết chúng với những mũi tên vô tình và dày đặc.
Năm mươi binh lính quân Hán trên đỉnh đầu cũng không ngừng bắn mũi tên xuống dưới, mấy chục tên lính Khương mưu đồ leo lên quân bảo cũng bị quân Hán bắn trúng, lăn lông lốc xuống núi. Nhậm Bình chăm chú nhìn cảnh giết chóc trong khe núi, khuôn mặt không hề biểu lộ tình cảm, cuộc đời quân lữ trường kỳ khiến nội tâm của họ đã trở nên nguội lạnh, khoan dung với quân địch thì cuối cùng sẽ hại chính mình.
Lúc này Nhậm Bình ngẩng đầu nhìn về phía bắc, thế lửa ở phía bắc đã nhỏ lại, nhưng tiếng kêu la vẫn còn. Khi thấy quân địch đã bị giết chết quá nửa, chỉ còn lại chưa đến trăm người, Nhậm Bình liền cao giọng hô về phía miệng khe núi: - Lý Giáo Úy dẫn một trăm huynh đệ sang phía bắc chi viện chủ tướng!
Phía xa nghe thấy tiếng đáp lại, chỉ thấy một trăm binh lính quay đầu chạy về hướng bắc. Trong lòng Nhậm Bình có chút lo lắng, không biết phía Lưu Chính đã xảy ra chuyện gì.
Đúng như Nhậm Bình lo lắng, Lưu Chính dẫn quân tấn công doanh trại phía bắc quả đã xảy ra chuyện. Doanh trại phía bắc không như quân doanh phía nam nằm trong một khe núi rất dễ đối phó. Doanh trại phía bắc nằm trên sườn núi kéo dài trăm trượng ở chỗ cao trên khe núi, có mấy chục đại trướng, ở đó cũng có một tòa quân bảo. Bên trong quân bảo là Nha tướng, binh lính và ba gã ưng nô cùng năm con chim ưng đưa thư.
Quân bảo nằm đối diện quân doanh, có nghĩa là nếu đồng thời ra tay thì sẽ bị phía đối diện phát hiện ra. Cuối cùng Lưu Chính quyết định tập trung binh lực chiếm lấy quân bảo, phải giết sạch ưng nô và chim ưng đưa thư, không được để cho Hà Tây biết Đại Đấu Bạt Cốc xảy ra chuyện. Còn về phần có bị quân doanh đối diện phát hiện ra hay không y đã không còn quan tâm nữa.
Lưu Chính lệnh cho một trăm người mai phục trên hẻm núi phía bắc quân doanh, phụ trách chặn lại binh lính chạy trốn về phía bắc, còn mình dẫn hai trăm binh lính đánh mạnh về phía quân bảo, binh lính trong đó không nhiều, chỉ hơn mười người đã bị quân Hán một đòn đoạt được, ưng nô và chim ưng đưa thư đều bị bắn chết.
Nhưng đột kích trong quân bảo cuối cùng đã kinh động tới quân doanh đối diện, mấy trăm lính Khương bị đánh thức ào ào lao ra khỏi quân doanh, gào thét chạy về tòa quân bảo. Lưu Chính dẫn hai trăm Ưng Kích quân quay đầu lao xuống cùng chiến đấu ác liệt với gần năm trăm binh lính người Khương.
Trong bóng đêm ánh đao lóe sáng, trường mâu đâm nhanh, tiếng kêu thảm thiết không ngừng vang lên, kẻ bị chặt đứt cánh tay, kẻ bị đánh bay đầu, máu tanh bao trùm trong không khí, xung quanh tràn ngập tiếng kêu rên khi hấp hối.
Ưng Kích quân là đội quân tinh nhuệ nhất của quân Hán, được tuyển chọn từ những người võ nghệ cao cường, kinh nghiệm tác chiến cực kỳ phong phú hiếm có trong quân đội để lấy một địch mười. Hai trăm Ưng Kích quân đối phó với năm trăm lính Khương hoàn toàn không cùng cấp bậc, vì thế chỉ chốc lát đã giết được lính Khương, xác người ngang dọc khắp nơi khiến quân địch lần lượt lui lại phía sau.
Chỉ vẻn vẹn mười lăm phút, năm trăm lính Khương đã thương vong quá bán, còn quân Hán chỉ có mấy người bị thương nhẹ. Quân Khương bị giết tới mức khiếp sợ, thêm vào đó chủ tướng của chúng đã chết trong quân bảo, đám binh lính như rắn mất đầu, sụp đổ trong nháy mắt. Binh lính người Khương chạy trốn tứ tung, rất nhiều người không có chỗ để chạy, rối rít quỳ xuống đầu hàng nhưng vẫn bị quân Hán vô tình giết chết.
Lần này họ không nhận tù binh, phải giết chết toàn bộ quân coi giữ ở Đại Đấu Bạt Cốc. Trên thực tế quân phòng thủ ở đây đã không còn chỗ thoát, phía bắc đã bị một trăm tên lính mai phục trước đó cắt đứt đường lui. Hầu hết binh lính đều chạy về phía nam. Ở phía nam còn có một quân doanh, theo bản năng chúng gửi gắm tia hy vọng cuối cùng này vào quân doanh đó.
Nhưng đón tiếp bọn chúng lại là những binh lính quân Hán lao tới từ phía nam. Nhậm Bình đã phái một trăm binh bính vừa hay chặn được lũ bại binh chạy trốn về phía nam, họ không chút dung tình vung đao chém sạch. Lưu Chính dẫn quân cũng vừa lúc xông đến, nam bắc giáp công, hơn một trăm binh lính cuối cùng bị tàn sát hầu như không còn trong tiếng kêu gào thê thảm.
Trận chiến đấu giành lấy Đại Đấu Bạt Cốc đã kết thúc trước canh năm, một ngàn binh lính người Khương bị giết sạch, lửa ở khe núi phía nam đã dần tắt, đám binh lính cố chịu mùi hôi cháy xém vào khe núi tuần tra để giết chết từng quân địch tắt thở, không để lại một ai sống sót.
Lúc này một kỵ binh canh gác bên ngoài khe núi phi như bay tới, chắp tay với Lưu Chính: - Khởi bẩm Tướng quân, Bàng Tướng quân dẫn đại đội kỵ binh đã đuổi tới cách ba mươi dặm, Bàng Tướng quân hỏi về tình hình chiến đấu.
Lưu Chính căn dặn Nhậm Bình dọn sạch chiến trường, rồi phi người lên ngựa dẫn theo mấy huynh đệ thúc ngựa chạy một mạch hơn hai mươi dặm về phía khe núi. Lúc này trời đã dần sáng, vạn ánh hào quang chiếu sáng xuống dãy núi trùng điệp, phía xa dường như ráng may bùng cháy đã phủ kín đỉnh núi tuyết trắng xóa, kim quang lóng lánh vô cùng lộng lẫy.
Một vạn kỵ binh quân Hán ở nơi xa xếp hàng đón gió sớm phần phật trong cánh đồng bát ngát. Bàng Đức đứng trên cùng chăm chú nhìn mấy gã kỵ binh đang từ xa tiến đến. Trong lòng ông biết rõ chuyện Ưng Kích quân đoạt lấy Đại Đấu Bạt Cốc, năm trăm Ưng Kích quân ra tay thì cửa ải nào cũng đều chiếm được, còn nhiệm vụ của bọn họ là chờ đợi cơ hội, một khi cơ hội đến sẽ dẫn theo một vạn quân Hán từ Đại Đấu Bạt Cốc lao đến Hà Tây.
Lúc này mấy gã kỵ binh đã chạy đến cách trăm bước. Bàng Đức nhận ra người cầm đầu Lưu Chính đang thúc ngựa tiến đến.
Ngay sau khi quân Hán chiếm được Đại Đấu Bạt Cốc, Hà Tây cũng xuất hiện một số thay đổi, dân chúng bắt đầu rút về phía bắc tới Linh Châu. Trên con đường phía đông quận Võ Uy, một dòng người và dòng xe trùng trùng điệp điệp đang đi về phía đông bắc. Dòng người và xe trải đài hơn hai mươi dặm, với khoảng hơn bảy tám vạn người.
Trong dòng xe xen lẫn vô số xe ngựa và xe bò. Trên xe chất đầy các vật dụng sinh hoạt và lương thực. Người già và trẻ nhỏ ngồi trên xe, đàn ông và phụ nữ thì ngồi trước đánh xe. Dân thường đi bộ hai bên không chỉ có dân Hán, mà còn không ít người Khương, người Đê và người Hung Nô sống bằng canh tác nông nghiệp.
Hai bên dòng người là các kỵ binh và bộ binh đi theo, thi thoảng họ cảnh giác nhìn ra xa. Đây là nhóm rút dân đầu tiên của quận Võ Uy. Quận Võ Uy là nơi nhiều đất canh tác nhất Hà Tây, và cũng là nơi tập trung đông dân chúng nông canh nhất, hơn hai vạn hộ.
Trong mấy tháng trước các quận ở Hà Tây đều tràn ngập một cảm xúc bất an. Người Khương và người Đê thỉnh thoảng xâm nhập vào chỗ dân Hán nông canh để cưỡng chiếm đất đai, thiêu hủy nhà cửa, đuổi họ ra khỏi nhà, thậm chí thỉnh thoảng còn giết đàn ông và người già, bắt cóc phụ nữ cùng trẻ nhỏ. Tin tức truyền đi khiến toàn bộ
các khu vực ở Hà Bắc đều cực kỳ căng thẳng.
Liên tiếp Trương Dịch, Tửu Tuyền, dân Hán và dân tộc nông canh của nó đều di chuyển tới quận Võ Uy và quận Đôn Hoàng, Mãi đến mấy hôm trước quan phủ mới phái quan lại tập trung dân Hán lại động viên và yêu cầu dân Hán dời về phía bắc tới Linh Châu.
Không cần quan viên khuyên bảo quá nhiều, trong lòng mọi người đều rất rõ, cuộc sống và đất đai canh tác của họ đã không còn an toàn nữa, mâu thuẫn giữa người Khương Đê và người Hán ngày càng sâu sắc. Nếu bọn họ còn không đi thì một cuộc tàn sát quy mô lớn nhằm vào người Hán sắp bắt đầu.
Mọi người đều thu dọn gia sản, ngồi xe bò và xe ngựa rời khỏi quê nhà, đi tới Linh châu cách đó ngàn dặm. Nhóm di dân đầu tiên xuất phát, rất nhanh sau đó là nhóm thứ hai và nhóm thứ ba.
Phía trước đội ngũ, Thái thú quận Võ Uy là Đỗ Kỳ cũng cưỡi ngựa dẫn đầu, theo sau là mấy cỗ xe ngựa, trong đó là thê nhi và mẫu thân của y. Đỗ Kỳ khoảng năm mươi tuổi, là người Đỗ Lăng thuộc Kinh Triệu, hai mươi năm trước làm quan trong triều đinh, từ khi bốn mươi tuổi được điều đến quận Võ Uy làm Thái thú được mười năm.
Đỗ Kỳ là người thanh liêm chính trực, yêu dân như con, cai trị quận Võ Uy trật tự, rất được nhân dân kính yêu, cũng là đại thần mà Lưu Cảnh trọng điểm muốn bảo vệ. Nửa tháng trước y đã được bổ nhiệm làm thị trung, chuẩn bị tiếp nhận chức vụ của Doãn Mặc, còn Thái thú quận Võ Uy sẽ do Quận thừa Lý Tế kế nhiệm.
Nhưng Đỗ Kỳ lại không muốn bỏ lại dân chúng quận Võ Uy trong lúc nguy cấp để rời đi, liền kiên trì ở lại động viên mọi người đi, và đích thân tới Linh Châu để sắp xếp xong cho con dân Võ Uy.
- Đỗ Sứ quân, Hà Tây không khai chiến sao? Phó giáo úy Dương Thanh của quân Hán phụ trách hộ tống dân chúng lên phía bắc khẽ hỏi.
Đỗ Kỳ đương nhiên biết rõ trong lòng, có điều hiện giờ Trường An và Hà Tây vẫn trở mặt thì không thể dễ dàng để chiến tranh bùng nổ các loại, nhỡ mà những việc này truyền đến tai Mã Siêu ép ông ta khởi binh trước thì e rằng sẽ ảnh hưởng tới sự bố trí của Bình Chương Đài.
Đỗ Kỳ khẽ cười: - Đoán chừng Hán Vương Điện hạ phải sắp xếp lại, dân du mục người Khương ở Hà Tây quá nhiều, ít nhất phải để một nửa số người chuyển sang nông canh, một số bộ lạc sắp tiêu vong, do đó Hà Tây sẽ có thay đổi lớn, chúng ta phải nhượng đất đai đi.
- Những người dân du mục đó đâu chịu chuyển sang canh tác nông nghiệp, e rằng kế hoạch rất khó thực thi.
- Kể cả bọn họ không muốn cũng phải chuyển, người Khương ở Lũng Tây và Hà Hoàng đều chuyển sang nông canh, họ cũng phải chấp nhận hiện thực.
Dương Thanh yên lặng gật đầu, trong lòng hiểu nếu người Khương và người Đê đối chọi đến cùng thì có nghĩa là chiến tranh sẽ nổ ra.
Lúc này một ông lão khác chắp tay hỏi: - Xin hỏi Đỗ Thái thú, chúng tôi sẽ có bao nhiêu đất ở Linh Châu?
Đỗ Kỳ gật đầu với lão nhân tỏ vẻ kính trọng, rồi cười giải thích: - Được biết Linh Châu đã sắp xếp xong, đất đai đều là đất canh tác phì nhiêu, cũng có mương máng tưới tiêu thủy lợi. Mùa hè năm nay là có thể trồng ngô gạo, nghe nói mỗi hộ được chia hai khoảnh đất, đều là ruộng vĩnh viễn có thể truyền lại cho con cháu. Đương nhiên điều kiện tiên quyết là nhập hộ khẩu Linh Châu, từ bỏ đất đai ở Hà Tây.
- Chúng tôi còn có thể quay về Hà Tây không? Lão nhân lại hỏi.
- Nếu lão nhân nhất định muốn quay về, cũng không phải không thể, nhưng phải biết rõ sau này sắp xếp cho người Khương chắc chắn sẽ chia đi một phần đất canh tác của Hà Tây, ví dụ hiện giờ ông có hai khoảnh đất ở quận Võ Uy thì tương lai chỉ còn một khoảnh. Đương nhiên cũng sẽ được một chút đền bù, phải xem vào lựa chọn của mình thôi.
Lão nhân mang vẻ mặt ảm đạm không muốn rời khỏi Hà Tây, nhưng nếu phải chia đất đai đi thì cũng đành ở lại Linh Châu. Lúc này, ông ta lại nhớ đến một chuyện vội hỏi:
- Còn thuế phú thì sao? Thuế ở Linh Châu so với thuế ở Hà Tây thế nào?
- Thuế phú giống nhau, hơn nữa chuyển đến Linh Châu còn được giảm hai năm tiền thuế.
Đến đây Đỗ Kỳ lại cười hỏi: - Vậy lão nhân quyết định ở lại Linh Châu hay quay về Hà Tây?
Lão nhân cười: - Nếu thật sự như lời Thái thú nói thì ta muốn ở lại Linh Châu.
Đỗ Kỳ ngửa đầu mỉm cười: - Đây là lựa chọn sáng suốt!
Quay đầu lại chỉ thấy đội ngũ ngay ngắn chỉnh tề, trên mặt mỗi người đều hướng tới cuộc sống tương lai. Lúc này, trong lòng Đỗ Kỳ cũng tràn đầy hy vọng với tương lai.
Chương 989: Đàm phán cuối cùng.
Thành Trương Dịch là trung tâm kinh tế, chính trị của Hà Tây, cũng là nơi đặt quân nha của Mã Siêu ở Hà Tây. Có lẽ hoàn cảnh đã thay đổi lòng người. Khi Mã Siêu bắt đầu nhậm chức Đô đốc Hà Tây không có bất cứ ý định phản loạn nào. Khi đó, sự tín nhiệm của Lưu Cảnh khiến y vô cùng cảm kích, cũng quyết tâm trấn thủ biên cương của nước Hán, bảo vệ nguồn gốc chiến mã cho quân Hán ở nơi này.
Thậm chí còn chuẩn bị khi thời cơ chín muồi sẽ tây chinh xây dựng lại phủ Tây Vực Đô Hộ. Hoài bão từng lớn như vậy nhưng cùng với việc ở Hà Tây được hưởng thụ quyền lực và uy phong của Tây Lương Vương. Nghi thức tuần tra đi ra ngoài cũng có thanh thế lớn, thậm chí vượt cả Hán Vương Lưu Cảnh.
Tù trưởng các bộ lạc Khương Đê tôn y là là chủ, dâng lên vô số vàng bạc châu báu và thiếu nữ xinh đẹp, cuộc sống cũng dần trở nên kiêu xa. Mười mấy cơ thiếp xinh đẹp bên cạnh ở trong đại trướng rộng vài mẫu, vàng son lộng lẫy, thường xuyên tổ chức yến hội long trọng và dẫn các tù trưởng ra ngoài đi săn. Tất cả những chuyện này đều đã quá quen thuộc.
Tâm tính của Mã Siêu dần bắt đầu thay đổi. Hoài bão xây dựng lại phủ Tây Vực Đô Hộ cũng ném ra sau. Khi y không còn thỏa mãn với chức Đô đốc Hà Tây nữa, đã nhen nhóm ý định phản bộ Lưu Cảnh, luôn khát khao Lưu Cảnh có thể cam kết rõ ràng rằng con cháu Tây Lương Vương đời đời sẽ làm chủ Hà Tây.
Tuy nhiên Lưu Cảnh chỉ đồng ý phong làm Trương Dịch Hầu và vẫn lặng im trước cuộc sống dâm dục xa hoa của Mã Siêu, còn khéo léo từ chối yêu cầu phong Tây Lương Vương. Từ lúc này Mã Siêu đã xuất hiện dã tâm phục hưng Tây Lương, muốn là chư hầu cát cứ Tây Lương xưng hùng một phương như Tôn Quyền và Lưu Cảnh. Cho dù Lưu Cảnh khéo léo từ chối yêu cầu trở thành Tây Lương Vương, nhưng hắn lại không thể ngăn cản quyết tâm nắm binh tự lập của Mã Siêu.
Đúng lúc này chiến dịch Hợp Phì bùng nổ, Mã Siêu đã lợi dụng cơ hội quân Hán không có thời gian chú ý đến phía tây để bắt đầu mở rộng quân đội trên quy mô lớn, chiêu mộ hai vạn kỵ binh tinh nhuệ từ các bộ lạc Khương Đê làm quân đội trực thuộc, còn sắp xếp mười ba người Khương vào trong quân Hán nắm giữ quân quyền, nhưng hành động này lại vấp phải sự phản đối quyết liệt của huynh đệ Mã Đại.
Mã Siêu tức giận liền tách một vạn quân Hán ra, để Mã Đại chỉ huy sáu ngàn quân đóng giữ quận Đôn Hoàng, bốn ngàn quân còn lại được đặt ở phía nam quận Võ Uy, còn quân đội trực thuộc khống chế khu trung tâm của Hà Tây.
Không chỉ như thế, để không làm kinh động nước Hán, ông ta đã phái người tới nước Quý Sương bái kiến Quốc vương và mua hai vạn bộ binh giáp. Đồng thời còn chiêu mộ năm ngàn quân đội ở nước Quý Sương, thế lực của người Nguyệt thị bởi vậy đã tiến vào chốn cũ Hà Tây.
Hơn nữa để tăng thêm nguồn tiền bạc, Mã Siêu đã lập trạm kiểm soát ở Tửu Tuyền để trưng thu thuế nặng đối với các khách thương qua lại, đồng thời sai người giả trang làm mã tặc cướp bóc quấy rầy thương nhân trên đường, buộc họ phải bỏ ra số tiền lớn mời quân đội hộ tống.
Tất cả những chuyện này đều đang được thực hiện chiêng trống rùm beng. Sau khi quân Hán kết thúc chiến dịch Hợp Phì, Hán Vương Lưu Cảnh trở về Trường An thì Mã Siêu cũng ý thức được thời gian không còn nhiều, bắt đầu làm công việc chuẩn bị cử binh cuối cùng.
Đương nhiên Mã Siêu cũng có chút áy náy với Lưu Cảnh, không muốn xuất binh Lũng Tây hoặc Quan Trung. Thậm chí khi Quan Trung trống không cũng án binh bất động, chỉ nghĩ tới việc cát cứ Hà Tây tự lập.
Mấy ngày trước, Mã siêu đã nhận được tin sát thủ phái đi ám sát kẻ mật báo Lý Văn ở Trường An thất bại, rất có khả năng Lưu Cảnh sẽ biết được kế hoạch cử binh tự lập của mình.
Cùng lúc đó ở quận Võ Uy truyền đến tin tức rất nhiều dân Hán rời khỏi quận Võ Uy, bắt đầu chuyển tới Linh Châu ở phía bắc. Điều này có nghĩa là nước Hán đã chuẩn bị cho chiến tranh sắp xảy ra, Mã Siêu không khỏi lo lắng cho tin tức của thê nhi ở Trường An, không biết có bị Lưu Cảnh bắt làm con tin không.
Thê tử của Mã Siêu là tỷ tỷ của Lưu Hổ, thực ra sống hay chết Mã Siêu cũng không quan tâm lắm, nhưng hai đứa con trai lại vô cùng quan trọng với y. Từ lâu đã muốn đón thê nhi tới Trương Dịch, nhưng thê tử một mực không chịu đồng ý, bởi vì y đã cưới mười mấy cơ thiếp ở Trương Dịch khiến thê tử nổi giận.
Quân Hán đã quy dịnh rõ ràng các Đại tướng dẫn binh ở bên ngoài thì thê nhi phụ mẫu phải ở lại Trường An, bao gồm thê nhi của Triệu Vân, Sính, Hoàng Trung, Cam Ninh v.v.. đều sống ở Trường An. Vì thế Mã Siêu cũng không dám quá mức rõ ràng chuyện này, nên cứ kéo dài cho đến khi nghe nói Lưu Cảnh đã quay về Trường An mới vội vàng sai người đi đón con trai tới, nhưng lúc này đã muộn rồi.
Mã Siêu bồn chồn lo lắng đi qua đi lại trong quân nha, công tác chuẩn bị vẫn chưa đầy đủ, Bàng Đức còn tỏ rõ thái độ, Mã Đại cũng im lặng, không đón được con trai tới, thành Trương Dịch vẫn đang còn tu sửa, quân đội huấn luyện cũng chưa tới, dầu hỏa chưa luyện chế ra, đủ loại công việc còn cần thời gian, nhưng phía Trường An dường như đã bắt đầu động thủ, dân chúng quận Võ Uy chuyển đi chính là tín hiệu rõ nhất.
Đúng lúc này thân binh bẩm báo ở ngoài cửa: - Khởi bẩm Đô hầu, bên ngoài thành có một Sứ giả Trường An phụng lệnh của Hán Vương tới hội đàm với Đô hầu.
Mã Siêu ngẩn ra vội hỏi: - Sứ giả tên là gì?
- Thái thú Kinh Triệu Trương Ký.
- !
Trương Ký vốn là phụ tá quan trọng dưới quyền Chung Diêu, mấy lần thay mặt Chung Diêu đi sứ Tây Lương xúc tiến hòa giải giữa Mã Đằng và Hàn Tọa, còn thúc đẩy quân Tây Lương giúp Tào tấn công Viên Thiệu, có mối quân hệ cực tốt với cha con Mã thị, rất được cha con Mã thị kính trọng. Về sau khi quân Hán công phá Quan Trung, nghe nói Trương Ký bị điều đi Nam Dương, không ngờ cuối cùng lại đầu hàng Lưu Cảnh, còn được phong làm Thái thú Kinh Triệu.
Tuy nhiên Trương Ký đã đến, Mã Siêu thấy mình có thể cùng thành thật nói chuyện với nhau một chút, liền lập tức ra lệnh: - Mau mời Sứ giả vào, phải đối đãi lễ phép.
Không lâu sau Trương Ký được thân binh dẫn vào quân nha. Mã Siêu đã đứng ở cửa chờ sẵn, khom người thi lễ: - Trương công đã lâu không gặp.
Trương Ký đáp lễ cười nói: - Mã Tướng quân vẫn khỏe chứ?
- Nhờ phúc của Trương công, Mã Siêu vẫn khỏe. Trương công mời vào quân nha nói chuyện!
- Mời!
Hai người nhường nhau lần lượt bước vào quân nha, phân chủ khách ngồi xuống trong nghị sự đường. Trương Ký mỉm cười: - Lần này phụng lệnh của Hán Vương Điện hạ tới bàn bạc với Mã Tướng quân, đây là bức thư Điện hạ tự tay viết, mời Tướng quân xem qua trước!
Trương Ký lấy ra bức thư của Lưu Cảnh đưa cho Mã Siêu. Tâm trạng Mã Siêu phức tạp đón lấy phong thư mở ra xem. Nội dung trong thư không nhiều, chưa đến nửa trang. Lưu Cảnh thúc giục lấy đại cục làm trọng, không làm những chuyện trái với lễ chế, trong thư còn hứa hẹn sẽ phong làm Hà Tây Công, con cháu đều được kế thừa tước vị.
Mã Siêu khẽ thở dài trong lòng, những chuyện này đã muộn rồi. Kể cả Mã Siêu đồng ý thì các tù trưởng người Khương Đê kia sẽ không chấp nhận, hơn nữa thứ mà cuối cùng Lưu Cảnh nhượng bộ vẫn không phải thứ y mong muốn.
Mã Siêu trầm ngâm một lát nói với Trương Dịch: - Hán Vương Điện hạ chỉ nói rất qua loa trong thư, hy vọng có thể nhận được lời hứa hẹn rõ ràng, ví như quyền lực ra sao, có quan hệ gì với Trường An, vấn đề sở hữu quân đội và quyền lực thuế phú ở Hà Tây v.v Trong thư Điện hạ chỉ đề cập đến phong làm Hà Tây Công. Theo chế độ của Đại Hán, người phong Công có thể dựng nước, thế có phải ý là có thể dựng nước ở Hà Tây không?
Trương Ký mỉm cười: - Điện hạ hiện giờ chỉ phong Tướng quân làm Hà Tây Công, Điện hạ chỉ hứa sau này sẽ phong Tướng quân làm Công tước.
Mã Siêu lại xem kỹ bức thư, quả nhiên trong thư có nói phong y làm Hà Tây Công, thêm một chữ tướng thì đó là việc của sau này. Mã Siêu lập tức biến sắc, lạnh lùng hỏi: - "Tướng" là khi nào?
- Hiện giờ chúng ta cũng chẳng qua là nước Hán ra ân lệnh, từ lâu đã hủy bỏ quyền lực phân đất phong hầu cho nước thuộc địa của Hán Vương rồi, do đó muốn phong Tướng quân và dựng nước ở Hà Tây, ít nhất phải chờ đến sau khi thiên hạ thống nhất, đợi Hán Vương đăng cơ, sau đó mới có thể phong Tướng quân dựng nước, thực ra cũng không lâu lắm, khoảng chừng ba đến năm năm!
Mã Siêu mặc dù mưu trí không vượt trội nhưng vẫn lập tức đoán được ra đây là Hán Vương đang dùng kế hoãn binh. Một khi đăng cơ thống nhất đất nước, việc đầu tiên sẽ là thu dọn mình, đâu có chuyện còn cho mình cơ hội dựng nước.
Mã Siêu chắp tay đi vài bước, thực ra luôn suy nghĩ một phương án, chuyện cát cứ cứ giả vờ phụng lệnh của Trường An, tức là bề ngoài không độc lập, còn tôn Lưu Cảnh làm chủ, nhưng trên thực tế hưởng quân quyền, tài sản và quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm Thái thú, thật ra cũng giống với Giang Đông.
Như vậy ít nhất về thể diện mọi người đều đẹp, nghĩ thế y liền quay đầu lại: - Chuyện phong Công dựng nước có thể để sau, nhưng trước tiên chúng ta hãy nói chuyện trước mắt nếu Điện hạ có thể đồng ý duy trì hiện trạng, ngoài ra cho phép tiến cử quan lại các quận Hà Tây vẫn đảm nhiệm như trước, Đô đốc Hà Tây không mưu cầu chức vị cao, cũng hứa không đưa quân đội ra khỏi Hà Tây một bước, Trương công nghĩ Hán Vương Điện hạ sẽ chấp nhận chứ?
Trương Ký nổi giận trong lòng, đây chẳng phải là cát cứ trên thực tế sao? Xem ra Mã Siêu quyết tâm muốn có binh tự lập rồi. Trương Ký im lặng không đàm phán với Mã Siêu nữa, mà chuyển chủ đề sang vấn đề thực tế.
Trương Ký chậm rãi: - Ta sẽ bẩm báo đúng sự thực những tâm nguyện của Mã Tướng quân với Điện hạ. Ngoài ra con cái của Mã tướng quân còn nhỏ đang sốt ruột nhớ mong phụ thân, Mã Tướng quân không muốn gặp chúng sao?
Mã Siêu ngẩn ra, bỗng nhiên hiểu ý của Trương Ký liền đáp: - Dĩ nhiên ta muốn gặp hai đứa con trai, không biết Điện hạ đưa ra điều kiện gì?
- Điều kiện rất đơn giản. Thứ nhất là để ngăn các dân tộc Hà Tây thù hận lẫn nhau, tất cả dân nông canh ở Hà Tây đều phải chuyển tới Linh Châu, tướng quân không được ngăn cản; Thứ hai, quan lại các quận ở Hà Tây cũng phải về kinh báo cáo công việc, gia quyến của họ cũng phải cùng đi, tướng quân cũng không được cản trở; Chỉ hai điều kiện này thôi, nếu Tướng quân làm được, Điện hạ sẽ để cha con đoàn viên.
Mã Siêu vốn ngăn cản rất nhiều đối với chuyện dân chúng Hà Tây chuyển tới Linh Châu, mặc dù không muốn quan viên đều đi, nhưng nghĩ đến hai đứa con trai quan trọng hơn thì đám quan viên này cũng chẳng còn lưu tâm nữa. Y lập tức nói: - Có thể đồng ý yêu cầu của Điện hạ, không biết khi nào các con của ta được đưa tới?
- Chỉ cần làm thỏa đáng hai điều kiện, Tướng quân đương nhiên có thể gặp gỡ con trai, Hán Vương đã hứa thì sẽ không nuốt lời!
Mã Siêu cũng không tin lắm vào lời hứa hẹn của Lưu Cảnh, nhưng nghĩ đến có thể lợi dụng khoảng thời gian này để hoàn thành công tác chuẩn bị cuối cùng cũng không tệ, y liền gật đầu: - Vậy chúng ta một lời đã định!
Mấy ngày sau quận Tửu Tuyền và Trương Dịch cũng bắt đầu di chuyển dân Hán. Quan phủ đã thu hồi đất đai của dân Hán và yêu cầu họ trong ba ngày phải khởi hành. Cho dù rất nhiều người Hán không muốn rời bỏ ruộng vườn, nhưng dưới lệnh cưỡng chế của quan phủ thì dân Hán ở các quận của Hà Tây và dân nông canh đều phải dọn dẹp nhà cửa lên đường.
Dân Hán ở Trương Dịch và Tửu Tuyền không nhiều, chủ yếu sinh sống ở vùng thành Trương Dịch và Tửu Tuyền, ước gần một vạn hộ, bao gồm rất nhiều thương nhân tới Hà Tây mưu sinh. Tuy nhiên đi theo dân Hán rút đi lại không thiếu những dân tộc Khương, Đê, Hung Nô, Ô Hoàn, Thổ Dục Hồn v.v sống bằng nông canh cũng nhộn nhịp từ bỏ đất đai rút về phía đông. Tất cả mọi người đều cảm nhận được hơi thở chiến tranh sắp xảy ra.
Còn quan viên cũng mang theo gia quyến rút khỏi Hà Tây. Mã Siêu cầm kiếm đứng ở đầu thành, lạnh lùng nhìn dòng người và dòng xe trùng điệp phía xa, tay xiết chặt đuôi kiếm, sẽ có một ngày ta đánh tới Linh Châu cướp toàn bộ những người này về.
Chương 990: Mã Đại ở Đôn Hoàng.
Trong dòng chảy dài của lịch sử, quận Đôn Hoàng vẫn luôn tồn tại một cách đặc biệt, cuối thời Hán, Hà Tây rơi vào tay giặc, có lẽ là thời đại Tấn Trung ngũ Hồ loạn hoa, quận Đôn Hoàng vẫn luôn trung thành với triều đình trung ương, trở thành một vùng đất lệ thuộc của vương triều Trung Nguyên ở Tây Vực.
Cho dù Thổ Phiên công hãm Hà Tây và Tây Vực, Đôn Hoàng vẫn là nơi đầu tiên khởi nghĩa, quy thuận vương triều Đường, cho đến trước khi Lý Nguyên Hạo của Tây Hạ công chiếm thành Đôn Hoàng, quận Đôn Hoàng vẫn là quận huyện của vương triều Trung Nguyên, đứng vững vàng nơi biên thùy Tây Vực.
Thế lực của Mã Siêu mặc dù đã dần khống chế được Hà Tây, nhưng quận Đôn Hoàng lại không chịu sự kiểm soát của ông ta, Đại tướng Mã Đại dẫn sáu ngàn quân Hán lui về giữ quận Đôn Hoàng, không bị Mã Siêu chỉ huy.
Mã Siêu vẫn luôn hy vọng huynh đệ sẽ giống như lúc trước đánh nhau với Tào Tháo, trở thành phụ tá đắc lực cho mình, nhưng lần này ông ta đã thất vọng, Mã Đại kiên quyết không chịu phản bội Lưu Cảnh, phản bội nước Hán, cuối cùng Mã Siêu bất đắc dĩ, đành điều y tới quận Đôn Hoàng, giữ chức Đô úy của Đôn Hoàng, đồng thời phái rất nhiều thám báo trên đường, cắt đứt liên hệ giữa Mã Đại và Trường An.
Thậm chí thương nhân tới Tây Vực, cũng không cho đi theo đường Đôn Hoàng, mặc dù tin tức bị phong tỏa, nhưng Mã Đại vẫn thông qua cơ hội Chủ bạc Lý Văn về Lũng Tây chịu tang, bảo Lý Văn đưa tin Mã Siêu sắp tạo phản tới Trường An.
Thời gian trôi qua từng ngày, Mã Đại cũng không có tin gì của Trường An, y kiên nhẫn chờ đợi, y biết, ít nhất Mã Siêu sẽ có tin truyền tới.
Trưa nay, một đội thám báo quân Hán chạy về từ phía nam, dẫn theo ba kỵ binh, tới thẳng quân doanh bên ngoài thành Đôn Hoàng, lúc này Mã Đại đang ở trong quân doanh thao luyện binh lính, một tên lính chạy như bay đến, quỳ một gối xuống nói: - Tướng quân, thám báo có chuyện quan trọng bẩm báo.
- Dẫn họ tới đây!
Lát sau mấy thám báo bước nhanh vào, Mã Đại liếc mắt thấy ba tên lính quân Hán phía sau họ, không khỏi ngẩn người, vội ra đón liền hỏi: - Chúng là ai thế?
Thám báo khom người bẩm báo: - Khởi bẩm Tướng quân, chúng từ phía Nam Sơn tới, phụng lệnh của Tướng quân Bàng Đức tới đưa thư.
Nam Sơn chính kỳ Kỳ Liên Sơn, tức là tới từ phía nam Kỳ Liên Sơn, bên đó là cao nguyên Thanh Hải, thật ra dân du mục vẫn thường xuyên từ bên đó tới đây, nhưng với người Trung Nguyên lại rất khó, bên đó địa thế quá cao, hít thở khó khăn, rất dễ bị bệnh, hơn nữa bầy sói trên cao nguyên cực nhiều, chỉ cần bất cẩn một chút là sẽ thiệt mạng chui vào bụng sói, Mã Đại cũng chưa từng nghĩ tới tuyến đường đó, không ngờ Bàng Đức lại phái người vòng tới đây, y không khỏi mừng rỡ, tiến lên hỏi: - Các ngươi đều là bộ hạ của Bàng Tướng quân sao?
Một gã kỵ binh dẫn đầu cười đáp: - Tướng quân không nhận ra bọn tại hạ ư?
Mã Đại nhìn kỹ lại, lập tức nhận ra ba người bọn họ, là bộ thuộc kỵ binh mà y huấn luyện trước đây, Mã Đại cũng mỉm cười:
- Hóa ra là các ngươi, giờ vừa đen vừa gầy, ta thật sự không nhận ra, mau tới đại trướng.
Mã Đại dẫn ba kỵ binh tới đại trướng, y bảo ba người ngồi xuống, còn sai người đưa canh nóng tới, Mã Đại vội hỏi: - Bàng Tướng quân có tin gì cho ta?
Tên lính dẫn đầu lấy ra một phong thư, đưa cho Mã Đại: - Đây là bức thư Bàng Tướng quân bảo bọn tại hạ mang cho Tướng quân.
Mã Đại nhận thư mở ra xem, y lập tức ngây người, đây không phải thư của Bàng Đức cho mình, mà là thư tự tay Hán Vương Điện hạ viết, y cẩn thận đọc một lượt, trong thư Hán Vương khen ngợi y trung nghĩa, còn phong y làm Đôn Hoàng Hầu, yêu cầu y chỉnh đốn trang bị quân đội, trước tiên bảo vệ chắc thành Đôn Hoàng, sau đó chờ thời cơ phối hợp với chủ lực quân Hán tác chiến.
Mã Đại cảm động trong lòng, y hiểu khổ tâm của Hán Vương Điện hạ, không đành lòng để mình trở mặt với huynh đệ Mã Siêu, vì thế bảo mình trước tiên hãy bảo vệ thành Đôn Hoàng, Mã Đại thầm thở dài một tiếng, y quả thực không hiểu tại sao huynh trưởng lại có dã tâm bừng bừng như thế, nhất định phải thực hiện giấc mơ không thực tế kia.
- Bàng Tướng quân giờ ở đâu?
- Hồi bẩm Tướng quân, Ưng Kích quân đã chiếm được Đại Đấu Bạt Cốc, Bàng Tướng quân hiện dẫn kỵ binh đóng quân ở cửa cốc, chờ lệnh của Hán Vương.
Mã Đại gật đầu hỏi tiếp:
- Bàng Tướng quân yêu cầu các ngươi trở về phục mệnh sao?
- Cũng không có yêu cầu này.
- Đã vậy, các ngươi cứ ở lại Đôn Hoàng, cùng ta chờ đợi thời cơ.
Nhiệm vụ lớn nhất trong chuyến đi sứ của Trương Ký là để cho quân Hán tranh thủ thời gian, một là quân Hán phải rút quan viên và dân Hán ở Hà Tây đi, để họ không phải chịu tai ương của chiến tranh, thực ra chính là quân Hán cần thời gian chuẩn bị chiến đấu.
Mặc dù Lưu Cảnh không muốn hao phí gần một năm như chiến dịch Hợp Phì, nước Hán cũng không có sự hỗ trợ tài lực lớn như thế, nhưng công việc chuẩn bị chiến tranh tuyệt đối không được bỏ qua, Lưu Cảnh thân kinh bách chiến, hắn biết mấu chốt thắng thua của một chiến dịch phụ thuộc rất lớn vào việc chuẩn bị chiến đấu có đầy đủ không, kể cả hắn kết thúc chiến đấu trong một ngày thì cũng phải bỏ một tháng để chuẩn bị.
Trọng địa hậu cần của chiến tranh đặt ở quận Kim Thành, tức là Lan Châu hiện giờ, nơi đây sát với Hoàng Hà, vận chuyển thuận tiện, đội thuyền vận chuyển vật tư lương thực xuất phát từ Trường An, qua sông Vị đến Hoàng Hà, cuối cùng chở tới huyện Kim thành.
Quân đội cũng tập kết ở huyện Kim Thành, lần này, quân Hán phải đối phó với kỵ binh Khương Để, còn cả một đội quân Quý Sương thần bí, Lưu Cảnh cũng hạ quyết tâm, phải lợi dụng cuộc chiến này để cải tạo triệt để Hà Tây.
Từng đội thuyền hàng chất đầy lương thực vật tư đã rời khỏi Trường An, trùng trùng điệp điệp chạy tới quận Kim Thành, bắt đầu chuẩn bị chiến đấu khua chuông gõ mõ.
Nhưng Lưu Cảnh lại tới Linh Châu để thị sát tình hình di dân ở Linh Châu, theo sự sắp xếp của Bình Chương Đài, Trường An đã điều ba ngàn Thái học sinh và hàng trăm quan lại tới Linh Châu, giúp đỡ quan phủ ở đây sắp xếp cho dân di cư.
Lưu Cảnh không phải một mình tới Linh Châu, lần này hắn dẫn theo Tôn Thượng Hương cùng tới, từ mấy năm trước, hắn đã đưa Tôn Thượng Hương đi thị sát Hán Trung, nàng thông minh giỏi giang, giúp ích rất nhiều cho chuyến đi thị sát của hắn.
Nhưng lý do quan trọng hơn là hắn muốn dẫn Tôn Thượng Hương đi cho khuây khỏa, mặc dù nàng thề không đề cập tới chuyện của Giang Đông, không cầu xin cho huynh trưởng nữa, nhưng Lưu Cảnh nhìn thấu được tâm tư của nàng quả thực không tốt, đưa nàng đi sẽ giúp nỗi khổ tâm và áp lực đè nén trong lòng nàng được giảm bớt.
Linh Châu vào năm ngoái đã đổi tên là quận Sóc Phương, Kinh lược sứ của Sóc Phương chính là Đào Chính, y đã nhậm chức được hơn một năm, dưới sự cai quản của y, dân số ở Sóc Phương đã từ hơn bảy ngàn người dần tăng lên đến một vạn năm ngàn người, đa phần là dân chạy nạn trốn khỏi Hà Đông, tới Sóc Phương an cư lạc nghiệp.
Còn lần này nước Hán di chuyển số lượng lớn người Hán ở Hà Tây và dân tị nạn Trung Nguyên tới quận Sóc Phương, khiến cho nhân khẩu ở đây tăng mạnh, đồng thời mang đến hoạt động buôn bán nhộn nhịp và rất nhiều hàng hóa vận chuyển đến bến tàu Sóc Phương.
Việc này làm cho Đào Chính vô cùng bận rộn, mấy ngày mấy đêm hiếm khi được về thành nghỉ ngơi, may mà có không ít Thái học sinh và quan viên tới mới không khiến y quá mệt mỏi, cuối cùng cũng được thở, đúng lúc này, y được tin Hán Vương Lưu Cảnh tới, vội vàng đến bái kiến.
Trên một khoảnh đất trống rộng mấy chục khoảnh ở ngoài thành Linh Châu, mấy vạn lều trại được dựng nên, đây đều là nhà ở tạm thời của những người dân di cư, gần như mỗi hộ đều có một lều trại, quan phủ còn phát cho mỗi hộ năm chiếc chăn da dê và một chiếc giường quân thảm.
Dân di cư đa phần đều mang theo đồ dùng trong nhà và đồ dùng hàng ngày đơn giản như chăn đệm, nồi bát, bình gốm, hơn nữa các quan viên cũng cung ứng những thứ như lương thực, muối và các loại thịt, khiến lòng dân ổn định, trong khu sinh hoạt trật tự ngăn nắp.
Khi Lưu Cảnh đến, đã có không ít người di chuyển đến, làm cho khu sinh hoạt rộng lớn đặc biệt náo nhiệt, nhà nhà đều bận rộn, phụ nữ sắp xếp đồ đạc gia đình trong lều trại, đàn ông thì tới khu sự vụ đăng ký, còn từng đám trẻ con chạy trốn chơi đùa trong lều, thi thoảng xuất hiện người bán hàng rong gánh hàng tới rao bán, lập tức những người phụ nữ vây lấy xem.
Tôn Thượng Hương đi theo phu quân lên phía bắc, được ngắm nhìn thỏa thuê phong cảnh tuyệt đẹp nên tâm trạng của nàng cũng dần vui vẻ hơn, sau khi vào lãnh thổ quận Sóc Phương, cuối cùng nàng đã bắt đầu nói cười.
Đây là kết quả mà Lưu Cảnh hy vọng, hắn không muốn nói chuyện Giang Đông với Tôn Thượng Hương, hắn hy vọng nàng có thể tự mỉnh cởi bỏ khúc mắc này, dường như khi mình đưa nàng tới chợ phía tây, nàng đã vui hơn rất nhiều, cho dù còn có chút buồn bực không vui, nhưng chỉ cần ra ngoài đi dạo là tâm tư của nàng đã tốt lên.
Lúc này, Tôn Thượng Hương nhìn qua cửa xe thấy những khu lều trại quy mô to lớn, nàng hơi ngây người, vội kéo tay Lưu Cảnh hỏi: - Phu lang, đây là nơi nào?
Lưu Cảnh nhìn một lát liền mỉm cười: - Đây là ngoài thành Linh châu, nhiều lều trại như vậy là để sắp xếp cho dân di cư của Hà Tây và Trung Nguyên, ta đoán ít nhất có hai mươi vạn người tới, đây hẳn chỉ là một phần.
- Có hai mươi vạn người! Tôn Thượng Hương ngạc nhiên thán phục, lại lẩm bẩm: - Chắc là Giang Đông cũng có rất nhiều người đến.
- Giang Đông cũng có không ít dân tị nạn, tuy nhiên phần lớn tập trung ở Kinh Châu, Quan Trung và Trường An cũng có một số, khoảng một vạn người, lần này không có nhiều người Giang Đông chuyển tới Linh Châu, chủ yếu là vì khí hậu, họ rất khó thích ứng với mùa đông ở đây.
- Đúng thế! Cuối cùng họ đều sẽ trở về, ai muốn rời khỏi quê hương của mình chứ?
Tôn Thượng Hương khẽ nói, tâm trạng nàng dường như lại buồn bã, Lưu Cảnh ôm lấy vai nàng cười nói: - Vui vẻ lên đi, lát nữa nàng còn phải theo ta tới thăm dân bị nạn, cần nàng thể hiện hình tượng của Vương phi.
Tôn Thượng Hương lườm hắn, lầm bầm nói:
- Vương phi của chàng ở Trường An ấy! Thiếp đâu có phải.
Dù nói như vậy nhưng Tôn Thượng Hương vẫn lấy gương đồng ra soi lại dung mạo và búi tóc của mình một chút, lúc này mới cười nói: - Phải nói trước đã, thiếp chỉ chịu uất ức một hôm thôi đấy, lần này thiếp đi cho khuây khỏa, chứ không phải làm thị nữ của chàng.
- Ừ thì một hôm đi!
Xe ngựa chậm rãi dừng trước cửa lớn của doanh trại, Lưu Cảnh xuống xe trước, sau đó nắm tay Tôn Thượng Hương, từ từ dẫn nàng xuống, một đám quan lớn quân chính đã chờ ở đây, gồm các quan viên như Thượng thư Đổng Hòa, Kinh lược sứ Đào Chính, Đô đốc Linh Châu là Liêu Hóa và Đỗ Kỳ rút từ Hà Tây tới.
Bọn họ thấy Hán Vương và Vương phi xuống xe ngựa, cùng tiến lên thi lễ: - Tham kiến Hán Vương Điện hạ, tham kiến Vương phi!
Lưu Cảnh gật đầu cười nói: - Thời gian này vất vả cho mọi người rồi, không biết tình hình gần đây thế nào?
Đổng Hòa là người chỉ đạo cuộc di dân lần này, ông ta hồi đáp: - Tất cả đều rất thuận lợi, mời Điện hạ vào trong trướng nói chuyện.
Lưu Cảnh và Tôn Thượng Hương cùng mọi người bước vào khu sự vụ, ở đây có mấy trăm đại trướng hợp thành, đa phần là kho hàng, có binh lính phòng hộ nghiêm mật, chủ yếu phụ trách các công việc như đăng ký cho dân di cư và giải quyết khó khăn của họ, đồng thời cứu tế lương thực và làm khế đất.
Trước mấy đại trướng, xếp chật kín dân chúng đến đăng ký, chủ yếu là đàn ông trẻ tuổi trai tráng, tiến hành đăng ký hộ tịch là có thể lấy được kế bài đất đai, nhanh chống được tham gia phân chia đất, sự việc liên quan đến lợi ích sát sườn của từng người, đối với tất cả di dân, đây là chuyện quan trọng nhất, mỗi người dân di cư mới tới thì việc đầu tiên chính là tới đăng ký hộ tịch.
Tôn Thượng Hương đi theo Lưu Cảnh bước qua đám đông di dân đăng ký, lúc này, một người đàn ông trẻ dáng người gầy gò vội vã bước ra từ trong đại trướng, Tôn Thượng Hương nhận ra gã, không khỏi sững sờ: - Sao ngươi cũng tới Linh Châu?
Chương 991: Vợ chồng thổ lộ tâm tình.
Người mà Tôn Thượng Hương gặp chính là người đàn ông Giang Đông mở cửa hàng đồ sơn ở chợ phía tây, thực sự khiến nàng cảm thấy kinh ngạc, sao bọn họ cũng tới?
Người đàn ông này cũng nhận ra Tôn Thượng Hương, thấy nàng lại sánh vai đi cùng Hán Vương, gã lập tức sợ choáng váng, đứng đó như thể cứng đờ người, Lưu Cảnh có chút kỳ lạ, cười hỏi Tôn Thượng Hương: - Vương phi quen người này sao?
Tôn Thượng Hương gật đầu: - Gã và thê tử đều là người Giang Đông, mở cửa hàng đồ sơn ở chợ phía tây, hôm đó khi thiếp và phu quân tới chợ phía tây đã quen bọn họ.
Người đàn ông trẻ tuổi bỗng hiểu ra người con gái xinh đẹp cao quý trước mắt này là ai, nhất định chính là Công chúa Tôn Thượng Hương nổi tiếng từ lâu của Giang Đông! Gã tự bạt tai mình thật mạnh, quỳ xuống dập đầu: - Tiểu dân không biết là Vương phi, có nhiều bất kính, Vương phi thứ tội!
- Ngươi không có gì bất kính, hãy đứng lên đi!
Tôn Thượng Hương an ủi gã, lệnh cho gã đứng lên, lại cười hỏi: - Thê tử ngươi đâu?
Người đàn ông trẻ tuổi đứng dậy khoanh tay đáp: - Vợ của tiểu nhân đang bận trong đại trướng, bọn tiểu dân vừa đến ban sáng.
Tôn Thượng Hương gật đầu:
- Các ngươi sao
Người đàn ông biết Vương phi muốn hỏi gì, đành thở dài nói: - Vương phi hôm đó cũng thấy tận mắt, cửa hàng buôn bán thực sự không tốt lắm, bọn tiểu dân cũng không kinh doanh nổi nữa, vừa lúc nghe nói quan phủ muốn di dân tới Linh Châu, mỗi hộ còn được chia hai khoảnh ruộng tốt, tiểu dân liền bàn bạc với vợ, đóng cửa hàng, cùng các đồng hương tới Linh Châu mưu sinh.
- Còn có người Giang Đông khác sao? Tôn Thượng Hương kinh ngạc hỏi.
- Hồi bẩm Vương phi, đến đây không ít, riêng cùng đi với bọn tiểu dân đã có mười mấy hộ gia đình rồi.
Trong lòng Tôn Thượng Hương nóng lên, quay đầu kéo tay Lưu Cảnh, năn nỉ nói: - Phu quân, thiếp đi thăm bọn họ một chút, được không?
Mọi người ở phía sau thấy tính tình thật của Tôn Vương phi bộc lộ ra, không khỏi bật cười, Lưu Cảnh bỗng nhiên hiểu ra, sau hôm tới chợ phía tây đó, tâm trạng của thê tử có chút thay đổi, không còn canh cánh trong lòng chuyện của Giang Đông nữa, hắn còn có chút kỳ lạ, sao lại chuyển biến thế chứ? Giờ xem ra, hẳn là có liên quan đến chuyện nàng gặp được đồng hương ở chợ phía tây.
Lưu Cảnh liền gật đầu mỉm cười: - Nàng đi trước đi!
Hắn còn dặn dò mười mấy gã thị vệ:
- Các ngươi đi theo Vương phi, bảo vệ an toan cho nàng.
- Tuân lệnh! Mười mấy gã thị vệ cùng nhau thi lễ.
Tôn Thượng Hương thấy phu quân đồng ý cho mình đi gặp đồng hương, trong lòng vô cùng vui mừng, liền bảo người đàn ông dẫn đường phía trước, lúc này, Đào Chính cũng vội sắp xếp cho vợ của một quan viên cùng đi với Tôn Vương phi, Liêu Hóa cũng ra lệnh gấp cho bộ tướng đi sắp xếp binh lính duy trì trật tự.
Nhìn thê tử đi xa, lúc này Lưu Cảnh mới cùng mọi người đi vào đại trướng, mọi người lần lượt ngồi xuống, Lưu Cảnh cười hỏi Đỗ Kỳ trước: - Thê nhi của Đỗ công đều đi cả chưa?
Đỗ Kỳ vội vàng chắp tay thi lễ: - Cảm tạ Điện hạ quan tâm, gia quyến của vi thần đều đã đi rồi, giờ đang ở thành Linh Châu.
Còn người Hán ở Hà Tây thì sao? Hiện giờ tình hình di dân thế nào?
- Nhóm đầu tiên đã tới, nhóm thứ hai và thứ ba đã đang trên đường, còn cả dân Hán ở Trương Dịch và Tửu Tuyền cũng sẽ đến không bao lâu nữa, xin Điện hạ yên tâm, cơ bản rất thuận lợi.
Lưu Cảnh gật đầu, nói với mọi người: - Mã Siêu vì muốn gặp lại con trai mình nên tin chắc ông ta sẽ không làm khó người Hán di dân, thực ra ta không lo phía Hà Tây, mà ta quan tâm hơn đến tiến triển di dân bên phía Linh Châu, một là đất đai, hai là nhà ở, không biết khi nào mới bắt đầu thực thi?
Đổng Hòa đứng dậy thi lễ đáp: - Khởi bẩm Điện hạ, đăng ký hộ tịch sẽ kết thúc toàn bộ trong hôm nay, một vạn miếng đất của nhóm đầu tiên về cơ bản đã được chia xong rồi, trên mỗi miếng đất đều có đánh dấu, chuẩn bị hai ngày nữa sẽ bắt đầu phân bố.
Lưu Cảnh cười nói: - Vậy cảnh tượng hai ngày nữa nhất định rất hùng tráng, còn nhà ở thì sắp xếp thế nào?
- Khởi bẩm Điện hạ, ý tưởng ban đầu của bọn thần là xây dựng nhà ở trên đất canh tác, sau này thấy như vậy sẽ bất lợi cho trồng trọt, vì thế vẫn quyết định quy hoạch khu vực nhất định, chuyên dùng để xây dựng nhà ở, hiện tại đá và gỗ đều đã chuẩn bị rồi, chỉ có điều còn chưa động thổ, một khi hoàn thành phân bố đất đai, tiếp đó sẽ tiến hành xây nhà ở.
Lưu Cảnh suy nghĩ một lát nói: - Cụ thể xây dựng nhà ở ra sao ta không hỏi nữa, nhưng ta yêu cầu làm được hai điểm, thứ nhất là hỗn cư, phải làm nhạt bớt phân biệt khu vực, phải cho người Hán và người Hồ sống chung; Thứ hai phải tự giúp mình, xây dựng nhà ở không hoàn toàn là việc của quan phủ, phải tổ chức thanh niên trai tráng cùng tham gia, như thế có lợi cho quan hệ hoàn thuận hàng xóm, để mọi người giúp đỡ lẫn nhau, quân đội có thể giúp đỡ một cách phù hợp.
Mọi người cùng đứng dậy thi lễ: - Tuân lệnh Điện hạ!
Trước một đại trướng ở góc phía tây bắc, mấy trăm binh lính đội mũ mặc giáp canh phòng nghiêm ngặt để mấy ngàn dân chúng bao vây xem phải đứng cách xa, không cho người không phận sự tới gần đại trướng, mọi người bàn tán xôn xao.
Người biết được tin tức trước lại đắc ý nói với người xung quanh, đây là Thứ phi của Hán Vương Công chúa Tôn Thượng Hương tới thăm đồng hương Giang Đông, rất nhiều người đều hiếu kỳ, người từng nhìn thấy Công chúa Thượng Hương thì hình dung nàng như tiên trên trời, nghe nói Công chúa Thượng Hương vô cùng xinh đẹp, mọi người đều muốn tận mắt được thấy dung nhan của nàng.
Trong đại trướng, mấy chục phụ lão Giang Đông tập trung lại, tiếng cười nói không dứt, rất nhiều người đều từng gặp Công chúa Thượng Hương ở Giang Đông, giờ ở nơi đất khách quê người gặp lại chủ cũ, không ít người xúc động chảy nước mắt.
Tôn Thượng Hương ngồi trên đầu, xung quanh nàng là mấy phụ nữ trẻ tuổi, người phụ nữ trẻ ngồi sau nàng càng xúc động hơn, đó chính là người vợ bán đồ sơn ở chợ phía tây, vợ chồng họ họ Giang, lúc này Giang thị vừa xúc động, vừa lo lắng.
Xúc động vì có nằm mơ cô cũng không nghĩ có ngày cô gái xinh đẹp tới cửa hàng mình lại là Công chúa Thượng Hương, còn cô lo lắng vì chồng mình ăn nói lỡ lời, nói xấu không ít về Ngô hầu, phải biết rằng Công chúa Thượng Hương là muội muội của Ngô hầu, nàng sẽ ghi hận với vợ chồng họ chăng?
Tuy nhiên nhìn từ tình hình hiện giờ, lo lắng của cô hoàn toàn là thừa, Công chúa Thượng Hương đặc biệt tới thăm bọn họ, chứng tỏ trong lòng nàng không hề thù hằn.
Tôn Thượng Hương cười nói với mọi người:
- Có thể gặp các vị đồng hương ở nơi đất khách quê người, đúng là duyên phận, ta chỉ hy vọng mọi người có thể mau chóng thích ứng với cuộc sống mới, cuộc sống từng ngày sẽ tốt lên, hơn nữa Hán Vương cũng đồng ý miễn thuế hai năm cho mọi người, dù có thu thuế thì cũng là mức thuế thấp nhất, ta nghe nói là ba mươi thuế một, đây hẳn là thấp hơn nhiều so với thuế phú ở Giang Đông.
Mọi người hô lên mừng rỡ, Giang Đông vẫn là mười thuế một, năm kia bắt đầu tăng lên năm thuế một, năm ngoái thậm chí còn xuất hiện tình hình trưng thu thuế nặng là ba thuế một, Hán Vương lại đưa ra ba mươi thuế một, sao có thể không khiến họ xúc động.
Một ông lão tóc bạc trắng cảm động nói: - Ba mươi thuế một, chỉ có khi Đại Hán khai quốc mới có mức thuế thấp như thế, không ngờ ta cũng được thấy.
Thật ra điều Tôn Thượng Hương lo lắng nhất là mọi người có thích ứng được với giá lạnh khắc nghiệt của mùa đông Linh Châu không, Giang Đông ấm cúng ẩm ướt, khí hậu hoàn toàn khác với nơi đây, như những ông lão này, họ có thể qua được mùa đông không?
- Các vị, mùa đông ở đây rất lạnh, sẽ có tuyết rất lớn, mọi người có thể thích ứng không?
Tất cả mọi người đều trầm mặc, lúc này, Giang thị ngồi sau Tôn Thượng Hương cười hỏi: - Công chúa Thượng Hương đã thích ứng thế nào?
Tôn Thượng Hương cười khổ một tiếng đáp: - Ta không có cách nào khác, cứ từ sáng đến tối ôm lấy chậu than, sống mấy năm cũng dần thích ứng, hơn nữa Trường An ấm hơn ở đây một chút, ý ta là, khi mùa đông tới, mọi người có thể đến phía nam không?
Lúc này, ông lão tóc bạc trắng cười nói: - Công chúa không cần lo lắng cho bọn tiểu dân, ở đâu quen đấy, nếu bọn tiểu dân sợ mùa đông thì sẽ không tới Trường An, càng không đến Linh Châu, cứ an cư ở Kinh Châu chẳng phải tốt hơn sao? Mùa đông ở đây mặc dù lạnh hơn chút, nhưng nghĩ đến có hai trăm mẫu đất là đất vĩnh viễn của mình, nghĩ đến thuế phú thấp như vậy là lòng bọn tiểu dân đều ấm áp hết!
- Nói rất hay!
Ở cửa trướng cất lên tiếng khen, Tôn Thượng Hương quay đầu, chỉ thấy phu quân bước vào đại trướng, nàng không khỏi vừa mừng vừa sợ:
- Phu lang sao lại tới đây?
Mọi người nghe nói là Hán Vương Điện hạ tới, đều sợ quỳ rạp hết xuống, lúc này ngoài trướng vang lên những tiếng hô như sóng biển gào thét: - Hán Vương vạn tuế! Vạn tuế!
Lưu Cảnh kéo tay Tôn Thượng Hương, cười nói với mọi người: - Mọi người đứng lên đi, cùng ra bên ngoài, ta muốn nói vài lời với mọi người!
Hắn kéo Tôn Thượng Hương bước nhanh ra ngoài đại trướng, khu đất trống cách đó không xa bên ngoài đại trướng là biển người, dân chúng di cư nghe nói Hán Vương Điện hạ tới, đều từ bốn phương tám hướng đổ về, ai cũng kích động vạn phần, giơ tay tung hồ: - Điện hạ vạn tuế! Hán Vương vạn tuế!
Có thị vệ dựng một chiếc đài gỗ ở cạnh đại trướng, Lưu Cảnh đưa tay cho Tôn Thượng Hương, ánh mắt đầy khích lệ nàng, Tôn Thượng Hương do dự một lát, chậm rãi nắm lấy tay phu quân, theo hắn đi lên đài gỗ.
Lúc này, mấy vạn dân chúng trên bãi đất trống đã yên tĩnh trở lại, vô số ánh mắt đầy ắp chờ mong chăm chú nhìn Hán Vương Lưu Cảnh.
Lưu Cảnh nhìn chăm chú vào mọi người, giọng điệu từ tốn mà cực kỳ kiên định, lớn tiếng nói: - Rất vui vì các vị đã chọn Linh Châu, chọn mảnh đất phì nhiêu tràn đầy hy vọng này, trên mảnh đất này, chúng ta không phải lo hạn hán, không phải lo lũ lụt, không phải lo ánh nắng không đủ, mảnh đất này sẽ đem lại cho mọi người mùa màng bội thu, sẽ khiến mồ hôi mà mọi người chăm chỉ lao động không lãng phí, chúng ta hy vọng các ngươi mãi mãi sinh sống ở đây, để con cháu các ngươi cũng ở lại mảnh đất này, là quan viên cao nhất trong quan phủ, ta hứa sẽ thu thuế thấp nhất với chư vị, là chủ soái tam quân, ta sẽ thống lĩnh quân đội bảo vệ nhà cửa của các vị, không để cho kẻ thù ngoài xâm phạm!
Giọng nói của hắn vang dội rõ ràng, truyền đến tai từng người, khi hắn nói đến bảo vệ nhà cửa, mấy vạn người đều đồng thời giơ cao cánh tay hoan hô.
Lưu Cảnh cười khoát tay, đám đông yên lặng, Lưu Cảnh lại chậm rãi nói: - Ta luôn có một giấc mơ, ta hy vọng thiên hạ có thể thống nhất, không còn chiến tranh nữa, loạn thế một đi không trở lại, bất kể là Hà Tây hay là Giang Đông, dù là Hà Bắc hay là Giao Châu, tất cả dân chúng đều được an cư lạc nghiệp, người già được vui sống tuổi già, trẻ con được lớn lên vui vẻ, đàn ông không phải lo bị bắt đi phu, phụ nữ không còn sợ bị cướp bóc, đây là giấc mơ của ta, mở ra một thời đại hưng thịnh cho dân chúng trong thiên hạ.
Lúc này, rất nhiều người không kìm được khẽ nấc nghẹn, đây cũng là giấc mơ của họ, mặc dù đơn giản, nhưng lại khó thực hiện làm sao, trong khi đó Hán Vương Điện hạ đã từ từ biến giấc mơ của họ thành hiện thực, một ông lão đứng trên tảng đá, vung tay hô lớn với mọi người: - Vạn tuế! Hoàng đế bệ hạ vạn tuế!
Tất cả mọi người đều làm theo, đồng loạt vung tay hô lớn: - Hoàng đế bệ hạ vạn tuế!
Tiếng gọi ầm ĩ náo động khắp đại doanh, ngay cả các binh lính cũng hô to theo, Tôn Thượng Hương lúc này đã rơi lệ, nàng bỗng hiểu ra lý tưởng của phu quân, hiểu ra kỳ vọng của dân chúng, Giang Đông có thể được thống nhất, không còn phân cắt nữa, đó mới phù hợp với lợi ích của vô số bách tính lương thiện, chứ không được hy sinh hạnh phúc của vô số người để thỏa mãn quyền lực của một gia đình một họ tộc.
Nàng có được vị phu quân đầu đội trời chân đạp đất như vậy, nàng còn có gì không vừa lòng, còn có gì không vui chứ? Tôn Thượng Hương nắm chặt tay phu quân, cùng đứng sóng vai với hắn, giờ phút này, nàng thấy trái tim mình và phu quân cùng chung suy nghĩ.
Chương 992: Tối hậu thư.
Hai ngày sau, giây phút tất cả mọi người chờ đợi đã đến gần, đất đai của nhóm đầu tiên sắp được phân chia, các quan viên thảo luận một ngày, cuối cùng từ bỏ phương thức bốc thăm, bởi vì bốc thăm cũng sẽ bị mọi người nghi ngờ có chuyện đen tối, mọi người quyết định phân chia theo một phương thức nguyên thủy và công bằng nhất.
Trời còn chưa sáng, tất cả mọi người đều đã dậy, ngay khi mỗi hộ đăng ký đã nhận được đinh gỗ màu đen có khắc số hiệu, dài khoảng một thước, một đầu đã vót nhọn, ai cũng biết đinh gỗ này dùng để làm gì, đây chính là bằng chứng phân chia đất đai của họ.
Rất nhiều người đàn ông bắt đầu buộc chặt xà cạp, có người ăn no uống đủ, để điều chỉnh cơ thể mình ở trạng thái tốt nhất, lúc này, binh lính bắt đầu cho mọi người lên xe ngựa, hôm nay sẽ phân bốn vạn khoảnh đất, khoảng hai vạn hộ sẽ nhận được ruộng vĩnh viễn của mình.
Bốn vạn khoảnh đất có diện dích rộng lớn, kéo dài hàng trăm dặm, sẽ hình thành vô số hương lý, dân di cư khi đăng ký đã được chia luôn xã mới của mình, hơn hai vạn chủ hộ sẽ được đưa đến tám địa điểm để chia đất.
Lưu Cảnh dẫn Tôn Thượng Hương đứng ở trên một gò đất thấp, hăng hái nhìn cảnh phân chia đất đai, họ đứng ở điểm phân đất thứ tư, bên này có ba ngàn miếng đất, bờ ruộng dọc ngang, những rừng cây xanh um tươi tốt phân bố trên bình nguyên, mấy con mương tưới tiêu dẫn nước từ Hoàng Hà về được bố trí thẳng tắp, vẫn chảy về phía xa, những con mương này được xây dựng hai trăm năm trước, sau này đã bị bỏ hoang mấy chục năm, năm ngoái Đào gia đã bỏ ra vô số tiền bạc để khơi thông lại.
Dưới sườn đồi, ba ngàn người đàn ông đã chuẩn bị sẵn sàng, trong tay mỗi người đều cầm đinh gỗ đen, nóng lòng muốn xuất phát, Giang Nguyên người Ô Trình bán đồ sơn ở chợ phía tây cũng nằm trong đám người này, đồng hương của gã đa phần đã tản mạn đi, chỉ có thúc phụ gã ở cạnh gã.
- Nhớ kỹ, phải giành được đất đai ở ven sông, nếu thực sự không chiếm được, thì giành đất ở cạnh rừng cây. Thục phụ thì thầm dặn dò Giang Nguyên.
Giang Nguyên chăm chú ánh mắt vào dòng sông ở nơi xa, gật đầu thật mạnh, hắn đã nhớ kỹ rồi.
Đúng lúc này, tiếng trống cuối cùng đã vang lên tùng! Tùng! Tùng Tiếng trống chính là tín hiệu bắt đầu, ba ngàn người tranh nhau chạy ào ra, liều mạng chạy về đằng xa, trên mỗi miếng đất đều có ký hiệu màu đỏ, lấy đinh gỗ đen cắm vào ký hiệu, có nghĩa là đất đai đã chính thức có chủ nhân.
Lướt qua một đoạn bờ ruộng, bọn họ bước vào khu đất canh tác, có người phát hiện ký hiệu màu đỏ, vội vã cắm đinh gỗ đen xuống, nhưng nhiều người khác chạy ra phía xa hơn, dường như tất cả mọi người đều biết, đất ở sát sông và rừng là tốt nhất, một số người giành được đất ở ven sông, vui sướng hét toáng lên.
Giang Nguyên có vóc dáng khá gầy yếu, chạy không được nhanh nên rớt lại phía sau, lúc này, Tôn Thượng Hương ở trên đồi nhìn thấy gã, không khỏi lo lắng nhìn sang Lưu Cảnh, Lưu Cảnh nắm lấy tay nàng, cười nói: - Ông trời tự có sắp xếp, không cần chúng ta lo làm gì.
Giang Nguyên thở hồng hộc chạy tới bờ sông, đất đai bên bờ sông đã bị người đến trước chiếm từ lâu, mỗi người đều canh trước đinh gỗ của mình không chịu rời đi, rất nhiều người luẩn quẩn đường xa đi qua cầu cách đó một dặm, Giang Nguyên lại lao thẳng xuống sông, bơi qua dòng sông nhỏ.
Đất ở bên kia bờ sông cũng đã bị mọi người vượt lên trước chiếm giữ, gã đành tiếp tục chạy thục mạng về phía trước, nhưng chạy chưa được hai dặm đã bị trượt chân trên đất bùn, ngã mạnh xuống đất.
Lúc này gã chợt nhận ra, trước mắt là vòng tròn đánh dấu màu đỏ, không có ai chiếm lĩnh, gã liều lĩnh cắm đinh gỗ đen vào trong vòng tròn, trong lòng thở phào một cái, xoay người nằm lên mảnh đất của mình, trời trong xanh làm sao, mây trắng biết bao, ánh mặt trời sáng chói làm sao.
Không biết bao lâu, gã chậm rãi đứng lên, nhìn khắp xung quanh, ban nãy gã cúi đầu chạy nhanh, căn bản không biết tình hình bốn phía, lúc này mới nhận ra đất của mình lớn thế nào, hai trăm mẫu ruộng tốt, rất xa rất xa mới nhìn thấy một người đàn ông đang ngồi bệt dưới đất, đó sẽ là hàng xóm của gã.
Còn sát với phía tây miếng đất của mình là một rừng cây dương um tùm, cây dương thẳng tắp to lớn ngẩng đầu đứng sừng sững như vệ sĩ, một cơn gió thổi tới khiến rừng cây xào xạc, cách đó không xa là một con mương rộng hơn một trượng, trên mặt sông phủ kín thủy tảo, nối thẳng ra dòng sông.
Giờ khắc này, nước mắt của Giang Nguyên bỗng nhiên ào ra, đây là miếng đất đẹp biết bao, miếng đất này mãi mãi thuộc về gã, con cháu đời đời của gã đều sẽ sống trên mảnh đất này.
Phân chia đất đai kết thúc, người cuối cùng cũng đã nhận được đất của mình, phía xa bắt đầu có quan viên tiến hành đăng ký, xác định sở hữu của từng miếng đất, một quan viên tới trước mặt Giang Nguyên cười tủm tỉm nói: - Số may nhé, miếng đất này sát với rừng cây.
Giang Nguyên lấy quyển sổ hộ tịch từ trong ngực ra, lại rút tiếp đinh gỗ màu đen ra, cùng giao cho quan viên, quan viên đăng ký đất cho gã, sau đó chỉ vào rừng cây nói: - Rừng cây của đồng ruộng rất quý, sẽ bảo vệ đất canh tác của ngươi, Hán Vương có lệnh, không cho phép bất kỳ ai chặt phá rừng cây trong đồng ruộng, nấu cơm, xây nhà sẽ có củi gỗ khác, người nào vi phạm sẽ phạt nặng, nhớ chưa?
Giang Nguyên im lặng gật đầu: - Tại hạ nhớ kỹ rồi!
Quan viên đem sổ hộ tịch và đinh gỗ màu đen trả lại cho gã: - Giờ ngươi có thể đi về, nơi này đã thuộc về ngươi, tháng sau sẽ có khế ước.
Giang Nguyên cắm đinh gỗ xuống đất, rồi mới đứng dậy lục đục cùng những người khác đi về phía đường chính, ngày mai gã sẽ đưa vợ mình đến xem, nơi này sẽ là nhà mới của họ.
Trên sườn núi, Tôn Thượng Hương khẽ thở dài một tiếng: - Cảm giác này thật tuyệt, thiếp cũng muốn giành một miếng đất cho riêng mình.
Lưu Cảnh cầm tay nàng cười nói: - Đợi loạn Hà Tây bình ổn xong, Bình Chương Đài sẽ bắt đầu phong thưởng tướng sĩ có công, ta cũng sẽ có trang viên của mình, chắc là nằm ở Ung Huyện, trong trang viên còn có một dãy núi với phong cảnh tuyệt đẹp, đến khi đó cả nhà chúng ta sẽ tới trang viên nghỉ hè.
Tôn Thượng Hương khẽ gật đầu, lại thì thầm nói: - Tương lai thiếp cũng muốn mua một trang viên ở Giang Đông, đợi cha thiếp không đi được đâu nữa thì sẽ tới đó sống lúc tuổi già.
Lưu Cảnh mỉm cười: - Nếu Lũng nhi chịu đồng ý, ta cũng không có ý kiến.
Nhắc tới Lũng nhi, Tôn Thượng Hương bỗng nhớ con trai mình, nàng vội hỏi: - Phu quân, khi nào chúng ta về Trường An?
Lưu Cảnh hiểu được tâm trạng của nàng, trầm tư chốc lát mới nói: - Ta vốn định đi Kim Thành thị sát tình hình chuẩn bị chiến tranh nữa, tuy nhiên có thể đi vòng qua Trường An, ngày mai ta sẽ đưa nàng về Trường An trước, nghỉ ngơi hai ngày sau ta lại đi tới quận Kim Thành.
Tôn Thượng Hương cười nói: - Thiếp đang nghĩ, tên tiểu tử kia mấy ngày không có ai quản thúc, có rong chơi hay không, cũng quên luôn cả mẹ nó rồi chắc?
- Ừ! Có lẽ thế, có điều nếu nàng sinh thêm muội muội cho nó thì nó sẽ có trách nhiệm hơn, phải học cách chăm sóc muội muội của mình.
Tôn Thượng Hương nằm mơ cũng muốn có một đứa con gái, lúc này nàng mềm lòng, nắm chặt tay của phu quân, thì thầm: - Thiếp rất muốn một đứa con gái, lần này chàng phải cố gắng nhé.
Lưu Cảnh cười gật đầu: - Đi thôi! Chúng ta cũng quay về thôi.
Hai người dắt tay nhau đi xuống sườn đồi.
Thời gian lại dần trôi qua một tháng, dân Hán ở Hà Tây và các dân tộc nông canh còn lại đều lũ lượt chuyển đến Linh Châu, về cơ bản các quan viên cũng rút đi toàn bộ, trong khi đó Mã Siêu không dừng bước tiến tự lập, trái lại đẩy nhanh luyện binh và chế tạo vũ khí, ông ta đi ngày càng xa trên con đường nắm binh tự lập.
Công tác chuẩn bị chiến tranh của quân Hán cũng được gia tăng tốc độ, năm vạn đại quân tập kết ở huyện Kim Thành, mười vạn chiến mã và mười lăm vạn thạch lương thực cùng vô số vật tư quân dụng cũng lần lượt được chuyển huyện Kim Thành, lần bình định loạn Hà Tây này sẽ do Triệu Vân toàn quyền chịu trách nhiệm.
Sáng nay, Lưu Cảnh cùng với Triệu Vân đi thị sát tình hình chuẩn bị chiến tranh trong đại doanh quân Hán, trên giáo trường trong đại doanh, từng đội binh lính quân Hán đang diễn luyện phương trận trường mâu, đây là chiến thuật có hiệu quả của bộ binh để đối phó với kỵ binh, lợi dụng sức mạnh tập thể của phương trận trường mâu để nghênh chiến kỵ binh.
Phương trận lấy chín ngàn người làm một đại trận, chín trăm người là một tiểu trận, mười tiểu trận hợp thành một đại trận, binh lính quân Hán có thể tiến hành tấn công từ bốn phương tám hướng.
Ngoài phương trận trường mâu, còn có binh lính mang nỏ và lá chắn cùng Vô đương phi quân, Vô đương phi quân do năm ngàn lính Man tạo thành, trên thực tế chính là cung kỵ binh, tài bắn tên tinh xảo của lính Man phối hợp với kỹ thuật cưỡi ngựa là có thể công đánh kỵ binh ở bên ngoài.
Đương nhiên, đòn sát thủ của quân Hán đối phó với kỵ binh: sáu ngàn bộ binh trọng giáp cũng sẽ tham chiến, do Chủ tướng Lưu Hổ và Phó tướng Lôi Đồng chỉ huy, Lưu Cảnh đi đến trước góc khác của sàn đấu võ rồi dừng lại, cách đó không xa, Lưu Hổ đang lãnh đạo ba ngàn bộ binh trọng giáp thao luyện trận hình.
Lúc này, Lưu Hổ từ xa đã thấy Lưu Cảnh, liền chạy vội tới, khom người thi lễ: - Tham kiến Điện hạ!
- Hổ Tướng quân giống như đang nén một bụng lửa ấy! Lưu Cảnh mỉm cười nói.
Tỷ tỷ của Lưu Hổ đã lấy Mã Siêu, cuối cùng y lại muốn làm phản tự lập, điều này sao không khiến Lưu Hổ căm tức chứ, gã nghiến răng nghiến lợi nói: - Thần muốn đích thân chém chết thằng khốn nạn đó!
Lưu Cảnh vỗ nhẹ vai gã nói: - Y và ngươi đã không còn quan hệ nữa rồi.
Lưu Hổ ngẩn người, lập tức tỉnh ngộ: - Điện hạ đang nói tỷ tỷ của ta
Lưu Cảnh gật đầu: - Đại tỷ đã đoạn tuyệt quan hệ phu thê với y, họ đã không còn là vợ chồng nữa.
Trong lòng Lưu Hổ đã thoải mái hơn, nhưng cứ nghĩ đến dã tâm của Mã Siêu, gã vẫn oán hận nói: - Thần vẫn còn muốn tự tay làm thịt y.
- Cố gắng huấn luyện binh sĩ đi! Ngày này sắp đến rồi.
Lưu Cảnh quay đầu hỏi Triệu Vân: - Trương Ký đã đi chưa?
- Hồi bẩm Điện hạ, y đã đi rồi, giờ chắc đã tới Trương Dịch.
Ánh mắt của Lưu Cảnh hướng về phía tây bắc, Trương Ký đã hộ tống hai đứa con trai của Mã Siêu tới Hà Tây, đồng thời cũng mang đến tối hậu thư cho Mã Siêu, hắn hy vọng y có thể dừng cương trước bờ vực, đừng có sai đến cùng.
Chương 993: Làm ơn không tốn sức.
Mặc dù Lưu Cảnh hy vọng Mã Siêu có thể dừng cương trước bờ vực, nhưng phát triển của sự việc vẫn khiến hắn thất vọng, hạ tuần tháng tư năm Kiến An thứ hai mươi hai, Mã Siêu cáo hịch thiên hạ rằng Hà Tây chính thức tách khỏi nước Hán, quy thuận triều đình, y tự phong là Tây Lương Vương và phái người ngày đêm đi gấp tới Nghiệp Đô, tấu lên triều đình, hy vọng triều đình có thể thừa nhận cho vương quốc của y tự lập.
Ở Nghiệp Đô, tin tức Mã Siêu tự lập đã làm kinh hãi triều đình và dân chúng, trở thành tin tức được bàn luận điên cuồng ở Nghiệp Đô, khắp phố lớn ngõ nhỏ, dường như tất cả mọi người đều đang bàn tán chuyện này, mức độ bàn luận sôi nổi hoàn toàn vượt ra khỏi tầm quan trọng của bản thân tin tức.
Điều này cũng có thể hiểu được, sau khi Hợp Phì chiến bại, toàn bộ Nghiệp Đô đều chìm trong nỗi đau khổ thất bại, họ bị khí thế hung hăng của quân Hán kiềm nén khiến mất cả cười vui, hàng ngày đều sống trong u ám, vậy mà bỗng nhiên truyền đến tin Hà Tây tách khỏi nước Hán, sao không khiến người dân Nghiệp Đô vui mừng phát điên, sao không khiến họ cảm thấy hãnh diện.
Tạm thời, nỗi u ám bao trùm khắp Nghiệp Đô do Hợp Phì chiến bại cũng bị tin tức này quét sạch, dường như bầu trời cũng trở nên trong xanh hơn, đối với rất nhiều người, đây là tin vui nhất mùa xuân năm nay.
Thậm chí ngay cả tinh thần của Tào Tháo cũng tốt lên nhiều, đặc biệt tổ chức yến tiệc ở Đồng Tước Đài, chiêu đãi văn võ bá quan.
Trong đại đường yến tiệc của Đồng Tước Đài, mấy trăm quan viên tụ tập với nhau, trên danh nghĩa là chào đón lễ tế thần xua đuổi bệnh tật ngày mùng năm tháng năm, nhưng thực tế ai cũng hiểu, đây là đang chúc mừng nước Hán bị chia tách.
Đây cũng là lần công khai lộ diện đầu tiên của Tào Tháo sau khi trở về từ Hợp Phì vào năm ngoái, dường như trong thời gian một năm, lão lấy lý do dưỡng bệnh ẩn sâu trong cung, đóng cửa không ra ngoài, tất cả việc vặt vãnh chính sự đều do Thế tử Tào Phi quyết định, kể cả Tào Phi không ở Nghiệp Đô thì cũng do Trưởng sử Từ Dịch của phủ Thừa tướng thay mặt xử lý.
Trong khi đó Tào Tháo lại lộ diện ngày hôm nay, khiến rất nhiều người đều kinh ngạc, mới hơn một năm ngắn ngủi mà Tào Tháo uy phong cường tráng trước đây đã không còn thấy, trở thành một lão già ốm yếu bệnh tật, dáng người nhỏ gầy hơi còng lưng, có thể thấy, lão đã đến tuổi gần đất xa trời, nhiều nhất cũng chỉ sống được một hai năm nữa.
Rất nhiều quan viên khiếp sợ bất an, vô cùng lo lắng cho tiền đồ của nước Ngụy, mặc dù hiện giờ nước Hán bị chia cắt, nhưng sự chia cắt ấy kéo dài được bao lâu? Gây ra tổn thất thế nào cho nước Hán?
Trong hành lang, chỉ nghe thấy giọng không lớn của Tào Tháo đang chậm rãi nói:
- Hôm nay là ngày mùng năm tháng năm, theo tập tục xưa là thờ cúng thần sông, ta đã lệnh cho các quan địa phương ở các quận huyện tế sông, còn ta sức khỏe không tốt, không thể đi xa ra bờ sông, chỉ có thể tổ chức yến tiệc ở đây, cùng vui với chư quân và thần sông.
Mọi người lặng ngắt như tờ, dỏng tai lắng nghe, chỉ sợ bỏ sót những lời nói quan trọng của Tào Tháo:
- Mới ngày hôm qua, Hà Tây đã truyền đến tin vui, kình địch của chúng ta rốt cuộc xuất hiện nội chiến, Mã Siêu nắm binh tự lập, y tấu lên triều đình, yêu cầu triều định thừa nhận cho y tự lập, nói thực, ta rất muốn đề nghị Thiên tử sắc phong y làm Hà Tây Vương, nhưng ta không làm như thế, bởi ta không mong muốn nhìn thấy Lũng Hữu Hà Tây lại chịu lầm than, dân chúng trôi giạt khắp nơi, vì thế ta hy vọng Hán Vương có thể đàm phán với Mã Siêu, tìm một phương án hai bên đều chấp nhận được, bãi binh tắt thương, để nhân dân mãi mãi được hưởng hòa bình.
Lời nói mặc dù nghe rất cảm động, nhưng trong lòng rất nhiều người đều hiểu, đây là vì Ngụy công không coi trọng chuyện Mã Siêu tự lập, không muốn đắc tội với Lưu Cảnh, cho nên mới không chịu đồng ý phong Mã Siêu làm Tây Lương Vương, trên thực tế là duy trì thái độ trung lập trong chuyện này.
Lúc này, Tào Tháo lại cười nói:
- Khó có được yến tiệc như thế này, mọi người đều chờ sốt ruột rồi, ta sẽ không nói nhiều lời nữa, mọi người thỏa thích hưởng dụng đi!
Các quan viên lần lượt ngồi xuống, tiệc rượu bắt đầu, thị nữ bưng rượu đưa đồ ăn tấp nập như mắc cửi, tiếng bàn luận xôn xao trong đại đường.
Tào Tháo không được uống rượu, cũng không được nghe quá nhiều tiếng ồn ào, lão chỉ ngồi qua loa chốc lát liền rời tiệc ra về, thực ra lần lộ diện này của lão không chỉ là để ăn mừng nước Hán bị chia cắt, mà chủ yếu là vì thời gian trước ở triều đình và dân chúng Nghiệp Đô đều nghe đồn lão đã hấp hối sắp chết, để phá tan lời đồn, cách tốt nhất chính là lộ diện công khai.
Trở về hậu đường, con gái Tào Hiến vội đỡ cha ngồi xuống, Tào Tháo nói:
- Hôm nay tâm trạng vui, tinh thần cũng cảm thấy tốt lên nhiều rồi.
- Tinh thần phụ thân vui vẻ, con gái cũng thấy vui trong lòng.
Tào Hiến mỉm cười, lại nhớ ra một chuyện liền nói với phụ thân:
- Phụ thân, có một chuyện con muốn bẩm báo với phụ thân.
- Chuyện gì?
- Hán Vương phi đã sai người tặng một bộ váy áo cho con.
Tào Tháo ngẩn ra:
- Có chuyện này sao?
- Mới trong sáng nay, người đưa áo nói, đây là chút tâm ý của Hán Vương phi cho con, con cũng cảm thấy có chút kỳ lạ.
Tào Tháo suy nghĩ một lát, vội truy hỏi:
- Là váy dài như thế nào?
- Chỉ là một chiếc váy dài bằng sợi gai bình thường.
Tào Tháo bỗng nhiên hiểu ra, liền bật cười ha hả, mặt Tào Hiến bỗng đỏ lên, khẽ oán trách nói:
- Phụ thân xin đừng cười nhạo con gái như vậy chứ.
- Được! Được! Ta không cười, ta không cười nhạo con.
Tào Tháo cố nhịn cười, vội vàng lệnh cho thị vệ đứng ở cửa:
- Đi mời Trình Quân sư tới đây!
Thị vệ bước nhanh đi, lúc này Tào Tháo nói với con gái:
- Hiến nhi, chiếc váy này đầy thâm ý sâu sa! Cha phải chúc mừng con rồi.
- Con không hiểu, Hán Vương phi tại sao muốn tặng một chiếc váy dài bằng sợi gai cho con?
- Điều này chứng tỏ Hán Vương phi đã chấp nhận con rồi, lần trước Hán Vương cưới Công chúa Thượng Hương, Hán Vương phi đã sai người tặng một chiếc váy dài bằng sợi gai cho nàng, đó là chiếc váy Hán Vương phi tự tay may lấy, lần này cũng giống thế, có nghĩa là, Hán Vương phi đồng ý nhận con làm tỷ muội, hy vọng con có thể sống giản dị, chuyện hôn sự này sắp bắt đầu rồi.
Tào Hiến giờ mới hiểu được thâm ý của Hán Vương phi, hóa ra đây là lễ nghi của nàng ấy, vậy mình cũng nên tặng gì đó đáp lễ chứ?
Lúc này, Trình Dục vội vã từ tiền đường đi tới, khom người thi lễ nói:
- Tham kiến Ngụy công!
Tào Tháo gật đầu:
- Trọng Đức mời ngồi!
Lão nói với con gái:
- Vi phụ muốn bàn một số chuyện đại sự quân sự với Trình Thế Bá, con lui xuống trước đi!
- Vâng! Con gái xin cáo lui.
Tào Hiến quỳ gối thi lễ, sau đó thi lễ với Trình Dục, rồi mới vội vàng rời đi, nhìn mãi theo bóng con gái đi khuất, Tào Tháo mới cười nói với Trình Dục:
- Thật bất ngờ! Lưu Cảnh lại dùng cách này để bày tỏ thiện ý với ta.
- Ngụy công, đã xảy ra chuyện gì?
Trình Dục không hiểu bèn hỏi.
- Hôm nay Hán Vương phi đã phái người đưa tới một chiếc váy dài bằng sợi gai cho Hiến nhi, Trọng Đức nói đây là ý gì?
Trình Dục suy nghĩ một chút, cười đáp:
- Vậy là đám hỏi gián đoạn năm ngoái sắp tiếp tục bắt đầu rồi.
Tào Tháo gật đầu:
- Đây hẳn là ý của Lưu Cảnh, hắn thực ra đang khéo léo nhắc nhở ta, đừng tham gia vào loạn Hà Tây.
- Quả là như thế, dùng đám hỏi để bày tỏ thiện ý với Ngụy công, chứng tỏ Lưu Cảnh sắp động thủ với Hà Tây, Ngụy công nghĩ thế nào?
- Ta vốn là định trung lập, tốt nhất là khuyên nhủ hai nhà hòa giải bãi binh, như thế có thể giữ lại Mã Siêu trở thành gai nhọn sau lưng Lưu Cảnh, tuy nhiên ta đoán Lưu Cảnh không hề hàm hồ trong chuyện này, tuyệt đối không dễ dàng để sau lưng mình có ẩn họa, nhất định sẽ xuất binh bình định loạn Hà Tây, ta chỉ hận, năm ngoái khi chiến sự Hợp Phì đang lúc say sưa, Quan Trung không có bao nhiêu quân Hán, khi đó sao Mã Siêu không tự lập?
- Có lẽ Mã Siêu thẹn với Lưu Cảnh, không muốn thừa lúc quân Hán nguy cấp để xuất binh Quan Trung.
- Hừ! Đây đúng là lòng dạ đàn bà của y, định trước y không làm được đại sự, nên ta mới không coi trọng y, y muốn ta thừa nhận là Tây Lương Vương, nằm mơ đi!
Tào Tháo vô cùng căm tức, nếu năm ngoái vào lúc đại chiến Hợp Phì kịch liệt nhất mà Mã Siêu có thể xuất binh Quan Trung, như thế toàn bộ chiến cục, thậm chí toàn bộ cục diện thiên hạ đều sẽ thay đổi, khi đó chớ nói là Tây Lương Vương, kể cả phong là Quan Trung Vương thì mình cũng sẽ đồng ý, đáng tiếc Mã Siêu không chịu phối hợp với mình, khiến cho quân Tào kiệt sức nên thất bại, giờ mới muốn tự lập, mình sẽ thừa nhận một chính quyền của người Khương sao?
Trình Dục trầm tư chốc lát nói:
- Hiện giờ lương thực vụ chiêm chưa thu hoạch, là lúc lương thực chúng ta thiếu hụt vô cùng, lúc này chúng ta xuất binh giúp Mã Siêu rõ ràng cũng không thực tế, vừa không thể giúp y, hơn nữa Mã Siêu rõ ràng chắc chắn thất bại, vậy sao chúng ta không ban ơn cho Lưu Cảnh chứ?
- Quân sư muốn chỉ ơn gì?
- Mã Siêu xua đuổi quân Hán, dựa vào Khương Để, đây trên thực tế không chỉ là chia cắt nước Hán, còn là chia cắt triều đình, Thiên tử hẳn sẽ hạ chỉ khiển trách Mã Siêu bán đứng đất Hán, ý đồ biến Hà Tây trở thành lãnh vực của Nhung Địch, Thiên tử lại phong Lưu Cảnh làm Đại tướng quân tây chinh, như thế, Lưu Cảnh sẽ chiếm giữ được ưu thế chính trị, dùng vương sư thu phục Hà Tây, làm ơn mà không tốn sức như thế, sao Ngụy công không nắm lấy?
Tào Tháo mỉm cười:
- Nhưng ban ơn cho hắn, ta được lợi gì?
- Ngụy công chẳng phải ban bố lệnh xuất đinh sao? Tin chắc Lưu Cảnh nhận được ơn huệ này, hắn sẽ không phản đối Ngụy công trong lệnh xuất đinh nữa.
Một câu này đã nhắc nhở Tào Tháo, lệnh xuất đinh chính là nghiêm lệnh các thế gia hào môn thả những người ẩn náu ra, do vô số nông dân tự canh tác chạy tới nước Hán, khiến cho dân số Trung Nguyên và Hà Bắc giảm mạnh, đã tới bước nguy cấp nghiêm trọng đến tài chính thuế phú của triều đình.
Nhưng Tào Tháo lại biết rõ, rất nhiều người trong buổi chiến loạn đã được các thế gia hào môn giấu kín, nếu những người ẩn nấp này được thả ra, triều đình sẽ tăng lên ít nhất mấy trăm vạn hộ tự canh tác, nó có ảnh hưởng rất trọng yếu đến chuyện cải thiện thuế phú của triều đình.
Đây đương nhiên là chuyện đắc tội với người, sẽ xúc phạm đến lợi ích thiết thân của thế gia hào môn, vì thế Tào Tháo nhiều năm qua vẫn không dám dễ dàng thực thi, chỉ là hiện giờ đã đến bước triều đình không thể duy trì được vận chuyển nữa, lão cũng đành phải đi nước cờ hiểm này.
Mấu chốt là chỉ cần Lưu Cảnh không công khai phản đối lệnh xuất đinh của lão, lão có lòng tin làm cho cuộc cải cách này đạt được thành công.
Tào Tháo gật đầu:
- Trọng Đức nói đúng, ta tin hắn cũng là người có tầm nhìn xa, sẽ không phản đối lệnh xuất đinh của ta, mai ta sẽ đi gặp Thiên tử.
Đầu tháng năm năm Kiến An thứ hai mươi hai, Thiên tử hạ chỉ ở Nghiệp Đô, mạnh mẽ lên án Mã Siêu chia cắt lãnh thổ Đại Hán cho Nhung Địch, đồng thời sắc phong Lưu Cảnh làm Đại tướng quân tây chinh, giao trách nhiệm cho Lưu Cảnh thu phục Hà Tây.
Chương 994: Gió nổi lên ở Võ Uy.
Ở huyện Thương Tùng của Quận Võ Uy cách huyện Cô Tang cùng quận khoảng sáu mươi dặm, cũng là nơi tập trung truyền thống của dân Hán, bên ngoài huyện thành phân bố rất nhiều đất canh tác, giao thông nơi đây tiện lợi, thương nghiệp phát đạt, hơn một ngàn thương nhân tập trung trong thành, đã tạo nên ba khu chợ với quy mô lớn, các thương nhân nhỏ xa tít ở Tửu Tuyền cũng tới đây mua hàng hóa.
Nhưng qua gần hai tháng rút dân, huyện Thương Tùng về cơ bản đã là một tòa thành trống, thương nhân đa phần quay về Lũng Tây, cư dân thường trú cũng đã dời đi Linh Châu, không ít thương nhân cũng mang theo hàng hóa tới Linh Châu làm ăn, huyện thành vốn náo nhiệt đã trở nên vắng ngắt, cư dân ở lại hoặc là người già không chịu rời đi, hoặc là người Khương du mục không trong phạm vi di chuyển.
Phía nam thị trấn là một ruộng lúa mạch mênh mông không nhìn thấy bờ, ở phần giữa ruộng có con sông Thương Nam nổi tiếng, hai bên bờ sông là rất nhiều nhà ở, nơi đây cũng là khu tập trung dân Hán lớn nhất toàn quận võ Uy, ước khoảng hơn một ngàn hộ.
Đại đa số mọi người đều đã dời đi Linh Châu, nhưng vẫn có hơn một trăm hộ nông dân Ô Hoàn không chịu rời khỏi mảnh đất của mình, tháng năm đến, lúc mạch đã trổ đòng, ruộng lúa bát ngát sắc xanh vàng, thêm một tháng nữa là tới vụ thu hoạch.
Cho dù mọi người đều biết nguy hiểm đang cận kề, nhưng hơn một trăm hộ dân Ô Hoàn này lại không chịu rời khỏi ruộng lúa mạch sắp được thu hoạch, huống hồ đây là mười mấy vạn mẫu ruộng, lợi ích khổng lồ đã dụ dỗ họ từng ngày nén nhịn, cầu khẩn chờ mong vụ thu hoạch tới.
Buổi trưa hôm nay, mấy lão nông như thường lệ ra ruộng lúa mạch lo liệu công việc đồng áng, mắt thấy lúa mạch sắp chín mà ai trong lòng cũng vừa sợ hãi vừa vui mừng, hơn một trăm hộ gia đình, mười mấy vạn mẫu lúa mạch, mỗi nhà đều có thể được nhận hàng ngàn mẫu ruộng, điều này khiến họ vô cùng kích động.
Trên ruộng lúa mạch đã có rất nhiều người bắt đầu bận rộn, mấy lão nông tạm biệt nhau trên đường, chuẩn bị ai tới ruộng người đấy, đúng lúc này, phía xa bỗng vang đến những âm thanh trầm đục ầm ầm, mặt đất cũng bắt đầu rung lên nhè nhẹ.
Tất cả mọi người trên ruộng đều cảm nhận được, đồng loạt đứng thẳng dậy nhìn về phía bắc, dần dần, từ phía bắc xuất hiện một đám mây đen, càng lúc càng nhanh, bay nhanh tới phía họ.
- Là kỵ binh người Khương!
Bỗng nhiên có người hô to lên, lập tức làm mọi người bừng tĩnh, họ sợ hãi vứt hết công việc trong tay để chạy trốn, mấy lão nông cũng cuống cuồng quay người chạy về phía nhà mình.
Đây là một ngàn kỵ binh tiền tiêu người Khương, kỵ binh không chút thương tiếc nhảy vọt vào ruộng lúa mạch, phóng ngựa lao vun vút như gió bay điện chớp trong ruộng lúa, hơn một trăm kỵ binh đi đầu tiên đã đuổi theo đám lão nông đang chạy trốn, chiến đao không chút lưu tình bổ vào gáy những người nông dân, đầu người bị chém bay đi, máu tươi tung tóe trong ruộng lúa mạch.
Nơi tập trung của dân Ô Hoàn đã trở nên hỗn loạn, già trẻ gái trai của hơn một trăm gia đinh không kịp thu dọn đồ đạc chạy bán sống bán chết, dìu già dắt trẻ, chạy trối chết men theo bờ sông Thương Nam.
Đúng lúc này, vô số kỵ binh người Khương xông ra từ ruộng lúa mạch, phóng ngựa như cuồng phong lao vào đám người, đao bổ mâu đâm, mọi người khóc lóc kêu thảm, cầu xin tha mạng, nhưng không có tác dụng gì, kỵ binh người Khương giết chết những người nông dân tay không tấc sắt này một cách vô tình, chỉ trong chốc lát, mấy trăm xác người ngổn ngang khắp đồng, không một ai sống sót.
Kỵ binh người Khương ném những ngọn đuốc vào khu nhà ở, lửa cháy rừng rực bắt đầu lan ra, khói đặc cuồn cuộn hai bờ sông Thương Nam, mấy ngàn nhà ở bị đốt sạch chỉ bằng một mồi lửa, guồng nước hai bên bờ sông cũng bị phá hủy hầu như không còn, hơn ngàn kỵ binh người Khương đã thiêu hủy khu nông canh ở sông Thương Nam, còn tiếp tục thúc ngựa chạy về phía đông, lao tới khu nông canh tiếp theo.
…
Ba ngày sau, mấy vạn kỵ binh người Khương xuất hiện ở cánh đồng lúa mạch bát ngát phía nam huyện Thương Tùng của quận Võ Uy, nơi này là chỗ quân tiên phong người Khương quét sạch khu quần cư người Hán ba ngày trước.
Lúc này, khu nhà ở rộng lớn đã bị thiêu hủy, khắp nơi là cảnh đổ nát thê lương, vết máu bên bờ sông Thương Nam còn chưa khô, xác người đã bị lũ sói hoang thảo nguyên nuốt gọn, thù hận lắng đọng ở đây.
“Ù ~”
Tiếng kèn trầm thấp vang vọng trên không trung, từng đội kỵ binh xuất hiện ở cuối ruộng lúa mạch, hung dữ xông lên, tiếng vó ngựa gõ trên mặt đất như sấm sét, khiến cho mặt đất rung lên theo.
Người Khương đến từ bộ lạc Hưu Đồ và Nam Cung cùng người Đê đứng đầu là bộ lạc Đô Dã có tổng cộng gần ba vạn kỵ binh đã tập hợp ở đây, hội tụ như ba dòng nước lũ.
- Đô Dã lão đệ, chúng ta đánh cược xem sao?
Đại tù trưởng Hưu Đồ Hồn lớn tiếng.
Tù trưởng người Đê tên là Đô Dã Hồn, họ sinh sống ở vùng đầm Đô Dã nên đặt theo tên hồ, Đô Dã Hồn cười ha hả:
- Hưu Đồ huynh đã có hứng, ta sẽ đánh cược với huynh, cược gì nào?
- Hãy đánh cược xem ai chiếm lĩnh Linh Châu trước, tiền đánh cược là một vạn con dê.
- Một vạn con dê cộng thêm một ngàn thiếu nữ người Hán, có làm không?
- Được! Ta đánh cược với ngươi.
Đúng lúc này, tù trưởng mới của bộ lạc Nam Cung là Nam Cung Tĩnh cưỡi ngựa lao ra, tóc gã đỏ rực tự nhiên, trên mặt có một vết sẹo đen nhìn ghê người.
Tướng mạo của gã cực giống tù trưởng Nam Cung Tác, khi trời tối rất dễ nhầm lẫn gã với Nam Cung Tác, chỉ có điều tóc gã đỏ khác hẳn với phụ thân.
Hưu Đồ và Đô Dã Hồn rõ ràng đều hết sức e ngại gã, không dám nhắc lại chuyện đánh cược, cung kính nghe gã căn dặn.
- Hai vị tù trưởng không cần đa lễ.
Nam Cung tĩnh tỏ vẻ ngạo mạn:
- Mặc dù hiện giờ do ta nắm giữ các bộ lạc phía nam, nhưng vẫn xin hai vị đại tù trưởng chiếu cố nhiều hơn!
Giọng của Nam Cung Tĩnh trầm thấp, còn hơi khàn khàn, nhưng ngữ khí kiên quyết, không hề hàm hồ.
Các bộ lạc của Hà Tây đã tập trung đầy đủ ở Trương Dịch từ nửa tháng trước, Mã Siêu chia quân đội của tất cả bộ lạc làm ba bộ phận, hai vạn kỵ binh người Khương của bảy bộ lạc ở Tửu Tuyền phương bắc do đại tù trưởng bộ lạc Sa Đầu là Sa Đầu Phong làm chủ soái.
Sáu bộ lạc ở Trương Dịch phía nam và ba bộ lạc ở Võ Uy cùng với ba vạn kỵ binh các bộ lạc người Đê đều thống nhất do đại tù trưởng bộ lạc Nam Cung là Nam Cung Tĩnh dẫn đầu.
Về phần Mã Siêu, ông ta đích thân dẫn hai vạn tinh binh người Khương Đê và năm ngàn kỵ binh Quý Sương làm quân đội trụ cột.
Nam Cung Tĩnh cao chừng tám thước ba, võ nghệ cao cường, được tôn là mãnh sĩ đứng đầu người Khương, khi quân Hán lần đầu tiên càn quét Hà Tây, Nam Cung Tĩnh không ở đây mà đang ở nước Quý Sương luyện võ.
Lần này Mã Siêu phái sứ giả tới Quý Sương mua vũ khí, quốc vương Quý Sương là Đô Lâm đã cho Nam Cung Tĩnh trở về Hà Tây tham chiến, gã liên tiếp đánh bại ba mươi ba dũng sĩ ở bộ lạc Nam Cung, còn đánh cho huynh đệ Nam Cung Bá Ngọc bị trọng thương, Nam Cung Bá Ngọc buộc phải từ bỏ ngôi vị tù trưởng, Nam Cung Tĩnh được các trưởng lão đề cử làm tù trưởng mới.
Nam Cung Tĩnh là con trai trưởng của Nam Cung Tác, mẫu thân là nữ nô của nước Quý Sương, từ nhỏ gã đã hiếu chiến tàn nhẫn, hơn nữa đầu óc ngu đần, tám năm trước gây ra đại họa, phóng hỏa đốt mấy ngàn đại trướng, bị phụ thân Nam Cung Tác đuổi ra khỏi bộ lạc, gã liền tới quê hương của mẹ là nước Quý Sương.
Tuy rằng tướng mạo thay đổi không nhiều, nhưng không biết tại sao, cả Hưu Đồ Hồn và Đô Dã Hồn đều nhận thấy Nam Cung Tĩnh này và Nam Cung Tĩnh trước đây có điểm khác nhau, không phải ở tướng mạo, cho dù mái tóc đỏ rực và vết sẹo đen trên mặt vẫn chướng mắt như trước.
Có về điều tâm tính của gã, Nam Cung Tĩnh trước đây rất thích tàn nhẫn tranh đấu, nhưng đầu óc ngu si, là người cực kỳ thô kệch, còn Nam Cung Tĩnh hiện giờ lại có tâm kế thâm sâu, lòng dạ nham hiểm.
Nam Cung Tĩnh trước đây là một người tầm thường không có chủ kiến, nhưng Nam Cung Tĩnh hiện giờ lại có khí chất lãnh tụ nói một là một, cử chỉ của gã đều có khí phách khiến mọi người không dám phản kháng.
Mặc dù gã có một mái tóc đỏ và vết sẹo đen trên khuôn mặt làm dấu hiệu, nhưng Hưu Đồ và Đô Dã Hồn vẫn nghi ngờ có phải là Nam Cung Tĩnh giả hay không, chỉ có điều mọi người trong bộ tộc Nam Cung đều nhất trí cho rằng gã chính là Nam Cung Tĩnh trước đây, khiến người khác cũng không thể nói gì hơn.
Hưu Đồ Hồn và Đô Dã Hồn lặng lẽ thở dài, bộ lạc Nam Cung có người này, e rằng sau này cuộc sống của các bộ lạc người Khương sẽ không dễ dàng nữa, nghe ý của Mã Siêu chính là muốn để người này làm vua của Nam Khương.
Lúc này, phía xa truyền đến tiếng kèn vang dội, lập tức sau đó là tiếng trồng ầm ầm, ba người họ lập tức quay đầu lại, chỉ thấy tinh kỳ phấp phố từ xa, đại đội kỵ binh lao vun vút tới, đây là quân đội chủ lực của Mã Siêu.
Mã Siêu mang đến khoảng năm ngàn kỵ binh, đều là quân tinh nhuệ tuyển chọn từ người Khương và người Đê, họ như một dòng nước lũ ùa vào ba vạn kỵ binh người Hồ.
Mã Siêu mặc khôi giáp màu đen, dáng người vạm vỡ, ánh mắt lạnh lùng, tay cầm một cây ngân thương sáng đài một trượng tám thước, dù đã gần bốn mươi tuổi nhưng vẫn võ nghệ siêu quần, hiếm có đối thủ trong thiên hạ.
Mã Siêu tự phong là Tây Lương Vương, mặc dù y cố ý lấy lòng Tào Tháo, tỏ vẻ muốn quân Tào viện trợ từ bên ngoài, cùng đối phó với quân Hán.
Nhưng Tào Tháo lại cự tuyệt y, Thiên tử còn hạ chiếu trách cứ y là quốc tặc bán đứng lãnh thổ Đại Hán, khiến y hết sức tức giận.
Y vốn hứa với Trương Ký không xuất quân đội khỏi Hà Tây, nhưng giờ y đã hủy bỏ lời hứa trước đây, muốn dẫn quân tới Linh Châu, bắt về tất cả những người dân tị nạn, phân họ cho người Khương làm nô lệ.
Mặc dù y có uy danh cực lớn trong đám người Khương, nhưng nếu như không có lợi ích thiết thực dụ dỗ lẫn nhau thì những người Khương này cũng không bán mạng cho y.
Lần này y bổ nhiệm Nam Cung Tĩnh làm Tướng quân chinh bắc, dẫn ba vạn quân tiến lên phía bắc tới Linh Châu, nhưng y vừa nghe được tin, Triệu Vân dẫn năm vạn quân Hán đang hướng về phía Hà Tây, vì thế y lập tức dẫn quân đuổi tới quận Võ Uy.
Lúc này, Hưu Đồ Hồn, Đô Dã Hồn và Nam Cung Tĩnh đồng thời bước lên, khom người thi lễ:
- Tham kiến Tây Lương Vương Điện hạ!
Mã Siêu lạnh lùng nói với ba người:
- Ba vị đại tù trưởng, binh mã đã đủ chưa?
Nam Cũng Tĩnh chắp tay đáp lễ:
- Hồi bẩm Điện hạ, kỵ binh các bộ lạc đều đã tập hợp đủ.
Mã Siêu gật đầu:
- Năm vạn quân Hán đã rời khỏi quận Kim Thành đánh về phía Hà Tây, ta lo Võ Uy có tổn thất nên đặc biệt tới đây, các vị tạm thời đừng đi Linh Châu.
Nam Cung Tĩnh cũng đáp:
- Thần nghe nói một vạn kỵ binh người Man làm tiên phong của quân Hán, thần đề nghị tập trung binh lực, tiêu diệt một vạn kỵ binh này trước để phủ đầu thị uy quân Hán!
Mã Siêu chậm rãi gật đầu:
- Được! Ta làm hậu viện, các vị hãy anh dũng giết địch, lấy người Hán để hiến tế núi Kỳ Liên.
Mã Siêu quay đầu quát chói tai:
- Nổi trống chấn uy!
“Tùng! Tùng! Tùng!” Tiếng trống như sấm rền vang lên, ba vạn đại quân Khương Đê xuất phát, trùng trùng điệp điệp hướng về phía nam.
Chương 995: Chiến đấu ác liệt ở huyện Hội Ninh.
Phía đông quận Võ Uy không tươi tốt như Dung Tuyết ở núi Kỳ Liên, đất đai khô cằn hơn, ruộng đồng cũng dần biến mất, không còn bóng dáng rừng cây, mà bắt đầu xuất hiện nhiều sa mạc và hoang mạc, những tảng đá lớn nhỏ lấp kín cánh đồng hoang vu, thi thoảng cũng nhìn thấy những bụi cây cằn cỗi, nơi này ít nhiều còn có mưa, cuối cùng cũng không hình thành nên sa mạc.
Phía xa là dãy núi chập chùng, phương bắc là dư mạch của núi Hạ Lan, còn phía nam là dư mạch của núi Kỳ Liên, hai dãy núi giống như hai con rồng đen khổng lồ vắt ngang qua mảnh đất mênh mông này, khiến cho cửa vào của hành lang Hà Tây hình thành hình chiếc loa khổng lồ.
Trong cánh đồng sỏi đá mênh mông bát ngát, một con đường bằng phẳng và rộng rãi xuyên ngang qua, bởi vì người đi đường và thương đội tới Hà Tây đều phải dựa vào súc vật, mà trong cánh đồng hoang đầy đá sỏi này những súc vật như ngựa khó mà đi lại, chỉ có thể đi trên con đường ấy, do đó nó trở nên cực kỳ trọng yếu.
Trong cánh đồng hoang vu kéo dài mấy trăm dặm, chỗ không xa sát núi Kỳ Liên có một ốc đảo gần nghìn khoảnh đất, một con sông bắt nguồn từ núi Kỳ Liên chảy tới, hình thành nên một đầm hồ nhỏ ở đây, có đầm hồ thì sẽ có sức sống, xung quanh nơi này liền xuất hiện đồng cỏ và rừng cây.
Đây là ốc đảo hiếm thấy trên con đường phía đông Hà Tây, người đi đường và thương đội đều dừng chân nghỉ ngơi ở đây, góc đông bắc ốc đảo là một tòa thành trì, đây chính là huyện Hội Ninh của Hà Tây, cũng là huyện thành đầu tiên khi bước vào Hà Tây.
Lúc này mấy ngàn cư dân ở huyện Hội Ninh đã rút đi Linh Châu từ lâu, huyện thành chỉ có ba ngàn quân Hán trú quân, do Đại tướng Ngô Lan dẫn đầu, họ tranh thủ thời gian hai tháng để vận chuyển những tảng đá từ núi Kỳ Liên tới, gia cố cao thêm thành trì, quân Hán còn lắp đặt bốn mươi máy bắn đá thô sơ trong thành, từ đây có thể ném thẳng những tảng đá lớn ra ngoài thành.
Cùng với một ngàn kỵ binh tiên phong người Khương xuất hiện ở huyện Hội Ninh mấy ngày trước, tình hình ở đây bỗng trở nên khẩn trương, quân đội bắt đầu thay phiên đóng giữ đầu thành, chặt chẽ quan sát động tĩnh ở phía tây.
Canh bốn, mấy gã kỵ binh thám báo quân Hán hối hả chạy từ phía tây đến, chúng chạy đến dưới thành hô to:
- Mau mở cửa, có quân tình khẩn cấp!
Chủ tướng Ngô Lan ở trên đầu thành, y nghe thấy tiếng hô, thò đầu ra nhìn một lát, liền hạ lệnh:
- Mở thành để chúng vào!
Cửa thành chậm rãi mở ra, mấy gã kỵ binh lao nhanh vào trong thành, lát sau, thám báo cầm đầu được dẫn lên đầu thành, gã quỳ một gối xuống thi lễ, bẩm báo:
- Khởi bẩm Tướng quân, ty chức và các huynh đệ phát hiện ra chủ lực người Khương ở cách đây hai mươi dặm, có khoảng mấy vạn người.
- Bọn chúng đang làm gì?
Ngô Lan vội hỏi.
- Bọn chúng đang nghỉ ngơi bên hồ, chưa khởi binh.
Ngô Lan trầm tư một lát, lập tức ra lệnh:
- Các ngươi mau xuôi xuống phía nam tới quận Kim Thành, bẩm báo Triệu Đô đốc rằng người Khương bắt đầu tấn công về phía đông.
- Tuân lệnh!
Mấy tên thám báo lại ra khỏi thành, chuyển đường chạy về phía nam, các binh lính đều có chút lo lắng trong lòng, huyện Hội Ninh nhỏ bé liệu có ngăn cản được đòn tấn công của mấy vạn kỵ binh không?
Ngô Lan lại không khẩn trương, y từng cùng Trương Nhậm chống lại mười vạn đại quân Hung Nô tấn công ở huyện Cao Nô nên đã có kinh nghiệm giữ thành phong phú, họ biết dân tộc du mục không giỏi công thành, chỉ cần phòng ngự hợp lý thì mấy vạn quân địch cũng chưa chắc đánh hạ được huyện thành.
- Tướng quân, giờ bảo các huynh đệ lên thành chưa?
Một gã Nha tướng khẽ hỏi.
Ngô Lan liếc nhìn binh lính đang cuộn tròn ngủ say ở đầu thành liền lắc đầu:
- Không cần phải gấp, để các huynh đệ nghỉ ngơi thật tốt, dưỡng đủ tinh thần.
Trời dần sáng, khi ánh mặt trời xuyên qua đám mây, chiếu những tia sáng vạn trượng xuống đầu thành huyện Hội Ninh, tiếng chuông cảnh báo cuối cùng vang lên ‘keng! Keng! Keng! ’ phía đầu thành, ba ngàn tướng sĩ ào ào chạy từ trong thành lên đầu thành, tay cầm cung tiễn và nỏ, dàn trận chờ đợi.
Dưới thành, hai ngàn dân phu trai tráng tự nguyện ở lại đang kiểm tra máy bắn đá, vận chuyển đá và dầu hỏa, những dân phu này đều trải qua mấy tháng huấn luyện tàn khốc, ai cũng đội mũ sắt, mặc áo giáp da kiên cố, chỉ cần không phải trọng tiễn bắn vào trong thành thì áo giáp của họ đều có thể chống lại những mũi tên loại thông thường.
Lúc này, chiến tranh đã tới gần.
Ngoài thành, liên quân Khương Đê ùn ùn kéo đến, tổng cộng ba vạn người, trong đó có một vạn năm ngàn quân trú doanh, còn một nửa kia toàn lực công thành.
Một vạn ngăm ngàn liên quân chia thành ba phương trận lớn, từ ba phương hướng ào về phía huyện Hội Ninh, tiếng trống vang lên như sấm, bộ binh, kỵ binh, quân cung tiễn, một vạn năm ngàn đại quân dâng lên như sóng lớn, dần dần dừng bước cách thành trì khoảng hai dặm.
Binh lính Khương Đê quấn mũ da trên đầu, người mặc áo giáp da dài tới đầu gối, chân đi một đôi ủng da dê, vũ khí của họ là chiến đao và trường mâu, cũng có rất nhiều cung tiễn.
Mặc dù người Khương từng sáng tạo ra liên minh huy hoàng thời kỳ trung cổ, nhưng ở giai đoạn Tiên Tần, liên minh của họ rõ ràng đã bị gián đoạn, họ không truyền lại cho con cháu mình, trái lại, sau khi Trung Nguyên bước vào xã hội phong kiến, liên minh của họ vẫn duy trì chế độ nô lệ bộ lạc lạc hậu và dã man.
Ba vạn quân đội người Khương này không phải quân trực thuộc của Mã Siêu, mà là quân đội được tập hợp từ dân du mục trai tráng của các bộ lạc, trang bị kém xa quân trực thuộc, huấn luyện cũng rất sơ sài, chỉ trải qua mấy tháng huấn luyện mà thôi.
Bọn chúng không nghĩ tới công thành, mấy vạn đại quân lại chỉ có một trăm chiếc thang công thành đơn sơ, không có thang mây, không có máy bắn đá, không có sào xa, cũng chẳng có chùy công thành, bọn chúng như thể dân tộc Man đến từ thảo nguyên, trong tay chỉ có vũ khí công thành nguyên thủy nhất.
Liên quân Khương Đê rõ ràng cũng ý thức được vấn đề công thành cấp bách, một trăm chiếc thang không để để đánh hạ huyện thành Hội Ninh, Nam Cung Tĩnh lập tức phái mấy trăm người đi chặt một cây đại thụ ngàn năm tuổi, họ cần thân cây to lớn này để đập phá cửa thành huyện Hội Ninh.
Nam Cung Tĩnh lạnh lùng nhìn thành trì phía xa, tinh kỳ giăng đầy trên đầu thành, binh lính quân Hán đông nghịt đứng kín trên đó, tay cầm cường cung ngạnh nỏ, trận địa sẵn sàng đón địch.
Gã không biết rằng trong thành phía sau quân Hán đã bố trí mấy chục chiếc bắn đá khổng lồ, đứng cao sừng sững trên mảnh đất trống trong thành, thanh bắn dài đã được kéo ra, đặt lên đó những tảng đá lớn nặng tới mấy chục cân và những quả bóng vải tẩm dầu hỏa.
Trên thực tế Nam Cung Tĩnh không phải là giả danh, gã đúng là con trai trưởng của cựu tù trưởng Nam Cung Tác, tám tuổi bị trục xuất khỏi bộ lạc, theo mẫu thân quay về nước Quý Sương, mẫu thân gã lại lấy một đại tướng ở Quý Sương, Nam Cung Tĩnh cũng từ đó ra nhập quân đội.
Gã mười sáu tuổi chính thức tòng quân, theo nghĩa phụ nam chinh Thiên Trúc, tham gia hàng trăm chiến dịch lớn nhỏ, giết người vô số, dần dần hình thành tính cách tàn bạo ác nghiệt của gã.
Lần này gã phụng mệnh quốc vương, dẫn năm ngàn kỵ binh Quý Sương tới Hà Tây trợ chiến, gã đã giành được ngôi vị đại tù trưởng của bộ lạc Nam Cung, còn được đề cử làm chủ soái quân đội của bộ lạc, vinh quang tới quá đột ngột, khiến gã còn chưa phục hồi tinh thần từ trong địa vị cao ngất ngưởng đó.
Đáng tiếc gã không có kinh nghiệm giao chiến với quân Hán, càng không nghĩ đến chuyện quân Hán sẽ giữ vững thành trì, khiến cho liên quân Khương Đê không có bất kỳ sự chuẩn bị công thành nào, càng không có thanh chùy công thành như quái thú mà Quý Sương thường dùng, khiến trong lòng Nam Cung Tĩnh đầy lo âu.
- Nam Cung Tĩnh tướng quân, gỗ đập thành đã chuẩn bị xong!
Một gã Thiên phu trưởng chạy tới báo cáo.
Nam Cung Tĩnh quay đầu nhìn, chỉ thấy mấy trăm chiến mã kéo theo một thân cây khổng lồ, dài tới bảy trượng, đường kính sáu thước, ít nhất cần mấy trăm người mới có thể khênh được cây gỗ đập thành lớn thế này.
Mặc dù Nam Cung Tĩnh còn nghi ngờ về phòng ngự của quân Hán, nhưng gã cũng muốn tận mắt nhìn xem, rốt cuộc phòng ngự của quân Hán có uy lực thế lớn nào.
- Lệnh cho bộ lạc Đô Dã phát động tấn công!
Bộ lạc Đô Dã cũng chính là quân đội của người Đê, hiện giờ người Khương nắm giữ quân quyền, do đó nhiệm vụ xung phong của trận này lẽ dĩ nhiên do người Đê đảm nhận.
- Trống trận vang lên!
“Tùng! Tùng!” tiếng trống tấn công vang lên, năm ngàn quân đội người Đê ở ngoài thành phía bắc đã phát động đợt tấn công đầu tiên, chúng xông lên như thủy triều, cầm theo mấy chục chiếc thang công thành, vung chiến đao và trường mâu, vừa chạy như bay vừa reo hò ầm ĩ về phía cửa thành.
Có lẽ là vì căng thẳng, binh lính người Đê cách mấy trăm bước đã bắn tên về phía đầu thành, mũi tên như mưa nhưng lại không có hiệu quả, còn làm bị thương không ít người của mình.
Ở phía sau của quân đội như thủy triều kia là một cây gỗ đập thành vô cùng to lớn, được mấy trăm thanh niên vạm vỡ khênh chậm rãi tiến về cửa thành.
Trên đầu thành, một ngàn năm trăm quân Hán giương cung cài tên, lẳng lặng đợi giây phút xuất kích, còn làn sóng đầu tiên tấn công từ xa của quân Hán là máy bắn đá trong thành.
Bốn mươi cái máy bắn đá đứng sừng sững trên cao, do hai ngàn dân phu đã qua huấn luyện điều khiển, dưới mệnh lệnh của Nha tướng chỉ huy, máy bắn đá bắt đầu được kéo ra xèo xèo.
Do là tấn công từ trong thành ra ngoài thành, phải vượt qua được tường thành nên thợ thủ công quân Hán đã kéo dài thanh bắn, để cho góc độ ném cao hơn, họ còn đặt thêm một đòn bẩy mượn lực tinh xảo, làm cho máy bắn đá không còn cần hai trăm người kéo nữa mà chỉ cần năm mươi người là được.
Tảng đá lớn được đặt vào bệ phóng, cùng với tiếng trống vang lên, bốn mươi máy bắn đá đồng loạt bắn ra, bốn mươi tảng đá bị ném cao lên, lăn tròn trên không trung, vượt qua tường thành, vạch ra những đường vòng cung đập mạnh xuống đám quân người Đê dày đặc bên dưới.
“Ầm!” Một tiếng nổ vang lên, tiếng kêu thảm thiết nổi lên bốn phía, mấy binh lính người Đê tránh không kịp đã bị tảng đá lớn đập nát bét, quán tính khổng lồ khiến tảng đá lăn lông lốc trong đám người, mạnh mẽ kinh người, lăn một mạch hai mươi mấy bước, binh lính người Đê liều mạng tránh sang hai bên, nhưng vẫn có hơn mười người chết vì tảng đá đâm trúng, còn cả mấy chục người bị thương, gãy xương đứt gân, bốn mươi tảng đá lớn đập xuống toàn bộ, tiếng kêu rên vang lên khắp nơi.
Tiếp theo đó là đợt thứ hai, đợt thứ ba máy bắn đá bắn ra, kèm theo cung nỏ của quân Hán, mũi tên như mưa rơi trên đầu thành, phía dưới thành thương vong thê thảm, mỗi tảng đá lớn đập xuống đều sẽ kéo theo mấy chục người thương vong, nó quả là thứ vũ khí tàn sát, mang đến tai họa ngập đầu cho quân đội người Đê.
Tác dụng của máy bắn đá phát huy trong việc giữ thành là không gì so sánh được, trong cuộc chiến bảo vệ Thái Nguyên ở loạn An Sử trong lịch sử, Lý Quang Bật thiếu thốn binh lực đã dùng mấy chục máy bắn đá loại lớn đập chết hơn bảy vạn phản quân, giành được thắng lợi huy hoàng.
Đối phó với liên quân Khương Đê cũng vậy, quân Hán đã vận dụng máy bắn đá sắc bén nhất, tạo nên sát thương lớn cho quân đội người Đê đang tiến công tới, xác chết ngang dọc trên chiến trường, khắp nơi đều là những thân thể bị đập bẹp, đầu người bị đập nát, máu chảy thành sông, những tảng đá lớn kia cũng đều nhuốm thành màu đỏ.
Những cây gỗ đập thành đã dần tiến sát cửa thành, huyện Hội Ninh không có sông bảo vệ thành, quân địch có thể trực tiếp lấy những cây gỗ lớn đập cửa thành, nhưng Chủ tướng Ngô Lan kinh nghiệm phong phú biết nên ứng phó thế nào, từ trước khi trời sáng, y đã chôn rất nhiều dầu hỏa trong khoảng cách từ một trăm đến hai trăm bước đối diện cửa thành.
Lúc này y hạ lệnh điều chỉnh năm máy bắn đá loại lớn, ngắm đúng phía ngoài cửa thành, châm những quả bóng vải tẩm dầu hỏa, năm quả cầu lửa lớn cháy rừng rực được quăng về phía những cây gỗ đập thành cách đó một trăm năm mươi dặm.
Quả bóng lửa ném vào trong đám người, lăn trên mặt đất, lập tức bắt lửa với dầu hỏa được chôn dưới đất, ngoài cửa thành biến thành một biển lửa, vô số người bị dầu hỏa thiêu đốt đã trở thành người lửa, họ giang canh tay kêu gào thảm thiết, chạy trốn khắp bốn phía, nhưng chưa được mấy bước đã ngã xuống đất, lửa lớn cuộn lấy bọn chúng.
Quả bóng dầu hỏa của quân Hán tạo nên những đòn đánh chí mạng vào những cây gỗ đập thành, cùng với lửa lớn bốc cháy lan rộng, những cây gỗ ấy cũng bén lửa, rất nhiều binh lính khênh gỗ chạy trốn, những cây gỗ đập thành rơi xuống đất rầm rầm, bị lửa lớn rừng rực nuốt gọn.
Sau khi gần hai ngàn người thương vong, binh lính người Đê cuối cùng đã sụp đổ, đội quân người Đê may mắn sống sót vội quay đầu tháo chạy, chúng rút lui như nước thủy triều, những cây gỗ đập thành to lớn cũng không phát huy bất cứ tác dụng gì, bị lửa lớn thiêu hủy, Nam Cung Tĩnh kinh ngạc nhìn về phía đầu thành, cho dù gã biết sự lợi hại đến từ máy bắn đá của quân Hán, nhưng không ngờ lại kinh khủng như vậy, còn cả vũ khí dầu hỏa khiến người khác sợ hãi.
Gã đấm mạnh nắm tay vào một chiếc thang công thành, nghiến răng nghiến lợi nói:
- Truyền lệnh của ta, dừng tiến công, đại quân vượt qua thành trì, tiếp tục xuôi xuống phía nam.
Chương 996.1: Đón đầu chặn đánh.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa quân đội du mục và quân đội Trung Nguyên nằm ở chỗ họ không có quá nhiều đồ quân nhu hậu cần, kỵ binh du mục chỉ mang theo người sữa đặc và thịt dê bò phơi khô, hàng quân mấy ngày cũng không cần lương thực bổ sung, hoặc là lấy chiến đầu nuôi chiến đấu, cướp bóc lương thực trên đường.
Còn đối với quân đội Trung Nguyên, vòng qua thành trì mà không tấn công tuyệt đối là một đại kỵ, điều này có nghĩa là tiếp tế hậu cần của quân đội rất dễ bị quân đội trong thành chặt đứt, hoặc là sẽ trước mặt sau lưng đều có địch, nhưng đối với kỵ binh du mục không có đồ quân nhu hậu cần thì không tấn công thành trì cũng không có quan hệ quá lớn.
Liên quân Khương Đê tiến đánh huyện Hội Ninh bị áp chế, do đó đã từ bỏ tấn công, vòng qua huyện thành tiếp tục tiến đến quận Kim Thành ở phía đông nam.
Trong lúc liên quân Khương Đê tấn công huyện Hội Ninh, một vạn tiên phong quân Hán dưới sự chỉ huy của Đại tướng Lưu Hổ và Vương Bình đã tới chỗ cách huyện Hội Ninh bảy mươi dặm về phía nam.
Lúc này, thám báo mà Ngô Lan phái tới đã tới chỗ quân Hán ở phía bắc, họ mang đến tin tình báo quan trọng rằng ba vạn người Khương đã tấn công huyện Hội Ninh
Vương Bình có chút lo lắng, họ chỉ có năm ngàn phi quân cung nỏ và năm ngàn bộ binh trọng giáp, liệu có chống đỡ được sự tấn công của ba vạn người Khương không?
Vương Bình thúc ngựa đi tìm Lưu Hổ, thì thầm bàn bạc với y:
- Binh mã của chúng ta hơi ít, quân địch có ba vạn người, chỉ sợ xuất chiến bất lợi, có phải thông báo cho Triệu Đô đốc không, xin ngài hỏa tốc dẫn viện quân lên phía bắc.
Lưu Hổ cười to:
- Vương Tướng quân cẩn thận là đúng, nhưng cẩn thận quá sẽ sợ hãi quân địch, không cần phi quân các ngươi nghênh chiến, chỉ bộ binh trọng giáp của ta sẽ giết ông ta không còn mảnh giáp.
Vương Bình đỏ mặt, vội nói:
- Ta không phải là sợ địch, chỉ là biết mình không biết đối phương, phải thận trọng xuất binh mới đúng.
Lưu Hổ cười nhạt nói:
- Quân Hán để duy trì bộ binh trọng giáp, không biết đã hao phí bao nhiêu tiền lương, tuyệt đối không phải để bộ binh trọng giáp làm bình hoa bài trí, nếu Vương Tướng quân không chiến, ta sẽ không miễn cưỡng, nhưng bộ binh trọng giáp chỉ tiến không lùi, hôm nay sẽ cho người Khương thử mùi vị của Trảm Mã Đao.
Vương Bình thấy Lưu Hổ tâm ý đã định nên cũng không khuyên nữa, cao giọng ngang nhiên nói: “Hổ Tướng quân đã muốn chiến đấu với người Khương, ta cũng sẽ không bao giờ lùi bước, vô đương phi quân của chúng ta sẽ kề vai tác chiến với bộ binh trọng giáp.
Lưu Hổ vỗ vai gã:
- Đây mới là nam nhi đại trượng phu, phải có ý chí giết địch lớn, xem chúng ta dọn dẹp quân Tây Nhung thế nào.
Quân Hán ở cách huyện Hội Ninh ba mươi dặm đã gặp được liên quan Khương Đê đang ùn ùn kéo tới, nói cho đúng là quân Hán đang chờ đợi quân địch đến.
Bộ binh trọng giáp cần thời gian chuẩn bị ít nhất mười lăm phút để mặc giáp, nếu gặp quá gấp gáp sẽ khiến bộ binh trọng giáp không có thời gian chuẩn bị, vì thế khi thám báo phát hiện quân địch còn cách hai mươi dặm, quân Hán đã dừng hành quân, bộ binh trọng giáp mặc giáp chuẩn bị chiến đấu.
Chỗ bọn họ đứng đã không còn là vùng toàn sỏi đá ở phía tây huyện Hội Ninh, mặc dù vẫn là cánh đồng bát ngát không người ở, nhưng đất đai đã khá bằng phẳng, phần lớn là bùn đất, cách đó không xa là cánh rừng lớn, hai bên đường có thể dàn chiến thuyền, hai quân quyết một trận tử chiến.
Sau nửa canh giờ, tiếng bước chân từ xa ào ào như sấm rền, mặt đất rung lên, bụi đất che kín bầu trời, gần ba vạn liên quân Khương Đê cuối cùng đã kéo đến.
Lưu Hổ chăm chú nhìn kỵ binh quân địch đang dần giảm tốc độ ở phía xa, lớn tiếng quát:
- Xếp hàng ứng chiến!
Quân Hán đã chuẩn bị xong từ lâu, nhanh chóng dàn đại trận trong cánh đồng bát ngát rộng tới ba dặm, ba ngàn kỵ binh quân Hán bày trận cung nỏ ở phía trước.
Năm ngàn quân đội mà Vương Bình chỉ huy đều là lính Man, được gọi là vô đương phi quân, họ cực giỏi bắn tên, tiễn pháp xuất chúng, không chỉ là quân sơn địa tinh nhuệ nhất, mà sau khi được huấn luyện kỵ thuật nghiêm ngặt, họ đã trở thành kỵ binh cung nỏ hàng đầu của quân Hán.
Hôm nay, đứng đầu tiên là ba ngàn kỵ binh cung nỏ dàn trận trên ngựa, họ được trang bị nỏ sừng sắc nhọn của quân Hán, cự li sát thương có thể đạt một trăm hai mươi bước.
Trên chiến trường chỉ có tám ngàn quân Hán, ba ngàn kỵ binh cung nỏ dàn trận ở trên đầu, họ cũng là quân tinh nhuệ, không chỉ có thể đảm đương quân nỏ, còn làm được kỵ binh cung nỏ, thậm chí còn có thể đổi thành kỵ binh trường mâu.
Lúc này bộ binh trọng giáp mà Lưu Hổ dẫn đầu đã dàn xong trận hình, năm ngàn bộ binh trọng giáp đứng sau quân cung nỏ, chia thành năm quân trận, đám binh lính đã mặc xong khôi giáp, bọn họ tay cầm Trảm Mã Đao, chăm chú chờ đợi mệnh lệnh.
Còn sau khi ba ngàn kỵ binh cung nỏ bắn tên xong, sẽ nhanh chóng chuyển thành kỵ binh trường mâu, bố trí ở cạnh kỵ binh trọng giáp, nhiệm vụ của họ là bảo vệ sườn và phối hợp tác chiến với bộ binh trọng giáp.
Hai ngàn kỵ binh cung nỏ khác sẽ được sắp xếp trong khu rừng cách đó hai dặm, đợi bộ binh trọng giáp đánh tan trận hình của địch xong, họ sẽ đánh lén, ba đoạn trận hình này quân Hán đã phối hợp tác chiến nhiều lần và cũng nhiều lần đánh bại quân Tào và quân Hung Nô nên họ đã có kinh nghiệm thực tiễn phong phú.
Hai quân đứng đối mặt cách nhau hai dặm, Nam Cung Tĩnh thấy quân Hán đã dàn xong trận hình, quân cung nỏ ở trước, bộ binh ở giữa, hình như trong rừng còn mai phục một đội quân, số người trên chiến trường không nhiều, gã bèn cười nhạt một tiếng, trận hình kiểu này quá bình thường, đối với kỵ kinh người Khương chiếm ưu thế tuyệt đối về số người thì chẳng hề có ý nghĩa gì.
Lúc này, Hưu Đồ Hồn tiến lên khẽ nói:
- Năm ngàn bộ binh ở giữa kia hình như chính là bộ binh trọng giáp mà Tây Lương Vương điện hạ nói, cực kỳ sắc bén, Tướng quân không được coi thường.
- Đây không phải là vấn đề khinh địch hay không, quân đội có sắc bén nữa thì chúng ta cũng phải toàn tuyến ép lên!
Nam Cung lớn tiếng hô to:
- Chuẩn bị xuất kích!
Cùng với một tiếng ra lệnh, tiếng trống lớn trong liên quân Khương Đê vang lên, ba vạn kỵ binh lần lượt tiến lên xếp thành hàng, giơ cao trường mâu, kỵ thuật của chúng đa phần điêu luyện, một tay cầm mâu, một tay cầm lá chắn, hai chân điều khiển ngựa, như thể người và ngựa là một.
Ba vạn kỵ binh Khương Đê bỗng giơ trường mâu lên, mâu đâm như rừng, thanh thế cực kỳ hùng mạnh, lúc này Lưu Hổ cũng hét lớn một tiếng:
- Xuất đao!
Năm ngàn Trảm Mã Đao sáng loáng đồng loạt khua ra, sát khí mạnh mẽ tràn trề.
Ngay cả Vương Bình có chút lo lắng vì biết mình không biết đối phương cũng thầm khen ngợi, không hổ là bộ binh trọng giáp tạo ra lực khuynh quốc của quân Hán, chỉ năm ngàn Trảm Mã Đao mà không biết đã tiêu hao biết bao tâm huyết của rất nhiều thợ thủ công, nếu đội bộ binh trọng giáp này vẫn không phải là đối thủ của người Khương thì đúng là trời cũng không tha.