Cùng với tiếng trống dày đặc, một vạn thiết kỵ người Khương cùng gào thét, bọn chúng trăm người một hàng, tay phải cầm trường mâu, tay trái cầm lá chắn, vó ngựa phi nhanh, thanh thế lớn mạnh, lao về phía quân Hán cách đó hai dặm với sức mạnh không thể chống đỡ.
Cho dù thân kinh bách chiến nhưng trong lòng Lưu Hổ vẫn có chút căng thẳng, y cảm nhận được khí thế hùng mạnh của đội thiết kỵ người Khương này, năm ngàn bộ binh trọng giáp của y đã đến lúc chịu đựng khảo nghiệm rồi.
Tuy nhiên Lưu Hổ không chút hoang mang.
- Quân nỏ chuẩn bị!
Y lớn tiếng hô, ánh mắt sắc bén chăm chú nhìn quân địch đang đến gần.
Ba ngàn kỵ binh cung nỏ giơ nỏ sừng lên, mũi tên lạnh như băng ngắm thẳng về phía kỵ binh quân địch đang cuộn trào tới như thủy triều, họ xếp ngàn người một hàng, tiến hành ba lần bắn, luân phiên bắn chín ngàn mũi tên ở chỗ cách quân địch sáu mươi bước.
Kỵ binh người Khương càng lúc càng tiến đến gần, bụi vàng cuồn cuộn phả vào mặt quân Hán, tiền phương của chúng cuối cùng đã xông vào trong phạm vi một trăm hai mươi bước.
- Bắn!
Một ngàn kỵ binh cung nỏ ở hàng đầu bắn trước, họ sử dụng nỏ sừng hai thạch, mũi tên dài một thước ba tấc, chỉ nghe thấy tiếng nỏ, một ngàn mũi tên bắn ra như gió táp mưa rào về phía kỵ binh người khương cách đó một trăm hai mươi dặm, tiếng kêu thảm thiết cùng tiếng hí của chiến mã vang vọng, hàng trăm chiến mã và mấy trăm kỵ binh người Khương lộn nhào xuống đất.
Kỵ binh cung nỏ lập tức lên dây cung, tốc độ cực nhanh, họ dùng mũi tên xuyên giáp, đầu mũi tên như con thoi kéo dài, có hình thuôn dài, được chế tạo từ sắt luyện thượng hảo, vô cùng sắc nhọn, có thể xuyên thủng bất kỳ loại áo giáp nào.
Hàng thứ nhất bắn xong, lại một ngàn mũi tên xuyên giáp của hàng thứ hai được bắn về phía kỵ binh người Khương cách đó trăm dặm hệt như một mảng mây đen, tiếp đó là hàng thứ ba, hàng thứ tư, hàng thứ năm… Mũi tên che kín trời đất, dày đắc khiến đối phương không thở nổi.
Kỵ binh người Khương cũng cảm nhận được sự hùng mạnh trong trận tiễn của quân Hán, chúng giơ tấm chắn lên che, chỉ nghe thấy những tiếng răng rắc, tấm chắn bị mũi tên xuyên giáp chọc thủng, vỡ vụn ra, tấm chắn không chống đỡ nổi đường lực mạnh mẽ của mũi tên xuyên giáp, một ngàn mũi tên đã gây ra tổn thất nặng nề cho kỵ binh quân địch.
Áo giáp da và lá chắn gỗ không chịu nổi lực xuyên thấu mạnh mẽ của mũi tên, mấy trăm kỵ binh ở hàng đầu tiên bị bắn xuyên qua áo giáp, kêu thảm thiết ngã xuống khỏi ngựa, rất nhiều kỵ binh phía sau bị vấp vào làm cho đội thiết kỵ của người Khương lập tức rối loạn.
Sau khi chín đợt mũi tên bắn xong, kỵ binh người Khương đã tổn thất gần ba ngàn người, trong lòng đám kỵ binh khiếp sợ, đội ngũ hỗn loạn, sĩ khí đê mê, trong lúc này, ba ngàn kỵ binh cung nỏ đã nhanh chóng rút lui sang hai bên, treo nỏ sừng lên, tháo trường mâu xuống, họ trở thành kỵ binh trường mâu, bảo vệ ở hai sườn của bộ binh trọng giáp.
Kỵ binh người Khương đã xông đến cách ba mươi bước, mặc dù hơi hỗn loạn nhưng khí thế vẫn kinh người, không thể chống đỡ, Lưu Hổ cười nhạt một tiếng, lớn tiếng ra lệnh:
- Kết trận!
Năm ngàn bộ binh trọng giáp thay đổi trận hình, họ lần lượt ngồi xổm xuống, mũi đao hướng về phía trước, chuôi đao chạm đất, hình thành nên một biển đao.
Mấy ngàn kỵ binh người Khương đã tiến đến, đối mặt với rừng đao vô cùng sắc bén, đám kỵ binh phía trước đều hoảng sợ kêu thảm.
“Ầm!” một tiếng nổ lớn vang lên, thân xác máu thịt của kỵ binh đập vào rừng đao, bụi đất hòa với sương máu mù mịt trên trời, tứ chi bay tứ tung trên không, xác người ngựa chất đống tầng tầng lớp lớp trước rừng đao.
Đợt tấn công đầu tiên mạnh mẽ nhất của kỵ binh cuối cùng đã biến mất, lúc này, năm ngàn kỵ binh đồng thanh hét lớn, xếp thành bước tường người, Trảm Mã Đao nhất loạt vung ra, đập vào trường mâu của quân địch, hai đội quân hỗn chiến kịch liệt với nhau.
Một vạn kỵ binh đầu tiên xông lên là để san bằng con đường cho kỵ binh phía sau, cho dù chúng bị tổn thất nặng nề nhưng Nam Cung Tĩnh cũng không để trong lòng, gã hạ lệnh:
- Toàn quân xông lên, đánh tan quân Hán!
Cùng với những tiếng kèn vang vọng bốn phía, gần hai vạn kỵ binh người Khương nhanh chóng tập hợp từ bốn phương tám hướng, hai vạn thiết kỵ Khương Đê xông tới bộ binh trọng giáp của quân Hán với khí thế dời non lấp biển.
‘Tùng! Tùng! Tùng’ trong đại trận của quân Hán vang lên tiếng trống trận làm phấn chấn lòng người, năm ngàn bộ binh trọng giáp tiến về phía trước như ngọn núi, hai ngàn kỵ binh trường mâu bảo vệ ở hai bên, năm ngàn bộ binh trọng giáp tách thành năm đại trận phát động thế tấn công về phía kỵ binh người Khương.
Năm ngàn bộ binh trọng giáp xuất kích toàn tuyến, hai bên đánh nhau trên cánh đồng rộng lớn, kỵ binh người Khương không địch lại được những đòn chém vào cổ sắc bén của bộ binh trọng giáp nên bị đánh tới mức liên tiếp tháo chạy.
Nam Cung Tĩnh nóng ruột gào to, thúc giục kỵ binh người Khương liên tục tấn công, đặc biết là mấy ngàn kỵ binh người Khương bị quân Hán bao vây, chúng biết chỉ có xông ra mới có hy vọng sống sót, bản năng chạy thoát thân khiến chúng liều mạng, chúng giơ cao trường đao, khua trường mâu, điên cuồng tấn công quân Hán, hệt như gió bão mưa rào ào tới, bộ binh trọng giáp vẫn sừng sững bất động như núi lớn.
Đại tướng của người Khương là Mã Tô Đặc thúc ngựa dẫn đầu, gã vung trường mâu, hét lớn một tiếng rồi đâm về phía thủ lĩnh quân Hán, thủ lĩnh quân Hán đối diện gã là Chủ tướng Lưu Hổ, Lưu Hổ gào lên, Trảm Mã Đao hung mãnh đón đầu bổ xuống, thế đao linh hoạt, lập tức bổ cả người Mã Tô Đặc và ngựa đang lao đến trước mặt y ra thành hai nửa, máu bắn tung tóe, nội tạng tràn lan.
Bộ binh trọng giáp múa may trường đao, từng bước tiến lên, đao quang huyết ảnh, khi chém khi đâm, đánh đâu thắng đấy, kỵ binh người Khương bị chém đầu lăn lông lốc trên mặt đất, tiếng kêu gào thảm thiết vang vọng sơn cốc, phía sau và hai bên chúng, mũi tên của kỵ binh cung nỏ bay như châu chấu, khiến chúng thương vong nghiêm trọng, lính Khương bị thương quỳ xuống cầu xin khổ sở nhưng vẫn bị bộ binh trọng giáp dàn trận chém nát, máu chảy thành sông, xác người chất đống, cả chiến trường đã trở thành lò sát sinh nhân gian.
Trận chiến này kéo dài từ trưa đến chiều, ba vạn kỵ binh Khương Đê đã tương vong gần nửa, trên chiến trường, thi thể không đầy đủ các bộ phận chất đống như núi, máu tươi nhuộm đỏ cả mặt đất, người Khương đã có ý nghĩ bại trận, còn bộ binh trọng giáp không hề mỏi mệt, càng chiến càng dũng mãnh, mắt thấy ý chí chiến đấu của binh lính người Khương đã dần sụp đổ.
Lúc này, Vương Bình mai phục trong rừng thấy quân địch đã bại tướng bèn hô to:
- Theo ta xông ra!
Hai ngàn kỵ binh sinh lực bỗng nhiên ùa ra, giống như đòn cuối cùng đánh gục lạc đà, kỵ binh người Khương hoảng loạn, bộ lạc Đô Dã sụp đổ trước, dưới sự dẫn sắt của tù trưởng, mấy ngàn kỵ binh đã chạy trốn về phía bắc.
- Đại tù trưởng!
Một gã kỵ binh chạy vội tới trước mặt Nam Cung Tĩnh hô lớn:
- Bộ lạc Đô Dã đã rút lui!
Nam Cung Tĩnh quay đầu lại, nhận ra bộ lạc Đô Dã người Đê đã rút khỏi chiến trường, đồng thời dẫn theo những kỵ binh bộ lạc khác rút theo, y vô cùng căm hận, đành gào lên một tiếng:
- Rút!
Hơn một vạn năm ngàn kỵ binh đã sụp đỏ tinh thần, không còn lòng dạ chiến đấu nữa, rối rít quay đầu ngựa chạy khỏi chiến trường, quân Hán đuổi theo sau, chém cho kỵ binh người Khương ngã ngựa lật nhào, thương vong cực kỳ thê thảm, họ đuổi mãi cho tới huyện Hội Ninh mới dần dừng lại, lúc này, quân Hán trên đầu thành của huyện Hội Ninh thấy quân Khương thảm bại, liền đồng loạt vỗ tay hoan hô.
Chương 997: Kỵ binh Quý Sương.
Nam Cung Tĩnh chạy một mạch tới huyện Cô Tang, kiểm kê lại binh mã tháo chạy, chỉ còn lại hơn bảy ngàn người khiến gã không khỏi tiêu tan nhuệ khí, hoàn toàn không còn ý chí chiến đấu, lúc này Hưu Đồ Hồn khuyên gã:
- Tướng quân đừng chán nản, chúng ta cũng không thương vong lớn đến thế, ta đoán rất nhiều người nửa đường trốn về nhà, như bộ lạc Đô Dã cơ bản không nhìn thấy ai cả, chẳng lẽ bọn chúng đều bị giết sạch, không thể, chỉ có thể chứng minh bọn chúng đã trốn về bộ lạc.
Nam Cung Tĩnh lúc này mới nghĩ thoáng ra, nhưng lại nghĩ đến ba vạn quân đội giờ chỉ còn lại hơn bảy ngàn người, dù thế nào cũng khiến y khó chấp nhận được, cũng khó ăn nói với Mã Siêu, y trầm tư chốc lát bèn nói:
- Hưu Đồ đại tù trưởng cũng dẫn quân giữ huyện Cô Tang đi, ta chạy về Trương Dịch cầu cứu, nhiều nhất ba đến năm ngày, ta sẽ dẫn viện quân đến.
Con trai của Hưu Đồ Hồn đang làm con tin ở Trương Dịch, kể cả y muốn chạy trốn cũng phải nghĩ đến an toàn của con trai, không biết làm sao, y đành gật đầu đáp:
- Tướng quân mau đi mau về, ta sẽ dốc sức giữ vững huyện Cô Tang.
Nam Cung Tĩnh dặn dò vài câu rồi dẫn theo mấy trăm kỵ binh phi nhanh về Trương Dịch.
Quân Hán không lập tức lên phía bắc truy sát quân Khương, mà nghỉ ngơi hai ngày ở huyện Thương Tùng, hai ngày sau, Triệu Vân dẫn ba vạn chủ lực trùng trùng điệp điệp kéo đến huyện Thương Tùng, hạ đại doanh ở ngoài huyện thành.
Trong đại trướng trung quân, Lưu Hổ và Vương Bình cùng tham kiến Triệu Vân và báo cáo tình hình chiến đấu, Triệu Vân lập tức hỏi:
- Chúng ta thương vong bao nhiêu?
- Khởi bẩm Đô đốc, chúng ta thương vong hơn một ngàn năm trăm người, về cơ bản là vô đương phi quân, bộ binh trọng giáp thương vong hơn trăm.
Triệu Vân gật đầu, thương vong hơn một ngàn năm trăm người, nhưng lại đánh tan được hơn một vạn bốn ngàn quân địch, chiến quả này có thể nói là huy hoàng, tuy nhiên Triệu Vân quan tâm hơn đến tình hình của các binh sĩ thương vong bèn truy vấn:
- Hài cốt của họ đã thu dọn ổn thỏa chưa?
Vương Bình khom người đáp:
- Binh lính chết trận đều đã được hỏa táng, di cốt đựng trong bình gốm, đã phái người đưa về Trường An.
- Mặc dù họ là lính Man, nhưng họ đổ máu giết địch hi sinh vì nước Hán, chúng ta cũng phải trợ cấp đối xử tương đương, ta sẽ viết thư cho Hán Vương Điện hạ.
- Đa tạ Đô đốc!
Trong lòng Vương Bình vô cùng cảm kích, vội khom người thật sâu thi lễ.
Triệu Vân khoát tay, đi đến trước sa bàn cười nói với Quân sư Bàng Thống:
- Bàng Quân sư có ý kiến gì không?
Bàng Thống dùng cây gỗ chỉ vào huyện Cô Tang:
- Đây là thành tứ chiến, giành được huyện Cô Tang thì quận Võ Uy sẽ bị thu phục, nhưng Cô Tang lại là đại môn của Trương Dịch, Cô Tang thất thủ, quân Hán sẽ có thể đánh thẳng vào Trương Dịch, do đó Mã Siêu cũng sẽ không ngồi chờ nó bị chúng ta công chiếm, ông ta tất nhiên sẽ phái viện quân tới.
Nói đến đây, Bàng Thống cười nói với mọi người:
- Ý của ta là vây thành đánh viện binh, dùng thủ đoạn sấm sét đánh tan viện binh tới cứu viện, như thế quân phòng thủ trong huyện Cô Tang không chiến cũng sẽ hàng.
Vương Bình ở bên cạnh tiếp lời:
- Quân phòng thủ trong huyện Cô Tang tất nhiên chính là quân đội người Khương tháo chạy, nếu chúng ta dùng đại quân bốn phương ép lên, tại hạ lo viện quân sẽ sợ hãi mà không tới.
Bàng Thống khẽ mỉm cười:
- Chúng ta có thể ẩn dấu thực lực, để thám báo quân địch cho rằng chúng ta chỉ có hai vạn quân.
Bàng Thống dùng cây gỗ chỉ sang huyện Hưu Đồ ở phía tây bắc Cô Tang, nói với mọi người:
- Có thể ẩn nấp hai vạn quân ở huyện Hưu Đồ, đợi thời cơ chiến đấu!
Triệu Vân liếc nhìn mấy đại tướng trong trướng, thấy mọi người không ai phản đối, liền dứt khoát hạ lệnh:
- Cứ thực thi theo đề nghị của Quân sư.
Ngoài thành Trương Dịch là khu đại doanh gần ngàn khoảnh, mấy vạn lều trại kéo dài hơn mười dặm, thanh thế đồ sộ, trong đó có một đại trướng da dê rộng năm mẫu, đây là vương trướng của Khương Vương Nam Cung Tác trước kia, sau khi bị quân Hán thu được vẫn đặt ở trong thành Trương Dịch, giờ trở thành vương trướng của Mã Siêu.
Trong vương trướng lộng lẫy nguy nga, mặt đất trải thảm Ba Tư thêu những sợi tơ vàng lóng lánh, trên vách trướng điểm xuyết mấy vạn viên đá quý, sáng lấp lánh dưới ánh đèn, còn xung quanh bày đủ các đồ kim ngân khí và đồ sứ Trung Nguyên đắt tiền, đây là một doanh trướng xa xỉ khiến người khác phải líu lưỡi.
Giữa đại trướng là mười mấy thiếu nữ đang tung tăng nhảy múa, tiếng đàn sáo vang lên hai bên, trống điểm từng hồi, trên một chiếc bàn thấp rất rộng là mấy chục đĩa vàng khảm đá quý, bên trong chứa đủ các loại hoa quả tươi ngon, còn cả những miếng thịt nướng thơm phức và rượu ngon lâu năm.
Vây quanh sau chiếc bàn là hai mươi mấy thiếu nữ trẻ đẹp mĩ miều, váy áo của họ cởi ra bán nửa, để lộ làn da trắng như tuyết, Mã Siêu đang nằm trong ngực đám cơ thiếp xinh đẹp này, hưởng thụ rượu và những món ăn ngon, híp nửa mắt, vui vẻ ngắm nhìn đám thiếu nữ thướt tha nhảy múa, y chinh chiến nửa đời, cho đến giờ mới học được cách hưởng thụ, đây là đãi ngộ mà Đô đốc Hà Tây không thể có được, chỉ có khi y trở thành vua một vùng mới có thể tận hưởng xa hoa vương giả.
Đúng lúc này, ngoài trướng có âm thanh hỗn loạn nhỏ, thân binh của y dường như đang quát lớn, điều này khiến Mã Siêu không khỏi ngẩn người, chỉ thấy màn trướng được vén lên, Nam Cung Tĩnh lưng đeo trường kiếm, đội mũ quán giáp bước nhanh vào trong, nổi giận đùng đùng nói:
- Điện hạ, tướng sĩ tiền phương đang tắm máu chiến đấu, giờ không phải lúc hưởng thụ.
Mã Siêu sầm mặt xuống, y khoát tay, nhạc sĩ và đám vũ nữ đều lui cả ra, y lại quay đầu nói với cơ thiếp:
- Các ngươi cũng lui ra!
Hai mươi mấy cơ thiếp lần lượt đứng dậy, đi vòng ra hai bên, trong đại trướng chỉ còn lại Mã Siêu và Nam Cung Tĩnh, Mã Siêu nắm chuôi kiếm bên mình, lạnh lùng nói:
- Đây chính là lễ hạ thần của ngươi?
Nam Cung Tĩnh lúc này mới khom người thi lễ:
- Ty chức quá kích động, lời nói không đúng mực, xin Điện hạ thứ tội!
- Thôi, giờ không nói chuyện lễ nghĩa nữa, chiến sự ở tiền phương thế nào?
- Khởi bẩm Điện hạ, chúng ta bị bộ binh trọng giáp và kỵ binh của quân Hán chặn đường, số lượng quân địch ít nhất là hai ba vạn, ty chức dẫn quân chiến đấu kịch liệt với quân địch, nhưng bộ lạc Đô Dã đáng chết đã tự tiện chạy khỏi chiến trường, khiến cho các bộ lạc khác noi theo, ty chức đành phải rút quân lui về phía bắc ở huyện Cô Tang.
Mặc dù Nam Cung Tĩnh không nói thẳng, nhưng Mã Siêu vẫn hiểu ra, Nam Cung Tĩnh đã thất bại, y giận dữ, đập bàn quát hỏi:
- Chỗ các ngươi còn lại bao nhiêu quân?
Nam Cung Tĩnh căm hận đáp:
- Một khi giao chiến thất bại, các bộ lạc đều chỉ lo đến lợi ích của mình, nhao nhao chạy trốn, binh mã theo ty chức rút về huyện Cô Tang còn chưa tới một vạn, hiện do Đại tù trưởng Hưu Đồ thống soái, ty chức đến cầu viện Điện hạ.
- Ba vạn người chỉ còn lại một vạn, ngươi rất biết dẫn binh đấy!
Mã Siêu hận đến mức nghiến răng nghiến lợi, đôi mắt muốn phun ra lửa:
- Ngươi còn mặt mũi đến gặp ta?
- Đợi sau khi đánh bại quân Hán, ty chức tự sẽ nhận tội với Điện hạ, nhưng giờ huyện Cô Tang đang nguy cấp, mong Điện hạ đi cứu viện trước.
Mã Siêu chắp tay đi qua đi lại trong đại trướng, giờ tình hình quân địch không rõ thế nào, y không muốn tùy tiện đi cứu viện, nhưng huyện Cô Tang lại cực kỳ trọng yếu, là đại môn phía đông của Trương Dịch, Cô Tang bị quân địch chiếm lĩnh thì Trương Dịch cũng nguy hiểm, quân Hán sẽ xông thẳng tới dưới thành Trương Dịch, đây lại là khốn cảnh mà Mã Siêu không muốn đối mặt, khiến y vô cùng khó xử.
Đúng lúc này, một tên lính bẩm báo ở cửa đại trướng:
- Điện hạ, Cô Tang có chim ưng đưa thư tới!
Mã Siêu lập tức mừng rỡ, đúng là tới quá đúng lúc, y lập tức ra lệnh:
- Lấy thư cho ta!
Một tên lính bước vào trướng, dâng lên một cuộn thư, Mã Siêu cầm lấy mở ra xem, trên đó viết có khoảng hai vạn ba ngàn quân Hán đã tới huyện Cô Tang, bao vây bốn cửa của huyện thành, Cô Tang nguy cấp, khẩn cầu viện quân đến tiếp viện.
Mã Siêu trầm tư một lát bèn nói:
- Quân Hán vây thành mà không đánh, tất nhiên cũng là đang đợi viện quân ở quận Kim Thành, thời gian không chờ đợi ta, phải xông đến Cô Tang trước khi chủ lực quân Hán tới, đánh bại quân Hán vây thành, chúng ta nhất định phải nắm được cơ hội này.
Nam Cung Tĩnh mừng rỡ, lập tức khom người nói:
- Ty chức nguyện làm tiên phong!
Mã Siêu nghĩ một lát liền đáp:
- Cũng được, ta sẽ giao quân Quý Sương cho ngươi, ngươi hãy dẫn năm ngàn quân Quý Sương mau tới Cô Tang cứu viện, nhưng không được manh động, đợi ta dẫn quân chủ lực tới.
Nam Cung Tĩnh vốn là thủ lĩnh của năm ngàn quân Quý Sương, chỉ là vì y muốn đoạt lấy ngôi vị Đại tù trưởng của bộ lạc Nam Cung nên mới tạm thời giao đội kỵ binh Quý Sương này cho Mã Siêu, giờ Mã Siêu lại trả quân đội cho y, khiến y càng thêm tin tưởng, lập tức tuân lệnh:
- Ty chức xuất phát ngay!
Quý Sương là đại quốc ở phía tây Thông Lĩnh, lãnh thổ rộng vạn dặm, tên tuổi ngang hàng với các đế quốc như Hán triều, An Tây, La Mã, nó là đế quốc do người Đại Nguyệt Chi thành lập, đầu tiên người Đại Nguyệt Chi sinh sống ở hành lang Hà Tây, về sau di chuyển sang phía đông tới khu vực Trung Á, tách thành năm bộ lạc, trong đó bộ lạc Quý Sương dẫn trỗi dậy, không ngừng thâu tóm các bộ lạc nhỏ, cuối cùng xây dựng nên đế quốc kéo dài vạn dặm.
Bắc Hung Nô bị vương triều Hán đánh bại, di chuyển đến Trung Á lại bị đế quốc Quý Sương đánh bại, cuối cùng đành phải trốn sang châu Âu và cũng dấy lên sóng to gió lớn ở châu Âu, thay đổi hoàn toàn lịch sử nơi này.
Cho dù cuối đời Hán đại loạn, nước Quý Sương cũng không có ý định đông chinh, lần này Mã Siêu phái người chiêu mộ dũng sĩ ở Quý Sương đã khơi gợi hoài niệm của quốc vương Đô Lâm đối với hành lang Hà Tây quê hương cũ của người Nguyệt thị, vì thế mới phái năm ngàn quân hiệp trợ Mã Siêu chống lại nước Hán, đây cố nhiên là tình tiết quê hương của người Nguyệt thị, nhưng cũng che đậy dã tâm của người Quý Sương đối với Hà Tây.
Năm ngàn kỵ binh Quý Sương là quân trực thuộc của quốc vương Quý Sương Đô Lâm, là những binh lính tinh nhuệ trong hai mươi vạn quân Quý Sương, họ phần lớn có thân hình cao lớn, mặc hai tầng áo giáp da bó sát người, tay cầm trường mâu sắc bén, cưỡi một con tuấn mã Đại Uyên thuần thục.
Mỗi binh lính còn có một chiếc túi mâu, bên trong đựng mười cây đoản mâu rèn từ tinh thép, do người Quý Sương không có yên ngựa, cưỡi bắn trên lưng ngựa vô cùng khó khăn, vì thế kỵ binh không kết hợp với cung nỏ, mà dùng đoản mâu thép tinh dài bốn thước, quăng ra bằng lực cánh tay cách quân địch ba mươi bước thì lực sát thương cũng hết sức kinh người.
Quân Hán cũng đã học loại đoản mâu bằng tinh thép này của người Quý Sương nên trang bị ở một bộ phận kỵ binh, có lực sát thương rất lớn.
Tuy rằng kỵ binh Quý Sương chỉ có năm ngàn người, nhưng sức chiến đấu lại vô cùng mạnh mẽ, cũng chính vì có đội kỵ binh tinh nhuệ này mà Nam Cung Tĩnh mới tràn đầy lòng tin đi cứu viện.
Chỉ cần không gặp phải bộ binh trọng giáp của quân Hán, bất kỳ đội ngũ quân Hán còn lại y đều có thể đánh tan tành.
Nam Cung Tĩnh dẫn theo năm ngàn kỵ binh Quý Sương hăng hái lên đường, hai ngày sau chúng đã gần tới huyện Cô Tang, khi còn cách huyện thành hơn mười dặm, y ghìm chặt chiến mã, lệnh cho binh lính nghỉ ngơi tại chỗ, sau đó phái thám báo đi trước tìm hiểu tin tức.
Xung quanh huyện thành Cô Tang đều là đồng cỏ mênh mông, phía tây là núi cô Tang trắng xóa tuyết, cũng là một phần của núi Kỳ Liên, ánh mặt trời chiếu lên đỉnh núi đã bị bao phủ bởi băng tuyết trông rực rỡ chói mắt, ánh ra những tia kim quang rạng rỡ, núi Cô Tang còn được người Hung Nô gọi là ‘Thánh sơn’.
Khi binh lính đang nghỉ ngơi bên bờ một con sông nhỏ, phía xa bỗng vang lên tiếng vó ngựa dồn dập, Nam Cung Tĩnh vội vàng đứng lên, chỉ thấy thám báo y phái đi đang hối hả lao tới, đây nhất định là có quân tình, y lập tức ra lệnh:
- Toàn bộ lên ngựa!
Năm ngàn kỵ binh Quý Sương lần lượt xoay người lên ngựa, Nam Cung Tĩnh thúc ngựa tiến lên, cao giọng hỏi:
- Đã xảy ra chuyện gì?
- Khởi bẩm Tướng quân, chúng ta đã phát hiện ra tình hình quân địch, cách chúng ta mười dặm.
Chương 998: Đập tan Cô Tang.
Thám báo mà Nam Cung Tĩnh phái đi đã phát hiện một đội bộ binh trường mâu quân Hán có hơn một vạn người ở cách đó mười dặm, tin tức này khiến Nam Cung khá xao động, quân số người Hán không nhiều, vừa lúc để quân đội của gã đánh trận đầu tiên, đập tan quân Hán lập uy.
Mặc dù Mã Siêu bảo y đợi chủ lực đến, nhưng lúc này Nam Cung Tĩnh đã sốt ruột không thể chờ nổi, y lập tức dẫn năm ngàn kỵ binh lao về phía đông nam.
Lát sau, chúng chạy đến một bãi đất cao, phát hiện ra quân Hán cách đó mấy dặm, Nam Cung Tĩnh ngồi trên ngựa dõi mắt về phía quân Hán, quân Hán hình như cũng nhận ra bọn chúng nên đang chậm rãi rút quân, nhưng rút được ba dặm liền dừng lại, phía trước có một thảo nguyên, rõ ràng là muốn chiến với bọn chúng.
Nam Cung Tĩnh chậm rãi nheo mắt lại, quân Hán không đông, về cơ bản đều là bộ binh, dự đoán họ là viện quân phục kích nhưng lại bị thám báo của mình phát hiện, đây là một cơ hội của chúng.
Nam Cung Tĩnh cực kỳ tự phụ, dưới tay y là năm ngàn tinh kỵ đều là lão binh nhiều năm chinh chiến, kinh nghiệm chiến đấu phong phú, là quân tinh nhuệ của đế quốc Quý Sương, lần trước trong chiến dịch viễn chinh Thiên Trúc, chúng cũng tham gia, kết quả đã đánh bại năm vạn quân Thiên Trúc từ cánh sườn.
Chính vì nhiều lần đại thắng quân Thiên Trúc đã khiến cho quân đội này có chút kinh thường quân Hán, quân Hán có thể trang bị đầy đủ, nhưng họ không phải là dân tộc du mục, không mạnh về kỵ binh, cũng chỉ mạnh về quân đội người Khương, so với quân Quý Sương thì còn kém xa.
- Chuẩn bị tác chiến!
Nam Cung Tĩnh hét to một tiếng, năm ngàn quân Quý Sương giương cao trường mâu, động tác đều nhịp, thể hiện tố chất quân nhân cao siêu.
- Xếp hàng tiến lên!
‘Ù -- ’ tiếng kèn trầm thấp vang lên trên thảo nguyên, đây là mệnh lệnh xuất kích.
Quân Quý Sương chậm rãi hành quân, năm ngàn kỵ binh chia thành năm hàng, mỗi hàng một ngàn người, cách nhau hai trượng, như thể đều được đo đạc tỉ mỉ, mỗi người cầm thêm mười cây đoản mâu, mỗi cây nặng khoảng bảy cân, được rèn từ sắt luyện, phóng xa nhờ lực của cánh tay, có thể đâm xuyên quân địch ở khoảng cách ba mươi bước, đây là vũ khí lợi hại nhất của quân Quý Sương để đối phó với kỵ binh trọng giáp An Tức.
Kỵ binh bắt đầu chạy chậm, một tay cầm lá chắn, một tay giơ mâu, vẫn giữ đội ngũ chỉnh tề, đoản mâu sắc nhọn trong tay lấp lánh ánh sáng dưới ánh mặt trời.
Đội quân Hán mà quân Quý Sương gặp phải này là bộ binh trường mâu cánh tả do Đại tướng Trương Nhậm chỉ huy, quân đội của Trương Nhậm bố trí ở cửa bắc của huyện Cô Tang, nghe tin có viện quân tới, y chủ động xin đi chặn đường.
Đội quân mà Trương Nhậm chỉ huy ban đầu là quân Ích Châu của Lưu Chương, binh lính đa phần tới từ Ba Thục, đã theo Lưu Cảnh nhiều năm xuất chinh tác chiến, tương tự cũng có kinh nghiệm chiến đấu phong phú, đặc biệt họ đã tham gia vào cuộc chiến ở Hán Trung và Lũng Tây, có kinh nghiệm nhất định khi đối phó với kỵ binh.
Quân Hán trang bị nỏ sừng, cự lý sát thương xa trăm bước, khuyết điểm duy nhất chính là lên dây cung chậm, trong vòng một trăm bước nhiều nhất chỉ có thể bắn được hai lần, về bù đắp cho nhược điểm này, mỗi quân Hán lại được trang bị thêm một bộ cung tiễn, thích hợp bắn ở cự ly ngắn, tiếp đó là đao, mâu và lá chắn, trang bị vô cùng đầy đủ.
Nhưng lần này họ không mang theo cung tiễn, mang quá nhiều trang bị sẽ khiến họ hành quân bất tiện, nhưng họ lại mang theo vũ khí bí mật hùng mạnh nhất của quân Hán.
Cho dù đây là lần đầu tiên Trương Nhậm tác chiến với quân Quý Sương, nhưng kinh nghiệm chiến đấu phong phú giúp y nhìn cái là nhận ra ưu thế và điểm yếu của quân Quý Sương.
Huấn luyện nghiêm chỉnh thì không cần nói nhiều, có thể duy trì được đội ngũ chỉnh tề trong khi chạy thì ngay cả kỵ binh người Khương cũng không làm được, rõ ràng bọn chúng phối hợp chỉnh thể vô cùng thành thục, chỉ nhìn từ điểm này đã thấy đây chính là một đối thủ mạnh.
Tiếp đó bọn chúng không có cung tiễn, phía sau mỗi người đều có nhiều cây đoản mâu, ngoài đoản mâu còn có một thanh trường mâu, từ đó có thể suy đoán, đoản mâu là vũ khí dùng để ném của chúng, cự ly của đoản mâu không bằng cung tiễn, điểm này quân Hán chiếm ưu thế hơn một chút.
Chiến mã của quân Quý Sương dường như rất cao lớn, khỏe mạnh, lợi hại hơn nhiều so với chiến mã của người Hung Nô, thậm chí còn nhanh hơn một bậc so với chiến mã của quân Hán.
Nhưng nhược điểm của chúng cũng rất rõ ràng, đó là áo giáp, đều là áp giáp da bó sát người, loại này không đỡ nổi tên nỏ của quân Hán, nhưng hình như chúng cũng biết được khuyết điểm này nên mỗi người lại có một tấm chắn lớn, tuy nhiên kể cả có nó thì cũng không ngăn được mũi tên sắc nhọn của quân Hán.
Trong Lòng Trương Nhậm đã có phương án chống địch, y lập tức hạ lệnh:
- Bày trận nỏ trăng khuyết!
Quân kỳ của quân Hán phấp phới, bắt đầu nhanh chóng điều chỉnh trận hình, điều chỉnh thành ở giữa nặng hai đầu nhẹ, hơi mang quân trận hình trăng lưỡi liềm, ở giữa là năm hàng, hai bên là hai hàng, như vậy có thể bảo đảm độ dày lớn nhất của cung tiễn, còn binh lính quân Hán ở hai hàng đầu thì cầm lá chắn lớn trong tay, đây là để phòng ngự mũi mâu sắc bén của người Quý Sương.
Quân Hán cũng chậm rãi tiến lên phía trước, tay cầm tên nỏ dừng lại ở một bãi đất cao, duy trì trận hình chặt chẽ, hai quân càng lúc càng gần, tiếng hò hét đan xen vào nhau, tiếng kèn, tiếng trống vang lên ầm ầm, cổ vũ sĩ khí của binh lính các bên.
Hai trăm bước… một trăm năm mươi bước… một trăm hai mươi bước, đã bước vào phạm vi sát thương của cung tiễn quân Hán, kỵ binh Quý Sương giơ tấm chắn lên, nhưng Trương Nhậm không hạ lệnh bắn tên, ánh mắt y sắc bén nhìn chằm chằm vào lá chắn của người Quý Sương, như thể nhìn thấu những lá chắn bằng gỗ đó, khi cách một trăm hai mươi bước những tấm chắn này có thể chống đỡ được cung tên của quân Hán, nhưng tiến vào tám mươi bước thì chưa chắc.
Tất cả quân Hán nín thở, bày trận sẵn sàng đón địch.
Chín mươi bước rồi, Trương Nhậm vẫn chưa hạ lệnh, lòng bàn tay của rất nhiều quân Hán đều đẫm mồ hôi, đây là điều mà nhiều năm tác chiến đến nay chưa bao giờ có, chín mươi bước vẫn chưa bắn tên.
Lúc này, kỵ binh Quý Sương đột nhiên tăng tốc, khoảng cách giữa đội hình bắt đầu kéo rộng ra, nhưng đội ngũ vẫn chỉnh tề, đây là kinh nghiệm phong phú của kỵ binh Quý Sương, ở thời điểm cuối cùng sẽ giãn khoảng cách, như thế diện tích sát thương của cung tiễn quân Hán sẽ nhỏ đi.
Chiến mã phi nhanh, kỵ binh la hét ùn ùn kéo về phía quân Hán, bảy mươi bước, chiến đao của Trương Nhậm vung lên, hét lớn một tiếng:
- Bắn ngang!
Ba mũi tên của hàng đầu tiên bắn ngang ra, đây là ưu thế của bảy mươi bước, không cần bắn theo đường vòng cung, trực tiếp bắn ngang, mũi tên như kình vũ, gào thét bắn về đám kỵ binh Quý Sương.
Mũi tên mạnh mẽ đã bắn thủng lá chắn của kỵ binh Quý Sương, bắn thủng áo giáp da, cắm thẳng vào cơ thể, chiến mã ngã sấp xuống đất, kỵ binh kêu la thảm thiết ngã xuống khỏi ngựa, chỉ trong nháy mắt người ngã ngựa đổ, gần năm trăm người bị bắn ngã, hình thế tấn công của kỵ binh Quý Sương bị áp chế.
Ngay sau đó, sáu ngàn mũi tên của vòng thứ hai, vòng thứ ba cũng được bắn ra, trong bảy mươi bước, năm ngàn quân Quý Sương đã tổn thất hơn một ngàn người, mặc dù chiến mã của kỵ binh Quý Sương phi nhanh, nhưng một hàng kỵ binh ở phía trước dường như đã bị bắn gục toàn bộ, khiến cho khoảng cách của kỵ binh Quý Sương với quân Hán không kéo gần, vẫn là bảy mươi bước.
Lúc này, quân Hán bắn xong vòng thứ nhất đã lên dây, lại một lần nữa giơ nỏ lên, mũi tên bắnh ra như mưa, ba ngàn mũi tên ùn ùn kéo về phía kỵ binh Quý Sương.
Ba ngàn binh lính của hàng thứ hai cũng lên dây cung xong, giơ nỏ bắn, họ không cần nhắm trúng, chỉ nhắm chuẩn phương hướng, binh lính ở hàng thứ ba cũng giơ cung tiễn lên.
Bắn tên, lên dây, lắp tên, giơ nỏ, động tác của các binh lính cực kỳ lưu loát, liền một mạch, trong thời gian rất ngắn, họ đã bắn được hai vòng với hai vạn mũi tên.
Trong khi đó kỵ binh Quý Sương đã tổn thất hơn một ngàn tám trăm người, các binh lính còn lại đã giết đỏ cả mắt, giơ đao gào thét, thúc ngựa chạy gấp.
Hơn ba ngàn kỵ binh Quý Sương đội cơn mưa mũi tên dày đặc xếp thành hàng lao tới, tốc độ càng lúc càng nhanh, tiếng vó ngựa giống như sấm đánh, khí thế như sóng to gió lớn, phá hủy tất cả, tan tác tất cả, vọt mạnh về phía binh lính quân Hán đang phòng ngự dày đặc với khí thế mạnh mẽ không thể chống đỡ.
Lúc này tiếng trống vang lên dồn dập trong quân Hán, trận hình nỏ trăng khuyết của quân Hán bỗng tản ra, trước khi đoản mâu của quân Quý Sương chưa phóng ra, họ nhanh chóng kéo sang hai bên, như thể một đội đại ưng hình chữ bát ngược quay về phía bắc.
Binh lính quân Hán chạy như bay, đại quân rút đi như thủy triều, phía sau họ xuất hiện phong nỏ mộc ngư dày đặc, đây là một ngàn phong nỏ, mũi tên lạnh lùng nhắm trúng vào kỵ binh Quý Sương đang lao nhanh tới.
Biến trận của quân Hán khiến Nam Cung Tĩnh trở tay không kịp, y vốn thấy hai hàng đầu tiên của quân Hán cầm tấm chắn lớn trong tay, hình như là để chống lại đoản mâu của chúng, khiến gã mừng thầm trong lòng, đoản mâu của người Quý Sương vô cùng sắc bén, sức mạnh lớn mạnh, không có bất kỳ tấm chắn nào có thể ngăn cản được, trong khi đó trận thế của quân Hán dày đặc, vừa hay để phi mâu của chúng giết hại như mưa.
Nhưng quân Hán bỗng nhiên biến trận khi còn cách năm mươi bước, Nam Cung tĩnh đã không kịp điều chỉnh, đành gào to:
- Phóng mâu!
Không cần y hạ lệnh, kỵ binh Quý Sương đã vung tay ném mạnh từ lâu, hàng ngàn đoản mâu đan xen vào nhau như cơn mưa dày hạt, bay múa trong không trung, thanh thế kinh người, mặc dù đại đa số kỵ binh đều quăng mâu cách năm mươi bước, nhưng có chiến mã trợ lực nên hầu hết đoản mâu vẫn bắn vào trận địa của quân Hán.
Bộ phận quân Hán cuối cùng không kịp rút đi, đoản mâu mạnh mẽ và sắc bén cắm xuyên vào áo giáp của họ, hơn hai trăm binh lính quân Hán kêu thảm ngã xuống đất, đoản mâu đâm xuyên qua thân thể họ, đóng đinh họ ngay tại trận.
Đúng lúc này, phong nỏ cũng bắn ra, chỉ nghe thấy những tiếng răng rắc, ba vạn mũi tên bắn khỏi dây cung, gào thét bay về phía đám kỵ binh đang lao nhanh tới.
Hơn một ngàn kỵ binh Quý Sương phía trước thấy mộc ngư chặn đường, đều ghìm chặt chiến mã, chúng lại bị những mũi tên kia làm cho sợ ngây người.
Nhưng cự ly của phong nỏ khá xa, chúng vượt qua hơn ngàn kỵ binh phía trước mà bắn vào đám kỵ binh Quý Sương ở đằng sau, ùn ùn kéo đến như một mảng mây đen kịt.
Mũi tên như cuồng phong bão táp bắn vào trong đám kỵ binh, kỵ binh Quý Sương đang chạy giơ tấm chắn phòng ngự cũng chẳng ăn thua gì, bị những mũi tên này chuyên thủng đầu và thân thể, tiếng kêu rên thảm thiết vang lên, máu tươi văng khắp nơi, máu thịt tung tóe, tiếp theo đó là ba vạn mũi tên vòng thứ hai ào ào bắn ra, chỉ hai đợt tấn công mà kỵ binh Quý Sương đã bị đại bại.
Loại vũ khí mạnh mẽ này khiến Nam Cung Tĩnh khiếp sợ, y quay đầu ngựa chạy trốn, hơn một ngày kỵ binh thuộc hạ của y cũng sợ tới mức hồn bay phách lạc, theo chủ tướng quay đầu chạy về phía sau.
Lúc này, phong nỏ phát uy lần nữa, lại là ba vạn mũi tên bắn ra dày đặc về phía kỵ binh Quý Sương đang chạy trốn, Nam Cung Tĩnh chạy đầu tiên, nhưng y không chạy qua được mưa tên đang gào thét tới, chỉ thấy sau lưng ớn lạnh, mấy mũi tên cắm vào người y, y chỉ nghe thấy những tiếng kêu thảm đằng sau, mắt y tối sầm, ngã khỏi chiến mã.
Đây là lần đầu tiên đế quốc Quý Sương giao chiến với quân Hán, cũng là lần thất bại thảm hại nhất của chúng từ khi dựng nước đến nay, năm ngàn kỵ binh tinh nhuệ đã bị bắn chết hơn bốn ngàn tám trăm người chỉ sau một lần tấn công, gần như toàn quân bị diệt, chỉ có chưa đến trăm người thoát được trận tàn sát này.
Tin tức truyền đến nước Quý Sương, khiến cho quân thần nước này kinh hồn bạt vía, tình kết cố hương của quốc vương Đô Lâm bị xé nát tan tành, từ đó, bọn chúng không bao giờ có ý nghĩ nhòm ngó Trung Nguyên nữa.
Mấy năm sau, quốc vương Quý Sương là Tử Tô Lai Mạn tới Trung Nguyên triều kiến, khi đi qua chiến trường này, ông còn tìm được một cây đoản mâu của quân Quý Sương đã hoen gỉ, khiến ông nước mắt lưng tròng.
Chương 999: Thu phục Võ Uy.
Một canh giờ sau, Triệu Vân dẫn chư tướng chạy tới phía tây bắc huyện Cô Tang đang chiến đấu kịch liệt, lúc này quân Hán về cơ bản đã dọn dẹp xong chiến trường, nghe nói Chủ tướng Triệu Vân tới, Trương Nhậm vội tới chào.
Triệu Vân cười tủm tỉm hỏi:
- Nghe nói kẻ địch trong trận chiến này rất đặc biệt, không phải người Khương, mà là người Quý Sương, phải vậy không?
- Đúng vậy! Năm ngàn kỵ binh Quý Sương được trang bị đầy đủ, nhưng chúng cũng không chống lại được phong nỏ của quân Hán, phong nỏ đúng là đại sát khí để đối phó với kỵ binh!
- Còn lợi hại hơn bộ binh trọng giáp sao?
Lưu Hổ bên cạnh có chút ấm ức bèn hỏi.
- Đương nhiên không thể so sánh với bộ binh trọng giáp!
Trương Nhậm khẽ mỉm cười, nói tiếp:
- Tuy nhiên nếu quân địch có phong nỏ thì e rằng bộ binh trọng giáp cũng gặp tai ương.
Lời nói ẩn ý đó có nghĩa là, bộ binh trọng giáp cũng không chống lại được đòn tấn công của phong nỏ, Lưu Hổ đỏ bừng mặt, thực ra y cũng đã từng thực nghiệm, ngoài trăm bước, mũi tên của phong nỏ có thể bắn thủng áo giáp dày của bộ binh trọng giáp, nghe nói quân Tào cũng đã có phong nỏ, khiến Lưu Hổ càng thêm suy nghĩ.
Hiện giờ Trương Nhậm lại nhắc đến nỗi đau của y, y sắp muốn nổ tung, Triệu Vân lại chuyển chủ đề khác:
- Họ có trang bị tốt thế nào, để ta xem!
- Đô đốc mời đi theo ty chức!
Trương Nhậm xoay người di, khiến Lưu Hổ không trút được cơn giận, y đành hậm hực hừ một tiếng, cùng với mọi người đi theo Trương Nhậm.
Trương Nhậm dẫn mọi người đi tới bãi đất cao, ở đây chất đống các chiến lợi dọn dẹp từ chiến trường, cạnh con sông nhỏ cách đấy không xa, gần ba ngàn chiến mã đang lặng lẽ uống nước ăn cỏ bên bờ sông, chúng đã hoàn toàn bình tĩnh lại sau cuộc chiến kịch liệt tanh mùi máu.
Triệu Vân liếc nhìn chiến mã ở phía xa, kinh ngạc bởi vẻ hùng tráng của chúng, Trương Nhậm cười nói:
- Chúng đều là ngựa Đại Uyên, mặc dù phần lớn là trung bình, nhưng cũng vô cùng cường tráng, vượt cả chiến mã của đại đa số kỵ binh chúng ta, kỵ binh chúng ta thật có phúc.
Triệu Vân mỉm cười, ánh mắt lại hướng về phía đống binh khí trước mắt, y tiện tay nhặt một cây trường mâu lên, nhìn qua trường mâu, xét về cán mâu hay là lưỡi nhọn đều không được làm tinh xảo như trường mâu của quân Hán, tuy nhiên chất thép của lưỡi nhọn đặc biệt tốt, cực kỳ cứng và sắc, vượt hơn một bậc so với trường mâu quân Hán.
- Đô đốc xem thanh kiếm này!
Trương Nhậm nhặt một thanh kiếm lên đưa cho Triệu Vân, cười nói:
- Bọn chúng không đeo đao, đều đeo kiếm hết, tuy nhiên kiếm của chúng quả thực không tệ.
Triệu Vân cầm kiếm, chậm rãi rút ra khỏi vỏ đao, chỉ thấy trường kiếm phát ra hàn khí rùng mình, sắc bén lạ thường, cũng dùng tinh thép giống như trường mâu, y gật đầu, nói với mọi người:
- Ta đã nghe Hán Vương điện hạ nói, người Quý Sương có một loại tinh thép cực kỳ tốt, không thua gì chất sắt ở Trảm Mã Đao của chúng ta, kiếm và mâu của chúng chính là dùng loại tinh thép này, quả không tệ.
Lưu Hổ lập tức có chút lo lắng liền nói:
- Ta nghe nói Mã Siêu đã mua rất nhiều vũ khí từ Quý Sương, liệu người Khương có trang bị trường mâu và chiến kiếm như thế này không?
Triệu Vân cười lắc đầu:
- Hán Vương điện hạ nói sản lượng của loại tinh thép này cũng không lớn, nước Quý Sương nghiêm cấm bán ra ngoài, kể cả quân đội của chúng, cũng chỉ có quân trực thuộc tinh nhuệ nhất của quốc vương mới được trang bị vũ khí tinh thép này.
Trương Nhậm kinh ngạc cười nói:
- Nói thế, đội kỵ binh Quý Sương bị toàn diệt hôm nay là quân tinh nhuệ của chúng.
- Ngươi tự thấy thế à?
Triệu Vân cười hỏi vặn lại.
Trương Nhậm thở dài:
- Quả thật như thế, quân đội này được huấn luyện nghiêm chỉnh, kinh nghiệm phong phú, kỵ binh khi chạy vẫn thẳng hàng, có thể gọi là quân tinh nhuệ, chỉ đáng tiếc chúng gặp phải phong nỏ của chúng ta, nếu không hai quân chiến đấu kịch liệt, chúng ta sẽ thương vong thê thảm, còn chưa chắc đã đánh bại được đối phương.
Đang nói thì từ xa có một gã thám báo phi nhanh đến, chạy tới trước mặt mọi người, ghìm chặt chiến mã nói:
- Khởi bẩm Đô đốc, bọn tại hạ đã phát hiện ra chủ lực của quân Tây Lương, khoảng hơn hai vạn người đang đi tới quận Võ Uy, giờ cách chúng ta năm mươi dặm, chủ tướng chính là Mã Siêu.
Triệu Vân mừng rỡ, Mã Siêu rốt cuộc đã xuôi nam rồi, y lập tức hạ lệnh:
- Truyền lệnh của ta, quân đội chuẩn bị nghênh chiến.
Triệu Vân một lòng muốn toàn diệt chủ lực của Mã Siêu ở quận Võ Uy, nhưng y đã quên mất một chuyện, kỵ binh Quý Sương vẫn có hơn một trăm người chạy thoát khỏi chiến trường, lúc này Mã Siêu đã nhận được bẩm báo của mười mấy kỵ binh Quý Sương, biết tin toàn quân của Nam Cung Tĩnh đã bị tiêu diệt.
Điều này khiến Mã Siêu lập tức cảnh giác, đương nhiên y biết kỵ binh Quý Sương đã gặp phải phong nỏ của quân Hán, đó là tên nỏ dũng mãnh nhất, kỵ binh Quý Sương bởi vậy thảm bại cũng không có gì lạ.
Nhưng Mã Siêu lại nghĩ đến phương diện khác, phong nỏ của quân Hán từ trước đến nay đều đi theo chủ lực, tuyệt đối không do quân tiên phong mang theo, vậy thì hơn hai vạn quân ở bên ngoài Cô Tang nhất định là chủ lực của quân Hán, hẳn là quân đội của Triệu Vân, như thế chắc chắn không chỉ có hai vạn người.
Mã Siêu bỗng nhiên ý thức được, rất có khả năng y đã trúng kế, quân Hán chỉ dùng hai vạn người bao vây huyện Cô Tang mà không công đánh huyện thành, chính là để dụ chúng tới cứu viện, một khi rơi vao vòng vây của quân Hán, e là bọn chúng không có cách nào quay về Trương Dịch được.
Lúc này, Mã Siêu đột nhiên nghĩ đến một chuyện, lập tức hỏi:
- Phía bộ lạc Hưu Đồ có tin gì không?
Một gã tướng lĩnh tiến lên đáp:
- Không có tin tức gì!
Mã Siêu trước khi xuất phát đã phái một đội quân nhỏ tới bộ lạc Hưu Đồ thúc đòi dê bò, theo tính toán kể cả dê bò nhất thời chưa về kịp thì cũng có bộ hạ về trước bẩm báo, nhưng giờ vẫn chưa có chút tin tức gì, điều này hết sức kỳ lạ.
Nếu là thường ngày, Mã Siêu sẽ nghĩ có lẽ đã xảy ra chuyện gì đó, cũng không bận tâm lắm, nhưng giờ ông ta giữ vai trò chủ đạo, lập tức hiểu được, đây nhất định là quân Hán đã giấu chủ lực ở huyện Hưu Đồ, chuẩn bị cắt đường lui của mình.
Càng nghĩ thì khả năng này càng lớn, Mã Siêu lập tức thấy khẩn trương, cũng không màng tới huyện Cô Tang giải vây nữa mà ra lệnh:
- Toàn quân rút lui! Quay lại Trương Dịch.
Hai vạn kỵ binh người Khương quay đầu chiến mã trở về Trương Dịch, Mã Siêu không cứu viện huyện Cô Tang nữa mà phi về phía bắc với tốc độ nhanh nhất, trong lúc này, Vương Bình dẫn ba vạn quân Hán đang lao nhanh về phía nam, nhưng cuối cùng gã vẫn chậm một bước, khi gã dẫn quân tới Cô Tang, Mã Siêu đã dẫn hai vạn chủ lực rời đi trước một bước, khiến kế hoạch chặt đứt đường lui kẻ thù của quân Hán bị thất bại.
Năm vạn đại quân lập tức bao vây huyện Cô Tang, lúc này, Hưu Đồ Hồn vẫn không biết kỵ binh Quý Sương bị toàn diệt, cũng không biết Mã Siêu đã vứt bỏ quận Võ Uy, gã đã nhận được thư chim ưng rằng Mã Siêu xuất binh cứu viện nên khổ sở chờ đợi viện quân đến.
Lúc canh bốn, một đội kỵ binh quân Hán mười mấy người đã tiến sát tới cửa bắc huyện Cô Tang, họ ném lại một bao tải trước cửa thành rồi phi đi, thủ quân trên thành bị kinh động, thò hết đầu ra xem động tĩnh bên ngoài thành, lát sau, mấy binh lính người Khương theo thang treo xuống dưới thành, tìm được chiếc bao tải mà quân Hán vứt lại, bên trong hình như có một người.
Bọn chúng khiêng bao tải lên thành, có người vội đi bẩm báo Hưu Đồ Hồn, lát sau, Hưu Đồ Hồn vội vàng chạy lên thành:
- Trong bao là ai?
Gã vội hỏi.
Bọn lính đều tản ra, Hưu Đồ Hồn bước lên, chỉ thấy túi đã được cởi ra, để lộ cái đầu của một người đàn ông, gã giơ đuốc lên chiếu sáng vào mặt người này bỗng lập tức thất kinh, đây là xác của Nam Cung Tĩnh, chân gã mềm nhũn, ngồi ngây người xuống đất, miệng lẩm bẩm một mình:
- Sao lại thế này? Đây là chuyện gì vậy?
Nam Cung Tĩnh lại chết rồi, y đã bị giết chết trên đường xin cứu viện, hay là vong trận khi dẫn viện quân xuôi nam? Hưu Đồ Hồn thấy hỗn loạn trong lòng, gã không biết đã xảy ra chuyện gì? Lại càng không biết mình nên làm gì bây giờ?
Đúng lúc này, binh lính lại hô lên:
- Tù trưởng, dưới thành có biến!
Gã vội vàng đi tới trước lỗ châu mai, thò đầu nhìn xuống dưới, chỉ thấy dưới thành là một đám lão nhân đều cầm đuốc trong tay, mặc phục trang của người Khương, Hưu Đồ Hồn cao giọng hỏi:
- Các ngươi là ai?
- Tù trưởng, là chúng ta, ta là Ô Ly Biệt Tư!
Ô Ly Biệt Tư là trưởng lão của bộ lạc Hưu Đồ, Hưu Đồ Hồn lập tức kinh ngạc, vội hỏi:
- Sao ông lại ở đây?
- Tù trưởng, bộ lạc đã xảy ra chuyện, để bọn ta vào thành.
Hưu Đồ Hồn kinh hồn bạt vía, vội vã hạ lệnh:
- Mau mở cửa thành ra!
Cửa thành mở ra, một đám lão nhân tiến vào thành, họ quỳ xuống khóc lớn, Hưu Đồ Hồn sốt ruột giậm chân:
- Đừng khóc nữa, mau nói cho ta biết bộ lạc đã xảy ra chuyện gì?
Ô Lý Biệt Tư khóc kêu lên:
- Tù trưởng, bộ lạc xong rồi, tất cả mọi người ở bộ lạc đều bị quân Hán bắt làm tù binh, dê bò cũng không còn.
Hưu Đồ Hồn hệt như bị một thùng nước đá dội xuống, mãi không nói nên lời, bộc lạc của gã đã bị quân Hán tập kích, bọn chúng xong đời rồi.
Lúc này, mấy ngàn binh lính bộ lạc Hưu Đồ nghe tin kéo tới, chúng nghe nói thê nhi cha mẹ mình bị quân Hán bắt làm tù binh thì đều sốt ruột kêu gào, mấy trăm người chạy đến quỳ trước mặt Hưu Đồ Hồn, khóc lóc cầu khẩn:
- Tù trưởng, nhà và thê nhi của chúng ta đều bị bắt đi, chúng ta còn đánh cái gì, đầu hàng!
Hưu Đồ Hồn lau nước mắt, lại hỏi Ô Lý Biệt Tư:
- Đại thúc, thúc có tin gì của quân đội Mã Siêu không?
- Nghe nói toàn quân Quý Sương đã chết trận cả, Mã Siêu trốn về Trương Dịch, sẽ không quay lại nữa.
Hưu Đồ Hồn thở dài một tiếng, quay đầu hỏi mười mấy tướng lĩnh ở bộ lạc Nam Cung:
- Ý các ngươi thì sao?
Mười mấy tướng lĩnh đều khóc không ra tiếng:
- Bọn tại hạ cũng không muốn chiến nữa, tất cả do Tù trưởng quyết định!
Hưu Chư Đồ cởi áo ra, dặn dò thuộc hạ:
- Trói ta lại, chúng ta mở thành đầu hàng!
Thành Cô Tang chậm rãi mở ra, bám ngàn quân Khương trong thành dưới sự chỉ huy của Hưu Đồ Hồn đã ra khỏi thành đầu hàng quân Hán, lần này, Triệu Vân không tử tế với tù binh nữa, y nhốt Hưu Đồ Hồn và tất cả tướng lĩnh từ Thiên phu trưởng trở lên vào xe tù, lệnh cho người áp giải chúng về Trường An, đây là học được kinh nghiệm từ việc sắp xếp cho người Ô Hoàn, không có tù trưởng và quý tộc, bộ lạc cũng tự tiêu vong, không chỉ bộ lạc Hưu Đồ như vậy, mà các bộ lạc khác cũng xử lý tương tự.
Cùng với việc huyện Cô Tang bị quân Hán chiếm lĩnh, có nghĩa là quận Võ Uy đã được thu phục, quân Hán nghỉ ngơi mười hôm, sau đó Triệu Vân dẫn bốn vạn đại quân trùng điệp tiến quân về quận Trương Dịch, mở màn cho cuộc quyết chiến với Mã Siêu.
Chương 1000: Tin tức khoa cử.
Trường An giai đoạn này dần trở nên náo nhiệt, không phải vì chiến dịch Hợp Phì chấm dứt, vật giá dần hạ xuống, cũng không phải do binh lính được khen thưởng hậu hĩnh, binh lính và gia quyến có nhiều vàng trong túi, sức mua tăng mạnh.
Nguyên nhân thật sự là vì đợt khoa cử công khai lần thứ hai của nước Hán sắp được tổ chức vào tháng tám, sau ba tháng nữa, từ nay về sau sẽ được tổ chức mỗi năm một lần, gọi là tih hương, tin tức nhanh chóng truyền khắp thiên hạ, khiến cho những thư sinh trong thiên hạ đều vui sướng nhảy nhót, bắc đến Liêu Đông, nam tới Giao Châu, tây tới Đôn Hoàng, đám sĩ tử đều hướng tới cơ hội được đăng đường làm trạng nguyên lần này.
Ví dụ sinh động còn ở đó, những sĩ tử trúng tuyển trong khoa cử ở Tương Dương giờ kém nhất cũng là Huyện lệnh, thậm chí còn có người đã được thăng làm Thái thú, đây là tấm gương cho tất cả sĩ tử, khiến cho các thư sinh trong thiên hạ đều sôi trào nhiệt huyết.
Sau khi tin tức công bố được mười ngày, bắt đầu đã có sĩ tử lục đục kéo đến Trường An, họ đều là những sĩ tử cách Trường An tương đối gần, như Lũng Tây, Quan Trung, Hán Trung, Ba Thục… Họ hướng về Trường An nên đã tới đây từ sớm.
Tất cả mọi người đều biết, Trường An tập trung những đại Nho giỏi nhất, trường học tốt nhất, thậm chí quan to của nước Hán cũng đều tập trung ở đây, nếu như có thể trở thành môn sinh của một vị quan to nào đó, có thể họ sẽ có tên trong bảng vàng.
Ôm đủ các loại mộng tưởng, đám sĩ tử từ khắp nơi ùn ùn kéo đến, chật kín các quán trọ và cửa hiệu ở Trường An, hoặc là nương nhờ vào họ hàng bạn bè, vào ở các nhà dân của Trường An, chỉ trong có mấy ngày đã có gần hai vạn sĩ tử tràn vào thành Trường An.
Công việc buôn bán của các tửu quán ở Trường An càng thêm hưng thịnh, rất nhiều tửu quán chuyên lập ra hẳn sĩ tử lầu, tách hẳn một tầng lầu hoặc một tòa tửu lầu chuyên dùng cho các sĩ tử, mỗi ngày khách đến chật kín cửa, kinh doanh cực kỳ phát đạt.
Lý do đám sĩ tử thích tụ tập ở tửu quán rất đơn giản, vì ở đây có thể nghe được rất nhiều tin tức, đủ thể loại, trong các tin tức thật thật giả giả ấy có thể tìm được tin tức có lợi cho mình.
Ví như đã từng xảy ra một câu chuyện cười, mấy sĩ tử ở Chương Huyện Lũng Tây ở tửu quán nghe nói năm nay quan chủ khảo là đồng hương Trương Liêm giữ chức Lại bộ tả thừa, mấy tên đó liền bàn bạc kiếm tiền mua tơ lụa thượng đẳng tới bái kiến đồng hương, ấp a ấp úng bày tỏ hy vọng Trương Liêm sẽ chiếu cố cho chúng trong kì thi.
Kết quả bị Trương Liêm tống cổ ra ngoài cả người cả vật, cuối cùng bọn chúng mới biết, quan chủ khảo thường trước kì thi mười ngày mới được chỉ định, tin tức bọn chúng nghe được trong tửu quán là giả.
Mặc dù như thế, đám sĩ tử vẫn đổ xô vào các tửu quán lớn, từ một khía cạnh nào đó cũng đã thể hiện ra khát vọng thi đậu của họ.
Trưa hôm nay, trong tửu quán Tam Ba ở ngoài thành đông Trường An, hàng trăm sĩ tử tập trung ở lầu hai, ba hoa khoác lác, ồn nào náo động, la hét ầm ĩ, ở một góc của tửu quán có một văn sĩ trung niên đang ngồi đó thản nhiên lắng nghe đám sĩ tử bàn luận.
Văn sĩ trung niên này chính là sứ giả Trần Quần mà Tào Tháo phái đi, Trần Quần đã không biết mình đến Trường An lần thứ mấy nữa rồi, lần này y tới để bàn bạc với Lưu Cảnh về hôn kỳ cưới gả Tào Hiến, đúng lúc Lưu Cảnh đi Hán Trung chưa về, y đành phải chờ mấy ngày.
Trần Quần gánh vác một nhiệm vụ khác mà Tào Phi giao cho y là bảo y khảo sát khoa cử của nước Hán, Tào Phi cũng định bắt chước nước Hán, mùa xuân sang năm cũng cử hành ‘thi xuân’ ở Nghiệp Đô để thu hút nhân tài trong thiên hạ tới.
Trong đại đường ầm ĩ náo nhiệt, mấy tên sĩ tử đang tranh luận phạm vi đề thi của năm nay, chỉ nghe có người lớn tiếng hô:
- Các ngươi quên chứ ta không quên, đề thi trong kì thi ở Tương Dương lần trước lấy Pháp gia làm chủ, đây là tư tưởng của Hán Vương, trên như thế thì người bên dưới sao có thể không theo, đề thi năm nay nhất định cũng lấy Pháp gia, mọi người mau đi tìm để học cho thuộc đi.
Mọi người xung quanh vỗ tay rào rào, một sĩ tử trẻ đối diện với Trần Quần bĩu môi, luôn miệng cười nhạt:
- Ngay cả người ngu xuẩn thế này cũng tới tham gia khoa cử, chả trách có nhiều người chạy tới Trương An như vậy.
Trần Quần tò mò cười hỏi:
- Vị tiểu hữu này hình như không tán thành lắm luận điểm của Pháp gia.
Sĩ tử trẻ tuổi chắp tay đáp:
- Hán Vương từ trước đến giờ lấy Pháp gia làm gân cốt, Nho gia làm da thịt, Đạo gia làm tinh huyết, tam gia đều coi trọng, tuyệt đối không nghiêng về bên nào, lần trước đề thi lấy Pháp gia làm chủ là vì dân phong ở Ích Châu và Kinh Châu tản mạn, dân không sợ pháp, bất lợi cho quan phủ cait rị, cho nên Hán Vương quyết định tăng cường pháp độ ở hai nơi này, thực thi pháp hình nghiêm nặng, chính trong hoàn cảnh này, khoa cử ở Tương Dương mới chịu ảnh hưởng của Pháp gia, lấy Pháp gia làm đề tài, lúc này thế này, lúc kia thế khác, giờ vẫn lấy Pháp gia làm chủ thì chẳng phải là mò trăng đáy biển sao!
Trần Quần cười ha hả:
- Tiểu hữu nói có lý, không biết tiểu hữu cho rằng đề thi năm nay sẽ thiên về bên nào?
Sĩ tử trẻ tuổi hãnh diện cười nói:
- Cá nhân ta cho rằng sẽ lấy Nho và Đạo gia làm chủ.
- Sao lại cho là như thế?
Trần Quần càng thêm kinh ngạc, cười hỏi.
- Lý do rất đơn giản, hai quân Hán Tào vừa trải qua đại chiến ở Hợp Phì, nguyên khí đều đại thương, nước Hán vì thế quyết định liên minh hai năm với Tào Tháo, thực ra là muốn dùng hai năm này để nghỉ ngơi lấy lại sức, khôi phục kinh tế, đương nhiên cần vô vi mà trị, đây chính là tư tưởng của Đạo gia, cũng là yêu cầu bức thiết nhất của Hán Vương đối với quan phủ các nơi hiện giờ, không được nhiễu dân, để nhân dân nghỉ ngơi khôi phục nguyên khí.
Trần Quần gật đầu:
- Nói rất có lý, vậy tại sao còn có Nho gia nữa?
Sĩ tử trẻ tuổi cười đắc ý, hạ giọng nói:
- Mắt thấy thiên hạ sắp thống nhất, Hán Vương đương nhiên phải làm chút điệu bộ để các sĩ tộc Trung Nguyên nhìn vào, để bọn họ cảm thấy nước Hán cũng tôn Nho, khoa cử chẳng phải là cách tuyên truyền tốt nhất sao?
Trần Quần bỗng nhiên tỉnh ngộ, vui vẻ cười nói:
- Tiểu hữu nói rất có lý, ta xin thụ giáo, không biết tôn tính đại danh của tiểu hữu, là người nơi nào?
Sĩ tử trẻ tuổi đứng dậy chắp tay nói:
- Ta là Khương Duy ở Lũng Tây, năm nay cũng tham gia khoa cử.
Trần Quần vui vẻ cười nói:
- Hóa ra là Khương công tử, ta chúc Khương công tử năm nay thi đỗ!
…
Sáng hôm sau, Lưu Cảnh thị sát từ Hán Trung trở về, quay lại Trường An, lúc này Lưu Cảnh đã được biết chiến báo thu phục được Võ Uy, cho dù đây là tin tức đáng ăn mừng, nhưng đối với Lưu Cảnh mà nói, chuyện này nằm trong dự liệu của hắn, Mã Siêu mặc dù dã tâm bừng bừng, nhưng người Khương mà y dựa vào kém xa Hung Nô, không có sức chiến đấu quá lớn, diệt vong là chuyện sớm muộn.
Chỉ là Lưu Cảnh có chút tiếc nuối, Mã Siêu cuối cùng không trở thành trọng thần biên cương mà mình đã nể trọng, mà lại phản bội mình, đây cũng là Đại tướng đầu tiên phản bội mình kể từ khi Lưu Cảnh hắn khởi binh ở Sài Tang đến nay, hắn cũng hy vọng đó sẽ là người cuối cùng.
Lưu Cảnh vừa mới trở về phủ đệ, liền có thị vệ đến bẩm báo:
- Sứ giả của Tào Tháo là Trần Quần ở ngoài phủ cầu kiến!
Điều này khiến Lưu Cảnh hơi sững người, sao Trần Quần lại tới đúng lúc thế, mình vừa mới trở về phủ, y đã tới cửa bái kiến, lẽ nào y đã tới từ sớm rồi?
Lưu Cảnh không kịp nghĩ kĩ, lập tức hạ lệnh:
- Dẫn y tới quý khách đường chờ một lát.
Lưu Cảnh đứng dậy định đi tới quý khách đường thì lúc này thê tử Đào Trạm bước vào thư phòng, thay chiếc áo khoác cho hắn, hé miệng cười nói:
- Đoán sứ giả tới bàn chuyện cưới gả, cô nương Tào gia có lẽ sắp vào gia môn rồi.
Lưu Cảnh thật ra cũng đã nghĩ đến, cách đây không lâu từng nói chuyện với thê tử, liên hôn giữa Lưu Tào sẽ tiếp tục, Đào Trạm bởi vậy phái người đi tặng một chiếc váy dài, giờ sứ giả của Tào Tháo tới, không đến Bình Chương Đài bái kiến mà lại đến phủ đệ của mình, đương nhiên là vì chuyện liên hôn.
- Con gái của Tào gia muốn vào cửa, hiền thê lại có thể thản nhiên đón nhận như thế sao?
Lưu Cảnh đùa giỡn hỏi.
Đào Trạm thở dài, bất đắc dĩ nói:
- Như thân phận của phu quân, muốn cưới một ngàn cô gái dễ như trở bàn tay, lễ chế còn quy định phu quân phải cưới hai mươi tư vợ, thiếp cần gì phải làm kẻ ác, hơn nữa cô nương Tào thị thiếp cũng đã gặp qua, con người không tệ, hiền lành biết lễ, lại xinh đẹp, thiếp cũng rất thích, ngoài ra thiếp nghe nói, phụ thân của nàng chuẩn bị tìm vị hôn phu khác cho nàng, nhưng nàng lại kiên quyết không chịu, chứng tỏ người ta rất si tình với chàng, chuyện này không thể kéo dài năm này qua năm khác nữa, người ta cũng không đợi nổi đâu!
Lưu Cảnh gật đầu:
- Si tình cũng không đến nỗi, nhưng cô ta rất thông minh, cô ta biết cuộc hôn nhân này rất quan trọng với Tào gia, vì thế cô ta một mực muốn chia sẻ ưu phiền thay phụ thân, không tiếc hy sinh bản thân mình, đúng là một cô con gái tốt.
- Chàng đừng đem người ta ra nói thậm tệ như thế, nỗi lòng của phụ nữ, chàng không hiểu đâu.
Lưu Cảnh cười ha hả, xoay người đi ra nhà ngoài, Đào Trạm thấy phu quân đi liền hơi nhíu mày lại, nếu xác định ngày cưới, thời gian cũng sắp rồi, họ cũng cần phải chuẩn bị, đặc b iệt là chỗ ở cho Tào Hiến, Đào Trạm nghĩ một lát thấy lầu Minh Nguyệt tương đối thích hợp, nàng phải bảo người dọn dẹp một chút, Đào Trạm đã tính toán trong lòng những vật phẩm cần thiết, bước nhanh tới lầu Minh Nguyệt.
Trần Quần ngồi trong quý khách đường kiên nhẫn chờ đợi, chậm rãi uống trà, lúc này truyền đến tiếng bước chân từ bên ngoài, thị nữ ở bên cạnh khẽ nhắc y:
- Tiên sinh, điện hạ tới rồi.
Trần Quần đứng lên, chỉ thấy Hán Vương Lưu Cảnh bước nhanh lên bậc thềm, y vội nghênh đón và thi lễ:
- Vi thần tham kiến Hán Vương điện hạ.
- Trần Trung thừa, chúng ta lại gặp nhau rồi.
Lưu Cảnh mỉm cười nói.
Trần Quần lập tức nhớ lại chuyện lúc ban đầu Lưu Cảnh hy vọng y dốc sức cho nước Hán, trong lòng y có chút thấp thỏm không yên, lần này Lưu Cảnh có khuyên mình ở lại nữa hay không, mặc dù trong lòng bất an nhưng Trần Quân vẫn khắc chế được nội tâm mình, cung kính nói:
- Vi thần phụng ủy thác của Ngụy công, tới bàn bạc với Hán Vương điện hạ chuyện liên hôn đã thương định trước đây.
Y lại lấy ra một bức thư, dâng lên Lưu Cảnh:
- Đây là thư tay Ngụy công viết cho điện hạ, mời điện hạ xem qua.
Lưu Cảnh gật đầu:
- Chuyện này đã kéo dài hai năm rồi, quả thực không thể dây dưa nữa, Trung thừa mời ngồi!
Lưu Cảnh mời Trần Quần ngồi xuống, lệnh cho thị nữ dâng trà, hắn xem thư của Tào Tháo, trong thư nói rất khách khí, hy vọng hai nhà nhanh chóng liên hôn, con gái dần lớn rồi, không nên kéo dài nữa, vẫn mong sớm ngày thành hôn vân vân.
Trong thư chính là hỳ vọng tha thiết của phụ thân đối với việc con gái xuất giá, không hề bàn đến những chuyện khác, thực ra đây là một động thái để Tào Tháo thể hiện làm dịu mối quan hệ, Lưu Cảnh gập thư lại, cười hỏi:
- Sức khỏe Ngụy công thế nào?
- Sức khỏe của Ngụy công vẫn tốt, chỉ có điều tuổi đã cao, không thể so với trước đây, thể lực và tinh lực đều thua xa lúc trước, chính vụ quân sự cũng về cơ bản đã giao cho Thế tử.
- Quân sự chính vụ?
Lưu Cảnh cười hỏi:
- Ngay cả quân quyền cũng đã giao cho Thế tử rồi sao?
Trần Quần có chút lúng túng, một lúc sau mới nói:
- Chuyện này ta không tiện trả lời, xin điện hạ lượng thứ.
- Ha ha! Ta chỉ là thuận miệng hỏi thôi, đừng để trong lòng.
Lúc này, Trần Quần liền quay về chủ đề chính:
- Điện hạ, liên quan đến chuyện liên hôn, quy trình trước đây về cơ bản đã hoàn thành, hôm nay ta tới chính là để bàn bạc chuyện này, thực ra chi tiết cưới hỏi cũng đều đã từng thảo luận, ý của Ngụy Công là không cần thây đổi nữa, cứ làm theo phương án bàn bạc trước đây, giờ then chốt là xin thời gian, cũng là nhiệm vụ đi sứ của ta lần này, mong Hán Vương điện hạ có thể xác định thời gian cưới cụ thể.
Lưu Cảnh trầm ngâm một lát:
- Thực ra chuyện này nên tới nói với Bình Chương Đài, Trần Trung thừa không nền trực tiếp tới tìm ta, dù sao đây không phải là chuyện của cá nhân ta, hơn nữa mấy lần trước đều do Bình Chương Đài ra mặt.
Trần Quần vội vàng nói:
- Ta đã nói chuyện với Bình Chương Đài, ý của mấy vị Thượng thư là đều hy vọng có thể sớm cưới vợ, nhưng thời gian cụ thể còn phải do điện hạ quyết định, hơn nữa Ngụy Công cũng mong muốn chuyện này vừa công vừa tư, tốt nhất nên xem thái độ của Vương phi.
Lưu Cảnh gật đầu, căn dặn thị nữ dưới điện:
- Đi mời Vương phi tới đây!
Chương 1001.1: Đại chiến giữa Triệu - Mã.
Không lâu sau, Hán Vương phi Đào Trạm cùng đi với mấy thị nữ, bước vào quý khách đường, Trần Quần vội đứng dậy làm lễ:
- Tham kiến Vương phi!
- Trần sứ quân không cần đa lễ, mời ngồi!
Đào Trạm mời Trần Quần ngồi xuống, bản thân nàng ngồi cạnh Lưu Cảnh, lúc này, Trần Quần cười nói:
- Ngụy công cảm tạ món quà mà Vương phi đã tặng cho Hiến cô nương, ngoài ra, Hiến cô nương cũng có quà đáp lễ đem tặng, vi thần đã mang tới, ở bên ngoài phủ.
Lưu Cảnh cười nói;
- Ta muốn xem một chút, Trung thừa có tiện không?
Trần Quần vội đi ra ngoài, bảo thuộc hạ mang vật phẩm vào, hai gã tùy tùng đặt một chiếc hộp sơn mạ vàng xuống rồi lui đi, Trần Quần mở hộp ra, bên trong là một chiếc váy, lúc này hai thị nữ đã đặt chiếc hộp trước mặt Đào Trạm, nàng từ từ nhấc chiếc váy dài lên, chỉ thấy nó được làm đặc biệt tinh xảo, tuy nhiên chất vải cũng là dùng sợ đay nhỏ dệt thành, bên trên không có đồ trang sức.
Trần Quần cười nói:
- Đây là do Hiến cô nương mất ba ngày tự tay may nên, hy vọng Vương phi sẽ thích nó.
Đào Trạm hiểu thâm ý của chiếc váy dài này, hơi mỉm cười đáp:
- Xin Trần sứ quân hãy nói với Hiến cô nương, ta rất thích, cảm tạ tâm ý của nàng.
- Vi thần nhất định chuyển lời.
Trần Quần lại nói với Lưu Cảnh:
- Ý của Ngụy công là hy vọng tháng sau cưới vợ, không biết Điện hạ có tán thành thời gian này hay không?
Lưu Cảnh liếc nhìn Đào Trạm, Đào Trạm gật đầu, mặc dù thời gian hơi gấp gáp, nhưng nàng khẩn trương một chút chắc là sẽ kịp, Lưu Cảnh liền vui vẻ cười nói:
- Vậy sẽ định vào trung tuần tháng sau, ta sẽ phái Tư Mã Thượng thư tới Nghiệp Đô đón con gái của Ngụy công.
Trần Quần mừng rỡ, thi lễ thật sâu:
- Đa tạ Điện hạ nhận lời, hy vọng lần này hai nhà có thể kết duyên Tần Tấn.
Lưu Cảnh thản nhiên cười:
- Ta nghĩ sẽ không có bất trắc gì nữa đâu.
Ở Trương Dịch Hà Tây, năm vạn quân Hán sau mười ngày nghỉ ngơi chỉnh đốn, Triệu Vân lệnh cho Đại tướng Ngô Lan dẫn sáu ngàn quân trấn thủ huyện Cô Tang, còn y đích thân dẫn bốn vạn năm ngàn đại quân tiến về Trương Dịch, quân Hán trên đường thế như chẻ tre, các bộ lạc người Khương ven đường đều trông thấy uy phong đó đã đầu hàng.
Ba ngày sau, quân Hán dần tới thành Trương Dịch, lúc này Mã Siêu cũng điều binh khiển tướng, điều ba vạn quân Khương ở quận Tửu Tuyền tới Trương Dịch, tập trung năm vạn đại quân, Mã Siêu tự biết giữ thành là điểm yếu của quân Khương, một khi quân Hán công phá thành trì, quân Khương sẽ không có sức chống đỡ.
Chỉ có dùng ưu thế của kỵ binh để quyết chiến trên thảo nguyên, chúng mới có thể có tia hy vọng, cho dù như thế, Mã Siêu cũng biết, ngoài hai vạn quân trực thuộc của mình ra, ba vạn quân còn lại về cơ bản đều là dân du mục gom góp tạm thời, chưa được huấn luyện nhiều, sĩ khí suy yếu, căn bản phải là đối thủ của quân Hán huấn luyện nghiêm chỉnh, một khi hai quân kịch chiến, e rằng bọn chúng chỉ có hai mươi phần trăm thắng lợi.
Mà lúc này, Mã Siêu nghe được tin, huynh đệ của y là Mã Đại đã dẫn sáu ngàn quân Hán ra khỏi Đôn Hoàng, lao thẳng tới quận Tửu Tuyền, Tửu Tuyền đã không còn quân đội, quân của Mã Đại quét ngang qua Tửu Tuyền, các bộ lạc người Khương đều nhốn nháo đầu hàng, tình hình vô cùng bất lợi với y, Mã Siêu đành giấu diếm tin Tửu Tuyền bị chiếm đóng, chỉ sợ lòng quân sẽ sanh biến.
Nhưng chuyện tốt không ra khỏi cửa, chuyện xấu truyền đi ngàn dặm, Mã Siêu tìm trăm phương ngàn kế giấu diếm tin tức, nhưng tin Tửu Tuyền bị chiếm đóng vẫn truyền đi trong quân, lòng người nhất thời bàng hoàng, lòng quân dao động, khiến Mã Siêu vô cùng hoang mang.
Đúng lúc này, Triệu Vân đích thân dẫn bốn vạn năm ngàn quân giết tới quận Trương Dịch, chỉ cách thành Trương dịch mười dặm nữa, khiến cho quân Khương cực kỳ sợ hãi, trong tình cảnh loạn trong giặc ngoài, Mã Siêu quyết định được ăn cả ngã về không, y hạ lệnh cho năm vạn quân nghênh chiến quân Hán, dùng một trận chiến để quyết định vận mệnh của Hà Tây và chính bản thân mình.
Bên ngoài phía nam thành Trương Dịch cách đó năm dặm, hai đội quân bày đại trận trong đồng cỏ bao la, ‘Ù--’ một tiếng kèn trầm thấp vang vọng trên thảo nguyên, kình phong thổi lất phất đồng cỏ, chiến kỳ tung bay trong gió, hai bên trường mâu như rừng, chiến kỳ như biển, đại trận dài dằng dặc kéo dài tới hơn mười dặm.
Quân Khương là kỵ binh mặc cùng một màu, hai vạn quân trực thuộc của Mã Siêu trở thành trung quân, bọn họ được trang bị hoàn hảo, người mặc áo giáp da hai tầng ngay ngắn, tay cầm trường mâu sắc bén, thắt lưng đeo chiến đao, còn ba vạn quân Khương từ Tửu Tuyền đến chia thành hàng ở hai bên, trở thành hai cánh tả hữu, bảo vệ trung quân, trang bị của bọn họ rõ ràng kém hơn quân trực thuộc của Mã Siêu, giáp da thô ráp, vũ khí đơn nhất, hoặc là trường mâu, hoặc là chiến đao, rất nhiều binh sĩ còn không có cả mũ giáp, chỉ quấn đầu bằng vải trắng.
So với quân Khương, trang bị của quân Hán lại cực kỳ chỉnh tề, không chỉ mỗi binh lính đều có trường mâu, cung tiễn, khiên tròn và chiến đao, hơn nữa mũ giáp chắc chắn, trên áo giáp da có điểm xuyết những miếng vẩy sắt, hơn nữa quân chủng đa dạng, có bộ binh trường mâu, có quân cung nỏ, có kỵ binh cung nỏ, có bộ binh trọng giáp, còn có tám ngàn kỵ binh tinh nhuệ, sĩ khí dâng cao, lòng quân một mực muốn chiến đấu.
Không xét về trang bị, sĩ khí, huấn luyện và kinh nghiệm của quân Hán cũng vượt xa đối thủ, bất cứ Đại tướng nào cũng có thể nhìn ra, đây là một chiến dịch không cân bằng, trừ khi xảy ra kỳ tích, nếu không quân Khương chắc chắn thất bại.
Dưới soái kỳ, Từ Thứ thì thầm cười nói với Triệu Vân:
- Đô đốc thấy chưa, hai cánh của quân địch là yếu điểm của chúng, chúng ta có thể dùng kế sách điền kỵ tái mã, lấy thượng mã đối phó với trung mã của chúng, trung mã đối phó với hạ mã, hạ mã đối phó với thượng mã, như vậy, quân ta chắc chắn thắng lợi.
Triệu Vân khẽ cười đáp:
- Quân sư hãy nói cụ thể hơn!
- Rất đơn giản, ta đề nghị dùng hai vạn quân trường mâu đối phó với trung quân của chúng, dùng bộ binh trọng giáp đánh cánh tả, kỵ binh đánh cánh hữu, ngoài ra kỵ binh cung nỏ tập trung đối phó cánh hữu, đánh tan tác hai cánh tả hữu trước, trung quân của Mã Siêu cũng sẽ khó chống cự.
Triệu Vân trầm tư chốc lát nói:
- Nhưng phải dùng kỵ binh bảo vệ hai cánh của bộ binh trọng giáp, bọn họ không nên tách ra.
Lưu Hổ ở bên cạnh cười tiếp lời:
- Lần này chúng ta không cần dùng kỵ binh bảo vệ, ta sẽ áp dụng đại trận thùng tròn để đối chiến với quân địch, chúng ta sẽ không có nhược điểm.
Triệu Vân gật đầu:
- Đã vậy, cứ thực thi theo chiến lược của Quân sư.
Triệu Vân vừa dứt lời, binh lính hai bên lập tức hô to, chỉ thấy Mã Siêu đơn thương độc mã lao ra khỏi quân trận, chạy thẳng tới trước trận, lớn tiếng quát:
- Triệu Vân muốn quyết một trận tử chiến với ta không?
Mã Siêu lại muốn một mình đấu với Triệu Vân, Bàng Thống vội la lên:
- Đô đốc không được, đây là Mã Siêu tự biết thực lực không đủ, liền dùng hạ sách này, bức chủ soái xuất chiến, một khi chủ soái bị thương, sẽ ảnh hưởng tới sĩ khí lòng quân.
Triệu Vân cười nhạt một tiếng:
- Lúc Triệu Tử Long ta tung hoành thiên hạ, còn không biết Mã Siêu đang ở đâu? Quân sư chớ khinh thường ta.
Lưu Hổ lạnh lùng nói:
- Để ty chức đánh một trận với y!
Triệu Vân lắc đầu:
- Ngươi không phải là đối thủ của y, để cho ta!
Triệu Vân thúc chiến mã, chiến mã phi nhanh ra, chiến mã của Triệu Vân tên là ‘Tuyết lý hồng anh’, là giống ngựa Đại Uyên cực phẩm, toàn thân trắng như tuyết, duy chỉ có một bờm đỏ trên đỉnh đầu, chiến mã cao lớn cường tráng, sức chạy mạnh mẽ, tốc độ cực nhanh, không thua gì ngựa Xích Thố trước đây, vốn là chiến mã được Thiền Vu Hô Trù Tuyền của Hung Nô yêu quý nhất, Tân Thiền Vu Đạt Man đã dùng nó làm lễ vật tặng cho Lưu Cảnh, Lưu Cảnh lại tặng cho Triệu Vân, Triệu Vân cực kỳ yêu thích, lần này đặc biệt cưỡi nó xuất chinh Hà Tây.
Chương 1001.2: Đại chiến giữa Triệu - Mã.
Triệu Vân giáp bạc, nón bạc, chiến bào màu đen, truy phong thương ngân long trong tay dài một trượng tám thước, uy phong không kém trước đây, còn Mã Siêu giáp vàng nón vàng, người mặc chiến bào thập gấm, cưỡi Xích Huyết Mã, tay cầm một Bàn long kim thương, mặc dù đã gần bốn mươi nhưng vẫn khí khái kinh người.
Hai người đều là mãnh tướng nổi tiếng thiên hạ, nhưng chưa bao giờ có cơ hội giao đấu, lần này hai bên đều là chủ tướng, đáng nhẽ cũng không nên đích thân xuất chiến, nhưng Mã Siêu biết rõ quân đội của mình yếu kém, chỉ có dùng hiểm kế, một mình đánh bại Triệu Vân, có lẽ bọn họ còn có một tia hy vọng giành chiến thắng.
Triệu Vân vung ngân thương lên, lạnh lùng nói:
- Hán Vương Điện hạ tín nhiệm ngươi như thế, để ngươi trấn thủ Hà Tây, ngươi lại phản bội Điện hạ, cấu kết Tây Nhung, thâu tóm lãnh thổ Đại Hán ta, khiến tổ tiên ngươi bị sỉ nhục, ngươi còn có mặc mũi nào đứng giữa trời đất, nếu ta là ngươi, đã tự vẫn tạ tội từ lâu, ngươi lại không biết nhục, còn dám ngông cuồng khiên chiến quân Hán, hôm nay đã đến lúc ngươi phải chết!
Mã Siêu bị chửi đỏ bừng cả mặt, hét lớn một tiếng, dựng thương đâm tới, tốc độ của thương này nhanh như chớp, loáng cái đã đâm đến trước cổ họng Triệu Vân, Triệu Vân không chút hoang mang, hơi nghiêng người, trở tay đâm một thương vào ngực trái của Mã Siêu, thương này nhìn tưởng chậm nhưng lại lao nhanh, mũi thương đã cách áo giáp chỉ còn một tấc.
Mã Siêu lấy đuôi thương đẩy ra, một cánh tay quét ngang, mũi thương đập xuống đầu Triệu Vân, sức mạnh cực lớn, tiếng gió như sấm dậy, nếu bị đập trúng, xương đầu chắc chắn sẽ dập nát, Triệu Vân dựng thẳng cán thương chắn ở bên, chỉ nghe thấy tiếng vang ‘keng’ một cái rất lớn, hai người đều tê dại cánh tay, chiến mã lùi lại sau mấy bước liên tục.
Mã Siêu cười to:
- Không hổ là Thường Sơn Triệu Tử Long, quả nhiên lợi hại, hãy ăn thêm một thương nữa!
Trường thương của y như sét đánh, chọc thẳng vào ngực Triệu Vân, Triệu Vân chỉ cười nhạt, đâm ngang trường thương, thương này nhìn thì bình thản nhưng lại ẩn chứa sức mạnh cực lớn, như thể hút hết sức mạnh xung quanh vào trên mũi thương của mình, Mã Siêu biết lợi hại, không dám tiến công nữa, thu thương chọc nhẹ, sức mạnh vô cùng khéo léo, phá vỡ thương ngưng trọng như núi lớn này của Triệu Vân.
Hai người đan xen chiến mã, xoay người đồng thời thu mã thương về, mũi thương chạm vào nhau, ánh lửa văng khắp nơi, hai người đồng thời hét lớn, chấn hưng tinh thần đại chiến cùng nhau, sát khí khiến trời đất u ám, một người như Thương long ra biển, một người là Kim mãng đẩy mây, rất khó phân thắng bại.
Hai người đều là mãnh tướng kiệt xuất thiên hạ, lần đại chiến này khiến tướng sĩ hai quân say mê xem, quên mất cả những tiếng ủng hộ.
Hai người chiến đấu kịch liệt hơn một trăm hiệp vẫn bất phân thắng bại, tuy nhiên thể lực của Mã Siêu có vẻ không thể chống đỡ tiếp, hai năm nay y say mê dục vọng, cả ngày đắm chìm trong rượu ngon và gái đẹp, sức khỏe đã không còn được như trước, ngược lại, Triệu Vân mặc dù lớn hơn mấy tuổi nhưng nghiêm khắc rèn luyện bản thân, không bao giờ uống rượu, càng không phóng tủng bản thân, hàng ngày đều dậy sớm tập luyện cưỡi ngựa bắn cung, đồng cam cộng khổ cùng binh lính nên thân hình vẫn hùng tráng như xưa.
Chiến đấu ác liệt hơn một trăm hiệp, Triệu Vân lại càng chiến càng hăng, sức mạnh như không hề suy giảm, cho dù y cũng cảm giác được sức mạnh của Mã Siêu đang dần biến mất, nhưng y không dám khinh thường, đề phòng Mã Siêu cố tình giả vờ yếu thế, y càng phấn chấn tinh thần đại chiến với Mã Siêu.
Trong lòng Mã Siêu biết rõ, âm thầm kêu khổ, thầm nhủ ‘chẳng lẽ thanh danh của Mã Mạnh Khởi ta lại thua trong tay Triệu Vân’
Y không cam lòng, dồn hết tinh thần chiến đấu kịch liệt với Triệu Vân, hai người lại đánh hơn ba mươi hiệp, Mã Siêu không cầm cự được nữa, y tìm sơ hở, một thương đâm về phía ngực của Triệu Vân, tốc độ cực nhanh, chỉ cần Triệu Vân đón đỡ thương này của mình, y sẽ có cơ hội rút ngựa chạy trốn.
Không ngờ Triệu Vân sớm nhìn ra y đã kiệt sức, thương này mặc dù tốc độ nhanh, nhưng sức mạnh lại không lớn, Triệu Vân rút đao bằng tay trái, vung kiếm đánh lại mũi thương của Mã Siêu, tay phải câm thương chọc vào bụng dưới của Mã Siêu.
Mã Siêu lập tức thấy bất ổn, định thu thương về thì đã muộn, ‘keng một tiếng, chiến đao của Triệu Vân bổ vào mũi thương của Mã Siêu, tay phải cầm thương không chút chậm trễ đâm thẳng vào bụng dưới của Mã Siêu, Mã Siêu nghiêng người theo bản năng, tránh được bụng dưới, trường thương của Triệu Vân lại đâm ‘phụt’ cái vào sườn trái của Mã Siêu, mũi thương dài một thước đâm vào người y.
Mã Siêu quát to một tiếng, trường mâu đập mạnh vào đầu Triệu Vân, Triệu Vân rút trường thương ra, chặn đỡ đòn cuối cùng này, lúc này trước mắt Mã Siêu biến thành màu đen, quay đầu ngựa chạy trốn, Triệu Vân thúc ngựa chạy gấp, nhanh chóng truy đuổi, chỉ cần bổ một thương vào sau lưng là sẽ khiến Mã Siêu ngã ngựa, nhưng Triệu Vân lại do dự một lúc, thu trường thương về.
- Ngươi đi đi! Triệu Tử Long ta không bao giờ đả thương người sau lưng, cũng sẽ không vì ngươi mà hủy hoại thanh danh của ta.
Mã Siêu giữ chặt vết thương, nhịn đau chạy về đại trận, hô lớn:
- Toàn quân xuất kích!
Trống trận gõ vang, năm vạn kỵ binh quân Khương lao nhanh ra, như sóng to gió lớn xông về phía đại trận của quân Hán, thảo nguyên bị bao trùm bởi đám kỵ binh ùn ùn kéo đến.
Lúc này sĩ khí của quân Hán vang dội, bộ binh trọng giáp càng nóng lòng muốn thử, Triệu Vân không vội để bộ binh trọng giáp nghênh chiến, y chỉ trường thương:
- Quân cung nỏ dàn trận!
Bảy ngàn cung nỏ quân nhanh chóng bước lên, xếp hàng dàn trận, trường cung cài tên, bốn ngàn chiếc quân nỏ được giơ lên, lạnh lùng nhắm thẳng về phía kỵ binh quân Khương đang ùn ùn kéo đến.
Ở sau lưng cung nỏ quân, một ngàn phong nỏ cũng được chuẩn bị xong, một màn kịch lớn giết chóc sắp được mở ra.
Cuộc phản loạn ở Hà Tây xảy ra vào tháng năm năm Kiến An thứ hai mươi hai nhất định là một bi kịch, Triệu Vân dẫn bốn vạn năm nghìn đại quân xông vào Trương Dịch, mở ra cuộc quyết chiến cuối cùng với năm vạn quân Khương dưới thành Trương Dịch.
Kết cục không ngoài dự đoán của mọi người, quân Hán chỉ cần một canh giờ đã đánh bại được năm vạn quân Khương, sự thất bại và bỏ chạy của hai cánh quân Khương ở Tửu Tuyền đã làm cho toàn tuyến quân Khương tan tác, quân Hán truy sát theo sau, đuổi tận hơn ba mươi dặm, xác quân Khương chất khắp cánh đồng, người đầu hàng nhiều vô số kể, Mã Siêu bị trọng thương, dẫn theo hơn ngàn thân binh trốn vào Đại Đấu Bạt Cốc, chạy tới Hà Hoàng.
Trận chiến này đã toàn diệt được chủ lực của quân Khương, tất cả tù trưởng quý tộc đều thương vong hầu như không còn, người Khương ở Hà Tây từ nay về sau đã bị tổn thương nguyên khí nặng nề, không còn muốn phân chia tự lập nữa, ào ào thần phục nước Hán, nhập tịch làm con dân nước Hán.
Do thanh niên trai tráng trong các bộ lạc đã chết thê thảm trong chiến tranh, rất nhiều bộ lạc bởi vậy đã biến mất, dân du mục đều chuyển sang dựa vào quan phủ, không ít dân du mục chuyển sang nông canh định cư, Hà Tây dần trở thành xã hội nửa chăn nuôi nửa canh tác, nước Hán lập tức thiết lập trại chăn nuôi ở Hà Tây, chuyên thả ngựa nuôi dê bò, cung cấp cho vùng Trung Nguyên.
Chương 1002: Bình định Hà Tây.
Mã Siêu dẫn hơn một ngàn tàn quân tháo chạy trong Đại Đấu Bạt Cốc, chạy một mạch hơn trăm dặm mới dừng lại, lúc này, vết thương của Mã Siêu rất nặng, không thể cưỡi ngựa nữa, các thân binh tìm được một chỗ nghỉ ngơi để băng bó trị thương cho chủ soái.
Lúc này Mã Siêu đã biết Đại Đấu Bạt Cốc bị Bàng Đức dẫn quân cắt đứt, chỗ y tạm thời nghỉ ngơi nằm trên một ngọn núi, bốn phía đã bị quân Hán bao vây kín, bọn họ căn bản không thể phá vây, tuy nhiên Mã Siêu còn ôm một tia hy vọng, mong Bàng Đức tha cho mình một lần, để bọn họ có thể chạy tới Thanh Hải.
Y bảo một gã thân binh mang bội kiếm của mình tới gặp Bàng Đức xin tha, Bàng Đức chỉ cách chỗ Mã Siêu trị thương hai dặm, y lệnh cho Phó tướng Lãnh Bao dẫn quân bao vây Mã Siêu, chứ mình không chịu lộ diện.
Trong một đại trướng, Bàng Đức ngồi bên đống lửa trầm ngâm không nói, cho dù giờ là tháng năm, nhưng khí hậu trong Đại Đấu Bạt Cốc thay đổi đa dạng, tuyết rơi giữa hè cũng không phải hiếm thấy, lúc này đã tới hoàng hôn, không khí khá lạnh, phải đốt lửa sưởi ấm.
Bàng Đức có tâm sự nặng nề, y luôn là người trọng tình trọng nghĩa, Mã Siêu là chủ cũ của y, ngày xưa hậu đãi với y, coi y là phụ tá đắc lực, đặc biệt Mã Đằng còn có ơn nuôi dưỡng y, khiến y khó có thể quên tình cũ.
Thế nhưng Hán Vương lại tín nhiệm y, cho y trấn giữ Đại Đấu Bạt Cốt then chốt, đây rõ ràng là sự tín nhiệm lớn nhất và cũng là sự thử thách với y, y không thể phản bội Hán Vương, phản bội tín nghĩa, hơn nữa, kể cả y thả Mã Siêu đi thì các tướng sĩ thuộc hạ của y cũng chưa chắc đã đồng ý.
Điều này làm cho Bàng Đức thấy rối rắm trong lòng, khó mà quyết định, y cũng thầm hối hận, sớm biết thế này y đã không chủ động xin nhận nhiệm vụ này, đặt mình ngoài sự việc, có lẽ y sẽ không đau khổ như vậy.
Lúc này, một gã thân binh bẩm báo ngoài trướng:
- Khởi bẩm Tướng quân, Mã Siêu phái người đến cầu kiến.
Bàng Đức muốn nói không gặp, nhưng do dự một chút, lại gật đầu:
- Để gã vào đi!
Trong chốc lát, một tên lính được dẫn vào đại trướng, tên lính quỳ xuống, giơ cao bảo kiểm, khóc không ra tiếng:
- Vương gia nhà ta thân chịu trọng thương, khẩn cầu Tướng quân nể tình cảm ngày xưa, cứu ngài một mạng!
Bảo kiếm trong tay tên lính chính là do Bàng Đức tặng Mã Siêu trước đây, thấy vật nhớ tình, Bàng Đức lại động lòng, nhưng tên lính lại gọi Mã Siêu là Vương gia, lập tức khiến Bàng Đức giận tím mặt, tình cũ vừa mới dấy lên trong lòng bỗng mất tăm mất tích, y nổi giận nói:
- Câm miệng cho ta! Ở đây không có Vương gia gì cả, cút ra ngoài!
Tên lính tự biết lỡ lời, liều mạng dập đầu nói:
- Là tiểu nhân nói bừa, Mã Tướng quân từ lâu đã không dám xưng vương, Tướng quân bớt giận!
Bàng Đức nuốt giận trong lòng, chậm rãi nói:
- Có nhân tất có quả, ông ta rơi vào bước đường hôm nay, hoàn toàn là do bản thân ông ta tự chuốc lấy, Hán Vương điện hạ ân đãi ông ta, nhưng ông ta lại không nghĩ tới báo ân, ngược lại còn phản bội, ông ta đi đến bước này là đã chủ định kết cục ngày hôm nay, ta sẽ không cứu ông ta, ông ta đã là đại trượng phu thì nên gánh vác tất cả hậu quả, ngươi chuyển lời với ông ta, ta là người trọng nghĩa, cũng là tướng trung thành, nếu ông ta còn có chút lương tâm, đừng có kéo ta bất nghĩa nữa.
Tên lính liên tục cầu xin, Bàng Đức kiên quyết không đồng ý, lúc này, y đã tỉnh táo lại, nếu hôm nay y thả Mã Siêu, nếu Mã Siêu không những không báo ân, trái lại sẽ hãm hại mình tới bước bất trung bất nghĩa, tâm tư vốn có chút dao động của y cũng trở nên kiên định.
Tên lính thấy Bàng Đức kiên quyết không chịu đồng ý, đành rưng rưng cáo từ, Bàng Đức gọi gã lại, sai người lấy một ít thuốc trị thương, và đưa một cái lều vải cho gã, bảo gã mang về cho Mã Siêu, tên lính cảm ơn rối rít rồi rời đi.
Đêm xuống, nhiệt độ giảm mạnh, trong cốc tuyết rơi như lông ngỗng, binh lính quân Hán không chịu được rét lạnh, đều phải đốt đống lửa chống rét, đỉnh núi cũng bị tuyết lớn bao trùm, bao vây Mã Siêu và thuộc hạ của y trên núi.
Lúc này, lương thực của Mã Siêu đã cạn, đám lính đành phải giết ngựa lót dạ, bọn chúng đi xung quanh tìm củi gỗ, không ít người bị chết đông cứng trên núi.
Mã Siêu nằm trong lều vải, vết thương của y đã nhiễm trùng, chảy ra máu tanh, mùi hôi thối xộc vào mũi, toàn thân cực kỳ yếu ớt, dưới cái giá lạnh xâm nhập, Mã Siêu đã hấp hối sắp chết.
Nửa đêm, y lấy máu tươi viết một bức thư sám hối, khẩn cầu Lưu Cảnh nể tình y tham gia đánh phá Hung Nô mà tha cho tính mạng của con trai mình, khi trời sắp sáng, thân binh bảo vệ bên cạnh chỉ nghe thấy y thì thào tự nói:
- Sớm biết ngày hôm này, cần gì trước đây!
Binh lính nhìn lại Mã Siêu, phát hiện y đã tắt thở, Mã Siêu một đời kiêu hùng đã chết như thế trong Đại Đấu Bạt Cốc.
…
Hạ tuần tháng năm, Triệu Vân dẫn đại quân chiến thẳng trở về kinh, Lưu Cảnh đích thân cử hành nghi thức ở ngoài thành Trường An, đón tướng sĩ viễn chinh Hà Tây trở về, đồng thời hậu thưởng tam quân, gia phong Triệu Vân làm Tả tướng quân, Dực Huyện hầu, thưởng vạn thất gấm màu sắc, năm ngàn lượng vàng, Triệu Vân một mực chối từ không được, liền đem vàng và gấm chia cho tướng sĩ bộ hạ, mình không giữ một xu, các tướng sĩ đều đồng loạt hoan hô, tràn đầy cảm kích với Triệu Vân.
Lưu Cảnh lập tức bổ nhiệm Mã Đại làm Tả đô đốc của Hà Tây, dẫn tám ngàn quân trấn thủ Đôn Hoàng và Tửu Tuyền, còn bổ nhiệm Ngô Lan làm Hữu đô đốc ở Hà Tây, chỉ huy sáu ngàn quân đóng ở Võ Uy và Trương Dịch, bổ nhiệm mười mấy Thái thú Huyện lệnh, trong đó có Lý Văn. Tất cả đều tới Hà Tây nhậm chức.
Hà Tây cần thời gian để từ từ chỉnh đốn và chữa thương, nhưng đối với nước Hán, đây dù sao không phải là dòng chảy chính của nước Hán, nó chỉ giống như một nhánh sông của Trường Giang, sau khi tạm thời thu hút ánh mắt của mọi người, lại dần dần bị mọi người quên lãng.
Xu hướng chính của nước Hán là nghỉ ngơi lấy lại sức, khôi phục quốc lực đã tiêu hao hết vì đại chiến Hợp Phì, cần tăng thêm lương thực và ổn định cuộc sống nhân dân, quân đội cũng cần nghỉ ngơi điều chỉnh.
Mặc dù dân gian đã ổn định và đang nghỉ ngơi, nhưng trong quan trường nước Hán lại có không ít thay đổi, trước tiên là khu vực Giang Hoài và Hà Tây đã bổ nhiệm rất nhiều quan lại, tiến hành điều chỉnh chức vụ rất lớn.
Tiếp đó là sự thay đổi trong triều đình Trường An, Bí Thư Giám của Hán Vương trước đây đổi thành Trung thư tỉnh, Bàng Thống giữ chức Tả trung thư lệnh, Thái thú Tương Dương là Đổng Doãn đảm nhiệm Trung thư tả thừa, Thái thú Thục Quận là Phí Y đảm nhiệm Trung thư hữu thừa.
Còn Thị Trung Tự phụ trách xét duyệt chính lệnh đổi tên thành Môn Hạ Tỉnh, do Pháp Chính giữ chức Thị trung, nhưng Pháp Chính hiện giờ đang ở Giang Hoài khôi phục kinh tế Hợp Phì, cho nên vẫn do Doãn Mặc tạm thay mặt giữ chức Thị trung.
Bình Chương Đài đổi tên là Thượng Thư Tỉnh, bên dưới cai quản sáu bộ, ngoài năm bộ lại, dân, binh, hình, công ra còn thêm Lễ bộ, do nguyên Thái thú Võ Uy Đỗ Kỳ giữ chức Lễ bộ Thượng thư thứ nhất.
Tuy nhiên những thứ này chỉ là sự thay đổi về tên gọi của các bộ, điều khiến các quan viên cảm thấy hứng thú hơn là sự thay đổi về quyền lực, trung tâm chính vụ của nước Hán vốn do năm Tướng và một Thị trung hợp thành, Từ Thứ, Tưởng Uyển, Đổng Hòa, Tư Mã Ý và Phí Quan là năm Tướng, Thị trung là Doãn Mặc, nhưng họ cầm quyền đã nhiều năm, dần dần đã đến lúc thay thế và chuyển giao quyền lực.
Quan trọng hơn là, năm Tướng này ra đời là để cân bằng các nơi, như Từ Thứ đại diện cho đích hệ của Lưu Cảnh, Tưởng Uyển đại diện cho Kinh Châu, Đổng Hòa đại diện cho Đông Châu sĩ ở Ba Thục, Tư Mã Ý đại diện cho tam phụ ở Quan Trung, còn Phí Quan đại diện cho Ba Thục.
Khi Lưu Cảnh vừa mới giành được Ích Châu, quả thật cần thiết phải cân bằng quyền lực như vậy, nhưng cùng với sự đổi thay của thời gian, nước Hán đã định đô ở Trường An được mấy năm, sự cân bằng địa vực chật hẹp này cũng không cần kéo dài nữa.
Cho nên cuộc cải cách khung quyền lực lần này đã làm cho việc phân phối quyền lực tới lúc phải thay đổi, Bàng Thống, Pháp Chính và Đỗ Kỳ bước vào trung tâm quyền lực, điều đó có nghĩa là năm Tướng phải điều chỉnh ở mức độ nhất định, hoặc là quyền lực lại phân phối thêm quyền lực.
Điều này giúp cho quan trường ở Trường An trở nên phù hợp hơn, thêm vào đó khoa thi sẽ được tổ chức sau hai tháng nữa, hai việc này đã trở thành tiêu điểm của Trường An, thậm chí là khiến toàn bộ nước Hán chú ý.
Đêm xuống, Giả Hủ như bình thường ở trong thư phòng đọc sách, do Giả Hủ tuổi đã cao nên ông không tham gia chính vụ và quân sư nữa, chỉ đảm nhiệm phụ tá cho Lưu Cảnh, được quan trường nước Hán tôn là các lão, địa vị cực cao ở nước Hán, hơn nữa Lưu Cảnh đối xử với ông không tệ, con trai trưởng Giả Mục và Giả Phóng của ông được phong làm Thái thú hoặc Quận thừa, còn con trai thứ ba Giả Cơ được phong làm Lại bộ tòng sự, phụ trách kiểm tra đánh giá Huyện lệnh của các huyện, khá có thực quyền.
Giả Hủ cũng cảm thấy hài lòng, chỉ hy vọng có thể bình yên hưởng thụ tuổi già, đi hết con đường nhân sinh cuối cùng.
Lúc này, ngoài cửa vang lên tiếng bước chân, chỉ thấy con trai Giả Cơ nói bên ngoài:
- Phụ thân đã nghỉ chưa?
- Có chuyện gì thì vào đi!
Giả Cơ bước nhanh vào phòng, quỳ xuống thi lễ:
- Hài nhi kính thăm phụ thân đại nhân!
Giả Hủ rất hiểu con trai, bình thường nó sẽ không tới quấy rầy mình, hơn nữa buổi tối càng không làm phiền mình nghỉ ngơi, nếu nó đã đến thì nhất định phải có chuyện quan trọng, Giả Hủ đặt sách xuống cười hỏi:
- Con có chuyện gì không?
Giả Cơ do dự một lúc mới đáp:
- Hài nhi gặp phải một số chuyện rắc rối, muốn xin chỉ thị của phụ thân.
Giả Cơ thấy trên tay con có một cái hộp, liền hỏi:
- Chuyện rắc rối gì?
Giả Cơ đặt chiếc hộp trước mặt phụ thân, chậm rãi mở ra, lập tức sáng chói cả mắt, mắt Giả Hủ chợt nheo lại, trong hộp là mấy chục viên ngọc minh châu, viên nào cũng căng tròn mượt mà, đều là minh châu cực phẩm, ông thản nhiên hỏi:
- Đây là ý gì?
- Phụ thân, đây là đại trưởng quầy Bách Bảo Trai ở Trường An đích thân đưa đến cho hài nhi.
Giả Hủ không khỏi cười nhạt một tiếng:
- Con muốn kết thân với gã sao? Gã mới đưa đến sính lễ quý như vậy.
Giả Hủ từng trải, mấy chục viên minh châu này ít nhất có giá ngàn vàng, người khác đương nhiên không vô duyên vô cớ mang tới, tất có điều muốn nhờ vả, Giả Cơ thở dài:
- Phụ thân không biết rồi, người đứng sau Bách Bảo Trai thực ra là Phí gia, Bách Bảo Trai ở Thành Đô chính là sản nghiệp của Phí gia.
Giả Hủ đương nhiên biết người đứng sau Bách Bảo Trai là Phí gia, cho dù khiêm tốn nhưng thực tế lại là cửa hàng châu báu lớn nhất thiên hạ, ở Thành Đô, Trường An, Vũ Xương, Ngô Huyện, Hứa Xương và Nghiệp Đô đều có cửa hàng, chuyên làm châu báu thượng phẩm.
Bọn họ đưa lễ vật quý như thế cho con trai, chẳng lẽ là muốn con trai chiếu cố cho con cháu Phí gia?
Giả Cơ cắn môi, mãi sau mới khẽ nói:
- Đây thực ra chỉ là một phần nhỏ, hài nhi hiểu ý của bọn họ, những viên minh châu này không phải tặng cho hài nhi, mà là tặng phụ thân.
- Tặng cho ta?
Giả Hủ lập tức ngây người, cười nói:
- Tặng cho ta làm gì, chẳng lẽ bọn họ thương xót linh cữu của ta quá giản dị, tặng ta đi đóng quan tài sao?
- Phụ thân, hài nhi đoán rằng, đây thật ra là lễ vật Phí Thượng thư tặng cho phụ thân.
…
Chương 1003: Phiền não của Giả Hủ.
Giả Hủ nhặt một hạt châu lên, nheo mắt nhìn một lúc lâu, rồi lại mang nó thả vào trong hộp, thản nhiên nói:
- Ta không hiểu ý của con, Phí Thượng thư tặng ta chân châu quý để làm gì?
Giả Cơ cười khổ một tiếng nói:
- Phụ thân có lẽ không biết, hiện giờ các quan nơi Trường An đang đều vô cùng căng thẳng, tất cả mọi người đều nói Hán Vương Điện hạ đã đến lúc thay Thượng thư rồi.
- Vậy là ý gì?
- Phụ thân, gần đây Hán Vương Điện hạ đã thực hiện một loạt những điều chỉnh, Bình Chương đài đổi thành Thượng thư tỉnh, Bí Thư giám đổi thành Trung thư tỉnh.
Không đợi Giả Cơ nói hét, Giả Hủ cũng không còn kiên nhẫn để chờ nên đã ngắt lời nói:
- Những điểm đó ta đều biết, nói vào trọng tâm xem sao.
- Vâng! Quan Nha điều chỉnh thực ra cũng không có vấn đề gì, mấu chốt là 3 người Bàng Thống, Pháp Chính và Đỗ Kỳ đều muốn trở thành người nắm quyền lực trong triều đình, Pháp chính thay cho Doãn Mặc, điều này không có ảnh hưởng gì đối với Thượng thư, nhưng Bàng Thống và Đỗ Kỳ hiển nhiên là muốn thăng chức lên Tướng Quốc, tất cả mọi người đoán rằng, không biết có nên tăng lên thất tướng hay không? Tuy nhiên, theo những tin đồn gần đây thì vẫn sẽ chỉ có ngũ tướng, nói cách khác, có hai tướng quốc phải xuống dưới, người sáng suốt đều nhìn ra được, mà chắc rằng sẽ là Đổng Hòa và Phí Quan.
Giả Hủ tỉnh bơ hỏi:
- Nếu ta là kẻ mắt mờ, thì sao nhìn ra được hai người họ sắp sửa phải xuống đây?
- Phụ thân, Tương Dương thái thú Đổng Doãn đảm nhiệm Trung thư tả thừa, Thục quận thái thú Phí Y đảm nhiệm Trung thư hữu thừa, điều này chính là ám chỉ hai người Đổng Hòa và Phí Quan đó phải ra đi rồi.
- Thật sao? Vậy nên Phí Quan đã mang chân châu quý đến tặng ta, ý muốn là ta sẽ thay y đến năm nỉ Hán Vương Điện hạ một câu, để y tiếp tục làm tể tướng?
- Chính là vì thế, trong lòng con hiểu rõ, nếu chỉ là giúp đỡ con điều chỉnh chức vụ huyện lệnh, thì đã không cần mang đến lễ vật đắt tiền như thế, hơn nữa đại chưởng quỹ Bách Bảo Trai còn ám chỉ, đây mới chỉ là lễ đính hôn, sau này còn trọng tạ, tất nhiên là muốn tặng cho phụ thân rồi.
Giả Hủ trừng mắt, ánh mắt bỗng sáng rực lên, hung hăng nhìn chằm chằm vào đứa con:
- Ý của con là nói, con vẫn thường nhận tiền điều chỉnh huyện lệnh có phải không?
Giả Cơ bị dọa sợ đến hoảng hồn, cuống quýt dập đầu:
- Hài nhi không có, hài nhi chỉ nói như vậy chứ chưa từng nhận tiền của ai.
Giả Hủ cười lạnh một tiếng:
- Ta có ngu mới đi tin là con không nhận tiền, tòa nhà ở ngõ Ngũ Lí Hòe Hạng là do con mua phải không? Miếng đất tận 5 mẫu, nhiều tiền như vậy con lấy đâu ra?
Giả Cơ cứng họng, sau một lúc nói không ra lời, y không biết vì sao Giả Hủ có thể biết rõ được đến vậy, Giả Hủ thở dài:
- Con cho là mật sứ giám sát của Hán Vương Điện hạ đều là lũ bất tài hay sao? Tư Mã Ý đã nhắc khéo ta, tất nhiên Hán vương Điện hạ cũng biết rồi, vì thế, con thành thật nói cho ta biết, con đã ăn bao nhiêu tiền hối lộ, ta sẽ thay con giải quyết.
Giả Cơ một lúc lâu sau mới ấp a ấp úng nói:
- Con mới chỉ lấy của 3 người, khoảng 200 lượng vàng.
- Còn gì nữa không?
Giả Hủ lớn tiếng hỏi.
- Không còn nữa ạ!
Giả Cơ nức nở nói:
- Hài nhi không dám lừa gạt phụ thân, không còn gì nữa rồi ạ, hài nhi dám thề trước mặt tổ tông.
- Ngươi đã làm mất mặt tổ tông nhà này rồi.
Giả Hủ giận đến nghiến răng nghiến lợi, lão hiểu được đứa con này, từ nhỏ đã khá nhát gan, nên chắc không dám làm chuyện gì quá đáng, Giả Hủ kìm nén lại cơn tức, nói hết những lời trong lòng ra với con:
- Phần lớn các quốc gia khi mới lập nước, đều là thời điểm vinh quang của các gia tộc là công thần, cũng là lúc mà người bề trên coi trọng họ nhất, cho nên lúc này danh dự là cái quan trọng nhất, một khi bị điều tra ra là có tham nhũng, không chỉ công tích đều không còn, lại còn liên lụy đến con cháu, cơ bản là không thể để lại cho con cháu một gia tộc danh vọng, cho nên ta thường nói với các con rằng, nhà ta không thiếu tiền, Hán Vương Điện hạ cũng sẽ ban cho chúng ta đầy đủ ruộng đất, một khi thống nhất thiên hạ, cha còn có thể được phong là quốc công, để lại cho con cháu danh thơm. Nhưng dòng họ danh vọng cũng có thể sẽ bị hủy diệt bởi vài trăm lượng vàng, khiến Giả gia từ giờ về sau tuyệt đường danh môn, con sẽ trở thành tội nhân thiên cổ của Giả gia.
Giả Cơ bị dọa đến mặt mày tái nhợt, cả người sợ run lên, trong lòng y cũng vô vùng hối hận, cuối cùng không kìm nổi khóc lên một tiếng:
- Là do hài nhi ngu xuẩn!
Giả Hủ thở dài:
- Con đi đi! để ta suy nghĩ xem nên làm cái gì bây giờ?
Giả Cơ dập đầu lạy ba cái, chậm rãi lui xuống, Giả Hủ trầm tư một lúc lâu sau, đứng dậy đi ra ngoài dặn dò:
- Chuẩn bị cho ta xe ngựa!
Phủ Hán Vương, Lưu Cảnh hiện đang ở Trích Nguyệt lâu với Tiểu Kiều, hôm nay mấy tên nội y đến xem bệnh cho nàng, họ cho biết thân thể nàng không khỏe là vì đã có bầu, chuyện này cũng khiến Tiểu Kiều vui mừng khôn siết, nàng kéo tay chồng làm nũng, Lưu Cảnh cũng cực kì vui mừng, lúc trước khi hắn trở về từ Hợp Phì, khi vào phòng Tiểu Kiều thì bản thân cũng có dự cảm là Tiểu Kiều sẽ có thai, không ngờ đã thành sự thật.
Tiểu Kiều lười biếng nằm ở trong lòng trượng phu, dịu dàng nói:
- Phu quân, vài y sĩ nói sau khi mang thai không nên sinh hoạt vợ chồng, chỉ sợ một khoảng thời gian dài thiếp không thể phụng dưỡng chàng được rồi.
- Đây là chuyện lớn, nàng nhớ phải bảo trọng thân thể, không được khinh xuất dù chỉ một chút.
- Thiếp sẽ chú ý!
Ánh mắt Tiểu Kiều lấp lánh, nàng cười nói:
- Nhưng lúc này chàng phải ở bên thiếp, vẫn phải thường xuyên đến đây, đừng để cho thiếp cô đơn một mình đấy.
- Được!
- Chàng đừng ừ bừa, nhất định phải đế đấy, chàng phải ôm thiếp ngủ như vậy, để cả thiếp và con đều được dựa vào chàng.
- Ta đâu có ứng phó nàng, hiện giờ không phải là đang ôm nàng đó hay sao?
Lưu Cảnh cười cười, cúi đầu hôn lên mặt Tiểu Kiều:
- Nàng dừng lo lắng gì nữa?
Tiểu Kiều cúi đầu thở dài:
- Thiếp nghe nói, phụ nữ sau khi sinh con xong sẽ già đi, thiếp rất muốn có con, nhưng cũng sợ là mình sẽ già đi.
- Nàng nghĩ nhiều quá rồi, Vương Phi đã sinh hai đứa con, nàng ấy cũng đâu có già đi, Thượng Hương nữa? Nàng ấy có gì thay đổi không, còn cả Bao Nương, nàng ấy cũng đã sinh hai đứa, vậy mà làn da còn đẹp hơn trước.
- Đó là bởi vì các nàng ấy sinh con khi còn rất trẻ.
- Nàng bây giờ vẫn còn trẻ lắm! So với 10 năm trước khi lần đầu tiên ta gặp nàng thì nàng vẫn vậy, nàng đừng nghĩ nhiều nữa, như vậy sẽ không tốt cho hài nhi trong bụng.
Tiểu Kiều chỉ còn cách là không oán trách thêm, lúc này nàng mới nhớ ra một chuyện:
- A tỷ hình như là có chuyện muốn tìm chàng, hôm qua tỷ ấy qua đây hỏi thiếp, nhưng lúc đó phu quân không ở đây.
Nhắc tới Đại Kiều, trong lòng Lưu Cảnh bỗng thấy đau nhói, rõ ràng Đại Kiều đã nói cho hắn biết, nàng không có khả năng lập gia đình nữa, điều đó khiến hắn cảm thấy có cái gì mất mát, vì dù hắn có làm thế nào thì cuối cùng vẫn không thể chiếm được con tim nàng.
Lưu Cảnh yên lặng gật đầu:
- Lúc nào có thời gian ta sẽ đi gặp cô ấy.
Đúng lúc này, thị nữ bên ngoài phòng Tiểu Kiều đi vào báo:
- Khởi bẩm phu nhân và Điện hạ, Vương phi phái người đến báo, Điện hạ có khách, hình như là Giả Các lão cầu kiến.
Giả Hủ bất ngờ đến đây, ắt hẳn là có chuyện gì quan trọng, Lưu Cảnh liền cười nói với Tiểu Kiều:
- Ta phải đi trước rồi, đợi xong việc ta sẽ quay lại chỗ nàng.
Tiểu Kiều đứng dậy sửa soạn lại quần áo cho chồng, rồi đưa đôi môi nàng lên hôn hắn, gật gật đầu:
- Ta chờ chàng quay lại.
Lưu Cảnh xoay người bước nhanh về phía bên ngoài, không bao lâu hắn đã đi về đến thư phòng của mình, đi vào bên trong thì đang thấy Giả Hủ đang đi đi lại lại trong phòng, có vẻ tâm sự nặng nề.
- Hình như Giả công đang có tâm sự gì?
Lưu Cảnh cười rồi đo vào thư phòng.
Giả Hủ vội vàng lên tiếng thi lễ:
- Tham kiến Điện hạ.
- Giả công không cần phải khách khí, mời ngồi!
Lưu Cảnh mời Giả Hủ ngồi xuống, sai thị nữ mang trà, ánh mắt nhìn thoáng qua, phát hiện trên bàn bày một cái bao vải, bên trong là một hộp ngọc, đây là vật phẩm mà Giả Hủ mang đến.
Giả Hủ thở dài, lấy bao vải ra, đặt lên bàn rồi mở, bên trong lấy mấy thỏi vàng óng ánh, còn có một ấn quan, Lưu Cảnh không hiểu, hỏi:
- Giả công mang cái này đến là có ý gì?
- Điện hạ, chỗ này có 100 lượng vàng, là do đứa con ngu xuẩn của thần nhận hối lộ, lương tâm của nó cắn rứt, nên đã xin ta thay nó giao cho Điện hạ.
Trong lòng Lưu Cảnh đã hiểu được là chuyện gì, hắn biết được từ đám Ngự sử giám sát là Giả Cơ đã mua một tòa lâu rộng năm mẫu ở ngõ Ngũ Lý Hòe, lại biết được Giả Cơ trong việc phán xét huyện lệnh thì rõ ràng là có 3 người bị xử bất công, chuyện này cũng ăn khớp với việ y mua toà nhà kia, Ngự Sử Đài đang chuẩn bị điều tra Giả Cơ thì bị Lưu Cảnh hoãn lại, vì hắn nhất định phải suy xét cảm nhận của Giả Hủ.
Lưu Cảnh cầm quan ấn lên, phát hiện ra đó là Huyện hầu ấn của Giả Hủ, hắn hơi sửng sốt:
- Giả công muốn làm gì vậy?
Giả Hủ vô cùng xấu hổ nói:
- Lão thần không biết cách dạy con, làm nó bôi do chát trấu vào mặt cả nhà, không ngờ nó dám nhận hối lộ, lão thần phải có trách nhiệm, nguyện mất đi tước vị để làm cảnh cáo.
- Bậy bạ!
Sắc mặt của Lưu Cảnh lập tức trầm xuống:
- Giả Cơ cũng không phải là đứa trẻ 3 tuổi, y làm sai lại muốn phụ thân đứng ra gánh vác sao? huyện hầu Hán quốc tổng cộng chỉ có hai người, là bậc cao quý biết bao, nếu Giả công từ chức, thì Lưu Cảnh ta ăn nói thế nào với thiên hạ đây? Làm sao ăn nói với người dân Hán quốc.
Giả Hủ nóng lòng sốt ruột, ông ta chỉ hy vọng rằng nếu mình bỏ đi tước vị thì Lưu Cảnh sẽ tha cho con mình, không truy cứu tội lỗi của nó, không ngờ lại làm Lưu Cảnh càng thêm tức giận, khiến ông ta càng lấy làm hổ thẹn, cười khổ một tiếng nói:
- Giả Hủ cũng đã đến tuổi già, vậy mà lại sinh ra một đứa con súc sinh, khiến trong lòng thân khổ sở vô cùng!
Lưu Cảnh trầm ngâm một lát nói:
- Giả Cơ tuy rằng phạm sai lầm, nhưng Giả Mục và Giả Phóng lại là quan thanh liêm, rất được nhân dân kính yêu, bọn họ đều là quan tốt, ta đã cho phép điều Giả Mục đến làm thái thú Tương Dương, Giả công nên cảm thấy tự hào vì đứa con này mới đúng.
Hệ thống quan lại nước Hán chủ yếu dựa vào ‘trong ngoài kết hợp, tự động tiến thoái’ nói cách khác nên một viên quan muốn làm đến chức tướng quốc, nhất định phải có đầy đủ tư cách và lý lịch, ví dụ như đã có bao nhiêm năm đảm nhiệm chức quan, và trong đó có bao nhiêu năm làm quan địa phương.
Nội triều thì là triều đình trung ương, cấp quan thấp nhất được gọi là Lại Tào, phía trên mà Thư Tá, Tòng Sự, Ti Trực, Thừa, Thượng thư, Lại Tào có thể tăng lên Thư Tá, Thư tá có thể thăng trực tiếp lên Tòng Sự, nhưng tốt nhất là đảm nhận chức Huyện lệnh, Huyện thừa hoặc Chủ bộ gì đó.
Nhưng nếu muốn được thăng lên Tư Trực thì nhất định phải có thời gian làm quan địa phương, ít nhất cũng phải vượt qua Huyện lệnh làm Thái thú hạ quận, Tư trực thăng làm thừa, như vậy cần phải có kinh nghiệm là Thái thú hoặc Quận thừa.
Về phần Thừa mà muốn được lên làm Thượng thư là cực kì khó, tất yếu phải có kinh nghiệm làm Thái Thú thượng quận hoặc Kinh Lược Sứ, hơn nữa cho dù là đảm nhiệm Thượng thư cũng không chắc được lên làm Tể tướng.
Bên trong hệ thống quan tước của nước Hán, quận được chia làm 3 cấp thượng trung và hạ, Thượng đẳng là quận Kinh Thiệu, Thục quận, quận Tương Dương và quận Vũ Xương, là những chỗ mà trước đó là đô thành, ngoài ra Linh Châu và tứ đại Kinh Lược cũng được coi là quận thượng đẳng.
Sau khi đảm nhiện Thái Thú quận thượng đẳng, thì sẽ có cơ hội tiến vào cơ cấu trung tâm quyền lực triều đình, giống thái thú Phí Y của Thục quận, Thái thú Đổng Doãn của quận Tương Dương, họ đều đảm nhận Trung Thư tỉnh và Tả Hữu Thừa, mà Giả Mục sắp được điều đi làm Thái thú Tương Dương, hiển nhiên là Lưu Cảnh muốn trọng dụng đứa con này của Giả Hủ rồi.
Trong lòng Giả Hủ cảm động, khom người nói:
- Vì thanh danh và tiền đồ của Giả gia, lão thần khẩn cầu Điện hạ bãi miễn chức quan của Giả Cơ, lão thần không thể để nó hủy hoại thanh danh của Giả thị, hủy đi tiền đồ của hai huynh trưởng y.
Chương 1004.1: Tranh chức Tể tướng.
Lưu Cảnh hiểu được Giả Hủ không phải là người khiêm nhường, nhưng ông ta cũng không muốn tiếp tục cho đứa con này làm quan, vì nếu đã dính vào ăn hối lộ, thì rất dễ tái phạm, đến khi nào mà phạm phải sai lầm lớn thì thôi.
Hơn nữa năng lực của Giả Cơ quả thật không đủ, Lại Bộ Thượng thư Từ Thứ cũng đã khéo phê bình y, dựa theo quyền lực mà bố trí thì điều động một quan bậc 1 là do Lại bộ Thượng thư trực tiếp quyết định, nhưng bởi Giả Cơ là con trai của Giả Hủ, vì thế Từ Thứ phải xin chỉ thị của Lưu Cảnh.
Lưu Cảnh vốn tính là điều Giả Cơ đi đảm nhiệm chức Quận thừa ở địa phương, đúng lúc này Ngự sử Đài lại phát hiện ra là y hình như có nhận tiền hối lộ, Lưu Cảnh vì thế cũng có chút do dự, nếu điều y xuống địa phương, Giả Cơ rất có thể sẽ thành quan tham lớn, nguy hại cho nhân dân.
Lưu Cảnh trầm tư một lát cười nói:
- Trực tiếp bãi miễn chức quan của y đi, để cho y tự xin cáo bệnh về quê.
Đối với Giả Hủ mà nói, lão cũng không quá để ý chuyện ba đứa con có làm quan hay không, hay như chúng có thể làm quan lớn hay không, được thăng lên chức cao đương nhiên là chuyện tốt, nhưng Giả Hủ lại càng coi trong lợi ích của gia tộc hơn, Giả Hủ lão có thể giúp Giả gia trở thành danh môn vọng tộc hay không, đây mới là nhiệm vụ vô cùng nặng nề, bất cứ là hành vi nào gây hại đến chuyện này, lão đều kiên quyết diệt trừ.
Lão cũng không nghĩ rằng sẽ nói lý thay con, giữ chức quan của chúng, đương nhiên cũng không phải hy vọng con lão bị bãi quan bỏ tù, chỉ hy vọng nó không làm quan tiếp, để tránh nguy hại đến lợi ích của gia tộc, có thể ở nhà thay lão quản lý gia tộc đã là chuyện tốt lắm rồi.
Hán Vương đương nhiên là hiểu được nỗi khổ tâm của lão, nên đã thay lão giải quyết xong vấn đề này, nên khiến trông lòng lão cảm kích vô cùng.
Lúc này, Lưu Cảnh đêm tước ấn trao trả lại Giả Hủ, Giả Hủ ngượng ngùng nhận lại và trở về, không khỏi xúc động, cảm thấy thật không phải khi mà dùng dùng tước vị để ép buộc Hán Vương.
- Điện hạ, lão thần cảm thấy hổ thẹn.
Lưu Cảnh nghĩ ra một chuyện, vừa cười nói:
- Mấy ngày hôm nay Thượng thư tỉnh đang thảo luận việc Chức Điền và Tước Điền, chuyện này đã kéo dài khá lâu, nếu không thực thi được, công thần sẽ vô cùng thất vọng, cuộc sống của các văn thần cũng sẽ chịu ảnh hưởng, ta không ngại khi nói với Giả công chuyện này, tước điền của Huyện hầu là trăm khoảnh đất, nếu Giả công đã ngắm được chỗ nào thì đừng ngại nói cho ta biết.
Giả Hủ cũng cười nói:
- Thần có ý này, thần chỉ xin nhận được đất nơi quên hương thôi ạ.
- Quê hương của Giả công là quận Võ Uy Cô Tang, nhưng người Hán bên đó gần như đã dời hết đến Linh Châu, hiện giờ phần lớn là nông dân người Khương làm công việc trồng trọt, muốn khôi phục hiện trạng trước đây ít nhất phải tốn 35 năm, chi bằng Giả công làm hàng xóm của ta đi! Ta cho ông đến Ung huyện, ông thấy sao?
Giả Hủ gật đầu nói:
- Có thể làm hàng xóm với điện hạ là vinh hạnh của lão thần.
Lúc này, Lưu Cảnh liếc qua nhìn hộp ngọc tên bàn, khẽ cười nói:
- Giả công hình như còn chuyện gì nữa cần tìm ta?
- Lão thần quả thật là còn một việc muốn tìm điện hạ!
Giả Hủ lấy hộp ngọc ra, đứa cho Lưu Cảnh:
- Đây là quà mà đại chưởng quỹ Bách Bảo Trai trưa nay đã tặng cho thằng con bất hiếu của thần, quả thực làm người ta kinh ngạc.
Giả Hủ mở hộp ra, bên trong là mấy chục viên chân châu sáng loáng, kích thước bằng khoảng quả trứng chim bồ câu, quý báu vô cùng:
- Điện hạ, đây là 50 viên minh châu, nghe nói đây mới chỉ là tiền đặt cọc, sau khi chuyện thành công còn có trọng tạ, lão thần không dám nhận lễ này, cũng không dámn tự tiện tham gia việc triều chính.
Nói xong, Giả Hủ đưa minh châu giao cho Lưu Cảnh, nhìn những hạt minh châu soáng loáng, trong lòng Lưu Cảnh càng thêm giận giữ, hắn đương nhiên biết Bách Trai Bảo là sản nghiệp của Phí gia, Phí gia từng được phong là đệ nhất thế gia Thục Trung ở thời Lưu Chương, tài sản rất nhiều, hơn nữa lại còn có rất nhiều cửa tiệm kinh doanh lớn nhỏ, cửa hàng vải tồi cửa hàng châu báu đầy rẫy, của cải của họ không thua kém gì Đào gia.
Cùng với sự bành trướng của Hán quốc, sản nghiệp của Phí gia lại ngày càng nhiêu, mặc dù việc thôn tính thổ địa đã được kiềm chế, nhưng nói về hàng châu báu thì vẫn là cửa hàng bậc nhất.
Bách Bảo Trai Trường An đúng là sản nghiệp của Phí gia, Lưu Cảnh vốn cũng đã phê bình kín đaó chuyện Phí gia không chịu từ bỏ miếng đất ở Thục Trung, hiện giờ Phí gia lại đi đút lót cho Giả Hủ, chuyện này càng khiến Lưu Cảnh không thể nhịn được.
Tuy nhiên làm kẻ bề trên, dù có chuyện gì cũng không được quá để lộ cảm xúc, Lưu Cảnh cũng dần dần làm được, tuy trong lòng tức giận, nhưng hắn vẫn thản nhiên cười nói:
- Chỗ minh châu đó Giả công muốn tặng cho ta sao?
Giả Hủ thở dài nói:
- Nếu điện hạ không thu nhận, lão thần chỉ có cách mang đến trả lại Phí gia.
- Ta cảm thấy trả lại cho Phí gia là cách tốt nhất, chuyện này tốt nhất là ta không nên biết gì cả.
- Cảm ơn điện hạ đã hiểu được nỗi khổ trong lòng thần.
Giả Hủ biết rõ rằng, nếu Hán Vương thật sự nhận lấy, thì bản thân lão thực sự đã đắc tội với Phí gia rồi, Hán Vương đã biết chuyện này, sau đó chính lão lại mang đến trả cho Phí gia, như vậy là cách tốt nhất.
Lưu Cảnh đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng, đi đến trước cửa số khoanh tay nhìn ra ngoài, khi trước ở Kiến Nghiệp, Ngu Phiên đã thẳng thắn vạch ra điểm yếu trong việc Hán quốc quá nhiều tướng, mà thời gian nhậm chức của ngũ tướng quốc thì quá lâu, ảnh hưởng đến cơ hội thăng tiến cho các quan khác, tiếp đó không chỉ dựa nguyên vào tài năng mà quyết định được, còn phải làm sao cho cân bằng nữa.
Nếu bàn về tài cán, Phí Quan quả là không bằng được Mã Lương, Đổng Hòa cũng không thua kém gì con trai Đổng Doãn của y, thậm chí tTừ Thứ cũng không bằng Bàng Thống, cho nên sau khi kết thúc chiến dịch Hợp Phì, hắn đã phải bắt đầu suy nghĩ đến chuyện thay đổi chế độ.
Trải qua giai đoạn suy bại cuối thời Hán, điểm mạnh yếu của chế độ Tam công Cửu khanh đã lộ ra, Tào Tháo từ đó cũng bắt đầu cải cách, nghĩ đến sự ảnh hưởng của chế độ Tam tỉnh Lục bộ trong lịch sử, thời đại Ngụy Tấn dần dần hình thành, cuối cùng được hoàn thiện vào thời Tùy Đường.
Còn Lưu Cảnh thì cũng muốn làm thế nào sao cho quyền lực có thể được cân bằng, dùng Trung thư tướng quyền để cân bằng quân quyền, dùng chế đố Môn hạ Thị trung cân bằng Lục bộ thượng thư, dùng Ngự sử giám sát cân bằng được bách quan.
Sau khi bình định được loạn ở Hà Tây, hắn chính thức bắt tay vào công cuộc cải cách, việc đổi tướng quốc là điều tất nhiên, thậm chí đến việc nên đổi sao hắn cũng chưa xét được đến, vậy nên mới xuất hiện những hiện tượng lén lút lo lót.
- Điện hạ, lão thần có một đề nghị, không biết điện hạ có nguyện ý nghe hay không?
Lưu Cảnh xoay người cười, nói:
- Giả Hủ là phụ tá của ta, ta sao có thể không nghe lời ông, Giả công mời nói.
- Điện hạ, lão thần hiểu được nỗi lòng của ngài, cũng hoàn toàn ủng hộ việc đổi tướng quốc của điện hạ, nhưng lão thần cho rằng, chế độ đa tướng là kết quả do điện hạ bàn bạc cùng với bách quan, có lợi cho việc khích lệ được tinh thần của bọn họ, cũng có lợi cho việc Hán quốc đoạt lấy thiên hạ, cho nên lão thần đề nghị, cho dù là thay đổi thế nào, chế độ đa tướng cũng không nên thay đổi, tốt nhất là nên tiến hành hoàn thiện hơn, nếu không sau này xã tắc Hán quốc sẽ không yên.