Virtus's Reader
Chuế Tế

Chương 16: CHƯƠNG 16: NHIẾP VÂN TRÚC

Sau Trung thu, thời tiết ở thành Giang Ninh nắng ráo được hai ngày rồi chuyển sang âm u, trên đường phố gió thu se lạnh cuốn lá vàng khiến cho thành thị náo động thêm phần hiu quạnh.

Đương nhiên, trong con mắt của phần lớn người dân thành thị vẫn là cái dáng vẻ thường ngày. Mùa thu vốn là như vậy, nước sông vẫn một màu xanh ấy, thuyền hoa vẫn là như cũ, vẫn tiếng thuyền chèo khuấy nước, tiếng liễu rủ lao xao, gió cuốn lá rụng lên rồi lại thả xuống sông, theo sóng nước dập dềnh mà trôi về phương xa. Đường phố người ngựa lại qua, áo xanh, kiệu nhỏ, muôn vẻ những người buôn bán dạo. Đường to ngõ hẹp, thềm đá dài dài, cầu gỗ xíu xiu bắc qua dòng nước chầm chậm trôi. Trên bờ thềm đá, vẫn thiếu nữ đang ngồi giặt áo, vẫn cảnh chuyện phiếm nói cười, trà lầu yến tiệc, tửu quán thơm hương.

Đại đa số mọi người vẫn hối hả bận rộn vì sinh nhai, hiển nhiên đó là một phần không thể thiếu của cuộc sống. Nhưng nếu tới nhàn đình, hay ngồi trà quán, hay ở quán cóc ven đường mà vô tình nhắc tới những lời đồn thú vị gần đây, chắc chắn không thể thiếu được chuyện đêm Trung thu mấy ngày trước. Mà trong đó, được nhắc tới nhiều nhất lại chính là xuất xứ của bài Thủy Điệu ca đầu cùng chuyện lý học đại gia Khang Hiền tức giận mắng mọi người trong hội thơ Chỉ Thủy.

Một vở kịch phải có mở có kết, có nguyên nhân bắt đầu để diễn biến dẫn tới kết thúc, tình tiết và diễn biến phải khiến người xem cảm thấy phù hợp và ngóng trông. Thơ cũng vậy,nếu chỉ là vần thơ thể hiện chí ở bốn phương của một vị tài tử nào đó thì mọi người cũng nghe đã mòn, nhưng nếu trong thơ còn có giai nhân, thơ sẽ được tăng thêm mấy phần hấp dẫn, mà bài Thủy Điệu ca đầu này lại hội đủ những điều kiện như vậy. Mọi người yêu thơ, nhưng cũng thích những sự tích như thế. Mấy ngày qua, từ thanh lâu, tửu quán tới bàn trà, khi các cô nương xuất hiện, không thể không thiếu khúc “Mấy lúc có trăng thanh?” cùng những lời bình về những điểm diệu kỳ trong bài thơ.

Tin tức về tác giả của bài thơ đến nay vẫn còn trong suy đoán, chưa có nguồn tin nào đáng tin cậy được truyền bá.

Tô phủ, Ninh Nghị, Ninh Lập Hằng, người đi rể ở Tô phủ.

Mấy câu răn dạy của Khang Hiền trong hội thơ Chỉ Thủy đã khẳng định Thủy Điệu ca đầu là kiệt tác, nhưng trong lòng người dân vẫn còn nghi hoặc: vậy sao trước đây danh tiếng của y không có, sao phải đi ở rể trong một nhà thương nhân. Và quan trọng nhất là: bài ca này của y liệu có phải là mua được hay đạo văn từ đâu đó không?! Đây chính là sự tình được các nhà bàn luận quan tâm nhất.

Lời gièm pha nhiều hơn so với khen ngợi, khuynh hướng trong lòng mọi người thường là như vậy. Lời đồn văn nhân đi mua thơ đổi lấy danh tiếng không phải là không có, khi nhắc đến mọi người đều có chiều hướng suy đoán như vậy. Dù sao đi chăng nữa, thân phận của người ở rể vốn thấp kém, thậm chí có thể nói là không có cốt khí, không biết nhục nhã, từ bỏ tổ tông. Những người có chút ngạo khí đều không làm như vậy.

Nhưng mấy ngày này cũng có giả thuyết nói: Nhị tiểu thư Đàn Nhi của Tô phủ thiên tư quốc sắc, ôn nhu phóng khoáng, Ninh Nghị vừa gặp đã thương, bởi tương tư sâu nặng mà cam nguyện ở rể. Nhưng trong thời đại trọng nam này, người tin tưởng câu chuyện này đã ít lại càng ít. Trong cái xã hội chơi gái thành phong trào, phụ nữ chỉ là hàng hóa, một nữ nhân đạt được tới mức độ này ai có thể tin tưởng?! Lui lại một bước mà nói: kể cả có người tin tưởng, nhưng nếu người kia vô tài bất học thì chẳng nói làm gì, đằng này lại có thực tài mà vẫn chịu đi ở rể, vậy thật là một chuyện đáng để cho trời giận người chê, uổng cho một thân nam nhi, uổng cho công đọc sách thánh hiền, thậm chí là uổng cho kiếp làm người.

Ở thời đại này, mọi người vẫn thích dạng chuyện: nam nhân kim bảng đề danh, vinh quy về cưới nữ tử. Chuyện vì một nữ nhân mà vứt bỏ tương lai như vậy thật khiến mọi người không thể chấp nhận được.

Bởi vậy, mấy ngày gần đây, suy đoán của mọi người thường thiên về mặt trái của nó, trong đó ở rể chính là nguyên nhân. Đương nhiên bây giờ còn chưa xuất hiện kết luận. Sau khi suy đoán xong, tâm lý mọi người vẫn giữ lòng hiếu kỳ đợi tin tức mới. Còn về chất lượng bài Thủy Điệu ca đầu cùng tài hoa của tác giả, mọi người vẫn tiếp tục kinh thán, độ nóng của nó vẫn tăng hàng ngày: trong mấy ngày qua, những từ ca ngợi nó vẫn không ngừng phát triển. Trong đợt đấu thơ Trung thu lần này, danh tiếng cùng lời phẩm bình về nó vượt xa những bài còn lại, tình huống này đã nhiều năm chưa từng xuất hiện.

Nơi náo nhiệt nhất sông Tần Hoài là miếu Phu Tử - khu vực trường thi thơ, cùng với các quán thanh lâu bên bờ sông đối diện. Lúc này mới qua buổi trưa, những chỗ này vẫn chưa mở rộng cửa nhưng mọi người cũng đã thức dậy rời giường. Đi dạo ở dưới phố đã có thể thấy một vài cô nương trên lầu hoặc một mình tựa cửa, hoặc đang chuyện phiếm chơi đùa, từ trong tường viện mơ hồ truyền ra tiếng sáo trúc thoang thoảng.

Những tiếng nhạc này phát ra do những cô nương đã học nhạc lý vài năm đang luyện tập, các tiểu cô nương này được thanh lâu an bài theo sư phụ học tập một cầm khúc. Lúc này, trong nội viện của Kim Phong lâu, khóa học dạy đàn đã sắp kết thúc, mấy cô bé vẫn còn đang chăm chú biểu diễn khúc nhạc vừa được truyền thụ, vị nữ sư phụ váy vải, trâm cài trên tóc, y phục mộc mạc đang ngồi ở trước cái bàn nhỏ, nghiêng cằm nghe đàn.

Nàng ước chừng hai mươi tuổi, tuy ăn mặc mộc mạc không sánh được với những mầu sắc rực rỡ của gái thanh lâu, nhưng diện mạo của nàng cực kỳ xuất chúng: khuôn mặt trái xoan thanh nhã, đôi mi thanh tú, khí chất thanh thoát. Nàng ngồi đó lặng lẽ nghe đàn, thân ảnh làm cho người ngắm cảm giác như đang ngắm bức tranh thủy mặc, so với những bé gái học đàn ở dưới thì xuất chúng vượt hơn nhiều lắm.

Dựa theo qui trình thường ngày, đợi cho khúc nhạc được đàn xong nàng sẽ chỉ điểm thêm một lần cuối. Buổi học hôm nay cũng chỉ tới đây, nhưng ngay khi lúc nàng đang chuẩn bị thu dọn đồ, mấy bé gái ngồi dưới nhìn nhau vài lần, rồi một bé cười nói:

- Vân Trúc tỷ, Vân Trúc tỷ, tỷ có thể dạy chúng em hát bài Thủy Điệu ca đầu được không?

- Gì cơ? Thủy Điệu ca đầu..

Cô gái được gọi là Vân Trúc hơi ngẩn người rồi nhướn mắt nhìn các nàng phía dưới một lượt, không rõ vì sao các nàng lại muốn học bài ca vừa được cô bé nhắc tới.

- Mấy hôm vừa rồi khách nhân đều thích nghe bài này..

- Chính là bài trong đêm trung thu..

- Chúng em cũng rất thích.

Cô gái nghe tới đó mới hiểu:

- Trung thu? Lần trung thu này có ra được một bài thơ hay sao?

- A? Vân Trúc tỷ, tỷ còn chưa biết sao?

- Dạo này có việc nên tỷ không để ý tới trung thu..

Cô gái mỉm cười, chỉ là ẩn dưới nụ cười này có chút mệt mỏi. Nhưng e rằng mấy nữ hài tử trước mắt này chưa thể nhìn ra được.

Tiếp theo mấy cô bé ríu rít lấy ra quyển sách có chép bài Thủy Điệu ca đầu, cô gái ngồi đó mấp máy môi đọc từng câu từng chữ, nàng thực sự nhận ra chỗ hay của bài thơ này. Chỉ một chốc lát sau, thần tình của nàng trở nên chăm chú, trong lúc đó mấy nữ hài tử ở dưới bắt đầu kể lai lịch của bài thơ đêm đó.

- Đáng tiếc người kia lại tới nhà người ta ở rể.

- Đúng vậy, là một người ở rể..

- Bây giờ mọi người đều nói bài ca này là do mua mà có..

- Nhưng lời ca thực sự rất hay nha..

“Mấy lúc có trăng thanh?

Cất chén hỏi trời xanh:”

Líu líu lo lo, các cô bé ngồi ở dưới mỗi người một lời kể lại lai lịch cùng bối cảnh, rồi xướng lên lời bài hát. Tuy âm luật của các cô bé mới dừng ở mức đang học, nhưng do các đàn chị trong Kim Phong lâu ngày nào cũng xướng bài này nên hát nó không khó. Sự thực là trong lâu cũng đã có khúc phổ dành cho bài Thủy Điệu ca đầu này, các cô bé đã học các phép gảy, tự mình cũng có thể đàn, nhưng nếu được người dạy dỗ thì mới là tuyệt nhất.

“Người ở rể ư..”

Sau khi Vân Trúc xem xong, nghe mọi người giảng giải xong mới cười nói:

- Nói như vậy, Thủy Điệu ca đầu này hẳn là các em đều đã thuộc?

- Chúng em cũng đã gảy theo, nhưng có những chỗ đàn không hay..

- Ừm, khúc nhạc học xong mới gảy được, Thủy Điệu ca đầu này có một số điểm đặc biệt, khi hát nó lên cũng có thể biến hóa đơn giản mẫy chỗ, ta sẽ dẫn các em biểu diễn một lần, rồi mới giảng giải..

Nghe vậy, các cô bé lại trở về ngồi trước đàn, Vân Trúc nhìn quanh một vòng, ngón tay án lên dây dao cầm, khuôn trăng nở nụ cười nhẹ nhàng u nhã như sương như khói, rồi đầu ngón tay khẽ gảy một cái.

- Mấy lúc có trăng thanh?

Tiếng đàn khắp nơi vang lên trong phòng, đồng diễn nhiều người là việc mà phần lớn mọi người chưa quen thuộc, đáng lẽ phải hỗn loạn, nhưng nhờ có tiếng đàn ưu mỹ ổn định nhất dẫn dắt mà dàn nhạc đã thành giai điệu, tuy to nhỏ khác nhau nhưng ý cảnh mỗi tiếng đàn vẫn hoàn toàn đồng hóa với các tiếng nhạc còn lại. Tiếp theo, chất giọng ngọt ngào dẫn xướng mọi người cũng vang lên, nếu lúc này có người tinh nghề tới chơi, hẳn sẽ nhận thấy đạo nhạc cũng chất giọng này xuất sắc hơn so với tuyệt đại đa số các cô gái trong Kim Phong lâu nhiều lắm, thậm chí so với người đứng đầu Kim Phong lâu bây giờ là Nguyên Cẩm Nhi cũng không thua kém chút nào.

Chất giọng của Nguyên Cẩm Nhi đi theo hướng nhẹ nhàng hoạt bát linh hoạt, còn chất giọng này lại như êm đềm như dòng nước chảy xuôi khiến tâm hồn người nghe thanh thản lắng đọng. Sau khi tiếng đàn vang lên, một vài cô nương ở xung quanh cũng hướng về, từ xa xa mà nghe nhạc. Đến lúc khúc ca kết thúc mới có ai đó thốt lên:

- Là Vân Trúc tỷ..

- Giọng ca của Vân Trúc tỷ vẫn hay như ngày nào..

Hoặc bội phục hoặc đố kỵ. Không bao lâu, buổi học kết thúc, các cô bé vẫn tự mình luyện tập. Cô gái áo quần mộc mạc cầm túi nhỏ bước ra khỏi phòng, xuyên qua hành lang, chào hỏi qua loa cùng mấy người quen cũ rồi tới phòng ma ma nhận phí giảng bài. Trên đường rời đi, nàng gặp Nguyên Cẩm Nhi ở hành lang ngoài.

- Vân Trúc tỷ.

- Cẩm Nhi muội muội.

- Mới vừa rồi muội ở trên lầu nghe được Vân Trúc tỷ hát. Quả thật là bài Thủy Điệu ca đầu này phải do Vân Trúc tỷ hát mới hay, Cẩm Nhi vẫn cảm thấy mình không đồng điệu, hát lên nghe cũng chưa đạt.

Nguyên Cẩm Nhi năm nay mười bảy tuổi, tính tình lanh lẹ hoạt bát, hai bên hàn huyên vài câu rồi nàng mới thu lại nụ cười sán lạn, nhẹ giọng hỏi:

- Vân Trúc tỷ, Hồ Đào muội muội thế nào rồi?

- Mấy ngày nay đã khỏe hơn rồi, chắc mất thêm mấy ngày nữa bệnh tình mới khỏi hẳn.

- Vậy cũng tốt..

Nguyên Cẩm Nhi gật gật đầu, nhìn quanh thấy không có người, nàng mới lấy từ trên người ra một gói nhỏ:

- Vân Trúc tỷ, em biết tính tình của tỷ, nhưng Hồ Đào muội muội không ngờ phát bệnh, hẳn là cần gấp. Ở đây có chút tiền mong được tỷ tỷ thu nhận, lúc trước tỷ tỷ chiếu cố cho Cẩm Nhi, trong lòng Cẩm Nhi vẫn nhớ..

Nàng muốn đưa túi tiền nhỏ đặt vào tay đối phương, nhưng Vân Trúc từ chối. Tuy rằng rất cảm động, nhưng cuối cùng nàng vẫn không nhận lấy.

- Bệnh tình của Hồ Đào đúng là đã tốt lên rồi, nếu không tỷ tỷ nhất định sẽ lấy để chống đỡ. Cẩm Nhi muội muội nên tích cóp tiền bạc, nếu có một ngày nào đó có thể chuộc thân cho chính mình, thì lúc đó mới tự do tự tại được..

- Muội không có được tâm tính như tỷ tỷ.

Hai người vừa mới đề cập tới tiếng lòng, viền mắt đã hồng lên đôi chút. Nguyên Cẩm Nhi lấy ngón tay gạt khóe mắt, nở nụ cười:

- Bây giờ Cẩm Nhi đã tới dạng này, cũng định là tìm lấy một nam nhân nào đó dựa dẫm, tiền bạc ở bên người kỳ thực cũng không có nhiều chỗ sử dụng. Huống hồ cũng không nhiều, muội còn có..

- Nếu có thể gặp được tài tử nào ưng ý..

- Cẩm Nhi mới là người không nơi nương tựa không tích cóp, chỉ có thể dựa vào miệng lưỡi, lời ngon tiếng ngọt mà kiếm miếng ăn. Vốn là mệnh: làm thiếp, làm tỳ, vẫn muốn là tìm một ai đó có tiền tài có địa vị để dựa vào, cũng may bây giờ có được chút danh, muốn gả đi cũng không quá khó..

Mỗi người một chí hướng riêng, dọc đường đi ra hai người tâm sự với nhau, nhưng cuối cùng vẫn phải chia tay tại cửa bên của Kim Phong lâu. Nguyên Cẩm Nhi cười vẫy tay, mãi cho đến khí bóng dáng của đối phương biến mất mới hạ tay xuống.

Cũng có chút ước ao, cũng có chút thở dài, nàng cũng không rõ tâm tình của chính mình cho lắm.

Cô gái được gọi là Vân Trúc tỷ tên là Nhiếp Vân Trúc, mấy năm trước cũng là một trong những cô gái danh giá nhất Kim Phong lâu; tài đàn, giọng hát, văn thơ, thư họa đều là nhất tuyệt, chỉ là nàng tâm tính đạm bạc, những lần Tần Hoài thi tuyển hoa khôi nàng cũng không chịu tham gia, bởi vậy danh khí thủy chung không vào hàng nổi nhất. Hai năm trước, sau khi tích góp đủ tiền bạc, nàng tự chuộc thân cho mình cùng nha hoàn Hồ Đào rồi tìm một nơi định cư. Cho tới hôm nay, thỉnh thoảng vẫn có người tới Kim Phong lâu hỏi hàng.

Các nữ nhân thanh lâu khác, dẫu có chuộc thân cũng thường giữ quan hệ cùng khách quen, vẫn cùng tài tử tham gia các hội thơ hội văn, nhưng Vân Trúc lại khác, hầu như nàng đoạn tuyệt với những con người trong dĩ vãng. Sau hai năm không xuất hiện, nàng cũng đã nhạt phai trong thế giới thanh lâu đơn bạc: chào khách đến-tạm biệt khách đi, chỉ là vẫn nhận làm người dạy đàn, coi như là kiếm một chút phí sinh hoạt.

Thực sự thì tiền kiếm được bằng việc dạy đàn không nhiều, nếu nàng không dạy, trong lâu cũng có rất nhiều người có thể đảm nhiệm được. Hai năm trước, sau khi chuộc thân nàng vẫn còn dư chút tiền bạc, nhưng tới bây giờ nghe đồn tình hình không được tốt lắm. Chủ tỳ hai người trước đó cả đời sinh hoạt trong thanh lâu, Hồ Đào tuy cũng là người hầu nhưng có nhiều chuyện liên quan đến đời sống vẫn không hiểu. Sau hai năm, tiền bạc cũng đã cạn, các nàng chỉ có thể nhận làm một số việc trong thanh lâu. Gần đây nghe nói Hồ Đào phát bệnh, cuộc sống của hai người xem chừng không ổn, cảm kích trước sự chiếu cố trước đây nên Nguyên Cẩm Nhi mới xuất ra chút tiền giúp đỡ. Lượng tiền tuy không nhiều, nhưng không ngờ đối phương vẫn không chịu nhận.

Nữ nhân mà! Trên thế giới này làm gì có được bốn chữ tự do tự tại! Thanh lâu cứ tưởng phong quang.

“ Ngũ lăng, chàng trẻ ganh đua,

Biết bao the tấm chuốc mua tiếng đàn.” (1)

Ai tính trước được, có lẽ cuối cùng kết cục vẫn chỉ là số tỳ phận thiếp, liệu có ai dám cưới một nữ nhân thanh lâu về làm chính thê mà chờ với đợi?! Vân Trúc tỷ tâm tính cứng cỏi, bằng như chính mình nếu tự chuộc thân ra ngoài, một nữ nhân yếu đuối không có chỗ dựa trong cõi đời này, sợ là kết cục cuối cũng vẫn chỉ là trở lại với thanh lâu mà thôi vậy.

Nàng nhẹ thở dài một tiếng, xoay người rời đi..

o0o

Sau khi rời khỏi dược điếm, Nhiếp Vân Trúc bỏ tiền dư vào túi áo sát trong người.

Thêm vào tiền bán cây trâm cũng có thể chi tiêu thêm một thời gian. Điều khiến nàng yên tâm nhất chính là: bệnh tình của Hồ Đào cuối cùng đã khỏi, đây là điều mừng nhất.

Hai năm rời khỏi thanh lâu vừa rồi, hai người cũng không có bao nhiêu kinh nghiệm sống độc lập. Tuy lúc còn bé Hồ Đào sống rất cơ cực, nhưng đã ở thanh lâu nhiều năm nên đọng lại chỉ là ký ức, có thể nấu cơm luộc đồ đã là quá tốt rồi. Cuộc sống tạm bợ của hai chủ tớ cũng đã được một thời gian, tuy có làm một số công việc công nhật như dạy đàn ở Kim Phong lâu, nhưng tới nay vẫn là thu không đủ chi. Cho tới bây giờ, tuy tiền bạc còn lại không nhiều, nhưng chỉ cần Hồ Đào khỏe trở lại, hai chủ tớ cùng làm việc vẫn có thể cân bằng thu chi được.

Một tay cầm túi vải nhỏ, tay kia xách gói thuốc đã được bao kỹ, nàng cúi đầu một đường đi về nhà, luôn chú ý đến chỗ số tiền trong túi nhỏ trên người. Sau khi cùng Hồ Đào thoát ra ở riêng đã hai lần bị móc túi ở chốn đông người, giờ nhớ lại mới cảm thấy tiếc. Một đường rời khỏi đại lộ Chu Tước, người đi dần dần thưa thớt, lúc này tâm tình cảnh giác mới được buông lỏng. Bốn phía vẫn là những cửa hàng tạp hóa như cũ, khi sắp chuyển mình qua phố, một bóng người phía trước đột nhiên thoảng qua khóe mắt.

Ồ..

Nàng ngẩng đầu lên nghi hoặc mà nhìn. Đạo thân ảnh kia đã khuất nơi ngõ rẽ. Mang theo tâm tình nặng trĩu rảo bước tới chỗ ngã tư, rốt cục nàng mới thấy rõ được đạo thân ảnh.

Đúng là y rồi..

Ở ven đường cách đó không xa, một nam nhân đơn bạc văn nhã đang đứng ở trước mấy cửa hàng, trên tay cầm một tấm gỗ lớn. Gã vừa nhìn mấy cửa hàng tạp hóa, vừa vung vẩy tấm gỗ, sau đó gật gật đầu rồi tiến vào một cửa hàng lớn.

Xem ra là y muốn mua than hoa.

Nhiếp Vân Trúc suy nghĩ một chút rồi tiến tới..

------------------------------------------------

(1) Nguyên văn: “Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu, Nhất khúc hồng tiêu bất tri sổ” Đây là hai câu trong bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị. Ngũ lăng là nơi đặt lăng tẩm của vua quan và người quyền quý tới đời nhà Đường, nên Ngũ Lăng niên thiếu là chỉ các công tử nhà giàu. Có nhiều bản dịch thơ, nhưng phần nhiều là ở thể lục bát. Dạng thất ngôn không có nhiều, dưới đây là bản dịch thơ của Băng Đình tuân thủ thể thơ của nguyên tác:

Canh khuya tiễn bạn bến Tầm Dương

Hiu hắt hơi thu hoa lá vương

Khách tựa mạn thuyền chủ xuống ngựa

Nâng ly luống hận thiếu đào nương

Say nào nguôi được sầu ly biệt

Man mác trăng sông dãi ánh suông

Chợt tiếng đàn ai trên sóng vẳng

Bỗng quên trở gót ngại lên đường

Lần theo tiếng nhạc tìm ai dạo

Cung bực ngừng im tơ trúc buông

Cập mạn thuyền hoa mong ngó mặt

Mâm bầy đèn thắp chuốc quỳnh tương

Nài van mời mọc càng e ấp

Nửa mặt đàn che nửa mặt buồn

Sửa trục chỉnh giây vài tiếng dạo

Đã nghe uyên vỡ cổ gào ương

Rỉ rên tơ gọi u hoài trúc

Thân thế ngậm ngùi phả mấy trương

Dìu dặt mày chau tay nhấn phím

Não nề tâm sự hận vương vương

Nắn êm vuốt nhẹ đàn thêm khúc

Đứt ruột thương ôi nỗi đoạn trường

Giây vũ ào ào mưa chĩnh đổ

Giây văn thầm thĩ giọng người thương

Thấp cao trầm bổng tình lưu mãi

Mâm ngọc vang rền hạt ngọc buông

Oanh yến dưới hoa lừng tiếng hót

Non cao nước bỗng đổ xuôi nguồn

Nhạc ngưng nước lạnh dòng ngưng bặt

Ngưng bặt niềm tơ trúc vấn vương

Nhạc dứt cho sầu lên bát ngát

Tơ chìm ăn đứt thủa tơ đương

Nước bình bạc vỡ tràn lai láng

Thiết kỵ gươm đao rộn chiến trường

Tạm dứt tơ đàn tay búng nhẹ

Bốn giây xé lụa tiếng còn vương

Đông tây thuyền bến im sào cắm

Đáy nước thu ngời ánh nguyệt gương

Gỡ vuốt trầm ngâm đàn xếp lại

Tâm tư xin gửi khách qua đường

“Vốn xưa quê quán miền đô hội

Dưới xóm yên hoa thuộc giáo phường

Tuổi mới mười ba tay đã nhuyễn

Xế hồ cung bắc nối cung thương

So tơ tuyệt kỹ đều khâm phục

Điểm phấn hoa khôi cũng phải nhường

Công tử vương tôn vung vãi của

Chất cao chồng lụa thắm the hường

Gõ tan lược bạc hòa xênh phách

Rượu đẫm quần hồng đêm bứt cương

Năm quyến theo năm cười cợt mãi

Gió trăng xuân bắt đổi thu buông

Mẹ trăm tuổi hạc em biên thú

Sớm lại chiều qua lạt phấn hương

Xe ngựa lối xưa rêu biếc phủ

Đời chiều thân gửi khách thương buôn

Người ham lợi lộc khinh ly biệt

Mải miết buôn trà tận viễn phương

Bến vắng neo thuyền ly phụ mãi

Quanh thuyền trăng nước lạnh màn sương

Nửa khuya gặp nửa hồn xuân mộng

Lã chã châu hoen lớp phấn mòn”

Nhạc đã khiến lòng đây bịn rịn

Nghe lời tâm sự lại càng thương

“Bên trời hai đứa mình luân lạc

Hạnh ngộ can chi phải bạn đường

Năm ngoái tạ từ nơi cửa khuyết

Bệnh nằm đất trích xứ Tầm Dương

Tầm Dương quê kệch không đàn địch

Thiếu cả cung vui lẫn nhạc buồn

Kề cận Bồn giang sông bãi thấp

Lau vàng trúc võ lớp quanh tường

Tai nghe nào tiếng nào thanh lịch

Máu hạ quyên gào vượn khóc thương

Xuân thắm bờ hoa thu dãi nguyệt

Từng phen độc ẩm muốn say cuồng

Sáo thôn địch nội dù không thiếu

Khổ nỗi nghe ra gịong líu lường

May được đêm nay nàng dạo phím

Tưởng như tiên giới khúc Nghê Thường

Xin vì ta nắn buông lần nữa

Ta sẽ vì nàng soạn một chương”

Thông cảm lòng đây lòng đấy hẳn

Nhạc dần lan tỏa với trầm hương

Nhặt khoan thê thiết càng thê thiết

Khắp tiệc ai mà chẳng xót thương

Dám hỏi mắt say nào đẫm lệ

Giang Châu Tư Mã vạt đầm tuôn

Chương 17: Khí Trường

Hai năm trước khi chủ tớ Nhiếp Vân Trúc, Hồ Đào rời Kim Phong lâu. Hai người phải cố gắng bươn chải làm đủ loại công việc kiếm sống. Mặc dù thân nhau như tỷ muội nhưng chủ tớ vẫn cứ là chủ tớ, phần lớn việc nhà đều do Hồ Đào đảm trách, Nhiếp Vân Trúc chỉ làm một số chuyện đơn giản. Hàng ngày thêu thùa gấm vóc, có khi thêu mấy đôi hài, lâu lâu lại đi Kim Phong lâu dạy đàn để duy trì cuộc sống gia đình. Nàng lựa chọn việc thêu thùa vì ưa thích, nên sản phẩm tạo ra có chất lượng nhưng lại tốn quá nhiều thời gian và chi phí, kết quả là kiếm không được bao nhiêu tiền.

Tháng trước Hồ Đào ngã bệnh, Nhiếp Vân Trúc không thể không đảm nhiệm việc nhà, phải nấu ăn mấy món đơn giản, giặt giũ quần áo, dù trước đây không quen làm những vẫn phải làm, chỉ là không được sạch như Hồ Đào giặt. Trước trung thu mấy ngày, nàng có mua một con gà mái để bồi bổ thân thể cho Hồ Đào, đến lúc muốn cắt tiết lại nhốt gà vào trong một cái sọt rồi chọc liên tục vào nó.

Bắt được gà mà không dám giết, lại để gà chạy mất, đuổi theo bị té xuống sông, dao cắt tiết gà bị mất, còn khiến cho người có lòng hảo tâm kéo mình lên bờ phải chịu liên lụy: người ta vớt mình lên, vậy mà phản ứng đầu tiên của mình sau khi tỉnh lại là đánh đối phương một bạt tai. Ngày thứ hai tới mò dao, lại để đối phương nhìn thấy, còn giúp mình giết gà..

Xưa nay nàng vốn là cô gái thong dong bình tĩnh, nhiều năm trong thanh lâu cũng gặp phải rất nhiều dạng người, hình tượng bản thân nàng vẫn luôn được coi trọng. Ai ngờ lần này tất cả những chuyện mất mặt đều bị người khác chứng kiến, nghĩ mà thấy xấu hổ. Mấy ngày trước nàng sinh bệnh như Hồ Đào, may mà nhiễm phong hàn không nặng, nhưng cũng phải sau Trung thu mới khỏe lại. Vị ân công kia đến tên mình cũng quên hỏi. Hô Diên Lôi Phong.. không biết có phải là Hô Diên Lôi Phong không, ai ngờ hôm nay ở chỗ này tình cờ gặp lại.

Trước đây, Nhiếp Vân Trúc từng gặp gỡ qua rất nhiều người, nam nhân trẻ tuổi này khoảng hai mươi, xem ra cũng có chút văn khí. Nhưng ngẫm lại hành động người này có vẻ khác thường, lời nói hay hành vi cũng vậy, trông cứ có vẻ như hờ hững tùy hứng. Từ lúc cứu mình, bị mình cho một bạt tai cho đến sau này giúp mình giết gà, lúc nói chuyện, khi rời đi đều là như vậy. Lúc này Nhiếp Vân Trúc đi theo thấy gã hình như muốn mua than củi, nhưng sau khi gã nhìn than củi rồi trò chuyện cùng ông chủ vài câu thì dường như không phải.

Thời tiết đã cuối thu, mùa đông dần đến, phần lớn mọi người đều muốn mua than, nên cũng có nhiều nơi bán. Cửa hàng này buộc than lại thành từng túi từng túi, nam tử kia sau khi nói chuyện cùng ông chủ cửa hàng, liền đem một túi than đổ xuống mặt đất, cầm cái túi ngồi xổm mà chọn từng viên từng viên. Than được gã chọn không nhiều, gã lại còn vẽ trên mặt đất vài lần rồi mới cho vào trong túi. Chủ quán cũng không giận, chỉ hiếu kỳ dò hỏi vài câu rồi kệ cho gã lựa chọn.

Quan sát một lát, Nhiếp Vân Trúc mới từ phía sau tiến tới, đến ngang đối phương thì dừng lại, khom người xuống:

- Ân công?

- Hả?”

Nam tử quay đầu liếc một cái, liền nhận ra nàng:

- Ồ, là cô à, trùng hợp nhỉ.

Tay gã lúc này vẫn chuyên tâm chọn than củi.

Hành động và lời nói gã đều có chút kỳ quái. Văn hóa Nho gia tới giờ đã phát triển đến đỉnh điểm, các loại lễ nghi ứng đối khá là phức tạp. Nam nhân bình thường khi gặp một nữ nhân đi tới, không thể không đứng thẳng ghìm hơi, dùng dáng vẻ tao nhã để đợi, phong cách nho nhã này đã trở thành thói quen của toàn xã hội. Nhưng cách nói chuyện tùy ý: “Ồ, là cô à, trùng hợp nhỉ..” này Nhiếp Vân Trúc lần đầu tiên gặp phải, nhưng vẫn có cảm giác rất tự nhiên.

Nàng hơi sững sờ, mở to hai mắt, sau đó thu gấu váy ngồi xuống bên cạnh.

- Ân công..

- Ài, chẳng qua chỉ là giết con gà mà thôi. Chuyện chẳng to tát gì, không cần gọi ta là ân công.

Nam tử cười phất tay một cái, thuận miệng nói.

- Chẳng lẽ trong lòng ân công chỉ nhớ được chuyện giết gà, mà không nhớ chuyện vớt thiếp từ dưới sông lên sao?

- A..

Đối phương ngẩn người rồi mới có phản ứng trở lại. Nhiếp Vân Trúc không nhịn được mà bật cười, hai người lúc này ngồi song song trước đống than củi, Nhiếp Vân Trúc nghiêng đầu nhìn gã:

- Thiếp thân tên là Nhiếp Vân Trúc.

Nàng hơi dừng lại một chút, xác định đối phương có vẻ nhớ được cái tên này rồi mới hỏi:

- Danh tính của ân công có phải là Hô Diên Lôi Phong không?

- Hô.. Hô Diên Lôi Phong..

Nhất thời, vẻ mặt nam tử như là bị co rút vài lần, trông rất phức tạp, rồi sau đó bật cười:

- Ha ha, Ninh Nghị.

Gã nói rõ hơn:

- Ninh Nghị, Ninh Lập Hằng.

Nghe tới cái tên này, Nhiếp Vân Trúc cũng ngây ngẩn cả người.

“Bài Thủy điệu ca đầu..”

“Người đó tên Ninh Nghị, tự Lập Hằng..”

“Ở rể ở Tô phủ..”

“Có lẽ là hạng người bỏ tiền mua thơ để mua danh chuộc tiếng..”

Cảm giác kinh diễm khi đọc bài thơ trong Kim Phong lâu đến giờ vẫn quanh quẩn trong đầu nàng, lúc đám nữ hài bàn tán cũng loáng thoáng nhắc tới Ninh Nghị-Ninh Lập Hằng. Vốn nàng chỉ hân thưởng câu từ, chưa kịp tiêu hóa sức hút của bài thơ nên không tiện bàn luận xôm tụ với mọi người. Bởi vậy cái tên kia đối với nàng mà nói là vô vị, không đáng để nhớ tới. Nhưng lúc này, đầu óc của nàng lại thêm một lần choáng váng.

Nàng sửng sốt hồi lâu rồi mới có phản ứng:

- Ninh công tử.. mua chỗ than củi này về làm gì vậy?

- Ừ, để viết chữ thôi.

Ninh Nghị gõ gõ tấm ván gỗ được sơn trắng xuống đất, sau đó cầm một mẩu than viết xuống một chữ Nhiếp. Đại khái gã định thuận tay viết cái tên Nhiếp Vân Trúc vừa nghe, nhưng sau khi viết xong nét cuối của chữ Nhiếp thì dừng lại một chút, đoán chừng viết tên người ta như vậy có vẻ hơi mạo phạm nên gã thoáng đổi sang viết hai chữ Ninh Nghị.

Chữ được viết theo kiểu chữ Khải, bút lực hùng hồn mạnh mẽ, viết xong nét cuối cùng mẩu than cũng bị nén vỡ. Nhiếp Vân Trúc có hiểu biết nhất định về thư pháp nên trong lòng thoáng so sánh, thủ pháp cầm than củi cùng cầm bút lông khác nhau, nếu tự mình cầm than mà viết, nét chữ nhất định kém xa tít tắp. Gã có thể dùng than củi mà tiện tay viết thành như vậy thì lý giải về thư pháp sợ đã là chuyên gia rồi.

Ở thời đại này, thơ từ và thư pháp vẫn còn có điểm chung. Phần lớn những người có tạo nghệ thâm hậu trong thư pháp được xưng tụng là đại Nho, nếu có kém cũng không kém bao nhiêu. Người có thể viết ra chữ như vậy, việc sáng tác ra bản Thủy điệu ca đầu cũng chẳng có gì phải nghi ngờ.

“Quả nhiên phần lớn lời đồn là không thể tin được.”

Nhiếp Vân Trúc thầm nghĩ.

Nàng nào có biết, Ninh Nghị chỉ nhìn thấy người khác dùng bút lông, còn viết chữ nghệ thuật bằng phấn hay bằng bút máy gã đã luyện qua. Về sau có được thân phận và địa vị nên tâm cảnh cũng được tôn lên, chữ viết ra có thêm phần khí thế. Lúc này nhìn hai chữ kia thấy đã thụt lùi đôi chút, nhưng tổng thể cũng đủ để khiến nhiều người thán phục.

Luyện chữ cũng không phải một sớm một chiều mà thành, mấy chữ khó lão sư viết cũng không thể để đám học sinh khổ luyện bút lông cả ngày.

- Lên lớp giảng bài, có thể dùng bảng trắng này viết chữ. Chữ viết rồi có thể lau, dùng bàn cát nét viết không rõ ràng, lại phải quét tới quét lui. Hơn nữa bàn cát đặt ngang làm học sinh nhìn cũng mệt, bảng này có thể dựng lên hoặc treo thẳng.

- Lớp học.. học đường? Ninh công tử là tiên sinh ở học đường sao?

- Ừ, một học đường nho nhỏ. Dạy mấy đứa học sinh ngốc đọc sách viết chữ ấy mà..

- A.. Ninh công tử, mẩu than này có được không?

Trong thanh lâu quán xá đều phải học tập nghệ thuật giao tiếp sao cho có thể xã giao một cách tự nhiên nhất. Chỉ cần có chuẩn bị, Nhiếp Vân Trúc tự tin có thể trò chuyện tự nhiên với bất kể người nào mà không cảm thấy lúng túng. Lần nói chuyện này cũng rất tự nhiên, nhưng sự tự nhiên này không phải từ nàng mà ngược lại: là do thái độ của đối phương. Hai người cùng chọn những viên than, chỉ chốc lát đã đầy cái túi vải nhỏ, hai tay cũng đen thui. Lúc trả tiền Ninh Nghị trả mười văn tiền cho cái túi than.

- Chủ quán rất hiểu chuyện, chừng ấy than cái mà chỉ thu mười mấy văn.

Ra tới cửa, Nhiếp Vân Trúc bình luận.

- A, làm phiền người ta cũng là không tốt. Chắc là nghe ta nói sẽ dùng nó trong học đường nên mới cho chọn lựa đấy, dùng thân phận lão sư đi gạt người đúng là tốt thật.

- Lần sau công tử muốn mua, chi bằng mua vài túi về nhà mà chọn. Biết đâu trong nhà lại cần dùng, cũng tiết kiệm được số tiền này.

- Ha ha, lần sau ta sẽ không tới chọn nữa, để đám học sinh tự mình chọn mấy viên phù hợp mang tới học đường thôi.

Chốc lát sau, hai người rửa tay ở bến sông Tần Hoài. Một người ôm tấm ván gỗ và túi than củi, một người cầm túi vải cùng gói thuốc, một trước một sau cùng đi tới. Nhiếp Vân Trúc lại nói đến chuyện ngã xuống sông được gã cứu, Ninh Nghị chỉ phất tay một cái ý nói không phải chuyện lớn gì, hời hợt mà cho qua chuyện.

Hai người thỉnh thoảng lại trò chuyện vài câu, bầu không khí tự nhiên tới mức lạ kỳ. Hai người cùng đi một đoạn, chậm sau một bước chân, Nhiếp Vân Trúc nghĩ đến ý cảnh của bài Thủy Điệu ca đầu rồi chợt cảm thấy: chắc chỉ có người hào hiệp thong dong tới bậc này mới có thể viết ra lời thơ hay tới vậy.

Cứ như vậy đi tới chỗ khúc cua của bờ sông, Ninh Nghị mới dừng lại nói lời từ biệt. Sóng bên sông dập dềnh, liễu một màu xanh ngắt, một tòa trà lầu cùng mấy tiểu điếm tọa lạc. Bên cạnh trà lầu có một cái bàn cờ nhỏ, hai lão già đang ở đó an nhàn đánh cờ, một người toàn thân tơ lụa, khá là cao quý.

Nàng hướng về đối phương hành lễ rồi nói lời từ biệt, nói được mấy câu thì hơi ngừng một lúc rồi cất bước mà đi. Đối phương cũng tiến về chỗ không xa phía trước, chính là hướng tới bàn cờ ở bên trà lầu. Hai vị lão nhân hình như có quen biết với gã, cười nói mấy câu, nàng mơ hồ nghe thấy tiếng của gã truyền đến:

- Mấy ngày nay bị hai vị làm hại thật thê thảm.. Buổi sáng hôm nay, Ngu Tử Hưng lại chạy đến tìm ta..

Nàng định bước tiếp nhưng cuối cùng vẫn quay đầu lại. Nam tử đang ngồi ở đó xem cờ, tay cầm chén trà nhẹ nhàng uống một hớp. Giữa hai người chưa gặp mặt nhiều, không cần nói nguyên do, thành Giang Ninh to như vậy, ngày sau có gặp lại hay không cũng là chuyện khó nói. Đối phương nói chuyện như một người không màng tới công danh lợi lộc, so với những tài tử danh sĩ mà nàng đã gặp thì quả thực là hiếm thấy, một đường tự do tự tại, hào hiệp phóng khoáng, không lễ nghi phiền phức khiến người đời cảm thấy vướng bận, phiền hà. Đơn giản là có khí khái văn nhân. Văn nhân bây giờ mở lời ra là quân tử, nhưng phong thái quân tử hẳn phải là thế này mới đúng.

Có thể sau này sẽ không còn gặp lại, đối phương cũng không ghi nhớ những “ân tình” kia trong lòng, chẳng qua bóng hình này, có lẽ nàng sẽ mãi ghi tạc trong lòng.

Ninh Nghị Ninh Lập Hằng..

Nhiếp Vân Trúc cứ mang theo suy nghĩ đó mà đi về nhà

Chương 18: Tự Treo Cành Đông Nam

Từ đêm trung thu đó khi khúc Thủy điệu ca bị tiểu Thiền vô tình làm lộ, liền mấy ngày nay Ninh Nghị vẫn giả đò bị bệnh nằm nhà đọc sách, rảnh rỗi thì cùng tiểu Thiền chơi cờ năm quân. Hôm nay mới lần đầu tiên đi ra ngoài, buổi sáng lên học đường giảng bài, xế chiều đi lấy tấm ván gỗ đặt người ta sơn trắng, sau đó tiện thể mua vài cục than, thẳng một đường đến đây vừa vặn gặp hai người Tần lão và Khang lão.

Đối với thơ từ, Ninh Nghị cứ tiện là mở miệng ngâm nga không chút ngại ngần. Gã biết những bài thơ đó ở thế giới này là một loại vốn liếng rất quý hiếm, nếu ngày sau không chịu nổi nhàm chán mà muốn làm việc gì, cần chút danh tiếng hỗ trợ, khi đó xuất ra một bài hẳn sẽ thu được tiếng tăm không nhỏ. Nhưng hiện tại, nếu chỉ vì thỏa mãn một chút hư vinh mà lấy ra dùng thì rất là vớ vẩn.

Tài tử văn nhân thời đại này nói chuyện đều dẫn kinh trích sử, nếu muốn thu lấy ít danh tiếng chắc hẳn không tránh được chuyện bị người ta suy xét, so sánh này kia. Vậy nên dù hôm nay có nôn nóng lấy hết vốn thơ Đường thơ Tống lận lưng ra thì cũng chẳng đủ. Bây giờ nếu có mấy cuốn sách như Luận Ngữ hay Cao Học nằm trước mặt, gã đều có thể trình bày lý luận linh tinh một hồi, thậm chí có thể nêu lên không ít ý tưởng mới lạ, nhưng về mấy phương diện khác thì không có gì. Bài thơ kia để lộ ra quá sớm, nhưng chuyện đã xảy ra rồi, với tính tình của gã thì cũng thoải mái tiếp nhận thôi.

Đối với gã vấn đề này không có gì lớn, đi đường vòng hay đường thẳng, phương thức giải quyết vấn đề đều luôn thiên biến vạn hóa. Hôm trước, mấy vị Tô lão thái công và Tô Bá Dung kêu gã cùng Tô Đàn Nhi đến dò hỏi một phen, gã tùy tiện bịa ra câu chuyện rằng bài từ này không phải do mình viết, đâu ngờ trời đưa đất đẩy thế nào mà…

Tô lão thái công nhìn gã hồi lâu, rồi cười nói:

- Chuyện đã đến nước này, đối với bên ngoài phải bí mật mới được…

Lão nhân gia tinh minh, chuyện tin hay không đều rất khó nói. Nhưng nếu thực sự gã là một đại tài tử thì trên lập trường của Tô gia cũng hơi khó xử, trước mắt mọi người là đang đoán xuôi đoán ngược.

Đâu có tài tử nào đi ở rể mà thư thái như gã: không làm việc nhiều, không phải chịu trách nhiệm. Mọi người cũng không chờ mong nhiều ở gã nên không hề có áp lực, lại được lão thái công chiếu cố, cuộc sống thế này mà muốn thoát ra thì đúng là thằng ngốc. Không dễ mới có được mấy tháng nhàn hạ. Nếu không gặp phải chuyện gì lớn, cái thân phận ở rể này gã kiên quyết giữ lấy. Trong lòng nghĩ như vậy tự nhiên cảm thấy khá là lý thú, chỉ là nếu nói với người khác, sợ ngay cả tiểu Thiền cũng không chịu tin gã..

Mấy ngày vừa qua nhất định đã có lời đồn, đại khái gã cũng có thể tự đoán được sơ bộ, chỉ khi tiểu Thiền kể với gã tình buống ở hội thơ Chỉ Thủy lúc đó, gã mới bị cái tên Khang Hiền dọa cho hết hồn, cuối cùng nhịn không nổi bật cười. Trước đây đã biết lão đầu này không đơn giản, chỉ không ngờ tên tuổi lại lớn như vậy.

Sau mấy ngày nghỉ ngơi, mấy chuyện kia bị gã ném qua một bên, quay lại với nhịp sống bình thường. Ai ngờ lúc giảng bài sáng nay lại bị người tới tận thư viện Dự Sơn tìm kiếm, người tìm đến là kẻ đã bị Khang lão khiển trách Ngu Tử Hưng, cùng vài tên văn sĩ tới xin lỗi.

Nói theo một nghĩa nào đó, Ngu Tử Hưng bị Khang lão răn dạy giữa hội thơ đã khiến thanh danh y tổn thất mất bảy tám phần, thực sự là tai bay vạ gió. Thế nhưng Khang lão tiếc tài nên sau khi rời khỏi hội thơ đã gặp riêng dặn dò, chỉ bảo cho y tới đây xin lỗi, sau này khi việc truyền ra y còn có thể gỡ lại được ít danh tiếng. Dù sao thì việc dám nhận lỗi, biết sửa sai cũng một hành động đẹp.

Bên kia là có ý mà đến, Ninh Nghị cũng phối hợp diễn xuất một phen, cả bọn còn mời gã tối đến tham dự hội học sinh tài tử gì gì đó, tất nhiên Ninh Nghị cũng thuận miệng từ chối. Sau khi từ biệt với mấy tên tài tử kia mới đi lấy cái bảng trắng.

- Phẩm chất Tử Hưng cũng không tệ, tài học tuy không kiệt xuất nhưng cũng thuộc nhóm nổi bật.

Khang Hiền cười nói:

- Bài Thủy điệu ca ngươi viết thực sự hay, e là vài mùa trung thu nữa, Tần Hoài cũng khó có người làm được bài thơ vịnh nguyệt tốt như vậy. Không ngờ tiểu tử vô học như ngươi mà biết làm thơ cơ đấy.

- Ta đã nói rồi, thực sự không hiểu thơ từ gì đâu.

Ninh Nghị uống một ngụm trà rồi tiếp:

- Lúc nhỏ có một đạo sĩ áo quần rách rưới tha phương đi ngang trước cửa nhà, ngâm bài thơ này. Ta nghe xong liền nhớ, chuyện là vậy đó…

Lúc giải thích với Tô lão thái công gã cũng nói thế. Tần lão cười phá lên:

- Ngươi nói như vậy sợ là thằng nhóc ba tuổi cũng không tin.

Khang Hiền cũng nói:

- Tên này bại hoại quá mức, đáng đánh đòn…Cái danh tài tử chẳng tốt sao, nhìn cô nương vừa rồi xem, từ dáng vẻ đến khí chất đều rất tốt, vừa rồi đồng hành trò chuyện với ngươi cũng rất vui vẻ, nếu mối nhân duyên mà thành thì…tiểu tử nhà ngươi phải cảm kích lão phu đấy..

Với thân phận ở rể như Ninh Nghị, muốn mơ tưởng tới người phụ nữ khác không phải là chuyện đơn giản, thực ra Khang Hiền chỉ là tiện thể trêu chọc gã mà thôi. Khi Ninh Nghị nói ra chuyện cứu người trước đây thì hai lão mới hiểu rõ mọi việc. Lúc này, ván cờ vừa xong, ba người ngồi nghỉ ngơi, Tần lão cầm lấy chén trà gật gù, nhất thời hứng thú với câu chuyện.

- Viết chữ? Nói vậy là ngươi muốn dùng miếng than này viết lên bảng để dạy học ư?

- Vâng. Bàn cát mỗi lần viết được ít chữ quá, làm như vậy thật là phiền phức, chung quy không bằng lấy cái này viết, vừa thuận tiện vừa dễ nhìn.

Nói về chuyện dạy học, hiện nay trên lớp toàn dùng bàn cát để viết chữ, thường thì viết một chữ lại phải lắc phẳng một lần, lão sư chỉ có thể diễn giải cho học sinh cách viết mà thôi. Phần lớn tri thức đều được truyền tải bằng miệng, yêu cầu học sinh phải tập trung tinh thần nghe giảng, sau khi lão sư giảng xong phải tự động ghi nhớ và hiểu lấy. Nếu không phải là học sinh thực sự thông minh hoặc có tinh thần tự giác học tập, vậy việc bắt kịp tiến độ học tập thực sự rất khó.

Phương pháp dạy học này đã kéo dài cả ngàn năm, đối với những người như Tần lão và Khang lão hẳn sẽ ko cảm thấy có vấn đề gì. Học vấn vốn là thứ cao quý, vậy muốn làm người cao quý mà không chịu khổ thì sao có thể, đây coi như là một loại thử thách vậy.

Tần lão cầm lấy một viên than viết lên tấm bảng trắng, sau đó nhíu mày:

- Bàn cát thì mềm mại, dùng cành cây viết lên cũng giống như cầm bút lông mà viết. Trong khi, than củi lại rất khó viết, cải tiến kiểu này sợ không thích hợp.

Vừa rồi Nhiếp Vân Trúc chỉ chú ý chữ viết trông ra làm sao, còn Tần lão thì khác, cầm viên than vạch hai vạch lão đã thấy được sự khác biệt nên đưa ra thắc mắc. Làm một vị tiên sinh đứng lớp mà không lấy kĩ thuật viết chữ bằng bút lông làm trọng, chuyện này nói lớn thì cũng được mà nhỏ rồi cũng xong. sau đó Khang lão cũng tới thử, cau mày nói:

- Việc này nên thận trọng một chút.

Nếu Ninh Nghị là đệ tử của lão, nói không chừng đã bị lão mắng cho một trận, bắt dừng lại, nghiêm khắc cảnh cáo tính nghiêm trọng trong việc này.

Dĩ nhiên Ninh Nghị có thể hiểu được lo lắng của bọn họ, gã cười cười, ngồi xổm xuống cầm một miếng than củi:

- Vấn đề này cũng không lớn, viết chữ là để hun đúc tính tình, huống hồ những chữ này gần như tương đồng với viết bằng bút lông, nếu dùng để ghi chép sao không nghĩ thoáng hơn một chút, coi như là thêm một cách viết nữa?!

Gã nói xong chìa tay viết mấy chữ: (1)

“Tay trắng muốt, rượu vàng rót (2), hai cái oanh vàng kêu liễu biếc” (3)

Câu này viết bằng lối chữ khải (4), sau đó đổi thành thể chữ lệ. (5)

“Ngoài đình cổ, ven đường xưa, (6) một hàng cò trắng vút trời xanh”. (7)

Hai hàng vừa viết xong, kiểu chữ chuyển sang thành Tống thể (8):

“Ba ngọn thanh sơn trời khuất nửa”. (9)

Thể chữ Tống đến bây giờ vẫn chưa xuất hiện, Tần lão và Khang lão liếc mắt nhìn nhau. Những vấn đề thế này, phương thức đánh thẳng vào cảm nhận luôn có hiệu quả tương đối tối. Trước đây khi chào hàng sản phẩm, Ninh Nghị luôn ưa thích phương thức đánh thẳng vào cách nhìn của đối phương, gã viết luôn một hàng bay bướm theo dạng Sấu Kim thể (10):

"Một vùng Bạch Lộ nước chia đôi."

Tiếp phía dưới lại chuyển thành chữ thảo (11): “Tây bắc có giai nhân, tự treo cành đông nam.”

Sau đó là lối chữ nghiêng in đậm: “Muốn trông xa vạn dặm, tự treo cành đông nam.” (12)

Cái bảng trắng to lớn như vậy cuối cùng cũng viết xong, gã vừa thu lại cục than hỏi thế nào? Tần lão và Khang lão đã cười mắng luôn:

- Chữ thì có thể xem được, thơ từ thì quá tệ...

- Bôi nhọ văn chương, quá thất vọng ..

- Tính tình tiểu tử ngươi cũng quá mức bại hoại, thứ này cũng tính là thơ từ ư…

Miệng thì nói vậy nhưng ánh mắt của hai người vẫn không rời khỏi tấm bảng gỗ màu trắng, miệng lẩm nhẩm đọc lên thành tiếng rồi cũng cho ra lời bình phẩm.

- “Tây bắc có giai nhân..” thực sự là bất học vô thuật, rõ ràng là câu "Phương bắc có giai nhân, Tuyệt thế mà đơn chiếc"(13) này xuất phát từ Hán thư, thế mà câu tiếp lại là “tự treo cành đông nam”, haha.. chẳng lẽ ngươi cảm thấy tây bắc vần với đông nam sao..

- Khang lão anh minh.

- Nếu ngươi là đệ tử của ta, không thể không gọi người quất ngươi vài côn, tùy tiện bêu xấu lây đến cả danh tác của tiên hiền. “Muốn trông xa vạn dặm”, lại vẫn là tự treo cành đông nam. Ngươi không sợ Vương Chi Hoán hóa thành ác quỷ tới tính sổ với ngươi sao?! Câu nào cũng “tự treo cành đông nam”, bài Khổng tước đông nam phi (14) này thật không may, bị ngươi lấy cái cành đông nam kia đem đi giải trí.

- Haha, chỉ là đột nhiên có một ngày cảm thấy nếu đem thơ từ chắp vá một phen cũng có thể tạo ra một phong vị khác. Chẳng lẽ Khang lão không cảm thấy sao?

“Tây bắc có giai nhân, tự treo cành đông nam”

“Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, tự treo cành đông nam” (15)

“Núi trống vắng tanh người, tự treo cành đông nam” (16)

“Xưa nay thánh hiền đều bặt tiếng, chỉ đành tự treo cành đông nam” (17)

“Xưa nay hỏi có ai không chết, chi bằng tự treo cành đông nam” (18).

Khang lão lắc đầu:

- Chuyện động đến tiên hiền cần phải nghiêm túc.

Trong giọng nói có mấy phần buồn cười, mấy phần cảnh giác. Tần lão ở bên lại đang xem mấy chữ, đột nhiên nói một câu:

- Ngẩng đầu nhìn trăng sáng.

Khang lão liền tiếp lời:

- Chung quy cũng phải là “tự treo cành đông nam.”

Nói xong rồi phá lên cười.

Sau đó Tần lão cầm cục than chỉ chỉ mấy từ của câu đầu:

- Tuy cũng là chắp vá, không biết xuất xứ nhưng ta đoán là Lập Hằng sáng tác từ trước. Haha.. “Tay trắng muốt, rượu vàng rót..” câu tiếp phía sau không hợp. Câu “Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc, một hàng cò trắng vút trời xanh” hẳn là một câu.. Còn câu “Ba ngọn thanh sơn trời khuất nửa, một vùng Bạch Lộ nước chia đôi” này ý cảnh tuyệt hay, hẳn là ở một bài thơ khác..

Lão lấy cục than khoanh vài vòng, cô lập hai câu “Tay trắng muốt, rượu vàng rót” cùng câu “Bên đình cổ, ven đường xưa”, hơi nhìn một chút rồi vạch ở giữa một cái, đại để là hai câu này không cùng một bài. Khang Hiền cũng gật đầu: “Hẳn là hai bài” rồi nhìn Ninh Nghị. Ninh Nghị tỏ ra khá bội phục, nếu ở trong tình huống tương tự mà gã đọc mười hai từ này, có lẽ sẽ nhận định chúng là những câu thuộc cùng một bài thơ. Dù sao thì nó cũng cân xứng, câu cú dài như nhau, cũng cùng nhịp chuyển điệu, mười hai từ này không dễ phân chia nhưng hai người trước mắt đây chỉ dựa vào trực giác là phân tách được chúng.

- Vậy là bốn bài thơ, không biết là đã có toàn bài hay chỉ là tàn câu?

Tần lão nhìn sang Ninh Nghị, cất tiếng hỏi.

---------------------------------

(1) Đưa chú thích này lên đầu nhằm giải thích về câu “tự treo cành đông nam” Nguyên văn: "Tự quải đông nam chi."nhằm giúp độc giả dễ hiểu hơn vì cả phần thơ trên đều liên quan đến câu này: Đây là một câu trong bài Tiêu Trọng Khanh thê, một bài văn vần theo dân ca đời Hán. Theo thói quen lấy câu đầu của bài thơ làm tên, Bài này còn có tên là Khổng tước đông nam phi (Chim khổng tước bay về hướng đông nam). Năm Kiến An đời Hán mạt, tiểu lại phủ Lư Giang là Trọng Khanh có vợ họ Lưu, vì bị mẹ Trọng Khanh đuổi, thề không tái giá. Bị nhà bức ép, nhảy xuống nước tự vẫn. Khanh nghe tin, cũng tự thắt cổ ở cây trước sân. Có người thời đó thương tâm, làm thơ thuật lại. Bài ca này được chia làm 4 đoạn: Đoạn 1 kể về cuộc sống của Lan Chi khi làm dâu nhà họ Tiêu đến khi bị đuổi, - Đoạn 2 kể việc Lan Chi bị đuổi và cảnh chia tay với Trọng Khanh, - Đoạn 3 kể từ khi Lan Chi về nhà đến khi bị anh mình ép gả cho nhà quan Thái thú, - Đoạn 4 kể từ khi Lan Chi bị buộc tái giá đến khi nàng và Trọng Khanh tự tử.

Câu "Tự quải đông nam chi" (tự treo (cổ) ở cành phía đông nam) là một câu thuộc đoạn 4, tả Tiêu Trọng Khanh tự tử:

Nguyên văn Hán Việt (trích):

"Bồi hồi đình thụ hạ

Tự quải đông nam chi"

Điệp luyến hoa dịch thơ: (nguồn: Thivien)

"Cây bên đình bước tới

Hướng cành đông nam treo"

Hướng "đông nam" trong câu thơ này cũng khớp với câu mở đầu "Khổng tước đông nam phi" (chim khổng tước bay về phương nam), lại lấy tứ từ câu: "Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi" (Con ngựa Hồ thấy gió bắc thì hí, con chim Việt làm tổ chọn cành nam), ý của câu này là không quên nguồn gốc, còn trong bài ca thì là không quên vợ cũ (nên tự tử).

(2) Hai câu mở đầu của bài Thoa đầu Phượng do Lục Du sáng tác. Bài từ Thoa đầu phượng được Lục Du sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt: ban đầu Lục Du lấy người em họ (con cậu) là Đường Uyển, hai người rất tâm đầu ý hợp, nhưng thân mẫu của Lục Du lại không ưa Đường Uyển, lại nghe thêm những lời gièm pha nên bà buộc hai người phải ly hôn. Về sau, Lục Du lấy Vương Thị, Đường Uyển cũng tái giá, lấy Triệu Sĩ Trình. Mấy năm sau, vào mùa xuân, hai người tình cờ cùng đi chơi vườn Thẩm, ngẫu nhiên gặp nhau. Đường Uyển lấy tình anh em họ, gửi rượu và dã vị mời Lục Du. Lục Du vô cùng thương cảm, vung bút đề lên bức tường trong vườn Thẩm bài Thoa đầu phượng này. Đường Uyển sau khi đọc được bài này trong lòng rất đau khổ, làm một bài từ cũng theo điệu Thoa đầu phượng họa lại. Sau đó nàng đau buồn, lâm trọng bệnh mà qua đời.

Nguyên văn Hán Việt:

Hồng tô thủ,

Hoàng đằng tửu,

Mãn thành xuân sắc cung tường liễu.

Đông phong ác,

Hoan tình bạc.

Nhất hoài sầu tự,

Kỷ niên ly tác!

Thác! Thác! Thác!

Xuân như cựu,

Nhân không sấu,

Lệ ngân hồng ấp giao tiêu thấu.

Đào hoa lạc,

Gian trì các.

Sơn minh tuy tại,

Cẩm thư nan thác.

Mạc! Mạc! Mạc!"

Nguyễn Xuân Tảo dịch thơ (nguồn: thivien):

Tay trắng muốt,

Rượu vàng rót,

Cây liễu cung sân xuân cách bức.

Gió đông dữ,

Tình thắm lỡ.

Một mối tơ sầu,

Bao năm tan vỡ.

Dở! Dở! Dở!

Xuân như trước,

Người gầy rạc,

Ngấn lệ đỏ ngầu khăn lụa ướt.

Hoa đào rữa,

Lầu gác trở.

Non thề còn kia,

Tờ hoa khôn ngỏ.

Chớ! Chớ! Chớ!

(3) Câu trong bài Tuyệt cú tứ thủ kỳ 3 của Đỗ Phủ:

Nguyên văn Hán Việt:

Lưỡng cá hoàng ly minh thuý liễu,

Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên.

Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,

Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền.

Tản Đà dịch thơ:

Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,

Một hàng cò trắng vút trời xanh.

Nghìn năm tuyết núi song in sắc,

Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình.

(4) Chữ khải (khải thư hay chính thư 正書) là cải biên từ chữ lệ và bắt đầu phổ biến vào thế kỷ III cn. Đây là kiểu chữ chính thức, chuẩn mực, dễ nhận biết, dễ đọc nhất và vẫn là phổ thông nhất trong các kiểu viết chữ Hán hiện nay.

(5) Chữ lệ: là thư thể thông dụng trong công văn, kiểu chữ này rất phổ biến giữa thế kỷ 3 và 2 TCN.

(6) Hai câu mở đầu trong bài Tống Biệt của đại sư Hoằng Giác.

Nguyên văn Hán Việt:

Trường đình ngoại, cổ đạo biên

Phương thảo bích liên thiên

Vãn phong phù liễu địch thanh tàn

Tịch dương sơn ngoại sơn

Thiên chi nhai,

Địa chi giác

Tri giao bán linh lạc

Nhất hộc trọc tửu tận dư hoan

Kim tiêu biệt mộng hàn

.

Mr.Lookluck dịch thơ:

Ngoài đình cổ, ven đường xưa

Cỏ xanh tới chân trời

Gió chiều thổi liễu buồn reo rắt

Tà dương đồi lại đồi

Nơi chân trời,

Nơi góc bể,

Tri kỷ sắp chia ly

Một bình rượu cay uống cho cạn

Miễn đêm mơ chớ buồn.

(7) Xem ghi chú (3)

(9) Câu trong bài Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài (Đến Kim Lăng lên đài Phượng Hoàng) của Lý Bạch:

Nguyên văn Hán Việt:

Phượng Hoàng đài thượng phượng hoàng du,

Phượng khứ, đài không, giang tự lưu.

Ngô cung hoa thảo mai u kính,

Tấn đại y quan thành cổ khâu.

Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại,

Nhị thuỷ trung phân Bạch Lộ châu,

Tổng vị phù vân năng tế nhật,

Trường An bất kiến sử nhân sầu.

Khương Hữu Dụng dịch thơ:

Đài Phượng Hoàng cao, phượng đến chơi,

Phượng đi, đài vắng, dải sông trôi!

Cung Ngô hoa cỏ che đường lối,

Đời Tấn cân đai hoá núi đồi.

Ba ngọn thanh sơn, trời khuất nửa,

Một vùng Bạch Lộ nước chia đôi.

Chỉ vì mây nổi che vầng nhật,

Chẳng thấy Trường An não dạ người.

Ảnh minh họa kiểu chữ Sấu Kim thể: http://readfree/bbs/attachme...d60e24ec21.jpg

(11) Chữ thảo (thảo thư) là thư thể được viết nhanh nhất, bút pháp phóng khoáng. Có chữ Hán khi viết bình thường theo lối chữ khải thì phải viết rất nhiều nét nhưng với thảo thư thì có thể viết bằng một nét. Nhiều chữ có thể viết liên miên nối tiếp nhau chỉ bằng một nét, thí dụ như cuồng thảo (狂草) (chữ thảo viết điên cuồng) của Hoài Tố (懷素, khoảng 730-780)

(12) Một câu trong bài Đăng Quán tước lâu (Lên lầu Quán Tước) của Vương Chi Hoán. (nguồn thivien)

Nguyên văn Hán Việt:

Bạch nhật y sơn tận,

Hoàng hà nhập hải lưu.

Dục cùng thiên lý mục,

Cánh thướng nhất tằng lâu.

Mailang dịch thơ:

Mặt trời theo núi lặn,

Hoàng Hà hướng biển sâu.

Muốn trông xa vạn dặm,

Lại bước lên tầng lầu.

Nguyên văn Hán Việt:

Bắc phương hữu giai nhân,

Tuyệt thế nhi độc lập,

Nhất cố khuynh nhân thành,

Tái cố khuynh nhân quốc.

Ninh bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc.

Giai nhân nan tái đắc.

Về sau, cụm từ "khuynh thành khuynh quốc" đã trở thành điển cố để hình dung người đẹp

(14) Xem ghi chú (1)

(15) Câu trong bài Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ đêm yên tĩnh) của Lý Bạch

Nguyên văn Hán Việt

Sàng tiền minh nguyệt quang,

Nghi thị địa thượng sương.

Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương.

Tương Như dịch thơ:

Đầu giường ánh trăng rọi,

Ngỡ mặt đất phủ sương

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,

Cúi đầu nhớ cố hương.

(16) Câu trong bài Lộc trại (Trại hươu) của Vương Duy

Nguyên văn Hán Việt:

Không sơn bất kiến nhân

Ðản văn nhân ngữ hưởng

Phản cảnh nhập thâm lâm

Phục chiếu thanh đài thượng

Trần Trọng San dịch thơ:

Núi trống vắng tanh người,

Chỉ nghe vọng nói cười.

Nắng vào trong núi thẳm,

Lên đám rêu xanh soi.

(17) Câu trong bài Tương tiến tửu (Mời rượu) của Lý Bạch

Nguyên văn Hán Việt (trích):

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.

Hsol dịch thơ (trích): (ưu ái cựu smod TTV nhá)

Xưa nay thánh hiền đều bặt tiếng

Duy còn bợm rượu mãi lưu danh

Xem toàn bài do hsol dịch tại đây: http://thivien/viewpoem.php?ID=146

(18) Câu trong bài Quá linh đinh dương (Qua biển Lênh Đênh) của Văn Thiên Tường.

Nguyên văn Hán Việt:

Tân khổ tao phùng khởi nhứt kinh,

Can qua liêu lạc tứ châu tinh.

Sơn hà phá toái phong phiêu nhứ,

Thân thế phù trầm vũ đả bình.

Hoàng Khủng than đầu thuyết hoàng khủng,

Linh Ðinh dương lý thán linh đinh.

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Trần Trọng San dịch thơ:

Cay đắng do từ một sách kinh,

Bốn năm quạnh quẽ cảnh đao binh.

Bông tung gió: vỡ tan sông núi;

Gió đập bèo: chìm nổi kiếp mình.

Ghềnh Sợ Hãi kể niềm sợ hãi,

Biển Lênh Ðênh than nỗi lênh đênh.

Xưa nay hỏi có ai không chết?

Hãy để lòng son chiếu sử xanh!

Ghi chú thêm là hai câu cuối "Xưa nay hỏi có ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh!" có lẽ do Trần Trọng San dịch quá hay nên không/chưa tìm thấy người dịch lại, chỉ thấy trích dùng (có hoặc không có ghi chú tên người dịch). Nguyên văn Hán Việt của câu này cũng được Nguyễn Công Trứ đưa vào bài thơ "Chí nam nhi" nổi tiếng của mình.

Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc

Nợ tang bồng vay trả, trả vay

Chí làm trai nam bắc đông tây,

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh

Ðã chắc ai rằng nhục rằng vinh

Mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ

Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ,

Quyết ra tay buồm lái trận cuồng phong

Chí những toan xẻ núi lấp sông

Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ

Ðường mây rộng thênh thênh cử bộ,

Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo,

Thảnh thơi thơ túi rượu bầu

Chương 19: Trung Thần

- ...Cũng không biết là có cả bài, hay chỉ là mấy câu?

Ven sông Tần Hoài, Tần lão mở miệng hỏi Ninh Nghị, Khang Hiền bên cạnh lại thở dài:

- “Ba ngọn thanh sơn trời khuất nửa, một vùng Bạch Lộ nước chia đôi...” Dù chỉ là tàn cú, nhưng cũng đã đạt đến phong thái đại gia rồi...

Ninh Nghị nhìn mấy câu thơ, cười rộ lên:

- Ồ, tàn cú.

Rồi gã phủi phủi tay:

- Không hiểu thi từ..

- Tiểu tử này không thành thật, bằng không hôm nay lại có được mấy bài thơ hay..

Nói thì nói thế, thi nhân làm thơ chỉ làm được tàn câu cũng là chuyện bình thường, hai người không nói tiếp nữa mà chuyển sang lĩnh vực thư pháp. Đây là một lĩnh vực riêng, thơ viết ra cũng có thể nói là do người khác sáng tác, nhưng không thể nói chữ là do người khác viết ra được, huống hồ mấy kiểu chữ ở phía trên rõ ràng là tự cấu thành một hệ thống, hai người đều là cao nhân trong việc này, tự nhiên có thể nhìn ra môn đạo trong đó.

Đối với những đại gia thư pháp như bọn họ mà nói, từng chữ dùng bút viết ra đều có cái hồn trong đó, những chữ viết bằng than này tuy còn chưa tới trình độ đại gia, nhưng công lực cũng đã hiển lộ rõ ràng. Giống như Nhiếp Vân Trúc, thời đại này không ai nghĩ lại có người ở nhà chuyên luyện thứ bút pháp dạng này, kẻ có thể dùng mẩu than mà viết ra được như vậy trình độ hẳn là còn cao hơn nữa, đặc biệt là những loại thư pháp trước đây chưa từng thấy lại càng có giá trị cao tới mức khó mà định lượng.

Xét đến mấy chữ nghiêng đậm viết ở cuối, tuy mới lạ nhưng giá trị tham khảo chả được mấy, chỉ có thể coi như một trò giải trí. Nhưng mấy chữ “Ba ngọn thanh sơn trời khuất nửa, một vùng Bạch Lộ nước chia đôi” viết theo dạng Tống thể và Sấu Kim thể kia mới đúng là thứ làm cho bọn họ phải tán thưởng rất nhiều, vì trong nó ẩn chứa rất nhiều môn đạo.

Hai kiểu chữ này đúng là xuất hiện từ thời Tống, quỹ tích của triều Vũ cũng như triều Tống, văn nhân đông đảo, Nho học phát triển mới sản sinh ra nhiều thứ mới mẻ, hai kiểu chữ này không thể nghi ngờ là vừa mới lạ lại vừa phù hợp với phong tục và thẩm mỹ của thời đại.

Vượt trước thời đại một bước là thiên tài, vượt trước hai bước thông thường được coi là kẻ điên, hai kiểu chữ này vừa vặn có nền tảng cơ sở của thời đại, xem như là lượng biến thành chất, đạt được hiệu quả thẩm mỹ đột phá. Lúc Ninh Nghị viết ra cũng không có chủ định trước chuyện này, nếu có thì chỉ là muốn làm cho đối phương kinh ngạc khi nhìn nhận vấn đề mà thôi. Với cách tư duy của gã, không thể tính là chủ động thi thố, các suy tính phức tạp đã xử lý xong từ trong tiềm thức, giờ chỉ thể hiện ra theo cách đơn giản nhất mà thôi. Những thứ liên quan tới văn hóa này không đáng kể để mà dấu dốt, kiểu chữ nghiêng đậm không căn cứ kia vừa đủ để chứng minh ngày thường gã hay giải trí vớ vẩn bằng những trò gã có hứng thú, cũng vừa đủ để duy trì ấn tượng của kiểu chữ Tống thể cùng Sấu Kim thể, khiến ấn tượng kinh diễm này diễn ra một cách tự nhiên không quá lộ liễu.

Trong lúc hai người nghị luận về thư pháp, Ninh Nghị chủ yếu là giữ im lặng, chỉ thỉnh thoảng nói vài điểm then chốt mà gã biết. Hai người này thực sự là đại hành gia, kiến thức cơ bản hơn gã không biết bao nhiêu lần, chi bằng ít nói giấu dốt là hơn. Mấy ngày qua gã nhàn tản vô vị, cũng đầu tư nâng cao kỹ năng thư pháp, thỉnh thoảng nghe được mấy lời cũng thấy có nhiều lợi ích.

Nếu là dạng học sinh tài tử thông thường, sợ là không được học từ những bậc thầy có trình độ như hai người đây. Đương nhiên, thái độ của hai người đều là như đang dạy học, nói chung là như giảng giải và phân tích cho đệ tử nghe, học sinh bình thường mà nghe quá nhiều chỉ sợ cũng là vô ích. Nhưng năng lực quy nạp, biện luận, chỉnh lý của Ninh Nghị rất mạnh mẽ, đối với kiến thức uyên bác của hai người này cũng chỉ là bội phục, không đến nỗi sùng bái mù quáng nghe theo, thậm chí còn tìm ra một vài điểm không quan trọng.

Lần thảo luận thư pháp này kéo dài ước chừng nửa canh giờ, thỉnh thoảng mấy người lại cầm mẩu than viết viết vẽ vẽ lên tấm bảng trắng, tay đen thui một mảng, tiếp đó ra bờ sông rửa tay. Tần lão và Khang lão lúc này cũng không bàn tới chuyện bút pháp của bút than với bút lông nữa, với trình độ mà Ninh Nghị biểu hiện ra, đổi mới đôi chút trong một thư viện nho nhỏ tất không cần bọn họ góp ý. Đương nhiên, nếu như muốn phát triển mở rộng ra ngoài, chuyện này hẳn có vấn đề. Ninh Nghị phủi phủi tay, sau đó vẫy những hạt nước trên tay thuận miệng nói:

- Thật ra thì than củi viết vẫn không tốt lắm, ta tính qua mấy ngày nữa đi kiếm ít thạch cao làm vài cây bút phấn để sử dụng. Đến lúc đó chỉ cần sơn đen tấm bảng, bên trên viết chữ màu trắng, rõ ràng hơn nhiều so với chữ viết bằng than củi, lau chùi cũng đơn giản hơn.

- Thạch cao?

Khang lão ngờ vực hỏi:

- Bút phấn là cái gì?

- Thạch cao sau khi nung qua lửa thì cho thêm nước rồi khuấy lên, rồi ngưng kết thành thỏi trong khuôn đúc. Nó có thể dùng để viết chữ và không mờ như than củi, cầm trong tay cũng không bẩn như thế này.

thạch cao Triều Vũ cũng đã có, Khang lão suy nghĩ một lát rồi gật đầu:

- Đúng thế, thạch cao sau khi nung khô xác thực có thể dùng để viết... A, chuyện này khỏi cần nhờ ai, để lão phu dặn đám người làm chế cho ngươi là được. Không biết yêu cầu hình dạng cụ thể lớn nhỏ thế nào và còn có gì cần chú ý không?

Ninh Nghị vốn biết Khang Hiền nhà to nghiệp lớn, nếu lão đã mở miệng tất cũng không chối từ, gã lập tức khoa tay múa chân phác họa phấn viết một phen. Quy trình làm phấn viết vốn đơn giản, dù cho không làm, lấy một khối vôi đóng rắn trong lò miễn cưỡng cũng có thể viết chữ được, nên điều muốn nói cũng không nhiều:

- Có thể kêu thợ thủ công làm thử vài lần, hoặc là trộn chút đất sét, tốt nhất là cố gắng tìm ra tỉ lệ pha trộn sao cho thích hợp nhất để viết.

- Chuyện này lão phu đương nhiên hiểu. A Quý.

Khang lão mỗi lần ra khỏi nhà đều có bốn gã người hầu, hai nam hai nữ lúc nào cũng ở gần đó, lúc này gọi tới một người:

- Lời Ninh công tử ngươi đã nghe được, sau khi trở về hãy phân phó xuống làm.

Người nọ liền khom người nói:

-Vâng.

- Ha ha, vừa rồi chỉ toàn luận chữ, trà nguội mất rồi....

Lúc nãy ba người tay cầm than nên không tiện rót trà, bây giờ thời gian đã không còn sớm, cũng không còn bao nhiêu tâm tư chơi cờ, mấy người ra quán trà ngồi một lát, nha hoàn của Khang Hiền lại rót trà mới. Tấm ván gỗ màu trắng vẫn còn để ở bên, đề tài tự nhiên vẫn loanh quanh chuyện con chữ. Một lát sau, bình luận của Tần lão bình chuyển sang phong cách một số bậc thầy thư pháp đương đại, lão vốn am hiểu thư pháp, một hơi bình luận hoa rơi nước chảy, tiện thể trêu chọc kiểu chữ của Khang Hiền một phen, Khang Hiền cười mắng:

- Thể chữ Lệ với cuồng thảo, lão phu có lẽ không bằng ông, nhưng nếu luận về chữ Khải thì ông thua xa lão phu lắm lắm.

Tần lão cười nói:

- Đấy gọi là thuật nghiệp phải có chuyên công, Minh công cả ngày lấy đạo quân tử dạy người, chữ Khải nếu kém không khỏi mất đi tính tín phục. Chỉ vì muốn dạy người cho thuận tiện mà luyện chữ Khải tới cảnh giới như vậy, Minh công đáng làm “sử thượng đệ nhất nhân...”

Cười giỡn như thế chốc lát, Tần lão ngẫm lại, chuyển sang đề tài khác:

- ... chữ viết của Lập Hằng khiến lão phu nhớ tới một người, người này cũng là họ Tần, rất tài hoa, trước kia lúc ở Đông Kinh cũng quan hệ chữ nghĩa với lão phu, tài ăn nói cực kỳ xuất chúng mà viết chữ cũng rất đẹp, phong cách của y cũng giống phong cách câu "Ba ngọn thanh sơn trời khuất nửa" của Lập Hằng, có thể coi là Nhan cân Liễu cốt (1)... Tiếc là nét chữ của y năm đó còn chưa thoát khỏi khuôn mẫu cũ, giờ đây cũng không biết ra sao.

Khóe mắt Ninh Nghị khẽ giật giật, không ngờ Khang Hiền ở bên lại nở nụ cười:

- Lời Tần công nói, chẳng lẽ là người vừa mới nhậm chức ngự sử trung thừa Tần Cối Tần Hội Chi?

Tần lão gật đầu:

- Chính là người này, mấy năm trước người Liêu xuôi nam, từng bắt đi cả nhà của y, song người này hữu dũng hữu mưu, thâm nhập vào nơi hổ sói, vẫn có thể giả trá cùng người Liêu (2), năm trước, thừa cơ người Liêu tấn công Sơn Dương, y dẫn người nhà về nam. Haiz... Bây giờ y đã là ngự sử trung thừa rồi sao?

- Bản thông báo tháng trước đã truyền tới chuyện này. Từ khi quay về đến giờ y rất được trọng dụng, đặc biệt là trong thời khắc nguy nan vẫn không quên vợ cả. Nghe nói lúc ấy ở nước Liêu, người Liêu vốn muốn giam giữ vợ y, hai người hao tổn tâm huyết diễn một vở kịch hay mới có thể cùng nhau trốn về nam, trên đường chạy trốn bị người Liêu phát hiện, cũng nhờ mấy tên đầy tớ trung thành liều chết đoạn hậu mới đào thoát thành công, đủ thấy ngự phê cũng có ý... Ai, cũng vì chiến sự tiền tuyến bất lợi, sự tích của y mới lại càng trân quý. Nhưng bây giờ trong triều cũng không phải hoàn toàn tán thưởng, chuyện y về nam bị hoài nghi rất nhiều, cho rằng chuyện này khả nghi, sợ là có điều quái lạ khác..

Tần lão suy nghĩ, lắc đầu:

- Việc này cũng khó nói, nhưng chuyện đoán mò vô căn cứ không phải là hành vi của quân tử, dựa vào lão phu ngày đó chứng kiến, người này đoan chính ngay thẳng, là người công minh chính trực, yêu quốc yêu dân tuyệt không phải là giả vờ, sau này ra sao phải xem hành động thực tế mới biết được. A... Lại nói tiếp, Hội Chi lão gia cũng đang ở Giang Ninh, sau này nếu y đến, Lập Hằng cũng nên gặp, nói không chừng có thể cùng chung tiếng nói...

Ninh Nghị nháy nháy mắt, tiếp đó có chút phức tạp mà sờ sờ mũi, qua một lát rốt cuộc bật cười, gật gật đầu lấy lệ.

Tần lão và Khang lão không thấy có gì không ổn, Khang Hiền nâng tách trà lên uống một ngụm, nhìn về phía Ninh Nghị:

- Có điều là Lập Hằng tài hoa như thế, chẳng lẽ thật không một chút ý niệm công danh gì sao?

Nói về thời gian gặp mặt, Ninh Nghị cùng hai người lui tới cũng chưa lâu, hình như Khang Hiền đã từng nói, chẳng qua chỉ là giao tình trong như nước giữa những bạn cờ, cùng nhau nói chuyện phiếm (3), nhưng nhìn chung văn nhân đều nung nấu ý tưởng vì nước vì dân, vì thiên địa tu tâm, vì dân sinh mà sống, vì kế thừa học thức tiên hiền, vì vạn thế mở thái bình, nếu không thì cũng là học văn tập võ luyện nghệ để ra sức cho hoàng đế, đây đều là những chuyện nghiễm nhiên khỏi cần bàn luận. Bây giờ trông Tần lão mỗi ngày nhàn nhã chơi cờ, Khang Hiền cũng lộ ra là người phú quý rảnh rỗi, nhưng trong đó cũng có ẩn tình phức tạp.

Những ngày tiếp xúc vừa qua, từ bài Thủy điệu ca đêm trung thu tới chữ viết rồi bút phấn, đối với hai lão mà nói, chuyện Ninh Nghị có tài khỏi cần bàn luận, nghi vấn cũng là dần dần lớn. So với ngày xưa khi có lần Tần lão thở vắn than dài đáng tiếc cho chuyện gã đi làm một kẻ ở rể, lúc đó chỉ là thở dài mà không nghi vấn, nhưng lần này ý nghĩa của vấn đề đã không còn giống như trước nữa.

Lần này nói chuyện cả chiều là về những con chữ, ý đồ phủ nhận cái danh tài tử của Ninh Nghị rất rõ ràng, không phải là nói giỡn hay thuận miệng cho có lệ. Thế gian sao lại có người không có ý tưởng công danh cơ chứ, hẳn là có ẩn tình gì đó. Mà thân phận của hai người này đều không đơn giản, nếu Khang Hiền đã hỏi với thái độ như vậy, hẳn đã thực sự động lòng mến tài. Điều này có nghĩa là.. tỏ thái độ sẵn sàng động thủ hỗ trợ.

Gió thu vi vu hiu hắt từ bờ sông thổi xao xác cành liễu, Tần lão nhấc chén trà, chầm chậm thổi lá trà trong chén, nhướn mắt nhìn sang, hiển nhiên cũng đang hiếu kỳ đợi câu trả lời của Ninh Nghị. Cảm nhận được hàm nghĩa trong câu hỏi, Ninh Nghị nhàn nhạt lắc đầu.

- Ta biết nói ra không ai tin, nhưng mà.. có một số việc thực sự không muốn làm. Tài tử cũng tốt, thanh danh cũng tốt, công danh cũng được nhưng không muốn tranh giành. Điều này.. là sự thật.

--------------------------

(1) Nhan cân Liễu cốt: Nhan: Đời Đường có hai đại hành gia về thư pháp là Nhan Chân Khanh và Liễu Tông Nguyên, lập ra hai thể chữ là Nhan thể và Liễu thể. Cân chỉ khí lực, cốt chỉ cốt cách đặc biệt.

Nhan cân Liễu cốt: ý chỉ chữ viết có khí lực như của Nhan Chân Khanh, có cốt cách sắc sảo như Liễu Tông Nguyên.

(2) Nguyên văn: hư dữ ủy xà: ý là lịch sự nhưng không chân thành, lá mặt lá trái.

(3): Nhại lại câu: “Quân tử giao tình trong như nước”. ý là giao tình giữa những bạn cờ, chuyện phiếm không vồ vập nhưng lại như giao tình của những người quân tử.

Chương 20: Suy Đoán

- Tại hạ biết nói ra không ai tin, nhưng mà.. có một số việc thực sự không muốn làm. Tài tử cũng tốt, thanh danh cũng tốt, công danh cũng được nhưng không muốn tranh giành. Điều này.. là sự thật.

Tuy giọng điệu Ninh Nghị hờ hững, nhưng trong giọng nói ẩn chứa sức thuyết phục không thể nghi ngờ, gã nghiêm túc trả lời vấn đề này. Không chút gượng ép khổ tâm mà rất thẳng thắn và chân thành. Lúc này gã cùng lắm mới hai mươi tuổi, từng là một tên văn nhân ngốc nghếch. Nếu là con mọt sách như trước kia, đứng trước mặt Tần lão Khang lão e rằng nói chuyện cũng lắp ba lắp bắp, nhưng giờ phút này khí chất của gã phối hợp với bộ dáng vô cùng tiêu sái, không chút vướng bận làm mọi người không thể không chú ý. Dường như khí chất này là ở trên một người trung niên khoảng bốn mươi lăm tuổi, chín chắn vững vàng, sâu sắc ổn trọng, lời nói nặng ngàn vàng, chân thành tin cậy.

Chính vì như vậy nên câu trả lời của gã càng làm cho hai người nghi hoặc. Đối diện với người như Khang lão mà có thể nói ra những lời như vậy, hàm ý tuyệt đối không đơn giản. Huống hồ với kiểu quan hệ thế này, Khang lão cũng không định giao dịch hay cần gã báo đáp gì, nếu người bình thường thì sẽ ngu ngốc thấy tự mãn hoặc là chối phắt đi, nhưng Ninh Nghị hẳn không phải là loại người đó, đối phương nghi ngờ làm gã có chút bất đắc dĩ, cười khổ, nói:

- Ài, tại hạ cũng biết việc này làm mọi người hoài nghi, chỉ là...

Gã nhẹ đưa ngón tay chỉ lên trán.

- Chắc hai vị không biết, mấy tháng trước tại hạ từng bị đánh vào đầu, hôn mê mấy ngày sau mới tỉnh lại. Chuyện ngày trước quên đến sáu bảy phần, vậy nên đường công danh trước mắt rất khó để bụng, còn chuyện lưu luyến thanh lâu trên thuyền hoa với một đám tài tử ngâm thơ viết phú, được các cô nương yêu mến ta cũng không có nhiều hứng thú. Vậy nhưng đám trẻ con bên thư viện kia lại khiến ta thấy thú vị, thỉnh thoảng kể cho bọn chúng vài cố sự, tranh cãi này nọ, còn không thì tới bờ sông này chơi cờ uống trà, đầu óc cảm thấy thư thái dễ chịu, một vài ý nghĩ thú vị cũng sẽ dần kéo đến. Cuộc sống được thế này là đã thỏa mãn rồi, về việc bị người đời khinh thường cần gì phải quan tâm, tương lai thế nào sao có thể biết được. Ý tốt của Minh công ta sẽ cân nhắc kĩ.

Gã chắp tay thi lễ, cúi đầu:

- Việc này tại hạ xin ghi nhớ trong lòng.

Những lời này dĩ nhiên có thật có giả, đương nhiên không thể đem hết sự thật nói rõ với bọn họ, đành đem chuyện bị người ta đánh vào đầu, bị mất trí nhớ để bao biện thoát khỏi nghi vấn, như lật mặt một thành mặt sáu, mặt hai thành năm của con xúc xắc là biện pháp tốt nhất. Câu chuyện tự trở nên hợp lý, không cần phải giải thích thêm, làm cho đối phương như ăn phải thứ gì nhạt nhẽo mà không bận tâm dò hỏi, thấy trở ngại thôi không quan tâm nữa.

Quả nhiên, hai người Khang lão Tần lão còn hơi nghi hoặc, Ninh nghị liền nói qua việc mất trí nhớ mới làm đối phương như bừng tỉnh. Khang Hiền lắc đầu cười cười:

- Không ngờ lại có việc này. Thì ra sau khi bị mất trí nhớ, suy nghĩ lại có chút cổ quái.

Sau đó Khang lão không nhắc lại mấy chuyện kia nữa. Uống xong chén trà, Ninh Nghị cầm lấy bảng trắng và than củi, từ biệt đi tới thư viện Dự Sơn. Khi bóng dáng gã khuất khỏi con đường phía xa, Khang lão mới thở dài:

- Chuyện này thật không thể ngờ tới, bị đánh một trận lại làm cho tâm tính biển đổi thành đạm bạc. Trong những người trẻ tuổi, có được tâm tính như thế này thật là hiếm thấy, chỉ tiếc cho một thân tài hoa.

Tần lão cười hài, uống ngụm trà, nói:

- Hiện tại hắn cùng lắm hai mươi tuổi đầu, ngày sau phát triển thế nào sao có thể nói chắc được. Với tài hoa của hắn, nếu gặp phải chuyện gì thì tốt nhất cũng nên tránh đi. Nhưng chuyện hôm nay lại làm ta thấy phải suy nghĩ... Minh công, con người Lập Hằng này có phải thật thà quá mức không.

Khang Hiền nhíu mày:

- Người này đúng thực là như thế. Nhìn những câu thơ hắn tiện tay ghi ra đều rất hay, cứ như xuất khẩu thành thơ, vậy mà làm như không quan tâm tới. "Cây bên đình bước tới

Hướng cành đông nam treo"(1)

- Thư pháp thì cũng hạ bút thủ đúng niêm, lai(2). Nhiều phương diện đều đạt đến trình độ cao vậy mà dường như gã chỉ coi là thú tiêu khiển thường ngày. Mấy chuyện này ở trong mắt gã còn không thú vị bằng viên phấn viết bảng kia...

Tần lão gật đầu, nói:

- Thành thật thì cũng tốt thôi, nhưng nếu thành thật quá mức sợ rằng sau này sẽ mang lại phiền toái. con người Lập Hằng tuy cũng có phần hiểu đạo lý: tránh nặng tìm nhẹ. Nhưng dù sao tuổi trẻ khí thịnh, trong một vài việc vẫn còn khá kiêu ngạo. Hắn không muốn kể lại những khảo nghiệm học sinh của mình, nhưng trước mặt tôi và ông lại không cố gắng che dấu. Đại khái là như thế. . .

Lão suy tư một hồi rồi cười nói:

- Chuyện này không nên suy nghĩ nhiều, chúng ta chẳng qua dùng quân cờ kết bạn, quan tâm quá nhiều cũng không nên, biết được suy nghĩ của hắn rồi. Sau này mọi chuyện diễn ra thế nào, ngồi quan khán vậy.

Mấy ngày tiếp theo, cái tên Ninh Nghị dấy lên hồi sóng gió lớn, nhỏ trong thành Giang Ninh, nhìn thấy Thủy Điệu Ca Đầu tự nhiên sẽ có đủ loại nhận định và suy đoán về người này. Phần lớn nhận định đều đơn giản, nhưng quan hệ càng gần gũi càng dần trở nên phức tạp. Ví như Khang lão Tần lão, nhiều người khác trong Tô gia hay họ hàng thân thích xa gần..., gần hơn nữa không thể nghi ngờ là Tô thái công. Sau đó là Thiền Nhi, Quyên nhi, Hạnh nhi.

Mấy ngày này Hạnh nhi thường dùng Ngàn dặm cộng thiền quyên(3) để trêu ghẹo hai người, Thiền nhi còn có chút chuẩn bị tâm lý, còn Quyên nhi có thể nói là kiểu gì cũng dính, mỗi lần là mặt đỏ tới tận mang tai, khuôn mặt mắc cỡ như bình trà nhỏ bị nung nóng, lén lút cùng Thiền nhi oán trách:

- Tại sao Cô gia lại viết ra những lời này chứ...

Mấy ngày nay, nàng vừa thấy Ninh Nghị liền thấp đầu trốn biệt. Trong những người này, tâm tình phức tạp nhất có lẽ là Tô Đàn Nhi, nói một cách công bằng, điều làm cho nàng quan tâm nhất. không phải là phu quân có bao nhiêu tài hoa, mà là tính cách cổ quái của gã làm cho nàng không thể hiểu rõ.

Nguyên nhân nàng gả cho Ninh Nghị vì đối phương là một người giản đơn, mình có thể dễ dàng bắt nạt. Mặc dù thành thân, nhưng đối phương ở rể nơi đây làm nàng càng không bị chê trách khi tham dự vào sự nghiệp của Tô gia. Tuy hiện tại cuộc hôn nhân này vẫn chỉ là hữu danh vô thực, nhưng trong lòng nàng ít nhiều cũng đã đón nhận đối phương, còn lại chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

Vậy mà lúc này nàng chợt phát hiện, chính mình hoàn toàn nhìn không thấu phu quân.

Đương nhiên vấn đề lúc này cũng có chút đầu mối, phu quân xem ra không màng danh lợi, không giống như người trong lòng có quỷ, Tô Đàn Nhi là một nữ tử thông minh điềm tĩnh, chưa hẳn vì chuyện này mà hoang mang. Nhưng mà sau khi xử lý các việc ngoài cửa hiệu, trong lòng cứ mãi suy tư không dứt, ở thời đại này, dù là cô bé thông minh và cá tính hơn nữa, khi đã gả cho người khác, ai mà không thật sự quan tâm đến phu quân của mình chứ?

Mấy ngày nay, nàng vẫn bận rộn quản lý rất nhiều cửa hiệu tơ lụa tại Giang Ning, lúc rảnh rỗi liền bảo Quyên nhi đến con phố Ninh Nghị từng sống trước đây để tìm hiểu tin tức, đã thế trong lúc giao thương nếu tình cờ gặp người quen nàng cũng bị hỏi:

- Vị Ninh Nghị Ninh Lập Hằng kia là hôn phu của nàng sao?

Sau đó liền tán thưởng Thủy Điệu Ca Đầu một phen.

Sau khi kết hôn vốn cũng định mang phu quân đến gặp mặt người quen một lần, để khẳng định thân phận mình là người phụ nữ đã có chồng, lúc nói chuyện làm ăn sẽ thuận tiện hơn. Thế nhưng thời điểm kết hôn, chỉ vì tính cách trẻ con của nàng mà Ninh Nghị bị người ta đánh ngất, từ đó về sau hai người giữ thái độ đúng mực, tới bây giờ cách hai bên chung sống với nhau giống như đã được định hình sẵn, chỉ lúc ăn cơm trong nhà mới trò chuyện đôi câu. Tuy thái độ nàng đối với Ninh Nghị khá tự nhiên, nhưng dù sao cũng đã thành thân, như thế vẫn còn đôi chút dè dặt và kiêu ngạo. Vì thế nên tới bây giờ, ngoại trừ lần tham gia hội thơ Bộc Viên, đến giờ nàng chưa cùng Ninh Nghị đi ra ngoài tham dự sự kiện gì mới. Hiện tại nàng lại càng khó đề xuất.

Chuyện hỏi thăm khắp mọi nơi, sưu tầm các tin tức có liên quan đến Ninh Nghị thực sự cũng đã làm một lần trước khi kết hôn, phần lớn là do phụ thân và gia gia sai người đi làm, nàng và mấy nha hoàn có xem xét lại, đồng thời còn để Thiền nhi, Quyên nhi nghe ngóng tin tức có liên quan tới Ninh Nghị, khi đó tin tức thu được gã chỉ là một con mọt sách đơn giản, học vấn không tính là cao, đương nhiên cũng không phải là một tên ngốc chỉ lo đọc sách không thức thời, nếu không sao lại đồng ý đề nghị ở rể Tô gia. Thời đại này một nam nhân muốn đến ở rể nhà khác đại khái là đã thừa nhận số mệnh.

Thế nhưng tin tức Quyên nhi tìm hiểu được sau này so với trước đây có chút khác biệt.

Phần lớn đánh giá vẫn như trước kia, ấn tượng Ninh Nghị trong khu phố kia không đậm nét lắm. Có nhiều gia đình sau khi Quyên nhi phải nhấn mạnh nhiều lần: nam tử ở tại nhà nào, học ở đâu thì đối phương mới nhớ ra:

- À, đúng là có một người như vậy.

Hoặc là nói:

- Thằng ngốc đọc sách kia ư, nghe nói là đi ở rể nơi nào rồi, đến tiểu viện cũng bán đi.

- Chắc là cảm thấy đi thi cũng không được công danh.

Những câu nói như vậy chiếm đa số.

Nhưng cũng có hai ba người nói:

- Ồ, Lập Hằng ư, ta sớm đã biết tài học gã kinh người, chỉ là luôn biết điều, tính tình cũng ổn trọng, không muốn so đo với người khác. Còn mấy tên tài tử kia, trong bụng không được mấy chữ lại thích huênh hoang khoác lác, loại đấy gọi là thùng rỗng kêu to. Chắc cô nương nghe được bài Thủy Điệu Ca Đầu kia mới đến hỏi thăm đúng không?

- Ở rể, ở rể vì có hôn ước chăng, đứa bé Lập Hằng này rất thành thực, có hôn ước nhất định sẽ tuân theo...

-Từ tam thẩm sát vách cho đến Ngưu nhị bá đầu hẻm đều nói như vậy, nô tỳ cho bọn họ năm mươi văn tiền...

Tuy nàng chỉ là một tiểu nha hoàn, nhưng bản lĩnh tìm hiểu tin tức của Quyên nhi tuyệt đối không thể khinh thường, lúc này ngẫm lại thấy buồn cười, nói ra ý kiến của mình:

- Nhưng mà nô tỳ cảm thấy tất cả bon họ đều nghe xong khúc Thủy Điệu Ca Đầu kia mới nói như vậy, không có giá trị gì mấy. Đáng tiếc thầy dạy cô gia lúc trước là Trâu phu tử đã qua đời năm ngoái, nô tì cũng đi hỏi thăm một chút, sư nương cô gia hầu như không nhớ đến cô gia, chỉ sau khi nô tỳ nói rõ mục đích mới dễ nói chuyện hơn. Gia cảnh góa phụ nhà Trâu phu tử có vẻ không tốt lắm, nô tỳ tự chủ trương đưa ra hai quan tiền, nói một chút về chuyện biết ơn những ngày trước, lấy danh nghĩa cô gia mà đưa.

- Như vậy là đúng lắm...

Tô Đàn Nhi gật đầu, sau đó nở nụ cười, nhưng kèm theo đó là nghi hoặc nồng đậm như cũ. Thu thập tin tức không phải người ta nói gì mình cũng tin, tuy rằng lần này thu được một vài chuyện tốt, nhưng tin tức trên căn bản vẫn không khác so với trước đây.Đến khi Quyên nhi điều tra một hướng khác, xem ra suy đoán cũng đúng được phần nào, làm Tô Đàn Nhi dần dần hiểu được một cách sơ lược.

- Lúc cô gia ra bờ sông chơi cờ có quen biết với mấy lão nhân, sợ là không phải người thường... Hiện tại có thể biết được chắc chắc một người, chính là người nói chuyện với cô gia hôm hội thơ Chỉ Thủy, Khang lão gia tử...

- Ừm?

Những chuyện trước khi Ninh Nghị mất trí nhớ có thể xác nhận được, vậy thì nếu xảy ra chuyện gì chính là sau khi mất trí nhớ, chuyện trước đây Ninh Nghị đi ra bờ sông chơi cờ, quen biết mấy người bạn nàng cũng biết, chỉ là không tìm hiểu gì thêm, giờ đây nghe được tin này làm nàng sợ hết cả hồn, phu quân mình có thể quen biết với nhân vật cỡ này, không biết là do may mắn hay do chuyện gì khác, tin tức phản hồi sau đó càng làm nàng kinh ngạc.

Từ trong hội thơ Chỉ Thủy truyền ra tin nói rằng Khang Hiền chính là bậc thầy về Lý học(4), tài nghệ trên mọi phương diện đều làm cho người người phải tôn kính. Đằng sau còn ẩn chứa một ít bối cảnh. Thực ra không không phải cố gắng che đậy gì, chỉ là không tiện nói ra mà thôi, muốn tìm hiểu liền biết được.

Khang Hiền Khang Minh Doãn không những là bậc thầy về thư pháp, là thái đẩu của Lý học, đồng thời còn một thân phận khác: Chính là phò mã công chúa Thành Quốc, là hoàng thân quốc thích. Tuy nói Vũ triều quản thúc rất nghiêm hoàng thân quốc thích, phò mã không được tham dự vào chuyện quốc gia đại sự, làm quan trong triều, nhưng hiện nay công chúa Thành Quốc là cô cô của đương kim thánh thượng, vậy ra Khang Hiền này chính là chú của thánh thượng. Dù chỉ là một người nhàn tản không có phận sự, nhưng thân phận cao quý không thể tả, căn bản không phải là người mà một gia đình thương nhân như Tô gia có thể với tới.

Khi tin tức này lộ ra liền mang tới chấn động khó nói nên lời, Tô Đàn Nhi nhất thời như đang nằm mơ, nhưng sau giây lát rung động, một chút đầu mối tương đối rõ ràng cũng dần bày ra trước mắt.

- Rốt cuộc, cô gia làm sao lại có thể quen biết với loại nhân vật bực này cơ chứ, em lại nghe Thiền nhi nói bọn họ gặp nhau rất tự nhiên, tiện tay đặt quân cờ xuống liền trở nên quen biết.

Quyên nhi nghi hoặc, trở nên hơi bối rối, nói:

- Nhưng mà tính ra, thân phận Khang lão gia tử so với thân phận cô gia... thật là...

Lời tiếp theo Quyên nhi không dám nói ra, nhưng vậy với nàng cũng đã đủ rồi. Đạo kinh thương lúc tiếp xúc với đủ loại tin tức, mỗi phút mỗi giây đều phải lược bỏ dần đi, đôi khi có chút đầu mối khiến người ta khó mà tin tưởng, song một khi các đầu mối khác đều bị loại bỏ, cái còn lại chính là kết quả chính xác.

Thân phận phu quân và Khang lão gia tử...đều là người ở rể ...

Đối với Tô Đàn Nhi, tuy đáp án này lúc thường sẽ có chút lạ lùng, nhưng có lẽ là đáp án chấp nhận được nhất.

Có lẽ phu quân hạ cờ rồi quen biết đối phương chứ vẫn chưa biết thân phận của người đó, nhưng thật sự hai người có điểm tương đồng. Thân phận phò mã tưởng chừng tôn quý, cưới được công chúa, trên thực tế cũng là ở rể hoàng thất.Với tài hoa kia của ông ấy nhưng cả đời không thể làm quan, không thể mở ra khát vọng trong lòng. Vậy nên ông ấy thấy phu quân như vậy liền có ý tương trợ cũng không khó hiểu, khó trách lão tại hội thơ Chỉ Thủy chặn lời nói mọi người, dương danh phu quân.

Khúc Thủy Điệu Ca Đầu kia phu quân nói do đạo sĩ đi qua trước cửa làm, không những gia gia không tin, mình cũng tuyệt đối không tin, bởi vì chắc chắn tiểu Thiền sẽ không gạt mình, đạo sĩ kia ngâm một bài thơ, chẳng lẽ lại xướng lên sao... Hoặc nếu phu quân thực sự ngẫu nhiên nghe được, hoặc là do Khang lão gia tử kia làm đều rất khó nói, hiện tại nàng cũng không lưu tâm nhiều, dù sao nghi ngờ trước đó ở khắp mọi nơi, hiện tại xắp xếp lại đã tìm thấy một con đường sáng tỏ thông suốt, vì thế đối với một số việc không cần phải chú ý quá nhiều.

Tính cách phu quân thật ra rất đạm bạc, nói chuyện và làm việc đều không làm người khác chán ghét, còn tài hoa cao hay thấp nàng cũng không quan tâm lắm, thấp thì tốt hơn, chàng ở rể tại đây, mình cũng đỡ ngại ngùng, cao thì quả là một điều đáng vui mừng. Hội thi thơ đêm trung thu không ngờ lại có màn kịch như vậy, nếu là mưu tính của vị Khang Hiền kia, nói không chừng là do lão nhân gia nhất thời cao hứng đùa vui thôi.

“Để lão phu bày ngươi cách dọa nương tử và người nhà ngươi nhảy dựng lên nhé...”

Nếu thế cũng không phải không có khả năng, tính tình phu quân mình vốn hờ hững, nhưng mới từng này tuổi chưa chắc đã an phận ở rể, tuy gia gia không hà khắc với chàng, mình cũng không muốn chàng chịu kỳ thị, nhưng thân phận ở rể thỉnh thoảng chịu chút khinh thường cũng không tránh được, người khác chắc sẽ nghĩ chính gã muốn níu giữ quá khứ, bởi vậy muốn hiển lộ tài hoa một phen nên cũng không khó hiểu.

Nếu nói như vậy, chẳng lẽ phu quân muốn thuần phục tiểu nữ, không chịu an phận ư...

Có một số chuyện đã quyết thì sẽ không thay đổi, đây vốn là tiền đề rồi. Trước nay nàng đối với việc kén rể hay xuất giá đều không có ý kiến gì, chỉ là muốn tiếp quản cơ nghiệp Tô gia này, việc này mới là việc chính, vì thế nên vị hôn phu của nàng chỉ có thể ở rể.

Trong nàng thầm nghĩ như vậy, nhưng đối với những suy đoán này không thấy chán ghét chút nào, thậm chí còn hơi yêu thích. Không lẽ có khả năng như vậy sao.

Đang trên đường về nhà, nàng nhẹ nhàng mỉm cười ấm áp.

Nụ cười ấy rất kín kẽ, ngay cả Quyên nhi, Hạnh nhi trong xe ngựa cũng không có phát hiện...

--------------------------

(1) Xem chú thích chương 17

(2) Luật làm thơ Đường

(3) Câu thơ cuối trong bài Tiền Xích Bích Phủ của Đông Pha: được Nguyễn Hiến Lê dịch là: bay ngàn dặm cùng với thiền quyên- thiền quyên chỉ gái đẹp nói chung.

(4) Phái triết học duy tâm thời nhà Tống và nhà Minh,TQ

Chương 21: Thu Hết Đông Sang

Hàn lộ (1) tháng chín qua đi, nhiệt độ không khí hạ xuống rõ rệt, những cơn mưa lớn thi nhau đổ xuống khiến cho thành Giang Ninh như thể chìm trong một màn sương mù mênh mang. Mưa cuối thu không ồn ào như mưa mùa hạ mà dường như mang theo một thoáng hơi lạnh mùa đông, từng chút từng chút thấm vào trong quần áo.

Lúc đi ngang qua con ngõ nhỏ đối diện cây cầu gỗ, Ninh Nghị tiện tay phủi phủi vệt nước đọng trên trường bào. Trong những ngày mưa như thế này mà mặc trường bào thì quả thực có chút bất tiện, dù sao những việc này Tiểu Thiền vẫn giỏi hơn nhiều. Nếu phải ra ngoài lúc trời mưa, nàng sẽ không mặc váy mà mặc áo thêu hoa văn màu xanh nhạt cùng với quần dài, trên đầu vẫn trùm một cái khăn xinh xắn như thường lệ, chân đi giày thêu xanh nhạt. Nàng bận y phục đến là nhẹ nhàng, vừa nãy chậm lại phía sau có lẽ là do mua đồ, bây giờ nàng đang cầm cây dù giấy dầu băng qua từng vũng nước đọng trên đường, tựa như con chim én đang bay đến.

- Cô gia, cô gia, chờ em một chút.

- Làm gì vậy?

- Mua vài thứ ấy mà.

Chạy đến trước Ninh Nghị, Tiểu Thiền cười cười lấy ra một quyển sách nhỏ, nói:

- Vừa nãy đi ngang qua cửa tiệm kia thấy cuốn sách này mới ra, đoán chắc là cô gia chưa xem nên em dừng lại mua.

Đó là một quyển tiểu thuyết thoại bản(2) mới xuất hiện trên thị trường, tên là “Quỷ hồ kỳ duyên”. Loại tiểu thuyết như vậy ở thời này khá phổ biến, hành văn cũng tương đối dễ hiểu, có cái nói về truyền thuyết trong lịch sử, cái thì kể lại những chuyện tình trong dân gian, đặc biệt là loại truyền thuyết về tình yêu pha chút yêu mị hoang đường thì khá nhiều, một vài truyện ra đời rất được chào đón, được kể lại trong các quán trà quán rượu. Ninh Nghị gần đây xem các loại tiểu thuyết như vậy cũng không phải là ít, thành ra Tiểu Thiền cũng biết, thỉnh thoảng nhìn thấy quyển nào mới thì lại mua mang về cho Cô gia.

Tính giải trí của loại tiểu thuyết này so với mấy câu chuyện hiện đại tất nhiên là không bằng nhưng tính ra vẫn khá nổi trội so với những thể loại khác trong thời này, lúc buồn chán có thể đọc chơi, dù sao cũng là cổ văn, có thể giúp bản thân dung hòa dần với phong tục thời đại này. Ninh Nghị mỉm cười nhận lấy, Tiểu Thiền bước theo phía sau, vừa đi vừa nói chuyện.

- Hồi trưa người kia nói thật là khó chịu, tiểu Thiền thật muốn mắng hắn một trân.

- Ừ...

- Chuyện gì cũng không biết, toàn là đoán mò, lại còn dám khoác lác trong tửu lâu mình là tài tử gì đó nữa, người như vậy đi thi tú tài chắn chắn là không đậu nổi.

- Ừ...

- Xem Cô gia kìa, đây là tiểu Thiền bất bình dùm cho huynh đó, ai bảo người kia dám nói xấu huynh.

- Có liên quan gì đâu?

- Sao lại không liên quan, người này...Hừ, thôi được rồi, biết là Cô gia không thèm để ý mấy người kể chuyện tầm thường kia, nhưng tiểu Thiền nghe xong thấy cũng không được thoải mái, dù sao vẫn là bôi nhọ thanh danh Cô gia. Nếu ngay lúc đó Cô gia mà viết một bài thơ mắng lại thì tiểu Thiền sẽ mang thẳng qua đó đập một phát lên đầu hắn.

- Úi, nhưng hắn không nhận ra ta.

Ninh Nghị mở một trang tiểu thuyết ra.

- Ta ngồi bên cạnh hắn mà.

- Thì vậy nên mới tức!

Từ hội thi thơ tết Trung thu tới nay đã gần hơn một tháng, dư luận bàn tán về khúc Thủy Điệu Ca Đầu đến nay đã thay đổi hoàn toàn. Trong vòng mười ngày đầu, bình luận về lời bài thơ gần như đạt đến đỉnh cao, những hiếu kỳ và nghị luận liên quan đến Ninh Nghị trong khoảng thời gian này cũng là nhiều nhất... Sau đó dư luận liền nhanh chóng chìm xuống, chiều hướng dư luận bắt đầu hướng về các tầng nghĩa đặc biệt bên trong.

Việc truyền bá dư luận trên phố dù sao cũng mang tính nóng hổi và nhất thời. Với người dân lao động, khoảng mười ngày sau Trung thu bọn họ còn có thể học đòi văn vẻ một chút, sự quan tâm đến chuyện xảy ra trong hội thi thơ sẽ dần bị thay thế bởi những chuyện đời thường. Đời sống vội vã gấp gáp làm cho tần suất nhắc đến chuyện này ngày càng ít đi, bình thường cũng không còn nghe bàn đến chuyện này nhiều nữa..

Nhưng những nghi vấn và tán thưởng lại bắt đầu xuất hiện ở các nhóm văn nhân sĩ tử, ảnh hưởng của bài thơ Thủy Điệu Ca Đầu vẫn không không ngừng lan rộng thông qua miệng lưỡi hay là thư tín của đám văn nhân sĩ tử, nhưng nghi vấn và suy đoán về Ninh Nghị lại chỉ dừng lại trong phạm vi Giang Ninh mà thôi. Ví dụ như một tên sĩ tử ở Đông Kinh nghe xong Thủy Điệu Ca Đầu sẽ tán thưởng không ngớt, nhưng lại chẳng biết Ninh Nghị là ai, mà có khi còn không hay Ninh Nghị là người viết bài thơ này... vả lại cũng chẳng cần để tâm vì dù sao gã cũng ở xa tít.

Vũ triều tương tự như Tống triều, Nho học đạt đến đỉnh cao, văn nhân sĩ tử chiếm tỉ lệ tương đối lớn trong xã hội. Từ “tương đối lớn” này cũng chỉ đúng cho ngàn năm trước thôi, mặc dù đây là triều đại văn nhân đông đảo nhất từ trước tới giờ, nhưng so với thời hiện đại của Ninh Nghị thì tỷ lệ này vẫn chẳng đáng vào đâu, bởi vậy nên không quá một tháng thì mọi chuyện gần như đã yên bình trở lại. Như trưa nay, lúc ăn cơm bên ngoài Ninh Nghị vô tình nghe được vài tên văn nhân thừa cơ nói mấy điều không tốt về mình. Mấy chuyện này thỉnh thoảng vẫn còn xảy ra.

Ngày ấy, sau khi gã nói suy nghĩ của mình cho Khang lão và Tần lão, Khang lão cảm thấy hôm Trung thu đó việc mình ra tay đổ thêm dầu vào lửa quả thực có vẻ hơi thừa. Sau khi lão trợ giúp Ninh Nghị, một số học sinh nghe tiếng bèn tìm tới Ninh Nghị xin chỉ giáo. Mấy tháng gần đây, lời mời từ các hội rất nhiều nhưng tất cả thiệp mời đều bị Ninh Nghị bỏ qua, còn những người thực sự tới xin lĩnh giáo thì chỉ vẻn vẹn có ba nhóm, một nhóm tự mình tới chào hỏi, còn hai nhóm kia tới gặp Ninh Nghị đang giảng luận ngữ cho bọn nhỏ, liền đưa ra đề tài:

- Thường nói chỉ cần hiểu được một nửa cuốn Luận Ngữ (3) là đã có thể trị thiên hạ, hôm nay nghe Ninh huynh giảng ý này, tin rằng trình độ ắt hẳn phải rất cao thâm, không biết câu abc... này phải giải thích thế nào?

Việc này là do tư duy theo thói quen, thấy đối phương đang nói về cái gì thì liền tìm lời nói về cái đó. Đối với loại chữ Khải trong Tứ thư(4), Ninh Nghị từng xem qua mấy lần nên vẫn có chuẩn bị, lại được hun đúc trong thời đại bùng nổ tri thức thời hiện đại, dù có thuận miệng nói ra một chút triết lý cũng khiến người ta phải suy nghĩ là điều đương nhiên, đối phương nhất thời khó mà bắt bẻ được. Những người đó khi đến chắc chắn đã có chuẩn bị vài vấn đề hóc búa, chỉ có điều với phong độ và khả năng của Ninh Nghị thì đến nữ tử như Nhiếp Vân Trúc còn bị hắn thuyết phục, sá gì đám thư sinh này. Giải đáp xong một đoạn Luận Ngữ mà vấn đề cốt lõi vẫn chưa giải thích rõ, Ninh Nghị đối phó một hồi rồi bỏ đi, người ngoài cảm thấy gã uyên bác, cao thâm khó dò, sau đó ngẫm lại thì thấy phần lớn vấn đề vẫn chưa được giải đáp.

Cứ như vậy từng hội, từng nhóm đến khiêu khích, rồi cũng có cá nhân tới, một gã dở hơi tên là Lý Tần mỗi ngày đều tới, nói rằng cảm thấy rất hứng thú với những cố sự Ninh Nghị thuận miệng kể nên tới đợi nghe. Mấy ngày trước, sau giờ học hắn đến hỏi Ninh Nghị vài vấn đề, chủ yếu là muốn lĩnh giáo Ninh Nghị về mấy cố sự kia, trên thực tế những vấn đề đó đều không rời ‘Luận Ngữ chi nghĩa’. Hắn không có gây hấn gì, Ninh Nghị nói với hắn hơn nửa canh giờ, sau đó thì không còn thấy đến nữa.

Có rất nhiều người nói Ninh Nghị là ăn không ngồi rồi, không học vấn không nghề nghiệp, lại có người hoài nghi rằng khi nhắc đến khúc Thuỷ Điệu Ca Đầu không chừng gã lại chuốc lấy ô danh. Thực sự nếu như Ninh Nghị muốn rửa tiếng oan, chứng minh mọi việc là đúng thì bất kỳ lúc nào, gã chỉ cần nói một tiếng là làm được. Có điều, lúc này gã không để mấy chuyện như thế ở trong lòng.

Trong những nghi vấn bên ngoài, loáng thoáng có lưu truyền tin đồn liên quan đến việc đạo sĩ ngâm thơ bị Ninh Nghị đạo thơ, nhưng không có nhiều người tin vì việc này không thể tra xét. Thế nhưng những việc này đều đúng với tính toán của Ninh Nghị từ lâu, sau khi nghe qua liền chỉ cười một tiếng mà không để tâm đến nữa.

Về chuyện phấn viết bảng, nửa tháng sau ngày nói chuyện với Khang Hiền, gã đã chế ra được một ít, chất lượng cũng không đến nỗi tệ lắm. Vậy là quá trình bảng trắng thay thế thành bảng đen chỉ mất vẻn vẹn có mười ngày đã xong, kể từ đó lúc lên lớp cũng dễ dàng hơn rất nhiều. Hiệu quả cụ thể nhất thời vẫn chưa biểu hiện ra nên quá trình đi dạy của gã vẫn như trước: đọc sách, diễn giải, kể chuyện xưa, chỉ có vậy thôi, nhưng ngược lại nhiệt tình hình học tập của đám con nít tăng lên rất rõ rệt.

Chuyện này ở lớp học làm bầu không khí trở nên hăng hái hơn, e là thời đại này cũng không gặp được nhiều tình huống như vậy, đám học trò rất thích thú còn phần lớn lão sư thì lắc đầu. Tô Sùng Hoa lại nói bóng nói gió một hồi buộc Ninh Nghị phải giảng giải chỗ hay của phương pháp học này với hắn một lúc thì hắn mới không nói nữa. Với lại bây giờ Ninh Nghị đã là một tài tử nổi tiếng, có hào quang từ khúc Thủy Điệu Ca Đầu kia nên hắn cũng không tiện quản, hơn nữa thư viện vẫn mãi không có gì tiến triển cả mà có khi còn tệ hơn, thôi thì kệ gã đi, nhìn có vẻ cũng được.

Gã cứ buổi sáng giảng bài, buổi chiều đi dạo hoặc qua chỗ Tần lão đánh cờ như trước, đương nhiên phải là lúc trời không mưa mới được.

Phần lớn thời gian tiểu Thiền vẫn đi theo hắn, đồng thời cũng tới nghe giảng bài. Nàng rất thích những câu chuyện xưa Ninh Nghị kể, có cả những câu chuyện hoang đường kỳ quái, khi trở về nàng có thể giảng giải khoe khoang với hai vị tỷ muội. Ninh Nghị cảm thấy nàng theo mình rất sát, chắc là do ý của Tô Đàn Nhi, chuyện chính mình viết khúc Thủy Điệu Ca Đầu còn có thể tưởng tượng ra thì chuyện này gã thông cảm được, dù sao cũng chẳng hề gì.

Đương nhiên việc làm gã khá nghi ngờ chính là việc thê tử của mình thực sự muốn tìm ra lý do để giải thích việc mình viết khúc ca kia. Bởi vì trong mấy ngày đầu, lúc cả nhà ăn cơm thì ánh mắt đối phương nhiều lần liếc nhìn, sau đó liền tránh đi ngay. Nàng lại tiếp tục chuyên tâm vào công việc, mỗi ngày xe ngựa đến rồi đi, lúc dùng cơm, nói chuyện đều khôi phục thái độ như trước đây, trong lời nói cũng không có ý tứ thăm dò gì, việc này ngược lại làm Ninh Nghị cảm thấy có chút hứng thú. Cuối cùng nàng chắc cũng tìm được cái gì để chấp chận và lý giải cho chuyện này... mà cũng không rõ nữa.

Ngoại trừ những sinh hoạt giống như trước đây, thỉnh thoảng Ninh Nghị cũng hỏi thăm tin tức liên quan đến võ công hay nội công. Tô gia có một nhóm hộ vệ, nghe nói có người khổ luyện công phu rất cao, nhưng mà cũng chỉ bằng trình độ ngạnh khí công trong quân đội hiện đại, có thể dùng đầu chấn nứt gạch đá. Còn về nội công thần bí, theo như hắn biết thì thời đại này cũng có, có thể là các cao thủ trong một số ít đại môn phái nổi tiếng, nhưng mà muốn đi học cũng rất khó khăn.

Gần đây, Ninh Nghị bắt đầu thu thập tin tức về lĩnh vực này, gã cảm thấy rất hứng thú với vấn đề đó. Ở thời đại này làm quan cũng tốt, kinh doanh cũng ngon, mà tạo phản cũng được, chẳng qua đều là trò đùa ở hiện đại, là tác động qua lại giữa người với người mà thôi. Hiện tại chỉ có võ công là mới mẻ với gã, nếu quả thật có cơ hội, gã thực sự muốn tiếp xúc một lần xem thử nội công là như thế nào, chỉ hy vọng không phải lừa bịp như thời hiện đại. Gã cũng không tham lam, chỉ cần đứng tại chỗ nhảy lên một trượng là được, đương nhiên nếu như được... hai trượng gã cũng không chê đâu.

Muốn luyện võ công thì trước hết cần phải có một thân thể tốt, giờ nếu tìm đại hiệp gì đó đến dạy mình cũng chưa chắc ăn, tự mình làm đến nơi đến chốn mới là tốt nhất. Vậy là cứ mỗi buổi sáng trời không mưa, gã bèn dậy tập luyện từ tinh mơ, duy trì như trước. Đồng thời, gã có ý định tăng cường độ lên mấy lần nữa để mang lại hiệu quả tối ưu. Gập bụng, hít đất, chạy cự li dài. Hôm trước, lúc chạy qua căn nhà Nhiếp Vân Trúc hiện đang ở, nữ tử mặc y phục mộc mạc đứng phía ấy bỗng nhìn thấy gã. Nàng đợi gã chạy đến gần liền vén áo thi lễ:

- Ninh công tử!

Toàn thân Ninh Nghị mồ hôi đầm đìa, thở hồng hộc, miễn cưỡng lắm mới rặn ra được một nụ cười trên mặt, phất phất tay, hít ha không nói nên lời, sau đó... cứ như vậy chạy đi...

...Để lại Nhiếp Vân Trúc đứng đó sửng sốt hồi lâu.

Thật ra nàng cũng phải đắn đo mãi mới quyết định bước ra chào...

- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

(1) Hàn Lộ: Một trong 24 tiết trong năm.

(2) Một hình thức tiểu thuyết Bạch thoại phát triển từ thời Tống, chủ yếu kể chuyện lịch sử và đời sống xã hội đương thời, thường dùng làm cốt truyện cho các nghệ nhân sau này.

(3) Luận Ngữ: sách chép lời nói và hành động của Khổng Tử và một số học trò.

(4) Chữ Khải trong Tứ Thư

Chương 22: Thu Hết Đông Sang (Hạ)

Hôm ấy biết rõ thân phận của Ninh Nghị, Nhiếp Vân Trúc cũng thôi không nghĩ tới việc báo đáp ân tình nữa. Thành Giang Ninh rộng lớn mà hai người chỉ trao đổi danh tính với nhau nên khó mà có cơ hội gặp lại, thế nhưng mấy ngày sau, nàng phát hiện mình đã nhầm.

Buổi sáng sớm hôm đó, nàng tỉnh dậy, nghe có tiếng bước chân đang chạy trên con đường cạnh nhà, mở cửa sổ ra lập tức thấy bóng dáng Ninh Nghị từ xa chạy đến. Lúc này nàng mới nghĩ lại: dù mình không ngã xuống sông làm liên lụy Ninh công tử thì sáng nào công tử cũng chạy tới chạy lui trên con đường này thôi.

Thời trọng văn khinh võ, đặc biệt ở trong giới văn sĩ thì người rèn luyện thân thể lại càng ít. Lần đầu tiên gặp gỡ còn tưởng gã bị người khác truy đuổi, sau mới nhận ra vị Ninh công tử khác người này thực sự đang rèn luyện thân thể, đã thế quãng đường chạy bộ xem ra không ngừng tăng lên mỗi ngày, nàng thấy hơi khó hiểu nhưng cũng rất bội phục.

Vào sáng sớm, tất nhiên không thể ngày nào cũng trùng hợp thấy đối phương chạy qua, nhưng số lần gặp vẫn tương đối nhiều. Nhiếp Vân Trúc cân nhắc xem có nên ra ngoài chào hỏi đối phương hay không, sau đó lại cảm thấy mình như vậy là làm cao. Những người gặp mặt trước đây đều là những kẻ có ý đồ nên trong lòng rất cảnh giác, ngày ấy Ninh công tử không chỉ cứu mình mà còn thể hiện rõ không chút mưu đồ vụ lợi, vốn lẽ mình nên chào hỏi qua lại một cách tự nhiên, lúc này nghĩ lại tự cảm thấy bản thân đúng là hơi quá đáng.

Trong lòng nàng vui vẻ, lại tự châm biếm mình vài câu. Sáng sớm hôm nay nàng vẫn thấy Ninh Nghị chạy ngang qua bèn đi ra ngoài chào hỏi, ai dè đối phương chỉ vẫy vẫy tay, không có ý dừng lại mà chạy tiếp. Nàng sửng sốt ngây người một lát, phía sau là nha hoàn Hồ Đào vừa khỏi bệnh đi ra:

- Kia là ai vậy? Tiểu thư quen sao?

Rồi bĩu môi:

- Thật không có lễ nghĩa gì cả…

Nhiếp Vân Trúc liền bật cười nhẹ nhàng.

- A, phong cách giao tiếp của người quân tử, thái độ như thế có lẽ là Ninh công tử coi mình như bằng hữu mà cư xử chăng..

Hàn lộ, tiết sương giáng(1), lập đông(2) qua đi, gã lại nâng cao cường độ rèn luyện, trải qua mấy tháng tập luyện nên thân thể bắt đầu được cải thiện, bên ngoài nhìn vào chưa thấy gì khác nhưng bên trong thân thể coi như khỏe mạnh như những người lao động bình thường.

Thời đại này đa số người đọc sách chỉ toàn ngồi đọc sách, thức ăn không đủ dinh dưỡng nên phần lớn có thể trạng yếu đuối so với người hiện đại, tuy nói trong lục nghệ (3) của người quân tử có bắn cung, nhưng cơ bản lục nghệ này cũng chỉ là khẩu hiệu, cùng một dạng với khẩu hiệu: Giáo dục phát triển toàn diện đức-trí-thể-mỹ thời hiện đại. Tố chất thân thể Ninh Nghị trước đây cũng như vậy, thân thể yếu đuối suốt hai mươi năm, sau nửa năm có thể khôi phục lại như trước đã là rất tốt rồi.

Vào mỗi buổi sáng, gã chạy dọc theo sông Tần Hoài, thỉnh thoảng lại chào hỏi Nhiếp Vân Trúc nên cũng coi như là sơ giao. Tuy chuyện nàng ngã xuống sông hay giết gà có vẻ vụng về, nhưng gặp thêm vài lần gã cũng nhận ra nàng không phải là hạng người có suy nghĩ chậm chạp, thực tế gã đã nhận ra từ lúc đi và trò chuyện với nàng sau lần mua than củi. Nàng ăn mặc giản đơn nhưng trông khá tinh tế, thân hình dong dỏng cao gợi cảm. Đôi khi thấy nàng trước cửa, đôi khi lại thấy nàng trong bếp vẫy tay với gã, miệng cười hô Ninh công tử. Phòng bếp ở kế tiểu lâu có cửa sổ mở ra phía đường, nhiều lúc nàng ở trong đang lúi húi thái rau hoặc nhóm bếp chợt ngẩng đầu cười vui vẻ, có lúc nàng bưng chậu gỗ đi ra sân phơi đổ nước, thấy Ninh Nghị chạy tới liền vẫy tay chào hỏi. Buổi sớm gió lớn, lúc thổi qua sân phơi cuốn tung quần áo, nắng mai từ đường chân trời phía sau lưng nàng chiếu rọi, tựa như là tiên thiên giáng trần. (4)

Ở cùng nàng còn có một nha hoàn, người hơi lùn trông không xinh lắm. Ninh Nghị đoán có lẽ trước đây ả nha đầu này bị bệnh.

Đến tháng mười, hai bên mới tính là có trò chuyện đôi chút. Buổi sáng hôm đó khi ra khỏi cửa vẫn chưa uống nước, lại chạy nhiều thêm một đoạn nên khi trở về toàn thân gã đầy mồ hôi, cổ họng khát muốn chết, gã liền dừng lại xin nàng chén nước để uống, hàn huyên vài câu. Ngày thứ hai chạy về thì Nhiếp Vân Trúc đang ở đó, chạy qua luôn cũng bất tiện nên dừng lại nghỉ ngơi một lát, về sau dần dần trở thành thói quen.

- Tính tình Ninh công tử cũng thật là kỳ nha, mỗi ngày đều chạy dài như vậy không thấy mệt sao?

- Mệt mới có hiệu quả, ta cũng chỉ chạy bộ thôi chứ có gì đâu mà kỳ.

- Vân Trúc từ nhỏ đã ở trong Kim Phong lâu.. cũng đã thấy qua không ít văn nhân tài tử, nhưng thật sự chưa từng thấy có ai như Ninh công tử…

Lúc nói câu này ánh mắt của nàng liếc qua Ninh Nghị, chỉ là Ninh Nghị đã sớm đoán được nàng từng trải qua một thời gian như vậy, nên có chút kinh ngạc với việc nàng thẳng thắn thừa nhận, nhưng gã cũng không để lộ ra mặt. Một lát sau Nhiếp Vân Trúc mới nghi ngờ hỏi:

- Chẳng lẽ công tử định gia nhập quân đội

- Ồ, với thân thể này làm sao có thể ra chiến trường được. Thư sinh vô dụng, dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm thôi, nên rèn luyện một chút cũng giúp thân thể khỏe hơn.

- Thư sinh vô dụng dài lưng tốn vải ăn no lại nằm? Người khác nghe được lời này, sợ là họ sẽ chỉ trích công tử đấy.

Mỗi ngày Ninh Nghị dừng lại nơi này không lâu, chỉ tán gẫu với nhau vài ba câu, nhưng sau một thời gian gã cũng dần biết được thân phận của Vân Trúc. Trước đây, nàng sinh hoạt trong thanh lâu một vài năm, sau đó cùng nha hoàn chuộc thân rồi mua ngôi tiểu lâu ven sông trông rất lãng mạn này, bởi không hiểu rõ cuộc sống đời thường, nên cũng nhiều tình huống dở khóc dở cười xuất hiện. (5)

Có lẽ Nhiếp Vân Trúc cảm thấy tính cách của gã kì lạ, nhưng dưới con mắt của Ninh Nghị: tính tình của nàng cũng kỳ cục không kém. Phỏng chừng khi còn bé nàng là con gái nhà quan lại, rồi mới bị bán vào thanh lâu; sau khi chuộc thân, do không muốn đi lại con đường cũ nên cuộc sống mới có đôi điều quẫn bách. Tính cách của cô bé này có một chút gì đó cố chấp kiên cường.

Một hôm vào cuối tháng mười, khi Ninh Nghị cùng tiểu Thiền đi qua chợ thực phẩm phía đông thì nhìn thấy nàng từ xa.

Lúc đó rất đông người chen chúc ở góc bán thực phẩm, Ninh Nghị cùng tiểu Thiền leo lên tửu lâu từ xa nhìn lại, thấy Nhiếp Vân Trúc với tỳ nữ Hồ Đào đều ở đó, chỉ là hai người đang ở cách nhau vài mét, cứ như là tới đây mua thực phẩm hay có người quen bán hàng trong chợ. Nhiếp Vân Trúc vẫn trong một bộ trang phục giản dị, trên đầu quấn một cái khăn đội hơi xuề xòa. Nàng ngồi xổm hỗ trợ cắt tiết gà ở sau một quầy bán thịt. Một tay cầm con gà mái, tay kia cầm chiếc dao phay cắt cổ con gà rồi kê vào chiếc bát đặt trên mặt đất để lấy máu. Xem chừng nàng cảm thấy buồn nôn, nên hơi nghiêng đầu né ra xa một chút nhưng hai tay vẫn xiết chặt, sau khi máu ngừng chảy nàng ném con gà mái vào trong nồi nước sôi đang được đun bên cạnh rồi thỏa mãn đứng lên. Sau đó, tựa hồ như thấy ai đó nên ngoái đầu liếc một cái, đại khái chỉ như là vô tình nhìn qua, không biết có thấy Ninh Nghị hay không nữa.

- Cô gia, chuyện gì vậy?

Nàng để ý thấy Ninh Nghị đứng ở bậc thềm nhìn sang phía chợ, tiểu Thiền nghi hoặc hỏi.

Ninh Nghị lắc đầu:

- Không có gì, chúng ta đi vào thôi.

Gã mỉm cười rồi xoay người bước vào trong.

Thời đại này hiếm thấy có người mua cả một con gà, dù có mua cũng thường là đem về nhà nuôi thêm vài ngày rồi mới thịt, chuyện bán gà xong còn thịt giúp người mua xem ra chỉ ở những phố chợ trong thành lớn như Giang Ninh mới có thể thấy được, chủ gánh gà kia có cách làm khá mới mẻ.

Hôm sau ngồi ở trên bậc thềm của tiểu lâu ven sông nghỉ ngơi, Nhiếp Vân Trúc hỏi:

- Sáng qua công tử có nhìn thấy thiếp tại chợ đông không?

- Có. Nhưng cô làm gì mà chạy tới chỗ đó giết gà thế?

- Nhị Ngưu của Triệu gia và Hồ Đào đều có ý với nhau.

Nhiếp Vân Trúc cười cười chỉ về một căn nhà phía xa.

- Cả nhà y bán đồ ăn phía bên kia, muội và Hồ Đào thỉnh thoảng đi qua nên biết mấy người trong chợ, ngày hôm trước lúc qua đó mua đồ, thấy Lưu thẩm bán gà bận bịu quá nên muội mới nói để muội giúp, sau đó là vụ bắt gà làm thịt đó.

Nàng mỉm cười vui vẻ làm Ninh Nghị ngẩn cả người, một lát sau cũng cười cười lắc đầu:

- Cần gì phải như vậy.

Nhiếp Vân Trúc xuất thân từ thanh lâu, mới từng này tuổi đã có thể tự mình chuộc thân, có thể thấy những ngày kia nhất định phải rất cố gắng, một cô nương chưa phải làm những việc những việc đời thường, nhiều phương diện e rằng so với mấy tiểu thơ khuê tú có khi còn được nuông chiều hơn. Từ sau khi chuộc thân đến giờ xem ra đời sống có chút khó khăn, nhưng so với những gia đình bình dân vẫn tốt hơn rất nhiều. Việc thịt gà không tính là chuyện lớn, nhưng không ngờ tính cách nàng lại bướng bỉnh đến vậy, vừa thấy có cơ hội là khăng khăng đòi học cho bằng được.

- Có thể học được nhiều điều mới, thiếp rất vui và thích.

Nhiếp Vân Trúc nhìn xa xăm cười nói, lát sau lại nhìn về Ninh Nghị.

- Đúng rồi, ngày mai Ninh công tử qua nơi này nhớ dừng lại được không?

Qua đây dừng lại nghỉ chân vốn đã thành thói quen, không cần nói ra. Nếu nàng nói ra chắc hẳn là có lý do. Ninh Nghị hỏi:

- Chuyện gì vậy?

Nhiếp Vân Trúc cười lắc lắc đầu:

- Ngày mai tới đây là biết.

Ngày hôm sau, Ninh Nghị dừng lại nghỉ chân, Nhiếp Vân Trúc bưng bát từ trong nhà đi ra, trong bát có mấy chiếc bánh rán vừa mới rán xong.

- Công tử chắc chưa ăn sáng, đây là mấy cái bánh bột ngô, công tử nếm thử xem mùi vị thế nào..

Thường ngày Ninh Nghị chạy bộ xong rồi mới ăn điểm tâm, lúc này nghi ngờ nhìn nàng vài lần, ngồi nghỉ trên bậc thang rồi bắt đầu ăn:

- Thế hả ?

Nhiếp Vân Trúc thấy gã như vậy nở nụ cười rất tươi, liền ngồi xuống bên cạnh:

- Ninh công tử thấy mùi vị thế nào?

- Cũng không tệ.

Ninh Nghị gật đầu một cái.

- Bánh này, công tử thấy nếu đem đi bán...

- Hả, nàng dự định bán bánh rán...

Nhiếp Vân Trúc cười cười:

- Trước đây ngoại trừ những khi bán sắc giúp vui hay nâng khăn hầu người, muội và Hồ Đào không thua kém người ta cũng chỉ có việc này, hồi ở Kim Phong lâu Hồ Đào có học qua một ít, biết làm vài hương vị khác nhau, ăn cũng được lắm... Vậy nên bọn muội dự định làm một chiếc xe đẩy nhỏ, thuận tiện bán mấy loại trà nước luôn.

Đối với mấy việc buôn bán này Ninh Nghị không có hứng thú gì. Dĩ nhiên trên thực tế Nhiếp Vân Trúc cũng không phải muốn dò hỏi ý kiến của gã, cô nương này tính cách cứng cỏi, thoáng nhìn có vẻ xinh đẹp mềm yếu nhưng thực ra rất có chủ kiến, sau khi rời khỏi thanh lâu liền đoạn tuyệt tất cả quan hệ với những khách trước đây. Thấy thường ngày, việc giết gà là cần thiết, mấy chuyện ghê tởm này trước kia tránh xa thì nay cố gắng học cho bằng được, bây giờ lại muốn làm cái việc không phù hợp chút nào với khí chất của nàng. Những điều này làm Ninh Nghị cảm thấy thú vị.

Đầu tháng mười một, trong tiểu viện Tô gia, Ninh Nghị chuyển phòng, vì trời trở lạnh nên gã và Tô Đàn Nhi chuyển từ lầu trên xuống lầu dưới, lúc này cái lạnh mùa đông đã bắt đầu xuất hiện, buổi tối cả gia đình tề tựu trong phòng khách của Tô Đàn Nhi, Lửa than trong lò khiến căn phòng trở nên ấm áp. Ninh Nghị tiếp xúc với Tô Đàn Nhi càng lúc càng nhiều... bắt đầu cảm thấy...

-----------------------------------

(1) vào ngày 23 hoặc 24 tháng 10)

(2) (tiết bắt đầu mùa đông vào khoảng tháng mười âm lịch)

(3) Lục nghệ (người xưa chỉ: lễ nghĩa, âm nhạc, cung tên, cưỡi ngựa, biết chữ, tính toán)

(4) Nguyên văn: Lạc thần lăng ba dã tự: lướt sóng như là nữ thần sông Lạc. Bài Lạc Thần phú (bài phú về nữ thần sông Lạc) là bài phú nổi tiếng của của Tào Thực. Lấy cảm hứng từ một câu trong bài thơ này mà Kim Dung sáng tác ra bộ pháp Lăng ba vi bộ, lấy vẻ đẹp của nữ thần sông Lạc để mô tả vẻ đẹp của Vương Ngọc Yến (thần tiên tỷ tỷ) trong mắt Đoàn Dự. Trích đoạn:

Chương 23: Tiện Mồm

Bắt đầu từ đầu tháng mười một Âm lịch, không khí lạnh giá bao phủ khắp thành Giang Ninh. Trong mấy ngày mùng tám mùng chín, tuyết rơi khắp trời như chiếc áo lông ngỗng trắng phau phau nhẹ lặng lẽ trùm lên tòa thành cổ.

Tuyết đọng chưa đủ dày để cản người ra khỏi cửa, nhưng dựa theo thông lệ từ trước, nếu tuyết bắt đầu rơi thì sẽ kéo dài tới tận đầu xuân sang năm, ít nhất là còn rơi trong hai ba tháng tới nữa mới dừng, thời tiết như vậy khiến những người dân nghèo khổ khó mà ra khỏi cửa. Có những nơi, mọi người còn không có quần áo cho mùa đông. Khi tuyết rơi nhiều bao phủ cả ngọn núi thì chỉ có thể bọc chăn làm tổ trên giường cả ngày. Vậy nên, đối với tuyệt đại đa số người trong thời đại này, mùa đông không phải là quãng thời gian dễ chịu.

Trong những thành lớn như Giang Ninh thì tương đối khá hơn một chút, dù sao thì thương nghiệp phát triển, những người có gia cảnh giàu có cũng không ít. Mấy ngày tuyết rơi đầu mùa, học đường vẫn mở. Dĩ nhiên mấy học sinh ở ngoại thành sẽ không tới được, đó cũng là chuyện bình thường. Ở chỗ tiên sinh giảng bài có một chậu than nho nhỏ, còn đám học sinh chỉ có thể dựa vào cửa sổ chặn lại chút gió. Cũng may chúng đều ở tuổi sức khỏe dồi dào nên vấn đề cũng không lớn, hai nữ sinh mỗi người có một cái lò giữ ấm rất đẹp được ôm vào trước ngực. Vốn các bề trên trong nhà không cho các nàng trở lại học đường, nhưng các nàng không muốn bỏ qua buổi giảng cố sự của Ninh Nghị nên vẫn cứ đến nghe bài giảng.

Sạp cờ của Tần lão từ khi thời tiết trở lạnh tự nhiên không thể mở, Ninh Nghị cũng chủ động tới nhà lão mấy lần, đương nhiên số lần tới không nhiều lắm, nhưng đối với người già, thỉnh thoảng có người tới nhà bái phỏng chuyện trò đã là tốt lắm rồi. Có lần tới thì gặp được Khang Hiền, lão đầu đó mang mấy bức cổ họa tới bình phẩm, sau khi nhờ Tần lão giám định thì đóng con dấu lên.

Sau khi tuyết rơi dày, Ninh Nghị đắp một người tuyết trong sân Tô phủ. Mỗi khi đêm về, cảnh sắc của cả tòa phủ trở nên cực kỳ mê hoặc. Đứng ở lầu hai nhìn ra xung quanh thấy các chấm sáng lung linh, ấm áp đẹp xinh hắt ra từ những căn tiểu viện, nét cổ kính lộ rõ ra phong cách phương đông. Những quầng sáng xinh xắn kia như bước ra từ tranh vẽ, nếu có máy chụp hình hẳn là Ninh Nghị sẽ chụp lấy vài kiểu làm kỷ niệm. Chỉ là trên lầu gió thổi mạnh, mới đứng được một lát đã nghe thấy tiếng tiểu Thiền đi lên gọi.

Những buổi tối thế này, ngồi trong phòng khách dưới lầu sưởi ấm lại càng có ý vị, nói chuyện phiếm, hạ ván cờ, đọc trang sách...Tô Đàn Nhi cùng mấy ả nha hoàn thì lựa chon mẫu vải, thêu thùa may vá. Quan hệ giữa Ninh Nghị cùng mấy chủ tớ Tô Đàn Nhi tự nhiên không tồi, ngồi một chỗ đánh cờ năm quân, thỉnh thoảng Hạnh nhi vui thích láu lỉnh kể mấy lời đồn thú vị phát sinh, rồi đôi lúc mấy tiểu nha đầu lại tranh luận nội dung cố sự mà Ninh Nghị vừa kể một phen. Hồ yêu đánh nhau với đại tướng quân ai mạnh hơn ai, Hạ Hầu tướng quân chột mắt có hay không có râu quai nón, hoặc giả là những nữ yêu tinh bị giết có vô tội hay không.., nội dung bàn luận không bao giờ hết. Đôi khi cũng chạy tới hỏi Ninh Nghị, nhờ gã phán xử thắng bại.

Dần dần Tô Đàn Nhi cũng thích cờ năm quân vì quy tắc chơi rất đơn giản, cứ vài ngày một lần nàng điều tra sổ sách, cần người ngồi bên gảy bàn tính, ba ả nha đầu thỉnh thoảng qua hỗ trợ. Nếu đánh cờ cùng Ninh Nghị, cũng sẽ thong thả kể mấy chuyện lý thú trong nhà, đơn giản mà biểu lộ sự quan tâm lẫn nhau.

Buổi đêm thi thoảng cũng có người tới bái phỏng, sau khi tuyết rơi, mấy học sinh của Ninh Nghị bên học đường nhiều khi tới thỉnh an, thực tế là muốn nghe chút cố sự. Vả lại Tô Đàn Nhi cũng thích nghe những chuyện này, cầm kim khâu thêu thùa một bên vừa tiện nghe kể chuyện.

Thỉnh thoảng cũng có huynh đệ tỷ muội tới, trẻ tuổi thì gọi Tô Đàn Nhi là “nhị tỷ”, đa phần là do thiếu tiền làm việc gì đó, tới đây kể khổ với nàng để kiếm chút bạc. Tô Đàn Nhi đối với những người này không tệ, chỉ cần bọn họ có chừng mực thì nàng sẽ giúp, muốn một trăm quan vậycó thể cho từ sáu mươi đến tám mươi quan, chỉ là phải chịu nghe Tô Đàn Nhi than phiền thuyết giáo một phen. Bạc vào tay cũng đủ cho bọn họ mấy đêm uống rượu trên sông Tần Hoài.

Tất nhiên những người này nói ra chỉ là cái cớ, thực tế như thế nào cho dù là anh em họ hay kẻ ít quen thuộc là Ninh Nghị cũng đều có thể thấy rõ ràng. Tô Đàn Nhi vẫn cứ kiên trì, mặc kệ đối phương tìm cái cớ gì nàng đều tỏ ra hoàn toàn tin tưởng, đưa ra đôi lời khuyên chân thành với đề tài đó, rồi căn dặn đối phương không nên tiêu tiền vô tội vạ các loại. Nếu là huynh trưởng, nàng cũng hạ mình xuống, biểu lộ ra hình tượng của một muội muội nhu thuận, lâu lâu chọc ghẹo vài câu:

“Cô nương Xuân Phong viện lần trước khi nào mới trở thành chị dâu của muội đây..”

Nàng giúp mọi người tới mức hồ đồ, đợi đến khi người đó rời đi, nàng thu hồi ngân phiếu vào cái hộp nhỏ, nét mặt tươi vui xinh xắn kể với Ninh Nghị mấy chuyện thú vị trước đây về người anh em họ này, tất cả đều là lời hay ý đẹp, tự hào và tràn trề tình thân.

Ninh Nghị ở bên quan sát những cảnh này, cảm thấy thú vị, tình thân có lẽ là cũng có, chỉ là gã đã rõ ràng vì sao nói đời thứ ba của Tô gia đều là vô dụng. Chuyện kết hôn của Tô Đàn Nhi phải kéo dài mất mấy năm, tính ra tới năm nay nàng đã mười chín thành gái lỡ thì, nhưng trong con mắt của Ninh Nghị tự nhiên không phải như vậy. Thê tử bắt đầu nắm giữ đại phòng Tô gia của gã trên thực tế vẫn còn hình dạng và tư thái của một thiếu nữ, thậm chí lúc nói chuyện hay mỉm cười còn có chút ngây ngô, nhưng trong hành động đều chặt chẽ đúng mực, xác thực là không thể khinh thường.

Có thể tụ tập đánh cờ mỗi ngày, kể cố sự, nói chuyện trong nhà, bầu không khí giữa Ninh Nghị và Tô Đàn Nhi cũng tốt hơn hẳn so với lúc mỗi ngày chỉ ăn cùng nhau một bữa cơm. Sau đó Tô Đàn Nhi đề xuất Ninh Nghị thỉnh thoảng đi ra ngoài cùng nàng, bái phỏng mấy nhân vật quan trọng

Họ Tô kinh doanh vải vóc khá lớn, có những lệ thuộc nhất đính tới những thương nhân, tổ chức làm ăn lâu dài hoặc ngắn hạn. Thỉnh thoảng khi Tô Đàn Nhi đi bái phỏng người khác bàn chuyện làm ăn, nếu có nam nhân đi cùng thì sẽ tốt hơn. Thực tế là việc bái phỏng này trong những năm trước chưa quá quan trọng, cuối năm nay, chuyện hai người tới chúc tết từng nhà đã trở nên cực kỳ cần thiết. Tô Đàn Nhi lúc này mời, thực tế là hy vọng Ninh Nghị có thể sớm làm quen với việc này. Đương nhiên, mấy ngày sau nàng rất hài lòng khi phát hiện, tại phương diện thể hiện ra bên ngoài, Ninh Nghị nhìn rất xứng hợp.

Ninh Nghị tỏ ra không có hứng thú với chuyện làm ăn của mấy người này, khi mọi người bàn chuyện làm ăn thì gã ở bên giả vờ giả vịt uống trà, xem tranh chữ hay cười ngây ngốc. Nếu phải chào hỏi bắt chuyện, lập tức đối đáp qua loa, lươn lẹo tránh đi, thể hiện ra dáng dấp của một con mọt sách. Tô Đàn Nhi dẫn gã đến đây, kỳ thực cũng chỉ mong gã có thể tự nhiên ứng phó với người khác sao cho đừng bị ác cảm. Những người này nhiều ít đều có quan hệ làm ăn với Tô gia, biết Ninh Nghị đi ở rể nên cũng không làm khó dễ gã. Đương nhiên cũng có người nghe được danh khí của Ninh Nghị, tìm cách nói chuyện thơ văn với gã, loại chuyện phiếm vớ vẩn này cũng chẳng phải thách đố gì, Ninh Nghị tất nhiên có thể nhẹ nhàng ứng đối.

Muốn bái phỏng nhà nào, hộ nào, thông thường là trước một ngày hoặc là trong lúc đi đường Tô Đàn Nhi sẽ vui vẻ kể cho Ninh Nghị bối cảnh của nhà đó, là những người thâm niên trên thương trường từng chiếu cố cho Tô gia, là đồng bạn hợp tác hiện tại, hoặc là loại gió thổi chiều nào ngả theo chiều đó. Về phương thức ứng xử, nàng cực kỳ hòa hợp với Ninh Nghị. Những lúc ra về, nàng thường cười nói với Ninh Nghị về thành quả của chuyến này, gợi lên vài câu bông đùa hoặc trách móc nho nhỏ đại loại như: Đúng là lão hồ ly, nói thế nào cũng không lay động được.

Phần lớn chuyến đi đều nhàm chán như vậy, đương nhiên thỉnh thoảng cũng có vài chuyện nho nhỏ xem vào, thí dụ như ngày mười bốn tháng mười một ở Xuyến môn xảy ra chuyện khiến Ninh Nghị cảm thấy.. bản thân mình nhảm nhí đến cực độ..

o0o

- .. Huynh đệ Hạ gia kinh doanh tơ tằm quy mô không nhỏ, tuy hai huynh đệ bọn họ cũng có bản lĩnh nhưng không chắc chắn gì cả. Lần trước đã bàn xong với bọn họ chuyện làm ăn, lần này lại nghe thấy hợp tác cùng Tiết gia rồi. Hôm nay tới đây chỉ là cho trọn lễ nghĩa mà thôi..

Trên xe ngựa, Tô Đàn Nhi vừa lần hạt vòng vừa nói.

Ninh Nghi gật gù:

- Nói vậy có nghĩa là diễn qua loa một chút là được?

- Haha, tướng công tùy ý vài câu là được.

Nàng cười đeo vòng hạt vào cổ tay, ngẩng đầu lên rồi nghiêng đầu đưa tay chỉnh lại mấy gọn tóc sau đầu:

- xong việc rồi, buổi chiều tướng công có việc không?

- Ta tính đi dạo phố sách phía đông thành, tìm mua cuốn sách cổ thời Đường.

- Vậy thiếp thân sớm cáo từ rồi đi cùng tướng công nha.

- Tuyệt

Bản thân biết chuyến làm ăn này không thành, chỉ vì nghĩ đến câu “buôn bán không thành nhân nghĩa vẫn còn” nên tới bái phỏng một lần mà thôi, như Ninh Nghị nói, làm cho có lệ là được rồi. Chẳng qua vốn muốn hòa khí nên diễn một màn cho có lệ, nhưng lại có con ruồi cứ vè vè qua lại cũng làm cho màn diễn đó mất vui. Buồi chiều đi tới Hạ gia bái phỏng không chỉ có Tô Đàn Nhi và Ninh Nghị, ngoài ra còn có hai thương hộ khác. Một trong hai huynh đệ Hạ gia, lão đại Hạ Quân được Tô Đàn Nhi tôn là lão đầu ngành dệt đón tiếp mọi người trong một khu sảnh bên cạnh lâm viên, mấy lò lửa lớn giữ ấm xung quanh, từ nơi đây cũng có thể trông thấy cảnh tuyết rơi bên ngoài, khi bắt đầu nói chuyện, bầu không khí khá là lịch sự tao nhã. Cùng làm chủ nhà hôm nay còn có con của lão là Hạ Đình Quang.

Người chủ sự của Hạ gia tổng cộng có hai người, ngoài Hạ Quân ra là lão nhị Hạ Phong, đây mới là người có tài kinh thương. Tô Đàn Nhi vốn tới đây chào hỏi, tiệc trà đươc một hồi nàng bèn cùng ba ả nha hoàn tới lâm viên thưởng tuyết, bất ngờ gặp Hạ Phong ở bên kia đi tới. Từ bên này nhìn sang thấy mấy người đang nói chuyện. Bởi trong sảnh vắng người, Hạ Đình Quang dây dưa với Ninh Nghị về mấy bài thơ, đại khái y không tin Ninh Nghị có tài nên muốn kiểm tra gã. Nhưng đáng tiếc bản thân y tài hoa cũng không nhiều, Ninh Nghị biểu diễn vài câu, đối phương đã ríu rít bô lô ba la, lời nói ám chỉ mình có giao tình với đại tài tử Tiết Tiến, thuận miệng đọc mấy bài Tiết Tiến mới sáng tác ra để Ninh Nghị bình luận.

Thằng này cũng là loại bị thịt.. Trong lòng Ninh Nghị cảm thấy chán ngắt, phụ thân Hạ Quân của Hạ Đình Quang cũng cảm thấy thằng con mình nói chuyện vô nghĩa, đành mở miệng hỗ trợ vài câu. Ninh Nghị tự nhiên cũng phải tiếp lời:

- Nghe Đàn Nhi nói, quy mô kinh doanh tơ tằm của Hạ gia khiến người người bội phục, chủ yếu là vùng Thọ Châu chăng?

- Hạ Quân nhíu mày, Hạ Đình Quang lại phá lên cười:

- Thế huynh thật là, nhà ta kinh doanh chủ yếu ở một dải Lư Châu, Sào Hồ. Ngày sau thế huynh nếu có xuất môn du ngoạn, cẩn thận không lạc đường..

Ninh Nghị ngẩn người, một lát sau mới gật đầu một cái:

- Ồ, thì ra là như vậy.. Lư Châu cách Thọ Châu cũng không xa, tơ tằm vận chuyển qua lại..

Không biết bên kia Hạ Quân nghĩ tới điều gì, cau mày hỏi:

- Vì sao hiền chất lại bỗng nhiên nhắc đến Thọ Châu?

- Cũng chẳng có gì. Chẳng phải Tiết gia có một nhà xưởng ở Thọ Châu sao? Hình như do Nghiêm đại chưởng quỹ phụ trách, lần trước có nghe nói qua.. Ừm, vậy nên hiền chất mới nghĩ là cơ nghiệp của Hạ phủ là ở Thọ Châu..

Hạ Đình Quang cười lớn:

- Thế huynh không hiểu chuyện thì đừng nói lung tung. Nghiêm đại chưởng quỹ rõ ràng phụ trách Lư Châu, mấy vị thúc bá đang ngồi đây đại thể đều biết cả. Không tin huynh thử hỏi mấy vị thúc bá xem, haha..

Nghe y nói như vậy, người của hai cửa hàng cũng cười ồ lên chứng thực. Ninh Nghị gật đầu cười một cái:

- Không hiểu chuyện này, thỉnh thoảng nghe được vài tin tức vụn vặt, lời đồn..

Tất cả mọi người đều biết thân phận ở rể của gã, cho nên đối với việc này cũng không thấy kỳ lạ. Nhưng Hạ Quân lại trầm giọng nói:

- Không biết những tin tức vụn vặt mà hiền chất nói là từ đâu mà đến?

Ninh Nghị thấy vẻ mặt lão nghiêm túc, cũng hơi tỏ ra suy nghĩ một chút, rồi mờ mịt lắc đầu:

- Hiền chất chỉ là.. thỉnh thoảng nghe có người tán ngẫu vài câu. Hic.. cũng không rõ ràng cho lắm. Ah. Để thế thúc chê cười, chuyện kinh thương Đàn Nhi còn hiểu một chút, tại hạ không hiểu. Đối với Tiết gia cũng không có gì kiến giải, lại còn lẫn lộn Lư Châu với Thọ Châu, haha..

Gã diễn một phen cho có lệ, nhưng mọi chuyện sau đó trở nên hơi cổ quái, Hạ Quân cau mày suy nghĩ chuyện trọng yếu nào đó, rồi gọi một tên quản sự tới dặn dò vài câu. Ninh Nghị nhíu nhíu mày, thuận miệng mà nói, không lẽ là đoán trúng sao..

Những ngày theo Tô Đàn Nhi chạy tới chạy lui vừa qua, mặc dù không có hững thú về việc bàn chuyện làm ăn với người ngoài, nhưng trong lòng gã cũng chầm chậm phác họa một nét khái quát: nhà ai kinh doanh cái gì, toàn bộ đại cuộc này hoạt động ra sao.. Những chuyện này cho dù không tận lực suy nghĩ thì cũng lờ mờ xuất hiện trước mặt gã. Thọ Châu mà vừa mới nói có một ít khả năng, vốn chỉ là mượn đề tài để nói chuyện với Hạ Đình Quang, nhưng qua mấy ngày nói chuyện vừa rồi gã mơ hồ cảm thấy kinh doanh của họ Tiết hình như có biến động, trọng điểm ở Lư Châu có vẻ muốn chuyển sang Thọ Châu. Mà ở Thọ Châu vốn cũng có một thương hộ kinh doanh tơ tằm đối địch với Hạ gia, thương hộ này có lẽ sẽ can dự vào.. Những chuyện này gã cũng chỉ là mơ hồ không nắm chắc, chẳng qua chỉ là nhạy cảm thấy được điểm then chốt trong đó mà thôi. Nhưng lấy kết quả ra xét, thì có lẽ mình đã nói trúng một điểm gì đó..

Không lâu sau đó bọn họ cáo từ ra về, khi Ninh Nghị cùng Tô Đàn Nhi đang chào Hạ Quân chuẩn bị lên xe ngựa, Hạ Phong từ phía sau bước vội tới, mặt mũi nghiêm túc đánh mắt với Hạ Quân:

- Xin thế chất nữ xin dừng bước. Chuyện liên quan tới tơ tằm vụ xuân, không biết mấy vùng xung quanh đây Tô gia định thế nào? Hôm nay thế chất nữ tới đây, có chuyện làm ăn về đợt tơ tằm vụ xuân muốn thương nghị cùng chất nữ.

Tô Đàn Nhi quay đầu lại, vẻ mặt vô cùng kinh ngạc không hiểu vì sao lại có biến hóa như thế. Quay lưng về phía bên kia, Ninh Nghị vô vị liếc mắt.

“Mẹ.. Tiện mồm..”

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!