Virtus's Reader
Chuế Tế

Chương 4: CHƯƠNG 4: NGƯỜI KHÔNG QUAN HỆ

Trên con đường đầy người qua lại, Tô Đàn Nhi dẫn Quyên nhi cùng Hạnh nhi, Ninh Nghị dẫn theo Thiền nhi, và Tiết Tiến với hai tên chạy vặt theo phía sau đang vui vẻ nói chuyện.

Giang Ninh là vùng đất trù phú phồn vinh, nghề dệt phát triển. Có ba nhà kinh doanh vải được coi là lớn nhất vùng lần lượt là hãng vải Tô Thị, hãng vải Đại Xuyên của nhà họ Tiết và hãng Ô Thị. Mục đích chính của Tiết Tiến lần này là bàn với Tô Đàn Nhi việc hợp tác kinh doanh tại Hoài Nam. Nhưng lúc này Tô Đàn Nhi mới chỉ là một quản lý nhỏ trong Tô gia, phần lớn việc kinh doanh ngoài Giang Ninh vẫn do nhị thúc và tam thúc của nàng phụ trách nên nàng khuyên Tiết Tiến tới bàn với Nhị thúc Tô Trọng Nham. Nhưng Tiết Tiến tỏ ra là sẽ dễ nói chuyện hơn nếu có người quen, nên gã hy vọng Tô Đàn Nhi sẽ có mặt trong buổi tiệc bàn chuyện kinh doanh với Tô Trọng Nham sắp tới, vân vân... Chuyện cứ thế nói qua nói lại.

Việc Tiết Tiến có tình ý với Tô Đàn Nhi mọi người đã sớm biết, nhà họ Tiết cũng đã từng đề cập đến chuyện hôn sự, nhưng thứ nhất là bởi Tô lão thái gia không thích Tiết Tiến, thứ hai là nhân tài Tô gia ngày càng điêu linh nên không thể gả Tô Đàn Nhi ra ngoài được, hơn nữa dù sao hai bên cũng là đối thủ cạnh tranh. Chuyện hôn nhân không thành, mà ngày trước nhân lúc hỗn loạn bởi Tô Đàn Nhi đang thành thân lại bỏ chạy, Tiết Tiến lại lén đập ngất Ninh Nghị rồi bỏ trốn. Bởi không có chứng cứ rõ ràng, mà truy cứu chuyện tai tiếng này cũng rất phức tạp nên cuối cùng cũng đành bỏ mặc.

Chuyện cũng đã lâu, lại thêm chuyện Tô Đàn Nhi làm cô dâu chạy trốn trong ngày cưới, nhưng Tiết Tiến vẫn chạy tới tìm nàng, xem ra là vẫn chưa từ bỏ ý định. Dẫu bây giờ Tô Đàn Nhi đã là gái có chồng không thể tái giá tới nhà họ Tiết, nhưng nàng xinh đẹp, thông minh lại tài giỏi, bất kể nam nhân nào tự coi mình có chút bản lĩnh đều thích chinh phục tuýp phụ nữ như vậy. Bất ngờ gặp Ninh Nghị đang trên đường về nhà, tuy lúc trước đã đập Ninh Nghị một phát nhưng gã chả coi cái loại mọt sách như vậy vào đâu nên chủ động chạy tới chào hỏi, chuẩn bị làm nhục Ninh Nghị một phen.

Tô Đàn Nhi khi đi ra cũng đã đoán được ý nghĩ của Tiết Tiến. Đối với Ninh Nghị đơn giản là nàng không ghét, hơn nữa người ta còn là trượng phu của nàng, tóm lại là cả đời này của nàng đã buộc cùng một chỗ với Ninh Nghị. Tiết Tiến không có bản lĩnh gì đáng kể, cùng một dạng với nhị thế tổ và tam thế tổ Tô gia nên nàng rất chán ghét, nhưng vô luận thế nào gã cũng được nhà họ Tiết hậu thuẫn, làm ăn là làm ăn, tình cảm yêu ghét cá nhân phải gạt qua một bên.

Ngay sau khi Hạnh nhi thông báo Tô Đàn Nhi đã vội xuất hiện, nàng sợ Ninh Nghị nổi khí phách thư sinh không chịu nổi khiêu khích lại xung đột cùng đối phương, rồi lớn dần lên thành chuyện của hai nhà Tô - Tiết. Cảm tình của nàng dành cho Ninh Nghị còn xa mới tới mức sẵn sàng hy sinh lợi ích gia tộc để trút giận giúp trượng phu, nhưng bỏ mặc thì cũng không được. Đây là tướng công của nàng, tướng công có xung đột mà nàng lại bỏ mặc thì không phải là người có phẩm hạnh. Dẫu chưa xung đột nhưng khuyên giải cũng rất khó. Tuy mấy tháng ở chung Ninh Nghị rất hòa nhã, nhưng nam nhân mà, mấy chuyện linh tinh kiểu này là rất khó cản. Hai bên còn chưa thuộc hết tính của nhau, nếu yêu cầu gã nhượng bộ, ai mà biết được gã có nghi mình có quan hệ gì đó cùng Tiết Tiến hay không, sinh ra hiểu lầm thì dở. Nàng hy vọng có thể khiến mọi chuyện trở nên tốt đẹp, mặc dù Ninh Nghị đúng là qua ở rể nhà nàng, nhưng nàng vẫn mong có thể tận lực tránh cho gia đình có những chuyện không yên về sau, thật là đau đầu.

Ai ngờ đi ra mới thấy Ninh Nghị đang rất tự nhiên cùng đối phương nói chuyện mất trí nhớ, liếc qua là biết ngay cả cái tên Tiết Tiến y cũng chả có xúc cảm gì... Chẳng lẽ mấy tháng vừa rồi thực sự không một ai nhắc tới chuyện này trước mặt y sao? Nàng hơi nghi hoặc nói lảng sang truyện khác, rồi lát sau cáo từ Tiết Tiến cùng Ninh Nghị dẫn mấy nha hoàn lên xe ngựa.

- Được rồi, hội thơ Bộc Viên trong đêm hội hoa đăng Tần Hoài tiết trung thu mọi người đều có thể đưa gia quyến đi cùng, nghe nói Ninh huynh uyên bác, không biết có thể cùng Đàn Nhi muội tham gia không?

Thấy hai người sắp rời đi, Tiết Tiến ở bên lớn tiếng hỏi, lúc này đã đầu tháng tám, sắp đến Trung thu, trên sông Tần Hoài có vô số tiết mục không chỉ dành cho nam mà còn cho cả nữ tham gia nữa, Hội thơ Bộc Viên xưa nay danh tiếng lớn vô cùng. Vô luận là thời đại nào đi chăng nữa, phú quý sinh lễ nghĩa luôn là chuyện rất bình thường, tuy nói là thơ nhưng các tiết mục biểu diễn khác cũng rất nhiều, những năm trước Tô Đàn Nhi cũng thường tham gia, lúc này nàng vừa hạ rèm xe vừa nói:

- Chuyện đó nói sau đi.

- Ừ, nói chuyện sau...

Nhìn xe ngựa rời đi, Tiết Tiến im lặng đứng, trong lòng lập tức nổi nghi hoặc, nhìn sang tùy tùng bên cạnh:

- Các ngươi thấy họ Ninh kia đến cùng là mất trí nhớ thật hay giả? Không phải là giả vờ đó chứ?!

Gã buồn bực mãi không thôi.

Gã vốn đã có ý nhắc nhở Ninh Nghị "Ta đã đánh ngươi nhưng ngươi chả làm gì ta được" thậm chí còn cố ý nói: "Vừa qua có người phao tin đồn tiểu đệ ngày đó đánh lén Ninh huynh, huynh không tin đó chứ?" Nói như vậy chính là để chọc giận đối phương, ai dè Ninh Nghị ngôn ngữ thành khẩn bình thản, cũng không có vẻ liều mạng gì cả, một quyền của gã nghiễm nhiên thành đấm vào không khí khiến gã thấy mê mang, cảm giác mình diễn xuất như vậy mà đối phương vẫn bàng quan như khán giả, một chút phản ứng như dự đoán cũng không thật là khó chịu.

Lúc này trên xe ngựa, Tô Đàn Nhi cũng đang nghi hoặc nhìn Ninh Nghị ở phía đối diện, lúc này trong xe chủ yếu là tiếng trò chuyện của ba nha hoàn, bọn họ líu lo thảo luận Tiết công tử kia xấu xa cỡ nào, vô lễ ra sao, tuy một câu cũng không nhắc đến Tô Đàn Nhi nhưng thực tế nghe được lại thấy bóng gió một chủ đề nổi bật: "Tiểu thư cùng người kia không quan hệ." Ninh Nghị thỉnh thoảng cũng cười nói chọc thêm vào.

Thực tế trong lòng gã cảm thấy hành vi của ba nha đầu này rất là đáng yêu, ngoan ngoãn lại hiểu chuyện, nếu ở xã hội hiện đại, mấy cô bé ở tuổi này đã tùy hứng tới mức độ nào. Chốc lát sau, chỉ nghe Tô Đàn Nhi nói:

- Tướng công... thực sự đã quên gã họ Tiết kia rồi sao?

Ninh Nghị gật đầu:

- Chính xác là không nhớ.

- Thế nhưng... hẳn là đã nghe nói qua chứ...

Tô Đàn Nhi nghi hoặc nhìn gã, gã quay mặt qua nhìn thoáng lại, hai người nhìn nhau trong chốc lát:

- Ý, không phải là nương tử muốn ta đánh y đấy chứ?

Tô Đàn Nhi nhìn vào con mắt chớp chớp vài cái của y dần dần nhoẻn miệng cười. Khác hẳn với những lần trước, nụ cười tươi tắn rực rỡ lần này có chứa một chút cảm giác thoải mái nhẹ nhõm, tướng công của mình quả nhiên vẫn hiểu được đạo lý đối nhân xử thế. Nghĩ như vậy nhưng tự đáy lòng nàng lại hơi có chút mất mát, nàng không thích người chỉ thuần túy là một con mọt sách, cũng không thích một người thực sự có tâm cơ, chỉ là đến nay hai người vẫn còn chưa quen tính nết của nhau nên việc này cũng khó có thể biết chính xác.

Xe ngựa chạy qua một cây cầu nhỏ gần đại môn nhà họ Tô, Tô Đàn Nhi quay ra phía ngoài nhìn một chút :

- Nói vậy.. Hội thơ Bộc Viên trung thu này tướng công thực sự muốn đi ư?

- Nếu nói thi từ thì ta cũng không rành lắm.

- Cũng không cần quá rành, chủ yếu là đi xem biểu diễn, thưởng thức hoa đăng mà thôi.

Tô Đàn Nhi nói xong, Quyên Nhi ở bên liều mạng gật đầu :

- Đúng vậy đúng vậy. Cô gia, có rất nhiều thứ biểu diễn đó.

Hạnh Nhi ở bên cũng phụ họa :

- Hoa đăng cũng rất đẹp, nhưng đẹp nhất là pháo hoa...

- Nói không chừng Lan tiểu thư cũng sẽ biểu diễn...

- Nghe hát...

Ba nha hoàn líu ríu nói về các tiết mục trong hội hoa đăng. Gần đây không có trò gì vui, bọn họ hiển nhiên rất chờ mong dịp sắp tới, Ninh Nghị cười gật đầu :

- Ừm, nếu như vậy đến lúc đó mọi người có thể cùng đi xem.

Lễ trung thu còn mười mấy ngày nữa mới đến. Vài ngày sau, Tô Trọng Kham tới báo, kêu gã tới báo danh ở thư viện Dự Sơn cách Tô gia không xa, chuẩn bị làm một vị tiên sinh dạy học nhàn nhã.

Chương 5: Gà Mái Xuống Sông

Buổi sớm mùa thu, phương đông mờ mờ sáng, sương mù trắng bạch bao trùm cả thành phố cổ, từng chiếc từng chiếc thuyền hoa trên sông Tần Hoài chầm chậm trôi trong sương mù dày đặc như điện ngọc cung quỳnh phiêu phù phía chân trời.

Chìm trong sương thu dày đặc, Ninh Nghị vừa rên rẩm vừa chạy dọc theo bờ sông Tần Hoài, lịch tập buổi sáng đã được cố định, dẫu sao thì gã cũng có nhiều thời gian. Hai bên đường lớn là kiến trúc gạch gỗ cổ kính nhấp nhô, có đủ loại cây cối, thuyền hoa trôi dọc sông, thỉnh thoảng lại thấy thuyền công hay nữ nhân mệt mỏi trong sương mù xuất hiện nơi đầu thuyền.

Thành Giang Ninh đang vào tiết giao mùa đẹp nhất trong năm, cái vẻ ồn ào náo nhiệt phồn hoa sau một đêm bỗng nhiên tan hết, ngày mới đầy sức sống bắt đầu. Sau khi mở của thành, những người trồng rau vội vội vàng vàng, các nhà cung cấp lục tục tiến vào rồi tỏa đi các chợ. Lượng người không nhiều nhưng mang đến cảm giác cuộc sống thật tươi mới. Đôi khi cũng bắt gặp được một ai đó mặt mũi mệt mỏi, chân thấp chân cao vội bước ven đường, thậm chí áo quần mũ mão xộc xệch, hơn phân nửa là những kẻ qua đêm trong thanh lâu, buổi sáng có việc nên vội rời đi. Các cửa hàng cũng đã thoáng mở cửa, lúc này đám ăn mày vẫn chưa thức giấc.

Hạnh phúc thường đến từ những điều bất hạnh, gọi là phồn hoa cũng bởi có sự so sánh đó. Đối với người từng trải qua cuộc sống nơi thành thị hiện đại như Ninh Nghị, Giang Ninh có phồn hoa hơn nữa cũng chỉ vậy mà thôi. Nhưng những chuyện đó đều không quan trọng, cái vị cổ kính tự nhiên kia mới là chân thật nhất, cuộc sống ở nơi đây phần lớn là những người dễ dàng hài lòng, thu hoạch vừa đủ ấm no là có thể tươi cười rạng rỡ.

Thi thoảng Ninh Nghị và Tần lão nói về những chuyện như thế này, Giang Ninh là một tòa thành rất tốt nhưng cũng có ăn mày ở khắp mọi nơi kết bè kết lũ, hiện tượng bán trẻ em, bán phụ nữ cũng không hiếm thấy. Đương nhiên ở đây có nhiều phú hộ, nếu có thể đưa con cái vào một phủ đệ không tệ nào đó để làm tiểu nha hoàn, vậy ngày sau cũng khỏi lo chuyện ăn chuyện mặc, xem như là tổ tiên tích đức. Tần Hoài vốn là chốn trăng hoa, cuộc đời những cô bé xinh tươi nghèo khổ cũng có nhiều ngã rẽ. Nếu tương lai có thể học được văn thơ ca hát, gặp được tú bà có lòng tốt thì hoặc trở thành danh kỹ bán nghệ không bán thân, hoặc may mắn hơn có thể được gả làm tiểu thiếp cho một nhà đại phú hộ nào đó. Nhưng phần lớn số phận không tốt, chỉ còn nước bán thân cả đời, tới lúc tuổi già phai sắc tú bà mới thương thả tự do cho. May mà nơi đây hơn những nơi khác ở chỗ tự hình thành một quy tắc, nếu như giữ được quy tắc này thì kẻ xấu số cũng có thể tà tà mà sống qua một đời, đương nhiên mọi chuyện cũng chỉ là tương đối, đó là:

kỹ nữ về già nếu không có tiền sẽ được điếm phường thu dụng để làm những việc lặt vặt mà không ném ra đường.

Sống ở nơi đây ít ra vẫn còn lương tâm cùng một chút phúc lợi. Nếu không phải ở những thành thị như Giang Ninh, Dương Châu thì những điều này chưa chắc đã được bảo đảm.

Chăn ngựa cũng là một loại công việc, những năm sau này nghề chăn ngựa nổi danh thiên hạ ở Dương Châu bắt đầu từ thời Minh. Thực tế lúc này cũng có nghề dạng đó nhưng quy mô chưa lớn, dù sao ở dải đất gắn với trăng hoa này thì đó sự chọn lựa tốt nhất. Số mệnh và cuộc sống của những cô bé chăn ngựa này so với những người bị bán vào thanh lâu làm kỹ nữ thì còn tốt hơn rất nhiều. Về sau nếu có cơ hội thì chí ít các nàng còn có thể học cầm kỳ thi họa, làm thơ, ca hát. Ngày sau nhiều khả năng bước lên được hàng ngũ danh kỹ.

Mỗi khi đến mùa lũ chắc chắn sẽ có người gặp nạn, thu hoạch mùa màng bị giảm sút. Chẳng may gặp phải năm mùa màng thất thu, ví dụ như vỡ đê Hoàng Hà hoặc thiên tai gì đó thì đô thành lại căng thẳng mất một thời gian. Quân đội phải gác cổng thành để ngăn nạn dân chạy vào, tri phủ triệu tập các phú thương để thương nghị. Thực tế là phát động quyên góp tài lực, mọi người chung tay đóng góp bát cơm bát cháo..

Số người chết cóng trong mùa đông cũng phải dựa vào mùa màng. Mùa màng tốt thì chết ít, mùa màng không tốt thì khỏi nói cũng biết. Ăn mày rất khó qua được mùa đông, nếu trời có tuyết rơi, đến ngày hôm sau sẽ thành một đống ôm nhau đông cứng mà chết. Nhìn riết thành quen mắt.

Những chuyện thế này gặp nhiều mãi thành quen, thỉnh thoảng Tần lão cũng nói:

- Đây không phải là thời đại tốt.

Thời đại tốt thì cũng có, những năm đầu của triều Vũ có thể coi là thời thái bình thịnh trị, ca hát mừng Vũ Hằng Đế, Vũ Huệ Tông hùng tài đại lược vân vân.. Ninh Nghị nghe xong đầu váng mắt hoa. Bất kỳ triều đại nào cũng có cảnh ca múa mừng thời đại thái bình, triều Vũ lúc này cực giống với cuối thời Bắc Tống, xa chốn Giang Nam tương đối giàu có và đông đúc này là một số thế lực nông dân đang nổi dậy, trộm cướp, thổ phỉ tuyệt không hiếm. Phía bắc là Đại Liêu do họ Da Luật thống trị mấy lần xâm phạm biên giới. Cứ phạm biên là lại nghị hòa, mấy năm trước ký hiệp ước xưng huynh gọi đệ, đương nhiên Liêu huynh Vũ đệ, nhưng ký thì cứ ký mà đánh thì cứ đánh, xâm phạm biên giới quy mô nhỏ chưa từng dừng lại.

Ninh Nghị tuyệt không vì những chuyện này mà lo lắng, mối nhục Tịnh Khang(1) còn chưa xảy ra, mà bởi hoàng đế khác nhau nên nếu xảy ra khẳng định kết quả cũng khác, hoàng thượng vẫn chưa dời đô tới Giang Ninh, quốc lực của quốc gia này còn, nếu muốn đánh vẫn có thể cố gắng chèo chống. Dẫu triều Vũ có rập khuôn lại hình thức của Nam Tống mà dời đô, thì chẳng phải là Nam Tống cũng chống đỡ được một thời gian dài đó sao?! Còn chuyện nước Kim đánh tới, chính mình hẳn đã xong đời từ lâu.

"Bốn trăm tám chục chùa Nam quốc, nhiều ít lâu đài lẫn khói mưa" (2)

Nhưng đó là chuyện Nam Tống – Ài, còn chuyện này chỉ có vẻ bề ngoài giống thời Nam Tống thôi..

Ninh Nghị thầm nghĩ một chút, không thấy có kết quả gì bèn gạt qua một bên. Quản làm gì, dẫu có là Nam Tống đi chăng nữa thì cuộc sống vẫn không có gì vướng mắc.

Gã không có ý định cứu vớt dân tộc Trung Hoa hay là tới cổ đại kiến lập một sự nghiệp ngàn đời, gã vốn đã mệt mỏi, không còn đủ lòng nhiệt huyết nữa. Từ lâu đã quen thuộc với rất nhiều bất công, rất nhiều đen tối. Dẫu người đời có đau khổ cũng không khiến gã đồng tình hay chia sẻ, không phải là không có, mà là không đủ. Còn mấy cái việc làm hoàng đế tạo ra sự nghiệp ngàn đời, chuyện kẻ chỉ sống sáu mươi năm lại lo chuyện một trăm hai mươi năm hoàn toàn là ấu trĩ. Nhưng cũng phải nói, những lúc nhàm chán, ví dụ như lúc vừa chạy xong mồ hôi đầm đìa mà đứng lặng nghỉ ngơi ven sông Tần Hoà, Ninh Nghị sẽ vô thức suy nghĩ về những điều kia, xem ra cũng có chút ít tích cực.

Nếu thật sự muốn làm chuyện gì đó, thân phận kẻ ở rể dẫu có phiền phức nhưng cũng không quá lớn. Thời đại này cơ hội kinh doanh có ở khắp mọi nơi, đồ ăn chưa có bột ngọt, phương pháp chế bột ngọt gã ít nhiều cũng biết. Nói thì đơn giản nhưng trong thực tế sẽ có đôi chỗ phức tạp, có điều bỏ ra một năm đại khái là vẫn có thể sản xuất được, rồi thu thập vài món ăn mới, làm một khu ẩm thực theo kiểu nấu ăn hiện đại, nhiều ít cũng kiếm được một mớ.

Thời đại này không có âm nhạc. Một kẻ có thể tải hàng loạt nghe hàng loạt bài hát mới mỗi ngày, bỗng tới sinh hoạt trong thế giới cổ đại thì có thể tưởng tượng ra nó buồn chán đến nhường nào. Những thứ thanh lâu biểu diễn không hẳn là đã hay, danh kỹ hát không hẳn là dễ nghe, nếu ai đó nghe không vào bỗng nhiên nghe được một bài hơi đạt tiêu chuẩn tất sẽ cảm thấy thư thái. Vậy nếu có thể làm một khu giải trí thì cũng rất có cơ hội, ca khúc vũ đạo, các loại hình giải trí, ca từ bài hát hiện đại nói chung là không dùng được, nhưng đem làn điệu chuyển về cổ điển một phen hẳn không thành vấn đề, tinh giản một chút, làm cho phong cách vũ đạo phù hợp với triết lý của thời đại này, hoặc là chép lại một số bài thơ rồi đưa cho người hát.

Gã cũng vì buồn chán tới phát bệnh nên mới nghĩ đến chuyện ăn uống giải trí phóng túng thế này.

Về phần thoát ly đời sống ăn chơi phóng túng, mấy cái chuyện bỏ ra mấy chục năm làm ra một khẩu pháo đặt nền tảng cho cách mạng công nghiệp, hoặc tạo phản làm hoàng đế để sau hai trăm năm người dân có thể cưỡi máy bay đi lại,.. dù thế nào đi chăng nữa thì chính mình cũng không được hưởng thụ, chi bằng mở khu ẩm thực với khu giải trí còn có ý nghĩa hơn nhiều.

Gió sớm se se lạnh, lúc này gã đang đứng trên tảng đá gia cố thân đê ở khúc sông uốn cong, vừa nhặt đá vơ vẩn ném xuống nước, vừa nghĩ loanh quanh mấy chuyện này.

Kỳ thực mà nói, những việc này tạm thời không cách nào làm được.

Là người đi ở rể nhà họ Tô, chuyện mở thanh lâu cơ bản là đừng nghĩ, chỉ có thể coi nó là kế hoạch cho tương lai sau này. Tô gia mở xưởng vải mà mình lại đi mở quán rượu tất sẽ phiền phức. Có lẽ trước tiên nên trợ giúp vài điểm cho xưởng vải của Tô gia để chứng minh giá trị của mình, sau đó.. Chà, sau đó mình tất sẽ bị chuyển tới làm chưởng quỹ của xưởng vải, lại chứng minh năng lực, kết quả lại quay về với cái nghề cái nghiệp đời trước, tiếp theo dùng vốn để mở một tửu quán. Dưới ánh mắt nghi hoặc của mọi người chứng minh cho bọn họ thấy món này lợi nhuận rất khá. Tiếp theo đó là tìm người chế ra một loạt các thiết bị, động não làm thí nghiệm, chế ra dây chuyền sản xuất, mà lý do để làm như vậy vẻn vẹn chỉ bởi vì mình rất nhớ cái vị bột ngọt trong mỗi bữa cơm, đây chẳng phải là chuyện trước nay vẫn làm mình đau hết cả trứng đó sao..

Miệng ngâm nga giai điệu bài Caribbean blue, Ninh Nghị không khỏi bật cười với những ý nghĩ của mình. Bắt tay vào làm có lẽ sẽ không phiền toái như vậy, nhưng mới nghĩ đến đã thấy là rất thú vị, hay là mua luôn vài trăm cân rong biển về nghiền ra cô lại. Rong biển có lẽ dễ mua, nhưng nếu làm thực nghiệm theo hướng này, một mặt bọn họ sẽ nói mình lãng phí, mặt khác, tất sẽ có người cảnh cáo mình quân tử là phải rời xa nhà bếp..

Ngâm nga xong đoạn đầu bài Caribbean blue, chuyển sang đoạn sau quên mất nên đổi sang bài “Một con vịt”, vừa lúc hát đến đoạn “gặp hồ nước nó bì bà bì bõm” lần hai, thì phía sau truyền đến tiếng gà kêu quang quác.

Caaa ca ca ca ca..

Quááác quác quác quác quác..

Hai thứ tiếng, một là tiếng nữ nhân, hai là tiếng gà mái. Quay đầu lại nhìn, thấy ẩn hiện trong sương mù một con gà mái đang chạy loạn giữa những hàng cây bên kia đường, phía sau là một bóng nữ nhân váy xám, tay cầm dao kiên nhẫn truy đuổi con gà mái. Một người một gà quay cuồng trong sương mù, lúc ẩn lúc hiện.

Ninh Nghị đứng dưới gốc cây ven sông, hếch cằm nhìn một màn rượt đuổi.

Về lý mà nói, giả tiếng gà là để cho gà cảm thấy an toàn mà dụ nó chạy đến, nhưng bây giờ gà đã bị dọa thành như vậy, có kêu ca ca như vậy liệu có ích gì, gọi tỷ tỷ cũng là vô dụng.

Trong lòng ngẫm nghĩ, mắt nhìn một màn người gà đại chiến, đúng lúc gã đột nhiên nhận ra vóc người nữ nhân kia không tệ, thì con gà mái đột nhiên chuyển hướng chạy vọt về phía bên này, vượt qua người Ninh Nghị nhảy thẳng xuống sông.

Cô gái kia cũng bước thấp bước cao khẩn cấp chạy tới. Vốn là sương mù rất đậm, Ninh Nghị đứng khuất sau một thân cây nên không dễ thấy, cô gái kia hẳn là không chú ý xung quanh, mắt thấy phía trước chính là bờ sông, nàng liền vung dao chém xuống. Một chém dùng sức rất mạnh, miệng cô gái kia còn “hừ” ra một tiếng, nhưng căn bản chém không tới cây, mà con dao lại tuột tay bay vào trong nước.

Ninh Nghị bị khí thế của nhát chém kia dọa cho hết hồn, sau mới phát hiện thân hình cô gái đã nghiêng hẳn ra ngoài, cánh tay thò ra phía sông múa loạn, theo bản năng gã hô lên một tiếng: “Này!” rồi duỗi tay chộp tới tóm được một tay của cô gái. Cô gái kia xoay người, tay kia vô thức tóm lấy Ninh Nghị, Ninh Nghị chuẩn bị dùng sức kéo nàng trở về, hòn đá dưới chân bỗng lỏng ra..

- Aaa.. cô..

Một tiếng kinh hô ngắn ngủi.

Ầm..

Sau đó là tiếng nước kịch liệt, tiếng quẫy ầm ầm, sương mù dày đặc trên mặt sông sôi lên một trận.

Kỹ năng bơi của Ninh Nghị đời trước cũng không tệ, nhưng đáng tiếc kỹ năng bơi này lại không phát huy được. Thân thể này nguyên bản là của một thư sinh văn nhược, kỹ năng bơi không có chỗ dùng, trước đó cơ thể lại còn bị thương, tuy Ninh Nghị đã điều trị mấy tháng và tiến hành rèn luyện nhưng thể lực tăng lên chỉ được chút xíu. Cô gái kia hình như lại không biết bơi, hai người liều mạng quẫy lộn ở nơi không sâu lắm nhưng mấy lần Ninh Nghị cố trấn tĩnh định nói chuyện đều bị đối phương dìm vào trong nước.

- Cô.. ùng ục ùng ục

- Này.. ùng ục ùng ục ùng ục..

- Đừng.. ùng ục ùng ục ùng ục ùng ục ùng ục..

từng có nhiều người thủy tính tốt hiệp nghĩa xông ra đều bị người sắp chết đuối dìm nhau cùng chết..

Cũng không biết phải mất bao lâu, Ninh Nghị mới kéo được cô gái lên bờ khoảng mười mét. Cả người gã ướt đẫm chật vật không thể tả. Gã nằm xoài trên bờ, ói ra vài ngụm nước rồi mới hoàn hồn trở lại, rồi sau đó tới xem cô gái được cứu. Cô gái đã uống no nước ngất xỉu, không còn động tĩnh.

- Này!

Ninh Nghị vỗ vỗ lên mặt cô gái vài lần nhưng vẫn không có phản ứng, tóc cô gái dài như rong nước, trông thê lương không gì sánh nổi.

- Tam ngẫu phù bích trì.. cô sống ở ven sông Tần Hoài mà không biết bơi là sao..

Ninh Nghị bất đắc dĩ hít vào mấy hơi, rồi đặt cô gái ra chỗ đất bằng, bắt đầu dựa vào kỹ thuật trước đây đã học qua tiến hành cấp cứu.

Cho dù đối phương là nữ nhân, việc cấp cứu này cũng không phải bởi vì xấu đẹp, mà càng không phải bởi vì một người đẹp áo tắm. Lúc này quần áo trên người cô gái nhăn nhúm, đầu tóc rối bời tựa như ma nước trong truyền thuyết, trông tệ không thể tả. Ninh Nghị lo lắng, liên lục ép mấy lần nơi ngực cô gái để nàng ộc bớt nước ra rồi tát vào mặt nàng nhưng vẫn không thấy có phản ứng. Gã bèn giữ lấy hai bên gò má đối phương tiến hành hô hấp nhân tạo.

Làm được một lần, cô gái kia mới mơ mơ màng màng tỉnh lại. Đang lúc Ninh Nghị định cúi xuống hà hơi lần nữa thì trên mặt vang lên một cái chát, trong bầu không khí tĩnh lặng này tiếng bạt tai vang to không gì sánh nổi. Cô gái kia bật khóc nức nở, lên tiếng nói thê lương:

- Kẻ xấu xa, ngươi.. hức.. ngươi định làm gì...

Đồng thời ôm ngực liều mạng lui về phía sau. Lúc này quần áo toàn thân nàng bó sát, đôi chân thon dài đạp trên mặt đất thê lương đơn bạc, trông rõ ra mấy phần cảm giác đáng thương hại.

Nếu lúc này có người đi ngang qua, nói không chừng vì một màn này mà đánh cho Ninh Nghị một trận.

- Cũng biết là như vậy..

Ninh Nghị nghiêng đầu gật gù, hạ vai thở dài ra một hơi rồi ngồi bệt xuống mép đường. Hai người ở bờ sông trừng mắt to nhỏ một trận, Ninh Nghị vẫy tay:

- Không sao chứ?

Cô gái trừng mắt nhìn gã, không nói lời nào.

- Không sao là tốt rồi.

Gã tự hỏi tự trả lời, rồi dùng sức bò dậy. Ninh Nghị bĩu môi, xoay người bỏ đi, gió mát thổi tới, thực sự là lạnh quá.

Phía sau, cô gái co mình lại, đưa mắt nhìn thân ảnh của gã từ từ biến mất nơi góc đường..

Cô nàng đáng thương, đã mất gà lại gẫy dao, toàn thân ướt đẫm trở về, Ninh Nghị hả hê nghĩ. Dưới tình huống này, gió mát là một chuyện hết sức đau khổ, nhưng nghĩ đến tình cảnh của người khác, nỗi thống khổ của gã cũng giảm được vài phần.

Đối với việc nhỏ, tự gã luôn có phương thức rộng rãi khoát đạt để xử lý. Nếu mọi chuyện đã không thể thay đổi, vậy cũng chả có cách nào khác hơn là tạm thời làm cho mình hài lòng hơn một chút.

-----------------------------------

(1)Tịnh Khang (niên hiệu của vua Khâm Tông thời Tống, Trung Quốc, 1126-1127)

(2) Nguyên văn: "Nam triều tứ bách bát thập tự, đa thiểu lâu đài yên vũ trung." Đây là hai câu cuối trong bài Giang Nam xuân của Đỗ Mục:

Hán Việt:

Trích:

Thập lý oanh đề lục ánh hồng

Thủy thôn sơn quách tửu kỳ phong

Nam Triều tứ bách bát thập tự

Đa thiểu lâu đài yên vũ trung

Dịch nghĩa:

Trích:

Mười dặm đường chim oanh hót, lá xanh chen hoa đỏ

Xóm bên sông, quách trên núi, gió thổi cờ quán rượu

Thời Nam Triều có bốn trăm tám mươi chùa

Nhiều ít lâu đài trong khói mưa

Nguyễn Phước Hậu dịch thơ:

Trích:

Mười dặm oanh trong lá hót hoa

Xóm sông thành núi gió tung cờ.

Bốn trăm tám chục chùa Nam quốc

Nhiều ít lâu đài lẫn khói mưa.

http://hoasontrang.us/tangpoems/...hi.php?loi=491

Chương 6: Gió Sớm Giang Ninh

Nguyên bản kế hoạch của Ninh Nghị là chạy một vòng ở ngoài rồi đi thẳng tới thư viện Dự Sơn, nhưng lúc này toàn thân ướt đẫm, gã không thể làm gì khác hơn là quay trở về nhà thay quần áo. Lúc này đã là thượng tuần tháng tám âm lịch, cảm giác toàn thân ướt nhẹp trên đường trở về nhà tuyệt không dễ chịu, tố chất thân thể còn chưa tăng được bao nhiêu, không chừng ngày mai phát bệnh. Cũng may là gã đi không xa thì gặp được người quen, là tiểu thiếp của Tần lão từng gặp qua mấy lần.

Ninh Nghị chạy bộ ở ngoài đương nhiên là không chọn những phố xá sầm uất, con đường gã quen thuộc nhất là đường đến chỗ chơi cờ cùng Tần lão. Tiểu thiếp của Tần lão tên là Vân Nương, hơn ba mươi tuổi, trước đây cũng là nữ tử phong trần nhưng tuyệt không có vẻ lẳng lơ, mấy lần Ninh Nghị gặp mặt đều là lúc nàng mang bữa trưa đến cho Tần lão. Dung mạo cử chỉ đoan trang đứng đắn, trong khi trò chuyện cùng Tần lão còn có thể tiếp được vài lời văn thơ. Lúc này Vân Nương đang mặc trang phục nông phụ váy trắng trâm cành (1), trên tay là một giỏ mây, bên trong là một số rau quả tươi vừa mới hái ở gần đây, gặp được Ninh Nghị giữa đường nàng tỏ ra kinh ngạc.

Sau khi thoáng chào nhau, Vân Nương hỏi chuyện gì xảy ra, Ninh Nghị chỉ chỉ xuống sông Tần Hoài không xa nói:

- Rớt xuống sông.

Vân Nương khẽ cười cười rồi không hỏi nữa, chỉ là mời Ninh Nghị theo nàng về nhà:

- Mùa thu gió lớn, công tử mà cứ dạng này trở về, không chừng mai nhiễm phong hàn mất. Ninh công tử là bạn của lão gia vậy chớ nên khách khí. Lúc này lão gia cũng đang ở nhà.. A, hôm qua còn nhắc mấy hôm nay chưa thấy công tử tới chơi cờ đấy.

Ninh Nghị chơi cờ ở ven đường với Tần lão nên biết đối phương ở đâu đó quanh đây, nhưng cụ thể ở đâu thì chưa từng tới. Lúc này theo Vân Nương tiến vào cửa liền thấy trong phòng khách, một lão nhân đang cầm xem một quyển cổ giản, thần thái lão nhân nghiêm túc, thậm chí tỏa ra một cỗ uy nghiêm mơ hồ, hoàn toàn khác với lúc đánh cờ ở bờ sông. Thấy có người tiến vào, lão ngẩng đầu híp mắt nhìn vài giây rồi cố nhịn cười. Vân Nương vừa cười vừa đi tới, còn chưa kịp nói lão đã gật đầu, chuyện quan trọng nhất phải làm gì lúc này quả thực chỉ cần liếc qua đã hiểu.

- Kêu tiểu Hồng đi chuẩn bị nước nóng. Vân Nương, ngươi lấy một bộ quần áo của Đại Lang.. haha, Lập Hằng tiểu hữu, ngươi gặp phải chuyện gì vậy?

An bài xong công việc, lão nhân mới cười lớn thành tiếng, tiếng cười sảng khoái hả hê tựa như lúc đánh cờ ăn lời được một quân. Những ngày đánh cờ vừa qua cũng đã khá thân thuộc, ngày thường lão nhân không khách khí mà gọi gã là Lập Hằng tiểu tử. Hôm nay đại khái thấy gã chật vật mới cười mà gọi gã là tiểu hữu, vẻ mặt tỏ ra khá hài lòng. Ninh Nghị cũng đành cười khổ xua xua tay, dù sao ở đây cũng có tiểu thiếp của người ta, gã cũng không thể phóng túng mà nói:

“Lão đầu ông cười trên sự đau khổ của người khác!”

So với đại viện của thành Giang Ninh là Tô gia, trạch viện của Tần gia không lớn, mức độ phú quý cũng không bằng nhưng có thể coi là một gia đình giàu có, trước sau bố trí ngăn nắp, tòa nhà tràn ngập khí tức nho nhã sinh động, tạo ra cảm giác bình an trong tâm hồn. Tuy buổi sớm Vân Nương phải tự mình đi hái rau quả, nhưng kỳ thực trong nhà vẫn có vài nha hoàn và hạ nhân. Nếu nuôi được vài hạ nhân thì kinh tế gia đình hẳn là không tệ.

Vợ cả của Tần lão là một phụ nhân tương đối nhã nhặn và bình dị. Trước kia xuất thân là nhà nông nhưng cũng không có tính cách khắt khe và tính toán thường thấy. Bà bây giờ hơn năm mươi, bình thường quản lý cả gia đình, chăm sóc cây quả. Vườn rau mà Vân Nương vừa tới hái là do Tần phu nhân dẫn người trong nhà tự tay khai khẩn, bản thân Tần lão cũng phải động tay động chân, có lẽ vì tính tình như vậy nên mới quản lý tòa nhà này ngăn nắp gọn gàng như thế. Tình cảm giữa Vân Nương và Tần phu nhân cũng tốt, dưới chế độ đa thê, phu thê ba người bọn họ cũng có thể được coi là gia đình kiểu mẫu.

Ninh Nghị tắm nước nóng, thay đổi trang phục xong, Tần phu nhân mới nhìn từ trên xuống dưới rồi tỏ ra vui vẻ:

- Lão gia, Ninh công tử mặc bộ quần áo này vào trông có mấy phần giống Đại Lang.

Ninh Nghị nhìn lại bộ y phục, đúng là kiểu cách dành cho người trẻ tuổi, vải vóc cũng mới, lúc này mới nghĩ ra là y phục của con trai Tần lão. Hai con trai của lão nhân đều ở bên ngoài. Nghe phu nhân nói vậy, Tần lão gật đầu một cái rồi mới hỏi vì sao Ninh Nghị rớt xuống sông. Ninh Nghị đem mọi chuyện phát sinh lúc trước lần lượt kể ra, lão nhân lại được một phen phá lên cười ha hả.

- Tiểu tử nhà ngươi làm ô uế sự thanh bạch của người ta, thực sự là đáng hận mà.

- Lời này đúng là trả đũa nha

- Ha ha.. nhưng mà.. trả đũa? Câu này có gắn với điển tích gì không?

- ….

Cùng người có học vấn nói chuyện đúng là không tiện, không có việc gì cũng hỏi điển cố, nếu là lúc chơi cờ, Ninh Nghị sẽ cười mà giải thích một phen, nhưng lúc này chỉ nói:

- Chuyện nói ra rất dài dòng.

Một lát sau chuẩn bị xong bữa sáng, Tần phu nhân và Vân Nương mời Tần lão và Ninh Nghị dùng bữa. Trong lúc ăn, Ninh Nghị kể lại cảm nhận về tiến trình học ở thư viện Dự Sơn mấy ngày vừa rồi. Với Tần lão mà nói, cái tiến trình của Ninh Nghị chỉ đáng dành cho đám mầm non, tất không tránh được cười mắng Ninh Nghị vài câu, sau đó chuyển sang chuyện tết trung thu sắp tới.

- Hội thơ Bộc Viên à? Sáu cái thuyền của nhà họ Bộc cũng khá thú vị, nhưng tham dự lại toàn là kẻ chả biết làm thơ, nếu nói tới chỗ tài tử đổ xô vào, phải nói tới hội thơ Chỉ Thủy của họ Phan..

- Ừ, tài tử.. là mấy người rất có tài sao?

- Ha ha, là đại tài hay tiểu tài thì cũng khó phán xét, nhưng tài thơ đúng là có một chút. Hội thơ trung thu hàng năm, thư viện Chỉ Thủy vẫn cho ra dăm bài rất khá. Họ Phan ba đời hàn lâm, nếu có một thân tài học mà muốn thành danh thì nên đi tới nơi đó..

Đêm trung thu ở tần Hoài, tài tử đấu văn, giai nhân thi hát, có rất nhiều hội thơ lớn nhỏ, thường thì các hội thơ ngầm thi đấu với nhau, hội thơ này có được bài thơ hay, hội thơ khác lại xuất ra bài tốt hơn nữa. Thường thì đêm đó khắp nơi sôi sùng sục, rồi trong mấy tháng hoặc mấy năm sau đó trở thành giai thoại. Mấy chuyện này tất cũng có bàn tay thương nhân hay quan phủ ngầm thúc đẩy phía sau, nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì danh tiếng có được của khúc sông Tần Hoài này chính là bởi bầu không khí sôi sục đó.

Hội thơ Bộc Viên và hội thơ Chỉ Thủy có thể xem như là hai hội thi có sức ảnh hưởng lớn nhất dạo gần đây. Hội thơ Bộc viên tuy có danh là vậy, nhưng thực tế lại do sáu chiếc thuyền lớn kết lại mà thành, cả đêm phiêu phù trên sông Tần Hoài uống rượu ngâm thơ, ngắm pháo hoa cùng đèn lồng hai bên sông, ngoài ra trên thuyền còn có các tiết mục biểu diễn.

Bộc gia vốn là phú thương, nhưng bởi địa vị của thương nhân thấp kém nên sau khi có tiền thì tính dựa dẫm vào các văn nhân. Chỉ tiếc là chuyện như vậy không phải chỉ vài năm hay mười mấy năm là làm được. Tình hình gia tộc của bọn họ còn tốt hơn cả Tô gia, tuy mấy năm vừa rồi cũng xuất ra được vài văn nhân có chút tài hoa, nhưng trong mắt thế nhân vẫn chẳng phải là dòng dõi có học thức. Hội thơ Bộc Viên trên sông Tần Hoài nổi danh nhờ long trọng, xa hoa, náo nhiệt, kẻ tới tham dự hơn nửa là những thương nhân có cùng bối cảnh hoặc có quan hệ với Bộc gia tụ tập xem náo nhiệt như Tiết Tiến hay Tô Đàn Nhi, còn nói văn nhân làm thơ, hơn một nửa là lấy cớ đến lập quan hệ bàn chuyện làm ăn, chất lượng thơ vàng thau lẫn lộn. Mặc dù nó xa hoa nhất trong các hội thơ, nhưng lời thơ so với các hội thơ đỉnh cao thì tuyệt đối không thể sánh được.

Hội thơ Chỉ Thủy mới đúng là nơi tài tử tụ hội đứng đầu của cả một dải Tần Hoài. Phan gia chủ sự hội thơ là dòng dõi học thức chân chính, ba đời hàn lâm, thế hệ này có Phan Minh Thần làm Hàn Lâm học sĩ kiêm Lễ Bộ thị lang. Hội thơ do nhà lão mở ra là nơi những kẻ đọc sách muốn cầu công danh dập dìu tấp nập. Đương nhiên, nếu muốn có được tư cách tham gia hội thơ, bản thân cũng phải có tài học nhất định, hoặc có bối cảnh quan hệ đầy đủ mới được. Ngoại trừ một số tài tử đã thành danh được mời, trước mỗi dịp trung thu hàng năm có không ít tài tử tới Phan phủ đưa danh thiếp, tặng thơ chính mình làm để mong được chọn. Còn ở bên ngoài, có rất nhiều danh kỹ nơi thanh lâu coi chuyện được mời tham gia hội thơ Chỉ Thủy làm vinh hạnh, so với chuyện hội thơ Bộc Viên hàng năm đều dốc một số tiền lớn để thỉnh người là hoàn toàn khác biệt.

- Nếu muốn tham gia, Lập Hằng tiểu hữu có thể chuẩn bị bài thơ gì đó, bên phía Phan gia cũng ta có mấy bạn đánh cờ, nếu ngươi muốn có thể lấy được tấm thiệp.

Tần lão nói xong nhìn Ninh Nghị đang ngồi ở phía bàn đối diện, không ngờ Ninh Nghị lại cười lắc lắc đầu:

- Không hiểu thơ từ, đi Bộc viên xem náo nhiệt thôi.

Thấy gã hời hợt nhẹ nhàng cự tuyệt, Tần lão cũng không nói thêm gì nữa. Ăn sáng xong mặt trời đã lên cao, Ninh Nghị cáo từ đi đến thư viện Dự Sơn. Tiễn gã tới cửa rồi nhìn theo gã tới tận xa, Vân Nương mới đến bên Tần lão cười hỏi:

- Lão gia, chẳng lẽ Ninh công tử thật sự không hiểu thơ từ sao?

- Tiểu Vân nói tiếp đi?

Vân Nương nháy nháy mắt:

- Gạt người?

- Ha ha, thực sự là y có biết hay không ta cũng không rõ. Nếu mấy ngày đầu mà gã nói vậy, ta hẳn sẽ tin. Nhưng giờ thì khó nói lắm.

Tần lão lắc đầu cười cười:

- Cả đời ta gặp qua rất nhiều người, thanh niên mua danh chuộc tiếng hay có thực tài ta đều gặp. Cùng là có học vấn, có những người theo đạo Khổng Mạnh thì công bằng chính trực, khiêm tốn hiểu lễ nghĩa. Lại có những kẻ thì cá tính mạnh mẽ, vô cùng thẳng thắn, phong lưu không vướng bận nhưng vẫn có thực tài, mỗi lần đều làm cho người đời kinh diễm không ngớt. Nhưng bất kể là dạng nào cũng chỉ đến như vậy, duy có tiểu tử họ Ninh này quả thực làm ta không hiểu nổi.

Lúc ban đầu đánh cờ, ta cảm thấy gã đi con đường điên cuồng, mỗi nước đi đều là hùng hổ dọa người nhưng cũng đủ để khiến người suy nghĩ, nên nghĩ gã là một thiếu niên lỗ mãng nhưng tài trí mẫn tiệp, vì vậy không nói chuyện quá nhiều. Nhưng đánh cờ lâu dần mới phát hiện, kỳ đạo của gã lúc thì chính diện, lúc thì kỳ lạ vượt ngoài dự liệu, hoàn toàn không bị trói buộc bởi những cái chung. Sau một thời gian chuyện phiếm cũng cảm thấy mặc dù Ninh tiểu tử nói chuyện tùy tiện, nhưng trong lòng lại là bình đạm ôn hòa, thỉnh thoảng lại có những thuyết pháp khiến người tỉnh ngộ, nghe thì mới mẻ nhưng vẫn không tách rời đại đạo.

Nhớ mấy ngày trước gã nói chuyện đi dạy học, thuận miệng đề cập tới vài câu:

- Dạy học không phải là dạy người làm như thế nào, mà phải là dạy người vì sao làm thế.

- Các thánh nhân, hiền triết xưa viết sách giảng đạo, chính yếu nhất là giảng về việc đối nhân xử thế, quy luật vận động của thế nhân, trời đất, phải hiểu rõ những thứ này rồi mới biết phải làm như thế nào, đó mới là người đọc sách thực sự. Lúc đó gã nói rất tùy tiện, nếu là một kẻ nông cạn nghe được hẳn là chụp cho gã cái mũ bị khùng, nhưng mà.. đạo lý, đạo lý này hoàn toàn chính xác. Thấy núi thì là núi, thấy nước thì là nước, thấy núi không phải núi, thấy nước không phải nước, lại có thể trở lại thành thấy núi là núi, thấy nước là nước đó mới gọi là hiểu sách. Ừm, lời của gã không được đem đi nói lung tung, bằng không lại mang cho người ta nhiều phiền toái.

- Thiếp biết rồi.

- Thời gian quen biết cũng chưa lâu, đưa ra kết luận còn quá sớm. Nhưng trong lúc chơi cờ gã cũng tức cảnh làm vài câu, mấy câu đó rất hay, trước đây ta chưa từng nghe qua. Nếu chỉ luận thơ từ, nói gã là người không hiểu.. ta cũng không tin.

Tần lão xoay người đi vào, Vân Nương đi sát theo:

- Vậy sao Ninh công tử phải dấu tài, dù có làm sao..

- Bởi thế nên mới khó hiểu, nhưng cũng có một điểm minh bạch..

Nói tới đây Tần lão khẽ cau mày, sau đó lại lắc đầu, nhẹ giọng thở dài:

- Dạng người như tiểu Vân nói là người trẻ tuổi có tài học, hoặc có thể giấu tài, hoặc có thể giấu dốt, có thể chịu được tịch mịch, nhịn được mê hoặc nhất thời. Những kẻ dạng này đều là hy vọng tương lai có nhiều thành tích, đến một ngày cá vượt long môn, lên như diều gặp gió. Nhưng mà, bất kỳ ai trong số nhân vật loại này cũng đều không chọn thân phận đi ở rể trong một nhà thương nhân trước khi thành danh lập nghiệp. Từ cổ chí kim, làm một kẻ đi ở rể có mấy người có thể kiến công lập nghiệp? Ài, nếu thực sự là gã có tài, vậy thực là đáng tiếc..

Nói đến chuyện này, Tần lão vẫn cứ cảm thấy có chút tiếc hận. Nam nhân ham muốn công danh lợi lộc hay có dã tâm mới là chuyện bình thường. Như mấy ngày vừa tiếp xúc, nếu Ninh Nghị có dã tâm dù chỉ một chút thì gã cũng sẽ không đến một nhà thương nhân ở rể. Lúc này chưa khai dân trí(2), rất dễ dàng phân biệt người chưa được dạy dỗ cùng người đã được giáo dục và có đọc sách. Chưa nói tới chuyện gã có tài hay không, chỉ riêng cái khí độ ăn nói của gã, tùy tiện làm việc gì đó cũng không đến nỗi phải chết đói, vậy cần gì phải chạy tới nhà người ở rể cơ chứ?

----------------------------

(1) Nguyên văn: bố y kinh sai: váy trắng trâm cành mận, ý chỉ quần áo xuề xòa mộc mạc.

(2) Dân trí: Trình độ hiểu biết của nhân dân.

Chương 7: Thư Viện Dự Sơn

Ngay khi Tần lão cho rằng, gã có vài phần tài năng như vậy mà đi ở rể nhà thương nhân, thiếu chí hướng thật là đáng tiếc, Ninh Nghị đã đón nắng sớm trong lành tiến vào thư viện Dự Sơn, gã dự định dành trọn buổi sáng để chuẩn bị cho đám nhỏ học Luận Ngữ.

Thư viện Dự Sơn không phải được mở ở nơi có tên là Dự Sơn, mà nó là học đường riêng của nhà họ Tô. Nó thường thu nhận những người có quan hệ với gia tộc, nhưng học đường không tính là lớn vì người tới học cũng không nhiều. Dự Sơn là tên một ngọn núi ở quê nhà họ Tô.

Thư viện Dự Sơn nằm cách Tô phủ không xa, chỉ bằng một con đường không ồn ào náo nhiệt. Khung cảnh nơi đây khá đẹp và yên tĩnh, tường trắng ngói xám vây quanh, một phiến rừng trúc nhỏ, một cái bảng hiệu “Thư viện Dự Sơn” do một vị đại nho nào đó được mời viết cũng làm nơi đây có thêm vài phần không khí đèn sách.

Toàn thư viện tổng cộng có bốn mươi chín học sinh, bảy lão sư bao gồm cả thư viện trưởng Tô Sùng Hoa. Theo tỷ lệ mà nói thì có thể thấy lực lượng giáo viên khá hùng hậu. Tô Sùng Hoa cũng chính là người của Tô gia, từ nhỏ đã đậu cử nhân, ra làm quan mấy năm nhưng không có thành tích gì, thậm chí còn có lời đồn y phạm phải mấy chuyện không tốt, ngoài ra còn có hai vị lão sư đã từng làm quan dùng lương cao mời tới. Ngoài lão sư và học sinh còn có mấy nữ đầu bếp và người hầu, tạp dịch.

Tô gia đã đầu tư rất nhiều cho thư viện này, nhưng hoặc bởi các lão sư đều không đáng tin cậy, hoặc do tư chất đám học sinh đều ngu dốt nên thư viện vẫn mãi chưa tạo dựng được thành tích gì. Một số học sinh trước khi học xong nhận thấy mình vô vọng với khoa cử, hầu hết đều gia nhập các cửa hàng nhà họ Tô, bởi vậy thoạt nhìn cái thư viện này như một học viện kỹ thuật. Nếu trong nhà có đứa nhỏ có khả năng đi theo con đường làm quan, phần lớn sẽ chuyển đến học viện tốt hơn trước mười hai tuổi.

Ninh Nghị giảng dạy ở đây đã được ba ngày, Tô Sùng Hoa đối xử với gã khá tốt, không bởi cái thân phận ở rể mà làm khó dễ gì gã. Kẻ đã lăn lộn rất lâu trong xã hội đến mức thành tinh như lão cũng không cần phải làm mấy chuyện vớ vẩn như vậy. Cân nhắc chuyện Ninh Nghị không có chút tài học gì – tất cả mọi người đều nói như vậy – nên lão phân cho gã dạy hơn mười đứa trẻ mới nhập môn không lâu. Đám trẻ này tổng cộng có mười sáu đứa, tuổi từ sáu đến mười hai, thậm chí còn có hai tiểu cô nương tóc bím, bởi các nàng đều là thân thích của Tô gia nên cũng muốn dạy một chút chữ nghĩa. Vị thầy giáo trước đó đã dạy xong Hiếu Kinh, bây giờ chuyển sang Luận Ngữ. Lịch dạy Luận Ngữ được cố định vào buổi sáng, buổi chiều dành cho dạy lễ, nhạc, xạ, ngự, toán học các loại, toán học là chủ yếu, phần còn lại phụ thuộc vào năng lực cùng tâm tình của thầy giáo.

Ở những trường học chính quy, lịch học sẽ được lập quy củ và chi tiết hơn, nhưng hiển nhiên thư viện Dự Sơn không có được những điều kiện như vậy. Với Ninh Nghị mà nói, dạy Luận Ngữ kỳ thực là một chuyện đơn giản, tất nhiên gã không thể nhớ tất cả hay nhớ câu nào ở chính xác vị trí nào ..., nhưng nếu chỉ cần đọc và giải thích đơn giản thì quá dễ. Bất luận người hiện đại nào chỉ cần đã học lên cao và có chút thời gian nghiên cứu đều có thể giải thích về tương đối về Luận Ngữ, tất nhiên là kiểu nói tung tung không có căn cứ.

Dẫu là cổ đại thì bậc đại nho chân chính nghiên cứu tứ thư ngũ kinh vẫn rất sâu sắc, trình độ sâu không lường được, thậm chí một danh kỹ viết cổ văn cũng có thể khiến một giáo sư thời hiện đại xấu hổ. Nhưng đại đa số người đọc sách không có cơ hội tiếp xúc với trình độ giáo dục cao hơn, thường sau khi đọc xong một quyển Luận Ngữ là thôi không đọc đến sách Mạnh Tử. Tiêu chuẩn của lão sư cấp thấp còn đơn giản hơn, nói trắng ra là chỉ cần dạy người biết chữ là được. Vị lão sư tiền nhiệm trước của Ninh Nghị chính là một người như vậy. Y rung đùi gật gù dạy một đám trẻ con, nếu có thắc mắc gì sẽ giải thích hàm nghĩa cơ bản nhất của đoạn văn, rồi sau đó bắt học sinh nghiêm túc học thuộc lòng hoặc chép lại một đoạn. Đây chính là bài kiểm tra, nếu không làm được thì đánh.

Chuyện đơn giản! Ninh Nghị cũng không định cải cách nhiều, một canh giờ trước gã cho đám học sinh gật gù đọc Luận Ngữ - thực ra đọc sách liên tục hai giờ đối với Ninh Nghị là việc rất thống khổ, nhưng đám nhóc này cũng đã quen rồi. Sau hai giờ, Ninh Nghị bắt đầu giảng giải nội dung đoạn trước, rồi thuận miệng thêm thắt dẫn chứng cho phong phú, lúc kể chuyện xưa, lúc nói thực tế, coi như cho đám nhỏ này thư giãn một chút.

Đám trẻ này rất dễ dạy, tuy mới chỉ dạy ba ngày mà Ninh Nghị đã có thể cảm nhận rõ ràng cái uy của lão sư. Đám nhỏ này không hề quậy phá hay đùa nghịch, rất là đáng yêu, bọn chúng trân trọng cơ hội đi học, không nghịch ngợm không gây gỗ với nhau, nếu vì có chuyện rắc rối mà đánh sưng mông con nhà người ta cũng là chuyện bình thường, nơi đây quả thực là thiên đường của các lão sư. Ninh Nghị dạy học rất thoải mái, cả ba ngày vừa qua, mỗi ngày giảng giải kinh thư, kể chút chuyện xưa là đám trẻ này đã thỏa mãn lắm rồi, mà giảng giải những điều này Ninh Nghị thậm chí không cần chuẩn bị giáo án, cứ thế mà làm tới.

Hôm nay bắt đầu giảng Luận Ngữ tới đoạn “phú quý là ham muốn của con người..” (1) từ cách thức đạt được của cải giảng tới đạo thương nhân. Trong đó lại chen một ít thuyết pháp “Đạo của quân tử ái tài” (2) cùng một ít giải thích. Đời trước, Ninh Nghị làm nghề này, nếu chỉ dùng cổ văn để biểu đạt hay diễn giải một đoạn, gã cũng thừa đủ để đứng giảng bài cho sinh viên đại học thời hiện đại. Nhưng lúc này trước mắt là một đám nhóc tuổi chưa đến mười hai, sau khi thuận miệng nói vài câu gã bèn dừng lại, chỉ đưa vài ví dụ nhỏ để trêu chọc một phen, rồi nói đến hội thơ Bộc Viên, nhắc đến sáu thuyền hoa kết mảng, nhắc đến trận chiến Xích Bích, sau đó bắt đầu kể cho đám trẻ nhỏ câu chuyện về trận đánh Xích Bích.

Thời đại này nói đến Tam Quốc chủ yếu vẫn là “Tam Quốc Chí” của Trần Thọ. Bộ này Ninh Nghị chưa từng đọc nên gã kể về bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa thời hiện đại, là tác phẩm văn chương thú vị được trau chuốt và tự sướng hết mười phần. Tám mươi vạn đại quân của Tào Tháo xuôi nam đến Chu Du đánh Hoàng Cái, kế liên hoàn, thuyền cỏ mượn tên,.. một đám hài tử ngày thường chưa nghe được bao nhiêu cố sự mặt đỏ bừng bừng, hưng phấn, thỉnh thoảng hô to: “Tiên sinh, tiên sinh, tiếp nữa đi..” kể được hơn nửa đám nhỏ này mới yên tĩnh lại, bởi viện trưởng Tô Sùng Hoa đã đi tới bên phòng học, mặt không biểu tình, hai tay chắp sau lưng đứng nhìn. Nhưng dù như vậy cũng không thay đổi được vẻ hưng phấn trên mặt đám nhỏ.

Ninh Nghị tiếp tục nói, dĩ nhiên không vì chuyện nhỏ này mà phân tâm, gã tiếp tục kể cho tới gần trưa mới xong đoạn hỏa thiêu đoàn thuyền. Tô Sùng Hoa vẫn đứng ở bên ngoài nghe, cũng không rõ thái độ của lão đến cùng là như thế nào. Ninh Nghị giảng xong cố sự, mới viết xuống giấy bài Xích Bích hoài cổ (3) của Đỗ Mục mà gã ưa thích:

Kích nằm trong cát sắt chưa tiêu

Tay rũa hiện lên dấu vết triều

Gió đông không giúp Chu Công Cẩn

Đồng Tước đài kia tỏa nhị Kiều (4)

Trên lớp không có bảng đen, muốn viết thứ gì cũng rất bất tiện. Hôm nay Ninh Nghị đối với công việc lão sư này có chút yêu thích và nhiệt tình, vừa viết gã vừa nghĩ có lẽ mình nên “phát minh” ra cái bảng trắng, dẫu có dùng bút than để viết cũng tốt hơn là dùng bàn cát. Sau khi gã viết xong, một đám học sinh vội vàng chép lại vào giấy. Đi ra ngoài cửa, Tô Sùng Hoa bước lên chào, mặt cũng lộ ra nụ cười.

- Hiền chất tài cao, không ngờ lại nghiên cứu sâu lịch sử tam quốc Ngụy Tấn. Cố sự vừa rồi là lấy từ Tam Quốc của Trần Thọ có phải không?

Nếu Tần lão ở đây, nói không chừng còn mắng cho Ninh Nghị vài câu, chê gã bịa chuyện vớ vẩn, dạy hư học sinh. Trên thực tế Tam Quốc chí không đặc sắc đến như vậy, ví dụ như tiết “thuyền cỏ mượn tên” thật ra là thuyền của Tôn Quyền xuất môn đi loanh quanh bị tên bắn, một bên thân thuyền bị gắn tên quá nhiều suýt lật úp nên Tôn Quyền hạ lệnh quay đầu, để cho sườn bên kia đón tên, thuyền mới cân bằng mà rời đi được. Ninh Nghị chỉ xem qua Tam Quốc diễn nghĩa với phim truyền hình, Tô Sùng Hoa xảo hợp lại chưa đọc qua Tam Quốc chí, nên vừa rồi mới tưởng cố sự này ở trong sách, nghe thích quá. Lúc này bước tới tán tụng “gã học thức uyên bác”, kể chuyện xưa làm người mê mẩn.

Chẳng qua, sau vài lời tán tụng cũng bóng gió khuyên gã vài câu, đại loại là không nên khách khí với đám học sinh như vậy. Nếu lúc này Ninh Nghị khoảng năm mươi sáu mươi tuổi đối phương tất sẽ không nói như vậy, nhưng hiện tại trông mặt gã cùng lắm chỉ hai mươi, mép lún phún ria, cần nghiêm khắc với đám hài tử này một chút, để lộ ra uy nghiêm giữa thầy và trò. Hiển nhiên là lão không hài lòng với việc Ninh Nghị kể chuyện Tam Quốc trong giờ giảng Luận Ngữ, đặc biệt lại kể câu chuyện đầy vẻ sinh động nơi trà quán như thế. Ninh Nghị khiêm tốn gật gật đầu nghe, lúc quay đầu đi thì làm như chưa từng nghe thấy..

sau đó Tô Sùng Hoa mời gã ở lại thư viện ăn trưa. Giải thích một chút, các nhà nghèo, quán nhỏ bình thường mỗi ngày ăn hai bữa, có những hộ hai bữa cũng không có, nhưng tài sản của Tô gia hùng hậu nên thêm được một bữa, nhưng cũng chỉ là bữa phụ, đôi khi chỉ là một cái bánh ngọt thay thế. Ninh Nghị khéo léo từ chối lời mời của đối phương, đi thẳng về nhà thay quần áo rồi đưa cho tiểu Thiền, dự tính giặt sạch để để trả lại Tần lão, chuyện ngã xuống sông gã cũng không nói với nàng, tránh cho nàng giật mình mà tìm một đống thuốc bắt gã uống. Mấy ngày Ninh Nghị đi thư viện vừa rồi, không phải hôm nào tiểu Thiền cũng đi theo, buổi sáng rảnh rỗi nàng thường làm những việc khác.

Đến buổi chiều lại tới bờ sông Tần Hoài chơi cờ. Tần lão xem ra là một lão quái nhân, trước đây Ninh Nghị cảm thấy lão quá nửa đã từng làm quan, sáng nay tới nhà đối phương nên càng thêm khẳng định. Phong cách bày biện trong nhà có rất nhiều chỗ người bình thường không thể có, lại thêm tầm mắt cùng phong độ ăn nói, người như vậy mà ngày ngày lại chạy tới bờ sông bày cờ, quả thực cũng là kỳ quái.

Hôm nay lúc đến đã thấy có một lão giả khác đang ở đó cùng Tần lão chơi cờ, lão giả họ Khang, tuổi tác xấp xỉ cùng Tần lão, gia cảnh giàu có, biểu hiện ra dáng lão thái gia: ra ngoài ăn mặc vàng xanh rực rỡ, lại dẫn thêm hai tên sai vặt và hai nha hoàn mở đường. Người này dáng vẻ nghiêm khắc, lời nói tương đối hà khắc nhưng kỳ nghệ rất cao. Mỗi khi thấy Ninh Nghị phê bình nước đi của y thì “Quả là hạ lưu”, “Không chút phong độ quân tử”, “Xem chừng dây dưa đến chết”, “Tiểu bối ghê tởm”, nhưng vừa quay đầu đã tiếp thu góp ý, sửa chữa lại đôi chút rồi cùng Tần lão đại chiến. Kỳ thật Tần lão còn cao minh hơn y, sau khi tiếp nhận cách nghĩ mới đã cải biến tới mức không còn dấu vết như xưa.

Từ khi tới nơi này Ninh Nghị đã gặp được không ít người, từ đứa trẻ chưa được giáo dục cho tới người đã được dạy dỗ, gã thấy rất nhiều kẻ có tư tưởng xơ cứng. Đúng là cổ hủ cũng tốt mà đôn hậu thì cũng được, nhưng tầm mắt và phương thức tư duy hoàn toàn không linh hoạt được như người hiện đại, chỉ khi tiếp xúc với giới cao tầng mới thấy không hề kém cạnh. Tỷ như Tần lão, ngoài miệng không nói gì nhưng trong lòng lại tiêu hóa những điều mà lão thấy mới mẻ một cách tự nhiên, nghiền ngẫm cách nghĩ cùng nguyên lý của nó. Còn lão đầu họ Khang này miệng đầy lễ nghĩa liêm sỉ nhưng lúc hạ cờ vẫn là tâm ngoan thủ lạt, không câu nệ mọi chuyện. Đương nhiên, nếu không phải là mấy người như Ninh Nghị và Tần lão thì cũng nhìn không ra điểm ác độc trong lòng lão, mà đó chỉ là so sánh với Tần lão mà thôi, so với người bình thường còn cao minh hơn nhiều lắm.

Tần lão cũng mấy bạn cờ dạo này hay nghiên cứu nước cờ của Ninh Nghị, dù sao những nước đi mới lạ này mới thấy lần đầu, rất có giá trị nghiên cứu. Đối với lão nhân Ninh Nghị cũng không nhún nhường, đôi khi mặc kệ Khang lão phì râu trừng mắt, lâu lâu lại hời hợt vài câu:

- Lão đầu ông nói một đàng làm một nẻo, không phải người tốt.

Hoặc..

- Nước cờ này ông dám hạ không, ông cứ hạ xem! Hạ đi thì biết!

Thường ngày hầu như chẳng quản thân phận tiểu bối, gã thoải mái tranh luận cùng Khang lão, hai người tại chỗ chơi cờ tranh luận to nhỏ ầm ỹ một hồi, Tần lão ở bên thì cười lên ha hả. Nếu là đánh cờ cùng Khang lão, lão sẽ nói “Lập Hằng nói rất có lý”, còn nếu đối thủ là Ninh Nghị, hai lão sẽ về hùa đồng thanh chê nước cờ này không quang minh chính đại.

Nhưng dù châm chọc ầm ỹ nhưng tuyệt không có ác ý, lúc đầu xác thực là Khang lão coi Ninh Nghị như một tiểu bối vô tri để dạy bảo, nhưng sau cũng hiểu ra gã đích thực có tư cách làm đối thủ của mình, đối phương cũng hoàn toàn tự nhiên không đặt mình vào vị trí tiểu bối mà.

Bất kể thế nào, mỗi lần Khang lão đến đều có một bình trà ngon đưa tới, lão kêu hạ nhân tự tay mang trà cụ, lá trà, nước, còn nha hoàn thì ngồi ở bên pha trà châm nước. Lần này Ninh Nghị tới đây cũng không khách khí, tự mình cầm một chén rồi chuyển ghế ngồi ở bên bàn cờ, lâu lâu nhấp một ngụm:

- Ý, Khang lão sắp thua rồi.

Lão đầu đang âm thầm tính cờ, lông mày nhíu lại:

- Thằng nhóc miệng còn hôi sữa biết thắng thua cái gì, uống trà của lão phu mà còn dám nói loại lời này.. Hừ, lão phu đã có diệu kế...

Lão giơ tay định hạ cờ, Ninh Nghị ho khẽ một tiếng, tay của lão nhân lập tức dừng lại, hồ nghi nhìn mấy lần rồi thu lại. Ninh Nghị lại uống một ngụm trà:

- Chén trà này thực giá trị.. ừm, trà này là trà gì vậy?

- Tiểu tử cô lậu quả văn, thực là phung phí của trời. Đã nghe thấy tên Tử Duẩn chưa?

Tần lão cũng đang ở bên thưởng thức trà, lúc này cười nói:

- Cố Chử Tử Duẩn (5), trà ngon. Chỉ là đun nước giữa đường thật có chút đáng tiếc, sớm biết hôm nay lão mang trà này tới thì ván cờ này đã đưa về nhà đánh.

Khang lão không thèm để ý, rốt cục cũng đã quyết định, duỗi tay hạ cờ:

- Trà chính là dùng để uống. Mọi người kỳ hứng đang cao, lại là cùng chung chí hướng, cùng uống trà này, đó mới là điều trọng yếu nhất. Trà chỉ là vật chết, vì muốn thấy ông vui vẻ mà ta mới lấy ra, ông cảm thấy có thể chấp nhận được thì nó mới có giá trị, tiếc làm gì những thứ đang có!

- Lời này của Khang lão xem ra cũng có khí khái, y như một đại nhân vật.

- Đại nhân vật gì, lão phu..

- Lão phu ơi, ông thua rồi.

- Hả..

Ninh Nghị cười vỗ vỗ bả vai của lão rồi đứng lên. Lúc này phong cảnh ven sông khá thoáng, gã bưng chén trà đi ra, phía sau là tiếng cười đắc thắng của Tần lão. Khang lão nói:

- Há có thể như vậy..

- Ha ha, vốn là vì Minh công hôm nay mang đến trà ngon nên ta tính dối lừa một phen thả cho một ván, nhưng bởi những lời khí khái lẫm liệt này, quân tử tương giao đúng phải là như vậy, cho nên lão hủ đành không muốn làm kiêu, ha ha ha ha ha..

Khang lão hiển nhiên rất bất mãn chuyện mình đã mang trà đến mà còn thua cờ, nhưng dù sao thua là thua nên vẫn phải nhận. Lão gọi Ninh Nghị rồi mọi người bầy lại ván cũ, sau đó cùng với Tần lão hạ ván cờ mới. Trong lúc đánh cờ Tần lão kể chuyện buổi sớm Ninh Nghị cứu người ngã xuống sông rồi bị đánh một bạt tai, Ninh Nghị lại không tránh khỏi một tràng cười hả hê trên sự đau khổ của người khác. Sau đó nghe hai lão nhân nói tới chuyện gần đây phương bắc lại bị người Liêu xâm phạm.

Cuối thu, ánh mặt trời vẫn còn chói chang nhưng buổi chiều gió đã se lạnh thổi dọc sông Tần Hoài, thời gian cũng không còn sớm, mọi người chia tay trở về nhà.

Bởi hôm đó hóng gió cả chiều, sáng hôm sau thức dậy, Ninh Nghị cảm thấy đầu óc có chút mê man nhức nhối, không biết có phải là bị cảm hay không nữa.

- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

(1) Theo Khổng Tử, một người quân tử (đàng hoàng) phải hội đủ 5 đức tính (gọi là ngũ thường): Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Nói về Nhân, Khổng Tử nói: “Giàu và sang, người ta ai cũng muốn, nhưng chẳng phải đạo mà được giàu sang thì người quân tử chẳng thèm. Nghèo và hèn, người ta ai cũng ghét, nhưng nếu chẳng phải lỗi đạo mà phải nghèo hèn thì người quân tử chẳng bỏ. Người quân tử mà bỏ đức nhân thì làm sao được gọi là quân tử? Người quân tử dù trong một bữa ăn cũng không làm trái điều nhân, dù trong lúc vội vàng cũng theo điều nhân.” (Luận Ngữ, Thiên IV, Lý Nhân)

(2) Nguyên văn “Quân tử ái tài thủ chi dĩ đạo”

(3) Nguyên văn Hán Việt Bài "Xích Bích hoài cổ" của Đỗ Mục:

Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu,

Tự tương ma tẩy nhận tiền triêu.

Đông phong bất dữ chu lang tiện,

Đồng tước xuân thâm tỏa nhị kiều.

Dịch nghĩa:

Mũi kích gãy nằm trong cát, sắt chưa mòn hết

Tự tay mình mài rũa, đã nhận thấy dấu vết triều đại vừa qua

Nếu không có gió đông thuận tiện cho Chu Du (thì đã bị thua Tào Tháo trong trận chiến Xích bích)

Thì cảnh xuân thâm nghiêm của đài Đồng Tước đã khóa chặt hai nàng Kiều. (vì Tào Tháo rất thích cướp vợ của các tướng bại trận của mình, cũng như Điêu Thuyền của Lã Bố.. nhị Kiều là 2 chị em đánh đàn rất giỏi. 1 người lấy Chu Du và một người lấy Tôn Sách)

(4) Bản dịch thơ của Lương Cao Cường

(5) Cố Chử Tử Duẩn: một loại danh trà tiến vua nổi tiếng của vùng Thái Hồ. Trong thời bắc Tống, trà này được coi là loại cống trà tốt nhất từ thời Đường.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!