HỄ NHẮC ĐẾN CẢNH ĐẸP CỦA HOÀNG SƠN, CÓ MỘT CÂU DANH NGÔN MÀ AI AI CŨNG TRÍCH DẪN: "NGŨ NHẠC QUY LAI BẤT KHÁN SƠN, HOÀNG SƠN QUY LAI BẤT KHÁN NHẠC."
Vào những năm Gia Tĩnh triều Đại Minh, dưới chân ngọn Hoàng Sơn tuyệt cảnh này, từng xảy ra một vụ kiện tụng trong dân gian. Vụ kiện này không lớn, tình tiết cũng không phức tạp, nhưng lại được cả hai bên nguyên đơn và bị đơn đẩy lên đến tầm cỡ của một bộ phim chính kịch pháp luật Mỹ. Sự kỳ lạ và trắc trở của vụ kiện này, so với các ngọn núi kỳ vĩ như Thiên Đô, Liên Hoa, Ngọc Bình cũng không hề kém cạnh.
Nhân vật chính của câu chuyện là một ngôi cổ tự và một ngôi mộ lẻ loi.
Thời nhà Minh, khu vực Nam Trực Lệ có một phủ gọi là Huy Châu, phủ Huy Châu quản lý sáu huyện: Hưu Ninh, Hấp, Y, Vụ Nguyên, Tích Khê, Kỳ Môn – trong đó huyện Hấp là lớn nhất, và Hoàng Sơn nằm ở cực bắc của huyện Hấp.
Từ trấn Thang Khẩu ở chân núi phía nam Hoàng Sơn đi thẳng về phía nam khoảng ba mươi cây số, địa hình sẽ đột ngột thay đổi. Giữa vùng núi non trùng điệp, xuất hiện một vùng lòng chảo hẹp dài như con thoi. Ở trung tâm vùng lòng chảo là một thị trấn cổ kính tên là Trình Khảm.
Thị trấn rất đẹp, chỉ có cái tên Trình Khảm hơi kỳ lạ. Nếu bây giờ bạn đến đây du lịch, đừng tin lời hướng dẫn viên nói rằng "Du Trình Khảm, nhất sinh vô khảm" (Đi Trình Khảm, cả đời không gặp trắc trở), đó chỉ là những lời chúc tốt lành được gán ghép vào mà thôi.
Vậy cái tên này rốt cuộc từ đâu mà có?
Thực ra vào thời Hán, nơi này vốn có tên là Long Khê. Đến cuối thời Đường, có hai vị khách không mời mà đến, rồi ở lại không đi nữa. Đó là một cặp anh em họ: người anh họ tên La Thiên Trật, hiệu Thu Ẩn; người em họ tên La Thiên Chân, hiệu Văn Xương.
Hai anh em này vốn thuộc họ La ở Bách Lâm, Dự Chương. Dưới thời Đường Ý Tông, tình hình thiên hạ ngày một xấu đi. Hai anh em bàn bạc, phải chuẩn bị sớm, tìm một nơi yên ổn để tránh loạn lạc chiến tranh. La Thu Ẩn là một kỳ tài tinh thông thiên văn địa lý, ông đến Hoàng Sơn khảo sát một vòng, cuối cùng chọn Long Khê, cách Hoàng Sơn sáu mươi dặm về phía nam, làm nơi định cư và đổi tên thành Trình Khảm.
Đây là một điển cố từ thời Hán Vũ Đế. Năm đó, Hán Vũ Đế để cầu trường sinh, đã cho xây một Thần Minh Đài trong cung Kiến Chương. Trên đài đặt một pho tượng tiên đồng, hai tay giơ cao một chiếc đĩa đồng để hứng sương sớm tối, uống vào có thể trường sinh. Vùng lòng chảo xung quanh Long Khê vừa hay có một dòng sông Tùng Xuyên chảy qua, nhìn từ trên cao xuống, chẳng phải giống như sương của tiên nhân rơi vào đĩa hứng sương sao?
Về điều này, trong *La Thị Tộc Phổ Tự* giải thích là "Cái địa ngưỡng lộ viết trình, oa hạ viết khảm" (Đất ngửa hứng sương gọi là trình, chỗ trũng thấp gọi là khảm), do đó có tên Trình Khảm; cũng có một cách nói khác, cho rằng "khảm" trong Bát Quái thuộc hành Thủy, "trình" là đất bằng, "Trình Khảm" có nghĩa là vùng đất bằng phẳng bên cạnh dòng nước.
Anh em họ La nhanh chóng đưa cả gia tộc đến Trình Khảm. La Văn Xương chọn sống ở Thượng Khê Đông và Hạ Khê Đông ở phía đông nam lòng chảo, trở thành thủy tổ của dòng Tiền La ở Trình Khảm; còn La Thu Ẩn chọn sống ở Hậu Cương phía tây lòng chảo, trở thành thủy tổ của dòng Hậu La ở Trình Khảm.
La Thu Ẩn rất hài lòng với Trình Khảm, ông đặc biệt viết hai bài phú *Định Cư* và *Định Chí*, khuyên răn con cháu không nên nhẹ dạ cả tin lời người khác mà di dời đi nơi khác, sau đó qua đời. Mộ của ông được chọn đặt tại một bờ sông cách nơi ở của ông ba dặm về phía nam. Nơi đây lưng tựa núi Hoàng Long, mặt hướng ra sông Tùng Xuyên, là một nơi có phong thủy tuyệt vời.
Nơi này bây giờ vẫn còn. Từ thị trấn Trình Khảm đi về phía nam, gần đến cửa nam của lòng chảo có một ngôi làng tựa núi kề sông tên là Dương Cán, chính là nơi chôn cất La Thu Ẩn. Nói một cách chính xác, Dương Cán là một địa danh lớn, bao gồm Hạ Dương Cán gần Phật Tử Lĩnh, Trung Dương Cán bên bờ sông Tùng Xuyên, và Thượng Dương Cán ở phía bắc hơn. Vị trí của mộ họ La nằm ngay cạnh Trung Dương Cán.
Chữ "cán" trong Dương Cán có nghĩa là "bên bờ sông", như trong *Kinh Thi - Phạt Đàn* có câu: "Khảm khảm phạt đàn hề, trí chi hà chi cán hề." (Tiếng chặt cây đàn vang vang, đặt nó bên bờ sông). Còn chữ "Dương" thì không có cơ sở khảo cứu, có lẽ trước đây có người họ Dương nào đó sống ở đây.
Sau khi La Thu Ẩn được chôn cất, nơi đây trở thành nơi thờ cúng tổ tiên của dòng Hậu La, có lập mộ từ, bốn mùa hương khói. Họ La còn trích ra một phần ruộng đất riêng để chi trả cho các chi phí hàng ngày – gọi là thiện oanh.
Phải nói rằng, phong thủy của ngôi mộ này thực sự tốt. Từ đó về sau, dòng Hậu La ở Trình Khảm nhân tài lớp lớp, nổi tiếng nhất vào thời Tống là La Nhữ Tiếp, cháu đời thứ tám của La Thu Ẩn, làm quan đến Lại bộ Thượng thư, Long Đồ các Học sĩ – tuy nhiên vị này thân cận với Tần Cối, tham gia bức hại Nhạc Phi, nên hậu thế không muốn nhắc đến, nhưng ông có hai người con trai đều là đại tài.
Người con thứ tư là La Tụng, tinh thông luật pháp, phán quyết nhanh chóng chính xác, các vụ án qua tay ông chưa bao giờ có oan sai, được dân gian đặt cho biệt danh là "La Phật Tử". Đến nay gần Trình Khảm có Phật Tử Lĩnh, chính là được đặt tên theo ông.
Người con thứ năm là La Nguyện, tác giả của *Tân An Chí*, một tác phẩm mẫu mực về địa phương chí. Ông tinh thông bác vật, văn bút tinh thuần, và có đạo đức rất cao, luôn lấy cha mình làm hổ thẹn, chưa bao giờ dám bước vào miếu Nhạc Phi. *Tống Sử* có ghi chép, nói rằng La Nguyện cả đời cần mẫn, cống hiến cho dân sinh, đến già cảm thấy đã tích đủ thiện chính, mới dám đến bái tế Nhạc Phi. Kết quả là ông vừa bái xong, chưa ra khỏi miếu đã đột tử. Tuy kết cục này có phần hoang đường, nhưng cũng có thể thấy được tính cách của La Nguyện từ một góc độ khác.
Một danh nho đương thời là Chu Hy rất ngưỡng mộ hai anh em La Tụng và La Nguyện, từng có một lời bình: "Trình Khảm song hiền lý, Giang Nam đệ nhất thôn." (Trình Khảm làng hai người hiền, thôn số một Giang Nam). "Song hiền" chính là chỉ hai anh em La Tụng, La Nguyện, một câu nói đã nâng Trình Khảm lên một vị thế rất cao, gia tộc họ La cũng trở thành một gia tộc danh giá ở địa phương.
Đến những năm Nam Tống Lý Tông, gia chủ đương nhiệm của dòng Hậu La ở Trình Khảm là La Nãi, cháu đời thứ mười ba của La Thu Ẩn. Khi chủ trì lễ tế, ông phát hiện một tệ đoan, họ La ở Trình Khảm từ thời Đường đến nay sinh sôi nảy nở, con cháu phân tán khắp nơi, mỗi năm lễ tế "người già ở xa không đến được, người đến thì trẻ con không đúng lúc", cứ thế này mãi, e rằng sẽ làm thất lễ với tổ tiên.
Thế là La Nãi triệu tập mọi người trong tộc, đề xuất một giải pháp: xây một thiền viện ở ngoại vi mộ tổ, trích một phần ruộng đất làm tài sản của chùa, mời tăng nhân đến trụ trì. Một là mộ tổ luôn có người trông coi tu sửa, không bị hư hại; hai là trong chùa kinh kệ không ngừng, hương khói nghi ngút, cũng coi như là tạo thêm âm đức cho tổ tiên.
Loại chùa có tính chất này được gọi là phần tự. Thời Tống, phong trào sùng Phật thịnh hành, nhiều gia tộc lớn đều chọn xây một ngôi phần tự cho mộ tổ, đây là một việc làm rất phổ biến lúc bấy giờ.
Nghe đề nghị của La Nãi, mọi người trong tộc đều đồng tình. Gia phong của họ La rất thân ái, các thành viên luôn đoàn kết. Người có tiền góp tiền, có ruộng góp ruộng, người không có tiền không có ruộng thì cũng nói nhà tôi sẽ cử hai tráng đinh tham gia xây dựng, chẳng mấy chốc đã giải quyết xong vấn đề cơ sở hạ tầng và vốn liếng cho thiền viện.
Tiếp theo là tìm hòa thượng.
Họ La qua các đời đều kết hôn với các gia tộc lớn ở Huy Châu, La Nãi lấy một người phụ nữ họ Trình ở huyện Hấp, cha vợ là Trình Nguyên Phượng làm quan đến Hữu Thừa tướng kiêm Xu mật sứ. La Nãi nhờ Trình Nguyên Phượng tiến cử một vị tăng nhân đáng tin cậy, nhạc phụ suy nghĩ một lúc, nhớ ra ở Nhân Hữu lý, hương Ninh Thái cũng có một thiền viện Dương Cán, bèn tiến cử một vị tăng nhân tên là Giác Hiểu. La Nãi đến nói chuyện, Giác Hiểu đồng ý đến, bèn dời cả viện Dương Cán qua.
Họ La xây sáu gian nhà lớn ở khu đất rộng bên phải mộ, gian giữa thờ Như Lai, bên phải thờ Hậu Thổ, bên trái thờ bài vị của La Thu Ẩn, rồi bên trái nữa là ba gian nhà, xây thẳng đến bờ sông bên cạnh con dốc, tạo thành bố cục cơ bản của thiền viện Dương Cán.
Đây là một sự kết hợp khá thú vị, Như Lai thuộc Phật gia, Hậu Thổ là thần linh dân gian truyền thống sau này được Đạo gia tiếp thu, cộng thêm bài vị tổ tiên, có thể nói là tập hợp tín ngưỡng của cả ba nhà Phật, Đạo, Nho, đúng như câu nói của Vương Trùng Dương: "Hồng liên bạch ngẫu thanh hà diệp, tam giáo nguyên lai thị nhất gia." (Sen hồng, ngó trắng, lá sen xanh, ba giáo vốn là một nhà).
Năm Bảo Hựu thứ sáu đời Nam Tống (1258), viện Dương Cán chính thức được xây dựng xong. La Nãi lại mời Trình Nguyên Phượng đến, đặc biệt viết bài *La Thị Tân Kiến Dương Cán Viện Bi Ký*, ghi lại rõ ràng nguyên nhân và quá trình xây dựng viện, mời người Kỳ Môn là Phương Nhạc phụ trách khắc chữ triện, người huyện Hấp là Phương Hồi phụ trách viết chữ son – hai vị này đều là tiến sĩ xuất thân, Phương Hồi sau này làm đến Kiến Đức lộ Tổng quản vào thời Nguyên. Có thể thấy La Nãi để xây dựng thiền viện này đã thực sự vận dụng không ít mối quan hệ.
Từ đó về sau, bên cạnh mộ tổ họ La có thêm một thiền viện. Các tăng nhân ngày ngày tụng kinh cầu nguyện, họ La năm năm bái tế mộ phần, vừa phát triển chùa vừa bảo vệ mộ. Thời gian trôi qua, thế sự đổi thay. Chớp mắt đã hai trăm bảy mươi năm trôi qua, lịch sử từ năm Bảo Hựu thứ sáu đời Đại Tống đã lật sang năm Gia Tĩnh thứ bảy đời Đại Minh (1528).
Trong khoảng thời gian này, nhiều thứ không thay đổi. Họ La vẫn sống ở Trình Khảm như trước, phát triển thành một trong những gia tộc lớn ở huyện Hấp. Và hương khói của thiền viện Dương Cán cũng chưa bao giờ gián đoạn, luôn quẩn quanh bên ngôi mộ cổ.
Nhưng nếu quan sát kỹ, sẽ thấy nhiều thứ đã thay đổi. Ví dụ như họ La lơ là việc tế tảo mộ tổ, người đến ngày càng ít. Nhưng người đến viện Dương Cán thắp hương lại ngày càng nhiều, nó dần dần từ một thiền viện trông mộ của họ La trở thành một ngôi chùa danh tiếng mở cửa cho công chúng.
Gia tộc họ La và thiền viện Dương Cán vốn nên hòa thuận yên ổn, nhưng vào năm Gia Tĩnh thứ bảy đột nhiên nảy sinh mâu thuẫn, công kích lẫn nhau, bùng nổ một cuộc tranh chấp kéo dài.
Nguyên nhân của cuộc tranh chấp phải bắt đầu từ một vị "cao tăng" của thiền viện Dương Cán.
Vị "cao tăng" này pháp hiệu là Pháp Xuân, cũng là người Huy Châu, sinh năm Hoằng Trị thứ tám (1495), quê ở huyện Hưu Ninh, giáp ranh với huyện Hấp. Lai lịch của người này rất đáng ngờ, nghe nói là con trai duy nhất của một gia đình tuyệt tự.
Nhà Minh rất coi trọng việc quản lý hộ tịch, mỗi một trăm mười hộ được biên thành một lý, mỗi lý lập một cuốn Hoàng sách, ghi rõ số tráng đinh, tài sản của mỗi hộ, dựa vào đó để thu thuế. Nếu một gia đình không còn tráng đinh, sẽ bị xếp vào loại tuyệt tự, tự nhiên cũng không phải nộp thuế.
Vì vậy, trong dân gian có một thủ đoạn gian lận, đó là để tráng đinh trong nhà trốn khỏi quê hương, rồi báo với quan phủ là tuyệt tự, từ đó gia đình có thể yên hưởng phúc lợi miễn thuế. Pháp Xuân rất có thể là một trường hợp như vậy.
Năm Chính Đức thứ nhất (1506), Pháp Xuân mới mười một tuổi đã trốn khỏi quê nhà Hưu Ninh. Mặc dù cậu còn năm năm nữa mới đến tuổi thành đinh theo quy định của pháp luật, nhưng lúc này tình trạng tham nhũng trong quản lý hộ tịch ở địa phương rất nghiêm trọng, thường có những đứa trẻ chưa thành đinh bị ác lại cưỡng ép đăng ký làm tráng đinh, mượn cớ đó để bắt dân chúng phải gánh thêm thuế má, lao dịch.
Trốn được thì nên trốn sớm.
Sau khi rời nhà, Pháp Xuân chỉ có hai lựa chọn. Lựa chọn thứ nhất là trở thành dân lưu vong không có hộ khẩu, lang thang khắp nơi, trừ khi mua chuộc được quan lại ở một nơi nào đó để làm giả hộ tịch, mới có thể định cư hợp pháp; lựa chọn thứ hai là xuất gia làm tăng, đạo, chỉ cần có chùa chiền, đạo quán chịu tiếp nhận và xin được độ điệp, là có được thân phận hợp pháp.
【Chú thích】
Độ điệp: Còn gọi là "Từ bộ điệp". Triều Đường thiết lập chế độ thi kinh độ tăng, tăng ni, đạo sĩ sau khi thi đỗ sẽ được cơ quan quản lý nhà nước là Từ bộ cấp độ điệp, làm chứng chỉ xuất gia hợp pháp, có thể dựa vào đó để miễn trừ lao dịch. Triều Minh rất chú trọng hạn chế số lượng tăng ni, quy định ba năm cấp độ điệp một lần. Hơn nữa, nam không đủ bốn mươi tuổi, nữ không đủ năm mươi tuổi không được xuất gia. *Đại Minh Luật* cũng có những hình phạt rất nghiêm khắc đối với những người không có độ điệp mà "tự ý cạo đầu".
Hình 3.1: Độ điệp của đạo sĩ thời Minh
Huy Châu có phong trào sùng Phật rất mạnh mẽ, trong vùng có hàng chục ngôi chùa lớn nhỏ. Pháp Xuân đương nhiên chọn con đường xuất gia. Nhưng cậu không dám ở lại quê nhà Hưu Ninh, mà chạy sang huyện Hấp lân cận, đến trước cửa viện Dương Cán xin vào.
Các ngôi chùa thường hoan nghênh những người trốn hộ khẩu đến xin nương tựa. Dù sao người trốn hộ khẩu không có hộ tịch, chùa nhận vào cũng giống như nhà giàu có thêm vài nô bộc ẩn danh. Còn việc này có vi phạm pháp luật hay không, người xuất gia lòng từ bi, người ta đã đến cửa cầu xin, sao nỡ lòng đuổi đi?
Thực tế, nhiều ngôi chùa ở vùng Huy Châu vẫn lén lút thu nhận quân dân trốn tránh, đây đã là quy tắc ngầm trong ngành. Chỉ riêng viện Dương Cán trong những năm Chính Đức đã thu nhận hơn bốn mươi người, Pháp Xuân chỉ là một trong số đó.
Lúc đó, trụ trì của viện Dương Cán là Phật Hải, ông có lẽ đã nhìn trúng cậu bé mười một tuổi này, vui vẻ nhận làm đệ tử, còn đặt cho pháp hiệu là "Pháp Xuân", khiến cậu trở thành một tiểu sa di trong viện Dương Cán.
"Xuân" vốn có nghĩa là cây đại xuân, là một loại cây cổ thụ trường sinh trong truyền thuyết, mang ý nghĩa sống lâu không suy. Cái tên Pháp Xuân tự nhiên cũng gửi gắm lời chúc của sư phụ, hy vọng pháp thống sẽ được kế thừa lâu dài.
Bây giờ, giữa Pháp Xuân và một hòa thượng thực thụ chỉ còn thiếu một tờ độ điệp.
Nhà Minh có một bộ phương pháp quản lý độ điệp khá hiệu quả. Từ năm Hồng Vũ thứ mười bảy (1384), triều đình quy định, tăng đạo trên toàn quốc có độ điệp, cứ ba năm phải kiểm tra một lần, người không qua sẽ bị thu hồi độ điệp, còn nghiêm ngặt hơn cả thi bằng lái xe ngày nay.
Tuy nhiên, giống như các chính sách khác, các quan lại nhanh chóng phát hiện ra lợi ích trong đó. Từ những năm Cảnh Thái, chỉ cần tăng, đạo quyên góp năm thạch lương thực là được cấp độ điệp trực tiếp. Sau này, triều đình còn coi chế độ này như một cách để tăng thu nhập, hễ gặp thiên tai là ký phát hàng vạn tờ độ điệp trắng cho quan phủ địa phương, mang đi đổi lấy lương thực cứu tế.
Không biết là do Pháp Xuân thông minh, có thể thuận lợi vượt qua kỳ thi kinh điển Phật giáo, hay là do sư phụ đặc biệt thương yêu, đã chi cho cậu một khoản tiền, tóm lại là hai năm sau, Pháp Xuân thuận lợi nhận được độ điệp, chính thức trở thành một tăng nhân có hộ tịch.
Lúc này, huyện Hưu Ninh đã phát hiện ra việc Pháp Xuân trốn hộ khẩu. Pháp Xuân là con trai duy nhất trong nhà, theo luật Đại Minh, con một không được xuất gia. Huyện nha nhiều lần gửi công văn, yêu cầu cậu lập tức hoàn tục để đi lính, nếu không sẽ bị trừng trị nghiêm khắc. Tiếc là trong thể chế Đại Minh, đây lại là một việc gần như không thể hoàn thành.
Tại sao vậy?
Như đã nói ở trên, nhà Minh có nhiều đổi mới trong quản lý tôn giáo, chú trọng hai chữ – về mặt ý thức hệ phải "kính", về mặt hành chính phải "thải", nói cách khác, triều đình hoàn toàn tôn trọng tự do tín ngưỡng của bạn, nhưng tôn giáo không thể đứng trên luật pháp quốc gia, cũng phải chịu sự quản lý của các cơ quan triều đình.
Vào những năm Hồng Vũ, Chu Nguyên Chương đã thành lập Tăng lục ty thuộc Lễ bộ, quản lý toàn bộ các vấn đề Phật giáo của Đại Minh. Cơ quan này có các chi nhánh ở mỗi cấp địa phương: cấp phủ có Tăng cương ty, cấp châu có Tăng chính ty, cấp huyện có Tăng hội ty, báo cáo lên cấp trên theo từng cấp. Các quan viên của những cơ quan này đều có thân phận tăng nhân, gọi là tăng quan.
Nói theo cách hiện đại, chùa chiền thuộc cơ quan quản lý theo ngành dọc, còn huyện phủ địa phương là cơ quan quản lý theo địa bàn, hai hệ thống khác nhau. Khi Pháp Xuân nhận được độ điệp, cậu đã vào biên chế của đơn vị ngành dọc, huyện Hưu Ninh dù biết rõ cậu là người trốn hộ khẩu cũng đành bó tay.
Pháp Xuân hoàn toàn thoát khỏi những rắc rối thế tục, bắt đầu thể hiện tài năng ở viện Dương Cán. Cậu rất may mắn, theo đúng người. Sư phụ của cậu là Phật Hải có ảnh hưởng khá lớn ở địa phương, trong những năm Chính Đức từng làm đến chức Đô cương của phủ Huy Châu.
【Chú thích】
Đô cương: Là phiên âm của từ tiếng Phạn "đại kinh đường", bắt đầu có danh xưng này từ thời Đường. Đầu thời Minh, dưới Lễ bộ thành lập Tăng lục ty, quản lý các vấn đề Phật giáo toàn quốc; ở các phủ bên ngoài, thì lập Tăng cương ty, quản lý các vấn đề Phật giáo của phủ đó, bao gồm cấp phát độ điệp, xét xử các vụ kiện tụng của tăng ni. Quan đứng đầu Tăng cương ty là Đô cương, tòng cửu phẩm, do chính phủ lựa chọn những tăng nhân có đức độ, tinh thông kinh điển Phật giáo, nghiêm túc tuân thủ giới luật để đảm nhiệm.
Đô cương là người đứng đầu Tăng cương ty, quản lý các vấn đề tôn giáo của toàn phủ Huy Châu, tòng cửu phẩm. Chức quan này trông có vẻ là một chức quan nhỏ nhất, nhưng quyền lực thực tế không hề thấp. Các tăng nhân trong vùng vi phạm giới luật, các tranh chấp kiện tụng của chùa chiền đều do Đô cương xét xử, hòa giải.
Tuy nhiên, chức vụ này tuy có thân phận quan lại nhưng không có bổng lộc, mọi chi phí cho nha dịch, người hầu làm việc dưới quyền đều do tăng quan tự bỏ tiền túi. Vì vậy, cách thức tuyển chọn cho chức vụ này là người có thành đức sẽ được bổ nhiệm. "Thành" là gì? Quyên góp một khoản tiền lớn chính là thành, chứng tỏ nhà mình có đủ tài lực để đảm nhiệm. "Đức" là gì? Bạn phải được sự công nhận của các trụ trì trong vùng, có các vị đại đức liên danh bảo lãnh, mới có tư cách đảm nhiệm.
Nói trắng ra, chức quan này phải mua.
Chế độ mua quan trông có vẻ hoang đường, nhưng thực ra cũng có lý của nó. Tại sao hương thân, hương hoạn có thể một lời chín đỉnh ở cơ sở? Một là có tiền có thể chi phối kinh tế, hai là có danh vọng có thể thấu đến tai vua. Hai điều kiện này là nguồn gốc của quyền lực ở cơ sở. Phật môn tuy thanh tịnh thoát tục, nhưng cũng phải tuân theo quy luật này. Một hòa thượng nghèo không tên tuổi, dù Phật pháp cao siêu đến đâu, ngồi lên ghế Đô cương cũng không thể làm việc được.
Sư phụ của Pháp Xuân là Phật Hải có thể làm đến Đô cương, cho thấy gia sản và danh vọng đều không thấp. Sau khi Phật Hải về hưu, ông vận động một chút, vào năm Gia Tĩnh thứ hai (1523) đã đưa Pháp Xuân lên vị trí này.
Pháp Xuân vào chùa mới mười bảy năm, xuất gia mới mười lăm năm, mà đã làm đến Đô cương phủ Huy Châu, quả thực là một nhân vật đáng gờm.
Lúc này, phong khí của viện Dương Cán đã không còn như xưa, trong chùa gần như không có ai tu hành nghiêm túc. Các tăng nhân ngoài việc vơ vét của cải, lừa gạt, còn thường xuyên qua lại với phụ nữ trong dân gian, gần như trở thành một ổ dâm. Những người phụ nữ có quan hệ với tăng nhân viện Dương Cán, chỉ riêng những cái tên còn lưu lại đã có Mãn Chân, Thất Âm, Bảo Đệ, Diệp Mao, Xà Song, Tiên Chân, v.v. Thậm chí, có những đệ tử Phật giáo đường đường chính chính lại tin theo Bạch Liên giáo, thường xuyên tụ tập trong chùa, mượn cớ đó để gian dâm phụ nữ, làm cho không khí trở nên ô uế.
Gia tộc họ La có quan hệ mật thiết với viện Dương Cán, thấy các hòa thượng làm loạn như vậy, tự nhiên sinh lòng bất mãn. Có một lần, viện Dương Cán lại tổ chức nghi lễ bí mật của Bạch Liên giáo, lần này còn công khai lập đàn nguyền rủa. Người nhà họ La sợ hãi, lo rằng gia đình mình sẽ bị tà thuật ảnh hưởng, bèn tìm đến lý lão để phản đối.
Theo luật Đại Minh, mỗi một trăm mười hộ hợp thành một lý. Trong một lý, người quản lý ngoài lý trưởng và giáp thủ, còn có lý lão. Chức vụ này thường do những người cao tuổi, có đức độ đảm nhiệm, chịu trách nhiệm hòa giải các tranh chấp trong lý. Chỉ khi lý lão hòa giải không thành, dân chúng mới được đến huyện nha khởi kiện, không được tự ý vượt cấp.
Việc lập đàn nguyền rủa, nói lớn không lớn, nói nhỏ không nhỏ. Người nhà họ La không tiện trực tiếp đến huyện nha khởi kiện, bèn mời lý lão Lữ Xã Anh đến hòa giải trước.
Lữ Xã Anh đến viện Dương Cán một vòng, trở về khuyên nhà họ La nên dĩ hòa vi quý. Nhà họ La hỏi về việc nguyền rủa thì sao, Lữ Xã Anh quả là biết cách hòa giải, mời một thuật sĩ tên là Hồ Chân đến, đốt vài tờ giấy, làm một phen pháp sự, coi như là đã giải trừ lời nguyền.
Chuyện nhỏ này không gây ồn ào lớn, nhưng sự bất mãn của người nhà họ La đối với viện Dương Cán đã lộ rõ, oán hận ngày càng sâu. Đặc biệt là gia chủ đời này của họ La là La Hiển, biết thái độ của triều đình đối với Bạch Liên giáo, lo sợ một ngày nào đó viện Dương Cán xảy ra chuyện, sẽ liên lụy đến cả gia tộc họ La.
Tháng mười hai năm Gia Tĩnh thứ sáu (1527), Phật điện của viện Dương Cán bị hư hỏng, công trình sửa chữa do sư đệ của Phật Hải, sư thúc của Pháp Xuân là hòa thượng Phật Hy phụ trách. Vị hòa thượng này khi chỉ huy thợ sửa chữa, đã đổ một đống gạch vụn, phế liệu lên trên mộ của La Thu Ẩn. Đến khi công trình kết thúc, ông ta không dọn dẹp, cứ để rác ở đó rồi mặc kệ.
Tháng ba năm Gia Tĩnh thứ bảy, La Hiển tình cờ vào viện Dương Cán, thấy mộ tổ bị một đống gạch vụn đè chặt bên dưới, lập tức tức giận. Hỏi ra mới biết người chủ mưu là Phật Hy, La Hiển càng thêm phẫn nộ.
Giữa ông và Phật Hy đã có oán hận từ lâu.
Trước đây, vị trí của viện Dương Cán gần bờ sông, nhiều lần bị lũ lụt xâm hại. Các hòa thượng của viện Dương Cán bèn dời Phật điện đến trước mộ của La Thu Ẩn, còn từ đường thờ bài vị thì dời lên đỉnh dốc sau mộ. Sau khi thay đổi như vậy, bố cục đã khác xa so với thời Tống, mộ của La Thu Ẩn vốn ở bên cạnh chùa, nay lại bị bao bọc vào trong tường viện, cách Phật điện chỉ gang tấc.
Đến những năm Hoằng Trị, mộ từ ở trên đỉnh dốc sau mộ bị sụp đổ, người phụ trách sửa chữa lúc đó chính là Phật Hy. Vị hòa thượng này tự ý quyết định, không những không sửa lại mộ từ, mà còn nhân cơ hội đó xây năm gian nhà lớn, làm một Quan Âm đường, còn xây cả lầu chuông, lầu trống và các công trình phụ như xưởng, hành lang, khiến viện Dương Cán trông như một ngôi chùa lớn.
Lúc đó, họ La tuy bất mãn với Phật Hy, nhưng sự đã rồi, đành phải nhượng bộ. Không ngờ vị hòa thượng này được đằng chân lân đằng đầu, nay lại dùng rác để sỉ nhục mộ tổ họ La.
La Hiển vô cùng tức giận, gọi mấy người trong tộc đến, dọn sạch đống gạch vụn trên mộ tổ, chờ Phật Hy về để nói chuyện phải trái. Phật Hy không lộ diện, chỉ cử một tiểu sa di đến trả lời, đưa ra một yêu cầu: bảo La Hiển dời mộ tổ ra khỏi viện Dương Cán.
Tin rằng khi La Hiển nghe yêu cầu này, nội tâm ông đã sụp đổ. Cả viện Dương Cán này được xây dựng để trông coi mộ tổ tiên nhà ta, các người có hiểu rõ vị trí của mình không?! La Hiển mắng người đến rồi đuổi đi, chuẩn bị tính sổ với đám hòa thượng.
Không ngờ Phật Hy lại ra tay trước.
Phật Hy đã sớm ngứa mắt với ngôi mộ lẻ loi sau điện này, lần này đã gây ra xung đột, thì làm cho tới cùng, lão nạp đây không phải là người dễ bắt nạt!
Ông ta lật tay, chuẩn bị một tờ đơn kiện, trực tiếp gửi đến bàn làm việc của tri huyện Hấp là Cao Kỳ.
Trong tờ đơn kiện này, Phật Hy tuyên bố rằng gia tộc họ La đã nhắm trúng phong thủy tốt của chùa, lập một ngôi mộ giả ở đây, tự xưng là đã có từ lâu đời, làm giả các văn bản địa phương chí, thực ra bảo vệ mộ là giả, chiếm đoạt tài sản của chùa mới là thật.
Thoạt nhìn, tờ đơn kiện này hoàn toàn là lời nói bừa bãi, không có bằng chứng. Nhưng Phật Hy không hề lo lắng, vì sau lưng ông ta có một cao nhân – chính là sư điệt của ông, Đô cương phủ Huy Châu lúc bấy giờ, thiền sư Pháp Xuân.
Đô cương là quan trọng tài tôn giáo, Pháp Xuân tự nhiên thông thạo luật Đại Minh. Toàn bộ đơn kiện có lẽ đều do ông ta viết.
Đừng xem thường hành động khởi kiện lần này của Phật Hy, bên trong có rất nhiều mánh khóe.
Dân chúng muốn kiện cáo, phải mời lý lão đến hòa giải trước, hòa giải không thành mới được kiện quan. Viện Dương Cán thuộc hệ thống chùa chiền, nên không bị ràng buộc bởi quy trình này, có thể trực tiếp tìm tri huyện. Nói cách khác, La Hiển muốn kiện viện Dương Cán, sẽ là một vụ kiện kéo dài; còn viện Dương Cán kiện La Hiển, lại có thể lập tức bước vào giai đoạn xét xử.
Như vậy, La Hiển sẽ phải đối chất với viện Dương Cán tại công đường mà không hề có sự chuẩn bị.
Tri huyện Cao Kỳ sau khi nhận đơn kiện, lập tức sai người bắt La Hiển đến. La Hiển ngơ ngác đến huyện nha, thấy bên cạnh Phật Hy còn có cả Pháp Xuân.
Hóa ra, Phật Hy chủ động khởi kiện còn có một ý đồ khác.
Trong *Kim Lăng Phạn Sát Chí*, quyền hạn của Đô cương được nói như sau: "Nếu phạm tội gian dâm, trộm cắp, nhưng có liên quan đến quân dân, ở kinh thành thì trình Lễ bộ xem xét... ở ngoài thì do quan phủ xét xử." Dịch ra là: nếu vụ kiện là giữa các chùa chiền, thì do Đô cương phân xử; nếu vụ kiện xảy ra giữa chùa chiền và dân thường, thì phải do quan phủ địa phương xét xử.
Viện Dương Cán kiện La Hiển, thuộc về xung đột giữa người tôn giáo và dân gian, tự nhiên nên giao cho tri huyện Hấp xét xử. Nhưng vì viện Dương Cán là nguyên đơn, với tư cách là Đô cương Huy Châu, Pháp Xuân cũng có quyền tham gia.
Mọi dấu hiệu cho thấy, lần khởi kiện này là do viện Dương Cán đã lên kế hoạch kỹ lưỡng, mục đích là để Pháp Xuân đứng trên công đường, đối chất với La Hiển.
La Hiển vốn rất tự tin, Pháp Xuân là Đô cương thì sao? Mộ tổ nhà ta có trước viện Dương Cán, đó là sự thật không thể chối cãi, có vật chứng, có nhân chứng, còn có phủ chí, huyện chí, bia văn làm bằng chứng, làm sao có thể nói trắng thành đen?
Không ngờ, hai bên đối chất, tình hình lại hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của La Hiển.
Pháp Xuân vừa lên đã tung ra ba quả bom lớn.
Thứ nhất, ông ta tuyên bố rằng vị trí mộ của La Thu Ẩn đã sớm bị thất lạc, ngôi mộ hiện tại là do La Hiển làm giả. Lý do là: hình dáng ngôi mộ này nhỏ hẹp, bên cạnh mộ không có vôi vữa, chỉ có tám lớp gạch bao quanh, rõ ràng là được đắp tạm bợ.
Thứ hai, phủ chí, huyện chí ghi chép sơ sài, vị trí mộ họ La trong đó nói rất mơ hồ, chưa chắc đã là ngôi mộ hiện tại trong viện Dương Cán, nên không đủ làm bằng chứng.
Thứ ba, việc xây dựng viện Dương Cán không liên quan đến họ La. Thiền viện hiện tại được xây dựng từ năm Hàm Thông thứ hai đời Đường (861), ở hương Hiếu Nữ, huyện Hấp, đã trải qua ba lần di dời mới đến Dương Cán. Mà bài bia ký do Trình Nguyên Phượng viết, nói rằng viện Dương Cán dời từ hương Ninh Thái đến, rõ ràng không phải là viện Dương Cán này. Ngôi mộ trong viện, tự nhiên cũng không phải của La Thu Ẩn – người nhà họ La đã bái nhầm mộ rồi.
La Hiển bị ba quả bom này làm cho choáng váng. Ba điều này tuy là lý lẽ cùn, nhưng nhất thời khó mà phản bác.
Chưa đợi La Hiển giải thích gì, Pháp Xuân lại tung ra quả bom thứ tư.
Đây là một cuốn sổ lưu bảo bộ năm Hồng Vũ thứ hai mươi bốn, số hiệu "Tân nhất thiên cửu bách cửu thập cửu hiệu". Năm đó, Huy Châu vừa tiến hành đo đạc lại đất đai, không chỉ kiểm tra ruộng của dân, ruộng của quan, mà tất cả đất đai của chùa chiền, đạo quán cũng phải đăng ký. Toàn bộ tài sản của viện Dương Cán đều được ghi trong văn bản này, và ghi rõ người sở hữu là thiền viện Dương Cán.
Lập luận của Pháp Xuân rất đơn giản: sổ lưu bảo bộ là bằng chứng chính thức có thẩm quyền nhất, đủ thấy quan phủ thừa nhận quyền sở hữu viện Dương Cán thuộc về các tăng nhân, không có chữ nào liên quan đến họ La. Việc xử lý các công trình trong thiền viện như thế nào, chỉ có các tăng nhân mới có quyền quyết định.
Nếu ba điều trước còn thuộc loại cố tình gây sự, thì điều này chính là đánh thẳng vào yếu huyệt.
Bất kể viện Dương Cán và họ La có mối quan hệ gì trong thời Đường, Tống, Nguyên, ít nhất là sau năm Hồng Vũ thứ hai mươi bốn, về mặt pháp luật, viện Dương Cán được công nhận là hoạt động độc lập, chứ không phải tài sản riêng của nhà họ La.
La Hiển lúc này mới hoảng hốt.
Ông vội vàng xin người cùng làng làm chứng. Tri huyện ra lệnh triệu tập bài niên, lý lão, lân hữu đến để hỏi chuyện.
Thân phận của lý lão đã giải thích ở trên, lân hữu là hàng xóm, còn bài niên, nói ra có chút phức tạp.
Lý trưởng thời Minh không phải là chức vụ suốt đời, mà do mười hộ giàu có luân phiên đảm nhiệm, mỗi hộ làm một năm. Hộ đang làm nhiệm vụ gọi là hiện niên, chín hộ không làm nhiệm vụ gọi là bài niên. Họ có nghĩa vụ cung cấp lời khai hoặc bảo lãnh cho các vụ kiện liên quan đến lý của mình.
Ba loại người này đều là những người ngoài quen thuộc nhất với mối quan hệ giữa họ La và viện Dương Cán. La Hiển nghĩ rằng họ chịu ra làm chứng, ít nhiều có thể gỡ lại một bàn. Nào ngờ những người này trên công đường ấp a ấp úng, không chịu nói rõ. Thậm chí có hai người trong tộc đã sớm tách ra khỏi dòng Hậu La ở Trình Khảm – La Thừa Thiện và La Hỗ Xã, nhảy ra đại diện cho chi họ để chỉ trích La Hiển.
Xem ra công tác chuẩn bị của Pháp Xuân rất đầy đủ, không chỉ tung tiền bạc ra mua chuộc các nhân chứng quan trọng, mà còn đào ra hai kẻ rảnh rỗi có thù với La Hiển. Viện Dương Cán là một nhà giàu có tiếng trong vùng, chức quan Đô cương nói mua là mua được, hối lộ mấy người dân nhỏ bé tự nhiên không thành vấn đề.
La Hiển lập tức rơi vào tình thế tứ bề thọ địch, vô cùng bị động. Hy vọng duy nhất của ông là tri huyện có thể nói chút đạo lý, đưa ra một phán quyết công bằng. Nhưng ông đứng trên công đường nhìn lên, thấy là tri huyện Cao Kỳ, trong lòng biết là xong rồi.
Cao Kỳ có tiểu sử trong *Hấp Huyện Chí* và *Huy Châu Phủ Chí*, ông là người Vũ Thành, Sơn Đông, tiến sĩ xuất thân, từ năm Gia Tĩnh thứ năm (1526) làm tri huyện Hấp. Người dân địa phương đánh giá ông rất tệ: "Tính tình ngang ngược, thường vì tội nhỏ mà đánh người, không phục thì nhân lúc tức giận mà đánh thêm, khiến người ta chết ngay tại chỗ, lại còn tham lam vô độ. Sau vì tham lam tàn ác mà bại."
Với thủ đoạn của Pháp Xuân, không thể không hối lộ nặng cho vị quan "tham lam vô độ" này, để hoàn tất nước cờ cuối cùng.
Quả nhiên, Cao Kỳ khi xét xử đã thể hiện sự thiên vị cực kỳ lộ liễu, đối với phe Pháp Xuân, Phật Hy thì răm rắp nghe theo, còn đối với La Hiển thì liên tục quát mắng. La Hiển sợ hãi, ông biết tiếng tăm của Cao Kỳ tệ đến mức nào, ngoài "tham" còn có "ác", động một chút là dùng hình, bị đánh chết tại chỗ cũng không phải là chưa có tiền lệ.
La Hiển tuổi đã cao, sợ mình chỉ cần phản kháng một chút là sẽ bị gậy nước lửa hầu hạ, bèn buộc phải nuốt nước mắt nhận thua.
Cao Kỳ thấy bị cáo đã mềm lòng, lập tức ra phán quyết: La Hiển và hai người trong tộc họ La giúp dọn gạch vụn bị kết tội, huyện nha sai người đến san bằng ngôi mộ tổ đó.
Phe viện Dương Cán đại thắng.
Pháp Xuân quả không hổ danh là Đô cương Huy Châu, không chỉ thông thạo quy trình tư pháp, mà còn gan dạ, nham hiểm, ra tay liên tiếp, lại có tài lực của viện Dương Cán chống lưng. Ông ta lấy hữu tâm tính vô tâm, cứng rắn biến một vụ kiện vô lý thành thắng lợi. La Hiển thua oan uổng, nhưng cũng không oan.
La Hiển trở về nhà, càng nghĩ càng ấm ức, càng ấm ức càng tức giận.
Nếu còn ở thời Tống, gia tộc họ La đời đời làm quan, quan hệ sâu rộng, ngay cả việc xây dựng viện Dương Cán cũng có thể mời đến đương triều Hữu Thừa tướng viết văn, kẻ tiểu nhân nào dám có ý đồ xấu? Tiếc là đến thời Minh, vận làm quan của họ La lại không còn như trước.
Chính xác mà nói, là vận làm quan của dòng Hậu La không còn như trước. Trình Khảm chia làm hai nhánh Tiền La và Hậu La. Tiền La thời Minh có mấy người nổi tiếng, như ông tổ mực Huy Châu La Tiểu Hoa, tiến sĩ Long Khánh La Ứng Hạc, thanh quan nổi tiếng La Thượng Cẩm, v.v.; còn nhánh Hậu La thì đã đoạn tuyệt với quan trường, nhà họ có không ít thương nhân và cử nhân, nhưng không còn thấy đại thần triều đình nào nữa.
Phải biết rằng, số lượng quan viên có liên quan mật thiết đến địa vị gia tộc. Không có thân phận quan lại bảo vệ, dù bạn có sinh sôi nảy nở đến đâu, cũng chỉ là một miếng thịt béo, thu hút các bên thèm muốn. Pháp Xuân, Phật Hy sở dĩ ngang ngược, Cao Kỳ sở dĩ dám tham ô nhận hối lộ, chẳng phải vì thấy dòng Hậu La dễ bắt nạt sao!
La Hiển lo lắng vụ kiện này thua, sau này sẽ có vô số rắc rối. Ông triệu tập các gia trưởng trong tộc, nói rằng chúng ta không thể ngồi chờ chết, phải tiếp tục theo đuổi vụ kiện này.
Mọi người trong tộc đều biết rõ lợi hại, nô nức góp tiền góp sức. Hiện có tài liệu ghi lại, La Hiển Huệ, La Nghi, La Quyền, La Hưng tám người phụ trách theo La Hiển làm trợ thủ, xử lý các công việc kiện tụng. Về kinh phí hoạt động, La Xương Tỷ quyên góp 720 lạng, hai anh em La Tư Xương, La Tư Tề, La Nghi Nho, La Lương Tỷ, La Kha San những người trong tộc có gia sản khá giả, mỗi hộ quyên góp 650 lạng bạc. Những người họ La bậc thấp hơn, có người quyên 300, có người 100, cũng có nhà hoàn cảnh khó khăn, chỉ quyên góp mười mấy lạng.
Tóm lại, gia tộc họ La "ai nấy đều tùy theo sức mình, nhà có gì góp nấy, vui vẻ đóng góp để giúp đỡ", đồng lòng vượt qua cơn khủng hoảng này. La Hiển rất xúc động, cảm khái nói: "Để thấy được lòng công của cả tộc nhớ đến tổ tiên, và để hậu thế biết rằng người hiếu với tổ tiên sẽ mãi mãi bất hủ, cũng có thể tự khích lệ mình vậy."
Nhà họ La góp được gần 4000 lạng bạc, theo giá cả lúc đó, có thể mua được 8000 thạch gạo. Chỉ là một vụ kiện, có cần nhiều tiền như vậy không?
Thực sự cần.
Trong *Cận Sự Tùng Tàn* có một câu chuyện vào những năm Long Khánh. Một vị Hàn lâm tên là Tào Đại Chương trở về quê nhà Kim Đàn sinh sống, bị cướp, nghi ngờ là do một thương nhân muối ở Dương Châu tên là Hàn Gia Ngôn làm. Tào Đại Chương kiện Hàn Gia Ngôn lên phủ Ứng Thiên. Sau khi vụ kiện bắt đầu, hai nhà đều thể hiện thần thông, người thì mua chuộc phủ doãn Ứng Thiên, người thì tìm đến các khoa đạo để đàn hặc, người hối lộ thì hối lộ, người mua chuộc thì mua chuộc, tiền bạc tiêu như nước. Cuối cùng vụ kiện đến Hình bộ Nam Kinh, mới phán quyết Hàn Gia Ngôn không liên quan đến vụ cướp.
Thương thay Hàn Gia Ngôn vì để lo lót trên dưới, gia sản triệu lạng đã tiêu sạch. Mặc dù kết cục ông được minh oan, nhưng đã bị tai bay vạ gió này làm cho đến bờ vực phá sản.
Có thể thấy, kiện tụng ở Đại Minh, mỗi một khâu đều phải dùng tiền, không chuẩn bị nhiều bạc là không được. Lấy hơn 4000 lạng này để đối đầu với các hòa thượng của viện Dương Cán, còn xa mới đủ.
La Hiển nhận được tiền, tập hợp đủ người, người trong tộc hỏi ông bước tiếp theo định lật án thế nào, La Hiển suy nghĩ một lúc, đến huyện Hấp đánh trống kêu oan chắc chắn không có hy vọng, kiện lên phủ Huy Châu cũng không có nhiều ý nghĩa.
Ông nghiến răng, nói rằng chúng ta đến Tuần án Sát viện phủ Huy Châu để kháng cáo!
Tuần án Sát viện là nơi nào? Tại sao La Hiển lại cảm thấy đến đó kháng cáo sẽ có nhiều cơ hội thắng hơn? Điều này phải bắt đầu từ chế độ kháng cáo của Đại Minh.
Triều đình Đại Minh có quy định, kiện tụng phải theo từng cấp. Dân chúng nếu có tranh chấp, trước tiên để lý lão hòa giải, không thành thì đến châu huyện kiện; châu huyện không giải quyết được, thì kháng cáo lên phủ; ở phủ không hài lòng, thì kháng cáo lên cơ quan tư pháp cao nhất cấp tỉnh – Án sát sứ ty. Thứ tự này không được lộn xộn. Nếu có người dám vượt cấp kháng cáo, gây rối trật tự tư pháp, dù có oan hay không, trước tiên cũng bị đánh năm mươi roi.
Cấp trên của huyện Hấp là phủ Huy Châu. La Hiển muốn theo con đường chính quy, phải kiện ở huyện Hấp trước, sau đó mới đến phủ Huy Châu kháng cáo. Vụ kiện này một khi bắt đầu, e rằng sẽ kéo dài.
Nhưng việc gì cũng có ngoại lệ.
Thời Minh có một chức quan gọi là "Tuần án Ngự sử", vị quan này đại diện cho hoàng đế định kỳ tuần tra các nơi, kiểm tra chính vụ địa phương. Có thể hiểu đây là một quan viên tư pháp kiêm kỷ luật từ trên trời rơi xuống, trên có thể thông thiên, chỉ chịu trách nhiệm trước hoàng thượng, chính quyền địa phương không quản được.
Tuần án tuy chỉ là quan thất phẩm, nhưng quyền lực rất lớn, các công việc dân chính tư pháp ở địa phương, có vấn đề có thể "việc lớn tấu lên vua quyết, việc nhỏ tự quyết". Đáng sợ hơn là, Tuần án còn có hai thanh thượng phương bảo kiếm.
Thanh bảo kiếm thứ nhất, có quyền thưởng phạt quan viên địa phương, có thể tiến cử những thanh quan "liêm năng rõ rệt", cũng có thể truy cứu những tham quan "hại dân hại nước". Vì vậy, ngay cả tri phủ tứ phẩm thấy Tuần án thất phẩm cũng phải khách sáo.
Thanh bảo kiếm thứ hai, Tuần án ngoài việc giám sát, còn có thuộc tính của một tòa án, có quyền tiếp nhận các vụ kiện của quân dân. Nếu dân chúng cảm thấy huyện nha xử lý không công bằng, lại không muốn kháng cáo lên phủ nha, thì còn một lựa chọn khác, đó là tìm đến Tuần án để kháng cáo.
Tuần án là quan viên trung ương, tìm ông ta kiện cáo không bị coi là vượt cấp. Hơn nữa, thân phận của Tuần án độc lập với địa phương, có thể đảm bảo việc xét xử không bị lợi ích địa phương can thiệp ở một mức độ nhất định, coi như là một con đường khác để dân chúng kêu oan. Trong các vở kịch cũ thường thấy, trên sân khấu thường xuất hiện một vị "Bát phủ Tuần án" chủ trì công đạo, uy phong lẫm liệt, mọi người đều phải quỳ lạy. Mặc dù "Bát phủ Tuần án" không phải là chức quan chính thức, nhưng cũng có thể thấy được uy danh của nó trong dân gian.
Phủ Huy Châu thuộc khu vực Nam Trực Lệ, do trung ương trực tiếp quản lý, không có Án sát sứ ty cấp tỉnh, nhưng thuộc khu vực tuần tra của Ứng Thiên Tuần án Ngự sử.
La Hiển ở huyện Hấp bị thiệt, lại không muốn kinh động đến tri phủ Huy Châu, tự nhiên nên đến chỗ Ứng Thiên Tuần án để đòi lại công bằng.
Nói ra cũng thú vị, văn phòng của phủ Huy Châu nằm ngay trong thành của huyện Hấp. La Hiển từ huyện nha Hấp ra, rẽ một cái là đến phủ nha Huy Châu, đi thêm vài bước về phía đông, có thể thấy một công thự cao lớn rộng rãi, đây chính là văn phòng của Ứng Thiên Tuần án Ngự sử – Tuần án Sát viện Huy Châu.
Đây là công trình được xây dựng vào năm Hồng Vũ thứ ba (1370), có chính sảnh và phòng bên năm gian, phòng bên cạnh ba gian, nhà ở một gian, hậu đường ba gian, hai bên hành lang mỗi bên sáu gian, nhà cổng bảy gian, phòng nghe xử án hai bên mỗi bên ba gian, có thể coi là một khu nhà lớn.
Tuần án Ngự sử không có nơi ở cố định, phải tuần tra khắp nơi, mỗi nơi đều có một "Sát viện" làm văn phòng. Huyện Hấp là huyện lỵ, huyện nha và phủ nha Huy Châu cùng ở trong một thành, nên Sát viện Hấp và Sát viện Huy Châu hợp nhất làm một, một đơn vị, treo hai tấm biển.
Không, nói chính xác là ba tấm biển.
Công thự này vốn còn một tấm biển nữa, gọi là "Ứng Thiên Tuần phủ Huy Châu Đô viện".
Chức quan Tuần phủ có cấp bậc cao hơn Tuần án. Đầu thời Minh, cấp tỉnh do Thừa tuyên Bố chính sứ ty, Đề hình Án sát sứ ty và Đô chỉ huy sứ ty phân quản dân chính, tư pháp và quân sự, gọi là "Tam ty". Nhưng Tam ty độc lập với nhau, vận hành rất phiền phức, sau này triều đình lập ra một chức "phủ chính an dân" là Tuần phủ, tiết chế Tam ty, quân chính một vai gánh vác, quyền lực còn lớn hơn cả tỉnh trưởng bây giờ.
Ví dụ như vào những năm Long Khánh, Hải Thụy từng làm Tuần phủ mười phủ Ứng Thiên, uy danh chấn động, khiến cả quan trường Nam Trực Lệ phải run sợ.
Trong chức danh của Tuần phủ có chữ "tuần", tự nhiên cũng phải lập văn phòng ở các nơi, gọi là "Tuần phủ Đô viện", cũng có chức năng thụ lý các vụ kiện. Tuần phủ Nam Trực Lệ có hai người, một là "Phượng Dương Tuần phủ", phụ trách bốn phủ Phượng Dương, Lư Châu, Hoài An và Dương Châu, kiêm Tào vận Tổng đốc; một là "Ứng Thiên Tuần phủ", phụ trách mười phủ như Ứng Thiên, Tô Châu, Tùng Giang, Huy Châu, An Khánh. Văn phòng của nó ở phủ Huy Châu gọi là Tuần phủ Đô viện, vẫn luôn làm việc chung với Tuần án Sát viện.
Năm Hoằng Trị thứ mười bốn, Ứng Thiên Tuần phủ Bành Lễ đến Huy Châu, cảm thấy làm việc chung quá phiền phức, phủ Huy Châu vội vàng xây một Đô viện mới ở bên trái phủ học, dời tấm biển ra ngoài, viện cũ vẫn giao cho Tuần án sử dụng.
Dân chúng Huy Châu hễ nhắc đến Đô viện và Sát viện, đều kính sợ gọi là "Lưỡng viện".
Đầu năm Gia Tĩnh thứ tám (1529), La Hiển viết xong đơn kháng cáo, mang theo hy vọng của toàn thể gia tộc, bước vào cửa Tuần án Sát viện.
Thật trùng hợp, Tuần án Ngự sử mới vừa đến, người này tên là Lưu Càn Hanh, người Lạc Dương, Hà Nam. Lưu Càn Hanh mới nhậm chức, rất muốn có thành tích, nên rất coi trọng vụ án này, bèn nhận đơn của La Hiển.
Đơn kháng cáo này của La Hiển cũng đã nhờ cao nhân chỉ điểm. Trong đơn không nhắc đến chuyện viện Dương Cán và mộ La Thu Ẩn trước, mà chỉ trích viện Dương Cán "tập hợp dân lưu vong, tăng giả làm điều phi pháp", "tập luyện pháp thuật Bạch Liên giáo, tụ tán vô thường", nói Phật Hy gian dâm phụ nữ và "mưu sát cha và anh của gian phụ", nói Pháp Xuân "câu kết với quan phủ, giao thông hối lộ", tóm lại là tạo ra một ấn tượng ban đầu – toàn bộ tăng nhân trong chùa đều là gian thần, lời nói của gian thần không thể tin.
Nói xong những điều này, đơn kiện mới bắt đầu kể về chuyện mộ tổ nhà họ La, trích dẫn rất nhiều tài liệu để chứng minh lý do họ La "vì mộ mà xây chùa", cũng như những hành vi xấu xa của Phật Hy và những người khác. Cuối cùng không quên lôi cả tri huyện Cao Kỳ vào, nói ông ta tham ô nhận hối lộ, lạm dụng hình phạt tàn khốc, sau đó còn sai người san bằng mộ, quả thực là tội ác tày trời.
Lưu Càn Hanh xem xong đơn kiện của La Hiển, cảm thấy vụ án này không có gì nghi ngờ, thắng bại đã rõ. Nhưng chính vì thắng bại quá rõ ràng, nên lại càng phiền phức.
Tuần án tuy có thể tiếp nhận các vụ kiện của quân dân, nhưng không phải việc gì cũng có thể tự mình xét xử. *Đại Minh Hội Điển* nói rất rõ: "(Các vụ án do Tuần án tiếp nhận) nếu kiện quan lại huyện sở tại, thì chuyển cho phủ đó; nếu kiện quan lại phủ sở tại, thì chuyển cho Bố chính ty; nếu kiện quan lại Bố chính ty, thì chuyển cho Án sát ty; nếu kiện quan lại Án sát ty... không được chuyển giao, phải tự mình xét xử."
Có thể thấy, phần lớn các vụ kiện quan lại, Tuần án chỉ có thể chuyển cho cấp trên của quan lại bị kiện, chỉ khi quan lại Án sát ty có liên quan, Tuần án mới có thể tự mình ra tay.
Vụ án của La Hiển liên quan đến tri huyện Hấp Cao Kỳ, theo quy trình thông thường, Lưu Càn Hanh nên chuyển cho phủ Huy Châu, do thôi quan của phủ xử lý. Nhưng nếu phủ Huy Châu có thể giải quyết, người ta cần gì phải chạy đến Sát viện làm gì cho thêm việc?
Lưu Càn Hanh xem lại, phát hiện trong đơn kiện có một chi tiết: La Hiển tố cáo Cao Kỳ ngoài việc nhận hối lộ, còn lạm dụng hình phạt tàn khốc, ép cung ông ta.
Lần này thì dễ rồi!
Trong *Đại Minh Hội Điển*, về điều kiện để Tuần án tự mình xét xử, có một điều khoản đặc biệt: "Khiếu nại các quan lại ty cục tra tấn oan uổng, không được chuyển giao, phải tự mình xét xử." Tức là, nếu trong vụ án có tình tiết quan lại tự ý dùng hình tra tấn ép cung, tạo ra án oan, Tuần án không được chuyển đi nữa, mà phải tự mình xét xử.
Theo trí tưởng tượng của chúng ta, tiếp theo hẳn là Lưu Thanh Thiên tự mình thăng đường xét xử? Vỗ bàn một cái, gian tăng, tham quan đều quỳ xuống nhận tội.
Không, không có. Tiếp theo, Lưu Càn Hanh đưa ra một quyết định rất kỳ lạ – chuyển cho phủ Ninh Quốc thụ lý hồ sơ xét xử.
Phủ Ninh Quốc này không phải là phủ trong *Hồng Lâu Mộng*, mà là một phủ láng giềng ở phía đông bắc của phủ Huy Châu, trị sở ở Tuyên Thành. Lưu Tuần án đá quả bóng này đi khá xa, đá ra ngoài địa phận phủ Huy Châu.
Quyết định này thoạt nhìn có vẻ khó hiểu, nhưng suy nghĩ kỹ lại, có thể nói là đã nắm được tinh hoa của chốn quan trường.
Một Tuần án mới nhậm chức, nếu vừa lên đã tự mình xét xử, bắt giữ một tri huyện, e rằng có chút kinh người. Làm quan quan trọng nhất là hòa quang đồng trần, bắt Cao Kỳ không sao, nhưng làm cho quan trường Huy Châu đoàn kết lại, Bát phủ Tuần án cũng không chịu nổi.
Lưu Càn Hanh chuyển vụ án cho phủ Ninh Quốc xét xử ở nơi khác, bản thân ông sẽ an toàn. Phủ Ninh Quốc không có quan hệ gì với huyện Hấp, có thể đảm bảo sự công bằng trong việc xét xử, càng không sợ đắc tội với quan trường Huy Châu. Sau này nếu họ tra ra tri huyện Hấp có vấn đề, cũng không thể đổ lỗi cho Tuần án.
Tuyệt vời hơn nữa là, điều này không vi phạm luật Đại Minh. La Hiển kiện tri huyện Cao Kỳ, theo quy định là nên chuyển cho cơ quan cấp phủ xét xử. Chỉ là "phủ" này không phải là phủ Huy Châu, mà là phủ Ninh Quốc thôi. Trong thực tiễn tư pháp của Đại Minh, trường hợp xét xử ở nơi khác rất nhiều, không ai có thể chỉ trích.
Lưu Càn Hanh đang ngầm ám chỉ phủ Huy Châu, nếu các người có ý kiến về việc xét xử ở nơi khác, thì ta sẽ viện dẫn điều khoản "khiếu nại các quan lại ty cục tra tấn oan uổng", dùng quyền hạn của Tuần án để tự mình xét xử, đến lúc đó mọi người sẽ khó xử.
"Tuần án tự mình xét xử" trong tay Lưu Càn Hanh đã trở thành một vũ khí hạt nhân. Công dụng của nó không phải là hủy diệt, mà là uy hiếp, đặt trên bệ phóng mà không bắn, mới có sức mạnh lớn nhất.
Vì vậy, chiêu "chuyển cho phủ Ninh Quốc xét xử" này, trông có vẻ như đá bóng, nhưng thực ra ẩn chứa kỹ năng cân bằng vô cùng tinh diệu, vừa giúp vụ án tiến triển thuận lợi, vừa bảo vệ được chính Tuần án.
Quả nhiên, phủ Huy Châu biết chuyện, không nói gì, cũng không có gì để nói, chỉ chờ kết quả. Chỉ có Pháp Xuân có vẻ hơi lúng túng, sức mạnh của ông ta ở phủ Huy Châu có thể phát huy, nhưng vượt ra ngoài thì không thể.
Người được phủ Ninh Quốc cử đến xét xử vụ án viện Dương Cán là một vị thôi quan họ Quách.
Trong hệ thống phủ nha thời Minh, người đứng đầu là tri phủ, thứ hai là đồng tri, thứ ba là thông phán, thứ tư là thôi quan phụ trách công việc hình sự, thường gọi là "hình sảnh", cũng gọi là "tứ gia".
Vị tứ gia này tên là Quách Phượng Nghi, người Hà Nam. Ông rất nghiêm túc và có trách nhiệm, đã cho chuyển tất cả hồ sơ, lời khai, địa phương chí cổ kim, bia chùa, gia phả và các tài liệu liên quan khác đến, nghiên cứu kỹ lưỡng, thẩm vấn lại tất cả các nhân chứng liên quan như lý lão, hàng xóm, còn cử điển sử, tuần kiểm của huyện Thái Bình đến tận viện Dương Cán để khảo sát hiện trường. Huyện Thái Bình tức là khu Hoàng Sơn ngày nay, thời Minh thuộc quản lý của phủ Ninh Quốc, giáp với huyện Hấp qua Hoàng Sơn, đến đây một chuyến rất tiện lợi.
Kết quả không có gì bất ngờ. Dù là tài liệu hay lời khai của người dân, đều chứng minh sự tồn tại của mộ tổ họ La. Và các điều tra viên của phủ Ninh Quốc đã đào được một số gạch cũ dưới lớp đất trước Phật điện của viện Dương Cán, càng chứng thực rằng mộ tổ không phải là do đắp đất tạm bợ.
Phán quyết của phủ Ninh Quốc như sau:
1. Phán lệnh Phật Hy tu sửa mộ trả lại cho La Hiển để thờ cúng.
【Chú thích】
Tiếu tự: Còn gọi là tiêu tự, tiêu quải, tục gọi là Thanh minh điếu tử. Tiêu là một loại vật phẩm cúng tế làm bằng giấy trắng ở nông thôn. Hàng năm vào dịp Thanh minh, các gia đình, gia tộc đi tảo mộ cúng tổ tiên, sau khi cúng xong, thường cắm một cây tiêu trên mộ hoặc trên đầu mộ, trên đó dán giấy trắng dài hoặc tiền giấy, để biểu thị đã cúng tế. Cây tiêu ở miền Nam thường dùng tre, ở miền Bắc thì dùng cành liễu, những cành liễu này thường có thể sống thành cây.
2. Vẫn giữ một gian phía đông của Quan Âm đường để La Hiển xây một gian từ đường, dựng bia ký, thờ bài vị của La Thu Ẩn.
3. Sau này không cho phép La Hiển nhân đó mà chiếm làm đất của mình, cũng không được chôn cất thêm.
4. Truy cứu tội gian dâm của Phật Hy, Mãn Chân, thu hồi độ điệp, hoàn tục.
5. (Phật Hy) khai nhận vu cáo La Hiển, bị phạt trượng.
Phán quyết này có thể nói là nhà họ La đại thắng. La Hiển không chỉ giữ được mộ tổ, có thể cúng tế như thường lệ, mà còn lấy lại được một gian nhà của Quan Âm đường để xây lại mộ từ cho tổ tiên. Hơn nữa, kẻ thù Phật Hy bị phán tội vu cáo, bị đánh một trận đòn đau, buộc phải hoàn tục.
Chỉ có điểm thứ ba có lợi cho viện Dương Cán, phán quyết rằng họ La không có quyền sở hữu tài sản của chùa, cũng không được thêm mộ mới vào. Điều này có còn hơn không, La Hiển vốn cũng không có ý định tranh giành tài sản của chùa, càng không thể dời mộ mới vào.
Tiếc là tri huyện Cao Kỳ không bị ảnh hưởng gì, có lẽ phủ Ninh Quốc không muốn vô cớ đắc tội với một vị quan, coi như là một chút tiếc nuối.
Theo quy trình, phủ Ninh Quốc báo cáo kết quả cho Sát viện phủ Huy Châu, xin Tuần án xem xét lại. Lưu Càn Hanh vung bút phê duyệt, còn thêm một điều, yêu cầu Phật Hy phải tự mình đắp lại mộ tổ.
Cảnh trả lại mộ có phần khó xử – đối với Phật Hy, không chỉ có điển sử và tuần kiểm của huyện Thái Bình đến giám sát, mà còn bắt buộc các hòa thượng của viện Dương Cán, cũng như lý lão, giáp thủ, hàng xóm gần đó đến xem. Dưới con mắt của mọi người, Phật Hy mặt đỏ bừng đắp lại mộ, đắp xong thì vội vàng bỏ đi.
Sau khi mọi việc hoàn tất, La Hiển và viện Dương Cán "mỗi bên nhận cam kết".
Cam kết là một loại văn bản pháp lý đặc biệt. Sau khi vụ kiện có phán quyết cuối cùng, hai bên đều phải ký tên, điểm chỉ vào cam kết, để biểu thị sự tuân thủ phán quyết, không kháng cáo nữa. Cam kết được ký, chứng tỏ vụ án đã kết thúc về mặt thủ tục.
Nhưng có một người vẫn không phục.
Pháp Xuân.
Khi phủ Ninh Quốc xét xử, Pháp Xuân không thể can thiệp, chỉ có thể trơ mắt nhìn phán quyết được đưa ra. Nhưng ông ta không cam tâm, quyết tâm lật ngược vụ án.
Tuy nhiên, nếu lại bắt đầu từ mộ tổ, độ khó quá lớn. Pháp Xuân ngoài việc nghiên cứu Phật pháp, còn nghĩ ra một kế độc.
Ngày rằm tháng bảy năm Gia Tĩnh thứ chín (1530), viện Dương Cán thông báo sẽ tổ chức một pháp hội Trung Nguyên lớn, bất kể tăng tục nam nữ đều có thể tham gia. Người dân gần xa nghe tin, lũ lượt kéo đến, nhất thời trong ngoài viện Dương Cán đông nghịt, vô cùng náo nhiệt.
Trình Khảm cách Dương Cán không xa, những người trẻ tuổi của dòng Hậu La thấy vui, cũng rủ nhau đến chơi.
Những người đi có La Lương Tỷ, La Vĩ, và cháu nuôi của La Hiển là Trịnh Lai Bảo. Trịnh Lai Bảo còn dẫn theo vợ là Thượng Kim Tông và các bạn thân của vợ là Diệp thị, Trịnh thị, Từ thị, hớn hở đến viện Dương Cán. Anh ta không ngờ rằng, đây là lễ Trung Nguyên cuối cùng của mình, cũng là đêm cuối cùng của cuộc đời.
Chuyện cụ thể thế nào, sử sách không ghi lại. Tóm lại, vào đêm đó đã xảy ra một cuộc ẩu đả có chủ mưu. Trong cuộc ẩu đả, Trịnh Lai Bảo bị các tăng nhân đánh chết, thi thể bị một hòa thượng tên là Trí Đăng cướp đi, đốt cháy ngay lập tức.
Tin tức truyền về Trình Khảm, La Hiển vô cùng kinh ngạc, sao một người đi xem pháp hội lại chết một cách vô cớ, mà ngay cả thi thể cũng không tìm thấy? Ông còn chưa hết kinh ngạc, thì rắc rối lớn hơn đã ập đến.
Viện Dương Cán đột nhiên tuyên bố sẽ kiện họ La.
Lần này, lời buộc tội của Pháp Xuân còn nham hiểm hơn lần trước. Ông ta tuyên bố rằng La Lương Tỷ của dòng Hậu La âm mưu chiếm đất của viện Dương Cán, xúi giục La Vĩ gây sự trong pháp hội, đánh chết các tăng nhân Năng Nghê, Phật Viên của viện Dương Cán, nhất định phải truy cứu đến cùng.
Pháp Xuân đã thiết kế cẩn thận trong đơn kiện, biến vụ kiện này thành một vụ án mạng, rồi liên hệ đến động cơ chiếm đất của họ La. Vụ án mới mang theo vụ án cũ, sẽ không bị nghi ngờ là lật án.
Tuy nhiên, Pháp Xuân không nộp đơn kiện lên huyện nha Hấp, mà trực tiếp đưa vụ án lên Tuần phủ Đô viện Huy Châu.
Lưu ý, là Tuần phủ Đô viện, không phải Tuần án Sát viện. Như đã nói, đây là văn phòng của Tuần phủ ở Huy Châu, nó cũng giống như Tuần án Sát viện, có thể tiếp nhận các vụ kiện của dân gian.
Đây là một đặc điểm của chế độ tư pháp Đại Minh: dù là Bố chính sứ, Án sát sứ hay Tuần án, Tuần phủ, họ đều có thể tiếp nhận dân chúng kháng cáo hoặc xem xét lại vụ án. Vào những năm Vạn Lịch, có một vị đại nho tên là Lữ Khôn, ông từng đánh giá đặc điểm này: "Nhiều lần phê duyệt, kiểm tra, hỏi han, không phải để tìm sự đồng thuận, mà chính là vì sợ có oan ức, cùng nhau lật lại vụ án... Các quan cùng thẩm tra một việc, vốn là vì sự thật của việc đó; cùng thẩm tra một người, vốn là vì sinh tử của người đó." Ý là đối với cùng một vụ án, do nhiều cơ quan không có quan hệ thống thuộc thẩm tra, có thể đảm bảo sự công bằng của phiên tòa ở mức độ lớn nhất.
Đặc biệt là bốn chữ "nhiều lần phê duyệt, kiểm tra, hỏi han", yêu cầu khi xét xử phải rất cẩn thận, nhiều lần bác bỏ, kiểm tra, hỏi han, cố gắng hết sức để làm rõ sự thật, tránh các vụ án oan sai.
Nguyên tắc xét xử "nhiều lần phê duyệt, kiểm tra, hỏi han" này, đối với dân chúng là điều tốt, nhưng cũng rất dễ bị những người có ý đồ lợi dụng.
Ví dụ như lần này Pháp Xuân chọn Tuần phủ, chính là có ý đồ.
Lần trước La Hiển có thể lật ngược tình thế, một là vì ông chọn kháng cáo lên Tuần án; hai là trong đơn kiện cũng kiện cả tri huyện Cao Kỳ. Một khi liên quan đến quan viên, Tuần án có lý do để yêu cầu xét xử ở nơi khác, khiến Pháp Xuân không thể kiểm soát tình hình, dẫn đến thất bại.
Pháp Xuân không muốn đi vào vết xe đổ, nên lần này ông ta bỏ qua huyện Hấp và phủ Huy Châu, vòng qua Ứng Thiên Tuần án, đưa vụ án này đến trước mặt Ứng Thiên Tuần phủ. Ông ta thông thạo luật pháp, biết rằng Tuần phủ Đô viện có một quy tắc, nếu Tuần phủ gặp các vụ kháng cáo là tranh chấp dân sự thuần túy, không cần tự mình xét xử, mà "chuyển cho quan phủ sở tại", để các cơ quan tư pháp địa phương điều tra.
Năm đó, Ứng Thiên Tuần phủ là Mao Tư Nghĩa, ông nhận được đơn kiện, thấy đây là vụ ẩu đả dân sự ở huyện Hấp, không liên quan đến quan viên, bèn theo quy định chuyển cho phủ Huy Châu, yêu cầu họ nhanh chóng xử lý.
Qua một loạt thao tác như vậy, Pháp Xuân cuối cùng cũng được như ý, để vụ án rơi vào tay phủ Huy Châu. Đừng quên, ông ta là Đô cương của Tăng cương ty Huy Châu, cũng thuộc hàng quan viên, đây coi như là sân nhà của mình, lo lót sẽ tiện lợi hơn nhiều.
Ngoài các thủ đoạn trên quan trường, Pháp Xuân cũng không hề rảnh rỗi ở bên ngoài.
Ngày hai mươi lăm tháng mười một năm Gia Tĩnh thứ chín, Pháp Xuân bày tiệc rượu ở một nơi gọi là Dung Lĩnh, mời đến Lý Đình Cương, Phạm Quỳnh Long, Vương Lâm, Lý Văn Hạo, Hồ Thông Tiến, Ngô Vĩnh Thăng, Uông Ninh, La Giả, La Diên Bích chín người, những người này đều có một thân phận chung: lý trưởng bài niên của lý mà bị cáo La Lương Tỷ thuộc về.
Cùng ngồi trong tiệc còn có Uông Chiêu Tài, Uông Xã Quý, Uông Ký Thọ. Họ Uông là một họ lớn ở huyện Hấp, còn mạnh hơn cả họ La, gọi mấy người họ đến có thể tăng thêm thanh thế.
Pháp Xuân biết, vụ án này một khi bắt đầu xét xử, nhất định sẽ gọi chín vị bài niên đến để hỏi chuyện, phải mua chuộc trước, thống nhất lời khai. Việc này ông ta không tiện ra mặt, bèn ủy thác cho Phật Hy làm chủ tiệc.
Phật Hy trong bữa tiệc công khai đưa ra một yêu cầu: "Tấu bản đã được chuẩn y, mong các vị che chở." Ý là vụ án sắp bắt đầu xét xử, các anh em nhớ phải nói gì. Sau đó ông ta lấy ra ba mươi lạng bạc và ba lạng một tiền vàng, giao cho những người tham dự chia nhau. Mọi người nhận tiền, đồng thanh bày tỏ không có vấn đề gì.
Pháp Xuân bên này đang hăm hở, La Hiển bên kia cũng không ngồi chờ chết.
Ông là một người tốt hơi nhu nhược, nhưng không phải là một kẻ ngốc. Lần trước bị Pháp Xuân bất ngờ tấn công làm cho khổ sở, lần này La Hiển ít nhiều cũng đã rút ra được bài học.
Việc đầu tiên La Hiển làm là lại đến Tuần án Sát viện, kiện lên Tuần án Lưu Càn Hanh, tố cáo hòa thượng viện Dương Cán đánh chết cháu nuôi Trịnh Lai Bảo và vu cáo La Lương Tỷ, La Vĩ. Phản ứng của Lưu Càn Hanh và Tuần phủ Mao Tư Nghĩa hoàn toàn giống nhau, chuyển vụ án này trực tiếp cho phủ Huy Châu, hợp nhất với vụ viện Dương Cán kiện La Lương Tỷ, La Vĩ thành một vụ, xét xử thống nhất.
Đây... không phải là cởi quần đánh rắm, làm chuyện thừa thãi sao?
Hoặc chúng ta hỏi một cách chuyên nghiệp hơn: Tuần phủ hoặc Tuần án gặp các vụ tranh chấp dân sự, không tự mình xét xử mà chuyển cho phủ Huy Châu xử lý, điều này có khác gì so với việc dân chúng trực tiếp đến phủ Huy Châu kháng cáo? Ý nghĩa của quy định này là gì?
Trong *Đại Minh Hội Điển*, về chức trách của Tuần án có một câu mô tả như sau: "Tiếp nhận các vụ kiện của quân dân, nếu là các vụ việc như hộ tịch, hôn nhân, ruộng đất, ẩu đả, phải lập sổ sách, sao chép đơn kiện, biên thành số hiệu, dùng ấn niêm phong. Đặt ra thời hạn chuyển cho quan phủ sở tại, truy vấn rõ ràng, xử lý tại chỗ, báo cáo lại."
Nói cách khác, các vụ án dân sự kháng cáo lên Tuần án, phải đăng ký lưu trữ tại Tuần án Sát viện trước, sau đó mới chuyển cho phủ Huy Châu. Tuần án Sát viện sẽ đặt ra một thời hạn xét xử, nếu quá hạn chưa xong, Tuần án sẽ truy cứu trách nhiệm của quan viên. Sau khi quan phủ xét xử xong, còn phải báo cáo kết quả cho Tuần án Sát viện, do Tuần án phê chuẩn mới được coi là hoàn tất.
Dù là đăng ký vụ án, thời hạn xét xử hay báo cáo kết quả, thực ra đều là để thúc giục quan phủ địa phương: vụ án này đã được đăng ký ở Tuần án Sát viện của chúng tôi rồi, các người đừng làm qua loa cho xong chuyện.
Vì vậy, việc La Hiển đến Tuần án Sát viện khởi kiện lần nữa là có ý nghĩa. Hành động này có thể tạo áp lực cho phủ Huy Châu, buộc họ phải hành xử công bằng, ít nhất là không dám quá thiên vị.
Hơn nữa, Tuần phủ là người đứng đầu một tỉnh, công việc bận rộn, những vụ án nhỏ như thế này không thể đặc biệt quan tâm, chuyển xong là thôi; còn Tuần án chỉ phụ trách giám sát tư pháp, có nhiều thời gian hơn để theo dõi các vụ kiện. Đối với phủ Huy Châu, vụ án do Ứng Thiên Tuần phủ chuyển đến, có thể hơi có chút ý đồ, nhưng nếu là vụ án do Tuần án chuyển đến, thì phải tập trung tinh thần không dám sai sót.
Quả nhiên, phủ Huy Châu vừa nhận được công văn chuyển từ Tuần án, đầu óc đã rối bời, đây đã trở thành vụ án được cả hai viện quan tâm! Tri phủ không dám chỉ cử thôi quan đến xét xử, mà thay bằng người đứng thứ hai của phủ Huy Châu, đồng tri Huy Châu Lý Bang.
Tên đầy đủ của đồng tri là "đồng tri phủ sự", chính ngũ phẩm, chủ yếu phụ trách "thanh lý quân ngũ, đốc thúc lương thuế", là một nhân vật lớn chỉ sau tri phủ, thường được gọi là "lương sảnh" hoặc "quân sảnh". Gặp các vụ án mà châu huyện không giải quyết được hoặc các vụ án do hai viện chuyển đến, thường do đồng tri làm chủ thẩm, để thể hiện sự coi trọng.
Đối với Pháp Xuân, việc giải quyết một thôi quan tương đối dễ dàng, nay chủ thẩm đột nhiên đổi thành đồng tri, chi phí và độ khó của việc hối lộ tăng vọt. Vô hình trung, La Hiển đã làm giảm đi một nửa lợi thế sân nhà của Pháp Xuân.
Tháng giêng năm Gia Tĩnh thứ mười (1531), vụ án này chính thức được xét xử tại phủ Huy Châu.
Quy trình xét xử vẫn như cũ, không gì khác ngoài việc nguyên đơn và bị đơn mỗi bên trình bày tình tiết vụ án, đưa ra vật chứng, nhân chứng. Nhưng ngay khi Pháp Xuân chuẩn bị gọi chín vị lý trưởng bài niên ra làm chứng, La Hiển đột nhiên tung ra đòn chí mạng.
La Hiển tại tòa tố cáo rằng hòa thượng Phật Hy đã mua chuộc chín người này, và nói rõ thời gian, địa điểm, nhân vật cũng như số tiền hối lộ: ngày hai mươi lăm tháng mười một năm Gia Tĩnh thứ chín, tại Dung Lĩnh, ba lạng một tiền vàng và ba mươi lạng bạc trắng, người nhận hối lộ là Lý Đình Cương và chín người khác.
Việc Phật Hy mời tiệc được thực hiện rất bí mật, La Hiển làm sao biết được?
Hóa ra trong số chín vị bài niên này, có một người tên là Hồ Thông Tiến, trước đó ông ta nợ người khác, sau khi nhận hối lộ của Phật Hy liền đi trả nợ. Mà La Hiển dựa vào sức mạnh của gia tộc, đã sớm giăng một mạng lưới giám sát ở Trình Khảm, theo dõi những vị bài niên có liên quan mật thiết đến vụ án này. Lần trước Pháp Xuân chính là nhờ hối lộ nhân chứng mà suýt nữa làm cho mộ tổ của La Hiển không còn. Người ngu ngốc đến đâu, lần này cũng phải nhớ bài học.
Hồ Thông Tiến vừa trả nợ, bên La Hiển lập tức phát hiện, dẫn người đến tận nhà, ba bảy hai mốt đã hỏi ra hết.
La Hiển trên công đường công khai vạch trần chuyện này, Lý Đình Cương, Vương Lâm, Phạm Quỳnh Long mấy người sợ đến mặt cắt không còn giọt máu. Họ chỉ là những người dân thường, làm sao chịu nổi sự kinh hãi như vậy, lần lượt bưng ra số vàng bạc đã nhận, khai ra tất cả.
Pháp Xuân không ngờ rằng, La Hiển trông có vẻ thật thà, lại phá giải hết mấy chiêu hiểm của mình.
Đến nước này, đồng tri Lý Bang cảm thấy không cần phải xét xử thêm nữa, có thể tuyên án trực tiếp. La Hiển thừa thắng xông lên, đưa một người lên công đường – con trai của người đã chết Trịnh Lai Bảo là Trịnh Văn, khổ chủ chính hiệu, lên tòa để tố cáo Pháp Xuân và những người khác âm mưu đánh chết cha mình.
Vụ án trực tiếp kiện lên phủ Huy Châu như thế này, không cần đồng tri phải đích thân ra mặt. Lý Bang gọi thôi quan phủ Huy Châu là Tào Thế Thịnh đến, để ông ta tiếp tục xét xử.
Tào Thế Thịnh vừa thăng đường, liền ra lệnh bắt giữ Pháp Xuân và những người khác, đồng thời yêu cầu triệu tập hai nhân chứng quan trọng trong đêm xảy ra vụ án: hành đồng của viện Dương Cán – tức là tiểu hòa thượng làm việc vặt trong chùa – Uông Nhân Kiên, và đầu bếp của viện Dương Cán là Ngô Tháp Giám.
Tưởng chừng La Hiển sắp đại thắng, nhưng nha dịch của phủ Huy Châu được cử đi tìm nhân chứng báo lại rằng, Uông Nhân Kiên và Ngô Tháp Giám đột nhiên bệnh chết, đã được chôn cất.
Vụ án đến đây, đột nhiên bị tắc nghẽn.
Tào Thế Thịnh đột nhiên phát hiện, họ không có lý do để tiếp tục giam giữ Pháp Xuân. Vì Pháp Xuân kiện là vụ La Lương Tỷ đánh chết tăng nhân, ông ta hối lộ nhân chứng là để làm chứng gian cho vụ án này. Còn La Hiển kiện là vụ tăng nhân viện Dương Cán đánh chết Trịnh Lai Bảo, nay nhân chứng đã chết, không thể chứng minh Pháp Xuân có liên quan gì đến vụ án này. Không thể vì ông ta phạm lỗi trong vụ án A, mà phán ông ta là hung thủ trong vụ án B được?
Đành phải tạm thời thả ông ta ra.
Nói về Pháp Xuân, quả là một người có ý chí kiên cường. Rõ ràng tình thế vô cùng bất lợi, ông ta vẫn chưa từ bỏ, việc đầu tiên sau khi được tự do là tìm đến Phật Hy, bàn bạc kế sách.
Phật Hy được sư điệt chỉ điểm, lại đến chỗ Tuần phủ Mao Tư Nghĩa kháng cáo. Lần kháng cáo này không phải để thắng thua, mà chỉ để kéo dài thời gian. Tuần phủ nhận vụ án này, nhất định sẽ chuyển cho phủ Huy Châu, phủ Huy Châu lại trả lời Tuần phủ Đô viện, công văn qua lại, cũng phải mất mấy ngày.
Tiếp theo, Phật Hy không ngừng nghỉ tìm đến Ngô Vĩnh Thăng, Uông Ninh, La Giả, La Diên Bích, Hồ Thông Tiến mấy người, nói với họ: "Việc các người nhận tiền bạc của ta đã bị phát hiện, nay ra đầu thú, khó tránh khỏi tội, chi bằng vu cáo La Hiển có lỗi, nói dối rằng số tiền bạc đó là do tăng nhân mua chuộc, rồi kiện một lần nữa, che đậy cho ta, thắng kiện sẽ hậu tạ."
Đây không phải là lời của tác giả, mà là nguyên văn trong lời khai. Đọc đến đây, thực sự phục Pháp Xuân, làm sao ông ta có thể từ đường cùng mà đào ra được một kẽ hở như vậy.
Dù sao thì chín vị bài niên đã thừa nhận nhận hối lộ, chi bằng bảo họ đổi lời khai, vu cáo rằng số tiền đó là do La Hiển đưa, cũng là La Hiển dạy họ nói là Phật Hy hối lộ. Tại sao La Hiển lại làm vậy? Vì ông ta có tật giật mình.
Lời nói này không cần logic chặt chẽ, chỉ cần làm cho nước đủ đục.
Ngô Vĩnh Thăng, Uông Ninh và những người khác được Phật Hy đảm bảo, lập tức đến phủ Huy Châu kiện một vụ gian trá, nói dối rằng số tiền bạc đó là do La Hiển đưa.
La Hiển nghe mấy người này còn muốn cắn lại mình, cũng không yếu thế, bảo cháu mình là La Hưng đến Tuần phủ Đô viện, tìm Mao Tư Nghĩa đại nhân để khiếu nại. Anh muốn làm lớn chuyện phải không? Vậy thì tôi sẽ làm lớn hơn nữa.
Trước đây ông luôn đi theo con đường kiện tụng của Tuần án, lần này đi một lần phủ nha Tuần phủ, bổ sung cả hai viện, làm cho thanh thế lớn hơn.
Tuần phủ Đô viện nhận được vụ án, theo lệ chuyển cho phủ Huy Châu. Phủ Huy Châu thấy rắc rối lại đến, thôi quan Tào Thế Thịnh vội vàng mời đồng tri Lý Bang đến, theo quy trình việc này vẫn phải do ngài xét xử...
Lý đồng tri mở hồ sơ ra xem, trời ạ, một vụ án đã biến thành bốn vụ án: La Hiển, Trịnh Văn kiện tăng nhân viện Dương Cán đánh chết Trịnh Lai Bảo kiêm vu cáo La Lương Tỷ, La Vĩ; Pháp Xuân kiện La Lương Tỷ, La Vĩ đánh chết tăng nhân viện Dương Cán mưu đoạt phong thủy; chín bài niên kiện La Hiển hối lộ bài niên làm chứng gian; La Hiển kiện chín bài niên vu cáo.
Bốn vụ án này có liên quan đến nhau, chồng chéo lên nhau. Vốn là một chuyện đơn giản, nay lại bị Pháp Xuân làm cho rối tung phức tạp.
May mà đồng tri Huy Châu Lý Bang cũng không phải tay vừa. Huy Châu nổi tiếng là nơi "kiện tụng mạnh mẽ", dân chúng rất thích kiện cáo. Những người có thể làm quan phụ mẫu ở nơi này đều là những người đã trải qua nhiều thử thách. Ông mở hồ sơ ra, từ trong mớ bòng bong đã nắm được mấu chốt.
Gốc rễ nằm ở vụ án mộ tổ họ La năm Gia Tĩnh thứ tám.
Vụ án đó tuy đã xét xử xong, nhưng dư âm của nó vẫn còn. Muốn giải quyết bốn vụ án hiện tại, phải làm rõ gốc rễ của vụ án đó.
Nhưng, phủ Huy Châu không có tài liệu về vụ án này.
Lúc đó, vụ án mộ tổ họ La sơ thẩm ở huyện Hấp, phúc thẩm liên quan đến quan viên, do Tuần án Lưu Càn Hanh sắp xếp, chuyển đến phủ Ninh Quốc xét xử ở nơi khác. Việc thi hành án sau khi kết án cũng do huyện Thái Bình của phủ Ninh Quốc phụ trách. Tất cả các hồ sơ liên quan đến vụ án này đều được lưu trữ ở đó, phủ Huy Châu không hề tham gia, tự nhiên cũng không có ghi chép.
Lý Bang muốn biết tình hình vụ án mộ tổ họ La, phải đến phủ Ninh Quốc tìm. Thế là ông cử một khoái thủ tên là Phan Nguyên, chạy đến phủ Ninh Quốc để mượn hồ sơ.
Pháp Xuân nhìn thấy cơ hội này, lại ra tay, vẫn là những chiêu trò ngoài lề.
Ông ta tìm đến Phan Nguyên, đưa một khoản tiền. Phan Nguyên hiểu ý, giả vờ bị bệnh ở nhà, đưa công văn xin mượn hồ sơ của phủ Huy Châu và giấy tờ tùy thân của mình cho một hòa thượng của viện Dương Cán tên là Năng Nho. Vị hòa thượng Năng Nho này chưa cạo đầu, cầm giấy tờ của Phan Nguyên, nghênh ngang đến phủ Ninh Quốc.
Lúc đó, chứng minh thư không có ảnh, phủ Ninh Quốc làm sao biết Phan Nguyên bị mạo danh, thấy công văn kiểm tra không sai, bèn tìm hồ sơ ra, giao cho Năng Nho.
Năng Nho nhận được hồ sơ, trực tiếp đưa cho Phật Hy. Phật Hy lén mở ra, phát hiện bên trong chia làm hai quyển. Một quyển là văn bản phán quyết của tri huyện Hấp Cao Kỳ, có lợi cho viện Dương Cán; một quyển là văn bản phán quyết của thôi quan phủ Ninh Quốc Quách Phượng Nghi, có lợi cho La Hiển. Năm đó, khi phủ Ninh Quốc phúc thẩm, đã mượn hồ sơ sơ thẩm của huyện Hấp để đối chiếu, nên gộp chung lại.
Phật Hy lén lút rút quyển hồ sơ của phủ Ninh Quốc ra, chỉ để lại quyển hồ sơ của huyện Hấp bên trong, vẫn do Năng Nho mang đến phủ Huy Châu, hy vọng có thể qua mặt được.
Tiếc là Lý Bang không hồ đồ. Ông xem hồ sơ, phát hiện chỉ có bút tích của Cao Kỳ ở huyện Hấp, bèn để ý, gọi La Hiển đến hỏi. La Hiển nghe xong liền lo lắng, nghi ngờ hồ sơ bị tráo đổi, ông la lớn, yêu cầu điều tra kỹ lưỡng.
Nhưng điều tra thế nào? Phan Nguyên hoặc Năng Nho nếu một mực nói rằng giữa đường bị mất, không ai làm gì được. Thời Minh, thủ đoạn này rất phổ biến, vốn dĩ tình tiết vụ án rõ ràng, nhưng bị người ta cố ý hủy hoại hồ sơ, cuối cùng không giải quyết được. Pháp Xuân làm công việc tư pháp, đã thấy quá nhiều, nên mới dám làm như vậy.
Nhưng Pháp Xuân không ngờ rằng, La Hiển vừa la lên, đồng bọn của ông ta là Phật Hy đã chột dạ trước. Dù sao đây cũng là tội trộm cắp văn thư của quan phủ, là trọng tội. Phật Hy giấu quyển hồ sơ của phủ Ninh Quốc trong người, lén lút trốn gần công đường phủ Huy Châu, chờ lúc tan tòa hỗn loạn, đến ném quyển hồ sơ lên bàn rồi quay đầu bỏ đi.
Có một tiểu lại tên là Trình Khoan, khi dọn dẹp công đường thấy có một quyển hồ sơ bị ném trên bàn, mở ra thấy có chữ của phủ Ninh Quốc, bèn mang đến Thanh quân sảnh.
Thanh quân sảnh là văn phòng của đồng tri phủ Huy Châu, Lý Bang thấy quyển hồ sơ tự nhiên được trả lại, lại gọi La Hiển đến. La Hiển kiểm tra kỹ lưỡng, phát hiện còn thiếu một văn bản quan trọng – cam kết.
Như đã nói, cam kết là văn bản được hai bên ký sau khi kết án, biểu thị sự tuân thủ phán quyết. Nếu văn bản này bị mất, Pháp Xuân rất có thể sẽ không thừa nhận kết quả phán quyết, lại đưa vụ án ra xét xử lại.
Lý Bang không có nghĩa vụ tìm kiếm văn bản bị mất, ông chỉ có thể dựa vào các văn bản hiện có để phán đoán. La Hiển không còn cách nào khác, đành phải tự lực cánh sinh.
Việc này không khó điều tra, La Hiển hỏi han một chút, nhanh chóng phát hiện ra là do khoái thủ Phan Nguyên tìm người thay thế. Ông lại một lần nữa chạy đến Tuần án Sát viện, kiện Phan Nguyên và Năng Nho tội tráo đổi văn thư, hủy hoại chứng cứ.
Tuần án theo lệ chuyển cho phủ Huy Châu, Lý Bang thấy, trời ạ, bây giờ đã thành năm vụ án rồi.
Không, không chỉ năm vụ.
Ngày hai mươi chín tháng sáu năm Gia Tĩnh thứ mười, cùng lúc với vụ án mất hồ sơ của phủ Ninh Quốc, viện Dương Cán lại xảy ra chuyện.
Viện Dương Cán có một tiểu hòa thượng tên là Nhân Cao, tức giận với hành động của họ La, mang hai thùng phân đến đổ lên mộ tổ và từ đường của họ La, làm cho nơi đó trở nên ô uế. Cảnh này vừa hay bị em họ của La Hiển là La Thời nhìn thấy, hai người đánh nhau, kiện lên công đường huyện Hấp. Tri huyện ra lệnh cho một người tên là Diêu Thăng Bảo, một loại nghề trung gian làm các việc như hôn nhân, kiện tụng, tương tự như nha nhân – đi hòa giải. Không ngờ Diêu Thăng Bảo không để ý, để cho Nhân Cao chạy mất.
La Thời kể chuyện này cho La Hiển, La Hiển tức giận. Mộ tổ bị đổ phân, ai mà chịu được? Ông rầm rộ đến Tuần phủ Đô viện, lại một lần nữa khởi kiện. Phật Hy nghe chuyện này, bàn với Pháp Xuân, không thể yếu thế, bèn bịa ra một vụ án giả là Nhân Cao bị La Thời tìm thù đánh chết, đến Tuần án Sát viện khởi kiện.
Đến khi Tuần phủ, Tuần án lần lượt chuyển đơn kiện đến phủ Huy Châu, đồng tri Lý Bang trong tay vừa đủ bảy vụ án, có thể triệu hồi thần long rồi...
Lý Bang không có khả năng triệu hồi thần long, đành phải triệu hồi tri huyện Hưu Ninh Cao Giản, tri huyện Y Lại Xiêm hai người, để họ cùng nhau xét xử gộp các vụ án.
Cấp trên chuyển giao cho cơ quan tư pháp cấp dưới xét xử là một cách làm phổ biến thời Minh. Đặc biệt là trong đống vụ án lộn xộn này có liên quan đến tri huyện Hấp, để đảm bảo thuận lợi, tốt nhất là để huyện lân cận xét xử.
Vụ án này thực ra không có gì đáng để xét xử. Hai vị tri huyện mượn các hồ sơ cũ, lại đến hiện trường viện Dương Cán khảo sát, nhanh chóng đưa ra kết luận: quyền sở hữu mộ tổ không sai, giữ nguyên phán quyết cũ. Còn về mấy vụ án mạng, Năng Nghê, Phật Viên, Trịnh Lai Bảo, Uông Nhân Kiên, Ngô Tháp Giám năm người được coi là bệnh chết, Nhân Cao hoàn toàn không bị đánh chết, mà là trốn đi, không có tình tiết mưu sát.
Từ phán quyết này có thể thấy, hai huyện đã nhận được sự ám chỉ của phủ Huy Châu, phải nhanh chóng kết thúc vụ án, không đi sâu vào chi tiết. Vì vậy, phán quyết về nguyên tắc có lợi cho nhà họ La, nhưng những việc như nguyên nhân cái chết của Trịnh Lai Bảo, Uông Nhân Kiên, Ngô Tháp Giám – đặc biệt là của Trịnh Lai Bảo – lại được báo là bệnh chết, rõ ràng là không muốn điều tra sâu.
Nói chung, lần phán quyết này đã bảo vệ lợi ích của người tốt, nhưng cũng không làm cho kẻ xấu bị trừng phạt.
Kế hoạch gây rối của Pháp Xuân cuối cùng cũng đã phát huy tác dụng.
Ông ta hiểu rõ tâm lý của quan trường, biết rằng quan viên sợ nhất là sự hỗn loạn. Một khi phát hiện sự hỗn loạn bắt đầu có xu hướng mất kiểm soát, các quan viên sẽ theo bản năng mà che đậy, làm dịu đi, nhanh chóng kết thúc sự việc, dù cho có chút bất công cũng không sao. Với nhận thức này, Pháp Xuân đã cứng rắn biến một trận thua thành một trận hỗn loạn.
Tất nhiên, quan phủ đối với gia tộc họ La cũng không phải không có chút áy náy. Hai vị tri huyện đã đặc biệt ủy thác cho các hương thân có uy tín ở địa phương, đo đạc lại phạm vi mộ từ trong viện Dương Cán: "Phía đông sâu vào hai trượng năm thước; phía tây sâu vào hai trượng hai thước; chiều ngang nam bắc sáu trượng năm thước, bên phải mộ có khoảng đất trống một trượng sáu thước, trước mộ lấy con mương, sau mộ lấy lề đường làm ranh giới, để cho con cháu La Thu Ẩn mãi mãi thờ cúng, không được xâm phạm."
Điều này coi như đã xác nhận hoàn toàn quyền sở hữu mộ từ của họ La, vạch ra ranh giới rõ ràng với viện Dương Cán, biến thành một vụ án sắt.
Phán quyết của hai huyện vẫn chưa hết.
La Hiển và Pháp Xuân đều bị phán tội "tấu sự không thật", Lý Đình Cương và chín vị bài niên nhận hối lộ, mười một người này mỗi người bị đánh tám mươi trượng, đi đày hai năm; Phật Hy hối lộ, trộm đổi văn thư bị đánh sáu mươi trượng, đi đày một năm, buộc phải hoàn tục (lần trước chưa thi hành); những người tham gia cấp thấp hơn như La Hưng, La Thời, Nghĩa Trân, Năng Nho cũng đều bị phạt.
Các người làm phiền quan phủ như vậy, ít nhiều cũng phải trả giá chứ?
Tất nhiên, phán quyết này vẫn còn chừa lại đường lui. La Hiển và Pháp Xuân tuổi đều không còn trẻ, nếu thực sự bị đánh một trận đòn, e rằng sẽ chết ngay tại chỗ, hai huyện cho phép họ nộp lương thực để chuộc tội. Trong số chín vị bài niên, Hồ Thông Tiến, Ngô Vĩnh Thăng nhà giàu có, cũng dùng cách tương tự để trừ hình phạt. Hòa thượng Nghĩa Trân không có tiền, thì dùng lao động để trừ – gọi là "chiết nạp công giá".
Tiếp theo, phủ Huy Châu gửi công văn cho hai viện, hủy bỏ vụ án ở đó, lần lượt được Tuần án Ngự sử Lưu Càn Hanh, Tuần phủ Đô Ngự sử Trần Thức phê chuẩn (Mao Tư Nghĩa đã được điều đi nơi khác), đồng ý với phán quyết của Lý đồng tri. Về mặt thủ tục, việc này đã hoàn toàn kết thúc.
Nhưng lúc này có một người vẫn không cam tâm.
Vẫn là Pháp Xuân.
Ông ta vẫn chưa từ bỏ.
Pháp Xuân nhận thấy một sự thật. Trong số chín vị bài niên bị phạt, Lý Đình Cương đầu thú trước tiên, được miễn phạt; Hồ Thông Tiến, Ngô Vĩnh Thăng nộp gạo, cũng được trừ án. Nhưng sáu người còn lại, chỉ có thể ngoan ngoãn chịu đòn.
Trong đó, vẫn còn có cơ hội.
Pháp Xuân tìm đến sáu kẻ xui xẻo đó, lại tung tiền ra, liên lạc với mười bốn vị bài niên của các lý khác, tập hợp đủ hai mươi người cùng ký tên, đi kiện La Hiển.
Kiện La Hiển về tội gì?
Kiện ông ta vì để che giấu sự thật, đã hối lộ chín vị bài niên, mỗi người 50 lạng bạc, tổng cộng 450 lạng.
Số tiền này, đối với dân thường có thể nói là một con số trên trời. Vậy có bằng chứng không?
Có chứ.
Lúc Lý Đình Cương đầu thú, đã đưa ra 3 lạng bạc của Phật Hy làm bằng chứng, chúng tôi cũng có. Sau đó, Uông Ninh và sáu người khác lần lượt đưa ra 50 lạng bạc trắng, nộp cho quan phủ.
Không cần hỏi, 300 lạng họ đưa ra là do Pháp Xuân đưa.
Pháp Xuân cũng thật là hào phóng, một tay đã ném đi 300 lạng bạc, cộng thêm tiền thưởng cho sáu người họ và tiền mua chuộc các bài niên khác, chi phí không hề thấp.
Nhưng số bạc này tiêu rất đáng giá.
Gia cảnh của Uông Ninh và sáu người khác bình thường, không thể tự mình có 50 lạng bạc, số tiền này chắc chắn là do người khác đưa. Người khác sao lại vô cớ cho bạn tiền? Chắc chắn là để đổi lấy sự hợp tác của bạn trong vụ kiện. Vậy trong vụ kiện, ai là người được lợi cuối cùng? Tự nhiên là La Hiển rồi. Theo suy nghĩ này, quả thực rất hợp lý.
Tàn nhẫn hơn là, Uông Ninh kiện La Hiển đã hối lộ chín vị bài niên. Sáu người họ bây giờ đã nộp tiền tang vật, vậy ba người còn lại – Lý Đình Cương, Hồ Thông Tiến, Ngô Vĩnh Thăng, cũng sẽ bị quan phủ đòi nộp tiền tang vật, nhưng họ lấy đâu ra, chẳng phải là tự nhiên có thêm một món nợ 50 lạng sao?
Đáng đời, ai bảo các người thoát nạn, còn chúng tôi lại phải chịu đòn.
Giải quyết xong các bài niên, Pháp Xuân lại nhân danh Phật Hy, cử Nhân Cao – tiểu hòa thượng đã đánh nhau với La Thời trước đó – đến Tuần án Sát viện kiện, tuyên bố đã tìm thấy bằng chứng mới, Năng Nghê, Phật Viên không phải bệnh chết như phán quyết của hai huyện, mà là bị người trong tộc của La Hiển đánh chết. Hung thủ tên là La Lộc, viện Dương Cán đã nắm được bằng chứng anh ta "bao vây, dọa nạt, lừa tiền bạc, cướp đoạt tài sản".
Nhân chứng không đáng tin, lại xuất hiện một hung thủ, Pháp Xuân sắp xếp như vậy, là muốn phủ nhận hoàn toàn phán quyết của hai huyện. Chỉ cần vụ án bảy trong một này được lật lại, thì mộ tổ và từ đường của họ La cũng có thể bị san bằng.
Lúc này đã là tháng hai năm Gia Tĩnh thứ mười một (1532), Tuần án Sát viện đã có chủ mới. Tuần án mới đến tên là Chiêm Khoan, người Phúc Kiến. Ông không rõ những tranh chấp trước đó, chỉ thấy Pháp Xuân, Phật Hy muốn lật án.
Luật pháp Đại Minh cho phép lật án, và yêu cầu những vụ án có tính chất này phải được xét xử ở nơi khác. Vì phán quyết của hai huyện Hưu Ninh, Y trước đó là do đồng tri phủ Huy Châu ủy thác, nên vụ án này không thể ở lại Huy Châu. Chiêm Khoan suy nghĩ một lúc, quyết định chuyển vụ án này đến phủ Trì Châu.
Phủ Trì Châu thuộc Nam Trực Lệ, phạm vi tương đương với hai thành phố Trì Châu, Đồng Lăng ngày nay, nằm ngay phía tây của phủ Huy Châu.
Tại sao Chiêm Khoan lại chọn phủ Trì Châu, mà không phải phủ Ninh Quốc, điều này sử sách không ghi lại. Nhưng từ nhiều dấu hiệu có thể suy đoán, Pháp Xuân có lẽ đã ngầm ra tay.
Hối lộ Tuần án là một việc rất khó, nhưng cũng phải xem hối lộ để làm gì. Pháp Xuân không yêu cầu Chiêm Khoan làm trái pháp luật, mà chỉ yêu cầu Tuần án đại nhân trong phạm vi pháp luật cho phép, đưa ra một lựa chọn mà Pháp Xuân mong muốn. Đối với Chiêm Khoan, điều này không có chi phí và rủi ro.
Phủ Trì Châu rất coi trọng vụ án này, do tri phủ Hầu Giam đích thân triệu tập người, hồ sơ, giao cho một vị thôi quan họ Dương phụ trách xét xử cụ thể.
Pháp Xuân ở chỗ Hầu Giam hoặc Dương thôi quan cũng đã chi rất nhiều tiền. Lần này Pháp Xuân đã hiểu ra, chỉ dựa vào những mưu mẹo nhỏ trong quy tắc, không thể lật ngược tình thế, phải chi tiền. Dù sao ở Đại Minh, tiền bạc có thể thông thần, điều này ngay cả hoàng đế Gia Tĩnh đang tu đạo ở Bắc Kinh cũng hiểu.
Những chuyện xảy ra tiếp theo, không ai biết.
Vì bản gốc đã bị mất...
Là thế này, hồ sơ văn thư của loạt vụ án này được thu thập trong một cuốn sách gọi là *Dương Cán Viện Quy Kết Thủy Mạt*. Và phiên bản còn lại của cuốn sách này bị thiếu trang thứ mười bốn. Vì vậy, phủ Trì Châu rốt cuộc đã xét xử vụ án này như thế nào, đã không thể biết được nữa.
Chúng ta chỉ có thể lật đến trang thứ mười lăm, xem kết quả xét xử của phủ Trì Châu ra sao.
Ở đây có một bài tự thuật của La Hiển: "Không ngờ gian tăng cấu kết với Đường Văn Khôi, một kẻ chuyên lo lót nha môn, hối lộ quan lại. Đến ngày mười lăm tháng chín, cố tình kéo dài đến tối mới đến nơi, không thẩm vấn hàng xóm, không xem xét hồ sơ gốc, không lấy lời khai, tra tấn trái pháp luật."
Có thể tưởng tượng, La Hiển đang đối mặt với một tình thế tuyệt vọng đến mức nào.
Đầu tiên, thời gian mở phiên tòa vào buổi tối đã rất đáng ngờ. Vì phủ thành thời Minh có lệnh giới nghiêm ban đêm, canh một ba khắc đánh trống báo hiệu, cấm đi lại; canh năm ba khắc đánh chuông báo hiệu mới được đi lại. Canh một ba khắc là khoảng tám giờ tối bây giờ, đợi đến lúc mở phiên tòa vào buổi tối, dân chúng đã sớm về nhà hết – không có người xem, mới tiện làm việc.
Sau đó, vị quan chủ thẩm này, không hỏi nhân chứng, không xem hồ sơ, không nghe biện giải, trực tiếp đưa ra một kết luận, không điểm chỉ thì đánh.
Đây là những kết luận gì?
Yêu cầu La Hiển thừa nhận hối lộ, đã đưa cho Lý Đình Cương và những người khác mỗi người 50 lạng bạc để làm chứng gian; còn yêu cầu La Hiển thừa nhận, mộ tổ họ La là giả, không liên quan đến viện Dương Cán.
La Hiển tự nhiên thà chết không chịu, đòi xem lời khai. Không ngờ Dương thôi quan trực tiếp mua chuộc mấy thư lại, mỗi người một lạng bạc, trực tiếp sửa lời khai của hàng xóm trong hồ sơ. Tất cả các chữ "có mộ" đều được sửa thành "không có mộ", thực sự làm cho không còn kẽ hở.
Nói về vị Dương thôi quan này, tuyệt đối là một đao bút lại già dặn, ông ta đã viết một bài phán quyết dài, vô cùng đặc sắc, giống như một tiểu thuyết trinh thám. Đoạn văn này gần như là bạch thoại, người viết không dịch nữa, đặc biệt sao chép lại như sau.
Đối với vấn đề thật giả của mộ tổ họ La, ông ta phân tích như sau:
"Tra cứu các sách chí cũ mới của Tân An, đều ghi viện Dương Cán ở hương Hiếu Nữ, lý Chương Đoan, huyện Hấp, xây dựng năm Hàm Thông thứ hai đời Đường. Mà nay chùa không được ghi nhận. Sách chí và sổ sách đo đạc thời Hồng Vũ cùng với văn bản nền móng của chùa đều ghi rõ tài sản hiện có của chùa, không hề ghi có mộ La Thu Ẩn. Lại tra *Tân An Văn Hiến Chí*, có ghi hành trạng của Trình Thừa tướng, rõ ràng ghi con gái gả cho La Nãi, cũng không hề ghi có việc xây chùa để trông mộ. Chỉ có gia phả của La Hiển và *Bi Ký của Trình Thừa tướng* do ông ta đưa ra có ghi La Thu Ẩn được chôn ở sau chùa Dương Cán, hương Thông Đức... Tra cứu các văn bản, đều cho thấy La Thu Ẩn không có mộ thực sự."
Sau đó, Dương thôi quan lại chất vấn:
"Chùa Dương Cán từ thời Đường đến thời Tống đã di dời ba lần, La Thu Ẩn chết vào cuối thời Đường, dù được chôn ở Dương Cán, chưa chắc đã ở nơi di dời. Hơn nữa, họ La các triều trước đều có quan lớn, truyền đến gần đây, con cháu đông đúc, giàu có, đã là nơi chôn cất tổ tiên xa, sao không hàng năm thờ cúng? Sao không có người già truyền lại? Tra từ thời Hồng Vũ đến Hoằng Trị, nhiều lần xây dựng pháp đường, cách tiền điện chưa đầy bốn bước, nếu ở giữa có mộ, chắc chắn sẽ bị đè lên, nhà họ sao không có lời nào?"
Ông ta còn đến hiện trường khảo sát một vòng:
"Hơn nữa, đã là mộ cổ, ắt phải có dấu vết rõ ràng, nay gạch bùn xếp lộn xộn, bên trong là đất vàng, dài chỉ ba thước, cao rộng hơn một thước, ở giữa không chứa nổi một cánh tay người. Nếu trong gạch có thêm ván gỗ, quần áo, chỉ có thể chứa một lòng bàn tay, sao giống hình quách? Bên cạnh trải sỏi nhỏ, rõ ràng là đường đi trong chùa. Hơn nữa, Hấp vốn là vùng núi, dù chôn cất sơ sài, sao không có một đấu vôi, một viên đá dính vào?"
Dương thôi quan từ ba góc độ văn hiến, logic hành vi và hình dáng ngôi mộ, đã hoàn toàn phủ nhận sự tồn tại của mộ La Thu Ẩn.
Vậy ngôi mộ tổ hiện tại từ đâu mà có? Dương thôi quan đã có một ý tưởng táo bạo, đưa ra một câu chuyện như sau:
"La Hiển thấy chùa có phong thủy tốt, muốn chiếm đoạt, bịa ra rằng thủy tổ của mình là La Thu Ẩn được chôn trong chùa, sai La Tán, La Văn Thù mang gạch vụn đến, sửa chữa xây mộ. Sai Triệu điển sử sửa mộ xây từ đường, La Hiển và những người khác lén lút làm một tấm mộ chí, dẫn theo anh em, giả vờ sửa mộ, nhân cơ hội đào đất trước Quan Âm đường để vu vạ, bày tiệc mời Lý Đình Cương, Phạm Quỳnh Long, Vương Lâm, Lý Văn Hạo ăn. La Hiển nói: 'Mỗi người trước tiên đưa cho ba tiền một phân vàng, ba lạng bạc, khi ra tòa, chỉ nói Phật Hy mua chuộc các người, Uông Ninh và những người khác đều có. Lý Đình Cương và những người khác nghe theo, La Hiển lại đưa bạc, lụa và các vật phẩm khác tổng cộng khoảng một trăm hai mươi lạng làm quà tạ lễ, chia cho Lý Đình Cương, Phạm Quỳnh Long, Vương Lâm, mỗi người năm mươi lạng.'"
Không biết Pháp Xuân đã dùng bao nhiêu tiền để hối lộ Dương thôi quan, nhưng số tiền này tuyệt đối xứng đáng. Bài phán quyết này suy luận từng lớp, có bằng chứng, hợp tình hợp lý. Cây bút tài hoa của Dương thôi quan đã lật ngược một vụ án sắt.
Tuy nhiên, toàn bộ lý thuyết mà ông ta xây dựng còn có một lỗ hổng chí mạng, đó là mộ La Thu Ẩn.
Cơ sở lý thuyết của Dương thôi quan là mộ La Thu Ẩn do La Hiển làm giả, mọi suy luận đều dựa trên điểm này. Ngược lại, nếu mộ La Thu Ẩn là thật, bài phán quyết đặc sắc này sẽ tự sụp đổ.
Trước đây, trong các cuộc tranh chấp, viện Dương Cán chỉ phá hủy phần đất trên đỉnh mộ, chưa đào sâu xuống dưới. La Hiển nếu liều mình, yêu cầu quan phủ mở mộ nghiệm quan, đào ra hài cốt tổ tiên, vụ kiện này chắc chắn sẽ thắng.
Mà Dương thôi quan tâm tư cẩn mật, không thể không vá lại lỗ hổng này. Ông ta ngầm nhắc nhở Pháp Xuân, Pháp Xuân tìm đến hơn ba trăm cường hào địa phương, đêm khuya đốt lửa trong viện Dương Cán, lấy cớ khảo sát mà đào mộ, quả nhiên đào được gạch quách, mộ chí, nhưng không tìm thấy quan tài, hài cốt.
【Chú thích】
Chuyên quách: Tường xây bằng gạch.
Kết quả này có phần mơ hồ, giải thích thế nào cũng hợp lý.
Nhưng đến ngày hôm sau, tình hình lại thay đổi. Đám cường hào đó sáng sớm đã đến, dùng cuốc xẻng, trong chốc lát đã xóa sạch dấu vết của mộ La Thu Ẩn, chỉ để lại một mảnh đất bằng phẳng.
Lỗ hổng cuối cùng cũng đã được vá lại.
Rất nhanh, Dương thôi quan đắc ý tung ra kết luận: "(La Hiển) lại vu cáo, bịa đặt việc tăng nhân cắt xén hồ sơ, dẫn đến phán quyết như cũ. Bịa đặt lời khai, chiếm đoạt phong thủy."
La Hiển không ngờ rằng, lần xét xử này của phủ Trì Châu lại không hề che đậy, khiến tình thế đảo ngược một trăm tám mươi độ. Lợi thế của mình trong chốc lát đã tan thành mây khói.
Làm sao bây giờ?
Trong lúc cấp bách, ông nghĩ đến phủ Ninh Quốc.
Năm đó, vụ án này chính là được xét xử ở phủ Ninh Quốc, mới giúp họ La thắng kiện. Bây giờ, phán quyết của phủ Trì Châu là đang tát vào mặt phủ Ninh Quốc, nếu họ có thể tham gia, tình hình vụ án chắc chắn sẽ có chuyển biến.
Tiếc là phủ Ninh Quốc rõ ràng không có ý định dính vào vũng nước đục này. Đơn kiện của La Hiển gửi đến, người phụ trách trực tiếp chuyển về phủ Huy Châu. Còn phủ Huy Châu, vì vụ án này đã được Tuần án Chiêm đại nhân chuyển cho phủ Trì Châu xét xử, không tiện làm mất mặt Tuần án Sát viện, cũng chuyển đến phủ Trì Châu xét xử.
Đi một vòng, lại trở về điểm xuất phát.
Lúc này đã là tháng giêng năm Gia Tĩnh thứ mười hai (1533), gần hai năm đã trôi qua. La Hiển không còn lựa chọn nào khác, lại bước vào cửa Tuần án Sát viện, tìm Tuần án Chiêm Khoan đại nhân để đòi công bằng.
Trong mấy lần kiện tụng trước đây, La Hiển dựa vào việc kiện lên Tuần án Ngự sử mà chiếm hết lợi thế, lần này ông cảm thấy vẫn sẽ được phúc tinh chiếu cố. Nhưng ông không nghĩ rằng, người đã đá cả vụ án này đến phủ Trì Châu chính là vị Chiêm Khoan này. La Hiển tìm ông ta, chẳng phải là tự chui đầu vào rọ sao?
Trong đơn kiện lần này, La Hiển tuyên bố: phủ Trì Châu xét xử không công bằng, Dương thôi quan tham ô nhận hối lộ, Pháp Xuân phá hoại mộ tổ, xin được xử lý công bằng.
Chiêm Khoan thấy, ồ, vụ án này có liên quan đến quan viên rồi.
Như đã nói, theo luật Đại Minh, nếu một vụ án liên quan đến quan viên được kiện lên Tuần án, vụ án sẽ được chuyển đến cơ quan cấp trên của quan viên đó. Kiện quan huyện, thì chuyển cho phủ xử lý; kiện quan phủ, thì chuyển cho Bố chính sứ ty xử lý; kiện quan viên Bố chính sứ, thì chuyển cho Án sát sứ ty xử lý. Chỉ khi kiện quan viên Án sát sứ ty, không còn nơi nào để chuyển, Tuần án mới có thể tự mình xét xử.
Phủ Trì Châu cũng thuộc Nam Trực Lệ, Nam Trực Lệ không có Bố chính sứ ty và Án sát sứ ty, cơ quan tư pháp địa phương cấp trên của phủ chỉ có Ứng Thiên Tuần án Ngự sử. Vì vậy, lần này vụ án của La Hiển, Chiêm Tuần án có thể tự mình xét hỏi.
Chiêm Khoan cũng không khách sáo, trước tiên triệu tập Triệu điển sử của huyện Thái Bình đến, hỏi ông ta về việc xây mộ ở viện Dương Cán vào tháng sáu năm Gia Tĩnh thứ chín. Triệu điển sử không biết là do sợ hãi, hay là đã nhận được sự ám chỉ nào đó, nói năng ấp a ấp úng, nói rằng lúc đó La Hiển tự mình tìm hơn một trăm người đến xây mộ, bản thân chỉ đứng bên cạnh giám sát, La Hiển từng nói đã phát hiện gạch quách dưới lòng đất, bản thân chỉ nghe nói, chưa từng thấy.
Chiêm Khoan lại qua loa thẩm vấn vài câu, trực tiếp phán quyết. Nhưng kết quả của lần phán quyết này, dù là La Hiển hay Pháp Xuân, không ai ngờ tới.
Phán quyết như sau:
"Tôn sùng chính đạo, trừ bỏ tà ma, là việc đầu tiên của chính trị. Lừa dối công chúng, coi thường pháp luật, khó mà dung túng cho thói gian manh. Xét mộ tổ của La Hiển, theo như gia phả và các sách ghi lại, quả thực ở sau chùa, không nên ở trong chùa. Nay quả thực ở trong chùa, thì khi xây dựng chùa chiền, những người họ La đã quyên góp tiền bạc, tên tuổi ghi trên xà nhà, sao lại nỡ bỏ rơi tổ tiên, để cho tăng nhân chiếm giữ? Thực là chiếm đoạt của người khác, sao lại trách các bài niên giúp tăng nhân dựng cờ đỏ? Nên san bằng đất đó."
Chiêm Khoan vừa lên đã phủ nhận tính hợp pháp của mộ tổ. Dù như La Hiển chủ trương, mộ tổ có trước, chùa có sau, nay cũng nên dỡ bỏ. Viện Dương Cán bây giờ là chùa công cộng, có rất nhiều cư sĩ từ nơi khác đến quyên góp. Các người để mộ tổ trong chùa, người khác ngày ngày thắp hương, là cúng tổ tiên nhà các người hay cúng Phật tổ?
Sau đó, Chiêm Khoan chuyển bút, mắng cả La Thu Ẩn:
"Thu Ẩn, thời Đường chỉ là một thường dân, không biết có công đức gì với người đời, mà được lập miếu thờ riêng trăm đời sau, thực là vượt quá phận, theo luật phải phá hủy ngay. Lại xét viện Dương Cán tuy không phải mới xây, nhưng lại tạc tượng Phật bừa bãi, giống như dâm từ, lại là điều cấm kỵ hiện nay, càng nên phá hủy tất cả."
Khoan đã, ông mắng La Thu Ẩn thì thôi, sao lại muốn phá cả viện Dương Cán? Ông rốt cuộc là phe nào? Đừng vội, chúng ta hãy xem tiếp giải pháp của Chiêm Khoan:
"Sẽ đổi trung đường thành nơi thờ Tống Thừa tướng Trình Nguyên Phượng, vì có bài vị cũ. Phối thờ La Nãi, Địch Uy, Hiền Tôn, vì bia có ghi là thí chủ. Hai bên tả hữu thờ những người đã quyên góp, giúp đỡ, để cho thấy chùa này không phải của một nhà nào có thể chiếm giữ. Quan Âm đường đổi cho nhà chùa, thờ hương khói, mỗi bên vẫn như cũ, vì chùa có ruộng của chùa, vẫn phải nộp thuế. Đợi bản viện sẽ san bằng, xây lại, để có thể chỉ ra cái sai của hai nhà, cũng không phụ ý chí tôn sùng chính đạo, trừ bỏ tà ma của người xưa."
Không ngờ, không ngờ phán quyết của Chiêm Khoan lại là một kết quả kỳ lạ như vậy.
Mộ tổ họ La phải san bằng, Phật điện cũng không thoát. Các gian điện hiện có một nửa đổi thành nơi thờ Trình Nguyên Phượng và các bậc hiền nhân, một nửa để lại cho viện Dương Cán.
Điều này có chút khó hiểu. Trình Nguyên Phượng là cha vợ của La Nãi, đã có công lớn trong việc xây dựng viện Dương Cán, nhưng cũng không đến mức phải dời tổ tiên nhà họ La đi, thờ một người ngoài?
Chiêm Khoan phán quyết như vậy cũng có lý do. Ở triều Đại Minh, tổ tiên của bạn không phải ai cũng có thể lập từ đường thờ cúng. *Đại Minh Tập Lễ* có quy định rõ ràng: "Thường dân không có từ đường, chỉ có thể đặt bài vị hai đời trong nhà, hoặc dùng phòng khác để thờ." Tức là, tổ tiên của bạn dù là triều đại nào, nếu không có thân phận quan lại, thì không có tư cách được lập từ đường thờ cúng, con cháu chỉ có thể đặt bài vị trong nhà để cúng bái.
Thử nghĩ xem, nếu tổ tiên của bất kỳ ai cũng có thể lập từ đường thờ cúng, chẳng phải Đại Minh sẽ đầy rẫy từ đường sao?
La Thu Ẩn thời Đường là thường dân, nên Chiêm Khoan cho rằng mộ và mộ từ của La Thu Ẩn trong viện Dương Cán là dâm từ, nên cấm. So với đó, Trình Nguyên Phượng, người viết bia cho nhà họ La, là Hữu Thừa tướng đường đường của Đại Tống, Chiêm Khoan cảm thấy thà thờ Trình còn hơn thờ La.
Chiêm Khoan cao minh hơn Dương thôi quan ở chỗ, ông không sa đà vào những suy luận chi tiết, mà đi thẳng vào cốt lõi của lễ pháp, dùng ý thức hệ như núi Thái Sơn đè xuống, khiến người ta không thể biện giải, cũng không dám phản bác. Phải biết rằng, Đại Minh lấy lễ lập quốc, mọi việc một khi đã nâng lên tầm đạo đức, thì không còn lý lẽ gì để nói nữa.
Tất nhiên, Chiêm Tuần án đối với viện Dương Cán cũng không có thiện cảm. Ngay từ năm Hồng Vũ thứ hai mươi bốn, Chu Nguyên Chương đã ban hành một đạo *Quy Tịnh Lệnh*, yêu cầu các chùa chiền trên toàn quốc phải hợp nhất, ba mươi người trở lên mới được thành chùa, và phải là các chùa cũ từ trước thời Minh, các am, chùa mới xây đều phải dẹp bỏ.
Mặc dù viện Dương Cán thuộc loại chùa cũ, nhưng tượng Phật trong Phật điện lại là mới xây, cũng được coi là "giống như dâm từ". Chiêm Khoan viện dẫn *Quy Tịnh Lệnh*, yêu cầu họ phải chỉnh đốn trong thời hạn, giao ra một nửa tài sản của chùa.
Pháp Xuân không ngờ rằng, tưởng chừng đã thấy được ánh sáng của thành công, lại gặp phải một vị đại thần chính trực, không thiên vị bên nào. Trong phán quyết có một câu "để cho thấy chùa này không phải của một nhà nào có thể chiếm giữ", chính là kết quả mà Pháp Xuân hằng mong ước, có thể hoàn toàn đuổi gia tộc họ La ra khỏi viện Dương Cán – chỉ là cái giá quá đắt, mất đi nửa ngôi chùa.
Ngoài chuyện mộ tổ, còn có chuyện chín vị bài niên liên quan đến hối lộ đang chờ xử lý.
Chiêm Khoan cũng lười phân biệt kỹ lưỡng, phán cho La Hiển, Pháp Xuân và chín vị bài niên đều bị phạt trượng, đi đày. May mà những hình phạt này nhanh chóng được ân xá, vì đúng lúc tháng tám hoàng đế Gia Tĩnh sinh được một người con trai, đặt tên là Chu Tái Cơ, đại xá thiên hạ – vận may của họ thật tốt, gặp đúng thời điểm, nếu bị phán muộn hai tháng, kết quả có lẽ sẽ rất khác, vì Chu Tái Cơ sinh ra chưa đầy hai tháng đã chết yểu.
Còn về việc ai đã hối lộ chín vị bài niên, cuối cùng cũng không điều tra rõ, cứ thế mà cho qua.
Tháng mười hai năm Gia Tĩnh thứ mười hai, Ứng Thiên Tuần án Sát viện gửi một công văn cho phủ Huy Châu, yêu cầu họ theo phán quyết, nhanh chóng đến viện Dương Cán san bằng mộ, phá chùa. Phủ Huy Châu nhận được, thấy trên công văn còn có chỉ thị của Tuần phủ Đô Ngự sử Trần Thức "thi hành theo chỉ thị của Tuần án nha môn", lập tức hiểu ra, hai viện đã đạt được sự đồng thuận về vấn đề này.
Thực ra, Trần Thức sau khi đồng tri Huy Châu Lý Bang kết thúc vụ án, cũng đã phê duyệt đồng ý. Bây giờ ông lại đồng ý với phán quyết của Chiêm Khoan, có chút tự tát vào mặt mình. Nhưng Trần Thức cũng không còn cách nào khác, Tuần án tuy cấp bậc thấp hơn Tuần phủ, nhưng không cùng một hệ thống hành chính, nếu thực sự đối đầu trong lĩnh vực tư pháp, Tuần phủ cũng phải nhường Tuần án ba phần.
Có sự thúc giục của hai viện, phủ Huy Châu không dám chậm trễ, cử một vị thông phán họ Trương đến viện Dương Cán giám sát, san bằng mộ của La Thu Ẩn lần thứ hai. Sau đó, họ phá hủy Phật điện, chỉ để lại Quan Âm đường cho các tăng nhân lễ Phật.
Pháp Xuân và La Hiển nhìn tất cả những điều này, trăm mối cảm xúc. Hai người đấu tranh từ năm Gia Tĩnh thứ bảy đến năm Gia Tĩnh thứ mười hai, lại là một kết cục cả hai cùng thua.
Đối mặt với kết cục này, Pháp Xuân có lẽ đã từ bỏ, còn La Hiển thì một năm sau, lại vực dậy tinh thần.
Vì ông vô tình phát hiện ra một sự thật nhỏ.
Trong đêm Trịnh Lai Bảo bị đánh chết, các hòa thượng của chùa Dương Cán khăng khăng nói rằng có hai tăng nhân là Phật Viên, Năng Nghê bị nhà họ La đánh chết, nhưng luôn không thấy thi thể; sau đó khi hai huyện Hưu Ninh, Y xét xử, xác định hai người bệnh chết; sau này khi phủ Trì Châu xét xử, Pháp Xuân lại lấy hai hòa thượng này ra nói chuyện, tố cáo là do La Lộc giết, sau đó bị Chiêm Tuần án chứng minh là không có thật.
Vậy hai người này rốt cuộc đã đi đâu? La Hiển cũng đã tự mình điều tra, kết quả điều tra khiến ông vô cùng kinh ngạc.
Còn nhớ lai lịch của Pháp Xuân không? Ông ta vốn là con trai trưởng của một gia đình tuyệt tự ở huyện Hưu Ninh, trốn đến viện Dương Cán được Phật Hải thu nhận, lén lút vào tăng tịch. Huyện Hưu Ninh từng đến tìm, yêu cầu ông ta trở về đăng ký hộ khẩu, không biết vì sao lại không truy cứu đến cùng.
Sự thật mà La Hiển tìm ra là: Phật Viên, Năng Nghê đã chết từ nhiều năm trước, viện Dương Cán lại luôn làm giả tăng tịch, để họ sống trong sổ sách. Huyện Hưu Ninh gửi công văn đến viện Dương Cán, yêu cầu Pháp Xuân hoàn tục trở về đăng ký hộ khẩu, Pháp Xuân hoặc Phật Hải bèn mua chuộc một lý lão ở huyện Hưu Ninh là Trịnh Ngạn Nho, xóa bỏ tăng tịch của một trong hai người Phật Viên, Năng Nghê, giả vờ hoàn tục, ghi khống vào sổ sách của Trịnh Ngạn Nho. Một người trốn đi, một người trở về, sổ sách cân bằng, đủ để cho huyện Hưu Ninh một lời giải thích.
Qua một loạt thao tác như vậy, hòa thượng chết vào sổ người sống, Pháp Xuân bèn rửa sạch thân phận.
Lần này đối đầu với họ La, Pháp Xuân lại dùng chiêu cũ, để hai vị lao công Phật Viên, Năng Nghê "chết" thêm một lần nữa, mượn cớ đó để vu oan cho họ La.
La Hiển cho rằng đây là một bằng chứng tuyệt vời, dựa vào nó nhất định có thể lật đổ Pháp Xuân! Ông phấn chấn tinh thần, định tiếp tục kiện cáo, nhưng viết xong đơn kiện lại phát hiện, không còn đường nào để đi.
Vụ án này lần cuối cùng là do Tuần án Ngự sử Chiêm Khoan tự mình xét xử, Tuần phủ Đô Ngự sử Trần Thức ký tên, có thể coi là phán quyết cuối cùng. La Hiển muốn kháng cáo, ở địa phương đã không còn cơ quan tư pháp nào cao hơn hai viện. Con đường này không thông.
Khoan đã.
Ở địa phương không có, vậy kinh thành thì sao?
Kinh thành có Hình bộ, Đại lý tự, Đô sát viện ba cơ quan tư pháp, còn có một xưởng một vệ, còn có các các lão, lên nữa... còn có hoàng thượng.
La Hiển nảy ra một ý tưởng vô cùng táo bạo: hay là chúng ta đi khiếu nại lên trung ương!
Việc lên kinh thành kiện cáo, các triều đại đều có. Thời Hán gọi là "nghệ khuyết", thời Đường có "đầu quỹ trạng", "yêu xa giá", thời Tống gọi là "nghệ đài tỉnh", thời Thanh gọi là "kinh khống". Ở triều Đại Minh, khiếu nại lên trung ương có một thuật ngữ chuyên môn, gọi là "kinh tố".
Vượt cấp kiện tụng đã rất kiêng kỵ, kinh tố lại càng nhạy cảm hơn.
Ngay từ những năm Hồng Vũ, Chu Nguyên Chương từng ban hành Đại cáo cho dân chúng, đội Đại cáo trên đầu có thể trực tiếp vào kinh thành kêu oan. Nhưng rất nhanh "tiểu dân nhiều người vượt cấp kiện lên kinh sư, đến khi tra xét sự việc, thường không thật, bèn nghiêm cấm việc vượt cấp". Từ đó về sau, các hoàng đế Đại Minh đối với kinh tố đều rất thận trọng. Dân chúng có thể khiếu nại, nhưng dù sự việc có thật hay giả, người khiếu nại đều phải bị hỏi tội.
May mà phủ Huy Châu có truyền thống kiện tụng mạnh mẽ, ý thức pháp luật và kiến thức của dân chúng rất phong phú. La Hiển và gia tộc họ La nghiên cứu nửa ngày, trong luật Đại Minh tìm được một điều như sau:
"Các nơi quân dân tấu trình việc oan uổng, nếu đã từng được Tuần án Ngự sử, Bố chính, Án sát hai ty quan viên xét xử... sai người nhà mang tấu cáo, thì miễn tội, cấp giấy thông hành cho về."
Tức là, nếu vụ án khiếu nại đã từng được Tuần án Ngự sử hoặc Bố chính sứ ty, Án sát sứ ty thụ lý, thì người khiếu nại có thể được miễn tội. Điều này về mặt pháp lý có thể hiểu được, vì sau khi bị ba cơ quan này từ chối, dân chúng không còn nơi nào để kháng cáo nữa, chỉ có thể lên kinh thành.
La Hiển rất vui mừng. Vụ án viện Dương Cán này, phán quyết cuối cùng chính là do Tuần án phán, hoàn toàn phù hợp với quy định này. Nhưng chưa vui được bao lâu, ông phát hiện quy định này còn có một phạm vi áp dụng:
"Các việc liên quan đến quân dịch, hộ tịch, hôn nhân, ruộng đất, nếu đã từng được cấp trên xét xử không rõ ràng, hoặc đích thân hay sai người nhà già trẻ, phụ nữ mang tấu cáo, đều bị hỏi tội, cấp giấy thông hành cho về, đơn kiện chuyển cho quan phủ quê nhà, chờ người đến xét hỏi."
Triều đình công việc bận rộn, không thể nhận tất cả các vụ khiếu nại vặt vãnh. Nếu bạn liên quan đến đại nghịch hoặc án mạng, thì áp dụng quy định miễn tội vừa rồi; nếu bạn khiếu nại vì ruộng đất, hôn nhân, hộ tịch, xin lỗi, vẫn bị hỏi tội, còn phải trả về quê nhà.
Vụ án viện Dương Cán này, tranh chấp cốt lõi là vị trí mộ tổ nhà họ La, thuộc loại ruộng đất, tự nhiên không thể được miễn tội.
Thôi, mừng hụt.
Nhân tiện nói một chuyện vui không liên quan, luật Đại Minh đôi khi khá phân biệt vùng miền. Trong *Hoằng Trị Vấn Hình Điều Lệ* có một quy định về "kinh tố": "Khách nhân ở Giang Tây và các nơi khác, buôn bán ở các nơi, nếu có nợ nần, chỉ được phép kiện ở quan phủ sở tại, xét xử. Nếu có vượt cấp lên kinh thành tấu cáo, thì hỏi tội, trả về. Đơn kiện không hỏi thật giả, lập án không xử lý." Đặc biệt chỉ rõ người Giang Tây làm ăn kiện tụng, không được khiếu nại lên trung ương, nếu không sẽ bị hỏi tội, còn không được lập án.
Tại sao lại đối xử tệ với họ như vậy? Ngay từ trong *Giáo Dân Bảng Văn* của Chu Nguyên Chương đã tiết lộ: "Dân chúng ở hai Chiết Giang, Tây Giang và các nơi khác, nhiều người thích kiện tụng, dù là việc nhỏ, không thể nhẫn nhịn, trực tiếp lên kinh thành kiện cáo." Không phải không nhận vụ án của các người, mà là các người quá thích kiện cáo, chuyện nhỏ như con thỏ cũng chạy lên kinh thành khiếu nại, triều đình thực sự không thể lo xuể...
Trở lại chuyện chính.
Người nhà họ La nghiên cứu nửa ngày, phát hiện dù thế nào cũng phải hy sinh một người, mới có thể hoàn thành việc khiếu nại này. La Hiển tuổi đã cao, chắc chắn không chịu nổi cảnh tù đày, pháp luật cũng không cho phép người già kinh tố, phải cử một người trẻ tuổi, khỏe mạnh, chịu đòn đi kinh thành. Cuối cùng, cháu của La Hiển là La Hưng đứng ra, quả quyết nói tôi sẽ đi.
Thế là La Hiển cẩn thận chuẩn bị một tờ đơn kiện, viết chi tiết toàn bộ nguyên nhân, hậu quả, bằng chứng, biện luận của cuộc tranh chấp, cuối cùng còn đính kèm tội danh mới của Pháp Xuân là làm giả hộ khẩu, thay đổi thân phận.
La Hưng mang theo tờ đơn kiện này, từ huyện Hấp xa xôi ngàn dặm hướng về kinh thành. Lúc đó là năm mới Gia Tĩnh thứ mười bốn.
Dân thường xem kịch quen rồi, cứ nghĩ kiện vua là thấy xe vua, giơ cao đơn kiện, hét lớn một tiếng oan uổng, rồi chặn đường.
Thực ra làm như vậy rủi ro rất cao. Chưa nói đến việc bạn xông lên, có khả năng rất lớn sẽ bị lính gác đánh chết, dù may mắn không chết, *Đại Minh Luật - Binh Luật - Cung Vệ* đối với hành vi chặn xe vua này cũng có quy định nghiêm khắc: "Nếu xông vào trong nghi trượng mà việc kiện không thật, thì xử giảo."
Các loại kinh tố khác, nhiều nhất là bị đánh trượng hoặc đi đày, loại này thì trực tiếp xử giảo.
Vậy tôi không tìm hoàng thượng, mà trực tiếp kêu oan ngoài hoàng thành thì sao?
Cũng không được.
"Tự ý vào trong các cửa Ngọ Môn, Trường An kêu oan, phụng chỉ tra xét được thật, thì hỏi tội, đeo gông một tháng; nếu là giả, thì đánh một trăm trượng, phát đi biên ải sung quân."
Có thể thấy, kêu oan ở hoàng thành cũng là một hành động có rủi ro cao.
Việc kinh tố này, đòi hỏi người khiếu nại phải có lòng dũng cảm rất lớn, đồng thời cũng cần một số kỹ năng. La Hưng khoảng tháng hai, tháng ba đến kinh thành, ông rõ ràng đã được cao nhân chỉ điểm, không chặn xe vua, cũng không đến cửa thành kêu oan, mà tìm đúng con đường duy nhất để kinh tố – Thông chính ty.
Thông chính ty làm gì? Nó "quản lý việc nhận các tấu chương trong ngoài, trình tấu, phong bác, các việc như dân chúng bốn phương trần tình, kiến nghị, khiếu nại oan ức, hoặc tố cáo việc phi pháp, thì sao chép vào sổ sách, mang đơn kiện trình lên". Điều này có chút giống như sự kết hợp giữa văn phòng trung ương và cục khiếu nại, phụ trách việc tiếp nhận, thẩm tra, phân phối các loại văn thư của triều đình và địa phương, phạm vi chức trách vừa hay bao gồm cả việc tiếp nhận các loại khiếu nại "oan ức" này.
Mặc dù Thông chính ty chỉ phụ trách chuyển văn thư cho các cơ quan liên quan, bản thân không có quyền quyết định, nhưng đây là một quy trình thẩm tra cần thiết. Nếu không có dấu của Thông chính ty, dù bạn có oan ức đến trời, Hình bộ, Đại lý tự và Đô sát viện cũng sẽ không thụ lý đơn kiện của bạn.
La Hưng tìm đúng cửa, thuận lợi đưa đơn kiện vào Thông chính ty. Thông chính ty sau khi thẩm tra, nhận văn kiện, chính thức bước vào quy trình kinh tố. Sau đó, Thông chính ty trói La Hưng lại, ném vào tù... Đừng quên, kinh tố là hành vi vi phạm pháp luật, không hỏi sự thật của vụ án, bạn đều phải ngồi tù.
Ngày mười hai tháng tư, Thông chính sứ Trần Kinh tại Phụng Thiên môn tấu trình vụ án viện Dương Cán lên thiên tử. Hoàng đế Gia Tĩnh đọc xong đầu đuôi câu chuyện, chợt nhớ lại một chuyện cũ.
Gia Tĩnh vừa lên ngôi, đã xảy ra một sự kiện "Đại lễ nghị". Nói đơn giản, Gia Tĩnh vốn là con trai của Hưng Hiến vương, em họ của hoàng đế Chính Đức. Sau khi Chính Đức qua đời, không có con nối dõi, các đại thần bèn mời ông đến kinh thành làm hoàng đế. Sau khi Gia Tĩnh lên ngôi, các triều thần nói rằng ngài như vậy là đã đổi dòng dõi, phải nhận bác là hoàng đế Hoằng Trị làm cha, đối với cha ruột Hưng Hiến vương thì đổi gọi là hoàng thúc, nếu không tế thái miếu sẽ không hợp thể thống. Gia Tĩnh không chịu, kiên quyết không đổi cách xưng hô, còn muốn truy tôn cha ruột làm hoàng đế. Ông đấu tranh với các triều thần mấy năm, cuối cùng giành thắng lợi. Hưng Hiến vương được một danh hiệu là "Hoàng khảo Cung Mục Hiến hoàng đế", bài vị được đặt trong Quan Đức điện của hoàng thành.
Gia Tĩnh là một người con hiếu thảo, đối với những việc như kế thừa dòng dõi, thờ cúng tổ tiên có một tình cảm đặc biệt. Đúng sai của vụ án viện Dương Cán, Gia Tĩnh không thể phán đoán. Nhưng ông đối với hành vi liều mình bảo vệ mộ tổ của gia tộc họ La rất có cảm tình, thậm chí còn có sự đồng cảm. Trẫm năm đó chẳng phải cũng đã liều mạng mới bảo vệ được bài vị của cha ruột sao?
Hơn nữa... vụ án này, thực sự rất hợp ý trẫm.
Lúc La Hưng lên kinh thành khiếu nại, hoàng đế Gia Tĩnh đang suy nghĩ về việc xây thêm một miếu hiệu cho cha ruột, để ông được danh chính ngôn thuận vào hưởng tế ở thái miếu. Lúc này, thủ đoạn chính trị của ông ngày càng thành thục, biết rằng việc này không nên cưỡng ép, nhất định phải làm theo từng bước.
Mọi thứ đã được lên kế hoạch.
Theo kế hoạch của hoàng đế Gia Tĩnh, vào năm Gia Tĩnh thứ mười lăm (1536) sắp tới, Lại bộ Thượng thư Hạ Ngôn sẽ dâng một tấu sớ *Thỉnh định công thần phối hưởng cập lệnh thần dân đắc tế thủy tổ lập gia miếu sớ*, liên tiếp đưa ra ba đề nghị – "định công thần phối hưởng", "xin chiếu cho thần dân thiên hạ ngày đông chí được tế thủy tổ", "xin chiếu cho thần công thiên hạ xây dựng gia miếu", đề nghị nới lỏng lệnh cấm tế tự tông miếu, ban ơn cho thiên hạ, cho phép dân chúng tế tự tổ tiên mấy đời trở lên.
Trong đó, câu quan trọng nhất là: "Thần dân không được tế thủy tổ, tiên tổ, mà miếu chế cũng chưa có quy định, những người con hiếu cháu thảo trong thiên hạ, vẫn còn những điều chưa được bày tỏ." Đây là nguyên văn của Hạ Ngôn, cũng không phải là không phải là tiếng lòng của hoàng đế Gia Tĩnh. Sau khi Hạ Ngôn dâng sớ, hoàng đế Gia Tĩnh lập tức thuận nước đẩy thuyền, hạ chỉ cho phép dân gian liên kết tông tộc lập miếu, tế tự thủy tổ.
Tin tức này chỉ cần truyền ra, các tông tộc trên toàn quốc nhất định sẽ vui mừng, hưởng ứng nhiệt liệt. Các triều thần không thể phản đối, ai dám nói mình không muốn cúng bái tổ tiên? Dưới sự che chở của làn sóng mở cửa tế tự ở các nơi, hoàng đế Gia Tĩnh có thể thuận lý thành chương truy tôn miếu hiệu cho cha ruột.
Mộ tổ họ La này, chính là vì vi phạm lệnh cấm tế tự, mới bị Chiêm Khoan phá hủy. Đối với hoàng đế Gia Tĩnh, đây có thể nói là buồn ngủ gặp chiếu manh. Ông có thể mượn vụ án này để ngầm thể hiện thái độ, thổi gió trước, tuyên truyền tạo đà cho việc mở cửa tế tự vào năm sau.
Hơn nữa, La Hiển kiện là viện Dương Cán, đó là chùa của Phật giáo, đối với hoàng đế Gia Tĩnh một lòng say mê tu đạo, cũng không có gì phải lo ngại, có khi còn thầm vui trong lòng.
Nghĩ đến đây, hoàng đế Gia Tĩnh hạ chỉ, giao cho Đô sát viện xử lý vụ án này.
Tâm tư của hoàng đế chính là tâm tư của triều đình. Ai cũng thấy được thái độ của Gia Tĩnh, nếu không sao lại đặc biệt hạ chỉ? Thế là vụ án viện Dương Cán này trong quy trình tư pháp diễn ra rất nhanh, từ Đô sát viện chuyển đến Hình bộ, rồi đến Đại lý tự thẩm tra, rất nhanh đã có ý kiến xử lý đối với La Hưng.
La Hưng vượt cấp lên kinh thành, theo luật phải bị tội. Đô sát viện Quảng Tây đạo – đây là tên cơ quan, không phải chỉ khu vực – phán quyết phạt trượng đối với phạm nhân, nhưng pháp ngoại khai ân, giảm một bậc. Công việc thi hành cụ thể giao cho cơ quan tư pháp cao nhất ở kinh thành – Thuận Thiên phủ. Thuận Thiên phủ sau khi phạt trượng La Hưng, cấp cho anh ta một giấy thông hành, để anh ta trở về quê nhà chờ xét xử.
Tiếp theo, ngày mười bốn tháng năm, Đô sát viện công bố ý kiến xử lý vụ án La Hiển, La Hưng kiện viện Dương Cán xâm phạm mộ tổ họ La: chuyển cho Ứng Thiên Tuần án Ngự sử Tống Mậu Hy, yêu cầu ông ta tự mình xét xử.
Thật là một giọng điệu quan liêu qua loa, đây không phải là đá bóng đi sao?
Những vụ án khiếu nại như thế này, triều đình thường không đưa ra phán quyết, mà trả về quê nhà, chỉ định quan viên địa phương xét xử, đó là thông lệ của quan trường.
Nhưng nếu thực sự cho rằng đó là qua loa, thì đã quá coi thường tâm tư của các quan liêu Đại Minh. Đạo làm quan, chú trọng "ngầm hiểu trong lòng", nhiều việc không thể nói rõ, chỉ có thể tự mình suy đoán qua những chi tiết nhỏ.
Giọng điệu quan liêu, cũng phải xem nói thế nào.
Trong văn bản trông có vẻ lạnh lùng này, Đô sát viện đã viết một đoạn dặn dò: "Tuân theo chỉ thị gần đây... tự mình khiêm tốn thẩm tra, không câu nệ vào án cũ, nếu có oan khuất, thì phải biện minh. Có tội phạm, thì theo luật định tội. Không được chuyển cho quan viên khác, để tránh trì hoãn. Cũng không được cố chấp ý kiến riêng, vu oan giá họa."
Đoạn chỉ thị này, mỗi chữ đều trông như giọng điệu quan liêu tiêu chuẩn, không có bất kỳ khuynh hướng nào, nhưng suy nghĩ kỹ lại, sẽ thấy được ý nghĩa sâu xa.
"Tuân theo chỉ thị gần đây" có nghĩa là theo tinh thần của chỉ thị cao nhất. Đây là một cái mũ lớn, để người đọc biết ai là người ra lệnh.
"Không câu nệ vào án cũ", là để Tống Mậu Hy không viện dẫn phán quyết trước đó, có nghĩa là hoàng đế không hài lòng với phán quyết của Chiêm Khoan, phải làm ngược lại; "nếu có oan khuất, thì phải biện minh", ai oan khuất nhất, tự nhiên là khổ chủ nhà họ La đã lên kinh thành kiện cáo; "cũng không được cố chấp ý kiến riêng, vu oan giá họa", đây là đã định sẵn giọng điệu của vụ án này, nếu bạn không phán theo ý trên, thì trên sẽ cho rằng bạn cố chấp, vu oan.
Trong mắt người tinh tường, thái độ này đã được thể hiện đủ rõ ràng, triều đình chỉ thiếu nước nói thẳng ra là tôi ủng hộ nhà họ La.
Nếu quan viên thụ lý còn không hiểu, thì hãy nghĩ lại, có mấy vụ án khiếu nại, có thể do người đứng đầu Thông chính ty trịnh trọng trình lên hoàng thượng? Quy trình đó bản thân nó đã truyền đi một thông điệp quan trọng.
Thái độ của hoàng đế, Đô sát viện "ngầm hiểu"; văn thư của Đô sát viện, Ứng Thiên Tuần án Ngự sử cũng "ngầm hiểu". Tống Mậu Hy là một tay lão luyện, ông cảm thấy vụ án này đã được hoàng thượng quan tâm, tốt nhất là không nên dính vào. Ông lập tức hạ văn, chuyển vụ án này lại cho phủ Ninh Quốc, xét xử lại.
Quy trình này, trông có vẻ không khác gì lần trước, nhưng ý nghĩa chính trị ẩn chứa đằng sau lại hoàn toàn khác. Vốn chỉ là một vụ kiện của dân làng địa phương, nay lại trở thành một điển hình phối hợp với tình hình tuyên truyền của trung ương. Đại Minh ta luôn lấy nhu cầu chính trị làm hàng đầu, tư pháp gì đó chỉ là hình thức. Đối với điều này, phủ Ninh Quốc tự nhiên cũng sâu sắc "ngầm hiểu".
Vấn đề tư pháp, giải quyết bằng chính trị, thắng bại của vụ kiện này, thực ra đã được định đoạt trước khi bắt đầu xét xử.
Lần xét xử này của phủ Ninh Quốc hiệu quả chưa từng có, chưa đầy mấy ngày phán quyết đã được đưa ra. So với phán quyết của Chiêm Khoan năm đó, có thể nói là một cú quay ngoắt ngoạn mục:
"Phán cho La Hiển và những người khác được sửa chữa lại mộ, chôn bia đá, thờ cúng trước mộ, không được sửa chữa ở hai bên mộ."
Mộ tổ họ La, lại một lần nữa trở lại trong viện Dương Cán một cách huy hoàng.
Vụ án chín bài niên nhận hối lộ cũng được xét xử xong, là do Phật Hy làm, mỗi người bị truy thu tang vật. Còn về việc phủ Trì Châu xét xử ra cái gọi là "La Hiển hối lộ chín bài niên mỗi người năm mươi lạng", hoàn toàn là vu oan giá họa.
Đối với vấn đề không tìm thấy quan tài trong mộ tổ họ La ở viện Dương Cán, phủ Ninh Quốc cũng rất chu đáo giải thích: "Vì mộ cũ từ thời Đường Tống đến nay đã mấy trăm năm, tang lễ hậu hĩnh hay sơ sài, chôn cất sâu hay cạn, thực không thể biết. Hài cốt cũ đã lâu, tiêu tan hết, hóa thành đất bùn, cũng là lẽ thường."
Hay thật, La Hiển còn chưa giải thích, họ đã tự động suy diễn rồi, thật là chu đáo.
Phán quyết của phủ Ninh Quốc được gửi đến Tuần án Sát viện, Tống Mậu Hy rất hài lòng, chỉ thị rằng: "Chùa vì mộ mà xây, mộ vì chùa mà bỏ, nói theo lý, phá chùa giữ mộ thì được, bỏ mộ giữ chùa thì không được."
Thông thường đối với các vụ án được chuyển giao, Tuần án chỉ cần phê duyệt là đủ, Tống Mậu Hy viết nhiều như vậy, là để xác định rõ tính chất của mộ La Thu Ẩn và viện Dương Cán, để cho kẻ gian không thể lật án. Hơn nữa, vụ án này là kinh tố, kết quả phán quyết phải báo cáo lên Đô sát viện, hoàng thượng nhất định sẽ thấy, nhân cơ hội này viết thêm vài dòng, tỏ ra trung thành, tận tâm.
Thế là vụ án kéo dài tám năm, kiện tụng bảy lần này, đã kết thúc với chiến thắng của dòng Hậu La ở Trình Khảm. La Hiển trăm năm sau, có thể không hổ thẹn với suối vàng.
Nghĩ đến những gian khổ của ông trong tám năm qua, không thể không cảm khái một câu: chiến thắng của gia tộc họ La, tất nhiên phải dựa vào sự nỗ lực của La Hiển và những người trong tộc, đồng thời cũng phải xem xét đến tiến trình của lịch sử.
À, còn một người nữa chưa nói đến.
Pháp Xuân.
Ông ta đã hoàn toàn thất bại, không phải thua La Hiển, mà là thua hoàng đế Gia Tĩnh. Dưới áp lực của phủ Ninh Quốc, Pháp Xuân đã viết một bài khai nhận rất dài, từ góc độ của mình kể lại toàn bộ nguyên nhân, quá trình của cuộc tranh chấp.
Nhưng Pháp Xuân không biết đã dùng chiêu gì, mà lại thoát khỏi sự trừng phạt.
Trong phán quyết của phủ Ninh Quốc, La Hiển và Pháp Xuân đều có hành vi tấu sự không thật, người trước bị đánh chín mươi trượng, người sau bị đánh tám mươi trượng, nhưng được phép nộp phạt để trừ. Tội danh của La Hiển lại còn nặng hơn Pháp Xuân một chút. Sau đó, La Hiển nộp 30 thạch gạo mới được trừ hình phạt; Pháp Xuân có thân phận quan lại, chỉ nộp 7 thạch.
Hơn nữa, mộ tổ họ La được giữ lại, viện Dương Cán cũng không bị ảnh hưởng gì. Trong phán quyết của phủ Ninh Quốc có một điều: "Quan Âm đường, Phật điện và đất đai của chùa, vẫn để cho tăng nhân Pháp Xuân và những người khác tiếp tục kinh doanh, tu hành."
Trả lại Quan Âm đường, Phật điện cho viện Dương Cán, là vì họ La từ đầu đến cuối không hề chủ trương quyền sở hữu đối với viện Dương Cán; hình phạt đối với tội ác của Pháp Xuân nhẹ như vậy, là vì ông ta luôn ẩn sau màn, phần lớn hành động đều thông qua Phật Hy và những người khác.
Tuy nhiên, có lẽ còn một cách giải thích khác.
Lần phán quyết này của phủ Ninh Quốc rất toàn diện, chỉ có một vụ án – vụ Trịnh Lai Bảo bị đánh chết – bị bỏ sót. Theo lẽ thường, lần phán quyết này thiên vị La Hiển như vậy, vụ án mạng quan trọng như thế sao có thể không nhắc đến? Nhớ lại khi hai huyện Hưu Ninh, Y cùng xét xử, đã phán quyết Trịnh Lai Bảo thuộc loại bệnh chết, cũng không điều tra sâu. Có thể thấy dù là phủ Huy Châu hay phủ Ninh Quốc, trong vụ án này đều không ủng hộ chủ trương của La Hiển.
Vì vậy, có khả năng, Trịnh Lai Bảo thực sự là bệnh chết đột ngột, nhưng bị La Hiển dùng để bôi nhọ viện Dương Cán, mà hai phủ Huy Châu, Ninh Quốc không bị La Hiển lừa gạt, cho rằng vụ án mạng này không tồn tại, Pháp Xuân mới không bị phạt nặng?
Chưa kể La Hiển đã bị phán tội "tấu sự không thật" mấy lần, có lẽ đều liên quan đến vụ án Trịnh Lai Bảo.
Đối với toàn bộ sự kiện viện Dương Cán, chúng ta phải giữ một nhận thức tỉnh táo: tất cả các tài liệu về vụ án này đều xuất phát từ cuốn *Dương Cán Viện Quy Kết Thủy Mạt* do La Hiển biên soạn, nội dung không thể tránh khỏi việc tường thuật từ lập trường chủ quan của họ La. Họ có che giấu lỗi lầm, có phóng đại hay không, không thể biết được. Pháp Xuân chưa chắc đã xấu xa đến thế, còn La Hiển, cũng không phải là một chú thỏ trắng hiền lành.
Sự phức tạp và hấp dẫn của lịch sử, có lẽ nằm ở đây.
Dù sao đi nữa, sau một hồi lộn xộn, tình hình đã trở lại điểm xuất phát của năm Gia Tĩnh thứ sáu. Các tăng nhân của viện Dương Cán vẫn tụng kinh lễ Phật trong chùa; gia tộc họ La vẫn hàng năm đến mộ tổ cúng bái. Ngôi mộ lẻ loi và ngôi chùa cổ cuối cùng cũng không tách rời, vẫn như xưa.
Vụ kiện viện Dương Cán đã kết thúc, nhưng tiến trình của lịch sử vẫn tiếp tục.
Năm Gia Tĩnh thứ mười lăm, Hạ Ngôn dâng ba đạo sớ, đề nghị mở cửa tế lễ. Phong trào tế tự, lập miếu trong dân gian phát triển mạnh mẽ, làm cho hình thái xã hội tông tộc được củng cố thêm, ảnh hưởng sâu sắc đến Trung Quốc sau này.
Cùng năm đó, theo thói quen lưu giữ tài liệu tốt của Huy Châu, La Hiển đã biên soạn các văn thư liên quan đến vụ kiện này thành một bộ *Dương Cán Viện Quy Kết Thủy Mạt*, để lại cho con cháu đời sau, hy vọng họ "chưa chắc đã không cảm động, cảnh tỉnh mà khơi dậy lòng hiếu thảo, cũng là để giúp bảo vệ lâu dài".
Năm Gia Tĩnh thứ mười bảy (1538), hoàng đế Gia Tĩnh đã được như ý nguyện, truy tôn miếu hiệu cho cha mình là "Duệ Tông". Năm Gia Tĩnh thứ hai mươi bảy (1548), bài vị của Duệ Tông được đưa vào thái miếu.
Năm Gia Tĩnh thứ bốn mươi lăm (1566), phủ Huy Châu biên soạn *Huy Châu Phủ Chí*, xác định thời gian xây dựng viện Dương Cán là năm Bảo Hựu thứ sáu đời Tống, để bảo vệ mộ La Thu Ẩn, đặt dấu chấm hết cuối cùng cho cuộc tranh chấp này.
Gia tộc họ La tiếp tục sinh sôi nảy nở ở Trình Khảm, kéo dài đến ngày nay; viện Dương Cán cũng luôn nằm ở Dương Cán, chưa từng di dời. Núi xa, suối gần, chuông sớm, trống chiều, mấy trăm năm qua, ngôi mộ lẻ loi vẫn đứng trước Phật điện, chỉ có tiếng chuông du dương luôn bầu bạn. Đến nay, ở địa phương vẫn còn lưu truyền một câu tục ngữ: "Gió Âm Ổ khẩu, chuông Dương Cán viện." Cả hai đều là biểu tượng của sự thịnh vượng không suy.
Viện Dương Cán vào cuối thời Minh vẫn còn, hai vị lãnh đạo của hai triều là Tiền Khiêm Ích còn từng viết một bài thơ *Tam Nguyệt Thất Nhật Phát Tiềm Khẩu, Kinh Dương Cán Tự, Du Thạch Châm Lĩnh, Xuất Phương Thôn Để Tường Phù Tự*, sau này thế nào thì không rõ. Tôi thấy có một bài *Huy Châu Bách Thôn Phú* của người hiện đại có nhắc đến, viện Dương Cán suy tàn vào cuối thời Thanh, chỉ còn lại kiến trúc. Đến tháng 12 năm 1985, dân làng sấy giày trong viện, không cẩn thận làm cháy màn, thiêu rụi hoàn toàn ngôi chùa trống, chỉ còn lại một bức tường gạch.