Virtus's Reader
Đế Trụ

Chương 10: Mục 10

LOẠN PHỦ VIỄN QUÂN

Loạn Phủ Viễn quân

An Hằng nghe nói Ngọc Châu đã bị quân Chu công phá, trong lòng lập tức giống như sóng to gió lớn. Tuy rằng gã sớm đã dự liệu được kết quả như vậy, chỉ là không có nghĩ đến sẽ đến đột ngột như thế. Mỗi ngày gã đều phái ra thám báo chú ý tình huống bên Ngọc Châu, một khi có gió thổi cỏ lay ngay lập tức bẩm báo cho gã.

Dựa theo ý định ban đầu của gã, vốn không muốn chia bốn vạn binh mã chạy đến phụ cận Ngọc Châu đóng quân. Nhưng vài ngày trước từ đô thành Thái Nguyên truyền đến tin tức, nói Trung Thân Vương Lưu Lăng sẽ nắm giữ ấn soái Nam chinh, tên tướng lĩnh mà gã phái đến thành Thái Nguyên giấu đầu hở đuôi, làm hỏng hết sự việc. Người một tay đề bạt gã – Trụ Quốc tướng quân Tô Hổ Bào cho người ra roi thúc ngựa không ngủ không nghỉ đưa tới một phong tự tay viết, lời lẽ nghiêm khắc kêu An Hằng nhất định phải lập tức suất quân đi Ngọc Châu.

Tô Hổ Bào là ân sư của gã, mà chỗ tốt duy nhất của An Hằng này chính là đối với lão sư hết sức tôn trọng. Gã ta vốn đối với ý định phản Hán hàng Chu vẫn còn do dự không quyết, phong thư này của Tô Hổ Bào khiến gã không thể không dẫn quân xuất phát.

An Hằng hiểu được sự lo lắng của ân sư Tô Hổ Bào, cái chức Chỉ huy sứ Phủ Viễn quân này của gã là do Tô Hổ Bào một tay tiến cử. Nếu gã ta thật sự phản rồi, Tô Hổ Bào khó tránh khỏi sẽ phải chịu liên luỵ. Mà An Hằng thuở nhỏ mất đi phụ thân, đối với Tô Hổ Bào có một sự tôn kính gần như đối với phụ thân vậy, không đành lòng cự tuyệt Tô Hổ Bào bèn bất đắc dĩ suất quân.

An Hằng cũng từng liên tục viết thư cho Tô Hổ Bào, nói Bắc Hán suy yếu lâu ngày, bị Chu, Hạ, Liêu ba siêu cấp cường quốc vây vào giữa, sớm muộn cũng tránh không được kết quả bị thôn tính diệt quốc. Gã ta ba lần bốn lượt cầu ân sư theo gã cùng nhau phản ra Tây Vực, chỉ cần vượt qua Tây Hạ, tránh đi Thổ Phiên, ở trong Tây Vực chiếm lấy một mảnh lãnh thổ tự lập quốc gia cũng không phải là không có khả năng. Chỉ có điều Tô Hổ Bào vẫn do dự, An Hằng cũng chỉ có thể tiếp tục hoãn lại.

Lần này đi tới Ngọc Châu, An Hằng thời khắc đều chú ý tới tình hình Ngọc Châu. Nếu Ngọc Châu còn có thể kiên trì, Trung Thân Vương Lưu Lăng dẫn đại quân tới rồi, gã cũng chỉ có thể làm trái lương tâm một lần sắm vai tướng quân trung quân ái quốc, cho nên gã mới mỗi ngày phái ba năm ngàn Phủ Viễn quân quấy rầy đại doanh Hậu Chu, dù sao cũng có thể lấy đây làm lý do thoái thác. Lại nói thời cuộc hiện tại hỗn loạn, quốc nạn lâm đầu, gã lường trước Lưu Lăng cần sáu vạn Phủ Viễn quân trong tay gã, ắt không dám thật sự làm gì gã.

Còn nếu thành Ngọc Châu bị phá mà Lưu Lăng chưa tới, gã ta nhất định phải thay đổi sách lược. Sáu vạn Phủ Viễn quân này là gã kinh doanh hai năm mới nắm giữ được ở trong tay mình, là tài sản của gã, cũng là căn bản để gã mưu đồ nghiệp lớn. Gã tuyệt đối không thể vì Bắc Hán mà liều hết vốn liếng của mình, cho nên, nếu thành Ngọc Châu bị phá, gã ta cũng chỉ còn lại có một con đường thôi.

Sau đó gã lại suy xét, đầu hàng Hậu Chu là quả quyết không được, chính mình suất quân đầu hàng, cũng chỉ được phong hầu phong tướng, so với hiện tại cũng không có gì khác nhau. Ngược lại, ở Bắc Hán gã độc bá phía nam, xem như thổ Hoàng đế một phương. Còn nếu đầu hàng Hậu Chu, Chu Hoàng Đế - Quách Vinh sẽ tuyệt đối không cho phép gã nắm trong tay Phủ Viễn quân. Một tướng quân đầu hàng, tay cầm trọng binh, đây là tối kỵ.

Có lẽ không tới hai năm, Chu Hoàng Đế - Quách Vinh sẽ tùy tiện tìm cái cớ giết mình, đến lúc đó tất cả đều thành ra vô ích.

Cho nên, An Hằng quyết tâm làm phản!

Lúc chạng vạng thám báo báo lại, thành Ngọc Châu còn trong tay quân Hán, còn có một chi kỵ binh không đủ vạn người xông phá đại doanh Hậu Chu tiến nhập Ngọc Châu. Nói như vậy thì phòng thủ của Ngọc Châu càng thêm bền chắc một chút, mà trước đó Trịnh Húc tướng quân của Hắc Kỳ Lân quân – thân binh của Hoàng đế – đến từ Thái Nguyên muốn gã đi gặp Trung Thân Vương, An Hằng hoài nghi bên người Lưu Lăng không có binh mã, phái binh từ phía sau theo dõi Hắc Kỳ Lân quân, nếu bên người Lưu Lăng thật sự không binh không tướng vậy hoặc là không làm, đã làm phải làm đến cùng kết liễu hắn.

Chỉ có điều thám mã báo lại nói trong núi rừng tinh kỳ dày đặc, sương khói lượn lờ, xem ra trong núi rừng có không dưới ba vạn đại quân đóng quân. Hơn nữa còn có một chi kỵ binh công phá Chu doanh tiến vào Ngọc Châu, An Hằng lật lại ý nghĩ của mình, tổng hợp các loại tình báo đến xem, kết luận bên người Lưu Lăng cũng không phải thiếu khuyết nhân mã.

Cho nên, lúc nạn dân kia nói Ngọc Châu đã bị công phá, An Hằng làm sao có thể không kinh hãi?

Đây là đại sự có thể ảnh hưởng đến quyết định của gã, không thể không coi trọng. Nếu Ngọc Châu thật sự bị phá, gã ta nhất định phải nhổ trại suốt đêm chạy về Ứng Châu, sau khi tập kết binh mã lại mưu toan tiếp.

Nhưng, riêng một câu nói của nạn dân kia khiến gã tò mò vô cùng.

“Đỗ Nghĩa tướng quân thủ thành Ngọc Châu lúc sắp chết lớn tiếng la lên, phó thác cho chúng tôi nếu là gặp được Chỉ huy sứ Phủ Viễn quân Hổ Đảm Hầu An tướng quân, mang cho hắn một câu.”

An Hằng chột dạ, theo bản năng thân thể khom xuống hỏi nạn dân kia: - Đỗ Nghĩa nói cái gì?

Nạn dân kia như cười như không nhìn gã, lộ ra hai hàm răng trắng noãn: - Đỗ tướng quân nói: ngươi đi chết đi!

An Hằng hoảng hốt, nạn dân kia bùng lên, một cước đạp gã té lăn. Nhảy đến một đòn chộp lấy cổ của gã, tay kia thì nhanh chóng tuyệt luân bắt lấy hai tay của gã lôi kéo một cái, đáng thương cho An Hằng cũng là một thân võ nghệ, nhưng trong khoảnh khắc đã bị người ta phế đi hai tay.

Tên nạn dân kia vừa động thủ, mấy tên nạn dân khác cũng lần lượt đem thức ăn trong tay ném lên mặt các tướng lĩnh cách mình không xa. Chuyện xảy ra đột ngột, ai cũng không ngờ được vài nạn dân xanh xao vàng vọt đói đến không đi đường nổi, thân thủ lại mạnh mẽ như thế. Không bao lâu, bao gồm An Hằng, ba năm tên tướng lĩnh đều bị chế phục rồi. Những nạn dân đó từ trên người rút ra dao găm, áp giải mọi người đi ra ngoài.

Thân binh của An Hằng lập tức rối loạn, có người hô lớn một tiếng An tướng quân gặp ám sát! Vô số quân tốt chen chúc hướng bên này lao đến. Mấy nạn dân cũng không kinh hoảng, chỉ là áp giải đám người An Hằng thành một vòng, chậm rãi hướng tới bên ngoài viên môn di động. Cung tiễn thủ nhanh chóng lao đến, kéo cung cài tên nhắm ngay bên này, chỉ có điều Chủ soái bị người khống chế, ai cũng không dám dẫn đầu bắn tên.

Gã vệ binh thủ viên môn hảo tâm kia giờ phút này đang cầm theo một rổ thức ăn phân phát cho nhóm nạn dân đang quỳ ngoài cửa, nghe thấy trong doanh địa đại loạn theo bản năng xoay người nhìn lại, lập tức có hai nạn dân bên người đứng lên đẩy ngã hắn, thuần thục trói lại. Những người này nhớ lại hắn hảo tâm, cũng không làm hại đến tính mạng của hắn.

Hơn một ngàn nạn dân đột nhiên làm khó dễ, phá tan viên môn đoạt không ít cung tiễn binh khí, những thân binh ở xa xa và đang vây quanh An Hằng đều giằng co lên. Song phương giương cung bạt kiếm, chỉ cần một đốm lửa nho nhỏ sẽ diễn biến thành một hồi chiến đấu thảm thiết.

Cứ giằng co như vậy, mắt thấy vài nạn dân cầm đầu bắt An Hằng đã sắp ra khỏi viên môn. Tướng quân doanh thứ bảy Phủ Viễn quân Mậu Nguyên đương lúc bó tay không biện pháp, bỗng nhiên phát hiện phía sau có người kéo gã. Gã xoay người nhìn lại, thấy chính là thủ hạ của mình Thiên tướng Phùng Phục Ba.

Phùng Phục Ba mắt liếc ra hiệu một cái, kéo Mậu Nguyên qua một bên.

Mậu Nguyên vội vàng hỏi: - An tướng quân bị những kẻ xấu này bắt, đệ kéo ta làm gì?

Phùng Phục Ba và gã là huynh đệ kết bái, hai người quan hệ hết sức tốt. Trước mặt người khác y đối với Mậu Nguyên hành lễ tham bái, nhưng khi chỉ có hai người thì không có chuyện gì không nói được, cũng không có nhiều quy củ cổ hủ như vậy.

Phùng Phục Ba lườm gã một cái nói: - Tên giặc An bị người bắt, huynh lại gấp cái gì? Theo đệ thấy đây là một cơ hội!

Mậu Nguyên sửng sốt, lập tức không hiểu hỏi:

- Cơ hội? Cơ hội gì?

Phùng Phục Ba thở dài nói: - Đại ca của đệ à, huynh làm sao lại ngu độn như thế? Chúng ta lúc trước đều là tướng lĩnh dưới trướng của Đại Tướng Quân Vương, hiện giờ hư tình giả ý nghe lệnh dưới trướng An Hằng là vì hy vọng gì chứ? Còn không phải ngóng trông một ngày kia có thể bắt lấy nhược điểm của hắn, lật đổ hắn? Hiện giờ Vương gia đã suất quân xuôi Nam, đúng là thời cơ tốt để chúng ta góp sức. Nếu An Hằng bị đám nạn dân này giết, huynh đệ hai ta đăng cao nhất hô (lên núi cao hô một tiếng) đi nương tựa dưới trướng Vương gia, huynh đệ dưới tay đa phần là bộ hạ cũ của Vương gia, tất nhiên sẽ hưởng ứng!

Mậu Nguyên vỗ trán nói: - Ta nhất thời nóng vội, không ngờ đã quên việc này. Vẫn là hiền đệ suy nghĩ chu đáo, chỉ có điều... Chỉ có điều đám nạn dân này bắt An Hằng rồi nhưng lại không giết, chúng ta có biện pháp gì?

Phùng Phục Ba cười nói: - Cái này còn không phải đơn giản sao? Chỉ cần ép bọn họ một chút là được!

Mậu Nguyên có dũng, Phùng Phục Ba có mưu, hai huynh đệ này cũng là một đôi hợp tác tốt. Phùng Phục Ba cười nói: - Đại ca, nạn dân bắt lấy An Hằng không giết, đơn giản là sợ trong tay không có con tin bọn họ chạy không thoát. Theo đệ thấy đám nạn dân này tám phần là quân Chu giả trang, là kẻ thù Đại Hán ta, mà An Hằng kia càng là quốc tặc, người người muốn giết. Chúng ta cần gì phải ném chuột sợ vỡ đồ? Chỉ cần gọi đến thân binh thủ hạ của chúng ta, bắn tên qua kia, trong hỗn loạn giết chết An Hằng, chỉ cần nói là bị gian tế quân Chu giết, còn ai có thể trách tội đến trên đầu chúng ta?

Y nói tiếp: - Hơn nữa, giết An Hằng rồi, lại đem những nạn dân do quân Chu giả trang này đều diệt. Chúng ta mang theo các huynh đệ tìm Vương gia nương tựa, Vương gia còn có thể làm khó chúng ta sao? Có Vương gia ở đây, trong triều đình còn không phải mở một mắt nhắm một mắt?

Mậu Nguyên mừng rỡ nói: - Đúng vậy!

Gã lôi kéo Phùng Phục Ba nói: - Ta ở đây trông chừng, đệ nhanh đi gọi thân binh của chúng ta đến. Mặc kệ ra sao, trực tiếp loạn tiễn bắn đi là được!

Phùng Phục Ba thấy Mậu Nguyên cũng không phản đối, cũng là mừng rỡ trong lòng, một giọng nói: - Đệ đi làm ngay. Xoay người liền chạy ra. Mậu Nguyên giơ tay ở trên đầu của mình sờ soạng hai cái, cười hì hì rồi lại cười lẩm bẩm: - An Hằng tên thất phu này, rốt cuộc cũng có ngày như vậy!

Gã rút ra yêu đao, hướng tới chỗ An Hằng vọt tới.

Phùng Phục Ba chạy về doanh địa của mình, triệu tập lại các Thiên phu trưởng dưới trướng và nói: - Các ngươi đều là con dân Đại Hán, lúc trước cũng đều được Đại Tướng Quân Vương chiếu cố, hiện giờ có một cơ hội diệt trừ tên giặc An, đầu nhập vào Vương gia, làm hay không làm?

Những thân tín dưới tay y vốn là đối với An Hằng kia hết sức bất mãn, vì muốn giữ lại biên chế của doanh thứ bảy mới nghe theo đề nghị của Phùng Phục Ba giả vờ đầu nhập vào An Hằng. Hiện giờ nghe nói có cơ hội giết An Hằng, trở về dưới trướng Đại Tướng Quân Vương, mỗi một người đều là xoa tay. Một Thiên phu trưởng nói: - Tướng quân chỉ cần phân phó, nếu là có thể giết tên giặc An kia, trở lại dưới trướng Vương gia, cho dù chết thuộc hạ cũng cam tâm!

Tất cả mọi người đều nói như thế, Phùng Phục Ba cười ha hả nói : - Chúng ta rất được Vương gia tín nhiệm, không thể không tạm thời khuất phục tên An Hằng kia, hiện tại cơ hội tới, chúng ta tự nhiên không thể bỏ qua!

Y an bài một chút, suất lĩnh ba năm trăm thân binh hùng hổ thẳng đến phương hướng viên môn!

Cách đám người không xa, Phùng Phục Ba hô to một tiếng: - Giết những gian tế Hậu Chu này! Cứu ra An Tướng quân!

Thân binh dưới tay y đang hô lớn, chen chúc vọt vào đám người. Y đánh cái ánh mắt ra hiệu, Thiên phu trưởng dưới tay liền ngầm hiểu, giương cung lắp tên, thẳng tắp nhắm ngay trước ngực An Hằng!

Mậu Nguyên thấy người đã đến đông đủ, lập tức cũng từ trong tay thân binh bên cạnh An Hằng đoạt lấy một cây cung cứng, một cước đem thân binh kia đá văng, cung kéo ra như trăng tròn, một mũi tên liền bắn tới tên nạn dân bắt An Hằng!

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Chương 81.1: Thanh lý môn hộ

Gã nạn dân bắt được An Hằng cũng chính là Quý Thừa Vân. Y nhận mật lệnh của Lưu Lăng bắt giữ An Hằng, sau đó chờ Lưu Lăng đến. Y không muốn kết liễu tính mạng của gã bởi Lưu Lăng nói để gã sống còn có chỗ hữu dụng, nếu không chẳng cần rắc rối đến thế, chỉ một đao là có thể lấy mạng gã.

Lúc này, dù bị loạn quân vây quanh nhưng Quý Thừa Vân vẫn không hề tỏ ra hoảng loạn. Trận thế như vậy y không chỉ đối mặt một hai lần, thậm chí việc lấy thủ cấp của tướng địch trước hàng vạn quân y cũng từng làm. Như trận chiến với quân Hậu Chu trước đó, một mình y xông pha giữa đống loạn quân, cướp lấy bộ trang phục của quân Chu mặc lên người rồi phi thẳng đến trước chiến mã quân tiên phong địch, vung đao nhằm thẳng tướng địch chém một đao.

Tình cảnh bị bao vây ngày đó nguy hiểm hơn hôm nay vạn phần, nên đối mặt với tình huống hiện tại, Quý Thừa Vân chưa từng thấy hoang mang. Hơn nữa hiện y đang giữ An Hằng trong tay, quân Hán ắt sẽ ném chuột sợ vỡ đồ mà không dám manh động, vì vậy không có gì đáng phải lo lắng. Việc cần làm chỉ là đưa An Hằng ra đại doanh, đợi đại quân của Lưu Lăng tới.

Nhưng thật không ai dám nghĩ lại có kẻ to gan đến vậy, dám giương cung bắn thẳng về phía Quý Thừa Vân. Phải nói đó đích xác là một kẻ không có não.

Quý Thừa Vân mắt đảo tứ phương, mũi tên bay như thế chẻ tre nhằm thẳng y lao tới. Ngay cả thân thủ như y mà cũng suýt không phát hiện ra. Nếu không phải y nghe được tiếng rung của dây cung, e rằng mũi tên đó đã khiến y bỏ mạng rồi.

Quý Thừa Vân thụp người xuống, tay kéo An Hằng giơ lên đỡ. Phập! mũi tên cắm thẳng vào vai An Hằng.

A!

An Hằng hét lên thảm thiết, vùng vẫy toan thoát ra. Ngặt một nỗi hai cánh tay gã không còn chút sức lực, không thể thoát khỏi sự khống chế của Quý Thừa Vân. Mũi tên đó sau khi đâm xuyên qua vai gã liền bay mất hút, có thể thấy sức công phá mạnh cỡ nào. Quả thật, đúng là Mậu Nguyên đã ra tay thì sẽ không để đối phương có đường sống.

Mậu Nguyên đã ra tay, thì tên Thiên phu trưởng thủ hạ của y cũng ngay lập tức động thủ. Tên Thiên phu trưởng này được đề bạt do đã lập nhiều công trạng, võ nghệ của y cũng được gọi là xuất chúng. Mũi tên này mục đích để lấy mạng An Hằng, vì vậy y đương nhiên sẽ không thủ hạ lưu tình.

Quý Thừa Vân lại nghe thấy tiếng dây cung rung lên. Lần này y đã có sự chuẩn bị, thấy mũi tên bay tới, y vốn có thể lách người tránh, hoặc dùng dao găm gạt mũi tên, nhưng y lại không làm như vậy. Y nắm áo An Hằng nhấc bổng lên, hết lần này tới lần khác dùng An Hằng làm khiên sống đỡ tên cho y. Mũi tên của Thiên phu trưởng vốn nhằm vào An Hằng, nhưng khi bắn ra lại có vẻ hơi chệch một chút. Quý Thừa Vân thấy vậy cười chế giễu, rồi nâng An Hằng lên điều chỉnh, vừa đúng lúc mũi tên lao tới, cắm thẳng vào bả vai còn lại của An Hằng.

Quý Thừa Vân cười ha hả, đứng nép sau An Hằng nói một cách nhạo báng: - An đại tướng quân, xem ra thủ hạ của ngươi cũng đáng tin cậy quá nhỉ. Chắc bọn chúng muốn thừa nước đục thả câu, lấy luôn cái mạng của nhà ngươi. Ha ha!

Đoạn y lại buông một tràng cười lớn, tiếng cười mang hào khí ngất trời.

Thân hình y mỏng cơm nhưng săn chắc. Một tay y nhấc bổng An Hằng nặng tới hơn trăm cân phăng phăng bước ra ngoài viên môn. Mậu Nguyên thấy đã bắn hai mũi tên mà không tiêu diệt được An Hằng, cũng không chạm được vào cọng lông của Quý Thừa Vân nên trong lòng bắt đầu thấy kinh sợ. Nhưng đến lúc này y không thể dừng tay được nữa. Y hô lớn: - Tặc nhân kia muốn bỏ chạy. Không được để gã làm hại An Hằng tướng quân. Quân đâu, bắn tên! Bắn tên!

Câu nói này của y rõ ràng đã giấu đầu hở đuôi. Nếu không muốn An Hằng bị thương, sao y lại ra lệnh bắn tên? Chẳng qua là trong lúc hỗn loạn, chẳng ai kịp nhận ra điều này. Chỉ có An Hằng vừa nghe thấy đã lập tức biết được ý đồ của Mậu Nguyên. Đôi mắt của y trừng trừng nhìn Mậu Nguyên, thét lên ra lệnh: - Ta ra lệnh, không ai được bắn. Mậu Nguyên, ngươi có ý đồ gì!

Hai vết tên bắn khiến y vô cùng đau đớn, cộng thêm việc vừa hét lên ban nãy càng dãn cơ trên miệng vết thương, khiến âm thanh y nói ra cũng thấy run rẩy. Những giọt mồ hôi tròn to như hạt đậu lăn dài trên trán, y phục trên người y đã ướt sũng mồ hôi pha lẫn máu.

Thấy đám binh lính do dự không dám bắn, Phùng Phục Ba không thèm nghĩ thêm, vội chộp lấy một cây cung nhằm thẳng An Hằng mà bắn tới. Chỉ có điều y vốn là người trọng mưu lược mà coi nhẹ võ nghệ, bản lĩnh cũng chỉ ở mức tầm thường nên mũi tên y bắn ra rất thiếu chuẩn xác, bay thẳng về phía viên môn. Tên gác cửa viên môn bị lính của Quý Thừa Vân trói nằm bất động mặt đất, thấy mũi tên lao thẳng về phía mình vội dùng hết sức nhích mông sang một bên, mũi tên sượt qua mũi y cắm thẳng xuống đất.

- Nguy hiểm quá! nguy hiểm quá!

Tên lính vừa nãy lẩm bẩm: - A Di Đà Phật, may nhờ Bồ Tát phù hộ. Đúng là chỉ có tin vào đức Như Lai mới được trường sinh.

Quý Thừa Vân thấy lũ binh lính kia chẳng hề quan tâm đến sự sống chết của An Hằng, trong lòng cảm thấy lo lắng xen lẫn bực bội. Y vừa đi vừa nghĩ, tự nhủ sao lũ Phủ Viễn quân này lại máu lạnh đến vậy.

Mậu Nguyên trừng mắt nhìn Phùng Phục Ba, nghĩ thầm nếu ngày thường y nghe lời chăm chỉ luyện tập thì mũi tên vừa rồi đã không làm mình mất mặt đến vậy. Lúc này, Quý Thừa Vân đã đưa An Hằng tới cửa viên môn, Mậu Nguyên biết rằng nếu hơn một ngàn nạn dân kia quay trở lại tiếp ứng cho người đã bắt được An Hằng thì cơ hội của y sẽ không còn. Nghĩ đến đây, y không thể chần chừ hơn được nữa.

Đoạn y hét lớn một tiếng: - Các tướng sĩ! Hãy giết tên gian tế của quân Chu kia. Đại Tướng Quân Vương đang chờ chúng ta đến nương nhờ ở ngay phía trước. An tướng quân hi sinh vì nước, chết thật vinh quang.

Y giờ đây không còn do dự gì nữa, giương cung bắn đi một mũi tên.

Thấy Chủ tướng đã quyết ra tay, bốn năm trăm tên lính thân tín của y cũng lập tức cũng vứt bỏ mọi suy nghĩ, cùng giương cung hướng thẳng về phía Quý Thừa Vân và An Hằng.

Vù!

Bỗng có một âm thanh sắc lạnh vang lên.

Một cây thương lớn nặng trịch không biết từ nơi nào bay tới, cắm thẳng ngay trước mặt Mậu Nguyên. Cây thương đó lao tới với khí thế vô cùng hung mãnh và bất ngờ, chừng một phần ba thân thương bằng thép ròng cắm sâu xuống đất. Có thể thấy lực ném của người này mạnh đến mức nào.

- Dừng tay!

Tiếng hét lớn từ đằng xa vọng lại, một viên tướng mặc y phục đen, áo giáp đen một mình cưỡi ngựa phi thẳng vào giữa hàng quân. Người này thân thể cường tráng, toàn thân vận y phục đen nhìn hệt như tử thần.

Gã phi ngựa đến, chạy xuyên qua đám nạn dân rồi dừng ngựa ngay cạnh cây thiết thương.

Đoạn y giơ tay nhổ cây thiết thương đang cắm sâu xuống đất lên, ánh mắt lạnh lùng nhìn mọi người một lượt rồi hô lớn: - Khâm Phong Bình Nam Đại tướng quân, Chỉ huy sứ quân mã sáu châu Trung Thân Vương tới.

Tiếng thét vang lên như sét đánh giữa trời nắng ráo, khiến không chỉ Mậu Nguyên và Phùng Phục Ba ngây người, mà ngay đám tướng sĩ Phủ Viễn quân đang bao vây Quý Thừa Vân cách đó không xa cũng ngơ ngác nhìn gã áo giáp đen. Ngoại trừ người của Quý Thừa Vân ra, ngay cả An Hằng cũng quên cả đau đớn, theo bản năng quay đầu nhìn.

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Chương 81.2: Thanh lý môn hộ

Không bao lâu sau, một dòng người dài như một con hỏa long đang uốn lượn trườn tới. Ai cũng đoán ra đó là đám kỵ binh tay cầm đuốc, thoạt nhìn có thể đoán được số lượng không dưới hai ngàn tên.

Dưới sự bảo vệ của mười hai thị vệ thân cận, Lưu Lăng phi ngựa thẳng vào đại doanh của Phủ Viễn quân. Một ngàn Hắc Kỳ Lân quân vội dạt sang hai bên, tiếng khiên sắt va vào nhau rào rào, mã đao sáng loáng giơ thẳng lên trời, một tiếng kèn vang lên, không khí trở nên uy nghiêm cực độ.

Lưu Lăng dắt ngựa tới trước Phủ Viễn quân, mỉm cười, nói: - Ta đã về nhà. Các ngươi hoan nghênh bổn vương đến vậy sao?

Mậu Nguyên lúc này không giấu được vẻ kích động, khua khua thanh trường đao trong tay, hô lớn: - Đại Tướng Quân Vương uy võ.

Phùng Phục Ba cùng mấy trăm thân binh lính thân cận của y cũng vô cùng phấn chấn, tất thảy đều quơ binh khí lên hô lớn: - Đại Tướng Quân Vương uy võ.

Trong khi rất nhiều người còn chưa kịp phản ứng thì An Hằng mặt đã xám như tro nguội, trong lòng rối bời. Phủ Viễn quân từng là bộ hạ của Lưu Lăng. Tình cảm của họ với Lưu Lăng thân thiết hơn với An Hằng rất nhiều. Một viên tướng ngẩng đầu, cẩn thận nhìn kỹ Lưu Lăng một hồi, rồi vội quỳ xuống đất hô lên: - Đúng là Đại Tướng Quân Vương! Đại Tướng Quân Vương đã về rồi!

Đó là tiếng hô tràn đầy tình cảm, gợi nhớ lại ký ức của mọi người.

Binh lính Phủ Viễn quân đều lần lượt quỳ rạp xuống, nhất loạt hô vang câu “Đại Tướng Quân Vương”. Cảnh tượng lúc đó thật không thể rung động lòng người hơn được nữa. Đối với một người sống ở thời hiện đại thì không thể hiểu được cảm giác khiến người người xúc động đó. Lưu Lăng một lần nữa lại được cảm nhận được tình cảm nơi chiến trận mà hắn đã quên mất từ lâu.

Đương nhiên không phải ai cũng hưởng ứng Lưu Lăng. Việc An Hằng làm được trong quân doanh trong hai năm qua chẳng lẽ chỉ là con số không hay sao? Ngay giữa khung cảnh ấy, không ít kẻ lặng lẽ lui ra phía sau, từng bước từng bước rồi nhìn nhau thăm dò. Bọn chúng đều là thân tín của An Hằng, hai năm qua theo An Hằng làm những việc trái đạo lý. Bây giờ Lưu Lăng đã tới, bọn chúng không thể không suy xét đến tương lai của mình.

Lúc trước, Phủ Viễn quân có bảy đại doanh, tướng quân ở các đại doanh này đều bị An Hằng lập mưu ám hại, trong đó bốn người bị giết. Ngoại trừ Đỗ Nghĩa trốn được về Ngọc Châu ra, chỉ có Mậu Nguyên vẫn nhẫn nhục để sống trong quân doanh. Còn lại một viên tướng quân từ lâu đã về cùng một giuộc với An Hằng, giờ một người đã sa cơ, kẻ còn lại ắt cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa.

Kẻ đó chính là Tưởng Vĩnh Phúc, cũng từng là người được Lưu Lăng cất nhắc. Nhưng khi An Hằng ra tay với các tướng lĩnh, có hai vị tướng quân bị chính Tưởng Vĩnh Phúc lừa đến Ứng Châu, sau đó bị An Hằng sát hại. Hiện giờ cục diện đã thay đổi, quân Phủ Viễn đã bị Lưu Lăng kiểm soát một cách dễ dàng như vậy, Tưởng Vĩnh Phúc làm sao có thể không lo sợ?

Gã thất kinh nhìn chung quanh một hồi, chỉ thấy phần lớn binh lính đã quỳ xuống. Ngoại trừ số tay chân thân tín của An Hằng, giờ đây người không quỳ cũng chỉ còn mình gã. Nhưng đứng cùng gã ở một chiến tuyến chỉ có vài trăm tên thân tín, số còn lại khi thấy Đại Tướng Quân Vương trở về đã quỳ rạp xuống từ lâu rồi.

Lúc này, Lưu Lăng cách gã không còn xa, nếu bây giờ đột ngột ra tay, nói không chừng chỉ cần một mũi tên có thể giết chết Lưu Lăng.

Người ta nói chó cùng rứt giậu, lúc này Tưởng Vĩnh Phúc đã mất hết lý trí. Gã chỉ muốn bảo vệ tính mạng của bản thân, nên theo bản năng là phải loại bỏ nguy cơ đe dọa đến sự an nguy của mình. Lưu Lăng đang trên lưng ngựa, mục tiêu đã hiển hiện, khoảng cách lại gần, theo như gã tính toán, chỉ cần một mũi tên bắn chết Lưu Lăng sau đó thừa lúc hỗn loạn giải cứu An Hằng, giành lại quyền chỉ huy Phủ Viễn quân, âu cũng không phải là không thể.

Nghĩ đến đây, Tưởng Vĩnh Phúc nghiến chặt răng, giằng lấy một cây cung của tên binh sĩ đứng bên cạnh gã.

- Tên này là giả. Hắn chính là gian tế của quân Chu, không phải Đại Tướng Quân Vương.

Tưởng Vĩnh Phúc liều mạng hét lên, sau đó vội giương cung lên. Gã dù sao cũng là một tướng quân, võ công đương nhiên thuộc loại thượng thừa. Gã giương cung căng hết lực, một mũi tên hệt như sao băng xé gió bay thẳng về phía Lưu Lăng.

Xoẹt! một âm thanh khẽ vang lên. Một ánh đao vung ra trông tựa như dải lụa.

Ánh đao như một tia chớp lóe lên trong đêm tối, khiến ai nấy cũng cảm thấy chói mắt, đồng thời cũng làm mọi người cảm thấy lạnh toát sống lưng.

Nhanh!

Một đường đao nhanh như chớp!

Nhiếp Nhân Vương rút đao khẽ vung lên, gạt phăng mũi tên của Tưởng Vĩnh Phúc. Y bảo vệ ở phía trước Lưu Lăng, giương ánh mắt sắc lạnh nhìn Tưởng Vĩnh Phúc. Cảm giác cái nhìn hệt như một lưỡi dao lạnh như băng, găm thẳng vào tim Tưởng Vĩnh Phúc, khiến gã sợ đến không kìm nổi, sợ hãi thụt về sau mấy bước, tim đập thình thịch.

Khi gã vừa kịp nhận ra thì một âm thanh lạnh như băng đã vang lên sát cạnh tai gã.

- Một tên tiểu nô nhãi nhép của Chưởng môn Bát Quái Đao môn Lý Thắng Nhất, không ngờ cũng có thể làm đến chức tướng quân? Đầu tiên là hạ độc giết sư phụ để cướp ngân lượng, sau đó lại giết hại mười mấy đồng môn sư huynh đệ. Hóa ra ngươi trốn vào trong quan phủ, chẳng trách Bát Quái Đao môn bao nhiêu năm trời tìm không ra ngươi.

Tưởng Vĩnh Phúc sợ hãi đến độ kêu lên một tiếng a, thân mình mềm nhũn ngồi phịch xuống đất bất động.

Một vị hán tử vận y phục màu trắng, choàng áo bào gấm, phía trước ngực thêu hình đám mây màu vàng, mặt bịt khăn màu đen không biết tự khi nào xuất hiện bên cạnh Tưởng Vĩnh Phúc như một bóng ma. Không ai hiểu làm thế nào người này có thể xuất hiện ở đó. Khoảng cách gần đến nỗi Tưởng Vĩnh Phúc thậm chí có thể cảm nhận được luồng hơi của y khi nói.

Tên Tưởng Vĩnh Phúc thường ngày tự nhận võ công cao cường, nhưng lại bị hán tử kia áp sát tự lúc nào không rõ. Nên khi người đó lên tiếng, gã liền bị dọa sợ đến vỡ mật.

- Ngươi là ai? Ngươi làm sao ngươi biết ta là ai?

Tưởng Vĩnh Phúc sợ hãi đến độ hai chân bủn rủn, không thể tự đứng dậy được. Gã vừa bò ngửa về phía sau vừa rống lên tru tréo như đang gặp ma.

Nhiếp Nhân Địch lạnh lùng cười: - Lý Thắng Nhất đối xử với ngươi không hề tệ. Ngươi vốn chỉ là một tên tiểu nô, sư phụ ngươi đã phá lệ nhận ngươi làm đại đệ tử chân truyền, đích thân dạy võ công cho ngươi. Vậy mà tên phản đồ lòng lang dạ sói nhà ngươi lại ham phú quý, trước hạ độc giết sư phụ, sau đó còn muốn hạ độc cả Lý Thắng Nhất. Nếu y không cảnh giác thì cũng đã sớm bị chết dưới tay tên cặn bã như ngươi rồi.

Y vừa nói vừa tiến lên phía trước, từng bước tới gần Tưởng Vĩnh Phúc.

Tưởng Vĩnh Phúc sợ hãi tột cùng, những bí mật đó gã chưa từng nói với bất kì ai. Những chuyện đó gã đều chôn sâu trong lòng. Gã vẫn nghĩ đã gần mười năm trôi qua, giang hồ có lẽ không còn ai nhớ đến xuất thân của gã nữa. Nhưng lúc này không ngờ tên khoác áo bào gấm kia lại biết sự việc tường tận đến thế.

- Đồ cặn bã như ngươi lấy tư cách gì chỉ huy binh sĩ?

Nhiếp Nhân Địch ánh mắt rung lên, lớn tiếng quát: - Hôm nay, ta sẽ thay Bát Quái Môn thanh lý môn hộ.

Lưỡi đao trong tay y lóe lên, xoẹt một tiếng, thủ cấp của Tưởng Vĩnh Phúc lập tức rơi xuống đất, lăn lông lốc.

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Rối bời

Nhiếp Nhân Địch một đao chém chết Tưởng Vĩnh Phúc, đám thủ hạ thân tín của gã bị câu nói của Nhiếp Nhân Địch làm cho bán tín bán nghi, không một ai xông lên cứu gã. Nhưng quan sát phản ứng vừa rồi của Tưởng Vĩnh Phúc, bọn chúng đều tin lời gã hán tử mặc áo bào gấm có quá nửa là sự thật.

Một tên cặn bã như vậy, quả thật không có tư cách lãnh binh, thậm chí còn không đủ tư cách tồn tại trên cõi đời này.

Lưu Lăng điềm tĩnh nhìn Nhiếp Nhân Địch giết Tưởng Vĩnh Phúc, không nói nửa lời. Sự hiếu kỳ trong lòng hắn đối với hai người huynh đệ này càng lúc càng tăng lên.

Đúng lúc Nhiếp Nhân Địch giết chết Tưởng Vĩnh Phúc, bên ngoài thành Ứng Châu cách đó hai trăm dặm, hai dáng người nhỏ nhắn dìu nhau đi tới cửa thành Ứng Châu. Nhưng do đã quá muộn, cửa thành đã đóng từ lâu.

Cũng giống Huân Nhi, đôi bàn chân ngọc mềm mại của Lư Ngọc Châu giờ đã đã nổi đầy bọc nước. Đừng nói đi lại, chỉ cần chạm nhẹ cũng đã khiến cả hai đau đớn. Trên đường đi, hai người bọn họ bị quân Hán bỏ rất xa. Hai cơ thể dường như đã kiệt sức, đôi giầy họ mang đều đã mòn rách cả. Việc hai người có thể dìu nhau đến được Ứng Châu đã là một kỳ tích. Không biết các bạn độc giả có tin hay không, nhưng tôi thì tin như vậy.

Trước đó, khi hai người bọn họ đang ngủ trên sườn dốc, thì hai con tuấn mã bị một tên trộm đi ngang qua dắt đi mất. Vì vậy, hai cô gái vốn được nuông chiều từ bé, lại chưa từng đi đâu quá xa nhà, giờ đây không ngờ lại có nghị lực vượt quãng đường gần trăm dặm đến được thành Ứng Châu.

Lúc này, trên người hai nàng đều vô cùng bẩn thỉu, y phục đều đã bị cành cây làm cho rách tươm. Hai cặp má hồng vốn trắng nõn, giờ chỉ còn thấy một màu lem luốc. Tình trạng Lư Ngọc Châu còn khá hơn một chút, nhưng Huân Nhi thì đã gần kiệt sức mất rồi. Nếu còn phải tiếp tục đi nữa, e rằng chẳng trụ được bao lâu nữa mà ngất lịm đi.

Lúc này tuy đã tới được cửa thành, nhưng lại thấy cánh cổng đã đóng từ lâu.

Huân Nhi lập tức ngã nhào xuống đất, mặc cho Lư Ngọc Châu cầm tay kéo thế nào cũng không đứng dậy nổi. Cũng thật lạ, đến lúc này Lư Ngọc Châu cũng chẳng còn chút sức lực nào, nhưng chính bản thân nàng cũng không hiểu sao mình vẫn có thể gắng gượng đến bây giờ. Đôi chân nàng đau đến không chịu nổi, vậy mà dọc đường đi nàng vẫn có thể dìu thêm Huân Nhi.

Trông bộ dạng hai người lúc này thật thảm hại, người không ra hình người. Dấu hiệu duy nhất nhận ra hai người vẫn còn sống chỉ là hơi thở khi dồn dập khi lại yếu ớt của họ. Không kéo được Huân Nhi đứng dậy, Lư Ngọc Châu ngược lại còn bị mất đà ngã dúi dụi. Lư Ngọc Châu là con gái độc nhất của Tể tướng đương triều, trước đây nàng chưa từng phải chịu nỗi khổ sở như vậy. Từ khi nàng còn nhỏ đã được Lư Sâm - cha nàng chiều chuộng hết mực, chỉ còn thiếu mỗi hái trăng trên trời xuống cho nàng làm đồ chơi mà thôi. Lão đại thần hết lòng vì vương triều Đại Hán đó có chết cũng không thể ngờ đứa con gái mình hết mực cưng chiều giờ đây lại phải chịu khổ sở đến vậy.

Đội quân nhà Hán đã vào thành Ứng Châu từ nửa ngày trước đó. Hiện tại cửa thành đã đóng, hai vị tiểu cô nương chỉ còn cách ngủ qua đêm tại nơi hoang vu phía ngoài thành.

Nằm một hồi ước chừng một canh giờ, Lư Ngọc Châu cố sức kéo Huân Nhi dậy, nói: - Huân Nhi, xem ra chúng ta không thể vào được thành Ứng Châu rồi, cả em và ta đều không còn sức mà quay trở lại tìm nơi tá túc, đêm nay đành phải ngủ ngoài trời thôi.

Huân Nhi lúc này cũng chẳng quan tâm nhiều đến điều đó. Nàng chỉ muốn ngủ một giấc thật ngon, có khi phải ngủ ba ngày ba đêm mới đã. Nàng mơ màng gật đầu nói: - Mọi việc xin tiểu thư cứ quyết định, Huân Nhi sẽ nghe theo.

Lư Ngọc Châu bất đắc dĩ, dìu Huân Nhi đứng dậy. Nàng trông phía xa có một cây đại thụ, qua ánh trăng mờ, thấy hình như cạnh đó có một ngôi đình hoặc một kiến trúc tựa như một ngôi đình. Lưu Ngọc Châu lập tức đỡ Huân Nhi, hai người lảo đảo bước về phía đó.

Ngôi đình này có tên là Tống Khách đình, thường các tòa thành đều cho dựng một ngôi đình như vậy ở ngay phía ngoài thành, cách cổng thành không xa. Tống Khách đình, cái tên cũng đủ nói nên công năng sử dụng của nó. Phàm là khách phương xa tới, lưu lại lâu mấy cũng phải có lúc ra về. Lúc này, để chứng tỏ lòng thành, chủ nhà thường tiễn khách ra đến ngoài cổng thành. Ngôi đình này chính là nơi chủ khách chia tay. Thông thường chủ nhà tiễn khách đến đây thì cũng phải quay về. Ở trong đình, cùng uống ly rượu chia tay, nói vài lời cáo biệt, sau đó mỗi người một hướng.

Trước đây, Lư Ngọc Châu có chết cũng không ngờ lại có ngày chính mình lại lưu lạc đến tá túc ở nơi tiễn khách đơn sơ này. Vừa dựa vào cột đình để nằm xuống, nàng đã lập tức ngủ say như chết. Thật khó có thể tưởng tượng, hai thiếu nữ xinh đẹp kia lại có thể ngủ được ở nơi hoang dã đến vậy.

Việc giành lại quyền chỉ huy Phủ Viễn quân diễn ra thuận lợi hơn tưởng tượng rất nhiều. Trình Nghĩa Hậu đem binh lính vây quanh xe ngựa của Trung Thân Vương Lưu Lăng để hộ giá, tay cầm cờ hiệu Vương gia hiên ngang tiến vào thành Ứng Châu. Hai viên tướng quân Phủ Viễn trấn thủ thành cung kính chờ đón từ ngoài cổng thành, nhưng vừa về tới đại doanh đã bị Trình Nghĩa Hậu hạ lệnh trói lại. Ông ta cho triệu tập tất cả tướng lĩnh từ chức Thiên phu trưởng trở lên đến trước trướng Vương gia để nói chuyện, sau đó cho quân mai phục bắt sống không chừa một ai.

Trình Nghĩa Hậu làm việc vô cùng đơn giản, không cần biết những tướng lĩnh này có phải đều là đồng đảng của An Hằng hay không, cứ đem bắt giam hết, đợi chuẩn bị xong xe tù thì áp giải đến Ngọc Châu. Xử lý bọn chúng như thế nào là việc của Vương gia, còn ông ta chỉ phụ trách việc bắt người. Thao trường lúc này bỗng nổi trống giương cờ, hai vạn quân Phủ Viễn được tập hợp lại. Trình Nghĩa Hậu đọc thánh chỉ, liệt kê mười mấy tội danh của An Hằng. Sau đó, ông ta cao giọng tuyên bố Phủ Viễn quân từ nay về sau sẽ do Trung Thân Vương Lưu Lăng chỉ huy, đại quân tức tốc hành quân về hướng Nam đến Ngọc Châu.

Sự việc được xử lý một cách nhanh gọn, lúc Phủ Viễn quân vừa mới kịp hiểu chuyện gì đã xảy ra thì Trình Nghĩa Hậu đã sai người bắt tất cả tướng lĩnh trấn thủ thành lại rồi. Trên thao trường lúc này chỉ có mấy viên tướng cấp Bách phu trưởng là cao nhất. Những người này chỉ biết phục tùng mệnh lệnh, tuy rằng vẫn còn mơ hồ nhưng chúng tuyệt nhiên không có ý kháng cự. Hơn nữa, việc Trung Thân Vương Lưu Lăng tiếp quản lại Phủ Viễn quân đối với bọn họ mà nói cũng chẳng có gì là không tốt.

Đêm hôm đó, Trình Nghĩa Hậu bàn thảo cùng các tướng lĩnh dưới trướng, quyết định sáng sớm ngày hôm sau dẫn đại quân lên đường. Hiện tại, cực khổ nhất vẫn là mấy tay thợ mộc trong thành, trong một đêm phải làm xong hai ba mươi chiếc xe chở tù binh. Thật ra, số tướng lĩnh bị Trình Nghĩa Hậu bắt giam không phải đều là thân tín của An Hằng, chỉ có điều hiện tại Trình Nghĩa Hậu không có thời gian để tra hỏi rõ ràng.

Sau một đêm nghỉ ngơi, sáng sớm hôm sau, Trình Nghĩa Hậu để lại năm nghìn tinh binh trấn thủ Ứng Châu, còn mình mang theo hơn hai vạn quân Hán và hơn một vạn quân Phủ Viễn tiến thẳng đến Ngọc Châu. Lão Trình này đúng thật là người biết hưởng thụ, ông ta tìm một cỗ xe ngựa rộng rãi rồi ngồi cùng mấy viên tướng quân Hán, xem ra trên đường đi cũng thoải mái vô cùng. Kỳ thật, cũng không thể nói là ông ta lười biếng, vì dù sao ông ta tuổi tác đã cao, không còn rắn rỏi được như hồi còn thanh niên trai tráng nữa. Việc đi lại đường dài đối với ông ta có thể nói đúng là một cực hình.

Có điều, ông ta không thể ngờ rằng, vừa mới ra khỏi cổng thành, cỗ xe ngựa mà ông ta còn chưa kịp ngồi nóng chỗ đã phải nhường lại cho người khác.

Việc đại quân ra khỏi thành không tránh khỏi gây ra tiếng động, tiếng người hô ngựa hý vang lên ầm ầm. Huyên náo như vậy, Lư Ngọc Châu và Huân Nhi đang ngủ trong Tống Khách đình ở ven đường sao có thể không nghe thấy. Hai người thấy quân Hán ra khỏi thành, giống như nhìn thấy người thân đã lâu không gặp. Họ lập tức dìu nhau, gào khóc chặn ở giữa đường.

Nếu không phải là Trình Nghĩa Hậu nhận ra thiên kim tiểu thư của Tể tướng đại nhân, thì e là hai người bọn họ đã bị đuổi đánh tơi bời rồi. Dù cho Lư Ngọc Châu đã hô lớn Tam Giang Hầu, nhưng Tam Giang Hầu Trình đại nhân ngơ người một hồi mà vẫn không nhận ra người ăn mày bẩn thỉu trước mặt là ai.

Mãi đến khi Lư Ngọc Châu bỏ buộc tóc để lộ ra mái tóc dài, vừa khóc vừa cầu xin thì y mới nhận ra nàng. Việc này đúng là khiến Tam Giang Hầu lão vô cùng kinh ngạc. Ông ta có nghĩ nát óc cũng không thể ngờ ái nữ của Tể tướng đại nhân làm sao lại xuất hiện ở nơi này, mà lại còn trong một bộ dạng rách rưới như vậy.

Trình Nghĩa Hậu vội sai người mang nước tới, Lư Ngọc Châu và Huân Nhi rửa mặt xong mới thấy có vẻ giống nữ nhi, chỉ có điều trên người bọn họ bẩn đến nỗi không nhìn nổi, thật không biết hai người họ đi tới hay bò tới đây. Trình Nghĩa Hậu lệnh cho đại quân tiếp tục hành quân, đồng thời sai người trở về thành mua mấy bộ y phục nữ nhi.

Hai người ngồi trong cỗ xe ngựa lớn thay y phục, nhấm nháp chút trà nóng, cuối cùng cũng thấy hồi phục chút thần sắc.

Tam Giang Hầu nghe Lư Ngọc Châu thuật lại sự tình một cách ngắn gọn một lần, bất giác lắc đầu cười khổ. Nghe xong, ông ta muốn lập tức sai người đưa hai cô gái liều lĩnh này về thành Thái Nguyên, chỉ có điều thấy Lư Ngọc Châu than khóc cầu xin nên ông ta đành phải miễn cưỡng nghe theo. Lão Trình không con không cái, đối với những kẻ vãn bối đúng là không biết xử trí ra sao. Ông ta vừa giận dữ, lại vừa thấy thương xót. Đoạn ông ta viết một bức thư báo bình an, giao cho trạm dịch Ứng Châu, ra lệnh hỏa tốc chuyển tới phủ Lư Sâm Lư đại nhân ở thành Thái Nguyên. Làm xong việc đó, Trình Nghĩa Hậu mới có thể yên tâm được.

Về số binh sĩ ở lại trấn thủ thành Ứng Châu, điều khiến Trình Nghĩa Hậu tâm đắc nhất là trong số hai vạn quân lại có một nửa là kỵ binh. Do ông ta chưa từng chỉ huy Phủ Viễn quân nên không biết rằng, trước đây Lưu Lăng vì muốn tạo ra một đội quân Phủ Viễn binh hùng tướng mạnh nên đã dốc hết tâm huyết để bồi đắp.

Để trang bị cho đội quân này, Lưu Lăng gần như đã lo nghĩ bạc cả tóc. Sau năm năm, cuối cùng hắn cũng tôi luyện bảy vạn quân Phủ Viễn thành một đạo quân tinh nhuệ nhất, trang bị đầy đủ nhất Bắc Hán. Phủ Viễn quân có tổng cộng bảy vạn sáu ngàn quân, kỵ binh hai vạn bốn ngàn, lính bộ năm vạn hai ngàn. Trừ số lính hơn sáu vạn tên bị An Hằng khống chế, vẫn còn Tứ doanh gồm một vạn quân Phủ Viễn đóng tại Nghiêm Châu.

Chịu cực khổ từ Thái Nguyên đến Ứng Châu, Lư Ngọc Châu và Huân Nhi có thể nói cuối cùng đã được giải thoát. Từ giờ có thể ăn no ngủ kỹ, không phải đi bộ nữa. Quên đi nỗi đau đớn về thể xác trên người, Lư Ngọc Châu mơ màng nghĩ đến việc chỉ ít ngày nữa là được đoàn tụ bên Lưu Lăng, vừa nghĩ đến đây trong lòng nàng lại cảm thấy ngọt ngào, bồn chồn không yên.

Nhưng nàng lại sợ Lưu Lăng không cần nàng, sợ Lưu Lăng sẽ sai người đưa nàng trở về Thái Nguyên. Nếu như vậy chẳng phải mọi vất vả mà nàng đã phải chịu đựng đều uổng phí hay sao?

Suy đi tính lại hồi lâu, Lư Ngọc Châu lại thấy buồn rầu, vò đầu bứt tai. Nói cho cùng, nàng mới chỉ là một thiếu nữ mười sáu tuổi, chỉ vì ái mộ một người mà một mình vượt ngàn dặm xa xôi đi tìm. Chỉ việc này thôi cũng đủ khiến người khác phải kinh ngạc rồi, chứ đừng nói nàng lại là con gái Tể tướng đương triều. Ngay cả dân nữ bình thường cũng có mấy người có được dũng khí như vậy?

Hơn nữa, vào thời đó, phàm là phận nữ nhi, nếu làm những chuyện như vậy sẽ bị coi là bại hoại gia phong.

Nàng có dũng khí theo đuổi tình yêu đích thực, nhưng đến giai đoạn mấu chốt, dũng khí kia lại không còn vùng lên mà lại lặn đi đâu mất tăm.

Suốt dọc đường đi, nàng luôn tự hỏi, đối diện với Trung Thân Vương Lưu Lăng nàng nên nói gì đây?

"Hi! xin chào, ta đã tới tìm chàng. Chúng ta thành thân đi.”

Những câu như vậy ngay cả thời nay cũng không có nhiều cô gái dám nói ra.

Nàng càng nghĩ càng thấy bực bội xen lẫn xấu hổ. Nàng càng nghĩ càng thấy sợ, nhưng càng sợ nàng lại càng nghĩ. Hai ngày ngồi trong xe ngựa, cuối cùng nàng đã thấu hiểu thế nào là sống một ngày dài như một năm.

Lúc vừa rời Thái Nguyên, lòng nàng như lửa đốt. Nàng lúc đó không nghĩ nhiều đến vậy, chỉ muốn được gặp người mà mình thầm thương trộm nhớ. Rồi nàng và người ấy sẽ ở bên nhau, mãi mãi không rời xa. Bây giờ đã sắp gặp được người đó, nhưng biết bao điều nàng vốn chưa từng nghĩ tới bỗng ào ra trong đầu nàng.

Mình tình nguyện chạy đến tìm hắn như vậy liệu có bị hắn coi khinh hay không?

Nếu hắn đối xử lạnh nhạt với mình, thậm chí không thèm để ý đến mình thì phải làm thế nào?

Nếu hắn sai người đưa mình về Thái Nguyên, gặp lại phụ thân, mình nên giải thích ra sao?

Cứ coi như là hắn cho mình ở lại thì hai người danh bất chính ngôn bất thuận liệu có thể ở bên nhau được không?

Nếu chuyện này lan truyền ra ngoài, một cô nương chưa xuất giá như mình lại không biết giữ thể diện, chạy đi tìm nam nhân, cha mình đường đường là một Tể tướng đương triều, còn mặt mũi nào nhìn mặt văn võ bá quan đây?

Còn nữa, quan trọng nhất là, trong lòng của hắn rốt cuộc có mình hay không?

Chỉ có điều Lư Ngọc Châu chưa từng nghĩ đến, những vấn đề đó đã có người giúp nàng giải quyết rồi.

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Chương 83.1: Chu Thế Tông

Lúc Lư Ngọc Châu theo quân Hán về phía Nam chưa được năm mươi dặm thì có hơn chục người cưỡi ngựa phi vào cổng thành Ứng Châu. Thì ra đó là nhóm người từ thành Thái Nguyên tới, cưỡi ngựa ngày đêm không nghỉ, trên người ai cũng phủ một lớp bụi đường, mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi. Nhưng chỉ trong thời gian chưa đầy một tuần nhang, mười mấy người bọn họ lại vội vã nhảy lên lưng ngựa, phi như bay ra khỏi cổng thành.

Trong số đó, có một người mặc y phục của khâm sai, nhưng dáng vẻ lại không giống quan đại thần. Người này tuổi còn trẻ, lúc cưỡi ngựa trên tay cầm một chiếc phất trần.

Mặc dù mặc y phục khâm sai, nhưng nhìn chiếc mũ quan y đội lại là của một tên thái giám. Theo lẽ thường, thái giám rất ít đi truyền chỉ ngoài phạm vi thành Thái Nguyên, đến những nơi xa xôi truyền thánh chỉ thường là quan xa khâm sai được Hoàng thượng lựa chọn trong số văn võ bá quan trong triều. Thời nhà Đường có không ít chuyện thái giám lũng đoạn triều chính, nên đến thời kì đầu nhà Bắc Hán liền đưa ra quy định thái giám không được tham gia vào việc chính sự, nếu không sẽ bị trừng phạt rất nghiêm khắc, tru di cửu tộc.

Về cơ bản, việc thái giám truyền chỉ chỉ diễn ra trong thành Thái Nguyên, hoặc là khi Hoàng thượng phong thưởng cho vị đại thần nào đó, hoặc truyền khẩu dụ của Hoàng thượng triệu kiến đại thần vào cung. Rất ít khi có chuyện thái giám làm khâm sai ra ngoài thành.

Vì vậy, sự xuất hiện của đám người này khiến người ta phải chú ý. Chỉ có điều, bọn họ sau khi ra khỏi thành Ứng Châu không đi theo đường lớn đuổi theo đại quân của Tam Giang Hầu Trình Nghĩa Hậu mà đi đường tắt thẳng đến Ngọc Châu nơi Lưu Lăng đang dừng chân. Nhìn bộ dạng gấp gáp của họ, có vẻ như có chuyện gấp tìm Lưu Lăng.

Tên thái giám trong đoàn vẫn còn khá trẻ, trên khuôn mặt bám đầy bụi đất, thần sắc vô cùng mệt mỏi, tuy nhiên vẫn toát ra vẻ anh tú, có thể Lưu Lăng sẽ nhận ra ngay người này là ai. Thì ra đây chính là Tiểu Lục Tử, tên thái giám trước đó vài ngày làm đổ chân nến nên bị Hiếu Đế giận dữ suýt đòi lấy mạng y, nhưng sau chỉ bị phạt đến Ngự Mã Giám làm chân chăn ngựa.

Không thể ngờ lại nhanh như vậy. Hiếu Đế giờ lại triệu y từ Ngự Mã Giám về, giao cho y trọng trách.

Lúc đó, trên tường thành Ngọc Châu.

Vương Bán Cân, Đỗ Nghĩa, Chiêu Tiên và Tôn Thắng thay nhau kiểm tra công tác phòng thủ của thành, nhắc nhở việc chữa trị cho thương binh, bố trí lại thế trận phòng ngự.

Hiện tại trong thành thuốc thang thiếu hụt, những binh sĩ bị thương chỉ có được băng bó qua loa, còn lại phải tự bản thân gắng gượng. Số binh sĩ chết do mất quá nhiều máu đến giờ đếm đã không xuể. Đỗ Nghĩa cùng những người kia dù trong lòng có sốt ruột đến mấy cũng không còn cách nào khác.

Mấy người bọn họ thống kê lại con số thương vong, trong lòng càng thêm nặng trĩu. Trải qua trận chiến ác liệt đêm qua và sáng nay, đến nay trên thành chỉ vẻn vẹn ba ngàn bảy trăm lính là còn có thể chiến đấu, nhưng bọn họ không một ai trên người không có vết thương. Qua một đêm chiến đấu, bỗng chốc quân số giảm đi quá nửa, cảnh thương vong thật khiến cho người ta quá thương xót.

Phía xa xa, trên thành lúc này la liệt những thi thể không còn nguyên vẹn và những binh sĩ đang bị thương đau đớn đến nỗi khuôn mặt đã tê dại không còn cảm xúc. Người chết không còn cảm giác, còn người sống giờ đây cũng vật vờ như những thây ma không một chút biểu cảm. Bọn họ lúc này thậm chí không còn biết đến cảm giác sợ hãi. Đối với họ, việc còn sống đã trở thành một việc không lấy gì làm vui mừng nữa.

Bảy ngàn kỵ binh tuyển chọn từ Cấm quân và đại doanh Kinh Kỳ buộc phải xuống khỏi yên ngựa, cùng lên trên thành hợp sức với lính bộ giữ thành. Sở trường của kỵ binh vì vậy không được phát huy, thương vong càng thêm trầm trọng. Hai vạn kỵ binh Cấm quân đến nay chỉ còn lại không đầy sáu trăm quân. Người còn sống ai nấy mặt mũi cũng xám xịt, ánh mắt trống rỗng như vô hồn.

Lúc mới bắt đầu trận chiến, bọn họ đã bị khung cảnh thảm khốc nơi chiến trường làm cho tim đập chân run. Nhìn những thi thể không còn nguyên vẹn, những vết thương thủng bụng lòi ruột, họ bất giác không chịu nổi nôn tới tấp. Nhưng khi đêm xuống, cảm xúc của họ đã trở nên chai lỳ. Ngồi dựa lưng vào tường thành, đa phần binh sĩ trở nên vô cảm, vẻ mặt ai cũng một vẻ u tối.

So với Cấm quân, tình hình của quân đại doanh Kinh Kỳ còn tốt hơn chút ít. Mặc dù cũng phải chịu tổn thất nặng nề, nhưng trên khuôn mặt binh sĩ vẫn toát lên vẻ kiên cường giống hệt số nhân mã còn sót lại dưới trướng Tướng quân của họ, Đỗ Nghĩa. Trong lúc phải đối mặt với cái chết, chẳng ai có thể vô cảm. Sợ hãi là phản ứng bản năng nhất của con người, nhưng chỉ khi trải qua những trận chiến hết lần này đến lần khác, con người ta mới học được cách thích nghi.

Bọn họ dựa vào tường thành, miệng nhai những cục lương khô cứng ngắc một cách vô hồn, chờ đợi trận chiến tiếp theo.

Nhóm người của Vương Bán Cân tiếp tục đi thị sát một vòng, ai ai cũng cảm thấy tâm trạng vô cùng nặng nề.

- Nếu cứ như thế này thì chỉ cần đến chiều là là quân Chu sẽ tấn công một lần nữa, chúng ta có chống chọi được nữa không, quả thực ta không dám nghĩ đến.

Vương Bán Cân uống một ngụm nước, vẻ mặt đầy ưu tư nói.

Chiêu Tiên vừa dựa vào tường thành quan sát động tĩnh của quân Chu, vừa nói: - Quân Chu còn bị tổn thất hơn chúng ta nhiều. Từ đêm qua đến nay có lẽ đã thương vong quá nửa rồi. Quân Chu người đông thế mạnh, gặp tổn thất nhiều như vậy đương nhiên chúng không thể chấp nhận được. Hiện giờ Quách Vinh, Hoàng đế Hậu Chu đã đến, ắt là để chấn chỉnh lại đội ngũ.

Đỗ Nghĩa nói thêm: - Ta chỉ lo Hoàng đế Hậu Chu đã thân chinh ngự giá, hơn chục vạn viện binh sẽ như được tiếp thêm sức mạnh. Bọn chúng mà tấn công, chỉ sợ còn mạnh mẽ hơn ban sáng.

Tôn Thắng lập tức thêm vào: - Hiện nay quân Chu đã như cưỡi trên lưng hổ, nếu không lấy được Ngọc Châu, gần hai mươi vạn quân kia sẽ bị ách lại tại đây. Tổn thất mỗi ngày là vô cùng lớn. Quách Vinh nhất định là không đợi được nữa mới đích thân mang quân đến tiếp viện. Ha ha!

Đỗ Nghĩa nghe vậy liền than: - Thật đáng tiếc! Nếu như trong thành có thêm một vạn quân nữa, tận dụng lúc quân địch vừa lui quân, Hoàng đế bọn chúng vừa tới mà phản công, nhất định sẽ tiêu diệt được vô số quân địch.

Vương Bán Cân cũng thở dài, nói: - Đúng vậy. Nếu có một vạn kỵ binh nhân lúc hỗn loại đánh thẳng vào đại doanh quân Chu thì chắc chắn ngay cả Quách Vinh cũng phải hoảng sợ mà bỏ chạy. Hiện giờ chúng ta chỉ còn cách chờ đợi Vương gia nhanh chóng mang quân tới, bằng không quân Chu chấn chỉnh quân ngũ xong e rằng Ngọc Châu khó mà giữ được.

Chiêu Tiên đập mạnh tay vào tường thành, nói: - Sợ gì chứ. Giết được một tên địch thì hòa, giết được hai tên thì đã lãi rồi. Tính đến giờ số quân Chu chết dưới tay Chiêu mỗ ta đã hàng chục tên, đợi ta giết thêm mấy chục tên nữa rồi có chết nơi chiến trường thì cũng không lấy gì làm lỗ.

Tôn Thắng nghe vậy vừa cười vừa nói: - Đúng là không thể ngờ được. Tôn mỗ ta lần đầu tiên xuất chinh lại sắp phải bỏ mạng tại đây. Nhưng dù ta có chết, cũng phải cho đám quân Chu kia nếm mùi lợi hại của thương pháp Tôn gia.

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Chương 83.2: Chu Thế Tông

Vương Bán Cân xua tay, an ủi: - Các huynh đâu cần phải bi quan như vậy. Vương gia đã lệnh cho chúng ta trấn thủ thành Ngọc Châu đến tối nay thì ngài ấy chắc chắn sẽ đem quân tới trước khi trời tối. Đại quân của Vương gia mà tới thì áp lực của chúng ta ở trong thành sẽ giảm đi rất nhiều rồi.

Đỗ Nghĩa nói thêm vào: - Đúng vậy. Chúng ta phải tin vào Vương gia.

Chiêu Tiên liền tiếp lời: - Chỉ có điều không biết là Vương gia đã xử lý xong tên An Hằng khốn khiếp kia chưa. Chỉ cần Vương gia giành lại quyền chỉ huy Phủ Viễn quân thì cơ hội giành chiến thắng trước hai mươi vạn quân Hậu Chu kia cũng không phải không có.

Bọn họ lúc này đặt hết hi vọng vào Lưu Lăng. Đó là tia hi vọng trong lúc tuyệt vọng nhất, hệt như một ngọn lửa duy nhất trong đêm lạnh giá, thứ hi vọng mà họ phải gắng nuôi cho đến khi mặt trời lên.

Vương Bán Cân nói: - Đỗ Nghĩa tướng quân, mong huynh xuống thuyết phục bách tính, hi vọng có thêm người lên trên tường thành tham gia phòng thủ. Giờ mà chỉ dựa vào binh sĩ thì e rằng không ổn.

Đỗ Nghĩa than thở: - Chỉ hận Đỗ Nghĩa ta vô dụng, liên lụy đến hàng trăm bách tính trong thành. Hiện tại đã có nhiều trai tráng muốn tham gia phòng thủ cho thành, nhưng do Đỗ mỗ ta không nhẫn tâm thấy họ bỏ mạng trên thành này…Hiện giờ…Ta thân là Đại Hán Tướng quân, có nhiệm vụ bảo vệ thành, thế mà lại kéo hàng trăm lê dân phải chết theo, trong lòng thật sự thấy không thể chấp nhận được.

Vương Bán Cân an ủi: - Đỗ tướng quân chớ có nghĩ như vậy. Quân Chu đã bao vây thành Ngọc Châu hơn chục ngày nay, tổn binh hại tướng. Nếu như thủ thành thất bại, chẳng phải máu bách tính lê dân sẽ chảy thành sông hay sao. Để họ tham gia giữ thành cũng là việc bất đắc dĩ. Phải kiên quyết bảo vệ thành cho đến khi Vương gia đến, đó chính là con đường sống duy nhất của chúng ta.

Đỗ Nghĩa nghe vậy liền nói: - Vậy ta sẽ xuống thành. Nhưng…các ngươi bảo ta nên nói thế nào đây!

Đoạn y buông một tiếng thở dài, tay bám vào tường thành đứng dậy, gọi thêm mấy thân cận rồi đi vào trong thành. Vương Bán Cân cùng Chiêu Tiên, Tôn Thắng nhìn nhau một lượt, thầm khâm phục tấm lòng trung nghĩa của Đỗ Nghĩa.

Nhưng cũng cần phải nói thêm, nếu như không phải Đỗ Nghĩa đã đối tốt với bách tính trong thành thì khi quân Chu đến, e rằng bọn họ đã bỏ chạy tan tác rồi. Đằng này họ lại chọn lựa con đường sát cánh cùng Đỗ Nghĩa, đủ để biết rằng trong lòng họ đã chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đối mặt với cái chết.

Lúc này, trong trại của Tôn Huyền Đạo tại đại doanh quân Chu.

Lão tướng quân Tôn Huyền Đạo tuổi đã sáu mươi, râu tóc bạc phơ. Lão khoác trên người bộ giáp nặng trịch, quỳ sụp trên mặt đất, không ngừng khấu đầu nhận tội. Sau lưng lão, tất cả các tướng lĩnh đều im như hến, đến thở mạnh cũng không dám.

Chu Thế Tông Quách Vinh chễm chệ ngồi ở vị trí chỉ huy, ánh mắt lạnh như băng nhìn đám tướng lĩnh bên dưới một lượt.

Quách Vinh vừa tròn ba mươi tuổi, khuôn mặt trắng bóc, dưới cằm y để bộ râu ba chỏm, mắt sáng mày ngài, trông vô cùng anh tuấn. Khuôn mặc y lúc này lạnh như băng, nhưng lại dài thườn thượt, chứng tỏ y đang cố kìm chế cơn tức giận trong lòng.

Giọng y trầm xuống, hỏi: - Tôn ái khanh, khanh đem tám vạn binh mã, bao vây thành Ngọc Châu hơn chục ngày, đến giờ Ngọc Châu chưa lấy được mà dũng sĩ Đại Chu ta lại tổn thất gần hai vạn người. Chắc khanh có lời gì muốn nói với trẫm chăng?

Quách Vinh, còn có tên gọi khác là Sài Vinh. Sử sách ghi lại, người này tướng mạo anh tuấn, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, tinh thông kinh sử, tính tình điềm đạm ít nói. Y là cháu vợ của Hậu Chu Thái tổ Quách Uy, sau được Quách Uy nhận làm nghĩa tử. Y vốn xuất thân từ Sài gia trang ở Nghiêu Sơn, Hình Châu, thân sinh tên là Sài Lễ. Sài Ông, tổ phụ của y rất được mọi người trong vùng nể trọng. Sài gia nhà y có thể coi là danh gia vọng tộc có tiếng trong vùng.

Nhưng sau này, gia tộc nhà y bị sa sút, lúc y vừa tròn 20 tuổi thì bị ép thành thân với cháu vợ của Quách Uy. Tính tình của y vốn cẩn trọng điềm đạm, giúp Quách Uy xử lý gia sự đâu vào đấy nên được Quách Uy hết mực sủng ái, nhận làm nghĩa tử, đổi tên thành Quách Vinh. Quách gia khi đó cũng không được gọi là giàu có, vì vậy Sài Vinh đã làm thêm việc buôn bán để kiếm thêm thu thập. Cũng trong thời gian này y đã tích cực luyện tập võ nghệ, nghiên cứu kinh thư yếu sử, nhất là các tác phẩm của Hoàng Đế và Lão Tử.

Sau đó, nhà Hậu Hán được thành lập, Quách Uy được nắm giữ chức vụ Nghiệp Đô lưu thủ, Xu mật sứ, Thiên Hùng tiết độ sứ, cấp bậc cao nhất trong hàng quan lại. Sau khi Hán Ẩn Đế đăng cơ, lo sợ Quách Uy tạo phản, Hán Ẩn Đế đã loại bỏ hết những thân tín của Quách Uy ở kinh thành Biện Châu, chỉ có Quách Siêu là trốn thoát được. Hoàng đế cho rằng làm như vậy có thể khiến Quách Uy sợ hãi mà không dám mưu phản nữa, nhưng ai ngờ lại khiến Quách Uy nổi giận lôi đình.

Không lâu sau đó, Quách Uy đem quân đánh chiếm Biện Châu, nhà Hậu Hán diệt vong. Quách Uy tự xưng Hoàng đế, lấy hiệu là Đại Chu, lập người con duy nhất còn sống là Quách Siêu làm Thái tử. Quách Vinh với thân phận Hoàng tử nắm giữ chức vụ Đàn Châu thứ sử, Hiểu kiểm thái bảo, được phong làm Thái Nguyên quận hầu. Sau này y tiếp tục được phong Tấn vương, nắm quyền điều hành binh mã.

Thái tử Quách Siêu tỏ ra vô cùng ngưỡng mộ người nghĩa đệ Quách Vinh của mình. Quách Siêu bản tính nóng nảy, làm việc cẩu thả, có thể nói là hữu dũng vô mưu. Rất nhiều việc y phải thỉnh giáo Quách Vinh, Quách Vinh đều giúp đỡ hết lòng, không một chút đố kỵ. Vì vậy, một người trọng nghĩa khí, suy nghĩ lại đơn giản như Quách Siêu càng thêm ngưỡng mộ y. Hơn nữa, do huynh đệ ruột thịt đều đã chết trong tay của Hán Ẩn đế, nên y coi Quách Vinh chẳng khác nào anh em ruột thịt.

Một thời gian sau, Thái tổ Quách Uy lâm trọng bệnh, cứu chữa vô hiệu, đoán định không còn sống được mấy ngày nữa. Việc lựa chọn Thái tử Quách Siêu kế vị đã được an bài từ lâu. Trước khi nhắm mắt, Quách Uy nhiều lần triệu kiến Quách Vinh, căn dặn phải ở bên phò tá Quách Siêu điện hạ, làm tấm gương sáng cho muôn vạn thần dân. Quách Vinh nước mắt lã chã, trước mặt Thái tổ thề sẽ tận lực phò tá Thái tử, có chết cũng không từ.

Nhưng có ai ngờ được, Thái tử võ nghệ đầy mình mà lại bỏ mạng vì ngã ngựa. Nhớ lại lúc y đào thoát khỏi Biện Châu, toàn thân đẫm máu, một mình giết hàng trăm tên địch, cưỡi ngựa chạy ba ngày ba đêm liên tục mà còn không ngã. Vậy mà khi đang cưỡi ngựa bắn tên trên thao trường, sao có thể ngã nhào vì chiếc yên ngựa buộc lỏng? Rồi cả việc tên thị vệ cưỡi ngựa đến cứu không hiểu sao con ngựa của gã lại mất kiểm soát, giẫm Thái tử chết tươi?

Cả tên thị vệ đó lẫn viên quan trông coi ngựa ngay sau đó đều bị xử tử, vì vậy sự tình ẩn sau chuyện đó cũng không ai được biết nữa.

Thái tổ Quách Uy nghe tin vừa kinh hãi vừa tức giận, do quá đau đớn mà băng hà. Thái tử đã chết, người kế vị rõ ràng giờ chỉ có một người, chính là Tấn vương Quách Vinh.

Quách Vinh đăng cơ, ngay trong ngày hôm đó, y tuyên chỉ muốn ngự giá thân chinh Bắc Hán. Lí do y đưa ra là thông qua điều tra, tên quan trông ngựa và tên thị vệ kia đều là gian tế do Bắc Hán phái đến, mối thù giết nghĩa phụ và nghĩa huynh không đội trời chung. Không cần đợi phát tang Thái tổ Quách Uy và Thái tử Quách Siêu xong, Quách Vinh đã lấy lại họ Sài, đem quân Bắc phạt.

Và thế là, Chu Thế Tông Sài Vinh đã danh chính ngôn thuận, đường hoàng chinh phạt Bắc Hán.

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Chương 84.1: Lâm trận trảm tướng

Tôn Huyền Đạo đã theo phò tá Chu Thái tổ Quách Uy từ lâu, cụ thể là bao nhiêu năm bán mạng cho nhà họ Quách này thì ngay cả bản thân lão cũng không nhớ rõ. Chỉ biết rằng, lão đã chứng kiến Sài Vinh- đương kim thiên tử Chu Thế Tông lớn lên mỗi ngày.

Nhớ lại ban đầu, Quách gia còn chưa phát công danh, tức là khi Quách Uy còn chưa được sủng ái, gia thế vẫn tầm thường. Người thanh niên tên Sài Vinh lúc mới đến nương nhờ Quách gia thật hồn nhiên, y lúc đó chỉ muốn tất cả những người đối tốt với y đều sống thật tốt. Quách Uy vô cùng sủng ái người cháu này, sau còn nhận y làm nghĩa tử. Mà y lúc đó cũng chỉ muốn báo đáp ân tình của vợ chồng Quách Uy nên cố gắng làm thật tốt, làm thật nhiều việc cho nhà họ Quách.

Y không chỉ giúp Quách gia quản lý việc nhà đâu vào đấy, mà còn đi buôn bán ở bên ngoài nhằm kiếm chút ngân lượng về đỡ đần Quách Uy. Có thể nói, lúc ấy, việc nhà Quách gia mỗi ngày một khấm khá hơn không thể không kể tới công lao của Sài Vinh. Cũng trong thời gian ấy, Sài Vinh vừa đọc sách vừa luyện võ, dần dần trở thành một nhân tài ưu tú.

Sau này Quách Uy được trọng dụng, đầu tiên được thăng chức Xu mật phó sứ, sau lại đảm nhiệm chức vụ Nghiệp Đô lưu thủ mật sứ, Thiên hùng Tiết độ sứ. Lúc đó, Sài Vinh đã bộc lộ rõ tài mưu lược, được phong làm Thiên hùng nha nội Chỉ huy sứ, đảm nhiệm chức Thứ sử Quý Châu, Kiểm hiệu hữu phó xạ. Sau này, khi gia quyến của Quách Uy ở Biện Châu bị Hán Ẩn Đế sát hại, Quách Uy giận dữ đem quân thẳng đến Khai Phong, để lại Nghiệp Đô cho Sài Vinh trấn giữ.

Quách Uy diệt nhà Hậu Hán, lập nên triều đại Đại Chu, kiểm soát vùng lãnh thổ gồm chín mươi tám châu ở Trung Nguyên, trở thành nước lớn nhất ở khu vực Trung Nguyên. Một người làm quan, cả họ được nhờ. Sài Vinh thân là nghĩa tử của Quách Vinh, nên đầu tiên được phong làm Thái Nguyên quận hầu, sau đó được phong Tấn Vương, nắm trong tay quyền điều khiển binh mã Hậu Chu.

Nay Sài Vinh đã đăng cơ Hoàng đế. Những năm qua, Tôn Huyền Đạo luôn theo sát từng bước đi đến đỉnh cao quyền lực của Sài Vinh, thấy rằng việc đó cũng không hề ngẫu nhiên.

Biết rõ những thủ đoạn của vị Hoàng thượng này, Tôn Huyền Đạo không thể không e sợ. Nếu như y có trách tội thì lão cũng chẳng biết tìm lý do gì để thoát tội. Bao vây Ngọc Châu đã hơn mười ngày, không những không chiếm được mà còn làm thiệt quân hại tướng, việc này dù có lấy lý do thế nào đi nữa cũng không thể biện minh được. Hơn nữa, trấn thủ thành Ngọc Châu chỉ có không đến vài ngàn binh mã, vậy mà bao lần công thành đều không xong, lão còn có thể nói gì đây?

Tôn Huyền Đạo vội dập đầu nói: - Thần tội đáng muôn chết.

Sài Vinh thở dài, quát: - Tôn Huyền Đạo, một câu tội đáng muôn chết của ngươi là xong hay sao? Ngươi có chết muôn lần thật, thì cũng đổi lấy lấy tính mạng của hai vạn dũng sĩ Đại Chu không?

Đoạn y đứng dậy, tay nắm lấy thanh bảo kiếm, nhìn ra khoảng không mờ mịt bên ngoài trướng, nói:

- Ngươi là lão tướng lưỡng triều, lãnh binh đã nhiều năm, từ xưa đến nay luôn nhận được sự tin tưởng của Tiên đế. Những năm qua, dù là Bắc Hán, Hậu Thục hay Nam Đường, ngươi đã lãnh binh là giành được chiến thắng. Vậy mà sao lần này một thành Ngọc Châu cỏn con như vậy mà không chiếm nổi?

Tôn Huyền Đạo đầu cúi chạm đất, nói: - Thần đã phụ long ân, xin Bệ hạ trách tội.

Sài Vinh hừ một tiếng lạnh lùng rồi nói tiếp:

- Trách tội, tội đáng muôn chết, nhà người ngoài biết nói như vậy ra còn có gì khác nữa không? Tôn Huyền Đạo, nhiệt huyết năm xưa của nhà ngươi đâu cả rồi? Khi Tiên đế chinh phục Hậu Hán, nhà ngươi dẫn năm trăm binh mã phá tan đại doanh quân Hán, diệt hàng ngàn tên địch. Chinh phạt Hậu Thục, ngươi dẫn đầu hàng quân, thân trúng hai tên mà không hề lùi bước, vẫn truy sát quân địch hơn bảy mươi dặm. Cuộc chiến với Nam Đường và Giang Bắc, ngươi đem theo ba ngàn binh mã trấn thủ đường sông, chặn đứng đường lui quân của đại quân Nam Đường, trận chiến kết thúc, ta còn thấy áo giáp của ngươi ướt đẫm máu.

Nói rồi y nhìn thẳng vào mắt Tôn Huyền Đạo, rõng rạc hỏi: - Những chuyện đó, ngươi đã quên cả rồi sao?

Tôn Huyền Đạo toàn thân run rẩy, lão ngẩng đầu lên, gương mặt già nua nhìn Sài Vinh, sau đó lại cúi gằm mặt xuống. Cả thân người lão vẫn run lên, rõ ràng lão đang cố kiềm nén sự kích động trong lòng. Đúng, Sài Vinh nói đúng. Những việc đó chính là quá khứ huy hoàng của lão. Nhưng… nhưng hiện tại, con mãnh hổ có chết cũng không lùi bước đó đã già rồi. Trong lòng lão càng thêm bi thảm xen lẫn hoài niệm. Bộ vuốt của mãnh hổ nay đã không còn sắc lẹm, hàm răng cũng không còn sắc lạnh như xưa nữa rồi.

Lão thấy quá nhiều người chết. Lão cứ nghĩ rằng, mình đã trở nên chai lỳ, đã quen với cảnh tượng đó rồi. Nhưng khi đã về già, lão càng ngày không thể chịu đựng được cảm giác mà cái chết mang lại. Thấy binh sĩ công thành từng người, từng người ngã xuống, tự sâu trong lòng lão bỗng trào dâng niềm đau xót không thể diễn tả bằng lời. Có lẽ, khi Thái tổ Bệ hạ băng hà cũng đã mang theo cả ý chí trận mạng của lão đi cùng mất rồi.

Nếu như đêm qua không có khâm sai đại thần phụng thánh chỉ của Hoàng thượng đến đôn đốc cuộc chiến thì lão tuyệt đối không tiếp tục để binh lính của mình phải chết để tấn công thành Ngọc Châu. Chỉ một đêm nửa ngày khổ chiến, không những không chiếm được Ngọc Châu mà lại mất đi hơn một vạn mạng người, lòng lão như dao cắt. Nhưng lão có thể nói gì? Lão vốn đã phản đối cuộc chiến này, vốn lão chỉ muốn bao vây thành rồi dụ địch ra hàng, vốn lão muốn giảm tối đa số binh lính hi sinh, nhưng lão lại không có quyền quyết định.

Đã quá nhiều người chết. Nếu như không phải là Hoàng thượng liên tục thúc giục, sao nhiều người lại phải chết như vậy?

Nhưng lão thân là một đại thần, sao có thể nói ra những lời ấy.

Khi xưa, khi Quách gia còn chưa phát công danh thì lão đã ở trong Quách gia rồi. Chính mắt lão chứng kiến người nhà họ Quách đi từng bước đến đỉnh cao quyền lực, rồi lại chứng kiến họ lần lượt ra đi. Dù Quách Uy có lên ngôi Hoàng đế, nhưng sau cùng người nhà họ Quách đều bị diệt vong, chẳng còn ai nối dõi. Nước Đại Chu hôm nay, Hoàng đế đâu có mang họ Quách, lão còn có thể nói gì đây?

- Tôn Huyền Đạo, không phải trẫm trách ngươi, nhưng quả thật mấy ngày nay ngươi làm trẫm quá thất vọng.

Sài Vinh nói tiếp: - Hoàng huynh bị gian tế Bắc Hán mưu hại, Tiên đế cũng vì vậy mà quy tiên. Mối thù không đội trời chung như vậy, muôn dân oán giận, tam quân quên mình, sao ngươi dám buông tay như vậy? Ngươi liệu có xứng với sự tin tưởng của Tiên đế, xứng với sự tin tưởng của trẫm không?

- Trẫm cho ngươi một cơ hội cuối cùng. Hôm nay, trẫm đích thân đến trước ba quân để đốc thúc, xem ngươi làm thế nào chiếm được Ngọc Châu, giết mấy tên Bắc Hán kia, báo thù cho Tiên tế, Thái tử Điện hạ cùng hàng vạn binh sĩ đã tử trận.

Tôn Huyền Đạo người lại run lên. Lão ngẩng đầu lên, ánh mắt thê lương nhìn Hoàng đế, rồi như một thói quen, lại cúi mặt xuống. Lão run run nói: - Thần… tuân chỉ!

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Chương 84.2: Lâm trận trảm tướng

Sài Vinh ngồi lại ghế, nói to: - Hi vọng ngươi không tiếp tục phụ lòng tin của trẫm.

Rồi y đảo mắt nhìn một lượt những tướng lĩnh đang quỳ ở trong trướng, nói:

- Trẫm nghe nói trong cuộc công thành sáng nay, Tướng quân Nhuệ Kim doanh- Tống Nghị không những không dốc toàn lực, mà lại án binh bất động, làm Thanh Mộc doanh gặp tổn thất nặng nề mà không hề chi viện, sao lại có việc này?

Nhuệ Kim doanh tướng quân Tống Nghị đang quỳ dưới đất, nghe vậy khấu đầu lạy liên hồi, vừa khóc mếu vừa nói:

- Khởi bẩm Bệ hạ, không phải là vi thần không tận lực mà là quân Bắc Hán kia đã phòng thủ quá kiên cường, quả thực quân ta tổn thất rất nghiêm trọng. Trong số ngũ hành đại doanh, Hậu Thổ doanh đã gần như bị xóa sổ trong những lần công thành trước, một vạn quân giờ chỉ còn hai ngàn. Trận chiến sáng nay, Thanh Mộc doanh một vạn tướng sĩ, số còn sống cũng chỉ vài trăm. Như vậy, Ngũ hành đại doanh từ năm đại doanh đã mất đến hai, vi thần quả thật không đành đẩy lính Nhuệ Kim doanh vào chỗ chết. Xin Bệ hạ minh xét, để cho ngũ hành đại doanh một con đường sống.

Nói rồi gã lại dập đầu cầu xin, chẳng mấy chốc trên trán gã máu tươi chảy thành dòng. Giọng nói của gã nghẹn lại, lộ rõ vẻ kích động, toàn thân run lẩy bẩy.

- Hừ!

Thế Tông Sài Vinh gằn một tiếng.

- Trước trận chiến lại chùn chân, còn dám giảo biện?

Đoạn y càng nổi giận hơn, quát:

- Ngũ hành đại doanh được xây dựng mục đích là gì? Là để bảo vệ giang sơn, mở mang bờ cõi chứ không phải là để bảo vệ tính mạng của bản thân mình. Hèn nhát không dám tiến lên, khi lâm trận lại bỏ chạy. Nhuệ Kim, Thanh Mộc, Tứ Hải, Liệt Hỏa, Hậu Mộc ngũ hành đại doanh từ lúc ra đời đã cùng Tiên đế và trẫm bao lần chinh chiến, lập bao chiến công hiển hách, chưa từng chùn bước như vậy! Tại sao đến tay các ngươi, Nhuệ Kim doanh lại thành ra như vậy?

- Ngoài Tứ Hải doanh không thông thạo về đánh trận trên bộ ra, Nhuệ Kim, Thanh Mộc, Liệt Hỏa, Hậu Thổ đều đã từng đánh Nam dẹp Bắc, lập không biết bao nhiêu chiến công! Ý chí quyết không lùi bước, quyết không chấp nhận thất bại, quyết không cúi đầu của Ngũ hành đại doanh giờ đây còn lại gì? Thể diện của những đại doanh này đều bị ngươi làm cho mất hết rồi.

- Ngươi còn dám nói là để bảo vệ gốc rễ của Ngũ hành đại doanh, nếu như không phải ngươi ngăn Nhuệ Kim doanh lâm trận thì Thanh Mộc doanh đã không phải đơn độc công thành. Như vậy, không chỉ chiếm được Ngọc Thành mà Thanh Mộc doanh cũng không bị tổn thất đến vậy.

Sài Vinh càng nói càng nóng giận, chỉ mặt Tống Nghị nói:

- Người như ngươi mặt mũi nào thống lĩnh Nhuệ Kim doanh? Lại còn dám tỏ ra oan ức trước mặt trẫm. Quân lệnh như sơn, ngươi đã không chấp hành mệnh lệnh, lại còn nghĩ bản thân đã lập công. Ngươi nghĩ Đại Chu này giờ đã là thiên hạ của riêng ngươi rồi đó!

Lời nói của y đối với Tống Nghị như sét đánh ngang tai.

Tống Nghị vội quỳ rạp xuống, nói:

- Bệ hạ, thần không dám. Ngũ hành đại doanh do Tiên đế lập nên, giờ nhìn binh sĩ mỗi ngày một ít đi, thần vô cùng đau xót. Thần không dám có dụng ý gì khác, chỉ muốn giữ lại chút tinh hoa của Ngũ hành đại doanh mà thôi. Nếu cứ xông pha như vậy, e rằng Ngũ hành đại doanh cuối cùng sẽ bị tiêu diệt hết. Xin Bệ hạ minh giám!

Thế Tông Sài Vinh giận đến tái mặt, quát: - Còn dám giảo biện. Ngũ hành đại doanh đã tồn tại hai mươi năm. Trong suốt thời gian ấy, năm vạn đại quân Ngũ hành đã ba lần tử trận gần hết, nhưng đến nay chẳng phải vẫn có thể tung hoành hay sao? Những vị tướng quân từng đứng đầu các đại doanh đều vô cùng dũng mãnh. Ngũ hành đại doanh đã trở thành biểu tượng oai hùng của Đại Chu ta, vậy mà lại bị ngươi chà đạp như vậy. Ngũ hành đại doanh này, không phải ngươi nói còn là còn, mất là sẽ mất.

Tống Nghị ngẩn người ra, đang lúc định nói thêm thì Sài Vinh đã vung tay, nói:

- Người đâu, lôi tên nhu nhược này ra chém đầu cho trẫm, thủ cấp bêu trước viên môn đại doanh để làm gương cho binh sĩ.

Lập tức mấy tên ngự tiền thị vệ tiến lại, bắt trói Tống Nghị lôi ra ngoài chém đầu. Những tên tướng quân còn lại đang quỳ dưới đất đều muốn lên tiếng, nhưng không ai dám mở miệng cầu xin. Thế Tông Sài Vinh vốn hành sự cẩn trọng, tính tình nghiêm khắc, xử lý những chuyện về quân pháp lại càng khiêm khắc hơn nữa. Trong tình thế như vậy, ai dám đứng ra cầu xin cho một kẻ vi phạm quân pháp như gã?

Mặc dù bọn họ có mối quan hệ rất tốt với Tống Nghị, nhưng lúc này cũng chỉ biết cúi đầu cảm thấy đau xót thay cho gã. Thực ra, ai cũng nhận thấy, Thế Tông Sài Vinh nói không hề sai. Nếu như ban sáng, Nhuệ Kim doanh cùng các đại doanh khác nhất tề xông lên thì nói không chắc đã có thể đánh hạ được Ngọc Châu rồi. Như vậy Thanh Mộc doanh sẽ không bị tổn thất quá lớn, Nhuệ Kim doanh cũng chỉ mất vài trăm quân, chẳng phải sẽ khiến mọi người ai cũng hài lòng hay sao?

Lúc binh sĩ Thanh Mộc doanh tấn công thành Ngọc Châu, nếu Nhuệ Mộc doanh tranh thủ thời điểm quân Hán xông tới, quyết tâm tấn công thành thì rất có thể sẽ đẩy ngược được quân Hán. Chỉ cần kiểm soát được cổng thành, rồi để đại quân nhất loạt xông lên thì quân Hán với vài ngàn tàn binh làm sao chống cự nổi.

Tống Nghị đã sai, đúng là đã sai. Dù cho động cơ của gã có là gì, dù cho gã lo cho bản thân hay cho Đại Chu thì nói cho cùng gã cũng đã sai.

Cái sai của gã ở chỗ, đã coi Nhuệ Kim doanh như vật sở hữu của mình, sai ở chỗ đã để tình cảm lấn át lý trí.

Đến lúc này, ai dám đứng ra nói hộ gã? Mấy tướng quân quỳ dưới đất, bọn họ mắt trộm liếc về phía Tôn Huyền Đạo, chỉ thấy Tôn lão tướng quân lúc này vẫn quỳ sụp trên mặt đất, không nói một lời. Ngay đến cả Thống soái cũng vừa bị Hoàng thượng mắng đến nỗi không dám mở miệng, nên những người còn lại cũng chẳng ai có gan cầu xin.

Mấy tên võ sĩ cởi bỏ áo giáp lẫn quan phục trên người của Tống Nghị xuống, chỉ để lại bộ quần áo lót. Lúc này nhìn y bị trói trông giống hệt như buộc chiếc bánh trưng. Thấy tên võ sĩ giơ đao, chuẩn bị chém xuống đầu Tống Nghị đang quỳ dưới đất, Tôn Huyền Đạo mới thét lên:

- Xin Bệ hạ tha mạng! Cầu xin Bệ hạ cho y một con đường sống.

Sài Vinh khẽ cau màu, chỉ thẳng mặt Tôn Huyền Đạo, giận dữ hỏi: - Tôn Huyền Đạo! Trẫm còn chưa hỏi tội ngươi, ngươi lại còn dám xin tha tội cho nó?

Tôn Huyền Đạo đầu cúi sát đất, cơ thể già nua của lão run rẩy, nói:

- Bệ hạ, người này chết không có gì đáng tiếc, cho dù có xử lăng trì cũng đáng. Nhưng tình thế đang lúc cần người, một mãnh tướng như Tống Nghị tại sao lại không cho y cơ hội, để y lãnh quân công thành. Nếu như công thành thành công, lúc đó Bệ hạ xử tội vẫn chưa muộn. Nếu y chết trong chiến trận thì coi như cũng có chút ý nghĩa. Bệ hạ, thân là người nhà binh, được chết nơi chiến trường mới là cái chết mà chúng thần mong đợi nhất.

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Con đường Đế Vương của Sài Vinh

Chu Thế Tông Sài Vinh quét qua ánh mắt lạnh lẽo, tất cả tướng lĩnh quỳ bên dưới đều cúi rạp đầu xuống. Lời của lão Nguyên soái Tôn Huyền Đạo khiến chúng tướng lĩnh rất đồng tình. Đúng vậy, thân là quân nhân, hy sinh nơi chiến trường mới là kết cục mà bọn họ mong đợi nhất. Từ xưa đến nay chinh chiến sa trường có được mấy người toàn thây trở ra?

Sài Vinh hừ lạnh một tiếng: - Cũng thế, tạm thời giữ lại cái mạng của tên này. Nếu hắn công phá được Ngọc Châu, Trẫm sẽ xem xét lại tội trạng của hắn. Nếu hắn vùi thây trên sa trường, Trẫm sẽ miễn đi tội của hắn, cho hắn được xuống mồ trong sự trong sạch!

Tôn Huyền Đạo dập đầu tạ ơn: - Ta ơn Bệ hạ không giết! Bệ hạ độ lượng khoan dung!

Sài Vinh lạnh giọng nói: - Độ lượng khoan dung? Độ lượng khoan dung sẽ chỉ khiến các ngươi trở thành một lũ chết nhát. Độ lượng khoan dung sẽ chỉ khiến các ngươi đánh mất ý chí tâm huyết. Độ lượng khoan dung sẽ chỉ khiến các ngươi quên đi bản thân mình là một người lính! Trẫm độ lượng khoan dung, đối với các ngươi mà nói chính là một loại độc dược! Trẫm hy vọng các ngươi nhớ cho kỹ, trên chiến trường, đối với kẻ địch, đối với bản thân khoan dung hay độ lượng, đều là trí mạng!

- Tôn Huyền Đạo, Trẫm đáp ứng ngươi không phải vì Trẫm khoan dung hay độ lượng gì, mà là Trẫm muốn giữ cho linh hồn của một người lính được trong sạch! Chỉ cần hắn chết trận... Hắn vẫn sẽ là tướng quân dưới trướng của Trẫm, vẫn là tướng quân của Đại Chu!

Trong lòng tất cả mọi người đều chấn động, lời này của Sài Vinh, làm cho bọn họ nhớ tới một câu danh ngôn của Chu Thái Tổ Quách Uy: “Thân là một viên Đại tướng, khi còn sống phải rong đuổi sa trường tung hoành thiên hạ, lấy xương thịt của địch làm thức ăn, lấy máu tươi của địch giải khát, dù có chết trận sa trường, thì cũng phải hy sinh sao cho oanh oanh liệt liệt.”

Có lẽ người như vậy, mới là một quân nhân tận cốt tủy.

Quân nhân chính là quang vinh, bọn họ xả thân bảo vệ quốc gia, dùng máu thịt thân thể mình để bảo vệ tôn nghiêm của tổ quốc và vinh dự của người lính. Bọn họ chết trận sa trường là cái chết có ý nghĩa. Phận quân nhân cũng xót xa nhường nào, một tướng công thành vạn cốt khô, thây phơi khắp đồng, máu chảy thành sông. Sau khi chết đi thây về hoàng thổ, đến một cái mộ bia cũng không có. Quân nhân nhất định phải chiến đấu, chết trong chiến đấu, sống cũng phải trong chiến đấu.

Sài Vinh hiểu được đạo lý này sâu sắc, cho nên mới cho Tống Nghị một cơ hội. Kỳ thật khi y nói ra lời này, trong lòng mọi người đều hiểu rõ. Mặc kệ Tống Nghị có đánh hạ được Ngọc Châu hay không, đều khó lòng thoát chết. Cho dù thành Ngọc Châu phá được, kết cục cuối cùng của hắn cũng là chết trận sa trường. Chẳng qua, chém đứt đầu hắn không phải là lưỡi đao của địch, mà là một đạo thánh chỉ của Bệ hạ! Hắn còn sống, vĩnh viễn cũng sẽ không rửa được vết nhơ lâm trận bỏ chạy, chỉ có chết rồi, mới có thể trả lại một thân trong sạch.

Sài Vinh lạnh lùng nói: - Để hắn mang theo Nhuệ Kim doanh, Trẫm lại cho hắn mười ngàn người ngựa, trong vòng hai canh giờ mà không đánh hạ được Ngọc Châu, thì đừng trách Trẫm vô tình. Tôn Huyền Đạo lãnh binh hỗ trợ, đốc thúc đội ngũ tiến công! Trẫm tự mình tọa trấn, muốn tận mắt xem xem tòa thành Ngọc Châu này có phải là một cái thùng sắt hay không, mà có thể năm lần bảy lượt ngăn chặn được gót sắt của đại quân ta!

Các tướng lĩnh đồng loạt hô: - Bệ hạ vạn tuế, quân Đại Chu tất thắng!

Sắc mặt Sài Vinh hơi dịu xuống, nói: - Trẫm sẽ ở trước trận quan sát, các ngươi đều là tinh anh của Đại Chu ta, quân đội Đại Chu ta là đệ nhất thiên hạ, một cái thành Ngọc Châu nhỏ nhoi này chẳng qua là hòn đá cho các ngươi đặt chân đạt được công thành danh toại mà thôi. Chờ đạp bằng Ngọc Châu, tiêu diệt Bắc Hán, Trẫm sẽ ban cho các ngươi vinh hiển ngất trời!

- Các tướng quân, hãy đến đây, dùng thanh gươm sắc bén trong tay các ngươi, theo Trẫm gầy dựng giang sơn vĩ đại!

Sài Vinh nói: - Trẫm đã mang đến cho các ngươi ba trăm vò rượu ngon, vô số mỹ thực. Trẫm sẽ ở ngay trước trận chờ các ngươi, chờ các ngươi đánh phá được Ngọc Châu rồi, lại cùng Trẫm nâng cốc ngôn hoan!

Sài Vinh quả là một tay thủ đoạn, ân uy dùng cả. Đầu tiên là lấy uy chấn nhiếp đám thủ hạ mà mấy ngày qua vì không phá được Ngọc Châu mà sinh lòng thoái ý, lại dùng danh lợi để hứa hẹn, còn có nào là rượu ngon món ngon, cùng bọn chúng uống rượu chúc mừng. Những thủ đoạn liên tiếp này tuy rằng không xem là cao minh, nhưng lại có thể hoàn toàn nâng lên sĩ khí của đám tướng lĩnh thủ hạ.

Nhìn tới đám tướng lĩnh đã bắt đầu xoa tay xắn áo, Sài Vinh hiểu ý cười.

Y muốn chiếm lấy Bắc Hán là bởi tình thế bắt buộc, cho dù Bắc Hán có được sự ủng hộ của Đại Liêu, cho dù Tây Hạ đang rình rập ở một bên như hổ vây mồi, Bắc Hán y nhất định phải lấy! Khi Chu Thái Tổ Quách Uy đăng cơ, phong y là Thái Nguyên Quận hầu, sau lại tấn phong y làm Tấn Vương, hàm nghĩa trong đó lòng dạ Sài Vinh hiểu rõ!

Thái Nguyên Quận hầu? Thái Nguyên là Đô thành Bắc Hán, là nơi thiên tử Bắc Hán tọa trấn. Cái chức Thái Nguyên Quận hầu của y, căn bản là hữu danh vô thực! Sau đó được phong hiệu Tấn Vương, càng là việc làm hữu ý của Quách Uy. Ngụ ý trong đó chính là hy vọng một ngày nào đó Sài Vinh có thể đánh hạ mười hai châu giang sơn Bắc Hán, nhập vào lãnh thổ Đại Chu!

Một khi tiêu diệt được Bắc Hán, thâu tóm mười hai châu, về phía Bắc có thể kháng Liêu, chờ đợi thời cơ phát binh phạt Bắc, thu phục mười sáu châu Yến Vân. Hơn nữa có mười hai châu của Bắc Hán làm bình chắn, sẽ có thể cho Đô thành Đại Chu- Biện Châu được an ổn. Về hướng Tây, thì có thể tiên phong trực chỉ Tây Vực, chỉ cần chiếm được thành Hắc Thủy, khống chế con đường tơ lụa, từ đó của cải sẽ không ngừng chảy vào Đại Chu.

Tây Hạ chiếm cứ thành Hắc Thủy, ngăn cản các quốc gia Tây Vực cùng Trung Nguyên qua lại giao dịch, đây chính là tổn thất cực lớn đối với Trung Nguyên và Tây Vực! Tuấn mã, hương liệu, trang sức, da lông Tây Vực đều là những vật phẩm được đòi hỏi ở Trung Nguyên. Còn Trung Nguyên có lá trà, tơ lụa, đồ sứ, vân vân đều có thể từ Tây Vực thu về được số lượng vàng bạc dồi dào. Có thể nói ai chiếm cứ con đường tơ lụa, người đó sẽ có được vô số của cải!

Đối với Tây Hạ, mười hai châu Bắc Hán chẳng qua là gân gà, lấy hay không lấy cũng không khác gì nhau. Đối với Đại Liêu, có mười hai châu Bắc Hán làm nơi giảm xóc, uy hiếp của Hậu Chu sẽ giảm bớt rất nhiều. Đứng ở góc độ bất đồng, cách xử lý vấn đề đương nhiên không giống nhau. Cho nên, trong mắt Hậu Chu Sài Vinh mười hai châu Bắc Hán là nhất định phải nắm giữ được, còn ở trong mắt Quốc chủ Tây Hạ- Ngôi Danh Nẵng Tiêu và Hoàng đế Đại Liêu- Da Luật Hùng Cơ, sự tồn tại của Bắc Hán sẽ có lợi hơn xa so với bị diệt vong.

Nhưng đối với Hậu Chu, khối gân gà trong mắt Tây Hạ và Đại Liêu, lại là một khối thịt heo béo mập chảy mỡ! Còn đối với bản thân Sài Vinh, cũng là một mộng tưởng đã ôm ấp mười mấy năm!

Ba tiếng trống trận rền vang, sáu vạn đại quân tập kết. Ở phía sau đại doanh Chu quân, mười hai vạn Chu quân theo ngự giá mà đến đang trong quá trình dựng doanh địa giản đơn, xem ra cũng không tính ở lại đây quá lâu. Kỳ thật mệnh lệnh mà tướng lĩnh cầm binh đưa xuống cho chúng binh sĩ chính là: chôn nồi nấu cơm, dựng doanh trại thô sơ, hôm nay phá được Ngọc Châu rồi sáng sớm mai sẽ xuất phát, đại quân đi qua Ngọc Châu, thẳng tiến Nam đại môn của Bắc Hán, Ứng Châu!

Mười hai vạn nhân mã đi theo Chu Thế Tông Sài Vinh, từ trên xuống dưới đều không ai nghĩ qua sẽ trú đóng lâu ở Ngọc Châu này. Thiên tử ngự giá thân chinh, đại quân lên đến mười tám vạn, làm gì có chuyện công phá không được một tòa thành Ngọc Châu nho nhỏ chứ?

Chỉ cần khai thông Ngọc Châu, Ứng Châu đã là vật trong tầm tay!

Huống chi, ở Tấn Châu, còn có mười lăm vạn đại quân đã trong trận thế sẵn sàng đón địch, chỉ đợi một đạo mệnh lệnh của Hoàng đế Bệ hạ đại quân sẽ lập tức xuất phát. Lúc này đây, bề ngoài Sài Vinh chỉ suất lĩnh có hai mươi vạn nhân mã tiến công Bắc Hán, kỳ thực là ba mươi lăm vạn! Đây là chưa tính đến mười lăm vạn đại quân để lại phòng Tây Hạ thừa cơ xâm nhập. Hậu Chu vì lần Bắc phạt này, đã tập kết tròn năm mươi vạn đại quân!

Chu Thế Tông tiến Bắc phạt Hán, nhìn như hành động gấp gáp, kỳ thực không phải. Vì lần Bắc phạt này, Sài Vinh đã chuẩn bị rất lâu rồi! Toàn bộ đều nằm trong lòng bàn tay của y, bao gồm cả việc đăng cơ xưng Đế!

Đừng quên, Sài Vinh thân là Tấn Vương, chưởng quản mọi yếu vụ của cả quân đội và quốc gia Đại Chu. Toàn bộ quân đội Hậu Chu thật ra đã sớm chịu sự khống chế của y rồi. Chín mươi tám châu, bảy mươi hai doanh binh mã, trước khi y đăng cơ cũng đã nắm vào trong tay. Đăng cơ, chẳng qua là một bậc thang để y dấy binh tiến Bắc Hán mà thôi.

Ngày Sài Vinh đăng cơ, y đã hỏi Tả Gián Đại Phu- Vương Phác: - Trẫm có thể làm được Hoàng đế bao lâu?

Vương Phác tinh thông quẻ số hồi đáp:

- Vi thần sở học hữu hạn, chỉ có thể nhìn đến ba mươi năm sau. Ba mươi năm sau Bệ hạ tuổi xuân đang độ, còn về sau đó được bao lâu, vi thần coi không ra được.

Lời này phần lớn chỉ là lời nịnh bợ, Sài Vinh khi đăng cơ đã là ba mươi chín tuổi, ngồi trên ngôi Hoàng đế ba mươi năm thì tức là đã sáu mươi chín tuổi, ở thời cổ đại này xem như là trường thọ. Người thọ bảy mươi xưa nay hiếm thấy, lời này chính là lời miêu tả lão nhân thời cổ đại hết sức chân thật. Từ một số liệu không chính thức cho thấy, vào thời Đường hưng thịnh người có tuổi thọ trung bình chừng bốn mươi, chứ đừng nói tới ở thời loạn thế Ngũ Đại Thập Quốc, tuổi thọ bình quân càng thấp hơn.

Sáu mươi chín tuổi, đã là tương đối tuổi hạc rồi.

Hợp lại tất cả các vị Đế Vương trong lịch sử, từ Tần Thủy Hoàng bắt đầu tính lên: Tần triều có hai vị, Hán triều ba mươi mốt vị, Tam quốc mười vị, Tấn triều mười sáu vị, Ngũ Hồ thập lục quốc bảy mươi tám vị, Nam Bắc triều năm mươi chín vị, Tùy triều ba vị, Đường triều hai mươi hai vị, Ngũ Đại Thập Quốc năm mươi lăm vị, Tống triều mười tám vị, Kim, Liêu, Tây Hạ tổng cộng ba mươi lăm vị, Nguyên triều mười tám vị, Minh triều mười sáu vị, Thanh triều mười hai vị, còn có Nam Minh, Bắc Nguyên, số khác như Lý Tự Thành, Trương Hiến Trung cùng với cha con Hồng Tú Toàn Thái Bình Thiên quốc, còn thêm Hồng Hiến hoàng đế Viên Thế Khải làm vua gần được hai tháng, tổng cộng là bốn trăm lẻ tám vị Hoàng đế.

Nếu như tính luôn cả Vương, Công, Hầu trong tám trăm bốn mươi năm thời kỳ Đông Chu, Tây Chu, Xuân Thu chiến quốc trước Tần Thủy Hoàng, có thể nói số người nắm quyền Đế Vương của Trung Quốc có tám trăm hai mươi chín vị.

Trong đông đảo các vị Đế Vương như thế, người sống được quá tám mươi tuổi chỉ có năm người. Thọ nhất chính là vị Hoàng đế phong lưu Càn Long triều Thanh, ông sống được đến tám mươi tám tuổi. Xếp sau ông là Lương Vũ Đế Tiêu Diễn, vị nữ Hoàng đế duy nhất Võ Tắc Thiên, Tống Cao Tông Triệu Cấu và Ngô Việt Vũ Túc Vương Tiền Khẩu. Sống quá bảy mươi chỉ có mười, ở thời Ngũ Đại Thập Quốc loạn lạc như vậy mà cho ra được một Ngô Việt Vũ Túc Vương Tiền Khẩu sống tới tám mươi tuổi đã là hiếm thấy lắm rồi.

Cho nên, nói sau ba mươi năm làm Hoàng đế chỉ vừa vặn tới độ tuổi xuân chín muồi tuyệt đối là nói dối, hoa ngôn nịnh bợ. Sài Vinh đương nhiên biết lời này không đáng tin, thật sự làm được ba mươi năm Hoàng đế đã là yêu cầu xa vời, sau đó còn có thể làm được bao nhiêu năm càng là chuyện không thực tế.

Vị Quân chủ hùng tài đại lược này đối với cái kết quả ba mươi năm thống trị đã hết sức thỏa mãn, y mặc sức tưởng tượng:

- Nếu Trẫm có thể thống trị ba mươi năm, sẽ dùng mười năm mở mang bờ cõi, mười năm tu dưỡng dân chúng, mười năm cho thiên hạ thái bình, cuộc đời này đã đủ viên mãn!

Sài Vinh xua quân trực chỉ Bắc Hán, chẳng qua là bước đầu tiên trong đại chí bình thiên hạ của y.

(Chú thích của tác giả: Miêu tả của Sài Vinh trong truyện, và trong lịch sử thực tế không khớp nhau. Trong lịch sử Sài Thế Tông là một người hùng tài đại lược, được xưng tụng là đệ nhất minh quân thời Ngũ Đại. Thái Tổ Quách Uy và người nhà Sài Vinh, đều bị Hậu Hán Ẩn Đế tàn sát tại Khai Phong. Thân nhân của Quách Uy đã chết sạch, chỉ còn duy nhất một nghĩa tử làm bạn bên mình, giang sơn Hậu Chu không truyền cho y thì truyền cho ai? Chỉ tiếc, Sài Vinh tại vị không tới sáu năm thì chết bệnh.

Trong lúc y tại vị từng có một lần hỏi Tả Gián Đại Phu Vương Phác: - Trẫm sẽ tại vị được bao năm?

Vương Phác tinh thông thuật số, đáp rằng: - Thần ngu dốt sở học có hạn, theo thuật tính của thần chỉ có thể phỏng đoán đến khi Bệ hạ tại vị ba mươi năm thân thể vẫn tráng kiện, chính là mặt trời lúc ban trưa, xa hơn nữa thần bói không ra rồi.

Lời này vỗ mông ngựa hết sức khéo léo, Sài Vinh nghe xong rất vui mừng.

Y nói: - Nếu thật như lời ái khanh, Trẫm có thể cai quản thiên hạ ba mươi năm. Trẫm sẽ lấy mười năm mở rộng giang sơn, mười năm nuôi dưỡng dân chúng, mười năm tạo nên thái bình, cuộc đời này coi như mãn nguyện!

Trong hơn năm năm y tại vị, đầu tiên là phạt Hậu Thục, chiếm được bốn châu Tần, Phượng, Thành, Giai. Rồi sau đó ba lượt ngự giá thân chinh Nam Đường, đánh hạ được mười bốn châu Hoài Nam Giang Bắc.

Đáng tiếc, vị đệ nhất minh quân hùng tài đại lược thời Ngũ Đại này, khi tại vị đến năm thứ sáu thì Bắc phạt Liêu quốc, liên tiếp thu phục ba châu Doanh Châu, Mạc Châu, Dịch Châu và ba cửa ải Ngõa Kiều, Ích Tân, Ứ Khẩu. Đúng ngay lúc đại thắng, Sài Vinh thân đổ bệnh nặng, không trị được mà bỏ mình.)

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Chiến đấu đến chết lặng

Sáu vạn đại quân tập kết, một vạn người ngựa của Nhuệ Kim doanh, một trong ngũ hành đại doanh, cộng thêm một vạn binh mã được điều động tới từ các doanh khác, trong suốt nhiều năm làm tướng của tướng quân Tống Nghị, rốt cuộc khi đến thời khắc bi ai đặc thù nhất đã đạt tới đỉnh cao quyền lợi. Đối với một người chưa từng chỉ huy quá hai doanh binh lính tác chiến, đây là một sự châm chọc tàn nhẫn và máu lạnh nhường nào.

Tống Nghị cởi ra khôi giáp, để thân trần, lộ ra cơ thể tráng kiện da thịt màu đồng, hai mắt hắn vằn tơ máu đỏ au, trợn trừng mắt lăm lăm nhìn về phương hướng thành Ngọc Châu.

Hắn ngồi ở trên lưng ngựa, cảm xúc dâng trào tựa thủy triều.

Mình vì bảo vệ Nhuệ Kim doanh mà trái với quân lệnh, bây giờ lại không thể không đích thân dẫn theo các huynh đệ nhiều năm đồng sinh cộng tử với mình cùng đi chịu chết. Nỗi thống khổ này, ngoài bản thân hắn ra không một ai cảm nhận được. Một vạn huynh đệ trải qua trận chiến này, dù cho có công phá được thành Ngọc Châu, thì lại có mấy người còn sống sót?

Ở phía sau hắn chính là một vạn binh sĩ của Nhuệ Kim doanh, lúc này, thần sắc của bọn họ đều trang nghiêm, trong ánh mắt hiển lộ sự bi thương và quyết tuyệt không nói nên lời. Chuyện của Tống Nghị bọn họ đã nghe nói, đối với bọn hắn mà nói, Tống Nghị đối đãi bọn họ rất tốt, thật sự coi bọn họ như huynh đệ.

Tống Nghị nếu như nhất định phải chết, vậy bọn họ cũng chỉ có thể theo tướng quân của mình cùng đi chết!

- Các huynh đệ!

Tống Nghị hét lớn một tiếng.

- Tòa thành trì trước mắt các ngươi kia gọi là gì!

- Ngọc Châu!

Tống Nghị cầm bằng một tay một thanh đại đao nặng tám mươi tám cân, chỉ về hướng thành Ngọc Châu nói: - Trong thành Ngọc Châu là ai!

- Kẻ thù của chúng ta!

Binh lính Nhuệ Kim doanh dưới trướng hắn đồng thanh rống to.

- Hậu Thổ doanh, Thanh Mộc doanh, gần hai vạn tướng sĩ vĩnh viễn chôn thây dưới thành Ngọc Châu, là chính tại nơi đây, bọn họ đã mất đầu đổ máu! Giờ đây, thi thể bọn họ còn nằm tại đó mà không người quản! Quân Hán lấy thi thể của chúng huynh đệ ta làm vũ khí, quẳng thi thể bọn họ từ trên tường thành xuống, trở thành một đống thịt nát!

Tống Nghị la lớn: - Ta sai lầm rồi! Là bởi ta không lấy hết dũng khí đi liều mạng, đi giết địch, đi trợ giúp huynh đệ! Bây giờ, ta mang các ngươi đi báo thù cho các huynh đệ! Đi giết chóc đám quân Hán kia, đoạt trở về thi thể của các huynh đệ! Dùng đầu của quân Hán để bù đắp cho những sai lầm của chúng ta! An ủi cho vong hồn linh thiêng của các huynh đệ chết trận!

- Chính tại nơi kia! Có kẻ thù của chúng ta, chúng ta phải làm như thế nào!

Hai mắt Tống Nghị đỏ ngầu, hắn ngửa đầu lên trời tựa như mãnh hổ xuống núi cất giọng rống to.

- Giết!

- Giết!

- Giết!

Binh sĩ Nhuệ Kim doanh vung tay hô to! Giết! Giết! Giết!

Tống Nghị cầm đại đao trong tay, chỉ ra lá cờ xì của Bắc Hán đang tung bay phần phật trên tường thành đổ nát của Ngọc Châu, phóng ngựa dựng lên, con ngựa kia liền dựng đứng trên hai vó, mặt ngửa lên trời hí vang.

- Chặt đứt cây cờ xí Bắc Hán kia! Giết sạch quân Hán!

- Giết sạch quân Hán!

Sáu vạn đại quân đồng thanh hô to, chói tai nhức óc! Sĩ khí vào thời khắc này đã được Tống Nghị cổ động nâng lên đến cực hạn! Mọi căm thù và thù hận giấu dưới đáy lòng đều bị Tống Nghị khơi dậy! Lúc này, Chu quân đã không còn là con người, mà là một bầy dã lang điên cuồng khát máu! Bọn họ rống giận, quơ binh khí trong tay, trong mắt bọn họ quân Hán thủ thành đã trở thành những kẻ thù không đội trời chung!

Sài Vinh ngồi ở trên đài cao, lòng của hắn cũng bị những lời nói của Tống Nghị lây nhiễm, một dòng nhiệt huyết sôi trào trong lòng hắn. Đây chính là tâm huyết mà chỉ có cánh đàn ông mới sở hữu, là sự dũng cảm và ý chí vĩ đại chỉ nam nhân mới có!

Nhìn theo bóng dáng của Tống Nghị, nhìn vị tướng lĩnh mà khẳng định sẽ phải bỏ mạng tại chiến trường nơi này, nội tâm Sài Vinh có chút phức tạp, người trước mắt hắn đây và con người mà mình đã cho là quỷ sợ chết là một sao? Khí khái thế này, thủ đoạn phấn chấn lòng người thế này, tuyệt đối không phải là một tên quỷ ham sống sợ chết tầm thường có được.

Nhưng, trong lòng của hắn vẫn không hề có ý nghĩ sẽ bỏ qua cho tính mạng của Tống Nghị, ít ra thì hiện tại không có.

Nếu Tống Nghị chết trận, Sài Vinh sẽ không chút keo kiệt mà phong thưởng. Phong hầu phong tướng, để lại tiếng thơm cho hậu thế, đối với một người đã chết mà nói thì những thứ này chẳng có giá trị gì. Cái hữu dụng chính là, những phong thưởng, phần thưởng này sẽ biểu hiện ra lòng khoan dung độ lượng của hắn, mục đích là để cho người sống xem. Dùng để kích phát tâm huyết và dũng khí của những người còn sống!

Sài Vinh nhìn Tống Nghị, trong lòng thầm nhủ: - Chớ trách Trẫm vô tình, chẳng qua trên chiến trận không cho phép Trẫm xử trí theo cảm tính. Tống tướng quân... an lòng... mà đi nhé.

Tống Nghị kẹp hai chân vào mình ngựa, làm đầu tàu xung phong xông ra ngoài. Ở phía sau hắn là hai vạn đại quân đông nghìn nghịt. Tục ngữ có câu người quá một vạn, khôn cùng vô duyên. Hai vạn đại quân như một mũi tên hùng vĩ xông lên trước, không phải tự mình trải nghiệm sẽ không thể nào hiểu được cảm giác chấn động lòng người nơi chiến trường. Lần đầu tiên Lưu Lăng trải qua chiến trận, cũng đã bị cảnh tượng khi ấy gây rung động. Đây không phải là xem phim truyền hình, chỉ có thưa thớt mấy chục mấy trăm người sắm vai mấy vạn thậm chí mấy chục vạn đại quân, hơn nữa cùng một màn ảnh chiếu tới chiếu lui vô số lần.

Đây là một sự rung động hết sức rõ rệt, làm cho người ta cảm giác áp lực trầm trọng. Nhất là trong mắt của số quân Hán đã làm ra tư thế phòng ngự sẵn sàng trên tường thành Ngọc Châu, đại quân Chu kia giống như thủy triều ập tới, như sóng cả cuồn cuộn, dâng trào mãnh liệt mà đến! Một sự run rẩy phát ra từ nội tâm, khiến cho bọn họ không kềm được mà run lên từng hồi.

Lúc này tràng công kích của Chu quân hung mạnh vượt xa những lần trước, bọn họ vừa lao tới vừa điên cuồng hô to khẩu hiệu. Đối mặt với khí thế quyết tuyệt của quân Chu, nỗi sợ hãi cất giấu sâu tận đáy lòng của những quân Hán đã chết lặng một lần nữa không thể kìm hãm mà xông ra như con sóng dữ.

Bốn người Vương Bán Cân, Đỗ Nghĩa, Chiêu Tiên, Tôn Thắng đứng ở trên tường thành, quan sát đại quân Hậu Chu rậm rạp như rừng càn quét đi qua, sắc mặt tất cả đều hết sức trầm trọng.

Tôn Thắng lộ ra sắc mặt sầu thảm, cười cười nói: - Các vị tướng quân, đã đến lúc ta cần phải đi đến nơi chịu trách nhiệm trấn thủ rồi, đánh xong trận chiến này nếu ta may mắn không chết, hy vọng có thể bái các vị làm ca ca, kết làm huynh đệ khác họ.

Đỗ Nghĩa ôm quyền nói: - Chúng ta đã nói qua cả rồi, nếu trận chiến này không chết, bốn người huynh đệ chúng ta kết làm huynh đệ khác họ. Đỗ mỗ cũng phải đến nơi ta phụ trách, xin tại đây từ biệt!

Vương Bán Cân cũng có một phần tường thành do hắn chịu trách nhiệm thủ hộ, hắn cười ha hả, sảng khoái nói: - Đại trượng phu, chính là vào lúc như thế này xem nhẹ sinh tử, chuyện trò vui vẻ! Đám Chu quân giết mãi không hết kia ơi, Vương mỗ đến rồi đây!

Chiêu Tiên ôm quyền nói: - Các vị, chúng ta... kiếp sau gặp lại!

Bốn người cùng ôm quyền nói: - Kiếp sau gặp lại!

Hơn ba nghìn quân thủ thành, bởi vì không gian tường thành có hạn, phân thành bốn thê đội. Còn có ba bốn trăm dân thường tình nguyện đi lên tường thành thủ hộ Ngọc Châu, nắm trong tay gậy gỗ, cái xiên, thậm chí băng ghế, muôi sắt làm vũ khí, mặt mày trắng bệch, run run rẩy rẩy chuẩn bị nghênh đón sự công kích mãnh liệt của Chu quân.

Thu gom lại tất cả mũi tên mà Chu quân bắn lên tường thành, miễn cưỡng đủ dùng cho ba lần bắn một lượt. Chỉ có điều đối diện với đoàn quân Chu ào ạt xông lên như hồng thủy, ba lượt bắn đồng loạt này chẳng qua là muối bỏ biển, tác dụng cực kỳ bé nhỏ. Tảng đá, cây lăn đều đã chuẩn bị trước ổn thỏa, chỉ còn chờ Chu quân vọt tới dưới tường thành thôi.

Ở trên bình nguyên, bên trong đội hình Chu quân đã triển khai, ba trăm tử sĩ kéo đẩy một chiếc công thành chùy chậm rãi di động về phía trước. Chiếc công thành chùy khổng lồ này là do một cây đại thụ trăm năm chế thành, lực va chạm cực kỳ lớn. Tuy nhiên quân Hán biết cửa thành yếu ớt nhất định không ngăn nổi Chu quân tấn công, sớm đã dùng gạch đá lấp kín cửa thành. Nhưng dù có vậy, một khi công thành chùy công kích vào hai bên cửa thành mà nói, tường thành ở hai bên cửa thành chính là nơi yếu ớt nhất, đã bị Chu quân trước đó công thành đập vỡ ra một cái khe, hiện tại e rằng không chịu đựng nổi vài lần va chạm của công thành chùy.

Quân Hán đứng trên tường thành, mỗi người đều nắm chặt binh khí trong tay. Trường mâu không còn sắc bén, đại đao đầy vết rãnh nứt, đã nhuốm đầy máu, của chính mình, của chiến hữu, càng nhiều hơn là của kẻ địch. Lòng bàn tay mỗi người rướm đầy mồ hôi, trên mặt cắt không còn giọt máu, nhưng đều giống hệt nhau, mỗi người đều đã ôm lấy trái tim quyết chí chiến đấu đến cùng, tuyệt sẽ không lùi nửa bước.

Theo dõi người ngựa của Chu quân đã tiến vào phạm vi tầm bắn của cung tiễn, Chiêu Tiên đứng vững tại nơi tường thành hắn phụ trách trấn thủ, tay siết chặt nắm đấm, hắn nhìn chằm chằm vào binh lính Chu quân xung phong đi đầu, mạnh mẽ hét lớn một tiếng: - Bắn tên!

Vù vù!

Đợt tên thứ nhất như mưa tuôn bay ra!

Một đợt mưa tên này, cung tiễn bắn ra hoàn toàn không cần nhắm, bởi vì Chu quân dưới thành chen chúc không một lỗ hổng. Mưa tên che trời phủ đất bắn đến, lập tức có trên trăm tên lính ngã trên mặt đất. Chỉ có điều, bọn họ ngã xuống rồi, các chiến hữu của bọn họ sẽ tức thì giẫm đạp lên thi thể của họ mà xông lên.

Ba lượt mưa tên, chẳng mấy chốc đã bắn xong, chí ít có bảy tám trăm tên lính Chu quân bỏ mạng dưới ba đợt mưa tên.

Nhưng, vẫn không một ai lùi bước, bọn họ căn bản không thể lùi bước!

Tống Nghị quơ đại đao trong tay, đánh bay một mũi điêu linh tiễn bắn về hướng mình. Rống giận một tiếng thẳng hướng dưới tường thành lao tới, tới bên dưới cái thang công thành dựng thẳng lên tường thành rồi, hắn sẽ là người đầu tiên xông lên đầu thành!

Ba trăm dũng sĩ kéo đẩy công thành chùy nặng nề, liên tiếp có người ngã xuống tử vong. Cung tiễn thủ quân Hán biết rằng tuyệt đối không thể để cho công thành chùy tới gần, cho nên cung tiễn thủ ở đoạn tường thành này gần như dồn toàn bộ mũi tên nhắm vào nơi đó. Ba trăm tử sĩ đẩy xe, mỗi khi tiến lên thêm một bước đều sẽ có người ngã xuống, không bao giờ đứng dậy được nữa. Nhưng, cứ ngã xuống một người sẽ lập tức có người bổ khuyết vào chỗ trống.

Mấy trăm binh lính Chu quân giơ lên tấm chắn thật lớn phòng hộ cho Chu quân đẩy xe, còn bọn họ thì để thân thể của mình phơi bày trước cung tiễn của quân Hán.

Vì thắng lợi, hai bên đều đấu tranh đến đỏ tròng mắt.

Một lớp lại một lớp binh sĩ ngã xuống, thì càng có nhiều binh lính khác ùa lên. Khi đã tiến công đến nơi cách bên dưới tường thành không xa, cung tiễn thủ của Chu quân rốt cục đã có thể trả đũa rồi. Mưa tên dày đặc bắn lên tường thành, như một màn mưa màu đen che khuất bầu trời. Vô số mũi tên giống như lưỡi hái trong tay tử thần, không ngừng bay nhanh thu gặt lấy sinh mạng của binh lính thủ thành.

Quân Hán trúng tên ngã xuống nhiều vô số kể, nhưng cũng tương tự, rất nhanh liền có người vào thay vị trí, đứng trên tường thành đối đầu với luồng công kích điên cuồng của Chu quân.

Tảng đá, cây lăn điên cuồng đập xuống, Chu quân phía dưới lập tức có không ít người bị nện trúng. Cây lăn nặng nề, từ trên tường thành rơi xuống càng mang theo quán tính thật lớn, thông thường có thể đập thân thể người thành một mớ máu thịt hỗn độn, tan nát thành vô vàn mẩu thịt vụn. Một tảng đá hơn mười cân nện trên trán một gã binh lính Chu quân, lực va chạm mạnh đến mức đánh nát đầu lâu của tên lính, tảng đá như được khảm trên cổ của gã ta, cùng thi thể của gã đổ ầm xuống mặt đất.

Một gã binh lính quân Hán vừa mới giơ lên một tảng đá thì đã bị một mũi tên bay tới ghim vào lồng ngực. Thân thể gã chấn động mãnh liệt, lập tức cúi đầu nhìn thoáng qua. Trên lồng ngực của gã là một cây tên đâm thật sâu vào, xuyên qua cả trái tim của gã, lúc này, gã đã không còn cảm giác đau đớn nữa.

Một tiếng rống to, tên binh lính quân Hán này đem tảng đá trong tay mạnh mẽ đập xuống, tức thì đập bể bụng của một gã lính Chu quân, ruột chảy ra đầy đất. Phập phập phập! Trên người của tên lính Hán này lại trúng mấy mũi tên, lực bắn của cung tiễn kéo gã lùi bước về sau.

Người này là binh lính đến từ đại doanh Kinh Kỳ, từng theo Lưu Lăng nam chinh bắc chiến. Lúc này, sức sống trên người gã dần rút đi, tính mạng của gã rốt cục sẽ vĩnh viễn chôn vùi giữa chiến trường chinh chiến.

Tên lính thuộc đại doanh Kinh Kỳ này gầm lên giận dữ, khuôn mặt dữ tợn giơ tay nắm lấy một cây tên cắm trên người mình xuống, khuôn mặt gã hết sức khủng bố, từ miệng không ngừng có máu tràn ra. Lôi kéo một tên cung tiễn thủ ở bên cạnh đã không còn tên để bắn, người lính đại doanh Kinh Kỳ này cười thảm rồi nói: - Cho ngươi tên này, báo thù thay ta đi!

Nói xong, gã mạnh mẽ nhảy xuống tường thành.

Đầu lâu của gã và của một binh lính quân Chu hung hăng đập vào nhau, đầu của hai viên tốt liền như quả dưa hấu bị gậy đập vỡ nát, vỡ vụn thành một mớ sương máu tung tóe.

Tên cung tiễn thủ kia nắm cây tên nhuốm đầy máu tươi của đồng bạn, ánh mắt hờ hững quan sát cái chết của đồng bạn, rồi hắn hướng ánh mắt đỏ lự một màu ngắm chuẩn lấy kẻ thù, một mũi tên, bắn một mũi tên ra ngoài.

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Chương 87.1: Một chết một thương

Một binh lính Chu quân tên là Vương Hải vừa xông lên phía trước vừa hỏi bằng hữu lão Triệu ở bên cạnh: - Triệu đại thúc, thúc nói chúng ta sẽ có thể sống sót trở về hay không?

Vương Hải năm nay mới mười bảy tuổi, tòng quân chưa được bao lâu, nhưng vì lúc ở nhà từng luyện qua côn bổng biết được chút võ nghệ, cho nên sau khi trải qua mấy ngày huấn luyện đã trực tiếp được điều động tới Nhuệ Kim doanh. Ở trong này, hắn vô cùng kinh ngạc vui sướng khi gặp được một người đồng hương. Cũng chính là lão Triệu đang đi bên cạnh hắn, đã bốn mươi bảy tuổi.

Tên của lão Triệu là gì, ông ta nói mình không nhớ rõ. Tòng quân mười mấy năm rồi, đã quên luôn tên của mình, trải qua bao nhiêu trận chiến trên chiến trường, số người đã giết quên rồi, mấy lần bị thương cũng đã quên, chỉ nhớ rõ có một thứ, đó chính là thủ đoạn giết người và bảo vệ mạng sống của mình.

Chính là phải ra tay tàn độc! Phải giảo hoạt!

Một lão Triệu lạnh lùng tàn nhẫn như thế, nhưng đối đãi với vị tiểu ca đồng hương Vương Hải thì quan tâm có thừa. Cũng khó trách, lão Triệu tòng quân mười mấy năm, nhưng chưa một lần trở về quê nhà. Hiện giờ khó khăn lắm mới gặp được một tiểu bối cùng thôn, ông ta chợt nhớ tới đứa con của mình đã mười mấy năm rồi không gặp. Nghe Vương Hải nói con của mình rất có tiền đồ, đã khảo trúng tú tài, còn nói nó đang dò hỏi khắp nơi tìm cha của mình, hy vọng có thể đưa cha già về nhà.

Yêu ai yêu cả đường đi, lão Triệu đối với Vương Hải đặc biệt tốt.

- Tiểu tử ngốc, nhớ phải luôn ở sát bên cạnh ta, ngàn vạn lần chớ có tách ra. Khi người khác trèo lên tường thành ngươi hãy coi mình là người thang, đừng có không biết sống chết mà hăng hái xông lên đầu. Ai lên tường thành trước thì kẻ đó chết trước, đây chính là cái đạo lý khắc nghiệt. Khi nào ta cho ngươi tiến thì ngươi mới tiến, ta bảo ngươi giả chết, tên tiểu tử ngươi hãy nằm ngay đơ trên mặt đất cho ta, cấm không được hô hấp mạnh.

Vương Hải giơ tấm chắn nói: - Triệu đại thúc, như vậy không tốt. Tất cả mọi người đều đang liều mạng, chúng ta lại đi giả chết, rất... rất không nên.

Lão Triệu căm tức liếc mắt hắn một cái, nói: - Ngươi thì biết cái gì? Biết không, ông đây tòng quân đã nhiều năm rồi, các trận đánh lớn có nhỏ có tính ra cũng mấy chục, các huynh đệ từng cùng nhau thao luyện, ăn chung ở chung đều đã chết sạch cả, vậy ông đây cớ sao còn sống êm đẹp hả? Ta cho ngươi biết, nhóc à, nếu muốn sống sót thì nghe lời ta. Lúc nên giết người thì giết người, lúc nên giả chết thì giả chết!

Vương Hải nhe ra hàm răng trắng bóng cười cười nói: - Ta còn muốn giết nhiều tên quân Hán, lập công lao được ban thưởng, tương lai phải làm một Đại tướng quân mặc thiết diệp tử liên hoàn giáp cưỡi con ngựa cao to, uy phong lẫm liệt về thôn kìa.

Lão Triệu bị bộ dạng khờ khạo ngốc nghếch của hắn chọc cười, gõ mạnh vào trán Vương Hải rồi nói: - Nhanh thu hồi cái ý niệm này trong đầu cho ông. Hiện tại ngươi chỉ để ý đi theo bên người ông đây, một bước cũng không được rời khỏi. Mạng còn không giữ được, thì còn làm tướng quân cái rắm.

Vương Hải cười hì hì, nói: - Ta nghe lời thúc, Triệu đại thúc!

Lão Triệu nhếch miệng cười nói: - Vậy mới được chứ! Ngươi mới mười bảy thôi, mẹ ngươi còn đang ở nhà chờ ngươi báo hiếu kia kìa. Bà ấy chỉ có một đứa con trai là ngươi, ngươi chết rồi ai chăm sóc dưỡng lão cho bà ấy đây? Ngươi và ông đây không giống, ông đây đã thành gia lập nghiệp, cũng đã có con nối dõi tông đường. Mấy năm nay ta đã dành dụm được một ít bạc cho mẹ con họ, chờ lần này đánh giặc xong nếu ngươi có thể trở về nhà, thì giúp ta mang số bạc ấy về cho hai mẹ con họ.

- Triệu đại thúc, sao thúc không trở về nhà?

- Về nhà? Ta không có mặt mũi nào để về gặp hai mẹ con họ, trước đây ta cũng giống như ngươi, cũng ảo tưởng muốn làm binh, làm tướng quân, muốn làm rạng rỡ tổ tông. Bỏ mặc hai mẹ con họ và chạy đi nhập ngũ, bây giờ ngẫm lại, ông đây đúng là một thằng ngu.

Vương Hải trầm mặc một hồi rồi nói: - Triệu đại thúc, lần sau nếu có cơ hội, chúng ta cùng nhau trở về đi. Ta nghĩ, vợ con của thúc đều ngóng trông ngày thúc trở về.

Hắn còn chưa nói dứt lời, một mũi tên mang theo máu đã đâm lên trên mũ của hắn.

Vương Hải bị dọa thân mình run lên, sắc mặt trắng phau. Lão Triệu vội kéo hắn tránh ra đằng sau mình, tháo mũ của hắn xuống xem xem, thì thấy mũi tên kia thẳng tắp cắm vào trong tóc của Vương Hải, xuống thêm tí nữa là có thể đâm xuyên da đầu hắn rồi.

Lão Triệu cũng hoảng sợ không thôi, quan sát tỉ mỉ thấy Vương Hải không có việc gì mới thở phào một hơi, nói: - Tiểu tử ngươi, mệnh cũng lớn thật.

Vương Hải hồi phục lại tinh thần một chút, đón lấy mũ của mình nhìn nhìn, cười ha ha nói: - Ha ha! Triệu đại thúc, có câu đại nạn không chết tất có hậu phúc, nói không chừng về sau ta thật sự có thể làm tướng...

Phập!

Một mũi tên, cắm thật sâu vào lồng ngực của Vương Hải.

Lão Triệu ôm lấy thi thể của Vương Hải gào khóc: - Tiểu tử ngốc, đã nói không cho ngươi làm tướng quân rồi mà, ngươi không chịu nghe lời ta! Ôi! Ngươi mới có mười bảy tuổi thôi!

Binh lính Chu quân lần lượt ngã xuống dưới tường thành Ngọc Châu, tất cả những con người này có lẽ ở quê nhà có thê tử có con cái đang ngóng trông, có lẽ có mẹ già mỏi mòn chờ con trẻ về hiếu kính, thế nhưng chiến tranh tàn khốc như một bộ máy giết chóc vô tình, ai ai cũng không thể nắm chắc được cơ hội sống sót. Mạng người, ở trên chiến trường là thứ rẻ mạt nhất.

Không ai quan tâm đến sự sống chết của người khác, mới giây trước đó rõ ràng còn là một người dồi dào sức sống, có thể giây tiếp theo đã bước đi trên cầu Nại Hà, uống xong canh Mạnh Bà, tiến vào cửa luân hồi.

Máu tươi cứ thế mà trôi, mạng người cứ thế mà mất, dễ dàng như vậy.

Tương đồng, trên tường thành Ngọc Châu, số tử vong của quân Hán thủ thành càng ngày càng nhiều, tốc độ cũng một lúc một nhanh. Vũ khí khuyết thiếu, lương thực thiếu thốn, thể lực không đủ, những yếu tố bất lợi này của quân Hán đã trở thành trợ lực cho quân Chu khi bọn chúng áp sát tường thành. Cung tiễn thủ Chu quân tổ chức áp chế có hiệu lực, từng thi thể quân Hán rơi xuống từ trên tường thành, dưới chân thành, thi thể của bọn họ và của kẻ địch quấn lấy nhau, khó mà tách rời.

Một mảnh đại địa biến sắc, đỏ rực một màu, vĩnh viễn là sắc điệu tiêu biểu của chiến trường. Quá nhiều máu trên mặt đất tích tụ thành những dòng suối máu chảy dài, những vũng máu đọng vẫn còn hơi ấm, ùng ục bọt máu trên cả vùng đất.

Bốn thê đội quân Hán thủ thành, thê đội thứ nhất người gần như chết hết. Thê đội thứ hai đã tổn thất quá nửa, nhờ người của thê đội thứ ba lần lượt tới bổ sung. Ở gần cửa thành, quân Hán chịu tổn thất càng thê thảm và nghiêm trọng. Vì yểm hộ cho công thành chùy, vô số cung tiễn thủ Chu quân tập kết ở đây, mưa tên dày đặc gần như áp chế Hán quân trên thành không ngốc đầu lên được, thê đội thứ tư của quân Hán giữ cửa thành đã toàn bộ lên tường thành. Ở phía sau bọn họ chính là các dân chúng cầm trong tay vũ khí đơn sơ, trên mặt không có chút máu, cả người run lẩy bẩy.

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Chương 87.2: Một chết một thương

Từng cái từng cái thang một được dựng lên, Chu quân bắt đầu bám leo lên tường thành. Quân Hán thủ thành dùng tảng đá liên tiếp đập xuống Chu quân đang trèo thang, không ngớt dốc sức đẩy đổ thang bắc lên tường thành. Cung tiễn thủ Chu quân tiến hành công kích áp chế hết sức lợi hại, có rất nhiều quân Hán mang ý đồ đẩy ngã thang đều bị loạn tiễn bắn chết.

Rốt cục, đã có mấy tên Chu quân trèo được lên đầu thành Ngọc Châu. Quân Hán phụ trách trợ giúp lập tức chen chúc vây lại, tên lính Chu đầu tiên lên được tường thành còn chưa đứng vững chân, đã bị một đao chém đứt nửa cái đầu. Màu đỏ của máu và màu trắng của óc bắn tung tóe khắp nơi, trên tường thành, trên quần áo của bất kể là chiến hữu hay là kẻ địch.

Tên Chu quân thứ hai trèo lên, hai thanh đao thép và ba cây trường mâu gần như đồng thời công kích, chỉ trong một cái chớp mắt, tính mạng của gã đã nhanh chóng biến mất thành hư không. Một cái chớp mắt là bao lâu? Phật nói một cái búng tay là đã qua sáu mươi lần chớp mắt rồi. Như vậy, ở trên chiến trường, một cái búng tay là đã có sáu mươi người toi mạng?

Theo mấy cái thang chưa kịp đẩy đổ, càng lúc càng nhiều Chu quân bò lên tường thành. Mười mấy tên Chu quân thế nhưng không hề mù quáng xông lên phía trước, mà là cố gắng thủ hộ thang cho càng nhiều Chu quân bò lên.

Chiêu Tiên nhìn thấy đã có không ít Chu quân lên được tường thành, hắn vẫy tay một cái mang theo ba bốn tên thân binh lao thẳng tới.

Trên vai của hắn còn cắm một mũi tên, đuôi tên theo cử động chạy của hắn còn không ngớt lay động. Máu từ trên bờ vai của hắn không ngừng chảy xuống, hắn lại dường như không cảm thấy được đau đớn.

Vung phương thiên họa kích trong tay, bổ một tên lính Chu từ đối diện xông tới làm hai nửa. Chiêu Tiên rống to một tiếng: - Các huynh đệ! Hãy cùng ta đẩy lùi bọn chúng trở về, thành Ngọc Châu này không thể để mất trong tay chúng ta!

Hắn vừa ra sức giết địch, vừa hô to: - Giết sạch bọn chúng, đẩy ngã thang leo! Các huynh đệ, ở sau lưng các ngươi chính là những người dân Ngọc Châu vô tội! Một khi Chu quân từ nơi này của chúng ta công phá, từng người thân nhân của các ngươi cũng sẽ bị lũ Chu quân này giết chết! Vì bảo hộ tính mạng của người thân, vì chúng ta có thể sống sót, giết!

Cùng với tiếng rống to của hắn, càng lúc càng có nhiều quân Hán đổ xô về bên này trợ giúp. Vô số dân chúng cũng đi lên tường thành, hoặc chỉ dùng binh khí đơn sơ trong tay mình, hoặc là nhặt lên đao thương từ trong tay của những tử thi trên tường thành, đều ập về hướng binh lính Chu quân mà chém mà bổ!

Mắt thấy mười mấy tên Chu quân dẫn trước đạp lên tường thành chỉ trong một thời gian rất ngắn đã chết hơn phân nửa, những lính Chu quân khác để lại vài người đỡ lấy cái thang, số khác thì điên cuồng quơ loạn binh khí trong tay.

Chiêu Tiên xuất một chiêu với khí thế quét sạch ngàn quân, chém hai gã Chu quân thành hai khúc. Máu tươi bắn lên đầy mặt hắn, thậm chí che mất tầm mắt của hắn.

Chiêu Tiên lau máu loãng dính trên mặt, hét lớn một tiếng, một kích bổ xuống bên bả vai hợp với cánh tay của một gã Chu quân, kích này chém xéo xuống bổ mở vùng bụng của tên lính Chu. Lộp bộp lộp bộp, từng món nội tạng của tên lính này liên tiếp rơi xuống.

Chiêu Tiên như hóa thành một con mãnh thú thời viễn cổ, dùng phương thiên họa kích trong tay như nanh vuốt sắc bén, không ngừng xé rách thân thể kẻ địch.

Binh lính Chu quân lần lượt tử vong, tương ứng, quân Hán cũng đang không ngừng phản kích rồi ngã xuống. Cuối cùng, nhóm quân Hán như phát điên hô to, tay nắm chặt rồi đồng loạt xông lên phía trước, chẳng màng đến binh khí của kẻ thù đánh tới, kiên cường dựa vào thân thể của mình dồn cho đám Chu quân trên tường thành đi xuống.

Có vài binh sĩ quân Hán không kịp thu bước, cũng cùng nhau rớt xuống tường thành. Bọn họ mới rơi trên mặt đất, đã có vô số Chu quân xúm lại, chẳng quản bọn họ còn sống hay chết cái khỉ gì mà ngay lập tức loạn đao chặt chém bọn họ thành thịt nát.

Vài khung thang trước sau bị đẩy ngã, binh lính Chu quân còn trên thang hét to rồi té xuống. Trước khi chiếc thang cuối cùng bị đẩy ngã, một đại hán cường tráng để thân trần cả người đẫm máu bò lên trên. Đôi mắt của gã đã bị một màu đỏ bao phủ, máu của đám huynh đệ chảy dọc trên người gã.

Tống Nghị!

Môt đao chém chết hai tên quân Hán đứng ở gần đó, Tống Nghị gầm lên một tiếng, vọt vào giữa đám quân Hán. Thang bị đẩy ngã, gã như một con mãnh hổ đơn độc sát nhập vào bầy sói, không ngớt cắn xé thân thể kẻ địch.

Quân Hán lần lượt bị Tống Nghị giết chết, thậm chí không ít dân chúng vây công.

Chiêu Tiên tung một cước đạp tên lính Chu cuối cùng xuống tường thành, xách đao lao thẳng đến chỗ Tống Nghị. Hắn sải bước to chạy tới, thân mình nhảy lên thật cao, lăng không bổ một kích xuống đầu Tống Nghị.

Tống Nghị quét đứt đoạn thân thể của một tên quân Hán, hai tay cầm đao mạnh mẽ xông lên.

Keng một tiếng, một đám lửa tóe ra chói mắt.

Thân mình Tống Nghị không tự chủ được mà lùi về sau mấy bước, lòng bàn tay bị chấn động đau rát. Chiêu Tiên cũng không khá hơn gì, lực lượng phản ngược chấn cho trong lồng ngực của hắn sông cuộn biển gầm. Chỉ có điều trong tình huống hiện tại, cả hai người đều chẳng đoái hoài thở dốc lấy lại sức, mà lập tức vung binh khí vọt tới.

Hai người ở trên tường thành ác chiến một hồi, quân Hán vây quanh bốn phía căn bản không tiếp cận được. Tiếng đao xé gió lãnh liệt, sát khí sôi trào.

Hai người giao đấu ước chừng mười mấy hiệp, trên người đều đã bị đối phương chém mở những vết thương sâu tới tận xương. Tuy nhiên hai người kia như một cặp mãnh hổ, quyết thề không đội trời chung.

Chiêu Tiên cắn răng một cái, mạnh mẽ tiến lên vung kích quét ngang hông Tống Nghị, còn Tống Nghị thì một đao bổ thẳng đến đầu Chiêu Tiên. Hai người ai cũng không chịu trở tay phòng ngự, tình nguyện đồng quy vu tận.

Mắt thấy đao kia đã đến đỉnh đầu, Chiêu Tiên cắn răng một cái, hơi nghiêng đầu lách qua thân đao nặng nề bổ xuống, vẫn không hề thuyên giảm tốc độ vung kích thẳng đến Tống Nghị.

Keng một tiếng!

Từ bên cạnh đúng lúc duỗi tới một thanh thiết thương ngăn ở trước vai Chiêu Tiên, đại đao của Tống Nghị chém lên trên thân thương bắn ra vô số tia lửa. Tống Nghị sửng sốt, nhưng đã không kịp phản ứng rồi, kích của Chiêu Tiên đã quét ngang lên trên người gã.

Phụt!

Máu huyết vẩy ra khắp nơi, cây kích chém thật sâu vào eo Tống Nghị, không ngờ kẹt ở đầu khớp xương không nhổ ra được. Năm sáu quân Hán một loạt xông lên, đâm loạn thương, ở trên người Tống Nghị đã chọc ra hơn mười lỗ máu.

Tống Nghị một tay vịn tường thành, quay đầu lại thoáng nhìn cái tán che màu vàng ở trước trận Chu quân đằng xa, trên mặt hiện lên sự giải thoát, vẻ mặt thư thái.

Gã cứ đứng như vậy, hai mắt chậm rãi nhắm lại.

Tôn Thắng vội vàng đỡ lấy Chiêu Tiên đã gần như kiệt sức, nóng ruột hỏi: - Ngươi thế nào rồi?

Đế Trụ

Tác giả: Trí Bạch

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!