KIM LOAN BẢO ĐIỆN
Kim Loan Bảo Điện
Chiêu Tiên hiếu kỳ:
- Vương gia, định dùng cách này dụ thủ quân Khai Phong tới đây?
Lưu Lăng cười nói:
- Chỉ là tiểu kế ta ngẫu nhiên nghĩ ra thôi, vốn dĩ ta định đợi 2 người Hoa Linh và Dương Nghiệp tới thì sẽ lập tức phát binh lên bắc qua sông Hoàng Hà. Bây giờ tiểu Hoàng đế Hiển Nguyên của Khai Phong đã nằm trong tay mật điệp Tam Xử Viện Giám Sát, Bùi Chiến nói không chừng sẽ tìm cái giả ra. Còn Khai Phong, thì hắn vẫn là chính thống. Nhưng nếu mất Khai Phong, dù hắn có thắng tàn binh Quân Thành Đức cũng chỉ là bại thôi, vì thế hắn mới để lại trọng binh trấn thủ Khai Phong, mà chỉ đem theo 10 vạn nhân mã vượt Hoàng Hà bắc thượng. trước đó ta vẫn còn do dự, là suất quân bắc thượng hay là vây đánh Khai Phong. Bắc Hoàng Hà trở thành rắn không đầu, Triệu Thiết Quải chết Bùi Chiến không còn địch thủ. Nếu chúng ta bắc thượng, xác suất thắng là bao nhiêu? Dù sao, nếu Bùi Chiến thu phục tàn binh của Quân Thành Đức, thì hắn có tới 40 vạn quân.
- Mà Khai Phong, thành trì cao to, tường thành vững chắc, 10 vạn đại quân thủ thành, với binh lực trước mắt của chúng ta thì rất khó công phá. Bắc thượng, khó thắng; đánh Khai Phong, cũng khó thắng. Lần này xuất binh lại không thể vô công mà về, chỉ đành tính tiểu kế thôi.
Hắn cười nói:
- Quận thủ Trịnh Châu Ngô Tử Lai, là người Sài Vinh vô cùng tín nhiệm. Ngô Tử Lai cũng rất trung thành với triều đình Đại Chu, y chắc chắn sẽ không đầu hàng. Trịnh Châu, là cánh cổng của Khai Phong, y thân là Quận Thủ Trịnh Châu tự nhiên sẽ tìm mọi cách giữ thành. Ta cho Lý Sơn đó đem thư đi cho Ngô Tử Lai, kêu Ngô Tử Lai chuyển 10 vạn thạch lương thảo tới huyện Lai Hòa. Là có ý gì đây?
Chiêu Tiên nhíu mày rồi đột nhiên hiểu ra:
- Vương gia muốn nói cho Ngô Tử Lai biết, quân ta thiếu lương?
Lưu Lăng mỉm cười gật đầu, ra hiệu cho Chiêu Tiên nói tiếp.
Chiêu Tiên nghĩ một lúc rồi nói:
- Ngô Tử Lai trung thành với Đại Chu, đoán rằng quân ta thiếu lương thực, tự nhiên sẽ không chuyển lương thảo tới. Y sẽ cho khoái mã đem tin này về Khai Phong, Khai Phong cách Trịnh Châu chỉ có 150 dặm, khoái mã thì 1 ngày 1 đêm là có thể đi rồi về. Khai Phong có 10 vạn Quân Định An, nếu chúng biết ta thiếu quân lương, e là sẽ…
Lưu Lăng cười bổ sung:
- Và ta không đánh Trịnh Châu mà chỉ lấy lương thực, cũng có nghĩa là nói cho Ngô Tử Lai và tướng thủ Khai Phong Lý Thiên Phương một tin tức, đó chính là, quân ta không những thiếu lương thực, mà còn không định đánh Khai Phong!
Chiêu Tiên hoảng nhiên đại ngộ:
- Vương gia đòi Ngô Tử Lai lương thực, lại không công đánh Khai Phong, thì chỉ có 2 khả năng. Một là, nhận được lương thực rồi quay về Lạc Dương; hai là, đem theo số lương thực đó lên bắc vượt Hoàng Hà tập kích đường lui của Bùi Chiến! Ngô Tử Lai không hiểu quân sự, nhưng Lý Thiên Phương là 1 tướng tài, y nhất định sẽ nghĩ tới việc ta không tấn công Khai Phong có nghĩa là quyết định bắc thượng. Để Bùi Chiến không có lo nghĩ chuyện lằng nhằng về sau, Lý Thiên Phương chắc chắn sẽ suất lĩnh nhân mã tới tấn công ta!
Lưu lăng nói:
- Có thể dụ Lý Thiên Phương ra là tốt nhất, tấn công Khai Phong, binh lực ta không đủ, nhưng nếu có thể dụ được Lý Thiên Phương qua đây, vậy thì trận này có thể đánh được rồi.
Lần này theo Lưu lăng xuất chinh có 2 người phụ nữ. 1 là Trần Tử Ngư, thân là người đứng đầu Tam Xử Viện Giám Sát, nàng nhất định phải ở bên cạnh Lưu Lăng. Sự xem trọng tình báo của Lưu Lăng, có thể nói là người đầu tiên trong các danh tướng lúc bấy giờ. Mật điệp Tam Xử của Trần Tử Ngư chính là chỗ dựa của Lưu Lăng, biết người biết ta, mới có thể trăm trận trăm thắng. Còn người phụ nữ kia, nói đúng hơn là cô gái còn lại chính là Mẫn Tuệ. Lần này Lưu lăng xuất chinh, chúng vợ của hắn thương lượng một hồi, kiên quyết biểu thị bên cạnh Vương gia nhất định phải đem theo người chăm sóc hắn, mà người được chọn đi theo chăm sóc, không ai khác ngoài Mẫn Tuệ. Mẫu Tuệ tinh thông y thuật, thủ pháp mát xa xoa bóp thuần thục. Bên cạnh Lưu lăng cũng vừa đúng thiếu một y sĩ.
Khi chiến thắng Quân Vĩnh Hưng chiếm được Ung Châu, Lưu Lăng bị cảm lạnh ở Ung Châu, tuy rằng thuốc cũng không cần uống là khỏi rồi, nhưng khi biết được chuyện này Lư Ngọc Châu và những người khác vô cùng xem trọng. Lưu Lăng là thiên của họ, “thiên” này, không được có tí tí mệnh hệ gì. Mặc dù trong quân đội cũng có quân y đi theo, vả lại bản thân Lưu Lăng cũng biết chút ít về y dược, với nữa cơ thể Lưu Lăng cũng rất cường tráng, nhưng mấy nàng vẫn không yên tâm. Lưu Lăng bó tay, chỉ đành đồng ý đem theo Mẫn Tuệ bên mình.
Trần Tử Ngư thấy Lưu Lăng nhìn mình, sự ăn ý của 2 người đã tới mức chỉ cần một ánh nhìn là có thể đoán ra ý của đối phương. Nàng đi tới, đứng trước bản đồ và nói:
- Ngô Tử Lai tuy là quan văn, nhưng vì vị trí địa lý của Trịnh Châu quả thật quá quan trọng, vì thế Trịnh Châu cũng có quan quân Đại Chu 15000 người. Tuy rằng đều là quận binh, nhưng trang bị và huấn luyện của các binh sĩ cũng không thua gì chiến binh chính quy. 15000 quận binh này, đều do Quận Thừa Trịnh Châu Hạ Hầu Định Lý chỉ huy. Khai Phong bây giờ có 10 vạn Quân Định An, đều do đại tướng quân số 1 dưới trướng Bùi Chiến Lý Thiên Phương chỉ huy, chia làm 5 doanh, trong đó 1 doanh là kỵ binh, hiệu là Tật Tự Doanh.
Lưu Lăng gật gật đầu nói:
- Nếu Lý Thiên Phương biết được quân ta định bắc thượng nhất định sẽ phái binh mã tới tập kích. Người này dụng binh vô cùng cẩn thận, chắc chắn sẽ lấy Khai Phong làm trọng mà không phái hết lính đi. Kỵ binh của Tật Tự Doanh không thiện thủ thành, mà tập kích bất ngờ thì chỉ có dựa vào tốc độ thôi, Lý Thiên Phương chắc là sẽ phái Tật Tự Doanh tới đây. Với quân đội của 2 nơi Trịnh Châu và Khai Phong, gom đủ 3 vạn kỵ binh chắc không phải là chuyện khó, bộ binh hành động quá chậm, Lý Thiên Phương không cần 3 ngày chắc chắn sẽ phái hết kỵ binh tới đây.
Trần Tử Ngư lập tức tiếp lời:
- Tướng quân của Tật Tự Doanh tên là Vương Trạng Nguyên, dũng võ thiện chiến, dũng mãnh lấy 1 địch nhiều.
Lưu Lăng uhm một tiếng:
- Đây chỉ mới là suy đoán của hai ta, nhưng chắc cũng được 8, 9 phần 10. Lý Sơn dùng 1 ngày tới Trịnh Châu, Ngô Tử Lai dùng 1 ngày tới Khai Phong, Lý Thiên Phương cần khoảng 1 ngày để trù tập quân mã, nếu tính như thế, không tới 5 ngày, kỵ binh của Quân Định An sẽ tới.
Hắn đứng dậy bước ra ngoài đại trướng, vừa đi vừa dặn:
- Chiêu Tiên, theo ta đi xem địa thế của huyện Lai Châu này.
Chiêu Tiên vâng 1 tiếng, đi theo Lưu Lăng ra khỏi đại trướng, Trần Tử Ngư cũng theo sau. 3 người đem theo trăm thân binh cưỡi ngựa ra khỏi đại doanh. Lưu Lăng thúc ngựa phi nửa ngày, chỉ thấy xung quanh huyện Lai Hòa toàn là bình nguyên, là chiến trường rất thích hợp cho kỵ binh xung phong. Nếu Quân Chu tới tập kích mà hắn không có phòng bị không chừng sẽ đại bại một trận thật. Địa thế ở đây bình phẳng rộng lớn như vậy, hiển nhiên là không cách nào mai phục. Trận này nên đánh thế nào cũng nên xem xét cho kỹ rồi.
Lưu Lăng vừa kiểm tra địa hình, vừa tính toán kế sách đón địch trong lòng. Kế dụ địch lần này hoàn toàn do hắn nhất thời nghĩ ra, không phải kế sách đã được suy nghĩ cặn kẽ, vì thế hắn cần tranh thủ thời gian hoàn thiện nó.
- Xem ra, chỉ đành quay về đại doanh nghĩ cách thôi.
Lưu Lăng thở dài:
- Nơi đây toàn là bình nguyên không thể mai phục, rất thích hợp cho kỵ binh chiến đấu, quân Chu đúng là may thật.
Đi một hồi, Lưu lăng đột nhiên phát hiện ở phía trước có một khu rừng không lớn lắm, hắn đang nghĩ làm thế nào để đối phó với ít nhất 30 ngàn kỵ binh của Quân Chu, thì thấy rừng cây rậm rạp, mắt Lưu Lăng đột nhiên sáng lên. Lần này lính hắn đem từ Lạc Dương tới phần lớn đều là bộ tốt, tính luôn hơn 3000 kỵ binh Tu La Doanh nữa, tổng số kỵ binh chẳng qua 5000 người. Đường Châu dưới trướng Dương Nghiệp và Hoa Linh thì nhiều kỵ binh thật, không ít hơn 20 ngàn, nhưng hiển nhiên không thể mong đợi gì ở họ nữa rồi. Mà dùng bộ binh đối kháng kỵ binh tập kích, cách đó chỉ có thể dùng trong khu rừng này.
Lưu Lăng đang định xem xét khu rừng này có thể dùng hay không, thì đột nhiên thấy có vài bóng đen thoáng qua, hiển nhiên là phát hiện kỵ binh Quân Hán rồi định bỏ chạy. Y nhúc nhích ngón tay, lập tức có 10 mấy kỵ binh xông vào khu rừng đó. Mấy người đó chạy thục mạng trong rừng, chỉ là không chạy bao lâu thì bị kỵ binh Quân Hán bao vây. Lưu Lăng thúc ngựa đi tới trước, thì thấy người bị bao vây là mấy bá tánh bình thường.
- Các ngươi là ai?
Chiêu Tiên hỏi trước.
Mấy nông dân đó sợ xanh cả mặt, chỉ luôn miệng xin tha mạng. Nhìn trang phục của mấy người này, chắc là bá tánh huyện Lai Hòa, chỉ là mấy người này quỳ ở đó xin tha mạng, nhìn kiểu nào cũng thấy hình như đang giấu giếm gì đó, lại thêm trước đó họ lén lén lút lút nhìn trộm từ trong rừng, vì thế Lưu Lăng đoán chắc họ có bí mật gì đó. Nhìn mấy bá tánh này cơ thể cường tráng, nhưng từ phản ứng trước đó có thế thấy họ chưa từng luyện qua võ nghệ.
Chiêu Tiên chỉ hù dọa mấy câu, một nông dân trong đó sợ hết cả hồn vội vã nói ra sự thật. Chiêu Tiên hỏi thật kĩ, rồi mặt đầy ngạc nhiên, còn có cảm giác bó tay nữa. Y đi tới bên cạnh Lưu Lăng, thấp giọng nói qua một lượt những gì y hỏi được. Lưu Lăng nghe xong ngẩn cả người, rồi sau đó ha ha cười lớn lên.
Hắn đi tới trước mấy người đó, chỉ vào tên nông dân khai báo trước đó:
- Ngươi nói ngươi là ai?
Người đó dập đầu như bằm tỏi:
- Hạ quan… thảo dân… ti chức là Ngự lâm Binh mã Đại Nguyên soái Đại Thuận Triều Lưu Tam Hắc. À… là Chính Nhị Phẩm.
Lưu Lăng không nhịn được hỏi người kế bên:
- Còn các ngươi?
Thấy đồng bọn đã khai báo, 2 người còn lại chỉ đành trả lời:
- Tôi là Hành quân Đại Tổng quản Đại Thuận Triều Lưu Hảo.
Người kia trả lời:
- Tôi là Tả Thừa tướng Đại Thuận Triều Lý Tam Thủy.
Đại Thuận Triều… Lưu Lăng ha ha cười lớn.
Thì ra, huyện Lai Hòa này có một người đẹp nổi tiếng tên là Tôn Mị Nương, là một phụ nữ phóng túng, từng qua lại với không ít du côn vô lại. Sau này, một đạo sĩ vân du từ ngoại địa tới thấy Tôn Mị Nương rồi lập tức bị mê tới hồn điên phách đảo, dùng mọi thủ đoạn để Tôn Mị Nương này sà vào lòng y, chỉ là như thế thì lại đắc tội đám lưu manh vô lại trên đường. Đám người đó tới kiếm chuyện y, không ngờ đạo sĩ đó từng luyện qua võ nghệ, đám lưu manh đó không phải đối thủ của y. Đạo sĩ đó vì muốn Tôn Mị Nương hết lòng một mực đi theo y, nên gạt cô ta mình là con rơi của Thiên tử Đại Chu Sài Vinh, là sao Tử Vi chuyển thế, sau này sẽ trở thành Hoàng đế.
Y còn ngụy tạo ra một phần thánh chỉ, đại khái nói Sài Vinh lập y làm Thái tử, nhưng vì Bùi Viêm và Từ Trung Hòa gây rối giữa chừng muốn giết y, y chỉ đành cầm theo thánh chỉ chạy trốn, vừa hành tẩu giang hồ vừa chiêu binh mãi mã, chuẩn bị xây dựng đất nước của riêng mình, cũng chính là Đại Thuận Triều.
Đám lưu manh đó và Tôn Mị Nương lại tin vào những lời nói dối đó! Thế là, bọn chúng xây vài căn nhà lá trong cái làng cách huyện thành Lai Hòa không xa, xưng là Kim Loan Đại Điện. Mỗi tháng chọn ra vài ngày tới đây thiết triều, phân tích cục thế Đại Chu, thời khắc chuẩn bị đoạt lại thiên hạ. Tôn Mị Nương này, được đạo sĩ đó phong làm Hoàng hậu, mấy tên lưu manh đó người người đều có quan chức, 3 người này chính là 3 trong đám lưu manh đó. Hôm nay chính là ngày họ tới Kim Loan Đại Điện nghị sự, lúc tới thì thấy kỵ binh của Lưu Lăng, trong lòng họ ai nấy đều thấp thỏm, nên mới lén lén lút lút.
Lưu Lăng nói với vẻ mặt đầy thích thú:
- Các ngươi dẫn đường đi trước, đưa ta tới Kim Loan Đại Điện của các ngươi!
Lột sống hay lột chết.
Một Ngự lâm quân binh mã Đại nguyên soái, một Hành quân Đại tổng quản, một Tả thừa tướng. Hai Chính nhị phẩm, một Tòng nhất phẩm, ba đại nhân vật dẫn Lưu Lăng đi về phía thôn nhỏ sau rừng cây. Lưu Lăng cho đám thân binh đứng tại chỗ đợi, chỉ dẫn theo ba đến năm thị vệ và hai người nữa là Chiêu Tiên, Trần Tử Ngư, đi theo ba đại nhân vật kia ra phía sau chiêm ngưỡng Bảo điện Kim Loan.
Qua đám rừng cây rồi lại đi thêm khoảng dặm nữa thì nhìn thấy một thôn nhỏ đã đổ nát. Thôn nhỏ này xem ra không phải gặp thiên tai mà do thổ phỉ làm loạn, bị thiêu rụi chỉ còn sót lại một mảng cháy đen. Thôn này cũng không lớn. Nhìn qua thì lúc phồn vinh nhất cũng không vượt quá năm mươi hộ dân.
Đi tới cửa thôn, Ngự lâm quân binh mã Đại nguyên soái Lưu Tam Hắc chỉ vào chuồng cỏ trên nền đất trống trong thôn nói:
- Nơi đó chính là Bảo điện Kim Loan của Hoàng đế bệ hạ triều Đại Thuận chúng ta.
Đám người Lưu Lăng nhìn theo hướng tay chỉ liền lập tức dở khóc dở cười. Thật là một tòa Bảo điện Kim Loan hùng vĩ. Chuồng ngựa trong đại doanh quân Hán so với chỗ này còn khí thế hơn đó. Mấy cây cột gãy bể đã cháy xém dựng lên một cái chuồng. Phía trên lợp cỏ dại, đừng nói là che gió mà đến mưa cũng đỡ không nổi. Nhìn về phía xa xa, có thể nhìn thấy mười mấy người đang ngồi xếp bằng ở dưới chuồng cỏ. Đúng lúc nghe một người trong số đó nói chuyện.
Bên cạnh người nói chuyện còn có một nữ nhân đang tạo dáng.
Lưu Lăng chỉ về phía đó nói: - Người nói chuyện kia chính là Hoàng đế bệ hạ của Đại Thuận triều các ngươi phải không?
Lưu Tam Hắc ưỡn ngực nói: - Chính là Vạn tuế. Người bên cạnh Vạn tuế chính là Hoàng hậu nương nương của chúng ta. Ngồi bên tay trái Vạn tuế là Hữu Thừa tướng Đại Thuận triều chúng ta. Kế tiếp Hữu Thừa tướng chính là Kim tử quang Lộc đại phu. Kế Kim tử quang Lộc đại phu là Hổ bí Đại đô hộ. Đứng đằng sau Vạn tuế là Hộ quốc công kiêm Thống lĩnh Ngự tiền thị vệ…
Trần Tử Ngư che miệng cười nói: - Nói như thế thì văn võ bá quan Đại Thuận triều đều tề tụ ở nơi này rồi sao?
Lưu Tam Hắc nói: - Ngày mười lăm mỗi tháng chính là ngày thượng triều của Vạn tuế và quần thần. Hôm nay là ngày đầu tháng, các quan viên Đại Thuận triều chúng ta tất nhiên là phải đến nghe Vạn tuế giáo huấn.
Lưu Lăng hỏi: - Ngươi là Ngự lâm quân binh mã Đại nguyên soái, thuộc hạ có bao nhiêu người?
Lưu Tam Hắc đỏ mặt, ngượng ngùng nói: - Vạn tuế nói rồi. Bây giờ vừa mới gầy dựng sự nghiệp, nhân lực còn ít một chút cũng là chuyện bình thường. Đợi sau này đánh thắng vài trận, đoạt được mấy tòa thành lớn, binh mã đương nhiên sẽ nhiều lên. Hiện tại… hiện tại… chỉ có mỗi mình ta.
Lưu Lăng xoay người hỏi Chiêu Tiên:
- Hôm nay cho ngươi một cơ hội lập công. Tiêu diệt một nước đây là công trạng to lớn bao nhiêu?
Chiêu Tiên cười nói: - Cảm tạ Vương gia thành toàn.
Nói xong, Chiêu Tiên cười rồi đi về phía trước. Vừa đi vừa hô lên: - Hoàng đế Đại Thuận triều ở phía trước phải không? Ngươi đã bị bao vây…
Thân thủ của Chiêu Tiên trong đám tướng lĩnh quân Hán cũng rất đáng nể. Đối phó với mười mấy tên lưu manh vô lại không cần ai phải trợ giúp. Lưu Lăng và Trần Tử Ngư ở đằng xa xem kịch hay. Thời gian chưa đến một chén trà, Chiêu Tiên trước sau đã đánh bại Hộ quốc công kiêm Thống lĩnh Ngự lâm quân Đại Thuận triều, sau đó tiêu diệt Đại Thuận triều Hổ bí Đại đô hộ rồi sau lại hạ gục Đại Thuận triều Lai Hòa Tiết độ sứ. Cuối cùng bắt giữ Hoàng đế bệ hạ Đại Thuận triều. Thế mà Hoàng hậu Tôn Mị Nương kia đối diện với Chiêu Tiên anh tuấn uy vũ một người đánh bại mười mấy người kia, nàng ta tự đầu hàng!
Đối với những người nhàm chán này, Lưu Lăng cũng lười để ý tới, chỉ cho là ngẫu nhiên có được trò tiêu khiển mà thôi. Nếu thật muốn tính toán, chiến công tiêu diệt một nước này thì cũng không biết phong cho Chiêu Tiên tước vị gì mới ổn đây.
Ngược lại là tên đạo sĩ giả thần giả quỷ kia không ngờ lại nhận ra được Lưu Lăng. Việc này nằm ngoài dự liệu của Lưu Lăng. Chiêu Tiên áp giải hoàng đế và bọn đại thần đến. Vị hoàng đế kia vừa nhìn thấy Lưu Lăng liền lập tức cúi người bái lạy. Đầu đập xuống đất vang lên tiếng tang tang thật là chân thật vô cùng.
- Thảo dân Tào Đông Huy, khấu kiến Hán Vương.
Vị Hoàng hậu Tôn Mị Nương kia vừa nghe nói người thanh niên tuấn lãng, phóng khoáng trước mặt chính là đại danh đỉnh đỉnh Hán Vương Điện hạ Đại Hán, ánh mắt lập tức sáng lên. Trong nháy mắt đã bắt đầu phóng ra tia sóng điện với Lưu Lăng. Trần Tử Ngư hừ lạnh một tiếng, không khách khí đạp ả hồ ly một cước bay ra ngoài xa ba thước. Tôn Mị Nương cực kỳ phóng đãng lại thường xuyên trà trộn với bọn lưu manh vô lại nên rất ngang ngược, đứng lên muốn trả đòn liền bị một hộ vệ Tứ xử Giám sát viện ở đằng sau Trần Tử Ngư vả vào miệng rồi đạp ả bay ra ngoài. Cùng với lúc bay đi đó còn có một cái răng cửa dính máu.
- Ngươi biết ta?
Lưu Lăng nhíu mày, trong lòng chưa từng có ấn tượng gì với tên đạo sĩ giả thần giả quỷ này.
- Thảo dân hôm qua xen lẫn trong đám thân hào huyện Lai Hòa, từ rất xa nhác thấy Vương gia.
- Hả?
Lưu Lăng hết sức bội phục trí nhớ của người này. Lúc ấy, thân hào huyện Lai Hòa đều quỳ gối dưới lều lớn ở đằng xa, đạo sĩ này chỉ liếc mắt một cái là có thể nhớ kỹ tướng mạo của mình, đây cũng xem là một nhân tài rồi. Thế nhưng ngẫm lại, người này dùng việc giả danh lừa bịp mà sống, nếu không có bản lĩnh nhớ rất kỹ diện mạo người khác này thì e rằng không lăn lộn nổi ở ngoài đời. Hắn quỳ ở đó không ngừng dập đầu mà Tôn Mị Nương đang bò trên đất cách đó không xa lại che miệng la mắng. Tên đạo sĩ kia trộm nhìn, thấy Lưu Lăng nhíu mày, lại thấy vẻ mặt sát khí của Trần Tử Ngư, hắn lập tức hoảng sợ. Đột nhiên từ trong ngực lấy ra một cây dao găm, hàn quang lóe ra. Hộ vệ Giám sát viện vừa muốn ra tay đánh chết hắn đã thấy người này vèo cái đã luồn lên hai ba bước nhảy đến bên cạnh Tôn Mị Nương kia, đâm một đao vào ngực Tôn Mị Nương.
Lưu Lăng hơi sửng sốt. Thầm nghĩ người này cũng là hạng người lòng dạ độc ác.
Thấy tên đạo sĩ kia lại bò rồi quỳ xuống, Lưu Lăng cau mày nói: - Giết người ngay trước mặt Cô, ngươi không sợ chết sao? Cô ta là thê tử của ngươi, ngươi lại hạ thủ được sao!
Đạo sĩ kia sợ tới mức thân mình khẽ run rẩy, ra sức dập đầu nói: - Thảo dân sợ tiện nhân kia làm bẩn lỗ tai Vương gia. Loại phụ nữ dâm loàn lả lơi kia, thảo dân không cần cũng được.
Khóe miệng Lưu Lăng nhướng lên, sát khí trong lòng đã động. Trần Tử Ngư lại nghĩ tới một vấn đề khác liền đi đến phía trước tên đạo sĩ kia nói: - Ngươi giết vợ tỏ rõ chí hướng có phải là muốn báo đáp Vương gia?
Đạo sĩ kia ngẩng đầu cảm kích, ngước nhìn Trần Tử Ngư một cái rồi lại lập tức cúi đầu, vừa dập đầu vừa nói: - Thảo dân Lý Phúc Nhi đã nghe uy danh của Vương gia, đúng là muốn nương nhờ Vương gia làm một tên lính hầu, giãi bày tâm can, chết trăm lần cũng không hối tiếc.
Trần Tử Ngư cười lạnh nói: - Với bản lĩnh của ngươi thì có thể làm được cái gì chứ? Hạng người nói khoác mà không biết ngượng. Người đâu, cắt đầu hắn đem tế thê tử hắn cho ta.
Lý Phúc Nhi cúi đầu lạy như băm tỏi:
- Thảo dân có lợi đối với Vương gia. Thảo dân biết làm thế nào đế công phá thành Khai Phong.
Trần Tử Ngư khoát tay ngăn hành động của Giám sát vệ, lạnh lùng nói: - Lời ngươi nói là thật chứ?
- Lời thảo dân nói cực kỳ chính xác, không dám nói láo.
- Được.
Trần Tử Ngư gật đầu nói: - Nếu những lời ngươi nói không giả dối thì hôm nay ta sẽ thay mặt Vương gia lưu lại tính mạng của ngươi. Nếu ngươi thực sự có cách công phá thành Khai Phong thì ta sẽ phá lệ cho ngươi giữ chức ở Giám sát viện.
Lý Phúc Nhi này lưu lạc giang hồ ắt hẳn là biết rõ uy danh của Giám sát viện Đại Hán. Hắn biết Giám sát viện là một cơ quan quyền uy ở Đại Hán, ngoài Lưu Lăng ra thì không chịu sự kiềm chế của bất cứ kẻ nào. Chỉ cần vào Giám sát viện, cho dù là một gã tiểu tốt cũng phất lên như diều gặp gió. Nghe Trần Tử Ngư đã nói như vậy, hắn ngay lập tức đoán ra được người này nhất định là quan lớn của Giám sát viện chứ không còn nghi ngờ gì nữa. Liền dập đầu cảm tạ: - Tiểu nhân một lòng trung thành với Đại Hán. Thề sống chết cũng trung thành với Vương Gia.
Lưu Lăng hừ lạnh một tiếng, xoay người rời đi.
Sau khi trở về đại doanh, Lưu Lăng liền đi thẳng về lều lớn. Trần Tử Ngư biết Lưu Lăng có chút tức giận với chủ trương của mình, cũng biết Lưu Lăng rất chướng mắt với loại người bại hoại như tên Lý Phúc Nhi. Nàng sao lại để mắt đến Lý Phúc Nhi chứ, loại tiểu nhân giết vợ cầu vinh này. Nhưng nàng thân làm Đương đầu Tam xử Giám sát viện, liệu việc không chỉ dựa vào tính khí mà còn nhất định phải vì đại cục suy xét. Nếu như có thể bất ngờ mà gặt hái được cách công phá Khai Phong, việc này đối với việc quân Hán tiến công Khai Phong sau này mà nói thì tuyệt đối là một điều có lợi vô cùng. Trần Tử Ngư là một nữ nhân rất bình tĩnh nhất là lúc suy nghĩ vì Lưu Lăng thì loại bình tĩnh này đã đạt tới mức đáng sợ rồi.
Sau khi trở về lều lớn, Lưu Lăng áp chế sự khó chịu trong lòng, mệnh lệnh phái đi ba nghìn binh lính đi đến cánh rừng đó đốn cây. Chỉ chọn chặt những cây thẳng và nhỏ, cắt thành những đoạn dài chừng hơn ba mét, vót nhọn một mặt, tạo thành những cây trường mâu đơn giản mộc mạc. Quân Hán liên tục chặt cây trong hai ngày, ước chừng đã chuẩn bị được không dưới năm nghìn cây.
Không bao lâu sau khi Lưu Lăng an bài mọi thứ xong xuôi thì Trần Tử Ngư liền thản nhiên đi tới lều lớn của hắn. Nhìn thấy Lưu Lăng đang ngồi trên ghế nhìn bản đồ, nàng nhẹ nhàng tiêu sái đi đến đằng sau Lưu Lăng, vươn tay xoa bóp bả vai Lưu Lăng. Động tác của nàng không mạnh không nhẹ, vừa vặn đúng chỗ.
- Vương gia, vẫn còn giận Tử Ngư sao?
Lưu Lăng thở dài: - Sao lại giận nàng chứ, chỉ là tên Lý Phúc Nhi lòng dạ lang sói cay độc kia, vì bảo vệ cái mạng mà ngay cả nữ nhân của mình cũng có thể giết. Lời của hắn e rằng chưa chắc có thể tin được.
Trần Tử Ngư cười nói: - Tin hay không thì chỉ cần kiểm chứng một chút sẽ biết. Thật ra, hắn không có binh pháp chiến thuật gì để phá thành cả, chẳng qua chỉ là tiểu mao tặc trong thành Khai Phong trộm cắp kho phủ mà thôi. Thủ đoạn bức cung của Tam xử tuy rằng không bằng Lục xử nhưng đối phó với nhân vật nhỏ nhoi này thì như vậy cũng đủ rồi. Lý Phúc Nhi nói lúc trước hắn ở Khai Phong cùng với một đám lưu manh đã từng tiêu tốn một tháng trời để đào dưới đoạn tường thành Khai Phong một địa đạo để đem bán những của cải trộm được từ trong kho đổi thành tiền mặt. Theo cách phá thành mà hắn nói thì đó là một mật đạo nho nhỏ. Thiếp đã hạ lệnh phái mật điệp trong thành Khai Phong xem xét xem mật đạo này có còn hay không.
Lưu Lăng ừ một tiếng: - Tên Lý Phúc Nhi kia đâu?
Trần Tử Ngư nói: - Giờ này thì hẳn là đang ở địa ngục dập đầu nhận tội với thê tử hắn rồi?
Người của Giám sát viện ở trong đại doanh quân Hán có một doanh trại độc lập. Trong doanh trại này có các cao thủ đến từ những cơ quan khác nhau của Giám sát viện. Ví dụ như mật điệp của Tam xử, thích khách của Tứ xử, Hộ vệ của Lục xử. Đương nhiên, mật điệp của Tam xử tuyệt đối không chỉ biết dò la tin tức tình báo, và thủ đoạn giết người của thích khách Tứ xử tuyệt cũng không chỉ biết dùng đao. Ngũ xử Giám sát viện phụ trách trợ giúp và hậu cần tiếp viện cho các cơ quan khác, còn có một việc cũng do Ngũ xử phụ trách nữa, đó là hành hình. Không có ai quen thuộc hình cụ và hình pháp hơn so với bọn họ. Bọn họ giết người, muốn nhanh thì nhanh, muốn chậm thì chậm.
Mà lúc này, Lý Phúc Nhi đã bị cởi sạch hết quần áo, trói trên tấm ván cửa, mặt ngửa lên trên, đang kịch liệt giãy giụa. Rất nhanh, hai Giám sát vệ của Ngũ xử đi đến cố định đầu hắn, sau đó kéo cằm hắn xuống. Một Giám sát vệ già, tóc đã điểm hoa râm xem ra đã hơn năm mươi tuổi đi tới, mang cái rương gỗ trong tay đặt lên trên ván cửa sau đó xoay người hỏi Kim Y, người phụ trách bảo vệ Trần Tử Ngư mới từ Đại Đồng điều về: - Lột chết hay là lột sống?
Ông ta gọi là Bác Bì Trần, tay nghề tổ truyền chính là… lột da người.
Kim Y liếc mắt nhìn Lý Phúc Nhi một cái, nói: - Lúc trước Đương đầu nói hắn bại hoại như vậy thì có chết cũng không còn mặt mũi mà đi gặp thê tử hắn. Vì vậy đừng nên đem theo da người mà xuống đó. Lột sống đi!
Cuồng phu Vương Trạng Nguyên.
Vô số dòng nước lũ đang dần dần tụ lại trong bóng tối. Trong màn đêm thâm thúy, từng dòng suối cuối cùng cũng hội tụ thành một biển lớn mênh mông. Kỵ binh. Một biển kỵ binh không bờ bến.
Vương Trạng nguyên tướng quân Tật Tự doanh cũng không phải là trạng nguyên gì, y là một tên cuồng phu, có suy nghĩ cuồng phu. Lúc trước phụ thân y đặt cho y cái tên gọi là Trạng Nguyên khẳng định là không ngờ đến con mình có ngày sẽ trở thành một đại tướng quân uy phong lẫm liệt. Phụ thân y chắc sẽ không cảm thấy tiếc nuối. Tuy Vương Trạng Nguyên mãi cho đến bây giờ số chữ biết được còn chưa quá hai trăm. Group trao đổi, share truyện : t . me/quantruyen
Vương Trạng Nguyên rất cao lớn. Nếu như dựa theo tiêu chuẩn đo lường hiện đại mà nói thì hẳn phải cao hai mét, nặng phải đến một trăm tám mươi cân. Đây là một nam nhân giống như con trâu đực cường tráng. Nhìn thanh đao bản rộng nặng đến bảy mươi hai cân trong tay y thì biết lực cánh tay của người này kinh khủng đến chừng nào. Người có thể nhấc bảy mươi hai cân thì có rất nhiều, có thể nói hễ là đàn ông thì đều làm được điều này. Nhưng nếu như cầm một thanh đao bản rộng nặng bảy mươi hai cân mà đùa bỡn như chong chóng xoay thấu gió mưa thì ít lại càng thêm ít.
Đệ nhất đại tướng dưới trướng Tiết độ sứ Bùi Chiến Định An quân chính là Lý Thiên Phương. Binh pháp chiến trận đầy bụng, còn trang bị trăm vạn binh lính. Mà đệ nhất đại tướng dưới trướng Lý Thiên Phương chính là Vương Trạng Nguyên. Một người tướng quân nhìn thô lỗ nhưng lại cực kỳ thận trọng như tơ. Quân trấn thủ Khai Phong mười vạn, hai vạn kỵ binh cũng là đội ngũ tinh nhuệ nhất trong số mười vạn người đó, Lý Thiên Phương giao Tật Tự doanh cho Vương Trạng Nguyên cũng chính là khẳng định năng lực của con người này.
Vương Trạng Nguyên mười bốn tuổi đi lính, trải qua hơn trăm trận chiến lớn nhỏ. Mỗi một trận chiến đều lấy thân mình làm gương cho binh sĩ. Đến bây giờ số người mà y chính tay giết chết đâu chỉ có mấy trăm. Người mà y hạ lệnh giết chết cũng đủ mấy vạn rồi.
Đặc điểm lớn nhất của Vương Trạng Nguyên chính là máu lạnh!
Y không bao giờ tiếp nhận tù binh. Đối thủ của y một khi thua trận, cho dù có đầu hàng cũng vẫn chỉ còn một con đường chết. Vương Trạng Nguyên nổi danh nhờ việc giết hại tù binh. Lúc trước y là thuộc hạ của Tả võ vệ Đại tướng quân Hàn Canh cũng đã nổi danh là Ma vương sát nhân. Năm đó Đại Chu chinh phạt Đường, liên tiếp đánh chiếm mười bốn châu Nam Đường. Quân Chu thế như chẻ tre đến mức ấy. Vương Trạng Nguyên lúc đó bất quá chỉ là một tên Thiên phu trưởng dưới trướng Hàn Canh. Trong một lần suất lĩnh hơn năm trăm kỵ binh đánh quân Đường, tới lui xung phong liều chết như đi vào chốn không người, dùng năm trăm người mà đánh bại bốn ngàn quân Đường. Trận chiến này, hai nghìn một trăm tên tù binh bắt được bị y hạ lệnh lấy dây thừng buộc nối liền với nhau sau đó dùng loạn tiễn bắn chết.
Trận chiến Hàng Châu, Vương Trạng Nguyên là người đầu tiên xông lên đầu tường thành. Y chỉ huy ba trăm tử sĩ, mạo hiểm trong mưa tên leo lên đầu tường thành Hàng Châu, một đao chém đứt đại kỳ của Nam Đường. Sau khi phá thành Hàng Châu, Vương Trạng Nguyên mang theo một ngàn kỵ binh xông vào trong trại tù binh, tàn sát hơn năm nghìn quân Đường tay không tấc sắt. Chính bởi vì y sát hại tù binh mà vốn dĩ phải được thăng quan thì lại bị rơi vào tình trạng không thăng không giáng. Trận chiến Hàng Châu, y lập được công lao to lớn, sau cuộc chiến lại vẫn như cũ là làm một tên Thiên phu trưởng.
Nhưng Vương Trạng Nguyên hoàn toàn không để ý đến việc này. Y giết tù binh đã thành nghiện rồi. Về sau đi theo Tả võ vệ Đại tướng quân Hàn Canh ở Thọ Châu tiêu diệt thổ phỉ. Đánh với kẻ nổi danh trong giới lục lâm là “Đánh hoài không chết” - tên trùm thổ phỉ Dương Nhất Sơn. Dương Nhất Sơn kêu gọi tập hợp hơn mười vạn người, lại bị hai vạn quân tinh nhuệ của Đại Chu Tả võ vệ đánh giết tơi bời. Vương Trạng Nguyên đã được thăng làm Lang tướng trong trận chiến này. Nhưng khiến cho người ta chú ý nhất không phải là một người một ngựa làm gương xông vào trận địa địch mà là giết tù binh. Bọn lính lục lâm của Dương Nhất Sơn đầu hàng không dưới sáu vạn tên. Lúc Hàn Canh suất quân truy kích đám tàn quân của Dương Nhất Sơn thì Vương Trạng Nguyên bất ngờ hạ lệnh đem hơn sáu vạn tù binh này toàn bộ chôn sống!
Lần này, cả triều đều phải kinh sợ!
Sài Vinh giận dữ muốn giết chết y để chấn chỉnh quân pháp nhưng Hàn Canh lại dùng chiến công tiêu diệt bọn loạn phỉ Dương Nhất Sơn của mình thay cho y một mạng. Y lại bị cắt chức làm dân thường, đuổi ra khỏi quân ngũ. Sau này, sau khi Bùi Chiến nhận lệnh làm Định An quân Tiết độ sứ, Lý Thiên Phương phái người tìm được Vương Trạng Nguyên. Cho y huấn luyện kỵ binh mới thành lập. Không thể không nói rằng Vương Trạng Nguyên luyện binh đánh giặc rất có khuôn khổ. Kỵ binh dưới trướng y, người người đều là kẻ điên, dường như là lây nhiễm bệnh độc giống y vậy.
Mỗi một trận chiến, Vương Trạng Nguyên đều mang kỵ binh xông lên phía trước đầu tiên. Vẫn như cũ, giết người như ngóe. Lúc ở Hoạt Châu giằng co với Thành Đức quân của Triệu Thiết Quải, Định An quân giành được một lần thắng lợi lớn nhất là người này suất lĩnh một nghìn kỵ binh tinh nhuệ một mạch đánh vào trung quân Thành Đức quân, quyết liệt xé mở một lỗ hổng của trung quân Thành Đức quân, đuổi giết Triệu Thiết Quải năm dặm mới quay về. Sau khi trở lại, số mũi tên khoét trên người trên áo giáp y lấy xuống cũng trên dưới trăm cái. Nếu không phải áo giáp tinh xảo thì y đã sớm bị loạn tiễn bắn chết rồi. Người này dường như không biết cái gì gọi là sợ chết. Chỉ cần mỗi lần ra chiến trường, một khi nhìn thấy máu thì sẽ giống như một con mãnh thú phát cuồng nổi điên.
Tiếc nuối lớn nhất của y có lẽ chính là Triệu Thiết Quải không phải chết trong tay y.
Lần này Lý Thiên Phương triệu tập tất cả chiến mã trong thành Khai Phong, sắp đặt ba vạn hai nghìn kỵ binh toàn bộ giao cho y. Mục đích chính là dùng sự dũng mãnh của y để lôi kéo hàng ngũ, bất ngờ đánh vào đại doanh quân Hán. Một lần ra tay đánh bại Hán Vương Lưu Lăng bách chiến bách thắng từ lúc tiến vào Đại Chu đến nay. Đây chính là vinh quang to lớn, là cơ hội mà một người lính chuyên nghiệp tha thiết mong cầu. Lưu Lăng là ai? Là vô địch mãi mãi với danh hiệu Bất bại chiến vương. Nếu như giết Lưu Lăng, cho dù không giết chết hắn mà chỉ cần đánh bại hắn cũng đủ để kiêu ngạo rồi!
Dùng ba vạn kỵ binh bất ngờ tập kích năm vạn bộ binh không hề có sự chuẩn bị. Phần thắng xem ra rất lớn.
Vương Trạng Nguyên là một người cực kỳ tự phụ. Y không cảm thấy Lưu Lăng là một thiên hạ vô song như trong truyền thuyết. Y biết, Hán Vương Lưu Lăng giỏi về sử dụng kỵ binh. Lúc trước, Âu Dương Chuyên nước Hán làm loạn, hai mươi vạn phản quân chính là bị Lưu Lăng dùng ba nghìn kỵ binh đánh thành tán loạn. Vương Trạng Nguyên biết, đám người gọi là phản quân đó chẳng qua chỉ là một đám nông phu cầm cuốc, côn bổng, không hề có sức chiến đấu đáng để nói đến. Nếu như đổi lại là y, suất lĩnh ba nghìn kỵ binh được trang bị kỹ càng như thế thì cũng có thể làm được điều đó.
Đối với uy danh trăm trận trăm thắng của Lưu Lăng, y càng tán thưởng trận chiến Ngọc Châu của Lưu Lăng. Lưu Lăng ra lệnh một tiếng liền chặt đứt tám nghìn đầu tù binh quân Chu. Với y, đây mới là thái độ nên có của một người chiến thắng. Tuy kẻ bị giết đều là đồng đội của y nhưng trong lòng y lại không phẫn nộ gì cả. Y còn nhìn ra rằng, đem toàn bộ tù binh xử tử hết là một chuyện rất uy phong, rất khí phách, rất tuyệt vời. Y làm mà không biết chán.
Từ lúc tòng quân đến nay, y vẫn luôn có liên hệ với kỵ binh, đến hiện tại y thống lĩnh binh lính tác chiến đã lên tới đỉnh cao, ước chừng cũng ba vạn kỵ binh. Đó là một lực lượng hùng mạnh đến mức nào. Y tin chắc rằng, có ba vạn kỵ binh này trong tay, đừng nói quân Hán chỉ có năm vạn bộ binh, dù có mười lăm vạn, y cũng tất thắng chứ không nghi ngờ gì nữa.
Suất lĩnh kỵ binh ra khỏi Khai Phong. Vương Trạng Nguyên ngày đêm thần tốc, một ngày một đêm đã đến Trịnh Châu. Ngô Tử Lai tự mình ra khỏi thành thăm hỏi binh lính. Vương Trạng Nguyên lại chẳng để ý đến hắn. Sau khi bổ sung lương thực, y hạ lệnh một tiếng, đại quân tiếp tục xuất phát. Lại hành quân thêm trăm dặm nữa, y mới hạ lệnh cho đại quân tạm dừng nghỉ ngơi và chỉnh đốn quân ngũ. Ngày đêm liên tục hành quân, thể lực binh sĩ tổn thất rất lớn, chiến mã cũng vô cùng mệt mỏi. Cấp tốc hành quân hai trăm năm mươi dặm từ Khai Phong đến đây, có hơn một nghìn kỵ binh tụt lại phía sau. Nhưng y không quan tâm, với y, những người tụt lại phía sau đều là đồ rác rưởi, vứt bỏ cũng không có gì đáng tiếc.
Nơi đây cách huyện Lai Hòa chưa tới năm mươi dặm lộ trình. Cách Lý Sơn đến Trịnh Châu để gặp Ngô Tử Lai vừa đúng ngày thứ năm. Ngay lúc giữa trưa, chúng binh sĩ kiệt sức, ngựa hết hơi, Vương Trạng Nguyên hạ lệnh cho đại quân xuống ngựa nghỉ ngơi, ăn cơm, cho ngựa bổ sung sức lực. Lý Sơn chính là ở trong đội ngũ kỵ binh khổng lồ này. Hắn lần đầu tiên cảm nhận được sự thống khổ của việc hành quân gấp rút. Mà hắn sở dĩ không tụt lại phía sau mà kiên trì tới lúc này là bởi vì hắn bị Vương Trạng Nguyên hạ lệnh cột lên trên chiến mã một mạch chạy tới đây. Đoạn đường này, lục phủ ngũ tạng hắn bị xóc nảy sai rời vị trí bình thường nên khó chịu vô cùng. Dọc đường đi không ngừng nôn mửa. Cuối cũng đã nôn đến mức không còn nôn được nữa.
Lý Sơn sắc mặt trắng bệch được hai gã thân binh đỡ lên ném ở dưới chân Vương Trạng Nguyên. Cảm thấy mình sắp nổi danh thiên hạ, Vương Trạng Nguyên tuy cũng rất mệt mỏi nhưng tinh thần vô cùng phấn chấn.
- Quân Hán của Lưu Lăng thực sự không đóng quân trong huyện Lai Hòa?
Vương Trạng Nguyên lớn tiếng hỏi.
Lý Sơn đã mệt mỏi giống hệt như một con gà mái nhổ sạch lông mà còn bị gãy cánh, chặt đứt đùi. Hắn cả người không chỗ nào không đau nhức, mệt rã rời, nằm xụi lơ trên mặt đất. Lý Sơn trước hết là từng ngụm từng ngụm hít hai hơi không khí. Cảm giác trống rỗng trong bụng mới dễ chịu hơn một chút. Uể oải nói: - Bẩm… Bẩm Đại tướng quân, huyện thành Lai Hòa quá nhỏ, đóng lại không quá năm vạn đại quân. Hơn nữa… Hơn nữa, Lưu Lăng để tỏ lòng nhân từ dối trá đã đồng ý với hương thân bách tính trong huyện Lai Hòa là quân Hán sẽ không tiến vào thị trấn Lai Hòa. Thảo dân… thảo dân… tận mắt nhìn thấy, quân Hán tạm thời đóng quân cách phía tây huyện thành Lai Hòa chừng năm dặm.
Vương Trạng Nguyên cười cười nói: - Ngươi đã từng gặp qua Lưu Lăng. Người này như thế nào?
Lý Sơn hơi sửng sốt, lập tức nghiến răng nghiến lợi nói:
- Đê tiện, vô sỉ, gian trá, xảo quyệt, cái gì cũng tồi tệ. Tên đại gian đại ác này, nếu lọt vào tay thảo dân, nhất định sẽ mang hắn băm vằm thành vạn mảnh.
Vương Trạng Nguyên thu lại vẻ tươi cười, lạnh lùng nói: - Dựa vào ngươi?
Y hừ lạnh một tiếng: - Sợ là lúc ngươi thấy đại quân Lưu Lăng thì đã bị dọa đến tè trong quần luôn rồi!
Lý Sơn ngượng ngùng cười cười, không dám trả lời.
Vương Trạng Nguyên từng chữ từng câu nói: - Đừng ở trước mặt ta nói những lời nịnh hót đó. Nếu như ngươi chỉ biết nói những chuyện này, ta bây giờ sẽ hạ lệnh trói tay chân ngươi kéo theo đằng sau chiến mã, ta cam đoan, sau năm mươi dặm đường đến huyện Lai Hòa, ngươi đến xương thịt đầu cũng không còn một mảnh. Nói cặn kẽ cho ta biết, quân Hán đóng quân như thế nào, địa thế ra sao, có bao nhiêu kỵ binh?
Lý Sơn bị dọa biến sắc, tim đập rộn lên, mạnh mẽ khấu đầu quỳ xuống. Moi hết ruột gan đem những tin tức mà mình nhớ rõ một mạch nói hết ra. Vương Trạng Nguyên nghe nói nơi Lưu Lăng đóng quân là vùng đất bằng phẳng, khóe miệng trong lúc vô ý mỉm cười, lộ lên chút tự tin.
- Chia thành năm đội trinh sát. Mỗi đội ba mươi người đi đến huyện Lai Hòa thám thính tình hình quân địch!
Vương Trạng Nguyên phát đi đạo mệnh lệnh thứ nhất.
- Truyền lệnh đại quân nghỉ ngơi, chỉnh đốn quân ngũ. Bố trí du kỵ. Nói với binh sĩ ngủ cho tốt, ăn cơm trước khi trời tối.
Đạo mệnh lệnh thứ hai.
Y nhếch miệng cười cười, dường như là đang nhìn thấy thắng lợi đang ngoắc tay với y. Ba vạn kỵ binh thừa lúc đêm tối tập kích năm vạn bộ binh, một trận, y có lý gì mà không thắng chứ? Y thậm chí có thể nhìn thấy, mấy vạn tù binh quân Hán quỳ trên mặt đất, cúi đầu, lộ ra phần gáy, giống như con chó con mèo đang sợ hãi run rẩy. Mà y thì đang cầm một thanh đao mổ, gác lên phần gáy của quân Hán, vận sức chờ phát động.
Rừng cây giết người.
Mặt trời lặn ăn cơm. Sau khoảng thời gian nghỉ ngơi chừng một tách trà, Vương Trạng Nguyên hạ lệnh cho binh sĩ lên ngựa. Chỉ có không tới năm mươi dặm đường, trước giờ Tý tối nay có thể đến kịp. Vương Trạng Nguyên cũng không vội vã bởi vì hắn biết lúc nào tiến công mới có hiệu quả cao nhất. Con người vào khoảng giờ Sửu là có hương vị giấc ngủ ngọt ngào nhất cũng chính là vào lúc khoảng hai ba giờ sáng. Lúc này, sự cảnh giác của con người là yếu kém nhất. Hắn chính là dự định tiến công vào khoảng thời gian này, một trận san bằng đại doanh quân Hán thành bình địa.
Sau khi đại quân tiến về phía trước hai mươi dặm thì trinh sát phái đi đã chạy trở về hồi báo. Căn cứ vào thông tin trinh sát thu thập được, sự phòng bị của quân Hán xem ra hết sức nghiêm mật. Du kỵ, lưu động canh gác đều được trang bị đầy đủ. Từ xa nhìn sang, có thể nhìn thấy từng tốp từng tốp binh lính tuần tra qua lại. Đồng thời chứng thực được thông tin mà Lý Sơn cung cấp, quân Hán không hề tiến vào huyện thành Lai Hòa.
Nghe xong hồi báo của trinh sát, khóe miệng Vương Trạng Nguyên khẽ giựt giựt. Quân Hán canh phòng nghiêm mật, điều đó đúng rồi. Nếu như quân Hán không hề phòng bị mà nói, như vậy ngược lại không chân thực chút nào. Nói không chừng còn là một cạm bẫy lớn. Dù sao thì Lưu Lăng cũng chinh chiến sa trường mười năm, người này không thể khinh thường được. Hắn cũng không tin Lưu Lăng sẽ sơ suất đến mức không bố trí phòng bị gì. Nếu như Lưu Lăng thật sự như vậy mà nói, thì sẽ tuyệt đối không sống được đến tận bây giờ. Trên chiến trường không hề có sự cảm thông nào, một sự sơ suất của ngươi có thể dẫn đến toàn quân bị tiêu diệt. Thân bại danh liệt vẫn hay, chết mới là định đoạt cuối cùng.
Người chinh chiến lâu dài, cho dù thân có thực sự làm người thống trị quân Hán, thân là Hán Vương đứng trên vạn người thì thói quen cũng không thể thay đổi được. Dù cho ngươi ngủ cũng sẽ mở to một con mắt vậy? Vương Trạng Nguyên nghĩ như thế bởi vì chính bản thân hắn cũng như vậy, vĩnh viễn không thể thật sự thả lỏng được. Nhiều năm như vậy, nữ nhân nằm ngủ bên cạnh hắn không biết đã thay đổi bao nhiêu người nhưng duy nhất có một thứ không thay đổi chính là thanh đao lúc nào cũng có thể tùy tay mà đụng đến kia.
Vương Trạng Nguyên ở cách huyện Lai Hòa còn khoảng mười dặm liền ra lệnh cho đại quân chia thành ba cánh, từ ba hướng khác nhau tiến vào đại doanh quân Hán. Nhân mã đều ngậm miệng, dám lớn tiếng ồn ào liền lập tức trảm không tha. Ba cánh đại quân thì cánh tả có một vạn kỵ binh, bọc đánh phía nam đại doanh quân Hán, chỉ giết người phóng hỏa. Cánh hữu có một vạn kỵ binh, vây đánh phạm vi lớn mặt sau đại doanh quân Hán để chặn đánh bại binh, cố gắng tiêu diệt toàn bộ quân Hán. Còn trung quân một vạn kỵ binh thì do Vương Trạng Nguyên tự mình suất lĩnh tiến thẳng vào trung quân Hán doanh nơi Hán Vương Lưu Lăng đóng quân.
Lý Sơn đã từng nói, căn lều di động của Lưu Lăng có khí thế rộng lớn nhất. Từ đằng xa có thể phân biệt được. Mà Lưu Lăng lại rất ít khi rời khỏi lều lớn đó. Cho nên khả năng tấn công tiêu diệt Lưu Lăng rất lớn. Nghĩ đến kẻ nhát gan này cũng coi như là đã giúp sức cho mình không ít. Vương Trạng Nguyên quyết định không làm khó Lý Sơn nữa. Phái người đem Lý Sơn đưa tới trước ngựa của hắn. Hắn định sẽ tận tình cảm tạ người hữu duyên mà tạo hóa đã đưa tới cho mình.
Lý Sơn rất nhếch nhác, thật sự rất nhếch nhác. Bởi vì bị trói trên lưng ngựa, lắc lư theo chiến mã mà không thể chọn được một tư thế ngồi tương ứng, cho nên bắp đùi hắn đều bị mài rách. Da, máu thịt dính vào y phục, đau đến nóng bỏng. Sự đau đớn này vượt qua hết thảy mọi cảm giác của hắn, hai ngày đêm chưa ăn cơm thậm chí còn không cảm thấy đói. Đau. Cả người không chỗ nào không đau. Nếu có thể lựa chọn, Lý Sơn tình nguyện liều mạng với quân Hán mà chết trận chứ không muốn gặp lại Vương Trạng Nguyên. Rất may mắn là bởi vì lòng tốt của Vương Trạng Nguyên, hắn không cần phải ở bên tên ma đầu này nữa rồi.
- Lý Sơn?
Vương Trạng Nguyên ghìm chặt chiến mã, cúi đầu nhìn Lý Sơn ngã ngồi trước ngựa của mình mà kêu lên.
- Thảo dân… ách… không, có hạ quan. Xin đại tướng quân phân phó.
Lý Sơn đau đến nghiến răng nghiến lợi đáp lại.
Vương Trạng Nguyên cười híp mắt nói: - Ngươi lần này vì triều đình mà lập được công lớn. Sau khi quân ta đắc thắng trở về, ta sẽ xin Lý đại tướng quân cho ngươi, vì công lao này mà xin ban thưởng cho ngươi trước mặt Tiết độ sứ đại nhân. Đến lúc đó, vợ con ngươi được hưởng đặc quyền, phú quý của ngươi cũng đã đến rồi.
Dọc theo đường đi tới giờ, Vương Trạng Nguyên lần đầu tiên có vẻ mặt nói chuyện ôn hòa như thế. Lý Sơn thật có chút không thích ứng. Hắn mở trừng hai mắt, liền nhanh chóng chịu đựng đau đớn bò lên dập đầu nói: - Đa tạ tướng quân đề bạt. Đa tạ tướng quân cất nhắc. Hạ quan sau khi trở về sẽ làm ngay một bài vị trường sinh cho tướng quân ở trong nhà, ngày ngày cung phụng không ngừng.
Vương Trạng Nguyên nhíu mày, hắn lại không cảm thấy việc lập cái bài vị trường sinh kia là chuyện tốt lành gì cho cam.
- Việc này ngươi không cần phải nghĩ đến. Bởi vì ngươi không thể quay về.
Hắn nhếch miệng, hít một hơi gió đêm mát lạnh, nói: - Thê tử ngươi sẽ vì công lao của ngươi mà được triều đình tặng thưởng. Nói không chừng, còn có thể nhận được một phần cáo mệnh. Con của ngươi sẽ kế thừa tước vị của ngươi, có thể được phong hầu cũng chưa biết chừng. Nhưng ngươi, còn có một việc quan trọng nhất, cũng là việc cực kỳ có cống hiến đối với đại quân ta cần phải đi làm, cho nên ngươi không thể trở về được.
Hắn cười, giống như một ác ma lộ ra cái răng nanh: - Ta lấy đầu của ngươi tế cờ. Lý Sơn, ngươi vinh quang vô cùng!
Không đợi Lý Sơn phản ứng, Vương Trạng Nguyên thét to, nói: - Lôi hắn ra ngoài chém tế cờ. Đao không thấy máu làm sao có thể giết được kẻ thù!
Vài tên thân binh như lang như hổ nhào lên, gắt gao chế ngự sự phản kháng toàn lực của Lý Sơn. Một người nắm lấy tóc Lý Sơn, một người khác chém vào gáy Lý Sơn. Một đao thành hai đoạn, máu lập tức phun ra, giống như thác nước, nhuộm đỏ mấy thân binh ở trước mặt hắn. Thân binh kia cầm lấy tóc của Lý Sơn, xách đầu Lý Sơn bước đến trước Vương Trạng Nguyên phục mệnh. Vương Trạng Nguyên cười ha hả nói: - Lão tử chính là thích nhìn thấy máu. Bất kể là máu nữ nhân con mẹ nó hay là máu nam nhân thì cũng đều là đại cát đại lợi!
- Đại cát đại lợi!
Một nhóm thân binh tính tình quái gở như hắn dữ tợn rống lên một tiếng, quay người lên ngựa.
Vương Trạng Nguyên rút ra thanh đao chỉ về phía đại doanh quân Hán cách đó không xa, hô lên: - Xông lên giết, ngựa xéo đại doanh, giết sạch đám quân Hán kia. Phong hầu cho ai bắt sống được Lưu Lăng!
Đao thép vừa tuốt ra, kỵ binh phóng về phía trước.
Giống như núi thở biển gầm. Đám kỵ binh bộc phát một cỗ máy ý chí chiến đấu kinh thiên động địa. Tiếng kêu gào, mã tấu quơ múa sáng loáng như tuyết xông thẳng về hướng đại doanh quân Hán. Kỵ binh trong đêm tối như cơn lũ càn quét, như biển lớn thét gào, như sông lớn vỡ đê, uy thế như cầu vồng, hùng dũng cơ hồ không thể kháng cự!
Theo tiếng reo hò ầm vang của bọn kỵ binh, tiếng vó ngựa đuổi nhau ầm ầm, từng tiếng kèn vang dội nổi lên trong đại doanh quân Hán. Tín hiệu báo động từng tiếng từng tiếng tiếp nối nhau. Vô số quân Hán từ trong doanh trướng vọt ra, trong tay nắm chặt binh khí của mình, không thấy có chút bối rối nào.
Lưu Lăng lúc này, đang ngồi trong căn lều lớn của hắn, lạnh lùng nhìn vào trong bóng đêm như một con mãnh thú hồng hoang muốn giết bọn kỵ binh quân Chu đang tràn tới. Ánh mắt lạnh như băng của hắn giống như một mũi đao.
Cung thủ của quân Hán đã bắt đầu phát ra uy lực. Chỉ có cơn mưa tên dày đặc mới nói rõ được. Quân Hán sớm đã có chuẩn bị. Nhưng Vương Trạng Nguyên không cho rằng chỉ dựa vào mấy vòng mưa tên này thì có thể ngăn cản ba vạn kỵ binh tinh nhuệ dưới trướng của hắn. Cuộc chiến càng lúc càng kịch liệt, máu hắn mới có thể càng nóng, người hắn mới có thể càng điên cuồng. Hắn thích cảm giác chiến tranh. Thích hương vị máu tanh ngọt ngào. Mỗi lúc như thế này, hắn đều cảm giác có một cỗ máu đang thiêu đốt trong người hắn.
Cung thủ quân Hán được huấn luyện đều có tố chất. Từ lúc ngắm bắn bọn kỵ binh quân Chu tiến vào đến giờ đã bức bách bắn ra lượt tên thứ ba. Tốc độ kỵ binh quá nhanh, bọn họ không có thời gian bắn ra lượt tên thứ tư. Nhưng như thế này cũng đủ lắm rồi, bọn họ đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Chỉ là kỵ binh xung phong tấn công trung quân Hán doanh đã không dưới bảy trăm người bị trúng tên ngã xuống ngựa. Nhưng bảy trăm người, đối với đội kỵ binh vạn người mà nói thì vẫn còn quá ít. Tuy có làm tốc độ tấn công của kỵ binh quân Chu chậm lại một chút nhưng vẫn như cũ, không ngăn cản được bước tiến của quân địch.
Hai hàng cự mã xông lên ngăn cản bước tiến của kỵ binh quân Chu. Không cần Vương Trạng Nguyên hạ lệnh, đám kỵ binh đi trước nhất tới tấp tung ra phi trảo ném lên đám cự mã. Sau đó, giục ngựa phi nhanh, đám cự mã liền bị kéo ra. Nhưng vào lúc này, mặt sau doanh trại quân Hán bỗng nhiên đứng ra hai hàng binh lính, mạnh mẽ phóng lao trong tay ra ngoài. Trong màn máu phun ra tung tóe, từng kỵ binh một bị mũi lao xuyên sống qua người, mang theo máu từ sau lưng bọn chúng bắn ra ngoài. Có lẽ còn treo móc thêm một khối nội tạng vụn vỡ.
Hơn một nghìn mũi lao lại một lần nữa giết chết sáu bảy trăm tên kỵ binh quân Chu. Chiến mã bị mất đi chủ nhân không ngừng hí lên. Giẫm đạp bước lên, qua lại một vòng rồi không muốn rời đi. Kỵ binh phía sau nhanh chóng vọt lên, quét sạch mớ chướng ngại vật trước mặt mình. Chẳng ngại thứ ngăn cản trước mặt họ chính là đồng đội bị thương, bọn họ không chút đắn đo lựa chọn một đao chém xuống. Đoạn đường tiến lên phía trước, hết thảy kẻ nào cản trở đều là quân địch.
Mắt thấy kỵ binh xông tới đại doanh quân Hán, lao thủ và cung thủ của quân Hán bắt đầu tuần tự rút lui. Từng loạt từng loạt người rút vào bên trong. Không ngờ lại để cho quân Chu có một khoảng trống đủ để gia tăng tốc độ. Vương Trạng Nguyên cảm giác nhạy bén một tia nguy cơ cho nên hắn ở đây trước tiên ghìm chặt chiến mã của mình.
Vù vù.
Không biết bên ngoài đại doanh quân Hán ẩn giấu thứ gì, mà theo tay cung thủ quân Hán, hỏa tiễn được bắn ra. Bất ngờ có một khoảng đất rộng chừng ba mét đã bùng cháy thành một đám lửa lớn. Lửa kia nhanh chóng phóng lên trời cao, nháy mắt đã cắn nuốt hết mấy trăm kỵ binh. Mà kỵ binh phía sau không kịp thu lại bước chân, đều vọt vào trong biển lửa.
Vòng lửa quá hẹp, ba mét, kỵ binh quân Chu chỉ cần nhắm mắt lại, trong một khoảng hô hấp chiến mã đã có thể tiến lên. Tuy nhiên đã có không ít kỵ binh quân Chu bị bỏng. Mà nhóm kỵ binh đầu tiên của quân Chu xông vào đại doanh quân Hán bị lửa thiêu té xuống ngựa rất ít. Thế nhưng, kỵ binh phía sau lại bị ngọn lửa phóng thẳng lên trời kia ngăn lại bước chân. Người có thể không sợ lửa nhưng ngựa thì không thể. Vương Trạng Nguyên không ngừng hạ lệnh cho quân lính tiếp sau xông vào tiếp ứng cho kỵ binh phía trước vọt vào đại doanh. Nhưng đám kỵ binh bất luận thúc giục chiến mã như thế nào thì chiến mã cũng không dám xông vào trong lửa.
May mắn. Ngọn lửa này nhanh chóng bùng cháy cũng nhanh chóng tắt lụi. Không đợi bao lâu, khói mù mịt bốc lên, thế lửa dần dần thu hẹp lại. Trong đám khói đen cuồn cuộn không thấy rõ tình hình trong đại doanh quân Hán như thế nào. Nhưng Vương Trạng Nguyên có thể khẳng định, mấy trăm kỵ binh đã vọt xông vào đại doanh kia e rằng đã bị quân Hán giết sạch sẽ.
Đợi lửa lớn tắt ngúm, Vương Trạng Nguyên hét lớn một tiếng, mấy nghìn kỵ binh mãnh liệt xông vào đại doanh quân Hán.
Xông qua màn khói dày đặc. Trong màn khói đặc kia chính là bộ binh của quân Hán đối đầu với đám kỵ binh không có sức phòng ngự.
Sau khi xông qua làn khói dày đặc, kỵ binh quân Chu nhao nhao mở to mắt, nhưng càng lúc lại càng mở to hơn, trên mặt lộ ra vẻ hoảng sợ không thể tin nổi. Bọn họ rối rít kéo chiến mã nhưng cũng đã không làm nên chuyện gì. Sau màn khói đặc là ba hàng binh lính chỉnh tề của quân Hán. Những binh lính này trong tay mỗi người đều nắm chặt một trường mâu giản dị dài chừng hơn ba mét.
Như một mảng rừng cây sắc bén. Kỵ binh quân Chu tự mình tiến lên đụng đầu vào.
Phụt!
Một cây trường mâu hung hăng đâm vào cổ chiến mã. Máu theo lỗ thủng như thác nước mãnh liệt trào ra. Chiến mã hí lên một tiếng, theo tiếng kêu liền ngã xuống một bên. Kỵ sĩ trên lưng ngựa không khống chế nổi thân mình mà té sấp về phía trước, lập tức toàn thể áp lực đều đặt trên trường mâu bằng gỗ kia. Áo giáp của hắn bị đâm phá, đồng thời còn bị đâm rách nát, còn có cả bụng hắn. Trường mâu bằng gỗ treo ruột với máu chảy đầm đìa. Rất nhanh lại đâm một lần nữa vào cổ chiến mã, trộn máu người và máu ngựa vào một chỗ.
Một mảng rừng cây sống trong tay bộ binh quân Hán, đẫm máu như thế.
Cuồng Đồ Tu La
Chiến mã đi trước bị trường mâu đâm chết, chiến mã ở sau tiếp tục xông lên. Khói đặc mù mịt, không ai nhìn thấy được ẩn sau làn khói quân Hán đã dùng những cây gỗ hợp thành một con đường tử vong. Lúc này mọi người mới phát hiện, những cành cây bừng bừng sức sống sau khi bị lột bỏ lá cây và vót nhọn lại có thể toát ra tử khí khiến lòng người kinh hãi.
Máu chảy tràn như suối.
Chiến mã hí vang, tiếng người kên rên, càng lúc càng có nhiều kỵ binh bị trường mâu gỗ hạ gục! Mục tiêu của những trường mâu thủ không phải là người, mà là giết ngựa! Chỉ cần giết được chiến mã, kỵ binh rơi xuống đất, một nửa chết vào tay cung tiễn thủ quân Hán ở cách đó không xa đang bình tĩnh giết người, một nửa chết dưới vó ngựa giẫm đạp của các đồng chí từ phía sau xông lên. Giờ khắc này, thứ không đáng tiền nhất chính là mạng người. Có binh sĩ Chu quân trơ mắt nhìn những cây gỗ vót nhọn kia thẳng tắp đâm về hướng hai mắt của mình, nỗi sợ hãi này khó mà hình dung. La liệt gậy gộc trực tiếp đâm vào hai mắt, cảm giác đó là như thế nào?
Có thể thử tưởng tượng, một đầu gỗ bén nhọn, bằng tốc độ cực nhanh đâm vào hai mắt của mình.
Sau đó, xuyên qua não ra ngoài.
Rất nhanh, trước trận địa phòng ngự của bộ binh quân Hán đã chồng chất thi thể. Có người, có ngựa. Cảm thấy tình hình không tốt Vương Trạng Nguyên lập tức hạ lệnh đình chỉ công kích, chờ khói lửa tán đi, trước mắt đã không còn vẹn nguyên. Ánh mắt Vương Trạng Nguyên đỏ lự, khóe miệng bị hắn cắn rỉ ra một vết máu. Hắn nắm hoành đao của mình thật chặt, lại không tìm được nơi để bổ chém. Hắn bất lực nhìn mấy trăm kỵ binh dưới trướng bị đóng cọc sống, chỉ có thể nhìn, không có cách nào.
Tuy rằng số kỵ binh tử vong không nhiều, nhưng vẫn gây nên một trận rung động. Hình ảnh giết chóc tàn khốc như cảnh tượng hành hình chốn Địa ngục, người chết đều là cắm đầu đâm vào. Người trước ngã xuống, người sau liền tiến lên tìm chết, dường như không oán không hối, nhưng có ai biết được, khoảnh khắc cuối cùng trước khi chết, nghĩ đến trong đầu bọn họ là cái gì?
Nhớ đến mẹ già? Hay là vợ con?
Có lẽ ở thời khắc tử vong, trước mắt bọn họ không còn là vũ khí của địch, mà là thân nhân mình ngày đêm mong nhớ. Nam nhi chinh chiến bốn phương, mấy ai còn sống? Muốn được áo gấm về làng, mấy ai được như nguyện? Công danh lấy trên lưng ngựa, kết quả chỉ là công dã tràng. Hụt hẫng trong lòng, tưởng niệm trống không. Có lẽ, ở nơi quê nhà xa xôi, thân nhân của họ đột ngột linh cảm được điều gì đó mà trở nên mất hồn, thê tử đang may vá quần áo bất chợt đâm rách tay, mẫu thân đang nấu cơm thì lỡ tay đánh đổ bữa ăn.
Từ xưa đến nay, trên chiến trường đã chôn vùi xương cốt của biết bao quân tướng anh hùng khí khái.
Nhất tướng công thành vạn cốt khô, nếu là thất bại thì sao?
Dưới trướng Vương Trạng Nguyên không thiếu kỵ binh, kỵ binh của hắn tuy rằng bị những thủ đoạn phòng ngự liên tiếp làm cho tổn thất thê thảm và nghiêm trọng, nhưng vẫn còn đủ sáu thành nhân mã. Hắn còn đủ lực lượng để đánh một trận, phần thắng của hắn vẫn rất lớn. Máu của hắn bốc cháy lên rồi, nhưng không biết vì sao, lần này lại là thiêu đốt lạnh lẽo như băng. Quay đầu nhìn, trên gương mặt mỗi một kỵ binh phía sau hắn đều treo một nỗi kinh hoàng, sự bất lực hiển lộ mồn một.
Binh lính quân Hán bắt đầu dẹp sạch thương binh, kỵ binh Chu quân ngã ngựa đều bị bọn họ máy móc giết chết tàn nhẫn. Tiễn, đao, thương, mâu, mỗi một loại binh khí đều có thể kết thúc sinh mạng. Nhưng liệu có loại binh khí nào không phải để giết người, mà là để người sống không? Đáp án đương nhiên là phủ định rồi, không thể nghi ngờ, binh khí chính là thứ để giết người.
Vương Trạng Nguyên không chọn lui về sau, bởi vì cho tới bây giờ hắn chưa từng lui bước. Lúc này tuy thế công kích gặp trở ngại, nhưng hắn còn có hai lộ kỵ binh khác bên ngoài! Phòng ngự trung quân Lưu Lăng chặt chẽ mưa gió không lọt, chẳng lẽ toàn bộ đại doanh quân Hán đều có thể bố trí như thế? Vương Trạng Nguyên không tin, hắn không tin có người làm được tới mức đó! Hắn hít một hơi thật sâu, quay đầu nhìn về sườn nam đại doanh quân Hán, nơi đó hẳn là đã bị tả lộ quân của hắn công phá rồi chứ?
Sáu mươi xe liên phát hỏa nỏ, mỗi chiếc một lần bắn ra liên tiếp một trăm hai mươi cây hỏa nỏ, sáu mươi chiếc, như vậy một lần có thể bắn liên phát bao nhiêu cây tên nỏ? Bảy tám ngàn cây hỏa nỏ như mưa trút xuống, đối với kỵ binh Chu quân tấn công đại doanh quân Hán bên sườn nam mà nói, đây không thể nghi ngờ chính là một cơn ác mộng, những người còn sót lại cả đời cũng không muốn hồi tưởng lại cơn ác mộng đó! Đó là một cảnh tưởng như thế nào? Chi chít mũi tên nỏ phủ kín bầu trời, một đợt liên phát đã kéo xuống một tầng kỵ binh Chu quân thật dày.
Thế công kích của bọn kỵ binh bị bức bách gãy gánh, bọn họ gấp rút thoái lui về sau tránh né cơn mưa tên nỏ đó. Sau một đợt liên phát, kỵ binh tả lộ quân tổn thất quá hai nghìn kỵ! Hai nghìn người, nắm tay nhau có thể kéo dài đến sáu bảy dặm. Hai nghìn người, chung lưng đấu cật có thể trong một thời gian rất ngắn gây dựng một thôn trang. Nếu là lao động làm ruộng, có thể trồng được hơn vạn mẫu ruộng tốt. Thế nhưng, bọn họ dù có đồng tâm hiệp lực cũng xông không qua được nỏ trận của quân Hán.
Bên sườn nam, quân Hán di dời toàn bộ xe liên phát hỏa nỏ tập trung tại đây, chờ đợi quân địch điên cuồng tiến công. Đây là một trận chiến mà cả hai bên đều biểu hiện sự chuẩn bị sung túc ra bên ngoài, bất kể là Vương Trạng Nguyên hay là Lưu Lăng, đều muốn suy nghĩ của mình phát huy tới cực hạn, dự tính mọi cục diện có khả năng xuất hiện trong chiến đấu. Nhưng rất hiển nhiên, tính toán của Vương Trạng Nguyên, là đứng ở góc độ của mình mà tính, còn dự tính của Lưu Lăng, là đứng trên góc độ của địch mà suy diễn.
Vương Trạng Nguyên suy tính là, ta nên làm thế nào, nên an bài nhân mã như nào, chỉ huy tiến công ra sao, sử dụng chiến thuật gì đây, dùng trận hình gì để công kích. Còn Lưu Lăng suy tính, cũng tương tự. Binh lực của địch ước chừng bao nhiêu? Kẻ địch sẽ chọn phương hướng nào tiến công? Kẻ địch sẽ vận dụng chiến thuật gì? Kẻ địch sẽ chọn thời gian nào phát động đánh úp?
Có thể nói, những điều Vương Trạng Nguyên suy xét, Lưu Lăng đều đã nghĩ đến. Thoạt nhìn, hai người bọn họ đều đã có chuẩn bị chu đáo mới phát động giao chiến, nhưng trên thực tế, chỉ có Lưu Lăng chứng thực được những dự liệu của mình thôi.
Kỵ binh tấn công sườn nam Hán doanh lui về sau, nhưng lang tướng lãnh binh hiểu rõ tính tình Vương Trạng Nguyên, vì thế hắn ta không dám triệt binh, chỉ đành lần nữa chỉ huy nhân mã giết lên. Xe liên phát hỏa nỏ có ưu thế lớn nhất chính là hỏa lực hùng mạnh, gần như có thể bao trùm toàn bộ chiến trường. Mà khuyết điểm lớn nhất chính là, nạp tên nỏ vào rất mất thời gian. Tốc độ của kỵ binh quá nhanh, quân Hán căn bản không có thời gian phát động lần bắn thứ hai.
Hơn bảy nghìn kỵ binh Chu quân lại tiến công, lần này nghênh đón bọn họ là ba lượt cung tiễn thủ đồng loạt bắn tên, lại thêm nghìn kỵ binh bị bắn chết. Ngay khi cung tiễn thủ quân Hán lui về, kỵ binh Chu quân cho rằng quân Hán đã vô kế khả thi, thì bất chợt có mấy nghìn binh lính nâng thứ vũ khí kỳ quái xuất hiện trong tầm mắt bọn họ, nhanh chóng hoàn thành bày trận. Sau đó, một mảnh ánh lửa chói mắt bùng nổ, từ món vũ khí của mấy nghìn tên lính kia phun ra từng ngọn từng ngọn lửa!
Thần Cơ doanh, hỏa khí binh.
Tiếng nổ kịch liệt liên tiếp vang rền, đừng nói là chiến mã, ngay cả người cũng còn sợ hãi uy lực cực đại của thứ vũ khí này. Đương nhiên, loại uy lực này trên thực tế chỉ có tác dụng gây chấn động về mặt thị giác thôi. Từ trong tiếng nổ mạnh, vô số đinh sắt bay tứ tung, giã lên người kỵ binh thương tích đầy mình. Còn chiến mã cũng bị tiếng gầm rú kịch liệt dọa cho sợ bể mật, bắt đầu hốt hoảng chạy bừa tán loạn. Ngoài trăm bước trận địa quân Hán đã trở thành nơi Lôi công luyện ngục!
Sĩ khí lại một lần nữa bị đánh tan, kỵ binh Chu quân công kích bên phía nam sau khi bị tổn thất gần một nửa nhân mã, không thể không lui tiếp trở về. Tuy rằng phần lớn binh lính bị tổn thất vẫn còn nằm trên mặt đất kêu rên thê thảm, nhân số tử vong thực tế không nhiều, nhưng cảnh tượng kinh hoàng trước mắt cũng đủ để khiến người ta kinh hồn táng đảm. Trong mắt, trên cổ, hai má, trên trán đều bị đinh sắt đâm thủng, trên khắp người thương binh nơi nào cũng có đinh sắt, bọn họ thê lương kêu rên trong đêm đen, ngay cả Diêm La Vương khi chạy đến cũng bị dọa hết cả hồn vía.
Đội ngũ kỵ binh Chu quân đi đường vòng là ở xa nhất, tính toán vòng tới phía sau đại doanh quân Hán ngăn chặn bại binh quân Hán, tổn thất của bọn họ hẳn là ít nhất. Bởi vì lang tướng chỉ huy chiến đấu chợt phát hiện, đại doanh quân Hán cũng không bị tan tác như ong vỡ tổ, không có một quân Hán nào chạy qua bên phía bọn họ! Sau khi phát hiện ra vấn đề, phản ứng đầu tiên trong đầu lang tướng này chính là, trận công kích của Đại tướng quân thất bại rồi!
Chính trong lúc do dự là nên từ phía sau tiến công đại doanh quân Hán hay là đi trợ giúp Đại tướng quân, một tiếng kiếng kèn lệnh truyền đến, binh mai phục nổi lên bốn phía!
Sau đó, con ngươi của lang tướng đó càng trợn càng lớn, kinh ngạc đến không nói ra lời. Từ phía bên sườn, kỵ binh như những con mãnh thú trầm mặc, một ngụm cắn tới. Có người nói, binh lính chia làm bốn loại, loại thứ nhất là lũ ô hợp, loại lính này khi thuận gió sẽ hết sức dũng cảm, nhưng chỉ cần hơi suy sụp chút liền quay đầu trốn mất dạng. Bọn giặc cỏ trên cơ bản đều thuộc loại này. Loại thứ hai, chính là binh lính thông thường, bọn họ có trang bị bình thường, cũng không thiếu khuyết huấn luyện. Khi giao chiến bọn họ xông lên trước nhất cũng chết trước nhất, bọn họ phục tùng mệnh lệnh, nhưng khi gặp phải nguy cơ rơi vào đường cùng thì chỉ còn biết làm liều chiến một trận. Loại thứ ba, chính là sư đoàn tinh nhuệ. Nhóm binh lính này được trang bị hoàn mỹ, huấn luyện có tố chất, bọn họ giết người như ngóe, khi đấu tranh anh dũng rít gào như đàn sói đói. Kỵ binh Chu quân chính là thuộc loại này. Mà loại thứ tư, được trang bị hoàn mỹ tương tự, huấn luyện có tố chất tương tự, điểm bất đồng duy nhất là, bọn họ trầm tĩnh.
Ba nghìn trọng kỵ Tu La, như một con mãnh thú sắt thép, há mồm to cắn lên thân thể cao lớn của kỵ binh Chu quân. Nếu kỵ binh Chu quân là một con rắn độc cực lớn, vậy thì một ngụm này của Tu La doanh, chính là cắn xé đến bảy tấc. Kỵ sĩ thiết giáp tĩnh lặng, giết người trong yên lặng. Chiến mã khổng lồ phả ra hơi thở tanh tưởi mùi máu, sao có thể là ngựa, rõ ràng là một bầy mãnh thú khát máu mà!
Trận chiến kịch liệt nhất diễn ra ở trung quân đại doanh quân Hán, khi Vương Trạng Nguyên nhận ra hai lộ nhân mã khác của mình cũng đang bị áp chế, hắn biết trận chiến này nếu muốn thắng, chỉ còn cách liều lĩnh giết vào thẳng vào lều lớn của Lưu Lăng! Hắn biết lúc này Lưu Lăng đang quan sát hắn, xem hắn nhếch nhác cỡ nào. Vương Trạng Nguyên nuốt xuống một búng máu, hét lớn một tiếng, làm gương cho binh sĩ vọt lên!
Khi hắn suất lĩnh kỵ binh hung hãn không sợ chết tiến công, bộ binh quân Hán bắt đầu liên tiếp rút lui. Thời điểm mười nghìn kỵ binh Chu quân chỉ còn lại không tới ba nghìn, Vương Trạng Nguyên đã suất quân công kích đến bên ngoài lều lớn của Lưu Lăng chỉ còn cách không tới ba trăm mét thôi. Rất gần rồi, thật sự rất gần.
Nhưng, ngăn đón trước mặt hắn, là cơn ác mộng của kỵ binh nhẹ.
Tả Úy Vệ của Trịnh Siêu, bốn nghìn người sở hữu chiến lực mạnh mẽ nhất.
Bốn nghìn trọng giáp bộ binh, cũng lặng yên như những cỗ máy giết chóc khiến lòng người lạnh ngắt. Triệu Bá, đã trở thành tướng quân của bốn nghìn trọng giáp này. Bốn nghìn trọng giáp, chính là bộ binh thân vệ của Lưu Lăng trong lần xuất chinh này! Y giơ lên mạch đao nặng trịch trong tay, chỉ vào tướng quân của đội ngũ kỵ binh Chu quân cách đó không xa, không nói một lời, nhưng, bốn nghìn binh lính này lập tức triển khai, giống như một chỉnh thể, một khối thép tinh chất đã trải qua bách luyện! Từ sau khi bọn họ đi theo Lưu Lăng, đã có một cái tên mới, trọng giáp Cuồng Đồ Doanh, bốn nghìn Cuồng Đồ!
Gậy ông đập lưng ông
Triệu Bá hiên ngang bước đi tiên phong, mạch đao nặng mấy chục cân trong tay hắn lập lòe tia sáng lạnh âm u. Trọng giáp mạch đao thủ, mỗi ba trăm người một phương trận, dày đặc mà dũng mãnh, nghênh đón kỵ binh Chu quân lao tới.
Vương Trạng Nguyên giỏi về suất lĩnh kỵ binh tác chiến, từ khi xuất đạo đến nay, thân phận của hắn từ một gã kỵ binh thông thường lên đến Đại tướng quân doanh kỵ binh, đâu chỉ trải qua trăm chiến? Hắn đã giao phong với nhiều loại đối thủ, và đánh bại từng kẻ một. Đường binh cũng tốt, phỉ loạn cũng thế, ở trước mặt kỵ binh của hắn đều như lá vàng bị gió thu cuốn quét sạch sành sanh. Trong khái niệm tư tưởng hắn, tuyệt đối không có một chi bộ binh nào có thể cùng đội ngũ kỵ binh của mình đối địch chính diện. Bất luận là đội ngũ bộ binh thế nào, thì khi gặp phải kỵ binh của hắn đều bị giẫm đạp thành phân!
Nhưng, khi hắn trông thấy đội bộ binh trọng giáp của Triệu Bá đạp bước mà đến, trong một khắc này, lòng hắn bỗng nhiên sinh ra nỗi sợ hãi mà trước nay chưa từng có.
Này là một đàn lính sao?
Bọn họ người mặc trọng giáp, cầm trong tay mạch đao, bình tĩnh nện bước, mặt giáp buông xuống, chỉ lộ ra đôi mắt không chút gợn sóng. Phương trận chỉnh chỉnh tề tề đè áp qua, những tiếng chân hữu lực vang vọng, lại không có chút âm thanh nào là của hắn! Rất trầm mặc, trầm mặc một cách yêu dị! Không có tiếng hô, không có tiếng hò hét, không có khẩu hiệu. Không có cái gì hết, chỉ có ánh đao như đại dương mênh mông lấp lóe dưới ảnh lửa giữa màn đêm.
Này là một đám người sao?
Tay của Vương Trạng Nguyên run rẩy kịch liệt, lần đầu tiên, hắn phát hiện mình vậy mà cầm không vững thanh đao bản rộng của mình. Bỗng nhiên, hắn phát hiện, mạch đao nặng trịch trong tay trọng giáp bộ binh dường như có cùng chiều rộng với thanh đao bản rộng của mình. Nặng trình trịch mà không mất đi sự sắc bén, khí phách uy vũ. Đối với lực tay của mình hắn vẫn luôn rất kiêu ngạo, có thể cầm nắm cây đao bản rộng nặng bảy mươi hai cân xoay mồng mồng như quạt gió, trong quân người làm được như vậy không nhiều. Nhưng, làm được tự tin như hắn, trước mặt bỗng nhiên xuất hiện bốn nghìn trọng giáp bộ binh cầm trong tay mạch đao nặng mấy chục cân, điều này gây đả kích nhường nào đến tâm lý hắn?
Điều này cũng không phải nói, bốn nghìn Cuồng Đồ của Lưu Lăng mỗi một người đều có tu vi thân thủ tương đương với Vương Trạng Nguyên, lấy bản lĩnh Vương Trạng Nguyên, một người đánh với vài tên, mười mấy tên, thậm chí mấy chục tên trọng giáp Cuồng Đồ cũng không phải chuyện khó khăn lắm. Từng bước từng bước lên, tới một người hắn chém một người. Nhưng nếu là mười mấy tên trọng giáp Cuồng Đồ kết trận công kích, hắn có thể tự bảo vệ mình đã là rất khó khăn rồi.
Một gã kỵ binh Chu quân chịu không nổi áp lực trầm mặc của trọng giáp Cuồng Đồ gào to một tiếng, thúc giục chiến mã tiếp đón bước chân Cuồng Đồ giết qua. Mượn quán tính của chiến mã, hắn vung một đao bổ xuống đầu của một gã trọng giáp bộ binh. Hắn vốn tưởng gã bộ binh đó sẽ sợ hãi sẽ trốn tránh sẽ gào thét sẽ xoay người chạy đi, nhưng hắn sai lầm rồi, đối mặt với hắn là Cuồng Đồ, gặp phải đao quang của hắn, gã bộ binh nọ thậm chí không làm ra động tác tránh né, mà bất động như núi!
Phụt!
Huyết quang phun trào!
Trọng giáp Cuồng Đồ phối hợp ăn ý, một người dựng đao lên, trực tiếp chém lìa đầu ngựa liền với một chân! Lúc này, hoành đao của kỵ binh kia chỉ còn cách đầu của trọng giáp Cuồng Đồ có hai thước, hai thước này, lại tựa như chân trời xa xăm. Chiến mã bổ nhào, kỵ binh đó từ trên lưng ngựa rơi xuống. Đối diện là Cuồng Đồ từng bước tiến lên hắn quơ loạn đao. Mạch Đao nặng nề từ trên bổ xuống, một đao chẻ đôi tên kỵ binh!
Nửa sọ não, nửa người, cón có dạ dày bị chém làm hai khúc, ruột rà óc não rơi rớt trên đất.
Tướng quân có trọng giáp, một bước giết một người.
Triệu Bá với ánh mắt lạnh lùng lấy mạch đao chỉ tới phía trước, trọng giáp Cuồng Đồ phía sau hắn chỉnh tề nện bước hướng phương hướng Vương Trạng Nguyên áp tới. Một gã kỵ binh nghênh diện đến bị Triệu Bá giương đao chém rơi, chém làm hai mảnh cả người lẫn ngựa. Đây là một tràng chiến đấu chính diện giữa bộ binh và kỵ binh, quá trình cực kỳ tàn nhẫn.
Kỵ binh Vương Trạng Nguyên tan rã là điều khỏi phải nghĩ cũng biết, vốn đã bị phòng ngự quân Hán đánh tới sứt đầu mẻ trán, sĩ khí suy sụp, lại đối mặt với trọng giáp Cuồng Đồ thiên hạ trí nhuệ, bọn họ đã sợ hãi tới tim mật muốn nát rồi. Có lẽ, cái bọn họ sợ hãi không phải là mạch đao của trọng giáp Cuồng Đồ, mà là sợ hãi sát khí của sự trầm mặc băng lãnh phát tán từ trên người bọn hắn.
Giết người trong trầm mặc, nện bước trong trầm mặc.
Vương Trạng Nguyên chém chết ba gã trọng giáp Cuồng Đồ, áo giáp trước ngực hắn cũng bị một gã Cuồng Đồ một đao bổ ra, vết thương thật lớn nhìn mà ghê người, suối máu ồ ạt trào ra. Một đao kia nếu sâu thêm hai phân, hắn đã bị rạch mở ngực bể bụng rồi! Vương Trạng Nguyên kéo xuống vạt áo qua loa bó lại vết thương sau đó tiếp tục vung đao chiến đấu, hắn như kẻ điên, không người nào chắn được, lại khó có thể ngăn cơn sóng dữ. Hắn không sợ chết, hắn chỉ không thể chấp nhận thất bại.
Kỵ binh bắt đầu tan tác rời rạc, càng lúc càng mở rộng, mấy chục thân binh che chở cho Vương Trạng Nguyên mở một đường máu lui lại. Vương Trạng Nguyên không cam lòng, mấy lần hắn quay người giết về đều bị đám thân binh gắt gao ngăn lại.
- Tướng quân! Xin hãy giữ lại núi xanh! Vẫn nên rút lui đi, còn có tướng quân, sớm muộn gì cũng có ngày rửa hận báo thù! Tướng quân! Đi thôi!
Đội trưởng thân binh của hắn lôi kéo dây cương chiến mã hắn, khóc lóc cầu xin.
Vương Trạng Nguyên đảo mắt nhìn quanh, khắp nơi đều là kỵ binh Chu quân đào thoát, tan tác đến mức này, dù có là thần tiên cũng khó vãn hồi. Hắn thở dài một tiếng, xoay người nhìn về phía tòa lều lớn di động đại biểu cho quyền lực tối cao kia, cái lều lớn có thể bất cứ lúc nào rút khỏi hiện trường lại đồ sộ như núi. Trên bình đài của lều lớn, có một người đang đứng chắp tay, trầm ổn tựa núi xa. Người đó chính là Hán Vương Lưu Lăng? Vương Trạng Nguyên thầm thở dài, mới đây thôi, hắn đã giết tới phạm vi năm mươi mét ngoài lều lớn, lại khó có thể tiến lên thêm một bước. Hắn hận, hận mình không có tài cưỡi ngựa bắn cung, nếu không trong khoảng cách đó liền có thể dễ dàng ám sát Lưu Lăng! Chỉ cần Lưu Lăng chết đi, bại cục hôm nay lập tức sẽ được xoay chuyển.
- Ai giỏi cưỡi ngựa bắn cung, bắn tên Lưu Lăng đó một mũi tên cho ta!
Vương Trạng Nguyên quát ầm lên.
Đội trưởng thân binh của hắn khẩn cầu: - Tướng quân, đi nhanh thôi! Xa như vậy, cho dù tên bắn qua được cũng không có khả năng làm tổn thương Lưu Lăng! Trừ phi có người kéo được cung cứng trên ba thạch, những cung tiễn bình thường đều không có tác dụng!
Lúc này trọng giáp Cuồng Đồ đã phong kín chiến trận, hắn còn muốn xoay người giết trở về đã là khó hơn lên trời. Vị trí của hắn hiện giờ cách lều lớn chừng hai trăm ba mươi bước, khoảng cách này, mũi tên lông vũ đều không có ý nghĩa. Vương Trạng Nguyên biết rõ điểm này, nhưng không tài nào cam lòng. Trong lúc hắn ảo não, bỗng nhiên thấy tên nam tử đứng trên bình đài lều lớn phất phất tay, lập tức có người đem tới một cây cung sừng trâu lớn giao cho nam tử áo bào gấm đó. Liền thấy người nọ rút tiễn ra từ trong bầu tên, cài lên cung, hai tay kéo ra, cung như trăng tròn!
Vút!
Một mũi tên xé trời mà đến!
Hai trăm ba mươi bước, Hán Vương đêm kéo cung.
Phập! Một cây chùy phá giáp hung hăng xuyên vào hõm vai của Vương Trạng Nguyên, lại chui ra từ sau lưng hắn! Vương Trạng Nguyên hét thảm một tiếng từ trên lưng ngựa rơi xuống, chân còn treo trên bàn đạp không rút ra được, mà con chiến mã đó lại bị kinh hãi vung ra bốn vó chạy như điên ra ngoài. Chiến mã kéo theo Vương Trạng Nguyên đang bị trọng thương chạy điên cuồng, nhóm thân binh kịp phản ứng rít gào lên cuống cuồng đuổi theo. Mà xa xa, Lưu Lăng dùng một mũi tên bắn Vương Trạng Nguyên ngã ngựa lại khẽ lắc đầu, dường như không chút vừa lòng với mũi tên của mình.
Chiến mã lôi kéo Vương Trạng Nguyên chạy loạn, sau khi chạy ra mấy trăm mét mới bị thân binh phía sau đuổi theo giữ chặt. Chờ khi đám thân binh cứu được Vương Trạng Nguyên, hắn đã trong tình trạng hôn mê hấp hối. Vài thân binh hợp lực nâng Vương Trạng Nguyên lên một con chiến mã, bọn họ che chở cho hắn xông ra ngoài loạn trận.
Mới chạy được không bao xa, một trận vó ngựa ầm ầm truyền đến, chỉ thấy từ xa một đội trọng giáp kỵ binh đuổi giết bại binh Chu quân hướng tới bên này. Những thân binh này hoảng sợ không dám giao chiến, chỉ biết cướp đường mà chạy.
Một đêm này, ánh lửa nung đỏ nửa bầu trời. Một đêm này, máu tanh nhuộm hồng cả đại địa. Kỵ binh Chu quân đến nhanh bại cũng mau, ai cũng không nghĩ tới lần này đánh bất ngờ, trên thực tế sớm đã hoàn toàn nằm trong kế hoạch của địch. Khi ngươi cho rằng mọi chuẩn bị của ngươi đã tỉ mỉ chu đáo, có lẽ kẻ thù cũng đang làm chuẩn bị, mà còn trọn vẹn hơn ngươi. Khi ngươi cho là mình tất thắng không thể nghi ngờ, kỳ thực, trong doanh trướng địch đã chuẩn bị sẵn rượu ngon mừng công rồi.
Thân binh Vương Trạng Nguyên dọc đường tụ tập bảy tám trăm tàn binh, bảo hộ Vương Trạng Nguyên đang trọng thương hôn mê một đường chạy loạn về hướng đông. May là nơi đây cách Trịnh Châu chỉ khoảng một trăm năm mươi dặm. Nếu như chạy bạt mạng, có thể chỉ mất một ngày là chạy về được Trịnh Châu rồi. Quân Hán nhiều bộ binh, hẳn là đuổi không kịp. Mặc dù quân Hán có một lượng kỵ binh nhẹ, nhưng không nhiều, chắc là không dám đuổi tới ngoài thành Trịnh Châu giết người đâu. Những tàn binh đó nghĩ không sai, quân Hán đích xác không có bao nhiêu kỵ binh nhẹ. Tu La doanh chỉ có ba nghìn trọng kỵ, mà binh mã Lạc Dương đều là bộ tốt, có thể đánh bại địch nhưng rất khó truy sát địch.
Thế nhưng, viện Giám sát có đề kỵ.
Tuy rằng đề kỵ Giám sát viện bên người Lưu Lăng chỉ có ba trăm, nhưng đều là quân tinh nhuệ! Lưu Lăng vốn không định giết chết Vương Trạng Nguyên trên chiến trường, sở dĩ bắn mũi tên kia, là do hắn nghe thấy Vương Trạng Nguyên ở ngoài hai trăm bước gào rú. Hắn nhẹ nhàng lắc đầu, không phải vì tiếc nuối mũi tên nọ của mình bắn không chết được Vương Trạng Nguyên, mà là sợ mình xuống tay quá nặng khiến Vương Trạng Nguyên không thể duy trì giữ mạng đến được ngoài thành Trịnh Châu! Nếu Lưu Lăng thật muốn giết hắn, hà tất ở ngoài hai trăm ba mươi bước bắn một mũi tên kia? Lúc Vương Trạng Nguyên hăng hái xung phong liều chết, chạy đến cách Lưu Lăng chỉ có năm mươi mét! Khoảng cách này, với tiễn pháp của Lưu Lăng, lấy mạng hắn chỉ như lấy đồ trong túi.
Cái Lưu Lăng muốn chính là đuổi giết Vương Trạng Nguyên đến dưới tường thành Trịnh Châu, như vậy mới có thể khiến cho quân địch ở Trịnh Châu kinh sợ! Hắn muốn khiến cho Chu quân sợ hãi mà không dám dễ dàng ra khỏi thành cùng quân Hán giao chiến, bởi vì, mục tiêu của hắn vẫn là phương Bắc! Hắn muốn dẫn binh hướng Bắc, dã chiến kích bại Bùi Chiến, không thể để cho quân coi giữ Trịnh Châu và Khai Phong quấy nhiễu đường lui của mình được!
Ba trăm đề kỵ truy đuổi sát sau tàn binh Chu quân, lúc mặt trời lặn vào ngày thứ hai, rốt cục đuổi bảy trăm tàn binh Chu quân đến ngoài thành Trịnh Châu.
Sau khi nhanh chóng đánh tan bảy trăm tàn binh, đề kỵ bắt giữ được Vương Trạng Nguyên, sau đó ở ngay trước mặt quân Chu thủ thành chém lìa đầu lâu của hắn, tiếp đó băm vằm! Giết Vương Trạng Nguyên xong, thủ lĩnh đề kỵ lấy từ trong ngực ra một tấm chiến kỳ màu đỏ rực, đại kỳ đón gió mở tung ra, giương cao chữ LƯU, ngang nhiên mà đi.
Khi bọn lính Chu tập kết xong từ trong thành Trịnh Châu xông ra, đề kỵ đã biến mất tăm tích. Trên thi thể Vương Trạng Nguyên, quân Hán dùng máu viết năm chữ. “Gậy ông đập lưng ông”.
Ngày thứ ba truyền đến tin tức, chín nghìn hàng binh Tật Tự doanh Chu quân, toàn bộ bị trảm thủ.
Du ngoạn
Chém chết chín nghìn tù binh, đó không phải việc mà người nhân nghĩa nên làm. Đương nhiên, Lưu Lăng cũng không cho rằng mình là một người nhân nghĩa được vạn dân kính trọng và ngưỡng mộ. Có người khuyên Lưu Lăng làm vậy sẽ tổn hại đến thanh danh của Vương gia, về sau quân địch sẽ không dám đầu hàng nữa. Đối với sự nghiệp thống nhất Trung Nguyên cũng không có lợi, chi bằng thả ra. Dù là không thả, thì áp giải tới đồn điền ở hậu phương cũng tốt. Lưu Lăng chỉ mỉm cười, từ chối cho ý kiến. Chiếu theo lệnh giết không tha, đến cùng máu vẫn tuôn chảy thành sông.
Đám dân chúng huyện Lai Hòa chưa bao giờ gặp qua cảnh tượng máu tanh như vậy, khói lửa trên chiến trường còn chưa tán đi, chín nghìn cái đầu tù binh đã rơi xuống đất.
Đây là chín nghìn binh lính bạo ngược, đi theo Vương Trạng Nguyên đã lâu, trên người bọn chúng hoặc ít hoặc nhiều đã nhuốm bóng dáng Vương Trạng Nguyên. Để cho bọn chúng cảm giác được đau, thì mới có thể khiến chúng nhớ kỹ bài học. Đương nhiên, là dành cho kiếp sau. Lấy giết chóc ngăn giết chóc khẳng định không phải biện pháp giải quyết vấn đề tốt nhất, nhưng không thể nghi ngờ là phương pháp xử lý trực tiếp nhất. Khiến thế giới cảm thụ nỗi thống khổ, khiến những kẻ phát động chiến tranh cảm giác được nỗi đau khắc cốt ghi tâm, thì mới làm cho bọn họ mỗi khi nhớ tới chiến tranh cả người sẽ sợ hãi run rẩy!
Lưu Lăng không phải kẻ lương thiện, cũng không phải quân tử đạo đức gì, sự nhẫn nại và lòng nhân ái có thể làm không tốt, nhưng lại chưa bao giờ buông bỏ chấp niệm trong lòng. Hoặc là không làm, nếu đã muốn làm, nhất định sẽ làm đến cùng! Nếu loạn thế có phân tranh, như vậy, hãy dùng bạo lực đến chấm dứt màn phân tranh này! Theo cách nói của Lưu Lăng, đã không thể dùng phương thức hòa bình để thúc đẩy thiên hạ thái bình. Như vậy, liền dùng nắm đấm đánh ra một mảnh thiên hạ thái bình đi!
Có người nói nhà quân sự đều là người mưu toan ngấm ngầm, như vậy Lưu Lăng không ngại lấy âm mưu giành thắng lợi. Âm mưu, dương mưu, đều có diệu kế an thiên hạ. Dẫn dụ Tật Tự doanh đến quyết chiến, đây là âm mưu của Lưu Lăng. Không thể phủ nhận một điều, âm mưu này rất thành công. Còn nhớ một câu nói bỡn cợt thế này. “Nếu trong đầu một người âm mưu đầy rẫy nhiều hơn cả đám lông rậm nơi vùng kín của hắn, vậy thì không phải nghi ngờ gì nữa, kẻ này chính là một nhân sĩ thành đạt.”
Vương Trạng Nguyên chết, Tật Tự doanh bị diệt, đối với Chu quân đại doanh Khai Phong mà nói là một đả kích khổng lồ. Lý Thiên Phương mất đi không đơn giản là một mãnh tướng và ba vạn kỵ binh, cái hắn mất đi, còn có ý chí chiến đấu. Sau trận chiến hắn mới suy đoán ra, trận tập kích này hoàn toàn nằm trong dự tính của Lưu Lăng, thậm chí còn hoàn thành theo kế hoạch của Lưu Lăng. Tuy rằng người nọ ở xa ngoài ba trăm dặm, lại có thể đùa bỡn quân coi giữ Khai Phong trong lòng bàn tay. Lý Thiên Phương qua chiến bại lần này tổng kết, cho ra kết luận là, trong dã chiến, đối địch chính diện, không ai là đối thủ của Lưu Lăng!
Có lẽ Lý Thiên Phương kết luận có chút bi quan, nhưng làm Chủ tướng trấn thủ Khai Phong, hắn nhất định phải làm ra phân tích khách quan nhất. Hắn hạ lệnh đại quân thủ vững thành Khai Phong, không thể lại khinh suất cùng quân Hán giao chiến. Trong mắt của nhiều người đây là một biểu hiện nghênh chiến tiêu cực, không hề có chút khí phách của quân nhân, tâm huyết của một viên Đại tướng. Chỉ có điều quả thật không thể phủ nhận, nếu Chu quân thủ vững không ra, quân Hán tuyệt đối không thể công phá thành Khai Phong.
Điều Lưu Lăng muốn đúng là khiến hắn ta không dám ra thành.
Mục tiêu của hắn căn bản không phải là đánh chiếm Khai Phong, mà là Bùi Chiến ở phía bắc Hoàng Hà!
Sau khi đánh bại Tật Tự doanh, Lưu Lăng hạ lệnh cho đại quân nghỉ ngơi và chỉnh đốn. Hơn năm vạn quân Hán, một trận chiến này tuy rằng đại hoạch toàn thắng, nhưng tổn thất cũng hơn bốn nghìn người. Mặc dù so với tổn thất của Chu quân thì nhẹ hơn rất nhiều, nhưng quân Hán từ xa tới, viện quân chưa đến, lấy nhân mã không đủ năm vạn trú đóng ở khoảng cách ba trăm dặm ngoài Khai Phong, quả là có chút mạo hiểm. Nếu chịu tổn thất quá lớn, quân Hán khó có thể chống đỡ. Chu quân dù bại trăm lần, nhưng chỉ cần là trên đất Đại Chu bọn họ sẽ rất nhanh chóng tái lập quân đội mấy chục vạn người. Mà quân Hán thì khác, nhân mã tiêu hao cần từ trong dân chúng Đại Hán chiêu mộ. Tuy rằng dân chúng Đại Chu không quá bài xích với việc quốc gia đổi chủ, nhưng vẫn rất ít người nguyện gia nhập quân Hán.
Đây là một nhân tố bất lợi rất lớn kìm hãm sự phát triển của quân Hán, mặc dù dân chúng liên miên bị triều đình Đại Chu giày vò tàn phá, nhưng từ sự kính sợ theo bản năng đối với triều đình, đám dân chúng không dám phản kháng triều đình trưng binh. Còn Lưu Lăng bất kể có đối đãi tốt với dân chúng thế nào chăng nữa, lại có mấy người nguyện ý cầm vũ khí đi liều mạng?
Ở Đại Hán, Lưu Lăng là sự tồn tại như thần linh. Một câu nói của hắn có thể khơi dậy lòng nhiệt huyết của vô số thanh niên buông cuốc cầm đao, nhưng ở Đại Chu, lời kêu gọi của hắn không có hiệu lực như vậy.
Lưu Lăng đang đợi, đợi một ngày nào đó dân chúng có thể tự mình giác ngộ. Hắn tin tưởng, ngày này không còn quá xa. Hắn thực hiện chính sách phân đất trong các khu vực hắn chiếm lĩnh, mỗi hộ dân đều được chia ít nhất mười mẫu ruộng tốt, đương nhiên, là cần chính tay bọn họ đi khai khẩn. Triều đình Đại Hán cung cấp hạt giống cho dân chúng, năm thu hoạch đầu tiên chỉ thu một phần mười sản lượng. Đối với dân chúng Đại Chu, đây quả là một miếng bánh từ trên trời rơi xuống, bọn họ đều là nông dân, chẳng ngại làm ruộng, chỉ sợ không có đất cày cấy thôi.
Những địa phương bị chiếm lĩnh từ sớm, như Tấn Châu, Giáng Châu, Từ Châu đã qua hai năm rồi, hai năm qua dân chúng đã nếm được ngon ngọt. Quan phủ Đại Hán thu thuế má cực thấp, bọn họ còn dư lương thực còn có thể bán cho quan phủ với giá cao, và không một ai dám ở giữa lừa gạt ích lợi của dân. Giám sát vệ thuộc viện Giám sát Đại Hán đã trải rộng khắp các châu phủ, tên quan nào đui mù dám lừa dối chiếm lợi của dân, thì hãy chờ đón lưỡi đao giết người của viện Giám sát. Đám dân chúng ăn no, mặc ấm, trong những ngày tháng này bọn họ thấy được hy vọng. Nếu có một ngày, lại có kẻ khác đánh tới thì bọn họ sẽ làm sao?
Sở dĩ Đại Chu gần như bị diệt, chính là vì đánh mất lòng dân. Tại những nơi quân Hán chiếm lĩnh đời sống người dân rất tốt, liệu bọn họ có cho phép kẻ khác đến phá hoại cuộc sống tốt đẹp này? Lưu Lăng vững tin, một khi có người đến phá hoại cuộc sống hạnh phúc của họ, bọn họ sẽ không chút do dự mà cầm lấy vũ khí.
Chu Diên Công trấn thủ Tấn Châu, Hầu Thân trấn thủ Lạc Dương, có hai người bọn họ, Lưu Lăng vốn không phải lo phiền chuyện nhà.
Có đôi khi Lưu Lăng ngẫm lại việc làm của mình có cảm giác rất thành tựu hay không, hắn đã làm những gì? Đánh thổ hào, phân đất vườn! Nếu coi đây là một thủ đoạn lôi kéo dân tâm, như vậy không thể nghi ngờ, thủ đoạn này là hữu dụng nhất. Chiến tranh là chiến tranh của người dân, dựa vào chính là nhân dân. Những việc Lưu Lăng làm là dựa vào nhân dân để lấy được thắng lợi cuối cùng, mà không phải đang chiến tranh với nhân dân!
Thật ra, đối với tham quan ô lại dân chúng đối chọi không phải quá mức kiên quyết. Chỉ khi tham quan bỏ mặc việc dân, lúc này dân chúng mới phẫn hận thấu xương. Vả lại kẻ làm quan mà không tham, như vậy chẳng khác nào mèo con không ăn cá, mới đáng chê cười. Đây là một sự thật không thể ngăn cản, nhất định phải có phương pháp xử lý mới được. Lưu Lăng biết, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương nổi danh giết tham quan. Văn bản pháp điển thời Minh triều viết rất rõ ràng, phàm là quan viên tham ô sáu mươi lượng bạc trở lên giết không tha. Về sau, giới định sáu mươi lượng bị hủy bỏ, phàm là quan viên bị kiểm chứng tham ô nhận hối lộ, bất kể chỉ nhận một lượng bạc cũng chiếu theo luật giết không tha. Triều Hồng Vũ, giết quan không dưới trăm nghìn người! Nhưng, có thể ngăn chặn được thói tham ô hay sao?
Cho nên, đồng thời với việc chế định chế độ quan viên khắc nghiệt, Lưu Lăng còn cho phép con cái quan viên kinh thương, hoặc là thuê số lượng lớn người dân nhàn rỗi gieo trồng nông trường, việc này hắn không ngăn cản. Nhưng, phàm là kẻ tham ô công quỹ, nhận hối lộ, ức hiếp dân chúng, hắn sẽ càng không nương tay so với Chu Nguyên Chương!
Cục diện quân Hán dần chuyển biến tốt đẹp, mà Đại Chu như mặt trời lặn về núi Tây rồi.
Bùi Chiến cho rằng, chỉ cần chiếm cứ được Khai Phong, trong tay khống chế một tiểu Hoàng đế, thì thiên hạ Đại Chu coi như là nắm giữ trong tay hắn rồi. Hắn đã sai, sai tới rối tinh rối mù. Chỉ có lòng dân hướng tới, mới thật sự là chiếm được thiên hạ!
Dân chúng huyện Lai Hòa tạm thời không hưởng được chính sách ban cho lợi ích thực tế của quân Hán, bởi vì quân Hán không tính ở nơi này đóng trại. Nơi này quá gần Khai Phong, là địa khu trọng yếu nhất của Đại Chu. Không chỉ Bùi Chiến Định An quân mà cả Hàn Dịch Chi Tả Võ Vệ, Đại tướng quân Tả Lĩnh Quân Vệ Nhạc Lạc, Đại tướng quân Hữu Lĩnh Quân Vệ Mi Hoang đều nhìn chằm chằm vào nơi này. Nhất là hai kẻ sau, không bị loạn chiến lan đến, thực lực bảo tồn vô cùng đầy đủ. Hai người này trước nay vẫn luôn là “Tiêu không rời Mạnh”, là đôi anh em kết nghĩa cùng tiến cùng lui. Binh mã Tả Hữu Lĩnh Quân Vệ hợp chung với nhau lên đến hơn trăm nghìn, là một lực lượng không thể khinh thường.
Vốn Hữu Lĩnh Quân Vệ trú đóng ở Thanh Châu, nhưng từ sau khi Định An quân tiến bắc, vì để tăng cường thực lực chống lại sự đe dọa của Bùi Chiến. Mi Hoang dẫn dắt đại quân rời khỏi Thanh Châu, cùng Tả Lĩnh Quân Vệ hội hợp trú đóng ở Cổn Châu. Cổn Châu cách Khai Phong chỉ có năm sáu trăm dặm, trong vòng mười ngày đại quân có thể giết đến. Hiện giờ Bùi Chiến đang lãnh binh cùng tàn binh Thành Đức quân giao chiến ở phía bắc Hoàng Hà, nói không chừng Nhạc Lạc và Mi Hoang sẽ xem chuẩn thời cơ tiến công Khai Phong.
Lý Thiên Phương vì bảo vệ Khai Phong, sau khi mất đi ba vạn kỵ binh Tật Tự doanh thì nhận ra rằng tuyệt đối không thể lại mất đi Trịnh Châu. Trịnh Châu còn, tương đương phía tây Khai Phong có một cánh cổng sắt bền chắc, nếu Trịnh Châu mất, Khai Phong liền nguy rồi. Vì thế, hắn chi mười lăm nghìn quân trú đóng ở Trịnh Châu, từ đó Trịnh Châu có gần ba vạn nhân mã. Con người Ngô Tử Lai này mặc dù là quan văn, nhưng tính cách cứng cỏi, một lòng trung thành và tận tâm với Đại Chu, dưới sự lãnh đạo của hắn, Trịnh Châu cũng được bố phòng như thùng sắt không gì phá nổi. Sự thật sau này chứng minh, văn nhân dụng binh, không phải hoàn toàn vô dụng. Quân Hán vây công Trịnh Châu ba tháng, nhưng lại không thể phá!
Đương nhiên, đây là chuyện về sau. Bây giờ ánh mắt Lưu Lăng đang hướng về phía bắc Hoàng Hà.
Lưu Lăng phái ra thám báo trinh sát hành động của quân phòng thủ Trịnh Châu, ở tại huyện Lai Hòa chờ nhân mã của Hoa Linh tới. Binh mã nghỉ ngơi dưỡng sức, ngược lại không có việc gì làm, Lưu Lăng dẫn theo Trần Tử Ngư và Mẫn Tuệ, ba người thay đổi trang phục hàng ngày, vào huyện nhỏ Lai Hòa du ngoạn. Thật ra là Lưu Lăng nhận ra Mẫn Tuệ không thích ứng được với cuộc sống quân lữ, cho nên lúc này mang theo nàng ra ngoài dạo chơi một chút. Xung quanh huyện Lai Hòa đều là bình nguyên, không núi không nước, chỉ có mỗi tòa huyện thành nhỏ này có thể đi dạo. Hiện giờ huyện Lai Hòa đang bị quân Hán bao vây, nên không cần thiết mang theo thị vệ. Có điều Trần Tử Ngư thân là quan lớn tối cao của Giám sát viện trong quân, đối với sự an toàn của Lưu Lăng nàng phải chịu trách nhiệm. Đương nhiên, dù Trần Tử Ngư không vì chức trách ở Giám sát viện, thì nàng cũng quyết không cho phép bất kỳ chuyện gì ngoài ý muốn xảy ra với Lưu Lăng.
Hộ vệ Lục xử Giám sát viện đang âm thầm che chở ba người vào huyện thành Lai Hòa.
Tiếng rống lớn của ai
Huyện thành Lai Hòa không lớn, lượn một vòng chỉ cần không tới nửa canh giờ. Tuy nhiên nơi này cách Trịnh Châu rất gần, nên việc buôn bán khá phồn hoa. Đại chiến qua đi, sau mấy ngày thích ứng, dân chúng trong huyện Lai Hòa cũng dần quen với việc quân Hán đóng ở ngoài thành, các hàng quán đều mở cửa kinh doanh. Mặc kệ thế nào, ngày vẫn phải qua, không thể vì quân Hán một ngày không đi mà bọn họ một ngày không mở cửa làm ăn.
Về sau những thương nhân này từ từ phát hiện ra, lúc trước đóng cửa không buôn bán là chuyện hết sức ngu xuẩn. Ngoài thành có năm vạn quân Hán nha, tuy rằng ngày thường quy định binh lính không được tự tiện vào thành, nhưng vẫn có không ít lính Hán vào thành mua vật phẩm. Những người lính Hán này khi đi mua đồ chưa từng cậy khỏe bắt nạt yếu, nên trả bao nhiêu thì một đồng cũng không thiếu. Hơn nữa, quân Hán là dùng đồng ngũ thù do Đại Chu đúc, hoặc bạc thông dụng nhất, thu nhập của các thương nhân tăng lên không ít.
Mặc dù bọn họ chưa trải qua nạn binh hỏa, nhưng các thương nhân vào nam ra bắc cũng có kiến thức nhiều. Đã có bao nhiêu thành trấn bị một phương quân đội nào đó chiếm cứ, sau đó tiến hành vơ vét sạch sẽ không còn gì. Đừng nói là trả tiền, có thể chừa lại cho ngươi một cái mạng coi như là Bồ Tát phù hộ rồi. Lúc trước khi Hôi Y quân của Từ Thắng Trị công phá Đồng Châu, loạn binh ở trong thành đốt giết đánh cướp suốt năm ngày, có bao nhiêu hộ dân cửa nát nhà tan, bao nhiêu bộ xương trắng chôn vùi dưới đất vàng! Đó là bọn phỉ, mà quan quân Đại Chu cũng không khá hơn. Tả Võ Vệ lúc ở Thọ Châu tiêu diệt phỉ, sau khi công phá Thọ Châu liền tàn sát hàng loạt dân trong thành ba ngày, mấy vạn nhân khẩu của tòa thành lớn đó bị càn quét sạch trơn. Lý do rất đơn giản, bởi vì dân chúng Thọ Châu hiệp trợ cho bọn loạn phỉ thủ thành!
Sau khi so sánh hai bên, dân chúng đối với quân Hán càng thêm thiện cảm. Trông thấy quân Hán đến cửa mua sắm, bọn họ cam tâm tình nguyện gọi một tiếng quân gia, trong giọng nói không hề có ý tứ khinh miệt.
Trần Tử Ngư còn đỡ, đã tập thành quen cuộc sống quân lữ. Mẫn Tuệ lại là lần đầu tiên vào trong quân doanh, rất nhiều chuyện chưa chuẩn bị tốt. Vật dụng con gái cần dùng cũng không mang đủ, lần này Lưu Lăng dẫn nàng theo vào huyện thành Lai Hòa là để mua một ít đồ dùng hàng ngày. Tuy rằng Lưu Lăng không lo lắng về vấn đề an toàn, nhưng xuất môn dù sao cũng phải mang theo vài tên tùy tùng, cũng tiện hỏi thăm sự tình, rồi mua đồ này nọ, những việc này thật ra Lưu Lăng không mấy rành...
Tùy tùng hỏi thăm một chút, ở huyện thành Lai Hòa này có cửa hàng lớn nhất là Tam Gia. Một quán rượu tên là Tùng Hạc lầu, là một lão điếm trăm năm. Một nhà Văn Bảo Trai, một nhà Xuân Phong Nhất Độ lầu. Văn Bảo Trai, tên như ý nghĩa, vật phẩm bán ở nơi này đều là văn phòng tứ bảo thượng hạng, thư tịch và mấy món đồ chơi linh tinh. Về phần Xuân Phong Nhất Độ lầu, thì miễn phải giải thích rồi.
Tam Gia gì đó không cần phải đi, bởi vì những thứ bán tại Tam Gia Mẫn Tuệ không cần. Trái lại Mẫn Tuệ đề nghị trước tiên đi Văn Bảo Trai mua một ít tập giấy, nàng nói giấy của Vương gia dùng sắp hết rồi. Lưu Lăng ngược lại khoát tay, nói: - Đi Tùng Hạc lầu trước đi, thức ăn trong đại doanh chẳng ngon lành gì, khó lắm mới có dịp ra ngoài, lấp no cái bụng trước đã.
Mẫn Tuệ biết Vương gia là vì suy nghĩ cho mình, thầm thấy cảm động, đi theo phía sau Lưu Lăng đến Tùng Hạc lầu. Vừa mới đến cửa, một điếm tiểu nhị liền ân cần chạy ra đón chào: - Các vị khách quen, mấy ngày rồi không thấy tới đó, hôm nay muốn dùng món gì ạ?
Đây chẳng qua là lời khách sáo, không có khả năng là thật. Nhưng sự ân cần và nhiệt tình này khiến Lưu Lăng thưởng thức, dù sao ở ngoài thành đang có mấy vạn đại quân trú đóng, tên tiểu nhị này vẫn giữ được tinh thần lạc quan tích cực, là rất khó được. Giơ tay không đánh người đang cười, Tùng Hạc lầu có thể kinh doanh trăm năm không ngã, thậm chí ở trong loạn thế vẫn vững như bàn thạch, chính là dựa vào thái độ trước sau như một này. Đương nhiên, bối cảnh càng không thiếu được. Chỉ có điều với tình hình bây giờ, bối cảnh của Tùng Hạc lầu cũng không có tác dụng gì. Ông chủ Tùng Hạc lầu họ Bùi, nghe nói là một nhánh của Bùi gia. Hiện tại cầm quyền Đại Chu tuy rằng vẫn là người Bùi gia, nhưng ở ngoài thành là mấy vạn quân Hán. Loại bối cảnh này không lấy ra khoe khoang còn đỡ chút, dám lấy ra khoe, làm không tốt còn dẫn lửa thiêu thân.
May là quân Hán rất có kỷ luật, không ai vào trong thành gây rối. Ông chủ Tùng Hạc lầu mỗi ngày đều lo lắng đề phòng, kỳ thực lo lắng của ông ta đều là dư thừa.
Thời điểm Lưu Lăng bước vào Tùng Hạc lầu vẫn còn rất sớm, chưa đến giờ cơm, cho nên thực khách trong tửu lầu không nhiều. Do vậy, không khí bên trong tòa lầu này có vẻ thanh tịnh. Lưu Lăng muốn một gian đơn, đám người theo hầu đều đứng chờ ở ngoài, Trần Tử Ngư và Mẫn Tuệ theo hắn vào trong gian.
Người kinh thương nhiều năm, sớm đã thành tinh. Bùi Tây Sơn ngồi trong một căn phòng, lần đầu tiên trông thấy đoàn người Lưu Lăng ông ta liền xác định, mấy người này có lai lịch lớn. Thật ra thì đoán được điểm này rất đơn giản, chẳng phải chuyện bí hiểm gì. Các gia đình nhà giàu có trong huyện thành Lai Hòa, Bùi Tây Sơ đều biết hết. Mà hiện tại quân Hán đang phong thành, người ở bên ngoài không tiến vào được. Lúc này mà còn có thể mặc áo gấm mang theo tùy tùng đến quán rượu, thân phận đã hiển lộ rõ rành rành.
Lông mày Bùi Tây Sơn nhíu lại, thầm nghĩ, xem ra đây là một đại nhân vật.
Mấy ngày nay quan quân quân Hán mặc thường phục đến Tùng Hạc lầu ăn cơm uống rượu cũng kha khá, thức ăn trong quân doanh quả thật là nhạt như trứng dái. Cho nên, trong vài ngày rảnh rỗi này, có một số các tướng quân không tiện lộ liễu vào trong thành uống rượu, bèn mặc thường phục mà đến, những người này đều có thể dễ dàng nhận ra. Quân doanh có quy tắc của quân doanh, mặc dù bây giờ đang không có chiến sự, nhưng một mình ra ngoài uống rượu chính là vi phạm quân pháp.
Lại nói tiếp, trên thực tế, Lưu Lăng không cấm chỉ uống rượu. Hắn biết rõ sinh hoạt trong quân doanh, tục ngữ có câu, tòng quân ba năm, đều thành “xuất” mau. Đến thanh lâu tiêu phí đống bạc chỉ tổ thua thiệt thôi, chính là thua ở một chữ “mau”. Chinh chiến bên ngoài thời gian dài không có nữ nhân, nếu còn không được uống rượu, trong lòng nhiều người sẽ sôi sục oán khí. Vậy nên, trong quân doanh Lưu Lăng luôn có chuẩn bị, đó chính là rượu. Đây là một điểm đặc sắc của quân Hán, trong quân nhu doanh luôn có mang theo lượng lớn rượu.
Lưu Lăng không phải không biết có rất nhiều quan quân thậm chí binh lính đến thị trấn uống rượu, nhưng bởi lẽ hành vi vẫn cực kỳ quy củ, cho nên hắn cũng liền mắt nhắm mắt mở, làm như không thấy. Quân hưởng của lính Hán rất hậu hĩnh, trong tay bọn lính không thiếu tiền, một kiếp sống bán mạng ngẫu nhiên mua một hồi say, không gì đáng trách.
Khi tiến vào thị trấn Lưu Lăng cố tình lưu ý một chút, nhận ra từng đội binh lính vào thành mua đồ ăn vô cùng chỉnh tề, không hề có chuyện phát sinh xung đột với dân chúng. Điều này làm hắn rất vui mừng.
Lúc hắn ngồi xuống gọi món ăn, Bùi Tây Sơn đang do dự có nên tự mình ra tiếp đãi hay không. Ông ta không dám cùng đám tướng quân quân Hán quá thân cận, bởi vì ông ta biết quân Hán sẽ không ở huyện Lai Hòa trú đóng lâu dài. Ngộ nhỡ tương lai Chu quân giết về, mình và quân Hán có tiếp xúc quá sâu, sẽ dẫn tới họa lên người. Người đi ra từ Bùi gia, cho dù chỉ là một tiểu nhân vật của một nhánh, nhưng suy xét vấn đề đều cân nhắc đủ các mặt lợi và hại. Đối với các tướng lĩnh quân Hán trước đó đến Tùng Hạc lầu, ông ta vẫn duy trì một khoảng cách. Mỗi một người ông ta đều tôn làm thượng khách, mỗi một người ông ta đều tránh né không kịp. Nhưng con người này, lại không giống!
Không giống ở chỗ, vị nam nhân tuấn lãng này, còn dẫn theo hai người con gái tới. Vấn đề thứ nhất Bùi Tân Sơn nghĩ đến chính là, người này ở trong quân Hán tuyệt đối có địa vị rất cao! Tướng quân bình thường, ai có thể mang theo nữ nhân vào trong quân đội chứ? Bỗng nhiên, một ý niệm xuất hiện trong đầu Bùi Tây Sơn, ý niệm đáng sợ này dọa cho ông ta vã mồ hôi lạnh.
- Mau!
Bùi Tây Sơn vội vàng đứng dậy, căn dặn bọn thủ hạ: - Đi nói với Tô đầu bếp, bảo hắn lấy hết bản lĩnh cả đời ra làm một bàn đồ ăn đưa đến Thính Vân các, không được giữ nghề! Đợi đã nào! Ta tự mình đi!
Bùi Tây Sơn vội vã xuống lầu, thẳng đến nhà bếp ở phía sau.
Tới nhà bếp rồi, Bùi Tây Sơn dặn dò Tô đầu bếp: - Lấy hết bản lĩnh tay nghề của ngươi ra, chuẩn bị một bàn rượu thịt cho ta, chọn những món ngươi sở trường nhất mà làm! Chốc lát nữa ta tự mình đưa đến Thính Vân các, hôm nay có khách quý tới! Ngươi gấp rút làm đồ ăn đi, ta đi lên trước chỉ bảo một tiếng, hôm nay không bán cho người khác!
Tô đầu bếp béo mập ha hả cười nói: - Chưởng quầy, là khách nhân hiển quý nào đến vậy? Còn nhọc ngài hưng sư động chúng hầu hạ như vậy?
Bùi Tây Sơn trừng mắt hắn, nói: - Hỏi nhiều làm chi, hầu hạ cho tốt vị gia này, ta cho ngươi thêm tiền công!
- Được được! Có lời này của chưởng quầy, hôm nay tôi liền bất chấp mọi giá.
Bùi Tây Sơn lại vội vã tới trong đại sảnh, dặn dò điếm tiểu nhị che ván cửa lại một nửa, nói rằng hôm nay không buôn bán, gửi lời xin lỗi tới các vị khách. Nói xong liền quay người trở về nhà bếp chăm chú quan sát Tô đầu bếp nấu ăn, sợ Tô đầu bếp không tận tâm tận lực. Bùi Tây Sơn biết, mình có lẽ sẽ gặp được một lần kỳ ngộ.
Có điều ông ta không biết rằng, cũng nhờ ý niệm nhanh nhảu nhất thời ngày hôm nay mà ông ta đã vì mình giành được một tiền đồ xán lạn. Một năm sau, toàn bộ Bùi gia đều theo Đại Chu bị diệt tan tành mây khói, duy độc mình ông ta một tiểu nhân vật không đáng kể còn sống sót. Đồng thời, Tùng Hạc lầu của ông ta sau khi dời đến thành Bắc Kinh, đã trở thành một trong nhóm thương nghiệp đầu tiên dời đến Bắc Kinh, và từ từ trở thành nhân tài kiệt xuất nhất trong giới hành nghề tửu lầu. Bùi gia, bởi vì hành động ngày hôm nay của ông ta, lại một lần nữa khai chi tán diệp. Mãi cho đến triều Đại Minh sau này, Tùng Hạc lầu mới bị hủy bởi một trận đại hỏa.
Bùi Tây Sơn tự mình bưng một mâm thức ăn lên Thính Vân các, sau khi bày đồ ăn lên bàn thì cung kính đứng ở một bên giới thiệu: - Vị công tử này chắc là lần đầu đến Tùng Hạc lầu của chúng tôi, tôi là Bùi Tây Sơn, ông chủ Tùng Hạc lầu, xin ra mắt công tử. Món ăn này được gọi là...
Câu tiếp theo ông ta còn chưa kịp nói ra thì bỗng nhiên nghe thấy dưới lầu truyền tới một tiếng rống lớn: - Tiên sư con bà nhà nó! Các ngươi mở tửu lầu còn có lúc không mở cửa đón khách à? Lão tử hôm nay nhất định phải uống rượu đấy!