ĐỀU SẼ ĐÓN VỀ HẾT
Đều sẽ đón về hết
- Vương gia, thuộc hạ trước đây không hề dự liệu được, Nhất Phẩm Đường của Tây Hạ đã phát triển đến như thế, lại xem thường Tôn Địch Vệ. Tất cả đều theo chế độ rập khuôn của Viện trước đây.
Triệu Đại thổn thức nói: - Nhất Phẩm Đường của Tây Hạ phân ra hai đường nội ngoại. Nội đường có ba nha môn, chuyên phụ trách việc trong nước của Tây Hạ. Điều tra dân sự, giám sát các hạng tướng lĩnh, quan lại. Ngoại đường cũng có ba nha môn, phụ trách việc thu thập tình báo, ám sát, thu mua đối với các nước khác. Phó Thanh Lân là Đốc chủ Nhất phẩm Đường, nhưng người cầm quyền đích thực vẫn là một mình Ngôi Danh Nẵng Tiêu.
Y dừng lại một chút rồi nói:
- Người của Viện sắp đặt ở trong Hưng Khánh phủ, ngoại trừ mật điệp cao cấp ra thì gần như đều bị người của Nhất Phẩm Đường quét sạch hết rồi. Lần này nếu như không có Thiết Lão Lang, muốn làm cho Nhất Phẩm Đường gặp chút phiền toái đã rất khó, muốn thu phục được Phó Thanh Lân lại càng khó hơn.
Lưu Lăng gật gật đầu hỏi: - Thiết Lão Lang không bị bại lộ chứ?
Triệu Đại nói: - Vương gia yên tâm. Cho dù bắt giữ Phó Thanh Lân thuộc hạ cũng không gặp mặt Thiết Lão Lang. Thiết Lão Lang... Là Đề đốc của Phiêu kỵ Nhất Phẩm Đường, chỉ cần lộ ra tin tức cho thuộc hạ, nắm được hành tung của Phó Thanh Lân cũng không khó. Thuộc hạ tạo ra thế cục này, nếu như Ngôi Danh Nẵng Tiêu phái người đi điều tra mà nói... thì sẽ tra được trên người của Lý Hổ Nô.
Lưu Lăng ừ một tiếng: - Quy mô của Nhất Phẩm Đường như thế nào? Đã từng do thám biết có bao nhiêu mật điệp ở Đại Hán ta?
Triệu Đại nói: - Trong Viện cắt đứt liên hệ với Thiết Lão Lang, cho nên cũng không biết rõ Nhất Phẩm Đường cho lắm. Sau khi tới Hưng Khánh phủ, thuộc hạ đã phái người đắc lực liên lạc với Thiết Lão Lang, lấy trong tay hắn về một danh sách. Nhưng thuộc hạ nghĩ, nếu cứ đột nhiên mà bắt hết người của Nhất Phẩm Đường đi, chỉ sợ sẽ khiến cho Ngôi Danh Nẵng Tiêu hoài nghi. Thuộc hạ cảm thấy, nếu người đã biết đó là ai rồi thì việc bắt lại cũng không phải gấp. Ngược lại còn có thể lợi dụng một chút.
Lưu Lăng cười cười nói: - Ngươi làm không tệ. Cũng không thể không bắt. Tóm lấy vài tên tiểu nhân vật không thể tiếp xúc với bí mật gì, Ngôi Danh Nẵng Tiêu sẽ càng nể trọng những tên kề cận với bí mật hơn. Như vậy, muốn để Ngôi Danh Nẵng Tiêu biết được những gì thì hãy để cho người của Nhất Phẩm Đường quay về hồi báo. Những thứ không cần hắn biết đến, tất nhiên một chữ cũng không để cho hắn biết. Đợi sau khi việc Bắc Phạt chấm dứt, dấy binh đánh Tây Hạ cũng là chuyện sớm muộn. Những người này cứ giữ lại đó, sẽ có lợi ích lớn.
Triệu Đại nói: - Thuộc hạ hiểu rõ. Nhất Phẩm Đường là do Ngôi Danh Nẵng Tiêu trù tính xây dựng, là Tôn Địch Vệ mang diện mạo cơ hồ như rập khuôn của Viện mà làm ra. Cái gọi là Phiêu Kỵ, kỳ thật chính là Đề Kỵ của Viện. Tác dụng của Phiêu Kỵ chính là bảo vệ Đốc chủ và Phó đốc chủ của Nhất Phẩm Đường, người cai quản của sáu nha môn. Cũng chịu trách bắt giữ những kẻ thù tương đối nguy hiểm, trừng phạt phản đồ của Nhất Phẩm Đường. Nếu không phải Thiết Lão Lang trên tuyến này bị cắt đứt liên lạc với Viện thì việc của Nhất Phẩm Đường cũng không trở nên bị động như vậy. Thiết Lão Lang phụ trách quản lý Phiêu Kỵ, bởi vì chức trách cho nên đối với người của Nhất Phẩm Đường trên cơ bản đều biết được sơ lược. Tuy nhiên, chức trách của Thiết Lão Lang chủ yếu là giúp Ngôi Danh Nẵng Tiêu luyện binh. Ngôi Danh Nẵng Tiêu chiêu mộ bốn vạn tân binh, Thiết Lão Lang chính là ở Hưng Khánh phủ huấn luyện đám tân binh này. Người quản sự đích thực của Phiêu Kỵ chính là phó tướng của Thiết Lão Lang, Lý Thắng Đồ.
Lưu Lăng hỏi: - Ngôi Danh Nẵng Tiêu chiêu mộ tân binh? Là chỉ có bốn vạn người ở Hưng Khánh phủ này hay là chiêu mộ với quy mô lớn?
Triệu Đại nói: - Đều đang chiêu mộ tân binh ở Hưng Khánh phủ, trấn quân ti Bạch Sơn, trấn quân ti Hắc Thủy, trấn quân ti Hắc Sơn. Căn cứ vào tin tức Thiết Lão Lang đưa tới, lần này chiêu mộ tân binh không dưới mười lăm vạn người. Phân chia luyện binh ở các trấn quân ti và Hưng Khánh phủ, nhưng Ngôi Danh Nẵng Tiêu cũng chưa từng nói qua là những tân binh này tương lai sẽ phái đi phương bắc hay là bố trí ở tuyến Tây. Cho nên Thiết Lão Lang cũng chỉ phỏng đoán Ngôi Danh Nẵng Tiêu hẳn là đang lo lắng sau lần Bắc Phạt này, Đại Hán ta sẽ nhân cơ hội mà dấy binh đánh Tây Hạ, cho nên mới mở rộng quân đội, hẳn là bố trí các nơi ở vùng tuyến Tây giáp với biên giới nước ta.
- Lần này thuộc hạ đi Hưng Khánh phủ, một hơi giết hết bốn trong số sáu chủ sự lục đại nha môn Nhất Phẩm Đường, đốt sạch các mật thất lưu giữ tài liệu của Nhất Phẩm Đường, còn bắt được Phó Thanh Lân. Ngôi Danh Nẵng Tiêu ở thành Thiên Nga, còn có sự trợ giúp của Thiết Lão Lang hiệp trợ nhưng nhân lực trong viện cũng tổn thất không ít. Nhưng so với thành quả gặt hái được mà nói, thì lại rất đáng giá.
Lưu Lăng khẽ gật đầu nói: - Tiền an ủi chăm sóc đều đã phát xuống rồi chứ?
Triệu Đại gật đầu nói: - Lúc rút lui trở về, thuộc hạ đã an bài bốn nhóm nghi binh, trong đó có ba nhóm đều bị người của Tây Hạ đuổi theo. Trong Viện tổn thất một trăm ba mươi bảy người, tiền trợ cấp đã căn cứ theo tiêu chuẩn cao nhất phát xuống rồi. Mỗi người 50 lượng vàng, một trăm mẫu ruộng, xem như quân hộ, miễn lao dịch thuế má.
Lưu Lăng thở dài: - Số nhân lực của Viện tổn thất mấy năm nay đều là vì Đại Hán lập được công lao hiển hách. Ngươi phái người đi giám sát, nếu có người dám hà khắc với số tiền trợ cấp của người chết, không cần đi theo trình tự gì, trực tiếp giết chết là được. Mặt khác, ở Tấn Châu xây dựng một khu nghĩa trang, những hài cốt có thể tìm thấy đều chôn cất ở đó, không thể để cho xương cốt của bọn họ rét lạnh làm cho người sống lạnh lòng.
- Thuộc hạ tuân mệnh!
Triệu Đại khom người nói: - Lần này đi Tây Hạ đã đốt hết những tài liệu còn lưu giữ của Nhất Phẩm Đường, không có Tôn Địch Vệ, Nhất Phẩm Đường muốn có lại tất cả cũng không phải trong thời gian ngắn là có thể làm được. Thuộc hạ lại cảm thấy, đây chính là lúc để người của Viện rót vào Tây Hạ rồi.
Lưu Lăng nói: - Ngươi là chủ quản của Viện, chuyện này ngươi cứ an bài là được rồi. Tỉ mỉ nói rõ tình hình Hưng Khánh phủ của Tây Hạ cho ta biết, Hưng Khánh phủ được xưng là tòa thành kiên cố đệ nhất thiên hạ, có thật là như thế không?
Triệu Đại nói: - Hưng Khánh phủ quả thật đáng được xưng là một tòa hùng thành, còn kiên cố hơn so với Tấn Châu rất nhiều. Tường thành cao lớn dày dặn, dùng tảng đá lớn làm lũy thành. Tường thành chiều rộng ba trượng, cao mười trượng trở lên. Cách 50m lại có bố trí đủ một tòa mã kiểm, lầu quan sát, xe nỏ, Lang Nha phách. Ngôi Danh Nẵng Tiêu triệu tập ba trăm ngàn dân phu ở ngoài thành đào một con sông bảo vệ thành, chiều rộng mười lăm trượng, sâu bốn trượng, dẫn nước lưu thông vào thành. Tám cửa Hưng Khánh phủ đều dùng cầu treo, nếu có chiến sự, nâng cầu lên, có sông đào bảo vệ thành, bọn lính rất khó vọt được lên tới chân thành. Trên tường thành cách năm mươi bước lại có một cỗ xe nỏ. Quân trấn thủ trên tường cũng đều là binh lính tinh nhuệ nhất của Tây Hạ.
Lưu Lăng khẽ nhíu mày, trong đầu dần dần xuất hiện hình dáng của một tòa hùng thành.
Hắn đến từ kiếp sau, lại không nhớ rõ gần Hưng Khánh phủ sau này tồn tại một toàn cổ thành như lời Triệu Đại miêu tả. Một tòa thành lớn có phạm vi ba mươi dặm, xây dựng rộng lớn như thế, cuối cùng cũng không ngăn được sự xâm nhập của lớp bụi lịch sử. Một tòa hùng thành như thế nếu như vẫn còn lưu lại thì sự hiểu biết của đời sau đối với Tây Hạ e rằng sẽ càng sâu khắc hơn chút.
Triệu Đại tiếp tục nói: - Lúc Tây Hạ mới lập quốc, Da Luật Hùng Cơ đích thân luân phiên đánh mấy trận chiến lớn với quân Đảng Hạng. Đại quân Đảng Hạng của Ngôi Danh Nẵng Tiêu liên tiếp thất bại, theo núi Kỳ Liên một đường lui về Hưng Khánh phủ. Da Luật Hùng Cơ suất quân vây thành một tháng, cuối cùng bởi vì không đủ lương thảo, sau khi Ngôi Danh Nẵng Tiêu cắt đất xưng thần mới lui về Liêu quốc. Sau lần đại chiến này, Ngôi Danh Nẵng Tiêu liền hạ lệnh gia cố hệ thống phòng thủ ở Hưng Khánh phủ. Cơ hồ đắp tường thành ước chừng dày hơn gấp đôi, lại đào sông bảo vệ thành. Hết sáu bảy năm trời để tạo nên một Hưng Khánh phủ kiên cố.
Lưu Lăng cười cười nói: - Lần đại bại đó, chính là lần thất bại thảm hại nhất từ lúc Ngôi Danh Nẵng Tiêu tự mình khởi binh chinh chiến tới nay. Hắn tự mình dẫn hơn mười vạn đại quân mà cơ hồ như bị người Khiết Đan tiêu diệt gần hết, chính bản thân hắn cũng bị trọng thương, không thể không xin đầu hàng cầu tha mạng, bị Da Luật Hùng Cơ làm cho vô cùng nhục nhã, cho nên Ngôi Danh Nẵng Tiêu mới thù hận sâu sắc đối với người Khiết Đan đến như vậy. Da Luật Hùng Cơ thừa dịp đại quân Tây Hạ chinh phạt Hồi Cốt tiến binh, một hơi từ Tây Hạ đoạt lấy mấy ngàn dặm đồng cỏ, bắt đi hơn mười vạn mục dân làm nô lệ. Phía bắc núi Kỳ Liên không bao giờ còn là lãnh thổ của Tây Hạ nữa.
Triệu Đại cười nói: - Ngôi Danh Nẵng Tiêu thua to, mấy chục vạn đại quân viễn chinh Hồi Cốt vùi lấp ở đó không trở về nữa. Hắn lại không chịu thủ vững, ngược lại còn đối đầu tấn công Da Luật Hùng Cơ. Lang kỵ của Khiết Đan lúc đó là quân đội tinh nhuệ nhất thiên hạ, người Đảng Hạng tất nhiên là chống đỡ không nổi rồi.
Lưu Lăng nói: - Ngã một lần sẽ khôn ngoan hơn một chút, cho nên Ngôi Danh Nẵng Tiêu mới xây dựng tòa Hưng Khánh phủ giống như xác rùa đen vậy. Tuy nhiên, chính là vì như thế... Ngôi Danh Nẵng Tiêu cũng không phải là hạng người kiêu ngạo tự phụ theo như lời đồn đãi.
Triệu Đại mỉm cười nói: - Quả thật là như vậy. Một người đem hang ổ của mình làm giống như xác rùa đen, trong lòng cuối cùng vẫn là nhát gan không dám nói cho người ta biết.
Lưu Lăng gật đầu nói: - Chuyện ở Tây Hạ phái người chú ý nhiều hơn chút là được rồi. Việc trước mắt phải làm vẫn là chuẩn bị cho Bắc phạt. Ngươi sẽ bận rộn nhiều hơn, tốt nhất là đích thân mình đi lên phía Bắc cùng liên hệ với Tiểu Triều.
Triệu Đại khom người nói: - Thuộc hạ tuân mệnh. Sáng sớm ngày mai sẽ đi tới phương Bắc.
Lưu Lăng khoát tay nói: - Cũng không cần phải vội vã như vậy. Nghỉ ngơi trước vài ngày đã. Cách mùa đông còn hai tháng, cách đầu xuân sang năm còn năm tháng, dù sao cũng phải cho Da Luật Hùng Cơ thời gian để điều binh.
Triệu Đại khẽ cười nói: - Da Luật Hùng Cơ cả đời chinh chiến, cũng muốn kết thúc trong chinh chiến.
Lưu Lăng nói: - Ngươi về trước đi, ta sẽ bảo bọn người Hoa Linh, Lạc Phó đến tìm ngươi, đem chuyện Tây Hạ nói cho bọn họ biết, nhất là Mậu Nguyên. Hắn trấn thủ Hạ Châu, trực diện với Tây Hạ, hiểu rõ thêm một ít, chung quy cũng không phải là chuyện xấu.
Triệu Đại đứng dậy hành lễ nói: - Thuộc hạ tuân mệnh, thuộc hạ cáo lui!
Đợi Triệu Đại đi rồi, Lưu Lăng đứng lên thư giãn thân thể sau đó đi về hướng hậu đường. Lúc này, Trần Tử Ngư đang ở đằng sau giúp Lưu Lăng sửa sang lại quần áo. Thấy Lưu Lăng đi vào, yêu kiều thi lễ một cái. Lưu Lăng từ phía sau vòng tay ôm lấy vòng eo nhỏ nhắn, dán lên vành tai của nàng nói: - Mấy ngày nay ở Tấn Châu đã vất vả cho nàng rồi!
Trần Tử Ngư tựa vào lồng ngực Lưu Lăng, hai tay nắm lấy bàn tay to lớn của Lưu Lăng, nói: - Vất vả cũng không vất vả gì, chỉ là nhớ Vương gia, nhớ Nhàn Nhi.
Lưu Lăng cúi đầu hôn lên khuôn mặt ửng hồng của nàng ta rồi một hơi nói: - Nhàn Nhi nàng không cần phải lo lắng, đã có Ngọc Châu chăm sóc rồi. Hai ngày trước Gia Nhi tới còn nói, thằng nhóc đã to lớn lên không ít, béo núc ních làm cho người ta phải thương yêu. Đợi xử lý gần xong mọi việc, đợi sau khi Gia Nhi trở về, chúng ta sẽ cùng đi Hàng Châu. Lần này đâu cũng không đi nữa, ở Hàng Châu cùng các nàng mấy tháng.
Trần Tử Ngư xoay người, ngẩng đầu nhìn Lưu Lăng hỏi: - Lời Vương gia nói là thật sao?
Lưu Lăng cười nói: - Ta có khi nào đã từng lừa gạt các nàng không?
Trần Tử Ngư kiễng chân hôn lên khuôn mặt của Lưu Lăng, sau đó lại vuốt ve cánh tay Lưu Lăng. Lưu Lăng vuốt mái tóc mềm mượt của Trần Tử Ngư nói: - Phụ thân của Gia Nhi đã được đón về rồi, đừng nóng vội, chờ khi ta đi phương bắc, cũng sẽ đón phụ thân và người thân của nàng ở thành Thiên Nga về Đại Hán. Yên tâm, yên tâm. Ta đồng ý với nàng, sẽ không để cho người thân của nàng phải chịu một chút thương tổn nào.
Trần Tử Ngư cười gật đầu, nước mắt ướt nhòe vạt áo trước của Lưu Lăng.
Xưa nay chưa từng có
Mùng 1 tháng 9 Đại Trị nguyên niên Đại Hán, bốn vị Tiết độ sứ từ Tây Bộ, Bắc Bộ gấp rút trở về các nơi đóng quân của mình, mang theo mệnh lệnh của Hán Vương, bắt đầu chuẩn bị cho trận đại chiến sắp tới. Mùng 2 tháng 9, xa giá của Hán Vương rời khỏi Nam Xương đi tới Hàng Châu. Cuồng Đồ trọng giáp bộ binh phụng mệnh trở về Lạc Dương đóng quân, xa giá của Hán Vương lên đường dưới sự hộ vệ của một ngàn đề kỵ, ba nghìn quân Hán tinh giáp khinh kỵ binh, trùng trùng điệp điệp trên đường.
Mà lúc này, sau một tháng ở Tuyền Châu nghỉ ngơi chỉnh đốn, thủy quân của Đại Hán dưới sự lãnh đạo của Chiêu Tiên rời khỏi cảng khẩu Tuyền Châu, tiến lên vùng duyên hải. Theo sự bố trí của Lưu Lăng, Thủy quân sau hai tháng bắt đầu mùa đông đã đến vùng phụ cận Bột Hải Ngư Dương, sau đó từ Hà Lộ đi đến U Châu.
Sau khi từ Nam Xương xuất phát, xa giá của Lưu Lăng qua Kim Lăng cũng không hề trì hoãn, chỉ đi nửa tháng đã đến Hàng Châu.
Phong cảnh Hàng Châu so với đời sau mà nói, còn xinh đẹp tuyệt trần hơn rất nhiều. Nhưng Lưu Lăng lại không có tâm tư gì để nhìn ngắm cảnh sắc đẹp như tranh vẽ này. Nỗi nhớ nhà của hắn đau như dao cắt.
Vốn đã đồng ý với các nữ nhân của mình là sẽ ở bên cạnh các nàng một thời gian, kết quả là dọc đường đi việc lớn việc nhỏ không có lấy một ngày sống yên ổn. Ra ngoài du ngoạn chưa được vài ngày thì ngẫu nhiên tra được việc mật điệp của Tây Hạ, sau đó chạy về Tấn Châu xử lý. Sau khi ở cùng với các nàng không đến hai tháng thì lại chạy tới đảo Lưu Cầu. Trước sau ở đảo Lưu Cầu trễ nải hết ba tháng. Lúc rời Tấn Châu là mùa xuân mà hiện tại đã đến cuối thu rồi.
Đối với những người phụ nữ của mình Lưu Lăng có chút áy náy. Mang các nàng vứt lại ở Hàng Châu mấy tháng, một người làm trượng phu như hắn thật là không xứng đáng. Tiết độ sứ Hàng Châu Từ Thắng cho chỉnh đốn lại cung điện ban đầu của Ngô Việt Vương ở Hàng Châu, phái rất nhiều binh lính tinh nhuệ bảo hộ. Lư Ngọc Châu các nàng ở Hàng Châu phong cảnh đẹp như vẽ hơn hai tháng, nhưng một chút cũng không cảm thấy phiền chán. Từ lúc mùa xuân qua giữa hè, mấy tháng đẹp nhất này của Hàng Châu đã để lại trong lòng bọn họ ấn tượng sâu sắc.
Dù cho nơi nào cũng đều không đi, mỗi ngày chỉ ở Tây Hồ chèo thuyền thì cũng là một việc thanh thản dễ chịu.
Hoàng cung của Ngô Việt Vương ở Hàng Châu vốn cũng không cách Tây Hồ bao xa. Không hề nghi ngờ là mấy nữ nhân này yêu thích nơi này hơn cả Tấn Châu. Nếu so sánh mà nói thì Tấn Châu là đô thành tạm thời của Đại Hán, vốn chính là đất đóng quân của tướng quân Mông Hổ, một trong mười hai Vệ đại tướng quân của Đại Chu. Sau này, trải qua bao nhiêu năm xây dựng của quân Hán, Tấn Châu nghiễm nhiên trở thành một pháo đài quân sự. Tuy tường thành không cao lớn bằng Hưng Khánh phủ của Tây Hạ, nhưng luận về phòng ngự thì cũng không hề thua kém so với Hưng Khánh phủ. So với Hàng Châu thì Tấn Châu có chút trang nghiêm, tĩnh lặng. Nếu như nói Tấn Châu là một võ sĩ người đầy áo giáp, thì Hàng Châu kia chính là một một người con gái dịu dàng làm rung động lòng người. Ở nơi này thoải mái hơn nhiều so với ở Tấn Châu, cho nên Lư Ngọc Châu các nàng rất nhanh đã thích nơi này. Hơn hai tháng đã qua, nhưng thật ra lại cảm thấy vô cùng thoải mái, thích thú.
Lưu Lăng sau khi tới Hàng Châu, hết sức dành ra chút thời gian cùng các nàng du sơn ngoạn thủy. Bởi vì sau đó không lâu, Lưu Lăng còn phải đi về Bắc, cho nên trong khoảng thời gian này, Lưu Lăng phải tận lực bồi thường cho mấy người con gái này. Tiểu Lưu Nhàn đã tập tễnh học đi, thoạt nhìn giống như dáng điệu lúc la lúc lắc của một con vịt béo, đáng yêu vô cùng. Cứ như vậy, một mạch đã ở Hàng Châu hơn một tháng. Cuối tháng mười Đại Trị nguyên niên, Lưu Lăng từ biệt Lư Ngọc Châu các nàng rời khỏi Hàng Châu, đi Khai Phong. Tại Khai Phong suất lĩnh tập kết một trăm ngàn đại quân một đường tiến về phía tây bắc mà đi. Đến ngày hai mươi tháng mười một đã đến Lộ Châu.
Đại quân Lưu Lăng suất lĩnh mới đến Lộ Châu, tin khẩn của Giám sát viện đã đưa tới tin tức quân đội Khiết Đan xâm lược với quy mô lớn.
Ngày mùng 5 tháng 11, Đại vương Da Luật Sở Tài trấn thủ Nam Diện cung U Châu nước Liêu đích thân suất lĩnh gần bốn trăm ngàn đại quân dốc sức vượt sông Tang Can. Đại Hán Tiết độ sứ Ký Châu La Húc suất lĩnh mười hai vạn nhân mã nghênh địch ở bờ Nam sông Tang Can. Quân Hán ngăn chặn ở sông Tang Can làm cho đại quân của Khiết Đan khó lòng mà vượt qua được. Da Luật Sở Tài ra lệnh xây dựng cầu phao mạnh mẽ tấn công thế trận phòng ngự của quân Hán. Từ ngày đầu tiên va chạm với người Khiết Đan thì không hề có sự dò xét nào mà đã trực tiếp phát động tấn công mạnh mẽ. Chủ chiến trường là ở trên thủy vực khúc Cố An sông Tang Can.
Nội trong một tháng trước khi người Khiết Đan xuôi Nam, toàn bộ thuyền đánh cá trong lưu vực U Châu sông Tang Can, hầu như bị quân Hán đốt cháy hết không còn một mảnh. Cho nên, Da Luật Sở Tài vừa sai người thu gom thuyền bè vừa tập trung dân phu dựng cầu phao. Nhưng mà thế nước trong đoạn lưu vực sông Tang Can này tuy tương đối khá chậm nhưng để vượt qua mặt sông rộng hơn một dặm phải xây dựng vài cái cầu phao, đây nào phải là việc dễ dàng?
Quân Hán ở trên bờ Nam bố trí rất nhiều xe ném đá hỏa dược và xe liên phát hỏa nỏ, còn có mấy trăm xe nỏ lớn. Cầu phao thật vất vả mới xây dựng được hơn 100m, kết quả là bị xe ném đá hỏa dược của quân Hán oanh tạc một lượt thì hơn ngàn người dân phu dựng cầu phao đã tử thương bỏ mạng, rút lui chạy về phía bờ bắc, lại bị đội đốc chiến của người Khiết Đan bắn tên, người chết vô số kể. Trước cũng như sau đều không thể trốn chạy, dân phu đành phải cắn răng đứng ở dưới nước bắc cầu. Chỉ độ nửa canh giờ, nước sông Tang Can biến thành một dòng màu đỏ nhạt.
Lúc tin tức truyền đến Lộ Châu, quân đội người Khiết Đan còn chưa vượt qua được sông Tang Can, lại đúng ngay lúc rét đậm, tổn thất thảm thiết nhất vẫn là những dân phu ở giữa lòng sông. Tuy Da Luật Sở Tài phái người mang đến mấy ngàn bồn rượu mạnh chất đống ở sông để cho bọn dân phu uống rượu xua đi cái lạnh, nhưng nước sông lạnh đến thấu xương, một hai ngụm rượu mạnh sao có thể ngăn cản được? Ở hạ du sông Tang Can, mỗi ngày đều nhìn thấy vô số tử thi trôi nổi ở trên sông.
Hơn mười ngày, người Khiết Đan mới dựng cầu phao đến được giữa sông thì cũng đã phải trả hơn vạn dân phu và khoảng một ngàn binh lính. Nhưng binh lính Khiết Đan bám theo thuyền nhỏ đột kích vừa mới lên bờ đã bị quân Hán bao vây, đao kiếm dày đặc như rừng chém tới, la liệt trên mặt đất hơn mấy trăm thi thể không trọn vẹn. Ngược lại là sau khi đến buổi tối, thuyền quân Hán thừa dịp lúc ban đêm bất ngờ đánh tới, cũng không cần phải phá vỡ liên doanh của người Khiết Đan, chỉ là phóng hỏa đốt cháy cầu phao mà thôi.
Da Luật Sở Tài cũng không có cách gì vẹn toàn để qua sông. Cũng may nhiệm vụ của hắn cũng chỉ là kiềm chế quân Hán ở Ký Châu và Thương Châu. Mà số người bị chết đại đa số đều là dân phu mà hắn phái người cường bạo bắt tới. Có chết nhiều hơn nữa thì Da Luật Sở Tài cũng không đau lòng. Chỉ cần để quân Hán bị quấn chặt ở sông Tang Can thì sẽ không thể đi cứu viện Đại Châu. Nhiệm vụ của Da Luật Sở Tài coi như là hoàn thành. Hắn mỗi ngày đều chỉ là đốc thúc dân phu dựng cầu phao, trong lòng cũng không cảm thấy cấp bách gì cả. Cách thức phòng ngự của quân Hán chỉ có thể nói là vô cùng tận. Xe ném đá hóa dược khi ném rơi xuống nước thì uy lực đã giảm bớt đi ít nhiều. Đạn hỏa xuống nước cũng thành câm điếc, chỉ có nỏ là sắc bén vô cùng. Về sau, quân Hán ở thượng du thả thuyền va vào cầu phao. Cầu phao mà người Khiết Đan cực cực khổ khổ xây dựng không kìm nổi sự va chạm của hỏa thuyền, vài lần đã bị đốt sạch.
Hai bên giằng co ở sông Tang Can. Mười hai vạn quân Hán bày thế trận sẵn sàng đón địch.
Ngày mùng 8 tháng 11, Tiết độ sứ Thương Châu Dương Nghiệp suất lĩnh bốn vạn tinh binh thừa lúc đêm tối vượt qua hạ du sông Tang Can, lặng lẽ vòng qua cánh hông đại quân Khiết Đan, nhưng Dương Nghiệp không hề tùy tiện tiến công. Số lượng quân lính Khiết Đan hơn số nhân mã của y mười mấy lần, nếu tùy tiện tiến công, nói không chừng bốn vạn binh mã tinh nhuệ sẽ rơi hết xuống vũng bùn, khó có thể tự mình thoát khỏi, lại không có viện quân, nếu không trở về lại bờ Nam thì kết cục của nhánh quân đơn độc này chỉ có diệt vong.
Dương Nghiệp đang đợi, đợi thủy quân Đại Hán đến.
Ngày hai mươi tháng mười một Đại Trị nguyên niên, chính vào ngày Lưu Lăng tới Lộ Châu, bốn đạo binh mã thuộc Đại Đồng phủ Tây Kinh của Đại Liêu, tổng cộng năm trăm ngàn đại quân phân thành mười sáu lộ xuôi nam. Bốn lộ Hữu quân, mười hai vạn đại quân với Liêu đại tướng Hỏa Kiêu Linh Hồ làm chủ tướng tấn công Lam Châu, kịch liệt chiến đấu với quân đội của Tiết độ sứ Lam Châu Đại Hán Vương Bán Cân. Hai lộ tiền quân sáu vạn nhân mã do đại tướng Da Luật Phi Dương suất lĩnh tiến sát Đại Châu. Bốn lộ Tả quân với mười hai vạn đại quân do Đại tướng Đề Á Qua suất lĩnh giao chiến với Hán quân Tiết độ sứ Dịch Châu Lạc Phó. Thái Tử Da Luật Đức Quang trấn giữ Tây Kinh, nước Liêu dẫn tám lộ Trung quân tổng cộng hai mươi bốn vạn đại quân xuyên qua phòng tuyến Tiết độ sứ Đại Châu Độc Cô Nhuệ Chí tiến thẳng tới Thái Nguyên. Hai lộ Liêu Hậu quân, do Liêu đại tướng Tốc Ca suất lĩnh bọc hậu.
Dốc toàn bộ lực lượng binh mã Nam Kinh, Tây Kinh nước Liêu.
Ngày hai mươi tháng mười một, Tiết độ sứ Lam Châu Vương Bán Cân phái sứ giả đến thành Thiên Nga Tây Hạ, thỉnh cầu Ngôi Danh Nẵng Tiêu xuất binh khống chế đại quân của nước Liêu. Ngôi Danh Nẵng Tiêu tiếp kiến sứ giả xong, sau đó đồng ý chuẩn bị đầy đủ lương thảo, lập tức sẽ xuất binh lên phía bắc tấn công binh lực của Da Luật Đức Quang kiềm chế Tây Kinh nước Liêu. Nhưng mãi sau khi sứ giả nước Hán trở lại Lam Châu, đại quân Tây Hạ vẫn như cũ, lần lữa không có hành động gì cả.
Phương bắc, từ Lam Châu tới Bá Châu một dải mấy trăm dặm, chiến tranh bùng phát trở lại.
Sau khi Lưu Lăng suất lĩnh đại quân bổ sung đầy đủ lương thảo ở Lộ Châu thì tiếp tục chỉ huy quân đội đi về hướng bắc. Dùng hết thời gian mười ngày thì đến Thái Nguyên. Mà lúc này, hai mươi bốn vạn đại quân của Da Luật Đức Quang cũng đã xé rách phòng tuyến của quân Hán mà tiến vào. Đầu tiên là vây khốn Hãn Châu, sau mười ngày tiến công dữ dội nhưng không thể phá thành, Da Luật Đức Quang lưu lại hai vạn nhân mã tiếp tục tấn công Hãn Châu, sau đó xua quân xuôi nam. Lúc hơn hai mươi vạn đại quân quân Liêu mang theo bụi mù che khuất bầu trời xuất hiện ở phía bắc Thái Nguyên thì Lưu Lăng cũng vừa tới Thái Nguyên.
Tiết độ sứ Thái Nguyên Hoa Linh dưới trướng có sáu vạn nhân mã, thêm một trăm ngàn đại quân mà Lưu Lăng mang đến, so với quân Liêu của Da Luật Đức Quang mà nói thì vẫn lâm vào hoàn cảnh xấu như cũ. Nhưng quân Liêu lấy công làm chủ, quân Hán phòng ngự thì coi như lực lượng vẫn ngang nhau.
Đúng vào lúc Da Luật Đức Quang xuôi nam tiến vào lãnh thổ Đại Hán, Hoàng đế Liêu quốc Da Luật Hùng Cơ để tam đệ Da Luật Hạo đóng giữ Thượng Kinh. Hàn Tri Cổ làm Đại Thừa tướng phụ tá triều chính. Ông ta đích thân chọn hai trăm ngàn Cung Trướng quân xuôi nam, lấy đại tướng Tiêu Di làm tiên phong, trùng trùng điệp điệp tiến thẳng đến Thái Nguyên.
Cuộc chiến ác liệt lần này, Da Luật Hùng Cơ điều động trăm vạn đại quân, lập ra một cục diện chiến tuyến vài trăm dặm đối đầu với Đại Hán. Bên phía Đại Hán, Tiết độ sứ Thương Châu Dương Nghiệp, Tiết độ sứ Ký Châu La Húc với hai mươi lăm vạn nhân mã ngăn chặn bốn mươi vạn quân của U Châu lưu thủ Nam Diện cung Đại vương Da Luật Sở Tài ở sông Tang Can. Bên phía Lam Châu, Vương Bán Cân vừa lưu lại một trăm ngàn đại quân giám sát động tĩnh ở Thiên Nga thành của Tây Hạ, vừa triệu tập số nhân mã còn lại gần mười vạn ngăn chặn hai mươi vạn quân Liêu của Hỏa Kiêu Linh Hồ. Tiết độ sứ Dịch Châu Lạc Phó dùng tám vạn quân Hán ngăn chặn mười hai vạn quân Liêu của Liêu đại tướng Đề Á Qua. Tiết độ sứ Đại Châu Độc Cô Nhuệ Chí dùng sáu vạn binh lực đối đầu với sáu vạn quân Liêu của Da Luật Phi Dương.
Tổng binh lực quân Hán đưa vào gần bảy trăm ngàn. Hai bên gần hai triệu đại quân diễn ra một trận đại chiến xưa nay chưa từng có. Nếu như tính cả bốn mươi vạn đại quân ở thành Thiên Nga Tây Hạ nữa thì sự thắng thua của trận chiến này ắt sẽ ảnh hưởng đến thế thống trị của toàn thiên hạ.
Chương 566.1: Không có mai phục
Mùng một tháng mười hai năm thứ nhất Đại Trị.
Từ vùng đồng trống phía chân trời dần dần xuất hiện một đám thám báo người Khiết Đan chừng ba mươi tên, đội thám báo này mỗi người hai ngựa, mang theo thân thể phong trần mệt mỏi, bộ dạng xem ra là lặn lội đường xa đến. Vó ngựa giẫm lên trên lúa mạch non mới mọc phát ra tiếng vang chát chát, vó ngựa nâng lên mang theo bụi đất và lúa non bay lên giữa không trung.
Các thôn xóm trong vòng trăm dặm phía bắc Thái Nguyên đều đã trống không, một bộ phận dân chúng đến Hãn Châu tị nạn, đại bộ phận đưa gia đình rời vào trong thành Thái Nguyên. Từ Đại Châu bắt đầu châm ngòi hỏa chiến, quan viên khắp các quận huyện đều kêu gọi dân chúng rời nhà đến thành Thái Nguyên hoặc đến Long Châu Khâm Châu phía nam tránh nạn. Nửa tháng trước mấy chục vạn dân chúng mang theo gia sản dê bò rời nhà tản đi, cho nên đội thám báo này một đường chạy từ Đại Châu đến cũng không phát hiện một người Hán nào.
Chẳng bao lâu, những chấm đen nhỏ từ phía đường chân trời dần dần phóng đại. Thủ lĩnh đội thám báo này hạ lệnh ngừng lại, thủ lĩnh là một người đàn ông Khiết Đan đã hơn ba mươi tuổi, nước da ngăm đen, để râu ngắn, trên khuôn mặt phủ một tầng bụi thật dày, trong ánh mắt lộ ra một tia mệt mỏi bị hắn cố ý che giấu. Từ Đại Châu đến Thái Nguyên vài trăm dặm đường vó ngựa chạy không ngừng nghỉ, cho dù bọn họ là kỵ binh tinh nhuệ của Liêu Quốc cũng có chút không chịu nổi.
Thủ lĩnh này tên là Cách Lăng Thái, là một người tộc Khiết Đan điển hình. Năm đó hắn nam chinh Tây Hạ là một lão binh may mắn còn sống, nói về kinh nghiệm điều tra và chiến đấu thì những tân binh mới được chiêu mộ nửa năm kia sao có thể so sánh với hắn được. Đây là nguyên do đầu tiên mà Đại tướng quân Ly Yêu Na Nhan có thể chọn ra mấy chục lão binh như Cách Lăng Thái, mang theo một đội thám báo đi trước dò đường. Đội thám báo của Cách Lăng Thái là đội đi được xa nhất, tuy rằng chính Cách Lăng Thái cũng không biết, tiếp tục đi về phía trước ba mươi dặm là có thể nhìn thấy được tường thành cao lớn của Thái Nguyên rồi.
Nhìn thấy bộ dạng chật vật của đám thủ hạ, tức giận trong lòng của Cách Lăng Thái cũng đành nén lại. Hắn thở dài một tiếng trong lòng, tự nhủ nếu như mấy chục lão binh trước đây vẫn còn sống, cũng sẽ không đến lượt mấy đứa trẻ mặt búng ra sữa râu còn chưa mọc này ra trận đánh giặc. Nhìn từng khuôn mặt ngây ngô mệt mỏi kia, trong lòng Cách Lăng Thái khó chịu giống như có một tảng đá lớn vậy. Đánh nhau với Tây Hạ bốn năm, trước sau có hai mươi mấy vạn quân Cung Trướng tinh nhuệ chết trận ở Hạ Lan Sơn, lại đánh Bột Hải, đánh Đan Đông, đánh Đại Hán, năm sáu năm này đồng bạn ở bên cạnh mình thay đổi từng đợt từng đợt, chẳng có mấy người có thể đồng hành cùng mình vượt qua nửa năm.
Cách Lăng Thái cũng từ chính những gương mặt non nớt này thấy được chính mình năm đó, còn nhớ rõ năm ấy khi mới bước chân vào đội quân áo giáp đen Đại Liêu Lang Kỵ, lúc trên tay cầm loan đao đặc chế nhảy lên lưng ngựa có bao nhiêu phần hăng hái? Khi Đại Liêu là quốc gia hùng mạnh nhất thiên hạ, bách chiến bách thắng. Năm đó Lang Kỵ thật giống như một cơn lốc xoáy màu đen, thổi đến đâu nơi ấy sẽ không còn ngay cả một ngọn cỏ. Các bộ lạc Liêu Đông, người Thất Vi, người Mạt Hạt, người Hề, thậm chí xa hơn là Cao Ly cũng đều phủ phục run sợ trước móng ngựa Lang Kỵ Khiết Đan.
Năm đó Bắc Hán vẫn còn là một nước nhỏ yếu Lang Kỵ Khiết Đan căn bản là không có hứng thú chinh phục. Nhưng sau mười mấy năm, tất cả mọi thứ đều đã thay đổi.
Thu lại cảm xúc của mình, Cách Lăng Thái đưa tay chỉ một thôn nhỏ trống trải cách đó mấy trăm mét nói: - Ba người đi xem trong thôn có người hay không, sau đó đánh dấu vị trí thôn này lên trên bản đồ đi.
- Những người khác xuống ngựa nghỉ ngơi, lát nữa còn phải đi lên phía trước, khi nào nhìn thấy được tường thành Thái Nguyên thì chúng ta quay trở lại, Ly Yêu Na Nhan tướng quân còn đang đợi chúng ta mang bản đồ chỉ dẫn đường đi về.
Hắn lớn tiếng hô.
Nhảy từ trên lưng ngựa xuống, hắn tự tay âu yếm con ngựa bờm vàng, vỗ một cái lên mông của nó, biết ý của chủ nhân chiến mã tự mình đi ra ngoài ăn, gặm những cây lúa mạch non trên mặt đất.
Ba tân binh mới chiêu mộ phóng ngựa tiến vào trong thôn, Cách Lăng Thái đối với sự lỗ mãng của mấy người trẻ tuổi này có vài phần phẫn nộ. Đã dạy bảo rất nhiều lần rồi, khi đi điều tra không được ngồi thẳng trên lưng ngựa như vậy, cũng không được chạy thẳng như vậy, trừ phi muốn tên nỏ mai phục của kẻ thù bắn cho thành con nhím.
May mắn, từ Đại Châu đi về phía nam trăm dặm đã không có người ở rồi. Một bộ phận quân Hán bị Hỏa Kiêu Linh Hồ tướng quân ngăn ở Lam Châu, một bộ phận bị Đề Á Qua tướng quân chặn ở Đại Châu, binh lực quân Hán ở Thái Nguyên không đủ chỉ có thể rút vào trong thành đợi quân cứu viện, cho nên thật ra cũng không cần lo lắng lần đi dò đường này có nhiều nguy hiểm.
Cách Lăng Thái nhìn thoáng qua ba tên thủ hạ đi vào trong thôn, sau đó từ trong lồng ngực lấy ra một bọc giấy nhẵn bóng, từ bên trong lấy ra một miếng thịt nướng đã đông cứng đặt vào trong miệng, dùng răng cắn vỡ lớp băng ở trên bề mặt ra. Khí trời lạnh băng khiến cho miếng thịt dê bóng nhẫy đông cứng, đồng thời cũng làm mất đi cái hương vị của thịt dê. Ăn vào thật giống như nhai mẩu gỗ chẳng có chút hương vị nào cả, bất quá là nuốt vào bụng để bổ sung thể lực thôi.
Bỗng nhiên, khóe mắt Cách Lăng Thái nhìn thấy thủ hạ của mình đang ở trên lưng ngựa ở cửa thôn dường như có chút lay động. Hắn ngẩng đầu thật mạnh, vừa đúng lúc nhìn thấy đám thám báo Khiết Đan kia một tay che ngực từ từ từ từ rơi xuống từ trên lưng ngựa.
- Lên ngựa! Lên ngựa! Có mai phục!
Cách Lăng Thái vứt miếng thịt dê trên mặt đất, bước nhanh đến chỗ con ngựa bờm vàng của mình. Nghe thấy tiếng hô của chủ nhân, bờm vàng cũng vung bốn vó chạy đến phía Cách Lăng Thái. Đột nhiên, một chiếc chùy phá giáp cắm thẳng vào trong cổ con ngựa bờm vàng, máu lập tức bắn tung tóe ra. Vừa mới chạy đến cạnh con ngựa bờm vàng Cách Lăng Thái liền bị máu tươi của nó bắn đầy lên mặt, máu nóng hầm hập kia lập tức khiến cho tâm trí của hắn trở nên mơ hồ.
- A!
Cách Lăng Thái gầm lên một tiếng, quay đầu nhìn lại. Chỉ thấy mấy chục chiến mã từ trong thôn lao ra, chiến giáp màu đen và áo choàng màu đỏ chót kia đã tố cáo thân phận của kỵ sĩ.
- Quân Hán!
- Là quân Hán!
Đám thám báo Khiết Đan bối rối hô lên, rối rít chạy đến kéo tọa kỵ của mình.
Số lượng người tương đương!
Đây là phản ứng đầu tiên của Cách Lăng Thái, hắn lập tức kéo một con ngựa khác tự mình nhảy lên lớn tiếng la lên: - Tất cả đừng hoảng hốt! Số lượng kẻ thù không nhiều hơn so với chúng ta! Các ngươi đều là dũng sĩ được lang thần chúc phúc, sợ cái gì! Lên ngựa! Theo ta tiến lên giết sạch bọn chúng! Đừng ném mặt mũi người Khiết Đan đi! Nhanh, tất cả lên ngựa cho ta!
Chương 566.2: Không có mai phục
Sự kích động của bọn thám báo Khiết Đan bị tiếng la của Cách Lăng Thái đè xuống vài phần, sau khi nhìn rõ số người đến không nhiều lắm mới dần dần bình tĩnh trở lại. Người trong bộ lạc sống trên thảo nguyên mấy chục năm chinh chiến, người Khiết Đan là vua của thảo nguyên, bọn họ đã hình thành thói quen coi thường đối thủ, cho nên một khi phát hiện số lượng kẻ thù không nhiều, ưu thế không lớn hơn thì sự khát máu trong bọn họ cũng dần dần trào lên.
- Rút loan đao ra! Đi theo sau ta xé tan bọn chúng ra!
Cách Lăng Thái hô to một tiếng, rút loan đao dẫn đầu vọt tới phía kỵ binh quân Hán. Hai mươi mấy tên thám báo Khiết Đan gào thét cổ vũ, đem loan đao xoay như máy xoay gió ở phía sau Cách Lăng Thái. Đội áo choàng đỏ kia trái phải cũng chỉ có hai mươi người, sự kiêu ngạo của người Khiết Đan không cho phép thua bởi những chiến mã gầy yếu của người Hán.
Khi khoảng cách hai bên chỉ còn 50m, những tên áo choàng đỏ đáng ghét không ngờ lại bắt đầu bắn ra những liên nỏ tinh xảo! Cách Lăng Thái theo bản năng nghiêng đầu sang một bên của chiến mã để tránh né tên nỏ, nhưng đám thám báo phía sau hắn kinh nghiệm thám báo và thân thủ đều không có, cũng không có được phản ứng như vậy. Năm sáu tên thám báo bị một lượt liên nỏ đả kích như vậy ngã từ trên lưng ngựa xuống, có một thám báo chân còn treo trên yên ngựa bị chiến mã lôi chạy về phía trước. Thám báo phía sau đều giục ngựa tránh né những người của mình bị rơi trên mặt đất, lại quên luôn việc phải duy trì đội hình xung phong.
Sau một vòng liên nỏ đả kích, những kỵ binh giảo hoạt quân Hán này ngồi trên yên ngựa đắc thắng cầm trên tay mã giáo thật dài hướng xuống đất, sau đó giữ thăng bằng bày ra thế trận xung phong.
Không đủ sức xông thẳng lên!
Lại một lần nữa kinh nghiệm đã giúp Cách Lăng Thái tìm được đường sống trong chỗ chết, hắn kéo ngựa thật mạnh sang một bên, chiến mã của hắn vọt tới bên người kỵ binh quân Hán. Cách Lăng Thái xoay người muốn chém một đao tới, nhưng lại không thể không tránh né mã giáo đâm tới từ phía sau của kỵ binh quân Hán.
Đây không phải là kỵ binh bình thường của quân Hán!
Cách Lăng Thái biết lần này gặp phải địch khó giải quyết rồi, nhìn thấy người Hán được trang bị áo choàng đỏ là hắn biết, đây chắc chắn là những kỵ binh tinh nhuệ của quân Hán. Kỵ binh bình thường không được trang bị mã giáo chế tạo đắt tiền, người càng không được trang bị liên nỏ tinh xảo, càng không biểu hiện được sự lãnh tịnh như vậy!
Không có gào thét!
Cách Lăng Thái kinh ngạc phát hiện, ngay thời điểm xung phong, đội quân Hán kỵ binh kia không có ai phát ra tiếng gào thét. Mà nếu so sánh, tiếng gào thét của đám thủ hạ dưới trướng mình không những không nâng cao được dũng khí, ngược lại cho thấy sự yếu đuối và khiếp đảm của họ kỵ binh bên ta.
Cách Lăng Thái biết mình nhận định không sai, đây không phải là một đội quân mà hắn có thể nuốt được. Tuy rằng số lượng người tương đương, nhưng tố chất của đám kỵ binh quân Hán này mạnh hơn rất nhiều so với đám thuộc hạ của mình! Đội thám báo quân Hán này, đều là tinh binh! Tuy rằng thám báo là người phải có kỹ thuật cưỡi ngựa giỏi, năng lực bản thân cũng phải xuất sắc mới có thể đảm nhận, nhưng phần lớn lão binh Khiết Đan đưa đến đã bị chết, liên tiếp mấy chục lão binh làm thám báo đều chết bất đắc!
Khi Cách Lăng Thái tránh mã giáo từ phía sau đâm vọt tới, hắn giục ngựa vòng lại, ngay lập tức há to miệng!
Hắn biết thuộc hạ dưới trướng mình kinh nghiệm làm thám báo không đủ, thân thủ cũng yếu, nhưng nam tử trên thảo nguyên từ nhỏ đã có thể thúc ngựa giương đao, kém cỏi nhất cũng sẽ không thua kém những người Hán này, nhưng sau khi hắn quay ngựa trở lại thì bất ngờ phát hiện, hai mươi sáu hai mươi bảy người, đi theo hắn xông lên không được mười người! Mà đội ngũ thám báo quân Hán, không ngờ là không có một ai bị ngã ngựa!
- Đi!
Cách Lăng Thái nhìn thấy đội kỵ binh quân Hán giống như hắc long lượn một đường tuyệt đẹp vọt tới liền hô lớn một tiếng. Hắn biết, tiếp tục đánh thì thuộc hạ của mình một người cũng sẽ không còn. Sau khi hô xong, hắn dẫn đầu xông ra phía bên ngoài. Không phải hắn không nghĩ đến thuộc hạ của mình, mà là hắn biết rất rõ ràng, trong số những người còn sống, chỉ có chính hắn mới có nhiều khả năng xông được ra ngoài nhất.
Quân Hán có mai phục, tin tức này nhất định phải báo về.
Nhưng, vùng quê đất đai bằng phẳng, quân Hán mai phục ở chỗ nào? Cách Lăng Thái không biết, hắn chỉ biết là, quân Hán nhất định có âm mưu gì đó.
Hắn nghe thấy phía sau không ngừng truyền đến những tiếng gào thét đau lòng, đó là tiếng kêu tuyệt vọng của những thuộc hạ dưới trướng mình ngã ngựa vì bị quân Hán truy kích. Nhưng hắn không có thời gian, cũng không có năng lực đi cứu bọn lính non nớt ấy, hắn nhất định phải sống sót. Cho dù không phải vì Đại Liêu, chỉ là vì những người thân trong nhà còn đang mỏi cổ mong ngóng hắn trở về, hắn cũng phải sống sót.
Vẫn một mực xông về phía trước bốn năm dặm, một rừng cây hiện ra phía trước tầm mắt của Cách Lăng Thái. Trong lòng hắn không kìm nổi vài phần sung sướng, chỉ cần vào được trong rừng cây này, dựa vào kỹ thuật cưỡi ngựa của mình thoát khỏi vùng mai phục của thám báo quân Hán này sẽ không có gì cần lo lắng nữa.
Phốc
Một âm thanh trầm thấp truyền lại, Cách Lăng Thái biết lại có một thuộc hạ bị quân Hán bắn chết rồi. Trong lòng của hắn tiếc nuối, trong lòng rất đau.
Tại sao lại đau lòng?
Hắn theo bản năng cúi đầu nhìn xuống, ở trên ngực của mình lại chui lên một mũi tên đầy máu. Dần dần, ý thức bắt đầu rời xa thân thể hắn, chỉ tiến thêm về phía trước bốn năm bước Cách Lăng Thái đã từ trên lưng ngựa ngã xuống, hắn nằm trên mặt đất, trong tầm mắt mơ hồ nhìn thấy không ít đùi ngựa xoay quanh bên mình.
- Kỹ thuật cưỡi ngựa của tên Thát tử này cũng không tệ, đáng tiếc, gặp phải chúng ta.
Hắn nghe được có tiếng người nói chuyện, sau đó hắn nhìn thấy một đôi giày ủng hiện ra trong tầm mắt của mình. Chủ nhân của con ngựa kia nhấc chân đá hắn hai cái, sau đó hắn mơ hồ cảm thấy trên cổ có một sự lạnh lẽo.
Tiếp đó, hắn mất đi tất cả ý thức.
Quân Hán cắt lấy đầu Cách Lăng Thái, đem cái đầu vẫn còn chảy máu buộc sau mông con ngựa chiến của mình. Hắn xoay người nhảy lên chiến mã, lôi theo con ngựa của Cách Lăng Thái hô: - Trở về, tướng quân đại nhân đã nói, thám báo người Khiết Đan một người cũng không tha.
Nói xong, thủ lĩnh thám báo quân Hán phóng ngựa đi.
Thủ lĩnh thám báo người Hán vừa đi vừa lầm bầm nói: - Đến một đám giết một đám, Da Luật Đức Quang chẳng lẽ còn dám tùy tiện xông đến? Vùng đất bằng phẳng này ở đâu sẽ có mai phục, Da Luật Đức Quang a, thủ đoạn nhỏ như vậy cũng đủ khiến cho ngươi không dám tùy tiện tiến về phía trước sao?
Vùng đất bằng phẳng, không có mai phục.
Chẳng qua, là vì trong lòng người Khiết Đan nảy sinh nghi ngờ thôi.
Chính xác
Từ một công tử khỏe mạnh nhanh nhẹn biến thành kẻ bộ dạng khó coi người không ra người quỷ không ra quỷ, Ly Yêu Na Nhan cũng không biết mình đã kiên trì sống sót như thế nào. Một tiếng nổ vang bên ngoài thành Ký Châu, đồng thời mang tất cả sự xuất sắc và kiêu ngạo của y tan thành những mảnh vụn. Nước Liêu một nước vô số danh tướng, ai có thể bức Hán vương đến bước đường cùng? Duy nhất chỉ có một mình Ly Yêu Na Nhan y mà thôi, có thể cũng chính vì duyên cớ này, y mới rơi vào tình trạng ngày hôm nay.
Ly Yêu Na Nhan một thân áo giáp đứng ở trên sườn núi cao nhìn đội ngũ hành quân, mũ giáp được kéo xuống phía dưới, che giấu đi vết sẹo dữ tợn trên khuôn mặt y. Mũ giáp trên đầu chỉ lộ ra một đôi mắt, một ngọn lửa mang tên thù hận đang bốc cháy lên, thiêu đốt.
Tuy rằng Da Luật Hùng Cơ bệ hạ của Đại Liêu không phải là một người nông cạn trông mặt mà bắt hình dong, đồng thời vết sẹo trên thân thể y này là vết sẹo vinh quang. Trong những người được phong hầu y là người trẻ tuổi nhất.
Nhưng mà, mất đi cũng vẫn là mất đi.
Phun ra một ngụm khí thật dài, Ly Yêu Na Nhan quay đầu lại hỏi: - Thám báo phái đi dò đường đã trở về chưa?
Một gã phó tướng vội vàng khom người nói: - Hồi Hầu gia, hơn mười đội thám báo rải ra, chưa có một đội nào trở về. Khoảng cách nơi đây quá xa trái phải cũng khoảng một trăm ba mươi dặm, phỏng chừng sau cơm trưa liền có thám báo trở về.
Ly Yêu Na Nhan ừ một tiếng nói: - Truyền lệnh xuống, đại quân nghỉ ngơi tại chỗ.
Phó tướng kia do dự một chút hỏi: - Mới đi được nửa canh giờ, Hầu gia, thật sự dừng lại nghỉ sao? Mệnh lệnh của Thái tử để Hầu gia làm tiên phong, nếu như chúng ta có người hãm hại nói Hầu gia hành quân chậm chạp, chỉ sợ Hầu gia khó giải thích với Thái tử. Bằng không... Đại quân vẫn tiếp tục đi tiếp?
Ly Yêu Na Nhan xoay người nhìn phó tướng kia, trên mũ sắt chỉ lộ ra cặp mắt dường như không có chút cảm xúc dao động nào, trong cặp mắt kia cũng nhìn không ra chút tức giận nào, nhưng tên phó tướng này chỉ cảm nhận được giống như có một thanh đao sắc bén đặt trên cổ họng mình, ánh mắt của Ly Yêu Na Nhan kia, bình tĩnh ác nghiệt khiến cho người khác sợ hãi.
- Tốc Bất Cai, Thái tử phái ngươi đến, là đến để trợ giúp ta, hay là đến chỉ huy ta?
Ly Yêu Na Nhan thản nhiên hỏi một câu.
Bả vai phó tướng tên Tốc Bất Cai kia run lên một chút, lập tức khom người nói: - Đương nhiên là đến trợ giúp Hầu gia, ty chức bất quá chỉ là một lang tướng nhỏ nhoi, tuyệt đối không dám có chút gì bất kính với Hầu gia, Hầu gia ngàn vạn lần đừng hù dọa ty chức. Chỉ là, ty chức được Thái tử điện hạ phái tới đây, đương nhiên cũng vì Thái tử điện hạ mà suy nghĩ. Hầu gia mới hành quân hơn một canh giờ đã cho dừng lại nghỉ ngơi, như vậy thì khi nào mới có thể đuổi tới thành Thái Nguyên? Thái tử điện hạ trước khi Hầu gia lãnh binh xuất chinh đã có nói qua... Không thể đến trễ...
Một tiếng phù trầm đục vang lên nhanh chóng cắt đứt lời nói, ánh mắt hắn hoảng hốt thấy chuôi dao nhỏ cắm trên ngực mình. Dao nhỏ chỉ một nhát trực tiếp đâm thẳng vào trái tim của hắn, tay kia mang bao tay màu đen, nếu như cẩn thận quan sát, còn có thể phát hiện trên ngón tay áp út và ngón giữa ngắn đi một đoạn. Đó là một trong những vết thương do tiếng nổ ngoài thành Ký Châu để lại, thậm chí có thể nói đó là một trong những vết thương nhỏ không đáng kể. Một cánh tay của hắn che chắn ở trên, còn bị lửa kia thiêu đốt trở thành một mảng da nhăn nheo khó coi.
Ly Yêu Na Nhan buông tay ra, Tốc Bất Cai chỉ vào Ly Yêu Na Nhan rồi từ từ ngã xuống.
- Ồn ào!
Ly Yêu Na Nhan cau mày phun ra hai chữ, hai gã thân binh nhanh chóng đi đến mang thi thể xuống, rất nhanh đã bị vùi vào trong lòng đất. Bởi vì đất đã bị đóng băng vô cùng cứng rắn, cho nên người chôn thi thể cũng lười biếng chỉ đào một cái hố nông, bỏ thi thể vào đó phủ lên một lớp đất mỏng. Thậm chí, còn có một phần vẫn ở trên mặt đất.
- Viết một phần quân báo đưa vào trong đại doanh, báo cho Thái tử điện hạ, tướng quân Tốc Bất Cai tự mình dẫn thám báo đi dò đường gặp phải kỵ binh quân Hán, sau khi đã anh dũng chiến đấu nhưng do lực lượng ít nên không đánh lại được quân địch, anh dũng chết trận. Thân làm chủ tướng tiền phong, Ly Yêu Na Nhan cứu viện không kịp, xin Thái tử điện hạ xử phạt.
Ly Yêu Na Nhan thản nhiên phân phó vài câu, một quan văn ngay lập tức dựa theo lời của y viết. Vụng trộm nhìn thoáng qua thân hình được che kín của người được khâm phong Vạn Hộ Hầu, khẩn trương thu hồi lại tầm mắt.
- Nếu đã để ta là chủ tướng tiên phong, hà cớ gì lại phái người đến giám sát chứ?
Ly Yêu Na Nhan lẩm bẩm một mình, trong giọng nói đều là sự khinh thường và bất mãn.
Một gã lang tướng thân tín hạ giọng nói: - Hầu gia, nếu như Thái tử điện hạ đã biết, chỉ sợ sẽ rất bất mãn. Có nên giết hết người của Tốc Bất Cai?
Ly Yêu Na Nhan lắc đầu nói: - Mấy năm nay dũng sĩ Khiết Đan đã chết quá nhiều rồi, nếu không phải Tốc Bất Cai tự mình không biết phân biệt thì ta cũng không đành lòng giết hắn. Lần này Đại Liêu nam chinh cũng không biết lại có bao nhiêu thiếu nữ mất đi trượng phu, có bao nhiêu người mẹ mất đi đứa con. Bệ hạ cũng được, Thái tử cũng được, bọn họ đều quá kiêu ngạo rồi, kiêu ngạo đến mức quên đi vết thương của hoành đao người Hán trước đây vẫn còn trên người chưa trôi máu. Ngoài trường thành, ngàn dặm trên thảo nguyên đã không còn nhìn thấy mấy người đàn ông nữa rồi, nếu lần này không thể đánh thắng người Hán, chỉ sợ thiên hạ này thật sự phải loạn rồi.
Lang tướng tên Hoắc Xích trong lòng cả kinh, hắn do dự một chút, hỏi dò: - Hầu gia, ý của người là, lần này chúng ta dốc lực binh mã cả Đại Liêu xuôi nam, cũng không thể thắng được người Hán?
Ly Yêu Na Nhan cười lạnh nói: - Chỗ nào có thể dễ dàng như vậy! Bệ hạ bất quá bị thù hận che kín mắt mà thôi, chim ưng đã già, ánh mắt nhìn không thấy được chuyện ở ngoài ngàn dặm rồi. Nói cho bọn lính nghỉ ngơi và chỉnh đốn, sau đó đại quân quay đầu đi phía tây Thái Nguyên... Để cho Thái tử điện hạ tự mình đi đánh là được lắm rồi. Có thể mang nhiều người đàn ông Khiết Đan trở về, ta cũng coi như không phụ ân tri ngộ của Bệ hạ rồi.
Sắc mặt Hoắc Xích biến đổi, cuối cùng hỏi: - Cho dù chúng ta không diệt được Hán quốc, nhưng một triệu đại quân xuôi nam, chẳng lẽ còn có thể thua hay sao?
- Hoắc Xích! Ngươi không hiểu, thời đại của Đại Liêu đã kết thúc.
Ly Yêu Na Nhan tự cười giễu: - Có lẽ ngươi sẽ nghĩ lúc ở Ký Châu một bao hỏa dược của Hán Vương Lưu Lăng kia đã làm vỡ nát dũng khí của ta, nhưng Hoắc Xích, ngươi nên biết thế gian này không ai muốn giết Lưu Lăng nhiều hơn ta. Nhưng, ta không bị thù hận che mất ánh mắt. Lang Kỵ sau đó chết đã quá nhiều người rồi, nếu như lại đánh xuống như vậy chỉ sợ đến cả huyết mạch sẽ bị cắt đứt. Nếu như Bệ hạ đồng ý liên kết với người Đảng Hạng, nếu không phải chủ động khởi xướng chiến tranh, thắng bại cuối cùng còn chưa thể biết được. Cho dù người Hán công chiếm Tây Kinh Nam Kinh thì thế nào? Người Hán chẳng nhẽ còn có thể đánh bại chúng ta ở trên thảo nguyên sao? Người Hán vào thảo nguyên, cho dù chúng ta không đánh theo chân bọn họ, đường tiếp viện quá dài và sự tiêu hao quá lớn cũng sẽ kéo bọn họ đến cái chết!
- Nhưng bây giờ, tác chiến vô ích là chúng ta!
Ly Yêu Na Nhan thở dài: - Sở dĩ lần này ta xin là chủ tướng tiên phong, cũng không phải do ta vội vã đi tìm Lưu Lăng trả thù, mà là ta biết, trận chiến này tất cả ngay từ đầu là Đại Liêu đã bại rồi. Điều ta muốn làm, chính là mang theo hơn hai vạn con cháu Lang Kỵ trở lại thảo nguyên, mà không phải giống như Tốc Bất Cai nằm lạnh như băng trong lòng đất kia.
Ly Yêu Na Nhan nhanh chóng chỉ vào hố chôn xác nói: - Chiến tranh, cho tới bây giờ đều là trò chơi của kẻ mạnh. Đại Liêu đã từng là người khổng lồ mạnh mẽ nhất trên thế giới, nhưng bây giờ, tuy thoạt nhìn vẫn thấy rằng Đại Liêu rất cao lớn, nhưng bất quá cũng giống như túi da vậy, một khi bị người đâm một đao khí thoát ra, sẽ còn có người e sợ Lang Kỵ chiến kỳ Đại Liêu sao?
- Hoắc Xích, chuẩn bị sẵn sàng đi, bởi vì ngươi phải đối mặt với sự lựa chọn, là theo ta làm phản đồ Đại Liêu, hay là đi và bị người Hán chém giết.
- Phản đồ?
Ánh mắt Hoắc Xích buồn bã, hắn chậm rãi ngẩng đầu hỏi: - Tại sao, Hầu gia không nói những lời này cho Bệ hạ nghe?
- Bệ hạ?
Ly Yêu Na Nhan cười lạnh: - Bây giờ Bệ hạ đã không nghe bất kỳ lời phản đối nào, từ sau khi Đại Vu Việt chết, người liền hoàn toàn mất đi lý trí. Lần này xuôi nam bách vạn nhi lang Khiết Đan, có thể sống sót trở về coi như là trường sinh thiên khai ân rồi.
Y ngẩng đầu nhìn không trung vẻ lo lắng, âm thanh trong trẻo nhưng lạnh lùng: - Nhưng, trường sinh thiên đã không hề chiếu cố dũng sĩ Khiết Đan rồi.
- Nhưng, Hầu gia, chúng ta chỉ có hơn hai vạn nhân mã, nếu như Bệ hạ và Thái tử tức giận mà nói, chúng ta ngăn không được mấy chục vạn đại quân đánh giết!
Hoắc Xích khó khăn nói.
Ly Yêu Na Nhan cười cười nói: - Ai nói chúng ta phải trở lại đường cũ?
Y đem ánh mắt nhìn về phía tây, âm thanh xa xôi từ trong miệng của y phát ra, lời nói kia thật giống như một khúc thơ ca lẫy lừng: - Chúng ta theo sau người Tây Hạ giết qua, vẫn hướng tây! Chỉ cần qua Hạ Lan Sơn đi vài trăm dặm, chính là vô số các tiểu quốc lớn nhỏ Tây Vực. Từ nơi đó sau khi cướp tất cả vàng bạc, tiếp tục từ đại thảo nguyên phía tây trở về.
Y cười nói: - Chiến tranh, muốn xem có ý nghĩa hay không. Nếu lần này thật sự Đại Liêu chạy không khỏi nắng trời, như vậy để cho ta mang theo các ngươi, ở phương tây giữ cho Đại Liêu một huyết mạch. Đó cũng không phải là phản bội Đại Liêu, phản bội Bệ hạ, mà là thay Đại Liêu lựa chọn một con đường lui. Một triệu đại quân xuôi nam, một trăm ngàn nhân mã Hạ Lan Sơn kia không ngăn nổi được Ngôi Danh Nẵng Tiêu đâu. Một khi người Đảng Hạng từ phía sau lưng giết qua, chỉ có người già đàn bà và trẻ nhỏ, Đại Liêu lấy cái gì để chống cự?
Lời nói xa xôi của Ly Yêu Na Nhan thoáng chút run run, Hoắc Xích cảm thấy trên người lạnh kịch liệt, thật giống như đi vào khe tuyết nứt Ngạc Nạp Cổ Hà, bất lực mà bất đắc dĩ.
- Tin tưởng ta, Hoắc Xích!
Ly Yêu Na Nhan ngóc cằm lên, kiêu ngạo nói: - Để Bệ hạ biết được, khi con cháu Lang Kỵ đánh hạ một mảng nền móng, người sẽ cao hứng từ đáy lòng. Bởi vì, Đại Liêu thời điểm đó, chỉ sợ cũng đã đường cùng rồi.
- Mệnh lệnh toàn quân nghỉ ngơi và chỉnh đốn, sau đó để cho các Bách phu trưởng mang người ra cấp phát bổ sung. Người Hán tuy rằng chạy hết, nhưng bọn họ không có khả năng mang tất cả lương thực đi. Hoắc Xích, ngươi không biết người Hán, bọn họ đều cho rằng đem đồ đạc giấu phía dưới hố cháy là an toàn nhất đấy. Nói với bọn lính nhìn thấy thôn xóm liền đi vào, đào ở phía dưới hố lửa, đào ở trong sân, nhất định có thể đào được lương thực bọn họ giấu đi. Đại quân của Thái tử điện hạ sẽ không vì chúng ta mà hạ xuống hành trình năm ngày, hai ngày sau, chúng ta sẽ quay đầu đi phía tây rồi.
Y vỗ vỗ bả vai Hoắc Xích nói: - Đi thôi, không lâu nữa, một năm, nhiều nhất là hai năm, chúng ta sẽ trở về.
Hoắc Xích trang nghiêm chào theo kiểu nhà binh nói: - Hầu gia yên tâm, chúng ta đều thề sống chết đi theo người, loan đao của Hầu gia chỉ nơi nào, chúng ta liền xung phong tới nơi đó!
Ly Yêu Na Nhan cười cười, lại không nhìn thấy vẻ mặt sau lớp giáp che mặt của y. Cũng sẽ không có người chú ý tới, bàn tay y gắt gao nắm chặt móng tay đâm vào trong lòng bàn tay, máu, hiện ra dọc theo nơi bàn tay của y.
- Lưu Lăng! Lần sau lần sau ta nhất định phải giết ngươi! Nhất định phải đường đường chính chính đánh bại ngươi!
Làm ra quyết định như vậy, kỳ thật Ly Yêu Na Nhan cũng không có cách nào làm mình bình tĩnh được. Y tự nói với mình, ta không phải lính đào ngũ, ta chỉ là cảm nhận được ý chỉ trường sinh thiên, mang theo các dũng sĩ Khiết Đan đi theo một con đường khác. Khi thấy phía trước có một ngọn núi, chẳng lẽ như thế nào cũng phải đâm vào để bị đầu rơi máu chảy sao? Ta chỉ là muốn giữ lại huyết mạch Khiết Đan, giữ lại sự kiêu ngạo đã không còn nhiều lắm mà thôi. Để cho ta giơ cao chiến kỳ Lang Đầu, vì Đại Liêu đánh ra một đường lui! Về sau, tất cả mọi người sẽ biết, quyết định hôm nay của ta, là chính xác.
Tăng một ngàn hộ
Không ai ngờ tới chủ tướng tiên phong của Khiết Đan Ly Yêu Na Nhan sẽ mang theo hai vạn kỵ binh của mình dời khỏi chiến trường, tiến thẳng vào Tây Hạ, sau đó tranh thủ thời cơ người Đảng Hạng chưa kịp phản ứng lao qua sau lưng đại quân bốn mươi vạn với tốc độ nhanh nhất, và cũng không quay đầu lại.
Chờ khi Hắc Thủy Trấn quân ti và Hắc Sơn Trấn quân ti của Tây Hạ nghĩ ra phải bao vây chặn đánh thì đội ngũ kỵ binh mỗi người mang theo hai con chiến mã đó đã như gió xuyên qua giữa hai Trấn quân ti rồi.
Không ai lường trước được biến cố thế này sẽ xảy ra, bất kể là người Khiết Đan hay là người Hán hay là người Đảng Hạng, bất kể là Da Luật Hùng Cơ hay là Ngôi Danh Nẵng Tiêu hay là Lưu Lăng, đều không nghĩ tới chuyện Ly Yêu Na Nhan sẽ lựa chọn như vậy. Đối với sự lựa chọn của Ly Yêu Na Nhan, mỗi người đàn ông đứng trên vị trí cao nhất thế gian này có đánh giá không đồng nhất.
Sau khi Da Luật Hùng Cơ biết tin liền nổi giận đùng đùng, vung đao chém trác án trước mặt thành hai nửa.
- Ly Yêu Na Nhan! Chờ trẫm giành được chiến thắng sẽ ngàn dặm vạn dặm truy tung chặt lấy đầu lâu của ngươi! Tên phản đồ nhà ngươi! Đồ hèn nhát!
Ngôi Danh Nẵng Tiêu vừa hay tin liền phẫn nộ: - Người đâu, lệnh Hắc Sơn, Hắc Thủy Trấn quân ti giải thích cho ta, cớ sao quân Liêu có thể thoải mái xông qua biên giới, lại còn ngay dưới mũi bọn họ tiến lên! Ly Yêu Na Nhan... quả là một nhân vật.
Lưu Lăng biết được thì trở nên trầm mặc trong chốc lát, hơi cảm thán nói:
- Một đối thủ lợi hại, nói không chừng tương lai sẽ có một ngày đụng độ với nhau. Ly Yêu Na Nhan, là một kiêu hùng.
Có lẽ Lưu Lăng nói rất đúng, người có thể vì thực hiện lý tưởng của mình mà không tiếc vứt bỏ người nhà vứt bỏ thanh danh, sự kiên định bất di bất dịch, quả thật xứng với định nghĩa kiêu hùng.
Ly Yêu Na Nhan rút khỏi chiến trường cũng không khiến Lưu Lăng cảm thấy bao nhiêu phấn khích, không ai biết rằng, thật ra ở trong lòng hắn đang thì thầm bốn chữ với Ly Yêu Na Nhan, đó là “chúc ngươi may mắn”.
Bởi lẽ Lưu Lăng hiểu rõ, chuyện Ly Yêu Na Nhan cần làm không phải dễ dàng gì.
Nhưng hắn cũng cảm giác được sự bất đắc dĩ của Ly Yêu Na Nhan, phía sau hơn hai vạn quân tiên phong của y là đại quân hơn hai mươi vạn do Da Luật Đức Quang đích thân suất lĩnh, hậu phương cánh trái là nhân mã của Đề Á Qua, hậu phương cánh phải là nhân mã của Hỏa Kiêu Linh Hồ, còn chính diện chính là trận địa bày sẵn chờ đón quân địch của nhân mã Đại Hán chưa rõ có âm mưu gì rình rập không. Thời khắc Ly Yêu Na Nhan làm ra quyết định này, y liền biến thành một kẻ phản nghịch bị cường địch vây quanh tứ phía, ngoài hướng tây, y không có con đường khác để đi. Hướng đông, là hai mươi lăm vạn đại quân của Đại Hán Ký Châu Tiết độ sứ La Húc và Thương Châu Tiết độ sứ Dương Nghiệp, còn có bốn mươi ngàn binh U Châu của Da Luật Sở Tài. Coi như y có thể tiến lên thì nên đi tiếp thế nào đây? Xuất hải? Y không có thuyền lớn, không có tiếp tế tiếp viện, không nhận biết đường biển, như vậy sẽ chỉ rơi vào hoàn cảnh bị nhốt chết giữa biển rộng mênh mông. Hướng đông bắc? Nơi đó là Liêu Dương phủ Đông Kinh Liêu quốc, vậy nên y chỉ có một con đường có thể đi.
Sở dĩ người Tây Hạ không truy đuổi là vì họ biết miền đất phương tây kia hết sức hỗn loạn, hơn hai vạn người xông qua đó hoặc là mở một đường máu thoát hiểm hoặc là bị cát vàng vùi lấp, nhìn từ góc độ nào thì khả năng sau có vẻ cao hơn.
Thế nhưng Ly Yêu Na Nhan không chút chùn bước, lao đầu vào con đường vô lối một cách quyết tuyệt và dứt khoát.
Không có tiên phong quân Liêu chỉ đành đình chỉ, lửa giận của Da Luật Đức Quang còn nồng đượm hơn cả cha hắn Da Luật Hùng Cơ. Hắn biết, hắn biết rất rõ Ly Yêu Na Nhan không đáng tin cậy, cho nên hắn đã phái Tốc Bất Cai đi giám thị Ly Yêu Na Nhan. Nhưng, hắn chỉ cho rằng quá lắm thì Ly Yêu Na Nhan sẽ không nghe quân lệnh vì quyết tâm báo thù mà tùy tiện khai chiến với quân Hán, hoặc là không đủ dũng khí tiến lên tử chiến thôi, nào ngờ Ly Yêu Na Nhan lại có thể rời đi.
- Tên bại hoại!
Da Luật Đức Quang quơ tay quét hết đồ đạc trên trác án xuống đất, nhưng vẫn không trút được cơn giận, lại tung cước đạp bay trác án.
- Ta giao cho hắn hai vạn dũng sĩ, hắn lại bỏ ta mà đi!
Thân hình hùng vũ của Da Luật Đức Quang vì phẫn nộ mà run lên bần bật, trông như một ngọn núi lửa sắp sửa bùng nổ. Hắn tòng quân từ nhỏ, uy vọng trong quân rất cao. Dựa vào thủ đoạn thưởng phạt phân minh, dựa vào dũng khí và lá gan xung phong liều mạng giành được sự tôn trọng của bọn lính, cho nên, lần đầu tiên bị sự phản bội làm tổn thương, Da Luật Đức Quang trở nên bối rối hoang mang. Ly Yêu Na Nhan là một tay hắn cất nhắc, tuy rằng ngày trước Thái tử Da Luật Cực cũng từng coi trọng Ly Yêu Na Nhan, nhưng Da Luật Đức Quang biết, không ai có thể khoét được Ly Yêu Na Nhan từ dưới trướng hắn đi, bởi vì Ly Yêu Na Nhan đã biểu hiện ra đầy đủ lòng trung thành với hắn.
Đáng tiếc, lòng trung này chẳng mấy chốc đã bị chính tay Ly Yêu Na Nhan xé nát, cũng xé tan tành tự tôn của Da Luật Đức Quang.
- Người tới! Truyền mệnh lệnh bổn cung, triệu tập kỵ binh đuổi giết Ly Yêu Na Nhan!
Da Luật Đức Quang nổi giận hô.
- Điện hạ, không thể!
- Xin điện hạ bớt giận!
Quan văn võ tướng trong đại trướng vội vàng khuyên giải.
- Điện hạ, chớ để hạng đạo chích ấy chọc tức thân mình, lại nói, Ly Yêu Na Nhan lựa chọn lúc này đào ngũ chưa chắc không phải là chuyện tốt.
Một thanh âm trấn tĩnh vang lên, Da Luật Đức Quang quay sang nơi phát ra giọng nói, thì ra người lên tiếng chính là đệ đệ của đại thừa tướng Hàn Tri Cổ, Hàn Tri Thiện. Vì nguyên do Hàn Tri Cổ từng là phụ tá tâm phúc của Da Luật Cực, đối với Hàn Tri Thiện Da Luật Đức Quang cũng không có mấy hảo cảm. Chỉ coi y là một tiểu quan giữ chức Minh Điển tham quân, ngày thường phụ trách xử lý những sự việc vi phạm lệnh cấm.
Nghe lời của Hàn Tri Thiện, Da Luật Đức Quang lạnh lùng nói: - Nói vậy, theo ý Hàn đại nhân, bổn cung còn phải ăn mừng một phen sao? Thế thì ngươi hãy góp ý cho bổn cung xem, nên viết báo cáo trình lên bệ hạ như nào!
Hàn Tri Thiện gặp khó không sợ hãi, y tiến lên trước hai bước, ôm quyền khom người và nói: - Điện hạ, thử nghĩ xem... nếu đương lúc hai quân dốc sức giao chiến, Ly Yêu Na Nhan lại lâm trận bỏ chạy...
Câu nói tiếp theo y không nói, vì y tin chắc Da Luật Đức Quang hiểu được ý mình. Quả nhiên, Da Luật Đức Quang đương nổi giận đùng đùng lập tức biến sắc, thần thái cũng dần trấn tĩnh lại. Hắn hít thật sâu một hơi, nhưng cũng không có lời đánh giá với điều mà Hàn Tri Thiện vừa nói.
Hàn Tri Thiện nói: - Điện hạ, trước khi lâm chiến, con sâu làm rầu nồi canh tự mình chạy đi, chẳng phải là chuyện tốt ư? Triệu đại quân của Đại Liêu ta xuôi nam, nơi đại quân đi qua đều bị san bằng nghiền nát không gì chống đỡ nổi, từ Lam Châu tới Bá Châu, quân Hán liên tiếp bại lui không sức hoàn thủ. Không cần đến hai tháng, đại quân ta sẽ có thể ẩm mã Trường Giang kiếm chỉ Giang Nam. Bệ hạ hùng tài vĩ lược, điện hạ cơ trí thiện chiến, cần chi để ý tới hai vạn phản nghịch, một kẻ phản tướng không có thành tựu?
- Nơi Vương sư (quân đội của thiên tử) đi qua, dân chúng thuận theo, hai mươi vạn Thường Thắng đại quân dưới trướng điện hạ ít ngày nữa sẽ có thể phá được Thái Nguyên huy sư xuôi nam rồi. Công đầu diệt Hán chắc chắn sẽ thuộc về điện hạ. Điện hạ hà tất vì một tên tiểu nhân vật chả ra trò trống mà hủy đi sự hăng hái của cuộc săn bắn Giang Nam? Ly Yêu Na Nhan chẳng qua là một tiểu nhân vật bị dọa cho bể mật gần chết, vì hắn mà điện hạ nổi giận, điện hạ cảm thấy có đáng giá không?
Hàn Tri Thiện đứng lên, quét mắt quanh quần thần, sau đó mỉm cười nói: - Bị ngựa đá vỡ trứng cả đời sẽ không dám chạm vào ngựa nữa, một kẻ như vậy không đáng để điện hạ tức giận.
Bị lời lẽ cay nghiệt của y chọc cho buồn cười, tâm tình Da Luật Đức Quang trở nên khá hơn chút: - Hàn đại nhân, theo cách nhìn của ngươi, đây xác thực là một chuyện không xấu? “Bị ngựa đá vỡ trứng”... coi ngươi nói kìa, sao mà chanh chua thế!
Hàn Tri Thiện thấy lửa giận của Da Luật Đức Quang đã bình ổn xuống, y lại nghiêm nghị và nói: - Kỳ thật, sở dĩ hạ quan nói như vậy chỉ là muốn xoa dịu cơn giận của điện hạ.
Y nghiêm trang nói:
- Ly Yêu Na Nhan là mãnh tướng Đại Liêu, là nhân vật kiệt xuất nhất trong thế hệ tướng lĩnh trẻ tuổi bấy giờ. Trận chiến Ký Châu nếu không bị người cản tay, thuận lợi tiến hành theo kế hoạch của hắn thì kết cục sẽ không phải là đại bại quay về. Dù là như vậy, từ khi Hán vương Lưu Lăng lãnh binh đến nay, bị bức cho rơi vào cảnh hung hiểm nhất có lẽ chính là trận chiến với Ly Yêu Na Nhan ở Ký Châu. Đạt được chiến tích bậc này duy có Ly Yêu Na Nhan. Hắn đi rồi, chính là tổn thất của Đại Liêu. Hiện tại đại quân tiên phong theo chân Ly Yêu Na Nhan rời đi rồi, điện hạ nên sớm có tính toán cho thỏa đáng.
Da Luật Đức Quang sửng sốt, lập tức nghiêm nghị: - Tiên sinh đang dạy ta, không nên tự loạn trận cước?
Hàn Tri Thiện khom người nói: - Điện hạ nhất thời bị lửa giận mê loạn tâm trí, dù hạ quan không nói, tin chắc chỉ trong chốc lát điện hạ liền sẽ ngộ ra đạo lý gặp nguy không loạn, gặp biến không sợ.
Da Luật Đức Quang bước xuống từ trên vị trí ngồi của chủ soái, lôi kéo tay Hàn Tri Thiện nói: - Gặp nguy không loạn, gặp biến không sợ, tiên sinh, đa tạ!
Hắn lôi kéo tay Hàn Tri Thiện và nói: - Trong quân còn thiếu một Trưởng sử hành quân, tiên sinh có nguyện hạ mình?
Mọi người lập tức kinh hãi, tuy rằng Trưởng sử hành quân không có phẩm cấp cố định, nhưng quyền lợi lại to lớn gần bằng với Nguyên soái một quân! Trước đó Hàn Tri Thiện chẳng qua là một Minh Điển tham quân tòng lục phẩm, vừa nhảy cấp liền lên ngay vị trí cao của Trưởng sử hành quân, quả thực là cá chép vượt Long môn! Ba năm không hót, mà đã hót thì khiến mọi người phải khiếp sợ!
Tuy rằng Da Luật Đức Quang làm vậy có hơi qua loa, nhưng cũng bởi vì thấp thoáng nhìn ra được hoài bão của người này.
Lập tức, Da Luật Đức Quang vấn kế Hàn Tri Thiện nên xử lý thế nào cho phải, Hàn Tri Thiện thưa rằng: - Hiện giờ, nếu như tuyên bố với chúng binh sĩ Ly Yêu Na Nhan là kẻ phản nghịch, sợ rằng sĩ khí của đại quân hai mươi vạn sẽ lập tức đê mê sụt giảm. Đại chiến chỉ mới bắt đầu chủ tướng tiên phong lại phản bội, e rằng sẽ khiến nhuệ chí của đại quân bị đứt gãy.
Y hơi dừng, sau lại thưa: - Theo thiển ý của hạ quan, chi bằng điện hạ viết một bản tấu chương suốt đêm cấp tốc đưa vào trong quân bệ hạ, cặn kẽ giải thích về sự kiện này, sau đó... có thể thỉnh công vì Ly Yêu Na Nhan!
Da Luật Đức Quang đứng phắt dậy: - Tiên sinh! Cái này là đạo lý gì đây!
Hàn Tri Thiện cười nói: - Điện hạ bình tâm chớ vội. Điện hạ, người nghĩ, nếu bệ hạ tuyên bố trước binh lính và dân chúng rằng, đại tướng quân Ly Yêu Na Nhan phụng mệnh suất lĩnh hai vạn kỵ binh nhẹ sát nhập Tây Hạ, trận trảm mấy đại tướng Tây Hạ, liên phá hơn mười trận đại quân Tây Hạ, trong lãnh thổ Tây Hạ giết đến long trời lở đất, khiến cho quân Tây Hạ không dám tùy ý xuất binh khỏi thành Thiên Nga... Nếu là như vậy, liệu bọn lính sẽ cảm thấy phấn chấn lòng người chăng?
Hai mắt Da Luật Đức Quang tỏa sáng, cười sang sảng: - Tiên sinh đại tài! Là trời ban tiên sinh cho bổn cung!
Cùng ngày, Da Luật Đức Quang viết một bản tấu chương phái người ra roi thúc ngựa đưa đến trong đại quân của Da Luật Hùng Cơ. Sau đó cũng không chờ Da Luật Hùng Cơ phê chỉ thị, lập tức triệu tập các tướng lĩnh từ Thiên phu trưởng trở lên, trước mặt mọi người tuyên bố chuyện thỉnh công vì Ly Yêu Na Nhan, lý do rất đơn giản, Ly Yêu Na Nhan thay mặt Đại Liêu đánh ra uy phong! Lấy hai vạn kỵ binh phá tan quân lực khổng lồ của Hắc Sơn Trấn quân ti và Hắc Thủy Trấn quân ti, hai hàng rào vững chắc của Tây Hạ, trong quốc nội Tây Hạ đánh giết đến phong sinh thủy khởi, khiến cho Tây Hạ không dám xuất binh, công lao hiển hách này, ai cũng không dám tranh đoạt.
Nửa tháng sau, thánh chỉ của Da Luật Hùng Cơ cũng tới trong đại doanh Da Luật Đức Quang.
Gia phong Ly Yêu Na Nhan là Hộ quốc Đại tướng quân tòng nhị phẩm, thực ấp gia tăng ngàn hộ!
Chương 569.1: Yên giấc
Nếu tuyên bố ra ngoài Ly Yêu Na Nhan lĩnh mệnh xông sát vào quốc nội Tây Hạ, thì đương nhiên cần phái một người khác làm tiên phong dò đường cho đại quân. Hiện giờ đại quân Da Luật Đức Quang đang đóng ở phía nam Hãn Châu, cách thành Thái Nguyên chỉ tầm hai trăm dặm lộ trình. Rốt cuộc có cần thiết phái ra một đội ngũ làm tiên phong, hay là đại quân trực chỉ xuất phát khiến Da Luật Đức Quang hết sức đau đầu.
Vấn kế Hàn Tri Thiện, ý kiến của y là vốn không có tiên phong, Ly Yêu Na Nhan nhận nhiệm vụ tấn công Tây Hạ chứ không phải dò đường thay đại quân, vậy nên, không cần lại chia quân ra. Cách nói kiểu bịt tai trộm chuông lừa mình dối người như vậy, nhưng Hàn Tri Thiện lại giải thích một cách dõng dạc hợp tình đúng lý.
Da Luật Đức Quang cũng y theo như vậy, mệnh lệnh đại quân hai mươi vạn tức khắc xuất phát, phân thành tám lộ đồng tiến, đoàn quân trùng trùng điệp điệp, vô cùng uy phong. May là về phía nam Hãn Châu là vùng đồn điền đất đai bằng phẳng, tám lộ đại quân cũng nhờ đó có thể xếp mở trận thế đi lên phía trước. Chẳng qua trận hình song song cùng tiến này không biết đã phá nát bao nhiêu mẫu ruộng tốt, khiến cho sang năm không thu hoạch được chút quả, hạt nào. Thương thay cho lúa mạch non còn chưa kịp cắm rễ sâu xuống đất đã bị chân người và móng ngựa giẫm đạp lên lôi kéo ra từ lòng đất. Chiến tranh, không chỉ đoạt đi tính mạng con người.
Đội ngũ trùng trùng điệp điệp mà đi suốt ba ngày mới được một trăm dặm, nhưng đại quân không thể không dừng lại. Thám báo các doanh phái đi không dưới mấy trăm người, ba ngày qua lại không một ai trở về báo cáo tin tức. Mấy trăm người như đá chìm dưới đáy biển, mất tung mất tích. Da Luật Đức Quang không phải lần đầu dẫn quân xuất chinh, linh cảm thấy có điều kỳ quái, chỉ đành hạ lệnh đại quân hạ trại tại chỗ.
Da Luật Đức Quang triệu tập tướng lĩnh thảo luận cả ngày trời cũng không thu được kết luận gì, quan sát trên bản đồ không nhìn ra nơi nào có địa thế hiểm yếu để mà mai phục. Trừ phi quân Hán ngoan cố đào ra trên bình nguyên một con lạch trời ngăn cản đại quân, bằng không thật không thấy được có chỗ nào để quân Hán dựa vào.
Dù là vậy, Da Luật Đức Quang cũng không dám tùy ý tiến quân. Quân Hán giết sạch sẽ thám báo, như vậy trong thành Thái Nguyên rốt cuộc còn bao nhiêu nhân mã, có viện quân hay không, nếu việc này còn chưa làm sáng tỏ Da Luật Đức Quang thật sự không yên tâm. Nhưng tất cả đội thám báo phái đi, một người cũng chưa về tới, hắn chỉ đành thiết lập một đội ngũ đi dò đường, nghĩ đến đây, Da Luật Đức Quang bỗng nhiên nhớ tới Ly Yêu Na Nhan vốn nên lĩnh nhiệm vụ tiên phong mở đường cho đại quân. Nếu gã không phản bội, có lẽ lúc này đại quân hai mươi mấy vạn đã có thể bao vây Thái Nguyên chật như nêm cối rồi.
Hãn Châu bị vây khốn hơn mười ngày vẫn không bị đánh hạ, Da Luật Đức Quang đã nóng đến phát hỏa rồi. Thái Nguyên đang ở ngay trước mắt, vậy mà không thể một hơi lao giết qua được, quả thực nghẹn uất muốn chết.
Cuối cùng, Da Luật Đức Quang phái đại tướng Tiêu Sở làm tiên phong, suất lĩnh một vạn kỵ binh dò đường.
Da Luật Đức Quang rất muốn biết, quân Hán giết chết hết tất cả thám báo là vì giấu giếm âm mưu gì.
Thật ra rất đơn giản, Lưu Lăng chẳng qua không muốn Da Luật Đức Quang biết chuyện hắn đang ở Thái Nguyên, hơn nữa còn mang đến mười vạn viện quân. Nếu không tranh thủ lúc kẻ địch mờ mịt như kẻ điếc người mù mà hung hăng đánh hắn thì bản thân mình giả bộ tàn phế rất có lỗi với người ta. Nhưng, muốn đánh cũng không đơn giản vậy. Có thể điều động mười vạn bộ tốt, bình nguyên dã chiến đánh lén hai mươi vạn kỵ binh Khiết Đan, chính trận này đã là một trò cười rồi, một trò cười tàn nhẫn.
Trong thành Thái Nguyên thoáng cái tràn vào hơn mười vạn bách tính, lại thêm Lưu Lăng mang đến mười vạn đại quân, đường phố vốn rộng rãi thoáng đãng nay trở nên chật chội kín mít. Trước đó Hoa Linh đã phái người xây dựng số lượng lớn túp lều đơn sơ trên những nơi đất trống, trú địa của Tu La doanh đã dời tới Lạc Dương, do đó để trống một khoảnh đất trống lớn tương đối đủ để an trí năm vạn người. Bởi đã có chuẩn bị đầy đủ, tuy rằng trong thành bỗng dưng nhiều ra quá nhiều người thế nhưng trật tự vẫn rất có lề lối.
Thái Nguyên phủ cử ra rất nhiều nhân viên đi trấn an dân chúng, mỗi ngày phát ba bữa cơm cho dân chúng, các nhà các hộ thống nhất tài sản đăng ký, đánh dấu rõ ràng lên thân dê bò ngựa các loại súc vật sau đó tập trung chăn nuôi. Mỗi ngày đều có lang trung đến các cứ điểm dân cư kiểm tra xem có người bị bệnh không, nghiêm cẩn đề phòng xuất hiện các loại tật bệnh lây nhiễm lan tràn.
Mỗi ngày Bát môn tuần sát đi đều đi tuần tra trên đường, một vì duy trì trị an, hai vì giám sát ngăn ngừa quan viên phân phát lương thực có hành vi tham ô. Trước khi khai chiến, lượng lớn lương thảo đồ quân nhu đã từ Lạc Dương, Lê Dương, Tấn Châu và các nơi khác vận chuyển đến thành Thái Nguyên, lương thực đủ cho triệu người ăn trong vòng bốn tháng. Còn người Khiết Đan tác chiến không có nguồn bổ cấp, kéo dài thời gian càng lâu người Khiết Đan sẽ càng rơi vào thế bất lợi. Sợ rằng chưa tới bốn tháng, cướp không được lương thảo tiếp tế đại quân Khiết Đan không cần đánh trận, cũng tự mình tổn hại rồi.
Khi đó lương thực trong thành Thái Nguyên sẽ giống như nguyên con dê nướng đặt ngay trước mặt người Khiết Đan, ngửi được hương thơm ngào ngạt nhưng hết lần này tới lần khác lại không được ăn. Nếu đến hậu kỳ chiến tranh mà lương thảo của người Khiết Đan trở nên thiếu thốn, thành Thái Nguyên liền biến thành một nơi mà người Khiết Đan nhất định phải phá được. Đây chính là một trong các sách lược của Lưu Lăng, bất kể binh mã Khiết Đan xuôi nam nhiều hay ít, đương độ rét đậm, dù cho đại quân Khiết Đan mang theo mấy trăm vạn gia súc xuôi nam thì vẫn sẽ không đủ ăn.
Dựa theo tin tức tình báo của mật điệp Giám sát viện cung cấp, lương thảo người Khiết Đan mang theo nhiều nhất duy trì được một tháng. Đương độ rét đậm, nếu không có nguồn bổ cấp, người còn có thể ăn thịt người, nhưng chiến mã thì ăn cái gì đây? Người Khiết Đan lấy kỵ binh làm chủ, hơn nữa gần như mỗi một kỵ binh đều không chỉ có một vật cưỡi. Triệu đại quân xuôi nam, cỏ khô chuẩn bị được bao nhiêu?
Thường nói quân đội người Hán nếu tiến công thảo nguyên sẽ như rơi vào vũng đất lún không thể thoát thân. Lần này Lưu Lăng muốn người Khiết Đan nếm trải tư vị như vậy, một khi cướp đoạt không được, nhiệt huyết hiếu chiến của người Khiết Đan còn lại ít nhiều?
Người Khiết Đan bất kể là quý tộc hay là binh lính bình thường, nguyên nhân khiến bọn họ phấn khích xuôi nam chính vì muốn cướp đoạt về vô số lợi ích. Nhưng chuyến này, hiển nhiên bọn chúng phải thất vọng rồi. Đầu tiên, vì để đối phó trước khả năng quân Hán lựa chọn đầu xuân thời kỳ giáp hạt phát động công kích Đại Liêu, Da Luật Hùng Cơ tự cho thông minh tiên phát chế nhân. Ngày đông giá rét, thời tiết phương bắc cực kỳ khắc nghiệt, tuy rằng con người có thể chống đỡ qua một hai trận đại tuyết, nhưng gia súc thì có chịu đựng nổi hay không?
Chương 569.2: Yên giấc
Thứ hai, binh lính Khiết Đan về tố chất chiến lực đã suy giảm rất lớn. Mấy chục vạn lão binh Cung Trướng quân có tố chất kinh nghiệm phong phú đều đã chết trận sa trường, triệu đại quân xuôi nam tân binh đã chiếm hơn bảy thành. Đội ngũ với chiến lực như vậy, một khi gặp khó khăn trên tâm lý bọn họ liệu có năng lực chịu đựng chăng?
Lại nói, Tây Hạ vẫn là một biến số.
Chỉ cần quân Hán có thể kiên trì một tháng, người Tây Hạ sẽ như lũ ruồi bọ ngửi được mùi trứng thối chen chúc xộc vào gia viên người Khiết Đan. Cướp đi những đàn gia súc vốn không còn nhiều nhặn gì cho cam, cướp đi đàn bà tàn sát người già và trẻ nhỏ, đốt nhà thiêu đồng cỏ, về điểm này, kỳ thật người Hán làm còn ác độc tuyệt tình hơn cả người Tây Hạ. Trước khi chiến tranh bắt đầu, một đốm lửa nhỏ khô hanh liền có thể hỏa thiêu thảo nguyên lửa cháy lan tràn khắp đồng cỏ, dấu chân người Hán phóng hỏa chưa bao giờ dừng lại.
Đã không còn cây cỏ, mất đi sinh mệnh không chỉ là gia súc.
Ban đầu Lưu Lăng không có ý định chủ động phát động công kích người Khiết Đan, loại chuyện tiên hạ thủ vi cường (ra tay trước sẽ giành được lợi thế, trở thành kẻ mạnh) chẳng qua là nhằm vào kẻ yếu mà luận thôi. Nếu thực sự là cường nhân, bất kể xuống tay trước hay sau mới hạ thủ thì đều đứng ở thế bất bại. Luận thực lực của Đại Hán bấy giờ, trên thực tế đã vượt qua Đại Liêu giờ đây đã như mặt trời sắp lặn núi tây rồi.
Chỉ cần Thái Nguyên không thất thủ, người Khiết Đan sẽ còn bị cầm chân đến chết. Ba tháng sau, trên thảo nguyên bị đại hỏa càn quét sẽ chỉ còn những cọng cỏ thưa thớt nuôi dưỡng súc vật vừa lọt lòng, dê bò bị đói một mùa đông có thể sống sót được bao nhiêu? Tới lúc đó, các tộc trên thảo nguyên còn bao người dậy nổi ý chí chiến đấu?
Đúng vậy, Lưu Lăng định ra sách luật đầu xuân năm sau phạt Liêu, kỳ thật không chỉ vì dẫn dụ người Khiết Đan.
- Báo!
Một gã thám báo nhanh chóng chạy vọt lên tường thành, lớn tiếng hô thưa với Lưu Lăng đang đứng trên đầu thành tuần tra phòng ngự: - Báo! Vương gia, có một đội kỵ binh Khiết Đan hơn vạn người tách khỏi đại quân Da Luật Đức Quang, thẳng tiến hướng Thái Nguyên!
Lưu Lăng dừng bước, xoay người lại hỏi: - Hơn vạn người? Bây giờ còn cách Thái Nguyên bao xa?
Thám báo lớn tiếng thưa rằng: - Khi thám báo phía trước truyền về tin tức, quân địch còn cách Thái Nguyên tầm sáu mươi dặm. Tốc độ của đội kỵ binh Khiết Đan này cũng không mau, mỗi lần ngang qua các thôn xóm đều sẽ phái người tra xét. Đoán chừng mau lắm cũng phải sáng sớm mai mới tới Thái Nguyên được, còn nếu toàn lực phóng ngựa, trước khi mặt trời lặn sẽ đuổi tới rồi.
Lưu Lăng gật đầu, phất tay ra hiệu cho thám báo lui xuống.
Hoa Linh nóng lòng muốn thử nói: - Vương gia, một vạn kỵ binh đơn độc xâm nhập, hay là nuốt luôn đi?
Lưu Lăng ngẫm nghĩ: - Nuốt là đương nhiên, con ngỗng mập đưa đến miệng sao có thể để nó bay đi. Chỉ là ăn, còn phải xem nên ăn thế nào.
Hoa Linh hỏi dò: - Dẫn dụ Da Luật Đức Quang đến cứu viện?
Lưu Lăng cười nói: - Một vạn kỵ binh, muốn nuốt chửng không phải việc gì khó, dã chiến cùng người Khiết Đan cũng không đáng e ngại, cái chúng ta muốn chính là làm sao để một lần hành động diệt được ít nhất trên ba vạn kỵ binh. Trong thành Thái Nguyên, số lượng kỵ binh chính xác là con số này. Nếu đã dốc hết ba vạn kỵ binh, dù sao cũng phải chiếm được thật nhiều ưu đãi mới có thể trở về.
Hắn thoáng trầm tư: - Da Luật Đức Quang mang theo hai mươi vạn đại quân, tất cả đều là kỵ binh, nếu chạy tới cứu viện thì không cần một ngày là giết đến rồi. Nếu kỵ binh rút lui không kịp, mất nhiều hơn được.
Hắn cười cười chỉ ra ngoài thành: - Nếu là thả bọn chúng tới, ngươi nói xem, bọn chúng sẽ chọn nơi nào hạ trại?
Liêu đại tướng quân Tiêu Sở suất lĩnh một vạn kỵ binh bản bộ, sau khi rời khỏi đại doanh chậm rãi tiến về phía nam. Thái tử điện hạ đã giao phó, nhiệm vụ của gã chỉ là xem xét quân Hán có thiết kế mai phục ở phía bắc Thái Nguyên hay không thôi. Đi mỗi mười dặm sẽ lại phái người trở về báo cáo tin tức. Ven đường để lại nhân mã tiếp ứng đại quân, nếu đụng độ đại đội nhân mã quân Hán không cần thiết tử chiến.
Nhiệm vụ này thoạt nhìn không mấy khó khăn, nhưng trong lòng Tiêu Sở lại tuyệt không thoải mái.
Trong lúc hành quân, gã để ý đến trên những gương mặt non nớt lần đầu tiên tham chiến này trở nên đỏ hồng, có lẽ là bởi trước đó tướng quân Ly Yêu Na Nhan đại thắng đã kích thích nhiệt huyết của những thanh thiếu niên trẻ tuổi này, hoặc giả đại chiến sắp nổ ra khiến bọn chúng không kềm được xúc động, hoặc giả, trong lòng bọn chúng là nỗi sợ hãi khiếp vía khó mà che giấu?
Binh lính không biết Ly Yêu Na Nhan đã đào ngũ, nhưng gã biết.
Tuy rằng gã không hiểu vì sao Ly Yêu Na Nhan nhận được sự tín nhiệm thâm sâu của Hoàng đế bệ hạ sẽ làm ra loại chuyện này, nhưng có một việc gã biết rõ rành mạch. Nếu Ly Yêu Na Nhan có lòng tin tất thắng, y sẽ bỏ trốn sao?
Nhưng Tiêu Sở cũng biết, thân là chủ tướng một doanh mình nhất định phải biểu hiện ra một sự tin tưởng kiên định. Mặc kệ trong lòng mình có bất an hơn nữa, tuyệt đối không thể lộ ra ngoài sắc mặt.
Hạ lệnh đại quân dò xét tiến lên, trái phái dọc đường trong phạm vi mỗi mười lăm dặm đều phải cẩn thận điều tra. Cách mỗi mười dặm, gã đều lưu lại một đội trăm người để tiếp ứng. Vì thế đội ngũ của gã tiến quân với tốc độ không mau, thậm chí có thể ví von với ốc sên. Tiêu Sở không thể không làm như vậy, gã chỉ có thể dốc hết năng lực của mình trợ giúp Thái tử điện hạ. Gã không muốn sẽ xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn, tuy rằng tình báo báo rằng Thái Nguyên chỉ có sáu vạn quân coi giữ tuyệt không dám ra thành nghênh chiến. Nhưng trên chiến trường thiên biến vạn hóa, không ai cam đoan được sáu vạn quân Hán kia sẽ làm ra hành động điên cuồng gì.
Nghe nói quân Hán ở trong thành Thái Nguyên tích trữ lương thực không dưới ngàn vạn thạch, đủ cho triệu đại quân ăn mấy tháng.
Từ đó xem ra, quân Hán không có lý do ra khỏi thành nghênh địch?
Tiêu Sở tự an ủi bản thân, chờ thêm hai mươi ngày nữa, bệ hạ đích thân thống lĩnh hai mươi vạn Cung Trướng quân đuổi tới, đến lúc đó lấy đại quân hơn bốn mươi vạn vây công Thái Nguyên, không lý do gì đánh hạ không được. Chỉ cần nắm được Thái Nguyên, đại quân sẽ có đủ nguồn bổ cấp để vượt qua mùa đông này.
Nhưng... trong tâm Tiêu Sở lại không lòng tin chút nào.
Chỉ mong, người Tây Hạ sẽ không thừa cơ ném đá xuống giếng.
Tiêu Sở thầm cầu nguyện.
- Mệnh lệnh gia tốc! Trước khi trời tối phải đuổi tới ngoài thành bắc Thái Nguyên mười dặm cắm trại!
Tiêu Sở lớn tiếng hô.
Không biết vì sao, lòng gã bỗng trở nên kích động, hận không thể lập tức vọt vào trong thành Thái Nguyên, sau đó nằm trên núi lương thực đó yên giấc.
Quỷ dữ chốn U Minh
Khi vầng thái dương dừng trên đỉnh núi cao lưu luyến thời khắc cuối cùng ngắm nhìn cảnh đẹp nhân thế, kỵ binh Khiết Đan chưa tới một vạn đã đến ngoài mười dặm phía bắc thành Thái Nguyên. Hiện ra trước mặt người Khiết Đan chính là cái thôn làng tên gọi Bắc Thập Lý Phô bị vứt bỏ vừa khéo là nơi thích hợp nhất để cắm trại. Bên ngoài thôn xây dựng một vòng tường đất, tuy không cao lớn chắc chắn nhưng cũng đủ để chặn kỵ binh ở bên ngoài. Nếu lại dựng thêm một cái tháp quan sát, ngay cả khi đại đội quân Hán bất ngờ đột kích, lấy khả năng cơ động của kỵ binh Khiết Đan sẽ không khó để rút lui ngay tức thời.
Bắc Thập Lý Phô, dường như là một binh doanh nho nhỏ được xây dựng nên vì người Khiết Đan.
Xung quanh thôn này trống trài, không có rừng rậm, không có núi cao, cũng không có con sông khe rãnh. Đứng trên nóc nhà cao nhất liền có thể trông tới tường thành Thái Nguyên, không thể nghi ngờ, đây quả là một nơi chốn tốt.
Nhưng Tiêu Sở cũng không dám lệnh bọn lính tiến vào đóng quân, tuy rằng bọn lính cảm thấy nghi hoặc nhưng vẫn y theo mệnh lệnh của tướng quân đại nhân tiến hành đóng quân dã ngoại trên bình nguyên. Nơi này rất hoàn mỹ, chính vì hoàn mỹ như thế mới khiến Tiêu Sở sinh lòng cảnh giác. Một nơi thích hợp trú binh như vậy, tại sao quân Hán không thiêu hủy? Tiêu Sở không tin Hán Vương nhân từ nên không làm thế, một người không nỡ thiêu hủy một cái thôn làng nho nhỏ tuyệt đối không thể là Hán Vương đã đạt được thành tựu của ngày hôm nay. Tiêu Sở tình nguyện tin rằng, vì giành được thắng lợi chiến tranh Hán Vương là một kẻ có thể tàn sát triệu người, quyết không nương tay nhân từ.
Cùng lắm đêm nay không ngủ là được, đại đội nhân mã của Da Luật Đức Quang điện hạ chừng giờ cơm trưa ngày mai sẽ chạy tới nơi này. Chỉ cần đêm nay quân Hán không đến đánh lén, ban ngày ánh sáng lên, Tiêu Sở không tin ở trên bình nguyên ngựa của người Hán dám so bì tốc độ với chiến mã thảo nguyên.
Mệnh lệnh binh lính đốn cây trong thôn chế tạo một số ít cự mã đơn sơ, sau đó Tiêu Sở phân tám ngàn kỵ binh còn lại thành bốn đội luân phiên nghỉ ngơi. Mệnh lệnh du kỵ tuần tra bốn phía doanh địa trong phạm vi năm dặm, một khi phát hiện địch tình lập tức cảnh báo. Thiết lập trạm gác ngầm, lính quan sát, trạm gác tuần tra.
Tất cả mọi người không được phép tháo giáp, dùng chăn thảm mang theo người bọc thân ngủ luôn trên đất băng giá lạnh. Dùng những song cửa dỡ xuống từ trong thôn đốt lửa trại, Tiêu Sở an vị trên một cái ghế dựa cũ nát tìm được từ trong thôn sưởi ấm. Mấy năm liên tiếp chinh chiến, một hai đêm không ngủ chẳng qua là cơm bữa với gã.
Cứ như vậy mãi cho đến giờ tý, Tiêu Sở mới chợp mắt được một lát giật mình tỉnh giấc, thân mình cứng ngắc đứng lên qua lại mấy vòng quanh đống lửa. Trong đầu gã ngập tràn nỗi hoài nghi và khó hiểu, do đoán không ra quân Hán rốt cuộc có âm mưu gì, gã thậm chí nảy ra ý niệm suốt đêm lui binh.
Gã biết ở nơi cách doanh địa mình không xa khẳng định có thám báo người Hán đang theo dõi nhìn trộm, cũng biết người Hán chắc chắn hiểu rõ thấu triệt chiến lực của đội quân mình. Gã thậm chí cố ý lộ ra mấy điểm sơ hở để dụ cho người Hán đến tiến công, thế nhưng người Hán cứ như không trông thấy sự hiện hữu của gã, hoàn toàn bỏ mặc. Tiêu Sở còn nghĩ, nếu đổi lại mình là tướng quân người Hán, nhất định đã mang theo người chạy tới đánh lén rồi, dù sao mấy cái sơ hở cũng đủ trí mạng.
Đáng tiếc, người Hán dường như đang ngủ rất ngon lành bên trong thành Thái Nguyên.
Tiêu Sở đến bên ngoài doanh địa quan sát nhưng lại không thấy gì cả, đêm khuya ngày đông thâm trầm sâu lắng, dù chỉ ngoài ba năm mét thôi cũng nhìn không tới rồi, Tiêu Sở thậm chí còn nảy sinh ảo giác, nếu có một con tiểu quỷ máu me nhầy nhụa như chui ra từ địa ngục trong bóng tối bò về hướng mình, nếu không đến ngay dưới chân mình thì có lẽ mình cũng không phát hiện ra. Nhưng, khi tiểu quỷ đã đến được dưới chân mình, bộ răng nanh sắc bén dính máu kia liệu có phải đã gặm cắn trên ngón chân của mình?
- Du kỵ có tin tức truyền về không?
Tiêu Sở hỏi một thân binh đứng ở cách đó không xa, thân binh vừa quay đầu lại, liền lộ ra một cái đầu lâu với hàm răng nanh còn dính đầy máu, miệng đang nhai nuốt bộ lòng của con người, sau đó nhe răng cười với Tiêu Sở, khúc ruột nhớp nháp máu me kia rơi lịch phịch xuống đất. Kinh khủng nhất là đoạn ruột đó còn đang ngọ nguậy nhúc nhích về hướng mình, máu me nhầy nhụa khủng bố tới cực điểm.
- A!
Tiêu Sở sợ đến mức hét to, xoát một tiếng rút ra loan đao giắt bên hông.
- Tướng quân!
- Tướng quân!
Vài gã thân binh xông lại, sửng sốt khi thấy tướng quân đại nhân bất thình lình hô to một tiếng, nỗi sợ hãi trong tiếng thét đó dọa người sởn tóc gáy.
Tiêu Sở lắc lắc đầu, mới phát hiện trước mặt mình không có gì cả.
Sao lại vậy?
Tiêu Sở không biết, nhưng ở trong lòng gã đã sinh sôi một nỗi bất an và lo lắng cực kỳ mãnh liệt. Khi cẩn thận quan sát mấy tên thân binh, vẫn là dáng vẻ bình thường, ở đâu ra bộ ruột ngoe nguẩy, đâu ra đầu lâu, đâu ra răng nanh máu me nhầy nhụa.
Tiêu Sở hít sâu vào, gã tự nhủ mình quá khẩn trương rồi.
- Không có gì, hoa mắt thôi.
Tiêu Sở xoay người hỏi: - Du kỵ có tin tức gì không?
Nhóm thân binh thu hồi loan đao, một tên trong đó cung kính thưa rằng: - Nhã Lý tướng quân phụ trách du kỵ và công tác phòng ngự bên ngoài, tướng quân có muốn ty chức gọi Nhã Lý tướng quân đến không ạ?
Tiêu Sở lắc đầu, gã xoay người nhìn về nơi mình vừa rồi sinh ra ảo giác, thoáng ngẫm nghĩ rồi chỉ vào bên đó và nói: - Qua đó xem thử chút đi!
Ba bốn thân binh ngơ ngác nhìn nhau, nhưng vẫn rút đao ra và hướng vào màn đêm mờ mịt đằng trước mà đi. Dần dần, bóng dáng của những thân binh đó đã bị đêm tối khôn cùng nuốt chửng. Không biết qua bao lâu, hoặc có lẽ chỉ mới trong tích tắc, hoặc đã qua rất lâu rồi, trái tim Tiêu Sở bỗng nhiên siết chặt!
Không đúng!
- Người đâu!
Tiêu Sở la lớn.
Thân binh cảnh giới bốn phía ngay tức khắc lao đến, vây quanh bên người Tiêu Sở chờ mệnh lệnh. Tiêu Sở nâng lên bàn tay run rẩy chỉ vào cái thôn hoang phế đó và nói: - Lệnh cho tất cả mọi người chuẩn bị chém giết, phái người, phái người lại đi lục soát cái thôn ấy!
Mặc dù nhóm thân binh không rõ đã xảy ra chuyện gì, nhưng vẫn thành thật thi hành mệnh lệnh của Tiêu Sở. Tuy nhiên bọn hắn vừa mới chạy ra được vài bước, bỗng nhiên từ đằng xa truyền đến tiếng rít gào thê thảm! Thanh âm gào thét này quá mức thê lương, giữa đêm tối sâu hoắm trở nên phá lệ sởn tóc gáy!
- Có quỷ! Cứu mạng!
Tiêu Sở mang theo mấy chục thân binh hướng tới nơi phát ra tiếng thét mà chạy, vừa chạy, gã còn cảm giác được tay mình đang run rẩy không ngừng. Hướng kia, chính là hướng vừa rồi mình phái người đi thăm dò, là hướng của cái thôn! Tiếng la thê lương đó cũng gây kinh động đến những người khác, có không ít cây đuốc lao vọt về hướng bên này.
Chờ Tiêu Sở mang người chạy đến nơi vọng ra thanh âm thì phát hiện trên đất có hai cỗ thi thể, nương nhờ ánh đuốc chiếu rọi xuống có thể thấy vị trí cổ họng của hai gã binh lính bị cái gì cắn, máu thịt mơ hồ! Có một thân binh còn sống sót co rúc trên mặt đất, sợ tới mức run rẩy kịch liệt kêu la thảm thiết.
- Chuyện gì xảy ra!
Tiêu Sở giơ tay kéo dậy thân binh kia và lớn tiếng hỏi.
Trông thấy Tiêu Sở, thần trí thân binh đó khôi phục hai phần, hắn run lẩy bẩy chỉ vào màn đêm hắc ám nơi xa, hàm răng va cầm cập: - Có... có quỷ! Tôi... Chúng tôi mới đến nơi này, liền, liền nhìn thấy trên đất có cái gì đó đang nhúc nhích! Tưởng là gian tế quân Hán trà trộn vào, tôi, chúng tôi vội vã xông lên. Vật kia từ trên đất nhảy bổ lên cắn chết hai người họ, sau đó nháy mắt đã không thấy tăm hơi! Là quỷ, là ác quỷ! Tôi thấy hàm răng nanh máu me nhầy nhụa! Tôi thấy rõ mà!
- Nói bậy!
Tiêu Sở bạt tai đánh bay gã binh lính đó: - Làm sao có quỷ! Rõ ràng là ngươi nhìn lầm rồi!
Gã bước lại gần hai cỗ thi thể đó quan sát, chỉ thấy vết cắn đoạt mệnh trên người hai thân binh. Xương cốt trên cổ cơ hồ nát nhừ, yết hầu còn đang sủi bọt máu lộ ra bên ngoài.
- Gia tăng thêm người! Tới bên thôn đó lục soát! Nhất định là có dã thú gì đó, lại dọa cho ngươi sợ bể mật rồi!
Tiêu Sở lớn tiếng quát.
Binh lính kia lau máu trên khóe miệng, lạnh run: - Tôi không nhìn lầm, thật sự có thứ gì đó trên đất, thật sự có thứ gì đó trên đất!
Tiêu Sở thấy bọn lính đều bị hắn dọa cho khiếp đảm, lập tức muốn bắt lại tên thân binh đã bị dọa cho bể mật gần chết. Bỗng nhiên, một cái bóng đen khổng lồ nhảy xổ ra trong bóng tối! Một luồng hơi thở dã thú nồng đượm xộc vào khoang mũi gã, gã còn chưa kịp phản ứng, một cái miệng máu to đùng đã há toang hoác hiện ra trước mặt gã!
Thứ đó một ngụm cắn vào trên cổ Tiêu Sở, răng nanh sắc bén dài đuỗn cắm vào trong cổ gã, ngay sau đó cái đầu to dùng sức vung vẫy, thân hình hơn trăm cân của Tiêu Sở ở trong mồm con vật nọ run rẩy như sợi mì, trong khoảnh khắc đầu gã bị cắn đứt!
- Tướng quân!
- Tướng quân!
- Mau cứu tướng quân!
Đám lính Khiết Đan hô to gọi nhỏ, lại không ai dám xông lên phía trước.
Mượn ánh đuốc, mọi người rốt cục thấy rõ con quái vật lớn kia quả thật là một con dã thú! Bộ lông bóng lưỡng màu đen mượt mà như tơ lụa, thân hình cao chừng một người, toát ra khí phách và dã tính bừng bừng!
Chính ngay lúc đám người đó đang kinh hãi hô hoán, thình lình có vô số binh lính áo giáp đen lao ra từ trong bóng tối, hệt như quỷ tốt hiện thân từ cõi địa ngục u minh, quơ binh khí giết tới. Xem phương hướng thì đúng là từ cái thôn hoang phế xông lại. Những con quỷ tốt Minh giới kéo xuống mặt giáp cứ như thật sự từ dưới lòng đất chui lên, thoắt cái đã vọt tới trước người Khiết Đan.
Phốc một tiếng, một gã võ sĩ Khiết Đan đã bị một đao của âm phủ binh áo giáp đen chém đứt sọ não.
- Là hoành đao!
Có kẻ hô to.
- Quân Hán! Quân Hán tập kích đêm!
- Tập kích đêm!
Tiếng kêu gào thê lương không ngừng vang lên, cảnh báo đến các đồng chí ở hậu phương đằng xa. Nhưng tất cả đều đã chậm, ban ngày người Khiết Đan đã điều tra, trong thôn hoang phế đó không có lấy một người. Chẳng hiểu sao, đến đêm tối lại có nhiều quân Hán tinh nhuệ lao ra từ trong thôn như vậy! Có người Khiết Đan không kềm nổi mà phỏng đoán, lẽ nào, Hán Vương có thể mượn quỷ binh?
Hai ngàn lính Hán tinh nhuệ một hơi tràn vào chém giết trong doanh địa Khiết Đan, tuy rằng trước đó Tiêu Sở đã hạ lệnh mọi người chuẩn bị nghênh địch, nhưng không ai lường trước người Hán không phải từ Thái Nguyên giết tới, mà là từ sau lưng họ đánh tới! Quân Hán như những con quỷ tàn nhẫn, từng đao từng đao bổ ngã quân Khiết Đan còn đang bối rối hoang mang. Do quân Hán đã giết vào doanh địa, vả lại căn bản không biết quân Hán tiến vào bằng cách nào, đại bộ phận võ sĩ Khiết Đan đều bị một tiếng thét “quỷ binh” kia dọa cho sợ bể mật khiếp vía. Kẻ thù đột nhiên xuất hiện, giống như mượn đường từ âm phủ trực tiếp giết vào doanh địa.
Trong bóng đêm, trong ánh lửa, từ ánh mắt giấu sau mặt giáp phản xạ ra ánh sáng âm u lãnh khốc, sát ý vô tận.
Một võ sĩ Khiết Đan vừa mới nhảy lên lưng ngựa, liền bị một gã tướng lĩnh quân Hán nắm lấy đùi của gã kéo xuống khỏi lưng ngựa. Dưới tiếng hô van nài tha mạng bi ai vô ngần của võ sĩ Khiết Đan, tướng lĩnh quân Hán ác nghiệt chém xuống một đao cắt đầu người Khiết Đan. Tướng lĩnh quân Hán này đẩy lên mặt giáp, duỗi đao về phía trước, quát to: - Xông lên, bám lấy lũ bại binh! Không cần lo đám Khiết Đan ở phía sau chạy mất, xông lên trước!
Cùng với tiếng hô to của hắn, vô số quân Hán áo giáp đen từ phía sau hắn xông lên trước.
Hơn tám ngàn Lang kỵ Khiết Đan lại bị hai ngàn bộ binh quân Hán đuổi giết! Lấy tướng lĩnh quân Hán đó làm mũi nhọn tiến công, đội ngũ quân Hán giống như lưỡi đao hung hăng rạch mở doanh địa Khiết Đan. Người Khiết Đan bị phân cách hoàn toàn đánh mất ý chí chiến đấu, bọn chúng thậm chí vứt bỏ cả chiến mã của mình nhếch nhác trốn chạy về hướng bắc. Còn đám quân Hán giết đỏ cả mắt thì truy sát sít sao sau lưng chúng, dùng hoành đao xé rách sau lưng không chút phòng bị của chúng.
Trận tàn sát kéo dài chưa tới nửa canh giờ, không dưới ba nghìn kỵ binh quân Hán từ hướng Thái Nguyên đuổi giết tới. Sau khi kỵ binh quân Hán gia nhập, trận chiến này đã hạ màn.
Kỵ binh quân Hán phân thành các tiểu đội, như những cái cào liên tục cắt tỉa doanh địa Khiết Đan, qua lại cắt trên máu thịt người Khiết Đan, hung hăng cắn xé ý chí chiến đấu của người Khiết Đan.
Đại quân tiên phong Khiết Đan do hơn tám ngàn kỵ binh hợp thành, chưa tới một canh giờ đã bị giết sạch sẽ!
Ly Yêu Na Nhan biết, người Hán có thói quen đào hầm cất chứa đồ vật, nhưng hiển nhiên... Tiêu Sở không biết. Hơn nữa, có đôi khi hầm, còn có thể giấu người đấy.
Thù hận.
Hoa Linh tự mình mang binh đánh tan quân tiên phong Đại Liêu nên về tới Thái Nguyên y cười ha hả. Sau một cuộc thảm sát đầm đìa người núp trong hầm ngầm đông cứng tứ chi như được mở ra, y cười thể hiện tất cả những niềm vui ra mặt.
- Thật sảng khoái!
Hoa Linh vừa đi nhanh vừa cười nói:
- Vương gia, thật sảng khoái!
Lưu Lăng cố ý tỏ sắc mặt nghiêm nghị, cứng rắn nói:
- Đường đường là Tiết độ sứ lại tự mình chạy đến đánh phục kích người Khiết Đan.
Hoa Linh ngượng ngùng cười cười nói:
- Do không phải mấy ngày nay nghẹn khuất ư, nếu không đi ra ngoài hoạt động một chút thuộc hạ sợ tay chân không hoạt động nổi, Vương gia.... Chém đầu mười bốn người, tiêu diệt toàn bộ quân tiên phong của Khiết Đan không lẽ thuộc hạ không có chút công lao nào sao?
Lưu Lăng vung tay nói:
- Tự tiện ra khỏi doanh trại ta còn chưa tính sổ vậy mà còn dám chạy theo ta tranh công, thưởng phạt ngang bằng một đồng tiền thưởng cũng không đưa cho ngươi.
Hoa Linh không chút nản lòng ngược lại còn cao hứng như đứa bé nói:
- Thật sự không truy cứu? Đa tạ vương gia.
Lưu Lăng cười cười nói:
- Chiến lực người Khiết Đan thế nào?
Hoa Linh nói:
- Ngoại trừ thân binh của chủ tướng thì chiến lực của người Khiết Đan không lớn mạnh như trước. Trong bóng đêm cũng không nhìn rõ lắm nhưng khẳng định hầu hết binh lính khoảng mười bốn mười lăm tuổi chiếm phần đông. Những tên này rõ ràng không trải qua chiến sự, thấy máu đổ liền đứng gào khóc, ngay cả đao cũng không cầm nổi, thật không biết Da Luật Hùng Cơ có dũng khí thế nào mà nghĩ rằng dựa vào những tên hài tử này có thể thắng trận.
Y ngẫm nghĩ một chút nói:
- Thuộc hạ cố ý quan sát, trong binh người Khiết Đan số lượng lão tướng không nhiều, thập trưởng, đội trưởng, bách phu trưởng ở cấp quân đều do lão quân đảm nhiệm. Thông thường nếu giết đội trưởng của một nhóm thì số binh lính còn lại liền giải tán, một chút ý chí chiến đấu cũng không có. Trong chuyện này có lẽ do gặp tập kích đột ngột nên bối rối, nhưng thấy phản ứng của chúng thì biết được bọn chúng chưa được huấn luyện.
- Trong thời gian nửa năm chiêu mộ đến bảy trăm ngàn tân binh, hơn nữa còn gấp gáp phái ra chiến trường nên có thể thấy được ngày tận thế của người Khiết Đan tới rồi.
Hoa Linh cảm khái nói.
Lưu Lăng gật đầu nói:
- Cũng không nên quá khinh địch, hơn mười ngàn quân tiên phong của người Khiết Đan khẳng định không phải quân Da Luật Đức Quang. Hơn nữa ngay cả người dưới trướng của Hỏa Kiêu Linh Hồ và Tốc Ca cũng đều là tân binh, Liêu quân tinh nhuệ chân chính Đại Đồng phủ đều trong trướng Da Luật Đức Quang, lần này xuôi Nam gã ta mang theo hai mươi mấy vạn đại quân, ít nhất trong nửa số quân là chiến lực dũng mãnh tinh nhuệ. Hơn nữa Da Luật Hùng Cơ tự mình suất lĩnh hai trăm ngàn Cung Trướng quân xuôi Nam mới là quân chủ lực Liêu quân, hai trăm ngàn Cung Trướng quân đủ để chống đỡ được với năm trăm ngàn tân binh.
Hắn cười nói:
- Tuy nhiên, quyền chủ động trong tay chúng ta ngày tận thế của người Khiết Đan đến rồi.
Hắn cười giải thích:
- Miễn phải bàn đến chuyện Ngôi Danh Nẵng Tiêu sẽ không trơ mắt nhìn phòng thủ Liêu quốc lỏng lẽo mà không đánh, nhất là đối với những người thường xuyên bị người Khiết Đan ức hiếp như người Thất Vi, người Mạt Hạt, người Bột Hải cũng sẽ ý thức được mà nhân lúc cháy nhà đi hôi của nhất là người Mạt Hạt. Không nên xem thường dân tộc ở nơi vùng đất Đông Bắc lạnh giá kia, theo Viện giám sát thì người Mạt Hạt nếu dốc toàn lực có thể gom được một trăm ngàn nhân mã.
- Cũng vì người Mạt Hạt tương đối mạnh mẽ nên mấy năm nay Da Luật Hùng Cơ đối với bọn họ chèn ép vô cùng tàn nhẫn. Hàng năm người Mạt Hạt phảái nộp cho Liêu quốc lượng lớn da, thổ sản vùng núi, còn có vàng bạc, đặc sản vùng biển. Người Mạt Hạt sớm mang lòng oán hận đối với họ cho nên thừa dịp Liêu quân dốc hết toàn lực người Mạt Hạt sẽ không bỏ lỡ cơ hội. Nếu không có gì bất ngờ xảy ra, Đông Tây Liêu Dương phủ Liêu quốc sẽ không yên ổn.
- Người Mạt Hạt?
Hoa Linh đối với dân tộc này hiểu khá rõ:
- Đông Kinh Liêu quốc Liêu Dương phủ là nơi người Khiết Đan phát tích, trọng binh phòng thủ, nơi này người Mạt Hạt có thể uy hiếp được Liêu Dương phủ sao?
Lưu Lăng gật gật đầu không nói gì.
Người khác không biết nhưng Lưu Lăng biết người Mạt Hạt sau khi đổi tên lại gọi là người Nữ Chân mới giết sạch địch nhân vốn có là Liêu quốc hùng mạnh. Sau khi Liêu quốc bị tiêu diệt người Nữ Chân tạo dựng nên Kim quốc, trong lịch sử người Hán bọn họ tương đương như người Khiết Đan thậm chí so với người Khiết Đan còn hung ác hơn. Cho dù nhiều năm sau này người Mãn Châu giữ kiểu tóc tết đuôi sam đó không phải là hậu duệ của người Nữ Chân ư?
Sau khi Trung Quốc từ một nửa tư bản chủ nghĩa trực tiếp biến thành xã hội nô lệ người Mãn Châu, Lưu Lăng một chút hảo cảm cũng không có. Một năm nào đó, sau trận ôn dịch phía Bắc Hoàng Hà, hai trăm ngàn quân Minh tinh nhuệ hoàn toàn bị tiêu diệt, Lý Tự Thành có thể thành công chiếm lĩnh Bắc Kinh, sau đó Ngô Tam Quế thả người Mãn Châu nhập quan, thật chẳng khác nào dẫn dụ đến một đám dã lang hung ác. Nếu không phải người Hán tự mình đánh mất thiên hạ, không lẽ một trăm ngàn nhân binh Mãn Châu thật sự có thể vô địch thiên hạ sao?
Cho nên trong thời đại này những người khác xem người Mạt Hạt như là dã nhân nhưng Lưu Lăng thì bắt đầu xem trọng dân tộc này.
Nếu đến đây, sẽ tận hết khả năng để tiêu trừ tiếc nuối lớn nhất trong lịch sử.
- Để Trường Bạch sơn và Hắc Long giang loạn lên thì thu thập lại dễ dàng hơn.
Lưu Lăng thản nhiên nói, giọng nói lộ ra vẻ tự tin mãnh liệt.
Hắn hướng ánh mắt nhìn về phía phương Tây cười nói:
- Ngôi Danh Nẵng Tiêu còn đang chờ cục diện rõ ràng hơn, bất quá hắn đợi càng lâu thì càng có lợi cho Đại Hán, chờ khi hắn ngồi không yên chạy đến Liêu quốc đoạt lương thực cùng Nữ Chân, lúc đó liệu hắn có quên ta đang ở phía sau nhìn hắn không nhỉ?
Hoa Linh nghiêm nghị, lần này Vương gia đặt cược khá lớn, lớn đến mức có thể thay đổi diện mạo thiên hạ.
Quân Hán mở màn trận chiến ở Thái Nguyên, trảm hơn tám ngàn quân địch, bắt được hơn vạn ngựa tốt. Hơn tám nghìn quân Khiết Đan đêm hôm đó chết trận hơn ba nghìn người, bị quân Hán bắt làm tù binh gần năm ngàn người. Đúng như Tiêu Sở trước khi chết nghĩ quả thật Hán Vương không phải là một quân chủ nhân từ, hơn năm ngàn tù binh bị chém chết không còn một mống dưới thành Thái Nguyên. Ngay khi quân tiên phong Khiết Đan đóng quân ở địa phương kia Lưu Lăng đã hạ lệnh dùng tám ngàn đầu người chất thành một tòa núi nhỏ.
Khí trời lạnh mang tám ngàn đầu người chất thành một chỗ, biến thành một chỉnh thể.
Đầu người chất thành quả núi, binh lính quân Hán dựng lên tấm biển cao một trượng, bên trên dùng máu người Khiết Đan viết một hàng chữ đầy sát khí khiến cho người nhìn vào tim đập chân run.
"Phạm vào thiên uy người Hán ta, giết không tha".
Lưu Lăng cũng không lo lắng khi làm thế sẽ kích thích ý chí chiến đấu của người Khiết Đan, ngược lại khiến người Khiết Đan phẫn nộ càng muốn tấn công thành Thái Nguyên báo thù thì người Khiết Đan lại càng tổn thất hơn nữa. Đừng quên chế định sách lược ban đầu Lưu Lăng chính dùng tối đa khả năng giết chết nam nhân của tộc người Khiết Đan, khiến một quốc gia nhanh chóng suy bại cũng chẳng khác nào dùng thủ đoạn giết sạch nam nhân dân tộc này.
Nếu không thể giết hết thì tận lực giết càng nhiều càng tốt.
Với phòng ngự thành Thái Nguyên Lưu Lăng thật không đem hai trăm ngàn nhân mã của Da Luật Đức Quang để vào mắt. Trong thành có mười sáu vạn quân Hán cho dù bình nguyên dã chiến với lực quân Hán hơn nữa còn có uy lực hỏa lực muốn thắng không phải là không được huống chi là thủ thành?
Sở dĩ mang một trăm ngàn đại quân ẩn núp đi chính bởi Lưu Lăng đang chờ Da Luật Hùng Cơ đến.
Ngày thứ hai, hai trăm ngàn đại quân Khiết Đan trùng trùng điệp điệp mà đến nhưng khí thế của bọn họ khi nhìn thấy đầu người chất cao bảy tám mét thì hoàn toàn tan rã, bọn họ đã biết hơn vạn quân tiên phong hoàn toàn bị tiêu diệt nên vì muốn báo thù mới không ngừng nghĩ phi đến nơi này báo thù. Chỉ có điều người Khiết Đan không dự liệu trước người Hán lại ác độc tàn nhẫn như thế.
Hơn tám ngàn đầu người mỗi một khuôn mặt đều có hai mắt mở trừng.
Đầu người chồng chất lên không chỉ khiến người Khiết Đan kinh sợ mà bọn họ càng nhục nhã.
Da Luật Đức Quang tách người ra đến phía trước, ngẩng đầu lên nhìn đầu người đông cứng chất chồng vẻ mặt y càng lúc càng dữ tợn lập tức rút loan đao nói lớn:
- Giết sạch bọn người Hán này.
- Giết sạch bọn người Hán này!
- Giết sạch người Hán!
Binh lính quân Khiết Đan đều rút loan đao gầm hét phát tiết những phẫn nộ và sợ hãi trong lòng. Đúng vậy không chỉ có phẫn nộ, không ai nhìn thấy núi đầu người máu me nhầy nhụa kia lại không sợ hãi. Bọn họ dùng sự hò hét để cố gắng tìm thêm can đảm cho mình cũng là để tiễn biệt người chết.
Da Luật Đức Quang phái người mang vài vạt dầu tạt lên núi đầu người, sau đó chất củi lên đốt. Người trên thảo nguyên không có thói quen dùng lửa để chôn cất nhưng hiện tại không thể không dùng lửa để tiễn đưa người chết đến thiên đường. Lúc này ngay cả quân coi thành Thái Nguyên dường như cũng đều có thể ngửi được mùi cháy khét nhưng không một ai tỏ vẻ thương hại. Cũng không nghi ngờ gì nếu ngoài thành người Khiết Đan phát động tiến công thì bọn họ cũng không do dự mà cắt lấy đầu của địch nhân, vì mỗi người bọn họ đều bết rằng nếu để đánh bại đối phương thì người Khiết Đan cũng làm như thế.
Khói đen ngút trời có thể mang linh hồn người chết lên thiên đường, trời không cho tuổi thọ cao cũng có thể phù hộ cho người Khiết Đan cầm loan đao giết người.
Da Luật Đức Quang phát tiết tức giận bằng cách cho san bằng cái thôn kia, một mồi lửa đốt sạch sẽ. Binh lính người Khiết Đan phát tiết lên vách tường đất, phòng ốc, chúng như điên giơ đao chém loạn lên thân cây, nhìn giống như bọn chúng không chém lên thân cây mà chính vào người Hán.
Thù hận thường khiến người ta mất đi lý trí.
Mà thù hận thường thường tự mình mang đến cho mình.
Quỷ mới.
Da Luật Đức Quang không bị sự phẫn nộ làm cho chùn bước mà ngược lại vẫn trực tiếp ra lệnh cho đại quân tấn công thành Thái Nguyên, gã ta trút sự tức giận của mình thông qua việc chỉ huy quân đội. Hai trăm ngàn đại quân tấn công vào thành Thái Nguyên bằng ba đường Tây Môn, Bắc Môn, Đông Môn chỉ lưu lại Nam Môn.
Gã làm thế không phải để lưu lại cho quân Hán trong thành một con đường sống mà ngược lại nếu có thể thì ngay cả con gà con chó gã cũng không bỏ qua, cho dù không có tám ngàn đầu người kia thì huyết tẩy thành Thái Nguyên là sách lược tốt nhất mà gã đưa ra. Lưu Lăng ra mệnh lệnh giết sạch tù binh chất thành núi là vì gây kinh sợ kẻ thù, Da Luật Đức Quang biết điều này, nếu đổi lại là gã thì gã cũng làm thế, tàn sát gần tòa thành cho thấy việc người Khiết Đan xuôi Nam là hành động đáng sợ đối với người Hán.
Nếu muốn thắng lợi trong chiến tranh mà không có giết người thì không thể nào đánh thắng được.
Da Luật Đức Quang chỉ có chút buồn bực và bất đắc dĩ khi phát hiện ra không biết tự lúc nào người Hán bắt đầu thoát khỏi trói buộc nhân nghĩa đạo đức. Trong ấn tượng của gã người Hán bên trong dù có giết người không gớm tay thì khi chiến đấu với bên ngoài cũng giả vờ giả vịt làm bộ dạng là quân tử, nào là không giết tù binh, nào là đối xử tử tế với dân chúng, nào là không giẫm lên hoa màu, nào là không thể gian dâm bắt người cướp của hay giả nhân giả nghĩa không phóng hỏa đốt nhà mà trước đó người Hán biểu hiện. Tùy Dương đế không phải đã làm chuyện ngu ngốc như đến Liêu Đông thành tiếp nhận sáu lần đầu hàng của quân Cao Lệ sao? Việc ba trăm ngàn phủ binh tinh nhuệ bị người Cao Lệ cắt đầu treo tường thành, quan viên Đại Tùy không phải hay nói người Cao Lệ giết người không gớm tay sao?
Cho dù bị người ta khi dễ đến mức nào người Hán vẫn lấy lý luận quân tử tranh luận chứ không động thủ sao? Cho dù bị người ta đoạt lấy đất đai, lương thực, nữ nhân không phải người Hán nói không chấp nhặt với man nhân Tái Bắc sao?
Không phải người Hán đề xướng lấy nhân nghĩa cảm hóa sao?
Vì sao quân Hán của Lưu Lăng thì khác, không phải nếu là người Hán thì đều tôn sùng đạo lý kia sao?
Quân Hán này giết người so với người Khiết Đan còn độc ác hơn, đồng cỏ phía Bắc Trường Thành bị người Hán đốt đâu chỉ một lần?
Da Luật Đức Quang mơ hồ cảm thấy người Hán đã không còn là dê con để mặc người ức hiếp nữa.
Hai trăm ngàn đại quân vây khốn thành Thái Nguyên sau đó bắt đầu dựng doanh trại, ngày thứ hai khi mặt trời mọc một đội kỵ binh bảo hộ một gã tướng quân Khiết Đan đến ngoài Bắc Môn thành Thái Nguyên. Tướng quân kia cao giọng chiêu hàng, tuyên bố chỉ cần quân Hán mở cửa đầu hàng Thái tử Điện hạ Đại Liêu sẽ nhân từ tha chết, tuyệt đối không giết một ai, không phá hủy dù chỉ một cọng cây ngọn cỏ. Quân Hán thủ thành đối với biểu hiện thành ý của Da Luật Đức Quang vô cùng cảm động vì thế dùng một mũi tên bắn xuyên vào tướng lĩnh Khiết Đan đang thao thao bất tuyệt.
Sau đó mấy ngàn quân Hán trên tường thành hô lớn:
- Thích thì đánh.
Những quân sĩ Khiết Đan còn lại chật vật lui về đại doanh, ngay cả tướng lĩnh chưa chết kia cũng không cần. Một lát sau có lẽ cảm giác có chút mất mặt nên một đội kỵ binh nhanh chóng vãi dây thừng theo kiểu thắt chó thắt vào cổ tướng lĩnh Khiết Đan kia kéo trở về.
Quân lính trên tường thành cười rộ lên, tiếng cười như dao nhọn đâm vỡ sự kiêu ngạo của người Khiết Đan. Mười mấy năm trước nếu lang kỵ Khiết Đan xuôi Nam mà nói ... Quan viên Bắc Hán này không ai không ngoan ngoãn mở cửa thành quỳ gối như chó ngoan vẫy đuôi mừng chủ? Dù một bách phu trưởng có thể dùng roi quất chết một Quận thủ Bắc Hán, sau đó trước mặt mọi người lăng nhục con gái Quận thủ kia, lúc đó người Hán ai dám đứng ra?
Mới mười mấy năm thói đời đã thay đổi rồi sao?
Là người Hán trở nên mạnh mẽ hay Đại Liêu trở nên yếu đi?
Da Luật Đức Quang không tìm thấy đáp án, gã chỉ biết nếu muốn khôi phục địa vị bá chủ của Đại Liêu nhất định phải hung hăng giáo huấn bọn người Hán này.
Người Khiết Đan dựng doanh trại với tốc độ rất nhanh, lều trướng mang theo trong quân nhanh chóng dựng lên, nhanh chóng chặt cây cối lân cận, dựng cự mã phía trước doanh trại. Đại doanh kéo dài hơn mười dặm thoạt nhìn như một mảnh đồi núi nhấp nhô, từng lều trướng thật giống như những mộ phần.
Dân chúng bị cường bắt từ Đại Đồng phủ hay dân chăn nuôi trên thảo nguyên bị quân bắt đến ở phía sau dựng doanh trại. Đội ngũ người Khiết Đan mỗi ngày đều bày binh bố trận đến cửa thành Thái Nguyên chửi bậy, dùng từ ngữ thảo nguyên và Hán ngữ hỗn loạn, ngay cả chính bọn họ nghe cũng không hiểu rõ rốt cuộc bọn họ nói gì. Dù bọn chúng dùng ngôn ngữ gì hay động tác gì để vũ nhục mắng nhiếc hay gào thét thì quân Hán trên tường thành như biến thành những kẻ điếc người mù làm như không nghe thấy.
Hơn mười ngày trôi qua người Khiết Đan cũng cảm thấy không còn thú vị nữa.
Sau khi doanh trại được dựng xong Da Luật Đức Quang triệu tập hai vạn binh mã bắt đầu thử tấn công Bắc Môn thành. Lần xuôi Nam này người Khiết Đan mang theo lượng khí giới công thành, lần trước vì gấp gáp xuôi Nam khiến bọn họ ăn đủ vì không có vũ khí công thành, hơn mười vạn đại quân bị chết ở dưới thành người Hán. Một vạn người áp trận, vạn người còn lại phụ giúp công thành, nào mang thang thậm chí lập tháp bao vây, người đông nghịt hướng thành Thái Nguyên lao qua.
Người Khiết Đan tốn số tiền lớn thuê người Ba Tư, những người nay chỉ huy dân phu lao động qua lại lắp ráp pháo. Bọn họ tự cho mình là người thông minh cao quý, tay cầm roi không ngừng quất vào những người tay chân vụng về. Pháo dân tộc Hồi có uy lực rất lớn tấm bắn có thể đạt đến năm trăm mét trở lên. Bức tường đá không lồ có thể bị bắn thành lỗ hổng, vật như thế nếu có mấy trăm cái mà nói đối với phòng ngự của đối phương là cơn ác mộng.
Tuy nhiên người Ba Tư bị dọa bể mật khi chưa lắp ráp xong súng bắn thì bọn chúng trở thành mục tiêu đả kích của quân Hán. Sau đó mười mấy vật đen tuyền rơi xuống khiến súng dân tộc Hồi nổ thành từng mảnh. Tiếng nổ lớn khiến người trúng bị nhấc lên chôn lại ngay trong lòng đất, ngay cả người Ba Tư tự nhận là người có ưu thế trong phương tiện khí giới cũng không biết được vũ khí một lúc có thể giết chết một đám người rốt cuộc là vật gì.
Xem ra dường như so với pháo của dân tộc Hồi tầm bắn còn xa hơn.
Trên tường thành Thái Nguyên có hai mươi ổ hỏa pháo, loại này mới nghiên cứu chế tạo ra, tầm bắn của nó so với pháo của dân tộc Hồi không hơn nhau bao nhiêu, điều mấu chốt pháo quân Hán an trí trên tường thành. Việc này cũng như hai người có một hành động nhưng lực khác nhau, ví dụ một người đứng trên tường thành tiểu xuống còn một người đứng dưới tiểu hướng lên. Người đứng trên tường thành nhắm mặt người bên dưới tiểu xuống còn người bên dưới chỉ có thể tiểu ngay tại trên giày mình.
Nếu thuận gió người đứng trên tường thành tiểu xuống còn bén hơn mấy phần.
Vốn người Ba Tư kiêu ngạo mà mặt mày cũng xám ngắt, bọn họ không dám tiến vào tầm bắn của người Hán trên tường thành, cho dù Da Luật Đức Quang có cho tiền thưởng gấp đôi bọn họ cũng quyết định đi về nhà.... Không bao giờ xen vào chiến tranh của những người phương Đông. Trong cơn giận dữ Da Luật Đức Quang liền mang một trăm người Ba Tư ra chém đầu hết, đã giảm đi không ít vàng bạc phải cấp cho người Ba Tư.
Không được sự ủng hộ của vũ khí, Da Luật Đức Quang vẫn ra lệnh cho đại quân công thành.
Một vạn kỵ binh rời bỏ chiến mã trở thành bộ tốt, mang thang di chuyển đến để công thành. Hai ngàn tinh binh phía trước dẫn đầu với ý đồ dùng cung tiễn áp chế quân coi giữ tường thành, người Khiết Đan cưỡi ngựa bắn tên từ trước đến nay là điều tự hào của bọn chúng, lúc trước bọn chúng đều thuận lợi khi dùng thủ đoạn này.
Hai nghìn kỵ binh còn chưa tiến đến nơi có tầm bắn để giương cung thì trên tường thành Thái Nguyên xe nỏ và xe ném đá hỏa dược đã bắt đầu phát uy.
Với sự xuất hiện của hỏa pháo, xe ném đá hỏa dược vận chuyển không tiện dần dần được loại bỏ nhưng trong trận chiến này binh lính công thủ dày đặc, xe ném đá hỏa dược lực sát thương lớn tác dụng pháo không thể so sánh được. Hơn nữa vì mới nghiên cứu chế ra pháo chủ yếu trang bị trên các chiến hạm của Thủy sư Đại Hán, hai mươi ổ hỏa pháo trang bị trên tường thành là được gấp rút chế tạo ra chuẩn bị cho thủy sư nhưng Lưu Lăng ra lệnh tất cả mang đến Thái Nguyên bài trí ở Bắc Môn, Tây Môn, Đông Môn đều có sáu hỏa pháo.
Nỏ lớn hơn một trượng từ trên trường thành bắn xuống, có thể khiến đội kỵ binh Khiết Đan cả người lẫn ngựa đóng đinh trên mặt đất, nếu nỏ bị bắn lên người có thể đánh gãy người. Cơ quan đẩy tên nỏ có độ mạnh rất lớn, đánh vào đám đông có thể khiến một lần mười mấy người xuyên thành mứt quả.
Quân Hán có nỏ xe, người Khiết Đan cũng có nỏ xe.
Sau khi kỵ binh bị tổn thấy thê thảm và nghiêm trọng, tướng lĩnh Khiết Đan công thành bắt đầu triệu tập nỏ xe oanh kích cửa chính thành Thái Nguyên và quân Hán trên tường thành. Chỉ có điều so với quân Hán mà nói nỏ xe người Khiết Đan dù có số lượng lớn nhưng chất lượng vẫn kém hơn một bậc. Khi nỏ xe người Khiết Đan đẩy lên từ phía sau quân Hán bên này yên lặng trong chốc lát bắt đầu cho pháo phát uy. Chỉ có điều độ chính xác hai bên không cao, sau khi chiến nửa canh giờ nỏ xe người Khiết Đan bị đánh hỏng hai mươi mấy cái, cửa thành Thái Nguyên ngay cả miếng ván cửa cũng chưa được đánh xuống.
Không phải uy lực nỏ xe của người Khiết Đan không đủ lớn nguyên nhân đơn giản Lưu Lăng tăng thêm một tầng áo giáp trên cửa thành. Bên ngoài cửa thành Lưu Lăng phái thợ thủ công đúc một khối sắt nặng ngàn cân, đóng thanh sắt bên ngoài từ trên xuống dưới, cửa thành bằng gỗ bị thiết áp lại bên trong. Tên nỏ đánh vào thiết áp trên cửa ngoại trừ chút ánh lửa chạm vào thì không có chút ảnh hưởng gì cả.
Thoạt nhìn thủ đoạn công kích thành Thái Nguyên đối với người Khiết Đan không có chút hiệu quả nhưng không phải do người Khiết Đan không có khả năng mà do Lưu Lăng nhằm vào sự công kích của Khiết Đan mà chuẩn bị đối sách. Mỗi thủ đoạn của người Khiết Đan Lưu Lăng dường như đoán trước được, dù là pháo của dân tộc Hồi người Ba Tư vẫn nhằm vào công kích cửa thành Lưu Lăng cũng sớm nghĩ ra biện pháo ứng đối, phải thủ vững thành Thái Nguyên mới tính toán đến thời cơ phản kích, nếu không có bản lĩnh ứng đối thì không phải quá vô năng sao?
Các loại vũ khí cơ bản không thể tạo nên thương tổn đối với thành trì quân Hán, người Khiết Đan chỉ chỉ có thể kiên trì công thành.
Tháp công thành cao gần bằng tường thành được mấy trăm người phụ giúp chậm chạp di chuyển về phía trước. Trong một vạn người có một nửa binh lính công kích một nửa còn lại đều là đẩy xe. Đẩy chùy công thành, tháp công thành, đẩy nỏ xe, chỉ một chiếc tháp công thành cũng mất ít nhất năm trăm tên lính mới có thể đẩy được, nó cao mười trượng, làm hai tầng mỗi tầng có thể đứng được ba mươi danh cung tiễn thủ.
Một bên tháp công thành có treo cây thang, chỉ cần tới gần tường thành là có thể bắc lên được tường thành. Như vậy một nhóm binh sĩ có thể từ tháp công thành trực tiếp xông lên tường thành, cung tiễn thủ ở tháp công thành có thể áp chế quân coi giữ tường thành, đây là một khí giới công thành khá lớn. Chỉ cần tháp công thành tới gần trên cơ bản xông lên tường thành là việc hết sức đơn giản.
Ý nghĩ tấn công của người Khiết Đan bị quân Hán dùng vũ khí đánh trả, một vạn người tiến một vạn người sau lập tức khởi động biến thành tiến công vũ bão.
Một ngày này địa ngục nhận không ít quỷ mới có thân mình không trọn vẹn.
Vũng máu.
Khi chỉ còn cách hai trăm bước pháo và nỏ xe quân Hán đồng thời phát uy, tập trung hỏa lực đả kích tháp công thành của người Khiết Đan. Về phần cây gỗ lớn một ngàn cân làm chùy công thành nhưng họ cũng không cần quan tâm dù nó có thể va chạm vào cửa thành thì cũng không thể nào mở được. Mặc dù không mở được cửa thành nhưng nếu tháp công thành đến gần được tường thành thì cung tiễn thủ Khiết Đan sẽ khiến quân Hán trên thành tổn thương rất lớn.
Nói về tài bắn cung binh lính quân Hán không có chút ưu thế nào cả.
Thời gian trôi qua đại bộ phận tháp công thành đều bị quân Hán phá hủy nhưng vẫn có một trận chậm rãi đến gần tường thành. Người Khiết Đan đối với quân Hán trên thành phát động phản kích, chỉ có điều sáu bảy mươi cung tiễn thật sự không đủ để có thể thay đổi cục diện.
Cung tiễn thủ quân Hán dưới sự chỉ huy của tướng lĩnh liền bắn mũi tên như mưa xuống tòa hình tháp khiến những cung thủ Khiết Đan trong khoảng khắc liền biến thành con nhím. Nhưng tác dụng chủ yếu của tháp công thành vẫn còn, từ bên sườn dốc những quân sĩ Khiết Đan bắt đầu hướng tường thành leo lên, bọn họ bung loan đao như máy xay gió, dường như như thế thì mới có thể tăng dũng khí cho họ, làm như thế cũng nghĩ có thể dọa được những người Hán chết tiệt kia.
Có chết hay không, trên chiến trường lời nguyền rủa không bằng thả cái rắm, trong lúc thích hợp một cái rắm có thể hun chết một người trọng thương nhưng trong lòng nguyền rủa kẻ thù vạn lần cũng không khiến kẻ thù bị thương được. Những võ sĩ Khiết Đan đi tới từng bước từng bước bị cung tiễn thủ người Hán vô tình bắn chết, vì thời gian quá ngắn như vậy nhưng đối với phòng thủ quân Hán cũng không tốn sức.
Tháp công thành và chùy công thành đều mất đi tác dụng, người Khiết Đan chỉ mang hy vọng ký thác vào thang dây.
Ngoài hai trăm bước cung tiễn thủ quân Hán trên thành có thể gây nên lực sát thương cho người Khiết Đan. Võ sĩ Khiết Đan không thích dùng tấm chắn vào lúc này lại không có gì có thể giơ lên che đỉnh đầu. Bọn họ không phải bộ binh, không có trang bị lá chắn bộ binh, lá chắn kỵ binh quá nhỏ căn bản không đủ để chắn hết được mũi tên của quân Hán. Hai trăm bước bên ngoài thành là con đường tử vong, quân lính Khiết Đan xông lên tuyến đường này đều bị mũi tên lông vũ bắn hạ.
Nằm xuống giống như bị lưỡi hái cắt nắm lúa mạch, từng loạt từng loạt quân sĩ Khiết Đan bị mũi tên lông vũ bắn chết, vồ té trên mặt đất bất kể là người bị thương hay tử vong đều bị quân sĩ phía sau chen lên mà giẫm dưới chân. Vì không nhiều trọng giáp bộ binh mang thang xông lên trên mũi tên lông vũ bắn lên người bọn họ phát ra tiếng kêu leng keng không dễ nghe chút nào. Âm thanh này gần như âm thanh báo hiệu sự tử vong tuyệt không dễ nghe chút nào.
Một gã trọng giáp bị thi thể dưới chân cản té nhào ra, gã ta giẫy giụa muốn đứng lên nhưng bộ trọng giáp nặng ba mươi cân trên người khiến động tác của gã trở nên chậm chạp, một chân mới nhấc lên phía sau lưng gã lại bị người va đụng ngã xuống. Gã lớn tiếng quát mắng nhưng âm thanh kia nhanh chóng liền trở nên yếu ớt. Những binh lính Khiết Đan phía sau xông lên trước, nhắm ngay hướng tên trọng giáp bộ binh ngã mà đạp lên, máu từ khe hở áo giáp chảy ra khá nhiều.
Mấy trăm danh binh lính trọng giáp mang vài khung thang rốt cuộc cũng thành công áp lên tường, binh sĩ Khiết Đan đi theo sau miệng ngậm loan đao ra sức hướng lên trên mà leo. Được thuẫn bài thủ che chở nên cung tiễn thủ Khiết Đan cũng tiến nhập thành công, bọn họ tránh sau tấm lá chắn bắt đầu đánh trả giúp các binh sĩ công thành chia sẻ bớt áp lực. Mũi tên lông vũ trên không trung dày đặc chạm vào nhau sau đó cùng rơi xuống.
Kỹ thuật bắn của người Khiết Đan là hạng nhất, tuy rằng trong cung tiễn thủ này có một nửa là tân binh nhưng từ nhỏ đã được luyện bắn cung nên so với binh lính cũ cũng không kém là bao nhiêu. Điều bọn họ khiếm khuyết chỉ là kinh nghiệm chiến đấu và dũng khí. Cả hai bên không ngừng bị cung tiễn thủ bắn chết, quân Hán trên tường thành bị bắn rơi xuống mặt đất, những quân Hán này chưa chết cũng bị người Khiết Đan như bầy sói vây quanh chặt thành đống thịt nát, còn cung tiễn thủ Khiết Đan ngã xuống thì người phía sau liền bổ sung tiến lên.
- Nỏ xe, nhắm ngay thuẫn trận của người Khiết Đan, xé mở tấm chắn cung tiễn thủ phía trước cho ta.
Ưng Dương lang tướng Từ Tuyên quát lớn.
Hai chiếc nỏ xe gần bênh cạnh y lập tức chậm rãi quay tới hướng mấy hàng tấm lá chắn mà bắn. Bốn năm tên lính ra sức khuấy động bàn xoay vòng sau đó hai người mang một chi nỏ lớn nhét vào, người đội trưởng ra lệnh một tiếng kéo bàn thừng cự nỏ xuống, như thế một cây nỏ khổng lồ hung hăng tiến vào màn lá chắn của người Khiết Đan, uy lực của nỏ thật lớn khiến thuẫn trận bị xé một lỗ thật lớn, tấm lá chắn bằng gỗ mỏng manh căn bản không chịu được va chạm lớn như thế, trong nháy mắt liền vỡ vụn ra, binh lính cầm lá chắn trực tiếp bị nỏ xuyên qua ngực.
Tên nỏ hơn một trượng lớn được bắn ra đã phá thông tấm lá chắn thứ hai, sau đó đồng loạt cắt thuẫn bài Khiết Đan, nhóm thuẫn bài thứ ba sợ tới mức la to một tiếng, tiếng la còn chưa dừng lại tên nỏ bắn khiến bọn họ ngã nhào trên mặt đất, thân tên thô cỡ cánh tay mạnh mẽ nện trên trán bọn chúng, mũ nón sắt bị đánh rơi xuống đồng thời hộp sọ cũng bị vỡ.
Trong phút chốc tên nỏ thứ hai lại gầm thét bay tới.
Thuẫn trận một lần nữa lại bị xé mở, máu từ khe hở phun ra giống như thiết cày cứng rắn cày từng khe rãnh hồng trên người binh lính Khiết Đan.
- Nhanh lên! Còn chưa đủ!
Từ Tuyên lớn tiếng hô, mệnh lệnh hai khung nỏ xe cách đó không xa cũng chuyển động theo hướng oanh kích thuẫn trận của người Khiết Đan. Từ Tuyên là đệ đệ của Tiết Độ Sứ Hàng Châu Từ Thắng nhưng được làm Ưng Dương lang tướng, vị trí này không phải dựa vào anh trai y mà có. Hai huynh đệ trong người đều có bản tính khát máu, khi chinh phạt Nam Đường, công khắc Nam Xương Từ Tuyên là người đầu tiên xông lên tường thành, khi bị mấy chục tên binh lính Nam Đường vây khốn y chỉ dựa vào hoành đao mở ra con đường máu, một thân trọng thương mang theo loan đao đến chặt đầu tướng phòng Nam Đường sau đó ngửa mặt lên trời rít gào khiến các binh lính khác sợ hãi mà không dám tiến lên.
- Lý Liên, con mẹ nó ngươi làm lại một lần nữa, bảo người của ngươi oanh tạc đám cung tiễn thủ đó cho ta, cung tiễn thủ của ta thương vong quá lớn, con mẹ nó ngươi cứ như thế trơ mắt nhìn à.
Từ Tuyên đứng xa xa chỉ huy xe ném đá hỏa dược nhìn phía Lý Liên Lang tướng la lớn.
- Bắn rồi, con mẹ nó! Khoảng cách gần quá căn bản đánh không tới.
Lý Liên lau giọt mồ hôi lớn tiếng cãi lại.
Quả thật, xe ném đá hỏa dược trên tường thành cố định, điểm kê đầu quá cao, cung tiễn thủ Khiết Đan ngoài trăm dặm là góc chết của xe ném đá, hỏa dược bắn đi căn bản rơi ở phía xa không gây thương tổn cho cung tiễn thủ Khiết Đan.
- Mẹ nó, sớm biết thế làm thêm vài cái mặt ngựa.
Từ Tuyên lớn tiếng nói:
- Nỏ xe, tiếp theo đi.
Một canh giờ sau khi cuộc chiến diễn ra người Khiết Đan vô cùng thảm thiết rồi nhưng vẫn như cũ không lên được tường thành. Trọng giáp binh lính thật vất vả dựng đứng được thang lên tường thành thì bị quân Hán dùng móc câu hất khiến binh lính Khiết Đan kêu gào té xuống, bị thang đè lên khiến thịt nát xương tan. Không ít binh lính vọt đến dưới tường thành nhưng không tìm được phương pháp xử lý để lên thành. Bọn họ đứng dưới thành ngược lại trở thành bia ngắm cho quân Hán, mỗi lần lang nha phách buông xuống đều đập chết bốn năm quân lính Khiết Đan, mỗi lần quân Hán kéo lang nha phách lên, trên móc còn có máu thịt của người Khiết Đan.
- Tạt dầu! Tạt dầu!
Lý Liên ra lệnh xe ném đá tiếp tục đánh quân lính Khiết Đan nơi xa, rồi y chạy đến ra lệnh binh lính mang dầu nấu sôi tạt xuống tường thành. Dầu nóng từ trên xối xuống khiến trên người lính Khiết Đan nghe xèo xèo, có người dính phải dầu nóng lăn qua lộn lại bụm mặt khóc thét, có binh lính muốn cứu gã kéo gã vào nhưng giơ tay lôi thì kéo ngay lớp thịt từ trên da gã.
Dưới tường thành tiếng gào thét thảm thiết, binh lính bị bỏng chết là may mắn, binh lính bị bỏng lăn lộn trên đất mới thống khổ, có người bụm mặt chạy trở về, khi buông tay mới phát hiện mi mắt của mình bị dính xuống.
Rốt cuộc thuẫn trận của người Khiết Đan bị nỏ xe đả kích liên tiếp dần sụp đổ, mất đi yểm hộ đội tiễn thủ Khiết Đan trở thành đối tượng sát thương chủ yếu của quân Hán trong thành, nỏ lớn, mũi tên lông vũ đều phóng ra ngoài, cung tiễn thủ Khiết Đan không gánh được áp lực này đã bắt đầu thoái lui ra sau, nhưng lại bị người phía sau ngăn cản không lui về được.
Thi thể quân Hán trên tường thành rơi xuống đan xen cùng thi thể quân Khiết Đan, máu và máu quyện lẫn nhau chẳng phân biệt được địch ta.
Tháp công thành cuối cùng bị hai ổ hỏa pháo đồng thời đánh trúng mục tiêu, những tiếng rên thống khổ vang lên lập tức bị ngã xuống, những binh lính trên tháp công thành sợ hãi hô to, ôm chặt đầu nhưng không cách nào thay đổi kết cục là cái chết đang kề cận. Nó như con quái vật lớn đập chết binh lính Khiết Đan, những người trên cao rơi xuống lưng nện lên thanh gỗ với một lực rất lớn khiến thanh đầu gỗ dày hai mươi centimét trực tiếp xuyên qua tim gan phổi dạ dày, máu me ruột nhầy nhụa lồi cả ra ngoài.
Ánh mắt Da Luật Đức Quang đỏ thẩm nhìn binh lính dưới trướng từng người từng người chết trận dưới tường thành, tay gã nắm chặt thanh đao vì dùng sức lớn có thể thấy được mạch máu nổi lên trên mu bàn tay.
Từ lúc công thành đến giờ đã hai canh giờ trôi qua, chí ít có sáu ngàn người chết trận.
Tất cả lộ trình vận chuyển vũ khí và tháp công thành đều bị quân Hán phá hủy, nếu tiếp tục đánh chỉ càng nhiều binh sĩ chết mà thôi. Thời điểm xuôi nam gã nhớ rõ đứng trên đài nói với quân lính những gì, những lời nói hào hùng ủng hộ đầy nhiệt huyết với các binh sĩ khiến gã cảm động đồng thời cũng làm máu trong người gã sôi lên.
- Lang thần chúc phúc cho các dũng sĩ, hãy dùng loan đao giết hết những kẻ thù không phục các ngươi, các ngươi là những lang kỵ bách chiến bách thắng của Đại Liêu! Hãy khiến người Hán từng người từng người một phủ phục sợ hãi dưới chân các ngươi khi các ngươi đặt chân lên nước Hán, hãy khiến bọn họ dâng vàng bạc, lương thực và nữ nhân! Mỗi người các ngươi đoạt được đều thuộc quyền sở hữu của các ngươi, ta cam đoan những gì các ngươi thu được không cần nộp lên trên. Đi thôi nào, hãy khiến cho những con dê yếu đuối nếm thử hương vị của loan đao, khiến bọn họ biết cái gì gọi là chiến sĩ!
- Khi các người chiến thắng trở về không chỉ mang về nhà vô số châu báu và nô lệ mà cũng sẽ đem về sự phồn hoa của giang sơn vì Đại Liêu đánh hạ được Trung Nguyên phồn hoa. Mỗi tên tuổi của các người đều trở thành niềm kiêu ngạo của Đại Liêu.
- Khiến người Hán run sợ!
- Run sợ như loài dê!
Những lời này không ngừng lẩn quẩn trong đầu Da Luật Đức Quang, mỗi một câu nói đều kẹp từng dây thần kinh của gã.
- Gõ kẻng! Bảo binh lính rút quân!
Da Luật Đức Quang cắn răng hạ lệnh, mặt trầm như nước.
Gã ngẩng đầu nhìn phía tòa thành bị bao trùm máu đỏ, dường như nhìn thấy ánh mắt khinh miệt cùng khóe miệng cười nhạo của người Hán, dường như nhìn đến mặt màu lửa đỏ kiêu ngạo tung bay của chiến kỳ. Cờ xí phần phật tung bay trong gió dường như bay đánh phật lên mặt Da Luật Đức Quang.
Tra tấn.
Người Khiết Đan rút lui như thủy triều xuống, quân Hán trên tường thành làm sao có thể dễ dàng để kẻ thù rút lui như vậy, họ ra sức đem nỏ lớn, pháo hỏa dược bắn loạn vào không trung. Binh lính Khiết Đan khi lui được ra sau đến nơi an toàn thì hơn một nghìn thi thể nằm xuống, chỉ có điều những binh lính còn sót lại cũng không thấy vui sướng khi sống sót.
Rất nhiều binh lính trẻ Khiết Đan trên chiến trường vừa đi vừa không ngừng nôn mửa, cảnh tượng thảm thiết trên chiến trường đánh thẳng vào thần kinh bọn họ, nào máu tươi, mùi phân hôi thối trộn chung một chỗ khiến bọn họ không thể thích ứng được, những thi thể bị đập nát khiến bọn họ có thể cảm nhận được rõ ràng, điều này mới là địa ngục. Chiến tranh không phải trò đùa, mang tâm tư đến xem cuộc vui đến đánh giặc chỉ có thể bị đánh đến xây xẩm, răng rơi rụng đầy đất.
Hiện tại bọn họ cũng hiểu được xuôi Nam không đơn giản giống như cuộc săn bắn như trong tưởng tượng của họ, con mồi hùng mạnh có thể giết chết tất cả thợ săn. Kỳ thật thợ săn và con mồi đến lúc này dường như có sự chuyển hoán vị trí.
Lần đầu tiên thất bại khiến bọn họ không chỉ khảo nghiệm sự sống chết mà có thể đúc kết kinh nghiệm làm thế nào để sống sót. Đồng thời bọn họ có thể nhận thức rõ ràng thế nào là chiến tranh, đối diện với cái chết, người may mắn chỉ có thể gặp thoáng qua tử thần, người bất hạnh thì bị lưỡi hái tử thần lôi vào địa ngục, có lẽ trọn đời không thể siêu sinh.
Chiến thắng có thể đoạt được đất đai cùng nữ nhân nhưng đồng thời cũng trả một cái giá thật lớn. Làm một dân tộc hùng mạnh dần dần thức tỉnh và thể hiện khí lực, đoạt lấy người và người bị đoạt lấy cũng xảy ra chuyển hóa thân phận. Trong mấy thập niên qua người Khiết Đan đã đoạt lấy người và vẫn còn muốn đoạt lấy người nữa. Mà người Hán dưới sự dẫn dắt của Lưu Lăng cũng bắt đầu biểu hiện người đoạt lấy, mong muốn của họ càng nồng nặc hơn người Khiết Đan, hơn nữa thủ đoạn đoạt lấy của người Hán hiển nhiên âm tàn độc ác hơn.
Trong thành Thái Nguyên có nhiều lương thực, đồ quân nhu của cải và nữ nhân.
Đây là bánh ngọt thật to mà Lưu Lăng nhử người Khiết Đan, thoạt nhìn mùi hương thật mê người khiến người nhìn vào thèm nhỏ dãi.
Biểu hiện bên ngoài có vẻ thành Thái Nguyên bị động nhưng thực tế quyền chủ động vẫn nằm trong tay Lưu Lăng. Có đôi khi thủ đoạn đoạt lấy không phải chỉ đơn thuần xông đến nhà người ta giật đồ cũng có thể dùng đùi ngực để dụ dỗ đến nhà mình rồi ra chiêu đánh lén, sau đó lột lấy hết vật sở hữu trên người y sau đó mang thi thể băm cho chó ăn như thế cũng hưởng được ích lợi thật lớn.
Theo như lời nói của Lưu Lăng không có gì toàn diện hơn là trực tiếp lấy mạng người.
Mang mấy chục vạn người tự nhận là cường đạo dẫn đến sau đó giết chết, đây cũng là việc làm của cường đạo. Nói về giết người không chớp mắt thì thật sự người Hán không thua bất cứ một dân tộc nào, âm mưu quỷ kế thì có phần khá thành thục hơn. Dù sao nhiều năm trong lịch sử đúc kết lại khi âm mưu và khả năng giết người bằng dao được duy trì ở một điểm thăng bằng thì dân tộc này sẽ vô cùng hùng mạnh.
Theo quy tắc trên chiến trường binh lính hai bên thu dọn những thi thể trên chiến trường thì không phát sinh chiến đấu, cho nên khi hai ngàn người Khiết Đan ra lại thành Thái Nguyên thì quân coi giữ tường thành không bắn tên xuống. Vẻ mặt cô đơn của nhưng binh lính Khiết Đan khi mang những thi thể bỏ lên xe ngựa kéo về đại doanh, bọn họ cũng không làm thương tổn đến thi thể người Hán, không phải bọn họ trong lòng xuất hiện thương cảm mà bọn họ có thể cảm giác được trên tường thành những mũi tên đang phát ra sát ý.
Cách người Khiết Đan không xa quân lính Hán trên tường thành cũng trượt xuống mang thi thể của đồng chí bọn hắn chở về tường thành. Động tác bọn họ vô cùng nhẹ nhàng, mang thi thể người Khiết Đan đặt một bên không quấy rầy đến linh hồn của người đã chết.
Không lâu sau hai bên đều đã thu gom xác chết lại, họ hờ hững nhìn thoáng qua nhau, tuy rằng hai bên đều không đeo vũ khí nhưng có thể tùy tiện nhặt loan đao bổ vào đầu đối phương. Chỉ có điều lúc này không ai làm như vậy, tuy rằng trong ánh mắt cả hai khó có thể che giấu được thù hận, thù hận cũng không cần che giấu, dù có cố ý giả vờ hờ hững nhưng bên trong sát khí sôi trào, nhưng vẫn yên lặng tuân thủ quy tắc này.
Thi thể quân Hán ngã dưới tường thành cũng không nhiều, hơn nữa thân thể bị chia thành nhiều mảnh, binh lính quân Hán rơi lệ mà nhặt từng khối thi thể đâu vào trong rổ kéo lên tường thành. Bọn họ rơi lệ vì họ áy náy, tự trách bản thân không thể mang thi thể đồng chí hợp lại, thậm chí không thể nhận ra bộ phận nào là của ai.
Sau khi thu dọn chiến trường binh lính hai bên căm thù nhưng vẫn không nhìn nhau.
Người Khiết Đan còn đang không ngừng mang thi thể chở về đại doanh, binh lính quân Hán thì tìm khắp ngõ ngách dưới tường thành bỏ vào trong giỏ kéo lên tường thành. Hai bên binh lính đi vượt qua nhau, dường như bọn họ chẳng qua chỉ là những người qua đường.
Trong suốt hai canh giờ hai ngàn binh lính Khiết Đan mới đưa bảy ngàn cổ thi thể lên xe ngựa chở về đại doanh, sau đó dưới sự chủ trì của Đại Tát Mãn những thi thể chồng chất lên củi mà đốt cháy. Đại Tát Mãn một bên nhảy múa cầu phúc, một bên cầu xin thượng đế nhận lấy những đứa con của Lang thần. Sau khi nghi thức kết thúc sắc trời cũng đã tối, dường như có bàn tay to lớn kéo màn đêm ập đến chấm dứt một ngày.
Tuy rằng Lưu Lăng ở trong thành trì nhìn người Khiết Đan công thành nhưng hắn không lên tường thành chỉ huy. Theo tin tình báo mà người Khiết Đan lấy được thì Hán Vương Lưu Lăng có lẽ đang trên đường từ phía Nam đến Thái Nguyên hơn nữa cuộc chiến đấu này cũng không cần tự hắn chỉ huy. Đã trải qua sáu năm sinh tử sát phạt quân Hán cũng đã có một số tướng lĩnh thiện chiến ví như Từ Tuyên mới hai mươi mốt tuổi đã là một Ưng Dương Lang tướng, gã tham gia ít nhất ba mươi cuộc chiến trở lên.
Người Khiết Đan mãnh liệt tấn công cũng không tạo áp lực quá lớn đối với quân Hán, họ đã chuẩn bị xong mọi thứ nên họ biết sẽ chiến thắng kẻ thù dễ dàng.
Sau khi kiểm tra lại thương vong con số báo lên khiến sắc mặt Lưu Lăng không chút biến hóa, dường như những con số kia và sinh mạng con người không có quan hệ gì với nhau.
Tám trăm tinh binh Đại Hán bỏ mình, tuy rằng con số này chỉ bằng một phần mười tổn thất của lính Khiết Đan nhưng không nghi ngờ gì trong mắt người Hán tám trăm người này so với bảy ngàn quân Khiết Đan phải quan trọng hơn, so với bảy vạn hay bảy trăm vạn đều quan trọng hơn. Cho tới bây giờ thì ai cũng không muốn người nhà mình mảy may chịu thiệt, mà đối phương có bị thương tổn thế nào họ cũng không thông cảm. Nếu có khả năng ai cũng hi vọng mình thì bất tử còn cả nhà địch nhân chết hết đi. Điều mấu chốt là chuyện này không thể nào thực hiện được.
Hàng năm chinh chiến khiến binh lính quân Hán đã xem nhẹ việc sinh tử, đồng chí khi rời đi thì xem như chuẩn bị bắt đầu một cuộc sống khác.
Cũng giống như người Khiết Đan, hơn tám trăm cỗ thi thể trong thành Thái Nguyên sau đó cũng bị hỏa thiêu, dù không phải là tập tục nhưng đó cũng là một việc cần làm, nếu không đốt cháy thi thể thì.... Ai cam đoan sẽ không có trận dịch diễn ra, lúc đó càng lấy đi nhiều sinh mệnh con người khác hơn nữa.
Đêm đến sau cuộc chiến đấu kịch liệt, ánh trăng sáng tỏ, bầu trời trong xanh, ngay cả cơn gió Bắc cũng ngừng lại, dường như những điều này không muốn quấy rầy giấc ngủ những binh lính đã mệt mỏi.
Lưu Lăng cũng không lo lắng người Khiết Đan sẽ thừa lúc nửa đêm mà phát động cuộc chiến lần thứ hai. Gần như tất cả vũ khí và tháp công thành đối với đêm tối không có lợi cho người Khiết Đan. Nếu nói người Khiết Đan tự nhận là Lang tộc nghĩ rằng màn đêm cũng thuộc về bọn họ, như vậy là sai lầm. Da Luật Đức Quang có nhiều năm kinh nghiệm chinh chiến trên sa trường nên gã hiểu với trình độ phòng ngự của thành Thái Nguyên thì tập kích đêm đơn giản chỉ mang thêm người đi chịu chết mà thôi.
Nghe mùi máu tươi đã quen nên không ảnh hưởng đến giấc ngủ của quân Hán, không vì ban ngày chiến đấu kịch liệt nên ảnh hưởng đến nghỉ ngơi, điều này lại bất đồng với người Khiết Đan. Do có quá nhiều tân binh không chịu được áp lực tử vong mà mất ngủ, vì phòng ngừa bất ngờ bị đánh úp, Da Luật Đức Quang mang rượu ngon chuyển đến cho binh lính uống, trong cồn có chất kích thích nên khiến binh lính ngủ được một giấc để khôi phục tinh thần. Cũng không biết có bao nhiêu người uống say mềm, tuy rằng họ uống không nhiều.
Có lẽ nôn mửa ra mới khiến áp lực trong lòng họ giảm đi một chút.
Ngày hôm sau khi mặt trời còn chưa lên, ánh trăng non vẫn còn, đám mây đen từ xa trôi dạt lại che khuất ánh trăng, khiến mọi người không nhìn thấy nó. Xem ra trận tuyết đầu năm nay sẽ đến rất nhanh, việc này đối với người Khiết Đan mà nói không phải một tin tức tốt.
Nếu tuyết rơi lớn mà nói không biết con người cùng chiến mã có chịu nổi hay không.
Cỏ khô thì còn đủ nhưng lương thực và dê bò cũng chỉ đủ cho binh lính ăn trong một tháng. Nhưng nếu trận tuyết lớn kéo đến không biết dê bò có sống sót được không. Nếu dê bò chết nhiều mà nói... Không chừng không kiên trì được cho đến khi hai trăm ngàn đại quân của Da Luật Hùng Cơ từ Đại Đồng đến.
Da Luật Đức Quang nhìn tầng mây dày trong lòng phiền muộn vô cùng.
- Phái ba vạn người đi chặt cây cối, có nhiều chặt nhiều có ít chặt ít để dựng lều cho gia súc, càng nhanh càng tốt!
Trong lời nói của gã lộ vẻ phẫn nộ và bất đắc dĩ.
Hiện tại gã bắt đầu có chút hận ông trời, vì sao cố tình có tuyết lúc này? Không lẽ hận ông trời ngu ngốc không chịu chiếu cố đến con cháu Lang thần sao? Nếu tuyết rơi thì quân Hán trong thành không cần lo lắng, thành Thái Nguyên có lương thực, có phòng ở ấm áp, họ có thể vừa uống rượu trên tường thành vừa nhìn xuống chê cười người Khiết Đan, thậm chí có thể thổi vài khẩu hiệu vang dội.
Hai mày Da Luật Đức Quang nhíu lại:
- Truyền lệnh xuống, sau khi ăn sáng xong lại tiếp tục công thành.
Gã ngẩng đầu nhìn trời cao, thành tâm lặng lẽ cầu nguyện:
- Ông trời ơi, van cầu người thu hồi lửa giận đi, nếu trận đại tuyết này mà tới.... con cháu của người sẽ chết đói hết, không có khả năng trở lại thảo nguyên, chỉ cần cho ta một tháng, không nửa tháng ta có thể nắm được Thái Nguyên, nhất định, nhất định có thể!
Chỉ có điều có lẽ gã không phát hiện ra cho dù gã có cầu nguyện thì gã cũng không tin tưởng có thể đánh thắng trận được.
Mới bắt đầu đã sai lầm, Da Luật Đức Quang chợt nhớ đến người Hán có thành ngữ "Đâm lao phải theo lao".
Chương 575.1: Hoa trong gương, trăng trong nước
- Tiên sinh, có thượng sách phá thành chăng?
Ngày tiến công thứ hai vẫn không tạo cho thành Thái Nguyên áp lực quá lớn, nhìn binh lính tiến công như nước thủy triều lên rồi lại rút. Da Luật Đức Quang cau mày hỏi Hàn Tri Thiện cũng đang đứng bên cạnh hắn chứng kiến trận chiến.
- Thành Thái Nguyên đã vô cùng kiên cố, hơn nữa quân Hán phòng ngự có khí giới rất tốt. Cổng thành được bảo vệ bằng sắt, có dùng chùy công thành thì cũng không phá hỏng được cửa thành. Nếu chỉ dựa vào bọn lính dùng thang mà phá thành … thì e rằng thương vong sẽ rất lớn hơn nữa cũng khó cho việc liên tục gia tăng binh lực trên tường thành.
Hàn Tri Thiện thở dài nói:
- Hay là chúng ta thử đắp một con đường ngư lương (con đập chặn cá) xem sao?
Hàn Tri Thiện nói có chút không tự tin.
Đó cũng không phải là một sách lược tốt lắm, dựa vào thực lực của quân phòng ngự người Hán, nếu như ở dưới tường thành đắp một con đường ngư lương thì sẽ có bao nhiêu binh lính bị người Hán bắn chết? Chỉ sợ số lượng tử thi chất đống so với con đường ngư lương thì cũng không thấp hơn là bao nhiêu. Nhưng thành Thái Nguyên rất vững chắc, ngoài trừ biện pháp này thì trong lúc này Hàn Tri Thiện cũng không nghĩ ra được sách lược nào tốt hơn. Sở trường của Da Luật Đức Quang chính là dã chiến đồng bằng, vì vậy với trận đánh công đồn này thì rõ ràng kinh nghiệm của hắn là không đủ.
- Thương vong sẽ không quá lớn chứ?
Da Luật Đức Quang lắc lắc đầu, không phải là hắn đang hỏi Hàn Tri Thiện, mà là đang phủ định sách lược của Hàn Tri Thiện. Nếu chỉ dựa vào việc tiêu hao mạng người để đắp lên một con đường lớn tiến công, thì cho dù Da Luật Đức Quang có hai trăm nghìn đại quân hắn cũng luyến tiếc.
- Trong đội quân còn có một trăm ngàn dân phu và dân du mục…
Hàn Tri Thiện nói với âm lượng vô cùng nhỏ, nhưng y hiểu rằng, Da Luật Đức Quang đang nghe rất rõ những gì mà y nói.
- Nếu không thể mau chóng phá được thành Thái Nguyên, thì đám dân phu này ở lại trong doanh trại cũng không có việc gì, bất quá cũng chỉ tiêu hao lương thực thôi.
Da Luật Đức Quang nhíu mày:
- Nhưng… bọn họ đều là con dân của Đại Liêu, bọn họ không phải là những con dê hai chân.
Hàn Tri Thiện lắc đầu nói:
- Điện hạ, nếu như công phá thành Thái Nguyên, thì thứ Đại Liêu nhận được càng nhiều.
Da Luật Đức Quang trầm mặc một hồi rồi gật đầu:
- Vậy tiên sinh đi an bài đi.
Hắn thở dài, dường như là không đành lòng, lại tựa hồ đối với sách lược này của Hàn Tri Thiện cũng không có mấy khả quan. Từ trên sườn núi cao chậm rãi đi xuống, Da Luật Đức Quang vừa đi vừa ra lệnh:
- Gõ kẻng!
Hai chữ ngắn gọn, tuyên bố cuộc tiến công hôm nay lại là không công mà rút lui. Tâm trạng Da Luật Đức Quang vô cùng trầm trọng, thật giống như bầu trời u ám. Nếu như nói Da Luật Đức Quang còn có chuyện làm cho hắn cao hứng, thì đó là trận tuyết làm cho người ta lo lắng rốt cuộc cũng không rơi xuống. Tuy rằng trời vẫn còn âm u, nhung chỉ cần những bông tuyết kia không rơi xuống đất thì mọi chuyện sẽ không bết bát như vậy.
Ba vạn người bị phái đi xa, nơi xa nhất ước chừng ngoài ba mươi dặm để chặt cây. Người Khiết Đan phải tranh thủ trước khi mưa tuyết trút xuống kịp thời dựng lều cho đàn gia súc, ngoài ra còn phải gia cố lều trướng, nếu như tuyết rơi quá dày thì căn bản những cái lều kia không thể chống chọi được, chỉ cần một trận gió thổi qua cũng đủ làm cho chúng đổ sụp xuống.
Một mặt nghĩ ra kế sách để nhanh chóng phá được thành Thái Nguyên, một mặt Da Luật Đức Quang cũng vì cuộc chiến còn kéo dài nên chuẩn bị những phương án đối phó.
Buổi sáng từ sau khi triệt hạ thế tiến công, một trăm ngàn dân phu và dân du mục được giao nhiệm vụ khác, đó là trong một thời gian ngắn nhất phải may ra được một triệu chiếc túi to, nếu như không thể hoàn thành trong thời gian quy định, thì cứ theo quy định mà xử phạt. Nếu như có một người không kịp hoàn thành, thì cả đội năm mươi tên dân phu đều bị chặt đầu. Đội trưởng, bách phu trưởng, thiên phu trưởng, thậm chí cả những viên quan quản lý dân phu cũng bị đem ra xử phạt.
Người dân du mục khổ cả những đàn dê kia cũng chịu khổ.
Không đủ kim chỉ, đành phải nghĩ cách từ trên thân những con dê kia. Những chuyện nhỏ nhặt như thế này, Da Luật Đức Quang và Hàn Tri Thiện cũng chưa từng nghĩ đến, kết quả là chưa đến năm ngày, những chiếc túi không có một khe hở được làm ra không ít nhưng số lượng dê bị cắt trụi lông và chết vì cóng thì cũng hơn vạn. Nói cách khác nếu như cứ tiếp tục trong vòng mười ngày thì đám binh lính kia sẽ được ăn thịt dê để bổ sung thể lực mỗi ngày.
Nhưng đấy chỉ là số lượng dê chết trong vòng năm ngày, làm cho Da Luật Đức Quang lo lắng chính là lúc này đại tuyết chưa có rơi xuống thì làm thế nào để bảo quản được số thịt dê kia không bị hư thối. Tuy rằng thời tiết rất lạnh, nhưng nhiều dê chết như vậy, muốn bảo quản tốt chúng cũng không phải là chuyện dễ dàng gì. Nếu như không mổ bụng phanh thây chúng thì rất nhanh thôi dê sẽ bị trướng bụng lên và bắt đầu thối từ trong ra ngoài. Da Luật Đức Quang nổi giận liền lôi thiên phu trưởng giám sát dân phu và một đám quan viên với cấp bậc không nhỏ đem ra chém đầu, sau đó liền hạ lệnh, không cho phép ai tiếp tục chủ ý cắt lông dê nữa.
Hàn Tri Thiện lại nghĩ ra một biện pháp, y đề nghị dùng mảnh gỗ đẵn từ cây để làm ra xe cút kít chở đất. Ở bên dưới thành Thái Nguyên đắp một con đường, nếu như Hàn Tri Thiện nghĩ được ra chủ ý này, thì Da Luật Đức Quang giao tất cả mọi chuyện cho y xử lý. Chỉ có điều, hắn ban xuống một mệnh lệnh, trong vòng ba ngày nhất định phải xong.
Tính cả ba ngày tiếp theo thì đại quân cũng đã bao vây thành Thái Nguyên được mười ngày rồi. Đồ ăn tiêu hao nhanh chóng làm cho hắn mặt cau mày có, lần đầu tiên hắn vì chuyện tiếp viện mà đau đầu. Trước kia, tấn công bất kỳ địa phương nào, tùy tiện chém chém giết giết thì cũng có thể chống đỡ bổ cấp cho đại quân. Nhưng lần này, các thôn làng trong phạm vi vài trăm dặm từ Thái Nguyên đến Đại Châu đều bị bỏ không, không chiếm được bất kỳ thứ gì. Một cái nữa làm y phiền lòng chính là, đã bao vây Hãn Châu hai mươi mấy ngày rồi mà vẫn không phá được. Nó giống như một cái đinh ngoan cố đính giữa Đại Châu và Thái Nguyên. Chỉ cần Hãn Châu không bị thất thủ, thì Da Luật Đức Quang cũng không thể yên tâm với đường lui của mình.
Hậu quân sáu vạn nhân mã bao vây một tòa thành nhỏ Hãn Châu đã khó như vậy, Da Luật Đức Quang đã ba lần phái người đi chất vấn chủ tướng hậu quân Tốc Ca vì sao động tác lại chậm chạp như vậy.
Điều càng làm cho Da Luật Đức Quang tức giận hơn đó là phái một đội ngũ đi Tây Kinh Đại Đổng phủ triệu tập lương thảo nhưng lại bị người Hán phục kích giữa đường, mấy chục vạn thạch lương thảo thật vất vả lắm mới gom góp được vậy mà bị người Hán cho một mồi lửa đốt cháy sạch sẽ.
Chương 575.2: Hoa trong gương, trăng trong nước
Hai trăm ngàn đại quân của hắn xâm nhập được vào khoảng vài trăm dặm trong lãnh thổ Hán quốc, mà đội ngũ Khiết Đan phía sau còn ở trên vùng biên giới cùng với người Hán đang đánh nhau với khí thế vô cùng hừng hực. Đội ngũ trước và sau đã bị tách rời, Da Luật Đức Quang thậm chí còn sợ hãi nếu như Lưu Lăng suất lĩnh viện quân tới, chỉ cần cắt đứt đường lui của hắn thì cũng đủ làm cho hai trăm nghìn quân Liêu bị vây chết ở chỗ này.
Thật là không tưởng tượng được lại có thể dễ dàng bị nghiền nát như vậy!
Da Luật Đức Quang phát hiện có chút bất đắc dĩ, trong chiến tranh không phải lúc nào cũng cưỡi ngựa tiến lên là có thể giải quyết được mọi chuyện.
Cuối cùng, vào ngày thứ mười, đã chế tạo được hơn một vạn túi vải cùng với hơn hai trăm chiếc xe con một bánh. Sau khi ăn cơm trưa xong, một trăm ngàn dân phu vừa hoàn thành nhiệm vụ may túi lại bị đội đốc chiến xua ra chiến trường. Thái tử điện hạ ngay cả một lời động viên tới bọn họ cũng ngại mở mồm ra nói, chỉ dùng roi ngựa chỉ vào thành Thái Nguyên ở phía xa xa kia và lệnh cho những người này dùng túi vải nhồi đầy đất vào, từ phía tường thành đắp ra một con đường ngư lương cho đại quân công thành.
Bọn dân phu ngay lập tức bùng nổ, bọn họ lớn tiếng kháng nghị, và có người quyết định quay trở về Đại Đồng, không tiếp tục phục dịch cho tên Thái tử chó má này nữa, nguyền rủa cho cuộc chiến này nhanh chóng bị thất bại đi thôi, ông đây không làm nữa!
Mấy nghìn Lang kỵ xông tới, đem đám dân phu đang gây náo động kia lập túc chém chết. Sau khi hơn ba trăm người bị giết thì họ đã hiểu rằng, nếu như bọn họ không làm theo lời nói của Thái tử Điện hạ, thì Thái tử Điện hạ chỉ cần nói một câu bọn họ sẽ đi chầu Diêm vương hết, sau đó thi thể được chất đống lên, có lẽ sẽ được lưu trữ thành đồ ăn.
Một trăm nghìn dân phu chỉ đành tìm bất kỳ thứ gì có thể che được mũi tên lông vũ đội lên đầu, hai người một nhóm cho đầy đất lạnh cứng vào chiếc túi vải kia rồi điên cuồng lao nhanh về hướng dưới tường thành. Hỏa dược và nỏ lớn với uy lực thật lớn ở trong đám người không hề kiêng dè thu gặt sinh mạng, hàng loạt dân phu còn chưa tới được dưới thành đã bị mũi tên đâm xuyên người và ngã trên mặt đất.
Thời điểm chỉ còn trong vòng hai trăm bước, trên tường thành cung tiễn thủ bắt đầu triển khai tàn sát. Trên chiến trường gần như chỉ còn rất ít người có thể sống sót mà chạy đi chạy về. Khi một trăm nghìn dân phu dần dần đắp lên con đường ngư lương thì đã tổn thất nhân số quá hai thành. Thi thể gần như phủ kín con đường qua lại của bọn họ, võ sĩ giám sát người Khiết Đan lớn tiếng quát, yêu cầu những người còn sống khiêng những xác chết kia chất đống lại dưới tường thành.
Có người chịu không nổi sự khủng bố của tử vong bắt đầu chạy tán loạn, du kỵ của người Khiết Đan không chút khách khí xông lên từ phía sau, dùng một đao chém chết bọn họ. Trong vòng một buổi chiều, bọn lính thúc ép đám dân phu vẫn không ngừng đi đi lại lại. Ba canh giờ, khoảng thời gian làm cho những cung tiễn thủ người Hán giết người cũng đủ tê tay, vào lúc này, hai cánh tay của bọn họ cũng đủ rã rời, con đường ngư lương rộng hai trượng rốt cục dùng mạng người để đắp nên.
- Đô Cách Lôi, mang theo đội ngũ vạn người của ngươi, giết sạch những người Hán trên thành Thái Nguyên!
Nhìn thấy con đường được chất lên, Da Luật Đức Quang dường như ngửi được mùi chiến thắng. Hắn đứng ở trên sườn núi cao lớn tiếng ra lệnh, nhắm vào thành Thái Nguyên ở phía xa kia có chút ức chế mà tay không ngừng run rẩy. Hắn vốn không đánh giá cao kế sách của Hàn Tri Thiện, mà thật không ngờ đám dân phu này lại làm được. Mà Hàn Tri Thiện lại có vẻ cao thâm mỉm cười, thần kinh y đang căng như dây đàn bỗng chùng xuống. Kỳ thực, thời điểm mà Da Luật Đức Quang hỏi, y chỉ thuận miệng mà nói ra, lúc ấy trong lòng y cũng rất rối loạn.
Sau khi một trăm nghìn dân phu hoàn thành nhiệm vụ, những người còn sống sót còn không đến một nửa. Mấy vạn cỗ thi thể bỏ xác nơi đất khách quê người không ai để ý tới.
Sau khi Khiết Đan lang tướng Đô Cách Lôi nghe được mệnh lệnh của Da Luật Đức Quang, thì gã lớn tiếng ra lệnh với đám binh lính dưới trướng của mình xông lên. Trời mùa đông tối vô cùng nhanh, sau khi bọn dân phu chất xong con đường ngư lương thì trời đã tối đen. Võ sĩ Khiết Đan bèn đi châm đuốc, gào thét, quơ loan đao hướng thành Thái Nguyên mà xông tới.
Từ Tuyên đứng trên thành, lạnh lùng nhìn vô số cây đuốc trong đêm tối đang hướng về thành mà xông tới, trên miệng nhếch lên nụ cười lạnh mang theo vẻ khát máu.
Ba chiếc xe nỏ được điều tới, đối diện với con đường ngư lương đầy máu kia, mấy trăm tên cung tiễn thủ cũng sớm nhắm vào nơi đó, chỉ cần người Khiết Đan đạp chân lên, mũi tên lông vũ sẽ tự động đổ xuống mà không cần người điều khiển. Phía sau lại càng nhiều cung tiễn thủ và trường giáo thủ đã chờ sẵn, phòng thủ một lỗ hổng này thoải mái hơn nhiều so với việc phòng thủ toàn bộ tường thành. Đáng tiếc, đạo lý căn bản như vậy nhưng người Khiết Đan cũng không hiểu được.
Tiếng kêu khóc của bách phu trưởng người Khiết Đan quơ loan đao dẫn đầu xông ra con đường ngư lương, ở phía sau gã không đếm được là có bao nhiêu cây đuốc, thật giống như tạo thành biển lửa chảy xuôi lên tường thành. Mới xông lên được hai bước, một mũi tên lông vũ đã nhằm bắn trúng vào người tên bách phu trưởng người Khiết Đan này, mũi tên lông vũ xuyên từ cổ ra phía sau gáy của gã. Khí quản bị chặn lại, tên võ sĩ người Khiết Đan theo bản năng nắm lấy thân tên, cuối cùng cũng có được chút không khí đi qua vào được đến phổi của gã, không khí trong trẻo và lạnh lùng làm cho gã thấy thỏa mãn và cười, ngay sau đó thì đầu liền gục xuống.
Vù một tiếng, một chiếc nỏ lớn được phóng ra với tốc độ cao. Chiếc nỏ theo độ dốc của con đường ngư lương mà trượt một đường lớn, một phát đã lấy đi sinh mạng của hơn mười võ sĩ Khiết Đan. Nhìn thật giống bầy kiến đông đúc bị con người dùng que gỗ đánh một cái, xuất hiện một chỗ trống khá lớn. Nhưng rất nhanh chóng khoảng trống ấy lại được người Khiết Đan nhanh chóng lấp đầy.
Máu bắt đầu dọc theo sống lưng chảy xuống, mà ngay cả độ lạnh của thời tiết cũng không đủ kịp làm cho máu đông lại.
Thân thể từng bước từng bước ngã xuống trên đường lớn, binh lính từng người từng người một được bù vào khoảng trống phía trước.
Có lẽ là đêm tối đã chặn được ánh mắt của người Khiết Đan, có lẽ sự hy vọng đã che đi nỗi sợ hãi của bọn họ, mãi cho đến khi một đội một ngàn người chết hết, hóa ra bọn họ vẫn không thể tỉnh ngộ, vẫn đinh ninh rằng men theo con đường ngư lương sẽ có thể tấn công vào thành Thái Nguyên giết sạch người Hán, nhưng tất cả chỉ là hy vọng và đã biến thành bọt nước ngũ quang thập sắc. Thật giống như hoa trong gương, trăng trong nước, thoạt nhìn thì thấy rất đẹp nhưng trong thực tế thì không sở hữu được.