Trước đó vào tiết Hạ Nguyên, rằm tháng mười Thủy Quan giải ách, vốn có tập tục đốt hương cắm ruộng, đốt túi vàng bạc và đèn cầu trời, năm nay, hương, túi vàng bạc không ai đốt, đèn trời cầu phúc hứa nguyện cũng không ai thả.
Có hai cha con lần lượt đảm nhiệm tể tướng, thị lang một nước, nghị sự với tiên gia cung phụng trong mật thất, lão nhân thân là tư văn tông chủ một nước, không ngừng tự an ủi mình, nói luôn có cách thôi, không có lý nào nhổ cỏ tận gốc, không thể đuổi tận giết tuyệt chúng ta, cái gì cũng không để lại.
Sân khấu kịch trong một huyện thành, nằm cạnh trường tư thục, vốn dĩ lão phu tử căm ghét nhất học trò đi xem những nữ tử son phấn kia hát kịch, trong màn đêm hôm nay, lão phu tử cùng đám trẻ con vỡ lòng ngồi cùng nhau trên ghế dài, quỷ nghe quỷ hát kịch.
Một tiểu quốc hẻo lánh chưa bị chiến hỏa tai ương và, có một đạo môn cung quán xây dựng trên vách núi, chỉ có một con đường mòn quanh co khúc khuỷu thông đến nơi này.
Một nho sam văn sĩ dẫn theo một kiếm tu dung mạo trẻ tuổi, chậm rãi leo núi mà đi, tiểu đạo quán dường như khảm vào vách núi, từng là nơi dừng chân ngắn ngủi của một vị "Thái Bình Sơn đích truyền chân nhân", năm xưa ở bên đó thu một đệ tử không ký danh, hương hỏa phiêu diêu, rốt cuộc cũng truyền thừa xuống, có điều thuộc về hành động vô tâm tùy ý, đệ tử không thành khí, là người tu đạo, hơn trăm tuổi, đã già nua lọm khọm, mấy đệ tử tái truyền, lại càng tư chất không ra gì, có thể nói là đời sau kém hơn đời trước, tin rằng lão đạo sĩ kia đến nay vẫn không rõ sư phụ "trẻ tuổi" trên bức tranh treo ở tổ sư đường, rốt cuộc là thần thánh phương nào.
Văn sĩ và kiếm tu cùng nhau du lịch nơi này, không mưu cầu gì, văn sĩ từ bên Đồng Diệp Tông trở về, kiếm tu vừa khéo ở quân trướng gần đó, liền hẹn nhau đến đây giải sầu.
Trước đó ba con đại yêu mưu tính ở Đồng Diệp Châu rất lâu, trong đó lại lấy vị "đạo sĩ trẻ tuổi" thành công trở thành đích truyền Thái Bình Sơn này, công lao lớn nhất, cái gọi là bị thiếu niên Phù Cơ Tông vạch trần mưu tính, khiến hắn không thể không ra tay sớm, nhìn như hỏng việc lớn, nhìn xa mà nói, ngược lại là một nước cờ thần tiên chó ngáp phải ruồi, chỉ tiếc không thể cùng con vượn trắng kia hợp lực giết chết Chung Khôi. Đã hắn hiện nay không rõ tung tích, đa phần là bị lão đạo nhân Quan Đạo Quan kia động tay động chân, vậy thì chút hương hỏa còn lại của hắn ở Hạo Nhiên Thiên Hạ, giúp thu gom lại một chút.
Văn sĩ nói: "Ngươi không nên giết nàng ta. Tùy tiện giết vài Ngọc Phác cảnh đều không sao, duy chỉ có người này không nên giết. Ngươi thậm chí vì nàng, đều muốn bảo toàn một tòa Ngọc Chi Cương."
Kiếm tu nói: "Tiên sinh, ta lúc đó thấy nàng cầu xin tha mạng quá mức tướng tá ăn mày rồi, liền không nhịn được."
Văn sĩ tức cười nói: "Câu này đổi thành Phỉ Nhiên nói, ta không lạ, Thụ Thần ngươi nói ra, thì không phải mùi vị đó rồi."
Thụ Thần gật đầu nói: "Ở Đồng Diệp Châu quá thuận lợi, ta có chút đắc ý quên hình."
Văn sĩ nói: "Vốn dĩ biến cố Ngọc Chi Cương, có thể trở thành bước ngoặt của tình thế Đồng Diệp Châu, có nghĩa là non sông một châu, có thể từ loạn thế từng bước chuyển sang trị thế. Vậy thì ta có thể giúp ghi cho ngươi một công ở Giáp Tử Trướng. Sớm biết thế thì nên ném ngươi đến bên Thái Bình Sơn kia, hộ đạo giúp sư đệ sư muội ngươi, cũng không đến mức ngã xuống hai người. Tính cả ngươi, không phải không thể chết, chỉ là chết quá sớm, thì quá phí phạm của trời rồi, một thân sở học của các ngươi, còn chưa kịp thi triển hoài bão."
Đồng môn chết trận hai người, Thụ Thần làm sư huynh, có chút thương cảm, nhưng không nửa điểm áy náy.
Văn sĩ là Chu Mật, kiếm tu là Thụ Thần. Hai bên là một đôi thầy trò.
Chu Mật dẫn đệ tử Thụ Thần đi bộ trên đường nhỏ, đã có thể nhìn thấy tòa tiểu đạo quán kia.
Người trong đạo môn, ngắm sao nhìn trăng, đạo quán quan đạo (xem đạo). Ngửa xem thiên tượng, cúi xét địa nghi, cho nên đạo quán thường ở trên đỉnh núi.
Chu Mật không vội vàng đi vào đạo quán cửa đóng then cài, dẫn Thụ Thần nhìn xa non sông, Chu Mật khẽ cười nói: "Một người từng thấy nhật nguyệt non sông rồi mù lòa, sẽ khó chịu hơn một người mù lòa từ nhỏ."
Thụ Thần nghe ra ẩn ý trong lời nói của tiên sinh nhà mình.
Một người mất đi rồi tìm lại được, sẽ càng trân trọng những gì đang có ở hiện tại. Cho nên người sống sót trên núi dưới núi Đồng Diệp Châu, chỉ cần Man Hoang Thiên Hạ tiếp theo mưu tính thỏa đáng, sẽ không cảm ơn Hạo Nhiên Thiên Hạ mang đến cho họ những thứ này, đại đa số người chỉ sẽ thầm thấy may mắn, cảm kích sự giơ cao đánh khẽ của Man Hoang Thiên Hạ, rồi đi thù hận Văn miếu Trung Thổ, hại cả Đồng Diệp Châu sinh linh đồ thán, coi Nho gia là đầu sỏ gây nên mọi khổ nạn, càng sẽ căm hận tất cả những đại châu chưa bị chiến hỏa tai họa.
Một tiểu đạo đồng giữ cửa, nghênh ngang đi đến bên cạnh hai người, đánh một cái chắp tay (khể thủ), lại dùng quan thoại bản quốc hỏi thăm người đọc sách kia đến đây làm gì.
Tiểu đạo đồng chừng bảy tám tuổi, trong lời nói, tràn đầy vẻ kiêu ngạo. Đánh cái chắp tay đạo môn kia, là cảm thấy học lễ nghi với sư tổ, cũng không thể học uổng, nếu không nó đâu chịu khách sáo vớ vẩn với hai phàm tục phu tử túi da chóng mục nát.
Vị sư tổ lão quán chủ nhà mình kia, đó chính là lão thần tiên Quan Hải cảnh, trong một nước hiếm gặp địch thủ, đi đâu cũng sẽ được kính xưng là thượng tiên hoặc chân nhân, nghe sư phụ lén lút nói, vị sư tổ kia cách cái gọi là "địa tiên" trong sách đạo môn, chỉ kém hai bước thôi.
Hai vị đến từ nhân gian dưới núi trước mắt này, cho dù có chút tiền thì thế nào? Đến từ cửa nhà phú quý thì thế nào, chẳng phải vẫn là người dưới núi đến gặp người trên núi?
Chu Mật lại nhìn thoáng qua tiểu đạo đồng kia, quay đầu cười nói: "Đi mòn giày sắt tìm chẳng thấy, đến khi đạt được chẳng tốn công, hiện nay thiên thời đại đạo của Đồng Diệp Châu, quả nhiên đều ở bên phía chúng ta rồi. Thụ Thần, ngươi nhìn ra manh mối chưa?"
Thụ Thần mù tịt, "Khẩn cầu tiên sinh giải hoặc."
Chu Mật đưa tay nắm lấy cánh tay tiểu đạo đồng kia, lại dùng hai ngón tay gõ nhẹ cổ tay đối phương, tiểu đạo đồng giống như bị xách gà con, đành phải kiễng gót chân, không biết là phúc chí tâm linh hay là thế nào, nén tính khí không chửi ầm lên với văn sĩ dưới núi kia.
Thụ Thần ngưng thần nhìn lại, chỉ thấy tiểu đạo đồng kia sau khi bị tiên sinh nhà mình thi triển thần thông, trong lòng bàn tay đứa trẻ, chấn động lên chút hào quang lấm tấm, rất nhanh liền theo gió mà đi.
Tiểu đạo đồng trước đó giống như lòng bàn tay chấm mực, rửa không sạch, có chỗ còn sót lại.
Chu Mật buông cổ tay tiểu đạo đồng ra, hỏi: "Đạo quán này của ngươi có phải từng có một đạo sĩ tên là Lưu Tài, xuống núi vân du rồi không? Khi hắn xuống núi, còn mang theo bên mình chút hồ lô lớn lớn nhỏ nhỏ?"
Tiểu đạo đồng xoa cổ tay, lùi lại mấy bước, rụt rè nói: "Sao ông biết những chuyện này? Có điều đạo quán chúng ta chẳng có Lưu Tài gì, chỉ có một tên nhà quê biệt hiệu Lưu Gỗ, ngư dân thợ săn tiều phu, việc vặt gì cũng có thể làm, kiếm tiền thế nào thì làm thế ấy, theo cách nói của sư phụ, nếu trên núi có cái ni cô am, hắn đều có thể bán được son phấn đi. Tên nhà quê dăm bữa nửa tháng lại đến đạo quán chúng ta lừa bạc tiêu, hắn là một hương khách khá lớn trong quán chúng ta, sớm nhất dẫn tên nhà quê đến bên này, sư phụ ta những năm này mới không so đo với Lưu Gỗ. Tên nhà quê lần cuối cùng đến trong quán, cõng một giỏ nhựa thông và mấy con cá trắm đen lớn, cũng không lấy tiền đồng bạc vụn, chỉ ở trong kho, nhặt rất nhiều hồ lô rách phủ bụi nhiều năm, nói lấy để gán bạc, lúc đó ta đã nhìn thấy lạ, hắn ở bên kho, cầm những món đồ rách nát kia, từng cái đưa lên bên tai, lắc la lắc lư."
Cái gọi là kho đạo quán, thực ra chính là cái phòng củi chất đống đồ phế thải.
Chu Mật liếc nhìn tiểu đạo quán, cười nói: "Móc nối chặt chẽ. Quả là cao nhân."
Thụ Thần dùng tâm thanh hỏi: "Tiên sinh, hai chiếc dưỡng kiếm hồ 'Tâm Sự' và 'Lập Tức' của Lưu Tài kia, là có được từ nơi này?"
Chu Mật lắc đầu nói: "Lưu Tài là có hai chiếc dưỡng kiếm hồ trước, mới có hai thanh 'bản mệnh phi kiếm' kia, nếu không vị khai sơn tổ sư gia nơi này, thân là thượng ngũ cảnh, nhãn giới còn không đến mức kém đến nỗi không nhìn ra phẩm trật cao thấp của dưỡng kiếm hồ, huống hồ ông ta vốn có sở thích sưu tầm dưỡng kiếm hồ, cho nên thứ thực sự khiến ông ta không nhìn ra thật giả, nông sâu, hẳn là hai thanh phi kiếm cổ quái kia."
Lời nói tiếp theo của tiên sinh, càng làm Thụ Thần thần sắc ngưng trọng.
"Đại hương khách của đạo quán kia, đa phần chính là người truyền đạo và người hộ đạo của Lưu Tài, bởi vì Lưu Tài đến đạo quán này, chỉ là một âm thần xuất khiếu đi xa, chân thân nói không chừng đều không ở Đồng Diệp Châu."
Thụ Thần hỏi: "Tiên sinh muốn Xạ Nguyệt tìm được Lưu Tài, thực ra không chỉ đơn giản là hy vọng Lưu Tài đi áp thắng Trần Bình An? Càng là vì muốn gặp vị 'hương khách' kia?"
Chu Mật cảm khái nói: "Thiên hạ âm dương diễn hóa thuật, một người độc chiếm nửa giang sơn."
Ngọc Quy Tông tổ sơn, Thần Triện Phong.
Lão tông chủ Tuân Uyên đã tráng liệt chết trận, một vị Phi Thăng cảnh đại tu sĩ, mảnh vỡ kim thân lưu ly tan rã trong thiên địa, đa phần bị đại yêu đoạt được.
Tông chủ đương nhiệm Khương Thượng Chân, dùng cách thức kinh hồng nhất liếc hiện thân nhân gian, chứng minh mình còn sống, hơn nữa còn rất nhảy nhót tưng bừng.
Chỉ là đại thế sụp đổ, một vị Tiên Nhân cảnh mất đi thiên thời che chở, cây độc khó chống tòa nhà sắp đổ.
Cửu Dịch Phong phong chủ, Vi Oanh vốn có hy vọng kế thừa vị trí tông chủ hơn Khương Thượng Chân, lại đi Bảo Bình Châu đảm nhiệm tông chủ hạ tông, tạm thời dốc sức cho Đại Ly Tống thị kia, chú định không thể vượt châu trở về Ngọc Quy Tông.
Chưởng luật lão tổ liếc nhìn chiếc ghế đối diện mình, lại liếc nhìn hai chiếc ghế trống dưới bức tranh treo ở tổ sư đường.
Khương Thượng Chân chính là từ chỗ ngồi đối diện chuyển sang bên dưới bức tranh treo.
Thực sự là nhìn thêm một cái là đau lòng.
Liền liếc nhìn ánh trăng ngoài cửa lớn.
Một vị Thần Tài gia quản lý thần tiên tiền, thiên tài địa bảo của Ngọc Quy Tông, tên là Tống Thăng Đường, ông ta giận dữ nói: "Vị Khương tông chủ kia của chúng ta tại sao còn lượn lờ bên ngoài, chẳng lẽ muốn trơ mắt nhìn tông môn trên dưới, mỗi ngày người chết không ngừng? Xuất kiếm ở đâu chẳng là xuất kiếm, ngay cả sơn đầu nhà mình cũng không giúp đỡ, là kiểu gì?"
Gọi Khương Thượng Chân là Khương tông chủ, hơi thừa thãi, cũng không phải là trực tiếp bỏ đi họ "tông chủ", đây chính là một loại tư thái vi diệu.
Khương Thượng Chân ở Ngọc Quy Tông tổ sư đường, chưa từng thực sự phục chúng.
Có điều nguyên nhân quan trọng khiến tình cảnh lúng túng như vậy, vẫn là do lão tông chủ Tuân Uyên trước đó vẫn luôn còn sống.
Cộng thêm Vân Quật phúc địa mà Khương thị nắm giữ, vẫn luôn là một sự tồn tại giống như phiên trấn cát cứ của Ngọc Quy Tông, quá chướng mắt. Cho nên Triệu Thăng Đường và Khương Thượng Chân vẫn luôn không hợp nhau, chỉ cần Thần Triện Phong tổ sư đường đóng cửa nghị sự, thì đó là chó cắn chó đầy mồm lông nổi tiếng, có điều lần nào cũng là Khương Thượng Chân chiếm hết ưu thế, Khương Thượng Chân còn đặt cho ông ta một biệt hiệu, chó già rụng lông Tống lão trọc.
Một vị nữ tử lão tổ sư có thâm thù đại hận với Khương Thượng Chân, chỗ ngồi gần cửa lớn, họ Lưu tên Hoa Mậu. Tư chất không nổi bật, năm xưa dựa vào tiêu tốn lượng lớn thần tiên tiền và thiên tài địa bảo, may mắn bước vào thượng ngũ cảnh.
Khương Thượng Chân mỗi lần nghị sự, hầu như đều phải mở miệng bắt chuyện với Lưu Hoa Mậu trước.
Lưu tỷ tỷ tên hay, phong hoa chính mậu, năm nào cũng mười tám tuổi, dung nhan tuổi tuổi là hôm nay.
Dưới tình thế hiểm trở như vậy, Lưu Hoa Mậu cũng không thể không nén tính khí, nói một câu lương tâm cho Khương Thượng Chân, "Chắc chắn có Vương tọa đại yêu nhìn chằm chằm bên này, phụ trách chém giết Khương Thượng Chân, nói không chừng còn không chỉ một con súc sinh già, đang ôm cây đợi thỏ."
Muốn bà gọi Khương Thượng Chân là tông chủ, đừng hòng.
Bà sở dĩ như thế, bởi vì khi còn trẻ, đã là gần quan được ban lộc, muốn du lịch Vân Quật phúc địa một phen cho thỏa, còn về mài giũa đạo tâm, thì là tiện thể.
Kết quả Khương Thượng Chân tên khốn kiếp này, lúc đó vẫn là thiếu chủ Vân Quật phúc địa, thế mà dùng thần thông bí pháp cổ quái, lặng lẽ bám vào trên người một nữ tử phúc địa, sau đó gặp gỡ hợp ý với Lưu Hoa Mậu, xưng hô tỷ muội, từ đó về sau hai người nước chảy thành sông kết bạn du lịch, sau đó một lần du lãm nơi gọi là Phù Dung Phố ở Vân Quật phúc địa, nhân lúc trăng đẹp, vắng vẻ, nữ tử kia thẹn thùng e lệ cởi áo tháo đai, thế mà còn đỏ mặt không thôi, lúc đó Lưu Hoa Mậu còn trêu chọc cô vài câu, nhéo nhéo gò má phấn nộn của "nữ tử" kia.
Sau này nhớ lại, thật là chuyện cũ thê thảm như trời long đất lở.
Sau đó, Lưu Hoa Mậu liền bắt đầu điên cuồng tu hành, chỉ vì có thể đuổi kịp cảnh giới của Khương Thượng Chân, để tùy tiện tìm một cái cớ, chém tên khốn kiếp kia bán sống bán chết.
Chỉ đáng tiếc trên con đường tu hành, thiên phú, căn cốt, tính tình, núi cao luôn có núi cao hơn, mà Khương Thượng Chân năm xưa được công nhận là phong chủ đời sau của Cửu Dịch Phong, cũng chẳng thấy hắn cần cù tu đạo thế nào, nhưng luôn tùy tiện cao hơn bà hai cảnh giới. Từng bị bà đuổi kịp một cảnh, Khương Thượng Chân gặp bà, dây dưa không dứt, sau khi tâng bốc nịnh nọt bà một hồi, kết quả hắn xoay người rời đi không bao lâu, ngay trong ngày hôm đó liền phá cảnh rồi.
Ngọc Quy Tông tổ sư đường nghị sự, có một cục diện rất thú vị.
Người nói nhiều, giọng lớn, không liên quan lắm đến cảnh giới, chỉ xem ai quan hệ kém hơn với Khương Thượng Chân.
Dần dà, giống như Lưu Hoa Mậu tư chất bình thường Ngọc Phác cảnh này, nghị sự trên tổ sơn Thần Triện Phong, mỗi lần bà mở miệng, ngược lại phân lượng không nhẹ.
Ngược lại những lão tiên nhân như vậy, bối phận cao, vai vế ngang hàng với lão tông chủ Tuân Uyên, tu vi cũng cao, nhưng chính vì chưa bao giờ đỏ mặt tía tai với Khương Thượng Chân, thích làm người hòa giải ba phải, thật sự bàn luận đại sự, không được coi trọng.
Mẹ kiếp ông ngay cả Khương Thượng Chân cũng chưa mắng qua vài câu, chưa ném ghế vào Khương Thượng Chân, mà mặt mũi nào nói mình là một lòng vì tông môn?
Chưởng luật lão tổ có chút tâm trạng nặng nề, nhẹ nhàng vỗ tay vịn ghế, "Thiên thời vừa thay đổi, ưu liệt đảo ngược, lão tông chủ không nên hiện thân."
Có Tam Viên Tứ Tượng đại trận hộ trì, Tuân Uyên tuy bước vào Phi Thăng cảnh chưa bao lâu, nhưng do chiếm hết thiên thời địa lợi, một thân tu vi, giống như ở vào cảnh giới đỉnh cao viên mãn không tì vết, đợi đến khi Thái Bình Sơn và Phù Cơ Tông lần lượt bị diệt, đại trận tiêu tan, liền lập tức bị đánh về nguyên hình.
Thái Bình Sơn lão thiên quân, liều mạng thân tử đạo tiêu, tay cầm Minh Nguyệt Kính, dùng đại trận phi kiếm đánh chết một vị đại kiếm tiên Man Hoang Thiên Hạ.
Còn về việc trảm yêu trừ ma của đạo nhân Thái Bình Sơn, chiến công lẫy lừng, càng là đứng đầu một châu.
Mà Phù Cơ Tông kia, tông chủ Kê Hải, có thể dùng tu vi Ngọc Phác cảnh, chống đỡ đến sau khi Thái Bình Sơn phá diệt, bản thân đã là một tráng cử.
Mà chiến công của Ngọc Quy Tông, hầu như toàn bộ đến từ hai vị tông chủ Tuân Uyên và Khương Thượng Chân.
Phi Thăng cảnh Tuân Uyên, chém giết hai vị Tiên Nhân cảnh đại yêu, còn có một vị Ngọc Phác cảnh kiếm tiên.
Còn về Khương Thượng Chân, đông một kiếm tây một kiếm, thế mà bất tri bất giác bị hắn làm thịt bốn vị Ngọc Phác cảnh, còn phải cộng thêm một đám lớn địa tiên Yêu tộc tu sĩ làm đồ tặng kèm.
Tống Thăng Đường nghi hoặc nói: "Tiêu Tốn kia, sao lại từ Ẩn Quan của Kiếm Khí Trường Thành, biến thành nhân vật vương tọa của Man Hoang Thiên Hạ rồi?"
Chưởng luật lão tổ cười nhạo nói: "Nguyên do vì sao, quan trọng không? Quan trọng là, ả có dấu hiệu hợp đạo với Man Hoang Thiên Hạ, ả bản thân lại là Phi Thăng cảnh kiếm tu, Đồng Diệp Châu chúng ta hiện nay, đều mẹ kiếp là bản đồ của Man Hoang Thiên Hạ rồi, Tiêu Tốn lần sau ra tay, nếu vẫn còn là xuất kiếm, không còn là hai nắm đấm đập loạn một trận nữa, thì còn ai có thể đỡ được vấn kiếm của ả?!"
Một vị cung phụng tư lịch khá nông, chỗ ngồi gần cửa khẽ nói: "Đồng Diệp Tông, còn có kiếm tiên Tả Hữu kia."
Tu sĩ Ngọc Quy Tông, ấn tượng không tệ với vị nhị đệ tử của Văn Thánh nhất mạch kia.
Một thanh truyền tin phi kiếm treo lơ lửng bên ngoài cửa lớn tổ sư đường, chưởng luật lão tổ đưa tay chộp một cái, lấy ra mật tín, xem xong, sắc mặt xanh mét.
Lưu Hoa Mậu lo lắng, cẩn thận từng li từng tí hỏi: "Sao vậy?"
Chưởng luật lão tổ trầm giọng nói: "Chu Mật đích thân hiện thân ở địa giới Đồng Diệp Tông, cho Đồng Diệp Tông một lời hứa tày trời. Chỉ cần Đồng Diệp Tông rút bỏ hộ sơn đại trận Ngô Đồng Thiên Tán, thì cho phép bọn họ cát cứ tự lập, không những thế, còn có thể nhận được sự che chở ngàn năm của Chu Mật hắn và Thác Nguyệt Sơn, ngoài ra, còn sẽ để tân nhiệm tông chủ Đồng Diệp Tông, trở thành chủ nhân của một tòa quân trướng mới, Đồng Diệp Tông ngoại trừ trên danh nghĩa trở thành phiên thuộc của chủ nhân một châu tương lai, mọi thứ vẫn như cũ, Man Hoang Thiên Hạ thậm chí nguyện ý phái hai vị đại kiếm tiên bao gồm Thụ Thần, lần lượt đảm nhiệm cung phụng, khách khanh của Đồng Diệp Tông, hơn nữa hai vị này, không có tư cách chỉ tay năm ngón với việc nghị sự của tổ sư đường Đồng Diệp Tông, ngược lại bắt buộc phải xuất kiếm ba lần vì Đồng Diệp Tông."
Lưu Hoa Mậu hỏi: "Vậy kiếm tiên Tả Hữu?"
Chưởng luật lão tổ bất đắc dĩ nói: "Tu sĩ Đồng Diệp Tông căn bản không cần làm khó, không cần đuổi Tả Hữu rời khỏi tông môn, chỉ cần rút bỏ sơn thủy đại trận, khi Tả Hữu xuất kiếm, lựa chọn khoanh tay đứng nhìn."
Lưu Hoa Mậu nhíu mày không thôi, "Tả Hữu chẳng phải sẽ bị cô lập sao?!"
Tả Hữu đối với Đồng Diệp Tông mà nói, vốn dĩ là một người ngoài, trước đó trượng kiếm hộ đạo một tông môn, còn có thể nhân tâm ngưng tụ. Khiến cho tu sĩ Đồng Diệp Tông, nguyện ý quên mình vì nghĩa.
Hành động này của Chu Mật, rõ ràng là muốn để Tả Hữu đối địch với nhân tâm của cả tòa tu sĩ Đồng Diệp Tông.
Giữ hay không giữ Đồng Diệp Tông? Không giữ, sơn thủy khí vận của Đồng Diệp Tông, bị Man Hoang Thiên Hạ thu vào trong túi. Giữ, Ngô Đồng Thiên Tán đã rút bỏ, mỗi lần hắn xuất kiếm, một khi vạ lây cá trong chậu, tu sĩ một tông sẽ nhân tâm phập phồng.
Tống Thăng Đường vuốt râu híp mắt nói: "Khó rồi. Bài toán khó."
Đặt mình vào hoàn cảnh người khác mà nói, quả thực sẽ khiến tất cả mọi người cảm thấy tiến thoái lưỡng nan.
Lưu Hoa Mậu hỏi: "Người truyền tình báo này?"
Chưởng luật lão tổ tiêu hủy mật tín, nói: "Là một nữ tu trẻ tuổi tên là Vu Tâm."
Nhất thời bầu không khí trong Ngọc Quy Tông tổ sư đường nhẹ nhõm vài phần, chưởng luật lão tổ cười cười, "Chính là chuyển thế của nương thân vị trung hưng chi tổ kia của chúng ta."
Khương Thượng Chân giỏi nói lời quái gở, hình dung Đỗ Mậu là "một thằng nhãi phá gia chi tử của Đồng Diệp Châu, nửa cái trung hưng chi tổ của Ngọc Quy Tông".
Câu nói này ở Thần Triện Phong tổ sư đường, ai nấy đều cảm thấy tuyệt diệu. Dần dà liền lưu truyền rộng rãi ở Ngọc Quy Tông.
Dù sao Ngọc Quy Tông và Đồng Diệp Tông thù địch lẫn nhau, cũng không phải chuyện một hai ngàn năm. Không kém một vụ này.
Nếu không phải biến cố tày trời này, Thần Triện Phong tổ sư đường năm xưa đều từng chuyên môn nghị luận qua một chuyện, đánh chó mù đường, phải tằm ăn rỗi từng chút một cái nội tại của Đồng Diệp Tông kia. Vừa phù hợp quy củ Nho gia, lại ngầm hại người.
Lưu Hoa Mậu cảm thán nói: "Một cái không cẩn thận, chỉ riêng việc này, nói không chừng sẽ rước lấy họa sát thân cho cô ấy."
Chưởng luật lão tổ nói: "Vậy chúng ta cứ coi như chưa từng thấy phần tình báo này, chút đạo nghĩa này, vẫn phải giảng một chút, bất kể thế nào, bất kể vận mệnh hai tông sau này ra sao, về Vu Tâm này, mọi người nói chuyện làm việc, đều hậu đạo chút, nhớ thêm một phần hương hỏa tình của cô bé, nếu có cơ hội, còn có thể giúp đỡ chút."
Lão tổ lặp lại nói: "Nếu có cơ hội."
Lão nhân đột nhiên đứng dậy, rất nhanh tất cả mọi người đều đi theo đứng dậy, cùng nhau đi ra khỏi cửa lớn tổ sư đường, chỉ thấy bên ngoài sơn thủy đại trận kia, có một nữ tử trẻ tuổi mặc áo bông, dùng nhã ngôn Đồng Diệp Châu vừa mới học được, chậm rãi mở miệng, theo lý thuyết hộ sơn đại trận của Ngọc Quy Tông đã sớm ngăn cách thiên địa, đối phương lại không sử dụng thủ đoạn tạm thời phá vỡ cấm chế trận pháp, không nên nghe thấy giọng nói của nàng mới đúng, nhưng cố tình lời nói của nàng, tất cả tu sĩ Ngọc Quy Tông đều nghe rõ mồn một, giống như nhân gian nơi nào không ánh trăng.
Lời nói của nữ tử áo bông kia không nhiều, chỉ một ý tứ, Ngọc Quy Tông không cần nhường ra tông môn, người tu đạo cũng không cần rời khỏi đầu núi, chỉ cần giao ra một tòa Vân Quật phúc địa là được rồi.
Một thanh sam kiếm khách hóa tên Trần Ẩn, dáng người thon dài, cõng kiếm sau lưng.
Hắn mua một chiếc thuyền ô bồng ở bến Đào Diệp kia, thường ngày cô lái đò dáng người yểu điệu, lão chèo thuyền còn biết ngâm thơ hơn cả văn nhân nhã sĩ, đã sớm chạy tứ tán.
Thanh sam kiếm khách đành phải tự mình chống sào chèo thuyền.
Hiện nay văn nhân tao khách, đạt quan hiển quý của vùng kinh kỳ Đại Tuyền vương triều, đâu còn cái nhã hứng chèo thuyền ngắm cảnh này.
Cho nên người này tất nhiên là một vị ngoại hương tiên sư không thể nghi ngờ.
Thuyền ô bồng bến Đào Diệp, không phải là loại thuyền nhỏ chèo chân ở vùng sông nước hồ trạch bình thường, mũi thuyền khắc một loại trang trí chim nước giống cò, thanh sam kiếm khách chính là vì cái "đầu thuyền" cổ xưa này mới nổi lên hứng thú chống thuyền.
Hắn bên hông treo một tấm thẻ ngọc tổ sư đường, "Tổ sư đường tục hương hỏa", "Thái Bình Sơn tu chân ngã".
Tấm thẻ ngọc này chỉ là một trong những chiến lợi phẩm của một quân trướng nào đó, bị hắn lấy tới.
Phỉ Nhiên có cảm quan không tệ với Đại Tuyền vương triều, có nhiều nơi thắng cảnh, địa linh nhân kiệt, đặc biệt là biên quân tinh kỵ Đại Tuyền, chiến lực của quân trú đóng các nơi, đều khiến mấy quân trướng lớn ở trung bộ Đồng Diệp Châu phải nhìn với cặp mắt khác xưa.
Tình thế dưới núi tổng thể của Đồng Diệp Châu, thực ra tốt hơn nhiều so với dự kiến của Giáp Tử Trướng, nói tóm lại, chính là biểu hiện trên sa trường của các vương triều thế tục Đồng Diệp Châu, hai chữ, nát bét.
Gió mạnh mới biết cỏ cứng, càng hiển lộ ra sự xuất sắc của Đại Tuyền vương triều. Chỉ có điều cỏ dại chung quy là cỏ dại, dù kiên bền bỉ mạnh mẽ đến đâu, một trận lửa lớn cháy lan ra đồng cỏ, chính là tro tàn.
Dù sao "thiên thời" của Đồng Diệp Châu hiện nay, bị Thác Nguyệt Sơn của Man Hoang Thiên Hạ nắm giữ.
Phỉ Nhiên ném cây sào trúc, thuyền ô bồng tự mình đi tới.
Chỉ là quân trướng ở kinh thành Nam Tề hiện nay, về sự tồn vong của quốc tộ Đại Tuyền Lưu thị, tranh chấp không xong, một bên khăng khăng muốn giết sạch thành Thận Cảnh, tàn sát hàng loạt dân trong thành xây kinh quan (gò đống bằng xác chết), giết gà dọa khỉ một lần cho toàn bộ vương triều, phiên thuộc trung bộ Đồng Diệp Châu. Muốn chặt đầu từng phiên vương, công khanh xuống, lại phái tu sĩ treo từng cái đầu lên cổng thành các tiểu quốc, truyền đầu thị chúng, đây chính là kết cục của việc ngoan cố chống cự.