Thôi Sàm quay đầu lại, nhìn về phía người thanh niên cài trâm ngọc, đeo hồ lô nuôi kiếm, mặc áo xanh kia. Là kiếm khách, du hiệp, hay là người đọc sách?
Thôi Sàm vươn ngón tay, chỉ chỉ vào đầu mình, nói: “Ván cờ Thư Giản Hồ đã kết thúc, nhưng đời người không phải là ván cờ, không thể ván nào cũng làm lại từ đầu. Tốt hay xấu, thực ra đều vẫn còn ở trong này của ngươi. Dựa theo mạch lạc tâm cảnh hiện tại của ngươi, cứ tiếp tục đi như vậy, thành tựu chưa chắc đã thấp, nhưng ngươi nhất định sẽ làm một số người thất vọng, đồng thời cũng sẽ làm một số người vui vẻ. Mà hai bên thất vọng và vui vẻ kia, cũng chẳng liên quan gì đến thiện ác. Có điều ta chắc chắn, ngươi nhất định không muốn biết đáp án kia, không muốn biết hai bên kia rốt cuộc là ai.”
Trần Bình An nhìn vị Quốc sư Đại Ly này.
Quả thực rất giống với thiếu niên Thôi Đông Sơn, nhưng đích xác đã là hai người khác nhau.
Thôi Sàm cười nói: “Ngay cả Trần Bình An ngươi cũng giống như một thánh nhân đạo đức rồi, thế đạo này thật vi diệu. Nói thật, ta ngược lại có chút hối hận về lựa chọn ban đầu của mình. Thiên hạ hưng vong, liên quan quái gì đến ta?”
Thôi Sàm dường như có cảm xúc bộc phát, cuối cùng cũng nói được hai câu tiếng lòng chẳng màng đại cục.
“Phủ đệ hào môn, lầu cao trăm thước, chống đỡ được một vầng trăng sáng; phố phường chợ búa, gánh nước về nhà, cũng mang về được hai vầng trăng thanh.”
“Từ xưa kẻ uống rượu là khó say nhất.”
Trần Bình An ngồi lại xuống bậc thềm, tháo Dưỡng kiếm hồ xuống, nhưng mấy lần nâng tay lên, đều không uống rượu.
Thôi Sàm nói: “Trong lòng ngươi, Tề Tĩnh Xuân là người đọc sách, A Lương là kiếm khách, tựa như nhật nguyệt giữa trời, chỉ đường cho ngươi, có thể giúp ngươi ngày đêm gấp rút lên đường. Bây giờ ta nói cho ngươi biết những điều này, kết cục của Tề Tĩnh Xuân ra sao, ngươi đã biết; A Lương xuất kiếm, sảng khoái hay không sảng khoái, ngươi cũng rõ ràng. Vậy vấn đề đến rồi đây, Trần Bình An, ngươi thực sự đã nghĩ kỹ sau này phải đi như thế nào chưa?”
Trần Bình An trầm mặc không nói.
Thôi Sàm liền bỏ đi.
Bởi vì đáp án ra sao, Thôi Sàm thực ra cũng chẳng hứng thú.
Trần Bình An ngửa người nằm xuống, đặt Dưỡng kiếm hồ bên cạnh, nhắm mắt lại.
Không hiểu sao lại nhớ tới câu nói khắc trên vách tường quán rượu Hoàng Lương ở Đảo Huyền Sơn, nét chữ xiêu vẹo, như giun dế bò.
Là A Lương viết cho Tề tiên sinh.
*Giang hồ chẳng có gì tốt, cũng chỉ có rượu là tạm được.*
Trần Bình An đột nhiên mở mắt, đứng dậy, trong lòng thầm niệm.
Một đường kim tuyến dài từ trúc lâu núi Lạc Phách bay vút ra, đi tới đỉnh núi, bị Trần Bình An nắm trong lòng bàn tay, mũi kiếm hướng xuống, nhẹ nhàng khều Dưỡng kiếm hồ lên, cuối cùng duỗi tay cầm kiếm hướng về phía trước, mỉm cười nói: “Có rượu là được, đủ lắm rồi.”
Trần Bình An cầm kiếm xuống núi, liên tục uống rượu, sau khi buông thả uống thỏa thích thì say thật sự, thân hình lảo đảo. Lúc đi ngang qua trạch viện đám người Chu Liễm, vừa vặn nhìn thấy Sầm Uyên Cơ đang luyện quyền dưới ánh trăng.
Nàng phát hiện hắn nồng nặc mùi rượu, ánh mắt co rụt lại, liền dừng quyền thung, đứt đoạn quyền ý.
Trần Bình An cười một tiếng rồi đi qua, sau khi lảo đảo đi xa, bước chân không ngừng, tại con đường nhỏ trong rừng núi, quay đầu nói: “Sầm Uyên Cơ, quyền của ngươi, thật không được.”
Sầm Uyên Cơ nhắm một con mắt, vươn ngón tay, dường như muốn nói chuyện.
Rầm một tiếng.
Trần Bình An ngã vật xuống đất.
Sầm Uyên Cơ trong lòng than vãn một tiếng, giả làm cao thủ gì chứ, nói khoác cái gì chứ.
Chỉ thấy vị sơn chủ trẻ tuổi kia, vội vàng nhặt Kiếm Tiên và Dưỡng kiếm hồ lên, bước chân nhanh hơn rất nhiều.
Nhìn xem, ban nãy rõ ràng là giả say mà.
Sầm Uyên Cơ quay đầu nhìn thoáng qua trạch viện của Chu lão thần tiên, trong lòng bất bình, vớ phải một vị sơn chủ không biết nặng nhẹ thế này, đúng là lầm lỡ lên thuyền giặc rồi.
Ở bên bờ vách núi, Trần Bình An ghé vào trên bàn đá, gò má nóng hổi dán lên mặt bàn hơi lạnh, cứ thế nhìn về phương xa.
Chớp chớp mắt, lắc lắc đầu, cứ cảm thấy mình có phải hoa mắt hay không.
Tại quận Long Tuyền, còn có người dám ngự gió đi xa vội vàng như thế?
Nơi cực xa, một vệt cầu vồng trắng treo giữa không trung, thanh thế kinh người, chắc hẳn đã kinh động rất nhiều tu sĩ các ngọn núi rồi.
Trần Bình An nhắm mắt lại, không thèm để ý nữa.
Ở núi Lạc Phách còn sợ cái gì.
Cứ thế hôn mê bất tỉnh.
Đêm nay, có một thiếu niên áo trắng mi tâm có nốt ruồi son, ma xui quỷ khiến chỉ vì muốn gặp tiên sinh một lần, thần thông và pháp bảo dùng hết, vội vã về phía Bắc, lại càng định trước phải vội vã đi về phía Nam.
Hắn nhẹ nhàng cõng vị tiên sinh áo xanh đã ngủ say lên, bước chân khẽ khàng, đi về phía trúc lâu, lẩm bẩm thì thầm gọi một tiếng: “Tiên sinh.”
***
Núi Lạc Phách là một trong những ngọn núi cao ngất nhất của Ly Châu Động Thiên, vốn là địa điểm thưởng trăng tuyệt vời.
Thôi Đông Sơn một thân áo trắng nhẹ nhàng khép lại cửa trúc tầng một, khi thiếu niên thần tiên có dung mạo tuấn mỹ đứng yên, đúng thật là "quy lai nguyệt sắc hòa vân bạch" (về mang theo ánh trăng và mây trắng).
Thôi Đông Sơn rón rén đi lên tầng hai, lão nhân Thôi Thành đã đi tới hành lang, ánh trăng như nước rửa sạch lan can. Thôi Đông Sơn gọi một tiếng ông nội, lão nhân cười gật đầu.
Hai ông cháu, lão nhân chắp tay sau lưng đứng đó, Thôi Đông Sơn ghé vào trên lan can, hai ống tay áo rộng thùng thình treo lơ lửng bên ngoài.
Thôi Thành không muốn nói chuyện nhiều với Thôi Sàm, ngược lại đối với cái tên “Thôi Đông Sơn” được chia một nửa hồn phách này, Thôi Thành có lẽ vì hắn phù hợp với ký ức những năm tháng đầu đời hơn, nên muốn thân thiết hơn.
Thôi Thành hỏi: “Sao lại chạy về rồi?”
Thôi Đông Sơn khẽ nói: “Ở bên ngoài đi dạo tới đi dạo lui, cứ cảm thấy chẳng có gì thú vị. Đến địa giới thư viện Quan Hồ, nghĩ đến việc phải chạm mặt với mấy lão dạy học kia, ông nói gà bà nói vịt, tâm phiền, nên trốn về đây.”
Thôi Thành cười nói: “Đã làm đại sự không thẹn với bản tâm, thì phải có hằng tâm, không thể cứ mãi nghĩ đến chuyện thú vị hay vô vị.”
Thôi Đông Sơn dùng cằm làm giẻ lau, cọ qua cọ lại trên lan can: “Biết rồi ạ.”
Thôi Thành hỏi: “Đêm nay đi luôn?”
Thôi Đông Sơn gật gật đầu: “Chính sự vẫn phải làm, lão rùa già khốn kiếp kia thích so đo, có chơi có chịu. Lúc này cháu đã tự mình lựa chọn cúi đầu trước hắn, tự nhiên sẽ không làm trễ nải thiên thu đại nghiệp của hắn, cần cù chăm chỉ, thành thành thật thật, cứ coi như hồi nhỏ nộp bài tập cho phu tử gia thục vậy.”
Thôi Thành không nói thêm gì, lão nhân không cảm thấy mình có tư cách chỉ tay năm ngón với bọn họ. Năm xưa chính vì ông dạy dỗ hủ nho quá nhiều, nhồi nhét đạo lý cứng nhắc quá nhiều, lại thích ra vẻ, thằng nhãi con mới giận dỗi bỏ nhà đi, du lịch tha hương, một hơi rời khỏi Bảo Bình Châu, đi tới Trung Thổ Thần Châu, nhận một lão tú tài nghèo kiết xác làm tiên sinh. Những chuyện này đều nằm ngoài dự liệu của lão nhân. Lúc đầu mỗi lần Thôi Sàm gửi thư về nhà, đòi hỏi bạc tiền, lão nhân vừa bực mình, lại vừa đau lòng. Đường đường là đích tôn Thôi thị, cầu học nơi ngõ hẹp, có thể học được học vấn lớn bao nhiêu, tốt bao nhiêu? Chuyện này thì thôi đi, đã chịu thua với gia tộc, mở miệng đòi hỏi, mỗi tháng chỉ cần chút bạc ấy, có mặt mũi nào mà mở miệng? Mua được mấy cuốn sách thánh hiền? Cho dù một năm không ăn không uống, có gom đủ một bộ văn phòng thanh cung hơi ra hồn chút không? Đương nhiên, mãi về sau lão nhân mới biết học vấn của lão tú tài kia, đã cao đến mức như mặt trời ban trưa.
Thôi Thành nói: “Vừa rồi Thôi Sàm đã tìm Trần Bình An, chắc là đã nói rõ ngọn ngành rồi.”
Thôi Đông Sơn ừ một tiếng, cũng chẳng lạ lẫm gì. Thôi Sàm nhìn thấu hắn, thực ra Thôi Đông Sơn nhìn nhận Thôi Sàm, cũng chẳng khác biệt là bao, rốt cuộc đã từng là một người.
Thôi Đông Sơn quay đầu: “Hay là cháu đi muộn một chút?”
Thôi Thành cười nói: “Cháu đi muộn hay đi sớm, ông ngăn được sao? Ngoại trừ hồi nhỏ nhốt cháu trong các lâu đọc sách ra, về sau nữa, có lần nào cháu nghe lời ông nội đâu?”
Thôi Đông Sơn nói: “Lần này nghe lời ông nội.”
Thôi Thành nói: “Được rồi, quay đầu hắn có lải nhải, cháu cứ đổ vạ lên người ông.”
Thôi Đông Sơn cười híp mắt, thành thạo leo lên lan can, xoay người bay xuống mặt đất tầng một, nghênh ngang đi về phía mấy tòa trạch viện bên chỗ Chu Liễm. Trước tiên đi tới sân của Bùi Tiền, phát ra một chuỗi âm thanh quái dị, trợn trắng mắt thè lưỡi, nhe răng múa vuốt, dọa Bùi Tiền đang mơ mơ màng màng tỉnh lại giật nảy mình, với tốc độ sét đánh không kịp b tai lấy ra lá bùa vàng, dán lên trán, sau đó giày cũng không đi, tay cầm gậy leo núi chạy như điên về phía bệ cửa sổ, nhắm mắt lại múa may một bộ Phong Ma Kiếm Pháp, mồm la hét lung tung: “Mau cút mau cút! Tha cho ngươi khỏi chết!”
Thôi Đông Sơn quát lớn: “Gõ hỏng cửa sổ nhà tiên sinh ta, ngươi đền tiền đấy!”
Bùi Tiền ngẩn người tại chỗ, vươn hai ngón tay, nhẹ nhàng ấn ấn lá bùa trên trán để phòng ngừa rơi xuống, nhỡ đâu là yêu ma quỷ quái cố ý biến ảo thành bộ dáng Thôi Đông Sơn, tuyệt đối không thể lơ là, nàng thăm dò hỏi: “Ta là ai?”
Thôi Đông Sơn cười híp mắt nói: “Đại sư tỷ chứ ai.”
Bùi Tiền trút được gánh nặng, xem ra là Thôi Đông Sơn thật, lon ton chạy tới bệ cửa sổ, nhón gót chân, tò mò hỏi: “Sao ngươi lại tới nữa rồi?”
Thôi Đông Sơn hỏi ngược lại: “Ngươi quản ta?”
Bùi Tiền tháo lá bùa xuống cất vào trong tay áo, chạy đi mở cửa, kết quả vừa nhìn, Thôi Đông Sơn đã mất dạng, xoay một vòng vẫn không tìm thấy. Kết quả vừa ngẩng đầu, liền nhìn thấy một tên áo trắng treo ngược dưới mái hiên, dọa Bùi Tiền sợ đến mức đặt mông ngồi xuống đất. Hốc mắt Bùi Tiền đã rưng rưng nước mắt, vừa định bắt đầu gào khóc, Thôi Đông Sơn giống như một cây băng treo dưới mái hiên ngày tuyết lớn, bị Bùi Tiền dùng gậy leo núi chọc gãy, Thôi Đông Sơn lấy tư thế cắm đầu xuống đất trượt từ mái hiên xuống, đầu đập xuống đất, kêu cái bộp, sau đó thẳng đơ ngã trên mặt đất. Nhìn thấy cảnh này, Bùi Tiền nín khóc mỉm cười, đầy bụng tủi thân lập tức tan thành mây khói.
Thôi Đông Sơn bò dậy, rũ rũ tay áo trắng như tuyết, thuận miệng hỏi: “Con tiện tỳ không có mắt kia đâu rồi?”
Bùi Tiền cẩn thận từng li từng tí nói: “Thạch Nhu tỷ tỷ hiện giờ đang bận rộn buôn bán ở cửa tiệm Áp Tuế đằng kia, giúp ta cùng nhau kiếm tiền, không có công lao cũng có khổ lao, ngươi không được phép bắt nạt tỷ ấy nữa, nếu không ta sẽ mách sư phụ.”
Thôi Đông Sơn cười nhạo nói: “Mách lẻo? Sư phụ ngươi là tiên sinh của ta, rõ ràng là thân thiết với ta hơn chút, lúc ta quen biết tiên sinh, ngươi còn không biết đang ở đâu chơi bùn đâu.”
Bùi Tiền không muốn trong chuyện này thấp hơn hắn một đầu, nghĩ nghĩ: “Sư phụ lần này đi nước Sơ Thủy du lịch giang hồ, lại mang về cho ta một đống lớn quà tặng, đếm cũng đếm không hết, ngươi có không? Cho dù có, có thể nhiều bằng ta không?”
Thôi Đông Sơn cười nói: “Ngươi so gia tài với người được giang hồ xưng tụng là Đa Bảo đại gia như ta?”
Bùi Tiền nghiêm túc nói: “Của mình không tính, chúng ta chỉ so sư phụ và tiên sinh tặng cho mỗi người thôi.”
Thôi Đông Sơn hai tay dang ra: “Thua Đại sư tỷ không mất mặt.”
Bùi Tiền gật đầu nói: “Kẻ thức thời mới là tuấn kiệt.”
Thôi Đông Sơn vươn ngón tay, chọc chọc mi tâm Bùi Tiền: “Ngươi cứ ra sức mà xổ nho, chọc tức chết từng người cổ nhân thánh hiền đi nhé.”
Bùi Tiền một tát đập bay cái vuốt chó của Thôi Đông Sơn, rụt rè nói: “Làm càn.”
Thôi Đông Sơn bị chọc cười, một từ ngữ hay như vậy, bị Tiểu Hắc Thán dùng chẳng hào khí chút nào.
Thôi Đông Sơn bắt đầu đi ra ngoài sân: “Đi, tìm đầu heo chơi đi.”
Bùi Tiền đã không còn buồn ngủ nữa, hớn hở đi theo sau lưng Thôi Đông Sơn, kể cho hắn nghe chiến tích mình cùng Bảo Bình tỷ tỷ chọc tổ ong vò vẽ. Thôi Đông Sơn hỏi: “Tự mình nghịch ngợm thì cũng thôi đi, còn liên lụy Tiểu Bảo Bình cùng nhau gặp tai ương, tiên sinh không đánh ngươi?”
Bùi Tiền trợn trắng mắt nói: “Toàn nói lời ngốc nghếch.”
Thôi Đông Sơn than vãn một tiếng: “Tiên sinh nhà ta, đúng là coi ngươi như con gái ruột mà nuôi rồi.”
Bùi Tiền cười tít mắt, Đại Bạch Nga đúng là biết nói chuyện hơn lão đầu bếp nhiều.
Về phần Đại Bạch Nga, là biệt hiệu Bùi Tiền lén lút đặt cho Thôi Đông Sơn, chuyện này, nàng chỉ nói với Bảo Bình tỷ tỷ là người “kín miệng như bưng” nhất thôi.
Đi ngang qua một tòa trạch viện, trong tường có tiếng bước chân đi thung xuất quyền làm rung động y phục trầm đục.
Thôi Đông Sơn đạp hư không lăng không, từng bước lên cao, đứng ở bên ngoài đầu tường, nhìn thấy một thiếu nữ dung mạo xinh đẹp dáng người thon thả, đang luyện tập sáu bước đi thung sở trường nhất của tiên sinh nhà mình. Bùi Tiền đem cây gậy leo núi dựa nghiêng vào tường, lui lại mấy bước, nhảy vọt lên thật cao, giẫm lên gậy leo núi, hai tay bám lấy đầu tường, hai cánh tay hơi dùng sức, thành công thò đầu ra. Thôi Đông Sơn ở bên kia xoa mặt, lầm bầm nói: “Quyền này đánh đúng là cay mắt ta.”
Bùi Tiền hạ thấp giọng nói: “Sầm Uyên Cơ người này tâm không xấu, chỉ là hơi ngốc một chút.”
Thôi Đông Sơn gật đầu nói: “Nhìn ra được.”
Sầm Uyên Cơ chung quy là hạt giống luyện võ mà Chu Liễm nhìn trúng, một nữ tử có hy vọng thăng lên Kim Thân Cảnh võ phu, cũng chỉ ở nơi quỷ quái thần tiên hay lui tới như núi Lạc Phách mới nửa điểm không bắt mắt, chứ nếu tùy tiện ném tới nước Sơ Thủy, nước Thải Y, một khi để nàng leo lên thất cảnh, vậy chính là đại tông sư danh xứng với thực, đi cái giang hồ nước cạn kia, chính là trăn gấm núi rừng lội ao hồ, bọt nước nổ tung.
Chỉ là Sầm Uyên Cơ vừa mới luyện quyền, lúc luyện quyền, có thể đem tâm thần toàn bộ chìm đắm trong đó, đã là vô cùng không dễ, cho nên mãi đến khi nàng nghỉ ngơi một chút, dừng quyền thung, mới nghe thấy tiếng thì thầm to nhỏ bên đầu tường kia, trong nháy mắt nghiêng người, bước chân lui về phía sau, hai tay kéo ra một cái quyền giá, ngẩng đầu quát lớn: “Ai?!”
Khi nàng nhìn thấy cái đầu của “thiếu niên lang” tuấn mỹ kia, nhíu nhíu mày, sao lại toát ra một người lạ mặt phảng phất như Trích Tiên nhân thế này, lại nhìn thấy một bên Bùi Tiền đang toét miệng cười, Sầm Uyên Cơ lúc này mới thở phào nhẹ nhõm.
Thôi Đông Sơn hai khuỷu tay gác lên đầu tường, hỏi: “Ngươi là đệ tử ký danh núi Lạc Phách mà đầu heo... à không, là Chu Liễm chọn lên núi?”
Sầm Uyên Cơ không trả lời, nhìn về phía Bùi Tiền.
Bùi Tiền cười hì hì giới thiệu: “Hắn à, tên là Thôi Đông Sơn, là học trò của sư phụ ta, hai ta vai vế như nhau.”
Sầm Uyên Cơ bắt đầu thầm thì trong bụng.
Học trò đệ tử của vị sơn chủ trẻ tuổi kia?
Thiếu niên xinh đẹp nhìn qua thập phần linh tú trước mắt này, có phải bị ngốc hay không? Tìm ai không tốt, cứ phải tìm cái tên không học vô thuật kia làm tiên sinh? Quanh năm suốt tháng chỉ biết đi dạo lung tung bên ngoài, làm chưởng quầy phủi tay, thỉnh thoảng trở lại đầu núi, nghe nói không phải xã giao lung tung, thì chính là đêm hôm khuya khoắt uống rượu làm càn như nàng tận mắt nhìn thấy, ngươi có thể học được cái gì từ trên người tên kia? Tên kia cũng đúng là mỡ heo che tâm, lại dám làm tiên sinh cho người ta, thiếu tiền đến thế sao?
Sầm Uyên Cơ trong lòng thở dài, ánh mắt nhìn về phía thiếu niên tuấn mỹ áo trắng kia, có chút thương hại.
Thôi Đông Sơn khẽ nói: “Là ngốc thật, không phải giả đâu.”
Bùi Tiền ừ một tiếng: “Ta không lừa ngươi chứ.”
Hai cái đầu một lớn một nhỏ, gần như đồng thời biến mất khỏi đầu tường bên kia, cực kỳ ăn ý.
Sầm Uyên Cơ nghe không rõ ràng, cũng lười so đo, dù sao trên núi Lạc Phách, người quái dị chuyện quái dị cũng nhiều.
Thôi Đông Sơn không đi tìm Chu Liễm, dẫn Bùi Tiền đi tới đỉnh núi Lạc Phách, giậm chân một cái, tức giận mắng: “Còn không mau cút ra đây.”
Sơn thần núi Lạc Phách Tống Dục Chương vội vàng hiện ra chân thân, đối mặt với vị “thiếu niên” mà năm xưa ông ta đã biết rõ thân phận thật sự này, Tống Dục Chương ở dưới bậc thềm bên ngoài từ miếu, vái chào sát đất, nhưng không xưng hô cái gì.
Thôi Đông Sơn sắc mặt âm trầm, toàn thân sát khí, sải bước về phía trước, Tống Dục Chương đứng tại chỗ.
Bùi Tiền thấy tình thế không ổn, Thôi Đông Sơn lại muốn bắt đầu làm yêu làm quái rồi phải không? Nàng vội vàng đuổi theo Thôi Đông Sơn, nhỏ giọng khuyên nhủ: “Nói chuyện tử tế, bán anh em xa mua láng giềng gần, đến lúc đó khó làm người, vẫn là sư phụ đấy.”
Thôi Đông Sơn thở dài, đứng trước mặt vị sơn thần núi Lạc Phách thần sắc tự nhiên này, hỏi: “Làm quan làm đến chết rồi, thật vất vả mới làm được cái sơn thần, cũng vẫn không mở khiếu?”
Tống Dục Chương mặc dù kính sợ vị “Quốc sư Thôi Sàm” này, nhưng đối với việc đối nhân xử thế của mình, thẹn với lòng thì không, cho nên tuyệt đối sẽ không có nửa điểm khiếp nhược, chậm rãi nói: “Kẻ biết làm quan làm người, đừng nói Đại Ly ta không thiếu, từ vương triều Lữ thị đã bị diệt vong, đến Đại Tùy Cao thị đang thoi thóp, lại đến những phiên thuộc tiểu quốc gió chiều nào theo chiều ấy như Hoàng Đình quốc, có bao giờ thiếu đâu?”
Thôi Đông Sơn hỏi: “Vậy ta hỏi ngươi, làm quan cũng được, làm sơn thần cũng thế, ngươi bị Đại Ly Tống thị đặt ở những vị trí này, rốt cuộc ngươi đang theo đuổi sự tự mình viên mãn về đạo đức, hay là một lòng vì nước vì dân?”
Tống Dục Chương hỏi: “Quốc sư đại nhân, chẳng lẽ không cho phép vi thần có cả hai?”
Thôi Đông Sơn phất phất tay áo, không kiên nhẫn nói: “Lười nói nhảm với ngươi.”
Tống Dục Chương vái chào từ biệt, một tia không cẩu thả, kim thân trở về pho tượng thần bằng đất kia, đồng thời chủ động “đóng cửa”, tạm thời từ bỏ việc tuần tra núi Lạc Phách.
Thôi Đông Sơn dẫn Bùi Tiền đi dạo tùy ý trên đỉnh núi, Bùi Tiền tò mò hỏi: “Sao lại tức giận?”
“Đâu có tức giận, ta chưa bao giờ tức giận vì kẻ ngu, chỉ sầu mình không đủ thông minh.”
Thôi Đông Sơn lắc đầu, hai tay dang ra, khoa tay múa chân một chút: “Mỗi người đều có cách sống, học vấn, đạo lý, lời xưa, kinh nghiệm, vân vân và mây mây của riêng mình, cộng lại với nhau, chính là xây dựng cho mình một ngôi nhà. Có cái nhỏ, giống như những trạch viện nhỏ ở ngõ Nê Bình, ngõ Hạnh Hoa; có cái lớn, giống như phủ đệ bên ngõ Đào Diệp phố Phúc Lộc, hay là tiên gia động phủ của các ngọn núi lớn hiện nay, thậm chí còn có hoàng cung nhân gian kia, thành Bạch Đế ở Trung Thổ Thần Châu, Bạch Ngọc Kinh ở Thanh Minh Thiên Hạ. Ngoài lớn nhỏ ra, cũng có phân biệt vững chắc hay không, lớn mà không vững, chính là lầu các trên không trung, ngược lại không bằng trạch viện nhỏ mà kiên cố, không chịu nổi gió thổi mưa lay, khổ nạn vừa đến, liền cao ốc sụp đổ. Ngoài ra, lại xem cửa nẻo cửa sổ nhiều hay ít, nhiều, đồng thời thường xuyên mở ra, thì có thể nhanh chóng tiếp nhận phong cảnh bên ngoài; ít, lại quanh năm đóng cửa, thì có nghĩa là một người sẽ rất bướng bỉnh, dễ chui vào sừng bò, sống rất bản ngã.”
Bùi Tiền gật gật đầu: “Ta thích ngắm những ngôi nhà lớn lớn nhỏ nhỏ, cho nên những lời này của ngươi, ta nghe hiểu. Vị sơn thần lão gia không sợ ngươi kia, rõ ràng là kẻ đóng chặt cửa lòng, đầu óc một sợi gân, nhận chết lý lẽ chứ gì.”
Thôi Đông Sơn quay đầu, liếc nhìn đôi mắt Bùi Tiền, cười nói: “Được đấy, ranh ma thật.”
Bùi Tiền hai tay khoanh trước ngực, ôm cây gậy leo núi kia: “Chứ còn gì nữa, ta đều là người sắp đi học thục đọc sách rồi đấy.”
Thôi Đông Sơn cười nói: “Vậy ta phải nhắc nhở ngươi một câu, một tòa trạch viện chỗ trống có hạn, chứa cái này rồi thì không chứa được cái kia nữa. Rất nhiều người đọc sách tại sao đọc đến ngốc luôn? Chính là một loại sách cùng mạch lạc đọc quá nhiều, mỗi khi đọc nhiều thêm một cuốn, liền che khuất cửa sổ, cửa lớn thêm một phần, cho nên càng đến cuối cùng, càng nhìn không rõ thế giới này. Trong nháy mắt, tóc trắng xóa rồi, còn ở đó gãi đầu ngẩn tò te, vì sao lão tử đọc sách nhiều như vậy, mà vẫn sống không bằng heo chó. Đến cuối cùng chỉ có thể tự an ủi mình một câu, thế phong nhật hạ, phi ngã chi quá (thói đời ngày càng đi xuống, không phải lỗi của ta).”
Bùi Tiền nhìn quanh bốn phía, không có ai, lúc này mới nhỏ giọng nói: “Ta đi học thục, chính là để sư phụ lúc đi xa yên tâm hơn chút, cũng không phải đi đọc sách thật, đọc cái búa sách ấy, đau đầu lắm.”
Thôi Đông Sơn chớp chớp mắt, sau đó cười ha hả, một đường chạy như bay xuống núi: “Đi mách lẻo đây.”
Bùi Tiền sửng sốt, sau đó chực khóc, bắt đầu liều mạng vắt chân lên cổ chạy như điên, đuổi theo con ngỗng trắng lớn kia.
Thôi Đông Sơn đột nhiên dừng thân hình, đứng dưới một bậc thềm, quay đầu nhìn lại, kết quả nhìn thấy một nha đầu đen nhẻm, vì đuổi kịp mình, không màng đến việc có bị ngã đau hay không, nàng ở trên đỉnh núi một chân đạp đất, nhảy vọt lên thật cao, giống hệt thiếu niên đi giày rơm ở ngõ Nê Bình năm xưa, như chim ưng vượt khe mà bay.
Thôi Đông Sơn mỉm cười nói: “Tiên sinh, học trò, đệ tử. Hóa ra ba người chúng ta đều giống nhau, đều sợ trưởng thành như vậy, lại không thể không trưởng thành.”
Đột nhiên, có người một tát vỗ vào sau gáy Thôi Đông Sơn, vị khách không mời mà đến kia tức giận cười nói: “Lại bắt nạt Bùi Tiền.”
Tiếng nói vừa dứt, một tà áo xanh vừa từ phía trúc lâu núi Lạc Phách dũng mãnh lao tới, mũi chân điểm một cái, thân hình lướt đi, một tay ôm lấy Bùi Tiền, đặt nàng xuống đất. Thôi Đông Sơn cười khom người vái chào nói: “Học trò sai rồi.”
Bùi Tiền quệt một vệt mồ hôi đầy mặt, tròng mắt xoay chuyển, bắt đầu nói đỡ cho Thôi Đông Sơn: “Sư phụ, con và hắn đùa giỡn thôi, bọn con thực ra chẳng nói câu nào cả.”
Thôi Đông Sơn gật đầu như gà mổ thóc: “Đúng đúng đúng.”
Trần Bình An cười nói: “Tự các ngươi có tin không?”
Bùi Tiền và Thôi Đông Sơn đồng thanh nói: “Tin!”
Trần Bình An không truy cứu đến cùng, dù sao đều là làm càn.
Ba người cùng nhau xuống núi.
Tiên sinh học trò, sư phụ đệ tử.
Áo xanh áo trắng tiểu hắc thán.
Ba người đi tới bên bờ vách đá, mỗi người ngồi xuống, chỗ ngồi đối diện Trần Bình An, Thôi Đông Sơn và Bùi Tiền đều không vui lòng ngồi, cách tiên sinh hoặc là sư phụ xa hơn một chút.
Hầu môn nguyệt sắc thiếu vu đăng, sơn dã thanh huy ưu khả nhân (Ánh trăng cửa quyền quý ít hơn đèn, vẻ thanh huy nơi núi rừng càng đáng yêu).
Ba người cùng nhau nhìn về phương xa, người có vai vế cao nhất, ngược lại là người có tầm mắt gần nhất, dù là mượn ánh trăng, Trần Bình An vẫn nhìn không được quá xa. Bùi Tiền lại nhìn thấy ánh sáng lờ mờ bên phía trấn Hồng Chúc, ý xanh nhàn nhạt bên phía núi Kỳ Đôn, đó là mảng trúc Phấn Dũng núi Thanh Thần năm xưa Ngụy Bách trồng, để lại ân trạch nơi sương mù non nước. Thôi Đông Sơn là Nguyên Anh địa tiên, tự nhiên nhìn được xa hơn, đại khái hình dáng của ba con sông Tú Hoa, Xung Đạm và Ngọc Dịch, uốn lượn xoay chuyển, thu hết vào đáy mắt.
Bùi Tiền từ trong túi móc ra một nắm hạt dưa, đặt lên bàn đá, vui một mình không bằng vui chung, chẳng qua vị trí đặt có chút chú trọng, cách sư phụ và mình hơi gần hơn một chút.