LANG LO TAO NHA - TAC DAO TAM SI
Ngày mười rằm tháng mười năm ấy Từ Tuyết Đường đứng dậy ra đi Lâm Cao thẳng lối đường về Khách theo qua giốc Hoàng Nê hai người. Sương tuyết xuống lá rụng tơi bời Dưới bóng người trên bóng trăng cao Đoái trông phong cảnh vui sao Vừa đi vừa hát nghêu ngao mấy bài.
Cành liễu để viết chữ trên sông, chỉ là vẽ chữ mà thôi, tuy nhiên đường bút của Mục Chân Chân có phần rất thoải mái, ung dung, đúng là rất khác với vẻ bề ngoài hay e thẹn của nàng.
Trương Nguyên nói:
Viết rất khá, vì sao nàng không vào thư phòng luyện chữ trên giấy ấy?
Mục Chân Chân cúi đầu không trả lời, trên thuyền từ Thanh Phổ trở về, nàng và thiếu gia ở chung một khoang, thiếu gia đọc sách viết chữ nàng thì hầu hạ bên cạnh người, trên thuyền không có gì làm, nàng cầm bút luyện chữ thì không sao, nhưng bây giờ đã quay về nhà rồi, há có thể tự tung tự tác như trên thuyền cơ chứ, nào có cô hầu gái nào lại dám ngang nhiên ngồi vào thư phòng của chủ nhân luyện chữ cơ chứ?
Trương Nguyên hiểu lòng nàng, nói:
Cha ngươi ba tháng nay sẽ phải lo toan việc xây nhà, ta sẽ đi xin Hà Điển Sử khoan dung thêm hai tháng nữa, cùng lắm thì bù thêm chút tiền nha dịch thôi, nàng cứ an tâm ở đây đi, mỗi ngày sau giờ trưa lúc ta luyện chữ, nàng cứ ngồi vào luyện chữ cùng ta, dùng giấy ta đã chép một mặt, nàng chép tiếp mặt sau, nàng thấy thế nào?
Mục Chân Chân mừng rỡ, luôn miệng nói:
Cám ơn thiếu gia, cám ơn thiếu gia.
Trương Nguyên nói:
Chân Chân, nàng chỉ cần biết nhận mặt chữ biết viết chữ thế là được rồi.
Trong lúc nói chuyện Trương Nguyên không khỏi nghĩ tới Vương Anh Tư, bát cổ văn của Vương Anh Tư làm rất khá nhưng nàng ta lại chỉ có thể dùng nó để giết thời gian, hơn nữa loạn thế đến nơi rồi……đang trong vòng suy tư thì bỗng Mục Chân Chân ngại ngùng nói:
Tỳ nữ không mong gì hơn, chỉ cần biết viết biết chữ là được.
Trương Nguyên nhặt cành liễu Mục Chân Chân đánh rơi lên, sau đó cũng viết trên mặt bùn sông:
Kim giả bạc mạc, cử võng đắc ngư, cự khẩu tế lân, trạng như tùng giang chi tham, cố an sở đắc tửu hồ?
Tạm dịch:
(Đây cũng là một đoạn trong “Hậu Xích Bích Phú”-chủ nhà đang than thở rằng, khách đến nhà mà không có rượu, không có đồ nhậu, thế là khách rằng:
Xẩm tối bất ngờ giăng câu
Tóm ngay được ở đâu chú cá
Giống cá lư dưới chỗ Tùng Giang
Biết sao tìm được một vò rượu đây?)
Đứng lên ném cành liễu xuống nước, cười nói:
Nhà tỉ tỉ có cá tứ mang Tùng Giang, có cả rượu Hàn Đàm Xuân đấy, ha ha… thôi chúng ta về, đến lúc dùng bữa rồi.
Mục Chân Chân đi theo Trương Nguyên về hướng bờ đông, còn quay đầu lại nhìn những chữ được viết ven sông một cái, trong lòng thấy vui vui.
Ban đêm, Trương Nguyên ở trên lầu nam nhờ tỷ tỷ Trương Nhược Hi đọc sách cho hắn nghe gần nửa canh giờ, cuốn hiện tại đang đọc chính là bộ sáu mươi cuốn “Tuyển văn Chiêu Minh“ , bộ này cũng là mượn từ tàng thư lâucủa tộc thúc tổ Trương Nhữ Sương mượn , thi văn từ phú từ thời Tiền Tần tới danh gia ưu tú Nam Triều cơ bản đều lựa chọn và ghi lại rồi, đọc qua “ Tuyển văn Chiêu Minh“ mới có chút thấm nhuần triết lý bên trong, Lý Thuần, Lý Khiết cũng ngồi ở một bên nghe mẫu thân Trương Nhược Hi đọc sách, lúc này hai tiểu quỷ không dám tranh cãi ầm ĩ nữa, nghe một hồi cả hai đứa ngủ gật cả trên ghế, hai tỳ nữ Trương Nhược Hi mang về từ Thanh Phổ vội vàng ôm hai đứa nhỏ đi ngủ, Trương Nguyên cũng đứng dậy quay trở về lầu tây, Trương Nhược Hi đi theo hắn đi đến lầu hành lang, nhìn một góc ánh trăng dưới sân lầu, nói:
Cũng không biết Lục lang hiện tại như thế nào, mấy ngày nữa chắc sẽ có thư về, chỉ sợ chàng cho dù có bị ức hiếp cũng lại giấu ta mà thôi.
Trương Nguyên nói:
Vậy đợi sau khi tỷ phu gửi thư về, khi tỷ tỷ hồi âm, ta cũng viết cho Dương Thạch Hương ở Thanh Phổ một phong thư, hỏi thăm chút tình hình.
Trương Nhược Hi gật đầu nói được.
Ngày 20 tháng 3, vụ án của Diêu Phục, Dương Thượng Nguyên lại được mở thẩm lần nữa, Diêu Tín cũng bị áp trả từ phủ Hàng Châu trở về làm tội chứng, Diêu Phục, Dương Thượng Nguyên bị tịch thu nhà, từ trong nhà Dương Thượng Nguyên còn tịch thu được hàng nghìn lượng bạc giả, điền sản gia tài hai nhà Diêu, Dương đều mất hết.
Lỗ Vân Cốc em họ Lỗ Vân Bằng, tú tài Liễu Anh Tài, còn có con trai của Phương Tú Tài, và cả các khổ chủ bị Diêu Phục lấy tiền cho vay hại cho cửa nát nhà tan …tất cả họ lần này đều được quan xét cho bồi thường.
Phần lớn điền sản mà Diêu Phục chiếm đoạt của Phương Thị và Lỗ Thị đều được hoàn trả nguyên vẹn, những mảnh điền sản còn lại bị tịch thu làm quan điền và học điền, trở thành tài sản huyện nha và huyện học, Diêu Phục bị đánh 40 hèo rồi sung quân ở Tuyên Phủ, Tuyên Phủ là một trong chín biên ải, đến đó sung quân cơ bản chỉ có con đường chết. Diêu Tín, Dương Thượng Nguyên mỗi người lãnh 20 trượng, giải đến Vĩnh Ninh Vệ, Vĩnh Ninh Vệ ở Phước Kiến. Chủ nhà sụp đổ, gia nô hai nhà Diêu Phục và Dương Thượng Nguyên đều chạy sạch sành xanh, vợ Dương Thượng Nguyên là Phan Thị quay trở về nhà mẹ đẻ ở Dư Dập, còn mấy tiểu thiếp của Diêu Phục thì đã cao bay xa chạy từ sớm ngay lúc gã bị vào tù, bọn họ ứng biến cũng nhanh thật!
Trưa ngày 22 tháng 3, Trương Ngạc đến thư phòng lầu Tây thăm Trương Nguyên, vỗ tay cười to nói:
-Sảng khoái, sảng khoái, Diêu Phục cuối cùng tiêu đời rồi, Giới Tử, đệ đã bỏ qua vỡ tuồng hay rồi, huynh đệ Diêu Thị còn có cả Dương Thượng Nguyên kia bị đánh đòn, bá tánh vây xem hồ hởi hoan hô, điều này cho thấy Diêu hắc tâm đang ghét đến cỡ nào!
Đang nói chuyện, Đại Thạch Đầu tiến vào bẩm báo nói có một tên họ Lưu muốn gặp thiếu gia
Trương Ngạc và Trương Nguyên liền ra đến tiền sảnh, chỉ thấy huyện nha Lưu Tất Cường cung kính chắp tay trước ngực nói:
Giới Tử thiếu gia, Diêu Phục nay đã định tội, năm trước Diêu Phục thu tiền cáo trạng của Trương Đại Xuân hết 20 lượng bạc, tiểu nhân đã báo cáo lại với huyện tôn, nay huyện tôn bảo tiểu nhân đến hoàn trả số bạc này cho Giới Tử thiếu gia.
Một gã sai dịch khác đem dâng ngân lượng lên, Trương Nguyên bảo Vũ Lăng thu bạc lại, ngoài ra còn thưởng cho đám người Lưu Tất Cường mỗi người một vài lượng bạc, sau đó còn mời hai người bọn họ ở lại uống rượu, Lưu Tất Cường nào dám, khom lưng chào rồi nhanh nhảu ra về cùng tên còn lại.
Trương Ngạc cười nói:
Giới Tử, đệ hiện tại có thể coi là bá chủ Sơn Âm một phương rồi, ai còn dám chọc giận ngươi, Diêu Xúi Bẩy chính là minh chứng sống đây này
Trương Nguyên không thèm tranh luận với vị tộc huynh hàm hồ này, hỏi:
Tông Tử Đại huynh đã nhiều ngày không thấy bóng dáng? Nhưng huynh ấy lại là người bảo lãnh cho đệ, đăng ký thi Phủ chẳng những phải có người bảo đảm, còn phải có một người bảo lãnh phụ nữa, mà người này cũng nhất thiết phải là lẫm sinh mới được, cho nên ta còn phải nhờ Tông Tử Đại huynh giúp ta tìm một Lẫm sinh làm người bảo lãnh phụ.
Trương Ngạc nói:
-Đại huynh đầu tháng phải đi Thượng Ngu thăm Nghê Nhữ Ngọc rồi, chính là cái người yêu sạch sẽ Nghê Nhữ Ngọc, trước khi đi còn nói sẽ tranh thủ trở về, việc đăng ký chẳng phải cuối tháng mới hết hạn ư, gấp gì chứ?
Chương 161-2: Thanh Lâu và Hồng Lâu
Giới Tử đệ sốt ruột sao?
Trương Đại từ ngoài cổng đi vào, cười nói:
-Ta còn định mấy ngày nữa mới về để cho Giới Tử đệ phải cuống đến đứng ngồi không yên mới thôi.
-Ha ha, vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo đến.
Trương Ngạc vừa cười vừa đi xuống bậc thang, nói:
-Chắc là đại huynh chờ đến ngày đăng ký thi phủ cuối cùng mới tới khiến cho Giới Tử phải cuống lên. Thật là thú vị, giống như trong diễn tuồng vậy, cứu binh đến thời điểm cuối cùng mới xuất hiện.
Trương Nguyên cười nói:
-Thật là tra tấn người khác, khiến đệ cuống đến phát bệnh, làm sao mà đi thi được nữa.
Vương Khả Xan mặt hoa da phấn đi theo Trương Ngạc vào, chắp tay trước ngực thi lễ với Trương Nguyên. Lần này Vương Khả Xan, Mã Tiểu Khanh và mấy người thanh kỹ cùng với Trương Đại đi Thượng Ngu.
Trương Ngạc cười nói:
-Vương Khả Xan, sao ngươi lại chắp tay trước ngực. Đáng ra ngươi phải hành lễ vạn phúc mới phải.
Vương Khả Xa mặt phấn vóc dáng mảnh mai như sương khói, quả thật nhăn nhó vén áo thi lễ khiến cho Trương Ngạc cười to.
Vương Khả Xan này rất giống con gái. Mỗi lần Trương Nguyên nhìn thấy gã ưu đồng ăn vận trang điểm như nữ tử này thì đều nghĩ có phải nữ giả nam hay không. Nhưng chắc là huynh đệ Trương Đại, Trương Ngạc đã tìm hiểu tìm hiểu kỹ qua rồi. Vương Khả Xan là thanh kỹ, đồng thời là luyến đồng (đồng tính). Việc này nói ra dường như có vẻ không hay, nhưng Trương Đại và Trương Ngạc đều thản nhiên, Vương Khả Xan cũng không cảm thấy xấu hổ. Đây là bởi vì phong cách thời đó như vậy. Thời Vãn Minh, không ít sĩ đại phu thích người đẹp như Long Dương, mà ngay cả huynh đệ Viên Trung Lang, Viên Tiểu Tu cũng vậy. Tùng Giang, Tô Châu là vùng có nhiều đàn ông nhất. Thậm chí ở Tô Châu còn có cửa hàng nam. Kỹ viện thì gọi là thanh lâu, còn cửa hàng nam sắc thì gọi là hồng lâu. Đây thật là điều kỳ quặc. Trương Đại trong ‘Mộ bia tự mình khắc chữ’thẳng thừng viết rằng ‘nữ tỳ đẹp, luyến đồng hay’. Trương Nguyên cảm thấy nữ tỳ đẹp thì được, chứ luyến đồng hay thì không cần, bèn nói:
-Đại huynh vừa từ Thượng Ngu trở về đó à?. Xin mời ngồi uống chén trà.
Trương Đại nói thẳng:
-Có trà gì ngon?
Trương Đại thưởng trà rất cầu kỳ, nếu trà kém thì không vừa miệng.
Trương Nguyên nói:
-Thật ra là có trà ngon, là trà Long Tỉnh Tây Hồ thượng đẳng .
Trương Đại không đợi Trương Nguyên nói hết lời thì đã vui vẻ nói:
-Tốt lắm, mau pha đi.
Rồi y ngồi vào chỗ của mình, chờ thưởng thức Tây Hồ Long Tỉnh.
Trương Nguyên cười nói:
-Tổng cộng đệ có hai cân trà Long Tỉnh. Một cân đã tặng tộc thúc tổ, một cân đệ tặng Tí Am tiên sinh.
Trương Đại “hứ” một tiếng, nói với Trương Ngạc:
-Đúng là ta phải hai đêm nữa mới nên về.
Trương Ngạc nói:
-Đúng vậy, có về sớm người ta cũng không nể tình, trà cũng không cho huynh uống.
Trương Nguyên cười nói:
-Tỷ tỷ của đệ lần này từ Thanh Phổ về nhà thăm bố mẹ, mang theo hai cân Điến Sơn bạch trà, đại huynh đã nếm qua chưa?
Trương Đại nói:
-Điến Sơn chính là ở bên kia Thanh Phổ. Điến Sơn mà cũng có bạch trà ư? Ta chỉ nghe nói bạch trà của núi Thiên Mục thôi. Bạch trà vốn là loại hiếm thấy. Trong “Trà Kinh” của Lục Vũ cũng có ghi lại nhưng ta chưa từng thưởng thức qua. Mau mau pha trà để ta nếm thử nào.
Rồi lại hỏi:
-Vậy ai pha trà?
Trương Nguyên nói:
-Trước kia là Y Đình, bây giờ là Thỏ Đình.
Trương Đại lắc đầu nói:
-Tiểu nha đầu Thỏ Đình kia làm sao biết pha trà, chỉ biết lấy nước đun sôi mà thôi. Bảo Vương Khả Xan đi pha trà đi.
Trà nghệ của Vương Khả Xan đều do Trương Đại dạy dỗ.
Trương Nguyên liền bảo Vũ Lăng dẫn Vương Khả Xan đi xuống phòng hầu ở phía dưới lầu nam để pha trà. Vương Khả Xan bưng theo một cái khay đặt ấm trà và ba cái chén trà đi ra để chuẩn bị trà cho ba người Trương Đại. Trương Đại ngửi mùi hương của trà nhíu mày, y hé nắp chén trà, nhấp một ngụm rồi nói:
-Đáng tiếc, đây là trà ngon. Chỉ có điều không biết cách chưng hơi và sấy trà tốt cho nên bây giờ chỉ có thể miễn cưỡng nhấp miệng thưởng thức mà thôi.
Trương Nguyên nhấp một ngụm, cẩn thận thưởng thức. Hắn không có vị giác tinh tế như đại huynh Trương Đại, cười nói:
-Đại huynh có thể phân biệt được mùi vị, tiểu đệ thật khâm phục.
Trương Ngạc cười hì hì nói:
-Nói đến phân biệt mùi vị ta lại nghĩ tới một chuyện. Năm kia ta từng đánh cuộc với đại huynh, nhường mất ba tỳ nữ.
-Không được nói!
Trương Đại quát, mặt đỏ lên.
Trương Ngạc cười to, hỏi Trương Nguyên:
-Giới Tử có biết ta và đại huynh đánh cuộc gì không?
Trương Đại chồm người lên bước ra ngoài. Trương Nguyên vội đuổi theo nói:
-Đại huynh chớ đi. Kỳ thi phủ này ngoại trừ người bảo đảm còn phải có một người bảo lãnh. Đại huynh hãy giúp đệ tìm một người với.
Trương Đại nói:
-Người bảo lãnh không cần tự tìm đâu. Tôn giáo thụ sẽ sắp xếp ghép đôi dựa theo tư cách ở Lẫm Sinh huyện học. Đệ là án thủ thi huyện (đỗ đầu thi huyện) thì sẽ do người đứng đầu năm ngoái bảo lãnh, là Chu Mặc Nông. Chu Mặc Nông có giao tình với ta rất tốt. Bây giờ đệ đi cùng ta đến hỏi thăm hắn được chứ?
Đây là vì y muốn bỏ Trương Ngạc lại.
Trương Ngạc cười nói:
-Đại huynh chớ đi. Hai người các ngươi chớ đi. Đại huynh, vậy đệ kể trước với huynh về việc đánh cuộc với Giới Tử lần trước nhé.
Rồi gã liếc qua Trương Nguyên, muốn xem Trương Nguyên cuống lên thế nào.
Trương Nguyên cũng không hấp tấp. Hắn mà hấp tấp thì Trương Ngạc sẽ càng đắc ý. Hắn biết Trương Ngạc muốn nói về chuyện bảo vật hào quang vạn trượng, bèn bảo:
-Tam huynh là người thích đùa cợt. Chuyện đó đệ không coi là gì. Tam huynh cứ nhắc tới chuyện đó thì không thú vị rồi, hãy tìm chuyện khác mới mẻ hơn đi.
Trương Ngạc thấy Trương Nguyên không hấp tấp thì cảm thấy không thú vị, liền nói:
-Vậy hay là nói về chuyện của đại huynh trước.
Lúc nãy Trương Đại còn khẩn trương, bây giờ cũng đã bình tĩnh lại, nói:
-Trương Yến Khách, chuyện hoang đường của đệ cũng không ít. Vậy chúng ta thi đấu đi, đệ nói một chuyện thì ta nói một chuyện.
Trương Ngạc cười nói:
-Hay đấy. Cứ như vậy đi. Huynh nói một chuyện, đệ kể một chuyện. Đầu tiên đệ phải nói về…
Đại Thạch Đầu chạy vào nói:
-Thiếu gia, ngoài cửa có một đám người chạy đến, đều nói là muốn gặp thiếu gia.
Trương Nguyên nghe thấy tiếng người ồn ào vọng bên ngoài hàng rào trúc, không rõ chuyện gì xảy ra, đứng dậy ra cửa xem. Trương Đại và Trương Ngạc cũng cùng đi ra thì thấy Lỗ Vân Bằng, Liễu Anh Tài và những khổ chủ bị Diêu Phục làm hại đi đến cảm tạ Trương Nguyên. Họ còn cầm theo khế ước, ngân lượng, còn mang theo ngỗng vịt, ôm vải vóc đến muốn tặng cho Trương Nguyên để tỏ lòng biết ơn. Nếu không có Trương Nguyên thì bọn họ làm sao có thể chống lại Diêu Thoại Côn, chỉ sợ là cả đời trầm oan khó thoát, bị chiếm mất điền sản, không dám mơ đến việc lấy lại được. Cho nên họ đều thật lòng cảm kích Trương Nguyên.
Trương Nguyên chắp tay thi lễ với mọi người đang vây xung quanh mình, họ đều là hàng xóm bà con thân cận:
Tại hạ…
-Chư vị muốn đưa lễ vật gì thì cứ việc đưa, mau đưa đây. Có ân thì phải báo ân, không cần chỉ dẻo miệng. Lần này đánh bại Diêu Thoại Côn, công đầu thuộc về Trương Giới Tử đệ. Có công thì phải được hưởng lộc. Đến đây, đến đây. Ngỗng vịt thì để lại trong cửa hàng rào trúc, vải lụa thì để trên bệ đá xanh bên kia. Khế ước tiền bạc thì giao cho ta.
Người nói lời này đương nhiên là Trương Ngạc, kêu gọi mọi người mau mau tặng quà, gã vui lòng nhận hết.
Lỗ Vân Bằng dẫn đầu tiến lên, cầm hai tờ khế ước hai mươi mẫu ruộng giao cho Trương Ngạc. Lỗ Vân Bằng là người cảm kích Trương Nguyên nhất. Thiếu niên Lỗ Vân Bằng theo đường huynh (anh họ) Lỗ Vân Cốc đi khắp nơi tố cáo oan khuất mà Diêu Phục gây ra, cả gia sản bị mất hết. Lần này Hầu huyện lệnh phán sáu mươi mẫu ruộng của của Diêu Phục thuộc về Lỗ Vân Bằng. Lỗ Vân Bằng và đường huynh thảo luận một hồi thì quyết định lấy hai mươi mẫu ruộng để tạ ơn Trương Nguyên. Còn con trai của Phương tú tài lần này được chia năm mươi mẫu đất trên núi của Diêu Phục, cũng đưa ra khế ước mười mẫu đất để tạ ơn.Có người tặng bạc, nhiều thì mười lượng, ít thì hai lượng. Ngày xưa Diêu Phục làm làm điều ác thì bây giờ Trương Nguyên thu lễ, không, là Trương Ngạc thu lễ. Điều ác càng nhiều thì thu lễ càng hậu.
Trương Nguyên vội ngăn việc tam huynh thu lễ lại, rồi gọi Lỗ Vân Bằng lại hỏi:
-Đường huynh (anh họ)của ngươi không đến sao?
Lỗ Vân Bằng nói:
-Huynh ấy có đến. Mời Trương công tử xem, huynh ấy ở bên kia.
Trương Nguyên nhìn hướng Vân Bằng chỉ thì thấy Lỗ Vân Cốc mặc áo vải mang giày xanh đang đứng ở dưới một gốc cây hòe lớnở bên ngoài hàng rào trúc, chắp tay thi lễ với hắn từ xa . Trương Nguyên liền nói với Lỗ Vân Bằng:
-Ngươi mời đường huynh ngươi lại đây, ta có chuyện quan trọng muốn thương lượng.
Lỗ Vân Bằng liền đi ra cửa rào trúc, nhanh chóng trở lại cùng Lỗ Vân Cốc. Lúc này, Trương Ngạc đã thu được bốn mươi lăm mẫu khế ước và hơn trăm lượng bạc, ngỗng vịt chạy loạn đầy sân. Trên bệ đá chất vài chục súc vải lụa, hơn mười giỏ trứng gà, còn có cả trái cây đào và mận. Trương Ngạc có vẻ không hài lòng chê ít. Đối với y thì trăm lượng bạc thật ra không nhiều.
Lỗ Vân Cốc chắp tay thi lễ với Trương Nguyên:
-Giới Tử hiền đệ có chuyện gì chỉ bảo?
Trương Nguyên nói:
-Lỗ huynh, những lễ vật này ta không thể nhận. Nhưng ta thiết tưởng dùng số điền sản và tiền bạc này xây dựng một kho lương để trữ lương thực đề phòng mất mùa, cứu tế người dân gặp nạnTất nhiên nếu chỉ dựa vào số điền sản và tiền bạc này thì chưa đủ, còn phải đến những phú hộ trong bổn huyện để quyên tiền nữa. Bản thân ta xin quyên góp trước một trăm lượng.
Sau năm Gia Tĩnh, thiên tai thường xuyên xảy ra, quan phủ không có khả năng cứu đói nhiều như trước. Từ năm Vạn Lịch thứ hai mươi trở đi, hoàng đế lười chính sự. Mặc dù việc cứu đói giúp nạn dân thiên tai là chuyện đại sự cho dân chúng nhưng hoàng đế vẫn dây dưa bê trễ. Vì thế, không ít thân hào nông thôn giàu có ở địa phương đã tự xây kho lương chuẩn bị cho những năm mất mùa. Từ đó những thân hào địa phương đã thay thế thế chức trách cứu đói của quan phủ. Đây cũng là biểu hiện suy thoái của quan lại thời Vãn Minh. Lỗ Vân Cốc rất cảm động. Thủy hạn thường xảy ra. Năm nay đã hơn một trăm ngày chưa có mưa, chỉ sợ là sẽ có hạn hán lớn. Nếu như có kho lương thì có thể giúp cho nạn dân vượt qua năm mất mùa. Lỗ Vân Cốc lập tức lớn tiếng tuyên bố với mọi người việc này. Tất cả mọi người đều tán dương Trương công tử cao thượng, mời Trương công tử chủ trì việc xây dựng kho lương.
Trương Nguyên nói:
-Chư vị bà con, việc xây dựng kho lương còn phải đợi ta bẩm báo các trưởng bối trong tộc, sau đó mới định đoạt. Trễ nhất là trong tháng năm sẽ quyết định việc này.
Bình thường, xây dựng kho lương đều phải mời thân hào nổi tiếng của địa phương ra mặt, nếu không thì việc cũngkhông thành.
Trương Nguyên mời Liễu tú tài què chân và đám người Lỗ Vân Cốc ở lại bàn bạc việc xây dựng kho lương. Những người khác ở lại nghe một hồi rồi cũng đi về. Lúc này Trương Đại còn chưa biết là dân gian có khó khăn, không hề hứng thú với việc xây dựng kho lương. Trương Ngạc thì càng không phải nói, đưa khế ước và ngân lượng thu được giao cho Trương Nguyên. Gã gọi Năng Vượng ôm một con ngỗng về trước để về xào ăn.
Trương Nguyên mời Liễu tú tài mang những khế ước và ngân lượng hôm nay thu được ghi vào trong danh sách. Những ngân lượng và khế ước đó đều giao cho Lỗ Vân Cốc giữ. Công việc cụ thể trù bị kho lương sẽ bàn lại vào cuối tháng. Lỗ Vân Cốc cũng biết bây giờ Trương Nguyên phải chuẩn bị kỳ thi phủ nên cũng không dám quấy rầy, lập tức cáo từ.
Đám người Liễu tú tài và Lỗ Vân Cốc đi rồi, Trương Nguyên cùng Trương Đại đến tiếp kiến Chu Mặc Nông. Trên đường đi, Trương Đại hỏi Trương Nguyên:
-Giới Tử, đệ muốn bẩm báo tổ phụ việc xây dựng kho lương sao?
Trương Nguyên cười nói:
-Nếu bây giờ đệ đi nói thì chắc chắn là tộc thúc tổ sẽ mắng đệ một trận, nói đệ không làm việc đàng hoàng. Việc này chắc là phải đợi sau kỳ thi phủ mới nói.
Trương Đại nói:
-Xem ra Giới Tử có chí hướng lớn đấy, còn nhỏ tuổi mà đã chú ý tới dân sinh, không phải là một tên mọt sách.
Trương Nguyên cười nói:
-Chủ yếu là lễ vật này không nên thu, mà trả lại thì lại tiếc, chi bằng nhân cơ hội này làm một chuyện tốt.
Trương Ngạc cười ha hả.
Họ gặp Chu Mặc Nông ở Chu dinh thự bên hồ Bàng Công. Chu Mặc Nông biết được ông ta sẽ là người đảm bảo cho Trương Nguyên nên rất vinh hạnh. Chu Mặc Nông là người nghiện trà, Trương Đại là bạn trà của ông ta. Lúc này huynh đệ Trương Đại Trương Nguyên ở lại dùng cơm chiều. Sau khi ăn xong thì họ thưởng thức trà, thoải mái nói về các loại trà ngon trong thiên hạ. Trương Nguyên ngồi nghe, mở rộng thêm kiến thức đối với trà.
Trở về Phủ Học Cung từ hồ Bàng Công, Trương Đại hỏi Trương Nguyên có phải ngày mai đi phủ nha báo danh hay không.
Trương Nguyên nói:
-Ngày mai thầy của đệ là Tí Am tiên sinh đã bảo đệ dẫn hai huyện chư hiền đi Tị Viên. Tộc thúc tổ cũng muốn đi. Ngày mốt đại huynh hãy dẫn đệ đi báo danh đi.
Trương Đại rất thích du sơn ngoạn thủy nên nói:
-Vậy ngày mai ta cũng đi Tị Viên, xem Tị Viên như thế nào?
Chương 162: Kiếp này nhìn thấy người đào măng
Ngày 12 tháng 11 mùa đông năm trước, Trương Nguyên đã từng cùng cha con Vương Tư Nhâm và Vương Anh Tư đến xem qua Tị Viên, chứng kiến rừng mùa đông tiêu điều, tuyết đọng loang lổ, lúc đó sắc trời cũng u ám, đình đài lầu các đều có vẻ cô tịch, giữa hành lang còn có nhiều đồ vật vẫn chưa được rửa ráy sạch sẽ. Hơn bốn tháng sau, tức ngày 23 tháng 3, khi Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại cùng với tộc thúc tổ (ông chú) Trương Nhữ Sương lại đến Tị Viên ở Sơn Tây lộc - Hội Kê, thì thấy cả khu vườn đã tràn ngập sắc xuân, cây cổ thụ đã mọc cành mới, lá non mơn mởn, nhìn rất bắt mắt, hai bên lối đi nối liền với đình đài lầu các trồng nhiều cây hoa thược dược, tháng ba tiết xuân chính là mùa hoa thược dược nở. Hoa thược dược ở Tị Viên có rất nhiều loại, nhiều màu từ đỏ thẫm, tím thẫm đến trắng nhạt, vàng nhạt đều có, cực kỳ rực rỡ. Vương Tư Nhâm mời hơn mười quan thân của hai huyện Sơn Âm và Hội Kê, đều xuất thân là tiến sĩ, tóc đã hoa râm hoặc bạc trắng, người trẻ tuổi chỉ có hai người Trương Nguyên và Trương Đại, bởi vậy cũng giống như cây cổ thụ mọc cành mới, vô cùng bắt mắt. Danh tiếng hiện giờ của Trương Nguyên còn nổi bật hơn cả Trương Đại, tuy không không phải là độc bá Sơn Âm như Trương Ngạc nói nhưng ai cũng biết tới, Thiệu Hưng tri phủ Từ Thời Tiến vừa nhìn thấy Trương Nguyên liền cười ha hả hỏi:
Trương công tử cũng tới à, đã báo danh thi phủ chưa?
Từ Thời Tiến không thể bảo toàn cho Diêu Phục, trong lòng tất nhiên sẽ không hài lòng, nhưng việc đã đến nước này, lão tuyệt đối không ngu ngốc đến mức đi trả thù Trương Nguyên, làm như vậy không có lợi gì cho lão cả.
Trương Nguyên khom người nói:
Bẩm phủ tôn, học sinh ngày mai sẽ đi báo danh, đại huynh của học sinh là Lẫm Bảo, hôm qua mới từ Thượng Ngu trở về.
Một vị hương thân họ Thẩm cười nói:
Từ đại nhân, Thiệu Hưng ta đã nhiều năm chưa từng xuất hiện Tiểu Tam Nguyên, đứa cháu đích tôn của Túc Ông này đã được đề học đánh giá cao, thì bên Từ đại nhân cũng nên tác thành hắn cho thỏa đáng.
Trương Nhữ Sương khoát tay nói:
Việc này còn phải xem chế nghệ thi phủ của nó thế nào đã, nếu không tốt thì vẫn cứ đánh trượt, Phủ tôn đại nhân không cần phải nể mặt ta đâu.
Vương Tư Nhâm nói:
Hôm nay mời chư vị tới dạo chơi vườn, chớ đàm đạo về bát cổ, nhìn xa ngắm đỉnh Lư Hương giống như trụ trời, nhìn gần ngắm hoa thược dược muôn hồng nghìn tía, ngày tốt cảnh đẹp lại đàm bát cổ, chính là phá hỏng phong cảnh đấy.
Mọi người đều cười, chậm rãi đi ven theo con đường núi, vừa đi vừa nói về các câu chuyện nhân vật trong đời thường. Trương Nguyên và Trương Đại đi cuối cùng, Trương Đại nói nhỏ:
Đi du ngoạn cùng với các bậc tiền bối luôn gò bó, cảm thấy sơn thủy đều xa cách không thân cận nữa.
Trương Nguyên cười ‘hắc’ một tiếng, nói:
Thế thì chúng ta lặng lẽ tránh đi là được, hà tất cứ phải đi theo họ.
Hai người bèn từ đường ven núi quay trở về, đến một tòa mộc các (lầu gác bằng gỗ) ở gần khe suối để ngắm nước suối, đầu nguồn của ngọn suối này là ở trong núi Hội Kê, nước hồ trong thành Sơn Âm đều bị cạn do khô hạn, nước suối ở đây vẫn chảy róc rách như trước, hai bên bờ mọc đầy hoa thơm cỏ lạ, có những con bướm màu sắc bay lượn nhẹ nhàng, ngồi trên lầu gác ngắm cảnh ý vui.
Ánh nắng mặt trời ngày xuân hơi gắt, ngồi được một lát, Trương Đại nói:
Ta thấy hơi khát nước, tổ phụ và mọi người đến bên đường các chắc là phải uống trà rồi, chắc chắn có trà ngon, ta đi xin một chén trà, Giới Tử có cùng đi không?
Trương Nguyên đáp:
Đệ không uống, nơi này tuyệt quá đệ muốn ngồi thêm một lát.
Trương Đại nói:
Vậy thì lát nữa ta quay lại đây tìm đệ.
Nói rồi y đi về phía tòa đường các cao hơn tán rừng ở phía đông bắc Tị Viên.
Trương Nguyên ngồi một mình dựa vào lan can, ngửa mặt nhìn đỉnh Lư Hương, cúi xuống nhìn dòng suối nhỏ, trời trong nắng ấm, cảnh sắc hữu tình, chợt thấy một con thuyền nhỏ, khi tới mộc các, con thuyền nhỏ dừng lại, trên thuyền có hai người, trong đó một thiếu niên thư sinh đội khăn nho tơ tằm, mặc áo dài màu trắng ngẩng mặt lên gọi:
Giới tử sư huynh!
Trương Nguyên nhìn, a, là Vương Anh Tư. Thầy Vương Tư Nhâm cho phép nàng cải trang nam nhi đi chơi ư, chắc vì đây là lâm viên của nhà nên Vương Anh Tư được tự do hơn, hắn vịn hai tay vào lan can cười nói:
Anh Tư sư muội thật hăng hái!
Trên con thuyền nhỏ có hơn chục cây măng to như ngà voi, hẳn là đào được ở trong rừng trúc đằng trước mặt. Vương Anh Tư cầm một ngọn măng lên nói:
Cây măng này tặng huynh!
Nói rồi nàng dùng sức ném cây măng về phía mộc các. Sức Vương Anh Tư thì được bao nhiêu, cây măng to va vào thành gác kêu ‘bốp’ một tiếng rồi lại rơi xuống nước, thuyền nương vội vàng chèo thuyền lại gần, mò măng lên rồi neo thuyền vào cột gỗ, Vương Anh Tư lên bờ ngồi xổm bên bờ suối rửa tay, rồi lẹ làng đi lên mộc các, nhìn quanh, mắt mở to cười nói:
Chỉ có một mình huynh thôi sao?
Trương Nguyên nói:
Đại huynh ta Trương Tông Tử sắp tới rồi.
Vương Anh Tư nói:
Chúng ta tìm chỗ khác nói chuyện, muội có chuyện muốn nói với huynh.
Nói rồi, nàng quay người bước đi, đi được vài bước, nàng quay đầu lại vẫy tay gọi:
Đi nào, tới rừng trúc trước mặt, rừng trúc xanh mướt đẹp lắm, các lão tiên sinh sẽ không tới đó đâu.
Trương Nguyên hơi do dự một chút rồi đi theo, cùng Vương Anh Tư lên con thuyền nhỏ đó, một ngồi mui thuyền, một ngồi đuôi thuyền, Vương Anh Tư nói với thuyền nương:
Ta lại đến rừng trúc!
Thuyền nương rút cây sào trúc, chèo ngược dòng nước, sào trúc cắm vào lớp bùn đá dưới đáy khe suối, hai tay thuyền nương luân phiên đỡ sào trúc, con thuyền nhỏ từ từ đi về phía trước. Qua một vách núi nhỏ trước mặt, cảnh sắc đột nhiên biến đổi, bên bờ đá dòng suối nhỏ là rừng trúc bạt ngàn, ở giữa xen lẫn vài cây thông già, rừng trúc cao vút che khuất ánh nắng mặt trời, khiến cho đoạn suối này ánh màu xanh biếc.
Trương Nguyên khen:
Quả nhiên là nơi đáng đi!
Nhìn Vương Anh Tư ở mui thuyền, chiếc áo dài màu trắng mỏng biến thành màu xanh lục, đôi mắt mở to mỉm cười cũng xanh thẳm giống như Mục Chân Chân vậy.
Vương Anh Tư đắc ý nói:
Đúng là nơi nên đến nhỉ, từ bên bờ rất khó để đi đến chỗ này, buộc phải dùng thuyền, đoạn khe núi này cũng chỉ có đoạn này là dễ đi thuyền, là muội cố ý gọi người mang thuyền tới đó.
Trương Nguyên cười nói:
Sư muội thật thông minh!
Vương Anh Tư cười khanh khách, hỏi:
Trên bát cổ văn của muội huynh viết chữ ‘khả’ (có thể/được) là có ý gì vậy, là thông qua thi phủ rồi sao?
Trương Nguyên mỉm cười đáp:
Ta muốn đề cử muội là án thủ (người đỗ đầu) nhưng chỉ sợ Từ phủ tôn không đồng ý.
Vương Anh Tư nói:
Nói thật đi, cuốn chế nghệ đó so với huynh thì thế nào?
Trương Nguyên nói:
Ta cũng khó mà viết tốt hơn được.
Vương Anh Tư cười lớn, nói:
Cuốn đó thực sự muội đã mất rất nhiều công sức, nói thực với huynh, ngộ nhỡ thi phủ đúng vào đề mục này thì huynh cứ chép nguyên văn như thế, huynh thấy thế nào?
Trương Nguyên nói:
Chắc chắn sẽ chép!
Vương Anh Tư mừng rỡ, nói:
Thi phủ và thi huyện giống nhau, cũng có hai đề, để muội lại làm tiếp một đề nữa, nếu trúng đề thì huynh cũng cứ thế mà chép nhé.
Trương Nguyên cười nói:
Đoán trúng cả hai đề thì phải là tốt số lắm, cái này không được, vận may không thể dùng hết được, đề kia để huynh tự làm.
Vương Anh Tư cười nói:
Huynh thực sự cho rằng đề này sẽ đoán trúng thật đấy à, muội chỉ nói chơi thôi mà!
Nàng bóc một lớp áo măng ném xuống nước, nhìn nó trôi đi, cười nói:
Thực ra muội thực sự muốn được cùng huynh đi tham gia khoa cử, haizzz, nếu là nam nhi thì thật thú vị biết bao.
Nói đến đây, nàng nhìn khắp lượt Trương Nguyên, dường như đang nhìn xem trên người Trương Nguyên rốt cục có điểm nào không giống với nàng?
Trương Nguyên mỉm cười nói:
Kỳ thực làm nam nhi cũng không phải là rất thú vị, đều có cái phiền não riêng.
Hắn nghĩ thầm Giả Bảo Ngọc còn hận rằng mình không phải là nữ nhi kia kìa.
Vương Anh Tư nói:
Nam tử có thể thi cử, có thể kết bạn, không phải là rất thú vị sao, nữ tử thì chỉ có thể ở trong nhà mà thôi.
Trong lúc nói chuyện, con thuyền nhỏ đã đi được chừng nửa dặm trên dòng suối rợp bóng trúc, dừng lại ở chỗ bờ đá bằng phẳng, Trương Nguyên nhảy lên bờ trước, khi Vương Anh Tư nhảy lên bờ hắn còn thò tay cho nàng mượn bám vào, khiến thuyền nương há hốc mồm kinh ngạc.
Mảnh rừng trúc này ước chừng khoảng vài chục mẫu, sinh trưởng trên một sườn dốc nhẹ, trên và dưới sườn dốc đều là vách núi vách đá, quả thật chỉ có từ khe suối nhỏ mới có thể tới đây.
Đi vào rừng trúc, nghe tiếng ‘lao xao’ nhè nhẹ, ngẩng đầu nhìn lên, ánh mặt trời ngày xuân sáng rực rỡ, khắp rừng trúc đều là những vệt sáng lốm đốm như ánh trăng đang nhảy múa, đốm sáng cũng nhảy múa trên người Vương Anh Tư, điều này khiến Vương nhị tiểu thư đóng giả thiếu niên thư sinh tỏ ra hoạt bát lạ thường.
Trương Nguyên nói:
Mảnh rừng trúc này rậm rạp, nếu trời ảm đạm thì sẽ có vẻ u ám, đúng là phải ngày có nắng mới hay.
Vừa nói hắn vừa đi vào sâu trong rừng trúc, chợt nghe thấy phía sau ‘oạch’ một tiếng, Vương Anh Tư té ngã. Hắn vội quay lại đỡ Vương Anh Tư đứng dậy, nàng đột nhiên ôm một gốc cây trúc bật khóc, nước mắt rơi như mưa.
Thuyền nương cuống quýt chạy tới, vừa lau vết bùn dính trên vạt áo sau của Vương Anh Tư, vừa luôn miệng hỏi:
Nhị tiểu thư đau chỗ nào? Có trầy xước không?
Vương Anh Tư dùng khăn tay đánh vào cây măng to nói:
Ta muốn tham gia khoa cử, ta muốn tham gia khoa cử.
Thuyền nương nghĩ bụng hóa ra là như vậy, nhị tiểu thư lại giở tính khí trẻ con rồi, cái này thì mụ bất lực, mụ nhìn Trương Nguyên nói:
Trương công tử…
Ý mụ là muốn Trương công tử khuyên giải Anh Tư tiểu thư.
Trương Nguyên lại không cảm thấy dáng vẻ của Vương Anh Tư trẻ con buồn cười, Vương Anh Tư 16 tuổi, chế nghệ cao siêu, thân là nữ tử không thể tham gia khoa cử, chắc chắn sẽ rất buồn lòng. Vương Anh Tư vốn là người sống nội tâm, lúc này xúc cảnh sinh tình, đột nhiên bộc phát ra sự buồn bực trong lòng cũng là chuyện bình thường, ai nói rằng ca khóc kiêu ngạo chỉ là quyền lợi của nam tử?
Trương Nguyên giữ im lặng, khom người trên mặt đất tìm một hồi, tìm được một ngọn măng nhọn chồi lên khỏi mặt đất, hắn đứng lên nói:
Sư muội, là cây măng này làm trượt chân muội, chúng ta sẽ đào nó lên, mang về ăn báo thù rửa hận.
Hắn bảo thuyền nương đi mang chiếc cuốc ngắn trên thuyền tới.
Vương Anh Tư cười một tiếng, dùng khăn lụa lau khô nước mắt, nói:
Giới Tử sư huynh chớ chê cười muội.
Trương Nguyên nói:
Sao thế được, ta cũng cảm thấy rất tiếc.
Vương Anh Tư liền nói:
Vậy thì sư huynh có thể nghĩ cách giúp muội để muội tham gia khoa cử có được không, sư huynh luôn nghĩ ra biện pháp mà.
Trương Nguyên vội vàng lắc đầu nói:
Việc này ta thực sự lực bất tòng tâm, sư muội chắc chắn cũng biết rằng long môn trường thi kiểm tra cơ thể gắt gao lắm.
Vương Anh Tư sắc mặt ửng đỏ, nói:
Hối lộ một chút những viên quan nhỏ, thế nào?
Trương Nguyên nói:
Cái này không được, thầy Vương chắc chắn không cho phép đâu.
Vương Anh Tư nhún hai vai, chán nản nói:
Muội cũng biết không được, chỉ có điều chưa từ bỏ ý định, nghĩ rằng huynh sẽ có cách gì hay chứ!
Trương Nguyên nói:
Trình độ chế nghệ của sự muội tương đương với ta, nếu ta có thể thông qua được thi phủ, thi đạo thì sư muội cũng có thể, ta là sinh đồ thì sư muội là nữ sinh đồ….,
Nói tới đây, hắn cũng bật cười.
Vương Anh Tư trừng to mắt cười nói:
Sư huynh thi đỗ cử nhân, vậy thì muội chính là nữ cử nhân, sư huynh đỗ tiến sĩ thì muội sẽ là nữ tiến sĩ.
Cả hai huynh muội nhìn nhau cười lớn.
Thuyền nương mang tới một cái cuốc ngắn, Trương Nguyên cầm cuốc đào cả ngọn măng đó lên, thuyền nương khen:
Trương công tử đào giỏi quá, vừa rồi nhị tiểu thư đào đã chặt đứt mấy cái.
Vương Anh Tư nói:
Măng này phiền sư huynh mang về nấu ăn đi, để báo thù cho muội.
Trương Nguyên nói:
Không biết có ngon hay không, nếu không ngon thì báo thù này cũng khổ quá.
Vương Anh Tư cười, thuyền nương nói:
Trương công tử, măng ở đây ngon lắm, non như ngó sen, ngọt như mía, Trương công tử cứ mang về nấu ăn là biết.
Rồi mụ lại hỏi Vương Anh Tư:
Nhị tiểu thư nên về chưa? Lát nữa là lão gia sẽ đi tìm đấy!
Vương Anh Tư ‘ừ’ một tiếng, nhìn Trương Nguyên nói:
Sư huynh so với cha muội còn ranh mãnh hóm hỉnh hơn, mỗi lần gặp sư huynh thật sự đều rất vui vẻ.
Vương Anh Tư khi nói lời này không hề tỏ thái độ ngại ngùng.
Chương 163: Hoa sen ban đầu giống như hoa người
Thuyền nhỏ xuôi theo dòng, tới gần chỗ mộc các (chòi gác bằng gỗ) thì táp vào bờ. Vương Anh Tư nhảy luôn lên bờ, quay sang Trương Nguyên nói:
Lát nữa sẽ cho người mang chỗ măng này tới nhà sư huynh.
Ngẩng đầu nhìn lên, trên chòi gỗ có người đang đứng vịn vào lan can nhìn vọng xuống. Nàng không nói gì nữa mà chắp tay thi lễ với Trương Nguyên rồi lên sạn đạo ( đường bằng cọc gỗ lát ván trong hẻm núi hoặc bờ vực) đi về hướng khác.
Trông thấy đại huynh Trương Đại, Trương Nguyên cũng bước nhanh tới chỗ chòi gỗ, lên tiếng hỏi:
Đại huynh tới khi nào vậy?
Trương Đại cười nói:
Giới Tử, ta đợi đệ cả nửa ngày trời rồi đó. Ban nãy vừa mới ở bên đường các thưởng thức trà Long Tỉnh Tây Hồ, mà lại là loại thượng hạng nhất “Liêm Tâm trà” trong Long Tỉnh Tây Hồ đó nhé. Chắc là của đệ biếu Tí Am tiên sinh đúng không, quả nhiên là loại hảo hạng, thái giám quản lí hàng dệt Hàng Châu quả thật rất biết thưởng thức.
Trương Nguyên nói:
Đệ cũng biếu một cân tới chỗ Tộc thúc tổ rồi đó, chứ có giữ lại cho mình được lạng nào đâu.
Trương Đại nói:
Vậy ta phải thường xuyên tới chỗ tổ phụ xin trà uống mới được.
Rồi chợt thấy bóng Vương Anh Tư phía đường núi, chỉ tay về phía nàng, hỏi:
Người kia là ai vậy?
Trương Nguyên nói:
Là cháu trai của Tí Am tiên sinh đó.
Bờ môi Trương Đại khẽ nhếch lên, như cười như không, nói:
Thế ư, thế sao ta lại thấy giống một vị cô nương vậy?
Trương Nguyên điềm tĩnh đáp:
Nam tử có tướng đàn bà đâu phải ít, Vương Khả Xan cũng rất giống một vị cô nương đó thôi.
Trương Đại nhìn đánh giá Trương Nguyên một hồi, trong đầu như đang suy ngẫm gì đó, cười nói:
Cũng không phải, Vương Khả Xan là nam tử, điều này ta biết, có điều vị này...
Gã vừa ngẩng đầu lên nhìn đã không thấy bóng dáng Vương Anh Tư đâu nữa.
Trương Đại chỉ về phía Vương Anh Tư ban nãy đứng, nói:
Nhưng vị này rõ ràng là một vị cô nương, vì nàng ta bó chân. Vương Khả Xan dù có giống phụ nữ đến mấy thì cũng chưa hề bó chân.
Trương Nguyên kinh ngạc, mới vừa rồi khi Vương Anh Tư lên xuống thuyền hắn cũng để ý tới hai chân của Vương Anh Tư. Nàng đi một đôi giày da dê hai mặt bình thường mà các nho sinh vốn hay đi, chân cũng không nhỏ, hẳn là chưa phải bó chân. Vậy vì sao Đại huynh lại có thể đoán chắc Vương Anh Tư đã bó chân rồi?
Trương Đại thấy bộ dạng Trương Nguyên có vẻ nghi hoặc, đắc ý nói:
Giới Tử đệ về phương diện này thì không bằng ta rồi. Ta tuyệt nhiên không trông thấy chân của nàng, nhưng chỉ nhìn dáng đi thướt tha lả lướt của nàng thì ta biết ngay là nàng đã bó chân rồi, mà kiểu bó chân ấy là kiểu của Dương Châu. Kiểu bó chân Dương Châu này không phải ai cũng thích hợp, chỉ những người có bàn chân ngắn mà rộng bẩm sinh thì mới hợp bó kiểu này thôi. Kiểu bó dùng mảnh trúc kẹp lại để hạn chế chiều rộng của chân, để bàn chân phát triển dài ra và nhỏ hơn, gân cốt cũng không bị tổn hại nhiều.
Trương Đại đột nhiên không nói tiếp nữa. Gã không biết vị cô nương ban nãy là người phương nào nên không dám nói bừa.
Trương Nguyên lắc lắc đầu, nghĩ thầm:
Vương lão sư cũng chưa có tư tưởng tiến bộ rồi, nên Anh Tư sư muội vẫn bị quấn chân như thế. Ta cứ tưởng Anh Tư sư muội cũng giống như Đạm Nhiên đều không phải bó chân cơ. Anh Tư sư muội khi còn bé đã bị bó chân như vậy, hẳn là phải khóc to lắm, Vương lão sư sao đành lòng cho được?
Lại nghĩ:
Chắc là Vương sư mẫu bắt Anh Tư sư muội phải bó chân đây. Hôm trước Anh Tư sư muội tới gặp ta, liền bị Vương sư mẫu túm về. Bà hẳn là một người khá nghiêm khắc đây.
Nghĩ tới lúc trước ở trong rừng trúc Vương Anh Tư ôm cây trúc khóc nói muốn tham gia khoa cử, hắn không khỏi cảm thấy tiếc nuối. Trương Đại thấy bộ dạng thất thần của Trương Nguyên bèn lên tiếng:
Giới Tử, đệ cũng đâu phải người Hồ Đào, coi như không chú ý tới đôi chân bị bó của nàng đi chăng nữa thì cũng vẫn có thể nhìn ra nàng là con gái. Khai mau, nàng ấy là ai hả? Đệ mà không nói, ta sẽ tự mình qua hỏi thuyền nương.
Trương Nguyên bất đắc dĩ đáp:
Chẳng dám giấu gì Đại huynh, nàng là con gái của Tí Am tiên sinh, nàng ta vốn thích giả trang làm thư sinh như thế đó.
Quả nhiên là nàng ta.
Trương Đại vỗ đùi đánh đét một cái. Vẻ hưng phấn đền kì lạ của gã làm Trương Nguyên không khỏi ngạc nhiên, lại thấy Trương Đại hỏi:
Đây chính là Vương nhị tiểu thư mà hồi đó Tí Am tiên sinh có ý định gả cho đệ đó đúng không?
Trương Nguyên giật mình kinh hãi, lúc này thì khó có thể giữ được vẻ điềm tĩnh được nữa, vội lên tiếng hỏi:
Đại huynh nghe được tin này từ đâu vậy?
Chuyện này hắn chỉ kể lại với mỗi mẫu thân và tộc thúc tổ Trương Nhữ Sương, vả lại khi kể chuyện này hắn còn cố ý cho người hầu lui đi rồi cơ mà!!?
Trương Đại cười nói:
Cũng chẳng giấu gì đệ, chuyện này là ta nghe tên trà đồng hầu trà cho tổ phụ nói đó. Chắc khi đệ kể chuyện này cho tổ phụ thì đã tên trà đồng này nghe được rồi.
Trương Nguyên vội nói:
Đại huynh, việc này chớ để truyền ra ngoài thêm nữa.Tí Am tiên sinh quá độ lượng, quá khoan dung với đệ rồi, nếu việc này mà còn bị truyền ra ngoài thêm nữa thì thầy sẽ vô cùng mất mặt, sau này tiểu đệ đâu còn mặt mũi nào mà đi gặp thầy nữa.
Trương Đại nói:
Đã biết như thế, sao đệ còn đi đào măng với Vương tiểu thư ấy làm gì?
Trương Nguyên nghẹn lời, hắn cũng là con người, đâu tránh khỏi có lúc không kìm nén nổi tình cảm tự nhiên trong lòng.
Trương Đại cười cười nhìn Trương Nguyên, nói:
Không lẽ Giới Tử đệ muốn bắt cá hai tay chăng? Đừng vội thề thốt phủ nhận, chuyện như vậy ta gặp nhiều rồi, khỏi cần dối mình dối người mà làm gì. Đệ nên thành thực với suy nghĩ ban đầu của mình, đó mới là tình cảm tự nhiên nhất, chân thành nhất xuất phát từ trái tim của đệ.
Trương Nguyên thầm nghĩ: “Suy nghĩ ban đầu của ta là thấy Anh Tư sư muội rất... dễ gần, nói chuyện với nàng thì cảm thấy vui vui, có gì đó khá là...ừm...sung sướng. Nhưng trái tim ta lại có rất nhiều băn khoăn, chính là do những lễ nghi thế tục trói buộc.”
Trương Đại nói:
Người ngây thơ là người ta chân thật nhất, suy nghĩ ban đầu trong ta cũng vậy. Đánh mất đi sự ngây thơ trong sáng là sẽ đánh mất đi sự chân thành, chân thật, mất đi con người thật của chính mình. Người mà không giữ được con người thực của chính mình thì sẽ không có kết cục tốt. Giới Tử chắc hẳn cũng biết đây là lời của ai phải không?
“Đồng tâm thuyết” của Lý Chuế, cuốn đoản văn này sau bốn trăm năm được Trương Nguyên đọc qua, lúc đọc hắn cũng chẳng mấy để tâm, còn hiện giờ, nghe đại huynh Trương Đại nói thì mới nghiệm ra được nhiều điều. Giữ được sự trong sáng ngây thơ mới có được chân tình, nhưng không phải cứ có chân tình là có thể muốn làm gì thì làm. Con người ta đâu phải sống trong thế giới của tư tưởng triết học và không tưởng đâu, thực tế luôn luôn khô cằn và tàn khốc hơn tưởng tượng rất nhiều. Lý Tán cuối cùng chẳng phải cũng bị giam vào ngục, đến mức phải tự sát đó sao? Trương Nguyên nói:
Câu này vốn bắt nguồn từ Vương Dương Minh, nhưng đã có phát triển thêm ý mới. Không biết đây là cao kiến của vị hiển đạt nào?
Trương Đại nói:
Đây chính là “Phần thư” của Lý Trác Ngô. Không đọc “Phần thư” thì khó xưng là danh sĩ.
Kẻ sĩ thời Vãn Minh vô cùng phóng túng, từ Vương Dương Minh, Lý Chuế vừa hay có thể tìm được cơ sở tư tưởng.
Trương Nguyên hỏi:
Lý Trác Ngô tiên sinh đã quy tiên mấy năm rồi?
Trương Đại nói:
Ông ấy đã tạ thế mười năm rồi, quả là đáng tiếc. Lý Trác Ngô hành sự khiến người đời phải kinh hãi, hơn sáu mươi tuổi còn đem lòng yêu con gái của ngự sử Hồ Bắc Ma Thành Mai, việc ông ấy bị tống vào ngục cũng có liên quan tới chuyện này.
Trương Nguyên kinh ngạc nói:
Còn có chuyện như vậy ư, đệ chưa từng nghe qua.
Trương Đại nói:
Lý Trác Ngô khi đó đã xuất gia tu hành rồi, Mai thị chưa thành thân đã trở thành quả phụ. “Phần thư” của Lý Trác Ngô là bốn bài thơ thất ngôn mà ông viết tặng cho Mai thị, ý tứ sâu xa lắng đọng, tình cảm dạt dào, ta cho rằng trong những cuốn thơ tình tự cổ chí kim, đây có thể coi là bậc nhất. Ta thử ngâm cho đệ nghe “ “ Một lần bay về Giang Nam, gần trong gang tấc mà không thể nói cười với nhau.....”
“ Cầm bát trở về đứng ngồi không ngồi yên, xa nghe thấy lời bàn cao kiến lại buồn lòng. Hiện giờ nam tử biết được bao nhiêu, nói hết cao kiến với quan tức là tiên. “
“ Hạt tuyết mong manh bay nhẹ theo gió, hoa mai điểm xuyết những hạt mưa. Trước cửa xe ngựa đi lại nhiều, chim đỗ quyên nay đã gọi xuân về. “ “ Nhiều tiếng gọi xuất phát từ bản thân mình, sinh tử như ngọn núi không động bụi trần. Mong gặp Quan Âm thì nay chính là nàng, hoa sen ban đầu giống như hoa người. “
Trương Nguyên thở dài:
Lý Trác Ngô còn so sánh Mai thị với Quan Âm nữa cơ á, từ bốn bài thơ này có thể thấy, tình cảm của hai người này vẫn khá là trong sáng, Là kiểu kết giao qua lời nói, có sự tương đồng về tinh thần.
Trương Đại tấm tắc:
Giới Tử, nếu Lý Trác Ngô tiên sinh còn tại thế thì nhất định sẽ coi đệ là tri kỉ đó. Cho nên mới nói, chi bằng Giới Tử đệ và Vương nhị tiểu thư kết giao đi, hai người cùng viết nên một đoạn giai thoại, ta đây vô cùng ngưỡng mộ.
Trương Đại mười bảy tuổi thực lòng ngưỡng mộ, gã rất mong có thể gặp được một hồng nhan tri kỷ đích thực. Vị hôn thê Lưu thị của gã thì không tính, bởi ngay cả mặt mũi nàng ta xấu đẹp thế nào gã còn chưa được nhìn tới một lần.
Nói đi nói lại cuối cũng vẫn quay lại chủ đề Vương Anh Tư này, Trương Nguyên cười
nói:
Ta đâu dám so với Lý Trác Ngô tiên sinh, ta còn hừng hực sức trai thế này, không thích hợp với kiểu “luyến ái tinh thần” trong sáng đó đâu. Đợi sau khi ta sáu mươi tuổi hãy hay, còn hiện giờ ấy à, ta còn nhiều việc phải làm lắm.
Trương Đại vui vẻ nói:
“Luyến ái tinh thần”, từ này mới nha, trước nay ta chưa bao giờ nghe qua.
Đúng lúc đó thì có người hầu Vương thị tới hai người đi dự tiệc, Trương Nguyên nói thầm:
Đại huynh, chuyện này về sau đừng bao giờ nhắc tới nữa.
Trương Đại gật đầu cười nói:
Ta sẽ im lặng theo dõi biến động của nó, hai người một sư huynh một sư muội, nhìn thế nào cũng thấy có duyên mà.
Sau bữa trưa là tới giờ Thân, Trương Nguyên trở lại dinh thự Đông Trương. Năm khúc măng ngà voi lớn của Tị Viên đã được mang tới rồi, trong đó có một khúc còn được buộc một dây lụa, đây nhất định là cây măng đã ngáng ngã Vương Anh Tư. Trương Nguyên liền lệnh cho Thúy Cô xào cây măng này trước với thịt để ăn. Đúng như thuyền nương đã nói, măng ngọt như mía, non như ngó sen. Lúc hoàng hôn khi cả nhà đang ăn măng thì hắn vẫn ở bên bờ sông Đầu Lao cưỡi con la trắng, đợi khi Lý Thuần, Lý Khiết tới đòi cưỡi bạch la thì hắn lại nhường la cho hai cậu cháu trai để đi xem Mục Chân Chân luyện côn Tiểu Bàn Long. Mục Chân Chân bây giờ không còn hay xấu hổ và e thẹn như trước kia nữa, mỗi ngày đều luyện côn hai lần vào hai buổi sớm tối, chỉ cần hắn rảnh là nàng sẽ chủ động đến mời hắn tới xem nàng tập võ. Trương Nhược Hi cũng tới xem, giống như vở kịch phải diễn mỗi ngày vậy.
Hôm sau, Trương Nguyên hẹn Đại huynh Trương Đại và Lẫm sinh Chu Mặc Nông tới phòng Lễ huyện nha lấy công văn báo danh, rồi tới phủ nha Thiệu Hưng để nộp. Điển sử ở đó nhận ra Trương Nguyên thì tươi cười niềm nở, nhanh chóng giúp hắn khái báo lí lịch. Trương Đại và Chu Mặc Nông cũng đều ký tên đồng ý. Sau khi báo danh đi ra, Trương Nguyên rút ra năm tiền cảm tạ Chu Mặc Nông, Chu Mặc Nông cười nói:
-Ta với Tông Tử là chỗ bạn thân, sao có thể nhận số tiền này được. Tông Tử lấy bảo ngân chưa?
Trương Đại nói:
Ta muốn hắn hai năm sau tới Hàng Châu thi hương sẽ mời ta uống rượu, sao, Chu huynh có muốn vậy không?
Chu Mặc Nông cười nói:
Hay lắm, Giới Tử hiền đệ sang năm đậu sinh đồ, năm sau nữa thì đã có thể tới Hàng Châu thi Hương với chúng ta rồi, rượu chắc chắn phải do Giới Tử hiền đệ mời rồi.
Ba người chậm rãi đi bộ trên phố Thập Tự ở Phủ học cung, đi dạo qua dãy hiệu sách. Hiệu sách Diêu Ký giờ đã đổi chủ, biển hiệu cũng được sửa thành Hiệu sách Chu Ký rồi. Ba người bước vào trong xem, những cuốn sách về kỳ thi hội năm nay đã được xuất bản rồi, là sách mới mới lấy về hôm nay , giấy vẫn còn thơm mùi mực. Thi Hội là mùng 9 tháng 4 bắt đầu đợt một, 25 tháng 4 sẽ kết thúc đợt thứ ba, yết bảng cũng phải tới cuối tháng 4, bây giờ mới là 24 tháng 3, chưa tới thời gian một tháng , bản sao bài thi phải được chuyển từ Bắc Kinh tới Sơn Âm, còn phải mất thời gian khắc bản in ấn nữa. Phụ thân của Trương Ngạc “thần thông quảng đại” về buôn sách là Trương Liên Phương năm nay cũng tham gia thi Hội, trung tuần tháng này đã có tin báo về. Lão chưa thi đậu nên cũng chưa hồi hương ngay mà vẫn tiếp tục quyết chí ở lại kinh thành tham gia kì thi sau.
Cùng với sách tham khảo tân khoa tiến sĩ lần này gửi về còn có danh sách thi Đình ngày mùng 3 tháng 3, Trạng Nguyên là Chu Diên Nho, Bảng Nhãn là Trang Kỳ Hiển, Thám hoa là Triệu Sư Doãn. Trương Nguyên không có chút ấn tượng nào với hai người Trang Kỳ Hiển và Triệu Sư Doãn, còn đại danh của Chu Diên Nho thì hắn đã nghe đến. Chu Diên Nho thời Sùng Trinh đã đảm nhiệm liên tiếp hai kì thủ phô nội các, có ảnh hưởng lớn tới sự ra đời của Phục xã, trước đêm nước mất y đã được Sùng Trinh đế ban chết. Chu Diên Nho là một người cực kì tài hoa, thi hội, thi đình đều đỗ đầu. Người đảm nhiệm hai kì thủ phô liên tiếp không thể nào không tài trí, thâm trầm hơn người được, đáng tiếc cuối cùng vẫn không thoát khỏi cảnh cửa nát nhà tan. Có cuốn sách viết về y như sau, Chu Diên Nho sinh vào năm Vạn Lịch thứ hai mươi mốt, năm nay mới hai mươi mốt tuổi. Năm ngoái đậu kì thi hương, năm nay tiếp tục tham gia thi hội, thi đình và đều đỗ đầu, giành được Song Nguyên (đỗ đầu thi Hội là Hội Nguyên, đỗ đầu thi đình là Trạng Nguyên, đỗ đầu cả hai kì thi này thì gọi là Song Nguyên), được xếp vào bậc cực kì tài giỏi. Trương Nguyên thầm nghĩ: “Con đường khoa cử của Chu Diên Nho dường như rất thích hợp với ta. Đương nhiên, Hội Nguyên, Trạng Nguyên không phải cứ cầu là được, ta chỉ mong sao ba năm sau thi đậu tiến sĩ thôi, việc này hẳn là có thể cố gắng được.”
Chu Mặc Nông nói:
Trạng Nguyên hai mươi mốt tuổi, Bảng Nhãn hai mươi bảy tuổi, Thám Hoa ba mươi tư tuổi. Khoa thi Đình Quý Sửu này ba vị trên đều tuổi trẻ tài cao, kì thi sau, không biết đời ta có thể ghi danh bảng vàng hay không.
Trình văn thi hội lần này tổng cộng có ba cuốn, chế nghệ có hơn hai trăm bài, giá bán là một tiền tám, tất nhiên là phải đắt hơn so với những cuốn sách bình thường rất nhiều. Trương Đại, Trương Nguyên, Chu Mặc Nông mỗi người đều mua một bộ, đây là những cuốn văn bát cổ đúng theo quy chuẩn, nhất định phải nghiền ngẫm.
Từ nay còn hơn mười ngày nữa, Trương Nguyên đóng cửa không ra khỏi nhà, ở trong phòng đọc sách, tập viết, làm bát cổ. Trương Nhược Hi cũng thường đọc sách cho đệ đệ nghe, xem đệ đệ tập viết, làm văn, trong lòng rất đỗi vui mừng.
Mục Chân Chân mấy ngày này cũng luôn luôn ở bên Đông Trương. Sau giờ Ngọ, Trương Nguyên luyện chữ thì nàng cũng ngồi bên một góc thư án nắn nót đưa từng nét chữ. Trương Nguyên không cho nàng tập viết theo chữ mẫu mà chỉ cho nàng làm quen với mặt chữ. Mục Chân Chân hiện tại đã học được hơn một ngàn chữ, nàng cũng đã có thể đọc thông bài văn nghìn chữ, nhưng muốn đọc được lưu loát một cuốn sách thì phải học bốn nghìn chữ, bởi vậy cho nên nàng bây giờ bắt đầu đọc “Tả truyện”. Đây là sự sắp xếp của Trương Nguyên, Trương Nguyên không cho nàng đọc Tứ thư Ngũ kinh mà muốn cho nàng học lịch sử. Và tất nhiên là Trương Nguyên cho nàng đọc cái gì thì nàng đọc cái đó, cứ có sách để đọc là nàng ta sẽ vui sướng như đứa trẻ được cho kẹo vậy. Chân Chân ngồi bên thiếu gia chăm chỉ viết chữ, ngoan ngoãn như một chú mèo.
Nho đồng tám huyện của phủ Thiệu Hưng tham gia thi phủ có tới hơn vạn người, lều thi lớn như vậy mà vẫn không chứa hết cũng lúc mười ngàn thí sinh, bởi vậy nên phải tách ra làm các đợt thi khác nhau, bắt đầu từ mùng năm. Đầu tiên nho đồng ba huyện là huyện Thặng
Thượng Ngu và Dư Diêu sẽ tham gia thi đầu tiên. Mùng bảy, các nho đồng Chư Kỵ, Tiêu Sơn, Tân Hưng tham gia thi; còn lại hai huyện Hội Kê và Sơn Âm sẽ tham gia thi vào ngày mùng chín Phủ Thiệu Hưng. huyện Sơn Âm và Hội Kê, hai huyện một phủ hợp thành một điểm thi, phủ nha và lều thi đều được đặt ở Sơn Âm nên ngay từ đầu tháng tư các nho đồng huyện khác đã lần lượt kéo về Sơn Âm. Ai có nhà người thân thì ở nhà người thân, không có người thân thì thuê trọ. Nhà trọ huyện Sơn Âm chật ních những người là người, rất nhiều nho đồng còn phải sang huyện bên Hội Kê để ở, thậm chí là phải ở ngoại ô. Các nho đồng nhỏ tuổi lại còn phải nhờ cha anh hoặc thục sư đưa đón, bởi vậy nên tháng tư, cả huyện Sơn Âm đặc kín người, phải đợi tới cuối tháng tư khi yết bảng thì mới vãn. Thiên thời địa lợi nhân hòa thì Trương Nguyên trước tiên là đã chiếm được địa lợi, hắn chỉ cần ung dung ở nhà ôn thi mà thôi. Tối ngày mùng tám, Trương Nguyên tắm rửa đi ngủ sớm, vì thi huyện và thi phủ không giống nhau. Thi huyện là từ sáng sớm đã phải vào trường thi, giờ Thìn mới mở kỳ thi, nhưng thi phủ thì canh bốn đã phải vào trường thi, nên bắt buộc Trương Nguyên phải thức dậy vào đầu giờ Sửu. Đêm mùng tám, trong phòng chỉ có mỗi Trương Nguyên và hai cậu cháu trai được ngủ, những người còn lại đều thức canh. Việc Trương Nguyên tham gia thi phủ là chuyện quan trọng nhất trong năm nay, không thể để có chút nào sơ suất được. Mục Chân Chân và Vũ Lăng đứng canh ngay ngoài phòng ngủ của Trương Nguyên để nghe thấy tiếng trống canh thì lập tức gọi thiếu gia dậy. Cuối giờ Hợi Vũ Lăng đã ngáp ngắn ngáp dài, Mục Chân Chân hạ giọng nói:
Tiểu Vũ, cậu đi ngủ một lát đi, để ta trông coi là được.
Vũ Lăng lắc đầu, cố gắng gượng được một lúc thì không thể chịu nổi nữa, cứ ngủ gật gà ngủ gật mãi, đành lên tiếng:
Chân Chân tỷ nhớ nghe tiếng trống canh là phải đánh thức thiếu gia ngay đó nha.
Rồi chẳng buồn cởi áo sống gì cứ thế đặt đầu lên giường ngủ một giấc ngon lành.
Chương 164: Như quỷ như trộm
Đêm khuya yên tĩnh, Mục Chân Chân dùng tăm trúc khêu ngọn đèn sáng hơn một chút, nàng ngồi dưới ngọn đèn đọc “Tả truyện”, chữ nào không hiểu thì dùng bút lông ngỗng viết lại lên một tấm giấy trúc để ngày mai tới hỏi Đại tiểu thư Nhược Hy. Bút lông này là do Trương Nguyên chế tạo ra, mấy ngày trước những người bị Diêu Phục ức hiếp đem biếu hắn mười mấy con ngỗng, hắn đã dùng lông ngỗng để làm bút, chữ viết ra mặc dù nhìn nét cũng cưng cứng, nhưng vẫn khá dễ nhìn. Đọc được mấy trang đã thấy buồn ngủ, Mục Chân Chân liền đứng dậy ra chỗ giếng trời ngoài cửa đứng một lúc. Trăng non đã bắt đầu nhú lên từ phía góc Tây Bắc ngôi nhà. Có ánh đèn hắt ra từ ba gian phòng tại lầu Nam, trong màn đêm yên tĩnh và thanh bình, nếu chú ý lắng nghe thì có thể nghe rõ tiếng phu nhân và đại tiểu thư đang nói chuyện.
Trở lại phòng ngủ của thiếu gia, trên chiếc giường gian ngoài, Vũ Lăng đang cất lên tiếng ngáy khe khẽ, thiếu gia ở phòng trong thì chẳng thấy động tĩnh gì. Mục Chân Chân nghĩ thầm, lúc ngủ cũng phải phát ra tiếng động gì chứ, chẳng lẽ thiếu gia không ngủ hay sao?
Đang mông lung suy nghĩ thì chợt nghe tiếng thiếu gia nói vọng ra:
Chân Chân, qua đây thắp đèn lên đi.
Mục Chân Chân bưng chiếc đèn sứ men xanh đi vào phòng trong, thắp chiếc đèn trong phòng thiếu gia lên. Ánh sáng ngay lập tức tỏa ra khắp căn phòng, rèm của chiếc giường sơn đen mạ vàng vẫn buông, thiếu gia còn đang trên giường, Mục Chân Chân hỏi:
Thiếu gia không ngủ được sao?
Ban nãy ta cũng thiếp đi được một lát.
Trương Nguyên đầu tóc rối bù chui ra khỏi màn, xỏ chân vào giày., Mục Chân Chân vội vàng tiến lên móc hai bên rèm lên giúp hắn.
Trương Nguyên hỏi:
Đã gõ tiếng trống canh ba rồi nhỉ.
Mục Chân Chân đáp:
Vâng, trống vừa mới gõ thôi ạ.
Trương Nguyên nói:
Vậy ta cũng dậy luôn thôi, dù sao cũng không ngủ được, lát nữa còn phải sang gọi Đại huynh Tây Trương nữa.
Trương Nguyên khoác bộ nho phục màu xanh lên người, Mục Chân Chân giúp hắn chải đầu, búi thành một búi tó trên đỉnh đầu rồi dùng một tấm khăn lưới cố định bên ngoài. Trương Nguyên sờ sờ tấm khăn lưới, cười nói:
Chân Chân chải đầu thật khéo, cảm giác rất căng. Đàn ông có ba thứ cần phải căng, đó là đầu căng, hông căng, chân căng.
Chợt nghe có tiếng người từ hậu viện kêu lên:
Giới Tử, Giới Tử.
Trương Nguyên lên tiếng:
Là người bên nhà Tây Trương sao?
Rồi hắn đứng dậy hướng bước về phía hậu viện, thấy dưới ánh trăng bàng bạc có mấy người tay xách đèn lồng đang đứng bên ngoài bờ tường. Chỗ đó đang chuẩn bị xây nhà nên chất nhiều đất cát và đá xanh, ban đêm đi lại ở đây cũng khá là nguy hiểm.
Mục Chân Chân bước nhanh ra mở cổng hậu viện. Trương Đại, Trương Ngạc và mấy người hầu liền tiến vào. Trương Đại cười nói:
Giới Tử đệ không ngủ được à, ta cả đêm nay cũng chưa chợp mắt được chút nào, liền ngồi đánh cờ, chơi ném thẻ vào bình với Yến Khách và bọn Phạm tiên sinh.
Trương Nguyên thở dài nói:
Làm phiền Đại huynh rồi, vất vả cho huynh quá!
Trương Ngạc nói:
Sao Giới Tử lại không cảm tạ ta được lấy một lời thế, ta còn vất vả hơn huynh ấy kia.
Trương Nguyên cười nói:
Phải, phải, Tam huynh cũng vất vả.
Huynh đệ ba người từ bên chỗ giếng trời đi tới tiền sảnh. Mục Chân Chân và Thỏ Đình bưng trà lên. Dưới bếp, Thúy Cô và hai vú già đã làm bánh nhân thịt. Trương Nguyên dặn họ làm nhiều đồ ăn một chút để mời Đại huynh, Tam huynh ở lại cùng ăn.
Trương Đại kể chuyện thi phủ mấy năm trước của y. Lúc đó y mới mười một tuổi, được người hầu cõng tới trường thi. Thạch Song bước tới mời ba vị thiếu gia qua tiểu sảnh bên cạnh dùng đồ ăn, ăn xong đã nghe từ phía tiều lầu vọng tới bốn tiếng trống. Cách đó không xa, bên phủ học cung cũng đã có tiếng người huyên náo. Hai huyện Sơn Âm, Hội Kê có ba nghìn nho đồng dự thi, sắp bước vào trong lều thi rồi. Vũ Lăng lúc này cũng mang giỏ trúc ra, bên trong có bút, mực, giấy, nghiên mực, một bình sứ đựng nước và một ổ bánh mật ong. Hồi thi huyện, Vũ Lăng cũng chuẩn bị cho hắn y hệt như thế. Trương Nguyên tới nội viện chào mẫu thân và tỷ tỷ một tiếng rồi cùng đại huynh Trương Đại, tam huynh Trương Ngạc bước ra cửa. Trương Ngạc là đi để xem náo nhiệt, chỗ nào có náo nhiệt là không thiếu bóng dáng gã bao giờ.
Mảnh trăng non lưỡi liềm đã hạ xuống phía tây Long Sơn, màn đêm bao trùm khắp không gian. Thạch Song và Mục Kính Nham nâng cao đèn đi trước soi đường. Tới phía bắc phủ học cung thì đã thấy vô số cây đèn cũng đang đua nhau tỏa sáng, rực rỡ hơn cả sao trời, cảnh tượng coi bộ còn náo nhiệt hơn cả hội đèn lồng lần trước. Những chiếc đèn với đủ mọi hình dáng màu sắc, hầu hết đều viết những chữ rất lớn và bắt mắt bên trên, cái thì viết địa danh, cái thì viết danh tính của thục sư, cái thì lại viết tên của Lẫm bảo. Đám nho sinh đi thành từng đám riêng lẻ, giờ tập trung lại dưới ánh đèn. Lều thi của kì thi phủ Thiệu Hưng to hơn lều thi trong kì thi huyện Sơn Âm, có thể chứa được một lúc hơn ba ngàn thí sinh cùng tham gia thi. Chính đường có năm gian, phía trước là hiên, hai bên là chiếu nghỉ, hai bên Đông Tây mỗi bên có mười một gian. Môn phòng, tạo phòng mỗi phòng có ba gian. Lều thi phủ là nha môn lâm thời của quan Đề Học, kỳ thi tuế và thi khoa mà quan Đề Học chủ trì thử, cũng ở trong lều này. Hai bên lều mỗi bên đều có một cửa lớn, trong cửa lớn đó có một đại viện, các đồng sinh dự thi đều phải ở đó đợi điểm danh, đi xuyên qua qua đại lục viện, hướng về phía bắc là tới đại sảnh đường, Thiệu Hưng Tri phủ Từ Thời Tiến ở đại sảnh gọi tên điểm danh, Lẫm bảo xác nhận đúng không có sai sót gì thìqua chỗ tiểu quan để lấy giấy thi, sau đó lại tới chỗ lục soát đợi khám xét . Đợi được một khắc thì điểm đến tên Trương Nguyên. Hắn bước lên chắp tay trước ngực thi lễ với Từ Tri phủ. Từ Tri phủ mỉm cười gật đầu nói:
Trương Nguyên, bản phủ chờ xem bài làm của ngươi, đi lĩnh bài thi đi.
Trương Nguyên nhận bài thi, quay sang phất tay với đám người Trương Đại, Trương Ngạc, rồi bước tới chỗ lục soát để kiểm tra trước khi vào trường thi. Thi phủ kiểm tra cũng nghiêm ngoặt hơn thi huyện, không những phải cởi hết cả quần áo giày dép mà búi tóc cũng phải tháo tung ra để kiểm tra. Sau khi bị kiểm tra lục soát như vậy thì đám nho sinh dự thi kẻ nào kẻ nấy đầu tóc rối bù, quần áo xộc xệch, bước vào trường thi mà hai tay xách giày, bộ dạng lôi thôi lếch thếch chẳng khác nào quân trộm cướp đầu đường xó chợ. Điều này quả thực không được nho nhã chút nào. Người tham gia thi nhiều lần cũng trở nên thô tục hơn, muốn giữ được vẻ nhã nhặn khí khái cũng khó. Chẳng trách Minh triều diệt vong, quan lại chết vì nghĩa lại ít như thế. Đều là vì mỗi lần tham gia khoa cử như vậy thì lễ tiết lại bị mài mòn đi một chút, người lịch sự phong nhã cũng trở thành nhếch nhác, lôi thôi. Nhưng đây âu cũng là điều bất đắc dĩ, tệ nạn trong thi cử mỗi ngày một biến hóa đa dạng hơn, thấy nhiều thì cũng thành quen, không kiểm tra lục soát gắt gao nghiêm túc không được. Để cho đám thí sinh kia gian lận một cách ung dung thoái mái thì không công bằng với người khác, bởi vậy nên đành phải để cho những thí sinh ngay thẳng tạm chịu thiệt một chút vậy. “Hy vọng ta thi phủ, thi viện, thi hương, thi hội đều có thể một lần thông qua luôn, khi thi đình chắc không cần cởi quần áo nữa.”
Trương Nguyên nghĩ như vậy, gã cởi đai lưng, tháo giày, khi định tháo nốt tấm khăn lưới cột búi tóc xuống thì nghe tiểu quan phụ trách lục soát nói:
Không cần, Trương công tử có thể vào trong rồi.
Trương Nguyên thầm nghĩ: “ Nha tư này nhận ra ta, tốt lắm, búi tóc này mà tháo ra rồi, lúc búi lại thì phiền toái lắm.”
Rồi hắn gật đầu với gã nha tư, đội lại tấm khăn lưới. Một gã nho sinh khác đang cuộn bừa mái tóc rối bù vào trong mũ, thấy Trương Nguyên không phải tháo tóc thì lập tức kêu lên:
Bất công quá!
Nha tư kia quát:
Cái gì mà bất công, vị Trương công tử này là Sơn Âm án thủ thi huyện, ngươi có phải không?
Nho đồng kia lập tức xị mặt xuống, lầu bầu:
• Án thủ thìkhông phải qua lục soát sao, quy tắc này ở đâu ra vậy?
Dù chỉ không phải tháo búi tóc ra nhưng Trương Nguyên trong lòng cũng cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều. Ai chẳng thích được nhận đặc quyền! Hắn buộc lại đai lưng, nâng giỏ bước vào trường thi, nghe thấy tiểu quan phía sau lớn tiếng nói:
Tìm đúng vị trí ngồi, không được giành vị trí của người khác.
Trương Nguyên thầm nghĩ: “Thi phủ không được giành chỗ ngồi ư?”
Hắn rút giấy thi từ trong giỏ ra, soi dưới ánh đèn lồng Long Môn để xem, trên giấy ghi “Lều Chấn đường, ghế giáp thân”
Lều thi trong kì thi phủ Thiệu Hưng được gọi theo kiểu bát quái, tất cả có tám đường, mỗi đường có thể chứa tới bốn trăm người, đánh số thành bốn khu Đông Tây Nam Bắc riêng biệt. Trương Nguyên tìm được lều Chấn Đường ở số Nam, rồi lại tìm trong dãy bàn dài dằng dặc đó ghế đề tên “Giáp Thân”, bởi vì số Nam có một trăm chỗ, tức là đã quá sáu mươi giáp rồi nên mỗi số ghế lại phải phân ra thành Ất – Giáp. Bên ghế Ất đã có người ngồi, đó là một lão nho đồng râu tóc hoa râm, thấy Trương Nguyên đến, lão khách khí chắp tay thi lễ, lại còn hơi dịch sang một chút.
Trương Nguyên vừa ngồi xuống băng ghế dài, chợt nghe tiếng kẽo kẹt vang lên. Chỗ bàn ghế này đều là của công nên chắc chắn là đã bị “bòn rút” đi không ít, mặt bàn mặt ghế rất mỏng, gia công qua loa cẩu thả, mà toàn bộ bàn và ghế ở mỗi hàng đều dùng những thanh tre đóng liền vào với nhau, muốn dịch chuyển một chút cũng không được, khẽ cựa cả bộ bàn ghế sẽ lập tức lay động theo. Trường thi của kì thi phủ này còn không bằng kì thi huyện Sơn Âm.
Lều thi Chấn đường lớn đến độ chứa được 400 người thi mà chỉ có vẻn vẹn hai cây đèntreo ở phía trước và sau. Đám nho sinh sau khi trải qua “trận” lục soát gắt gao thì lần lượt bước vào trong lều, tóc tai rối bời, bù xù chẳng khác nào đám âm hồn di động, may mà trời cũng đã sáng dần, sau khi đám thí sinh cơ bản đã có mặt đông đủ thì trời cũng đã sáng hẳn. Nha dịch liền mang đèn đi.
Thí sinh thì đông mà chỗ ngồi thì chật. Chiếc bàn trước mặt mỗi người chỉ được phân vẻn vẹn có hai thước, chỉ đủ để đặt nghiên mực và bài thi. Trương Nguyên có chỗ rồi nên ung dung ngồi xuống, nhắm mắt dưỡng thần, yên lặng chờ cánh cửa Long Môn đóng lại.
Ước chừng đã qua một khắc thì thấy tiếng trống “thình thình” vang lên. Cửa Long Môn đã bị khóa lại, cả lều thi bỗng chốc lặng ngắt như tờ, tất cả các thí sinh đều nín thở chờ phủ tôn đại nhân ra đề.
Lại qua một khắc nữa, có một thư sử chạy vào Chấn đường. Theo sau là một gã sai dịch, gã giơ đề bài lên, đám thí sinh đồng loạt đứng lên thò đầu nghển cổ tranh nhau xem đề, reo lên:
Đề thứ nhất là “Triệu Mạnh chi sở”
Trương Nguyên thị lực không tốt, ngồi ở xa nên không thấy rõ được đề bài, nghe tiếng reo “Triệu Mạnh chi sở”, hắn thầm nghĩ: “Đây là câu nói của Mạnh Tử, có thể coi là kiểu ra đề rút gọn. Nguyên văn câu đó là “Triệu mạnh chi sở quý, triệu mạnh năng tiện chi “ , ý là cái quý của con người ta là khi được không quá vui mừng đắc ý mà khi mất cũng không quá buồn phiền lo âu.
Trương Nguyên đang suy ngẫm câu “Triệu mạnh chi sở “ này thì chợt nghe tiếng một nho sinh nói:
Đề thứ hai là “Quân tử dụ vu nghĩa.
Trương Nguyên vừa nghe vậy thì vô cùng mừng rỡ, đây chính là đề “Quân tử dụ vu nghĩa, tiểu nhân dụ vu lợi “ mà hôm trước Vương Anh Tư đã đoán đề tự làm trước. Đây là câu trong “Luận Ngữ”, ha ha, học tủ dễ như vậy sao, hành vị gian lận kiểu như tiết lộ đề trước khi mở thi sẽ bị trừng trị nghiêm khắc theo quy định, còn đoán đề tự làm trước thì không có cách nào giám sát được. Vị giám khảo coi thi đọc to lại đề tứ thư một lần nữa rồi hỏi xem tất cả các thí sinh đã nghe được rõ đề thi hết chưa. Đám nho sinh rầm rầm hô “Nghe rõ rồi”, nhưng lại có một nho sinh lên tiếng:
Đề “Quân tử dụ vu nghĩa, dã tựu bãi liễu” thì không có gì, nhưng còn đề “Triệu mạnh chi sở” thì khó quá khó hơn hẳn hai đợt trước, vậy là không công bằng.
Vì thi phủ Thiệu Hưng có rất nhiều thí sinh tham gia nên không thể thi cùng trường thi, bắt buộc phải tách ra thành các đợt thi khác nhau, đã thi tách như vậy thì không thể dùng chung đề thi, mà đề thi khác nhau thì rất dễ bị chỉ trích là ra đề không công bằng. Các thí sinh khác trong Chấn đường nghe tiếng hô như vậy thì cũng thi nhau kêu đề ra bất công. Giám thị coi thi quát:
Ba đợt thi đều là đề “Tứ thư”, mà cùng là kiểu đề rút gọn, có gì mà bất công? Ai nói bất công thì đứng ra, ta dẫn đi gặp phủ tôn đại nhân, để phủ tôn đại nhân ra đề khác cho làm, nào, đứng ra coi!
Tất nhiên là không ai dám đứng ra, ai đứng ra người đó xui xẻo, chắc chắn sẽ bị hủy bỏ tư cách thi, bị đuổi ra khỏi trường thi ngay lập tức.
Ngay lập tức cả lều thi chỉ còn nghe được tiếng mài mực, tiếng mở giấy, cũng có tiếng lầm bầm oán giận khe khẽ nhưng nhìn chung kì thi đã được tiến hành một cách khá thuận lợi.
Chương 165: Giấy vàng dưới đáy nghiên mực
Nghiên tơ đỏ, mực lưỡi bò, vừa mài mực vừa suy nghĩ, cuốn “ “ Quân tử dụ can văn “ “ đó Trương Nguyên quyết định sao chép của sư muội Anh Tư. Trương Nguyên không phải loại người bộc tuệch, tiểu xảo mà hắn biết, không làm tổn hại đến người khác mà lại có lợi cho mình, thì cớ sao lại không làm. Giờ thì chỉ cần gọt dũa bài “ “ Triệu mạnh chi sở “ “ là được, hắn phải tập trung tinh lực để làm cho cuốn chế nghệ này tung hoành ngang dọc, không thể bắt bẻ được.
Đỗ đầu thi huyện chưa chắc có thể bổ sinh đồ, nhưng đỗ đầu thi phủ thì chắc chắn sẽ bổ sinh đồ. Triều Đại Minh hai trăm năm nay có hàng ngàn người đỗ đầu thi phủ, ngoài những người bị chết hoặc phạm tội trong thời gian đó thì ai cũng được bổ sinh đồ. Hơn nữa danh tiếng đỗ đầu thi phủ là hoàn tòan khác với những nho đồng đỗ thi phủ thông thường. Hai tháng nữa, Phạm Văn Nhược ở phòng xã núi Phất Thủy ở Tô Châu và Dương Thạch Hương của Thanh Phổ xã sẽ tới Sơn Âm thăm Trương Nguyên, mời Trương Nguyên lựa chọn bình luận bát cổ văn. Như vậy việc Trương Nguyên có đỗ đầu được thi phủ hay không là rất quan trọng. Đỗ đầu thi huyện Sơn Âm và đỗ đầu thi phủ Thiệu Hưng, kết quả này sẽ được khắc trên trang bìa tuyển tập, chắc chắn sẽ bán chạy hơn nhiều so với tuyển tập của cử nhân, thậm chí cả tuyển tập của tiến sĩ tam giáp thông thường. Mà Trương Nguyên có danh tiếng rồi thì càng có lợi cho việc kết bạn kết xã, bởi vậy hắn buộc phải dành được vị trí đỗ đầu thi phủ, nên là cuốn “ “ Triệu mạnh chi sở “ “ này hắn buộc phải đem hết khả năng để làm tốt nhất.
Mặt trời mới mọc, các lán thi sáng trưng, tuyệt đại đa số thí sinh đều đang viết nháp, có người viết được vài chữ liền ngồi cắn bút suy nghĩ khổ sở, có người nhìn ngang liếc dọc để tìm gợi ý, có người lại đưa mắt nịnh bợ hoặc bàn tán xầm xì với người ngồi bên cạnh. Miễn là không phải mang theo tài liệu quay cóp thì các thư sứ trông thi cũng không quản quá nghiêm khắc, nhiều nhất chỉ nhắc nhở vài câu:
Không được châu đầu ghé tai
v.v….
Trương Nguyên không vội viết, hắn viết văn cũng không có thói quen viết nháp, từ xưa tới giờ đều là nghĩ sẵn trong đầu, hắn tì hai khuỷu tay lên bàn, bàn tay chống lên trán, bắt đầu phá đề, thừa đề trên bài thi. Lão nho đồng râu tóc hoa râm ngồi cạnh Trương Nguyên cũng không động bút giống như hắn, nhưng mắt nhìn tới nhìn lui, nhìn tới khi viên thư sử coi thi đi vào hậu trường, lão liền dùng một tay nhấc cái khiên mực nặng trịch lên, một tay sờ vào đáy nghiên, ánh sáng vàng lóa lên, trong lòng bàn tay lão xuất hiện một tờ giấy vàng nhỏ, trên tấm giấy vàng lá đó viết dày đặc những hàng chữ nhỏ xíu, tờ giấy tuy nhỏ nhưng với những hàng chữ nhỏ xíu như vậy, hơn nữa lại viết cả hai mặt thì cũng có thể viết hết được bài bát cổ văn khoảng ba bốn trăm chữ.
Lão nho đồng tóc bạc này mắt hơi kém, tờ giấy vàng không thể đưa vào gần để xem được, lão bèn thò tay đặt dưới háng, người cố ngồi thẳng, cố vươn dài cổ ra để mắt cách xa tờ giấy vàng kia. Nhìn được một lát lão chuyển nhét tờ giấy xuống dưới tất trong giày, rồi lại sờ vào đáy nghiên mực, lại lôi ra một tờ giấy vàng, cũng viết đặc kín những hàng chữ nhỏ xíu, lão nhìn qua rồi lại nhét xuống dưới giày. Bên phải lão là Trương Nguyên, bên trái lão là một thư sinh trẻ tuổi, gã thư sinh trẻ tuổi nhanh chóng phát hiện ra lão nho đồng đang quay cóp, liền ‘a’ nhẹ một tiếng. Lão nho đồng lập tức chắp tay thi lễ với gã, tay lại chỉ chỉ vào mái tóc hoa râm của mình, ý là xin gã thanh niên thương tình, chớ có tố giác.
Gã thư sinh trẻ tuổi kia lắc đầu, hơi nghiêng người, không nhìn về phía lão nho đồng nữa, tự lo làm bài của mình.
Lão nho đồng cũng không biết đã chuẩn bị bao nhiêu tờ giấy vàng, lão cứ như làm trò ma thuật, lôi ra hết tờ này đến tờ khác từ đáy nghiên mực, nhìn qua nghĩ rằng không đúng đề, lại nhét xuống đáy giày. Khi giám khảo coi thi chuyển lên phía trên lão liền ngoan ngoãn ngồi im, giám khảo vừa quay đi lão lại lôi tờ giấy ra, xem qua rồi lại nhét xuống dưới giày, đến khi Trương Nguyên phát hiện ra thì dưới giày lão đã nhét ít nhất ba bốn chục tờ giấy vàng rồi, nhưng vẫn chưa tìm ra bài bát cổ văn đúng với đề bài.
Thấy Trương Nguyên quay sang, lão nho đồng vội gật đầu cười cầu tình, Trương Nguyên cười rồi tiếp tục nắm đầu suy nghĩ “ “ Triệu mạnh chi sở “ “ . Ước chừng nửa canh giờ trôi qua, lão nho đồng bên cạnh không tìm tòi dưới đáy nghiên mực nữa, múa bút viết, xem ra đã tìm được bài bát cổ văn đúng đề bài rồi, chỉ có điều lão đã cao tuổi, mắt đã kém, trí nhớ cũng không tốt, mỗi lần nhìn chỉ nhớ được
hai ba chữ, một bài bát cổ văn muốn chép ra phải nhìn hơn trăm lần, những cử động liên tục như vậy mà không bị giám khảo coi thi phát hiện ra thì thật quá vô lý.
Tiếng bước chân đi tới, thư sử coi thi xuất hiện ở lối đi bên cạnh trái chiếc bàn dài, chỉ vào lão nho đồng, bảo:
Lão ra đây!
Lão nho đồng lập tức mặt cắt không còn chút máu, nhưng rồi giả vờ điềm tỉnh hỏi:
Có chuyện gì?
Một mặt lão nhanh chóng vứt tờ giấy vàng trong tay xuống đất, dùng chân dẫm lên. Viên thư sử quát:
Lão vàng chóe lên thế kia coi chúng ta mù hết cả sao, dưới đáy giầy, đáy nghiên mực giấu không ít đúng không, ra đây, đi gặp quan phủ.
Lão nho đồng đứng dậy cuống quýt thi lễ, nói:
Là lão già này nhất thời hồ đồ, lão sẽ tuyệt đối không tái phạm nữa, tuyệt đối không tái phạm nữa, xin quan sai tha cho lão lần này…
Viên thư sử cười lạnh nói:
Việc quay cóp bài như vậy mà có thể bỏ qua thì các thí sinh khác lại chả làm ầm ĩ lên, còn cần giám thị làm cái gì, ra đây, đừng để ảnh hưởng đến người khác làm bài.
Nói rồi ông ta ra hiệu cho mấy thí sinh ngồi bên cạnh trái đứng lên để cho lão nho đồng bước ra ngoài.
Lão nho đồng cứ ngồi ỳ tại chỗ không chịu đứng lên, trông vô cùng đau khổ buồn bã, viên thư sử nào chịu tha cho lão, cùng một sai dịch nữa đến lôi lão ra khỏi chỗ ngồi, một sai dịch khác tới thu lại cái nghiên nặng trịch của lão, đổ mực xuống đất, lật lại xem, dưới đáy nghiên vẫn còn một thếp giấy vàng dày đến nửa tấc.
Thư sử lấy tờ giấy vàng ra đọc, cười lạnh:
Tờ giấy cực mỏng, một thếp dài nửa tấc chắc phải có đến ba bốn trăm tờ, lão thật biết cách quay cóp đấy, cũng mạnh tay chi tiền nữa, ra đây, đi gặp quan phủ.
Lão nho đồng quỳ xuống đất cầu xin, nước mắt nước mũi ròng ròng, nói:
Lão già này năm nay đã 57 tuổi, thi 40 năm, chỉ mong được thi được cái danh học trò, các chư vị quan sai xin thương xót, tha cho lão lần này, để cho lão làm nốt bài bát cổ văn này, lão vô cùng cảm kích.
Thư sử đời nào chịu nghe, lệnh cho hai tên sai dịch lôi lão nho đồng ra ngoài lán. Lão khàn khàn hét lên một tiếng, rồi thò tay ôm chặt lấy cái cột không chịu rời. Hai tên sai dịch khó khăn lắm mới gỡ được lão ra, kéo lão tới đại sảnh trung tâm.
Các thí sinh trong lều thi Trấn Đường lặng ngắt như tờ. Màn huyên náo vừa rồi thật vừa khôi hài lại vừa đáng buồn, lão nho đồng đã gần 60 tuổi, thi liền 40 năm vẫn không được danh học trò, cả đời này coi như hoang phế bởi nghiệp thi này, đến già còn mang tiếng xấu như vậy, những thí sinh trẻ tuổi trong trường thi còn chưa cảm thấy bi thương, người đã bốn năm mươi tuổi thì mới thấy thương hại, nhất thời lo nghĩ, không còn tâm trí để làm bài.
Trương Nguyên sau khi thấy lão nho đồng bị kéo ra ngoài, hắn cúi đầu tìm tờ giấy vàng mà lúc trước lão nho đồng dẫm chân lên để che, muốn nhắc nhở sai dịch cầm nốt cả tờ giấy đó đi, tránh để lúc sau lại hiểu lầm. Nhưng nhìn trái nhìn phải đều không hề nhìn thấy tờ giấy vàng đó, không biết đã bị dính vào đế giầy của lão nho đồng hay là bị thí sinh khác nhặt mất rồi. Bài bát cổ văn trên tờ giấy đó không phải là “ “ Triệu mạnh chi sở “ “ .
mà là ‘Quân tử dụ vu nghĩa’, lão nho đồng vừa mới chép được một lúc, giờ rất có khả năng lại béo bở kẻ nào rồi, đúng là số mệnh, việc gì cũng đều có số mệnh hết.
Lều thi Trấn Đường trong thời gian ngắn ngủi không có người coi thi, các thí sinh bắt đầu sôi nổi, châu đầu ghé tai, bàn tán rì rào. Đợi viên thư sử và sai dịch quay lại, giống như một trận cuồng phong thổi tới, vô số bọn ruồi nhặng đầu to liền lặn mất tăm, tất cả lại im bặt.
Trương Nguyên bị chuyện vừa rồi làm mất tập trung, bài thi trong đầu đã bị lộn xộn, hắn ăn vài miếng bánh mật, uống vài ngụm nước, chỉnh lại một hồi mới tiếp tục được mạch suy nghĩ, đây là thói quen làm văn của hắn, bài văn trong vòng một ngàn chữ hắn cũng nghĩ sẵn rành rọt trong đầu rồi mới viết ra một mạch.
Cứ mỗi canh giờ đều có sai dịch thông báo, nhắc nhở thí sinh nắm chặt thời gian viết văn, trời vừa tối là phải nộp bài. Kỳ thi phủ này có người tài, mới bảng giờ tỵ mà đã có người nộp bài. Trương Nguyên lần này đã có kinh nghiệm, không vội nộp bài, nộp bài quá sớm đứng đầu bảng khi ra khỏi trường thi sẽ bị cò mồi đưa đến nhà lĩnh tiền thưởng, lần trước thi huyện bị đòi tiền thưởng hai lần, cũng không phải là keo kiệt, chỉ là cảm thấy thi một lần mà báo hỉ hai lần thì quả thực quá buồn cười.
Đến bảng giờ ngọ, Trương Nguyên đã khắc sẵn trong dạ bài bát cổ văn “ “ Triệu mạnh chi sở “ “ hoàn chỉnh, hắn còn kiểm tra lại trong đầu một lần nữa, không hề có sai sót gì, cũng không phạm lệnh cấm gì, không phạm húy chữ, lúc này dù bận cũng cứ ung dung ăn hết mấy miếng bánh mật, uống nước cho nhuận hầu, nhìn nghiên mực mài xong đã cạn một nửa, hắn liền nhỏ vài giọt nước vào, dùng bút lông chấm vào mực, viết trước hai bài chế nghệ ra giấy nháp, đây là Hầu huyện lệnh nhắc nhở hắn, lần trước khi thi huyện Trương Nguyên không viết nháp, mà khi nộp bài thi phải nộp cả nháp, giấy nháp để trắng tuy không coi là phạm quy, nhưng lại khác người, khi thi cử tốt nhất là không nên để mình khác người, có một số quan chấm thi có thể sẽ nghi ngờ đây là bài quay cóp, Trương Nguyên khiêm tốn tiếp thu, bởi vậy lúc này hắn viết nháp trước, còn cố ý gạch xóa vài chỗ, nhìn rất có vẻ là nháp thật.
Lão nho đồng kia bị giải đi, trên bàn cũng có nhiều chỗ trống, hắn có thể khuỳnh tay viết chữ thoải mái, không phải lo lắng bị người bên cạnh chạm phải khuỷu tay làm bẩn bài thi.
Đã đến giờ Mùi, Trương Nguyên viết lại hai bài chế nghệ vào tờ giấy thi bằng nét chữ nhỏ nhắn ngay ngắn, đây gọi là viết thực. Viết xong rồi, xem lại, hắn cảm thấy hai bài chế nghệ này có tốt hơn hai bài trong kỳ thi huyện lần trước, đây là kết quả chung sức hợp tác giữa hắn với sư muội Anh Tư, hơn nữa chỉ nói riêng về bút tích trên giấy thi thì có tiến bộ hơn nhiều so với hai tháng trước, lúc này hắn bóc niêm phong trên bài thi, đứng dậy đi nộp bài.
Nếu nằm trong số 10 thí sinh nộp bài sớm, quan chủ khảo mới đọc ngay tại chỗ, đến giờ mùi đã có mấy chục thí sinh nộp bài, thí sinh không được trực tiếp mang nộp lên chỗ Từ tri phủ ở đại sảnh trung tâm nữa, mà đổi lại sẽ do thư sử coi thi thu bài, thư sử coi thi ở lán Trấn Đường nhìn thấy Trương Nguyên tới nộp bài, liền cười thấp giọng nói:
Trương công tử trực tiếp mang bài nộp chỗ phủ tôn nhé, phủ tôn đã cố ý dặn dò như vậy.
Trương Nguyên khẽ cúi người, đặt bài thi vào trong giỏ thi, xách giỏ đi gặp Thiệu Hưng tri phủ Từ Thời Tiến, hắn không lo Từ tri phủ sẽ làm khó dễ hắn, Từ tri phủ không phải là kẻ không có đầu óc bất chấp hậu quả, có được địa vị ngày hôm nay cũng là do khôn khéo điềm đạm, hơn nữa hắn và Từ tri phủ lại không có xung đột lợi ích, Từ tri phủ lấy trúng hắn đó cũng là vì thầy giáo của hắn, chứ quyết không đến nỗi vì chuyện của Diêu Phục mà ngu ngốc đến mức muốn chèn ép hắn. Làm người chỉ sợ mình bất tài, cứ có năng lực là có thể được người khác tôn trọng, hiềm khích nhỏ, mâu thuẫn nhỏ cũng có thể hóa giải, nhưng nếu bất tài thì kể cả người không thù không oán trước đây cũng đến chà đạp.
Chương 166: Thể Bát cổ sáo mòn
Tri phủ ThiệuHưng Từ Thi Tiến ngồi chính giữa đại sảnh, giáo thụ phủ Thiệu Hưng và giáo dụ huyện Sơn Âm ngồi ở hai bên, phía dưới là mấy Nho đồng tới thi vấn đáp. Từ Thì Tiến ra một câu đối cho các nho đồng đối lại, thấy Trương Nguyên bước vào thì liền không để tâm gì tới đám Nho đồng này nữa mà gọi Trương Nguyên đến, hỏi:
Trương Nguyên, ngươi vốn có tài xuất khẩu thành thơ, bổn phủ những tưởng ngươi sẽ nộp bài đầu tiên, chẳng lẽ đề thi lần này khó lắm sao?
Trương Nguyên khom người nói:
Học trò chỉ chuyên tâm viết văn, từng câu từng chữ đều phải hết sức cẩn trọng không hề có ý muốn tranh nộp bài đầu tiên.
Nói xong hắn đem bài thi trình lên.
Từ Thì Tiến gật gật đầu, xem bài “ Triệu Mạnh Chi Sở” của hắn trước, nhìn lướt qua thì cảm thấy chữ tiểu Khải của Trương Nguyên cũng rất khá, bèn cất tiếng ngâm nga:
Thể sở quý nhi vong sở tiện, dĩ kỳ đồ hữu nhân chi thuyết giả tồn dã nhất.
Đây là phá đề, tuy khái quát cặn kẽ nhưng không khiến cho người ta phải trầm trồ kinh ngạc, Từ Thì Tiến sắc mặt vẫn không đổi, tiếp tục đọc tiếp thì nghe tiếng một Nho đồng xen vào:
Phủ Tôn, học trò đã đối ra rồi: “Trường tài khuất vu đoản thủ” (
Từ Thì Tiến cười nói:
“Trường tài khuất vu đoản thủ” (tạm hiểu ý như câu Một nghề cho chín còn hơn chín nghề), đối với “người có tài nhưng thành đạt muộn” , đoạn đối này chấp nhận được.
Rồi gã viết trên bài thi của Nho đồng này một chữ “Khả”, nói:
Lấy ngươi vậy, mấy người các ngươi lui ra.
Sau khi các Nho đồng đó đã lui ra hết, Từ Thì Tiến tiếp tục đọc phần thừa đề của Trươg Nguyên:
Phu nhân quý phi quý, bất đãi ý kế kỳ tiện chi nhật dã.(Trượng phu bất kể quý phú hay không cũng không bao giờ mưu tính những chuyện hèn hạ bỉ ổi)
Xoay đầu nhìn giáo thụ phủ và hai giáo dụ huyện, ba vị học quan này cùng gật nhau, đều cảm thấy đoạn thừa đề này rất ngắn gọn mà lại lưu loát.
Từ Thì Tiến lại đọc tiếp:
Nhiên năng tiện chi như thử hĩ, cố quân tử bất vụ tồn hồ nhân chi thuyết. Kim tòng nhân dục quý chi tâm nhi thôi trạch chi tắc tịnh quý bất nhược kỳ độc quý, ngẫu quý bất nhược kỳ hằng quý: nhất quý tức bất khả sử nhân canh tiện, nhi đại viễn vu kỳ sơ chi bất quý, nhiên giai kỳ sự vu lự biểu, nhi hi công vu lý tuyệt dã. Kim chi thế, phạt mộc chi ca vô văn, thiên tử bất cầu hữu hĩ: kiều xa chi chiêu hi khiển, chư hầu bất bái sư hĩ. Dục cầu nhân chi sở quý vu kim thế hồ? Ý duy khanh đại phu chi cường hữu lực giả hồ?
Đọc đến đây, Từ Thì Tiến vỗ đùi khen:
Hay!
Phủ tôn đại nhân khen đã hay như vậy, giáo thụ phủ học và hai giáo dụ huyện học cũng thi nhau lên tiếng tán thưởng “ Tuyệt vời”.
Giáo thụ phủ học bình phẩm:
Khí thế hùng hồn, lấy từ Tần Hán, trôi chảy thanh thoát, Âu Tô phủ tôn đại nhân quả nhiên có có mắt tinh đời mới nhận ra anh tài như vậy.
Được Phủ tôn và đám học quan khen ngợi, Trương Nguyên cung kính khiêm nhường đứng nghe, trong lòng cũng thoải mái hơn, cảm thấy những ngày miệt mài kinh sử của mình cũng không uổng phí, bài băn bát cổ này đã hao tổn biết bao tâm sức của hắn, hán cố ý dùng phong cách tráng lệ, hùng hồn của Lưỡng Hán Đại Phú để hành văn, phân tích theo kiểu đan chéo dọc ngang, các câu bốn và sáu trong bài bát cổ biến đổi linh hoạt cho nhau chứ không bị gò bó rập khuôn theo một quy tắc khuôn sáo,như vậy bài vănvẫn không đột nhiên bị lạc điệu mà lại trở nên có tính đối xứng hơn. Từ Thời Tiến là tiến sĩ của khoa thi cuối năm Ất Vạn Lịch thứ 23, Trương Nguyên vài ngày trước đặc biệt cố ý đến hiệu sách tìm những đề thi trong kì thì năm đó, nghiên cứu kĩ càng bảy bài chế nghệ của Từ Thời Tiến, phát hiện bát cổ của Từ Thời Tiến có một đặc điểm đó là ông rất thích kiểu các bốn sáu biến đổi cho nhau, chế nghệ mang một phong cách như thể phú, không đi thẳng vào vấn đề mà thích rào trước đón sau, hoa mỹ, phô trương. Thúc tổ Trương Nhữ Sương đậu tiến sĩ cùng khoá với Từ Thời Tiến cũng từng nói, Từ Thời Tiến thích kiểu văn vẻ hoa mỹ như Tư Mã Tương Như. Vương Tư Nhâm từng dạy Trương Nguyên muốn đậu kì thì thì đầu tiên phải làm cho tốt bát cổ, nhưng bát cổ tốt rồi mà không được chủ khảo chú ý thì lí do là vì sao? Đó là vì phong cách của giám khảo và thí sinh có sự khác biệt, giọng văn của người chấm và người làm bài không hợp nhau thì cũng như thơ hay không được bình đúng ý, văn bát cổ tuy là có một tiêu chuẩn đánh giá chung nhất địnhnhưng người bình luận chính luôn có một sức ảnh hưởng lớn, một vị giám khảo tôn sùng những câu văn ngắn gọn nhưng hàm súc thì đương nhiên không thích những bài văn dài dòng, đây là một điều rất bình thường. Trương Nguyên đã suy nghĩ đến điều này, cố gắng tìm ra con đường nhanh nhất, tiện nhất, an toàn nhất nên đã được Từ Tri phủ khen ngợi, bài văn bát cổ này của hắn cũng mang chút phong cách giống với thể phú.
Từ Tri phủ đọc bài chế nghệ của Trương Nguyên, càng đọc cao hứng, có thể thấy gã đã cảm được lời văn ý văn mà Trương Nguyên muốn truyền tải, trong lòng rất hả hê vui sướng:
Phu sủng nữ bất tế tịch, sủng thần bất tế hiên, sàng truân thất hoan nhi huệ tâm nghiên trạng, dũ sửu yên, huống vu lai môi dịch triệu, sĩ lộ nan đồng đồng bỉ sơn xuyên tai? Thất ý đương đồ chi sĩ, di quyền quý nhân chi tâm mạo nhật tiến nhi tình nhật thối, lễ gia long nhi kỵ gia thâm.
Từ Thì Tiến đọc rất nhanh nên đã gần hết hơi, nghỉ một chút, gã quay sang nhìn Trương Nguyên, nói:
Hậu sinh khả uý.
Rồi đọc tiếp:
...
Đọc xong một mạch, như được uống một bầu rượu ngon, Từ Thì Tiến nở nụ cười mãn nguyện, ngoảnh đầu nhìn học quan hai bên nói:
Bài văn này thế nào, có thể lấy chứ?
Ba vị học quan thấy phủ tôn đại nhân mặt mày rạng rỡ, đồng thanh nói:
Chúc mừng phủ tôn nhận được môn sinh giỏi.
Từ Thì Tiến bật cười ha hả, nhìn Trương Nguyên nói:
Trương Nguyên, sau này ngươi gặp bổn phủ phải thì xưng hô thầy trò rồi.
Ý tứ quá rõ, Trương Nguyên đã qua được kì thi phủ này.
Trương Nguyên vui mừng nói:
Đa tạ ân sư.
Rồi quỳ xuống hành lễ.
Từ Thì Tiến vuốt râu cười nói:
Đúng là hiếm có, ngươi còn nhỏ mà đã đọc qua Lưỡng Hán đại phú, “Chiêu minh văn tuyển” cũng đọc qua rồi sao?
Trương Nguyên đáp:
Học trò cũng mới gần đây mới đọc “Chiêu minh văn tuyển”, rất thích kiểu màu mè hoa mỹ Lưỡng Hán đại phú nên khi chế nghệ mới cố tình gài chút văn vẻ màu mè vào đó ạ.
Từ Thì Tiến nói:
Gài rất khéo, người trẻ tuổi viết văn thì nên phóng khoáng hùng hồn mới có thể thể hiện hết được ý chí của mình.
Một thư lại vội vàng bước lên bẩm:
Phủ tôn, Tốn đường có một thí sinh đột nhiên miệng sùi bọt mép, không ngừng co giật, khiến các đồng sinh ở đó đều vô cùng hoảng sợ, tiểu quan cũng rất lo.
Từ Thì Tiến chau mày, nói:
Kêu người khiêng hắn ra ngoài, gọi thái y chữa trị cho hắn.
Tiểu quan vội vãbước nhanh ra ngoài, Trương Nguyên cũng cáo từ, vừaxách giỏ đi ra khỏi Long Môn thì thấy hai sai dịch khiêng một Nho đồng từ trong Tốn đường ra. Thiếu niên đó lúc này cũng không co giật nữa, mắt mở to, dùng tay áo lau nước bọt trắng hai bên mép, nói:
Ta còn chưa làm bài xong mà.
Rồi chạy nhanh trở lại lều thi.
Một thư lại, hai sai dịch thấy vậy thì nhất thời sững sờ không biết xử trí ra sao, người sắp chết chớp mắt đã sống lại, còn vui vẻ chạy vào thi, chẳng lẽ chưa thi xong chết không nhắm mắt?
Trương Nguyên đi qua nói:
Chắc là giật kinh phong, năm bữa nửa tháng lại lên cơn, lên cơn xong thì không sao hết.
Thư lại kia nhận ra Trương Nguyên, chắp tay nói:
Trương công tử bác học, biết rộng hiểu nhiều, ban nãy thực là làm ta sợ khiếp vía.
Rồi nói tiếp:
Trương công tử muốn ra khỏi trường thi thì còn phải đợi một lát.
Mười mấy thí sinh nộp bài lượt đầu đi ra rồi, Long Môn lại đóng, lượt hai phải qua nửa canh giờ nữa. Trương Nguyên ở Long Môn chờ khoảng hai khắc thì có lính thi ra mở cửa, liền bước ra ngoài, nhìn thấy thân hình to lớn vạm vỡ của Đại Hán Mục Kính Nham Râu vàng, bên cạnh Mục Kính Nham là Mục Chân Chân tuy xiêm y đã cũ nát nhưng nét mặt rạng ngời. Rồi bỗng nhiên có hai đứa bé chạy tới, kêu:
Cậu Giới Tử, cậu Giới Tử.
Là hai anh em Lý Thuần và Lý Khiết.
Sau giờ ngọ, Lý Thuần, Lý Khiết đi theo Vũ Lăng và hai tỳ nữ chăm sóc chúng đến phủ học cung đợi cậu Giới Tử thi xong. Con nít không biết kiên nhẫn, cứ chốc chốc lại hỏi “ Sao cậu Giới Tử vẫn chưa ra?” Khi pháo mở cửa lượt đầu vang lên, mười mấy thí sinh đi ra, hai anh em còn chưa nhìn ra ai với ai kĩ đã luôn miệng kêu “Cậu Giới Tử” nhưng lại không thấy cậu đâu cả, cảm thấy rất thất vọng. Lần thứ hai mở cửa Long Môn thấy cậu bước ra, chúng vô cùng mừng rỡ chạy đến đón. Niềm vui của con nít chỉ đơn thuần là thế, chuyện hoàn toàn không đáng mừng cũng cảm thấy vui mừng. Trương Nguyên đang khom người nói chuyện với hai cháu ngoại thì nghe có tiếng người ở phía sau kêu:
Giới Từ sư huynh, kỳ thi này thuận lợi chứ?
Trương vội xoay người sang chỗ khác, thấy Vương Anh Tư đầu vấn khăn, thân mang áo đạo, tay cầm quạt xếp, đang cười cười nhìn hắn.
Anh Vương hiền đệ sao lại tới đây vậy?
Trương Nguyên có chút kinh sợ, lên tiếng hỏi, lướt mắt nhìn quanh, cách đó không xa có một cái kiệu, bên cạnh kiệu có một tỳ nữ.
Vương Anh Tư không đáp mà vội vàng hỏi:
Sư huynh có dùng bài chế nghệ đó không ?
Nàng đã biết đề từ những thí sinh ra trước rồi, giờ phút này thật sự là không thể kiềm nén được nỗi vui mừng, nhưng lại lo Trương Nguyên không dùng bài bát cổ của nàng.
Trương Nguyên lại cười nói:
Gấp như vậy ư, chẳng lẽ muốn lấy tiền nhuận bút?
Vương Anh Tư nghe Trương Nguyên nói như vậy, biết ngay là Trương Nguyên đã chép theo rồi, lập tức ánh mắt như reo cười mà mở to, hỏi:
Vậy sao huynh không ra đầu tiên?
Trương Nguyên nói:
Bài còn lại đương nhiên là phải làm hết sức để tốt hơn chứ, không thì thật hổ thẹn.
Vương Anh Tư nói:
Sư huynh đọc bài “Triệu Mạnh chi sở” cho ta nghe được không?
Trương Nguyên nói:
Ngày mai ta sẽ tới bái kiến thầy để bẩm báo tình hình thi hôm nay, đến lúc đó sẽ viết ra cho đệ xem.
Đúng lúc này, Trương Nguyên nghe tiếng của tỷ tỷ Trương Nhược Hi:
Tiểu Nguyên, đệ thi tốt chứ?
Trương Nguyên xoay đầu lại nhìn, thì ra là tỷ tỷ Trương Nhược Hi, tỷ ấy cũng mặc áo đạo đầu đội khăn chít, Anh Tư sư muội quả thực rất giống tỷ tỷ Trương Nhược Hi khi còn chưa lấy chồng, thường hay cải nam trang đi chơi. Phụ thân Trương Thuỵ Dương không ở nhà thường xuyên, mẫu thân họ Lã thì rất hiền, lúc đó Trương Nhược Hi dẫn theo đệ đệ Trương Nguyên đến chùa Đại Thiện, đi miếu Long Sơn Thành, từ khi gả đến Thanh Phổ thì không còn được tự do như vậy nữa, phải ở nhà làm vợ hiền dâu thảo, thỉnh thoảng mới được cùng Lục Thao đi chơi Lần này về nhà mẹ nhưng tỷ ấy lại chưa từng bước ra khỏi nhà, hôm nay là vì thấy hai đứa Lý Thuần, Lý Khiết đi lâu như vậy mà vẫn chưa về, lại lo lắng không biết em mình thi cử ra sao nên mới mặc áo đạo hồi trước rồi kêu Y Đình cùng đi đến phủ Học cung. Vừa tới nơi thì thấy đệ đệ đang nói chuyện với một thư sinh trẻ tuổi, Trương Nhược Hi vốn tính thận trọng, mình lại là nữ giả nam trang, lúc này cũng phát hiện vị thư sinh kia cũng là con gái nên rất ngạc nhiên. Khi nàng còn chưa xuất giátuy là cải nam trang ra ngoài, nhưng ngoại trừ đi với Trương Nguyên và dì Chu thì nàng trước giờ chưa từng nói chuyện với người ngoài. Vị cô nương kia là ai?
Vương Anh Tư cũng có chút kinh ngạc nhìn Trương Nhược Hi, Trương Nguyên cảm thấy hơi khó xử, đương nhiên không nên giới thiệu hai người gặp mặt, chỉ nói với Trương Nhược Hi :
Tỷ tỷ, phủ tôn đã xem qua chế nghệ của đệ, cho phép đệ từ nay gọi ngài ấy là thầy rồi.
Trương Nhược Hi vui vẻ nói:
Vậy là đệ đã qua được kỳ thi phủ này rồi, tốt rồi.
Lúc nói chuyện cố ý quay sang nhìn đánh giá Vương Anh Tư. Vương Anh Tư mặt thoáng ửng đỏ, chắp tay với Trương Nguyên nói:
Sư huynh, đệ xin về trước.
Rồi vái chào Trương Nhược Hi, vội vàng trở lại kiệu, lên kiệu rời đi!
Chương 167: Câu hỏi khó của tỷ tỷ
Nhìn theo chiếc kiệu đang đi về phía Đông, Trương Nhược Hi hỏi Trương Nguyên:
Kì lạ, cô nương này là ai, sao lại gọi đệ là sư huynh như vậy?
Trương Nhược Hi vốn thẳng tính, chuyện của em mình thì nàng nhất định phải hỏi cho rõ ràng, trong lòng thầm nghĩ:
Chỉ có hoà thượng mới bị người ta gọi là sư huynh, vợ của Dương Hùng là Phan Xảo Vân trong “Trung nghĩa Thuỷ Hử truyện” cũng gọi Bùi Như Hải là sư huynh. Bùi Như Hải là một hoà thượng, y và Phan Xảo Vân đã có gian tình với nhau.
Trương Nguyên đang định mở miệng, bỗng nhiên Trương Nhược Hi như chợt hiểu ra điều gì, nói:
Tỷ biết nàng ta là ai rồi!
Hạ giọng nói:
Là con gái của thầy Vương có phải không?
Trương Nguyên ngạc nhiên nói:
Sao tỷ tỷ biết?
Trương Nhược Hi không đáp, lại nói:
Về rồi sẽ hỏi đệ tiếp.
Lúc này một người đàn ông tay cầm kèn chạy tới kêu:
Trương công tử phải không?
Trương Nguyên bèn đáp:
Chuyện gì vậy?
Người đàn ông kia liền kêu to lên:
Trương công tử ở đây, Trương công tử ở đây!
Kêu xong liền phồng má lên thổi kèn.
Tiếng kèn vừavang lên, lập tức một đám người thổi kèn khác cũng chạy tới tập trunglại, thổi kèn đánh trống quanh Trương Nguyên , cảnh tượng vô cùng náo nhiệt.
Trương Nguyên nhận ra được đây là những người mà lần trước lúc hắn thi huyện cũng đã đến nhà hắn đánh trống thổi kèn hai lần để được cho tiền mừng. Trương Nguyên không khỏi ngửa đầu trợn mắt thầm kêu khổ trong lòng, lần này hắn đã đợi đến lượt thứ hai rồi mới ra ngoài nhưng vẫn không thoát khỏi đám người này, chắp tay nói:
Chư vị, chư vị, đợi yết bảng rồi báo hỉ cũng không muộn mà, có ai đời vừa mới thi xong đã liền báo tin vui ngay như vậy chứ.
Người thổi kèn kia nói:
Trương công tử, người tất nhiên là sẽ đậu, cho nên lũ tiểu nhân mới giành tới báo tin vui trước, làm một phen náo nhiệt ra trò.
Rồi gã lại phồng mang trợn má ra sức thổi.
Lý Thuần, Lý Khiết thấy cảnh tượng này thì vô cùng hớn hở, đứa bên trái đứa bên phải kéo tay cậu Giới Tử, vui vẻ chạy theo đám nhạc công đangvây quanh Trương Nguyên đi về phía Đông Trương. Lý Khiết bốn tuổi, chưa hiểu chuyện, chỉ biết mải mê vui đùa, Lý Thuần lớn hơn hai tuổi, có hiểu biết hơn một chút, lớn tiếng hỏi:
Cậu Giới Tử, cậu sắp thành thân sao …
Trương Nguyên cười to nói:
Cậu cũng sắp thành thân rồi...
Trong lòng nghĩ “Đêm động phòng hoa chúc, lúc đề đề tên trên bảng vàng, đều là những lúc đắc ý nhất của đời người, nhưng hãy khoan, lúc này mà đắc ý e vẫn còn sớm.
Đám nhạc công đến nhà Trương Nguyên, cả đường phố chỗ nào họ đi qua là trở nên tưng bừng náo nhiệt. Kẻ nào kẻ nấy ra sức thổi, càng thổi càng hăng, Trương mẫu Lã thị cho họ ba quan tiền để họ ra về.
Trương Nguyên ngồi ở tiền sảnh uống trà, quản sự của Thương Chu Đức bước lên phía trước nói:
Trương công tử, Đại tiểu thư nhà ta sai tiểu nhân tới hỏi tình hình thi phủ, Trương công tử làm bài thuận lợi chứ?
Lần trước thi huyện gã quản sự này phụng mệnh Thương Chu Đức đến hỏi, lần này là phụng mệnh của Thương Đại tiểu thư tới.
Trương Nguyên mỉm cười nói:
Cũng coi như thuận lợi, phủ tôn xem qua bài thi rồi, có lẽ là sẽ qua.
Quản sự Thương gia đó vui vẻ nói:
Vậy tiểu nhân về báo cho Đại tiểu thư tin mừng này.
Trương Nguyên nói:
Đợi một chút, ta muốn viết cho nàng một bức thư ngắn..
Rồi vội vàng đến thư phòng bên tây lầu viết một bức thư cho Thương Đạm Nhiên, kể lại tình hình cuộc thi, còn nói trong hai ngày này sẽ đến Thương phủ gặp nàng. Viết xong, hắn ra đứa cho gã quản sự kia, còn thưởng cho gã một quan tiền.
Quản sự Thương gia vừa mới đi khỏi thì huynh đệ Trương Đại, Trương Ngạc đến:
Giới Tử, ta cùng với Đại huynh sau giờ ngọ cũng đã tới trường thi rồi, lượt đầu không thấy đệ ra nên phải đi nơi khác có chút việc. Sao, Tri phủ Thiệu Hưng làm khó dễ cho đệ à?
Trương Nguyên vội nói:
Đâu có chuyện đó, Từ Tri phủ rất ưu ái đệ.
Trương Đại cười nói:
Thi phủ tất là phải qua rồi, Giới Tử theo ta đi gặp tổ phụ, tổ phụ nói rồi, khi nào đệ ra khỏi trường thi thì phải tới gặp ông.
Trương Nguyên, Trương Đại, Trương Ngạc đến Bắc viện nhà Tây Trương bái kiến tộc thúc tổ Trương Nhữ Sương. Trương Nhữ Sương kêu Trương Nguyên đem hai bài chế nghệ trong kì kì thi phủ đọc cho lão nghe, lại hỏi Tri phủ lúc chấm bài đã nói những gì. Nghe xong, Trương Nhữ Sương cười nói:
Bài “Triệu Mạnh chi sở” là biết học theo Từ Tri phủ đó, biết tùy cơ ứng biến như vậy là tốt, Trương Nguyên con rất giỏi, rất giỏi, đây đều là do Hước Am tiên sinh dạy con sao? Ừm có sư phụ giỏi rồi,bản thân cũng cần tự mình lĩnh hội ra mới có thể vận dụng tốt được.
Trương Nhữ Sương vô cùng sung sướng mãn nguyên, giữ ba huynh đệ Trương Nguyên, Trương Đại, Trương Ngạc ở lại Bắc viện dùng bữa tối. Lúc Trương Nguyên từ hậu viện về đến nội viện thì cũng đã là cuối giờ Tuất, thấy tỷ tỷ Trương Nhược Hi ngồi ở trong thư phòng Tây lầu dạy Mục Chân Chân viết chữ, liền cười nói:
Tỷ tỷ lâu lắm mới có rảnh rỗi thế này, Lý Thuần, Lý Khiết đều ngủ cả rồi phải không?
Mục Chân Chân vội vàng đứng dậy, hỏi:
Thiếu gia có muốn uống trà không?
Trương Nguyên nói:
Không cần, ta uống trà rồi ở chỗ tộc thúc tổ, Chân Chân ra ngoài một lát , ta có vài lời muốn nói với tỷ tỷ.
Mục Chân Chân “vâng” một tiếng rồi rời khỏi thư phòng.
Trương Nguyên khẽ cười, ngồi xuống trước mặt tỷ tỷ, nói:
Tỷ tỷ có chuyện muốn hỏi đệ mà, xin cứ hỏi.
Đoán rằng tỷ tỷ đã nghe mẫu thân kể chuyện Hầu Huyện lệnh từng cầu thân với hắn nên mới đoán ra được thân phận của Vương Anh Tư.
Trương Nhược Hi không nói, chăm chú nhìn đệ đệ một hồi rồi mới hỏi:
Giữa đệ và Vương tiểu thư kia là có chuyện gì?
Trương Nguyên nói:
Vương sư muội cũng giống tỷ tỷ năm đó vậy, thích giả nam trang ra ngoài chơi, gặp nhau chào hỏi vài câu thôi.
Trương Nhược Hi hỏi:
Vương tiểu thư không oán giận đệ sao?
Trương Nguyên nói:
Vương lão sư nhờ Hầu Huyện lệnh làm mai, Anh Tư sư muội cũng không biết chuyện này.
Trương Nhược Hi lại hỏi:
Anh Tư tiểu thư kia không phải không biết đệ đã đính hôn cùng Thương tiểu thư rồi sao?
Trương Nguyên nói:
Đương nhiên đã biết.
Trương Nhược Hi trợn mắt ngạc nhiên, nói:
Nếu đã biết, vì sao còn nói chuyện với đệ, đệ bây giờ là người đã có vợ rồi.
Trương Nguyên “ Ách “ một tiếng, tỷ tỷ đúng là đã khắc sâu vào đầu chuyện ta là trai đã có vợ rồi. Nhưng ngẫm lại cũng đúng, đính hôn rồi đương nhiên là đàn ông đã có vợ rồi, nhưng nghe nói như vậy thì có vẻ hơi nghiêm trọng, dù sao hắn cũng đã sống hai kiếp, tuy rằng đang cố học làm người cổ xưa nhưng tư tưởng vẫn chưa hoàn toàn thích nghi được hết, chỉ là bình thường không thể hiện ra mà thôi. Trương Nhược Hi nói:
Nếu Anh Tư tiểu thư kia thích đệ thì sao? Đúng rồi, ta hỏi đệ,
Đệ và Anh Tư tiểu thư kia xưng hô sư huynh sư muội, có phải đệ cũng thích Vương tiểu thư này rồi hay không?
Trương Nguyên vẻ mặt đau khổ nói:
Tỷ tỷ, câu hỏi của tỷ tham sâu quá, đệ biết trả lời sao bây giờ.
Trương Nhược Hi mỉm cười, nói:
Nói thật với tỷ đi, tỷ tỷ sẽ giúp đệ lo liệu một chút.
Trương Nguyên nói:
Đệ đã nói với tỷ rồi, đệ thích Thương tiểu thư, lần đầu tiên thấy nàng đệ đã thích, có thể lấy nàng làm vợ là đệ mãn nguyện lắm rồi, còn Anh Tư sư muội này thì lúc đệ học bát cổ ở chỗ Vương lão sư, nàng ấy thường đọc sách cho đệ nghe, chữ tiểu Khải của đệ có tiến bộ cũng là nhờ sự giúp đỡ của Anh Tư sư muội đó. Anh Tư sư muội đọc nhiều kinh sử, vô cùng tài giỏi, nếu không phải thân nữ nhi, với khả năng chế nghệ của muội ấy, đừng nói là cử nhân, đậu Tiến sĩ, đỗ sinh đồ cũng không khó.
Nghe Trương Nguyên nói vậy, Trương Nhược Hi như thoáng chút suy nghĩ gì đó, lúc nàng còn là thiếu nữ, cũng đọc sách biết chữ, có những lúc cũng ngồi mơ mộng rằng nếu mình thân là nam nhi thì tốt biết bao nhiêu ——
Trương Nhược Hi nhìn đệ đệ nói:
Nói như vậy là đệ cũng thích Anh Tư tiểu thư rồi, có lẽ là không thích bằng Thương tiểu thư, nhưng khẳng định là có thích, đúng không?
Cảm giác đối với Anh Tư sư muội rất kì lạ, ngay cả chính bản thân Trương Nguyên cũng không nói rõ ra được, nghe tỷ tỷ nói như vậy thì bèn gật đầu. Không sai, Anh Tư sư muội thông minh, thẳng thắn, nói chuyện lại rất có duyên giống như Vương lão sư cha nàng. Nói chuyện với nàng, hắn cảm thấy rất vui vẻ, rất thoải mái, không có gì phải che giấu, được tự do bộc lộ cảm xúc chân thành nhất của chính mình.
Trương Nhược Hi buồn bã nói :
Cũng không biết Anh Tư tiểu thư nghĩ như thế nào, tiểu thư khuê các khó được tiếp xúc với nam tử thanh niên lắm, mà đệ đệ của ta đâylại anh tuấn như vậy ——
Nói tới đây, nàng bỗng phì cười.
Trương Nguyên cười nói:
Đa tạ tỷ tỷ khen ngợi.
Trương Nhược Hi nói:
Cho nên nói Anh Tư tiểu thư sẽ động lòng với đệ, mà nàng ta lại xuất thân trong gia đình thấp hơn thì đệ có thể nạp nàng làm thiếp ——
Trương Nguyên vội vã ngắt lời:
Tỷ tỷ, đệ nhớ hình như là tỷ kiên quyết phản đối chuyện tỷ phu nạp thiếp cơ mà.
Trương Nhược Hi nói:
Đó là đối với tỷ phu của đệ, tỷ đương nhiên không thể cho chàng nạp thiếp rồi, tỷ sinh cho chàng hai đứa con trai, chàng dựa vào cái gì mà nạp thiếp!
Trương Nhược Hi nói một cách dứt khoát.
Trương Nguyên lắc lắc đầu, nghĩ thầm rằng:
Tâm tư con gái thật khó lý giải, ví dụ như tỷ tỷ, tỷ nhất định không cho tỷ phu nạp thiếp, nhưng lại đồng ý cho ta nạp thiếp, thiệt là mâu thuẫn. Con người là kì lạ như vậy đó!
Tỷ tỷ đừng đoán lung tung, như vậy cũng là bất kính đối với Anh Tư sư muội, đệ và Anh Tư sư muội giống như bạn bè bình thường, loại cảm giác đó thực ra là ngưỡng mộ, khích lệ nhau học hành, người tài yêu quý người tài mà thôi.
Trương Nhược Hi liếc nhìn đệ đệ một cái:
Đệ lại lên lớp ngược cho ta đó hả, nam nữ là bạn, trước giờ chưa từng nghe, đệ nói xem, đã từng có ghi chép về chuyện này hay chưa?
Trương Nguyên cười nói:
Vì sao phải ghi lại trên sách mới được —— đệ buồn ngủ quá, cuộc thi hôm nay thực vất vả quá.
Trương Nhược Hi cười, nói:
Được, không nói nữa, tỷ biết tâm tư hiện giờ của đệ, suy tính nhiều, chủ ý nhiều, đệ không còn là tiểu Trương Nguyên khi còn nhỏ nữa rồi.
Nàng đứng dậy bước ra khỏi cửa, kêu Mục Chân Chân vào thu dọn bút mực.
Sau khi rửa mặt, Trương Nguyên muốn ngủ, cũng đã lâu rồi không được ngủ một giấc ngon lành. Hắn nằm xuống mà đầu óc cứ không ngừng tìm kiếm suy nghĩ ban đầu, tìm tới tìm lui cuối cùng lại thành ra hồ đồ mất rồi, bèn ngồi dậy, thấy ánh trăng bên ngoài cửa sổ chiếu xuyên qua lá liễu, để lại những vệt sánglốm đốm trên mặt đất, chậm rãi đung đưa. Trương Nguyên đưa chân ra che những vết lốm đốm đó lại, Những vết sáng lốm đốm liền hiện lên trên chân hắn, hắn tự nhủ trong lòng:
Xe đến trước núi ắt có đường, giống như ta nghĩ phải cứu nước vậy, kỳ thật hiện tại trong lòng cũng chưa chắc chắn, chỉ biết là phải đi trên con đường nàythôi, còn có thể đi đi được tới đâu, đi như thế nào, bây giờ sao có thể dự tính trước hết được? Vẫn là câu nói đó —— bước tới đâu hay tới đó.
Buổi sáng hôm sau, Trương Nguyên đến Hội Kê bái kiến thầy Vương Tư Nhâm. Vương Tư Nhâm kêu hắn đọc bài bát cổ “Triệu Mạnh chi sở” hôm qua cho ông nghe, Trương Nguyên đọc bài “Triệu mạnh chi sở” rồi đọc luôn bài “Quân tử dụ vu nghĩa”, Vương Tư Nhâm khoát tay nói:
Bài này không cần đọc đâu, ta đã đọc qua rồi.
Trương Nguyên cảm thấy vô cùng xấu hổ.
Vương Tư Nhâm không đề cập đến chuyện bàibát cổ đó nữa, nói:
Trương Nguyên, theo ta thấy, kì thi phủ lần này, đầu bảng không là ngươi thì không thể là ai khác được nữa, lẽ ra, bát cổ cho dù làm hay tới đâu, cũng không dám nói chắc là sẽ đậu đầu bảng, lần trước Hầu Huyện lệnh sém chút nữa đã không cho ngươi đỗ đầu thi huyện, vậy tại sao ta lại dám nói đầu bảng lần này sẽ thuộc về ngươi? Đó là do Từ Tri phủ vì chuyện của Diêu Phục mà canh cánh trong lòng, giờ chuyện Diêu Phục đã xong, Từ Tri phủ nếu không thể truất ngươi, vậy thì cũng nên thể hiện sự độ lượng, âu cũng là tốt cho gã. Cho ngươi đứng đầu bảng, sau này ngươi là môn sinh của gã, giúp người để được ban ơn chính là như vậy đó, đây là cách làm người của Từ Thì Tiến. Đương nhiên, quan trọng nhất vẫn là hai bài chế nghệ của ngươi không thể bắt bẻ vào đâu được, nhất là ở bài đầu, ngươi cố ý khen gã như vậy, điều này gã đương nhiên là cũng biết, nhưng như vậy cũng làm cho gã vừa lòng, cho nên kì thi này ngươi nhất định sẽ đứng đầu.
Chương 168: Đóa sen dưới gốc cây đào
Vương Tư Nhâm thông tỏ thế sự, phân tích thấu đáo, đoán chừng hiềm khích giữa Trương Nguyên lúc trước và tri phủ Thiệu Hưng Từ Thời Tiến ngược lại lại trở thành thành tích đỗ đầu thi phủ của Trương Nguyên, đây cũng coi như là trong họa có phúc, nói đến lời cuối cùng, Vương Tư Nhâm chuyển lời, dặn dò:
Trương Nguyên, con viết bát cổ văn của quyển ‘Triệu mạnh chi sở’ ra, Anh Tư muốn xem.
Trương Nguyên vốn là vì chuyện Vương lão sư biết Anh Tư sư muội mô phỏng đề cho hắn mà có chút lo sợ bất an, nhưng Vương lão sư lại không hề để ý, ngược lại còn nói thẳng Anh Tư sư muội muốn xem bài bát cổ văn khác của hắn, ý tứ của Vương lão sư cũng thật khó đoán.
Trương Nguyên liền đến thư phòng ở sân trước, mài nửa nghiên mực, viết ra bát cổ văn thể tao phú của cuốn ‘Triệu mạnh chi sở’, Vương Tư Nhâm nhìn hắn viết, tiện thể chỉ bảo một chút thư pháp của hắn, chợt nghe tiếng bước chân dồn dập, có một giọng già nua khàn khàn từ phía cửa sảnh truyền tới:
Lão gia lão gia!
Vương Tư Nhâm giật mình, vội đi ra khỏi thư phòng, hỏi:
Vương Phúc, sao ngươi lại đến đây?
Vương Phúc là lão bộc đi theo hầu trưởng nữ của lão xuất giá đến Tiêu Sơn Trần thị, hai tháng trước cũng là Vương Phúc về báo tin nói rằng Trần cô gia bệnh nặng, lão vội đi thăm viếng, ở lại Tiêu Sơn gần một tháng, con rể Trần Thụ Hặc bệnh tình cũng thuyên giảm, lão cũng không thể cứ ở Tiêu Sơn mãi, nên trở về Hội Kê. Giờ chưa tới một tháng lại thấy Vương Phúc vội vội vàng vàng tới, thật khiến lão hết hồn. Giờ đây lão không muốn nhìn thấy nhất chính là lão bộc Vương Phúc. Lão bộc Vương Phúc đầu tóc hoa râm vẻ mặt hoảng loạn bẩm báo:
Lão gia, Trần cô gia e không xong rồi, đêm qua nôn ra rất nhiều máu, người cũng đã hôn mê, tiểu thư khóc lóc lắm, lão gia mau tới xem thế nào.
Vương Tư Nhâm thở dài một tiếng quay về thư phòng nâng chung trà lên uống. Vương phúc đi theo vào, lau mồ hôi trên trán, chờ đợi lão gia ra lệnh, Trương Nguyên lúc này cũng đứng lên, đứng hầu một bên.
Vương Tư Nhâm uống hai hớp trà, nói:
Có gấp gáp cũng vô dụng, ta cũng không phải thầy thuốc, Tiêu Sơn cũng không phải chạy đi có thể đến đấy ngay được.
Lão chậm rãi nói vài câu, bỗng nhiên xúc động phẫn nộ đứng lên giận dữ nói:
Trần Thụ Hặc khi đính hôn với Tĩnh Thục đã có bệnh phổi, lại giấu diếm không nói, đây không phải hại người sao!
Trương Nguyên nghĩ thầm:
Thổ huyết nhiều hẳn là bệnh lao phổi thời kỳ cuối, không thể cứu được, tỷ tỷ của Anh Tư sư muội mới xuất giá năm kia, giờ mới chừng hai mươi tuổi đã thành quả phụ, thật sự là bi kịch.
Vương Tư Nhâm dặn dò Vương Phúc đi nghỉ trước, đợi dùng cơm trưa xong hãy đi Tiêu Sơn. Vương Phúc đang định rời khỏi thư phòng, thì Vương phu nhân và Anh Tư tiểu thư vội vàng từ nội viện đi tới, theo sau còn có hai con út của Vương Tư Nhâm. Vương phu nhân vội hỏi:
Vương phúc, cô gia thế nào?
Vương phúc nói:
Cô gia đêm qua thổ huyết, người đã hôn mê bất tỉnh, lão nô đi suốt đêm về báo tin.
Vương phu nhân bật khóc, Vương Anh Tư cũng khóc theo, hai tiểu Vương công tử oa oa khóc lớn.
Trương Nguyên khom người hỏi Vương Tư Nhâm: - Thày có điều gì dặn dò chỉ bảo học sinh không ạ?
Vương Tư Nhâm nói:
Con về đi, vốn muốn giữ con ở lại dùng cơm, giờ đành khất để khi khác vậy.
Trương Nguyên nói:
Học sinh muốn cùng thày đi Tiêu Sơn thăm bệnh!
Vương Tư Nhâm nói:
Không cần, con cứ về an tâm đọc sách đi!
Trương Nguyên nói:
Nếu như Trần công tử mắc bệnh lao phổi thì thày cũng phải lưu ý phòng bị lây nhiễm, thày phải mang theo an tức hương (cây cánh kiến trắng) để xua đuổi vi trùng giải uế.
Vương Tư Nhâm cười cười nói:
Con thật ra học nhiều biết rộng, điều này ta cũng biết, ta trước kia cũng không xem sách thuốc, gần đây lại xem không ít, sắp thành lương y rồi.
Trương Nguyên cáo từ ra về, cùng Vũ Lăng, Mục Kính Nham đi bộ về Sơn Âm, mới đến trước cửa nhà, đã thấy một người đàn ông ăn vận như kiệu phu từ trong cửa trúc đi ra, hỏi ra mới biết là tỷ phu Lục Thao nhờ kiệu phu đưa thư tới. Trương Nguyên liền vào nội viện, tỷ tỷ Trương Nhược Hi đem thư cho hắn xem, Lục Thao trong thư nói rằng đệ đệ của mình là Lục Dưỡng Phương đã xuất ngục, hiện đang đóng cửa nghiền ngẫm lỗi lầm, phụ thân Triệu Khôn ở Hoa Đình vẫn chưa gặp được Đổng Kỳ Hưng nên đã mau chóng quay về phủ, các mặt khác đều tốt, Nhược Hi không cần bận lòng. Trương mẫu Lã thị cũng không biết chuyện Lục Dưỡng Phương ngồi tù, lúc này nhìn thấy thư mới kinh sợ hỏi nguyên cớ. Trương Nhược Hi liền nói sơ qua rằng Lục Dưỡng Phương mưu đoạt tỳ nữ của người khác không được nên bị kiện bỏ tù. Trương mẫu Lã thị lắc đầu nói:
Đều là cùng cha mẹ sinh ra mà Lục Thao lương thiện đứng đắn còn em trai Lục Dưỡng Phương sao lại xằng bậy như thế!
Sau bữa trưa, Trương Nhược Hi đến thư phòng ở tây lầu viết thư trả lời cho phu quân Lục Thao, hỏi Trương Nguyên khi nào viết thư cho Dương Thạch Hương?
Trương Nguyên nói:
Đợi thi phủ yết bảng xong đệ mới viết thư, như vậy mới có chuyện để viết, chứ cố ý viết thư hỏi Dương Thạch Hương về gia sự tỷ phu thì cũng ngại.
Trương Nhược Hi gật đầu nói:
Nói cũng phải, vậy thì tỷ viết thư trả lời trước.
Viết xong thư, nàng sai Thạch Song đi tìm kiệu phu nhờ gửi thư tới Thanh Phổ, năm nay gửi thư cũng đắt, gửi phong thư này phải trả kiệu phu ba hào bạc.
Thi phủ phải tới hạ tuần tháng này mới yết bảng, tuy nói Vương Tư Nhâm đoán chừng Trương Nguyên sẽ đỗ đầu, nhưng chưa yết bảng thì vẫn không thể an tâm. Mấy ngày này Trương Nguyên cũng không làm bát cổ văn mỗi ngày giống như trước kia, chỉ để tỷ tỷ đọc cho hắn vài trang 《 Chiêu minh văn tuyển 》, lại chép bảng chữ mẫu nửa canh giờ, thời gian còn lại thì xem thợ làm nhà ngay ở vườn sau. Tòa lầu nhỏ chuyên bằng gỗ này đã xây xong, dự tính là tam doanh hai tầng, bên cạnh còn có tai phòng, về sau có thể tụ tập bạn bè ăn uống tiệc rượu tại đây, cũng có thể ở được mười mấy người tới thi phủ. Hôm đó Trương Nguyên viết thư cho Thương Đạm Nhiên nói rằng ngày gần đây sẽ đến thăm Hội Kê Thương phủ, cho nên sáng sớm ngày 13 tháng tư, hai cha con Mục Kính Nham và Mục Chân Chân đến bến tàu kênh đào Tây Hưng cách xa nhà chừng ngoài mười dặm mua ba mươi cân dâu Bạch Sa và ba mươi cân sơn trà, mỗi loại để lại mười cân nhà dùng, còn lại bốn mươi cân sơn trà và quả dâu thì sai Thạch Song gánh theo Trương Nguyên đến Hội Kê Thương gia, Vũ Lăng cũng đi theo, Vũ Lăng mỗi tay xách theo một con ngỗng trắng lớn, hai con ngỗng cũng để biếu Thương gia. Ba người mướn một thuyền nhỏ ở cầu Bát Sĩ, chèo thuyền đến bến tàu ở bờ Đông Đại Trì, lần này không lên bờ ở vườn sau của Thương thị, không thể lần nào cũng đi cửa sau được. Đến trước cổng tòa nhà Thương thị, cổng mở ra hai cánh, người gác cổng thấy Sơn Âm Trương công tử đến, vội vàng đi vào thông báo. Trương Nguyên nhớ lại cảnh tượng mùa đông năm trước lần đầu tiên tới nơi này, tiểu Cảnh Huy lon ton ở phía trước, bất giác mỉm cười. Cảnh Lan, Cảnh Huy tỷ muội sớm đã đến kinh thành rồi, phỏng chừng tháng sau Nhị huynh Thương Chu Đức cũng muốn về Hội Kê. Thê tử của Thương Chu Đức là Kỳ thị nhờ một người anh họ của Thương Chu Đức tới đón Trương Nguyên đến chính sảnh ngồi uống trà, Trương Nguyên sai người hầu của Thương thị đem hai giỏ quả dâu và sơn trà mang vào, biếu Thương thị nữ quyến nếm quả tươi.
Người anh họ này của Thương Chu Đức là một lão tú tài khá cổ hủ, hỏi han Trương Nguyên mãi về cuộc thi huyện.
Hết thi phủ, lại bắt Trương Nguyên đọc hai quyển bát cổ văn thi phủ cho lão nghe. Lão tú tài này là sinh đồ năm đầu Vạn Lịch, hiểu biết về văn bát cổ đã hoàn toàn lạc hậu, nhưng lại bình luận hai cuốn văn bát cổ của Trương Nguyên chỗ này vế đối không xứng, chỗ kia bằng trắc không phù hợp, đối với biểu hiện trong chế nghệ và tư tưởng Chu lý học bất hòa của Trương Nguyên, lão tú tài này lại càng chân thành chỉ ra chỗ sai.
Trương Nguyên lắng nghe vô cùng kiên nhẫn, cũng liên tiếp gật đầu đồng tình, lão tú tài càng cao hứng nói chuyện. Lão nói với Trương Nguyên về cách nhìn của mình đối với sự vô vị tầm thường của nghĩa lý tứ thư, nói tới mức mặt mày hớn hở, càng nói về sau lại dậm chân chửi bới thậm tệ quan giám khảo, cảm thấy nhân tài là mình bị mai một quả thực là thiên cổ kỳ oan, y hai mươi hai tuổi bổ sinh đồ huyện học, sau đó tham gia thi hương lần thứ nhất, trong thời gian đó có đại tang hai lần, thiếu hai lớp chưa bổ sung. Từ năm thứ tư Vạn Lịch thi đến năm bốn mươi Vạn Lịch, nói cách khác năm trước y còn tham gia thi hương Hàng Châu, có thể nói rất có chí, già nhưng vẫn rất quyết tâm. Trương Nguyên lại kiên trì nghe được một hồi, cuối cùng cũng tuyệt vọng, không có tiểu Cảnh Huy đáng yêu báo tin, chắp nối nhân duyên, đổi cái lão nho cổ hủ ngồi ở chỗ này, hắn muốn gặp Thương Đạm Nhiên một chút cũng khó khăn, sớm biết như thế thì thà đi tới vườn sau để gặp nhau rồi.
Trương Nguyên đứng dậy cáo từ, lão tú tài kia giữ khách lại, nói:
Ở lại đây dùng cơm trưa đi, lão phu sẽ tiếp đệ. Ta và đệ tuổi tuy rằng cách xa, nhưng lại ngang hàng, uống xoàng vài chén, tâm tình một phen bát cổ và khoa cử, mong rằng có ích nhỏ cho đệ.
Trương Nguyên vừa nghe thấy lão còn muốn tâm tình tiếp, liền khẩn trương từ chối khéo, nói hôm nay còn muốn đi bái kiến thày Vương Tư Nhâm, để hôm khác lại đến nghe lão dạy bảo, nói rồi dẫn Thạch Song, Vũ Lăng rầu rĩ đi ra, vài lần đến thương gia, lần này là vô vị nhất.
Một tỳ nữ đuổi theo ra cổng kêu:
Trương công tử!
Trương Nguyên trong lòng vui mừng, quay lại thì thấy tỳ nữ kia tiến lên vén áo thi lễ, nói khẽ:
Tiểu thư Đạm Nhiên nhà tỳ nữ mời Trương công tử đến cổng vườn sau gặp gỡ .
Trương Nguyên đang chờ câu nói này, từ Sơn Âm đến Hội Kê mặc dù không xa nhưng cũng không gần, chỉ ngồi trò chuyện với lão tú tài cổ hủ kia rồi về thì thật sự là mất hứng, hắn nghe vậy chợt cảm thấy tinh thần phấn chấn hẳn lên. “ Vườn sau gặp gỡ “ là từ ngữ cực kỳ mờ ám. Hắn gật đầu nói:
Ta sẽ lên thuyền từ chỗ bến tàu rồi đi vòng qua.
Đợi khi Trương Nguyên đi thuyền mui đen đến bến tàu ở vườn sau của Trương thị, Thương Đạm Nhiên mặc áo màu tím nhạt, ống tay áo bó khít đã ngồi đợi sẵn dưới gốc cây đào ở bên bờ sông. Trương Nguyên nhảy lên bờ, đứng lại nhìn Thương Đạm Nhiên ở cách mấy trượng đúng là như đóa hoa sen nổi trên mặt nước, vẻ đẹp vô cùng trong sáng, thuần khiết.
Thương Đạm Nhiên thấy Trương Nguyên cứ nhìn mình không rời, sắc mặt không khỏi ửng đỏ, nàng vén áo thi lễ, nói khẽ:
Trương công tử về luôn sao?
Trương Nguyên bước lại gần, hai tỳ nữ bên cạnh Thương Đạm Nhiên liền mím môi cười rồi lui ra, để tiện cho hai người nói chuyện.
Trương Nguyên đứng trước mặt Thương Đạm Nhiên, lần này đứng gần nên nhìn càng thêm rõ ràng. Vẻ đẹp của Thương Đạm Nhiên toát ra từ trong cốt cách, khuôn mặt dù vẽ cũng không đủ để lột tả hết được vẻ đẹp của nàng, tà áo tím với ống tay áo bó khít, lưng áo lại rộng thùng thình, áo được may bằng loại vải bông lụa Tùng Giang thượng đẳng, vô cùng mềm mại, không biết so với làn da của Đạm Nhiên thì cái nào mềm mịn hơn?
Vốn tưởng rằng lần này tới không gặp được nàng, đang hồn bay phách lạc đây này, may quá lại được gặp nhau.
Trương Nguyên mỉm cười nói.
Đạm Nhiên có chút bối rối, giờ nàng lại không tự nhiên thoải mái như hồi lần đầu gặp Trương Nguyên ở Hãm Đào viên. Bởi vì lúc đó hai người chưa quen biết, Thương Đạm Nhiên phải kiêu ngạo, phải tao nhã, mà hiện giờ nàng và Trương Nguyên đã đính hôn, hai người tuy ái mộ lẫn nhau nhưng lại chưa quá quen thuộc với nhau.
Tình cảnh rất thân mật, đây chính là lúc tình cảm tinh tế. Thương Đạm Nhiên chúm chím cười hỏi:
Trương công dụ, anh họ ta có phải đã nói chuyện khoa cử lận đận với chàng phải không?
Trương Nguyên cười nói:
Nói nhiều lắm, còn nói với ta rằng sang năm nếu đỗ sinh đồ thì năm sau nữa huynh ấy sẽ cùng ta tham gia thi hương ở Hàng Châu. Huynh ấy ứng thí đã nhiều năm, chỗ nào cũng đều thông tỏ cả, huynh ấy có thể quan tâm giúp đỡ ta.
Thương Đạm Nhiên cười thành tiếng, hỏi:
Chàng muốn đến sảnh vườn sau uống trà không?