TRƯƠNG NGUYÊN NÓI:
Trương Nguyên nói:
Vâng, gần đây con có đọc qua, còn có một số bài chế nghệ của ông ta nữa.
Vương Tư Nhâm nói:
Rất tốt, con học phương pháp của Vương Ngao là sáng suốt nhất đấy. Ta đã dốc sức truyền thụ một số lĩnh ngộ đối với bát cổ văn, con cũng đã thuần thục nắm giữ, giờ không còn gì dạy con nữa rồi. Con chỉ cần đọc nhiều sách, viết nhiều văn, con đường khoa cử dù khó khăn gian nan nhưng cũng không ngăn được con bước lên mây xanh. Ta sưu tập được một ít điển tích Xuân Thucon mang về đọc đi.
Nói rồi lão sai tiểu đồng đến thư phòng nội viện bảo Anh Tư tiểu thư tìm những cuốn sách đó, tiện nói một câu:
Anh Tư gần đây cũng nghiên cứu Xuân Thu, trước kia nó thích Mao Thi.
Ngày hè nắng chói chang, từng trận bụi bay bay, hai người Trương Nguyên, Vũ Lăng dùng bữa trưa ở nhà thầy giáo Vương Tư Nhâm rồi đi đến núi Bạch Mã. Từ chỗ chùa Hạnh Hoa đến dinh thự của Thương thị ở đông bắc thành chừng không tới ba dặm đường. Hai chủ tớ đều đội mũ cỏ lớn, chậm rãi đi dưới bóng liễu ven theo đầm Đông Đại. Tay Trương Nguyên phe phẩy quạt gấp, Vũ Lăng thì phe phẩy cây quạt bồ quỳ, vừa đi vừa nhìn thuyền đang đi trên đầm Đông Đại, cảm thấy những chiếc thuyền cũng như sắp bị phơi nắng đến khô cong, chỉ có những con ve là không sợ nắng, ngày càng nắng tiếng kêu của chúng càng to. Trong lòng Trương Nguyên đang nghĩ đến lời thầy Vương đã nói trước đó, sư muội Anh Tư cũng đang nghiên cứu “Xuân thu”, lẽ nào nàng muốn tiếp tục làm đề cho mình? Hay là đang muốn thắng mình trên lĩnh vực bát cổ văn đề Xuân Thu?
Trương Nguyên lắc lắc đầu, đi trong ánh nắng mặt trời chói chang và tiếng ve kêu.
Thương Chu Đức không ở quý phủ, chủ tớ Trương Nguyên đến thẳng núi Bạch Mã, khi lên bờ ở bến tàu Trà Viên, , nhìn thấy có một con thuyền nhỏ của Thương thị đang neo dưới bóng cây bên bờ, thuyền nương nói:
Trương công tử, đại tiểu thư của nhà ta cũng ở trên núi đó.
Trương Nguyên ừ một tiếng rồi cùng với Vũ Lăng gấp rút lên núi,vừa lên đến núi Bạch Mã, những cây trà tỏa bóng mát rượi, lại có gió khe khẽ thổi, buông xuống lều tranh trúc đình , có hai nữ đầy tớgià dáng dấp khỏe mạnh đang nói chuyện phiếm dưới bóng cây, nhìn thấy Trương Nguyên thì mặt tươi cười nói:
Trương công tử đến rồi, đại tiểu thư đang ở trên đó.
Trương Nguyên đi đến phía ngoài nhà tranh, nhìn thấy tiểu tỳ Vân Cẩm đang ngồi ở trước cửa dùng cây cỏ bện thành con châu chấu, nhìn thấy Trương Nguyên thì vội đứng dậy đang định nói thì Trương Nguyên khoát khoát tay, Vân Cẩm liền không nói gì nữa, chỉ mỉm cười, chỉ vào phòng đọc sách, hai tay chắp lại,đặt bên gò má, đầu nghiêng về một bên làm tư thế một người đang ngủ, Trương Nguyên tháo mũ rơm giao cho Vũ Lăng, cất bước đi vào phòng sách. Ánh mặt trời sáng ngời chiếu qua cửa sổlàm bằng gỗ cây long não điêu khắc hình lá liễu, trên thư án là cuốn “Tả thị bác nghị”. Gió thổi làm những trang giấy mỏng lật nhẹ. Một cây đàn thất huyền lặng im không tiếng động, một chiếc cốc sứ trắng tinh, nắp để ngửa sang một bên, trà trong cốc còn gần đầy, một vài búp trà chìm nổi trong chén, hương trà nhè nhẹ thấm vào lòng người. Thương Đạm Nhiên một tay đỡ má, khuỷu tay chống xuống án thư, nhắm mắt ngủ. Nàng mặc chiếc áo lụa màu thiên thanh, ống tay áo bó khít, chất lụa tơ sống mềm mại. Thân người hơi nghiêng, eo nhỏ vẫn thẳng, rất đẹp.
Trương Nguyên ngồi trên một chiếc ghế trúc khác bên thư án, nhìn chăm chú Thương Đạm Nhiên đang trong tư thế ngủ, khuôn mặt trắng hồng, lấm tấm mồ hôi vì trời nóng, càng khiến da thịt mỡ màng, hàng mi dày rợp xuống, ngấn mắt thật sâu, đuôi mắt hướng lên trên, sống mũi cao thẳng, do một tay đỡ một bên má nên phần miệng bên đó hơi nhếch lên, tựa như đang cười vậy. Chắc là đang nằm mơ giấc mơ đẹp chăng?
Tiểu tỳ Vân Cẩm đứng bên cửa xem xét một chút, thấy Trương công tử đang ngồi đó nhìn tiểu thư mà vẫn chưa thi lễ thì liền che miệng cười cười, rụt đầu về, quay ra nói chuyện nhỏ với Vũ Lăng đang ở trước cửa.
Trương Nguyên cũng chống tay vào má, cách mặt của Thương Đạm Nhiên chỉ trong gang tấc, cảm nhận được hơi thở thơm mát duyên dáng của nàng khiến hắn tim đập nhanh hơn, ái dục dần dần nảy sinh. Có lẽ hơi thở hoặc là nhịp tim đập của Trương Nguyên quấy nhiễu giấc ngủ của thiếu nữ, Thương Đạm Nhiên đột nhiên mở to mắt ra, đôi mắt lúc đầu mơ hồ chốc lát rồi ngay sau đó đã trở nên sáng rõ liền vội ngồi thẳng người dậy, khuôn mặt xinh đẹp thoáng ửng đỏ lên, nhất thời không biết nói gì, tim đập loạn thình thịch.
Làm kinh sợ đến nàng rồi sao? Thật xin lỗi.
Trương Nguyên cũng ngồi thẳng người, mỉm cười nhìn vị hôn thê của mình.
Thương Đạm Nhiên cầm lấy chiếc quạt lụa trên bàn, nhè nhẹ phe phẩy vài cái, lúc này mới hỏi:
Sao bây giờ chàng đã đến rồi?
Trương Nguyên nói:
Sáng sớm nay đã ta đi rồi. Sáng nay đến phủ của Tí Am tiên sinh, thỉnh giáo về chế nghệ, ăn trưa ở chỗ thầy Vương xong rồi mới tới đây.
Hắn thò tay kéo dây đàn thất huyền kêu “loong coong” một tiếng rồi nói:
Đạm Nhiên mang đàn lên núi rồi, thật tuyệt, thế này lại được sướng tai rồi!
Thương Đạm Nhiên nói:
Hôm nay nóng quá, tay dễ ra mồ hôi nên không đàn được, Trương công tử nếu muốn thì sáng mai muội sẽ đàn một khúc.
Trương Nguyên nói:
Vậy cũng được.
Thương Đạm Nhiên thấy trên đầu Trương Nguyên có vết ướt mồ hôi, liền hỏi:
Trương công tử muốn uống trà không? Có cả dưa hấu đó?
Dưa hấu?
Trương Nguyên vui vẻ nói:
Ở đâu?
Thương Đạm Nhiên nói:
Ngâm ở trong suối Lâu Ẩn.
Rồi nàng ra ngoài dặn dò Vân Cẩm:
Mau đi gọi vú Tôn đến suối lấy dưa về đi.
Tiểu tỳ Vân Cẩm nói:
Tiểu tỳ đi lấy cho.
Vân Cẩm cùng Vũ Lăng háo hức đi, không lâu sau, Vũ Lăng ôm một bao tải dưa hấu về. Trong phòng sách có dao rọc giấy, bổ dưa ra ăn, thật mát và ngọt.
Thương Đạm Nhiên nghe Trương Nguyên nói đến chuyện hồ Giám khô cạn, liền nói:
Nhị huynh là hương thân Hội Kê hôm nay cũng đi huyện nha để cùng bàn về việc cứu tế, nghe nhị huynh nói rằng tám huyện Thiệu Hưng ngoại trừ huyện Thượng Ngu lúc lập xuân còn hai trận mưa, còn lại 7 huyện khác đều khô hạn,giá gạo dĩ nhiên tăng cao.
Hội Kê Thương thị là gia tộc lớn, ngoại trừ việc có hàng ngàn mẫu ruộng ra, còn có vườn trà, vườn trái cây, cửa hàng gạo, cửa hàng tơ lụa, nhưng số điền sản trong đó được đứng tên Thương Chu Khư lại không nhiều, xem ra Thương Chu Đức có công danh sinh đồ giàu có hơn người anh trai của mình là Thương Chu Khư khá nhiều. Rất nhiều quan viên lập thân rất nghiêm túc, giữ mình trong sạch liêm khiết nhưng anh em người nhà của họ trong vòng hơn mười năm đều trở thành những phú ông giàu có. Ngay cả Lưu Tông Chu cũng như vậy, bản thân Lưu Tông Chu cương trực ngay thẳng, sống rất cần kiệm, khi bãi quan rời kinh chỉ có một người hầu và một con lừa. Nhưng gia tộc Lưu thị ở Sơn Âm, cũng là phú hào, tiền tài lợi lộc như kiến bu chỗ tanh. Thương Đạm Nhiên lại nói:
Trương công tử chuẩn bị xây dựng kho lương thuận lợi không?
Trương Nguyên nói:
Đều còn ở trong dự liệu, chỉ không biết là sẽ khô hạn thế này đến bao giờ. Nghĩ lắm mấy chuyện này chỉ phiền thêm chứ không được việc gì. Chúng ta cứ đọc sách đi, sẽ sớm qua đi thôi.
Thương Đạm Nhiên “ Ừ “ một tiếng, đọc cho Trương nguyên bài “Tạ thị bác nghị” của Lã Tổ Khiêm, cứ đọc rồi nghỉ, một buổi chiều đọc hết được một quyển.
Sáng sớm hôm sau, Thương Đạm Nhiên lên chòi trúc ở trên núi Bạch Mã đánh đàn, Trương Nguyên ngồi một bên lắng nghe. Trương Nguyên không thích thú đàn cổ lắm, cảm thấy âm thanh có phần chát, không dễ nghe lắm nhưng nghe âm điệu biết nhã ý, nhìn bộ dạng Thương Đạm Nhiên đánh đàn hắn liền cảm vui mắt. Bàn tay mềm mại lướt trên dây đàn, cổ tay trắng ngần như sương tuyết.
Ngồi nghe tiếng gió trúc gõ vào bờ đá, ngắm con đường u tối vắng vẻ. Tiêu khiển ngày hè ở núi Bạch Mã thật thú vị, có Đạm Nhiên ở bên cạnh, thời gian trôi thật nhanh, đảo mắt đã là cuối tháng sáu. Ngày mười chín tháng sáu là sinh nhật của Trương Nguyên, Thương Đạm Nhiên tặng cho Trương Nguyên một miếng ngọc bội, coi như để kết ân tình.Chiều tối ngày hai mươi chín tháng sáu, Trương Nguyên đang đưa Thương Đạm Nhiên xuống núi thì ở bến tàu Trà Viên gặp một người hầu của Thương thị dẫn theo Mục Kính Nham từ bờ sông Đông Đại Trì đi tới. Bây giờ mực nước ở giữa sông Đông Đại Trì chỉ rộng khoảng 2-3 trượng, Thương Đạm Nhiên đi lại núi Bạch Mã đều phải đi bộ, may mà không xa, chỉ chừng hơn một dặm đường.
Mục Kính Nham nói:
Thiếu gia, Dương tú tài và Kim tú tài ở Thanh Phổ tới bái kiến thiếu gia, đến từ sau giờ ngọ.
Trương Nguyên vui vẻ nói:
Dương Thạch Hương tới rồi sao? Kim tú tài chắc là Kim Bá Tông của Thanh Phổ văn xã mà ta đã từng gặp ở miếu Thủy Tiên lần đó. Hôm nay trời rất nóng đấy, có bằng hữu từ phương xa tới, thật là tuyệt quá!
Rồi hắn quay ra nói với Thương Đạm Nhiên:
Đạm Nhiên, ta phải thu dọn đồ đạc trở về rồi, mấy ngày nay thật sự làm phiền nàng quá.
Mùa hè ở núi Bạch Mã trôi qua như vậy sao? Thương Đạm Nhiên thấy hơi buồn. Đây là khoảng thời gian ngọt ngào đẹp đẽ nhất của nàng từ lúc chào đời tới nay. Thương Đạm Nhiên lại cười nói:
Muội cùng chàng lên núi thu dọn đồ đạc.
Khi đi lên núi, Trương Nguyên dắt tay Thương Đạm Nhiên. Tuy rằng hai người thường vụng trộm nắm tay nhau, nhưng nếu có mặt người hầu, thì Thương Đạm Nhiên lại không chịu để như vậy. Lúc này là bởi vì Trương Nguyên sắp dọn khỏi lều tranh ở núi Bạch Mã nên trong lòng Thương Đạm Nhiên thật không nỡ, cứ để Trương Nguyên nắm tay nàng đi lên núi. Tới căn nhà tranh, Thương Đạm Nhiên hỏi khẽ:
Trương lang, bao giờ huynh lại đến thăm muội?
Chương 179: Quỷ Râu đỏ, trưởng nữ xinh đẹp (1)
Đây là lần đầu tiên Thương Đạm Nhiên gọi Trương Nguyên là “ Trương lang “ . Tuy không dễ nghe lắm nhưng Trương Nguyên vẫn vô cùng vui mừng, nhẹ nhàng vuốt ve bàn tay mềm mại, nói:
Đêm mồng bảy tới gặp nàng, được không?
Thương Đạm Nhiên đáp:
Vâng.
Trương Nguyên nói:
Đêm mồng bảy gặp, mong là nàng có thể đáp ứng một tâm nguyện của ta.
Thương Đạm Nhiên tim đập thình thịch, hỏi nhỏ:
Là gì ạ?
Trương Nguyên nói:
Để ta hôn nàng một cái.
Nói xong, hắn nhìn thấy trên phần gãy trắng nõn của nàng đều nổi đỏ như hoa hồng, thật là mê người, thật muốn đêm nay là đêm động phòng hoa chúc. Haizz, chỉ là nghĩ như thế mà thôi, mười sáu tuổi, mười sáu tuổi, sao mình mới mười sáu tuổi cơ chứ?
Thương Đạm Nhiên mím môi, không lên tiếng, khẽ nâng vạt áo cúi đầu lặng lẽ đi. Thế là nàng ngầm đồng ý rồi. Tính cách của Thương Đạm Nhiên là như vậy. Nếu như những chuyện nàng không đồng ý thì nàng sẽ nói rõ từ chối. Đã đến căn nhà tranh ở lưng chừng núi, Thương Đạm Nhiên giúp Trương Nguyên thu dọn quần áo và sách vở. Trương Nguyên mang theo về bức tranh “Bạch Mã sơn cư đồ” mà Thương Đạm Nhiên vẽ. Cả đoàn người về tới dinh thự Thương thị,Thương Chu Đức muốn giữ Trương Nguyên lại dùng bữa tối, nhưng Trương Nguyên từ chối khéo, nói:
Nhị huynh, đệ phải quay về ngay, có bạn văn từ Thanh Phổ xa xôi tới, không tiện chậm trễ.
Thương Chu Đức không giữ hắn nữa, phái xe ngựa đến đưa Trương Nguyên trở về, còn tặng theo xe một giỏ nho lớn và mấy quả dưa hấu lớn.
Trương Nguyên trở lại dinh thự Đông Trương, trời đã tối, đèn dầu mới được thắp lên, thấy trong phòng có tam huynh Trương Ngạc đang tiếp chuyện Dương Thạch Hương và Kim Bá Tông. Trương Ngạc lúc chập tối liên tục chạy sang xem Trương Nguyên đã về chưa, thấy có khách thì liền thay Trương Nguyên tiếp khách.
Trương Nguyên đi nhanh lên sảnh, liên tục chắp tay thi lễ nói:
Dương huynh, Kim huynh, tiểu đệ biết được hai vị hiền huynh tới hận không thể mọc cánh để bay trở về. Trời nóng, bằng hữu tới thăm thật là vui sướng vô cùng.
Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông thấy Trương Nguyên vội về, cũng rất vui mừng. Dương Thạch Hương cười nói:
Tin của Trương huynh, ta đã sớm nhận được. Vốn định tháng trước tới nhưng lại chậm trễ. Phạm huynh của phòng xã núi Phất Thủy vẫn chưa đến chứ?
Trương Nguyên nói:
Ta chỉ viết thư cho Dương huynh. Phòng xã núi Phất Thủy quá xa. Bây giờ trời nóng bức thế này, Phạm huynh dù muốn tới, cũng phải đợi đến lúc trời thu mát mẻ.
Trương Ngạc nói:
Giới Tử, có bằng hữu từ phương xa tới, đệ nên tới Bách Hoa lầu bày tiệc rượu tẩy hết phong trần cho Dương huynh, Kim huynh.
Rồi quay ra nói với người hầu Vũ Lăng ở bên:
Tiểu Vũ cũng đi, Tiểu Vũ gặp tiểu Vũ, rất thú vị đó.
Dương Thạch Hương vội hỏi:
Hôm nay không uống được rượu, ăn nhẹ nhàng thanh đạm một chút thì tốt. Lúc trước lão phu nhân sai người tới hỏi, ta đã nói tốt nhất là cháo đậu xanh giải nhiệt. Giới Tử huynh, hai người chúng ta đến bái kiến lệnh đường, có được không?
Trương Nguyên nói:
Không cần đa lễ, không cần đa lễ.
Dương Thạch Hương nói:
Hai người bọn ta tới đây, chắc là có phần quấy rầy, Giới Tử huynh và hai người chúng ta thân như huynh đệ, phải bái kiến lão phu nhân mới được.
Trương Nguyên liền vào mời mẫu thân đi ra. Hai người Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông bái kiến Trương mẫu Lã thị, nói vài câu xong, Trương mẫu Lã thị liền đi vào, dặn dò con trai nồng hậu khoản đãi khách.
Lục Thao nhờ Dương Thạch Hương mang đến cho Nhược Hi một phong thư và năm con ngựa, năm tấm vải, trong thư báo bình an với thê tử và chúc mừng em vợ Trương Nguyên đã đỗ đầu trung học phủ Thiệu Hưng, ngoài chuyện đó ra Lục Thao cũng không nói tới chuyện nào khác, Trương Nhược Hi bảo Trương Nguyên hỏi thăm Dương Thạch tình hình của Thanh Phổ Lục thị thế nào.
Không đi tới Bách hoa lâu uống rượu hoa được, Trương Ngạc cũng ở lại cùng Trương Nguyên, Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông ăn cháo đậu xanh, Thúy cô ướp gia vị những món điểm tâm thật ngon miệng, còn có bánh tráng, bánh chưng, đều rất hợp khẩu vị.
Nhắc tới đại hạn ở Giang Nam, Dương Thạch Hương nói:
Ở Tùng Giang chưa bao giờ gặp hạn hán, đi qua Gia Hưng, là thấy đất đai chỗ nào cũng khô nứt, ở Chiết Giang có mười một phủ thì có tới một nửa gặp hạn, Giang Nam vốn là vùng đất trồng lương thực lớn, gặp phải tai họa lần này, ảnh hưởng quá lớn.
Vẻ mặt Trương Ngạc lại hưng phấn nói:
Qua hai ngày “ thủy hử” nữa, sẽ có cả đoàn hơn trăm người đi du hành cầu mưa, nhất định có thể cảm động trời xanh, ban thưởng trời mưa.
Trương Nguyên hỏi:
Tam huynh, bọn quỷ tóc đỏ Lưu Đường, Nhất Trượng Thanh Hộ tam nương đã tìm thấy chưa?
Trương Ngạc vội hỏi:
Đệ đã biết rồi à?
Trương Nguyên nhạc nhiên nói:
Đệ biết cái gì?
Trương Ngạc cười to nói:
Vậy xem ra là ý trời, đệ vừa mở miệng đã hỏi quỷ tóc đỏ Lưu Đường và Nhất Trượng Thanh Hộ tam nương, chắc đệ đã biết hai người họ là do ai diễn?
Trương Nguyên trong lòng như hiểu ra điều gì đó, chau mày nói:
Huynh muốn cha con Mục Kính Nham diễn vai hai người này ư?.
Trương Ngạc nói:
Đúng vậy, Giới Tử lần này đệ nhất định phải đồng ý, nếu không ba mươi sáu thiên cương bảy mươi hai địa sát không tập hợp đủ, để tìm được đủ người, những gia nô đã chạy tới nhừ chân, hôm đó ta ở trên cây cầu đá nhìn thấy hai cha con Mục Kính Nham cưỡi la mới nghĩ ra để cho Mục Kính Nham đóng giả Lưu Đường, Mục Chân Chân đóng giả Nhất Trượng Thanh là quá ổn.
Trương Nguyên nói:
Cũng đâu có giống nhau.
Trương Ngạc nói:
Mục Kính Nham vốn là râu vàng, nhuộm râu thành màu đỏ là được, dáng Mục Chân Chân cũng không phải cao lắm, đi thêm đôi giày cao gót miễn cưỡng cũng cao thêm, hay nhất là Mục Chân Chân có võ nghệ, để Mục Chân Chân cầm theo nhật nguyệt song đao là quá giống rồi. Chuyện này vẫn cần người phải đi tới nói với cha con họ một câu, trước ta có hứa đưa cho hai cha con năm lượng bạc mà họ cũng không chịu.
Thiên tai khó lường, không nghĩ ra cách gì lại bày trò náo nhiệt bậy bạ, Trương Nguyên lắc đầu cười, nói:
Vậy cũng được, đợi lát đệ sẽ nói chuyện với hai người.
Trương Ngạc sốt ruột nói:
Ngay bây giờ gọi họ tới nói đi.
Trương Nguyên bèn sai Vũ Lăng gọi Mục Kính Nham và Mục Chân Chân tới, trong chốc lát, cha con hai người đã đi tới.
Trương Ngạc nói với hai cha con:
Thiếu gia nhà ngươi đã đồng ý rồi, ngày mai hai người hãy tới Tây Trương hóa trang, ngày kia sẽ bắt đầu du hành cầu mưa.
Trương Nguyên thấy Mục Chân Chân có vẻ không muốn, liền nói:
Chân Chân, chuyện cầu mưa lần này cũng xem là việc lớn của bổn huyện, ngươi tham gia một chút cũng tốt.
Lại nghe Mục Chân Chân nói:
Thiếu gia, Nhất Trượng Thanh Hộ tam nương này có chồng rồi.
Trương Ngạc dậm chân cười to, nói:
Ngươi đang nói tới Vương Ải Hổ sao, ha ha ha, đâu có bảo ngươi phải gả cho hắn, cho dù ngươi chịu, thì Giới Tử cũng không chịu đâu.
Mục Chân Chân vội vàng lắc đầu:
Tỳ nữ không chịu.
Trương Nguyên cười nói với Mục Chân Chân:
Chân Chân, nếu tên Vương Ải Hổ kia dám tới gần ngươi, ngươi hãy cho hắn một cước bay ra xa.
Mục Chân Chân cúi đầu không nói lời nào.
Trương Nguyên thấy Mục Chân Chân không đồng ý, liền nói với Trương Ngạc:
Thôi bỏ đi, Chân Chân không muốn thì đừng ép nữa, người đàn bà đẹp có dáng cao cũng dễ tìm, Chân Chân tuổi còn nhỏ, cũng khó đóng giả cho giống.
Trương Ngạc rất không hài lòng, nói
Giới Tử, đệ ngay cả người hầu nhà mình cũng không sai được, phụ nữ mà nuông chiều như vậy sao được!
Mục Chân Chân vội vàng nói:
Tam công tử, tiểu tỳ đồng ý, vừa nãy tiểu tỳ chỉ là lo lắng đi giày cao gót đi lại khó khăn mà thôi.
Trương Ngạc lại lập tức cười, nói:
Ngươi đâu phải bó chân, lo cái gì, được rồi, vậy cứ quyết như vậy đi.
Lại nói với ba người Trương Nguyên, Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông:
Ngày mai mời mọi người tới xem thủy hử quần hùng thịnh hội.
Trương Ngạc đi rồi, Trương Nguyên cùng Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông tới vườn sau bên sông Đầu Lao tản bộ nói chuyện, sông Đầu Lao đã không còn nước, lòng sông mọc những bụi cỏ dại, căn lầu gỗ hai tầng ở hậu viên đã xây lên tầng, vẫn chưa làm nóc.
Dương Thạch Hương không mấy để ý tới dòng sông khô cạn, nói:
Giới Tử huynh, đệ lần này đem tới năm trăm cuốn chế nghệ của chư sinh ba huyện Thanh Phổ, Hoa Đình, Thượng Hải, mời Giới Tử huynh chọn ra một trăm hai mươi cuốn để bình, tại hạ đã mang tới một trăm năm mươi lạng bạc là thù lao.
Lại nói tiếp:
Giới Tử huynh cũng đừng nên khách sáo, tại hạ mở tiệm sách, mời người chọn văn trả tiền là chuyện đương nhiên, tình bằng hữu thì vẫn là bằng hữu, số bạc này huynh nhất định phải nhận lấy. Bạc đệ đã mang tới rồi.
Lần trước ở Thanh Phổ Dương Thạch Hương nói lấy một trăm lượng bạc là thù lao, giờ đã tăng lên tới một trăm năm mươi lượng tiền nhuận bút rồi, đây đương nhiên là do chuyện Trương Nguyên đã đỗ đầu cuộc thi phủ Thiệu Hưng. Danh đồng nghĩa với lợi mà.
Đảng xã thời Vãn Minh là lợi ích tập thể, không nói tới lợi ích sao có thể thành chuyện, người Vãn Minh không thanh cao như đời trước, người làm ăn buốn bán nơi nào cũng có, Trương Nguyên nói:
Vậy cũng được, tại hạ nhất định sẽ viết lời bình thật hay, không để cho số vốn Dương huynh đưa ra bị thua lỗ.
Dương Thạch Hương cười lớn:
Giới Tử huynh đỗ đầu huyện, có cái uy danh của cuộc thi, những tuyển tập này nhất định sẽ bán chạy, không nói tới hai huyện Hoa Đình, Thượng Hải, ngay cả Thanh Phổ ta cũng đã có hơn ba ngàn học trò, hơn vạn nho đồng, chỉ cần mười người có một người mua sách thì cũng đã có lời lớn rồi.
Chương 179: Quỷ Râu đỏ, trưởng nữ xinh đẹp (2)
Kim Bá Tông nói:
Chư sinh ở huyện lân cận tìm mua cũng không phải không có khả năng, những người mua sách đó cũng chỉ biết tranh giành nhau mua thôi.
Dương Thạch Hương lần này khí thế bừng bừng, hắn muốn mượn tuyển tập này của Trương Nguyên để mở một chợ sách của hai huyện Hoa Đình và Thượng Hải, nếu bán được sách ở hai nơi này thì hắn kiếm hời lớn rồi, nói:
Giới Tử huynh, tại hạ còn có một việc muốn nhờ, muốn mời lệnh sư Quý Trọng tiên sinh viết vài lời tựa trong tuyển tập này, đây cũng là mượn một chút danh tiếng của lệnh sư.
Dương Thạch Hương này thật là có đầu óc kinh doanh, Trương Nguyên đáp:
Được, hai ngày sau ta sẽ dẫn hai vị tới gặp Vương lão sư.
Nhắc tới chuyện của Thanh Phổ Lục thị, Dương Thạch Hương nói:
Không giấu gì Giới Tử huynh, Thanh Phổ Lục thị là sợ gặp phiền phức, lúc ta chuẩn bị đi Lục Thao còn dặn dò ta không được nói tới những chuyện đó, khỏi làm cho lệnh tỷ lo lắng.
Trương Nguyên hỏi:
Có phải đúng là Hoa Đình Đổng thị muốn chiếm hai trăm mẫu ruộng?
Dương Thạch Hương nói:
Hóa ra Giới Tử huynh đã biết tới chuyện này.
Trương Nguyên nói:
Ta chỉ là đoán thôi, bởi vì ta biết tên phản nô Trần Minh của Lục thị đem đi khế ước hai trăm mẫu ruộng dâu của Lục thị, nếu như có chuyện phiền phức lớn chắc chỉ có chuyện này.
Dương Thạch Hương nói:
Giới Tử huynh đúng là liệu việc như thần, Hoa Đình Đổng thị đầu tháng năm liền phái người tới tiếp quản hai trăm mẫu rừng dâu, Lục Hiếu Liêm kiện tới nha huyện, Lý huyện lệnh cũng biết mảnh rừng dâu kia là sản nghiệp tổ tiên của Lục thị, nhưng không bắt được Trần Minh, không có nhân chứng, Lục thị mất đi khế ước, không có vật chứng, hơn nữa Lý huyện lệnh cũng không dám làm khó Đổng thị, bởi vì tri phủ Tùng Giang chính là môn sinh của Đổng Huyền Tể. Những tranh chấp thế này phải do hai huyện Tùng Giang và Hoa Đình cùng xử lí, Lý huyện lệnh chỉ có thể bảo sai dịch đi gọi nô bộc của Đổng thị về, nói rằng mảnh rừng dâu đó đang có tranh chấp,Đổng thị không có quyền tiếp quản. Lý huyện lệnh làm được thế này đã là giữ thể diện cho Lục thị lắm rồi, chỉ có điều là hai trăm mẫu ruộng đó rõ ràng là điền sản của Lục thị, giờ trở thành mảnh đất tranh chấp, người nhà Lục thị không thể đi hái dâu được, Lục Hiếu Liêm không tức giận mới lạ
Nói tới đây, Dương Thạch Hương dừng lại một chút, lại nói tiếp:
Theo ta biết, Lý huyện lệnh rất có thể năm sau sẽ không làm quan ở Thanh Phổ nữa, sẽ có người mới tiếp quản, với sự giao thiệp của Đổng Huyền Tể, huyện lệnh mới đến không chắc sẽ tiếp tục che chở cho Lục thị nữa, tới khi đó Đổng thị cứ đường hoàng mà tới chiếm ruộng dâu nhà Lục thị.
Trương Nguyên trầm mặc một lát, nói:
Vậy Lục Dưỡng Phương dạo này thế nào?
Dương Thạch Hương cười cười nói:
Từ lần trước bị Giới Tử huynh giáo huấn một trận, Lục Dưỡng Phương rất ít khi lộ mặt ở Thanh Phổ, nghe nói tháng trước đi Hoa Đình, cũng không biết là có chuyện gì.
Nói chuyện thêm một lát, thời gian cũng không còn sớm, Trương Nguyên nói:
Hai vị hiền huynh ở xa tới đi đường mỏi mệt, hôm nay hãy đi nghỉ ngơi sớm đi, ngày mai ta lại bày bàn rượu mời khách.
Vì tiểu lầu ở hậu viên chưa thể ở được, Trương Nguyên liền sắp xếp cho Dương Thạch Hương,Kim Bá Tông và đám nô bộc ở tại hai gian chái ở tiền sảnh, Dương Thạch Hương và Kim Bá Tông ở một gian, hai người hầu của Dương Thạch Hương và một người hầu của Kim Bá Tông ở một gian khác, có chật hơn một chút. Trương Nguyên tạ lỗi với hai vị, Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông đều nói:
Không sao, không sao, ở như vậy cũng hay, có thể dễ dàng nhờ Giới Tử huynh chỉ giáo.
Sắp xếp xong xuôi chỗ ở cho Dương Thạch Hương và Kim Bá, Trương Nguyên trở lại nội viện, thấy thư phòng sáng đèn, liền đi qua xem thử, Trương Nhược Hi tỷ tỷ đang dạy Mục Chân Chân viết chữ, nhìn thấy Trương Nguyên, Trương Nhược Hi nói:
Tiểu Nguyên, lại đây xem bia Hoa Sơn Chân Chân viết này, rất có thần nhé.
Trương Nguyên đi qua xem, Mục Chân Chân nhanh chóng đứng dậy đứng sang một bên, Trương Nguyên nhìn mấy chữ lớn viết trên thư án, nét bút ngay ngắn, lực bút đầy đặn, rất có khí phách, khen:
Chân Chân viết thật đẹp, tỷ tỷ đúng là dạy rất giỏi.
Trương Nhược Hi cười, nói:
Luyện thư pháp cũng cần thiên phú đấy, Chân Chân viết rất có lực, chỉ tiếc…
Quay sang nói với Chân chân:
Chân Chân đi pha cho Tiểu Nguyên một tách trà đi.
Đợi Mục Chân Chân đi rồi, Trương Nhược Hi ngay lập tức hỏi Trương Nguyên Dương Thạch Hương kia đã nói những gì.
Trương Nguyên nói:
Lúc trước tỷ tỷ lo lắng thật không có sai, Hoa Đình Đổng thị quả nhiên là muốn chiếm hai trăm mẫu ruộng dâu, cũng may Lý huyện lệnh còn là người có công đạo, hai trăm mẫu rừng dâu kia tạm thời chưa bị chiếm đi, tuy nhiên việc này càng kéo dài càng phiền toái, Lục Ông đương nhiên sẽ không bao giờ chịu thua, tỷ phu bây giờ cũng rất lo lắng.
Trương Nhược Hi thở dài, bỗng nói:
Tiểu Nguyên, đệ nói có thể giúp cho tỷ phu một tay, đệ định giúp thế nào?
Trương Nguyên nói:
Thời điểm chưa tới, cứ phải đợi qua kì thi năm sau đã mới được.
Trương Nhược Hi chặn lại nói:
Đúng, Tiểu Nguyên đệ cũng đừng suy nghĩ nhiều, chuyên tâm học hành thi cử là được rồi, tỷ tỷ cũng không gấp, muốn gấp cũng không gấp được, cùng lắm thì không giữ được hai trăm mẫu rừng dâu kia vậy.
Trương Nguyên nói:
Chỉ cần tỷ phu ra mặt làm chủ, hai trăm mẫu rừng ấy đệ nhất định giúp tỷ phu đoạt lại, Đổng thị tưởng rằng nắm được khế ước thì rừng dâu ấy thuộc về họ sao, nực cười, rừng dâu ngay cả đem ra mua bán cũng cần phải có chủ nhân cũ ra xác nhận, tỷ phu chừa từng xác nhận cho rừng dâu ấy thì nó không bao giờ thuộc về Đổng thị được, chỉ là bây giờ chưa thể nói lí được, chỉ có thể bàn bạc lại kĩ càng hơn.
Trương Nhược Hi thấy đệ đệ nói vậy cũng an tâm phần nào, thấy Mục Chân Chân bưng trà tới, nàng liền về tây lầu nghỉ ngơi.
Mục Chân Chân bưng trà tiến vào, hỏi:
Thiếu gia còn có chuyện gì chỉ bảo?
Trương Nguyên nói:
Chân Chân, ngồi đi, ta có chuyện muốn hỏi ngươi.
Mục Chân Chân liền ngồi xuống cạnh bên kia của chiếc bàn gỗ to màu đỏ, cầm ngọn đèn đế cao màu trắng sứ di chuyển về phía Trương Nguyên, khuôn mặt trắng như tuyết của thiếu nữ đọa dân rất sạch sẽ, lông mi dày, ánh mắt thăm thẳm như nước hồ, nhìn Trương Nguyên nói:
Thiếu gia.
Trương Nguyên nói:
Chân Chân, vừa rồi ta muốn ngươi thoái thác đóng vai Nhất Trượng Thanh đó, sao ngươi lại nhận lời?
Mục Chân Chân nhìn xuống, nói nhỏ:
Tam công tử nói thiếu gia như vậy, tỳ nữ…
Trương Nguyên nói:
Ngươi sợ ta khó xử nên mới chấp nhận chịu ấm ức đúng không, Trương Ngạc có thể làm khó được gì ta chứ, anh ta là người nhanh miệng thẳng thắn, lúc trước Dương tú tài và Kim tú tài đều có mặt nên ta không tiện nói chuyện này.
Mục Chân Chân chớp mắt, duyên dáng nhìn Trương Nguyên nói:
Thiếu gia, tỳ nữ không ấm ức gì cả, đã nhận lời tam công tử rồi thì cứ đi đóng… hơn nữa đây chỉ là diễn trò trên sân khấu, chỉ là theo chân mọi người cùng đi cầu mưa mà thôi, cầu mưa cũng là chuyện lớn, tỳ nữ không tình nguyện là vì không thích Nhất Trượng Thanh Hộ Tam Nương đó.
Trương Nguyên cười hỏi:
Vì sao?
Mục Chân Chân nói:
Tỳ nữ vốn không biết Nhất Trượng Thanh là người như thế nào, hỏi đại tiểu thư mới biết, người nhà của Nhất Trượng Thanh Hộ Tam Nương đều bị người của Thủy Bạc Lương Sơn giết sạch, cô ta không nghĩ cách báo thù rửa hận mà lại gả cho người của Thủy Bạc Lương Sơn, điều này thật sự khiến cho nô tỳ nghĩ không thông.
Trương Nguyên mỉm cười nhìn Mục Chân Chân thăm dò, nhìn đến mức gương mặt thiếu nữ đọa dân này đỏ rần, tâm trạng hoang mang hỏi:
Thiếu gia, tỳ nữ nói sai rồi ư?
Trương Nguyên nói:
Không có, Chân Chân nói rất hay, nữ nhân trong Thủy Hử không phải là dâm phụ mà là người vô tâm vô tính. Hộ Tam Nương đúng là người vô tâm vô tính, Chân Chân đã nói như vậy thì đừng đóng vai Hộ Tam Nương nữa, để Trương Ngạc tìm người khác.
Mục Chân Chân kinh ngạc nói:
Nói vậy thì thiếu gia chẳng phải là đắc tội Tam công tử ư?
Trương Nguyên cười nói:
Không đâu, Tam huynh vốn tham gia cho vui thôi, không kiên nhẫn đâu. Sớm mai ta sẽ đi bảo huynh ấy tìm người khác.
Mục Chân Chân ngẫm nghĩ một chút rồi nói:
Tỳ nữ đã nhận lời với Tam công tử rồi, không thể thất tín, đọa dân xưa nay đều trọng lời hứa, thiếu gia vì việc này mà bận tâm thì tỳ nữ cũng nguyện đóng góp chút sức lực cho việc cầu mưa, chỉ mong có mưa sớm thôi.
Mục Chân Chân tin rằng cầu mưa có thể làm cảm động trời xanh…
Dân chúng Sơn Âm cũng phần lớn đều như vậy, bởi vậy mới hứng thú với cuộc thi đấu thần cầu mưa.
Trương Nguyên nói:
Tốt lắm, ngày mai ta cùng ngươi đi xem.
Tháng 6 năm Vạn Lịch thứ bốn mươi mốt là tiểu nguyệt, qua ngày 29 là đến ngày mùng 1 tháng 7. Sáng sớm ngày mùng 1 tháng bảy Trương Ngạc cho Năng Trụ tới gọi hai cha con Mục Kính Nham đi Tây Trương, Trương Nguyên mời Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông cùng đi. Đến Kịch viên ở Tây Trương đã thấy người đứng đông nghịt, một trăm linh tám vị tướng Thủy Hử cơ bản đã đến đủ…
Họ đều là những người nông dân, ngư dân, thợ mộc sơn dầu, thương nhân, thợ đá, đạo sĩ hòa thượng có hình dạng kỳ dị tới từ các vùng của Sơn Âm thậm chí ở các huyện phủ lân cận. Những người này hoặc đen hoặc trắng, hoặc cao hoặc thấp, hoặc béo, gầy, đẹp, xấu, muôn hình muôn vẻ… mà những nhân vật Thủy Hử nho nhã một chút như Trí Năng Tinh Ngô Dụng, Thần cơ quân sư Chu Võ, Thánh thủ thư sinh Tiêu Khiến, Thiết Phiến Tử Tống Thanh thì đều do các môn khách của Tây Trương môn hạ thủ vai…
Chương 180: Mưa kịp thời
Phạm Trân đóng vai Ngô Dụng. Trương Nguyên nhìn thấy ông chú mình là Trương Nhữ Lâm ngồi trên một chiếc ghế tre dưới gốc cây nhãn bên cạnh vườn, tay cầm chung trà mỉm cười, cha của Trương Đại là Trương Diệu Phương đứng một bên, Trương Nguyên bèn dẫn Dương Thạch Hương và Kim Bá Tông đi tới bái kiến. Trương Nhữ Lâm nghe nói hai sinh đồ họ Dương và họ Kim từ Thanh Phổ tới nhờ Trương Nguyên biên tập sửa sang văn bát cổ liền cười nói:
Học trò nhỏ mà lại kiểm tra biên tập thì ta chưa nghe thấy bao giờ.
Dương Thạch Hương kính trọng Trương Nhữ Lâm, cung kính nói:
Học trò Giới tử huynh không tầm thường… thi huyện, thi phủ đều đỗ đầu, sang năm được dự thi hương là chuyện trong dự liệu. Tại hạ đã đọc qua chế nghệ của Giới Tử huynh, thật không hổ danh văn bát cổ.
Trương Nhữ Lâm cười nói:
Dương tú tài mà mời Trương Nguyên biên sách, sách có bị đục khoét thì chớ có trách hắn.
Dương Thạch Hương cười nói:
Không bao giờ, không bao giờ, tại hạ đang muốn mượn danh tiếng song án thủ của Sơn Âm Trương thị và Giới tử huynh.
Trương Bính Phương và cháu trai Trương Đại là bận rộn nhất. Tướng mạo, y phục, khí trượng của 108 vị anh hùng Thủy Hử đều do hai người này định đoạt. Bọn họ nói ai không giống người trong Thủy Hử là liền tìm người khác, căn cứ theo sách của Thi Nại Am và tranh vẽ của Lý Long Miên…
Pháp gấm cung gấm dùng để may y phục cho các nhân vật đều được mua từ Dương Châu. Trương Nguyên nhìn thấy một vị hắc Đại Hán tay cầm hai lưỡi búa trông giống Lý Quỳ hơn cả Lý Quỳ trong phim truyền hình của hậu thế sau này, vị Đại Hán lùn Tống Giang cũng không biết tìm ở đâu ra, tướng mạo trung hậu còn hơn cả Lý Tuyết Kiện, ngoài các nhân vật Thủy Hử còn có người đóng chư thần Lôi bộ, quan âm đại sĩ và thuộc hạ Long vương, trang điểm ăn diện hoa mỹ vô cùng, Trương Nguyên nhìn có cảm giác lóa cả mắt.
Lúc này hai cha con Mục Kính Nham và Mục Chân Chân đều tới. Mục Kính Nham râu tóc đều nhuộm thành màu đỏ, khuôn mặt rộng, bên tóc mai dính lên một nốt ruồi, trên nốt ruồi còn đính mấy sợi lông màu đen…Trong tay lão cầm một ngọn đao chế bằng gỗ được quét một lớp sơn màu bạc, giống hệt với nhân vật được miêu tả trong sách.
Lại nhìn Mục Chân Chân, được trang điểm như nữ tướng, mặc áo giáp mềm, thắt đai thô, tay cầm nhật nguyệt song đao, khí khái anh hùng, dưới chân cô ta là đôi giày đầu phượng gót cao ba tấc, khiến vóc dáng cao lớn hơn, mặt mày mỹ lệ.
Trương Nguyên thầm nghĩ:
Có lẽ một ngày Chân Chân sẽ theo ta ra chiến trường với thân phận nữ tướng.
Ngày hôm đó Kịch viên Tây Trương vô cùng náo nhiệt, Trương Nguyên dành thời gian viết bài “Dương hòa nghĩa thương ký”, mời môn khách Tây Trương viết thư pháp tốt là Ngô Đình viết chữ to trên một dải lụa màu vàng. Sáng sớm ngày hôm sau, buổi du hành cầu mưa long trọng bắt đầu, xuất phát từ Trạng Nguyên Đệ vòng qua Sơn Minh một vòng, rồi lại từ cầu Việt Vương đi tới Tiền Túc Vương Từ, sau đó lại vòng về. Đây là hành trình ngày thứ nhất, vài ngày sau đó phải đi đến bờ hồ Giám và các thôn làng ở Sơn Âm để diễu hành cầu mưa, bức trướng bắt mắt “Dương hòa nghĩa thương ký” cũng do hai người hầu của Tây Trương cầm giương khắp nơi. Ba người Trương Nguyên, Dương Thạch Hương và Kim Bá Tôn từ sáng sớm đã đợi ở đầu phía tây cầu Việt Vương, muốn xem nhân vật Thủy Hử diễu hành cầu mưa. Mặt trời vừa mọc, đám người cầu mưa kéo đến, chiêng trống vang trời, đàn sáo inh ỏi, dẫn đầu là hai tấm biển lớn, bên trên có viết ba chữ lớn ‘Mưa kịp thời’, bên trái bên phải mỗi bên một tấm. Dương Thạch Hương cười nói:
Lẽ nào phải dùng nhân vật Thủy Hử để cầu mưa, thế hóa ra tên hiệu của Tống Giang là mưa kịp thời, thế lại hợp với tình cảnh.
Sau tấm biển ‘Mưa kịp thời’ lại là hai tấm biển lớn ‘Mưa thuận gió hòa’ và ‘Đạo tức dân an’. Dân chúng đến xem đều vui mừng tán thưởng, bám rất sát tấm bảng này là các nhân vật trong Thủy Hử, râu đỏ, râu quai nón, người đàn ông lùn đen, người đàn ông cao to, hòa thượng to béo xách thiền trượng, đầu đà cầm giới đao, thư sinh thổi sáo trúc, thiếu niên xăm mình, giống như các nhân vật trong tranh của Lý Long Miên được thần tiên thổi hồn vào, từng người từ trong tranh bước ra, người xem ven đường chật kín, mắt nhìn không dời, tiếng hò rèo không dứt, cầu mưa như vậy cũng là một kiểu lạc quan và lòng tin khi phải đối mặt với thiên tai. Trương Nguyên đeo kính thủy tinh, hắn đã nhìn thấy Mục Chân Chân. Mục Chân Chân bôi vạch đỏ ngang trán, mình mặc chiến giáp, tay cầm nhật nguyệt song đao, đôi mắt xanh thẳm được ánh nắng chiếu vào nom rất có thần, lông mày nhíu lại, trông có vẻ rất nghiêm trang, ánh mắt chậm rãi nhìn quét đám người, chợt thấy Trương Nguyên đeo đôi kính dị thường, thiếu nữ đọa dân này lập tức mặt mày xấu hổ, vội đảo mắt nhìn về hướng khác, một lúc lâu sau mới quay đầu lại tìm, nhìn thấy thiếu gia đeo kính vẫn đang mỉm cười nhìn mình, mặt nàng lại càng đỏ hơn.
Ở bên trái Mục Chân Chân là một người đàn bà mập mạp, bên phải là Mục Kính Nham, vốn Mục Kính Nham đóng quỷ tóc đỏ Lưu Đường thì không nên ở bên cạnh Hộ Tam Nương. Nhưng lúc này cũng không có ai bận tâm đến điều này, người đóng vai chú lùn Vương Ải Hổ cũng không biết ở đâu, người thấp, bị lấp trong đám người rồi.
Vũ Lăng đột nhiên kêu lên:
Thiếu gia mau nhìn kìa, tam công tử cũng ở trong Thủy Hử.
Trương Nguyên nhìn lên, quả nhiên Trương Ngạc đội mũ dây tua, mặc y phục màu lục, trong tay phe phẩy quạt sái kim, hai bên tả hữu đều có một nữ tử xinh đẹp đi cùng, hai nữ tử này đều thoa phấn, mặc áo cài thân, để lộ ra thân thể vô cùng xinh đẹp, õng ẹo cợt nhả, vừa nhìn là biết ngay gái lầu xanh.
Hai người Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông cũng đã nhìn thấy Trương Ngạc, Trương Ngạc ăn vận theo kiểu lãng tử đi chơi phố, Thủy Bạc Lương Sơn có nhân vật này sao, hai người đều thấy rất buồn bực, hỏi Trương Nguyên rằng Trương tam công tử đóng vai gì?
Trương Nguyên cười nói:
Ta biết rồi, Tam huynh ta đóng vai Tây Môn Khánh.
Kim Bá Tông nói:
Tây Môn Khánh không nằm trong số thiên cương địa sát Lương Sơn mà, không phải bị Võ Nhị Lang giết chết ngay từ đầu rồi sao?
Trương Nguyên cười nói:
Tam huynh ta đóng vai Tây Môn Khánh trong một cuốn sách khác, Tây Môn Khánh trong cuốn sách đó không bị Võ Tòng giết chết, mà bị đàn thê thiếp hưởng hết diễm phúc. Tam huynh ta cực kỳ tán thưởng viên Tây Môn Khánh đó.
Dương Thạch Hương ngạc nhiên hỏi:
Còn có kỳ thư bậc này sao, tên là gì vậy?
Trương Nguyên nói:
Gọi là “Kim bình mai”.
Trương Ngạc nhìn thấy mấy người bọn Trương Nguyên, liền cười hì hì đi tới, hai kỹ nữ kia cũng theo sau, Trương Ngạc cười hỏi:
Dương huynh, Kim huynh, có biết ta đóng vai gì không?
Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông đồng loạt lắc đầu nói:
Thật sự khó đoán.
Trương Ngạc cười ha ha, hỏi Trương Nguyên:
Giới Tử đệ có biết ta là ai không?
Trương Nguyên cười nói:
Tam huynh đóng giả ai thì đệ biết, Tây Môn Khánh đại quan nhân, chỉ không biết hai vị này đóng vai gì?
Hắn chỉ vào hai kỹ nữ, trong đó có một kỹ nữ hắn đã gặp lần trước ở Bách Hoa lầu.
Trương Ngạc cười đắc ý, thò tay nâng cằm của kỹ nữ bên trái rồi nói:
Vị này đương nhiên là Phan Kim Liên quyến rũ lẳng lơ rồi.
Rồi y lại ôm eo của kỹ nữ bên phải nói:
Cô ta chính là Lý Bình Nhi có cặp mông trắng nõn.
Hai kỹ nữ cười hì hì, dùng quạt tròn quạt cho Trương Ngạc, cực kỳ xu nịnh.
Trương Nguyên nói:
Tam huynh, huynh thế này là làm nhiễu loạn Lương Sơn, huynh bảo Võ Nhị Lang biết giấu mặt vào đâu.
Vừa nói như vậy, Trương Ngạc liền hậm hực ngay, chắp tay nói:
Ta đi trước, việc cầu mưa quan trọng hơn, hẹn gặp lại.
Nói rồi y cùng hai kỹ nữ vượt lên trên đội ngũ, xuyên vào sau lưng hòa thượng Lỗ Chí đang gánh thiền trượng và Võ Tòng đang vác giới đao, tay vịn vào vai hai kỹ nữ, tung chân lên đá khiến người bán hàng rong Hội Kê đóng vai Võ Tòng ngã sóng xoài, người này bò dậy kinh sợ hỏi:
Tam công tử, đang yên đang lành công tử sao lại đá tiểu nhân?
Người đóng giả Phan Kim Liên sớm được Trương Ngạc dặn dò, tiến lên duyên dáng nói:
Thúc thúc bị kinh sợ rồi, từ sau khi ca ca ngươi chết, ta gả cho Tây Môn đại quan nhân này. . . Cuộc sống vui vẻ hạnh phúc, thúc thúc có gì muốn nói không?
Người bán hàng rong đóng giả Võ Tòng không hiểu ra sao cả, sững sờ ở tại chỗ.
Đội ngũ nhân vật Thủy Hử diễu hành cầu mưa đã đi qua, phía sau là hàng ngàn người dân náo nhiệt đi theo.
Lúc này đã đến quảng trường Tiền Túc Vương Từ, trên cầu Việt Vương lại trống không, ánh nắng chiếu rọi xuống dòng sông cạn im ắng, thuyền lớn giờ không thể đi lại trên sông, chỉ có những con thuyền nhỏ thì vẫn có thể gắng gượng qua lại.
Trương Nguyên nói với hai người Dương Thạch Hương và Kim Bá Tông:
Nơi này cách phủ của Quý Trọng tiên sinh không xa, ba chúng ta đến đó thăm hỏi, các huynh thấy thế nào?
Dương Thạch Hương nói:
Hai người chúng ta không chuẩn bị lễ lạt, danh thiếp cũng không mang theo, không dám mạo muội, hay là để ngày mai hãy đến bái kiến.
Trương Nguyên nói:
Cũng được, vậy bây giờ chúng ta đi về hay là đi Tiền Túc Vương Từ tiếp tục xem các anh hùng Thủy Hử?
Dương Thạch Hương nói:
Ta nghe nói Quý Trọng tiên sinh thanh cao kiêu ngạo, nói năng thẳng thắn, nếu ta mạo muội đến nhờ viết tựa văn, e sẽ bị lúng túng. Hay là Giới tử huynh đến đó thăm dò trước, nếu Quý Trọng tiên sinh đồng ý làm hộ lời tựa thì hai chúng ta sẽ tới nhà bái kiến, như vậy ổn thỏa hơn một chút, Giới tử huynh thấy thế nào?
Chương 181: Hai người đẹp làm biên tập và lựa chọn
Trương Nguyên gật đầu nói:
Được, ta sẽ đi ngay bây giờ, hai vị tự đi Tiền Túc Vương Từ du ngoạn nhé.
Ở phân đạo đầu phía đông cầu Việt Vương, Trương Nguyên dẫn theo Vũ Lăng đi đến phủ Vương Tư Nhâm ở phía sau chùa Hạnh Hoa. Năm người chủ tớ bọn Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông đi về phía Bắc đến Tiền Túc Vương Từ.
Thật đúng là muôn người đều đổ xô ra đường, đoạn đường này trước đây đều hiếm người đi qua, qua chùa Hạnh Hoa, nhìn thấy một chiếc kiệu đang đi tới, đi bên cạnh kiệu là một thư sinh thiếu niên và một số người hầu, Vũ Lăng tinh mắt nói:
Thiếu gia, đó là Vương nhị tiểu thư.
Nó liền lấy kính đưa cho thiếu gia đeo vào để nhìn cho rõ.
Trương Nguyên khoát tay nói:
Không cần.
Hai người đi tiến về phía chiếc kiệu.
Thư sinh trẻ tuổi đúng là Vương Anh Tư, nàng được biết đội cầu mưa Thủy Hử của Sơn Âm đến miếu Hải Long Vương, liền mời tỷ tỷ Vương Tĩnh Thục đến xem. Những ngày này tỷ tỷ của nàng vẫn buồn bã thương cảm, Vương Anh Tư rất lo lắng, muốn đưa tỷ tỷ đến miếu Hải Long Vương cách nhà chưa tới hai dặm du ngoạn một chút để xem nhân vật Thủy Hử giải sầu, bởi vậy xin được mẫu thân đồng ý, liền kiên quyết đẩy tỷ tỷ ra ngoài. Bản thân nàng thì cải trang thành thư sinh, không ngờ gặp Trương Nguyên ở trước chùa Hạnh Hoa, liền hỏi Trương Nguyên đi đâu?
Trương Nguyên nói rõ ý đồ đến, Vương Anh Tư nói:
Phụ thân lúc này không có nhà, Giới tử sư huynh muốn gặp cha muội có chuyện gì?
Trương Nguyên nói:
Hai người bạn ở Thanh Phổ muốn nhờ ta giúp bình luận văn bát cổ, còn muốn nhờ thầy viết tựa, mượn danh tiếng của thầy, để sách bán chạy một chút.
Vương Anh Tư mở to hai mắt cười nói:
Được thôi, ngày mai mời bọn họ đến đi, Giới tử huynh bình luận thì chắc chắn cha muội sẽ đồng ý làm tựa.
Trương Nguyên thở dài nói:
Vậy thì phải nhờ sư muội nói tốt hộ vài câu trước mặt thầy.
Hắn liếc nhìn vào kiệu, hỏi:
Sư muội muốn đi đâu vậy?
Vương Anh Tư nói:
Đưa tỷ tỷ của muội đi miếu Hải Long Vương giải sầu, bảng Thủy Hử cầu mưa của Tây Trương các huynh đã tới rồi đúng không?
Trương Nguyên nói:
Đội Thủy Hử cầu mưa đã đến Tiền Túc Vương Từ rồi, ở đó bây giờ đông đúc lắm, người người tấp nập, sư muội và sư tỷ đến đó chỉ sợ sẽ bị chen lấn, theo ta thì ta đến đầu cầu Việt Vương đợi, nhân vật Thủy Hử chỉ một lúc sau là sẽ quay về Sơn Âm.
Vương Anh Tư nói:
Tốt lắm, vậy thì làm theo lời sư huynh đi.
Nói rồi nàng vịn vào kiệu đi về hướng cầu Việt Vương, Trương Nguyên và Vũ Lăng đi theo một bên.
Vương Anh Tư chợt hỏi:
Giới Tử sư huynh vừa mới gọi tỷ tỷ của muội là gì nhỉ?
Trương Nguyên nói:
Sư tỷ, làm sao?
Vương Anh Tư mỉm cười nói:
Không sao cả, nhất thời nghe không rõ thôi.
Kiệu dừng lại ở dưới bóng râm ở đầu cầu Việt Vương, hai người khiêng kiệu lui ra một bên, Vương Anh Tư kéo rèm kiệu nói:
Tỷ tỷ ra đây mà xem, sông ở đây đều khô cạn thấy đáy rồi.
Vương Tĩnh Thục áo quần mộc mạc bước xuống kiệu, vén áo thi lễ với Trương Nguyên, gọi một tiếng:
Trương công tử!
Trương Nguyên vội vàng thi lễ:
Chào Vương sư tỷ.
Vương Tĩnh Thục cảm thấy Trương Nguyên xưng hô với nàng như vậy có chút kỳ quái, nhưng nàng cũng không nói gì, cùng muội muội Anh Tư sóng vai đứng ở đầu cầu ngắm phong cảnh, thì thầm nói chuyện với nhau.
Trương Nguyên chưa đi, cũng đợi ở đó, hắn muốn đợi Dương Thạch Hương và Kim Bá Tông cùng về, hơn nữa hai chị em nhà Vương gia còn ở đây, lúc này hắn cũng có nghĩa vụ để tâm đến họ một chút.
Ước chừng hai khắc trôi qua, chợt nghe thấy tiếng tiêu tiếng trống đang tới gần, Vũ Lăng reo lên:
Hảo hán Lương Sơn tới rồi.
Lúc này là Quan Âm đại sĩ, Lôi bộ chư thần và Long cung thủy tộc đi đằng trước, vẫn là hai tấm biển ‘Mưa thuận gió hòa’ và ‘Đạo tức dân an’ dẫn đầu. Các chư thần Bồ Tát này xiêm y rực rỡ, nghi trượng tuyệt đẹp, nom giống như người nhà trời vậy.
Tấm biển ‘Mưa kịp thời’ đã tới, nhân vật Thủy Hử dần dần tới nơi. Vương Tĩnh Thục và Vương Anh Tư cũng là được mở rộng tầm mắt. Vương Anh Tư hỏi Trương Nguyên vị này là ai, vị kia là ai, Trương Nguyên trả lời từng câu một, Vương Anh Tư nhìn thấy Mục Chân Chân đóng vai Hộ Tam Nương, cười nói:
Sư huynh, kia chẳng phải là tỳ nữ của huynh Mục Chân Chân ư?
Trương Nguyên cười nói:
Đúng vậy, vị đại hán tóc đỏ bên cạnh là cha của Chân Chân, sư muội chưa nhìn ra à, ha ha.
Vương Tĩnh Thục nhìn các nhân vật Thủy Hử tướng mạo khác nhau, nói với muội muội Vương Anh Tư:
Chọn ra được những người này quả thực không dễ nhỉ, quả thực rất giống như trong tranh được vẽ trong Trung nghĩa Thủy hử truyện vậy.
Vương Anh Tư nhìn thấy chữ “Dương hòa nghĩa thương ký” viết trên tấm vải lụa vàng được treo trên cao, liền lớn tiếng hỏi Trương Nguyên:
Sư huynh, là huynh viết phải không?
Trương Nguyên đáp:
Chữ không phải do ta viết.
Vương Anh Tư cười nói:
Muội biết chữ không phải do huynh viết.
Dòng người như nước, tay giơ thành rừng, chị em Vương Tĩnh Thục tuy có vài người hầu cản ở phía trước nhưng vẫn bị chen lấn liên tục lùi về phía sau, lùi ra phía sau cây nhãn mới đứng vững. Trương Nguyên cũng giúp đỡ chăm sóc, không để cho một số kẻ nhàn rỗi tới gần. Người ở Hội Kê, Sơn Âm không ai không biết Trương Nguyên, ai dám vuốt râu hùm Trương Nguyên, nhìn thấy hắn, họ còn lo trốn không kịp.
Vương Tĩnh Thục nói thầm vào tai em gái:
Tỷ đã nói không đi, muội cứ nhất quyết đẩy tỷ ra khỏi nhà, may còn gặp được Trương công tử, nếu không bị chen lạc rồi.
Vương Anh Tư líu lưỡi nói:
Muội cũng không ngờ hội lại đông người như thế này, còn đông hơn cả hơn hội miếu.
Vương Tĩnh Thục nhìn bóng lưng Trương Nguyên nói:
Trương công tử này phẩm chất rất tốt.
Vương Anh Tư nói:
Cái này còn cần phải nói sao, là học sinh mà phụ thân yêu quý nhất đấy.
Vương Tĩnh Thục quan sát từ lâu rồi, muội muội Anh Tư nói chuyện với nàng nhưng mắt lại cứ nhìn sang phía Trương Nguyên, không thể nói là liếc mắt đưa tình nhưng trong ánh mắt có lộ sự vui mừng, sự vui mừng tự đáy lòng như vậy ngày thường rất hiếm thấy. Vương Tĩnh Thục không khỏi nghĩ:
Nếu muội muội có thể gả cho Trương công tử thì tốt biết mấy, sao lại vô duyên như vậy, Trương Nguyên đã đính hôn với Thương thị nữ lang mất rồi.
Vì nhớ tới cuộc hôn nhân bất hạnh của mình, tự nhiên tinh thần lại bắt đầu buồn bã chán nản. Đám đông đã đi qua, Trương Nguyên không nhìn thấy bọn Dương Thạch Hương và Kim Bá Tông đâu, liền hộ tống chị em Vương thị về phủ, trên đường Vương Tư Anh hỏi:
Sư huynh muốn chọn bát cổ văn, muội có thể giúp được gì không?
Trương Nguyên vừa nghe thì mừng rỡ, muốn chọn văn thì phải xem hết năm trăm cuốn chế nghệ mà Dương Thạch Hương mang tới, từ đó chọn ra 120 cuốn để bình luận. Việc này cũng mất khá nhiều thời gian và công sức, hắn nói:
Sư muội chịu giúp ta thật là quá tốt, ngày mai ta sẽ mang ba trăm cuốn chế nghệ tới, sư muội xem qua một lần rồi chọn ra 100 cuốn tốt hơn rồi đưa cho ta là được.
Vương Anh Tư nói:
Vậy quá đơn giản, dù sao muội cũng nhàn rỗi không có việc gì.
Đưa hai chị em Vương Tĩnh Thục, Vương Anh Tư về tới phủ, Vương Tư Nhâm vẫn chưa về, Trương Nguyên cũng không vào, cùng Vũ Lăng quay về Sơn Âm. Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông quả nhiên đã về trước rồi.
Dùng xong cơm trưa, Trương Nguyên xem 500 cuốn chế nghệ mà Dương Thạch Hương mang tới ở sảnh trước, chưa xem được vài quyển thì Lỗ Vân Bằng và Liễu tú tài tới, báo cáo với Trương Nguyên về số tiền và lương thực mà kho lương Dương Hòa quyên góp được, tính ra là 853 lượng bạc 6 tiền, khoảng 2370 thạch gạo, lần trước được Trương Nhữ Lâm đồng ý, vì kho lương chưa được xây dựng nên số tiền và lương thực thu được đều giao cho Tây Trương bảo quản.
Liễu tú tài thọt chân là một ông lão trung hậu, Lỗ Vân Bằng cũng là người chính trực, Trương Nguyên để cho hai người bọn họ làm xã phó là tương đối yên tâm, chỉ yêu cầu hai người công bố định kỳ số tiền và lương thực thu được. Sau này số tiền và lương thực dùng vào việc gì cũng phải ghi chép công bố rõ ràng, kho lương cũng không thể hoàn toàn dựa vào quyên góp, không thể ngồi không miệng ăn núi lở. Năm nay đã vậy, sang năm còn phải thành lập kho gạo, dùng nó để điều tiết lương thực.
Hai người Lỗ Vân Bằng, Liễu tú tài vừa đi, Tiền huyện lệnh lại cử người tới tìm Trương Nguyên đi có việc thảo luận. Sau khi Trương Nguyên đi, Dương Thạch Hương và Kim Bá Tông ngơ ngác nhìn nhau. Trương Nguyên công việc quá bận rộn, việc chọn bát cổ văn rồi bình luận biết ngày nào mới làm xong? Dương Thạch Hương đường xa tới đây, chính là muốn đợi Trương Nguyên bình luận xong rồi mang về Thanh Phổ khắc dấu, không thể đợi ở đây lâu được, Dương Thạch Hương không khỏi có chút phiền não.
Đến khi chạng vạng tối Trương Nguyên mới từ huyện nha trở về. Hầu huyện lệnh truyền hắn đi là để cùng với các thân hào bổn huyện bàn bạc về chuyện điền chủ cứu tế tá điền. Giờ đã là đầu tháng 7, đã thấy được vụ lúa chiêm mất mùa là chắc chắn, ước tính huyện Sơn Âm có khoảng 1/4 ruộng lúa không hề có chút thu hoạch nào, cứ như vậy các tá điền chẳng những không đủ sức gánh vác thuê lương, buộc phải hiểu dụ các phú ông điền chủ, phải giảm bớt điền nông thuê ruộng, cuộc sống khó khăn phải tự lo tiếp tế, nên hoặc là chết đói hoặc là chạy nạn.
Đồng thời Sơn Âm phủ còn cấp báo tình hình tai nạn với phủ Thiệu Hưng và tỉnh Chiết Giang, thỉnh cầu triều đình giúp nạn thiên tai, xem xét miễn thuế cho Sơn Âm. Sáng ngày hôm sau, Dương Thiệu Hương và Kim Bá Tông mang theo lễ vật theo Trương Nguyên đến Hội Kê bái kiến Vương Tư Nhâm, Vương Tư Nhâm đồng ý viết lời tựa cho các tập văn được chọn, nhưng yêu cầu Trương Nguyên sau khi chọn lựa bình luận xong lão xem qua rồi mới viết tựa.
Chương 182: Mối tình trong đêm Thất Tịch
Vương Anh Tư phái một tiểu tỳ đi ra lấy 300 cuốn văn bát cổ mà Trương Nguyên mang tới, khi Vương Anh Tư đọc bát cổ văn, Vương Tư Nhâm cũng nhìn thấy, cười cười, không nói gì. Vương Tĩnh Thục cũng giúp xem sách, Vương Tĩnh Thục giỏi về thơ từ ca phú, về mặt kinh sử học hành tuy không bằng em gái Vương Anh Tư nhưng là trưởng nữ của bậc thầy bát cổ văn Vương Tư Nhâm thì nhãn lực của Vương Tĩnh Thục vẫn có.
Ba trăm cuốn chế nghệ có khoảng 10 vạn (một trăm ngàn) chữ, hai chị em Vương Tĩnh Thục và Vương Tư Anh mất một ngày để đọc, chọn ra 100 cuốn, hai ngày sau đó Vương Anh Tư viết bình luận sơ lược cho 100 cuốn đó, đến chập tối ngày mùng 5 tháng 7 cử người mang các bản thảo văn chế nghệ giao cho Trương Nguyên.
Mấy ngày rồi Trương Nguyên cũng ở thư phòng tây lầu chuyên tâm chọn văn, chỗ hắn có hai trăm cuốn, từ đó chọn ra 60 cuốn, trong 60 cuốn này đã bình luận xong 50 cuốn, nhận được bản thảo chế nghệ Vương Tư Anh gửi tới, hắn lập tức xem kỹ mấy bài bình luận, rồi đối chiếu với bản gốc. Hắn mừng rỡ, khả năng bình luận bát cổ văn của sư muội Vương Anh Tư không thua kém hắn, thế này thì có thể bớt việc rồi, liền bình luận nốt 10 quyển chế nghệ còn lại ngay trong đêm.
Cả ngày mùng 6 hắn thêm một chút bình luận vào 100 cuốn mà Vương Anh Tư đã làm, sao chép rõ ràng, ngay chiều tối hôm đó đem 120 quyển chế nghệ được chọn ra đã có lời bình giao lại cho Dương Thạch Hương. Dương Thạch Hương xem kỹ bình luận của hơn 10 cuốn, vui mừng quá đỗi, luôn miệng khen Trương Nguyên tài năng tuyệt vời, 500 cuốn chế nghệ chỉ dùng thời gian 5 ngày đã chọn xong, hơn nữa lại còn bình luận tinh diệu, về phá đề, thừa đề v.v… đều có kiến giải độc đáo, có thể nói là bí quyết viết bát cổ văn, thật sự là có ích rất lớn cho việc học tập chế nghệ.
Dương Thạch Hương kết luận, tập văn bát cổ này nhất định sẽ bán chạy.
Trong đêm Thất Tịch (mồng bảy tháng bảy hàng năm, ngày Ngưu Lang, Chức Nữ gặp nhau), ánh trăng mọc lên như lưỡi liềm, Trương Nguyên ngồi một mình bên dòng suối ở núi Bạch Mã, nghe tiếng cười nói mơ hồ của nữ tử phía cúc viên truyền tới. Đó là Thương Đạm Nhiên và các tỳ nữ mang hoa quả và trái cây tới bày biện để bái nguyệt. Đây là lễ cầu nguyện của những cô gái, lễ hội thể hiện tài năng, khi các cô cầu nguyện nam nhân không được ở đấy, nên Trương Nguyên mới qua bờ suối tránh mặt, ngồi ôm gối nhìn lên bầu trời một cách lơ đãng.
Sáng hôm nay Trương Nguyên đến nhà lão sư Vương Tư Nhâm đưa năm mươi lượng bạc tiền nhuận bút. Đêm đó Dương Thạch Hương đến huyện Sơn Âm đưa cho Trương Nguyên một trăm năm mươi tiền thù lao của tuyển tập, thấy Trương Nguyên đã hoàn thành “ dự thảo “ và “ Bình điểm “ nên rất vui, tiếp tục lấy ra hai mươi lượng bạc đưa cho Trương Nguyên ngày mai nhờ hắn đưa tiền nhuận bút cho lão sư Vương Quý Trọng làm tựa đề. Trương Nguyên nhận và lấy ra thêm ba mươi lượng nữa thành năm mươi lượng, sáng nay mang bạc đến cho Vương lão sư, Vương Tư Nhâm cười nói:
Dương tú tài huyện Thanh Phổ không sợ lỗ vốn sao? Sao lại xa xỉ như thế!
Lại nói:
Chỗ bạc này cậu cầm về đi, xem như quyên góp vào kho lương Dương Hòa Nghĩa.
Trương Nguyên nói:
Kho Dương Hòa Nghĩa tạm thời chưa nhận quyên tặng của người Huyện khác, mà tới khi phải cứu trợ cũng chỉ giới hạn cho dân chúng ở huyện Sơn Âm, nếu lão sư quyên tặng cũng chỉ quyên tặng cho huyện Hội Kê.
Vương Tư Nhâm nói:
Nói cũng phải.
Lệnh cho quản sự nhận bạc về, rồi bảo Trương Nguyên để lại bản thảo tuyển tập, hai ngày sau đến lấy lời tựa.
Hắn ở lại quý phủ của Vương lão sư dùng cơm, sau đó dẫn Vũ Lăng đi tiếp kiến Thương Chu Đức. Thương Chu Đức mới đi tuần tra ở các cùng nông thôn trở về, than thở năm nay hạn hán nghiêm trọng, việc chống hạn cứu tế là đại sự cấp bách nhất hiện giờ của dân chúng hai huyện Hội Kê và Sơn Âm
Một chiếc đèn lồng nhỏ màu đỏ rất tinh xảo từ từ đi đến, Thương Đạm Nhiên gọi khe khẽ:
Trương Công Tử, Trương Công Tử.
Trương Nguyên đáp:
Huynh ở bên này.
Hắn đứng đậy nghênh đón, thấy Thương Đạm Nhiên tay cầm đèn lồng đi tới, các vú già, tỳ nữ không đi theo, hắn cảm thấy rất vui mừng cầm lấy tay Thương Đạm Nhiên cười hỏi:
May áo ai đạt giải nhất?
Đêm Thất Tịch các thiếu nữ lấy chỉ năm màu xâu vào chín cây kim, ai làm khéo léo tinh xảo sẽ chiến thắng.
Thương Đạm Nhiên mỉm cười nói:
Mọi người đều nhường muội đấy.
Ánh mắt có chút trốn tránh, nghĩ đến câu hôm đó Trương Nguyên đã nói qua, cô tìm lời hỏi:
Trương lang, bạn của huynh ở Thanh Phổ đã về chưa?
Trương Nguyên nói:
Mấy ngày nữa sẽ trở về.
Treo ngọn đèn nhỏ lên cành cây bên cạnh suối, kéo Thương Đạm Nhiên ngồi xuống tảng đá cạnh ao, hai tay nắm chặt bàn tay mềm mại nhỏ bé của nàng, hắn nói:
Không biết lúc này Ngưu Lang Chức Nữ trên trời có nắm tay nhìn nhau như ta với nàng không nhỉ?
Thương Đạm Nhiên không nói gì, bàn tay nàng trong tay Trương Nguyên đã nóng ran, tim đập thình thịch, cô hỏi:
Trương lang học nhiều biết rộng, biết chuyện gặp nhau ở Cưu Kiều là thật chứ?
Trương Nguyên lại cười nói:
Lý hoặc sở vô, tình hữu kỳ nhân. (Về lý thì không nhưng xét về tình thì là thật)
Hai người nhìn nhau thật lâu không nói lời nào chỉ nắm tay nhau, dưới ánh sao cảm nhận được sự chân thật của tình ý. Hai người xích lại gần nhau hơn, khi đôi môi vừa chạm nhẹ cơ thể Thương Đạm Nhiên cứng đờ, run nhè nhẹ, gọi tên hắn nho nhỏ:
Trương lang.
Trương Nguyên đưa tay lên ôm Thương Đạm Nhiên. Hắn cảm giác được quần áo mỏng manh, vòng eo mảnh mai của cô. Mặc dù khoảng cách hai lớp áo nhưng hắn có thể cảm giác được da thịt ấm áp mềm mại của cô. Hai tay hạ từ hông xuống, cảm nhận được đường cong từ vòng eo, tay hắn chạm nhẹ vào mông, hơi thở của hắn nhanh dần. Hắn cảm nhận được cơ thể mềm mại của cô bắt đầu run rẩy, cô đưa hai tay lên trước ngực tỏ vẻ chống cự, Trương Nguyên không dám tiến thêm. Hai người chỉ ôm nhau như vậy, không nói được lời nào.
Lúc này là đầu mùa thu lại ở trên núi, nên thời tiết có chút se lạnh, trời bắt đầu mưa bay bay. Cũng không biết thời gian trôi qua bao lâu, nghe được tiếng tỳ nữ gọi hai người mới vội tách ra, Thương Đạm Nhiên đáp:
Đã tới rồi sao.
Trương Nguyên lấy đèn lồng xuống, dưới ánh đèn hiện ra một cô gái đôi mắt sáng ngời rất duyên dáng, hai má đỏ bừng, sự kiều mỹ không có gì sánh được. Thương Đạm Nhiên nói:
Trương lang chúng ta xuống núi đi.
Trương Nguyên mỉm cười nói:
Thực lòng huynh chỉ muốn ngồi ở đây một đêm.
Một tay cầm đèn lồng, một tay đan với ngón tay của Thương Đạm Nhiên cùng nhau trở lại phía trúc đình.
Bảy, tám tỳ nữ, vú già đã thu dọn xong các đồ vật, Trương Nguyên, Thương Đạm Nhiên cùng nhau xuống núi, Vũ Lăng đã chờ dưới chân núi.
Trương Nguyên ngồi trên xe ngựa trở lại Đông Trương Trạch đệ đã vào canh ba. Khi hắn xuống xe trước hàng rào trúc trước cửa, đã thấy quản môn Mục Chân Chân đứng trước cửa, vẻ mặt vui mừng nói:
Thiếu gia, người xem kìa.
Vừa nói vừa chỉ lên trời.
Trương Nguyên ngẩng đầu lên, thấy bầu trời vốn đầy sao nhưng giờ mây đen đã kéo đến, đám mây đen ùn ùn lại che khuất ánh trăng hình bán nguyệt, Mục Chân Chân liền hỏi:
Thiếu gia, liệu trời có mưa không?
Trương Nguyên thầm nghĩ : “ Một chút mây như vậy sao mưa được? “ liền nói:
Mau ngủ đi, có lẽ mai thức dậy sông sẽ đầy nước.
Lại hỏi:
Thầy cúng cầu mưa trong mấy ngày?
Mục Chân Chân nói:
Tổng cộng bảy ngày, ngày mai là ngày cuối cùng.
Trương Nguyên nói:
Đang trông một cơn mưa đúng lúc à.
Đêm nay Mục Chân Chân mang kỳ vọng vào trong giấc ngủ, gối đầu lắng nghe âm thanh trên sân nhà hy vọng sẽ có tiếng mưa “ Sàn sạt “ , nhưng không nghe tiếng “ Sàn sạt “ đâu cả chỉ nghe thấy tiếng ngáy “ Khò khò “ ở đầu giường bên kia của Thỏ Đình, cô Thỏ Đình này thật là, cô ta dư hơi sao ngáy dữ vậy?
Sáng sớm khi thức dậy Mục Chân Chân rời giường, bước ngay ra vườn không thấy dấu hiệu trời mưa, cô ngửa đầu lên nhìn lên không trung thấy bầu trời xanh thăm thẳm, mây tối qua cũng không trông thấy đâu. Mục Chân Chân rất thất vọng nghĩ thầm “ Hôm nay là ngày cầu mưa cuối cùng rồi, Long Vương còn không chịu mưa sao? “
Trương Nguyên ở trên lầu phía tây nhìn thấy thiếu nữ ngơ ngơ ngẩn ngẩn dưới sân nhà, thầm nghĩ: “ Dân chúng cầu mưa với dáng vẻ thật cung kính, đại hạn ở kinh sư năm Vạn Lịch thứ mười ba, Hoàng đế còn tự đi trong mười dặm đến đàn cầu mưa, đây là niềm tin và quyết tâm con người sẽ thắng được thiên nhiên. Khô hạn ở Thiệu Hưng nhất định sẽ qua thôi, nhưng chỉ mong ngày đó sẽ đến sớm.”
Sau giờ ngọ ngày mùng chín, Trương Nguyên đi huyện Hội Kê đến phủ đệ của Vương Lão sư. Lão môn tử nói lão gia, thái thái, Đại tiểu thư đều đã đi Tị viên cả rồi, nên dặn khi Trương Nguyên đến thì tự đi vào thư phòng ở tiền viện lấy bản thảo.
Trương Nguyên liền đến thư phòng, quả nhiên thấy một thanh ngọc chặn giấy đè trên một chồng bản thảo, tờ giấy phía trên nhất chính là lời tựa mà Vương Tư Nhâm đã viết cho cuốn tuyển tập văn bát cổ này. Trương Nguyên nhìn lời tựa vừa xem vừa cười, lời tựa mấy trăm chữ này Vương Tư Nhâm viết rất khôi hài “ Văn chương diệu vu thiên, thiên chi văn an tại? Viết: kỳ linh tại không, kỳ kiện tại chuyển, kỳ cốt tại thanh, kỳ tinh tại nhật, kỳ vận tại tuyết dữ nguyệt, kỳ thải tại hà, kỳ khiếu hào cuồng quái tại phong lôi, nhi kỳ biến huyễn quỷ lệ, hốt hoảng hợp ly bất khả tưởng trắc xử tắc tại vân.. “ (BTV tạm dịch: Văn chương diệu ở trời, vậy văn của trời ở đâu? Nói: sự khéo léo ở bầu trời, sự vượt trội ở xoay tròn, chí khí ở màu xanh, sự tinh tế ở thái dương, vận ở tuyết và trăng, sắc thái ở ráng mây, sức kêu gọi ở gió và sấm, sự biến ảo, gian trá tàn ác, hốt hoảng hợp ly không thể tưởng được lại nằm ở mây…)
Chương 183: Phục cổ hay cách tân
Giới Tử sư huynh.
Vương Tư Anh chải tóc ba búi, mặc chiếc tỉ giáp màu xanh lá cây thêu viền vàng kim, cô nhẹ nhàng kéo váy, tràn đầy nhựa sống đứng ở cửa thư phòng.
A, Anh Tư sư muội, muội không đi Tị viên sao?
Trương Nguyên hỏi.
Vương Anh Tư đi đến cười nói:
Muội không đi mà ở lại chờ huynh đến lấy bản thảo, muội muốn nói chuyện với huynh.
Cô ngồi xuống ghế dựa ở thư phòng hỏi:
Sư huynh lần này viết được bao nhiêu tiền?
Trương Nguyên cũng ngồi xuống cười nói:
Một trăm hai mươi lượng, ý muội sao, muốn chia phần hả?
Vương Anh tư cười nói:
Nghe nói hôm trước huynh có đưa cho cha muội năm mươi lượng bạc, nhuận bút của muội và tỷ tỷ cũng đều trong đó à!
Trương Nguyên nói:
Huynh cũng muốn mua cho sư tỷ và sư muội ít quà mà không biết mua gì cho hợp, sợ không đúng ý.
Vương Anh Tư nhìn Trương Nguyên cười nói:
Muội không khách khí đâu, muội nghe nói huynh và các huynh đệ của huynh có đến Hàng Châu cho mời thợ kính đến chế tác kính thiên lý, đã làm được chưa tặng muội một cái đi.
Trương nguyên nói:
Kính thiên lý chưa hoàn thành, nhưng kính đốt nhang bằng đá thủy tinh đã có rồi, có thể soi mặt trời để lấy lửa. Ngày mai ta sẽ cho người đưa một chiếc kính đốt nhang đến cho muội, sau này kính thiên văn làm xong cũng sẽ cho muội một bộ.
Vương Anh Tư vui mừng nói:
Tốt lắm, huynh hứa rồi đấy nhé.
Rồi cô lại hỏi:
Sư huynh thấy sách Xuân Thu như thế nào?
Trương Nguyên nói:
Mấy ngày nay huynh không rảnh đọc sách, còn rất nhiều sách chưa đọc.
Vương Anh Tư nói:
Muội gần đây đã đọc hơn bốn mươi cuốn sách có liên quan đến kinh nghĩa “Xuân thư” như: “ Xuân thư chúc từ “ , “ Xuân thu thuyết “ , “ Độc tả phụ nghĩa “ , “ Tả truyện bình “ những cuốn sách này đều là chuyện cũ hoắc à, huynh không đọc cũng không sao cả, chỉ có những cuốn của Lã Tổ Khiêm “ Tả thị bác nghĩa “ , của Hoàng Tổ Phục “ Xuân thu nghi vấn đối “ và của Vương Lê “ Xuân thu từ mệnh “ sẽ giúp rất nhiều cho các kỳ thi, còn lại là những cuốn khác chỉ lặp đi lặp lại thôi đọc nhiều cũng quy về một chuyện.
Trương Nguyên vui vẻ nói:
Nhờ sư muội chỉ giáo nhiều.
Vương Anh Tư cười lớn trợn mắt nói:
Không dám chỉ giáo sư huynh, chỉ đề nghị thôi.
Hai sư huynh muội ở thư phòng thoải mái tranh luận về “ Xuân thu “ , nói về đọc sách “Xuân thu” Vương Anh Tư đọc nhiều hơn Trương Nguyên, ngay cả bảy mươi cuốn “ Xuân thu tam truyện bình chú trắc nghĩa “ đều đọc qua. Tư tưởng của Trương Nguyên và Anh Tư rất tân tiến, hai người tranh luận khí thế, cảm thấy rất vui vẻ hưng phấn đúng là một cảm giác kỳ lạ.
Khi trời nhá nhem tối thì Vương Tư Nhâm về, Trương Nguyên lúc này mới vội vàng cáo từ. Vương Tư Nhâm thấy con gái Anh Tư cười hai mắt trừng tohết sức hữu thần, nói chuyện đến mức miệng khô trắng ra, hỏi ra mới biết con gái và Trương Nguyên nói chuyện một buổi chiều về vấn đề học vấn, Vương Tư Nhâm thầm nghĩ:
Trương Nguyên và Anh Tư có duyên phận hay không sau này mới biết được, trên thế gian có gì nói trước được đâu?
Vương Tư Nhâm chịu ảnh hưởng tư tưởng của Lý Trác Ngô khá sâu, cho rằng mặc đồ hay ăn cơm đều là lý lẽ nhân luân. Duy trì thái độ phê phán đối với lễ giáo của Khổng Mạnh, như lệ thường có giọng điệu xúc động phẫn nộ, phóng khoáng, đối với sự qua lại giữa Trương Nguyên và con gái cũng không cho rằng có gì đáng ngạc nhiên. Đương nhiên, điều quan trọng là Vương Tư Nhâm cũng cực kỳ thích tên học trò Trương Nguyên này, trong thâm tâm tồn tại một tâm lý bí ẩn mà ngay cả bản thân ông cũng không ý thức được đó là đối xử với Trương Nguyên như con rể – cho nên nói Trương Nguyên gặp được một minh sư như Vương Tư Nhâm là phúc khí của hắn.
Nếu là người khác đã sớm lôi hắn ra đánh một trận rồi, đã đính hôn mà còn đùa giỡn với con gái người ta, cái này còn ra thể thống gì!
Mùng mười tháng bảy, Dương Thạch Hương cùng Kim Bá Tông vẫn chưa rời khỏi Sơn Âm. Ở Tô Châu theo đường sông nước Phạm Văn Nhược và Kim Lang Chi cũng đã tới Sơn Âm bái kiến Trương Nguyên. Khi đến thị trấn Sơn Âm hỏi về Trương Nguyên Trương Giới Tử không ai không biết cả, có người nhiệt tình dẫn hai người đến nhà Trương Nguyên. Đại Thạch Đầu nhận danh thiếp đi vào thông báo, trong phút chốc ba người Trương Nguyên và Dương Thạch Hương và Kim Bá Tông vui vẻ ra đón.
Phạm Văn Nhược nhìn thấy bên cạnh Trương Nguyên còn có hai người Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông liền cười to nói:
Dương huynh quả nhiên nhanh chân đến trước, Phạm mỗ chậm chân rồi.
Nói rồi y hướng về phía ba người Trương Nguyên chắp tay thi lễ.
Trương Nguyên nghênh đón Phạm Văn Nhược, Kim Lang Chi vào ngồi ở chính sảnh, Vũ Lăng bưng trà đến mời khách. Phạm Văn Nhược nhìn đánh giá môn đình nhà Trương Nguyên, xem ra bố cục thế này thì trong vòng ba đời chưa xuất hiện tú tài. Phạm Văn Nhược đã tìm hiểu được rằng Trương Thị ở Sơn Âm chia ra thành Đông Trương và Tây Trương. Tây Trương là khu dành cho gia đình quan lại, Trạng Nguyên đệ cũng là chỉ Tây Trương. Nhưng Trương Nguyên xuất thân từ Đông Trương có tổ tiên là những người bình thường thì thế nào? Trương Nguyên giờ đã là án thủ thi phủ, coi như đã có công danh sinh đồ. Nếu tiếp tục đỗ đạt thì chỉ cần thời gian một – hai năm cổng sân sẽ khác biệt, người hầu nhiều vô số. Lúc thi cử gặp nhau nhiều thành quen nhau, gặp nhau thường chuyện trò hàn huyên, Dương Thạch Hương cười nói:
Phạm huynh từ Tô Châu tới, tại hạ cùng Bá Tông huynh hôm nay vốn định rời khỏi Sơn Âm trở lại Thanh Phổ, nhưng Phạm huynh và Lang Chi huynh đã tới, ta khó có cơ hội gặp lại nên tại hạ để lui vài ngày nữa mới trở về.
Phạm Văn Nhược kinh ngạc nói:
Dương huynh đến đây bao lâu rồi, Trương công tử đã chọn xong tập văn bát cổ cho Thanh Phổ xã của huynh rồi ư?
Dương Thạch Hương cười nói:
Hai người tại hạ đến đây ngày hai mươi chín tháng trước, Giới Tử huynh chỉ dùng sáu ngày đọc xong năm trăm quyển sách, trong đó bình luận một trăm sáu mươi cuốn nên mới nhanh nhẹn thần tốc như thế.
Phạm Văn Nhược lại nói:
Có thể mang tới cho tại hạ xem một chút được không?
Dương Thạch Hương liền sai người hầu mang tuyển tập bản thảo đến. Phạm Văn Nhược xem lời bình của 5-6 cuốn rồi trả lại cho Dương Thạch Hương, khen:
¬- Tuyển tập này của Trương Công tử sẽ khiến giấy ở Thanh Phổ rất đắt đấy.
Y chắp tay thi lễ với Trương Nguyên, nói:
Tại hạ lần này từ Trường Châu đến là vì lần trước có ước hẹn ở Thanh Phổ, đến xin Trương công tử một trăm hai mươi cuốn chế nghệ để phát hành.
Nói rồi y ra lệnh cho người hầu mang hai trăm lượng bạc trình lên.
Dương Thạch Hương cũng biết chế nghệ của Trương Nguyên bây giờ chắc chắn được đông đảo học trò ở Giang Nam chờ mong. Phát hành văn bát cổ của Trương Nguyên sẽ thu được lời lớn. Nhưng Phạm Văn Nhược đã có hẹn trước với Trương Nguyên nên gã cũng không tiện xin Trương Nguyên giao chế nghệ để gã xuất bản. Chuyến đi tới Sơn Âm lần này được Trương Nguyên giúp tuyển chọn ra những cuốn chế nghệ này cũng đã mãn nguyện rồi, làm người không nên quá tham lam. Hôm đó lúc gần tối, Trương Nguyên mở tiệc rượu ở tửu lâu trên phố Thập Tự phủ Học Cung chiêu đãi bốn người Phạm Văn Nhược, Kim Lang Chi, Dương Thạch Hương, Kim Bá Tông, hắn còn mời Đại huynh Trương Đại và Tam huynh Trương Ngạc cùng tham gia tiếp khách. Trương Ngạc nghe nói không đến Bách Hoa Lầu để uống hoa tửu nên khéo léo từ chối, nói rằng không thích nghe mọi người nói về văn bát cổ.
Trương Ngạc không đến dự tiệc là sáng suốt đấy! Quả nhiên trong tiệc rượu chuyện được mọi người nói nhiều nhất chính là văn bát cổ, Trương Đại nói:
Các vị bạn hữu của phòng xã núi Phất Thủy và văn xã Thanh Phổ không quản đường xá xa xôi đến Sơn Âm, tại hạ cùng Giới Tử đệ phải tận tình tiếp đãi. Ngày mai, tại hạ có mời vài bạn hữu trong huyện đến cùng các huynh luận văn, chính tại Giới Viên đó.
Sáng sớm hôm sau, Trương Đại liền phái người hầu đi mời Chu Mặc Nông, Diêu Giản Thúc, huynh đệ Kỳ Dịch Viễn và Kỳ Bưu Giai, ngoài ra còn có một vài học trò ở Sơn Âm tới gặp gỡ, thưởng trà luận văn, cuối cùng không thể thiếu vở kịch “ Mẫu đơn đình hoàn hồn ký “ của nhóm hát Khả Xan. Như vậy ngày hội văn này sẽ được diễn ra liên tiếp hai ngày, ngoại trừ luận bàn văn bát cổ còn có thể thoải mái bàn luận chính sự, phê phán đả kích những hủ bại của thời cuộc. Trương Nguyên đã có tham vọng thành lập đảng xã ảnh hưởng đến triều chính thì nhất định phải có chủ trương văn học và chủ trương chính trị riêng của mình. Chủ trương chính trị hiện giờ không vội biểu hiện còn chủ trương văn học thì phải xác lập. Có chủ trương văn học rõ ràng mới có thể tập hợp được những người cùng sở thích, mới có thể gây ảnh hưởng với người khác được.
Từ thời Gia Tĩnh tới nay, Lý Mộng Dương đi đầu với chủ trương tiền thất tử “ Văn tất Tần Hán, thơ tất Thịnh Đường “ ; Lý Phàn Long, Vương Thế Trinh đi đầu trong chủ trương hậu thất tử, giống như chủ trương phục cổ. Mấy ngày nay Trương Nguyên suy nghĩ rất nhiều, là cấp tiến phục cổ, lấy “ Văn tất lục kinh, thi tất lục triều “ làm chủ trương văn học, hay là cách tân tiền hậu thất tử, đưa ra chủ trương văn học độc đáo của mình?
Ngày thứ hai của Hội văn Nghiên Viên, Trương Nguyên cùng các bạn văn nghị luận về văn chương phục cổ tiền hậu thất tử, các học trò tham dự hội văn, trừ những học trò cá biệt chỉ đọc tứ thư ngũ kinh còn lại các sách khác đều không đọc ra thì đều là những người có học vấn cao cả. Trương Nguyên hùng biện vô cùng lôi cuốn, có sức thuyết phục, chỉ trích phái phục cổ uốn nắn sửa chữa quá nhiều, đánh mất bản gốc.
Chương 184: Cửu tự quyết (1)
Hắn cho rằng phái phục cổ không có tính sáng tạo, văn viết ra dở ông dở thằng, không ra sao cả. Trình văn vài khoa thi hội gần đây nhất cho thấy rằng, đã rất hiếm gặp cái gọi là lấy chí khí Tần Hán vận hành vào lục kinh của phái phục cổ.
Cách thức dùng câu văn được chia nhỏ, văn chương điển cố rườm rà chính là xu hướng mới của văn bát cổ. Chính vì vậy Trương Nguyên đề xuất: “ Văn chủ Âu Tằng, pháp tông Thành Hoằng “ (có nghĩa là viết văn thì theo phong cách của Âu, Tằng là chủ đạo, bút pháp thì theo Thành, Hoằng là chủ đạo). Âu, Tằng chính là Âu Dương Tu và Tằng Củng. Thành, Hoằng là chỉ văn phong bát cổ giữa những năm Thành Hóa và Hoằng Trị. Đây chính là chủ trương văn học của Trương Nguyên, hắn muốn bài văn viết lên thật dễ hiểu, không cần làm ra vẻ khó hiểu huyền bí. Ngoài đọc các kinh ra còn phải đọc thêm nhiều cổ văn, chủ trương này của Trương Nguyên là rất thiết thực khả thi. Hắn không nêu ra hai bậc sư pháp còn nổi danh hơn là Hàn Dũ và Tô Thức.
Hàn Dũ lời văn rất phóng khoáng không thích hợp với văn bát cổ gò bó, trong khi đó Tô Thức thuộc loại tài năng bẩm sinh, hạ bút thành tuyệt văn, văn của Tô Thức không dễ học, cứ chạy theo e rằng dễ vẽ hổ không ra mà lại thành phân chó. Để so sánh thì sư pháp của Âu Dương Tu và Tằng Củng dễ hơn, như vậy mục đích học cổ văn cũng rất rõ ràng, chính là vì khoa cử. Để tập hợp được các chư sinh thì ngoài khoa cử ra không còn con đường nào khác. Chủ trương văn học phải có lợi cho việc ứng phó với thi cử mới có thể tập hợp được các thí sinh. Trương Nguyên dùng chính thành công trong thi cử của mình để kêu gọi chư sinh, đây mới chính là phương pháp có sức thuyết phục nhất.
Trương Đại và đám thiếu niên như Kỳ Bưu Giai là thế hệ hăng hái dũng cảm tỏ ra rất tán thưởng khi Trương Nguyên dám chỉ trích bậc thầy văn học trong nước là Vương Thế Trinh cũng tán đồng với chủ trương văn học của Trương Nguyên. Trương Nguyên lại đề nghị thành lập văn xã định kỳ bàn luận văn bát cổ ở Sơn Âm, đám Trương Ngạc cũng rất hào hứng với “ Văn chủ Âu Tằng, pháp tông Thành Hoằng “ , đây sẽ là chủ trương văn học của văn xã Sơn Âm.
Phạm Văn Nhược, Kim Lang Chi ở lại Sơn Âm 6 ngày, sau tết Trung nguyên rằm tháng bảy mới cùng
Kim Bá Tông và Dương Thạch Hương từ biệt Trương Nguyên và huynh đệ Trương Đại để hồi hương. Trương Nguyên chọn ra một trăm hai mươi cuốn bát cổ từ trong số 300 cuốn mà hắn đã làm trong 1 năm qua đưa cho Phạm Văn Nhược xuất bản, đồng thời đích thân hắn viết lời tựa, luận về đạo viết văn, trình bày chủ trương văn học của mình. Đây cũng là cách hắn tuyên truyền chính mình, các cuốn sách này phát hành càng nhiều, người mua càng nhiều thì tên tuổi hắn càng vang xa, đương nhiên hiệu sách phòng xã núi Phất Thủy của Phạm Văn Nhược cũng kiếm được nhiều tiền.
Hiện tại, Trương Nguyên phải chuyên tâm chuẩn bị cho kỳ thi đạo vào khoảng giữa tháng tư và tháng năm sang năm. Để giành được Tiểu Tam Nguyên, tuy cùng là tú tài nhưng tên tuổi của Tiểu Tam Nguyên khác biệt hơn nhiều. Để sách của Dương Thạch Hương và Phạm Văn Nhược dễ bán hơn, hắn nhất định phải nỗ lực, nghiên cứu kỹ “ Xuân Thu “ , làm tốt đề kinh nghĩa.
Vì hắn từ chỗ tộc thúc tổ Trương Nhữ Sương biết được rằng, bổn kinh của Vương Đề Học cũng là “ Xuân Thu “ , là một học giả “ Xuân Thu “ nổi danh. Điều này chẳng khác nào múa rìu qua mắt thợ, rìu này phải múa cho tốt, múa cho hay, phải lọt được vào mắt xanh của Vương Đề Học mới được. Đáng tiếc là Lưu Tông Chu tiên sinh đã đi kinh thành, nếu không có thể thỉnh giáo Lưu tiên sinh về “ Xuân thu “ . Lưu tiên sinh là một nhà nho lớn, ông nghiên cứu uyên thâm không chỉ nhất kinh mà cả ngũ kinh cũng vô cùng tinh thông.
Khô hạn ở Sơn Âm trong một đêm đã kết thúc. Ngày thứ ba sau khi đám Phạm Văn Nhược rời khỏi Sơn Âm, cũng chính là ngày mười chín tháng bảy, vào lúc sáng sớm khi Trương Nguyên còn chưa thức dậy, chợt nghe Mục Chân Chân sung sướng hét lên ở bên sân vườn:
Thiếu gia, phu nhân, Đại tiểu thư, mưa rơi rồi, mưa rơi rồi!
Thỏ Đình cũng kêu to:
Trời mưa, trời mưa rồi!
Trương Nguyên xoay người bước xuống giường, mang giày vào rồi bước ra hành lang, thấy hai người Mục Chân Chân và Thỏ Đình đang nhảy nhót vui mừng ở sân, hắn nheo mắt nhìn quả nhiên là có mưa bụi rơi thật.
Mấy người Trương mẫu Lã thị, Trương Nhược Hi, vú Chu, Y Đình cũng ra hành lang nhìn, vẻ mặt ai nấy đều vui như mở hội. Trương mẫu Lã thị chắp tay nói:
Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ, Hải Long Vương phù hộ, cho mưa lớn mới tốt.
Trương Nguyên lúc đầu cũng lo lắng vì trận mưa này quá nhỏ, mưa không lâu, không giải quyết được tình hình hạn hán lúc ấy. Ai ngờ được rằng cơn mưa lúc đầu nhỏ nhẹ như màng tơ, về sau rớt xuống thành giọt, cuối cùng là mưa kéo dài không dứt, mưa càng ngày càng lớn. Sau giờ ngọ, Đại Thạch Đầu chạy đến báo cáo rằng sông Đầu Lao khô hai tháng nay đã có nước.
Trương mẫu Lã thị ở Trương gia ba mươi năm nay đây là lần đầu tiên thấy sông Đầu Lao khô cạn, nên khi nghe nói sông lại có nước trong lòng không khỏi vui mừng, sai Trương Nguyên, Trương Nhược Hi, vú Chu và các người hầu dắt theo Lý Thuần, Lý Khiết cùng nhau ra vườn sau xem nước sông. Tiểu lầu ở vườn sau đã hoàn thành, sơn dầu cũng đã quét qua một lớp, hiện tại chỉ còn lại bậc thang phía trước nhà là chưa được hoàn chỉnh và một vài vật dụng lộn xộn chưa rửa sạch, vài ngày nữa có thể chuyển đồ đạc vào ở được rồi.
Đại Thạch Đầu nói sông Đầu Lao có nước, kỳ thực chỉ có dòng nước nhỏ nông choèn rộng vài thước, do mưa liên tục nên nước sông đã dâng lên cao giống như con rồng ẩn náu trong nền đất bao ngày nay giờ bắt đầu lắc đầu vẫy đuôi cuộn lên. Hai huynh đệ Lý Thuần, Lý Khiết từ khi đến thăm nhà bà ngoại bốn tháng mà chưa thấy trời mưa, mấy ngày nay nghe bà ngoại và mẫu thân nói mãi về hạn hán a, mong trời mưa a, nghe nhiều quá nên hai anh em cũng mong mưa theo. Chính vì vậy, khi trời bắt đầu mưa hai đứa la hét lên một cách khoái trá, tiếng hét chói tai, chúng muốn ra dầm mưa. Hai tỳ nữ một tay cầm dù che, một tay lôi kéo bọn chúng nhưng không được.
Trương Nguyên thấy mấy người tam huynh Trương Ngạc, Vương Khả Xan, Phan Tiểu Phi cũng đến cầu vòm đá xem mưa.
Khi xem nước sông Đầu Lao, một vài người đều che dù, Trương Ngạc đột nhiên ném chiếc dù lên không trung, chiếc dù từ trên cầu chầm chậm rơi xuống giữa dòng sông. Trương Ngạc nhìn vô cùng thích thú liền túm lấy dù của mấy người Vương Khả Xan, Phan Tiểu Phi ném xuống sông, cười hô hố không ngừng.
Mưa rất to, Trương Ngạc nhanh chóng ướt sũng từ đầu tới chân, y đi qua cầu đá tiến đến chỗ bọn Trương Nguyên. Thỏ Đình, Mục Chân Chân che chung một chiếc ô giấy dầu, Thỏ Đình lo lắng nói:
Tam công tử muốn cướp ô của chúng ta kìa.
Trương Ngạc đi tới thi lễ với Trương mẫu Lã thị và Trương Nhược Hi, mặt ướt đẫm nước mưa, y cười hì hì, cảm thấy rất thú vị.
Trương mẫu Lã thị cười nói:
Yến Khách không nên đi mưa như vậy, cẩn thận bị nhiễm lạnh rồi sinh bệnh đấy.
Trương Ngạc nói:
Hơn nửa năm không được thấy mưa rồi, hôm nay rất vui, dãi gió dầm mưa một phen, vui vẻ chút không sao ạ.
Lý Thuần, Lý Khiết có tấm gương trước mắt càng nhốn nháo đòi ra dầm mưa.
Trương Nguyên thấy trận mưa này thật lớn, sợ sau khô hạn lại có lũ lụt nên dặn Thạch Song sáng sớm ngày mai phải tới điền trang ở hồ Giám, dặn dò mấy điền nông Tạ Kỳ Phó không nên đợi trời quang nữa, mau thu hoạch lúa chiêm, đáng lẽ để cuối tháng mới gặt là tốt nhất nhưng gặt sớm mấy ngày cũng không sao, tránh mưa liên tiếp sẽ làm cho các hạt lúa chín bị rụng hết.
Vào thu hễ cứ mưa là kéo dài không dứt, mưa một ngày lại tạnh nửa ngày, cách quãng lúc to lúc nhỏ.
Mãi đến rằm tháng tám trời cũng chưa thực sự quang được ngày nào. Dân chúng Thiệu Hưng lúc đầu vui mừng vì thấy mưa lớn có thể giải quyết được tình hình hạn hán bấy lâu nay, nhưng hiện giờ niềm vui không còn nữa mà thay vào đó họ oán trách ông trời bất nhân không để ý đến sự sống chết của người dân. Hạn hán nối tiếp lũ lụt, đúng là muốn tuyệt đường sống của con người.
Lúc khô hạn, những thửa ruộng tiện dẫn nước tưới tiêu thì còn thu hoạch được chút ít, như điền trang bên hồ Giám của gia đình Trương Nguyên, vụ chiêm tuy sản lượng giảm 1/3 so với năm trước nhưng không đến mức thất thu hoàn toàn. Nhưng một tháng ngay sau đó, tá điền Tạ Kỳ Phó gieo mạ xuống bao nhiêu đều hỏng hết, ra sức bơm nước ra cũng không thể cứu vãn được. Buổi sáng vừa tát nước để mạ lộ ra khỏi mặt nước thì một trận mưa lúc chiều tối lại đưa về như cũ. Những tá điền nhà Trương Nguyên vụ chiêm có thu hoạch được một chút, vì được nhà chủ giảm một nửa tiền thuê ruộng nên có thể tạm chống chọi được. Những nông dân không thu được một hạt lúa nào từ vụ chiêm thì thật là thảm, trong nhà không có lương thực dự trữ nên nếu một mùa thất thu thì coi như không có gì mà ăn. Nếu điền chủ còn hối thúc đòi tiền thuế ruộng thì lại càng cùng đường.
Đương nhiên tuyệt đại đa số các điền chủ không đến mức như vậy, quan huyện cũng nhiều lần ra chỉ thị các điền chủ phải cứu tế chính các tá điền của mình, không nên để dân chúng cơ hàn ly tán. Tri phủ Thiệu Hưng Từ Thời Tiến gần đây cũng đau đầu nát óc, tám huyện trong hạt thì có 6 huyện báo lên xin cứu trợ thiên tai, lão cũng đã báo cáo tình hình với quan phủ Chiết Giang, căn cứ vào kinh nghiệm, trông chờ triều đình phát tiền và lương thực cứu trợ là rất khó, giờ đây chỉ xin triều đình miễn cho chút thuế má, còn lại phải tự cứu lấy mình. Phương pháp tự cứu này chính là vay mượn quyên góp lương thực, đối tượng để vay là những phú hộ. Nhưng từ thời Gia Tĩnh đến nay, những người dân giàu có cùng quan phủ tham gia cứu đói thường nảy sinh nhiều tiêu cực, thứ nhất là vì quan phủ cưỡng ép phân chia thậm chí còn chiếm làm của riêng số lương thực được quyên góp.
Chương 184: Cửu tự quyết (2)
Hai là tinh thưởng của triều đình bị giảm giá trị, chức tán quan có được bằng cách nạp lương thực bị chê cười, học trò nạp kê để được vào học Quốc Tử Giám bị coi thường, vào được Quốc Tử Giám rồi cũng bị đuổi về nhà, bởi vậy những người giàu cũng không muốn vì chính phủ mà tham gia cứu đói. Từ Thời Tiến nghe nói Trương Nguyên hiến kế với Hầu Chi Hàn rằng điền chủ tự cứu các tá điền của mình được thực hiện ở Sơn Âm thấy có phần hiệu quả.
Sau rằm trung thu một ngày, Từ Tri phủ liền truyền Tri huyện Hầu Chi Hàn và Trương Nguyên tới phủ nha để cùng thảo luận về vấn đề cứu tế. Trương Nguyên đề nghị ngoài phương án điền chủ cứu tế tá điền của mình ra, còn đưa ra kế phường nào giúp phường đó, thôn nào giúp thôn đó. Vì phường nào cũng có người giàu, thôn nào cũng có người giàu, những người giàu cứu tế những người nghèo cùng phường cùng thôn với mình. Loại hình cứu tế này rút nhỏ phạm vi lại, người giàu được biết ơn cũng vui, mà lại có danh hành thiện.
Đương nhiên những hình thức cứu tế này không phải là không có ràng buộc, vẫn lấy danh nghĩa là cho vay, vay bao nhiêu trả bấy nhiêu, người nghèo sau khi qua được nạn thiên tai thì phải hoàn trả lại. Nếu không người giàu họ không nhân nghĩa đến như vậy, tiền và lương thực của họ cũng phải cực khổ mấy đời mới tích cóp được, nên không có lý nào bắt buộc họ phải thay quan phủ cứu giúp vô điều kiện. Kể cả kho lương Dương Hòa cũng vậy, không phải là cứu tế vô điều kiện, chỉ là cứu tế khi khẩn cấp, một mẫu ruộng được cấp một đấu gạo, nhà có mười mẫu được cấp một thạch gạo, như vậy có thể chống chọi được hai tháng khó khăn nhất.
Trương Nguyên còn đề nghị Từ Tri phủ kết hợp hai huyện Thiệu Hưng và Hội Kê, lấy danh nghĩa là công chẩn. Cái gọi là công chẩn ở đây chính là chiêu mộ dân đói làm công, ví dụ như xây đập, sửa kênh rồi phát lương thực hàng ngày cho họ. Như vậy vừa giúp dân gặp thiên tai qua được nạn đói mà quan phủ cũng không mất tiền để thuê, thật là nhất cử lưỡng tiện.
Ra khỏi phủ nha Thiệu Hưng mưa lại bắt đầu rơi, mưa gió mùa thu khá lạnh.
Mục Chân Chân đang đứng ngoài nha môn chờ Trương Nguyên, tay cầm một cái ô bằng giấy dầu, nách còn kẹp thêm một chiếc ô nữa, nhìn thấy thiếu gia đi ra, nàng bất giác dướn thẳng người lên, eo nhỏ ngực nở nhìn rất dễ động lòng người.
Trương Nguyên nhận ô Mục Chân Chân đưa cho, hai người ven theo sông Phủ sánh đôi chậm rãi mà đi. Một tháng trước sông Phủ gần như khô cạn, giờ đây nước chảy cuồn cuộn, nghe Mục Chân Chân đi sát bên nói:
Mưa mãi không ngớt, trước buồn vì không có mưa, giờ thì buồn vì mưa nhiều.
Trương Nguyên nói:
Trời chắc sắp tạnh rồi, không thể cứ mưa mãi được, nước đâu ra mà mưa lắm thế!
Mục Chân Chân cười khúc khích kêu lên một tiếng:
Thiếu gia.
Trương Nguyên nghiêng đầu nhìn Mục Chân Chân, sắc mặt của thiếu nữ đọa dân trắng nõn nà như trái dưa thơm vậy, hai bên tóc mai và và tóc tơ ở phần gáy mềm mại như nhung rất đáng yêu, hắn hỏi:
Chân Chân đã đọc xong “ Tả truyện “ chưa, mấy ngày nay ta không rảnh để dạy ngươi?
Mục Chân Chân nói:
Dạ, nô tỳ đọc xong rồi, có Đại tiểu thư chỉ dạy rồi, chữ nào không biết thì hỏi đại tiểu thư.
Trương Nguyên gật đầu nói:
Đọc xong “ Tả truyện “ thì chữ cũng nhận biết được tương đối rồi, ta thử kiểm tra xem ngươi nhớ được bao nhiêu.
Mục Chân Chân bắt đầu thấy hồi hộp, hết sức tập trung.
Trương Nguyên nói:
Ngươi thử nói về câu chuyện giả đồ diệt Quắc, môi hở răng lạnh, đây cũng là một trong ba mươi sáu kế.
Mục Chân Chân nói rất chậm rãi, kể đại khái câu chuyện Tấn quốc đến Ngu quốc mượn đường tiêu diệt Quắc quốc, rồi sau lại diệt Ngu quốc, Trương Nguyên khen, nàng vui mừng hỏi:
Thiếu gia, sau này tỳ nữ còn có thể đọc sách gì?
Trương Nguyên nói:
Đọc “ Sử ký “ đi, ở chỗ tộc thúc tổ có đấy, nhưng tự mua lấy một bộ thì hay hơn, trong nhà cũng nên có vài cuốn lưu trữ.
Số tiền nhuận bút mà Dương Thạch Hương và Phạm Văn Nhược đưa tới có hơn ba trăm lượng, cho nên năm nay tuy thu nhập từ điền tô giảm nhiều nhưng tiền chi tiêu trong nhà vẫn khá thoải mái.
Hai chủ tớ rẽ vào phố Thập Tự phủ Học Cung để mua một bộ “ Sử ký “ gồm một trăm ba mươi cuốn do Nam Kinh Quốc Tử Giám xuất bản. Bộ này là ba lượng tám tiền, có tặng kèm một cái kẹp sách bằng trúc. Mục Chân Chân cầm kẹp sách, gần bốn lượng bạc cơ à, tim nàng đập thình thịch. Trương Nguyên mở ô cho Mục Chân Chân, hai người trở lại dinh thự Đông Trương, Đại Thạch Đầu bẩm báo:
Thiếu gia, có khách đến, đang ngồi ở sảnh, không có danh thiếp.
Trương Nguyên đưa ô cho Đại Thạch Đầu, đến gần cửa chính thì thấy một thanh niên mặc áo nho màu xanh đang đứng ở mái hiên của đại sảnh, thi lễ nói:
Hoa Đình Dực Thiện, mạo muội đến thăm.
Trương Nguyên vui vẻ nói:
Hóa ra là Dực huynh, lần trước gặp ở miếu Thủy Tiên Thanh Phổ, tại hạ cùng Dực huynh mới gặp mà như thân thiết từ lâu, hôm nay gặp lại thật sự rất vui mừng.
Dực Thiện vẫn như lần trước gặp mặt, cô độc, cũng không nói đến đây có chuyện gì. Trương Nguyên tất nhiên cũng không hỏi. Dực Thiện ở trên lầu nhỏ vườn sau nhà Trương Nguyên, cùng hắn đàm luận về văn chương, học thức của gã khiến Trương Nguyên kính nể. Đại huynh Trương Đại của hắn được cho là đọc nhiều sách vở nhưng so với Dực Thiện cũng không thể nào sánh bằng. Tuy nhiên, Đại huynh Trương Đại năm nay mời mười bảy tuổi còn Dực Thiện đã hai mươi bốn, hai lăm tuổi rồi.
Mặc dù không biết lai lịch của Dực Thiện, ngay cả tên Dực Thiện cũng là tên giả, nhưng điều đó không gây trở ngại cho tình bạn giữa Trương Nguyên và Dực Thiện, đây là bạn văn thuần túy, dùng văn học để giao tiếp, không để ý đến mặt khác. Dực Thiện thư pháp tinh diệu, sở trường là các loại thư thể nên gã làm văn bát cổ rất tốt, hắn nói với Trương Nguyên:
Làm văn bát cổ có chín chữ quyết, lần lượt là “ Khách, chuyển, phản, hàn, thay, lật, thoát, bắt, rời “ . Cái gọi là ‘khách’ chính là khách trong khách, chủ trong khách, khách trong chủ, chủ trong chủ, chủ là gì? Chính là phá đề lập ý của bài văn. Khách là gì? Chính là bài văn được chỉnh sửa, thêm thắt, phát triển, nhưng trong chủ có khách, trong khách có chủ, lập luận chính diện là chủ, ngược lại thêm thắt vào là khách. Hai cái như gần như xa, giữ khoảng cách nhất định, lấy khách để hình dung chủ thì mới là bài văn tuyệt phẩm.
Trương Nguyên cảm thấy vô cùng hứng thú, thỉnh giáo tỉ mỉ, Dực Thiên cũng không giấu diếm gì, nói hết về ‘Cửu tự quyết’ để làm văn bát cổ. ‘Cửu tự quyết’ lại chính là biến đổi từ lý luận Thiện Tông. Dực Thiện còn nêu ví dụ minh họa, lúc đầu lấy “ Biểu trung quan bi “ của Tô Thức để phân tích đảo ngược ‘Cửu tự quyết’, nói rằng bài văn này của Tô Thức có dùng phương pháp chủ và khách. Trương Nguyên nghiêm túc trải nghiệm, cảm thấy Dực Thiện phân tích rất có lý, xưa nay rất nhiều nhà cổ văn nổi tiếng đều có dùng “ Cổ tự quyết “ . Như Tô Thức, mặc dù không biết “ Cửu tự quyết “ nhưng khi làm văn làm thơ đều có chỗ dùng tới, bởi vậy nói Dực Thiện có thể tổng kết được quả thật là kì tài. Trương Nguyên cũng đem những kỹ xảo viết văn học được từ Vương Tư Nhâm và lĩnh ngộ của mình, cùng Dực Thiện phân tích thảo luận, quả nhiên thấy những kỹ xảo này cũng trùng hợp với “Cửu tự quyết”, Dực Thiện nói:
Không phải ai hiểu được “Cửu tự quyết” thì chắc chắn trở thành nhà văn lớn, trong đó điều tinh diệu là ở sự lĩnh ngộ của bản thân. Văn chương không phải là nghề thủ công, cho dù là những người thợ cùng học một thày, nhưng tay nghề cao thấp khác nhau, Giới Tử huynh chế nghệ hơn hẳn ta điều này thật sự không thể học được.
Trương Nguyên, Dực Thiện từng viết văn cùng đề, Dực Thiện viết bát cổ văn theo đúng quy củ, phương pháp chủ khách cũng có, nếu không so với của Trương Nguyên thì cũng được xem là văn hay, nhưng thiếu tính linh hoạt ở Trương Nguyên, hơi có chút gò bó. Trương Nguyên nói:
Dực huynh khiêm tốn rồi, Dực huynh hiếu học suy nghĩ sâu xa, một người bình thường khó đạt đến, cùng đàm đạo một buổi với Dực huynh, tại hạ đã lĩnh hội được rất nhiều điều.
Dực Thiện ở lầu nhỏ vườn sau nhà Trương Nguyên ba ngày, sáng ngày mười chín tháng tám mới cáo từ Trương Nguyên, một thân một mình mang hành lý che dù lên đường. Trương Nguyên tiễn gã đến cầu Bát Sĩ, Dực Thiện muốn đi Hàng Châu, lúc sắp bước chân lên thuyền Dực Thiện hỏi:
Giới Tử huynh cho ta là người như thế nào?
Trương Nguyên nói:
Tài trí xuất chúng, suy nghĩ chín chắn, là bạn bè của ta.
Dực Thiện lại hỏi:
Huynh có từng phỏng đoán về thân phận của ta không?
Trương nguyên nói:
Dực huynh thần bí khó đoán, nhưng tại hạ kết bạn chỉ luận nhân tài.
Dực Thiện mỉm cười:
Có thể kết bạn với Giới Tử huynh là vinh hạnh của tại hạ, sau này còn gặp lại.
Nói rồi gã thu dù lại, cúi đầu vái chào rồi xoay người bước lên thuyền, mới đi vài bước mà áo xanh đã thấm ướt.
Trương Nguyên đứng bên cầu cất giọng nói:
Dực huynh, về sau nếu cần tại hạ giúp gì cứ nói thẳng, tại hạ nhất định sẽ làm hết sức mình.
Dực Thiện ở mui thuyền xoay người nhìn Trương Nguyên nói:
Đa tạ.
Trương Nguyên nhìn con thuyền ô bồng của Dực Thiện đi ra xa dần trong màn mưa thu dày đặc, thầm nghĩ:
Dực Thiện vô cùng tài hoa nhưng hai đầu lông mày có khí uất ức, đây là điển hình người có tài nhưng không gặp thời, gã làm văn bát cổ rất tốt, rốt cuộc vì duyên cớ gì khiến gã không thể tham gia khoa cử? Hoa Đình Dực Thiện, Hoa Đình Dực Thiện, thật là kỳ quái.
Gần cuối tháng tám, sau hơn một tháng mưa dầm rốt cuộc trời cũng hửng nắng, nhưng lúc này mới trồng lúa thì không kịp, chỉ chờ thời tiết ổn định, đất đai khô ráo sẽ gieo lúa mì. Công việc cứu đói, giúp nạn thiên tai ở Phủ Thiệu Hưng cũng đang tiến hành, thiên tai lần này tạm thời chưa đến mức gây nạn chết đói.
Ngày mùng 1 tháng chín, Chung thái giám ở sở dệt Hàng Châu phái người đến đón Trương Nguyên đi Hàng Châu, nói là sinh từ Chung thái giám trên núi Bảo Thạch đã xây xong, đặc biệt mời Trương Nguyên đi một chuyến. Trương Nguyên xin phép mẫu thân, ngày hôm sau mang theo Mục Chân Chân và Vũ Lăng đáp thuyền quan của sở dệt đi Hàng Châu.
Chương 185: Nam Bình vãn chuông
Tiết trời quang đãng, tám thuyền phu trên thuyền quan của Chức Tạo Cục (cơ quan quản lý ngành dệt) luân phiên chèo thuyền, mái chèo như bay, từ kênh đào Tây Hưng ngang qua đập Tiền Thanh đi đến sông Tiền Đường chỉ mất một ngày một đêm. Giờ Thìn buổi sáng mùng ba tháng chín đã đổ bộ lên bờ bắc sông Tiền Đường, xe ngựa của Chức Tạo Cục đã chờ sẵn từ sớm, Tiểu Cao con nuôi của Chung thái giám phụng mệnh đến đón Trương Nguyên.
Tiểu thái giám này năm nay mười ba tuổi, gầy guộc, nhưng lại khá lanh lợi, biết Trương Nguyên là khách quý mà Chung thái giám coi trọng, đoán ý qua lời nói và sắc mặt, vô cùng nịnh hót, cung kính nói:
Trương công tử, sinh từ của cha nuôi ta định ngày mở từ nhận hương khói vào mùng chín, ban đầu là Trương công tử đã đề nghị Thạch Trụ Thổ Ty xây dựng sinh từ cho cha nuôi ta, sinh từ được xây dựng ở Bảo Thạch Sơn cũng là do Trương công tử và cha nuôi ta nhất chí tuyển định đấy, cho nên cha nuôi muốn mời Trương công tử tới tham gia buổi lễ long trọng này.
Trương Nguyên hỏi:
Thạch Trụ Thổ Ty có người nào đến hay không?
Tiểu cao nói:
Hồi Trương công tử ..., vị Tần đại nhân kia đã sai nha dịch đưa tin cấp báo rằng nhất định sẽ đến kịp trước mùng tám, sinh từ này là Thạch Trụ Thổ Ty xây dựng cho cha nuôi ta, nếu người của Thạch Trụ Thổ Ty không đến thì làm sao mở từ dâng hương!
Trương Nguyên thầm nghĩ: “ Tần huynh cuối tháng tư sẽ rời khỏi Sơn Âm về Xuyên Đông, bây giờ là đầu tháng chín, lại phải vội đến, vậy căn bản nửa năm nay đều là đi trên đường rồi. “ Lại nghĩ: “ danh tính của ta đây e là phải nằm chắc trong Hoạn đảng rồi, ngày sau nếu vào triều làm quan, không khỏi bị người của đảng Đông Lâm lên án. “
Đi đến Chức Tạo thự bên ngoài Dũng Kim Môn, tiểu Cao đi vào thông báo, chẳng mấy chốc, Chung thái giám đã đích thân ra nghênh đón, mặt đầy tươi cười nói:
Trương công tử đại tài, từ Hàng Châu trở về liền đoạt giải nhất cuộc thi phủ, chúng ta nghe tin vui này cũng vui mừng cho Trương công tử đây.
Trương Nguyên chắp tay thi lễ nói:
Đa Tạ công công quan tâm.
Chung thái giám kéo tay Trương Nguyên đi vào trong nha thự, nghiêng đầu nhìn nhìn, nói:
Không gặp nửa năm, vóc người Trương công tử đã cao hơn không ít, học vấn chắc cũng tiến một bước lớn chứ.
Trương Nguyên mỉm cười nói:
Không dám buông thả.
Chung thái giám và Trương Nguyên đi vào thư phòng ở nội viện nha thự, thị tỳ dâng trà thơm lên, Chung thái giám bèn cho các cô lui ra ngoài, Vũ Lăng và Mục Chân Chân cũng đứng ở hành lang vòng bên ngoài thư phòng chờ đợi.
Hỏi vài câu về chuyện thi phủ của Trương Nguyên và việc hạn lụt ở Sơn Âm, Chung thái giám hạ giọng nói:
Nói cho Trương công tử biết một chuyện, trong năm nay, quần thần trong triều lại tấu xin Vạn Tuế Gia hạ chỉ cho Phúc Vương tựu phiên (về vùng đất được phong), Vạn Tuế Gia truyền chỉ rằng điền trang của Phúc Vương tựu phiên phải có bốn vạn khoảnh đất, Thủ Phụ Diệp Hướng Cao đương nhiên không chịu, dẫn đến Tổ Huấn, Hội Điển cố sức tranh nhau, trận tranh giành này lại là nửa năm.
Trương Nguyên hạ giọng nói:
Hoàng đế tự biết không cho Phúc Vương tựu phiên là làm trái tổ chế, cho nên cố ý muốn nâng cao số lượng điền trang của Phúc Vương, hòng để dọa lùi quan thần trong triều.
Chung thái giám khẽ cười nói:
Trương công tử đây thật ra rất hiểu tâm tư Vạn tuế gia, về nền tảng lập quốc Vạn tuế gia và quan thần trong triều đã tranh luận mấy thập niên, cuối cùng vẫn là Vạn tuế gia nhượng bộ. Chiếu theo tình thế hiện nay, việc Phúc Vương tựu phiên cũng là chuyện sớm muộn, Phúc Vương phủ ở Lạc Dương tháng trước đã xây xong, phí tổn hết 40 vạn lượng bạc, gấp đôi Lộ Vương phủ.
Trương Nguyên thầm nghĩ: “ Hoàng đế Vạn Lịch muốn lập Phúc Vương làm Thái Tử, các đại thần không chịu ưng thuận, mất gần ba mươi năm tranh chấp giữa quân thần, Vãn Minh Đảng cũng từ đó mà ra. Cuối cùng Hoàng đế không còn cách nào, vẫn phải lập trưởng tử làm Thái Tử, Hoàng đế không để ý tới triều chính, lười với việc cứu trợ nạn thiên tai, ý có phần như không xem thiên hạ này là thiên hạ của nhà Chu, việc lập trữ không như ý hẳn là một nguyên nhân chính, ngôi vị hoàng đế này thật không có ý nghĩa, trong lòng chán nản “
Chung thái giám thấy Trương Nguyên trầm ngâm không nói, liền lại nói:
Trương công tử, đối với cách nhìn của ngươi chúng ta bây giờ đã cực kỳ khâm phục, ngươi nói xem, nếu chúng ta hồi kinh thì nên làm thế nào để sống yên phận?
Trương Nguyên nói:
Vẫn là câu nói đó, thêm hoa trên gấm không bằng đưa than sưởi ấm trong ngày tuyết rơi.
Chợt hỏi:
Chung công công năm nay đã bao nhiêu xuân thu?
Chung thái giám nói:
Lão Đại phí hoài cũng đã gần ba mươi sáu rồi.
Trương Nguyên nói:
Công công đây đúng là trẻ trung khoẻ mạnh a, nếu chịu theo tại hạ mà nói, công công hồi kinh còn phải hết sức kiềm chế, cố gắng giữ mình, chẳng những không cần phải đi nịnh bợ phía thái giám đương quyền, mà ngay cả hoàng Thái Tử cũng bớt tiếp cận. Hoàng Thái Tử nơi đó hiện tại là nơi lắm thị phi, ngài lại không phải là người ở kề cận hoàng Thái Tử thuở nhỏ, hiện giờ nếu cố ý đi kết giao rất dễ rước họa vào thân.
Chung thái giám cau mày nói:
Thế chúng ta hồi cung chẳng phải là ăn không ngồi chờ chết sao?
Trương Nguyên hỏi:
Hoàng Thái Tử hiện nay có mấy người con? Đứa con cả mấy tuổi?
Chung thái giám nói:
Có bốn con, đứa con cả Chu Do Giáo năm nay chín tuổi.
Trương Nguyên nói:
Chung công công là một trong mười tài tử nội quan, sau khi hồi kinh nếu có thể đi hầu hạ Hoàng trưởng tôn, Dạy Hoàng trưởng tôn đọc sách biết chữ, đây hẳn là một con đường tốt đẹp, vừa sẽ không giống như đang tiếp cận hoàng Thái Tử sẽ bị người ghét hận, tiền đồ lại cực kỳ khả quan. Đương nhiên, hiện giờ có rất ít người có thể nhìn ra điểm này.
Chung thái giám nghĩ thầm rằng:
Chúng ta năm nay đã ba mươi sáu tuổi, ngươi để chúng ta hầu hạ Hoàng trưởng tôn chín tuổi, Hoàng Thái Tử còn chưa biết ngày nào mới được lên ngôi, Hoàng Trưởng Tôn lại càng xa xăm vô thời hạn. Hơn nữa Hoàng trưởng tôn này còn không chắc có thể được lập làm Thái tử, chúng ta nếu có thể sống đến bảy, tám mươi tuổi, có lẽ mới có cái khả năng được làm chấp bút thái giám.
Chỉ nghe Trương Nguyên lại nói:
Chung công công phải nhìn xa một chút, nếu chịu nghe lời này của tại hạ, công công tất được ghi danh sử sách.
Trương Nguyên giọng điệu rất chắc chắc.
Chung thái giám cười nói:
Chúng ta không cầu ghi danh sử sách, chỉ cầu đừng phải chết một cách vô cớ là tốt rồi. Trương công tử nói cũng đúng, chúng ta hồi kinh thay vì ở một xó ăn không ngồi rồi, chi bằng đi bầu bạn Hoàng trưởng tôn đọc sách, như vậy chí ít nhất không có gì tai họa.
Trương Nguyên chợt hỏi:
Chung công công có biết một thái giám tên gọi Lý Tiến Trung?
Lý Tiến Trung là tên gọi của Ngụy Trung Hiền khi mới vào cung.
Chung thái giám ngẫm nghĩ một chút, lắc đầu nói:
Nhớ không ra có một người như vậy, Trương công tử hỏi người này làm chi?
Trương Nguyên nói:
Tại hạ nghe người ta nói chuyện phiếm rằng có một thái giám như vậy, còn có chút võ nghệ, tưởng đâu công công có biết, chỉ thuận miệng hỏi qua, không có gì khác.
Chung thái giám “ Ồ “ một tiếng, cũng không có để ý.
Như vậy, Trương Nguyên đã ở Chức tạo thự, sáng sớm hôm sau cùng Chung thái giám đến Bảo Thạch Sơn xem sinh từ, dưới tháp Bảo Thục là từ đường tam doanh, bên trái là đài ngắm tùng, dưới đài dày đặc hàng vạn tùng, có khe vực sâu lớn. Ở trên cao nhìn xuống, từ đường rất có khí thế, không lớn, nhưng được xây dựng cực kỳ tinh xảo, cây gỗ được chọn đều là cây gỗ lim thượng hạng, điêu khắc trang trí màu sắc, quả thực có thể được xưng tụng là nhất cảnh của Bảo Thạch Sơn. Chỉ cần danh tiếng Chung thái giám ở Hàng Châu không phải quá kém, từ đường này hẳn là không đến mức Chung thái giám vừa rời khỏi đã bị những dân chúng phẫn nộ phá hủy. Đương nhiên, nhiều năm sau bị chuyển đổi mục đích là rất có khả năng, có lẽ sẽ biến thành một bộ phận của Bảo Thục Tháp.
Không có tạo phúc một phương công tích vĩ đại lại muốn lập sinh từ, đấy cũng chỉ có thể là tự mình an ủi. Chung thái giám hiện tại hiển nhiên không ý thức được điểm này, hứng chí đến nỗi dẫn Trương Nguyên đi khắp sinh từ trong trong ngoài ngoài đều xem qua, trưng cầu ý kiến Trương Nguyên. Trương Nguyên đương nhiên là liên tục khen ngợi, hỏi:
Tượng nặn Chung công công ở chỗ nào?
Chung thái giám cười nói:
Đã mời nghệ nhân nổi danh Đông Dương đắp tượng cho ta, đã đắp xong, tạm gửi lại chỗ Linh Ẩn tự, đợi Tần Dân Bình đến, để gã đi thỉnh tượng đắp ra và đưa đến sinh từ này.
Xuống Bảo Thạch Sơn, lên thuyền qua hồ trở lại Chức Tạo thự bên ngoài Dũng Kim Môn, Chung thái giám có việc, không thể đi cùng Trương Nguyên, phái hai tên tiểu quan của Chức Tạo Thự cùng Trương Nguyên đi du ngoạn khắp tứ phương. Chạng vạng ngày hôm đó, Trương Nguyên và Mục Chân Chân, Vũ Lăng còn có hai tên tiểu quan Chức Tạo Thự đứng ở bờ Tây Hồ, ngắm ánh chiều tà xuống dần ở phía tây dãy núi Võ Lâm, chợt nghe được tiếng chuông réo rắt du dương, truyền đến từ phía nam, làm cho tâm hồn người ta thản nhiên yên tĩnh, nghiêng tai lắng nghe thiền ý bao hàm trong tiếng chuông kia.
Ồ, đây là Nam Bình vãn chuông một trong mười cảnh của Tây Hồ đó ư, tiếng chuông cũng là một cảnh, thật sự là tuyệt vời, hỏi tên tiểu quan, tiểu quan trả lời nói:
Đây là tiếng chuông của Nam Bình Tịnh Từ Tự.
Tên tiểu quan còn lại nói:
Tiêu Trạng Nguyên ở Nam Kinh theo lời mời của Hoàng Ngụ Dung tiên sinh, đến Nam Bình dạy học một tháng, hạ tuần tháng trước đã bắt đầu, Trương công tử ngại gì không đến nghe giảng.
Chương 186: Đánh tàn bạo Đổng Tổ Thường (1)
Trương Nguyên vui vẻ nói:
Tiêu Hồng Trạng Nguyên ấy à, hay lắm.
Danh tín Hoàng Ngụ Dung tiên sinh Trương Nguyên cũng đã được nghe qua, năm trước Đại huynh Trương Đại ở Hàng Châu cầu học, chính là ở môn hạ của Hoàng Ngụ Dung tiên sinh. Hoàng Ngụ Dung chính là Hoàng Nhữ Hanh, học giả nỗi tiếng thời Vãn Minh, tiến sĩ năm Vạn Lịch thứ hai mươi sáu, đã từng làm Tiến hiền Tri huyện, Nam Kinh Lễ Bộ chủ quản, có giao tình rất sâu đậm với Trương Nhữ Lâm, mà Tiêu Hồng lại càng là đại học giả, nhà tàng thư, kinh, sử, tử, tập đều đọc lướt qua, sáng tác phong phú, danh tiếng hiện nay đã trên cả Lưu Tông Chu. Tiêu Hồng là Trạng Nguyên khoa kỷ sửu năm Vạn Lịch thứ mười bảy, Đổng Kỳ Hưng cũng là ở khoa này đây. Đổng Kỳ Hưng là thứ nhất nhị Giáp, Tiêu Hồng nguyên là biên tu của Hàn Lâm Viện, tu soạn sách sử nhà Minh, sau này sử quán không người chủ trì, việc tu sử gián đoạn, Tiêu Hồng liền từ quan về nhà, chuyên tâm sáng tác, Tiêu Hồng sáng tác có “ xuân thu Tả truyền sao “ mười bốn cuốn, bộ sách này Trương Nguyên không tìm được, bây giờ nghe tin Tiêu Hồng đang ở đây dạy học, đương nhiên muốn đến nghe giảng thọ giáo.
Sáng sớm mùng năm, theo sự dẫn đường của một tiểu quan Chức Tạo thự, Trương Nguyên dẫn theo Mục Chân Chân và Vũ Lăng đến Nam Bình nghe Tiêu Trạng Nguyên và Hoàng tiến sĩ dạy học. Nam Bình Sơn là nhánh núi của Cửu Diệu Sơn, cây cối sum xuê, vách đá như bình phong. Ở phía nam thành Hàng Châu, từ xưa xưng là Nam Bình Sơn, từ Chức Tạo thự bên ngoài Dũng Kim Môn tới Nam Bình Sơn ước chừng có bảy, tám dặm đường, bốn người bước nhanh mà đi, không đến nửa canh giờ đã đến dưới chân núi Nam Bình. Tiểu quan kia cũng không biết Tiêu Trạng Nguyên dạy học cụ thể ở đâu, liền hướng đến hỏi thăm tăng nhân Tịnh Từ Tự, tăng nhân chỉ điểm nói nơi dạy học ở ngay dưới đình cách sau tự không xa, không ngờ lại chính là một thảo đường, Hoàng Nhữ Hanh tiên sinh cư ngụ dạy học nơi đây.
Trương Nguyên đang cùng tăng tự nói chuyện, lại thấy trong chùa đi ra ba người, trong ba người này thì Trương Nguyên nhận biết hai, một người là Đổng Tổ Thường, người kia chính là Dực Thiện, một kẻ tài hoa hơn người, tháng trước ở trong tiểu lầu nơi hậu viện nhà hắn ba ngày.
Đổng Tổ Thường nhìn thấy Trương Nguyên, mới đầu cũng sững sờ, lập tức bước nhanh đến phía trước, nổi giận đùng đùng chỉ vào nói:
Trương Nguyên, hôm nay có thể để ta chạm mặt ngươi, xem ngươi còn chạy đi đâu!
Trương Nguyên gặp được Đổng Tổ Thường không lấy làm lạ, nhưng Dực Thiện xuất hiện bên cạnh Đổng Tổ Thường đây có vẻ rất quỷ dị, lập tức bất động, hỏi Đổng Tổ Thường:
Các hạ là ai?
Đổng Tổ Thường bật thốt lên:
Gia phụ Đổng Huyền Tế.
Lập tức tỉnh ngộ, cả giận nói:
Ngươi giả bộ hồ đồ gì, ngươi lại không biết ta sao!
Tuy nhiên cũng có chút nghi hoặc, đêm đó ở Long sơn, ánh đèn chập chờn nhìn không rõ lắm, hơn nữa Trương Nguyên hơn nửa năm nay vóc người lại cao lên một ít.
Đổng Tổ Thường thầm nghĩ:
Chắc không thật đã nhận lầm người đấy chứ?
Nhưng phía sau Trương Nguyên chính là cái ả nữ tỳ kia, sao gã ta có thể nhận lầm. Đổng Tổ Thường giận tím mặt, ngày đó chính là vì cái dung mạo xinh đẹp nõn nà của ả nữ tỳ mới nảy sinh xung đột, Trương Nguyên đạp một cước vào ngay ngực gã, đến nay vùng ngực còn lâm râm đau.
Vũ Lăng vội vàng thấp giọng hỏi Mục Chân Chân:
Chân Chân tỷ, có mang theo tiểu bàn long côn không?
Mục Chân Chân thầm nghĩ:
“Đối phó với Đổng Tổ Thường, chắc không cần tiểu bàn long côn.”
Nhưng nàng vẫn gật đầu để Tiểu Vũ yên tâm. Lần này cha nàng không đi theo, mỗi lần theo thiếu gia ra ngoài nàng đều vô cùng cẩn thận, tiểu bàn long côn luôn giấu ở mặt ngoài đùi bên phải.
Tiểu quan của Chức Tạo thự nhìn thấy Đổng Tổ Thường khí thế không tốt, bộ dạng giống như muốn đánh nhau, liền bước lên giận dữ nhìn y nói:
Trương công tử là khách quý ở Chức tạo thự của Chung công công, ngươi là ai mà dám vô lễ như vậy!
Đổng Tổ Thường lại muốn nói:
Cha ta là Đổng Huyền Lân.
Nhưng y kìm lại được, khinh thường không thèm lý luận với tên quan nhỏ. Y cười lạnh nói:
Trương Nguyên, ngươi giỏi thật, tìm được thái giám để dựa dẫm!
Trương Nguyên không thèm để ý tới y, hướng đến Dực Thiện chắp tay nói:
Dực Thiện huynh, xin chào!
Đổng Tổ Thường là kẻ ngu dốt, không cần để ý tới, nhưng Dực Thiện lại là người mà hắn coi là bạn. Hắn rất lấy làm lạ rằng sao Dực Thiện lại có thể đi cùng với Đổng Tổ Thường?
Dực Thiện mặc bộ quần áo đạo màu xanh, đi ra khỏi cổng chùa Tịnh Từ thì gặp Trương Nguyên, nét mặt có chút bối rối. Lúc này thấy Trương Nguyên thi lễ, gã vội vàng đáp lễ, nói:
Giới tử huynh, hạnh ngộ, hạnh ngộ.
Đổng Tổ Thường đang nổi giận đùng đùng lấy làm lạ, quay đầu nhìn Dực Thiện đang ở phía sau, hỏi:
Tên tiểu tử Trương Nguyên này sao quen được ngươi?
Dực Thiện hạ giọng nói:
Kết bạn trong một Văn hội.
Đổng Tổ Thường buồn bực nói:
Ngươi lại đi khắp nơi khoe khoang tài học của mình có phải không?
Dực Thiện không đáp, nhưng thần thái dễ nhận thấy có chút hèn mọn.
Đổng Tổ Thường nhướn mày, nhếch mép cười lạnh hỏi Trương Nguyên:
Ngươi cảm thấy tài học của hắn ta thế nào?
Gã chỉ vào Dực Thiện.
Trương Nguyên thở dài trong lòng, hắn đã đoán ra thân phận của Dực Thiện, cũng hiểu rõ tại sao Dực Thiện không tham gia khoa cử, đáp:
Dực Thiện huynh đọc nhiều sách vở, tài hoa hơn người.
Đổng Tổ Thường âm thầm đắc ý, hỏi:
So với ngươi thì thế nào?
Dực Thiện vội nói:
Trương công tử đại tài sao lại ta có thể so sánh được.
Câm miệng, ta không có hỏi ngươi.
Đổng Tổ Thường quát, không chút nể mặt.
Trương Nguyên nhìn sắc mặt trắng bệch của Dực Thiện, hắn vốn có thể không thèm để ý tới câu hỏi của Đổng Tổ Thường, nhưng vì Dực Thiện, hắn vẫn phải trả lời, thản nhiên nói:
Dực Thiện huynh tài học hơn ta.
Đây là lời nói thật, bát cổ văn của Dực Thiện có lẽ hơi thua kém hắn, nhưng gã đọc nhiều sách cổ, thư pháp tinh diệu.
Đổng Tổ Thường cười ha hả, hỏi:
Trương Nguyên, ngươi có biết hắn là ai không?
Trương Nguyên nói:
Mặc kệ huynh ấy là ai, ta kính trọng chính là tài học của huynh ấy. Đổng Tổ Thường, Dực Thiện huynh mạnh hơn ngươi gấp vạn lần, ngươi ngoại trừ cả ngày đem tên cha ngươi treo bên miệng ra, thì còn có bản lĩnh gì khác không?
Đổng Tổ Thường giận dữ, cao giọng nói:
Hắn là gia nô của Đổng thị ta. Trương Nguyên, ngươi cũng chỉ xứng xưng huynh gọi đệ với gia nô của Đổng thị ta mà thôi.
Rồi gã quay sang Dực Thiện nói:
Tông Hiền, gọi lại tên tiểu tử này một câu Giới Tử huynh đi!
Dực Thiện họ Tông tên Hiền, tự Dực Thiện, cha mẹ là gia nô của Đổng thị, cho nên gã vừa ra đời thì cũng đích thị là nô bộc của Đổng thị. Tông Dực Thiện thuở nhỏ dĩnh ngộ, Đổng Kỳ Hưng cho gã hầu hạ ở thư phòng. Tông Dực Thiện mưa dầm thấm đất, tập viết được nhiều chữ đẹp, đọc được nhiều sách hay, công danh sinh đồ của Đổng Tổ Thường chính là do Tông Dực Thiện thi hộ mà có được. Tông Dực Thiện bắt chước bút tích của Đổng Kỳ Hưng để đánh tráo bài. Đổng Kỳ Hưng mặc dù không làm ăn gì ở Tùng Giang, nhưng giao lưu rộng, thư tín mỗi ngày tới hơn mười bức. Những bức không quan trọng lắm đều do Tông Dực Thiện viết thay, có cầu đề thơ viết lưu niệm. Đổng Kỳ Hưng xem địa vị thân phận đối phương, thân phận địa vị không tôn quý cũng do Tông Dực Thiện viết thay. Đổng Tổ Thường thúc giục nói:
Tông Hiền, lại gọi một tiếng Giới Tử huynh đi!
Tông Dực Thiện cúi đầu, trong lòng vô cùng căm uất, gã là thân phận nô bộc, có giao du với ai thì cũng đều bôi nhọ người đó. Đổng Tổ Thường chính là muốn mượn gã để làm nhục Trương Nguyên. Trương Nguyên nói:
Dực Thiện huynh, ta kính trọng chính là tài học của huynh, nếu như huynh lại tới Sơn Âm, ta vẫn sẽ quét dọn giường chiếu như cũ để đón chào huynh.
Rồi hắn chắp tay:
Sau này còn gặp lại.
Hắn quay qua nói với ba người là tiểu quan của Chức Tạo thự, Mục Chân Chân và Vũ Lăng:
Chúng ta đi thôi.
Đổng Tổ Thường thấy Trương Nguyên điềm nhiên như không có chuyện gì định bỏ đi, y đâu chịu buông tha, lớn tiếng nói:
Khoan đã, Trương Nguyên ngươi có biết người này là ai không?
Đi theo Đổng Tổ Thường từ trong chùa Tịnh Từ đi ra ngoại trừ Tông Dực Thiện, còn có một người giúp việc khoảng hơn ba mươi tuổi, đầu đội mũ huyền la, mặc áo dài, giày tất sạch sẽ, cốt cách tráng kiện, sắc mặt hơi đen, cằm trái còn có một nốt ruồi xanh, ánh mắt độc ác, vừa nghe Đổng Tổ Thường nói như vậy, gã vội nói:
Nhị công tử, không cần nói tính danh của tiểu nhân.
Đổng Tổ Thường thấy Trương Nguyên không ừ hữ gì, chỉ nhăm nhăm bỏ đi, liền nói:
Sợ cái gì, ta phải cho hắn biết.
Rồi y lớn tiếng nói tiếp:
Trương Nguyên, hắn là Trần Minh, chắc là ngươi đã nghe qua rồi. Đúng vậy, hắn ban đầu là người của Thanh Phổ Lục thị, giờ tìm đến Tùng Giang Đổng thị của ta để nương tựa rồi. Ta ban đầu còn không biết Thanh Phổ Lục thị có quan hệ thông gia với ngươi, hai tháng trước mới biết được đấy. Trương Nguyên, ngươi nghe rõ cho ta, ta đã phái người báo cho Lục Triệu, chỉ cần lão ra lệnh cho đứa con Lục Thao bỏ vợ, thì ta sẽ không truy cứu chuyện hai trăm mẫu ruộng dâu.
Bị Trương Nguyên đạp một cước là nỗi nhục lớn của Đổng Tổ Thường, thù này không báo thì y tức giận không chịu được. Đó là lý do mà Đổng Tổ Thường luôn tìm mọi cách đả kích Trương Nguyên. Tháng trước y cũng đích xác phái người đi nói với Lục Triệu về việc này. Lục Triệu vẫn chưa trả lời.
Trương Nguyên giận dữ, nói nhỏ với Mục Chân Chân:
Hãy đánh ngã tên Trần Minh kia cho ta, ta muốn tóm gã lên gặp quan, đừng để gã chạy mất.
Chương 186: Đánh tàn bạo Đổng Tổ Thường (2)
Mục Chân Chân gật đầu một cái, tay phải đặt nhẹ bên ngoài đùi lớn, qua lớp quần vải sờ đến tiểu bàn long côn — Trương Nguyên xoay người chậm rãi đến gần Đổng Tổ Thường, Mục Chân Chân đi theo phía sau, Trương Nguyên nói:
Đổng công tử, oan gia nên giải không nên kết, ngày đó chúng ta chỉ có hiểu lầm nhỏ, để liên lụy đến người nhà tỷ tỷ của ta thì thật không hay.
Đổng Tổ Thường thấy Trương Nguyên chịu nhún, mừng rỡ, cười lạnh nói:
Hiểu lầm nhỏ ư? Nhưng ngươi đá ta một cước, cước đó độc lắm.
Trương Nguyên hỏi:
Vậy Đổng công tử muốn thế nào mới bằng lòng hóa giải việc này?
Đổng Tổ Thường nói:
Ngươi để cho ta tát hai cái, đá một cước, rồi giao hồ tỳ này cho ta coi như đền tội thì ta không truy cứu nữa, chuyện trước kia cho coi như xong.
Đổng Tổ Thường đang đắc ý nói bỗng nghe Trương Nguyên hét lớn một tiếng:
Đánh!
Trương Nguyên ngày thường luyện Thái Cực Quyền nên nhanh nhẹn hơn nhiều so với các thư sinh khác. Đổng Tổ Thường nhìn thì thân hình cao lớn, nhưng lại thuộc dạng bấy bớt vì tửu sắc. Lần trước bị Trương Nguyên bất ngờ đá một cước, lần này Trương Nguyên chợt tung chân, y vẫn không tránh đi như lần trước, vị trí cũ ở thắt lưng lại chịu tiếp một cước, y kêu đau một tiếng rồi lảo đảo lui mấy bước về phía sau.
Tên Trần Minh kia cũng biết chút võ thuật, gã tung người nhảy tới, vung quyền hướng Trương Nguyên đánh tới, nhưng lại nghe tiếng gió, một đoạn đoản côn hung hăng quất vào xương cổ tay gã, làm xương như muốn nứt ra. Trần Minh nhịn đau, tay kia vung lên để cướp đoản côn, đoản côn trườn như con rắn phút chốc gõ một phát vào đầu gã. Không đợi gã định thần lại, chân phải lại bị đánh một côn, đau buốt đến tận tim gan, chân phải của gã chống đỡ không nổi, khuỵu gối quỳ xuống, cổ gã lập tức lại bị đánh một cước thật mạnh, gã lập tức té nhào xuống đất, hai tay vừa chống định bò dậy thì bị dẫm một cước ngay sau gáy, giống như con rắn bảy tấc bị đóng đinh trên mặt đất, không ngóc lên được nữa. Gã ra sức giơ tay muốn tóm lấy lớp vải quấn mắt cá chân màu trắng như tuyết ở trên chiếc giày vải màu đen thì “ Vù “ một tiếng, xương cổ tay lại bị đánh một côn, gân cốt đau đến tê dại, gã vội vàng xin tha:
Đừng đánh, đừng đánh.
Bên kia Trương Nguyên thấy Đổng Tổ Thường lảo đảo lui về phía sau, liền xông lên tát cho y một cái thật mạnh, khiến cho Đổng Tổ Thường phun cả máu mũi ra ngoài, ngã lăn xuống đất, y vưà sợ hãi vừa tức giận gào lên:
Ngươi dám đánh ta, cha ta là Đổng Huyền Tể, quyết sẽ không tha cho ngươi.
Hòa thượng Chùa Tịnh Từ lúc này tiến đến ngăn lại nói:
Cửa Phật là nơi thanh tịnh, không được quát tháo đánh nhau.
Đổng Tổ Thường ở nhờ ở chùa Tịnh Từ, chắc là bố thí không ít tiền nhang đèn nên được vị hòa thượng này che chở bênh vực, không cho Trương Nguyên tiến lên đánh tiếp. Trong chùa lại chạy tới mấy vị hòa thượng, đỡ Đổng Tổ Thường dậy, cầm máu mũi cho hắn.
Trương Nguyên đánh đến mức đau cả tay, tay trái bóp nặn tay phải, nói:
Đổng Tổ Thường, lần trước ta đá ngươi một cước, cha ngươi Đổng Huyền Tể còn phải viết thư xin lỗi tộc thúc tổ (ông chú) của ta, ngươi lại không ăn giáo huấn, nên ta lại đánh ngươi tiếp. Về khóc lóc kể lể với cha ngươi đi thôi, còn tên Trần Minh này là đồ nô tài phản bội, ta sẽ đưa gã đi.
Vũ Lăng thông minh, đã chạy vào trong chùa tìm một đoạn dây thừng đi ra, cùng với tiểu quan Chức tạo thự trói tên nô bộc phản bội Trần Minh lại, Mục Chân Chân cầm tiểu bàn long côn đứng đề phòng.
Trần Minh kêu to:
Nhị công tử cứu nô tài, nhị công tử cứu nô tài.
Đổng Tổ Thường dùng tay áo lau máu mũi, tức giận kêu lên:
Thế này không có vương pháp gì nữa à, ban ngày ban mặt mà cướp người!
Trương Nguyên nói với các hòa thượng chùa Tịnh Từ:
Tên Trần Minh này trộm tiền bạc, khế ước của nhà tỷ phu ta rồi chạy trốn tới Đổng gia, hôm nay bị ta gặp được, ta muốn tóm gã lên gặp quan.
Rồi nói với tiểu quan Chức tạo thự:
Làm phiền ngươi đến nha phủ Hàng Châu báo cáo quan sai, dẫn tên phản nô này đi thẩm vấn.
Viên tiểu quan ‘dạ’ một tiếng, vội vàng đi ngay.
Trưởng lão chùa Tịnh Từ đi ra, trưởng lão này có chút quen biết với Đổng Kỳ Hưng, chỉ nghe một tai, liền tiến lên hướng về phía Trương Nguyên nói:
A Di Đà Phật, thí chủ hành hung ở trước cửa chùa, không sợ Phật tổ trách tội sao!
Trương Nguyên vừa nghe vậy, đã biết hòa thượng này là một nhà sư không có đạo hạnh, liền hỏi:
Phật tổ vì sao phải trách tội ta?
Trưởng lão trố mắt nói:
Thí chủ hành hung đánh người, chẳng phải là tội sao?
Trương Nguyên nói:
Phàm sự việc đều có nhân quả, trưởng lão chỉ nhìn quả, không hỏi nhân, thì đại đức ở chỗ nào?
Trưởng lão này thấy Trương Nguyên đối đáp lanh lợi, liền nhìn kỹ đánh giá rồi hỏi:
Xin hỏi thí chủ tôn tính đại danh?
Dám đánh con trai của Đổng Huyền Tể hẳn không phải là hạng dân tầm thường.
Trương Nguyên nói:
Tại hạ họ Trương, người Sơn Âm — trưởng lão là bậc tu hành, chớ để ý những việc trần tục này, đợi lát nữa sẽ có quan sai đến, đúng sai đều có phán xét, con của Đổng Huyền Tể mà còn sợ gặp quan sao?
Lại có hai nô bộc của Đổng thị chạy tới, thấy Trần Minh bị trói nằm trên mặt đất, nhất thời hoảng sợ không dám tiến lên.
Ước chừng đợi gần nửa canh giờ, vài tên sai nhân của Chức tạo thự kéo Trần Minh tới phủ nha Hàng Châu, Đổng Tổ Thường có công danh sinh đồ, nên sai dịch không dám tróc nã.
Trương Nguyên nói:
Đổng Tổ Thường, cùng ta cùng đi gặp Tri phủ Hàng Châu Ân đại nhân, thế nào? Ngươi đến công đường chỉ cần báo "Gia phụ ta là Đổng Huyền Tể’ thì Ân đại nhân tất sẽ giải oan cho ngươi.
Lần trước ở Long Sơn, Đổng Tổ Thường tố với Án Sát ti Trương Kỳ Liêm rằng Trương Nguyên đá gã, cứ tưởng rằng Trương Kỳ Liêm là bạn cũ của phụ thân Đổng Huyền Tể sẽ bao che gã, không ngờ Trương Kỳ Liêm lại không chịu che chở gã. Lần này Trần Minh bị Trương Nguyên bắt đi, sự việc này dường như không được hay lắm vào lúc này, nghe có người kêu lên:
Hoàng Ngụ Dung tiên sinh tới, Hoàng Ngụ Dung tiên sinh tới.
Hoàng Nhữ Hanh ở Cư Nhiên thảo đường nghe nói công tử của Đổng Huyền Tể bị người đánh ở sơn môn chùa Tịnh Từ, giật mình kinh hãi, liền cùng đệ tử Tiêu Nhuận Sinh vội vàng qua xem sao. Tiêu Nhuận Sinh là con trai của Trạng Nguyên Tiêu Pháp, con của mình không dạy được, Tiêu Pháp liền gửi con đến học ở môn hạ Hoàng Nhữ Hanh. Tiêu Pháp hôm nay không ở Cư Nhiên thảo đường, mà đến chùa Vân Tê thăm Liên Trì đại sư.
Hoàng Nhữ Hanh có ấn tượng không tốt về Đổng Tổ Thường. Tên Đổng Tổ Thường này cầm thư của phụ thân hắn đến xin học ở môn hạ của lão, nhưng thuộc dạng ăn chơi, khi nghe giảng không tập trung, thường mượn cớ không đến, nghe nói là đi thuyền Hồ Tây ngắm hoa ngắm liễu. Đổng Tổ Thường hành tung lỗ mãng kiêu ngạo, không hòa thuận với các học sinh khác ở Cư Nhiên thảo đường. Nhưng điều khiến Hoàng Nhữ Hanh lấy làm kỳ lạ chính là: những bài tập được giao Đổng Tổ Thường đều có thể đúng hạn hoàn thành, các bài văn y làm đều khá hơn các nho đồng khác trong môn hạ.
Hoàng Nhữ Hanh yêu quý nhân tài, ba phen mấy bận nói chuyện với Đổng Tổ Thường, tận tình khuyên bảo. Đổng Tổ Thường hoặc là giữ im lặng, hoặc là nói hươu nói vượn một phen, khiến Hoàng Nhữ Hanh tức giận mặc kệ. Nể mặt Đổng Kỳ Hưng nên không đuổi y ra khỏi cửa, trong lòng thở dài:
Thật đáng tiếc, Đổng Huyền Tể có đứa con trai thông minh tuyệt đỉnh, nhưng phẩm chất lại không tốt, Đổng Huyền Tể phải nghiêm khắc dạy dỗ, bằng không Đổng Tổ Thường này sẽ là kẻ có tài mà không đức, hại nước hại dân.
Tới trước sơn môn chùa Tịnh Từ, trưởng lão ra đón nói:
Hoàng thí chủ tới vừa lúc, Tiểu Đổng thí chủ đây là học sinh của Hoàng thí chủ, bị người ta đánh bị thương, việc này Hoàng thí chủ đến xử trí đi.
Trương Nguyên thấy lão nho mặt đen nhiều râu, nét mặt cương nghị chính là Hoàng Nhữ Hanh, lập tức tiến lên chào nói:
Sơn Âm Trương Nguyên bái kiến Ngụ Dung tiên sinh.
Hoàng Nhữ Hanh “ A “ một tiếng, hỏi:
Ngươi là cháu đích tôn Trương Nguyên Trương Giới Tử của Túc Ông?
Trương Nguyên cung kính nói:
Đúng là học sinh.
Đỗ đầu cả thi huyện Sơn Âm và thi phủ Thiệu Hưng là rất nổi tiếng. Hoàng Nhữ Hanh cũng nghe qua tên Trương Nguyên, Chiết Giang Đề Học sử Vương Biên rất khen ngợi Trương Nguyên, đưa chế nghệ của Trương Nguyên cho Hoàng Nhữ Hanh xem, thật không tin chế nghệ như vậy lại là tác phẩm của thiếu niên mười sáu tuổi. Cho nên Hoàng Nhữ Hanh hôm nay thấy Trương Nguyên trẻ tuổi tuấn tú, trong sáng cởi mở thì rất lấy làm thích thú, hỏi:
Ta từng sai người đưa tin cho tộc thúc tổ ngươi, nói rằng Tiêu thái sử đang dạy học ở Nam Bình, cho Tông Tử đến học, vì sao Tông Tử không có tới?
Trương Nguyên nói:
Học sinh chưa nghe tộc thúc tổ và Tông Tử nói về việc này, hay là thư bị gửi lạc mất rồi?
Hoàng Ngụ Dung gật đầu nói:
Thư là do ta nhờ người cầm đi gửi, bị mất cũng không ngạc nhiên, nếu không Trương Tông Tử muốn lười biếng thì Túc Ông cũng phải bắt cậu ta tới, Tiêu Thái sử dạy học thật là cơ hội hiếm có. Vậy ngươi hôm nay tới đây làm gì?
Trương Nguyên nói:
Học sinh đã sớm nghe Tông Tử đại huynh nói rằng Ngụ Dung tiên sinh đức cao uyên bác, lần này có việc đến Hàng Châu liền muốn đến nghe giảng.
Bên kia Đổng Tổ Thường thấy Hoàng Nhữ Hanh tới liền hét lớn:
Tiên sinh, Ngụ Dung tiên sinh.
Hoàng Nhữ Hanh lúc này mới nhớ ra chuyện Đổng Tổ Thường bị đánh, liền nói vớiTrương Nguyên:
Ngươi tới thảo đường trước chờ ta.
Chương 187: Kiểm tra trực tiếp ở Cư Nhiên thảo đường
Nói rồi Hoàng Nhữ Hanh xoay người đi về phía Đổng Tổ Thường, Đổng Tổ Thường giờ đã được gia nhân đưa khăn lau sạch máu mũi, nhưng má trái có hằn rõ dấu tay, quả thực là bị đánh, lão liền hỏi:
]
Đổng sinh, ai đánh ngươi?
Đổng Tổ Thường tức giận chỉ Trương Nguyên:
Chính là hắn.
Hoàng Nhữ Hanh ngạc nhiên hỏi:
Trương Nguyên, thật là ngươi?
Trương Nguyên khom người nói:
Ngụ Dung tiên sinh, chi bằng đến thảo đường học sinh sẽ báo cáo ngọn nguồn sự tình với tiên sinh, học sinh đọc sách thánh hiền, biết phép tắc lễ nghĩa, sao có thể vô cớ đánh người được.
Đổng Tổ Thường cả giận nói:
Tên tiểu tử Trương Nguyên kia, chớ có bẻm mép, ngươi nho đồng mà đánh sinh đồ, hôm nay ta quyết không tha cho ngươi.
Hoàng Nhữ Hanh cau mày, thấy Trương Nguyên nho nhã lễ độ, lại là một thiếu niên thư sinh yếu đuối, đâu giống người quát tháo hung tợn. Trái lại Đổng Tổ Thường lại có thái độ hung dữ, lồng lộn gào thét, bên cạnh có mấy gia nô, nếu nói là Đổng Tổ Thường đánh Trương Nguyên thì lão tin ngay, nhưng Trương Nguyên mà đánh Đổng Tổ Thường thì kiểu gì cũng có ẩn tình.
Hoàng Nhữ Hanh nói:
Chớ nên ồn ào trước cửa chùa, hãy đến thảo đường để nói cho rõ ràng.
Đổng Tổ Thường kêu lên:
Tên tiểu tử Trương Nguyên bắt người hầu của ta đi rồi!
Trương Nguyên nói:
Bẩm tiên sinh, người hầu của Đổng sinh là Trần Minh đã bị người của Chức Tạo thự áp giải đến phủ nha Hàng Châu rồi.
Hoàng Nhữ Hanh không rõ rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, sao lại còn dính líu đến cả người của Chức tạo dệt, liền nói:
Cứ tới trước thảo đường nói cho rõ ràng.
Nói rồi cùng Tiêu Nhuận Sinh quay người đi thẳng.
Trương Nguyên và Mục Chân Chân, Vũ Lăng đi theo sau hai thầy trò Hoàng Nhữ Hanh. Đổng Tổ Thường hung tợn trừng mắt nhìn Trương Nguyên, ngẫm nghĩ một chút rồi cũng đi theo. Đoàn người đi vòng qua chùa Tịnh Từ, ven theo con đường nhỏ hẹp chỉ đi được từng người một nhằm hướng Cư Nhiên thảo đường ở hướng tây đi tới. Cư Nhiên thảo đường ở dưới đình Cư Nhiên, đình Cư Nhiên ở bên ngoài động hoa sen, thạch nhũ trong động đẹp lung linh, nhìn tinh xảo hơn điêu khắc, cảnh trí tuyệt đẹp. . .
Thảo đường có năm gian: gian chính giữa rất rộng rãi, hai mặt phía nam và phía bắc không xây tường, đây là nơi dạy học thường ngày, có thể chứa được hai mươi đến ba mươi người nghe giảng, lúc này có hơn mười sĩ tử đang chờ.
Hoàng Nhữ Hanh vào gian thảo đường ở bên trái rồi ngồi xuống. Trương Nguyên, Đổng Tổ Thường đi vào đứng thẳng. Mục Chân Chân, Vũ Lăng và người hầu của Đổng thị đều chờ ở bên ngoài thảo đường, chỉ không thấy Tông Dực Thiện đâu.
Hoàng Nhữ Hanh nhìn Trương Nguyên điềm tĩnh tự nhiên và Đổng Tổ Thường đang nổi giận đùng đùng, lão mở miệng nói:
Hai người các ngươi ai nói trước?
Đổng Tổ Thường nói:
Tiên sinh cũng đã thấy rồi, Trương Nguyên ẩu đả ta.
Hoàng Nhữ Hanh mắt nhìn Trương Nguyên, chờ đợi Trương Nguyên giải thích, đã thấy Trương Nguyên nói:
Tiên sinh, vị Đổng công tử này cũng theo học ở môn hạ của tiên sinh sao?
Hoàng Nhữ Hanh “ Ừ “ một tiếng rồi nói:
Ta sẽ đối xử bình đẳng, theo lẽ công bằng, ngươi không cần e dè.
Lại nghe Trương Nguyên nói:
Tiên sinh, học sinh có một thỉnh cầu, muốn có vinh dự đọc một bài văn của Đổng sinh, việc này có liên quan lớn đến việc Đổng sinh bị đánh, mong tiên sinh chấp thuận.
Hoàng Ngụ Dung rất lấy làm lạ, Trương Nguyên không giải thích vì sao ẩu đả Đổng Tổ Thường, lại đề xuất muốn xem chế nghệ của Đổng Tổ Thường, còn nói có can hệ lớn lao tới việc Đổng Tổ Thường bị đánh, thật sự rất khó hiểu. Lão liền lật giở tập bài văn, tìm ra một bài văn mà Đổng Tổ Thường vừa nộp hôm trước, đề mục là câu “ Phát nhi giai trung tiết “ trong “ Trung Dung “ . Đổng Tổ Thường này làm văn rất tốt, Hoàng Nhữ Hanh mặc dù không ưa nhân cách của Đổng Tổ Thường, nhưng vẫn khen ngợi chế nghệ của y.
Trương Nguyên đón lấy cuốn văn, vừa thấy nét chữ đẹp đẽ, trong lòng liền cười lạnh:
Đây chính là nét chữ của Dực Thiện.
Hắn lại nhìn bài văn, cách viết văn khởi, thừa, chuyển, hợp và hoán chuyển chủ khách thành thục, không phải là văn phong của Dực Thiện thì là của ai?
Trương Nguyên cung kính trả lại cuốn văn cho Hoàng Nhữ Hanh rồi nói:
Tiên sinh xem văn của Đổng sinh viết, có cảm thấy người không bằng văn hay không?
Hoàng Nhữ Hanh không vui nói:
Trương Nguyên, chớ nói nhăng nói cuội, hãy nói chuyện ở trước sơn môn đi đã.
Trương Nguyên nói:
Tiên sinh, học sinh dám đoán chắc, văn của Đổng sinh đều là do người khác viết thay, người viết thay này chính là gia nô của Đổng sinh.
Hoàng Nhữ Hanh nói:
Ngươi nói là Tông Dực Thiện!
Tông Dực Thiện là người theo hầu Đổng Tổ Thường đến học. Đổng Tổ Thường đi học bữa đực bữa cái, nhưng Tông Dực Thiện không bao giờ vắng mặt, bởi vì là người hầu của Đổng thị nên Hoàng Nhữ Hanh cũng không khiến anh ta làm bài tập, chỉ có một lần lão hỏi “ Tức tâm tức lễ “ thì các học trò đang ngồi đều phân tích không rõ, Hoàng Nhữ Hanh thấy ánh mắt Tông Dực Thiện sáng ngời, liền cho Tông Dực Thiện trả lời. Tông Dực Thiện đáp:
Cái từ trong mà ra gọi là lễ: cái từ ngoài mà vào gọi là phi lễ. Cái từ trời rơi xuống gọi là lễ, cái đạt được từ người khác gọi là phi lễ. Không học, không nghĩ, không lo, không nỗ lực, không nhìn được, không biết mà tới thì gọi là lễ; tai nghe mắt thấy, tâm tư suy đoán, mô phỏng bắt chước người khác mà tới thì gọi là phi lễ.
Hoàng Nhữ Hanh rất là tán thưởng, thầm nghĩ Đổng Huyền Tể thật sự còn tốt hơn cả Đông Hán đại nho Trịnh Huyền, ngay cả người hầu trong nhà đều biết thơ. Chỉ có điều từ đó về sau lão có hỏi nhiều lần nhưng Tông Dực Thiện đều lắc đầu nói không biết.
Đổng Tổ Thường biến sắc, kêu lên:
Nói hươu nói vượn, văn này sao lại là nô bộc làm, thật là chuyện nực cườii!
Nói xong y cười lạnh liên tục, ra vẻ những điều Trương Nguyên nói là rất xằng bậy.
Trương Nguyên nói:
Ngụ Dung tiên sinh, học trò đề xuất việc này chỉ là muốn chứng minh Đổng sinh nhân phẩm ti tiện, cũng không cần ra đề mục khác, tiên sinh chỉ cần bảo Đổng sinh đọc thuộc lại một lần bài “ Phát nhi giai trung tiết”, học trò đảm bảo y sẽ không đọc được.
Hoàng Nhữ Hanh còn chưa mở miệng, Đổng Tổ Thường liền chỉ vào Trương Nguyên kêu lên:
Ta vì sao phải đọc cho ngươi nghe, dựa vào cái gì phải đọc cho ngươi nghe!
Trương Nguyên mỉm cười không nói, chỉ nhìn Hoàng Nhữ Hanh.
Hoàng Nhữ Hanh đã tin đến bảy, tám phần, liền nói:
Đổng sinh, đây là bài văn mấy ngày trước của trò, trò đọc thuộc lại phần phá đề, thừa đề đi.
Những bài văn mà Tông Dực Thiện viết xong, Đổng Tổ Thường đều không hề xem qua, thì sao có thể đọc thuộc phá đề, thừa đề. Y thẹn quá hóa giận nói:
Ngụ Dung tiên sinh vì sao lại giúp đỡ Trương Nguyên làm khó xử học sinh, ai mà nhớ được những bài văn đã làm trước đây chứ!
Trương Nguyên nói ngay:
Ta thì lại nhớ rõ, ta từ khi học chế nghệ tới nay tổng cộng đã viết ba trăm sáu mươi ba bài bát cổ văn, bài nào ta cũng có thể đọc thuộc, Đương nhiên, Ngụ Dung tiên sinh chưa có xem bài văn trước kia của ta nên ta cũng không thể tự chứng minh được. Nhưng người đang ở đây, muốn tự chứng minh mình trong sạch là chuyện rất đơn giản. Chi bằng thế này, mời Ngụ Dung tiên sinh ra đề, ta cùng với Đổng sinh cùng đề viết văn, nếu ta viết văn không bằng Đổng sinh, thì ta đây mặc cho Đổng sinh xử trí, có thể đưa quan phủ trị tội ẩu đả sinh đồ, nhưng nếu Đổng sinh viết không ra ….
Hắn đổi giọng, lạnh lùng nói:
Thì cái loại cặn bã này phải bị mọi người phỉ nhổ.
Đổng Tổ Thường ngoài mạnh trong yếu nói:
Ta vì sao phải cùng ngươi đánh cuộc viết văn, ngươi muốn viết văn thì tự ngươi viết.
Trương Nguyên hướng ra Hoàng Nhữ Hanh khom người nói:
Mời tiên sinh ra đề mục.
Hoàng Nhữ Hanh hỏi Đổng Tổ Thường:
Trò có cần viết văn ngay tại chỗ không?
Đổng Tổ Thường nói:
Ta hôm nay bị Trương Nguyên đánh trọng thương, làm sao còn có thể viết văn, ta chỉ xem hắn viết thôi.
Nói xong, lấy tay xoa xoa thắt lưng, càng nắn bóp thì càng đau, thật sự bị thương không nhẹ, hận tới mức nghiến răng kèn kẹt.
Hoàng Nhữ Hanh cũng muốn thử một chút tài học của Trương Nguyên, liền hỏi:
Trương Nguyên, Đổng Tổ Thường không chịu viết văn, ngươi còn đồng ý viết hay không ?
Trương Nguyên nói:
Học trò tới đây, chính là muốn thỉnh giáo tiên sinh, có cơ hội như vậy bỏ qua sao được.
Hoàng Nhữ Hanh liền đứng lên nói:
Cũng tốt, ngươi cứ ngồi đây, lấy đề mục là “ Hòa dã giả, thiên hạ chi đạt đạo dã”, viết một bài bát cổ văn dài ba trăm chữ trở lên.
Trên thư án đã có sẵn bút mực, Trương Nguyên ngay ngắn ngồi xuống, suy ngẫm một lúc lâu, rồi cầm bút viết, chỉ cần thời gian hai khắc, bài bát cổ văn dài hơn ba trăm chữ đã viết xong, hắn đứng dậy đưa bài văn còn chưa khô mực cho Hoàng Nhữ Hanh xem.
Hoàng Nhữ Hanh xem thoáng qua, gật đầu khen:
Văn hay, quả nhiên là thiếu niên tài tử, danh bất hư truyền.
Lão nhìn Đổng Tổ Thường nói:
Đổng sinh, ngươi thật sự không đồng ý viết văn? Nếu không chịu viết thì ngươi cũng không cần học ở Cư Nhiên thảo đường nữa, ta không dạy được ngươi, ngươi về Tùng Giang để Đổng Công đích thân dạy ngươi.
Đổng Tổ Thường nói:
Học sinh hôm nay thân thể đau đớn, không viết được, ngày mai lại đến viết văn.
Dứt lời, y hốt hoảng đi ra.
Đổng Tổ Thường lúc trước nổi giận đùng đùng đòi phải nghiêm trị Trương Nguyên, giờ thì hốt hoảng bỏ đi, ngay cả việc bị đánh cũng không cố truy cứu nữa, việc này chẳng khác nào không đánh đã khai. Hoàng Nhữ Hanh vốn tưởng rằng Đổng Tổ Thường phẩm hạnh tuy kém cỏi nhưng có tài, tuyệt đối không ngờ các bài văn của Đổng Tổ Thường đều do gia nô làm hộ, điều này khiến cho bậc tài học đoan chính Hoàng Nhữ Hanh vô cùng tức giận, cực kỳ khinh miệt Đổng Tổ Thường, trong lòng cũng hiểu rõ Đổng Tổ Thường đi lần này chắc chắn là sẽ không quay lại nữa.
Chương 188: Đời người có một tri kỷ là đủ
Lão lắc đầu, thầm nghĩ: “ Hiểu con không ai khác ngoài cha, Đổng Huyền Tể không thể không biết rằng con ông ta không học vấn không tài cán gì, Tông Dực Thiện là gia nô của Đổng thị, một nô bộc có tài học như vậy thì Đổng Huyền Tể cũng không thể nào không phát hiện ra, nếu đã như vậy, Đổng Huyền Tể sao lại muốn con mình bái ở môn hạ của ta, mua danh chuộc tiếng sao?
Hoàng Nhữ Hanh suy nghĩ một lát, ngước mắt thấy Trương Nguyên đứng hầu một bên, liền hỏi:
Trương Nguyên, sao ngươi biết được văn của Đổng Tổ Thường đều là sao chép?
Trương Nguyên nói:
Bẩm Ngụ Dung tiên sinh…..
Chuyện Trương Nguyên vừa đến thảo đường đã ẩu đả với Đổng Tổ Thường nếu có tranh luận cãi vã, cho dù có giành phần thắng, thì Hoàng Nhữ Hanh cũng coi hắn không ra gì. Dù sao bậc nho học như Hoàng Nhữ Hanh chắc chắn không thích nhìn thấy học trò đánh nhau. Bởi vậy trước tiên Trương Nguyên yêu cầu xem văn của Đổng Tổ Thường để chứng minh phỏng đoán của mình. Khi hắn biết được Tông Dực Thiện giỏi giang uyên bác đúng là gia nô của Đổng thị, hiện tại Tông Dực Thiện theo hầu Đổng Tổ Thường đến học ở Cư Nhiên thảo đường, Trương Nguyên liền đoán việc Đổng Tổ Thường bái Hoàng tiến sĩ, Tiêu trạng nguyên làm thầy là mua danh chuộc tiếng, nhìn bài văn “ Phát nhi giai trung tiết “ thì biết ngay mình đã đoán đúng. Trước hết, hắn không nhắc tới chuyện mình đánh Đổng Tổ Thường, mà nhằm vào việc Đổng Tổ Thường đạo văn, khiến Đổng Tổ Thường không mặt mũi nào đối mặt. Giờ đây, hắn có thể ung dung nói hết từ đầu đến cuối chuyện kết thù kết oán với Đổng Tổ Thường, từ vụ Đổng Tổ Thường vô lễ cầu hôn ở hội thả đèn Long sơn, đến chuyện tên phản nô của Thanh Phổ Lục thị trốn sang Hoa Đình Đổng thị. Mới vừa rồi gặp nhau ở sơn môn chùa Tịnh Từ, Đổng Tổ Thường lại tuyên bố lấy hai trăm mẫu rừng dâu để ép buộc Lục thị bỏ tỷ tỷ của hắn là Trương Nhược Hi, bởi vậy hắn vô cùng tức giận liền đánh nhau với Đổng Tổ Thường.
Hoàng Nhữ Hanh sau khi nghe xong, gật đầu, nói:
Ngươi mặc dù còn trẻ tuổi bồng bột, nhưng Đổng Tổ Thường cũng thực sự đáng giận, đánh thì đã đánh rồi, Đổng Tổ Thường cũng không mặt mũi nào đi kiện cáo ngươi, chắc chắn là cậu ta đã lập tức về Tùng Giang rồi. Tên phản nô Trần Minh kia cũng đã giải tới Hàng Châu phủ nha rồi đúng không?
Trương Nguyên nói:
Vâng, tên phản nô Trần Minh lấy cắp tiền bạc, khế ước của nhà chủ, tìm đến Đổng thị nương tựa. Khiến Thanh Phổ Lục thị và Hoa Đình Đổng thị đã kiện nhau lên quan, nhưng Đổng Hàn Lâm hiển nhiên thế mạnh, không những không giao trả tên phản nô, mà còn muốn chiếm rừng dâu của Lục thị.
Hoàng Nhữ Hanh nhìn Trương Nguyên một lượt từ trên xuống dưới. Từ chỗ Vương Đề Học lão được biết chuyện Trương Nguyên và Diêu Phục đấu bát cổ văn, còn nhỏ tuổi nhưng lại là nhân vật lợi hại, bèn hỏi:
Vậy ngươi định xử trí tên Trần Minh như thế nào?
Trương Nguyên nói:
Tất nhiên là do quan phủ xử trí, đây là vụ án gia nô bỏ trốn ở Thanh Phổ, nên áp giải Trần Minh về Thanh Phổ thẩm tra xử lí.
Hoàng Nhữ Hanh nói:
Chỉ cần đòi lại điền khế rừng dâu cho nhà tỷ phu ngươi là được, còn lại cũng đừng có truy cứu nữa. Dù sao Đổng công cũng là người có danh tiếng, nếu như ngươi và Đổng Tổ Thường kết thù kết oán quá sâu thì sẽ không có lợi cho việc khoa cử sau này của ngươi.
Trương Nguyên ngoài mặt vâng vâng đồng ý nhưng trong bụng thầm nghĩ:
“Mối thù này đã không thể hóa giải nữa rồi, Hoa Đình Đổng thị là tử địch của ta, ta không đánh y thì y đánh đánh ta. Đương nhiên, hiện giờ cũng thực sự không thể nghiêm trị Đổng Tổ Thường, lúc trước đấu với Diêu Phục, cũng nhiều lần gặp trắc trở. Đổng Tổ Thường là con của bậc quan thần, sao có thể so sánh với Diêu Phục. Nhưng lần này Đổng Tổ Thường đã thân bại danh liệt, về sau còn muốn mua danh chuộc tiếng cũng khó rồi, hơn nữa bắt được Trần Minh, xem như giúp lớn cho tỷ phu rồi, nhưng trước mắt còn có một việc...
Trương Nguyên nói:
Ngụ Dung tiên sinh, Đổng Tổ Thường học ở đây là giả, Tông Dực Thiện học ở đây lại là thực. Học trò và Tông Dực Thiện từng mấy bận nói chuyện với nhau, học trò kính phục tài năng của huynh ấy, hôm nay tuy biết huynh ấy là thân phận nô bộc, nhưng không hề coi thường, có câu "Hữu giáo vô loại “ (tức là dạy học thì không phân biệt loại người), Tông Dực Thiện có đại tài, lại thân phận nô bộc, thật như như thiên lý mã trong “ “ Mã thuyết “ “ của Hàn Văn Công chết trong cái máng, tiên sinh không tiếc người tài thật ư?
Trương Nguyên coi Tông Dực Thiện như bạn, nhất định phải giúp Tông Dực Thiện, hơn nữa hôm nay đã làm nhục Đổng Tổ Thường, chỉ sợ Tông Dực Thiện về sau rất khó sống ở Đổng gia.
Hoàng Nhữ Hanh trầm ngâm một lúc lâu, nói:
Ngươi đi tìm Tông Dực Thiện đến đây, ta muốn giáp mặt kiểm tra tài học của cậu ta.
Trương Nguyên rời khỏi thảo đường, các nho đồng theo học ở đây vô cùng mắt tinh tai thính, đã biết tin con trai Đổng Hàn Lâm bị đánh, Vũ Lăng lanh mồm lanh miệng đang kể chuyện xấu của Đổng Tổ Thường cho các nho đồng nghe. Các nho đồng ở thảo đường vốn không thích Đổng Tổ Thường ngang ngược, nên nghe nói Đổng Tổ Thường bị đánh, liền vỗ tay khen hay. Lúc này thấy Trương Nguyên đi ra, các nho đồng đều ngẩn người, cứ nghĩ nho đồng dám đánh Đổng Tổ Thường thì tất phải là người oai phong chí khí, không ngờ chỉ là một thiếu niên thư sinh, hắn mỉm cười chắp tay chào mọi người.
Phần lớn nho đồng ở đây đều nghe nói qua danh tiếng của Trương Nguyên, chuyện thường ngày mà họ quan tâm chính là những chuyện khoa cử như thế này. Trương Nguyên đỗ đầu thi huyện đã đành, nhưng đỗ đầu thi phủ Thiệu Hưng thì không phải là nhỏ. Giờ thấy Trương Nguyên khiêm tốn lễ phép, không hề có vẻ khoa trương thiếu niên đắc chí, các nho đồng đều tiến lên chào, tự báo quê quán và danh tính, Trương Nguyên nhớ kỹ từng người, nói:
Tại hạ cũng tới để xin học Ngụ Dung tiên sinh, xin chư vị nhân huynh về sau chỉ giáo nhiều hơn. Tại hạ muốn đi tìm Tông Dực Thiện, không biết có nhân huynh nào biết chỗ ở của huynh ấy?
Liền có nho đồng nói:
Tông Dực Thiện là thư đồng của Đổng Tổ Thường, cũng sống nhờ ở chùa Tịnh Từ, Trương huynh tìm anh ta có chuyện gì?
Trương Nguyên nói:
Bài tập của Đổng Tổ Thường ở thảo đường đều do Tông Dực Thiện làm thay, Ngụ Dung tiên sinh kêu tại hạ truyền Tông Dực Thiện đến để hỏi rõ ràng.
Lời vừa nói ra, các nho đồng đầu tiên là ngạc nhiên, sau đó ồ lên, rồi nói như Gia Cát Lượng:
Không ngoài sở liệu của ta, ta sớm đã nhìn ra Đổng Tổ Thường làm không nổi văn như thế, Tông Dực Thiện quả là hiếu học.
Đệ tử đắc ý của Hoàng Nhữ Hanh là La Huyền Phụ nói:
Đổng Tổ Thường đạo văn thật đáng xấu hổ, làm hỏng thanh của Cư Nhiên thảo đường.
Hơn mười nho đồng của học đường và ba người chủ tớ Trương Nguyên đi qua con đường đá chật hẹp, tới trước chùa Tịnh Từ, thẳng đường tới phòng khách ở phía tây của vườn chùa. Thấy vài tên nô bộc của Đổng Tổ Thường đang thu dọn hành lý chuẩn bị trở về Tùng Giang, các Tú tài vốn miệng lưỡi sắc bén, lúc này đương nhiên phải ra sức trào phúng. Đổng Tổ Thường vừa thẹn vừa giận, lại không dám nổi cáu, chỉ ra lệnh cho người hầu không cần thu dọn nữa, lập tức rời khỏi nơi này.
Có một nô bộc nói:
Nhị công tử, Tông Dực Thiện không biết đi nơi nào rồi!
Đổng Tổ Thường nói:
Mặc kệ y, chúng ta đi thôi.
Bốn người chủ tớ của Đổng thị lầm lũi ra đi trong sự châm chọc khiêu khích của các nho đồng. Trương Nguyên hỏi các vị sư trong chùa xem có vị nào nhìn thấy Tông Dực Thiện? Nhà sư nói:
Hình như ở bên Song Tỉnh đình.
Chùa Tịnh Từ vốn không có giếng, muốn lấy nước phải đi quanh hồ, xa tới vài dặm, sư tăng trong chùa rất vất vả. Cao tăng đời Tống là Pháp Huân dùng gậy tích trượng treo trước điện, hai dòng suối phun lên, vì vậy cho đào hai cái giếng, từ đó về sau không cần phải đi gánh nước quanh hồ nữa. Năm kia Chung thái giám bỏ vốn tu sửa chùa, xây mới Song Tỉnh đình. Ba người Trương Nguyên, Tiêu Nhuận Sinh và La Huyền Phụ tìm kiếm, quả nhiên gặp Tông Dực Thiện đứng ở bên Song Tỉnh đình đang xuất thần suy nghĩ.
Trương Nguyên chắp tay nói:
Dực Thiện huynh, Ngụ Dung tiên sinh gọi huynh tới có việc muốn hỏi.
Nhìn thấy Trương Nguyên, tuy rằng Đổng Tổ Thường không ở bên cạnh, nhưng Tông Dực Thiện vẫn xấu hổ như cũ. Gã đã gặp gỡ Trương Nguyên ở Thanh Phổ và Sơn Âm, khi đó Trương Nguyên không biết thân phận của gã, hai người thuần túy đàm đạo văn chương. Gã ra sức thể hiện bản sắc và tài văn của mình, nhưng hiện tại thân phận đã bại lộ, gã chỉ là một nô bộc ti tiện, mặc dù Trương Nguyên không thấy ngăn cách nhưng gã sao có thể ngang hàng đĩnh đạc nói chuyện với Trương Nguyên sao?
Sự thật tàn khốc như vậy, đẳng cấp địa vị vững chắc như thành luỹ, Tông Dực Thiện chữ nghĩa đầy bụng, tài hoa hơn người, gã khao khát được trổ tài để người khác thưởng thức. Ở Đổng phủ, gã chỉ là nô bộc, thấp kém hèn mọn, khi ngẫu nhiên một mình ra ngoài, gã liền giấu diếm thân phận, kết giao bạn bè bằng chính tài học của mình. Nhưng có rất ít người như Trương Nguyên không thẳng thắn truy vấn thân phận của hắn. Hắn xem Trương Nguyên là tri kỷ, không ngờ hôm nay gặp nhau ở đây, Tông Dực Thiện cảm giác tình bạn giữa mình và Trương Nguyên khó mà tiếp tục.
Trương Nguyên tiến lên nắm tay Tông Dực Thiện nói:
Tháng trước từ biệt ở Sơn Âm, không biết ngày nào có thể gặp lại Dực Thiện huynh. May mắn hôm nay gặp lại, lại gặp được Ngụ Dung tiên sinh, chúng ta uống vài chén rượu, đàm luận văn chương.
Tông Dực Thiện thấy Trương Nguyên nói như vậy, bỗng nhiên nhớ tới ngày ấy ở Sơn Âm, lúc từ biệt ở cầu Bát Sĩ, gã và Trương Nguyên đã đối đáp. Trương Nguyên khi đó dường đã đoán được thân phận của gã, chỉ có điều không biết gã là gia nô của Đổng thị mà thôi.
Chương 189: Luận đạo ở Nam Viên (1)
Hoàng Nhữ Hanh nhìn thấy Tông Dực Thiện, không hỏi gì khác, chỉ hỏi Tông Dực Thiện đã đọc qua những sách nào?
Nói tới sách, Tông Dực Thiện khôi phục tự tin, điểm lại từng cuốn sách mình đã học qua. Kinh, sử, tử, tập, phỏng chừng không dưới vạn cuốn. Hoàng Nhữ Hanh chọn ra hơn mười bộ sách để ra đề, Tông Dực Thiện đối đáp trôi chảy. Với Lão Trang Chu Dịch, Tông Dực Thiện dụng công chăm chỉ. Hoàng Nhữ Hanh lấy cuốn “ “ Tiêu thị dịch lâm “ “ làm chủ, chất vấn Tông Dực Thiện nhiều lần, nhưng gã rốt cuộc không chịu khuất phục.
Kỳ thi này kéo dài khoảng chừng một canh giờ, Hoàng Nhữ Hanh rất tiếc người tài, nói với Tông Dực Thiện:
Tài học của ngươi đứng đầu các đệ tử trong môn hạ của ta, chả trách những bài văn Đổng Tổ Thường không học mà nộp lên hóa ra lại là ngươi viết thay. Tài năng như ngươi mà lại thiệt thòi làm nô bộc người hầu thì thật sự làm nhục văn chương. Đợi ta bàn bạc với Tiêu thái sử, xin Đổng Hàn Lâm bỏ thân phận nô bộc cho ngươi.
Tông Dực Thiện mừng rỡ, quỳ xuống đất bái lạy, nghẹn ngào không được gì, nếu có thể bỏ được thân phận nô bộc, thì ân nghĩa đó giống như sinh gã ra một lần nữa. So với chế độ đẳng cấp hà khắc trước kia thì xã hội Vãn Minh đã có dấu hiệu buông lỏng hơn. Có một số người thân phận nô bộc tìm mọi cách xóa bỏ thân phận, tham gia khoa cử, có người đậu Tiến sĩ làm quan, điều này không phải là hiếm.
Trương Nguyên đúng là muốn xin Hoàng Nhữ Hanh xóa bỏ thân phận nô bộc cho Tông Dực Thiện. Hắn lập tức bảo Tông Dực Thiện chuyển đến Chức Tạo thự cùng ở chung với mình, rồi lại cùng nhau đi bái kiến Chung thái giám. Chung thái giám xuất thân hèn mọn, cũng ham học, rất tán thưởng tài học của Tông Dực Thiện. Nếu như Trương Nguyên muốn giúp Tông Dực Thiện, thì lão cũng tán thành. Nghe nói Trương Nguyên hôm nay lại đánh con trai của Đổng Huyền Tể, Chung thái giám cười nói:
Các ngươi đúng là oan gia ngõ hẹp, con trai Đổng Hàn Lâm cứ gặp ngươi là coi như xui xẻo, chỉ có điều như vậy e rằng Đổng Hàn Lâm không chịu từ bỏ ý đồ, lão là thầy của Thiên tuế gia cơ đấy.
Trương Nguyên nói:
Đã bị ức hiếp đến đầu rồi, chỉ có phẫn nộ mà đánh lại thôi, đời người có bạn có thù, không bao giờ có chuyện hòa hợp êm ấm.
Chiều hôm đó, Trương Nguyên tới Hàng Châu phủ nha bái kiến Tri phủ Ân Đình Xu trước. Ân Đình Xu đã sớm nghe đến danh tính của Trương Nguyên, ngay lập tức thẩm vấn Trần Minh, hỏi rõ là vụ án của Tùng Giang phủ Thanh Phổ, sai hai gã sai dịch áp giải Trần Minh đi Thanh Phổ thụ án, án liên quan đến Tùng Giang Đổng thị, Ân Tri phủ có thể phủi tay mặc kệ là tốt nhất.
Trương Nguyên xin Chung thái giám phái riêng người đi Thanh Phổ đưa tin cho tỷ phu hắn là Lục Thao, nói rõ ngọn nguồn. Việc này phải để tự Lục thị thưa kiện, hiện giờ tên phản nô Trần Minh đã bắt được, Thanh Phổ Lý Huyện lệnh sẽ phân xử cho Lục thị.