Virtus's Reader
Lẵng Lơ Tao Nhã

Chương 50: Mục 28

DƯƠNG THẠCH HƯƠNG ĐỨNG BÊN NÓI THÊM:

Dương Thạch Hương đứng bên nói thêm:

Huyện tôn, vị Trương Yến Khách công tử đây là cháu đích tôn của Trương Túc tiên sinh ở Sơn Âm, cha huynh ấy là đại danh sỹ Giang Nam Giá Sinh tiên sinh.

Tên tuổi của Trương Nhữ Sương thì không cần phải nói, sưu tầm thư họa của Trương Giá Sinh ở Giang Nam cũng rất có danh tiếng, Vương Thiện Kế cũng từng có duyên gặp qua Trương Giá Sinh một lần hồi ở kinh thành. Nếu đã là hai học trò đánh lộn với nhau, thì việc này huyện lệnh cũng không nên quản, bèn nói:

Các ngươi đều là những tú tài đọc sách thánh hiền, sao lại đánh lộn với nhau.

Tên Bặc Thế Trình đó bị đánh gãy mất hai cái răng cửa rồi, nên nói năng có chút không rõ ràng, kêu lên:

Vương huyện tôn, không phải đánh lộn, là người này cùng với nô bộc của hắn xúm vào đánh học trò, học trò không hề đánh lại.

Trương Nguyên cười nói:

Tự biết mình vô lý, bị đánh không dám trả đòn, cũng coi như ngươi còn chút lương tri, còn biết thế nào là liêm sỉ.

Đám học trò dưới công đường đều cười rộ lên.

Vương Thiện Kế vỗ khúc gỗ trên bàn, quát:

Trên công đường không được huyên náo bỡn cợt.

Rồi không đoái hoài đến Bặc Thế Trình nữa, ông ta tiếp tục thẩm vấn mấy tên gia nô nhà họ Đổng. Mấy tên gia nô đó không thừa nhận là đi đòi nợ cờ bạc, mà nói đó là món nợ do Lục Dưỡng Phương chơi bời gái gú rượu chè mà thiếu…

Trương Nguyên cười lạnh nói:

Hoa Đình Đổng thị còn mở cả kỹ viện nữa cơ đấy, vậy thì tiền vào như nước rồi còn gì.

Đám học trò và dân chúng Thanh Phổ dưới công đường lại được một trận cười vang.

Bặc Thế Trình biện hộ:

Là Lục Dưỡng Phương mượn ngân lượng của Đổng thị ta, có giấy tờ đàng hoàng, trên đó còn có dấu lăn tay của Lục Dưỡng Phương.

Vương Thiện Kế nói:

Đưa giấy vay nợ lên cho bổn huyện xem.

Bặc Thế Trình lắp bắp:

Giấy vay nợ để ở Hoa Đình, học trò không mang theo.

Trương Nguyên nói:

Chỉ dựa vào lời nói không thôi, mà dám dẫn theo đám lưu manh đến bao vây phủ đệ của cử nhân, phá cửa ném đá, Hoa Đình Đổng thị thật là không coi thân sỹ Thanh Phổ ra gì.

Quần chúng kích động, các học trò nhao nhao yêu cầu huyện tôn trừng trị đám gia nô nhà họ Đổng cùng với bọn lưu manh côn đồ. Dưới công đường, dân chúng Thanh Phổ cũng hô: “Nghiêm trị Đổng thị ác nô, nghiêm trị đám lưu manh côn đồ”. Vương Thiện Kế liên tiếp đập thanh gỗ hạ lệnh không được gây huyên náo, nhưng cũng không đàn áp được.

Huyện thừa và chủ bộ chạy qua bàn bạc với Vương huyện lệnh, tình hình này không trừng trị đám gia nô nhà họ Đổng với đám lưu manh kia một chút thì không xong, dù sao cũng chỉ là mấy tên gia nô nhà họ Đổng thôi mà, mỗi người đánh hai mươi trượng, rồi giải về Hoa Đình vậy.

Vương Thiện Kế nghĩ thầm: “Cũng chỉ còn cách đó thôi, lát nữa soạn thêm hai bức thư, gửi cho Hoàng tri phủ và Đổng Hàn lâm nói rõ sự tình vậy”.

Trương Ngạc nghe phán quyết rằng gia nô Đổng thị và đám lưu manh mỗi người bị phạt đòn hai mươi trượng thì cho rằng quá nhẹ, kêu la ầm ỹ, yêu cầu xử nặng. Lục Thao, Dương Thạch Hương cùng các học trò Thanh Phổ đều tỏ thái độ không phục. Vương Thiện Kế không có kinh nghiệm ứng phó với tình thế như thế này, chỉ đành sửa thành mỗi người phạt đòn bốn mươi trượng. Trải qua chuyện này, Huyện thừa, chủ bộ đều cảm thấy tài cán của Vương huyện lệnh này cũng chỉ đến thế mà thôi, bọn họ dường như có thể lạm quyền đôi chút. Tên môn khách Bặc Thế Trình của nhà họ Đổng đứng ở một bên, nhìn đồng bọn bị đánh đòn mà tâm hồn khiếp đảm, nghe tiếng gậy giơ lên nện xuống cùng với tiếng kêu rên đau đớn mà mặt vàng như nghệ. Lúc này gã cảm thấy mình may mắn, nhờ có chiếc khăn vải trên đầu (dấu hiệu của học trò) mà tránh được bốn mươi trượng này. Hồi trước bọn chúng cũng từng đến đòi nợ mấy lần, Lục thị đều là đóng chặn cửa lớn nhượng bộ, chẳng ngờ chuyến đi lần này lại bi thảm đến vậy, Bặc Thế Trình nghĩ thầm trong bụng: “Ta phải nhanh chóng trở về gặp Nhị công tử mới được, tên Trương Nguyên đến Thanh Phổ rồi, hắn vừa đến là chống đối với Đổng thị ngay”.

Bốn mươi trượng chắc nịch giáng xuống, người nào kẻ nấy nở hoa trên mông. Đám gia nô Đổng thị và mấy tên du côn này lúc trước đã bị đánh cho một trận ở trước cửa Lục phủ rồi, bây giờ lại bị đánh thêm bốn mươi trượng, có mấy tên trong số đó bị đánh đến gần chết rồi.

Vương Thiện Kế ra lệnh cho đội trưởng Đặng dẫn theo mấy sai dịch, áp giải mười hai tên này ra bến tàu Đại Hoàng Phổ, để bọn chúng về Hoa Đình, tới bến tàu Thành Nam thì lại thấy Trương Ngạc dẫn theo chừng mười tên gia nô tráng kiện đứng đợi ở đó, gã nói:

Đợi đã, còn có một tên chưa bị đánh đòn, sao có thể buông tha được.

Bặc Thế Trình vừa nghe là biết nhắm vào mình, miệng lưỡi lắp bắp nói:

Ta có công danh sinh đồ, ta có công danh sinh đồ.

Đội trưởng Đặng ngăn lại nói:

Trương công tử, huyện tôn đã có phán quyết, không được sử dụng tư hình nữa.

Trương Ngạc trừng mắt nói:

Tên sai dịch nhà ngươi không phải người Thanh Phổ sao, không thấy bọn ác nô Hoa Đình bắt nạt người Thanh Phổ sao?

Đội trưởng Đặng biết Trương công tử này có lai lịch, nên cũng không dám đắc tội, cười trừ nói:

Trương công tử, có thể tha thì tha cho người ta, người nhà Đổng thị đều thương tích đầy mình cả rồi, cớ gì Trương công tử còn phải làm khó bọn tiểu nhân.

Trương Ngạc nói:

Trương Yến Khách ta cứ thích làm chuyện tuyệt tình thế đấy, năm tên sai dịch các ngươi, ta cho mỗi người một lượng bạc, coi như bồi thường cho việc ta làm khó các ngươi, các ngươi cứ coi như không thấy đi.

Làm gì có ai hối lộ một cách trắng trợn như vậy bao giờ! Chẳng đợi cho đội trưởng Đặng nói thêm câu nào, Năng Trụ, Phùng Hổ đã sấn tới, ghì Bặc Thế Trình đè sấp xuống, xé rách áo bào, tụt quần xanh xuống để lộ cặp mông gầy gò. Trương Ngạc cầm lấy cây gậy nhỏ từ trong tay một tên nô bộc nhà họ Lục, đích thân hành hình, vừa đánh Bặc Thế Trình vừa nói:

Ngươi cho rằng dựa vào Đổng Kỳ Hưng là có thể tác oai tác quái sao? Ngươi cho rằng ngươi có chiếc khăn vuông trên đầu thì không ai dám đụng đến ngươi sao?

Gã ra sức đánh xuống mười mấy trượng, đột nhiên một mùi hôi thối bốc lên, thì ra là Bặc Thế Trình sợ đến vãi cả phân, Trương Ngạc ném cây gậy trong tay ném ra phía sông Hoàng Phổ, lấy tay bịt mũi, vội bước thối lui, cười mắng:

Cái tên này là chồn thành tinh sao, còn có cả chiêu này. Thôi bỏ, chúng ta đi.

Đoạn nghênh ngang rời đi.

Một nha dịch nói với đội trưởng Đặng:

Trương công tử này còn chưa đưa bạc. �ánh Đổng Tổ Thường

Chương 212: Ta có diệu kế giá ngàn vàng (1)

Lời nói vừa dứt, đã thấy Năng Trụ quay lại, đưa năm lượng bạc cho đội trưởng Đặng, nói:

Thiếu gia nhà ta nói là giữ lời.

Mấy tên sai dịch đều vui mừng hết cỡ, quát ra lệnh cho mấy người nhà họ Đổng khiêng Bặc Thế Trình lên thuyền, nhanh chóng rời khỏi Thanh Phổ.

Trương Nguyên, Lục Thao cùng với các học trò Thanh Phổ về lại Lục phủ, nhưng không thấy Trương Ngạc đâu, Lục Đại nói:

Yến Khách công tử đi đến bến tàu Thành Nam rồi, nói là có việc, còn dẫn theo mấy người đi cùng nữa.

Trương Nguyên và Trương Đại đưa mắt nhìn nhau, không nhịn nổi cười. Hai người bọn họ quá hiểu tính cách Trương Ngạc. Năm ngoái ở Sơn Âm, Trương Ngạc dẫn theo một đám người đi đuổi đánh Đổng Tổ Thường nhưng không đuổi kịp, nên rất tức tối. Lần này chắc chắn là gã lại đi đuổi đánh tên môn khách Bặc Thế Trình của nhà họ Đổng đây mà. Mặc dù lúc trước gã cũng đánh người ta rồi, nhưng trên công đường Bặc Thế Trình không phải chịu đòn, nên Trương Ngạc tức khí, nhất định là vì thế nên đuổi theo đánh bù. Lục Thao vào nhà trong bẩm báo lại sự việc hôm nay với cha mình là Lục Triệu Khôn, Lục Triệu Khôn bị liệt, chỉ có bàn tay phải có thể cử động, vỗ vỗ xuống thành ghế, luôn miệng nói:

Đánh hay lắm, đánh hay lắm…

Liễu thị ở bên cạnh lo lắng nói:

Bọn chúng trở về liệu có đánh Dưỡng Phương để trút giận không.

Lục Thao nói:

Nhị đệ đang bị nhốt ở nhà lao phủ Tùng Giang, chứ đâu có phải trong nhà Đổng thị, hơn nữa còn có người nhà họ Lục ta lo liệu bên đó, nhị đệ sẽ không phải chịu khổ đâu.

Liễu thị gật đầu nói:

Ta lo nhất là đệ đệ con, con phải mau nghĩ cách cứu nó ra mới được, tiêu tốn tiền bạc là chuyện nhỏ, quan trọng nhất là phải giữ được người.

Lục Thao nói:

Mẫu thân yên tâm, điều này con hiểu.

Lục Thao quay ra tiền sảnh, Trương Ngạc cũng đã trở về, kể lại cảnh tượng trên bến tàu, mọi người cười phá, đều khen Trương Ngạc có hiệp khí.

Trương Ngạc nói:

Đội trưởng Đặng đó nói cái gì mà “tha được cho người thì nên tha”, ta thì không tha cho một ai hết, tuyệt đối không bỏ qua.

Hai học trò người Hoa Đình là Ông Nguyên Thăng và Tưởng Sỹ Kiều nói:

Hôm nay đúng là hả dạ, xem ra cần phải liên hiệp các học trò lại gây áp lực cho quan phủ mới được.

Trương Ngạc nói:

Giờ mới trừng trị được mấy tên gia nô của Đổng thị thôi, có gì mà hả hê chứ, ngày nào phải đánh cho Đổng Tổ Thường vãi cả phân thì lúc đó mới hả dạ.

Lúc này trời đã hoàng hôn, hơn hai mươi học trò Thanh Phổ đều ở lại Lục phủ dùng bữa tối, rượu qua tam tuần, Liễu Kính Đình nói:

Các vị tướng công, tại hạ đã đem những việc ác của Đổng hoạn biên soạn thành sách truyện, để ta kể cho các vị tướng công nghe trước.

Mọi người bèn giữ yên lặng nghe Liễu Kính Đình kể chuyện. Trong cuộc hành trình năm ngày từ Hàng Châu đến Thanh Phổ, thỉnh thoảng Liễu Kính Đình lại ngồi một mình, cầm cuốn “ Đổng hoạn ác hành lục “ do Trương Nguyên viết, tập trung suy nghĩ, hôm nay rốt cục cũng cải biên xong và ghi nhớ cả. Bây giờ kể lại một cách rõ ràng mạch lạc những hành vi hung dữ gian ác của cha con chủ tớ nhà họ Đổng, rồi nỗi oan khuất bi phẫn của những người dân bị hại, tất cả đều hợp tình hợp lý, ngấm vào tận xương tủy, khiến người ta nghe thấy phải tức giận. Trương Ngạc đập bàn mắng chửi Đổng Kỳ Xương, hai học trò Hoa Đình là Ông Nguyên Thăng và Tưởng Sỹ Kiều lòng đầy căm phẫn, nói với Trương Nguyên:

Giới Tử huynh, ngày mai hai người bọn ta về Hoa Đình trước để liên lạc với các học trò, đợi các huynh đến là nhất tề tố cáo Đổng thị lên tri phủ, yêu cầu trừng trị Đổng Tổ Nguyên, Đổng Tổ Thường, cùng với bọn ác nô của chúng.

Trương Ngạc hỏi:

Sao lại không đề cập đến việc trừng trị Đổng Kỳ Xương?

Ông Nguyên Thăng nói:

Đổng Kỳ Xương là trí sỹ Hàn Lâm, rất khó trị tội, có thể trừng trị hai đứa con trai lão ta và đám ác nô là tốt lắm rồi.

Tưởng Sỹ Kiều nói:

Đổng Kỳ Xương đã sáu mươi tuổi rồi, chẳng sống được mấy năm nữa, cứ để ông trời trừng trị lão ta.

Trương Nguyên thầm nghĩ: “Sử sách ghi chép lại là Đổng Kỳ Xương sống đến hơn tám mươi hai tuổi, bây giờ mới sáu mươi, còn sống khỏe hơn hai mươi năm nữa”. Nghĩ đoạn hắn nói với Liễu Kính Đình:

Kính Đình huynh, huynh kể chuyện không cần kể đích danh cha con Đổng Kỳ Xương, có thể dấu tên chúng đi, mượn chuyện của thời khác mà kể, như vậy có thể tránh được những phiền toái không cần thiết.

Trương Đại gật đầu nói:

Giới Tử nói đúng, dù sao chỉ cần những chuyện cụ thể được kể ra, thì người nghe sẽ biết ngay là việc xấu của cha con nhà họ Đổng, không cần phải nói rõ tên họ.

Liễu Kính Đình hiểu là Trương Nguyên, Trương Đại làm vậy là để bảo vệ cho y, bọn Trương Nguyên là học trò có công danh, còn Liễu Kính Đình y chỉ là một người kể chuyện lưu lạc giang hồ, nếu Đổng Kỳ Xương kiện y tội phỉ báng thân sỹ thì y ắt phải chịu khổ. Nhưng Liễu Kính Đình không sợ, cùng lắm là mai danh ẩn tích, lánh đến vùng khác thêm một lần nữa thôi. Trương Ngạc lại cho rằng, kể chuyện mà không chỉ đích danh cha con Đổng Kỳ Xương thì không thỏa, Trương Nguyên phải giải thích với hắn:

Việc này cũng giống như chuyện “ Kim Bình Mai “ lấy cớ là kể về thời Tống, nhưng nhân tình thế thái, không có tình tiết nào là không nhắm vào Đại Minh sau những năm Gia Tĩnh.

Trương Ngạc thích “ Kim Bình Mai “ nhất , cười nói:

Thì ra là thế, hay!

Buổi sáng ngày mười sáu tháng năm, chủ tớ Kim Lang Chi, Ông Nguyên Thăng, Tưởng Sỹ Kiều lên thuyền rời khỏi Thanh Phổ trở về Hoa Đình. Bọn Trương Nguyên, Lục Thao ra tận bến tàu tiễn chân, Trương Nguyên nói:

Kim huynh, các huynh về Hoa Đình liên lạc với các học trò cứ nên cẩn thận bí mật một chút là tốt hơn cả, tạm thời đừng xung đột trực diện với nhà họ Đổng, tránh bị chúng phản đòn.

Kim Lang Chi nói:

Bọn ta hiểu, khi nào thì Giới Tử huynh đến Hoa Đình?

Trương Nguyên nói:

Trong vòng bảy ngày nữa sẽ tới.

Kim Lang Chi nói:

Được, ta sẽ chuẩn bị sẵn sàng nghênh đón.

Sau khi tiễn ba người Kim Lang Chi xong, Lục Thao, Trương Đại, Trương Nguyên, Trương Ngạc cùng đi đến Dư Sơn kiểm tra rừng dâu và ruộng bông của nhà họ Lục. Đây là ý của Trương Nguyên. Trương Nhược Hi cũng đòi đi cùng, Trương Nhược Hi sắp tới sẽ giúp phu quân Lục Thao quản lý ruộng dâu và nghề dệt của gia tộc họ Lục.

Dư Sơn nằm cách huyện thành Thanh Phổ mười lăm dặm về hướng nam, sáu trăm mẫu rừng dâu ở đó là vùng sản xuất dâu tằm chính của nhà họ Lục, còn có năm trăm mẫu ruộng bông nữa. Ở phía chân núi phía bắc, nhà họ Lục có bảy mươi hộ trồng bông, tám mươi hộ nuôi tằm, hai trăm hai mươi hộ dệt, còn có tổng cộng hai trăm sáu mươi cỗ các loại máy móc nghề dệt như máy phun thêu, đánh bông, trộn bông và máy dệt. Xét về máy móc thiết bị nghề dệt là đứng đầu Thanh Phổ. Mỗi năm bán ra hơn mười ngàn tấm vải bông và lụa các loại. Trong số các loại tơ lụa mà nhà họ Lục sản xuất ra, có đến một phần ba là những sản phẩm tinh xảo ứng dụng kỹ thuật máy phun thêu, loại tơ lụa phun thêu này, mỗi tấm có thể bán được hai ba mươi lượng bạc. Nghề nuôi tằm dệt lụa của nhà họ Lục mỗi năm lãi ròng không dưới mười ngàn lượng bạc trắng, nhưng từ cuối năm ngoái đến nay, gia nô Đổng thị và đám lưu manh du côn không ngừng đến sơn trang của Lục thị ở Dư Sơn quấy nhiễu, các hộ trồng dâu nuôi tằm, với nông dân trồng bông cũng đã tổ chức thanh niên tự vệ, nhưng bọn lưu manh đó ít nhiều cũng có chút võ nghệ, thủ đoạn lại tàn độc, thấy người đông thì chạy, người ít thì đánh. Các hộ trồng dâu nuôi tằm, và trồng bông trong trang viên lại không đồng tâm hiệp lực với nhau, gặp chuyện không ai dám đứng lên trước, khiến cho việc nuôi tằm vụ thu năm ngoái và vụ xuân năm nay của nhà họ Lục bị ảnh hưởng nặng nề, bây giờ không đủ tơ để cung cấp cho máy dệt. Phía đông nam của Dư Sơn chính là nơi giáp ranh với huyện Hoa Đình, Hoa Đình Đổng thị có thể lợi dụng điều đó mà cho đám lưu manh đến hành hung bất cứ lúc nào. Phụ nữ và trẻ em của những hộ trồng dâu nuôi tằm, trồng bông trong sơn trang còn không dám bước chân ra khỏi cổng lớn của sơn trang, đã có hộ tằm chuẩn bị rời khỏi Lục thị, về đầu quân cho gia tộc khác ở Thanh Phổ, điều này cũng nằm trong âm mưu của Đổng thị. Điều Đổng thị muốn là làm cho sơn trang nhà họ Lục không được yên ổn, ép Lục thị nhượng lại sáu trăm mẫu rừng dâu này. Trương Nguyên, Lục Thao cùng đi đến sơn trang ở mạn bắc chân núi Dư Sơn, Trương Nhược Hi cùng với mấy bà vú và nô tỳ vào trong trang viên dặn dò người chuẩn bị cơm nước, còn Lục Thao dẫn bọn Trương Nguyên đi thăm xung quanh trang viên.

Lục thị có hơn hai ngàn mẫu ruộng tốt, hơn một nửa trong số đó dùng để trồng dâu, trồng bông, lợi ích thu được từ nuôi tằm trồng bông lớn hơn nhiều so với trồng lúa. Phủ Tùng Giang là kinh đô bông của triều Đại Minh, được xưng tụng là “Y bị thiên hạ” (nơi làm ra chăn và áo cho cả thiên hạ), thu lời rất lớn từ nghề nuôi trồng. Đây cũng chính là nguyên nhân chính của việc tuy Giang Nam trù phú, nhưng một khi gặp phải thiên tai thì lương thực không đủ ăn. Ruộng đồng đương vụ, xanh ngắt một màu, sườn núi bằng phẳng phía tây Dư Sơn chính là rừng dâu và vườn chè của nhà họ Lục, trên đỉnh núi là từng khoảng rừng trúc lớn. Ánh mặt trời lúc gần chính ngọ chiếu xuống, rừng trúc xanh biếc một màu, phát sáng như phỉ thúy ngọc bích vậy.

Lục Thao nói:

Măng lan trúc trên núi này rất ngon, nên Dư Sơn còn có tên gọi khác là Lan Duẩn Sơn.

Trương Nguyên nói:

Nơi này thật đẹp, Đổng thị với lòng tham không đáy của chúng đương nhiên là muốn chiếm cho bằng được rồi.

Chương 212: Ta có diệu kế giá ngàn vàng (2)

Lục Thao nói:

Gia nghiệp cơ bản của nhà họ Lục ta chính là ở đây, nếu không giữ được sáu trăm sáu mẫu rừng dâu này, thì những hộ trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa trong trang viên sẽ rời đi, gia nghiệp Lục thị sẽ lụi bại. Đây cũng chính là nguyên nhân mà cha ta không chịu dùng sáu trăm mẫu rừng dâu để đổi Nhị đệ ta ra ngục, chứ nếu chỉ là sáu ngàn lượng bạc, thì cha ta cũng cắn răng mà đưa cho rồi.

Đang nói chuyện, thì thấy từ trong rừng dâu dưới chân núi có một đám thiếu nữ hái dâu chạy ra, người nào người nấy mặt mày hớt hải, chạy thục mạng, tóc tai rối bời, chạy rơi cả giày, chiếc gùi trúc trên lưng cũng vứt luôn, vừa chạy vừa hô “cứu tôi với, cứu tôi với”.

Lục Thao cả kinh nói:

Chuyện gì vậy!

Nói đoạn sải bước lao tới, Lục Đại và mấy gia nô nhà họ Lục cũng vội theo sát. Ba huynh đệ Trương Đại, Trương Ngạc, Trương Nguyên với cả mấy người hầu như bọn Năng Trụ, cùng cha con Mục Kính Nham, Mục Chân Chân cũng cùng nhau chạy theo. Đám thiếu nữ hái dâu đang lảo đảo chạy ra khỏi rừng dâu, thấy bọn Lục Thao thì kêu thét lên:

Đại thiếu gia, bọn lưu manh đó lại đến nữa, bọn chúng đuổi theo bọn ta…

Một thiếu nữ khác nhìn thấy Lục Thao thiếu gia đến tiếp ứng thì có phần yên tâm, vội đảo mắt nhìn quanh các bạn, rồi vội nói:

Đại thiếu gia, Tiểu Bình nhà Phúc Quý và A Hà nhà Liên Vinh còn chưa chạy được ra, sợ là bị bọn lưu manh đó bắt lại rồi, Đại thiếu gia mau đi cứu hai người bọn họ đi, bọn lưu manh đó là đám súc sinh, việc gì chúng cũng có thể làm được đấy.

Lục Thao vội lệnh cho Lục Đại về trang viên triệu tập người, mang theo gậy gộc đến, bọn lưu manh đó đều có mang theo gậy gộc với đao nhọn, những tá điền tay không không phải là đối thủ của chúng. Mục Kính Nham nói với Trương Nguyên:

Thiếu gia, cứu người quan trọng, tiểu nhân chạy đi xem trước.

Nói đoạn nhảy lên, bẻ lấy một cành dâu to chừng bắp tay, tay cầm cành dâu sải từng bước lớn tiến vào trong rừng dâu.

Mục Chân Chân cúi người lấy cây Tiểu Bàn Long côn dưới váy ra, nói với Trương Nguyên:

Thiếu gia, nô tỳ đi giúp cha một tay.

Nói đoạn cũng lao đi.

Bốn người bọn Năng Trụ, Phùng Hổ cùng với Trương Đại, Trương Ngạc, Trương Nguyên cũng đi vào rừng tìm kiếm hai cô gái hái dâu nọ.

Lục Thao hỏi cô gái hái dâu mới chạy ra là gặp bọn lưu manh ở chỗ nào? Cô gái nói:

Gặp bên chỗ đồi chè.

Lục Thao bèn đuổi theo đám người Trương Nguyên, vừa đuổi vừa gọi:

Giới Tử, đi theo bên trái, cách đây khoảng chừng hơn một dặm, bên chỗ đồi chè ấy.

Mục Chân Chân nghe thấy, cất giọng gọi cha nàng:

Cha, cha, đi sang trái một dặm có đồi chè, ở bên đó đấy.

Mục Kính Nham lao đi trong rừng như một con mèo, chạy được chừng hơn mười trượng thì nghe thấy phía trước có tiếng nữ tử kêu lên sợ hãi:

Cứu mạng, buông ta ra, buông ta ra.

Còn có tiếng cười tà dâm của nam giới:

Các anh mày hôm nay có trò vui rồi.

Mục Kính Nham bước nhanh hơn, nhắm hướng phát ra tiếng nói lao đến, thì thấy trên một khoảnh đất trống trong rừng, bảy tám tên đang hú hét vây quanh hai thiếu nữ hái dâu. Một trong hai nàng đã bị hai tên lang sói ấn đè xuống nền cỏ, chiếc váy xanh của nàng đã bị vén lên, hai chân trống trơ đá đạp loạn xạ, liều chết giãy giụa. Một tên bèn thẳng tay giáng cho nàng một cú bạt tai, quát:

Còn dám cựa ta sẽ giết ngươi, chặt làm tám khúc.

“”Vù” một tiếng, cành dâu với cả lá quét ngã một tên lưu manh, Mục Kính Nham bước nhanh tới, giẫm bàn chân mang giày cỏ lên cẳng chân của tên lưu manh đang ngã trên đất đó, “rắc” một tiếng, lão giẫm gãy xương cẳng chân của tên lưu manh đó. Mấy tên còn lại cũng kịp có phản ứng, tên nào tên nấy vung gậy, vung đao nhọn lên, còn hai tên ghì chặt cổ hai thiếu nữ hái dâu, kéo lui về phía sau, vừa lui vừa quát:

Ngươi là ai, dám ra tay với dân đánh thuê Tùng Giang bọn ta, muốn chết sao!

Mục Kính Nham không nói không rằng, nâng cao cành dâu vững chãi ép tới, ba tên lưu manh cầm Tề Mi côn hú lên giận giữ xông lên, tiếng côn xé gió lao tới, chia làm ba ngả, giáng xuống người Mục Kính Nham. Mục Kính Nham vội né sang trái, tránh được hai người bên trái, còn cành dâu trong tay đánh bật cây côn từ bên phải đánh tới, đoạn xoay người xấn tới trước một bước, ra sức đánh tới, một đòn trúng ngay giữa mặt tên lưu manh nọ, khiến hắn rách mặt chảy máu, nếu vật trong tay Mục Kính Nham là Tiêu Bổng, thì e tên nọ đã bị đánh gãy xương sống mũi. Mục Chân Chân đuổi theo đến, thấy cha mình đang giao thủ với mấy tên lưu manh, nàng rất thông minh, nhìn thấy hai thiếu nữ hái dâu đang bị uy hiếp, bèn lẳng lặng từ trong rừng, đi vòng tới đằng sau hai tên lưu manh, rồi đột ngột nhảy ra. Cây Tiểu Bàn Long côn trong tay nàng đánh tới, nghe một tiếng “bốp”, trúng ngay cẳng chân của tên đứng bên trái, cái đau ở xưong cẳng chân quả thực hết sức khó chịu, tên lưu manh nọ kêu lên một tiếng, ngồi thụp xuống lấy tay ôm chân. Mục Chân Chân khẽ xoay cổ tay, liền ngay sau đó lại giáng thêm một côn trúng ngay đầu tên đó, khiến hắn và thiếu nữ bị uy hiếp cùng ngã xuống đất. Tên còn lại hoảng kinh quay lại, ánh côn chớp tới, hắn ăn ngay một côn vào giữa mặt, xương mũi gãy dập, máu chảy dầm dề, đưa tay lên bịt mũi, thiếu nữ bị uy hiếp bèn được Mục Chân Chân kéo về phía nàng. Cây Tiểu Bàn Long côn trong tay Mục Chân Chân lại quét tới một lần nữa, quét trúng gối phải của tên lưu manh nọ, khiến hắn ngã quỵ xuống đất, hai tay bịt mặt kêu rên.

Thiếu nữ bị tên lưu manh ngã đè lên người kêu thét lên, đẩy cái thân xác nặng trịch kia ra, nhưng nàng ta quá đỗi sợ hãi, chân tay mềm nhũn, không đẩy nổi. Mục Chân Chân bước qua, vung chân đá tên lưu manh đó văng ra, chìa tay kéo thiếu nữ hái dâu dậy, an ủi:

Tỷ tỷ đừng sợ, không sao rồi, không sao rồi.

Trong lúc Mục Chân Chân vòng sang bên này để cứu hai thiếu nữ, thì bọn bốn người Năng Trụ, Phùng Hổ cũng đã đuổi kịp đến, dọc đường bẻ lấy cành cây làm vũ khí, cùng với Mục Kính Nham, chỉ trong chốc lát đã đánh gục hết sáu tên lưu manh.

Một trong hai thiếu nữ hái dâu giận dữ kích động, nhặt lấy một cây Tề Mi côn, đánh tới tấp vào bọn lưu manh. Có hai tên đánh thuê còn mạnh miệng đe dọa, Năng Trụ, Phùng Hổ bước tới, dùng cành cây đánh tới tấp vào miệng chúng, đánh đến mức miệng chúng đầy máu…

Ba anh em Trương Nguyên lúc này cũng đến, Trương Ngạc nói:

Kém vậy sao, gục hết rồi sao!

Nói đoạn giành lấy cành cây trong tay Phùng Hổ, đánh xuống tới tấp.

Lục Thao dẫn theo mấy tên nô bộc, thở hồng hộc chạy đến, hai thiếu nữ hái dâu nọ cuối cùng cũng nhìn thấy người quen, vội chạy tới khóc lóc:

Đại thiếu gia, cái bọn lưu manh này, hu hu hu…

Lục Thao hỏi:

Các cô không bị thương đấy chứ?

Hắn lo sợ là hai cô gái này đã bị làm nhục.

Mục Kính Nham nói:

Lục thiếu gia, bọn họ không bị thương, bọn ta đến vừa kịp.

Tiếng hô hoán vang rần, những thanh niên trai tráng của các hộ trồng dâu nuôi tằm, trồng bông trong Lục trang viên cầm gậy gộc cuốc xẻng chạy tới, một hán tử vừa chạy vừa lo lắng gọi to:

Tiểu Bình…

A Hà

Hai thiếu nữ Tiểu Bình, A Hà kêu lên:

Cha, cha.

Rồi chạy đến bên hai người đàn ông nọ thuật lại mọi chuyện.

Mười mấy người tá điền vây quanh tám tên lưu manh nọ mà đánh, nếu không có Lục Thao, Trương Nguyên hô ngừng, thì đám tá điền giận giữ đã đánh chết tám tên đó tại trận.

Các tá điền dùng dây thừng trói tám tên côn đồ lại, kéo về trang viên như kéo một đám chó chết. Đám côn đồ này không hề biết việc bọn Bặc Thế Trình bị đánh đòn ở huyện nha Thanh Phổ ngày hôm qua. Hôm nay bọn chúng buồn chán không có việc gì làm, nên sang bên Dư Sơn hiếp đáp đám tá điền nhà họ Lục cho vui, gặp mấy thiếu nữ hái dâu thì đuổi theo trêu chọc, vốn còn định cưỡng hiếp nữa. Lục Thao chẳng kịp dùng cơm trưa, cùng với đám nô bộc và tá điền, dẫn độ tám tên côn đồ này đến huyện nha, Trương Ngạc dẫn theo Phùng Hổ, Năng Trụ đi theo xem náo nhiệt.

Trương Nguyên ở lại, hắn còn muốn thăm quan những hộ dệt và máy dệt của Lục thị một chút. Mục đích của hắn khi đến trang viên của Lục thị là để xem máy dệt, chẳng ngờ lại gặp lúc bọn côn đồ đến càn quấy. Theo như lời kể của các hộ nuôi tằm trong trang viên, thì Đổng thị ở Hoa Đình thuê bọn du côn này, cứ cách dăm ba bữa lại đến quấy nhiễu xung quanh trang viên, làm đủ mọi chuyện ác ôn như đánh người, cướp của, trêu chọc phụ nữ. Trương Nhược Hi tức giận đến mức toàn thân run rẩy, nói:

Hoa Đình Đổng thị thật đê tiện bỉ ổi, lại đi dùng thủ đoạn đê tiện như thế này để bức bách hòng chiếm điền sản nhà họ Lục ta.

Trương Nguyên nói:

Tỷ tỷ chớ tức giận mà hại đến sức khoẻ, những việc ác của Đổng thị sắp đến hồi kết thúc rồi, sau này sẽ không có du côn vô lại sang đây làm càn nữa đâu.

Sau khi dùng cơm trưa xong, Trương Đại, Trương Nguyên đi theo Trương Nhược Hi đến thăm quan các hộ dệt, Trương Nguyên hoàn toàn mù tịt về máy dệt, nhưng thấy máy dệt mà các hộ dệt của Lục thị sử dụng có chút phức tạp, mỗi máy cần đến bốn năm người thao tác. Đầu tiên là họa sỹ vẽ mẫu lên giấy trước, sau đó thợ dệt sẽ sắp xếp đan xen hàng ngàn hàng vạn sợi chỉ phức tạp trên máy dệt lại theo một quy luật nhất định, mấy chục loại nút kết được sắp xếp ngang dọc một cách có trình tự, tạo thành hình hoa văn hoàn chỉnh, kết xong hình hoa văn rồi mới cho lên máy để dệt. Thợ dệt và thợ sắp xếp hoa văn phối hợp với nhau, căn cứ theo sự biến đổi của mẫu vẽ mà luồn từng sợi chỉ qua. Những hoa văn tuyệt đẹp dần hiện lên, đây chính là kỹ thuật dệt in, Trương Nguyên nhìn mà muốn hoa mắt chóng mặt.

Chương 213: Thần tài Phạm Lãi là thầy ta (1)

Khoa học kỹ thuật thời Vãn Minh tương đối phát triển, điều này có thể thấy rõ qua hai tác phẩm “ Nông chính toàn thư “ của Từ Quang Khởi và “ Thiên công khai vật “ của Tống Ứng Tinh. Từ Quang Khởi là người huyện Thượng Hải, phủ Tùng Giang, Tiêu Hoành là thầy học của y trong kỳ thi hương, bây giờ có lẽ y đã nhậm chức trong viện Hàn Lâm rồi. Sau khi Trương Nguyên vào kinh, chắc là có thể gặp được sư huynh Từ Quang Khởi. Tống Ứng Tinh là người mới ở Giang Tây, năm kia khi sinh đồ Cửu Giang là Hoàng Mặc Lôi đến theo học ở Đại Thiện Tự, Trương Nguyên từng dò hỏi Hoàng Mặc Lôi về Tống Ứng Tinh, chẳng ngờ Hoàng Mặc Lôi lại nói là chưa từng nghe qua, chắc hẳn gã mới chỉ là một tú tài mà thôi. Trương Nguyên thầm nghĩ trong lòng: “Cuốn sách “ Thiên công khai vật “ là đại diện cho nền khoa học kỹ thuật Trung Quốc cổ đại vào thời kỳ thịnh vượng nhất, nhưng đến triều Thanh thì bị trở thành sách cấm phải tiêu huỷ. Nhà Mãn Thanh tiến vào Trung Nguyên, khiến nền văn minh bị đẩy lùi một cách đáng sợ.

Có những loại máy móc riêng cho từng loại vải khác nhau, có hộ dệt thì chuyên sử dụng máy lăng, có hộ thì dùng máy lụa, thao tác hết sức thành thạo, quy mô nghề dệt của trang viên Lục thị quả là không nhỏ. Trương Nguyên không hiểu biết gì về kỹ thuật dệt, nên không thể đưa ra ý kiến gì để cải tiến máy dệt, nhưng hắn có con mắt kinh doanh của người đời sau, hắn hỏi tỷ tỷ Trương Nhược Hi:

Những năm trước Lục thị tiêu thụ vải vóc, tơ lụa như thế nào?

Trương Nhược Hi nói:

Có lái buôn vải đến tận nơi thu mua.

Trương Nguyên nói:

Vậy thì giá bán chắc chênh lệch nhiều so với giá bán lẻ ngoài chợ nhỉ?

Hai chữ “bán lẻ” Trương Nhược Hi chưa từng nghe qua, nhưng cũng hiểu được ý nghĩa của nó, nàng nói:

Gần như chỉ bằng nửa giá bán lẻ.

Trương Nguyên nói:

Khoản tiền này chúng ta tự kiếm lời không phải tốt hơn sao.

Trương Nhược Hi nói:

Ở Thanh Phổ và Tô Châu, Lục thị cũng có mấy cửa hàng tơ lụa, nhưng lượng bán ra hàng năm không nhiều, chủ yếu vẫn phải trông chờ lái buôn đến thu mua với số lượng lớn.

Trương Nguyên nói:

Đệ có một cách, có thể khiến cho vải bông và tơ lụa nhà họ Lục làm ra không đủ bán.

Trương Nhược Hi biết đệ đệ mình tài trí hơn người, vội hỏi:

Cách gì?

Trương Nguyên cười nói:

Kế này của đệ đáng giá ngàn vàng, sao có thể dễ dàng nói ra được.

Trương Nhược Hi lườm đệ đệ một cái, cất giọng uy hiếp nói:

Nói mau!

Trương Nguyên nói:

Tỷ tỷ, đệ không đùa đâu, nếu Lục thị ở Thanh Phổ dùng cách này của đệ, đảm bảo không đến mười năm sẽ trở thành hộ giàu có nhất Tùng Giang. Đệ không mang tư lợi, nhưng nếu đến lúc đó, đệ cần dùng đến một số tiền lớn, thì tỷ tỷ với tỷ phu cũng đừng keo kiệt.

Trương Nhược Hi thấy vẻ mặt Trương Nguyên nghiêm túc, thì cũng tỏ ta nghiêm túc, nói:

Vậy để tối về lại trong thành, tỷ sẽ cùng tỷ phu đệ đến nghe diệu kế của đệ, thực ra nếu đệ cần dùng tiền, tỷ tỷ có thể cho đệ.

Trương Nguyên cười nói:

Đệ không dễ dụ vậy đâu, chút tiền riêng còm cõi của tỷ tỷ đệ chẳng thèm đâu.

Hai tỷ đệ cứ thế người này nhìn người kia, giống như hồi Trương Nguyên còn nhỏ, hai chị em chơi trò nhìn nhau thi xem ai chớp mắt trước vậy…

Tiết trời sau giờ ngọ nóng bức, Trương Nguyên thấy trên khoé miệng tỷ tỷ toát ra mấy giọt mồ hôi, không khỏi bật ra một tiếng “hì”, xoè cây quạt trong tay ra quạt quạt cho tỷ tỷ, cười nói:

Xem, đệ khiến cho tỷ tỷ lo đến vã cả mồ hôi ra rồi kìa, đành phải nói trước diệu kế của đệ cho tỷ tỷ nghe vậy.

Trương Nhược Hi không nhịn được cười, nói:

Ta chẳng lo gì chuyện này, hiện nay những việc phải lo quá nhiều rồi, vẫn chưa đến lúc lo cầu tài.

Trương Nguyên nói:

Làm việc gì cũng phải có dự tính thì mới thành được, không có dự tính trước thì hỏng, việc này cũng cần phải làm dần dần. Chuyện bên chỗ Hoa Đình Đổng thị không cần tỷ tỷ phải lo, đệ và Đại huynh, Tam huynh sẽ lo liệu ổn thoả.

Trương Nhược Hi thở dài nói:

Nếu lúc này Lục thị không có được sự giúp đỡ của Trương thị, thì chắc chắn sẽ không đấu lại được với Đổng thị, gia nghiệp nhà họ Lục cũng khó mà giữ được. Tỷ phu đệ là người rất tốt, nhưng làm việc lại thiếu dứt khoát, cũng chẳng có trợ thủ đắc lực nào.

Trương Nguyên nói:

Cho nên tỷ tỷ mới cần phải giúp đỡ tỷ phu nhiều hơn nữa, tỷ tỷ là nữ trung hào kiệt mà.

Trương Nhược Hi mím miệng cười tủm, song mắt lấp lánh, nói:

Được rồi, đệ đừng có thổi phồng ta, nói đi, đệ muốn tỷ tỷ làm thế nào?

Trương Nguyên nói:

Thực ra rất đơn giản, chính là bỏ lợi nhỏ kiếm lợi lớn. Tỷ tỷ chỉ cần phái nô bộc thân cận của hai tiệm vải ở Thanh Phổ và Tô Châu tìm đến chỗ các thợ may giỏi, nói với họ, cứ có khách mang vải mua ở tiệm nhà họ Lục đến chỗ họ may quần áo, thì cứ mỗi bộ, thợ may có thể đến tiệm nhà họ Lục để nhận hai cắc bạc, mười bộ thì được hai tiền. Không cần lo thợ may nói láo nói nhiều lên, chỉ cần đám thợ may tham chút lợi nhỏ đó, chỉ cần bọn họ lấy được bạc từ nhà họ Lục, thì tất sẽ giới thiệu với khách là vải nhà họ Lục đẹp.

Đương nhiên, vải bông, tơ lụa của nhà họ Lục cũng phải đẹp thật mới được, không được để thua các nhà khác về chất lượng. Trước mắt cứ mở rộng thị trường ở Tùng Giang và Tô Châu trước, rồi sau đó mở tiếp cửa hiệu ở Hàng Châu, Nam Kinh, à, mở thêm một tiệm ở Sơn Âm luôn.

Trương Nhược Hi nghe vậy hai mắt sáng rỡ, quả đúng là một việc hết sức đơn giản, nhưng sao lại chẳng ai nghĩ ra nhỉ!

Trương Nguyên lại nói:

Việc này cần Lục thị tạo được một thương hiệu thống nhất cho các tiệm vải, tiệm lụa của mình, in biểu tượng thương hiệu lên các đầu vải. Đồng thời cũng phải luôn giám sát xem trên thị trường có ai làm giả thương hiệu nhà họ Lục hay không, nếu có thì phải nghiêm khắc công kích, để làm được việc này thì phải có mối liên hệ mật thiết với quan phủ địa phương. Cho nên đệ mới nói là cách này tuy nhìn có vẻ đơn giản, nhưng để làm và duy trì được thì không hề dễ dàng. Tỷ tỷ và tỷ phu phải cố gắng, bên chỗ quan phủ thì sau này đệ có thể giúp được. Nếu mọi việc thuận lợi, thì trong mười năm tới, Thanh Phổ Lục thị trở thành hộ giàu nhất Tùng Giang cũng không phải là chuyện khó. Vải nhà họ Lục bán được nhiều, thì có thể dần dần mở rộng rừng dâu và ruộng bông, chiêu mộ thêm những thợ dệt giỏi, cải tiến máy dệt, nâng cao kỹ thuật dệt, đưa thương hiệu Lục thị trở thành thương hiệu vải bông và tơ lụa hàng đầu Giang Nam. Hàng đầu Giang Nam thì cũng đồng nghĩa với hàng đầu Đại Minh rồi.

Thật ra Trương Nguyên rất muốn đích thân mình làm lấy những việc này, nhưng Đông Trương hắn ở Sơn Âm lại không có cơ sở về phương diện này. Bắt đầu từ hai bàn tay trắng cũng không phải là không được, nhưng phải đợi hai ba mươi năm thì hắn không đợi được. Thanh Phổ Lục thị vốn đã rất có thế mạnh về trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa, chỉ cần chỉ dẫn thêm chút ít là đã có thể nổi lên như diều gặp gió.

Bây giờ Thanh Phổ Lục thị về cơ bản đã là do một tay tỷ phu nắm giữ, cũng coi như là người nhà rồi, đáng để giúp đỡ. Trương Nhược Hi đứng im một lúc lâu, trống ngực phập phồng, có vẻ hết sức kích động, đột nhiên nàng trừng mắt nhìn Trương Nguyên, nói:

Tiểu Nguyên, sao đệ có thể nghĩ ra việc này?

Trương Nguyên cười nói:

Đọc sách, đọc sách nhiều sẽ rất có ích, học rồi suy nghĩ sâu xa thêm.

Trương Nhược Hi lắc đầu, nói:

Bây giờ, không chỉ bát cổ văn đệ làm rất hay, mà ngay cả việc kinh doanh cũng sành sỏi nữa, tỷ tỷ thật không thể hiểu nổi.

Trương Nguyên nói:

Đệ chỉ là học theo lời của bậc tiên hiền Đào Chu Công Phạm Lãi ngày xưa thôi: “Trung để báo quốc, trí để giữ thân, thương để giàu có thành danh trong thiên hạ”. Nhưng mà bây giờ khoản “thương để giàu có” đệ nhường cho tỷ tỷ đấy. (“thương” ở đây là chỉ việc làm ăn buôn bán).

Trương Nhược Hi rất thích cái kiểu hăng hái, và tác phong ung dung tự tin này của đệ đệ Trương Nguyên, nàng đưa ngón tay dứ dứ lên trán Trương Nguyên, nói:

Vậy chắc là đệ còn muốn tìm một mỹ nhân tuyệt thế như Tây Thi làm bạn nữa chứ gì?

Trương Nguyên cười hì hì, nói:

Chim xa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn, biết đâu mà tìm chứ.

Được lắm.

Trương Nhược Hi vờ giận nói:

Thì ra đệ đúng là có ý đó, chẳng lẽ nữ lang nhà họ Thươngvẫn không đủ xinh đẹp sao?

Trương Nguyên chắp tay lại xin tha:

Đệ chỉ đùa thôi, chỉ đùa thôi.

Trương Nhược Hi liếc nhìn người tỳ nữ bên cạnh một cái, nói khẽ:

Tiểu Nguyên đệ chớ có mong tìm Tây Thi nào nữa, bản lĩnh của đệ là cưới Vương gia sư muội về làm vợ. Ta thấy Vương gia sư muội đó rất có tình ý với đệ, còn giúp đệ đọc bao nhiêu sách như thế, lần trước chẳng phải đệ cũng nói là đệ thích cô ấy sao.

Trương Nguyên nhíu mày, nói:

Anh Tư sư muội cũng bằng tuổi với đệ, nàng ấy cũng nên tính đến chuyện gả chồng rồi, đệ sao có thể khiến nàng ấy lỡ làng.

Trương Nhược Hi khẽ thở dài một tiếng, không nói gì thêm, dẫn mấy người vú già và mấy tỳ nữ đi hỏi thăm an ủi Tiểu Bình, A Hà và mấy thiếu nữ hái dâu bị làm cho kinh hãi khi nãy. Thấy Mục Chân Chân đang ngồi nói chuyện với A Hà, Trương Nhược Hi cũng nghe nói là Mục Chân Chân cứu bọn A Hà và Tiểu Bình ra từ tay bọn côn đồ, nàng vui vẻ nói:

Tiểu Nguyên vẫn chưa biết việc Chân Chân cứu người nhỉ, lát nữa ta sẽ nói lại với đệ ấy, để đệ ấy thưởng cho cô, ta cũng phải thưởng cho cô.

Chương 213: Thần tài Phạm Lãi là thầy ta (2)

Nói đoạn, gỡ chiếc vòng tay bằng vàng đang đeo trên cổ tay phải xuống, kéo bàn tay phải của Mục Chân Chân, đeo lên cho nàng. Mục Chân Chân lớn bằng chừng này nhưng chưa từng được đeo đồ trang sức bằng vàng bạc, cúi đầu nhìn xuống chiếc vòng vàng lấp lánh nơi cổ tay, ấp úng nói:

Đại tiểu thư, nô tỳ không dám nhận đâu.

Trương Nhược Hi nắm lấy bàn tay của thiếu nữ đọa dân, nói:

Có gì mà không dám nhận chứ, có cô hầu hạ bên cạnh Tiểu Nguyên, ta và mẫu thân đều rất yên tâm.

Đám du côn lưu manh vẫn thường đến gây chuyện hôm nay đã bị ăn một trận đòn no, các hộ trồng dâu, trồng bông, nuôi tằm trong trang viên đều hết sức háo hức, cảm thấy những tháng ngày phải chịu sự bức hiếp của Đổng thị đã qua rồi, bọn họ lại có thể sống những ngày yên bình, đàn ông đi cày, đàn bà dệt lụa. Sau bữa trưa, Trương Đại đi thăm qua vườn chè nhà họ Lục, hắn thấy đây chẳng phải là loại trà tốt, nhà họ Lục không buôn bán chè, mấy mẫu trồng trà này đều là để trong nhà sử dụng.

Đến lúc hoàng hôn, Trương Nhược Hi, Trương Đại, Trương Nguyên về đến dinh thự Lục thị ở trong thành Thanh Phổ. Lục Thao và Trương Ngạc cũng mới vừa trở về từ huyện nha, tám tên du côn đó bị xử ngay bốn mươi trượng trên công đường, giờ đã bị giam lại, Vương huyện lệnh nói sẽ xin lên Án Sát ty, đưa tám tên này đi xung quân vào Kim Sơn Vệ. Kim Sơn Vệ lại ở Hoa Đình, như vậy chẳng phải dễ dàng cho bọn chúng quá hay sao, Trương Nguyên nói với Lục Thao:

Tỷ phu cứ phải để mắt cẩn thận một chút, biết đâu chỉ cần Đổng Kỳ Xương gửi tới một bức thư, thì tám tên này bèn được lẳng lặng thả đi mất đấy.

Lục Thao nói:

Ta đã bảo Lục Đại cho hai người đi theo dõi rồi.

Trương Ngạc tức giận nói:

Tên quan thối này mà dám bao che cho Đổng thị, thì ta sẽ khiến cho lão không làm quan được nữa.

Sau bữa cơm chiều, Trương Nhược Hi mời chồng mình là Lục Thao cùng với đệ đệ Trương Nguyên đến thư phòng, cùng bàn bạc về việc xây dựng thương hiệu vải vóc, tơ lụa nhà họ Lục. Lục Thao nghe xong ý tưởng của Trương Nguyên, vui mừng hết cỡ, nói:

Việc này không khó để làm, lần này nếu có thể cứu được Nhị đệ ra, giữ được rừng dâu ở Dư Sơn, thì ta và Nhược Hi sẽ bắt tay vào làm ngay theo lời Giới Tử.

Hắn lại nói them:

Lần này, đúng là Giới Tử cứu giúp Thanh Phổ Lục thị ta, không lời cảm tạ nào cho hết, sau này nếu có việc gì cần thì cứ nói, ta quyết không từ chối.

.

Lục Thao và Trương Nhược Hi bàn với nhau, sau này các tiệm vải, hiệu tơ lụa nhà họ Lục sẽ gọi là “ Thịnh Mỹ hiệu”.

Ngày hôm nay Liễu Kính Đình không theo bọn Trương Nguyên đến trang viên nhà họ Lục, y dẫn theo một thị đồng, và hai nô bộc nhà họ Lục đến quán trà của Hồng Đạo Thái kể chuyện. Câu chuyện mà y kể là “Hắc bạch truyện”, không chỉ đích danh Đổng thị ở Hoa Đình, chỉ nói là quan viên nào đó ở Tùng Giang, nhưng những người Thanh Phổ nghe kể chuyện trong quán trà vừa nghe thì biết ngay là nói về cha con Đổng Kỳ Xương và đám gia nô nhà chúng. Cuộc đấu giữa Đổng thị và Lục thị đã được loan truyền khắp Thanh Phổ từ lâu, hôm qua lại có việc lớn như vậy xảy ra, nên ai mà không biết chứ?

Về việc Hoa Đình Đổng thị chiếm đoạt điền sản, doạ nam nạt nữ, thì nhiều dân chúng Thanh Phổ cũng từng nghe, dù sao thì Thanh Phổ và Hoa Đình cũng gần sát ngay nhau. Nhưng những việc đó đều không liên quan gì đến mình, nên chỉ nghe thế biết thế mà thôi, nhưng nay nghe Liễu Kính Đình kể lại, cảm giác lại rất khác. Nghe chuyện Đổng thị bức hiếp người lương thiện, mà bọn họ cảm thấy như chúng đang bức hiếp người thân của mình vậy, nghe mà buồn bã, phẫn nộ, Liễu Kính Đình kể chuyện đúng là hết sức truyền cảm. Đường thuỷ từ huyện thành Thanh Phổ đến huyện thành Hoa Đình dài gần bốn mươi dặm, thuyền bè đi dọc theo sông Đại Hoàng Phổ mất không đầy một canh giờ là tới. Môn khách Đổng thị Bặc Thế Trình, kẻ bị Trương Ngạc đánh cho đến vãi phân trên bến tàu Thanh Phổ, cùng với các gia nô và đám du côn của nhà họ Đổng đáp thuyền về đến Hoa Đình thì trời đã tối. Mười hai người đều bị đánh trọng thương, chen chúc đến y quán chữa trị, đồng thời nhờ người đến Đổng phủ báo tin. Nửa canh giờ sau, Đổng Tổ Nguyên, Đổng Tổ Thường dẫn theo vài gia nô chạy tới, thấy bọn Bặc Thế Trình người nào người nấy mặt mũi bầm dập, không nhận được ra nữa, kinh hãi hỏi có chuyện gì xảy ra?

Bặc Thế Trình mặt như đưa đám, nói:

Đại công tử, Nhị công tử, tên Trương Nguyên đó đến Thanh Phổ rồi, hắn đánh bọn ta ra thế này, rồi lại còn trói đưa đến huyện nha Thanh Phổ. Tên Vương huyện lệnh đó cũng chẳng nể mặt Hoa Đình Đổng thị, đánh bọn ta mỗi người bốn mươi trượng, xém chút nữa là mất mạng rồi.

Lại là Trương Nguyên, Đổng Tổ Thường nổi giận lôi đình, la hét đòi tụ tập nô bộc đánh sang Thanh Phổ. Đổng Tổ Nguyên đã gần bốn mươi tuổi, không bồng bột như nhị đệ, ra hiệu cho nhị đệ không nên làm càn, rồi lệnh cho Bặc Thế Trình kể lại chi tiết sự việc hôm nay. Bặc Thế Trình bèn kể lại từ lúc bao vây cổng lớn nhà họ Lục, rồi gặp huynh đệ Trương Nguyên đến, không nói không rằng, sốc tới là đánh, đám thủ hạ dưới trướng của huynh đệ họ Trương đều võ nghệ cao cường, bọn chúng không phải đối thủ…

Đổng Tổ Nguyên cố kìm lửa giận, thấy Bặc Thế Trình cũng đang phải lột quần lộ mông để bôi thuốc, bèn nhíu mày hỏi:

Bặc tiên sinh là người có công danh sinh đồ, mà Vương Thiện Tích đó dám dụng hình với ngươi sao?

Bặc Thế Trình xấu hổ nói:

Vương huyện lệnh thì không dụng hình với ta, là cái tên ác tặc tên gọi Trương Ngạc dẫn theo nô bộc đuổi đến tận bến tàu, mua chuộc sai dịch, rồi đánh, còn nói chỉ cần là người nhà Đổng thị, hắn gặp là đánh…

Chớ nói Đổng Tổ Thường tức đến điên người, Đổng Tổ Nguyên cũng tức muốn ói máu, nói:

Phải lập tức bẩm báo lại việc này với phụ thân. Năm ngoái phụ thân đã bỏ qua cho Trương Nguyên không truy cứu, tên Trương Nguyên này lại cho rằng Đổng thị ta dễ bắt nạt. Hôm nay hắn lại dám đánh người nhà họ Đổng ta, đúng là làm người không thể yếu đuối được.

Đổng Tổ Thường hằn học nói:

Lần này ta sẽ cho tên Trương Nguyên đó chết dưới tay ta, đánh chết hắn, rồi tìm đại một ai đó chịu tội thay là được, có thể để Ngô Long đi tìm người.

Bặc Thế Trình nói:

Đại công tử, còn có ba tú tài người Hoa Đình đi cùng với Trương Nguyên, ta nhận ra bọn chúng, tên là Kim Lang Chi, Ông Nguyên Thăng, còn một tên nữa họ Tưởng, ba tên này cũng cùng bọn với Trương Nguyên.

Đổng Tổ Nguyên gật đầu nói:

Ông Nguyên Thăng, ta nhớ rồi, sẽ không bỏ qua cho bọn chúng đâu.

Đoạn quay sang nói với Đổng Tổ Thường:

Nhị đệ, đệ và ta cùng nhau đi gặp phụ thân, xem ý phụ thân thế nào.

Năm hai mươi chín tuổi từ bỏ mũ áo học trò, Trần Kế Nho bỏ hẳn ý định khoa cử, năm nay đã năm mươi bảy tuổi, má hóp, người gầy như cây mai, đầu đội mũ trúc, người mặc bộ đạo bào, cưỡi một con hươu sừng lớn đi đến trước cổng Đổng phủ, trên cái chạc sừng huơu lớn có treo một cái túi vải, trong túi có hai bức họa, một bức là “ Hồng nhạn bách chu đồ “ do Trần Kế Nho vừa bỏ ra số tiền lớn để mua của Nghê Vân Lâm , bức còn lại là “ Hoành tà sơ mai đồ “ Trần Kế Nho mới vẽ gần đây.

Trần Kế Nho và Đổng Kỳ Xương là bạn chí giao, lần này vì thích họa tác của một họa sĩ tiền bối nổi tiếng mà càng đắc ý hơn với tác phẩm “ Hoành tà sơ mai đồ “ của mình, liền cưỡi huơu đi từ núi Đông Dư đến Đổng phủ ở Hoa Đình để mời người bạn cũ Đổng Kỳ Xương đánh giá.

Trần Kế Nho coi con huơu như một báu vật, con hươu này lúc trước thuộc về một lão thày lang ở làng quê Thiệu Hưng, lão thầy lang này rọ mõm siết cương hươu lại, trên chạc sừng treo một hồ lô, hũ thuốc rồi cưỡi hươu đi hành nghề y. Trương Nhữ Sương nhìn thấy đã mua con hươu sừng to này với ba mươi lạng bạc. Do Trương Nhữ Sương quá to béo khiến cho hươu chở ông ta đi mới có vài trăm bước đã phải dừng lại thở dốc nên ông ta bèn tặng lại cho Trần Kế Nho. Trần Kế Nho gầy nên hươu chở mà không tốn sức. Đi được vài dặm Trần Kế Nho cảm thấy rất vui. Lúc ở Hàng Châu, non xanh nước biếc, đê dài rợp bóng liễu, Trần Kế Nho đội mũ trúc mình mặc vũ y cưỡi hươu đi hết sáu cầu, ba gian chòi trúc của Hồ Tây, nhìn giống như thần tiên vậy, người ta gọi là “tiên giáng trần”. Trần Kế Nho tự xưng mình là “Mi Công” là chuyện của mười năm trước rồi, câu đối của Trương Đại “Mi Công khóa lộc, tiền dong huyện lý đả thu phong” chính là câu chuyện lúc đó.

Đi theo sau con hươu là một thư đồng với một người hầu. Lúc Trần Kế Nho xuống hươu trước cửa Đổng phủ, người hầu vội vàng bước đến phía trước đỡ lấy. Trần Kế Nho gỡ cái túi vải trên sừng hươu xuống rồi dặn dò:

Hãy chăm sóc con hươu này cho thật tốt, tìm một ít cỏ tươi về cho nó ăn.

Một người hầu mặc áo xanh đội mũ nhỏ vừa bước ra từ Đổng phủ nhìn thấy liền khom người chào:

Mi công!

Lúc Trần Kế Nho nhìn lên thì chính là Tông Dực Thiện, trước đây là thư đồng hầu hạ ở thiền thất, trí tuệ hơn người. Trần Kế Nho cũng rất thích thưởng thức thư pháp của người này. Bây giờ Tông Dực Thiện đã lớn rồi, lại trở thành tiện dịch coi cổng. Trần Kế Nho đã nghe nói về chuyện Tông Dực Thiện qua lại với cháu Trương Nhữ Sương, vì Đổng Tổ Thường có oán thù với cháu của Trương Nhữ Sương nên đã cố ý trừng phạt Tông Dực Thiện làm quản môn.

Chương 214: Thuật phòng the của ẩn sĩ tà tăng

Trần Kế Nho lắc đầu nói:

Dực Thiện, đợi lát nữa ta giúp ngươi thỉnh cầu Đổng công một việc, với tài năng của ngươi mà lại làm quản môn, ta thấy không được.

Tông Dực Thiện cười khổ:

Đa tạ Mi công, không cần bận tâm đâu ạ.

Y thầm nghĩ: “Cha con Đổng thị hận ta tới tận xương tủy, nếu không phải là ta đã có danh tiếng ở bên ngoài...hơn nữa Đổng tổ còn muốn giữ ta ở lại bên cạnh hắn để thường xuyên làm nhục ta, nói không chừng ta đã bị người của Đổng thị giết chết rồi, chủ nhân đánh chết nô bộc tuy cũng có tội nhưng nói là bị bạo bệnh mà chết thì có khó gì”.

Trần Kế Nho đưa túi vải cho tiểu đồng cầm, vẫy vẫy tay áo, đi theo Tông Dực Thiện vào Đổng phủ. Sớm đã được người hầu thông báo, Đổng Kỳ Xương đợi ở đại sảnh một lúc rồi ra nghênh đón, cười nói:

Trọng Thuần huynh, có phải lại có tác phẩm đắc ý muốn ta thưởng thức không?

Trần Kế Nho đáp:

Mới có được một bức họa của Nghê Vân Lâm, muốn được thưởng thức cùng Huyền Tể huynh.

Trần Kế Nho và Đổng Kỳ Xương là đồng hương. Đổng Kỳ Xương lớn hơn Trần Kế Nho ba tuổi, hai người đỗ sinh đồ huyện học cùng năm, đã có mấy chục năm giao tình. Sau khi Trần Kế Nho cáo biệt chuyện khoa cử lúc hai mươi chín tuổi, một năm sau Đổng Kỳ Xương thi hương trung học, liền sau đó đỗ kỳ thi xuân, danh tiếng về thư họa cũng dần vượt qua Trần Kế Nho. Trên đời này, khoa cử là có thể nổi danh bậc nhất, khoa cử đỗ được trung học...lại có sở trường về thi họa thì tự nhiên sẽ nổi danh bốn bề.

Đổng Kỳ Xương đưa Trần Kế Nho đến Huyền Thưởng trai. Huyền Thưởng trai thu nạp rất nhiều các tác phẩm thư họa nổi tiếng qua nhiều thời đại như “ Hoàn kỳ biểu “ , “ Lực mệnh thiếp “ của Chung Diệu; “ Tiêu tương đồ “ , “ Vân sơn đồ “ của Đổng Nguyên; “ Khê sơn hành lữ đồ “ , “ Tuyết sơn đồ “ của Phạm Khoan. Ngoài ra còn có rất nhiều bút tích của Tô Hoàng Mễ Thái và nhiều tác phẩm thi họa của các tác giả nổi tiếng thời Nguyên Minh….quả là bộ sưu tập giàu có nhất vùng Giang Nam.

Họa tác của Nghê Vân Lâm, một trong nguyên tứ gia mà Đổng Kỳ Xương cực kỳ yêu thích. Nhìn bức “ Hồng nhạn bách chu đồ “ Trần Kế Nho mang tới, Đổng Kỳ Xương không xem tiêu đề trước, chỉ nhìn bức họa rồi nói:

Bức tranh này thê lương phong cách cổ điển, yên tĩnh vắng lặng, là tác phẩm sau tuổi năm mươi của Nghê Toản.

Trần Kế Nho cười nói:

Huyền Tể huynh mắt sáng như đuốc, sau bốn mươi tám tuổi Nghê Vân Lâm thờ phụng Toàn chân giáo, đây chính là họa tác sau khi ông ta theo đạo.

Đổng Kỳ Xương nói:

Nghê Vân Lâm bút khô mực cạn, khác người, cực kỳ đơn giản nhạt nhòa, tiêu tán khoáng đạt, cảnh giới bậc này ta không theo kịp.

Ngâm rằng:

Cô Tô thành ngoại đoản trường kiều, yên vũ không mông hựu vãn triều. Tái tửu tằng kinh thử hành nhạc, túy thừa giang nguyệt ngọa xuy tiêu.

Trần Kế Nho mỉm cười nói:

Huynh tinh thông đủ loại sách, bài thơ Thạch triều của Nghê Vân Lâm mà cũng thuộc, đệ xin bái phục, danh tiếng của huynh hôm nay đã vượt xa Nghê Vân Lâm rồi.

Đổng Kỳ Xương liên tiếp xua tay:

Không dám không dám, Trọng Thuần không cầu danh lợi, dốc lòng thư họa, hậu thế đánh giá là ở trên ngu huynh.

Trần Kế Nho cười nói:

Danh tiếng đời sau ai mà biết được, chỉ biết quan cao tức là tiên.

Đổng Kỳ Xương đáp:

Ta cũng giống như Trọng Thuần đều là dân thường, quan cao ở đâu chứ!

Trần Kế Nho cười, đưa bức “ Hoành tà sơ mai đồ “ của mình cho Đổng Kỳ Xương xem. Đổng Kỳ Xương nhìn thật lâu rồi khen ngợi:

Trọng Thuần vẽ mai, chau chuốt tinh xảo, tuyệt lắm rồi, bức họa này càng như vẩy mực cuồng thảo, lại có phép tắc của riêng mình, vừa phóng khoáng lại vừa nghiêm túc, khí khái thẳng thắn giống như hương thơm tinh tế bay bổng vậy.

Trần Kế Nho cảm thấy rất vui. Đánh giá của Đổng Kỳ Xương thật vô cùng tinh tường, có thể điểm ngay chỗ tâm đắc của Trần Kế Nho. Hai người bình luận thư họa ở Huyền Thưởng trai tới tận hoàng hôn. Đổng Kỳ Xương muốn giữ Trần Kế Nho lại dùng cơm tối nhưng Trần Kế Nho khéo léo từ chối:

Không cần đâu, trời cũng sắp tối rồi, đệ cưỡi hươu về Dư Sơn vừa đúng lúc.

Ban đêm Đổng Kỳ Xương còn có việc nên cũng không cố giữ, tha thiết tiễn đến cửa phủ. Trần Kế Nho nhìn thấy quản môn Tông Dực Thiện bèn nói với Đổng Kỳ Xương:

Huyền Tể huynh, tên Tông Dực Thiện này còn nhỏ nhưng có tài, trước đây phạm sai lầm bị trách phạt là được rồi, để gã quay về thư phòng hầu hạ đi, nếu không khi đệ đến quý phủ mà nhìn thấy gã làm quản môn nữa thì sẽ thấy bất an, như vậy thì quá không trọng dụng nhân tài rồi.

Đổng Kỳ Xương cười đáp:

Không dám không dám, Trọng Thuần nói giúp gã ta nào dám không theo.

Sau khi nhìn Trần Kế Nho cưỡi hươu rời khỏi cùng với một thư đồng và một người hầu, Đổng Kỳ Xương quay người về phủ, lúc đi qua Tông Dực Thiện thì cười lạnh một tiếng, nói:

Kể từ ngày mai ngươi hãy đến dọn dẹp chuồng ngựa chứ ở đây thật là mất mặt.

Tông Dực Thiện biết Trần Mi Công nói giúp hắn ắt sẽ phản tác dụng, quả nhiên là như thế, nhưng vì cha mẹ nên hắn phải nhịn, cúi đầu đáp:

Vâng.

Hí Hồng đường có hai tầng và ba gian, hai bên còn có mật thất uốn khúc, là nơi để Đổng Kỳ Xương tu tâm dưỡng tính. Trước đường hoa lá cây cối um tùm, một cái đầm nhỏ rộng nửa mẫu sóng nước lăn tăn, lá sen rập rờn, hoa sen nở rộ, ánh đèn thấp thoáng từ trên lầu chiếu xuống cùng với ánh trăng mênh mông giống như tranh vẽ.

Cảnh trí đẹp đẽ như thế nhưng Đổng Kỳ Xương không có nhã hứng đề thư vẽ tranh, mà lại là dâm hứng... Đổng Kỳ Xương vẽ tranh thì ở Họa Thiền thất, bình phẩm và sưu tập tranh là ở Huyền Thưởng trai. Còn Hí Hồng đường thì để lão tu luyện thuật phòng the...Hai bên mật thất uốn khúc có đến hơn hai mươi nữ tỳ xinh đẹp cung cấp để lão diễn các trò dâm dục. Vốn dĩ Hí Hồng đường này tuyệt đối không cho người ngoài bước chân vào nhưng đêm nay ở đây lại có một người khách ở bên ngoài, là tăng nhân đầu trọc, dưới ánh nến, cái đầu trọc của lão càng bóng loáng rõ nét hơn. Tăng nhân này họ Trần, tên Tân Trúc, pháp hiệu Hư Phàm, là do một viên quan họ Khang ở Thượng Hải đặc biệt cử đến để nịnh hót Đổng Kỳ Xương. Hòa thượng Trần Tân Trúc không độ điệp, không tăng tịch, tự xưng mình đã trăm tuổi nhưng nhìn dáng vẻ thì cũng chỉ mới ba, bốn mươi tuổi. Viên quan họ Khang trước mặt Đổng Kỳ Xương đã khen ngợi dị tăng này có thuật làm tình rất kỳ lạ, không cần phải dùng lực vận động mà dương vật vẫn tự có thể hô hấp co duỗi...Lúc làm tình có thể khiến cho người đàn bà đờ đẫn buông tay nhắm mắt, đạt khoái cảm cực đỉnh. Điều này khiến cho Đổng Kỳ Xương tuổi đã lục tuần thể lực suy thoái vô cùng ham hố, liền mời dị tăng Trần Tân Trúc này đến Hí Hồng đường, tiếp đãi như thượng khách, thỉnh giáo thuật dưỡng sinh.

Trần Tân Trúc tự xưng là thần tăng trăm tuổi nói:

Lão nạp xem khí sắc của Đổng thí chủ, có phải bình thường vẫn phải dùng thuốc trợ hứng không?

Cái này không cần phải nhìn khí sắc, chỉ cần thấy Đổng Kỳ Xương đã lớn tuổi thế mà có đến một đám đông thị tỳ thì sẽ biết ngay không dùng thuốc không được.

Đổng Kỳ Xương ra vẻ đạo mạo nói:

Không giấu gì đại sư, Đổng mỗ từ sau năm mươi tuổi đã thường uống cố nguyên đơn và bách chiến cao.

Trần Tân Trúc nói:

Uống thuốc thì rơi vào hạng thấp kém, hơn nữa uống lâu cũng không có hiệu quả.

Đổng Kỳ Xương rất đồng tình.

Trần Tân Trúc lại nói tiếp:

Lão nạp có một bí thuật truyền từ Tây Vực, sau khi tu tập không những một đêm có thể chơi vài nữ nhân không mệt mỏi mà còn có thể tăng thêm tuổi thọ.

Đổng Kỳ Xương cung kính nói:

Đang muốn thỉnh giáo đại sư đây.

Trần Tân Trúc nhìn những tỳ nữ xinh đẹp mỗi người mỗi vẻ ở Hí Hồng đường sớm đã động lòng tà dâm, bèn nói:

Ta có diệu pháp nhưng không thể truyền ra ngoài.

Đổng Kỳ Xương suy nghĩ một lúc, những mỹ tỳ xinh đẹp này đều không phải thê thiếp của hắn, trong thuật phòng the mà nói chỉ là đồ chơi mà thôi, đã là đồ chơi thì ngại gì mà không để tăng nhân này dùng thử...Lão cũng có thể học theo được bí thuật của dị tăng kia. Ả nào bị tăng nhân làm ô uế qua sẽ đuổi ngay ra khỏi Hí Hồng đường, bèn nói:

Ở đây có bảy người, mời đại sư cứ chọn một người bất kỳ.

Bảy người hầu đang hầu hạ một bên ngơ ngác nhìn nhau, ai cũng co rút về phía sau, sợ bị vị hòa thượng này chọn trúng nhưng lại nghe vị cao tăng trăm tuổi này nói:

Nếu chỉ một người thì sao có thể thể hiện hết sự thần kỳ của bí thuật Tây Vực chứ, ba người đi.

Đổng Kỳ Xương nhíu mày nhưng lập tức giãn ra và nói:

Vậy cũng được, Họa Mi, Ly Châu, Ngọc Mặc, ba ngươi hãy hầu hạ Hư Phàm đại sư.

Ba người trong bảy người hầu xinh đẹp lập tức quỳ xuống cầu khẩn:

Lão gia, nô tỳ chỉ hầu hạ lão gia thôi.

Đổng Kỳ Xương vẻ mặt ôn hòa nói:

Hãy hầu hạ đại sư cho tốt, mỗi người sẽ được thưởng một lạng bạc.

Giọng lão bỗng trầm xuống:

Nếu dám ngỗ nghịch không nghe lời sẽ bị phạt đánh vào mông, phạt làm người hầu dưới nhà bếp.

Ba tỳ nữ không dám lên tiếng. Bọn họ đã vào Đổng phủ từ khi mới mười hai mười ba tuổi, chỉ luôn hầu hạ mỗi Đổng lão gia, nhưng bây giờ lại bắt họ phải hầu hạ tên hòa thượng này đương nhiên là không đồng ý rồi. Bọn họ tuy là tỳ nữ thấp hèn, cũng thấy nhục nhã nhưng lão gia đã mở miệng thì họ nào dám không nghe.

Dị tăng Trần Tân Trúc cười nói với ba tỳ nữ:

Chớ có từ chối, đợi các nàng nếm qua thủ pháp của lão, bảo đảm các nàng sẽ sung sướng như lên tiên cảnh, vui vẻ không thôi.

Chương 215: Bao cỏ

Đổng Kỳ Xương nghe thấy lời nói của vị hòa thượng này có chút dâm tà không giống lời của một cao tăng, có điều Đổng Kỳ Xương lão không phải thỉnh giáo dị tăng này phật lý thiền cơ mà là thuật phong the, bèn cười nói:

Vậy xin mời đại sư thể hiện thần thông như thế nào, mời đến khúc phòng ở bên này.

Lúc này, nghe thấy dưới lầu một tỳ nữ cất giọng nói:

Lão gia, đại công tử, nhị công tử muốn gặp lão gia.

Đổng Kỳ Xương cả giận nói:

Không phải ta đã dặn rồi sao, không được quấy rầy ta lúc này!

Tỳ nữ dưới lầu nơm nớp lo sợ nói:

Bẩm lão gia, đại công tử nói có chuyện lớn, Bặc tiên sinh được cử đến Thanh Phổ bị một người tên Trương Nguyên đánh.

Đổng Kỳ Xương vừa kinh ngạc vừa giận dữ, lại là cái tên Trương Nguyên, nợ cũ chưa thanh toán xong lại dám ức hiếp Đổng thị ta, nói:

Bảo chúng vào đi.

Dâm tăng trăm tuổi Trần Tân Trúc kêu lên:

Đổng thí chủ!

Đổng Kỳ Xương tạm thời không có tâm trạng nghiên cứu thuật phòng the nói:

Ngày mai ta sẽ lại thỉnh giáo đại sư.

Nhìn thấy vẻ mặt không hài lòng của Trần Tân Trúc, lão lại nói:

Họa Mi, ngươi hầu hạ đại sư trước đi.

Chỉ tặng cho hòa thượng có mỗi một tỳ nữ thì có đáng gì.

Đổng Kỳ Xương thi họa song tuyệt nhưng cũng không hề ảnh hưởng đến việc lão muốn học thuật phòng the, chính là như thế!

Hai huynh đệ Đổng Tổ Nguyên và Đổng Tổ Thường đã đến lầu hai Hí Hồng đường. Đổng Tổ Thường gọi:

Phụ thân, chính vì chúng ta nhẫn nhịn hết lần này đến lần khác nên mới có tai họa ngày hôm nay!

Đổng Kỳ Xương trầm mặt hỏi:

Có chuyện gì các con nói cho rõ ràng ta nghe.

Đổng Tổ Nguyên liền kể lại việc Bặc Thế Trình dẫn gia nô đến Thanh Phổ đòi nợ nhưng lại bị Trương Nguyên và người của Lục thị ở Thanh Phổ đánh. Đổng Kỳ Xương đập mạnh xuống chiếc bàn nhỏ bên cạnh làm chén dĩa trên khay nhảy loạn xạ, giận dữ quát:

Bắt nạt người quá đáng! Bắt nạt người quá đáng!

Đổng Tổ Nguyên nói:

Lần này phụ thân nếu không nghiêm khắc trừng phạt tên Trương Nguyên đó thì Đổng thị ta sẽ không còn mặt mũi nào ở Tùng Giang nữa. Tiểu Thế Trình đường đường là sinh đồ, được Đổng thị ta che chở vậy mà lại bị đánh trước mặt bàn dân thiên hạ, thế chẳng khác nào đánh vào mặt Đổng thị.

Đánh vào mông của Bặc Thế Trình đồng nghĩa với việc đánh vào mặt của Đổng thị, lời này thật buồn cười nhưng ba cha con Đổng thị lại không hề cảm thấy như thế. Đổng Tổ Thường nói:

Hai người cháu của Trương Nhữ Sương là Trương Đại và Trương Ngạc lần này cũng đến cùng với Trương Nguyên, kẻ đánh Bặc Thế Trình ở bến tàu chính là Trương Ngạc.

Đổng Kỳ Xương gật đầu:

Sơn Âm Trương thị làm chỗ dựa lưng cho Thanh Phổ Lục thị , không đội trời chung với Hoa Đình Đổng thị ta.

Đổng Tổ Nguyên nhìn sắc mặt của phụ thân Đổng Kỳ Xương, hỏi:

Phụ thân có kế sách ứng đối gì không?

Đổng Kỳ Xương nói:

Dặn người làm chuẩn bị kiệu, ta đi gặp Hoàng tri phủ trước.

Đổng Kỳ Xương hầm hầm rời khỏi Hí Hồng đường, quên mất là vẫn còn vị cao tăng một trăm tuổi Trần Tân Trúc đang ở đó. Tên hòa thượng này là một con quỷ háo sắc, Đổng Kỳ Xương đi rồi thì hơn hai mươi mỹ nữ ở Hí Hồng đường chẳng phải là dâng đến miệng y sao. Đổng Kỳ Xương vốn dĩ sắp xếp tỳ nữ Họa Mi hầu hạ y nhưng y lại chê Họa Mi lớn tuổi không xinh đẹp rồi kéo một tỳ nữ xinh đẹp trẻ tuổi khác vào sương phòng. Ả tỳ nữ xinh đẹp đó hét lên, tên dâm tăng liền dọa:

Lão gia nhà ngươi vì kính trọng ta, mời tiểu tăng đến để tu tập thuật phòng the, nếu ngươi không nge lời chỉ cần tiểu tăng nói vài lời ngươi chắc chắn sẽ bị đánh, ngươi có tin hay không?

Trước mặt những nô tỳ xinh đẹp này, hòa thượng cũng không tự xưng là lão nạp nữa. Tỳ nữ xinh đẹp nhỏ tuổi nọ thấy Đổng lão gia trước khi đi còn bảo ba người Họa Mi, Ngọc Mặc hầu hạ tên hòa thượng chuyện giường chiếu, quả nhiên là rất kính nể vị hòa thượng này, bị hòa thượng dọa vài ba câu là sợ không dám chống cự, cứ để cho lão hòa thượng vừa kéo vừa ôm vào mật phòng. Những tỳ nữ khác của Hí Hồng đường ngơ ngác nhìn nhau nhưng cũng không nhịn được sự tò mò. Họa Mi bị hòa thường chê bỏ cảm thấy có chút xấu hổ, cười nhẹ nói:

Để xem thử con lừa trọc đó làm ăn thế nào, chớ bị mã thượng phong mà đi đời mới giỏi.

Tại phủ nha Tùng Giang, tri phủ Hoàng Quốc Đỉnh đang uống rượu với tiểu thiếp dưới ánh đèn. Năm ngoái Đổng Tổ Nguyên đã tặng cho hắn hai tỳ nữ xinh đẹp, trong đó có một người Hoàng Quốc Đỉnh vô cùng sủng ái và đã nạp làm thiếp để hầu hạ. Hoàng Quốc Đỉnh rất nghiện rượu, hàng ngày trước khi ngủ đều phải uống hai chén rượu Huy Châu. Đang lúc đó lại nghe vú già báo là có Đổng Hàn Lâm Đổng lão gia cầu kiến, Hoàng Quốc Đỉnh nhíu mày, nghĩ thầm:

Đổng lão gia đêm khuya đến thăm, chỉ sợ lại có chuyện phiền toái.

Hoàng Quốc Đỉnh cũng đã chán ngấy những hô hào xuông liên tục của Đổng Kỳ Xương, nhưng thứ nhất Đổng thị ở Hoa Đình là một đại tộc ở Tùng Giang, thứ hai Đổng Kỳ Xương là phòng sư lúc ông ta thi hương nên không thể chối từ. Làm quan địa phương cũng không hề dễ dàng, luôn phải mượn thế lực này đắc tội với thế lực khác, đối với Hoàng Quốc Đỉnh mà nói đương nhiên là thà đắc tội với tiểu dân còn hơn là đắc tội với Đổng thị. Hoàng Quốc Đỉnh nhìn thấy Đổng Kỳ Xương thì miệng xưng thầy, nói:

Thầy có việc gì thì cứ sai người đến dặn dò học trò một tiếng, hà tất đêm khuya còn phải đích thân đến chứ.

Đổng Kỳ Xương thở dài, kể chuyện Bặc Thế Trình. Hoàng Quốc Đỉnh nói:

Vương tri huyện luôn kính trọng thầy, lúc mới nhậm chức không phải cũng đã đến thăm thầy hay sao, sao hôm nay lại làm chuyện ngược ngạo, thầy chớ nôn nóng, ngày mai học trò sẽ sai người đến hỏi thử.

Đổng Kỳ Xương nói:

Ba người cháu của Trương Nhữ Sương đều đã đến Thanh Phổ. Thanh Phổ Lục thị và Sơn Âm Trương thị là thông gia, Vương Thiện Kế sợ Trương Nhữ Sương, cho rằng Đổng thị ta dễ bắt nạt, nguyên do là như thế.

Tọa sư khi Hoàng Quốc Đỉnh thi hội là Lý Tam Tài. Lý Tam Tài cùng với Cố Hiến Thành và Cao Phàn Long quan hệ rất thân thiết. Người của Đông Lâm đảng đã đuổi Lý Đình Cơ đi, chủ trương cho Lý Tam Tài nhập các, nhưng hệ thống phe phái trong triều rất phức tạp, Lý Tam Tài nhất thời cũng chưa thể nhập các thuận lợi mà Lý Đình Cơ lại là thầy của Trương Nhữ Sương. Hoàng Quốc Đỉnh cười lạnh:

Lý Đình Cơ đã từ quan về Phúc Kiến, Chiết Đảng còn có thể trông cậy vào ai, Vương Thiện Kế cũng không đến mức mông muội như vậy.

Lại nói tiếp:

Cháu đích tôn Trương Nguyên của Trương Nhữ Sương gần đây rất có tiếng tăm, có Tiêu thái sử, Hoàng Ngụ Dung rất khen ngợi. Nghe nói còn có thâm tình với thái giám Chức tạo thự Hàng Châu, hay là Chiết Đảng muốn mượn hoạn quan để tranh đoạt thượng vị. Trương Nguyên tuổi còn nhỏ e là sau lưng còn có kẻ chủ mưu.

Đổng Kỳ Xương đùa cợt:

Trương Nhữ Sương vẫn không cam lòng sống ẩn dật nốt quãng đời còn lại, tên Trương Nguyên đó tuổi nhỏ thành danh, tự cao tự đại, sớm muộn cũng sẽ nếm mùi đau khổ thôi.

Hai người lại bí mật bàn bạc. Đổng Kỳ Xương cáo từ trở về phủ, lúc này mới nhớ đến Hí Hồng đường còn có thần tăng trăm tuổi có sở trường về thuật phòng the, lão vội vàng đi đến đó nhưng lại nhìn thấy tên hòa thượng đang ở trên giường cùng với ba tỳ nữ trẻ đẹp nhất của Hí Hồng đường. Đổng Kỳ Xương nổi giận nhưng cũng không tiện thể hiện, tạm thời không có tâm trạng để tu luyện thuật phòng the, bèn gọi nô bộc đến đưa tên hòa thượng đến phòng khách sắp xếp chỗ ở, không để hòa thượng đi lung tung.

Lần này Trương Đại đến Tùng Giang, ngoài việc giúp Trương Nguyên đối phó Đổng thị ra còn muốn đến thăm Trần Mi Công. Vốn nghĩ rằng Trần Kế Nho vẫn còn ở tiểu Côn Sơn, trưa ngày mười bảy bỗng tình cờ nghe Lục Thao nói mới biết Trần Kế Nho đã mua đất ở Đông Dư Sơn, xây “Đông Dư Sơn Cư” chỉ cách trang viên Lục thị ở Dư Sơn bốn, năm dặm về phía bắc, Trương Đại nói:

Sớm biết Trương Mi Công ở Đông Dư Sơn thì hôm trước ta đã đến thăm rồi.

Rồi gã hỏi Trương Nguyên, Trương Ngạc:

Yến khách, Giới Tử, sáng ngày mai cùng ta đến thăm Trần Mi Công được không?

Trương Ngạc hỏi:

Là Trần Mi Công đánh Thu Phong của huyện Tiền Đường đấy hả, đệ không đi.

Trương Nguyên đáp:

Đệ sẽ đi cùng đại huynh.

Trần Kế Nho là bạn tốt của Đổng Kỳ Xương, nếu được Trần Kế Nho tán thưởng trước khi đánh đổ Đổng thị thì quả là một cú đả kích lớn đối với Đổng Kỳ Xương. Trần Kế Nho ngoài giỏi thi họa còn đam mê cờ vây và thanh ngôn. Cái gọi là thanh ngôn chính là “ Thái căn đàm “ liên quan đến lời nói cách ngôn về cảm ngộ nhân sinh. Bây giờ “ Thái căn đàm “ vẫn chưa xuất hiện mà Trương Nguyên sớm đã thuộc lòng. Về cờ vây, Trương Nguyên cảm thấy mình có thể đọ sức với cao thủ cờ vây thời Vãn Minh. Đương nhiên nếu là đại cao thủ hơn trăm tuổi Lâm Phù Khanh thì hắn chắc chắn sẽ đánh không lại, khả năng đánh cờ của hắn ở thời hậu thế có lẽ thuộc hạng nghiệp dư. Chiều ngày hôm đó, Dương Thạch Hương mời ba huynh đệ Trương Nguyên đến phủ của y dự tiệc. Dương thị cũng là một đại tộc ở Thanh Phổ, trong nhà có mở hiệu sách và xưởng làm giấy, Tùng Giang Đàm Tiên cũng là thư phòng dùng giấy nổi tiếng. Giữa tiệc rượu Dương Thạch Hương lại nhắc đến chuyện Trương Nguyên tuyển chọn bình luận bát cổ văn, Trương Nguyên hỏi:

Thạch Hương huynh đã thu thập đủ bản thảo chưa?

Dương Thạch Hương đáp:

Chư sinh ba huyện ở Tùng Giang có tổng cộng năm trăm bài chế nghệ, đã thu đủ từ lâu rồi.

Trương Nguyên nói:

Vậy hãy giao bản thảo cho đệ, đệ buộc phải tuyển chọn bình luận thỏa đáng trước khi rời khỏi Tùng Giang .

Dương Thạch Hương mừng rỡ.

Chương 216: Điên cuồng (1)

Đang lúc uống rượu, Lục Đại Hữu vội vàng chạy đến bẩm báo, nói là Vương huyện lệnh đã thả tám tên lưu manh đánh thuê kia ra rồi, bị nô bộc của Lục thị chặn lại tại bến tàu ở thành Nam, đến tiếp ứng cho tám tên lưu manh đó còn có bốn tên đánh thuê của Hoa Đình. Trên bến tàu diễn ra một cuộc ẩu đả, một nô bộc của Lục thị bị tên đánh thuê dùng dao đâm trọng thương, may mà Mục Kính Nham đến kịp, mười hai tên đánh thuê có sáu tên lên thuyền trốn thoát, sáu tên còn lại đã bị bắt.

Trương Ngạc nổi giận mắng:

Con chó kia còn dám thả người sao. Y là con chó của Đổng Kỳ Xương nuôi!

Trương Nguyên nói:

Lập tức triệu tập chư sinh Thanh Phổ đến huyện nha, để xem Vương huyện lệnh giải đáp như thế nào.

Những sinh đồ như Hồng Đạo Thái, Kim Bá Tông

nghe tin liền vội vàng chạy tới, cùng với Lục Thao, Dương Thạch Hương và ba huynh đệ Trương Nguyên đến huyện nha đòi công bằng. Nô bộc của Lục thị áp giải sáu tên lưu manh đến. Nô bộc Lục thị bị đâm trọng thương đã được đại phu cấp cứu khẩn cấp, đã cầm máu, tính mạng đã được bảo toàn, lúc này mới được khiêng đến nha môn.

Hai ngày nay dân chúng ở huyện thành Thanh Phổ nghe Liễu Kính Đình kể chuyện, đúng vào thời điểm lòng đầy căm phẫn đối với hành vi ác độc của Đổng thị ở Hoa Đình. Nghe nói Vương huyện lệnh đã thả mấy tên đánh thuê thì lập tức kêu ca sôi sục, rầm rập đi theo đoàn người Lục thị đến huyện nha chờ lệnh...

Vào lúc chạng vạng ngày mười sáu, huyện lệnh Thanh Phổ Vương Thiện Kế đã nhận được thư viết tay của Hoàng tri phủ. Trong thư Hoàng tri phủ hỏi về việc môn khách Đổng thị là Bặc Thế Trình bị đánh ngày hôm qua. Vương Thiện Kế đã viết một bức thư thật dài giải thích cho Hoàng tri phủ, nói rằng Lục thị Thanh Phổ bắt được tám tên đánh thuê người Hoa Đình giải đến, xin Hoàng tri phủ chỉ thị phương án xử lý?

Vương Thiện Kế viết xong thư liền sai người suốt đêm đem thư đến phủ nha ở Tùng Giang. Trước trưa ngày mười bảy, Hoàng tri phủ phái người đến bảo Vương Thiện Kế thả tám tên lưu manh đó ra. Vương Thiện Kế liền nhân cơ hội trời tối thả tám tên đó ra, trong lòng có hơi buồn phiền. Lúc trống canh hai nghe thấy tiếng huyên náo trước huyện nha liền biết là không ổn, tức tốc sai người mời huyện thừa và chủ bộ đến. Ra bên ngoài Nhật Kiến đường nhìn thì đầu người nhấp nhô dưới ánh trăng, có khoảng vài trăm người, sáu tên đánh thuê mặt mũi bầm dập đang quỳ ở phía trước mặt, mọi người liên tục nhổ nước bọt vào sáu tên này. Lục Thao bước lên trước thi lễ với Vương Thiện Kế, chất vấn Vương huyện lệnh tại sao tự ý thả người để cho chúng lại hành hung trên bến tàu, đâm trọng thương một nô bộc của y?

Vương Thiện Kế không thể phản bác. Dân chúng bên ngoài đánh trống reo hò, có người nấp ở phía sau nhân lúc náo loạn đã chửi Vương Thiện Kế, sai dịch lớn tiếng quát cũng không thể đàn áp. Vương Thiện Kế vừa xấu hổ vừa tức giận nói:

Tám phạm nhân đó là người Hoa Đình, tất nhiên phải được áp giải đến Hoa Đình thẩm vấn.

Trương Nguyên nói:

Vương huyện tôn là quan phụ mẫu của Thanh Phổ phải yêu thương bảo vệ dân lành trong huyện, nếu mấy tên lưu manh này đánh người Thanh Phổ bị thương ở Hoa Đình thì đương nhiên phải do huyện nha Hoa Đình xử trí. Nhưng tám tên này lại quấy rầy làm nhục người dân Thanh Phổ ngay trong địa phận Thanh Phổ, sao huyện Thanh Phổ không lo mà phải giao cho huyện khác xử lý? Hơn nữa tám tên này vốn không phải được giải đến Hoa Đình để thẩm vấn, nếu là áp giải thì tại sao không thấy quan sai?

Trương Ngạc giận dữ quát:

Đây rõ ràng là đã nhận hối lộ của Hoa Đình Đổng thị , bao che hung phạm, hoàn toàn không để ý đến sự sống chết của người dân Thanh Phổ.

Dân chúng ở bên ngoài đồng loạt lên tiếng trách mắng. Vương Thiện Kế tím mặt, không chịu nổi áp lực quá lớn này bèn nói:

Là phủ tôn đại nhân muốn bổn huyện thả người, các ngươi hãy đi mà nói lý với phủ tôn.

Huyện thừa và chủ bộ Thanh Phổ vội vàng chạy đến nghe thấy Vương huyện lệnh nói thế thì bốn mắt nhìn nhau, thầm nghĩ: “Tên Vương Thiện Kế này đúng là một bao cỏ, một tên thư sinh vô dụng”.

Trương Nguyên nói:

Nói như thế thì bách tính Thanh Phổ bị oan ức, huyện tôn đại nhân không thể đứng ra làm chủ giải oan cho dân chúng, vậy thì sáu tên lưu manh bị bắt về đây nên xử thí như thế nào, xin huyện tôn đại nhân lên tiếng, có phải là bảo tôi phải đợi suốt đêm áp giải sáu tên này đến phủ nha hay không?

Huyện lệnh Thanh Phổ Vương Thiện Kế tiến thoái lưỡng nan, vô cùng bối rối.

Một sinh đồ đơn độc thì không dám hỗn xược trước mặt quan địa phương nhưng một nhóm sinh đồ thì khác, hơn nữa phía sau nhóm sinh đồ này còn có rất nhiều dân chúng, thế thì tình hình này lại càng khác to. Dân chúng người này một câu người kia một câu, càng nói càng phẫn nộ. Hai người huyện thừa và chủ bộ vì nhiều năm làm phó quan nên đầu tiên là lạnh băng xem trò cười Vương huyện lệnh, nhưng thấy dân tình hung hăng, liên tục chửi bới loạn xạ, nếu không áp chế e rằng sẽ thành cục diện không thể cứu vãn. Hai người bèn thảo luận với Vương Thiện Kế. Vương Thiện Kế không biết phải làm gì đành phải hứa hẹn lại tống giam sáu tên lưu manh kia, đồng thời khéo léo trấn an Lục Thao và đám sinh đồ, cam đoan sẽ nghiêm túc điều tra kẻ chủ sự đứng sau sáu tên này. Đã đạt được mục đích, Lục Thao, Trương Nguyên cũng biết chừng mực mà dừng lại, nếu không khiến cho đám dân chúng ở phía sau náo động rồi đập phá nha huyện, đánh Vương huyện lệnh, sảng khoái thì sảng khoái thật nhưng về sau truy cứu ra thì họ cũng khó mà thoát tội. Lực lượng dân chúng như hồng thủy như hỏa hoạn, nếu dẫn dắt không tốt thì mình sẽ phải chịu trận trước, hơn nữa mục tiêu của Trương Nguyên không phải ở Thanh Phổ, một Vương huyện lệnh bé con gõ một tí là xong, không có gì là quá đáng. Bởi vậy hắn cùng với tỷ phu Lục Thao và đám Dương Thạch Hương đều giúp khuyên giải dân chúng giải tán, mãi đến trống canh ba huyện nha Thanh Phổ mới khôi phục lại sự yên tĩnh.

Vương Thiện Kế giữ huyện thừa, chủ bộ, hình phòng điển sử và giáo quan huyện học ở lại cùng bàn bạc, quyết định bẩm báo sự việc vừa rồi lên Hoàng tri phủ và Án Sát phân ti. Sáu tên lưu manh đánh thuê Hoa Đình kia tạm giam giữ lại, xem Án Sát phân ti trả lời thế nào, là sung quân hay là áp giải đến Tùng Giang để thẩm vấn. Tất cả đều phải xử lý theo luật pháp, không thể vì một bức thư riêng của Hoàng tri phủ mà phóng thích phạm nhân một cách vô tội vạ.

Sáu tên đánh thuê trốn thoát tại bến tàu ở Thanh Phổ kia đi suốt đêm quay trở về Hoa Đình, vội vã đi gặp Ngô Long kẻ cầm đầu bọn lưu manh ở Tùng Giang. Tên Ngô Long này có hơn hai trăm tên đánh thuê, cấu kết với Đổng Tổ Thường mở sòng bạc, chứa chấp mại dâm, áp bức người lương thiện, lấy mạnh hiếp yếu, không có chuyện ác nào là không làm. Mấy tên lưu manh này đến nha môn là chuyện thường, cũng không sợ bị đánh nhưng vì làm việc cho Đổng thị mà bị đánh thì đây là lần đầu tiên. Hơn nữa nội trong ba ngày mà bị đánh tới hai lần, còn có sáu tên bị bắt nhốt ở nhà giam huyện Thanh Phổ không được thả, việc này khiến Ngô Long vừa sợ vừa tức giận. Ngô Long hơn ba mươi tuổi, tướng mạo cũng không được cao to tuấn tú cho lắm nhưng lại cường tráng khỏe mạnh, quyền cước thương bổng rất thành thạo, vốn có nghề dạy võ, sau khi tụ tập được một nhóm đệ tử liền thành lập đám người đi đánh thuê báo thù cho chủ thuê, trộm cắp lừa gạt, bày trò hãm hại người khác để cướp của v.v…, ngoài ra còn chịu đánh thay cho người khác. Bởi vì quan phủ yêu cầu thuế cấp bách, có một số hộ không đóng thuế đủ phải chịu đánh nhưng lại có thể thuê người chịu đánh. Đây đúng là chuyện kỳ quặc, những kẻ đánh thuê kiếm tiền cũng thật là vất vả nhưng kể từ khi kết giao với con trai Đổng Hàn Lâm thì đám đánh thuê này đã sớm không còn phải đi làm cái nghề đê tiện là chịu đánh thay người khác nữa, mà là chuyên trách việc đánh người.

Thuộc hạ của Ngô Long có một tên võ nghệ xuất chúng tên là Uông Đại Chuy, tên này giận dữ nói:

Đại ca, dứt khoát phải gọi các huynh đệ xông đến Thanh Phổ, phá tan Lục gia để cho người Thanh Phổ thấy được sự lợi hại của bang đánh thuê Hoa Đình ta.

Bây giờ Ngô Long cũng đã là ông chủ giàu có rồi, không giống như mấy tên lưu manh lỗ mãng liều mạng bình thường nữa, y nói:

Đừng vội, bây giờ đã là đêm khuya, ngày mai ta sẽ cùng bàn với Đổng nhị công tử, mối thù của các huynh đệ nhất định phải báo, nếu không thì sau này những người hành nghề đánh thuê như chúng ta sao có thể sống yên ổn ở Tùng Giang chứ.

Sáng sớm ngày hôm sau Ngô Long liền đến dinh thự hào nhoáng của Đổng thị để gặp Đổng Tổ Thường. Đổng Tổ Thường vừa nghe nổi giận đùng đùng, cũng không kịp báo lại chuyện này với phụ thân Đổng Kỳ Xương mà đã tự mình đến gặp tri phủ Tùng Giang Hoàng Quốc Đỉnh. Hoàng Quốc Đỉnh lúc này cũng đã nhận được thư của huyện lệnh Thanh Phổ Vương Thiện Kế gửi đến ngay trong đêm, đang cảm thấy sự việc này thật khó có thể giải quyết, đã thế Đổng Tổ Thường còn kêu la phải nghiêm trị Lục thị ở Thanh Phổ, phải bắt giữ Trương Nguyên, việc này khiến Hoàng Quốc Đỉnh không vui chút nào. Y liền đưa cho Đổng Tổ Thường một tờ giấy hơi bị nhàu nát đã được gấp lại trên bàn nói:

-Thế huynh, hãy mau đưa cho thầy Đổng xem cái này, việc này không phải nhỏ, là do nha dịch vừa mới lấy xuống từ trên Thân Minh đình đó.

Đổng Tổ Thường thấy Hoàng tri phủ tránh không nói đến việc trừng trị Lục thị mà lại đưa cho mình một tờ giấy rách, trong lòng cảm thấy rất tức giận, nói:

Tờ giấy này đợi lát nữa ta sẽ đưa cho gia phụ xem nhưng Lục Thao và Trương Nguyên sai người đánh bị thương môn khách của Đổng thị ta, còn bắt người đi, phủ tôn đại nhân nếu không nghiêm phạt thì e rằng sẽ khó làm phục lòng dân chúng.

Chương 216: Điên cuồng (2)

Hoàng Quốc Đỉnh thản nhiên nói:

Vương tri huyện Thanh Phổ đã có thư đến, nói là sáu tên đó đã bị nhốt vào huyện lao, nhất thời không được thả, thế huynh hãy đưa mảnh giấy này cho thầy Đổng xem trước, sau giờ ngọ bổn phủ sẽ đích thân đến nói rõ ràng với thầy.

Đổng Tổ Thường đành phải cáo từ, chưa đạt được mục đích nên vô cùng tức giận, mở mảnh giấy rách ra xem, nào là “Lòng người hiểm như sông núi, khó hiểu như trời, trời vẫn còn thời gian ngày và đêm của bốn mùa xuân hạ thu đông nhưng người khó mà đoán được.” Tiêu đề là “Thư họa khó luận tiếng lòng”. Đổng Tổ Thường tức giận nói:

Thật chẳng ra làm sao, đưa phụ thân ta xem tờ giấy rách nát này làm gì chứ, rõ ràng là tắc trách, không lẽ Hoàng Quốc Đỉnh cũng sợ bọn Trương thị ở Sơn Âm đó?

Nếu không phải Hoàng Quốc Đỉnh hết lần này đến lần khác dặn dò phải đưa thiếp văn này cho thầy Đổng xem thì Đổng Tổ Thường rất có thể sẽ tiện tay mà vứt đi rồi. Lúc này gã đành phải nhẫn nhịn đến chỗ phụ thân bên phủ đệ. Ba huynh đệ Đổng Tổ Nguyên, Đổng Tổ Thường và Đổng Tổ Hòa mỗi người đều có dinh thự riêng, đều không sống chung với Đổng Kỳ Xương nhưng khoảng cách lại rất gần, nhà có đến nghìn gian, phố phường tiếp nối nhau, năm ngoái Đổng Tổ Nguyên còn xây nhà mới bên cầu Trường Sinh.

Đổng Kỳ Xương mới sáng sớm đã luyện bút ở Họa Thiền phòng. Đây là thói quen đã mấy chục năm của lão. Đổng Kỳ Xương lúc mười bảy tuổi đã tham gia thi phủ ở Tùng Giang, vì thư pháp không giỏi nên không thể giành được thủ khoa thi phủ, từ đó đã cố gắng tập viết chữ theo mẫu. Từ Trung, Vương thời Ngụy Tấn đến Nhan, Liễu của triều Đường, từ Ngũ đại Dương Ngưng Thức đến Mễ Phất thời Tống, đều tập viết chữ theo mẫu rất chăm chỉ, cuối cùng trở thành những nhà thư pháp lớn. Lão đến hôm nay tuổi đã lục tuần nhưng mỗi ngày đều vẫn viết Khải thư Thiên tự văn cả trăm chữ. Hôm nay vừa mới viết xong cả cuốn thì con trai Đổng Tổ Thường đến, phẫn nộ nói Hoàng tri phủ không chịu nghiêm phạt Lục thị Thanh Phổ tội đánh người mà lại còn trịnh trọng bảo gã gửi một tờ giấy rách đến.

Đổng Kỳ Xương tỉnh như không, mở tờ giấy ra xem, đầu tiên là xem chữ, chữ viết rất kém, có thể phân biệt được từng chữ, hiển nhiên là viết rất qua loa, có hơn một nghìn chữ chi chít. Đọc được trên một trăm chữ, Đổng Kỳ Xương vốn đang ngồi liền đứng dậy, chống hai tay lên thư án tiếp tục xem, càng xem càng kinh hãi, càng phẫn nộ, hai tay chống trên bàn đều run lên bần bật.

Đổng Tổ Thường nhìn thấy dáng vẻ phẫn nộ của phụ thân, giờ mới hiều được tờ giấy rách nát kia quả nhiên là quan trọng, liền hỏi:

Phụ thân, tờ giấy viết gì mà phụ thân lại tức giận đến thế?

Đổng Kỳ Xương thở dồn, cho đến khi đọc đến bài thơ của Văn Mạt Nguyên đột nhiên giận dữ kêu lên một tiếng, cầm lấy tờ giấy Tùng Giang vốn đã rách nát xé làm hai mảnh, lại quăng tay làm cái bình xanh trên bàn rớt xuống đất “choang” một tiếng, vỡ vụn văng khắp nơi, sau đó lão quay lại ngồi vào ghế mũ quan, lớn tiếng hỏi:

Là ai? Là ai viết tờ giấy này?

Đổng Tổ Thường từ trước giờ chưa từng thấy phụ thân tức giận phẫn nộ như thế nên cũng đâm ra lo sợ, đáp:

Hoàng tri phủ nói là nha dịch lấy từ Thân Minh đình xuống từ sáng sớm.

Đổng Kỳ Xương khàn giọng nói:

Lời văn ác độc, là muốn đưa Đổng Kỳ Xương ta vào chỗ chết đây mà!

Vừa quát lão vừa ra sức đấm xuống mặt bàn, có thể thấy được sự phẫn nộ cực độ, gần như phát điên.

Đổng Tổ Thường cuống quýt nhặt tờ giấy rách nát bị xé làm hai mảnh kia lên, ghép lại xem chỗ nào đã chửi mắng phụ thân gã, nhìn trái nhìn phải nhưng vẫn không hiểu. Đổng Tổ Thường cũng chỉ có thể gọi là biết chữ, đọc một vài tiểu thuyết thông thường thì còn tạm được. Bài “ Thư họa khó luận tiếng lòng “ này là bài thơ cổ văn thanh lịch thuần khiết, trích dẫn kinh điển, lưu loát phong phú, gã không nhìn ra được câu nào là câu mắng người nhưng phụ thân lại nổi giận điên cuồng như thế hiển nhiên bài thơ này là vô cùng ác độc, bèn nói:

Phụ thân bớt giận, con sẽ điều tra xem ai đã viết tờ giấy này!

Đổng Kỳ Xương đã không còn kiềm chế được sự điên cuồng của mình, lão quát:

Mau đi điều tra, điều tra ra là kẻ nào thì đánh cho ta, đánh thật lực vào!

Đổng Tổ Thường vâng một tiếng, cầm lấy hai mảnh giấy rách đi khỏi Họa Thiền thất, gã đi thương lượng với huynh trưởng Đổng Tổ Nguyên trước. Đổng Tổ Nguyên nhìn qua một lượt tờ giấy rách nát, y không phải không học vấn không nghề nghiệp giống như kỳ đệ Tổ Thường, giận dữ nói:

Đây là muốn chửi bới phẩm hạnh của phụ thân mà, chẳng trách phụ thân nổi giận, bài viết này thật sự quá ác độc, bài viết này mà lưu truyền thì sẽ tổn hao đến thanh danh của phụ thân, phải lập tức điều tra ngay, cũng không phải trông cậy vào Hoàng tri phu nữa, mấy tên nha dịch đó chẳng có ích lợi gì cả, hãy bảo thủ hạ của Ngô Long điều tra toàn bộ, đã là dán ở Thân Minh đình thì phải có người nhìn thấy, có người muốn hủy hoại danh tiếng của phụ thân thì chắc chắn sẽ không chỉ dán ở mỗi Thân Minh đình mà ở những nơi khác cũng đều phải đi xem xét điều tra, nhìn thấy thì lập tức xé bỏ chớ để truyền ra bên ngoài.

Đổng Tổ Thường lập tức bảo người kêu Ngô Long đến, ra lệnh cho Ngô Long tức khắc sai người đi khắp nơi tìm người dán bài “ Thư họa khó luận tiếng lòng “ . Thủ lĩnh bọn đánh người Ngô Long lộ vẻ khó xử, y không biết chữ, đám thanh thủ đánh thuê của hắn cũng không được mấy tên biết chữ, muốn bọn chúng đánh người thì được nhưng bắt chúng đọc chữ thì đúng là làm khó chúng rồi.

Đổng Tổ Thường không nhịn được nói:

Không để ý nhiều thế làm gì, hễ nhìn thấy đứa nào dán giấy thì bắt tới tra tấn thẩm vấn ngay, gia phụ đã nổi trận lôi đình, không bắt được tên này thì không để yên.

Ngô Long hỏi:

Nhị công tử, vậy để mặc kệ sáu tên bị giam giữ ở Thanh Phổ kia sao?

Đổng Tổ Thường quát:

Trước hết việc gấp gáp nhất là phải bắt tên gian tặc dán giấy đã, mau đi đi!

Sau khi Ngô Long đi, Đổng Tổ Thường lại phái đi hơn một trăm gia đinh, đều là những người biết được vài chữ. Trên khắp phố to ngõ nhỏ huyện Hoa Đình, đâu đâu cũng thấy bọn đánh thuê và gia nô của Đổng phủ. Mấy tên đánh thuê này tiện thể ức hiếp người lương thiện, trêu ghẹo phụ nữ, trong phút chốc cả huyện thành và phủ thành đều chướng khí mù mịt, huyện thành lớn như vậy luôn có vài cáo thị tìm người hoặc tìm đồ vật, vừa lúc bị gia nô Đổng thị và bọn đánh thuê nhìn thấy, không biệt tốt xấu chúng đã ra tay hành hung trước, mà thiếp văn “ Thư họa khó luận tiếng lòng “ này lại dán ở khắp nơi, gia nô Đổng thị và bọn đánh thuê đã bóc hơn hai mươi tờ nhưng vẫn không bắt được kẻ dán, bèn bắt hai tên dán cáo thị tìm đồ xui xẻo kia về nhà Đổng Tổ Thường để thẩm vấn.

Đổng Tổ Thường tự thiết lập hình đường, sai người đánh hai tên xui xẻo đó một trận, đánh đến bán sống bán chết nhưng vẫn không hỏi được gì, nghĩ là đã bắt nhầm người nhưng cũng không thả cho hai tên này đi mà nhốt chúng vào kho củi đợi điều tra chân tướng xong rồi thả cũng không muộn.

Đổng Tổ Thường oán hận nói với huynh trưởng Đổng Tổ Nguyên:

Chuyện này chắc chắn có liên quan đến Trương Nguyên, tiểu tử đó vừa đến Tùng Giang thì chuyện gì cũng đến!

Đột nhiên gã nhớ đến Bặc Thế Trình từng nói còn có ba tú tài Hoa Đình ở cùng với Trương Nguyên, một người họ Tương không biết là ai, còn hai người kia là Kim Lang Chi và Ông Nguyên Thăng, bắt hai tên này về ép hỏi chắc chắn có thể biết được là ai dán “ Thư họa khó luận tiếng lòng “ .

Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại lúc này đang uống trà chơi cờ bàn về thanh ngôn ở Đông Dư Sơn Cư của Trần Kế Nho, vô cùng nhàn nhã.

Trần Kế Nho thích vẽ, sớm đã ẩn cư ở phía Nam tiểu Côn Sơn, xây miếu thờ Nhị Lục (Lục Cơ và Lục Vân), đi xin những bông hoa nổi tiếng khắp nơi, trước Quảng Thực Đường, ông nói:

Ta nghèo, lấy cái này để vui với hai vị tiên sinh.

Vì thế ông mới có cái tên phong nhã‘Khất hoa tràng’ như vậy.

Từ khi song thân qua đời, Trần Kế Nho di cư về núi Đông Dư, xây Ngoan Tiên Lư, Lai Nghi Đường, Lỗi Kha Hiên, Vãn Hương Đường, Nhất Phất Hiên, Lâm Hạ Uyển. Trần Kế Nho bây giờ đã không còn lo về tiền tài nữa, ông ta không làm quan, tuy thư họa rất giỏi nhưng không hề giống như Đổng Kỳ Xương lấy tiền nhuận bút từ thư họa để làm giàu, càng không ỷ thế ức hiếp người khác ở quê hương, vậy thì con đường phát tài của Trần Kế Nho ở đâu, sao lại có thể xây được Đông Dư Sơn Cư, kết giao danh sĩ, du ngoạn sơn thủy?

Trần Kế Nho là người thông minh tuyệt đỉnh. Ông thấy sự đấu đá chốn quan trường liền vứt bỏ mũ nho, từ bỏ ý định tiến thân bằng con đường làm quan. Nhưng ông không phải loại thư sinh cuồng ngạo, mà là một ẩn sĩ cô độc. Cũng chẳng phải ông không thích giàu sang phú quý, chỉ là không muốn vì giàu có mà phải mệt mỏi mà thôi. Ông không muốn làm ẩn sĩ chỉ sống nghèo khổ đạm bạc rồi chết đói trên núi Thủ Dương. Con đường phát tài của Trần Kế Nho là in ấn sách. Bảo Nhan Đường của ông ta là hiệu sách lớn nhất Giang Nam. “ Bảo Nhan Đường bí cấp “ do ông phụ trách biên tập một tháng xuất bản hai cuốn, hai mươi năm nay đã xuất bản hơn bốn trăm cuốn. “ Bảo Nhan Đường bí cấp “ là một cuốn sách tương tự như Bách khoa toàn thư, kinh sử tử tập, y học, bói toán, tướng số, tử vi đều được đề cập đến, còn có các loại bút kí tiểu thuyết, thanh ngôn tiểu phẩm. Những sách này vì hợp sở thích của kẻ sĩ thời Vãn Minh, cộng thêm danh tiếng của Trần Kế Nho nên được tiêu thụ khắp nam bắc Đại Giang, có thể nói Trần Kế Nho là thương gia về sách thành công nhất thời Vãn Minh.

Chương 217: Hạc trong mây

Có một loại sách mà Bảo Nhan Đường của Trần Kế Nho không ấn hành, đó chính là chế nghệ văn bát cổ. Đây là sự kiêu ngạo của Trần Kế nho mà cũng là sự thông minh của ông. Bởi vì các loại sách khác đã đủ để ông ta kiếm tiền, bớt lại bát cổ văn để các thư thương khác kiếm tiền, tránh bị người ta đố kỵ. Có Bảo Nhan Đường lớn mạnh hậu thuẫn ở phía sau, Trần Kế Nho mới có thể không bị ràng buộc bởi công danh mà ung dung du sơn ngoạn thủy, vui vẻ mãn nguyện hưởng thụ lạc thú của cuộc sống. Sáng sớm ngày mười tám tháng năm, Trương Nguyên cùng với đại huynh Trương Đại từ trang viên Lục thị vượt qua Dư Sơn đến “Đông Dư Sơn Cư” của Trần Kế Nho. Tùy tùng đi theo là cha con Mục Chân Chân và Mục Kính Nham, Vũ Lăng và cả hai nô bộc tráng kiện của Tây Trương. Trên đường đi Trương Đại thao thao bất tuyệt nói với Trương Nguyên về tin đồn về Trần Mi Công. Đứng ở đỉnh núi Dư Sơn, nghiêng đầu ngắm nhìn những lầu các ẩn hiện trong rừng cây xanh ngắt ở chân núi phía đông, Trương Đại dừng chân nghỉ ngơi, thản nhiên nói:

Giới Tử, vừa nghĩ đến việc sắp được gặp Trần Mi Công thì lòng quyết tâm tiến thủ đường công danh của ta liền tan biến như băng tuyết, kỳ thực ta cũng muốn học theo Trần Mi Công làm một ẩn sĩ ung dung tự tại, thưởng thức món ăn ngon, trà quý, tập dưỡng sinh, cả đời sống vui vẻ.

Trương Nguyên nghĩ thầm: “Trần Mi Công đã bắt kịp thời cơ, sống đến hơn tám mươi tuổi, chết trước khi thay đổi triều đại, đại huynh không thể làm được đâu”.

Hắn cười nói:

Đại huynh là người giàu sang phú quý, tỳ nữ đẹp luyến đồng hay, Trần Mi Công có sắc giới ca đấy.

Trương Đại cười lớn:

Tài tử phong lưu chính là tuổi trẻ, tuổi trẻ nghe vũ ca trên lầu, dù là Trần Mi Công lúc còn trẻ tuổi cũng vô cùng háo sắc đấy, phụ thân ta đã nói như thế. Mi Công tuổi quá tứ tuần mới bắt đầu dưỡng sinh, vì thế nói hay là ta đợi đến sau bốn mươi tuổi hãy quy ẩn vậy, không nếm trải hương vị thế gian, thì làm sao có được ý tưởng xuất thế. Cho nên nói không chỉ ẩn sĩ mà chính là mấy tên hòa thượng, đạo sĩ, xuất gia từ nhỏ rất ít có khả năng tu thành chính quả, buộc phải hồng trần khắp nơi mới có thể siêu thoát chứng ngộ.

Trương Nguyên cũng cười to. Những lời của đại huynh rất có tầm mắt, đại huynh cả đời đích thực là sống như thế, trước năm mươi tuổi nếm trải hết phồn hoa, sau năm mươi kham khổ như lão tăng, thế mới viết được “ Đào am mộng ức “ , “ Tây hồ mộng tầm “ vừa ngắn gọn súc tích lại vừa rộng mở, vừa thâm tình lại vừa siêu thoát. Tào Tuyết Cần viết “ Hồng Lâu Mộng “ cũng bởi vì có được cái cảnh ngộ đó. Việc ra đời các tác phẩm bất hủ cũng là có cái vận khí của nó, dường như đã tồn tại từ sớm, chỉ cần đợi người thích hợp viết ra. Trương Đại đứng trên đỉnh Dư Sơn bỗng nhiên nghĩ thông ra là sau bốn mươi tuổi hãy quy ẩn, lòng không khỏi vui sướng, như vậy có thể có lí do để ăn chơi đàng điếm rồi. Gã nhẹ nhàng vui vẻ xuống núi, vừa đi vừa hát:

Hồng nhan tuy đẹp, tinh khí thần tam bảo đều bị chồn hoang trộm mất. Đỉnh lông mày nhíu lại, vòng eo mềm mại, thanh thoát, trang điểm đậm hay nhạt cũng đều bị nam tử làm cho khô héo. Âm thầm phát một mũi tên, trúng anh hùng, dây cung đứt. Bệnh ma quấn lấy, đi tìm thầy thuốc cầu chữa. Phòng thuật lầm không ít người, việc phiền não này, tự trong nhà mà ra. Điền tinh bổ não phải sớm ra tay ứng phó. Thu xếp phàm tâm, đến thăm tiên ông, học bất lão.

Đó là bài “ Giới sắc ca “ của Trần Kế Nho.

Trần Kế Nho thích vẽ, yêu thích mai và lan, sống ở Dư Sơn mười năm, nhà cửa ruộng đất xung quanh trồng rất nhiều cây mai, lại lựa chọn nơi râm mát yên tĩnh để trồng rất nhiều hoa lan, không thiếu giống cây quý giá nào. Lúc này là vào tháng năm giữa mùa hạ, Kiến Lan, Trân Châu Lan nở rộ, còn có hoa nhài, thục quỳ, đỗ nhược, đều khoe màu đua sắc, tranh đua vẻ đẹp. Trương Nguyên và Trương Đại vừa đến thích thú vô cùng. Trong rừng cũng có rất nhiều loại chim líu lo ríu rít, hót véo von. Khi ngước mắt nhìn lên, ánh mặt trời chiếu xuống lọt qua cành lá sum sê, những tia nắng rực rỡ, bên tai chỉ nghe thấy tiếng chim hót nhưng lại không nhìn thấy nơi chúng đang ẩn nấp...

Vũ Lăng cũng trầm trồ:

Trần Mi Công sống hưởng thụ quá, ẩn sĩ như thế này thì ai lại không muốn chứ!

Trương Đại bật cười:

Tiểu Vũ, ẩn sĩ dễ làm như thế sao? Mi Công có một câu nói rất nổi tiếng là “Không phải người nhàn rỗi thì không nhàn được, người nhàn rỗi không phải người đợi nhàn rỗi.”

Trương Nguyên nói:

Cao sĩ như Mi Công là rất hiếm có trên thế gian này. Đổng Kỳ Xương sống ở nơi ồn ào náo nhiệt còn Trần Mi Công sống ở rừng núi. Đổng Kỳ Xương thuê người vẽ thư họa để bán, còn Trần Mi Công vẽ tranh chỉ để tặng bạn bè tri kỷ, so sánh với Trần Mi Công thì Đổng Kỳ Xương dung tục hết sức, hắn thầm nghĩ: “Đổng Kỳ Xương và Trần Mi Công đều qua đời khi tám mươi hai tuổi. Nghe nói Đổng Kỳ Xương lúc lâm chung muốn mặc váy áo thêu màu đỏ của phu nhân, không biết có phải cảm thấy thân mình quá dơ bẩn mà muốn làm phụ nữ ở kiếp sau hay không? Còn Trần Mi Công tự biết đại nạn đang đến nên đã rời khỏi cốc mấy ngày để viết thư và chia tay bạn bè thân hữu, giống như sắp đi xa. Tự tay ông viết một câu đối “Bắt đầu từ chân, bắt đầu từ tay, tám mươi năm cuộc đời chìm nổi: không oán trời, không trách người, ba nghìn giới cá nhảy chim bay”, sau đó buông bút từ trần. Cảnh giới này sao Đổng Kỳ Xương có thể sánh kịp chứ!

Là một ẩn sĩ am hiểu sâu nhưng giữ mình, phẩm hạnh của Trần Kế Nho không thể nào bắt bẻ được. Trương Nguyên rất ngưỡng mộ Trần Kế Nho nhưng thời thế lúc bấy giờ không đáng để noi theo đường đi gập ghềnh của Trần Mi Công. Bỗng nhiên nghe thấy tiếng hươu kêu, Trương Đại lắng tai nghe vui mừng nói:

Đây chắc chắn là con hươu của tổ phụ ta tặng cho Mi Công! Ha ha, đã mười năm rồi mà Mi Công vẫn cứ cưỡi hươu như trước.

Trương Nguyên cười nói:

Thần đồng năm nào nay đã là một thiếu niên đẹp đẽ nhanh nhẹn rồi, e là Mi Công sẽ nhận không ra.

Một hàng bảy người xuyên qua rừng mai, đi theo tiếng hươu kêu. Bên phải đường núi có một khe suối nước chảy róc rách, làn nước vô cùng trong xanh bắn tung như châu ngọc. Tiếng hươu kêu ở bờ bên kia khe núi. Đi được thêm khoảng mười dặm lại thấy một cây cầu được dựng bằng mây tre già vắt ngang qua hai bờ suối. Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại đi lên cầu mây liền trông thấy một con suối uốn quanh tạo thành một cái hồ nhỏ ở chân núi. Hồ rộng hơn mười mẫu, hai tòa lầu bằng gỗ được xây gần núi, có hàng rào tre thưa làm tường, vây thành một cái sân nhỏ, trồng đủ các loại hoa cỏ nhiều màu sắc. Đây chắc chắn chính là “Thủy biên lâm hạ uyển” (vườn dưới rừng bên dòng nước). Tiếng hươu kêu u u, từ bên hàng rào xuất hiện một con hươu sừng lớn, tiếng bước đi vang dội, đi đến bên hồ để uống nước, rồi lập tức xuất hiện một nữ lang mặc áo vải đội mũ trúc đi đến bên cạnh con hươu, kéo áo ngồi xổm xuống, vớt một đám bèo rồi để trong tay cho hươu ăn. Đương lúc con hươu đang ngoan ngoãn ăn bèo thì đầu lưỡi liếm phải lòng bàn tay của nữ lang khiến nàng cười khanh khách. Trương Nguyên và Trương Đại lập tức dừng chân, hai huynh đệ nhìn nhau, vẫn chưa mở miệng nói lời nào thì Vũ Lăng nhanh mồm nhanh miệng nói khẽ:

Thiếu gia, nữ lang này không phải là vị mà chúng ta đã gặp ở Tây Hồ, con gái của Nhạc Vương - tiểu thư Ngân Bình hay sao?

Trương Nguyên cười mắng:

Nói bậy, rõ ràng là người mà.

Con hươu sừng lớn cảnh giác, phát hiện ra đám bảy người Trương Nguyên liền quay đầu nhìn, trong miệng vẫn còn ngậm một nắm bèo, nuốt xuống từng chút một. Nữ lang mặc áo vải đội mũ trúc kia quay đầu nhìn, ánh nắng gắt làm nữ lang nheo mắt, lông mi cụp xuống, đôi mày thanh tú cũng nhíu lại, làn da được ánh mặt trời chiếu vào sáng như mỹ ngọc, áo vải ôm lấy eo thon mảnh mai, khuôn mặt tựa hoa đào, xinh đẹp tuyệt trần. Nữ lang gặp bên cầu gãy ở Tây Hồ ngày trước là người đang đứng trước mặt mình thật ư? Cả Trương Nguyên và Trương Đại đều bị cận, đêm trăng hôm đó nhìn không rõ, mà nữ lang trước mặt lại là một người xinh đẹp tuyệt trần nên nhất thời không dám xác định. Tuy trang điểm rất giống nhưng suy cho cùng thì một người ở Tây Hồ còn một người lại ở Dư Sơn Hoa Đình cách mấy trăm dặm. Trương Nguyên tuy mắt hơi kém nhưng tai lại thính đến mức đáng kinh ngạc, đã nghe rồi thì sẽ không bao giờ quên. Hắn lập tức tiến thêm mấy bước, chắp tay nói với nữ lang:

Tại hạ Trương Nguyên cùng đại huynh đến thăm Mi Công.

Nữ lang nhẹ nhàng trả lễ bằng một tiếng “Vâng”, đưa mắt nhìn Trương Nguyên và Trương Đại, đột nhiên cất giọng nói:

Diêu thúc!

Chợt nghe thấy tiếng bước chân vọng đến. Một số người nối nhau đi ra, tay cầm cây gậy dài, quát:

Lại đến nữa sao?

Mục Chân Chân thoáng chốc đã đứng bên cạnh Trương Nguyên, nâng đùi phải lên, cảm thấy sự tồn tại của Tiểu Bàn Long côn nhưng Mục Kính Nham lại rất bình tĩnh. Hai người hầu của Trương Đại đều trở nên rất căng thẳng. Trương Nguyên nghe thấy nữ lang gọi “Diêu thúc”, rõ ràng chính là nữ lang giống như tiên, như ma như cáo đã xin qua sông vào đêm trăng ở Tây Hồ hôm đó. Mấy người này cầm gậy mặt mũi đằng đằng sát khí là muốn gì đây?

Nhưng lại thấy nữ lang mặc áo vải đội mũ trúc bỗng nhiên cười lớn, nói với mấy tên đại hán:

Những người này không phải lưu manh côn đồ, là Trương tú tài ở Sơn Âm đến thăm Mi Công.

Chương 218: Ban ngày nghe tiếng đánh cờ vây (1)

Mấy tên đại hán cười ha hả, vứt bỏ gậy cầm trên tay xuống, chắp tay trước ngực cung kính nói với Trương Nguyên và Trương Đại:

Tướng công xin chớ trách, gần đây thường xuyên có lưu manh côn đồ đến quấy rầy.

Vũ Lăng nói:

Mấy tên lưu manh đó đã bị bắt giam ở huyện lao Thanh Phổ rồi.

Nữ lang áo vải mặt đẹp như tranh vẽ kia nắm lấy chạc sừng của con hươu, một người một hươu tiến vào cổng hàng rào trúc. Người được gọi là Diêu thúc hỏi huynh đệ Trương Nguyên, Trương Đại:

Hai vị tướng công nếu có danh thiếp, xin hãy đưa để tiểu nhân vào thông báo.

Trương Đại nói:

Cứ nói là có cháu của Trương Túc tiên sinh ở Sơn Âm đến thăm.

Người gọi là Diệu thúc đó nhướng đôi lông mày rậm lên hỏi:

Là vị Trương Túc tiên sinh đã tặng hươu cho Mi Công phải không ạ?

Trương Đại nói:

Chính là tổ phụ của ta.

Diệu thúc liền quay đầu đi vào bên cạnh hàng rào nói với một đầy tớ đang thò đầu ra nhìn:

Đã nghe rõ chưa, mau đi báo đi.

Tiểu đồng đó vâng một tiếng rồi co đầu chạy đi.

Diệu thúc mời bảy người Trương Nguyên vào phòng dưới lầu “Thủy biên lâm hạ uyển” . Trương Nguyên và Trương Đại thích thú thưởng thức hoa cỏ trong vườn. Nữ lang mặc áo vải đội mũ trúc kia đã không thấy bóng dáng đâu nữa, thật khiến cho Trương Nguyên và Trương Đại không thể đoán được thân phận của nàng. Mười ngày trước còn ở Hàng Châu, bây giờ lại xuất hiện ở Đông Dư Sơn Cư, nữ lang này là thân thích của Trần Mi Công? Theo Trương Đại biết thì Trần Mi Công không có con gái. Sau thời gian khoảng nửa chén trà thì người đầy tớ nam chạy đến báo:

Mi Công đang ở Lỗi Kha Hiên, mời hai vị tướng công đến gặp.

Trương Đại sai bọn người hầu ở đây đợi rồi cùng với Trương Nguyên đi theo đầy tớ nam đến Lỗi Kha Hiên. Đi được vài bước thì phát hiện Mục Chân Chân cùng đi theo, bèn cười nói với Trương Nguyên:

Giới Tử, tỳ nữ của đệ thật trung thành đấy.

Lúc Trương Nguyên quay đầu nhìn thì thiếu nữ đọa dân này liền đỏ mặt, nói:

Thiếu gia, tỳ nữ sợ là sẽ có lưu manh.

Trương Nguyên cười nói:

Ừ, Chân Chân đi theo chúng ta để gặp Trần Mi Công danh tiếng lẫy lừng.

Trương Đại nói:

Bọn đánh thuê Hoa Đình đến biệt thự của Mi Công quấy rầy, thật là kỳ lạ. Bọn đánh thuê Hoa Đình là do Đổng thị nuôi, Mi Công và Đổng Huyền Tể lại rất có giao tình, lẽ nào bọn chúng không biết?

Người đầy tớ dẫn đường nói:

Mấy tên đánh thuê đó đâu dám tới đây gây hấn, chỉ là hôm trước có mấy tên lưu manh đi ngang qua nhìn thấy Vi Cô liền nói năng xằng bậy, bị Diêu thúc đuổi nên bọn chúng đã vội vàng tháo chạy rồi.

Trương Đại hỏi:

Vi Cô chính là nữ lang vừa mới ở bên hồ đúng không, nàng ấy quan hệ thế nào với Mi Công?

Đầy tớ đáp:

Là đệ tử của Mi Công, theo Mi Công học thư họa.

Trương Đại vẫn còn muốn hỏi nữa nhưng người đầy tớ nói:

Mi Công ra đón kìa.

Lúc Trương Đại và Trương Nguyên ngước mắt nhìn thì nhìn thấy một ông lão gầy gò đi ra từ một lầu các được xây dựa vào núi. Ông lão này quấn khăn Đông Ba, mặc một chiếc đạo bào thẳng thớm, lông mày rất dài, dường như che đến mắt, để kiểu râu dê, râu tóc hoa râm, lúc bước xuống bậc thềm đá sống lưng thẳng đứng, đi đứng nhanh nhẹn, tuổi đã gần sáu mươi mà không trông già chút nào. Trương Đại bước nhanh đến trước mặt ông lão, khom người thi lễ:

Vãn bối Trương Đại bái kiến Mi Công.

Trương Nguyên cũng thi lễ theo:

Vãn bối Trương Nguyên bái kiến Mi Công.

Ông lão này chính là Trần Kế Nho, cười ha hả nói:

Anh bạn nhỏ Trương Đại, cách biệt mười năm, tiểu đồng tóc dài ngày trước giờ đã là một thiếu niên anh tuấn rồi, ‘Tiền Đường huyện lý đả thu phong’, phản ứng rất nhanh nhẹn, đến hôm nay lão phu cũng không thể quên.

Trương Đại không ngờ Trần Kế Nho vẫn còn nhớ chuyện câu đối đó, hổ thẹn nói:

Đồng tử không biết đối đáp không đúng, sớm đã rất hối hận rồi.

Trần Kế Nho cười nói:

Trẻ con nhanh miệng chính là bản tính, sao lại hối hận chứ, năm trước lão phu ở Kinh Thạch phủ của Thái Thương Vương dạy thư họa cho con trai ông ta, bị người ta hỏi thẳng đã là người trên núi sao không đi lên núi, lão phu mặt không hề biến sắc.

Trương Đại nói:

Sanh phu tục tử sao có thể biết được sự cao thượng của Mi Công.

Trương Nguyên nói:

Thói đời hợm hĩnh nịnh hót, sống gần người không trong sạch nhưng Mi Công không bị nhiễm đó mới thật sự là trong sạch.

Trần Kế Nho đưa mắt nhìn Trương Nguyên, có chút ngạc nhiên, hỏi Trương Đại:

Vị này là em họ của cậu, con trai của Trương Giá Sinh đúng không?

Trương Đại liền đáp:

Mi Công, đây là tộc đệ Trương Nguyên Trương Giới Tử.

Cặp lông mày dài của Trần Kế Nho di động, chợt nói:

Ha ha, nghe danh đã lâu, tiểu tam nguyên của Thiệu Hưng, đệ tử của Tiêu thái sử, có khả năng ghi nhớ hơn người, còn đánh lại cả Đổng nhị công tử.

Trương Nguyên chắp tay nói:

Thật là hổ thẹn, vãn bối dựa vào đánh người mà nổi tiếng, coi như là tiếng ác truyền xa vậy.

Trần Kế Nho cười nói:

Con trai thứ của Đổng công ỷ thế con ông cháu cha, chắc chắn là do gã vô lễ trước, người trẻ tuổi thường hay nóng nảy, có tí tranh chấp không là gì cả. Đổng công cũng rất độ lượng, chắc là sẽ không trách cậu đã đánh con trai ông ta đâu.

Trương Nguyên nghĩ thầm: “Đổng Kỳ Xương nào có độ lượng, lão chỉ là tạm thời không làm khó dễ được ta, lão viết thư cho Vương Đề Học bảo Vương Đề Học chèn ép ta, mưu tính không cho ta thi đỗ tú tài”.

Những lời này đương nhiên không thể nói với Trần Kế Nho khi mới lần đầu tiên gặp mặt, hắn bèn nói:

Vãn bối có chút lỗ mãng, tộc thúc tổ biết vãn bối sắp đến Thanh Phổ nên đã đặc biệt dặn dò vãn bối phải đến nghe Mi Công dạy bảo.

Trần Kế Nho cười nói:

Không dám. Túc Ông gần đây có khỏe không?

Trương Đại đáp:

Ông nội vãn bối thân thể khỏe mạnh, ngày nào cũng chăm chỉ đọc sách.

Trần Kế Nho cười nói:

Ta già nên hồ đồ mất rồi, đứng đây nói chuyện lâu quá, xin mời, xin mời!

Trong Lỗi Kha Hiên có treo một câu đối, là do Trần Kế Nho nghĩ ra và tự viết: “ Thiên vi bổ bần thiên dữ kiện, nhân nhân kiến lại ngộ xưng cao “ .

Thư pháp của Trần Kế Nho bắt chước Tô Thức và Mễ Phất, khéo léo che giấu khuyết điểm, nở nang tươi đẹp. Trương Nguyên thầm nghĩ: “Ông trời thật chiếu cố Trần Mi Công, biết bao nhiêu người nghèo đói bệnh tật. Trần Mi Công tuổi gần sáu mươi đã không nghèo khổ mà còn dồi dào sức khỏe. Còn nói là lười biếng thì đó chính là khiêm tốn. Cái lười của Mi Công là ở chỗ nghe tiếng suối chảy, thử trà, sưu tầm hoa mai, ngồi đệm cói, hái thuốc trên núi, thưởng nguyệt trên lầu cao, điều khiển hạc múa, câu cá và chơi cờ.

Trương Nguyên thấy bên dưới cửa sổ phía nam Lỗi Kha Hiên có một bộ cờ, quân cờ làm bằng gỗ phỉ còn hộp cờ làm bằng trúc. Chúng nằm thật yên tĩnh dưới ánh nắng buổi sáng, không có một hạt bụi.

Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại cung kính ngồi xuống, lập tức có lão bộc dâng trà đến, chén sứ trắng Tuyên Đức, màu trắng tao nhã, hương trà thoang thoảng. Trần Kế Nho mỉm cười nói:

Túc Ông là người rất sành ăn, cả trà đạo cũng đánh giá rất tinh tế, hai vị hậu bối đã học được chưa?

Trương Nguyên đối với trà chỉ có thể phân biệt tốt xấu, về phần trà gì nước gì thì không thể nhận ra được. Trương Đại nhấp một ngụm trà nói:

Mi Công, đây là trà Hổ Khâu?

Trương Nguyên nói:

Rượu ngon có thể tiêu sầu giải lo, trà ngon có thể rửa sạch phiền muộn, trà này của Mi Công có công hiệu như thế.

Lời bình phẩm của Trương Nguyên rất trúng ý và khôn khéo.

Trần Kế Nho cười nói:

Quả nhiên là cha truyền con nối!

Rồi hỏi hai người đến Tùng Giang có việc gì?

Trương Đại là huynh nên để Trương Đại trả lời, Trương Đại đáp:

Ba huynh đệ vãn bối lần này là đến Quốc Tử Giám ở Nam Kinh để học, Lục thị ở Thanh Phổ là thông gia với Trương thị nên mới ghé thăm, cũng là để có thể được Mi Công chỉ bảo.

Trần Kế Nho cười nói:

Ba huynh đệ các người cùng đến Quốc Tử Giám sao? Túc Ông có những đứa cháu như thế chắc hẳn là rất vui mừng mà ngày càng mập mạp lên nhỉ.

Bỗng đôi lông mày nhướng lên, nghĩ thầm: “Lục thị ở Thanh Phổ và Trương thị ở Sơn Âm là thông gia sao!”

Mỗi năm Trần Kế Nho đều đi chơi vài tháng, thời gian còn lại đều ẩn cư ở Dư Sơn. Không phải là ông không biết chuyện thế sự, ông cũng quan tâm đến cái tốt cái xấu ở địa phương và sự khó khăn của người dân. Ông cũng đã từng hiến kế với quan lại để giúp những người dân rơi vào hoàn cảnh khó khăn vì thiên tai. Mối bất hòa không nhỏ giữa Thanh Phổ Lục thị và Hoa Đình Đổng thị ông cũng có nghe, chỉ là không rõ đích xác chân tướng, bèn hỏi:

Ta nghe nói mối quan hệ giữa Lục thị Thanh Phổ và Hoa Đình Đổng thị bị rạn nứt, không biết thực hư thế nào, hai vị tiểu hữu có thể nói cho ta biết?

Trương Đại nhìn Trương Nguyên nói:

Giới Tử, đệ hãy nói tỉ mỉ cho Mi Công biết đi.

Trương Nguyên nói:

Chuyện này nói ra rất dài dòng.

Vốn là vào hội đèn Long Sơn tết Nguyên Tiêu năm trước đã hắn có xung đột với Đổng Tổ Thường, tên phản nô Trần Minh của Lục thị đã tìm đến Đổng thị để nương tựa. Hắn kết giao với Tông Dực Thiện và lại tiếp tục xung đột với Đổng Tổ Thường ở chùa Tịnh Từ núi Nam Bình ở Hàng Châu...Mãi đến chuyện của mấy ngày trước đây...nói ra...

Lúc Trương Nguyên kể chuyện, Trần Kế Nho luôn quan sát kĩ, cảm thấy Trương Nguyên nói chuyện rất bình tĩnh, ngữ điệu không nhanh cũng không chậm, trong lời nói cũng không có sự khen chê rõ ràng, giống như những người đứng xem rồi tường thuật lại, chỉ để cho người nghe tự bình luận.

Chương 218: Ban ngày nghe tiếng đánh cờ vây (2)

Trần Kế Nho hỏi:

Trương công tử chuyên nghiên cứu kinh gì?

Trương Nguyên đáp:

Bổn kinh của Vãn bối là “ Xuân thu “ .

Trần Kế Nho cười nói:

Quả nhiên là “ Xuân thu “ . Khả năng học hỏi vận dụng của Trương công tử rất giỏi, những lời vừa rồi rất chặt chẽ cẩn thận có thể tin được.

Trương Nguyên nói:

Mi Công là người cơ trí, trước mặt Mi Công ai dám nói dối ạ.

Trần Kế Nho nói:

Đổng công chuyên tâm thư họa, rất ít khi hỏi chuyện thế sự, con trai bạo ngược cũng là chuyện có thể xảy ra.

Trương Nguyên cười cười, cũng không tranh luận chuyện nhân phẩm của Đổng Kỳ Xương với Trần Kế Nho làm gì, nói:

Mi Công thứ lỗi, vãn bối nói những chuyện vụn vặt làm quấy rầy Mi Công, quả thật rất hổ thẹn. Vãn bối có một thỉnh cầu, vãn bối và Tông Dực Thiện là bạn tốt, Tông Dực Thiện vì nguyên cớ của vãn bối mà phải chịu uất ức ở Đổng phủ, vãn bối muốn gặp huynh ấy, chỉ có điều nếu vãn bối đến Đổng phủ chắc chắn sẽ bị ăn gậy, chó dữ truy đuổi, bởi vậy muốn nhờ Mi Công giúp đỡ.

Trần Kế Nho nói:

Hôm trước ta đã đến Đổng phủ, gặp Tông Dực Thiện làm quản môn, cũng ấm ức thay cho cậu ta và đã thỉnh cầu Đổng công đối tốt với cậu ấy, Đổng công cũng đã đồng ý rồi.

Trương Nguyên cau mày nói:

Mi Công đã xin cho Tông Dực Thiện? E là cảnh ngộ của Tông Dực Thiện sẽ càng tệ hơn.

Nghe Trương Nguyên nói thế, Trần Kế Nho có chút không vui nhưng không thể hiện trên mặt, cười nói:

Trương công tử xin chớ có thành kiến với Đổng công.

Trương Nguyên đáp:

Nếu Mi Công chưa xin cho Tông Dực Thiện thì hôm nay sai người đến truyền huynh ấy đến Dư Sơn, người của Đổng thị có thể sẽ cho huynh ấy đến. Nhưng nếu đã xin rồi thì Tông Dực Thiện không thể nào đến được.

Trần Kế Nho cười nói:

Thật sao? Vậy hãy chứng minh thử xem sao.

Nói rồi ông liền viết một lá thư rồi sai người đem đến Đổng phủ bảo Tông Dực Thiện đến Đông Dư Sơn Cư giúp ông sao chép kỳ thư “ Kim Bình Mai “ .

Trần Kế Nho rất tin vào mối quan hệ tốt giữa mình và Đổng Kỳ Xương. Năm trước Đổng Kỳ Xương đã xây một tòa lầu ở bên Bạch Long Đàm ngoại ô Hoa Đình, mệnh danh là “Lai Trọng lâu”. Tòa lầu này được đặc biệt xây dựng vì Trần Kế Nho, ông tự là Trọng Thuần, “Lai Trọng lâu” có nghĩa là chào đón Trọng Thuần. Mối giao tình gần bốn mươi năm há lại hời hợt ư.

Nhưng Trương Nguyên lại dự đoán là Tông Dực Thiện không đến được nên phải nghĩ cách khác liên hệ với Tông Dực Thiện.

Từ núi Đông Dư đến huyện thành Hoa Đình xa khoảng hơn mười dặm, đi về phải mất hơn một canh giờ. Trần Kế Nho hỏi Trương Đại và Trương Nguyên:

Hai người biết chơi cờ vây chứ?

Trương Đại đáp:

Vãn bối chỉ biết sơ về cờ vây nhưng nghệ thuật chơi cờ không bằng Giới Tử đệ. Giới Tử được xưng là danh thủ của Thiệu Hưng, có thể nhắm mắt đánh cờ.

Trần Kế Nho hỏi:

Nhắm mắt đánh cờ sao?

Trương Nguyên cúi người đáp:

Vâng.

Trần Kế Nho có chút kinh ngạc, nói:

Vậy ta phải thỉnh giáo rồi.

Trương Nguyên nói:

Vãn bối đâu dám nhắm mắt đánh cờ với Mi Công, có thể được Mi Công chỉ giáo, vãn bối không thắng cũng đã rất vui rồi.

Trương Nguyên cung kính ngồi xuống bên cạnh bàn cờ, cầm lấy một quân cờ trắng đi trước. Những việc khác thì nhường người lớn tuổi trước, nhưng khi chơi cờ vì để thể hiện sự tôn trọng, nên lần đầu giao thủ đều là do vãn bối đi trước. Trương Nguyên không biết khả năng chơi cờ của Trần Kế Nho như thế nào nên cố hết sức đi cờ thật vững. Sau khi đi được hơn ba mươi quân, hắn cảm thấy khả năng chơi cờ của Trần Kế Nho cũng không phải quá cao siêu. Hắn liền sử dụng một chiêu lừa dưới góc bên phải, chiêu này chắc chắn không có ở triều Minh. Quả nhiên Trần Kế Nho đã bị trúng kế. Cái gọi là trúng kế hoàn toàn không phải là nhiều quân cờ sắp chết mà là cục diện đã bị cờ trắng của Trương Nguyên chiếm ưu thế. Khả năng chơi cờ của Trần Kế Nho không kém, ông có thể nhìn ra những chiêu lừa nguy hiểm hoặc quá rõ ràng, chỉ có chiêu lừa cao cấp này mới có thể đánh lừa được ông. Dần dần, cờ trắng của Trương Nguyên ưu thế đi trước một nước giờ đã tăng lên hai nước.

Đánh hơn một trăm quân cờ, Trần Kế Nho cảm thấy trên bàn cờ đã không còn chỗ có thể thắng nữa, bèn lắc đầu nói:

Trương công tử là cao thủ cờ vây, lão phu không phải đối thủ. Ta có một nữ đệ tử rất giỏi cờ vây, để ta gọi đến chơi ván tiếp theo với công tử.

Liền ra lệnh cho tiểu đồng đi gọi Vi Cô đến.

Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại bốn mắt nhìn nhau, cả hai người đều rất mong đợi, ai cũng muốn gặp lại nữ lang mặc áo vải đội nón trúc kia.

Một lát sau, có tiếng bước chân rất nhẹ, mùi hương hoa lan thoang thoảng xông vào mũi mọi người. Nữ lang mặc áo vải đội nón trúc nhẹ nhàng bước đến Lỗi Kha Hiên, duyên dáng thi lễ với Trần Kế Nho, đôi mắt xinh đẹp nhìn quanh một lượt, hiên phòng sinh động hẳn lên.

Trần Kế Nho đứng dậy nói:

Vương Quan, vị này là Sơn Âm Trương Nguyên Trương công tử, tài hoa hơn người, đánh cờ rất giỏi, ta vừa mới thua cậu ấy, ngươi hãy đấu một ván với cậu ta, lão phu sẽ ngồi xem.

Nữ lang vừa là “Vi Cô” lại vừa được gọi là “Vương Quan”, rốt cuộc là tên gì? Trần Kế Nho tại sao lại gọi nàng đến đấu cờ với một nam tử lạ mặt?

Nữ lang mặc áo vải đội nón trúc không chút xấu hổ liền đồng ý, nhìn Trương Nguyên một cái rồi đến bên bàn cờ quan sát kĩ cục diện ván cờ của Trần Kế Nho và Trương Nguyên, nàng nói:

Trương công tử xin mời.

Nàng ngồi xuống bên bàn cờ, bắt đầu thu cờ. Trương Nguyên giúp nàng cùng thu và phân loại quân cờ đen trắng, nhìn đôi tay mềm mại xinh đẹp tinh tế của nữ lang, mu bàn tay trắng như ngọc, còn trắng hơn cả quân cờ trắng, móng tay được sửa mượt mà không tỳ vết, đây tuyệt đối là mẫu bàn tay đẹp tuyệt đỉnh của hậu thế.

Nữ lang này khoảng mười bảy mười tám tuổi, khí chất ung dung, lúc thu cờ tình cờ chạm phải tay của Trương Nguyên, cũng không hề biến sắc mà vẫn lẳng lặng thu hết quân cờ rồi nói:

Trương công tử đã thắng một ván nên ván này tiểu nữ sẽ đi trước.

Trương Nguyên đáp một tiếng:

Mời.

Nữ lang mặc áo vải đội nón trúc này có vòng eo thon thả, hai ngón tay phải thon thả như cọng hành mùa xuân cầm lên một quân cờ trắng, đặt lên bàn cờ bằng gỗ phỉ kêu một tiếng “cạch”, tư thế tao nhã, tiếng cờ đặt xuống cũng trong trẻo rất êm tai. Ban ngày nghe tiếng đánh cờ là một chuyện thú vị, huống hồ là có một nữ lang xinh đẹp mỹ miều đang ngồi trước mặt. Trương Đại đứng phía sau Trương Nguyên xem cờ nhưng mắt lại không rời khỏi khuôn mặt của nữ lang. Trương Nguyên nghĩ thầm:

Mỹ sắc quả nhiên là vũ khí lợi hại, dùng để chơi cờ ít nhất cũng có uy lực của hai quân cờ.

Nữ lang này thực sự quá đẹp, Trương Nguyên ngồi đối diện cũng phải phân tâm đành phải cụp mắt xuống nhìn vào bàn cờ, giống như lão tăng nhập định vậy, trong lòng triển khai thế cờ, chỉ có thời khắc tiếng quân cờ rơi xuống mới đưa mắt nhìn bàn cờ. Khả năng chơi cờ của nữ lang quả nhiên cao hơn Trần Kế Nho, dáng vẻ thanh lịch tao nhã nhưng khi hạ quân cờ lại rất linh hoạt sắc bén, xoay xoay quân cờ thật sự rất hung dữ. Trương Nguyên biết đấu cờ với nữ tử dễ hơn với nam tử. Nữ tử đều chơi cờ kiểu cố sức chiến đấu nhưng nữ lang này là ngoại lệ.

Trương Nguyên lấy lại tinh thần, trở nên trầm tĩnh. Khả năng chơi cờ của Trương Nguyên tuy vẫn chưa đạt đến cảnh giới nhập thần, tọa chiếu nhưng bản lĩnh tính toán của hắn có thể khiến bản thân phát huy khả năng đến cực điểm. Cuộc đấu cờ rất gay gắt, mấy quân cờ đen trắng giằng co nhau, chiến đấu ở góc biên lan tỏa toàn cục.

Trần Kế Nho mỉm cười nhìn hai người chơi cờ, ông rất thích nghe tiếng quân cờ trong không gian yên tĩnh, thầm nghĩ: “Thanh sắc ngu tình, sao bằng một ván cờ hay này.

Trận chiến khó hòa giải, nhất thời vô ý sẽ thua ngay. Đương lúc Trương Nguyên nhắm mắt suy tư, nữ lang liền di di ngón tay nhìn Trương Nguyên, thầm nghĩ: “Nhắm mắt đánh cờ, thật hiếm thấy”.

Trần Kế Nho ngồi bên cạnh nói:

Trương Giới Tử có thể nhắm mắt đánh cờ, trí nhớ hơn người.

Nữ lang “vâng” một tiếng, nghĩ thầm: “Nghe nói tiểu tam nguyên của Thiệu Hưng Trương Giới Tử có khả năng ghi nhớ hơn người, không biết lời đồn đại có quá khoa trương hay không?”

Trần Kế Nho thấy ván cờ này của hai người còn phải đánh lâu, liền ra ngoài Lỗi Kha Hiên hỏi người đưa thư đến Đổng phủ sao vẫn chưa về, bây giờ đã đúng giờ Ngọ nhưng gia nô đưa thư cho Đổng phủ đã đi hơn nửa canh giờ rồi.

Lại qua gần nửa canh giờ, ván cờ trong Lỗi Kha Hiên đã kết thúc. Thế cờ đen của Trương Nguyên thắng một quân rưỡi. Khả năng chơi cờ của nữ lang thật sự rất mạnh, bàn cờ này Trương Nguyên đã phát huy rất tốt, sử dụng kiến thức cờ vây đi trước bốn trăm năm cũng chỉ thắng nhỏ. Đương nhiên vào thời này người đi trước không thêm mục, nữ lang chấp cờ trắng đi trước là chiếm lợi thế rất lớn, nếu như áp dụng thế thêm mục trả tù binh ở hậu thế thì cờ đen của Trương Nguyên còn thắng nhiều hơn.

Nữ lang thua cờ, đôi mắt xinh đẹp mở thật lớn, dáng vẻ vô cùng kinh ngạc nhưng không nói gì mà lo thu cờ rồi rời khỏi Lỗi Kha Hiên.

Trần Kế Nho giữ Trương Đại và Trương Nguyên lại dùng cơm, khi đang uống trà nói chuyện phiếm sau bữa cơm mới thấy gia nô đưa thư cho Đổng phủ quay về, chỉ có điều gã trở về có một mình. Đổng Kỳ Xương không có thư hồi âm, chỉ có một lời nhắn nói là Đổng lão gia thân thể không khỏe, ngày khác sẽ đến thăm Mi Công mà không nhắc đến chuyện của Tông Dực Thiện.

Chương 219: “Sấu mã” Dương Châu (1)

Nghe gia nô trả lời xong, Trần Kế Nho nhíu mày không nói gì, tên gia nô kia lại nói:

Mi Công, tiểu nhân nhìn thấy gia nhân ở Đổng Phủ cứ ra ra vào vào, giống như phát sinh chuyện lớn gì vậy, lại thấy hai người bị trói được mang vào phủ, trên đường trở về tiểu nhân có nghe những người qua đường nói rằng gia nô của Đổng phủ và bọn đánh thuê đang đi khắp nơi để tìm người dán bảng cáo thị.

Bảng cáo thị gì?

Trần Kế Nho hỏi.

Tên gia nô kia nói:

Tiểu nhân cũng không biết, dù sao cũng là sự việc ồn ào khiến lòng người hoảng sợ.

Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại liếc nhau, Trương Nguyên thầm nghĩ:

Chẳng lẽ là bài văn “Thư họa khó luận tiếng lòng” kia, của bọn Kim Lang Chi dán lên?

Trần Nho Kế cho tên gia nô lui ra, bưng chén trà lên uống, ngoại trừ hàng lông mày dài đang nhíu lại thì không nhìn ra một chút gì là có vẻ tức giận cả, Mi Công đúng là người rất biết cách kiềm chế, trong “Cảnh Thế Thông Ngôn” có hai câu viết là: “thị phi đáo để tự phân minh, biện thập ma. Nhân tranh nhàn khí nhất trường không, não thập ma” (đúng sai đến cuối cùng chính mình là người rõ ràng nhất, biện bạch cái gì. Con người tranh giành cơn giận không đâu, buồn bực cái gì).

Cho nên Trần Kế Nho cũng không hề tức giận, mỉm cười hỏi Trương Nguyên:

Ngươi cũng biết bảng cáo thị kia là gì?

Trương Nguyên nói:

Chắc là những người từng chịu bị Đổng thị ức hiếp, đã dán thông báo kể lại nỗi oan này.

Trần Kế Nho nói một câu:

Tội đánh người không quá nghiêm trọng, còn phải suy xét xem mức độ của việc này có thể chấp nhận được hay không.

Trần Kế Nho lao lạt, đoán trước được việc Trương Nguyên cũng không tránh khỏi dính líu trong việc này, cho nên mới nói một câu như vậy.

“Đạo bất đồng bất tương vi mưu” (không cùng chí hướng thì không thể cùng nhau mưu tính sự nghiệp được), tuy Trương Nguyên rất kính trọng Trần Mi Công, có thể nói là Trần Mi Công luôn chú ý giữ gìn đức độ, tu dưỡng học thức, cuộc sống đúng mực làm cho người ta phải tán thưởng, Trương Nguyên có thể cùng đánh cờ với Mi Công, thưởng thức và bàn luận về trà, nhưng vẫn không làm cách nào có thể hiểu rõ được ông ấy, liền nói:

-Vãn bối cho rằng đối đãi với người lương thiện thì cần phải khoan dung độ lượng, đối đãi với kẻ ác thì cần phải nghiêm trị, Hoa Đình kêu than ầm ĩ, Đổng thị làm sao có thể phòng ngừa được miệng lưỡi của mọi người!

Sau đó Trương Nguyên đứng lên cúi người xuống nói:

-Vãn bối còn trẻ, khí thế hừng hực, ăn nói ngay thẳng, xin Mi Công đừng trách.

Trần Kế Nho cười nói:

Không sao, nhưng ta còn có một lời khuyên: không trách mắng người nhỏ tuổi, không vạch trần người ngấm ngầm làm việc xấu, không nhớ người cũ, ba loại người này có thể tu dưỡng đạo đức, cũng có thể hại người, đây cũng không phải là xích mích giữa ngươi và Đổng thị.

Lời nói này rất cao minh, mang tầm triết học, chính là muốn khuyên Trương Nguyên chớ có kết thù kết oán quá sâu với Đổng thị. Làm sao Trương Nguyên có thể không hiểu được, nói:

Thi cử làm quan mà không yêu dân thì thật là “y quan đại đạo” (đạo tặc khoác áo quan lại. Ý nói: làm quan như thế không khác nào là đạo tặc), miệng nói đạo đức văn chương, mà không tự mình thực hiện được, đó là “phật trên đầu môi chót lưỡi” (chỉ nói được mà không làm được, nói rồi để đấy không làm…), đây là thành kiến của vẫn bối đối với Đổng Hàn Lâm .

Trần Kế Nho xua tay, cười nói:

Thôi, không nói chuyện này nữa, hai huynh đệ các ngươi theo ta đến Ngoan Tiên Lư, xem nét khắc trên bia mà ta sưu tầm được.

Trần Kế Nho sưu tầm được không ít nét khắc trên bia, trong đó có tác phẩm “Phong vũ trúc bia” nổi tiếng của Tô Thức, “Thử quân hiên bia” của Hoàng Đình Kiên, “Cam lộ nhất phẩm thạch bia” của Mễ Phất, “Canh vân điếu nguyệt bia” của Chu Hi… Trương Nguyên, Trương Đại cùng đi thưởng thức với Trần Nho Kế, Trần Nho Kế còn tặng bọn họ mấy quyển hình mẫu khắc trên bia đá.

Đầu giờ Thân, Trương Nguyên cáo từ Trần Kế Nho:

Đa tạ Mi Công đã chiêu đãi và có lời dạy bảo, vãn bối còn có việc phải về Thanh Phổ, xin cáo từ Mi Công.

Trương Đại thấy vậy cũng nói:

Xin cáo Từ Mi Công!

Trần Nho Kế tặng cho bảy người bọn Trương Nguyên một bức tranh “Thủy biên lâm hạ uyển”, nhìn bọn Trương Nguyên đang bước lên cầu, lắc đầu lẩm bẩm:

Đổng công không biết cách dạy con, kết thù với Trương Nguyên chỉ sợ hậu quả khó lường.

Cửa hàng rào trúc “két” một tiếng mở ra, một người con gái mặc áo vải bố, đội mũ trúc đi ra, dừng lại bên cạnh Trần Kế Nho, trong tay cầm một quyển sách bằng giấy bột tre màu vàng nhạt, tiếng nói ngọt như chim vàng oanh:

Mi Công, thầy thấy hai vị Trương công tử là người như thế nào?

Trần Kế Nho nghiêng đầu nhìn thoáng qua nữ nhân xinh đẹp đứng bên cạnh, rồi lại đưa mắt nhìn Trương Nguyên lúc đó đã đi khuất vào giữa lùm cây ở núi đá một cái, nói:

Mười tuổi là thần đồng, hai mươi tuổi là tài tử, đó là Trương Đại. Còn về phần Trương Nguyên, lão phu cũng không nhìn thấu được hắn, người này linh hoạt sâu sắc, nhạy bén, khôn khéo lại bộc lộ được đầy đủ tài năng thật sự là không giống một thiếu niên mười bảy tuổi.

Cô gái đó cười khẽ, nói:

Cũng vẫn chỉ là một thiếu niên, nếu không thì làm sao lại ra tay đánh nhau với nhị công tử của Đổng phủ được.

Lại hừ nhẹ một tiếng nói:

Chỉ có điều Đổng công tử cũng là người có lỗi, lần trước…

Đôi môi mềm mại mấp máy, không nói thêm nữa.

Trần Kế Nho cười ha hả nói:

Đổng Tổ Thường đáng đánh, chỉ có điều cũng bởi vì tranh giành nữ nhân mà thôi. Vừa rồi khi chơi cờ Trương Đại không nhìn quân cờ mà chỉ nhìn trò thôi, còn Trương Nguyên, may là khả năng chơi cờ cũng không tệ, nếu không cũng không biết đi quân cờ đó thế nào nữa.

Gò má của cô gái đỏ ửng, vẻ mặt trở nên ngượng ngùng, xinh đẹp tuyệt trần, gắt giọng:

Mi Công lại cười con rồi.

Nói xong liền xoay thắt lưng, đôi môi anh đào hơi bĩu, thái độ làm nũng thật đáng yêu, khiến cho Trần Mi Công vốn được mệnh danh là không gần nữ sắc mắt cũng sáng lên, sắc đẹp cũng có công dụng làm sáng mắt sao?

Trong tay Trần Nho Kế cầm một cây quạt, tiện tay đưa cây quạt lên che nắng, nhìn đám người Trương Nguyên ở đằng xa kia, nói:

Vương Quan, nếu cho trò chọn một trong hai người kia làm chồng, trò sẽ chọn ai?

Lúc này Vương Quan cũng không còn xấu hổ nữa. nói:

Vương Quan muốn gả cho thế gian kỳ nam tử (chỉ người con trai tài giỏi mạnh mẽ), cho dù có phải làm thiếp con cũng cam tâm tình nguyện, hai người đó đều là người nho nhã yếu đuối, không thể coi là người mạnh mẽ được.

Lúc vừa nói xong những lời này, Vương Quan chợt nhớ tới đêm đó trên thuyền ở Tây Hồ, Trương Nguyên nói “Có thể uống rượu cùng với cô gái nghĩa hiệp như Trương Nhất Muội thì phải là một kỳ nam tử rồi?” Xem ra đấy là Trương Nguyên đã tự cho mình là một kỳ nam tử rồi.

Trần Kế Nho lại cười nói:

Vậy trò nói xem, như thế nào là một người kỳ nam tử?

Vương Quan cười một cách quyến rũ nói:

Chỉ có người như Mi Công mới được coi là kỳ nam tử.

Trần Kế Nho lấy cây quạt gõ gõ vào đầu Vương Quan, cười mắng:

Vô lễ, đây là lời mà một học trò nên nói với thầy giáo sao?

Vương Quan khúc khích cười duyên, để hai tay thành hình chữ thập, sắc mắt trang trọng nói:

Đệ tử là nói thật lòng, Mi Công thật sự là danh sĩ, kỳ nam tử. Nếu trước hai mươi tuổi mà đệ tử không tìm được chốn nương tựa, sẽ về núi Xà làm bạn với Mi Công, hi vọng Mi Công thu nhận.

Trần Kế Nho xoay cây quạt muốn đánh, Vương Quan không né tránh mà đứng bất động, bộ dáng thuận theo cụp lông mi xuống, đoan trang giống như long nữ. Trần Kế Nho lắc đầu cười nói:

Tiểu quỷ, lại dám đùa giỡn thầy giáo. Ta già yếu rồi, ta sợ thi cử khó khăn, sợ con đường làm quan nguy hiểm, liền đốt bỏ cái mũ của nhà Nho, chẳng qua chỉ là sống cuộc sống tạm bợ mà thôi, làm sao cho là kỳ nam tử được.

Vương Quan nói:

Kỳ nam tử cũng không phải là chỉ có mỗi một dạng, Mi Công là kỳ nam tử, Lý Trác Ngô cũng là kỳ nam tử.

Trần Kế Nho cười nói:

Thế gian này có biết bao nhiêu nam tử, Trác Ngô đã qua đời rồi, còn Mi Công ta cũng đã già, không biết làm thế nào đây?

Vương Quan cười nói:

Con sẽ đi khắp nơi để tìm kiếm, tìm không được, thì về núi Xà, đã có Mi Công thương yêu con.

Trần Kế Nho lắc đầu cười, nói:

Vương Quan, nếu như trò có thể tìm được một chốn nương tựa tốt, thì trò sẽ may mắn hơn rất nhiều cô gái trên thế gian này đấy, bởi vì trò có thể tự mình lựa chọn vị hôn phu, mặc dù không thể làm vợ cả, nhưng chỉ cần tâm đầu ý hợp, với trí thông minh và tài mạo của trò, chắc chắn sẽ được sủng ái.

Vương Quan mỉm cười nói:

Nếu gặp phải người vợ cả ghen tị, chẳng phải sẽ rất khổ ư.

Trần Kế Nho nói:

Không hợp thì tan, hoặc là không ở cùng một chỗ, cái này là quyền tự do của trò, người đàn ông mà yêu thương con cũng sẽ đồng ý thôi.

Lại nói:

Theo lão phu thấy, hai huynh đệ họ Trương cũng rất tốt, chỉ có điều Trương Nguyên đã kết thù kết oán với Đổng công, cũng không biết sẽ gây ra sóng gió gì nữa.

Vương Quan nói:

Thầy thật sự cho rằng đệ tử đang lo âu về việc gả cho ai ư? Đệ tử năm nay mới mười sáu tuổi, vẫn muốn đi du ngoạn nhiều hơn một chút cơ.

Trần Kế Nho cười nói:

Uông Nhữ Khiêm ở huyện Hấp (nay thuộc tỉnh An Huy-Trung Quốc) mời trò đến Hoàng Sơn du ngoạn, Mao Nguyên Nghi ở Ngô Hưng mời trò đến Khuông Lư chơi, bao giờ thì trò mới đi đây?

Chương 219: “Sấu mã” Dương Châu (2)

Vương Quan không trả lời, lại nói:

Trước tiên đệ tử muốn trở về Nam Kinh một chuyến, không biết bao giờ hai huynh đệ họ Trương đi Nam Kinh, đệ tử muốn đi cùng bọn họ, thầy nghĩ sao?

Trần Kế Nho cười nói:

Rất hay, với trí tuệ ranh mãnh của trò, có thể đọ sức được với bọn họ, bọn họ chắc cũng sắp đi rồi, để ta cho người đuổi theo hỏi họ một chút?

Vương Quan gọi một đồng tử buông tóc rồi chỉ bảo vài câu, đồng tử “dạ” một tiếng rồi chạy đi như bay, đường núi gập ghềnh là thế nhưng cứ như là đang chạy trên mặt đất bằng phẳng vậy.

Nữ lang họ Vương, tên là Vi, tự là Tu Vi, tên chữ là Vương Quan, năm lên bảy tuổi thì cha mất, được phú hộ nuôi dưỡng “sấu mã” ở Dương Châu nhận nuôi. “Sấu mã” ở Dương Châu nổi tiếng khắp thiên hạ, thân sĩ muốn cưới thêm thê thiếp thì lựa chọn đầu tiên là “sấu mã” ở Dương Châu. “sấu mã” Dương Châu là tốt nhất, có người chuyên dạy “sấu mã” đánh đàn, thổi sáo, ngâm thơ, đọc sách, vẽ tranh, cờ vây… và phong thái ăn mặc trang điểm, đi đứng, ngồi nằm đều có người dạy bảo. Thậm chí còn phải học những phong tình bên gối từ sách “bí quyết của những người vợ quyến rũ”, muốn lấy những “sấu mã” tốt nhất Dương Châu làm thiếp, thì phải bỏ ra không dưới một nghìn lượng bạc làm phí cho người nuôi dưỡng “sấu mã”, nuôi dưỡng được một”sấu mã” như vậy có thể kiếm được năm trăm lượng bạc trở lên, cho nên ở Dương Châu có đến mấy trăm hộ dân dựa vào việc nuôi dưỡng “sấu mã” để kiếm sống.

Vương Vi là đệ nhất “sấu mã” ở Dương Châu, lúc mười hai tuổi được một danh kỹ ở Nam Kinh Cửu viện là Mã Tương Lan bỏ sáu trăm lượng bạc để mua về. Từ đó Vương Vi liền nhận Mã Tương Lan là mẹ, trải qua sự dạy dỗ tỉ mỉ của Mã Tương Lan, Vương Vi không những tinh thông thổi sáo và chơi cờ vây, mà viết thư pháp lại càng đẹp hơn, nổi tiếng khắp Kim Lăng, được mọi người gọi là “khúc trung đệ nhất” (khúc nhạc hay nhất), tên tuổi đã vượt qua cả danh kỹ Lý Tuyết Y của Tần Hoài Thủy các. Năm ngoái, Mã Tương Lan bị bệnh chết, “U Lan quán” liền do Vương Vi làm chủ, càng tự do, Vương Vi kế thừa tính khí nghĩa hiệp của Mã Tương Lan, giao du với các danh sĩ khắp nơi, không tính toán tiền bạc, còn những người thô lỗ, dung tục và những thương nhân thì một mực cự tuyệt.

Bảy người bọn Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại, còn có Mục Kính Nham, Mục Chân Chân sau khi cáo từ Trần Mi Công, phải đi qua núi Xà về trang viên của Lục thị, đoạn đường này ước chừng khoảng năm dặm, cây trong rừng rậm rạp, vì thế không cảm thấy nóng bức.

Trương Đại nói:

Mi Công vẫn nói đỡ cho Đổng Kỳ Xương, ông ấy cho rằng Đổng Tổ Thường làm việc xấu không có liên quan gì đến Đổng Kỳ Xương.

Trương Nguyên nói:

Hầu hết mọi người đều lấy quan điểm cá nhân của mình để phán đoán thiện ác tốt xấu, việc đấy có lợi đối với mình thì đó là thiện, phá hoại mình thì đó là ác. Mi Công là người thông minh hạng nhất, ông ấy có cách nhìn nhận rất thấu đáo, là một người giỏi.

Trương Đại nói:

Bản cáo thị khiến cho cha con Đổng thị phải kinh sợ có phải là bài “Thư họa khó luận tiếng lòng” do bọn Kim huynh, Ông huynh dán lên không?

Lông mày Trương Nguyên khẽ nhíu lại, nói:

Chắc là vậy, đã khiến Đổng thị phải nhớn nhác một phen rồi, không biết tên môn khách Bặc Thế Trình của nhà họ Đổng có quen biết bọn Kim huynh không nữa, chỉ sợ Đổng thị sẽ hãm hại bọn Kim huynh. Sáng sớm mai chúng ta sẽ đến Hoa Đình, mời một số chư sinh ở Thanh Phổ đi cùng, trước tiên đến gặp tri phủ Tùng Giang là Hoàng Quốc Đỉnh đã, lấy hành vi đánh người Hoa Đình chất vấn Đổng thị, xem Đổng thị trả lời như thế nào.

Trương Lạc nói:

Được, để cho Liễu Kính Đình đi cùng chúng ta, chỉ cần kể chuyện một ngày, những người hận Đổng thị ở Hoa Đình chắc chắn sẽ tập hợp lại đầy đủ.

Mượn cơ hội đả kích Đổng thị để đoàn kết chư sinh ba huyện ở Tùng Giang mới là kế sách “một mũi tên bắn ba con chim” của Trương Nguyên, kế hoạch đoàn kết xã hội của hắn phải bắt đầu thực hiện từ đây.

Nhóm người lên tới đỉnh núi Xà, quay đầu nhìn xuống “Thủy biên lâm hạ uyển”dưới chân núi, Trương Đại có chút lưu luyến nói:

Vị nữ lang Vương Quan kia thật là xinh đẹp tuyệt trần, rất là hiếm gặp.

Nhớ đến Vương Quan, một nữ lang giống như đóa phù dung trong nước, Trương Nguyên cũng gật đầu nói:

Quả thật là tuyệt sắc, làm đệ thiếu chút nữa thua một nước cờ.

Trương Đại nói:

Yến Khách nếu biết được có nữ lang xinh đẹp như thế, nhất định sẽ hối hận vì hôm nay không đi với chúng ta. Chúng ta trở về đừng có nhắc đến, nếu không có lẽ hắn sẽ chạy suốt đêm để tới đó mất, như vậy chẳng phải sẽ làm cho Mi Công chê cười sao.

Trương Nguyên cười to.

Hoàng hôn ngả về tây, không gian sáng sủa, hơi nước ở hồ nước dưới chân núi bốc lên dày đặc, làm cho khu dân cư phía đông núi Xà thấp thoáng trong rừng mai rừng trúc được phủ một tầng hơi nước mờ mịt, sâu thẳm giống như tiên cảnh.

Trương Đại cực kỳ hâm mộ cuộc sống ẩn cư trong núi của Trần Kế Nho, có hoa mai có chim hạc bầu bạn đã đành, lại còn có nữ đệ tử xinh đẹp như vậy nữa, cuộc sống vui vẻ khoái hoạt giống thần tiên như vậy cần gì phải đi thi để làm quan nữa. Nhưng thơ văn, thư họa của Trần Mi Công lại được truyền đi khắp nơi, mình làm sao có thể so sánh được, nghĩ như vậy trong lòng không khỏi có chút uể oải.

Trương Nguyên biết suy nghĩ của đại huynh, nói:

Đại huynh, chúng ta vẫn còn hơn Mi Công ở chỗ chúng ta vẫn còn trẻ tuổi, không cần phải quay đầu nhìn lại, mà có thể nhìn ra xa xa và nhìn lên bầu trời.

Nói xong liền chỉ về phía mặt trời trong ráng chiều đỏ thẫm.

Trương Đại cười nói:

Giới Tử nói đúng, chúng ta là tài tử phong lưu tuổi hãy còn trẻ, còn nhiều thời gian, tiền đồ rực rỡ rộng mở, nói như vậy thì Mi Công mới là người phải ghen tị với huynh đệ chúng ta.

Nhóm bảy người của Trương Nguyên dừng lại nghỉ ngơi một chút ở phía nam đỉnh núi, lúc đang định xuống núi về trang viên Lục thị, thì lại thấy một thằng bé tóc dài từ trên đường chạy tới, kêu:

Hai vị Trương công tử, xin chờ một chút.

Đợi thằng bé chạy đến bên cạnh, Trương Nguyên có trí nhớ tốt liền nhận ra ngay thằng bé này chính là tùy tùng đi cùng nữ lang Vương Quan hôm ở Tây Hồ, liền nói với đại huynh Trương Đại một tiếng. Trương Đại hỏi thằng bé đó:

Ngươi đuổi theo chúng ta có việc gì vậy, có phải là chuyển thư cho Nữ lang nhà ngươi không?

Trương Đại cũng đoán ra nữ lang đó không phải là tiểu thư khuê các, mà có thể là nữ tử ở thanh lâu.

Thằng bé đó thở gấp nói:

Hai vị công tử, nữ lang nhà ta muốn hỏi: hai vị công tử khi nào thì đi Nam Kinh?

Trương Đại hỏi:

Sao vậy? Lại muốn lên thuyền sao?

Trương Đại chỉ là thuận miệng nói như vậy, không ngờ thằng bé đó lại rất thành thật gật đầu nói:

Đúng là như vậy, Mi Công nhờ hai vị công tử trên đường đi chiếu cố đến nữ lang nhà chúng ta một chút.

Hình dáng thằng bé này cũng chỉ tầm mười tuổi mà mồm miệng lại rất lanh lợi.

Trương Đại có chút kinh ngạc, liếc nhìn Trương Nguyên một cái, ý bảo Trương Nguyên trả lời, Trương Nguyên liền nói:

Huynh đệ chúng ta còn phải ở Tùng Giang nghỉ ngơi mười ngày đến nửa tháng nữa, nữ lang nhà ngươi có chờ được không?

Thằng bé đó nói:

Đúng lúc nữ lang nhà ta cũng đang muốn ở lại đây mấy hôm để xin Mi Công chỉ bảo, hai vị công tử, vậy quyết định như vậy nhé, khi nào đi phải báo cho chúng tôi một tiếng nhé!

Sau đó liền cúi đầu thi lễ, và xoay người đi trở về.

Trương Đại nói:

Chờ một chút.

Trương Đại hỏi thằng bé đó:

Ta hỏi ngươi, nữ lang nhà ngươi họ tên là gì, ở phương nào vậy?

Thằng bé cười hi hi nói:

Họ Vương, tiểu nhân gọi cô ấy là Vi cô, nhà bên cạnh cầu Trường Bản ở Nam Kinh. Hai vị công tử còn muốn hỏi gì nữa không ạ?

Trương Đại cười nói:

Được rồi, ngươi đi đi.

Nhìn thằng bé lanh lợi kia đi khuất, Trương Đại nghiêng đầu nói với Trương Nguyên:

Quả thật là khúc trung nữ lang.

Trương Nguyên hỏi:

Nói vậy là sao?

Trương Đại nói:

Cho dù ta chưa đến Nam Kinh bao giờ, nhưng từng nghe Chu Mặc Nông nói, ở cây cầu gỗ ngay bên bờ sông Tần Hoài, bên cạnh cây cầu Chu Tước đó là khu vực tập trung của các kỹ nữ Cửu viện, nữ lang này có thể tự do đi du ngoạn, thoắt một cái ở Tây Hồ, thoắt một cái lại đã ở Hoa Đình, không phải khúc trung nữ lang thì làm sao có thể được như vậy.

Trương Nguyên “ừ” một tiếng, không nói gì nữa, cũng không vì việc cô gái xinh đẹp như vậy lại đúng là tiểu nương của Cửu viện mà cảm thấy đáng tiếc, cũng không bởi vì cô gái đó là nữ tử thanh lâu mà trong lòng khinh thường cô ấy, mỗi người đều có cảnh ngộ khác nhau, đều có phương hướng để sinh tồn khác nhau, với người đã trải qua hai thời đại như hắn đã nhìn thấy rất nhiều kẻ gian ác áo quần bảnh bao, kẻ giả dối nói lời giả nhân giả nghĩa, nhưng tình cảm chân thành cho dù có ở trong một vùng vẩn đục thì cũng vẫn hiện lên một cách rực rỡ được. Sớm đã học được tư tưởng không lấy thân phận để đánh giá phẩm chất của người khác rồi, đa số thân sĩ ở Vãn Minh cũng không thanh cao hơn kỹ nữ là mấy.

Chương 220: Vừa là thầy, vừa là bạn, vừa là tình nhân

Liễu Như Thị và Tiền Khiêm Ích ước hẹn cùng nhảy xuống hồ hi sinh cho tổ quốc, Tiền Khiêm Ích nói nước hồ lạnh quá. (Liễu Như Thị là một kỹ nữ sống cuối thời nhà Minh đầu Thanh, gả cho quan Tiền Khiêm Ích, sau này khi Tiền Khiêm Ích muốn đầu hàng nhà Thanh thì Liễu Như Thị đã không đồng ý và khuyên chồng tham gia vào các phong trào kháng Thanh phục Minh. Vì thế tuy xuất thân là một kỹ nữ nhưng lại được mọi người rất kính trọng, khi chồng chết, nàng đã tự vẫn theo), Lý Hương Quân tức giận mắng Nguyễn Đại Việt (Lý Hương Quân là một kỹ nữ nổi tiếng vì sự chung tình. Vì đã gây thù chuốc oán với Nguyễn Đại Việt nên bị gã tìm mọi cách trả thù, nhưng đến lúc chết nàng vẫn một lòng nhớ tới tình lang, thà chết chứ không phản bội lại người yêu), Vương Nguyệt mắng giặc mà chết. Cho nên, không nên có thành kiến với bất cứ người nào.

Trương Đại lại càng không cảm thấy nuối tiếc, vui vẻ nói:

Hay quá, lần này đi Nam Kinh chúng ta không phải tịch mịch nữa rồi.

Nữ tử Cựu viện, thơ họa đều giỏi, kết giao với rất nhiều nhân vật nổi danh khắp Ngô Việt đảng xã, có thể nói đó là tình yêu nam nữ kiêm cả tình nghĩa bạn bè thầy trò. Trương Đại thật sự cũng muốn có loại tình cảm vừa là bạn bè thầy trò, vừa là tình cảm nam nữ như vậy, nhưng rõ ràng là các tiểu thư khuê các không thể chấp nhận loại tình cảm như thế. Nếu có, thì đó cũng là tình yêu vụng trộm, là loại tình cảm trái với đạo đức, sẽ mất hết danh dự. Mà kết giao với danh kỹ, bản thân sẽ mang tiếng xấu là người phong lưu, đối nhân xử thế phải đoan trang đứng đắn mới được ca ngợi, tập tục ở Vãn Minh chính là như vậy.

Trương Nguyên trêu trọc nói:

Ngày xưa có Nhị Đào giết Tam Sĩ, hiện tại có mỹ nhân ngồi chung thuyền, ba huynh đệ chúng ta chắc phải đánh nhau vỡ đầu rồi.

Trương Đại cười to nói:

Người đẹp yêu ai, đó là quyền tự do của cô ấy, làm sao có thể ép buộc được. Ta không phải là loại người phàm phu tục tử như vậy. Tuy nhiên về phần Yến Khách thì khó nói. Giới Tử không phải đệ đã đánh cược với Yến Khách xem ai dành được sự ưu ái của hoa khôi Lý Tuyết Y ở Cựu viện sao. Theo ta thấy thì Lý Tuyết Y còn kém xa Vương Vi cô nương.

Trương Nguyên nói:

Đấy cũng là nói vui vậy thôi, người nghiêm chỉnh ai lại đi đánh cược việc đó. Đổng Kỳ Xương đang hận đệ đến tận xương tủy rồi, đệ còn sống nhàn nhã, tự tại nữa thì chẳng phải là không biết sống chết là gì sao. Ngày mai chúng ta sẽ đi Hoa Đình trước đã rồi tính tiếp.

Trương Đại gật đầu nói:

Việc này đương nhiên phải để đánh đổ Đổng Kỳ Xương xong mới nói tiếp được, đánh đổ Đổng Kỳ Xương mới là việc chính.

Đoàn người đi đến trang viên Lục thị, ăn tối ở trong trang viên, rồi đi bộ trở về thị trấn Thanh Phổ. Tiệc rượu mừng của Trương Ngạc rất náo nhiệt. Bọn Trương Nguyên gặp bọn Liễu Kính Đình, Hồng Đạo Thái, Kim Bá Tông và mấy sinh đồ ở Thanh Phổ cũng đang trở về uống rượu mừng ở ngay đầu đường. Trương Ngạc hỏi Trương Đại và Trương Nguyên về việc hôm nay đến thăm Trần Mi Công như thế nào. Trương Đại nói:

Mấy hôm nữa ta sẽ kể lại tỉ mỉ cho đệ nghe, bây giờ có chuyện quan trọng mà gấp gáp hơn.

Sau đó Trương Đại liền kể lại những việc mà người hầu của Trần Mi Công đã thăm dò được ở Đổng phủ cho mọi người nghe.

Hồng Đạo Thái cả kinh nói:

Việc này không ổn rồi, gã Bặc Thế Trình đó là sinh đồ ở Thượng Hải, chắc hẳn cũng nhận ra bọn Kim Lang Chi, Đổng Tổ Thường chắc chắn sẽ bắt bọn Kim Lang Chi đến để tra hỏi.

Kim Bá Tông nói:

Lang huynh, Ông huynh, Tưởng huynh ba người bọn họ cũng đều là người có công danh cả. Ngay cả quan phủ, quan huyện cũng không thể tra tấn, Đổng thị không dám bắt bọ họ đâu.

Trương Ngạc bĩu môi nói:

Vậy là Bá Tông huynh đã nhầm rồi, giống như ta đánh Bặc Thế Trình, muốn đánh liền đánh thôi. Đổng Tổ Thường hung hăng càn quấy còn hơn cả ta, có thể y sẽ có cách thức tra tấn riêng, chắc chắn bọn Kim Lang Chi sẽ phải chịu khổ rồi, chúng ta phải nhanh nhanh nghĩ cách cứu bọn họ.

Trương Nguyên nói:

Sáng sớm mai, chúng ta đến Hoa Đình, bảo thêm mấy gã chư sinh ở Thanh Phổ đi cùng, lấy danh nghĩa là trừng trị bọn thanh niên đánh thuê để đến nha môn phủ Tùng Giang xin chỉ thị.

Đám người Hồng Đạo Thái gật đầu đồng ý, rồi từ biệt ở đầu đường để đi kêu gọi các chư sinh. Sinh đồ ở Vãn Minh không phải lo cơm ăn áo mặc hàng ngày, những người tự cho rằng mình không có khả năng thi đỗ nên chuyển sang bàn bạc chuyện làm ăn thì đã đi lo gây dựng được sự nghiệp. Còn lại những sinh đồ vẫn muốn tiến thêm một bước vào khoa cử, thậm chí hai bước, nhưng cả ngày làm bát cổ cũng nhàm chán, thi hương lại ba năm mới tổ chức một lần, các thầy giáo ở Huyện học phụ trách bài vở của sinh đồ lại không nghiêm khắc như giai đoạn đầu của quốc triều, cho nên bọn sinh đồ rất nhàn rỗi, rảnh rỗi thì lại rất dễ sinh hư. Bọn sinh đồ ngoài việc tụ tập viết văn chế giễu ra, thì việc tụ tập gây rối cũng là niềm vui của bọn họ. Hai lần gây sức ép thành công với Vương huyện lệnh ở huyện nha làm cho bọn họ cảm nhận được thế lực của mình, cho nên đối với việc đến nha môn phủ Tùng Giang đưa yêu sách thì rất là hăng hái.

Sáng ngày 16 tháng 5, ba người Kim Lang Chi, Ông Nguyên Thăng, Tưởng Sĩ Kiều đi thuyền đến bến đò phía bắc của thị trấn Hoa Đình. Tưởng Sĩ Kiều và Ông Nguyên Thăng sống cùng nhau ở đường lớn Thành Hoàng miếu, nhà của Kim Lang Chi ở sau đền thờ những hiền tài phía nam thành, hẹn hai người Ông Nguyên Thăng và Tưởng Sĩ Kiều giờ ngọ ngày mai gặp nhau ở lầu Vọng Hải, sau đó thì chắp tay nói lời từ biệt, Kim Lang Chi về đến nhà, bái kiến cha mẹ, rồi đến gặp vợ con, cả nhà vui vui vẻ vẻ. Đêm hôm đó Kim Lang Chi đem bài “Thơ họa khó luận tiếng lòng” mà anh ta sao chép ở Cư Nhiên học đường sao chép lại thành hai bản.

Buổi sáng hôm sau Kim Lang Chi mang theo hai bản này đến gặp người bạn tốt là Phạm Sưởng. Phạm Sưởng cũng coi như là có quan hệ thông gia với Đổng thị. Cung thị - vợ của Phạm Sưởng và Phương thị - vợ của Đổng Tổ Hòa là chị em họ. Trong ba đứa con đã lập gia đình của Đổng Kỳ Xương thì người con giữa là Đổng Tổ Hòa được xem như là người khá khiêm tốn, không hống hách giống Đổng Tổ Nguyên và Đổng Tổ Thường. Quan hệ của Phạm Sưởng và Đổng Tổ Hòa khá tốt, nhưng Phạm Sưởng lại có thù oán với Đổng Tổ Thường. Phạm Sưởng có một người tỳ nữ dung mạo xinh đẹp là Ngọc Mặc, có một lần đi theo Phạm Sưởng đến Đổng phủ, Đổng Tổ Thường nhìn thấy muốn hỏi Phạm Sưởng để mua Ngọc Mặc. Phạm Sưởng không thiếu tiền, nên tất nhiên là không chịu bán, vì thế Đổng Tổ Thường liền oán giận nói một câu: “Rượu mời không muốn lại muốn uống rượu phạt” rồi rời đi. Không lâu sau, Ngọc Mặc liền biến mất, có người nói là bị Đổng Tổ Thường bắt cóc vào trong phủ của mình. Phạm sưởng liền đến hỏi, lại bị Đổng Tổ Thường chửi bới thậm tệ một trận, rồi sai nô bộc đuổi Phạm Sưởng ra khỏi phủ. Phạm Sưởng đến cầu kiến Đổng Kỳ Xương thì Đổng Kỳ Xương không thèm tiếp y. Phạm Sưởng tức giận đi đến nha huyện Hoa Đình tố cáo, chưa nói đến việc Phạm Sưởng không có bằng chứng, cho dù có bằng chứng thì quan huyện Hoa Đình cũng không thể vì một tỳ nữ của Phạm Sưởng mà đến phủ đệ của Đổng Tổ Thường điều tra được. Việc đấy cũng không giải quyết được, sau này lại biết được tỳ nữ Ngọc Mặc bị Đổng Tổ Thường mang biếu cha là Đổng Kỳ Xương rồi. Kim Lang Chi biết việc này nên mới liên lạc với Phạm Sưởng.

Phạm Sưởng cũng căm hận cha con Đổng thị, nên nhìn thấy bài văn “ Thư họa khó luận tiếng lòng”, liền vỗ tay tán thưởng, hỏi là ai đã làm bài văn này? Kim Lang Chi đã nói sự thật cho Phạm Sưởng biết. Phạm Sưởng đã nghe danh Trương Nguyên từ lâu rồi, “tập văn bát cổ của Trương Giới Tử” của nhà in Phất Thủy Sơn và quyển “tuyển chọn ý kiến bình luận về một trăm hai mươi bài văn bát cổ Tùng Giang của Trương Giới Tử” của cửa hàng in sách Dương thị ở Thanh Phổ, y đều mua. Y thật sự khâm phục Trương Nguyên, bội phục nhất chính là việc Trương Nguyên dám đánh Đổng Tổ Thường, vui vẻ nói:

Trương Giới Tử ở Sơn Âm đã đến chưa? Hay lắm, vậy lần này phải náo loạn một trận, phải làm cho cha con Đổng thị thân bại danh liệt mới được.

Giữa trưa hôm đó, Phạm Sưởng và Kim Lang Chi cùng đến lầu Vọng Hải gặp Ông Nguyên Thăng và Tưởng Sĩ Kiều, họ đều là tú tài, bình thường cũng có quen biết nhau nhưng cũng chỉ là quen biết sơ sơ chứ không đến nỗi quá thân thiết. Nhưng sau vụ Đổng thị này thì quan hệ đột nhiên trở nên chặt chẽ, vừa uống rượu vừa nói đến những chuyện xấu xa của Đổng thị, nói với tất cả lòng căm phẫn của mình. Chợt thấy tên tiểu nhị của tửu lầu mang thức ăn lên đột nhiên quỳ xuống nói:

Mấy vị tướng công (cách gọi người đàn ông thành niên thời xưa) quen biết Trương công tử ở Sơn Âm ư, tiểu nhân tên là Lai Phúc, tháng trước có đến Sơn Âm.

Kim Lang Chi thấy tên tiểu nhị này tuy vóc người cao lớn, tai to mặt lớn, nhưng lại có chút thô kệch và vụng về, hỏi:

Ngươi đến Sơn Âm làm gì?

Lai Phúc căm uất nói:

Tiểu nhân vốn là người sống ở cạnh cầu Trường Sinh, là một thợ thủ công, vì đất đai bị Đổng Tổ Nguyên chiếm đoạt với giá rẻ, mẹ tiểu nhân trong cơn tức giận đã bị đột quỵ, một tháng trước thì qua đời. Tiểu nhân có oan mà không biết kêu ai. Nghe nói Trương công tử ở Sơn Âm dám đánh Đổng Tổ Thường liền tìm đến để cậy nhờ. Trương công tử nói công tử sẽ đến Hoa Đình, bảo tiểu nhân về trước, chờ công tử điều tra được tiểu nhân thật sự là người lương thiện thì sẽ giúp đỡ tiểu nhân. Tiểu nhân mới trở về từ bảy ngày trước, nhất thời không có chỗ an thân nên đến tửu lầu này làm thuê.

Chương 221: Ác thân mãnh vu hổ (1)

Thiếu chương!

Chương 221: Ác thân mãnh vu hổ (2)

Đổng Tổ Thường sửng sốt một chút, gã và Kim Lang Chi tuy cùng là chư sinh, nhưng gã cũng chỉ đến Nho học của huyện có vài lần, không quen biết người nào tên là Kim Lang Chi cả, tại sao Kim Lang Chi vừa nghe gã nói thì đã biết ngay gã là Đổng Tổ Thường?

Đã nhận ra rồi thì không cần che đậy nữa, Đổng Tổ Thường quát:

Bỏ bao tải ra, bắt y quỳ xuống.

Hai tên lưu manh trước tiên ấn Phạm Sưởng quỳ xuống, sau đó mới bỏ bao tải ra. Thân thể Phạm Sưởng gầy yếu, bị ấn quỳ trên mặt đất không giãy dụa được, ngẩng đầu lên, hai mắt như muốn phóng hỏa, giận dữ kêu lên:

Đổng Tổ Thường, ngươi dám làm nhục ta như vậy, ta sẽ không đội trời chung với ngươi.

Hả?

Đổng Tổ Thường ngạc nhiên, nói với Uông Đại Chùy:

-Ta sai các ngươi đi bắt Kim Lang Chi cơ mà, các ngươi bắt tên này đến đây làm gì!

Uông Đại Chùy nói:

Tên này là Kim Lang Chi mà.

Nói láo!

Đổng Tổ Thường quát:

-Tên này là Phạm Sưởng.

Tên lưu manh biết mặt Kim Lang Chi vừa nhìn thấy mặt người này, mới phát hiện là bắt nhầm người, liền buông lỏng tay, nói:

Đúng là bắt nhầm người rồi, đây không phải là Kim tú tài.

Phạm Sưởng đứng lên, căm tức nhìn Đổng Tổ Thường nói:

Cởi dây trói cho ta___Đổng Tổ Thường, gặp nhau trên công đường đi.

Hai tên lưu manh chần chừ, đợi lệnh của Đổng Tổ Thường mới dám cởi. Đổng Tổ Thường chửi ầm lên:

Khốn khiếp, ngay cả người sống mà cũng bắt nhầm, các ngươi đều ăn cứt đấy hả, đồ khốn khiếp!

Vất vả cực khổ như vậy mà còn bị mắng, Uông Đại Chùy không vui, biện bạch:

Người này đi từ nhà Kim Lang Chi ra, lại lấy cây quạt giấy che mặt, tất nhiên là bắt y rồi.

Phạm Sưởng thầm nghĩ: “Đổng Tổ Thường muốn bắt Kim Lang Chi huynh chắc chắn là vì bài hịch văn lật đổ nhà họ Đổng đó, ta phải tìm cách báo cho Kim Lang Chi huynh biết, dặn huynh ấy không nên ra khỏi nhà vào mấy ngày này”. Phạm Sưởng liền kêu lên:

Đã bắt nhầm người rồi, còn không mau thả ta ra!

Đổng Tổ Thường hỏi Uông Đại Chùy:

Ngươi nói là y đi từ nhà Kim Lang Chi ra hả?

Uông Đại Chùy nói:

Đúng vậy, nếu không chúng ta làm sao có thể bắt nhầm được, y lại mặc áo và đội mũ tú tài nữa chứ.

Đổng Tổ Thường cười lạnh một tiếng, lùi xuống phía sau mấy bước, đứng ở mái hiên nhìn xuống, tay cầm quạt nói:

Đã nói như vậy, thì cũng không tính là bắt nhầm người. Phạm Sưởng, ngươi từ đó đi ra, vậy thì bài văn chó má đó có phải là do ngươi và Kim Lang Chi làm rồi bí mật mang đi dán không?

Phạm Sưởng cũng cười lạnh nói:

Ta đã đọc được bài văn đó, Hương Hiền từ và Huyện Nho học đều dán, quả nhiên là một bài văn hay tuyệt, chỉ tiếc ta không phải là người viết ra.

Đổng Tổ Thường quát tên lưu manh ấn Phạm Sưởng quỳ xuống. Phạm Sưởng ra sức giãy dụa, dứt khoát đứng thẳng, tức giận mắng Đổng Tổ Thường:

Đổng Tổ Thường, ông trời có mắt, ngươi chắc chắn sẽ bị trừng phạt.

Đổng Tổ Thường đi tới dùng chân đá một cái vào mặt Phạm Sưởng và mắng:

Ta biết ngay ngươi là người cùng hội với Kim Lang Chi mà, đợi bắt được Kim Lang Chi ta sẽ thẩm vấn cả thể. Các ngươi dám phỉ báng cha ta, đó là tội không thể tha thứ.

Sau đó quay ra nói với Uông Đại Chùy:

Mau đi bắt Kim Lang Chi về đây.

Uông Đại Chùy dẫn hai tên lưu manh đi khỏi, Đổng Tổ Thường liền bước tới, nói vài câu với tên nô bộc, bảo gã đi lấy giấy bút đến, rồi nói với Phạm Sưởng:

Ngươi viết bản nhận tội, chỉ cần nói là bị bọn Trương Nguyên và Kim Lang Chi mê hoặc dụ dỗ, nhất thời hồ đồ nên mới vu tội cho cha ta, viết xong ta sẽ thả ngươi ra.

Phạm Sưởng phỉ nhổ một cái, tức giận nghiến răng nghiến lợi nói:

Muốn ta nhận tội, đừng có mơ ! Đổng Tổ Thường, các ngươi độc ác không còn tính người nữa, chuyện xấu gì cũng dám làm, chắc chắn sẽ bị trời chu đất diệt.

Đổng Tổ Thường giận dữ, đang định đá Phạm Sưởng một cái thì bị Đổng Tổ Nguyên ngăn lại. Đổng Tổ Nguyên nói:

Bắt y quỳ dưới nắng một lúc, khi nào nhận tội mới được thả ra.

Giữa buổi trưa mùa hè mặt trời chói chang như lửa thế này, Phạm Sưởng lại là một thư sinh nho nhã yếu ớt, vừa tức vừa hận vừa khuất nhục. Dưới ánh nắng chói chang thế này quỳ ở đình viện không đến nửa canh giờ thì mồ hôi đã tuôn ra như tắm, miệng đắng lưỡi khô, kêu lên:

Thả ta ra, thả ta ra.

Sau đó đứng lên định đi, bọn gia nô liền xông đến, đẩy ngã y xuống đất, quát lên:

Muốn đi thì nhận tội trước đã.

Trong lòng Phạm Sưởng tức giận, đầu cũng bắt đầu cảm thấy đau, cổ hộng khô đắng, khàn khàn nói:

Cho ta nước, ta muốn uống nước.

Bọn gia nô của Đổng thị tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt, không thèm để ý tới y.

Hơi thở của Phạm Sưởng trở nên gấp gáp, đầu đau như muốn nứt ra, ôm đầu thống khổ rên lên, xiu vẹo dưới cái nắng như thiu như đốt.

Bọn gia nô của Đổng thị lại cười nói:

Giả ngây giả dại đi, ta xem ngươi giả bộ thế nào.

Một lát sau, thấy Phạm Sưởng nôn mửa dữ dội rồi lâm vào hôn mê. Một tên gia nô liền tiến lên đá nhẹ Phạm Sưởng một cái, không thấy động đậy gì, liền đưa tay lên mũi xem xét hơi thở, thì thấy hơi thở của y dồn dập, hơi thở nóng như lửa, lúc này mới cho người kéo Phạm Sưởng vào chỗ mát rồi bảo người đi bẩm báo với Đổng Tổ Thường.

Đổng Tổ Thường và Đổng Tổ Nguyên cùng đi đến, nhìn thấy Phạm Sưởng vốn là một tên thư sinh mặt trắng mà lúc này mặt lại đỏ như Quan công, hô hấp yếu ớt, hôn mê bất tỉnh.

Một tên gia nô nói:

Đại công tử, nhị công tử, tên này chắc là bị cảm nắng rồi, không cứu chữa sợ rằng sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Đổng Tổ Thường mắng:

Cứu cái rắm, y chết là tốt.

Đổng Tổ Nguyên cau mày nói:

Dù sao y cũng là một tú tài, để y chết thì cũng có chút phiền phức. Cho y uống một chút nước đi, rồi cho người đánh xe đưa y về, vứt y ở cửa nhà là được rồi.

Hai tên gia nô của Đổng thị cạy miệng Phạm Sưởng ra, rót một chút nước lạnh vào miệng, sau đó nâng Phạm Sưởng lên xe ngựa rồi cho xe chạy về hướng Hương Hiền Từ, mang Phạm Sưởng để ở dưới một gốc cây đại thụ, rồi quay xe đi.

Có người nhìn thấy một chiếc xe ngựa bỏ lại một người bên đường liền bước đến xem, nhận ra đó là Phạm tú tài, vội vàng chạy đến Phạm gia báo tin. Lúc người của Phạm gia đến, nhìn thấy bộ dạng Phạm Sưởng như vậy, một bên cho người đi mời đại phu, một bên cử người đến nhà Kim Lang Chi chất vấn vì người nhà Phạm Sưởng biết là hôm nay Phạm Sưởng ở lại nhà Kim Lang Chi dùng cơm trưa.

Uông Đại Chùy và hai tên lưu manh vẫn đang chờ trước cổng nhà Kim Lang Chi, nghe nói Phạm tú tài xảy ra chuyện, rất nhiều người đến vây xem, trong lòng biết là hôm nay không thể bắt được Kim tú tài, đành phải rút lui.

Kim Lang Chi đến nhà Phạm Sưởng, nhìn thấy Phạm Sưởng sốt cao đến mức hôn mê, cả kinh nói:

-Tầm canh ba giờ Mùi Phạm huynh đã rời khỏi nhà ta rồi, giữa trưa chỉ uống có hai chén rượu nhỏ, không hề say rượu, làm sao có thể bị ngã ở trước cổng Hương Hiền Từ đến bây giờ mới được người ta phát hiện được!

Đại phu đang khám cho Phạm Sưởng nói:

Phạm tú tài là bị cảm nắng, bị cảm nắng rất nặng. Trước tiên cho uống một ít nước muối đã, rồi sau đó sắc thuốc uống, nếu mồ hôi không toát ra được làm cho nhiệt độ hạ xuống thì sợ rằng sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Kim Lang Chi luôn túc trực bên cạnh Phạm Sưởng. Đến đêm, Phạm Sưởng không ngừng sốt cao, người cũng đã tỉnh lại, nhưng lại là điên cuồng kêu to:

Đổng Tổ Thường, ngươi chắc chắn sẽ bị trời phạt---Đổng Tổ Thường, ngươi ép ta viết bản nhận tội, ngươi đừng có mơ tưởng!

Kim Lang Chi nắm lấy bàn tay nóng bỏng của Phạm Sưởng, hỏi:

Phạm Sưởng, là Đổng Tổ Thường đã bắt huynh đến tra hỏi hả?

Sắc mặt Phạm Sưởng đỏ ngầu, mắt trừng lớn, không phải là nhìn Kim Lang Chi, mà chỉ gào thét, kêu la một trận xong, rồi lại hôn mê.

Đại phu vừa châm cứu vừa sắc thuốc cho uống, nhưng vẫn không làm cho Phạm Sưởng hạ sốt được. Lúc trống canh ba, Phạm Sưởng chết bất đắc kỳ tử. Nhà họ Phạm vang vọng tiếng khóc than. Một con người tốt đẹp tài giỏi, chỉ trong vòng không đến nửa ngày đã chết một cách đột ngột, người thân làm sao mà chấp nhận nổi sự thật này!

Kim Lang Chi đau khổ trước cái chết thảm của bạn. Phạm Sưởng mới rời khỏi nhà mình vào lúc giờ Mùi thôi, mà đến giờ Thân đã có người phát hiện y bị một chiếc xe ngựa vứt xuống. Trong khoảng một canh giờ đó Phạm Sưởng đã ở đâu?

Lúc lâm chung Phạm Sưởng có chửi bới Đổng Tổ Thường thậm tệ. Vậy chắc chắn là Đổng Tổ Thường đã bắt Phạm Sưởng vì tội dán bài hịch văn kia rồi, làm cho Phạm Sưởng bị cảm nắng mà lại không cứu chữa, dẫn đến việc Phạm Sưởng bị tử vong.

Sáng sớm Đổng Tổ Thường biết được Phạm Sưởng đã chết, lại nói:

May là đưa y về rồi, nếu không để y chết ở trong nhà ta chẳng phải sẽ xui xẻo sao.

Sau đó liền sai người đi theo dõi động tĩnh ở nhà Phạm thị. Huyện nha và phủ nha cũng cử người đến thăm dò.

Đoàn người của Trương Nguyên gồm hơn sáu mươi người chia đôi ngồi ở hai chiếc đò, giờ Mão bắt đầu xuất phát từ La Hàng phía nam thành của Thanh Phổ xuôi xuống cửa sông Đại Hoàng. Đầu giờ Tí đến được bến đò Bắc Thương ở Hoa Đình. Ngoài Lục Thao, Trương Đại, Trương Ngạc, Liễu Kính Đình ra, còn có Dương Thạch Hương, Hồng Đạo Thái, Kim Bá Tông và hơn hai mươi sinh đồ ở Thanh Phổ. Còn đâu số còn lại là tôi tớ của đám sinh đồ, tất cả đều cường tráng khỏe mạnh mang theo gậy gộc, đấy là để phòng bị khi phải đánh nhau với lũ đánh thuê ở Tùng Giang.

Chương 222: Ngô Long ác thủ

Bọn Trương Nguyên vừa lên bờ chợt nghe thấy phu khuân vác trên bến tàu nói chuyện với nhau về chuyện Đổng Tổ Thường đánh chết một sinh đồ, người bạn của sinh đồ bị đánh chết đấy đang kiện lên quan phủ, còn mẹ và vợ của người sinh đồ đó đang kêu khóc om sòm đòi đến Đổng phủ để đòi lại công bằng.

Trương Nguyên giật nẩy mình, vội hỏi bọn họ tên của sinh đồ đó, một người phu khuân vác trả lời:

Chính là Phạm tú tài, nhà ở phía Hương Hiền Từ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!