LANG LO TAO NHA - TAC DAO TAM SI
- Cần biết triều và sính khác nhau, Thiên tử có quyền phái thần đi sứ, nhưng thiên tử không có quyền lệnh thần triều kiến. Phàm là sứ thần, ắt đều không vì lệnh thiên tử mà sau này sẽ kết tư giao, còn nếu phàm là triều kiến thì đều kết tư giao. Có thể dùng câu này mà giải đề “Xuân Thu” – Không kết tư giao với Vương Thần, chính là nghĩa này.
Hạ Doãn Di nghĩ ngợi một lát rồi khen ngợi nói:
Quả nhiên là phân tích biện giải sâu sắc, không rơi vào những khuôn mẫu thông thường, tại hạ khâm phục. Xin mời Giới Tử huynh ra đề.
Trương Nguyên nói:
Xin hãy dựa vào quyển Chiêu công ngũ niên trong “Tả truyện” mà luận về phương pháp hành văn?
Hạ Doãn Di nhăn mày nói:
Cái này hình như quá mơ hồ thì phải.
Trương Nguyên ngậm cười không nói, Trương Ngạc bĩu môi nói:
Không trả lời được lại còn đổ lỗi tại vì hỏi quá mơ hồ, nếu là ta, ta nói luôn là không đáp được.
Hạ Doãn Di đỏ bừng mặt, nói:
Tại hạ tài hèn học mọn, quả thật là không đáp lại được, xin Giới Tử huynh chỉ giáo thêm.
Chương 235: Quen đã lâu mà như mới gặp, Mới gặp nhau mà tựa thân tình
Trương Nguyên nói:
Di Trung huynh không cần quá khiêm tốn… Đề bài mà Tại hạ ra cũng có phần hỏi tương đối mơ hồ, nếu như không phải đã từng nghiên cứu về nó, thì ắt hẳn ta nhất thời cũng không trả lời được.
Ngưng một lát rồi tiếp tục nói:
Sở tử dục nhục Tấn. . . Đại phu mạc đối, khải cương viết"Khả, cẩu hữu kỳ bị, hà cố bất khả? , ... ... ... Vị hữu kỳ bị, sử quần thần vãng di chi cầm, dĩ sính quân tâm, hà bất khả chi hữu? (BTV dịch: Quốc quân nước Sở muốn làm nhục Hàn Khởi Thúc Hướng nước Tấn một phen, bèn hỏi đại phu trong triều rằng các ngươi nói xem chuyện này rốt cuộc có làm được không. Khải Cương nói: Giả sử chúng ta sẵn sàng phòng bị tất cả, muốn làm nhục bọn họ thì làm sao không thể chứ. Nhưng làm nhục một thất phu, vẫn không thể không có phòng bị, huống hồ bây giờ là làm nhục Tấn quốc, cho nên Thánh vương chỉ tuân theo lễ phép, mà không đi làm nhục người ta). Đây là văn tự cuả Tả truyện năm Chiêu Công thứ năm... Lời mở đầu có ý chuẩn bị là được, ở giữa dùng hơn năm trăm từ mà diễn tả sự tình, lời kết mà không có ý dự phòng là không thể, nếu bên ngoài ngôn ngữ là kế thừa, thì bên trong ý nghĩa lại không tuân theo. Cách hành văn như vậy tương xứng, tuần hoàn tựa như quy luật của mặt trăng khuyết lại tròn, xua kia Hoàn Ôn gặp Bát Trận đồ đã viết: “Thế trận này cũng như rắn núi vậy…” Đánh đầu thì động đuôi, đánh đuôi thì động đầu, đánh giữa thì đuôi và đầu đều bị động.” Phương pháp này chuyên để dùng cho binh pháp, ngoài ra cũng được dùng cho văn pháp”.
Chư sinh có mặt ở Tam Tuệ Đường đều lắng tai nghe, tất cả đều được giác ngộ. Những người ngồi đây, đại bộ phận đều đã đọc qua tập sách “Hai mươi bài văn bát cổ Tùng Giang của Trương Giới Tử tuyển chọn và bình luận” do Dương Thạch Hương in ấn, trong tuyển tập văn bát cổ đó có rất nhiều phương pháp làm văn bát cổ, rất hữu ích khi viết đoạn mở bài thi, hôm nay được nghe thấy Trương Nguyên diễn giải từ đầu đến cuối tất nhiên là càng lĩnh ngộ được ra nhiều điều. Bởi lẽ điểm bình chỉ là một vài câu, vài lời, chỉ có thể nói là vấn đề như vậy mà không diễn giải vì sao lại như vậy và như vậy thì sẽ ra sao, làm sao có thể nói một cách rõ ràng như thế này. Mời Trương Nguyên giảng giải về Bát cổ văn pháp, Hạ Doãn Di đứng duỗi thẳng tay chắp vái nói:
Giới Tử huynh … Hàn xã Tổng xã thủ này chắc chắn thuộc về huynh, Tại hạ tâm phục khẩu phục.
Hạ Doãn Di là người rất lỗi lạc, Trương Nguyên đối với anh ta cũng rất lưu luyến mến mộ, quyết tâm kết giao. Cái gọi là “Mới gặp nhau mà như thân đã lâu” chính là để diễn tả tình bạn thân thiết giữa hai người.
Trương Nguyên liền dựa vào “Cửu Tự Quyết” giảng giải văn pháp, dẫn chứng phong phú, trong đó có gửi gắm thêm những tư tưởng mới, khiến cho chư sinh có mặt ở Tam Tuệ Đường mở rộng được tầm tri thức. Những lời của cổ nhân đem ra bàn bạc với những quan điểm của vãn sinh, mang tính thiết thực hơn cả mười năm đèn sách, không hề là những lời thừa. Trương Nguyên dùng kiến thức của hắn trải qua hai thế giới, không gian cùng với sự cần mẫn ham học của hắn, có sự lĩnh ngộ sâu sắc với đạo làm văn. Chư sinh ngồi nghe Trương Nguyên giảng giải như quên đi Trương Nguyên mới chỉ có mười bảy tuổi, chỉ coi Trương Nguyên như một người thầy giáo ân cần tài giỏi.
Buổi trưa hôm đó, chư sinh các huyện thuộc các phân xã viết lại tên mình lên cuốn sổ ký tên. Những thành viên chính thức của Hàn xã lúc này tổng cộng có mười hai người gồm có: ba anh em Trương Thị và Xã thủ, xã phó của ba huyện, những chư sinh còn lại đều cần phải được xét duyệt, Hàn xã không phải là một tổ ong, ai muốn tham gia cũng được.
Đêm hôm đó, Trương Nguyên và một số người trong đó có: Hạ Doãn Di, Dương Thạch Hương, Phan Nhược Phủ cùng bàn luận về những quy định của Hàn xã, những quy định vào thuở sơ khai này tốt nhất là đơn giản rõ ràng. Thứ nhất, thành viên là những chư sinh tuổi dưới 35, những thần đồng thiếu niên có tài năng xuất chúng cũng có thể phá lệ cho nhập xã. Thứ hai, Những kẻ tham lam vô lại, dựa thế ức hiếp người xung quanh, không giữ tròn chứ Hiếu đều không được phép nhập xã, cho dù vì nhất thời không điều tra rõ ràng mà vào rồi, thì sau khi bị tố cáo điều tra phát hiện vi phạm cũng sẽ bị khai trừ ra khỏi xã. Thứ ba, không được phép lợi dụng danh tiếng của Hàn xã tụ tập văn sĩ chống đối chính quyền hòng tư lợi riêng. Phù hợp ba điều nêu trên mới được trở thành thành viên của Hàn xã.
Dương Thạch Hương và Phan Nhược Phủ có thắc mắc với quy định thứ ba, cho rằng chư sinh tham gia Hàn xã là để được bảo vệ. Nếu căn cứ theo điều thứ ba thì sau này nếu có bị ức hiếp thì cũng đành ngậm ngùi hàm oan hay sao?
Trương Nguyên nói:
Hàn xã của chúng ta phát triển lớn mạnh, những người bình thường ai dám bắt nạt người của chúng ta. Nếu như thật sự là có hàm oan thì có thể tố cáo với Xã thủ phân xã, nếu không giải quyết được thì viết thư nói cho ta biết, chúng ta sẽ cùng nghĩ cách giải oan của Xã viên.
của Xã viên là biểu hiện tích cực để tăng cường sự đoàn kết của Hàn xã, cần thiết phải có những sự bảo hộ đúng mức, nếu không thì còn có ai muốn gia nhập nữa. Những đảng xã khác đều là lợi ích đoàn thể, những đảng xã quá lý tưởng hóa, thuần khiết hóa tựa như lầu các giữa không trung, sẽ không làm nên cơ đồ gì. Có được những lời hứa đó của Trương Nguyên, Dương Thạch Hương và Phạm Nhược Phủ không còn bất kỳ ý kiến nào khác. Từ sự kiện đánh bại Đổng thị lần này, bọn họ đã được chứng kiến sự quyết đoán, dám làm dám chịu của Trương Nguyên, có Trương Nguyên dẫn đầu, Hàn xã chắc chắn sẽ phát triển lớn mạnh. Tới lúc đó thì còn sợ gì bị người khác bắt nạt ức hiếp, mà ngược lại cần phải quy định xã viên không được cậy thế mà chèn ép người khác.
Những quy định của Hàn xã tạm thời giới hạn trong ba điều, cuối tháng ba đầu tháng tư năm sau sẽ tổ chức buổi gặp mặt đầu tiên của Hàn xã tại Sơn Âm, Thiệu Hưng, tới lúc đó sẽ lại nghị bàn những quy định mới, điều tra hội viên và tiến hành ghi chép danh tính của hội viên Hàn xã.
Buổi tiệc ở Dự Viên vốn định trong hai ngày hai mươi ba và hai mươi bốn, nhưng đến chiều ngày hai mươi bốn thì ba mươi ba sinh đồ và đồng sinh của hai huyện Gia Định và Côn Sơn thuộc tỉnh Tô Châu vì quá ngưỡng mộ nên tới tham dự, mong muốn được gia nhập Hàn xã. Trương Nguyên sai người ghi chép lại tên tuổi của những sinh đồ và đồng sinh, nói rằng mấy ngày tới hắn và hai người anh em trên đường tới Nam Kinh sẽ đi qua Tô Châu, đến lúc đó sẽ gặp mặt sĩ tử chư sinh Tô Châu và cùng bàn bạc chuyện gia nhập Hàn xã.
Vì có sự tham dự đột ngột của sĩ tử Tô Châu nên buổi tiệc ở Dự Viên kéo dài đến sang ngày hai mươi lăm. Những sinh đồ có chút tài cán lần lượt bước lên thuyết giảng, giao lưu những kinh ngiệm, kiến thức văn chương. Có thể nói đây là buổi tập hợp văn sĩ đàm luận văn chương lớn nhất vùng đông nam trong những năm gần đây. Huyện lệnh Thượng Hải và quan giáo dụ của huyện đều cử người đến mời Trương Nguyên đến gặp mặt, tỏ vẻ rất ngưỡng mộ và khuyến khích Trương Nguyên, nhưng trong lời lẽ thì như có ý băn khoăn e ngại. Trương Nguyên đương nhiên là giải thích rõ ràng cho hai vị đại nhân hiểu rằng, Hàn xã chỉ là một Văn xã bát cổ, mục đích là giao lưu kiến thức, kinh nghiệm văn chương, cùng đề xướng trung quân ái quốc làm mục tiêu. Trương Nguyên cũng cho hai vị đại nhân xem ba quy định của Hàn xã, đặc biệt là điều thứ ba. Chỉ có như vậy bọn họ mới yên tâm, bọn họ lo sợ rằng sau này, đám chư sinh sẽ kết bè kết cánh nổi loạn, chống đối quan phủ.
Buổi sáng ngày hai mươi sáu tháng năm, mấy trăm người bọn Trương Nguyên rời khỏi Thượng Hải. Nhân sĩ Thượng Hải ra tiễn đứng chật cả bến thuyền Hoàng Phổ, những người dân không hiểu rõ chuyện cũng chạy tới tham gia, họ muốn nhìn xem Trương công tử vùng Sơn Âm đánh bại Đổng thị có phải là ba đầu sáu tay hay không?
Trương Nguyên ngồi thuyền ngược dòng Hoàng Phổ về đến bến thuyền nam thành Hoa Đình, tới nơi thì Hạ Doãn Di, Ông Nguyên Thăng và đám sinh đồ Hạ Đình quyến luyến tiễn biệt Trương Nguyên, cùng hẹn đến tháng ba năm sau gặp lại nhau ở Sơn Âm. Hạ Doãn Di và Trương Nguyên bắt tay không nỡ rời biệt. Mới chỉ có vài ngày ngắn ngủi mà hai người đã có tình bạn tri âm tri kỷ, thật ứng với câu “Quen đã lâu mà như mới gặp, Mới gặp nhau mà tựa thân tình”. Tình bạn của nam tử cũng như tình yêu nam nữ cũng có vừa gặp là thân là yêu, lại cũng có tuy là vợ chồng cả đời nhưng không hề có một chút tình cảm nào. Tình bạn mênh mông mà!
Kim Lang Chi vì còn phải đại diện gia đình của Phạm Sưởng đi kêu oan, nên lần gặp mặt tại Dự Viên lần này y không tham dự được. Nghe nói chư sinh đã quay về nên thu xếp tới bến tàu để gặp Trương Nguyên. Trương Nguyên được biết vụ án Phạm Sưởng bị ép chết nhất thời vẫn chưa được phán quyết, Đổng Tổ Nguyên và Đổng Tổ Thường nhất thời vẫn chưa thể định tội bọn chúng. Nhưng Lục Dưỡng Phương thì đã được vô tội phóng thích, đã cùng với anh trưởng Lục Thao về Thanh Phổ. Lục Dưỡng Phương là bị Đổng Tổ Thường xui khiến người khác bày mưu lừa gã mắc bẫy, gã bị khép tội cưỡng bức làm nhục người dân lương thiện mà bị bỏ tù.
Lúc đó, Hoàng Quốc Đỉnh cố ý bao che bênh vực cho Đổng thị nên không đi tìm hiểu điều tra, chỉ nghe lời của bị cáo nên đã nhốt Lục Dưỡng Phương lại. Đến thời điểm này thì những tên bị Đổng thị mua chuộc đều đã bị bắt, vụ lấy người đẹp ra mà lừa đảo giăng bẫy cũng đã được phơi bày sáng tỏ.
Chương 236: Không bất chính không giàu (1)
Kim Lang Chi vì còn phải đại diện gia đình của Phạm Sưởng đi kêu oan, nên lần gặp mặt tại Dự Viên lần này y không tham dự được. Nghe nói chư sinh đã quay về nên thu xếp tới bến tàu để gặp Trương Nguyên. Trương Nguyên được biết vụ án Phạm Sưởng bị ép chết nhất thời vẫn chưa được phán quyết, Đổng Tổ Nguyên và Đổng Tổ Thường nhất thời vẫn chưa thể định tội bọn chúng. Nhưng Lục Dưỡng Phương thì đã được vô tội phóng thích, đã cùng với anh trưởng Lục Thao về Thanh Phổ. Lục Dưỡng Phương là bị Đổng Tổ Thường xui khiến người khác bày mưu lừa gã mắc bẫy, gã bị khép tội cưỡng bức làm nhục người dân lương thiện mà bị bỏ tù. Lúc đó, Hoàng Quốc Đỉnh cố ý bao che bênh vực cho Đổng thị nên không đi tìm hiểu điều tra, chỉ nghe lời của bị cáo nên đã nhốt Lục Dưỡng Phương lại. Đến thời điểm này thì những tên bị Đổng thị mua chuộc đều đã bị bắt, vụ lấy người đẹp ra mà lừa đảo giăng bẫy cũng đã được phơi bày sáng tỏ. Tùng Giang tri phủ thì dĩ nhiên là bớt một chuyện hơn thêm một chuyện, những vụ án như vụ Lục Dưỡng Phương tốt nhất là nhanh chóng mà kết án, để tránh cái việc đám người Lục Thao cứ tụ tập trước cổng nha môn không chịu giải tán. Còn về Đổng Tổ Thường và Đổng Tổ Nguyên thì Hoàng Quốc Đỉnh vẫn chủ trương mời Án Sát Ti phái quan viên về để thẩm án.
Đối với việc phán quyết hai tên nhà Đổng thị, Trương Nguyên không hề sốt ruột, hắn đã có sự chuẩn bị. Vụ Diêu Phục năm ngoái còn bị kéo dài đến nửa năm mới có phán quyết, vụ án của hai tên Đổng thị có là gì so với vụ Diêu Phục. Trương Nguyên liệu định cái chức Tri phủ Tùng Giang của Hoàng Quốc Đỉnh chẳng còn giữ được bao lâu nữa. Mâu thuẫn giữa Hoàng Quốc Đỉnh và Ngô Thôi quan, Lưu Đồng Tri ngày càng căng thẳng. Họ Ngô và họ Lưu hai người bọn họ nhận được sự ủng hộ của chư sinh, còn Hoàng Quốc Đỉnh sau vụ giúp Đổng thị không thành, lần này bị liên lụy cũng khiến cho danh tiếng bị hạ thấp nghiêm trọng, đối với ông ta mà nói thì đã không còn có thể đứng vững được ở đất Tùng Giang này rồi. Hơn nữa còn có tin đồn rằng việc Đổng Thị tự ý phóng hỏa đốt nhà vu họa là do Hoàng Quốc Đỉnh xúi bẩy, những tin đồn như vậy ắt hẳn sẽ được lan truyền tới Nam Kinh, người của Đô Sát Viên mà biết được thì Hoàng Quốc Đỉnh sẽ chẳng còn sống yên lành được nữa.
Từ biệt chư sinh Hoa Đình, ba anh em họ Trương cùng với hơn hai mươi chư sinh Thanh Phổ ngồi thuyền xuôi về Thanh Phổ. Tới trước cửa Lục phủ chỉ thấy trên dưới Lục phủ tràn ngập không khí hoan hỉ. Vụ Hoa Đình nổi dậy đánh đổ Đổng thị sớm đã được lan truyền khắp Thanh Phổ, Đổng thị từ nay trở đi sẽ không còn dám đến đòi nợ sáu trăm mẫu rừng dâu nữa, chúng cũng không dám đến mà quấy rối những cô gái hái dâu của Lục thị nữa.
Một năm trời phải ngậm đắng nuốt nhục của Lục thị vùng Thanh Phổ đã qua rồi, Lục thị đã có thể ngẩng đầu kiêu hãnh được rồi! Lục Triệu tuy rằng bị trúng gió liệt nửa người cũng chống gậy để cho Lục Thao đỡ ra đón anh em Trương thị. Lục Triệu nói chưa được rõ, mơ mơ hồ hồ nói một vài lời cảm ơn ân đức của anh em họ Trương với Lục gia. Trương Đại nói:
Lục lão bá nói xa xôi gì vậy, chúng ta đều là thông gia mà. Lục thị ở Thanh Phổ gặp nạn thì chúng tôi Trương thị ở Sơn Âm đương nhiên phải dốc sức tương trợ.
Đang trong lúc nói chuyện thì có một người từ đâu đột nhiên tới trước mặt Trương Nguyên quỳ gối tạ tội:
Lần này hoàn toàn là do sự cứu giúp của Giới Tử huynh, nếu không thì Lục Dưỡng Phương này đã bị chết trong nhà ngục ở Tùng Giang rồi. Giới Tử huynh không chấp nhặt hiềm khích trước đây mà cứu tính mệnh của tại hạ, tại hạ thật hổ thẹn vô cùng.
Trương Nguyên vội vàng đỡ Lục Dưỡng Phương đứng dậy, nhìn thấy Lục Dưỡng Phương hình hài khác năm trước nhiều quá, gầy đến nỗi không thành hình người nữa. Có thể thấy rằng gã ở trong ngục đã chịu không ít khổ cực, nếu vụ án mà còn cứ kéo dài, rất có khả năng là sẽ bị chết trong ngục không chừng.
Tuy Lục Triệu đi đứng bất tiện, nói năng không rõ, nhưng trong lòng lại rất hiểu, lần này không có Trương Nguyên giúp đỡ, Thanh Phổ Lục thị chắc chắn sẽ không giữ được sáu trăm mẫu rừng dâu cùng hộ tằm Lục thị ở Xa Sơn. Hộ dệt chịu không được ác bá hoành hành chắc chắn sẽ chạy tứ tán, Thanh Phổ Lục thị từ nay sụp đổ. Mà hiện tại, thứ tử Lục Dưỡng Phương vô tội được thả, tuy chưa thu hồi được điền khế của sáu trăm mẫu rừng dâu, nhưng Đổng thị cũng không còn khả năng đòi chiếm rừng dâu. Những điền khế rừng dâu đó có thể báo tổn thất với Huyện Chủ bộ (chức quan trọng yếu cấp huyện), bởi vì tất cả điều khế sơn lâm đều đăng ký ở sổ sách Huyện hộ phòng, điền khế bị tổn thất được ghi chép lại sau khi Huyện hộ phòng thẩm tra. Ngoại trừ gia chủ và trưởng tử xác nhận quyền chuyển nhượng điền khế, tất nhiên còn phải thỉnh Huyện hộ phòng lập hồ sơ. Đây chính là nguyên nhân vì sao Đổng thị lấy được điền khế từ tay phản nô Trần Minh của Lục thị, song không thể ỷ vào đó để đoạt vườn dâu, còn muốn lập mưu lấy khoản nợ bức ép Lục thị giao ra vườn dâu.
Trải qua chuyện này, Lục Triệu cũng rõ Lục Dưỡng Phương là tên bại hoại, không thể ủy thác gia sự cho y nữa. Bộ dạng hiện tại của Lục Triệu hiển nhiên cũng không thể hành sự, vì vậy sớm nay đã triệu tập quản sự và nô bộc, còn mời trưởng bối trong tộc đến, tuyên bố giao toàn bộ đại sự trong nhà cho trưởng tử Lục Thao quản lý, việc nhà cửa thì do dâu trưởng Trương Nhược Hi phụ trách. Lúc này thấy ba huynh đệ Trương Nguyên đã tới, Lục Triệu nhắc lại một lần nữa, Trương Ngạc cười nói:
Lục lão bá anh minh, Lục tỷ phu là đương gia thì quá tốt rồi, Thanh Phổ Lục thị tất hưng thịnh. Còn vị Dưỡng Phương huynh, về sau phải an phận thủ thường một chút mới tốt, chuyện như thế không thể phát sinh thêm lần nữa.
Lục Dưỡng Phương hổ thẹn đến mức không biết giấu mặt vào đâu, thân hình gầy tong teo như cây trúc lay lắt chỉ chực ngã quỵ.
Tối đó, Lục Thao mời rượu ba huynh đệ Trương Nguyên tại tửu lầu gần nhà, còn có Dương Thạch Hương, Hồng Đạo Thái cùng hai mươi mấy sinh đồ Thanh Phổ để cảm tạ chư sinh lần này ra sức tương trợ. Dương Thạch Hương nói:
Đều là đồng chí Hàn Xã, hiển nhiên phải đoàn kết rồi.
Lục Thao vẫn chưa biết chuyện Hàn Xã, nghe Dương Thạch Hương nói vậy, y vui vẻ nói:
Ta là xã phó của phân xã Thanh Phổ sao, hay quá… Về sau trong xã có chuyện, ta sẽ tận tâm tận lực.
Hồng Đạo Thái nói:
Hiện giờ xã viên trong Hàn Xã đều là chư sinh, thi hương năm sau tất có không ít người trúng cử, rồi đến thi xuân năm sau nữa… chắc chắn sẽ có tiến sĩ, vậy trong triều sẽ có người của Hàn Xã chúng ta rồi.
Trương Nguyên mỉm cười nói:
Nếu sang năm thi hương người của Hàn Xã ta đậu nhiều, danh tiếng Hàn Xã ắt đại chấn, người muốn gia nhập Hàn Xã sẽ nhiều hơn, xã thủ và xã phó các huyện cần minh sát, thận trọng, cố gắng đề phòng hạng gian trá giảo hoạt lẫn vào, đừng vì muốn Hàn Xã lớn mạnh mà khiến vàng thau lẫn lộn.
Dương Thạch Hương gật đầu:
Giới Tử huynh nói chí phải. Thà thiếu chứ không cần đồ bỏ, không cầu người đông thế mạnh, chỉ cần người có nhận thức.
Sau khi tàn tiệc, Trương Nguyên cùng Dương Thạch Hương nghị sự, tửu bảo dâng trà Tùng La cho hai người rồi lui đi. Trương Nguyên kể rõ ý tưởng muốn thành lập thư cục Hàn Xã với Dương Thạch Hương, áp dụng chế độ nhập cổ phần, xã thủ và xã phó các huyện có thể nhập cổ… Một cổ là mười lượng bạc, một người có thể mua nhiều cổ, tạm định ra một ngàn cổ… cũng chính là tiền vốn mười ngàn lượng, hiệu sách của Dương Thạch Hương có thể chiết khấu tiền để nhập cổ phần. Ký kết khế ước, định rõ quyền và trách nhiệm, lợi tức cổ phiếu hằng năm, thư cục Hàn Xã sẽ do Dương Thạch Hương quản lý, Trương Nguyên hỏi ý Dương Thạch Hương thế nào?
Do mấy người hợp lại bỏ tiền vốn mở tiệm, có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu, đây là chuyện rất phổ biến từ năm Gia Tĩnh triều Đại Minh, vì vậy Dương Thạch Hương khá tường tận việc nhập cổ này… Kỳ thực y muốn hợp tác với người khác, thà làm đầu gà chứ không làm mông trâu. Nhưng y cũng hiểu, Trương Nguyên đến tìm y trước tiên để thương lượng thành lập thư cục Hàn Xã là có ý tốt. Với danh tiếng hiện nay của Trương Nguyên cùng tài lực của Lục thị, hắn muốn thành lập thư cục không hề khó khăn, khi ấy hiệu sách Dương thị của y sao có thể cạnh tranh với thư cục Hàn Xã. Năm ngoái lợi nhuận hiệu sách Dương thị đạt hơn bốn trăm lượng bạc, một phần lớn là nhờ cuốn “Một trăm hai mươi bài văn bát cổ Tùng Giang do Trương Giới Tử tuyển bình”, mà những năm trước lợi nhuận của của hiệu sách cũng thường chỉ đạt từ một đến hai trăm lượng bạc.
Dương Thạch Hương rất có con mắt kinh doanh, y hiểu rõ tiền đồ của thư cục Hàn Xã, lợi nhuận của hiệu sách Dương thị sau khi nhập cổ phần sẽ nhiều hơn hiện tại, vì vậy y suy nghĩ một lúc liền đáp ứng. Việc thành lập thư cục Hàn Xã sẽ do y đứng đầu, cùng bàn với Hạ Doãn Di và Phan Nhược Phủ, xem sáu xã thủ cùng xã phó của Hoa Đình, Thượng Hải nguyện ra bao nhiều cổ ngân. Trương Nguyên nói ba huynh đệ Trương thị sẽ bỏ ra ba ngàn lượng bạc, hiệu sách Dương thị bỏ ra bao nhiêu bạc thì để ngày mai sẽ thỉnh lão sử Huyện hộ phòng có kinh nghiệm đến tính toán.
Trống gõ canh hai, Trương Nguyên từ biệt Dương Thạch Hương ở tửu lầu. Hắn về Lục phủ, bụng nhủ: “Mười rương gỗ của Đổng thị hẳn là đã mở ra xem, mình đáp ứng ra ba ngàn lượng nhập cổ thư cục Hàn Xã, khoảng tiền này lấy từ rương này ra.”
Mấy ngày trước Lục Đại Hữu và Mục Kính Nham đem mười chiếc rương này đến Thanh Phổ giao cho Trương Nhược Hi, Lục Đại Hữu mật báo sự tồn tại của đống rương này với Thiếu nãi nãi Trương Nhược Hi, cô đem chỗ rương đó cất trong phòng ngủ của mình. Lúc này thấy Trương Nguyên đòi xem rương, cô liền cho người dọn rương vào phòng hắn.
Cửa nhỏ u tĩnh, đêm hạ lấp lánh ánh sao, trong phòng chỉ có Trương Nguyên, Lục Thao, phu phụ Trương Nhược Hi, Mục Chân Chân thì đứng bên cửa. Trương Nguyên nói chuyện thành lập thư cục Hàn Xã với tỷ phu Lục Thao và tỷ tỷ Trương Nhược Hi, Lục Thao nói:
Tốt lắm, ta là xã phó phân xã Thanh Phổ của Hàn Xã, ta cũng ra một ngàn lượng bạc.
Trương Nguyên cười nói:
Chỉ có thể để tỷ phu ra một ngàn lượng, nhiều hơn không ổn, phải để lại một ít cổ phần cho các xã thủ và xã phó khác nhập cổ.
Trương Nhược Hi nói:
Muốn ra nhiều cũng không xong đâu, thư cục này chắc chắn có thể kiếm tiền sao?
Chương 236: Không bất chính không giàu (2).
Like mạnh đi bà con để có động lực share full free
Trương Nguyên nói:
Đương nhiên, thư cục Hàn Xã là thư cục lớn nhất, không chỉ ở Giang Nam mà còn cả triều Đại Minh này.
Trương Nguyên rất có tự tin với chuyện này, tự tin hơn cả việc hắn trúng cử thi hương sang năm. Hắn thuộc lòng thoại bản tiểu thuyết Minh Thanh, rất rành hứng thú đọc của người đương thời, Thư cục Hàn Xã không ra sách thì thôi, đã ra sách thì quyển nào cũng đắt.
Trương Nhược Hi cười hì hì nhìn đệ đệ của mình, tự tin, ung dung, khi nói sức cuốn hút rất lớn, nàng tin đệ đệ có thể thành công, nàng nói:
Tiểu Nguyên, đệ mới mười bảy tuổi, vừa lập văn xã vừa lập thư cục, có khi nào ảnh hưởng đến nghiệp học không?
Trương Nguyên mỉm cười:
Không dám để lỡ việc học, hai ngày nữa đệ phải đến Nam Kinh khổ học ở Quốc Tử Giám rồi. Mọi việc chủ yếu do Thạch Hương huynh lo liệu, với lại Lục thị không còn họa ngoài nữa, hàng vải hiệu Thịnh Mỹ hẳn sẽ khai trương sớm thôi.
Trương Nhược Hi vừa nghe thấy ba chữ “hiệu Thịnh Mỹ” thì mặt sáng lên, nàng nói:
Mấy ngày nay tỷ để ý đặc sản các vùng của Tùng Giang, đồ thêu của trấn Hạ Sa, sợi kéo của Kim Sơn Vệ, vải nhuộm của trấn Chu Kinh và Phong Kinh, vải dệt Tam Lâm Đường, còn có phố gạo nức tiếng gần xa của trấn Chu Phổ. Nổi tiếng về muối thì có các trấn Tân Trường, Đại Đoàn, Bát Đoàn, Hành Đầu. Ngoài ra, tiệm vớ, tiệm giày, phường nhuộm, trạm giao dịch, thương nhân cũng không kém cạnh, nhưng phần lớn lại thuộc về bản xứ. Thương hiệu lớn như hiệu Thịnh Mỹ chúng ta mở đến Tô Châu, Hàng Châu, Nam Kinh là độc nhất vô nhị.
Trương Nguyên cười nói:
Tỷ tỷ cũng mơ mộng viễn vông quá rồi, hiệu Thịnh Mỹ vẫn chưa đến đâu, sao lại nói là độc nhất vô nhị.
Trương Nhược Hi vừa thẹn vừa buồn nói:
Tiểu Nguyên đệ đợi đó, không tới ba năm, hiệu Thịnh Mỹ nhất định nổi tiếng Giang Nam.
Trương Nguyên cười nói:
Đệ tin đệ tin, tỷ tỷ luôn tài giỏi mà. Tỷ phu có nội trợ hiền như tỷ tỷ đây, hiệu Thịnh Mỹ nhất định tiền tài tấn tới, đệ cũng muốn nhập cổ phần với hiệu Thịnh Mỹ.
Trương Nhược Hi cười hỏi:
Đệ ra bao nhiêu ngân lượng?
Trương Nguyên đáp:
Ra bao nhiêu thì phải xem đại lễ mà Hoa Đình Đổng thị chuẩn bị cho đệ.
Mục Kính Nham tìm một cây khoan sắt, nạy hết ổ khóa của mười chiếc rương rồi lui đi.
Trương Nguyên mở một rương ra trước, từng thỏi bạc ròng đầy ắp, bên trong có giá gỗ năm tầng, mỗi tầng đặt hai mươi thỏi bạc, mỗi thỏi là hai mươi lượng. Có sáu rương bạc tương tự, tổng cộng có mười hai ngàn lượng bạc ròng. Trương Nguyên biết phú hộ cuối đời Minh thích tích trữ vàng bạc, một lượng lớn ngân lượng chảy vào những nhà này liền được cất giữ truyền lại cho con cháu, không còn được lưu thông nữa. Việc này khiến thị trường thiếu thốn bạc trắng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế thương phẩm. Trong lúc vội vàng mà Hoa Đình Đổng thị có thể gom được mười lăm ngàn lượng bạc định mang đi, có thể thấy được họ giàu có đến mức nào. Ngoài ra, Đổng thị còn sở hữu một lượng lớn điền sản, cửa hiệu, du thuyền, một ngàn năm trăm lượng này chưa bằng một phần mười gia sản của họ.
Tổng cộng có mười chiếc rương, Trương Nguyên lại mở một chiếc, lần này kim quang lóa mắt, cơ man thỏi vàng chất đầy rương, mỗi thỏi mười lượng, có tám mươi thỏi, tính ra là một ngàn sáu trăm lượng vàng. Cuối thời Minh, tỉ suất đổi vàng bạc là một ăn tám, một ngàn sáu trăm lượng vàng bằng mười ba ngàn lượng bạc trắng.
Lúc này Trương Nguyên khó mà bình tĩnh, hắn nín thở mở thêm một chiếc rương, trong đó toàn là ngọc khí bọc lại bằng vải bông dày. Trương Nguyên lấy vài món ra xem, một cặp chén tử ngọc, một cặp bình ngọc san hô, một chiếc vũ thương (chén uống rượu có quai ở hai bên, đáy bằng) ngọc hoa, hai tượng Phật ngọc, trong rương còn có rất nhiều ngọc khí. Trương Nguyên không rảnh xem hết từng thứ một, liền nhờ Mục Chân Chân bọc lại mấy cái chén và bình ngọc đã lấy ra, cất lại vào rương. Hắn lại mở chiếc rương thứ tám, lần này là kim khí, có bình kim phi ngư, chén vàng tai tròn, chậu hoa kim phụng, v.v… Còn có không ít trang sức châu báu, đoán chừng cũng trên cả ngàn lượng vàng. Rương thứ chín, thứ mười chắc không phải kim ngân ngọc khí rồi. Hắn mở một chiếc, thấy thư tịch chất đầy bên trong, đều là cổ tịch quý giá, hai quyển “Phong tục thông” bản Tống, một bộ “Cảnh Đức truyền đăng lục” bản Tống gồm sáu quyển, bốn quyển “Tiềm Hư diễn nghĩa” bản Tống, năm quyển “Xuân Thu hoặc vấn” bản Tống…
Ngoài sách quý bản Tống, còn có không ít thư tịch bản Nguyên, như quyển “Trung dung tụ thuyết”, “Chu tử thành thư”,… của bản Nguyên, bên cạnh đó có vài bản chép lại.
Trương Nguyên biết sách bản Tống và Nguyên quý giá đến mức nào, nhất là ở hậu thế, kinh qua chiến loạn, sách thời Tống và Nguyên chỉ còn lác đác, chỉ có đơn bản. Vì vậy hắn nhất định phải giữ kỹ chỗ thư tịch và ngọc khí này, kế thừa văn hóa có khi còn quan trọng hơn cả sinh mạng.
Rương thứ mười cũng chỉ chứa thư tịch và một số văn cụ quý giá, nghiên mực cung Vị Ương, nghiên mực Thiên Thành của Tô Đông Pha. Còn có một hộp gỗ hoa lê, bên trong là xấp điền khế và phòng khế dày cộm, xem lướt qua thì phát hiện sáu trăm mẫu điền khế vườn dâu của Lục thị nằm trên cùng.
Trương Nhược Hi cầm lấy xấp điền khế rất dày lật xem, phát hiện rất nhiều khế thư không có xác nhận, nàng nói:
Chỗ khế chứng của Đổng thị này hẳn là có không ít là do phản nô giao cho, cũng có thể do lừa gạt mà có, nhiều phần không hợp pháp lắm.
Trương Nguyên nói:
Điền khế sáu trăm mẫu ruộng dâu cứ để Huyện hộ phòng bổ sung mới ổn, đống khế chứng để đệ giữ cho, sau này hẳn có chỗ dùng.
Trương Nhược Hi thốt lên:
A, còn có nô khế bán thân.
Trương Nguyên vội nói:
Xem có nô khế nào họ Tông không.
Hắn cầm lấy một xấp tỷ tỷ chia cho rồi lật từng trang, tìm thấy một tờ khế bán nam nô ký tên Tông lão bản. Giấy đã ngả vàng, hiển nhiên đã qua nhiều năm rồi, trên khế thư viết:
“Tam Lâm Đường Tông lão bản, nay con trai ruột là Tông Lộc, nhũ danh Lại Kiển, mười ba tuổi. Vì nhà nghèo, cơm không đủ no, tình nguyện phó thác đến phủ của Hoa Đình Đổng Kỳ Xương làm nô, được bạc bảy lượng tám tiền. Ngày lập khế ước đã giao đủ tiền, con trai phải nghe lời bạc chủ nuôi dưỡng thành người, cưới hỏi, cả đời sử dụng, nếu có bất trắc tôi sẽ thay thế. Con trai do tôi thân sinh, không hề có chuyện lai lịch bất minh, nay muốn có bằng cớ, lập văn khế cùng dấu tay của con trai để đối chiếu, ngày mười chín tháng hai năm Vạn Lịch thứ năm, Tông lão bản (ký tên), người chứng kiến Uông Quy Thọ (ký tên).”
Trong đống văn khế này, trừ văn khế bán con của Tông lão bản ra, hắn không thể tìm thấy nô khế họ Tông nào khác. Trương Nguyên sai Vũ Lăng ra ngoài viện hỏi tên cha của Tông Dực Thiện, không lâu sau Vũ Lăng quay lại, nói cha Tông Dực Thiện tên là Tống Lộc. Trương Nguyên nói vớ tỷ tỷ và tỷ phu:
Tông Dực Thiện là con của gia nô, bản thân không có giấy bán thân, thế thì tiện rồi, đệ phải tạo một xuất thân khác cho Tông Dực Thiện.
Mười chiếc rương đã mở cái thì lóa ánh vàng rực, cái thì trắng ngời, châu quang bảo khí, đây chỉ là một phần nhỏ trong tài sản của Hoa Đình Đổng thị. Loại trừ kim khí, ngọc khí, vải và thư tịch đồ cổ ra, chỉ cần vòng vàng vòng bạc đã trị giá ba mươi ngàn lượng bạc trắng. Hoa Đình Đổng thị luôn keo kiệt, địa phương gặp thiên tai không chịu ra tiền. Có một lần là do Trần Mi Công đề xướng, Đổng Kỳ Xương miễn cưỡng đưa ra hai bức tự họa bán được tám mươi lượng bạc để cứu tế.
Năm Sùng Trinh cuối cùng, Lý Tự Thành công phá Đại Đồng, uy hiếp kinh kỳ. Sùng Trinh hạ lệnh bỏ Liêu Viễn, điều thiết kỵ Quan Ninh của Ngô Tam Quế vào bảo vệ kinh sư. Điều binh cần lương hưởng, nhưng kho hoàng cung và kho Thái Hộ bộ không còn đồng nào, bất đắc dĩ Sùng Trinh hạ chỉ dựa theo tước quan cao thấp mà quyên góp lương hưởng, song chỉ có mấy viên thái giám góp chút bạc, tuyệt đại đa số quan viên đều bủn xỉn không chịu vắt ra một đồng. Các thần Ngụy Đức Tảo chỉ quyên năm trăm lượng, Trần Diễn thì khóc lóc biện bạch mình thanh liêm, không có bạc để góp. Về sau quân nông dân tấn công Bắc Kinh, Ngụy Đức Tảo quy hàng đầu tiên, Trần Diễn hiến bốn mươi ngàn lượng bạc. Rất nhiều quan viên ban đầu không quyên một đồng, khi bị quân nông dân bức ép thì hở chút bỏ ra mấy chục ngàn lượng bạc, có thể thấy triều Đại Minh không hề thiếu tiền. Tiền trong tay tham quan ô hợp như ác hào Đổng Kỳ Xương một khi gặp thời, thiết nghĩ cũng không thua gì Ngụy Đức Tảo và Trần Diễn. Kẻ làm quan ở triều đại nào cũng thế, hà tất trung thành với một người, tâm thái như đám thân sĩ cuối thời Minh rất phổ biến, chỉ cần giữ được tính mạng và tài vật của nhà mình thì hưng vong của quốc gia, sinh tử trăm họ can gì đến chúng. Điều này có một liên quan nhất định đến chủ trương "bo bo giữ mình" của Thái Châu Học phái mà sản sinh ra trào lưu theo chủ nghĩa hưởng lạc, mà thế mạnh của Trương Nguyên là biết lịch sử, có chí cứu quốc, tất nhiên phải nắm rõ khoản tài lực kếch xù của mình, hắn lập tức nói:
Tỷ tỷ, tỷ phu, liệu đệ có thể góp vốn nhập cổ với hiệu Thịnh Mỹ được không? Đệ ra mười ngàn lượng.
Trương Nhược Hi nhìn Lục Thao, Lục Thao nói:
Nếu không có Giới Tử, Lục thị ta lần này thất bại thảm hại rồi, có cho Giới Tử một nửa gia sản này cũng là chuyện nên làm.
Trương Nguyên vội nói:
Tỷ phu huynh đừng nói vậy, lẽ nào đệ không nên giúp tỷ phu tỷ tỷ sao!
Lục Thao nói:
Đừng nói nữa, hiệu Thịnh Mỹ Lục thị ta và Trương thị mỗi bên một nửa, đệ không cần bỏ ra mười ngàn lượng, chỉ cần diệu kế kinh doanh lần trước của đệ cũng đáng vạn kim rồi.
Chương 237: Bình hoa.
Trương Nguyên nói:
Tuyệt đối không được, nhất định phải ra bạc nhập cổ, bằng không tỷ phu khó mà ăn nói với Lục bá phụ.
Trương Nhược Hi mỉm cười nói:
Cứ để tiểu Nguyên ra một cổ đi, tục ngữ có nói, huynh đệ ruột phải tính rõ mà.
Lục Thao nghĩ cũng phải. Từ năm ngoái Lục Thị đã bị Đổng thị quấy nhiễu, hàng dệt tổn thất rất lớn, muốn phát triển thương hiệu Thịnh Mỹ phải cần có tiền. Y nói:
Vậy được, ngày mai huynh bẩm rõ với phụ thân, ký một phần khế ước cùng Giới Tử, sau này thương hiệu Thịnh Mỹ do Lục thị và Trương thị đồng sở hữu.
Lục Thao là người rất cẩn trọng nên muốn lập khế ước, Trương Nguyên cũng thấy làm vậy là tốt nhất. Đây không phải là chuyện một, hai năm mà còn phải duy trì đến đời con cháu, quan hệ khế ước ổn định hơn so với gắn bó về mặt cảm tình.
Sau khi thương nghị một hồi chuyện cửa hiệu Thịnh Mỹ, Lục Thao và Trương Nhược Hi về phòng. Trương Nguyên tắm xong về phòng thì đêm đã canh ba, thấy Mục Chân Chân cài lại mười chiếc khóa đồng đã nạy ra, cô nói:
Thiếu gia, khóa này còn dùng được.
Trương Nguyên cười nói:
Không lẽ mỗi lần đều phải nạy ra, ha ha, tâm thái gì đây? Ngày mai phải sai Lai Phúc đi mua mười khóa đồng…
Mục Chân Chân đáp ứng. Sớm hôm sau liền dặn Lai Phúc đi mua mười khóa đồng khóa hết mười chiếc rương. Thấy thiếu gia muốn ra ngoài cùng đại công tử, tam công tử của Tây Trương, cô vội vàng chạy theo nói:
Thiếu gia, đây là chìa khóa, thiếu gia giữ đi.
Trương Nguyên cười nói:
Ta đeo một chùm chìa khóa ở đai lưng thì kỳ quặc lắm.
Trương Đại, Trương Ngạc cười ngất.
Mục Chân Chân đỏ mặt, tay xiết xâu chìa khóa, không hiểu mình sai chỗ nào.
Trương Nguyên nói:
Chân Chân cứ giữ đi, cô là nữ quản gia của ta.
Mục Chân Chân thấy mình được thiếu gia tín nhiệm, trong lòng cực kỳ vui mừng, lại hỏi:
Thiếu gia đi đâu vậy?
Trương Nguyên nói:
Đến hiệu sách của Dương tú tài, cô không cần theo.
Dứt lời, hắn cùng Trương Đại và Trương Ngạc ra cửa, bên ngoài có người hầu của Dương Thạch Hương đang chờ.
Trương Ngạc quay đầu nhìn thiếu nữ kia, không khỏi hâm mộ nói:
Giới Tử quả nhiên có vận khí tốt, có thể tìm ra một bảo bối như thế ở phố Tam Đại. Còn tỳ nữ tùy thân Lục Mai của ta, thị tỳ Tố Chi của đại huynh chỉ hữu dụng khi ở trên giường, xuống giường thì thành thứ vô dụng.
Trương Nguyên nói:
Ừ ừ, đó gọi là bình hoa.
Bình hoa.
Trương Ngạc khinh ngạc, sau đó lập tức cười sằng sặc, hiển nhiên đã hiểu thâm ý của “bình hoa”. (kỹ nữ; cô đầu (thời xưa chỉ kỹ nữ hoặc những thứ có liên quan đến kỹ nữ)
Cười đùa một chập thì đã đến hiệu sách của Dương Thạch Hương. Nơi này thông với hậu viên của Dương gia, nằm bên bờ sông Thanh Long, cách miếu Thủy Tiên không xa. Một dãy gồm mười gian phòng ngói lớn, Dương Thạch Hương đã đến trước cùng một vị lão sử của Huyện hộ phòng. Lão sử này đến tính toán giá trị hiệu sách của Dương gia, ông vừa nhìn vừa hỏi, định giá khá tỉ mỉ.
Thợ thuê của hiệu sách gồm có thợ viết, thợ khắc, thợ in ấn. Thợ viết một người, thợ khắc mười hai người, thợ in ấn sáu người, còn có hai người làm tạp vụ, quy mô như thế chỉ có thể xem là hiệu sách nhỏ. Dựa vào bất động sản hiệu sách Dương thị, bản khắc hiện tồn, gỗ lê mà bản khắc dùng và giấy, lão sử Huyện hộ phòng ước giá khoảng một ngàn hai trăm lượng bạc. Đây hẳn là đánh giá cao rồi, Trương Nguyên cũng không tính toán, từ Dương Thạch Hương lấy một ngàn hai trăm lượng bạc nhập cổ thư cục Hàn Xã, mười lượng bạc một cổ, tổng là một trăm hai mươi cổ. Dương Thạch Hương nói:
Ta ra thêm tám trăm lượng bạc nữa, gom thành hai trăm cổ.
Hồng Đạo Thái cũng đã đến nơi, y ra năm trăm lượng bạc nhập cổ thư cục Hàn Xã. Cứ thế, từ mười ngàn lượng tiền vốn của thư cục Hàn Xã đã tăng thêm sáu ngàn năm trăm lượng, ba ngàn lượng trong đó là của huynh đệ Trương thị, Dương Thạch Hương hai ngàn lượng, Lục Thao một ngàn lượng, Hồng Đạo Thái năm trăm lượng, ba ngàn năm trăm lượng còn lại là của sáu xã thủ và xã phó của Hoa Đình, Thượng Hải.
Đây là do Trương Nguyên dùng thủ đoạn lôi kéo các xã thủ và xã phó, kỳ thực với tài lực hiện tại của hắn thì độc lập quản lý thư cục Hàn Xã không khó. Sở dĩ muốn kéo Dương Thạch Hương, Hồng Đạo Thái, Hạ Doãn Di cùng nhập cổ, chính là vì cùng hưởng lợi ích.
Xong việc, Dương Thạch Hương gửi phong bì một lượng bạc phúc đáp lão sử Huyện hộ phòng. Sau khi tiễn lão sử đi, mọi người uống trà dưới tán cây bên bờ sông, Trương Nguyên nhìn thợ khắc đang khắc bản trước cửa, hỏi:
Thạch Hương huynh, một thợ có thể khắc bao nhiêu chữ trong một ngày?
Dương Thạch Hương nói:
Phải xem đó là thể chữ nào, nếu là thể Nhan, Liễu, Âu, Triệu thì chậm, một ngày chỉ khắc được trăm chữ. Nếu là thể chữ Tống thông thường, hay còn gọi là thể Tượng, thể chữ này tuy không đẹp mắt cho lắm, nhưng nét ngang, sổ đứng dễ hạ lực, một thợ lành nghề có thể khắc hơn hai trăm chữ mỗi ngày. Thợ của ta chỉ có thể khắc thể Tống, nếu muốn mời thợ khắc thể Khải thư giỏi thì tiền công không rẻ.
Trương Nguyên biết quyển “Một trăm hai mươi văn bát cổ do Trương Giới Tử tuyển bình” là thể Tượng, tuyển tập có chừng sáu mươi ngàn chữ, mười hai thợ khắc khoảng ba ngàn chữ mỗi ngày, vậy là cần đến hai mươi mấy ngày để hoàn thành. Hắn liền hỏi:
Dương Thạch huynh, in chữ rời khó dùng lắm à? Tại sao đến nay hiệu sách vẫn dùng bản khắc?
Dương Thạch Hương nói:
Phí tổn bộ chữ rời cao, hơn nữa xếp chữ cũng khó, in số lượng ít thì dùng bản khắc thuận tiện hơn.
Trương Nguyên gật đầu, bụng nghĩ:
“Bộ chữ rời không dễ dùng, bộ chữ đồng thì giá quá cao, bộ chữ chì phải tổ chức nghiên cứu, thôi thì tạm dùng bản khắc. Bản khắc in được dùng hơn một ngàn năm, mãi đến cuối thời Thanh, thời dân quốc mới bị in chì của tây phương đào thải, có thể thấy vẫn rất thuận tiện”.
Hắn nói:
Vậy Thạch Hương huynh phải lao tâm hơn rồi. Trước tiên cần bổ sung gấp đôi số thợ khắc và thợ in của thư cục Hàn Xã, trước cuối năm lại tăng gấp đôi nữa. Chúng ta thuê hai loại thợ khắc, một là thợ khắc thể Tượng, hai là thợ khắc các thể Nhan, Liễu, Âu, Triệu. Có một vài thợ khắc thư tịch tinh phẩm, giấy dùng phải nghiên cứu một chút, thợ sách cũng cần hai người rành Khải thư, lão đồng sinh hoặc lão tú tài đều được.
Dương Thạch Hương gật đầu nói:
Giới Tử huynh yên tâm, ta kinh doanh hiệu sách đã lâu, rất rành những việc này. Những năm trước không có sách nào in được, sợ thâm hụt tiền, hiện giờ có Hàn Xã làm hậu thuẫn, ta sẽ tận lực xử lý. Có điều ta muốn hỏi một câu, trước mắt ngoài cuốn tuyển tập Giới Tử huynh điểm bình văn bát cổ này ra thì còn sách nào in được không?
Trương Nguyên nói:
Thạch Hương huynh đừng lo về nguồn sách, ta sẽ nghĩ cách mà. Huynh chỉ cần thu hút những tay nghề điêu khắc in ấn tinh xảo là ổn, thư cục cũng có thể tự bồi dưỡng tay nghề, thuê một ít thiếu niên thông tuệ nhà nghèo đến học, qua ba bốn năm nữa chẳng phải đã dùng được rồi sao, chúng ta phải tính kế lâu dài.
Hắn đột nhiên hỏi:
Thạch Hương huynh có biết Tô Châu Phùng Mộng Long không?
Dương Thạch Hương nói:
Ta từng gặp qua Phùng Mộng Long, ba huynh đệ y cũng có chút thanh danh, người ta xưng là Ngô hạ tam Phùng.
Trương Nguyên nói:
Lần này ta phụ trách Tô Châu nên cần gặp lại Phùng Mộng Long, thỉnh y viết một vài cuốn mô phỏng tiểu thuyết thoại bản (một hình thức tiểu thuyết Bạch thoại phát triển từ thời Tống, chủ yếu kể chuyện lịch sử và đời sống xã hội đương thời, thường dùng làm cốt truyện cho các nghệ nhân sau này), ắt sẽ bán chạy.
Trương Ngạc cười nói:
Không nói cái khác, chỉ với một trăm bản “Kim Bình Mai” cũng có thể khiến thư cục Hàn Xã bận rộn suốt năm. Đợt này ta về Nam Kinh nhất định sẽ tìm ra bản “Kim Bình Mai”chép tay, sau đó khắc ấn.
Chiều hôm đó, Trương Nguyên cùng Dương Thạch Hương, Lục Thao, Hồng Đạo Thái cùng lập khế ước nhập cổ thư cục Hàn Xã. Mười hai cổ đông đều có một khoản, thư cục tạm do Dương Thạch Hương, Hồng Đạo Thái và Lục Thao quản lý, gặp chuyện thì ba người cùng bàn, giao cho người tinh thông làm sổ Long môn và sổ Tứ cước (*) đã mướn phụ trách ghi chép thu chi của thư cục, định kỳ biên chế “bảng thu – giao” và “bảng tồn – nợ”. Hằng năm các cổ đông lớn tề tựu xét duyệt, thư cục Hàn Xã không phải là phường sách nhỏ tùy tiện, phải nhìn xa trông rộng, kết toán hàng tháng tất nhiên phải cẩn trọng.
(*) Sổ Long môn và sổ Tứ cước: là những hình thức ghi chép, tính sổ kế toán.
Dương Thạch Hương kinh doanh hiệu sách nhiều năm, tự cho mình tinh thông đạo thương nhân. Song sau khi bàn bạc với Trương Nguyên, phát hiện học thức về kinh doanh của hắn giỏi hơn y rất nhiều. Phường sách gia đình của Dương Thạch Hương chỉ có một quyển thu chi, y đã từng nghe qua “bảng thu – giao” và “bảng tồn – nợ”, chỉ có lão sử quản lý tiền lương hay nhà buôn lớn mới có bản lĩnh thuê dùng trướng sư (người chuyên tính toán, ghi chép sổ sách). Đó là cách thức tính sổ sách mới xuất hiện từ năm Vạn Lịch, không ngờ Trương Nguyên lại rành rẽ tường tận. Hắn giải thích rằng đối với mỗi khoản tiền ghi chép thì đăng ký “sổ thu”, lại đăng ký “sổ chi” để phản ánh nguồn gốc của cùng một sổ khoản, như thế thì thu chi lời lỗ của thư cục vừa xem đã hiểu.
Dương Thạch Hương thầm nhủ:
“Cái gọi là kỳ tài cao vợi, cao thâm khó lường chính là chỉ người như Trương Giới Tử rồi. Kỳ tài như thế bình sinh Dương Thạch Hương ta ít gặp, thấy hắn lập văn xã, dựng thư cục, quả là có chí lớn, văn bát cổ lại giỏi, nhân tình cũng am hiểu, người như thế không nhanh phất lên mây thì còn đợi đến khi nào nữa!”
Chương 238: Trong triều không ai không kinh doanh.
Cùng ngày, Lục Thao bẩm chuyện với phụ thân Lục Triệu Thân, cùng Sơn Âm Trương thị hợp tác “hiệu buôn Thịnh Mỹ”, kinh doanh vải bông, tơ lụa và dệt thêu, muốn mở các phân hiệu ở Hoa Đình, Thượng Hải, Tô Châu, Nam Kinh, Hàng Châu. Lục Triệu Thân nói:
Con cứ làm đi, hiện giờ con làm chủ đương gia, hợp tác với Trương thị rất tốt, họ là một chỗ dựa vững chắc.
Muốn kinh doanh, phát tài, trong triều không ai không làm. Đại thương nhân đều mời danh sư dạy con cháu đọc sách, hy vọng chúng có thể nhờ khoa cử mà làm quan. Còn có người dùng khoản tiền lớn hối lộ quan lớn trong triều, thời điểm mấu chốt có được một phong thư nâng đỡ của quan lớn thì có thể vượt qua nguy cơ, bằng không tiền có nhiều đi chăng nữa thì cũng thành con dê béo mặc người ta mổ xẻ, vì vậy một số đại thương nhân gia tài lên đến ức vạn trong triều đều có người phát ngôn. Lục Triệu Thân những tưởng mình có công danh cử nhân thì cũng miễn cưỡng trụ được, nào ngờ bị Đổng thị quấy nhiễu suýt làm nhà tan cửa nát, thật đúng là bài học xương máu. Vì vậy nghe thấy con trai Lục Thao muốn hợp tác với Sơn Âm Trương thị mở hiệu buôn vải, ông đương nhiên là tán thành rồi.
Hiện tại Trương Ngạc cũng biết Trương Nguyên phát tài lớn từ việc Đổng thị đắm thuyền, tuy y miệng lưỡi bép xép nhưng cũng không phải thằng ngốc, hiểu được lợi hại trong việc này, đương nhiên sẽ không nói loạn trước mặt kẻ khác. Trương Nguyên lấy danh nghĩa ba huynh đệ để đầu tư thư cục Hàn Xã và hiệu vải Thịnh Mỹ, điều này khiến Trương Ngạc rất hài lòng, Giới Tử rất chú ý đến tình nghĩa huynh đệ.
Ngày hai mươi tám tháng năm, khế ước hùn vốn của “hiệu buôn Thịnh Mỹ” được ký kết. Trương Nguyên giao mười ngàn lượng bạc cho tỷ tỷ Trương Nhược Hi, chỗ bạc này dùng để mua tơ tằm, máy dệt, chiêu dụ thợ dệt. Theo ý của Trương Nguyên, hiệu buôn Thịnh Mỹ còn phải thiết kế một ký hiệu, hay còn gọi là nhãn hiệu, trước cửa hàng phải có ký hiệu bắt mắt, mỗi đầu xấp vải bán ra đều phải in nhãn hiệu này. Đương nhiên là nhãn hiệu trước cửa hàng phải to, còn nhãn hiệu trên đầu vải nhỏ cỡ hạt dưa là vừa. Nhãn hiệu này nhất thời nghĩ chưa ra, cũng không cần gấp, thiết kế vài mẫu rồi quyết định sau, phải để người khác vừa nhìn đã nhớ, khi quyết định rồi thì không thể đổi, chớ để qua hai năm lại đổi nhãn hiệu, đó là việc làm ngu xuẩn.
Tuyển tập văn bát cổ đó cũng được tuyển bình xong, chỉ đợi khắc bản in ấn thôi. Đây là quyển sách đầu tiên mà thư cục Hàn Xã khắc ấn, sự vụ Tùng Giang đại khái đã lo xong. Ba huynh đệ Trương Nguyên phải đến Nam Kinh học ở Quốc Tử Giám, bọn họ sẽ rời Sơn Âm sau tiết Đoan Ngọ.
Hiện đã đến cuối tháng năm, lại trì hoãn ở lại Tô Châu vài ngày, vì vậy họ phải gấp gáp lên đường. Tông Dực Thiện theo Trương Nguyên đến Nam Kinh, hắn đọc sách tại đó, y thì đến giúp Tiêu Thái sử chỉnh lý danh mục sách ở Tàng Thư lầu. Cha mẹ Tông Dực Thiện tạm thời lưu lại Thanh Phổ, đợi đến khi Trương Nguyên quay về Thiệu Hưng vào cuối năm, Tông Dực Thiện sẽ đón song thân cùng đi. Thanh Phổ cách Hoa Đình quá xa, y khó mà yên tâm, vẫn nên để cha mẹ an cư ở Sơn Âm thì tốt hơn.
Trương Nguyên lấy bạc trắng năm mươi lượng tạ ơn Liễu Kính Đình, y chỉ chịu nhận hai mươi lượng, xem như tiền thù lao khi Trương Nguyên mời y thuyết thư, mỗi ngày một lượng bạc, Trương Nguyên đành chiều theo.
Sớm ngày hai mươi tám hắn tiễn Liễu Kính Đình và tiểu đồng tùy tùng lên thuyền về Hàng Châu, hẹn nhau lần sau tái ngộ tại Hàng Châu.
Chập tối, ba huynh đệ Trương Nguyên thu xếp hành trang chuẩn bị sáng mai khởi hành, Trương Đại hỏi Trương Nguyên:
Giới Tử, có cần phái người đến Đông Xa Sơn báo Trần Mi Công một tiếng, nói mai ta khởi hành, nếu nữ đệ tử Vương Vi của Mi Công muốn cùng đi thì mời sáng mai đến Thanh Phổ, thế nào?
Trương Ngạc vội hỏi:
Nữ đệ tử gì vậy?
Trương Đại cười nói:
Chính là nữ lang vừa giống quỷ vừa giống tiên mà chúng ta gặp vào đêm trăng Tây Hồ lần trước, đó là nữ đệ tử của Trần Mi Công.
Trương Ngạc bật dậy, reo lên:
Hay quá, Trương Tông Tử, Trương Giới Tử, hai người giấu ta chi vậy, huynh đệ gì chứ, thật là ác độc mà!
Trương Nguyên cười nói:
Trách ai được chứ, tại huynh không chịu đi cùng với đệ và đại huynh đến thăm Trần Mi Công.
Trương Ngạc nói:
Vậy lúc về cũng phải nói ngay cho ta biết chứ, lại giấu đến tận bây giờ. Đáng ghét! Đáng hận!
Trương Đại nói:
Chẳng phải ngay sau đó đã đi Hoa Đình rồi sao, ai đủ kiên nhẫn mà kể cho đệ được?
Trương Ngạc trợn mắt nhìn trời:
Thôi bỏ đi, không thể dựa vào huynh đệ, thấy sắc quên nghĩa!
Oán giận một hồi, y lại nói:
Đại huynh, huynh kể rõ việc hôm đó cho đệ đi. Không ngờ lại có diễm ngộ như thế, quả là trùng hợp, ngày đó đuổi đến mộ phần Nhạc Vương thì bị vấp ngã, lúc bò dậy lại không thấy tăm hơi, cứ tưởng là quỷ.
Trương Đại kể chuyện hôm đó đến Đông Xa Sơn thăm Trần Mi Công, cả chuyện Giới Tử cùng Mi Công, Vương Vi so tài đánh cờ. Trương Ngạc reo hò:
Diệu kế, diệu kế, vậy nữ lang kia không phải gia đình tử tế, vậy thì dễ quyến rũ rồi.
Y hết sức cảm khái:
Mỹ nữ trên thế gian này luôn ẩn sâu trong chốn nhà cao cửa rộng, ta muốn liếc nhìn một cái cũng khó khăn. Thiên giáo có nữ tử tuyệt như thế này, vừa xinh đẹp lại đa tài, quả là an ủi kiếp tài tử tịch liêu như ta.
Trương Đại lắc đầu cười:
Yến Khách, đệ thật trâng tráo, dám xưng là tài tử.
Trương Ngạc nói:
Lẽ nào biết viết chút văn bát cổ và thơ từ thối tha thì là tài tử à? Đệ thì đánh bài, bắn tên cưỡi ngựa, đánh trống xướng khúc, gảy đàn ném thẻ vào bình rượu, thứ nào cũng giỏi, nếu không thì sao được xưng là con cháu ăn chơi. Phải rồi, hai câu thơ “Nam tử hiện giờ biết bao nhiêu, luôn nói quan lớn tức là tiên” mà hồ tiên nữ lang ở Tây Hồ nói chẳng phải là ngầm khen đệ hay sao, đệ xem công danh như cặn bã, không giống như hai người luôn nói quan đạo là tiên, một lòng muốn khoa cử thành danh.
Trương Nguyên và Trương Đại nhìn nhau, hai người đành câm lặng.
Trương Ngạc háo hức nói:
Ta sẽ đi Đông Xa Sơn nói với Vương Vi cô nương, mời cô ấy ngày mai cùng đi với chúng ta.
Nói rồi y để Lục Đại dẫn đường, dẫn theo Năng Trụ và Phùng Hổ hăng hái lao đi.
Trương Đại bất đắc dĩ nói:
Giới Tử, đệ xem bộ dạng đói khát của Yến Khách, sợ là sẽ dọa chết cô nương đó, cô ấy chắc sẽ không đi cùng chúng ta đâu.
Trương Nguyên cười nói;
Tam huynh có chừng mực đấy, có vẻ ác tục nhưng lại có chân khí, ừm, ngây thơ chất phác đó mà!
Trương Đại bật cười.
Từ Thanh Phổ Lục phủ đến chỗ ở của Mi Công trên Đông Xa Sơn chừng ba mươi mấy dặm. Trương Ngạc hấp tấp chạy đi, không màng gọi kiệu, xuất phát từ giờ Dậu chập tối đến cuối giờ Tuất mới quay lại, thấy Trương Nguyên và Trương Đại liền rên:
Chân muốn gãy rồi, chân muốn gãy hết rồi.
Y đặt mông lên ghế, Phúc Nhi nhanh chóng đấm bóp chân cho tam thiếu gia, người hầu Lục thị dâng trà.
Trương Đại cười hỏi:
Yến Khách, sao rồi, thấy hồ tiên nữ lang đó chứ?
Trương Ngạc hớp mấy ngụm trà, nói:
Xúi quẩy, không thấy mỹ nữ đâu, chỉ thấy một nhà Nho nghèo cùng con lừa ngu nói bậy hết nửa ngày, bàn cái gì mà Nho Phật hợp lưu.
Trương Nguyên, Trương Đại cười sằng sặc, hỏi hòa thượng đến từ đâu, Trương Ngạc kể:
Nói là hòa thượng Bảo Hoa tự, ta nghe hòa thượng giảng Phật pháp mãi không dứt, nghe đến mất kiên nhẫn, liền hỏi hòa thượng có biết Trần Tân Trúc hay không. Hòa thượng nói không quen, còn hỏi ta Trần Tân Trúc là ai, Trần Mi Công không vui, nói trời tối rồi, liền kêu ta mau về nhà. Lão Nho nghèo này, không niệm chút giao tình giữa tổ phụ và ông ta, không ngờ không giữ ta ở lại qua đêm.
Trương Đại cố nhịn cười, hỏi:
Nói vậy đệ uổng công một chuyến rồi, ta biết đệ đi sẽ hỏng chuyện mà, chốc nữa hồ tiên nữ lang đó chắc sẽ không đồng hành với chúng ta.
Trương Ngạc cực kỳ ủ rũ, đi đi về về hết ba mươi mấy dặm, từ nhỏ chưa từng chịu khổ như thế. Y cộc cằn mắng con lừa ngu và nhà Nho nghèo, đi tắm rồi ngủ ngon lành, hôm nay y quả thực rất mệt.
Trương Nhược Hi đến gần hỏi:
Yến Khách mắng ai thế? Gì mà con lừa ngu, rồi mỹ nữ nữa?
Trương Nguyên và Trương Đại nhìn nhau, hai người nín cười, đồng thanh đáp:
Yến Khách luôn nói hươu nói vượn, tỷ tỷ đừng nghe y nói.
Trương Nhược Hi ngồi trong phòng Trương Nguyên một lát, nhìn đệ đệ viết thư cho mẫu thân. Nghĩ đến sớm mai hắn phải rời Thanh Phổ, Trương Nhược Hi rất luyến tiếc. Đợi Trương Nguyên viết xong, nàng cầm lên đọc, cười nói:
Chuyện đảo Đổng Hoa Đình sao nói hời hợt vậy, đệ cả gan làm loạn, phải để mẫu thân mắng đệ mới tốt.
Nàng cười hì hì, lại nói:
Chẳng hay phụ thân có rời Khai Phong hồi hương hay không, đến Nam Kinh đệ nhớ chú ý hỏi thăm, nếu phụ thân trở về nhất định sẽ đi ngang qua Nam Kinh.
Trương Nguyên nói:
Đệ biết, đến Nam Kinh đệ sẽ nhờ dịch trạm gửi thư hỏi thăm đến Chu vương phủ, xem phụ thân có đi hay không.
Hai người nói chuyện một hồi, Trương Nhược Hi thấy đêm đã khuya, đệ đệ ngày mai còn phải lên đường, nàng bèn dặn hắn sớm nghỉ ngơi, sau đó liền rời đi.
Đầu giờ Thìn ngày hai mươi chín tháng năm, hai mươi người Trương Nguyên đến bến tàu Đại Hoàng ở nam thành Thanh Phổ, chuẩn bị đi thuyền ngược dòng đến hồ Tiết Điến, kế đến chuyển qua Đại Vận hà đi Tô Châu.
Có mấy chục chư sinh Thanh Phổ đến bến tàu tiễn ba huynh đệ Trương thị, từng người một từ biệt rất mất thời gian. Trương Nguyên đang đáp lễ thì thấy một đồng tử tóc rối lẫn trong đám chư sinh, cậu chừng mười tuổi, lông mày trái có nốt ruồi đỏ. Thấy Trương Nguyên nhìn mình, cậu tiến đến chắp tay nói:
Trương tướng công, nữ lang nhà tôi đã đến, đang đợi dưới tán cây hương thung.
Chương 239: Nữ lang cười như Vương Sư Muội.
Cửa sông Đại Hoàng từ Tây Sang Đông ở ngoài thành Nam huyện Thanh Phổ chảy qua, trên bến cảng, bậc thềm đá được lát bằng đá tảng xanh loại lớn tầng tầng lớp lớp. Những tảng đá này quanh năm suốt tháng bị giẫm đạp đến bằng phẳng bóng loáng, ánh mặt trời giữa hè chiếu xuống, tảng đá và nước sông cùng nhau lấp lánh. Trên thềm đá xanh gần mặt nước, Chư Sinh cùng người nhà Lục thị ra đưa tiễn, và có một hình ảnh hoàn toàn đối lập với cảnh tượng ồn ào náo nhiệt bên này, đó chính là: cách bờ cao mười trượng, giữa những cây hương thung cao cao thẳng đứng, có một bóng hồng mặc quần áo màu trắng ngà, tóc bới sau gáy, trông tuổi khá trẻ đang thướt tha đứng nhìn.
Thân cây màu nâu xám, hoa nhỏ màu trắng nhạt lơ lửng rủ xuống, bóng những tán cây trải dài trên mặt đất tạo ra hình ảnh loang lổ, nữ lang đội đạo quan (mũ đạo sĩ đội) với cái eo thon thả, ống tay áo rủ xuống ấy đứng dưới bóng cây, thấy bọn người Trương Nguyên đưa mắt nhìn về phía mình, nàng liền nhẹ nhàng đội lên chiếc nón lá vành trúc đang cầm trong tay, đi ra vài bước, đứng ở dưới ánh mặt trời trông nàng rực rỡ như danh hoa ngọc thụ.
Cách xa mười trượng, khuôn mặt không thể nhìn rõ, nhưng dáng người yểu điệu thướt tha này đã cho thấy nét đẹp khuynh nước khuynh thành của nàng.
Đám chư sinh đến tiễn Trương Nguyên trên bến tàu đều xoay lại nhìn nhìn nhau, lần lượt hỏi nhau nữ nhân này là ai?
Trương Ngạc mừng rỡ, dương dương đắc ý nói:
Đây là nữ đệ tử của Trần Mi Công, muốn trở về Nam Kinh, Mi Công giao phó cho nàng ấy đi cùng bọn ta..
Chư Sinh Thanh Phổ nghe vậy không khỏi hâm mộ, có người liền ngâm:
Hữu mỹ đồng chu, nhan như Thuấn hoa.
Lại có người xướng:
Mỹ nhân vừa thấy liền không thể quên.
Nhất thời có kẻ khởi xướng, thế là trò hề xuất hiện càng lúc càng nhiều.
Trương Ngạc đương nhiên không nhường việc cho ai, nói:
Đại huynh, Giới Tử, ta đi đón nữ nhân kia xuống thuyền đây.
Nói rồi gã nhanh chóng bước đến, đi tới dưới tán cây, hướng nữ nhân kia cúi chào, nói:
Tiểu sinh Trương Ngạc huyện Sơn Âm, hoàng hôn hôm qua từng đến chỗ của Mi Công….Ồ, tiểu sinh lần trước có báo danh tính rồi.
Lúc này mới ngẩng đầu lên nhìn kỹ nữ nhân này.
Lần trước đi nhờ trên chiếc thuyền ở Tây Hồ, Trương Ngạc chỉ cảm thấy nữ nhân này thật đẹp, rốt cuộc đẹp đến mức nào thì gã cũng chưa được thấy rõ.
Lúc này đây cô nàng đứng dưới ánh mặt trời, rõ ràng rành mạch. Cảm giác đầu tiên là làn da nữ nhân này thật trắng, phần da lộ ra ngoài áo kia óng ánh thanh tú, nói là “dương chi mĩ ngọc” cũng tuyệt đối không khoa trương chút nào, sắc mặt lại như hoa đào tháng ba, trong phấn trắng lại lộ ra nét ửng hồng, vành nón lá màu vàng đậm càng làm nổi bật hơn, lông mày cong lên, môi thoa son, nhất là cặp mắt trong sáng quyến rũ kia, giống như có thể nói chuyện.
Mỹ nhân như vậy chẳng phải là trời cao ban ân cho nam tử sao, chỉ có tài nghệ của kỹ nữ mới có thể an ủi sự nóng nãy cùng cô đơn của sinh mênh. Trương Ngạc nghĩ chính là như vậy, gã thật không phải bởi vì kỹ nữ hèn hạ mà có thể tùy tiện đùa giỡn. Chỉ là cảm thấy thế giới này có kỹ nữ mới càng đặc sắc nha.
Vương Vi nhớ rõ Trương Ngạc này. Đêm đó trên thuyền ở Tây Hồ người vỗ mép thuyền la hét “Đơn Đao Hội” đúng là gã, còn tự xưng xem công danh như rác rưởi, lúc này mới chỉnh đốn lại trang phục, vén áo thi lễ nói:
Đa tạ Trương tướng công thịnh tình mời, tiểu nữ tử làm phiền.
Hỏi:
Bây giờ có thể lên thuyền được chưa ạ?
Ánh mắt Trương Ngạc không dời đi được, hoa mắt mê hoặc, tuyệt sắc như vậy trên đời hiếm thấy, lại cảm thấy cô gái này khẩu âm Kim Lăng cũng là vô cùng dễ nghe, luôn miệng nói:
Có thể có thể. Mời.
Liền có một người cường tráng người đầy mồ hôi đi đến tàng cây xách hành lý, Vương Vi gọi người này là “Diêu thúc”. Còn có một tiểu nha hoàn mười hai, mười ba tuổi, tính cả thằng bé tóc dài nữa thì ở phía Vương Vi tổng cộng bốn người, Trương Ngạc ở phía trước dẫn đường, bốn người họ cùng đi theo bước lên thềm đá.
Chư sinh đứng trên thềm đá xanh thoáng chốc an tĩnh lại, nhìn nữ nhân xiêm y thanh lịch này, dáng người yểu điệu như tiên nữ bước xuống thềm đá, ánh mắt nhìn thẳng đi qua tấm ván bắc lên thuyền, chư sinh đợi cho đến khi nhìn không thấy bóng dáng của cô nữa mới phát ra từng trận cảm thán, đều đoán nữ nhân này rốt cuộc là ai?
Trương Nhược Hi đến để tiễn đưa đệ đệ nhìn nữ nhân này xuống thuyền, kinh sợ hỏi:
Tiểu Nguyên, cô gái này là ai?
Trương Nguyên nói:
Là nữ đệ tử của Trần Mi Công, nhà ở Nam Kinh, muốn cùng đồng hành với thuyền của chúng ta.
Trượng Nhược Hi nghi ngờ nhìn đệ đệ Trương Nguyên, hắn lại cười nói:
Tỷ nhìn đệ như vậy làm cái gì? Chẳng lẽ không tin lời nói của đệ sao?
Trương Nhược Hi nói:
Được rồi, tỷ cũng không hỏi nhiều nữa, đệ đi ra ngoài học, cũng không nên phóng đãng nữa.
Trương Nguyên nghiêm mặt nói:
Tỷ tỷ còn không biết đệ sao, từ nhỏ đã rất hiền lành mà.
Trương Nhược Hi “Xì” một tiếng, dùng cây quạt lụa vỗ cánh tay Trương Nguyên, nói:
Đệ thành thật sao, tỷ sao không nhìn ra, đệ từ nhỏ vốn đã không nghe lời.
Lý Thuần bên cạnh nhanh chóng chen lời:
Mẫu thân, cậu Giới Tử hồi nhỏ cũng bướng bỉnh không nghe lời sao ạ?
Trương Nhược Hi vội nói:
Mẫu thân và cậu con nói giỡn thôi, cậu Giới Tử của con lúc nhỏ thích đọc sách viết chữ, rất hiếu động.
Lý Khiết hỏi:
Cậu Giới Tử có ngoan như con không ạ?
Trương Nguyên sờ sờ đầu hai đứa cháu trai nhỏ, cười nói:
Cậu mới trước đây cũng không ngoan bằng hai con, chữ to của hai con đều viết rất tốt, cậu đều khâm phục các con.
Hai anh em rất sung sướng, tỏ vẻ về sau cũng phải giống cậu Giới Tử đi Nam Kinh đọc sách.
Hành lý đã được đem lên thuyền, người chèo thuyền đứng trên bờ chờ chèo thuyền.
Ly biệt sắp đến, Trương Nhược Hi đôi mắt ửng đỏ, nói:
Tiểu Nguyên, nếu phụ thân đã tới Nam Kinh, ngàn vạn lận nhớ mời lão nhân gia đến Thanh Phổ ở mấy ngày.
Trương Nguyên gật đầu nói:
Tỷ tỷ yên tâm, đệ nhớ kỹ.
Trương Nhược Khi lại nói:
Đệ năm trước từ Nam Kinh về nhà, cũng đã nói dối sẽ sang thăm tỷ đó.
Trương Nguyên đáp ứng nói:
Được rồi mà, nhất định đến.
Trương Nguyên, Trương Đại cáo biệt bọn người Lục Thao, Dương Thạch Hương, lên thuyền ba mái chèo, thuyền này có thể chứa bốn, năm mươi người, mười người của Trương Nguyên tính cả bốn người phía Vương Vi, còn có bốn gã chèo thuyền tổng cộng có ba mươi người, cho nên trong khoang thuyền vẫn có chút hơi rộng. Trương Ngạc đã sớm theo Vương Vi lên thuyền, đang cùng Vương Vi ngồi đối diện nói chuyện, bộ dạng nho nhã lễ độ.
Vương Vi thấy Trương Nguyên, Trương Đại lên thuyền, đứng dậy nói:
Đa tạ hai vị tướng công đồng ý cho nữ tử lên thuyền, làm phiền rồi.
Trương Đại nói:
Đâu có, đâu có.
Mặc dù đã là lần thứ ba gặp nữ nhân này, nhưng vẫn cảm thấy kinh diễm.
Trương Nguyên chỉ cười gật đầu một cái, đi đến đầu thuyền nhìn người chèo thuyền kéo neo lên, phất tay chia tay thân hữu trên bờ, đến khi thuyền rời xa bến, lúc này mới trở lại khoang chính, thì đã đã thấy Đại huynh Tông Tử, Tam huynh Yến Khách đều có điểm bị nữ nhân này mê hoặc đến thần hồn điên đảo. Điều này cũng khó trách, nữ nhân này thật sự xinh đẹp, toàn thân không có một chút tỳ vết nào, nếu Trương Nguyên chỉ là Trương Nguyên trước kia khi còn mười bảy tuổi, khẳng định cũng sẽ bị hút mất hồn, mà hắn hiện tại so với Đại huynh, Tam huynh có vẻ vững vàng, bình tĩnh hơn một ít.
Thuyền đi ngược dòng nên khá là chậm, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền kêu oạp oạp. Trương Đại luận thơ cùng Vương Vi, Vương Vi thong thả nói về những giai thoại thi gia của bản triều, từ Cao Khải đến Vương Thế Trinh, rồi đến Thám Hoa Tiền Khiêm Ích khoa Canh Tuất năm Vạn Lịch thứ ba mươi tám, cô thuộc như lòng bàn tay. Trương Đại vô cùng khâm phục, mở lời khen:
Nữ lang có thể nói là một mỹ nhân học sĩ, Trương Đại bội phục.
Vương Vi mỉm cười, nhìn Trương Nguyên.
Trương Nguyên ngồi ở một bên mỉm cười lắng nghe, rất ít khi chen vào nói, nhưng hắn có một loại cảm giác, rằng nữ nhân này rất để ý đến thái độ của hắn, mỗi khi nói đến phần mình hài lòng, liền nhìn qua hắn, tròng mắt duyên dáng như đang hỏi: Giới Tử tướng công nghĩ như thế nào?
Trương Ngạc nghe đến không còn kiên nhẫn được nữa, nói:
Thi sĩ triều đại này đều không có gì hay để nói, thơ hay đều bị người triều Đường viết hết, cho dù có, đã sớm có thế hệ Tô Đông Pha, Hoàng Sơn Cốc lấy hết đi rồi, tới triều đại này, đều là chuyện cũ mèm, cặn bã!
Trương Ngạc đem một gậy đánh nghiêng toàn bộ thi sĩ Đại Minh, dường như làm thơ là đoạt bảo, thơ hay luôn bị cướp, thơ triều Minh cũng là đống đồng nát sắt vụn không có gì đáng nói.
Vương Vi nói:
Bằng không, đương thời như Công An Tam Viên, Cánh Lăng Chung Đàm, đều chú ý không câu nệ tiểu tiết, chỉ là bộc lộ nội tâm của mình, thơ hay luôn thấy.
Trương Ngạc:
Công An Tam Viên biết, Cánh Lăng Chung Đàm thì chưa nghe nói qua.
Vương Vi khóe miệng nhếch lên, như giễu cợt, nói:
Chung là Chung Bá Kính, Đàm là Đàm Hữu Hạ, đều là thi sĩ nổi tiếng bây giờ.
Trương Ngạc hỏi:
Đặt trước Lý - Đỗ - Âu - Tô thì sao hả?
Vương Vi mở to đôi mắt đẹp rất đáng yêu, nói:
Không nói chuyện cùng tướng công nữa, chẳng lẽ người nào làm thơ đều là Lý Đỗ Âu Tô – Trương tướng công hay là chỉ biết vài cái thi sĩ Lý Đỗ Âu Tô này?
Lời này thật sắc bén, đánh trúng điểm yếu của Trương Ngạc, y đã học qua không nhiều thơ cho lắm, chỉ biết mấy người Lý Bạch, Đỗ Phủ, Âu Dương Tu, Tô Đông Pha, Hoàng Đình Kiên, lại bị nữ nhân này vạch trần, cũng may Trương Ngạc da mặt dày, cũng không xấu hổ, nói:
Vừa hưởng qua mỹ vị quý và lạ, lại để cho ta đi ăn cơm rau dưa, vậy đơn giản là sống không bằng chết.
Chương 240: Nơi đó có ta (1).
Vương Vi lông mày nhíu lại, nhìn hai người Trương Đại, Trương Nguyên nói:
Hai vị tướng công có cao kiến gì? Nếu không có, thì xin không cần đàm thơ nữa, chi bằng chơi cờ cho qua ngày.
Nữ nhân này vừa tài vừa kiêu ngạo, Trương Đại cảm giác mình luận thơ thật đúng là thắng không nổi nữ nhân này, mắt nhìn Trương Nguyên, thầm nghĩ:
“Giới Tử thơ cũng đọc không được nhiều lắm nên bỏ đi, cái này chỉ khiến cho nữ nhân này coi rẻ tam huynh đệ Sơn Âm chúng ta thôi.”
Trương Nguyên biết rất rõ về Minh sử, đối với phái Công An, phái Cánh Lăng vẫn có chút hiểu rõ, nói:
Tam huynh Yến Khách của ta là người phú quý, không phải mỹ vị quý và lạ thì không để vào miệng, ta không phải là bắt bẻ, thơ của Chung Tinh, Đàm Nguyên Xuân ta cũng đọc qua một ít, đích xác chỉ thường thôi.
Vương Vi có hơi chút tức giận, sắc mặt phiếm hồng, phảng phất hoa đào tháng ba, Đàm Nguyên Xuân là thi nhân nàng cực tôn sùng, còn từng chỉ điểm qua thơ của nàng, nói:
Trương tướng công nếu nói như thế, chắc là làm thơ còn hơn Chung, Đàm rồi, tiểu nữ tử cũng muốn lãnh giáo.
Trương Nguyên mỉm cười nói:
Nếu ta đi tửu lầu dùng cơm, ngại rượu và đồ ăn không tốt, chủ quán nói Trương tướng công nếu nói như thế, vậy chắc tay nghề làm bếp còn hơn tại hạ, tại hạ muốn thỉnh giáo —— ta đây nên làm thế nào cho phải?
Trương Đại, Trương Ngạc cười rộ, nữ nhân Vương Vi cũng lấy tay che miệng, cười không nổi, lại nói:
Hai vị Trương tướng công đều là cãi chày cãi cối, cưỡng từ đoạt lý!
Trương Nguyên nói:
Ta mặc dù không am hiểu làm thơ, nhưng rất có mắt thưởng thức cùng xem xét, Chung, Đàm lấy thơ để đề xuống nội tâm, uốn cong thành thẳng, siêu tục, tịch mịch, làm cho người ta khó hiểu, rất nhiều thơ của họ chỉ có hai người họ xem hiểu, chỉ có thể hiểu tình cảnh lại không thể biểu đại, đây là sự cố tâm không ứng với thơ.
Trương Nguyên phê bình Chung, Đàm như vậy khiến Vương Vi cảm thấy có phần không phục, nhưng lời của Trương Nguyên rất có kiến giải, ít nhất là có đọc qua thơ của Chung, Đàm mới có thể nói ra những lời này, ngân nga ngâm: “Lạc nguyệt hạ sơn kính, thảo đường nhân vị quy. Thế trùng khấp lương lộ, ly khuyển phệ tàn huy. Sương tĩnh nguyệt du kiểu, yên sinh khư canh vi. Nhập thu tri kỷ nhật, lân xử sổ thanh hi (*)—— thơ như vậy đặt vào Vãn Đường, há lại thua Lưu Trường Khanh, Tiền Khởi?
(*)BTV tạm dịch:
Mặt trời lặn sau núi, nhà cỏ người chưa về
Tiếng trùng nghe hiu quạnh, chó sủa ánh chiều tàn.
Sương tĩnh trăng thêm sáng, khói bếp lên thêm nhạt,
Vào thu biết mấy ngày, chày bên nghe thưa thớt.
Trương Nguyên cười nói:
Ta chỉ là luận thơ, cô nương lại muốn lấy một bài thơ Chung Tinh viết rất hay ra bác bỏ ta, như vậy không thú vị rồi, không bằng chơi cờ, không bằng chơi cờ.
Nữ nhân Vương Vi cười một cách tự nhiên, nói:
Tiểu Tam Nguyên Trương Tướng công danh chấn Tùng Giang lại để ý người như vậy sao, há nắm chặt lời của ta không tha!
Trương Nguyên nhìn bộ dạng nữ nhân này cười rộ lên, không khỏi tim đập thình thịch, chẳng biết tại sao, cảm thấy nữ nhân này có chút giống Anh Tư sư muội.
Nữ nhân Vương Vi cười nói ríu rít, đôi mắt sáng lên, nụ cười đẹp như vậy, chỉ một thoáng làm cho người ta cảm giác như chiếc thuyền không phải đi trên sông Hoàng Phổ, mà là đi qua khu rừng hoa đào rực rỡ tháng ba, khiến cho toàn bộ khoang thuyền đều ánh lên màu sắc hoa đào, đây cũng là nguyên nhân Trương Nghuyên nhớ đến Anh Tư sư muội. Nữ nhân Vương Vi lập tức phát hiện trong ánh mắt và sắc mặt Trương Nguyên có đoạn tình ý thoáng qua rồi biến mất, khéo hiểu lòng người là bản lĩnh cần có nhất ở kỹ nữ Dương Châu.
Vương Vi từ khi bảy tuổi đã được nữ lão sư chuyên môn dạy hằng ngày, sau đó trải qua sự dạy dỗ của danh kỹ Mã Tương Lan ở Cựu viện Nam Kinh, hơn nữa thân mình lại là bang tuyết lanh lẹ, bản lĩnh nghiền ngẫm tâm ý người khác lại càng hơn Mã Tương Lan, nhất là vẻ mặt cùng giọng điệu của nam tử, Vương Vi liếc mắt một cái liền có thể nhìn thấu trong lòng ba huynh đệ Trương Thị huyện Sơn Ân cùng thuyền. Trương Ngạc Trương Yến Khách không cần phải nói, là bệnh con ông cháu ta, loại nam tử này ngay thẳng lại rất thô bỉ; Trương Đại Trương Tông Tử cũng là bệnh con ông cháu cha. So với đệ đệ hàm súc nho nhã hơn, đàm thơ luận tranh, học vấn tạp nham, từ khi nàng lên thuyền, ánh mắt hai huynh đệ này gần như không rời khỏi cơ thể nàng. Vương Vi cũng không nghĩ là bọn họ lỗ mãng, bị sắc đẹp của nàng hấp dẫn chỉ là việc rất tự nhiên, chẳng phải đa số người chết đều vì sắc đẹp sao. Nhưng Trương Nguyên Trương Giới Tử kia, lại làm cho nàng có chút nhìn không thấu.
Đây là lần thứ ba Vương Vi nhìn thấy Trương Giới Tử nổi danh này, lần đầu tiên là ở trên thuyền Tây Hồ, bộ mặt nhìn không rõ, lần thứ hai là ở nơi của Trần Mi Công, nàng và Trương Nguyên đã đánh một ván cờ, Trương Nguyên mắt nhìn mũi, mũi nhìn tâm, công phu tĩnh tâm của hắn làm cho nàng có chút kinh ngạc. Hơn nữa thế cờ kia Trương Nguyên cũng thắng, hai lần ấn tượng này, nữ nhân Vương Vi đúng là có cảm giác Trương Tam Nguyên này là cực thông minh, tuổi còn trẻ mà bản lĩnh tu tâm dưỡng tính thật tốt. Mấy ngày sau đó, không ngừng nghe đồn về Trương Nguyên, hắn kích động chư sinh đấu Đổng Hàn Lâm, Trương Nguyên tại Dự viên Thượng Hải tổ chức đại hội gặp mặt chư sinh Tùng Giang, Trương Nguyên thành lập Hàn xã…
Mi Công nghe thấy tin đồn này lắc đầu nói:
Trương Nguyên này lại không an phận, dựng đảng kết xã, quá mức khoa trương, sớm muộn gì cũng có ngày lại bị áp chế.
Mi Công làm người luôn chú ý tìm chỗ khoan dung mà độ lượng.
Nhiều một chuyện không bằng bớt một chuyện. Đương nhiên cảm thấy Trương Nguyên làm việc rất tuyệt, quá biệt gây chuyện thị phi, Vương Vi lúc ấy nói:
Có lẽ có thể là năng thần trị thế, cũng chưa biết chừng.
Mi Công chăm chú nhìn nàng, không ngờ hôm nay có dịp gặp lại lần thứ ba. Trương Nguyên thần thái hơi có vẻ mệt mỏi, tuy rằng cũng thường nhìn chăm chú nàng, nhưng rõ ràng không giống với ánh mắt của Trương Đại và Trương Ngạc. Hai người này đối với nàng là nhìn chăm chú, Trương Nguyên là mang theo ý tứ cười cùng thưởng thức, dường như đang xem cái gì đó. Vương Vi thầm nghĩ:
“Có lần Mi Công luận thơ, phân ra làm nơi đó có ta và nơi đó không có ta, luận nhân cũng giống vậy, Trương Nguyên chính là từng giây từng phút ‘có ta’ có sự tự chủ rất mạnh, không dễ dàng liền bị mê hoặc. Người như vậy lấy mình làm trung tâm, lòng dạ rất sâu, xem hắn kích động chư sinh đấu Đổng Hàn Lâm, có thể lông tóc không tổn hao gì mà nghênh ngang rời đi, đã có hể biết hắn đa mưu túc trí rồi. Đây thật sự là thư sinh mười bảy tuổi lần đầu trải qua thế sự sao?
Đây là Vương Vi phán đoán dựa theo tính tình Trương Nguyên, mà Trương Nguyên mới vừa rồi ngẫu nhiên lộ ra một tia tình ý lại làm cho Vương Vi hơi có chút kinh ngạc và mừng thầm, thầm nghĩ:
“Ngươi chung quy không phải Liễu Hạ Huệ nha, vẫn là phàm phu tục tử, cái này rất tốt.”
Thời gian Vương Vi quan sát Trương Nguyên có chút hơi lâu, Trương Ngạc trách móc:
Oa, đây là ý tứ gì, hai người các ngươi cứ như vậy ẩn tình nhìn nhau!
Trương Nguyên cười nói:
Không nói về thơ nữa, mọi người chơi cờ đi.
Trương Ngạc sớm đã không kiên nhẫn đối với việc đàm thơ luận phú được nữa rồi, liền nói:
Tốt lắm, đàm thơ cũng nói đủ rồi, không bằng chơi cờ, không bằng chơi cờ.
Gọi Phúc Nhi đem bàn cờ bày ra, bàn cờ làm bằng gỗ dẻ, những thứ này đều là từ Sơn Âm mang đến đây.
Lần trước ở Đông Xa sơn cư, Vương Vi đã đánh cờ thua Trương Nguyên, rất muốn đánh tiếp cùng Trương Nguyên, nhưng thấy Trương Ngạc rất hang hái, liền hỏi:
Trương tướng công đánh cờ so với Tam Nguyên tướng công như thế nào?
Trương Ngạc liếc mắt nhìn Trương Nguyên một cái, cười nói:
Bất phân thắng bại.
Vương Vi nghiêm nghị nói:
Vậy tiểu nữ tử xin thỉnh giáo một ván.
Trương Ngạc rộng lượng chấp Vương Vi đi trước, Trương Nguyên và Trương Đại ngồi ở một bên xem cuộc đấu. Trương Nguyên ngồi ở xa hơn nên không có nhìn kỹ ván cờ, cũng lường trước Tam huynh khó có thể thắng nữ nhân này, cờ lực của Tam huynh kém hơn nữ nhân này, hơn nữa bị mê hoặc với sắc đẹp này nên sẽ không thể chuyên tâm hạ cờ, cho nên bàn cờ này không có phấn khích, không có gì đáng xem. Nhưng thái độ nữ nhân này đánh cờ cực kỳ đẹp mắt, nhìn qua thấy rất đơn giản mộc mạc, nhưng nếu nhìn kỹ, sẽ phát giác mũi giầy nàng có một con bướm, vô cùng tinh xảo, loại vải kia chính là vài bông Tùng Giang thượng hạng, từ áo đến tay áo được thợ khéo léo may, mặc trên người nữ nhân này cực kỳ hợp, móng tay nữ nhân cũng được chăm sóc tỉ mỉ, khi cầm quân cờ có thể thấy được đầu ngón tay tinh tế, tư thế hạ cờ cũng tao nhão mê người, đây đều là đã qua giảng dạy sao?
Trương Nguyên ngồi tê mông cạnh cửa buồm, nhìn tam huynh và nữ nhân này đánh cờ, nghĩ thầm rằng:
“Sấu mã thượng phẩm Dương Châu, tất cả cầm kì thi họa đều thông, danh kỹ Cựu viện, kết giao cùng tao khách từ tông, nữ nhân này nếu ở bốn trăm năm về sau, nhất định sẽ trở thành minh tinh trong giới điện ảnh của nhân loại, còn ở thời Minh, tương đối mà nói, loại danh kỹ này so với nữ tử bình thường càng tự do hơn một ít, giống như nữ nhân Vương Vi này, nơi nơi dạo chơi, còn có thể bái Trần Mi Công học vẽ tranh, hiện tại cùng tam huynh đệ chúng ta đồng thuyền đi xa, luận thơ chơi cờ, tự nhiên cùng phóng túng, cái này so với nữ từ bình thường tuyệt không thể xảy ra.
đáp lễ thì thấy một đồng tử tóc rối lẫn trong đám chư sinh, cậu chừng mười tuổi, lông mày trái có nốt ruồi đỏ. Thấy Trương Nguyên nhìn mình, cậu tiến đến chắp tay nói:
Trương tướng công, nữ lang nhà tôi đã đến, đang đợi dưới tán cây hương thung.
Chương 240: Nơi đó có ta (2).
Bởi vậy Trương Nguyên không khỏi nghĩ đến vị hôn thê Thương Đạm Nhiên, còn có Vương Anh Tư sư muội. Thương Đạm Nhiên là vợ hắn, hắn nhất định che chở tốt cho nàng, nếu có ngày nghỉ sẽ bồi nàng đi du ngoạn, sẽ không để cho nàng khó chịu bên trong nhà cao cửa rộng, bỏ quên trí thông minh của mình, về sau để cho nàng hỗ trợ việc làm ăn buôn bán. Còn Anh Tư sư muội, vừa đa tài vừa đáng yêu, nhưng…
Tâm trạng Trương Nguyên hơi trầm xuống, quay đầu hướng về cửa sổ ngoài thuyền, nhìn ngắm phong cảnh hai bên bờ sông Hoàng Phổ.
Ba mái chèo di chuyển lên xuống, cánh buồm căng tròn gió, chiếc thuyền ba mái chèo dài năm trượng này đang châm rãi đi ngược dòng trên sông Hoàng Phổ. Núi xanh hai bên bờ trùng điệp, giữa chân núi và chỗ đất bằng phẳng đều là những lùm cây xanh ngắt với những sắc hoa trắng vàng xen nhau. Đây chính là hoa cây bông, đất vườn Tùng Giang tám chín trên mười là trồng loại hoa này, có đến trăm vạn mẫu, được coi là thành phố bông vải, là thiên hạ của áo chăn. Nếu hiệu Mỹ Hào phát triển thuận lợi, trong mười năm sẽ trở thành cửa hàng buôn vải lớn nhất Tùng Giang là rất có khả năng. Mấu chốt là phải có tiền vốn, phải có người đến giúp đỡ.
Trương Nguyên và Tông Dực Thiên nhẹ giọng nói chuyện với nhau, bàn một chút về việc buôn bán ở Tùng Giang. Tông Dực Thiên nói hằng năm hai mùa xuân thu, tàu xe thương gia đến Tùng Giang buôn bán vải đông đúc. Thương nhân có dưới một mười vạn tiền vốn chỉ có thể coi là thương nhân trung đẳng, kẻ sĩ Giang Nam bỏ văn theo nghề buôn bán vô cùng nhiều, xuất hiện cái gọi là tầng lớp sĩ thương. Người đứng đầu Đông Lâm Cố Hiến Thành cho rằng phú tài mới có thể hảo lễ, lấy nghĩa làm chủ cho lợi ích, lấy lợi ích phì tá cho nghĩa, thẳng thắn cầu tài, Trương Nguyên thầm nghĩ:
“Đời sau có trình bày và phân tích cho rằng đảng Dông Lâm là đại biểu cho lợi ích của sĩ thương Giang Nam, vậy Hàn Xã lại nên đại biểu cho lợi ích của người nào, hướng cuối cùng của Hàn Xã là về triều đình, hẳn là tranh thủ ủng hộ của giai cấp nào đó? Xã hội Vãn Minh là xã hội cực kỳ phức tạp, các tầng lớp giai cấp đều bị thay đổi kịch liệt từ bên trong, tranh thủ bên này, ắt sẽ đắc tội người kia, điều này cũng là chuyện đau đầu nhất.”
Trương Nguyên tự an ủi mình nói:
“Hàn Xã, hiệu buôn Thịnh Mỹ, hiện tại bắt đầu khởi bước rồi, chỉ có đi từng bước một, gấp cũng vô dụng, ngày còn rất dài, vả lại núi xanh hai bên bờ sông này, hoa vải bông đầy khắp đồi, cây bông vải theo gió lượn bay, đi ngược dòng nước cũng rất có phong cảnh.”
Thuyền đi được sáu, bảy dặm, Trương Ngạc chơi cờ cũng đã bị thua, chỉ nghe nữ nhân Vương Vi nói:
Yến Khách tướng công có thể cùng Giới Tử tướng công bất phân thắng bại sao?
Khi nói xong lời này, con mắt liếc nhìn sang Trương Nguyên ở bên cạnh cửa sổ mui thuyền.
Trương Đại cười nói:
Yến Khách chơi cờ sao có thể bất phân thắng bại với Giới Tử, đó là khoác lác.
Trương Ngạc mặt không đổi sắc nói:
Giới Tử trao ta ba quân ta thắng, còn trao ta hai quân ta lại thua, đây chẳng phải là bất phân thắng bại.
Vương Vi hai tay hợp thành chữ thập, nửa che mũi và môi, nói:
Thì ra là thế.
Cười đến mức thân mình khẽ run.
Trương Ngạc nói:
Ván này là ta sơ suất, là ta tham nhìn sắc đẹp của ngươi, cho nên mới thua, ta xem chỉ có Giới Tử mới có thể thắng cô nương, trong mắt hắn chỉ có quân cờ, con mắt đều là nhìn chăm chú vào con cờ mà chuyên tâm chơi cờ.
Trên mặt Vương Vị hiện lên sắc hoa đào, lấy một quân màu trắng nhẹ nhàng ném vào hộp quân cờ, mắt nhìn Trương Nguyên nói:
Tiểu nữ tử muốn thỉnh giáo Giới Tử tướng công một ván cờ.
Trương Nguyên hiện tại không muốn chơi cờ, hắn hai ngày nay vì chuyện thư cục Hàn Xã và hiệu buôn Thịnh Mỹ nên có chút phí sức, mỉm cười nói:
Để cho Đại huynh ta cùng cô nương đánh đi, ta hôm nay có chút buồn ngủ, ngày khác, ngày khác lại lĩnh giáo.
Khi Vương Vi và Trương Đại chơi cờ, Trương Nguyên đến khoang kế bên tự nghĩ ra một đề Xuân Thu kinh nghĩa, dùng hơn nửa canh giờ viết một bà kinh đề bát cổ. Thân thuyền hơi lắc lư, tiếng cười cùng tiếng đánh cờ vang lên không ngừng, bất giác cơn buồn ngủ ụp xuống lại, liền nằm ở trên cái bàn nhỏ chợp mắt một chút
Mực đã mài còn một chút vẫn chưa viết hết, rửa đi thì đáng tiếc, Mục Chân Chân dùng nước mực còn dư lại viết mấy chữ “Hoa Sơn bia” thật to. Viết xong, nghe thấy thiếu gia bên cạnh truyền ra thanh âm phì phò rất nhỏ, Mục Chân Chân liền nhẹ nhàng thu thập giấy bút, rửa sạch nghiên mực cùng bút xong trở về, thấy hai bên cánh mũi thiếu gia chảy ra vài giọt mồ hôi, ống tay áo đệm ở dưới má cũng có chút mồ hôi ẩm, trời gần buổi trưa rồi, khí trời rất nóng a.
Trên bàn có một cái quạt, Mục Chân Chân chậm rãi mở quạt, ôm đầu gối ngồi quạt bên cạnh thiếu gia. Quạt một hồi, thấy Vương Vi đi tới, tay vịn cửa khoang thuyền lay động không yên, nhìn Trương Nguyên ngủ gục trên bàn, khẽ mỉm cười, hạ giọng hỏi Mục Chân Chân:
Tỷ tỷ tên gọi là gì?
Mục Chân Chân có chút gượng ép, đáp:
Tiểu tỷ gọi Mục Chân Chân.
Vương Vi lại hỏi:
Mục tỷ tỷ bao nhiêu tuổi?
Mục Chân Chân liền sinh ra ngại ngùng, đáp:
Mười sáu tuổi rồi.
Trong lúc nói chuyện, đưa tay xếp quạt lại.
Vương Vi khẽ cười nói:
Vậy thì bằng tuổi ta, ta sinh tháng giêng khẳng định lớn hơn ngươi, gọi ngươi Mục muội muội rồi.
Mục Chân Chân cười cười “Ừ” một tiếng, không biết nên nói gì.
Vương Vi thấy Mục Chân Chân có vẻ không thích nói chuyện, liền không nói không rằng, dựa vào cửa khoang nghe tiếng chèo thuyền. Khoang kế là tiếng Trương thị huynh đệ đánh cờ, kỳ nghệ của Trương Tông Tử kia cũng hơi thua nàng, nàng thầm nghĩ sẽ cùng Trương Nguyên đánh một ván cờ, cùng Trương Nguyên đàm thơ, lại thấy trương Nguyên ngủ ở chỗ này.
Còn có một nữ a hoàn giúp hắn quạt, thật sự là đủ hưởng thụ, Mục Chân Chân thấy nữ nhân dựa cửa không đi, liền hỏi:
Vương tỷ tỷ tìm thiếu gia nhà ta có chuyện gì sao?
Vương Vi nói:
Không có việc gì.
Cười rồi hướng Mục Chân Chân khoát tay áo, đi trở về khoang.
Cuối giờ ngọ, thuyền tới hồ Tiết Điến, nhóm của Trương Nguyên dùng cơm trưa ở thị trấn Chu Gia Giác bên bờ đông của hồ. Vương Vi không chịu rời thuyền, chỉ kêu Diêu Thúc đi mua một tí rượu và đồ nhắm rau quả rồi ăn ở trên thuyền. Rượu thịt đều là để cho Diêu thúc và tiểu đồng tóc dài ăn uống, Vương Vi kêu tiểu tì lấy từ trong hành lý ra một cái bếp lò, nhóm lửa đốt than, nấu một bát cháo gạo Thanh Phổ. Vương Vi đích thân cầm muôi, xào một đĩa khổ qua và một đĩa ngó sen. Chỉ hai món rau và một bát cháo, nữ lang này ăn uống thật thanh đạm nhưng lại cầu kỳ về sự sạch sẽ tươi sống.
Vương Vi ăn hai chén nhỏ cháo gạo Thanh Phổ, rồi súc miệng rửa tay, lấy quyển <Ẩn tú hiên thi> rồi đến bên cửa sổ mui thuyền ngồi đọc. <Ẩn tú hiên thi> chính là tập thơ của Cánh Lăng Chung Tinh. Vương Vi đọc bài “Đình cao mộc diệp hạ”, ngâm khẽ:
“Như hà cố nhân ảnh, canh tác sương thiên biệt, thị tịch đăng ngoại cúc, đồng tâm chiếu trì mộ”,
Nàng cảm thấy thật thanh nhã vui vẻ, nàng thấy lời phê bình trước đây của Trương Nguyên đối với Chung Tinh là không đúng, nên rất muốn tranh cãi với Trương Nguyên một phen.
Sau giờ ngọ, thời gian trôi thật chậm rãi. Thuyền neo lại dưới bóng cây liễu bên sông, gió thổi trên mặt nước nên cũng không hề cảm thấy nóng bức. Trên thuyền ngoài hai người phu chèo thuyền ở lại trông coi và bốn người của nhóm Vương Vi ra, những người khác đều đã lên bờ để dùng bữa.
Vương Vi đọc một bài thơ, ngẫm nghĩ một lát, nhìn lên cành liễu rũ bóng bên bờ hồ, khẽ chạm vào mặt nước, rất là thanh tĩnh, nhưng lại chợt có hai chú ve kêu lên, huyên náo không ngừng. Vương Vi đặt cuốn thơ trong tay xuống, nói:
Tiết Đồng, lấy cây ná tới đây.
Tiết Đồng chính là tiểu đồng tóc dài có nốt ruồi ở giữa lông mày, vội đi lấy một cây ná gân trâu mang tới, ngoài ra còn có cả một túi đựng những viên đá nhỏ đã được lựa chọn kỹ càng, rồi đưa tới trước mặt Vương Vi. Vương Vi nhằm thẳng về phía chú ve đang kêu trên cành liễu, tiếng bắn ná vừa vang lên thì tiếng ve kia đột nhiên im bặt, lá liễu rơi lả tả, một chú ve đen rơi xuống mặt đất bên bờ hồ, giãy lên vài cái rồi bất động.
Còn một chú ve nữa, có lẽ đã bị kỹ thuật bắn của nữ lang này dọa cho khiếp sợ, liền im bặt, không hề kêu nữa.
Tiết Đồng khen:
Vi Cô bắn chuẩn quá.
Vương Vi trao lại ná cho Tiết Đồng, nói:
So với Phích bà bà thì còn kém xa.
Chính lúc này chợt nghe thấy một tiếng vang, một con thuyền nhỏ dài trượng tám đang cập bờ bên cạnh thuyền đu, thấy một sĩ nhân khoảng chừng ngoài ba mươi tuổi, mình vận áo dài màu xanh ngọc lên bờ, nói:
Ở lại đây dùng cơm đã rồi mới đi Thanh Phổ.
Vương Vi nghe giọng nói có chút quen thuộc, ngẩng lên nhìn, liền nhận ra đó là Phạm Hiếu Liêm ở Tô Châu, mấy năm trước đã đến “U Lan Quán” ở Nam Kinh Cựu viện thăm mẹ nuôi của nàng là Mã Tương Lan, lúc đó nàng mới mười ba tuổi. Phạm Hiếu Liêm lúc đó được Vương Đăng ở Tô Châu nhờ mang tác phẩm mới của mình là tới cho Mã Tương Lan. Vương Đăng là tài tử trong lòng Mã Tương Lan, nhưng khi đó đã ngoại thất tuần, tóc đã bạc trắng hết cả.
Vương Vi thích nhất là giao du, vội kêu:
Phạm Hiếu Liêm, tiểu nữ Vương Vi xin cúi chào.
Phạm Văn Nhược đang đứng bên bờ sông liền quay người lại, nhìn thấy nửa người trên của một nữ lang dung mạo xinh đẹp lộ ra bên ngoài cửa sổ mui thuyền của con thuyền đu nọ, miệng cười tươi tắn. Phạm Văn Nhược cảm thấy lạ mặt, vái chào nói:
Tiểu nương tử nhận ra Hứa Văn Nhược ở Trường Châu này sao?
:
Trương tướng công, nữ lang nhà tôi đã đến, đang đợi dưới tán cây hương thung.
Chương 241: Gặp bạn cũ.
Vương Vi nói:
Ba năm trước ở Kim Lăng Cựu viện U Lan Quán tiểu nữ đã được nghe giọng nói của Phạm Hiếu Liêm.
Phạm Văn Nhược nhớ lại một chút, chợt nói:
Ồ, là Vương Vi cô nương, cô nương sao lại ở đây?
Vương Vi nói:
Tiểu nữ đi thăm Trần Mi Công, giờ đi thuyền quay trở về Kim Lăng.
Phạm Văn Nhược “ồ” lên một tiếng rồi nói:
Vương Bách Cốc tiên sinh năm kia cũng quy tiên rồi, bậc tài tử đã hóa bướm mà ra đi.
Vương Vi buồn bã nói:
Đúng như vậy, dưỡng mẫu ta cả đời lưu luyến si mê Bách Cốc tiên sinh, lúc lâm chung còn ngâm bài thơ mà Bách Cốc tiên sinh viết tặng bà.
Phạm Văn Nhược chợt nhớ tới một chuyện, hỏi:
Vương Vi cô nương từ Xa Sơn ra đây, chẳng hay có biết Trương Giới Tử ở Sơn Âm có còn ở Thanh Phổ hay không?
Vương Vi kinh ngạc nói:
Phạm Hiếu Liêm và Trương Giới Tử tướng công là bạn cũ sao?
Phạm Văn Nhược nói:
Trương Giới Tử là bạn tốt của ta, ở Trường Châu ta có nghe tin cậu ấy đang gặp gỡ chư sinh Tùng Giang tại Đại hội Dự Viên Thượng Hải nên cố ý tới gặp, chỉ e bị bỏ lỡ mất rồi.
Vương Vi mỉm cười nói:
Vậy thì thật là đúng dịp rồi, đây chính là thuyền của Trương Giới Tử tướng công, huynh ấy muốn đi Nam Kinh Quốc Tử Giám nhập học, có nói rằng thuận đường sẽ ghé Tô Châu thăm bạn, thì ra lại chính là Phạm Hiếu Liêm ư, thật trùng hợp quá.
Phạm Văn Nhược mừng rỡ, vội hỏi:
Trương Giới Tử hiện đang ở đâu?
Vương Vi nói:
Đang dùng cơm ở tửu lầu trên thị trấn, Phạm Hiếu Liêm có lên thuyền đợi hay không?
Phạm Văn Nhược nói:
Để ta tự lên thị trấn tìm hắn.
Nói rồi y dắt theo một nô bộc đi lên thị trấn tìm Trương Nguyên. Y gặp ba huynh đệ Trương thị tại một tửu lầu ở chợ Đông. Năm trước Phạm Văn Nhược đã gặp Trương Đại, Trương Ngạc ở Sơn Âm. Lần này gặp lại tất nhiên rất vui vẻ.
Trương Nguyên đón tiếp Phạm Văn Nhược cùng dùng bữa, nói:
Thật là tình cờ có thể gặp được Phạm huynh ở nơi đây.
Phạm Văn Nhược cười nói:
Là ta cố ý từ Trường Châu tới Thanh Phổ để gặp người anh em đấy. Nếu không phải gặp được Vương Vi cô nương ở bên bờ sông thì thiếu chút nữa đã bị bỏ lỡ rồi.
Trương Ngạc vội hỏi:
Phạm huynh nhận ra được Vương Vi Cô đó ư?
Phạm Văn Nhược nói:
Ba vị cùng thuyền với mỹ nhân, lại không biết lai lịch của mỹ nhân sao?
Trương Nguyên nói:
Trần Mi Công nhờ huynh đệ ta đưa cô ấy lên thuyền cùng đi Nam Kinh, cô ấy là nữ đệ tử của Mi Công.
Phạm Văn Nhược gật gật đầu nói:
Vương Vi là con gái nuôi của Mã Tương Lan ở Nam Kinh Cựu viện U Lan Quán, giỏi giang thi họa, từ năm ngoái đến nay nổi tiếng tài hoa, có thể sánh ngang với danh cơ Lý Tuyết Y của Cựu viện, nghe nói chưa kết tóc, vẫn hoàn bích. Đầu năm có Huy Thương Dục dùng rất nhiều tiền bạc để mong được kết tóc nhưng đã bị từ chối, rất có hiệp khí như dưỡng mẫu Mã Tương Lan của cô vậy.
Trương Đại nói:
Quả nhiên là khúc trung nữ lang, cũng là bậc tài nữ thực sự.
Phạm Văn Nhược tới gặp Trương Nguyên không phải là đàm đạo về Vương Vi, thấy có ý xoay chuyển chủ đề, y vội nói:
Giới Tử hiền đệ này, lần này danh tiếng của đệ đã lan truyền đến kinh thành rồi.
Trương Nguyên nói:
Thật hổ thẹn, đệ chỉ là không chịu nhịn nhục thấy Đổng thị làm điều xằng bậy, thế nên mới cùng với các chư sĩ Tùng Giang kiện Đổng thị, giờ đây tiếng xấu đã đồn xa, thực sự là đệ không mong muốn như vậy.
Phạm Văn Nhược cười nói:
Làm gì đến mức đó, ngu huynh nhìn thấy nghe thấy toàn những điều vinh dự về những gì đệ đã làm ở Hoa Đình thôi, bởi vậy Giới Tử đệ không cần phải sầu lo, thế gian này vốn không có danh tiếng vẹn toàn đâu, thanh danh vừa trỗi dậy thì cũng kèm theo cả những lời phỉ báng nữa, đây là điều không tránh khỏi.
Trương Ngạc nói:
Phạm huynh nói đúng, Đổng Kỳ Xương sống dở chết dở rồi, sợ lão sao, nào nào, ta uống đi.
Phạm Văn Nhược thở dài:
Ta ở Tô Châu cũng nghe nói hai đứa con trai của Đổng Huyền Tể làm hại đệ nhưng lại không ngờ rằng chúng lại dám bức tử sinh đồ, còn muốn đốt nhà để hãm hại chư sinh. Đây thực là lũ bất nghĩa đáng chết.
Ăn uống chán chê, Phạm Văn Nhược cười nói:
Năm ngoái ta đã từng muốn mời Giới Tử hiền đệ gia nhập phòng xã Phất Thủy Sơn của ta, hôm nay ta mới biết Giới Tử hiền đệ còn có chí hướng lớn hơn, tự lập ra Hàn xã, danh tiếng đã lan truyền đến tận phòng xã Phất Thủy Sơn rồi.
Trương Nguyên nói thẳng:
Phạm huynh, huynh và đệ kết bạn đã lâu, đệ xin nói thẳng, lần này đệ vốn định đi Tô Châu để thăm huynh, cũng chính là vì chuyện Hàn xã.
Phạm Văn Nhược mỉm cười hỏi:
Phải chăng là đệ muốn phòng xã Phất Thủy Sơn sát nhập vào Hàn xã?
Trương Nguyên cười nói:
Huynh thật hiểu đệ, nếu Phạm huynh không đồng ý thì tại hạ cũng không dám nhiều lời, chúng ta về sau vẫn là bạn tốt của nhau.
Phạm Văn Nhược nói:
Ta muốn hỏi một câu, liệu có thể vừa tham gia phòng xã Phất Thủy Sơn lại vừa tham gia Hàn Xã được không?
Trương Nguyên nói:
Đương nhiên là được, Hàn xã rất bao dung không thiên kiến bè phái, chỉ cần đồng ý tuân thủ ba điều kiện của Hàn xã là có thể tham gia.
Nói rồi Trương Nguyên nói ba điều kiện của Hàn xã cho Phạm Văn Nhược nghe.
Phạm Văn Nhược nói:
Việc phòng xã Phất Thủy Sơn có sát nhập vào Hàn xã hay không, cái này ta không tự quyết được, cần bàn bạc với các xã viên khác nữa, nhưng ta có thể tham gia Hàn xã trước.
Trương Nguyên cười nói:
Phạm huynh đã là cử nhân có tiếng, gia nhập Hàn xã thật sự là đã hạ mình rồi.
Phạm Văn Nhược cười nói:
Nguy hiểm thật, ta năm nay đã ba mươi lăm tuổi, nếu là sang năm thì không thể gia nhập Hàn xã được nữa rồi. Chắc không đến nỗi sang năm ta bị khai trừ ra khỏi Hàn xã vì quá tuổi chứ?
Trương Nguyên, Trương Đại và Trương Ngạc đều cười to. Trương Nguyên nói:
Làm gì có chuyện đó, làm gì có chuyện đó.
Phạm Văn Nhược lại hỏi một số việc về Dự Viên, y được biết vào tháng ba sang năm tại Sơn Âm sẽ tổ chức hội họp Hàn xã, liền cười nói:
Vậy thì ta nhất định phải tới, đó sẽ là một thịnh hội đấy.
Do thời tiết nóng nực, nên sau giờ ngọ đám Trương Nguyên không đi tiếp, muốn nghỉ lại một đêm ở thị trấn Chu Gia Giác, hôm sau lại tiếp tục hành trình.
Hoàng hôn, Trương Nguyên và Phạm Văn Nhược tản bộ bên bờ sông. Trương Nguyên nhớ tới một chuyện quan trọng, hắn hỏi một vài sinh đồ ở Thanh Phổ thì đều không người nào biết. Trương Nguyên hỏi:
Phạm huynh, đệ có một chuyện muốn hỏi thăm huynh.
Phạm Văn Nhược nói:
Đệ cứ hỏi, ta biết thì sẽ nói.
Trương Nguyên nói:
Nguyên tổng binh Liêu Đông Đỗ Tùng bị bãi chức về quê, phải chăng hiện đang sống ở Côn Sơn? Đệ có một người hầu muốn tòng quân, đệ muốn gửi gắm vào môn hạ Đỗ tổng binh.
Phạm Văn Nhược nói:
Đỗ tổng binh này ta có nghe qua, ông ta là người Côn Sơn, nhưng đã chuyển đến Diên An Vệ, ông ta xuất thân con nhà tướng, cũng là bậc quân hộ, quân hộ cao cấp.
Trương Nguyên trong lòng chợt thấy nguội lạnh, Diên An Vệ, lúc này sao hắn có thể đến Diên An Vệ được, nói như vậy là cuộc chiến Tát Nhĩ Hử hắn bất lực rồi sao?
Lại nghe Phạm Văn Nhược nói:
Huynh trưởng của Đỗ tổng binh sống ở Côn Sơn Trinh PhongLý, tháng trước đã qua đời. Đỗ tổng binh thì đã bị cách chức, không còn quân vụ bên mình, ta nghĩ rằng chắc chắn ông ta sẽ trở về chịu tang huynh trưởng. Ta sở dĩ biết huynh trưởng của ông ta qua đời là vì Đỗ gia có con cháu đến bái môn cầu học ở chỗ bạn ta là Vương Hoan Như, vì là con cháu quân hộ nên bị bạn học ghẻ lạnh. Vương Hoan Như chính là một trong bốn người đến Thanh Phổ cùng ta năm trước, Giới Tử hiền đệ có còn nhớ không?
Trương Nguyên nói:
Đệ nhớ, đó là vị có tướng mạo khôi ngô, có chòm râu quai nón rất đẹp.
Phạm Văn Nhược nói:
Tôn giới nếu đã muốn tòng quân nhập ngũ thì đây rất gần Kim Sơn Vệ, hà tất phải đến nhờ vả tổng binh đã bị cách chức.
Trương Nguyên nói:
Nô bộc này của ta xuất thân là tiện dân, muốn đi phương Bắc giết giặc lập công. Đỗ tổng binh kia xuất thân trong sạch đã trải qua trăm trận chiến, tạm thời bị bãi chức, đệ nghĩ chắc chắn không lâu sau sẽ được phục chức.
Phạm Văn Nhược gật đầu nói:
Thái tử Mông Cổ thực sự là rất hung hăng ngang ngược, nhiều lần vi phạm biên giới, bên Đại Đồng muốn lập quân công thì sẽ dễ dàng một chút,
Có câu chưa nói chính là “ chết cũng mau”.
Trương Nguyên thầm nghĩ:
“Triều Đại Minh từ trên xuống dưới giờ chỉ biết rằng bộ lạc Mông Cổ là mối đe dọa, lại không biết Nỗ Nhĩ Cáp Xích đang mài đao xoèn xoẹt rồi.”
Hắn lại nghĩ:
“Không biết lần này liệu có gặp được Đỗ Tùng hay không, nếu không gặp được thì lẽ nào ta phải nghe theo mệnh trời ư? Năm Vạn Lịch thứ 47, lúc đó chắc ta đã ở kinh thành rồi, sao có thể ngồi xem được trận thảm bại làm thay đổi quốc vận triều Đại Minh!”,
Đoạn nói:
Vậy thì ngày mai đi đường vòng vào trong Côn Sơn Trinh Phong Lý trước đã.
Phạm Văn Nhược cười nói:
Không cần phải đi đường vòng, ta từ Trường Châu tới đây phải đi qua Trinh Phong Lý, Trinh Phong Lý cũng là nơi thắng cảnh nổi tiếng, có nơi ở cũ của đại phú hào bậc nhất đất nước Thẩm Vạn Tam.
Trương Nguyên kinh ngạc, nơi ở cũ Thẩm Vạn Tam chẳng phải là ở Chu Trang hay sao, lẽ nào Chu Trang giờ đây được gọi là Trinh Phong Lý.
Trên thuyền đu có năm nữ tử, Vương Vi và tiểu tỳ của mình là Huệ Tương, thị tỳ của Trương Đại là Tố Chi, thị tỳ của Trương Ngạc là Lục Mai, ngoài ra còn có một người nữa là Mục Chân Chân html> :
Trương tướng công, nữ lang nhà tôi đã đến, đang đợi dưới tán cây hương thung.
Chương 242: Sen Tịnh đế.
Chiều tối ba huynh đệ Trương Thị đến tửu gia trên bờ uống rượu với Phạm Văn Nhược. Năm nữ tử này đều ở lại trên thuyền nấu cháo, làm vài món ăn với nhau. Mục Chân Chân khá giỏi nấu nướng, chỉ có điều là không tinh tế được như Vương Vi. Tố Chi và Lục Mai chưa từng nấu nướng bao giờ, chỉ vào góp vui mà thôi.
Mục Chân Chân tuy không khéo ăn nói nhưng Vương Vi lại khá thân thiết với nàng. Vương Vi rất biết nhìn người, trong số ba thị tỳ của tam huynh đệ Trương Thị thì có thiếu nữ đọa dân này là hồn nhiên chất phác nhất.
Ánh tà dương rơi xuống ngoài những dãy núi ở bờ tây hồ Tiết Điến, bầu trời vẫn sáng rõ, ánh nắng chiều như đổ lửa, phủ kín nửa bầu trời. Bọn Vương Vi đã dùng xong bữa tối, trời nóng nực như vậy, bắt buộc phải tắm gội. Trên thuyền có sẵn hai thùng tắm, dùng riêng cho nam và nữ. Nhóm Mục Kính Nham, Năng Trụ thì không cần, họ nhảy xuống sông tắm là khoái nhất.
Vương Vi tắm rửa xong rồi đi ra, mái tóc dài còn ẩm ướt phủ xuống tận eo. Tấm áo vải sạch sẽ vừa thay xong còn chưa kịp thắt eo, rộng rãi thoải mái theo bước chân, càng làm cho nàng thêm vẻ yêu kiều. Gương mặt chưa hề tô phấn sáp nhưng đẹp như tranh. Nàng đảo mắt nhìn quanh, tư thái xinh đẹp quyến rũ khiến cho bọn Tố Chi và Lục Mai phải thầm ghen tị.
Vi Cô, Vi Cô, chim chóc bên bờ hồ nhiều quá, Vi Cô xem này…
Tiểu đồng tóc dàitên gọi Tiết Đồng kia từ sau giờ ngọ không thấy bóng dáng đâu, lúc này lại chạy xồng xộc đến, cầm theo một xâu chim, có đến hơn chục con, gồm chim chìa vôi, hoa mai tước, tiểu đậu tước…Cậu ta đứng dưới gốc cây liễu giơ cao xâu chim lên cho Vương Vi nhìn, tất cả là do cậu tự dùng ná để bắn.
Vương Vi hơi sẵng giọng:
Mặt trời chưa lặn thì ngươi không biết đường mà về đúng không. Ngươi bắn nhiều chim thế để làm gì?
Vi Cô đừng quở trách con, con có thứ rất lạ cho cô xem đây.
Tiết Đồng cười hì hì, đặt xâu chim lên mặt đất. Rồi như làm trò ảo thuật, trong tay cậu lại xuất hiện thêm một cành sen với nụ hoa sắp nở, không ngờ là sen tịnh đế.
Vương Vi vui vẻ nói:
Sen tịnh đế Côn Sơn đó ư, ngươi hái được ở đâu vậy?
Tiết Đồng nói:
Ở ngay bên hồ thôi ạ, mà chỉ có mỗi cành này thôi.
Vương Vi nói:
Hoa còn chưa nở, thật tiếc quá.
Thấy được sen tịnh đế Côn Sơn là điềm lành, điềm báo may mắn. Tương truyền vào cuối thời nhà Nguyên, đệ tử Cố A Anh của đạo nhân nổi tiếng Dương Thiết Nhai lấy được dị chủng từ Thiên Trúc, phải kỳ công chăm chút mãi mới thành, vô cùng khó khăn. Thế mà bên bờ hồ Tiết Điến này lại có sen Tịnh Đế dại, thật là điều hiếm hoi lạ thường.
Vương Vi nói:
Tiểu đồng, đem hoa lại đây cho ta.
Tiết Đồng liền ném cành hoa sen Tịnh Đế về phía mui thuyền. Vương Vi nhanh tay nhanh mắt, giơ tay lên đón ngay được cành hoa, giơ lên ngắm nghía. Mục Chân Chân đứng bên cạnh thầm phục Vương tỷ tỷ quả là người rất nhanh nhẹn.
Xâu chim dưới chân Tiết Đồng đột nhiên ngọ ngoạy. Tiếng chim trong vắt, giống như đang kêu: “xin tha mạng, xin tha mạng….”
Tiết Đồng nói:
Có một con chim còn chưa chết.
Nói rồi cậu định lấy chân dẫm lên, Vương Vi vội ngăn lại:
Dừng lại.
Nàng hỏi Mục Chân Chân đang đứng ngay bên cạnh:
Chân Chân, ngươi thử nghe xem con chim này đang kêu gì vậy?
Mục Chân Chân cười nói:
Kỳ lạ nhỉ, hình như nói vừa kêu xin tha mạng.
Con chim đó vẫn đang kêu lên thảm thiết, nghe giống như “xin tha mạng”, nghe kỹ thì lại không thấy giống, chỉ là tiếng kêu của chim mà thôi.
Vương Vi nói:
Tiểu đồng, thả con chim này ra đi.
Tiểu Đồng ngồi xổm xuống kiểm tra một chút, rồi nói:
Cánh bên trái của nó bị thương rồi, có thả ra cũng không bay được. Vi Cô có muốn nuôi nó không?
Vương Vi nói:
Vậy thì cứ nuôi nó đi đã. Diêu Thúc, ông lên trên phố mua một cái lồng chim đi.
Tiết Đồng dùng một con dao nhỏ năm tấc đi ra bờ hồ mổ chim. Tiết Đồng mới hơn mười tuổi, giết chim rất tài, tay chân lanh lẹ, vèo cái đã làm thịt xong hơn mười con chim, cậu ta đến nhờ Vương Vi chế biến.
Lúc này Vương Vi trải một tấm chiếu ở mui thuyền, mang ra một cái bàn nhỏ, bông sen Tịnh đế được cắm trong cái bình gốm xanh. Vương Vi ngồi trên chiếu, trải giấy mài mực, nàng muốn vẽ bông hoa này. Liếc nhìn Tiết Đồng một cái, nàng nói:
Lấy một hào bạc, đem lên quán ăn trên thị trấn bảo người ta chế biến cho, ăn xong rồi mau về đây, chớ có ham chơi đấy.
Tiết Đồng dạ một tiếng rồi lao vút đi.
Bọn Tố Chi, Lục Mai đều ngồi xung quanh Vương Vi để xem nàng vẽ hoa sen. Vương Vi vốn học vẽ hoa lan và trúc từ dưỡng mẫu Mã Tương Lan. Từ năm kia bắt đầu được Trần Mi Công chỉ bảo, dùng mực màu hơi khô, đưa sơ vài nét phác họa lan trúc, nét bút trong nhu có cương, lúc này dùng mực nước để vẽ sen tịnh đế rồi chấm phá thêm các nét để tô điểm. Khi trời xẩm tối thì bức tranh sen tịnh đế đã vẽ xong, nàng ghi lên đó dòng chú thích <Đạo nhân áo cỏ họa trên thuyền Thanh Phổ vào cuối ngày mùa hạ năm Vạn Lịch thứ 42>.
Mục Chân Chân thấy Vương Vi vẽ quá đẹp, miệng khen không ngớt:
Vương tỷ tỷ vẽ đẹp quá, giống như thiếu phu nhân nhà nô tỳ vậy. Thiếu phu nhân nhà nô tỳ lần trước vẽ bức tranh đá cầu, còn vẽ cả sáu bức tranh làm lồng đèn, có một bức vẽ con ếch ở dưới đóa hoa mẫu đơn, vẽ giống đến mức con ếch như sắp nhảy ra ngoài vậy.
Vương Vi đến ngồi trong khoang của Trương Nguyên, nghe Mục Chân Chân nói vậy, bèn hỏi:
Giới Tử tướng công đã thành thân rồi ư? Là tiểu thư nhà nào vậy?
Mục Chân Chân đáp:
Là tiểu thư Thương thị ở Hội Kê, năm ngoái đã đặt sính lễ nhưng vẫn chưa thành hôn.
Vương Vi “ồ” lên một tiếng. Một lát sau, nàng hỏi:
Vậy Thương tiểu thư đích thị là tài mạo song toàn đúng không?
Mục Chân Chân gật đầu nói:
Thưa vâng, dung mạo xinh đẹp, lại vừa đa tài vừa hiền thục. Nãi nãi nhà nô tỳ rất thích, thiếu gia lại càng thích.
Niềm vui vẽ được bức tranh sen tịnh đế của Vương Vi nhạt dần, nàng thấy có cảm giác hơi chua xót trào dâng trong lòng, đó không phải là ghen tị, cũng không phải hâm mộ, chỉ là cảm thấy tự thương thân mình. Phụ thân nàng vốn đang học ở Tuy Dương châu thì cáo bệnh về quê, rồi qua đời trên đường đi, kế mẫu liền bán nàng cho nhà nuôi dưỡng sấu mã ở Dương Châu, cuỗm hết của cải chạy mất. Quan tài của cha nàng lúc đó phải gửi lại trong một ngôi chùa nhỏ ở nơi nào đó ở Giang Bắc, khi đó nàng còn nhỏ tuổi, không nhớ được tên nơi đó và tên ngôi chùa, chỉ biết rằng vẫn chưa qua sông, ở phía bắc của Dương Châu.
Trời tối hẳn, Mục Chân Chân châm đèn, ngước mắt nhìn thấy Vương Vi đang ngồi trầm mặc, đôi mày thanh tú nhíu lại, đôi mắt đẹp u buồn, không biết đang suy nghĩ điều gì?
Mục Chân Chân không dám quấy rầy, tự lấy cuốn ra đọc.
Vương Vi đã định thần lại, thấy Mục Chân Chân đang xem thì ngạc nhiên hỏi:
Chân Chân đọc được sách sử ư?
Nữ tử đọc được sách sử rất ít, phần lớn là đọc những bài thơ phong hoa tuyết nguyệt mà thôi.
Mục Chân Chân có chút đắc ý, nhưng lại không dám để lộ ra, nói:
Đều là thiếu gia nhà nô tỳ dạy cả đấy ạ, năm ngoái nô tỳ còn không biết chữ, , cũng đều là do thiếu gia cho nô tỳ đọc.
Vương Vi nhìn thấy bộ dạng thích thú của thiếu nữ đọa dân này liền khen:
Chân Chân muội muội thông minh lắm, lại xinh đẹp nữa, thiếu gia nhà muội cũng thích muội đúng không?
Mục Chân Chân lập tức đỏ bừng cả khuôn mặt, ánh mắt không biết nên nhìn vào đâu.
Vương Vi trong lòng rung động, cùng là phận tỳ nữ nhưng Mục Chân Chân lại không giống như bọn Tố Chi và Lục Mai, bộ dạng như chưa từng bị ai nói động đến bao giờ, nếu không đã không tỏ ra xấu hổ thẹn thùng đến như vậy.
Thấy Mục Chân Chân thẹn thùng khó xử, Vương Vi cười nói:
Chân Chân đọc sách đi, ta đi nghỉ đây.
Mục Chân Chân vô cùng xấu hổ, chỉ mong Vương Vi mau chóng rời khỏi, nghe thấy tiếng Vương Vi đi vào khoang thuyền bên cạnh là lại vùi đầu vào đọc . Các dòng chữ trong trang sách đều hiện ra rõ ràng trước mắt, nhưng lại chẳng vào đầu nàng chữ nào cả, tư tưởng không tập trung mà.
Mục Chân Chân khêu sáng thêm bấc đèn, rồi ngây người nhìn ngọn đèn dầu, nghĩ tới câu nói ban nãy của Vương Vi, khuôn mặt nàng lại đỏ ửng lên.
Phạm Văn Nhược tửu lượng rất tốt, nói chuyện hăng say, nâng cốc tâm tình với ba huynh đệ Trương Nguyên, đến cuối giờ tuất mới về đến bờ sông. Thuyền của Phạm Văn Nhược neo ngay bên cạnh thuyền đu, mọi người chắp tay cáo biệt trên bờ rồi ai về thuyền nấy để nghỉ ngơi.
Trương Đại, Trương Ngạc có vẻ hơi say, Năng Trụ và Phùng Trụ phải dìu. Trương Nguyên khá ổn, biết là uống rượu quá nhiều sẽ hại sức khỏe nên về sau hắn dùng trà thay rượu. Ba huynh đệ bước lên mui thuyền, bỗng nghe thấy tiếng kêu: “xin tha mạng…”
Trương Nguyên giật mình kinh hãi, giương mắt nhìn thì không thấy có người.
Trương Ngạc mở to đôi mắt say xỉn, lờ đờ nhìn xung quanh, hỏi:
Ai, ai muốn xin tha mạng?
Trương Đại cũng say khướt hỏi:
Tha mạng cho ai?
Mục Kính Nham nói:
Là tiếng chim kêu đấy ạ.
Nói rồi lão đi ngang qua, tới bên cửa khoang ở mui thuyền nhấc xuống một chiếc lồng chim, con chim trong lồng giống như chim bồ câu, có bộ lông màu đen giống như chim bát ca. Mấy người Trương Đại, Trương Nguyên và Trương Ngạc đều chưa từng nhìn thấy loại chim này. Đúng lúc này, con chim lại đột nhiên kêu lên: “xin tha mạng…”
Trương Ngạc cười ha hả, nói:
Trẫm xá ngươi vô tội, tha mạng cho nhà ngươi.
Tiết Đồng từ trong khoang thuyền chui ra, kiễng chân giơ tay về phía Mục Kính Nham đòi lồng chim, nói:
Lồng chim là của cháu, Vi Cô nhà cháu muốn nuôi nó.
Chương 243: Vẻ đẹp của ánh bình minh.
Mục Kính Nham đưa lại lồng chim cho tiểu đồng, cười nói:
Đây không phải là vẹt mà lại nói được, thật kỳ quái.
Trương Ngạc hỏi tiểu đồng:
Vi Cô nhà ngươi ở đâu?
Tiểu đồng đáp:
Vi Cô đã ngủ rồi ạ.
Trương Ngạc nói:
Đêm đẹp như thế này mà đi ngủ thì thật đáng tiếc, mau gọi nàng dậy uống rượu thưởng nguyệt với huynh đệ ta.
Trương Đại đỡ say hơn Trương Ngạc một chút, nói:
Tam đệ, đêm nay là ba mươi tháng năm, không có trăng.
Trương Ngạc lắc lắc cổ, ngửa mặt nhìn trời, nói:
Không có trăng thì ngắm sao.
Nói rồi gã kêu lên:
Vương Vi cô, ra ngắm sao nào!
Lớn tiếng gọi Vương Vi cô như vậy thật không ra làm sao, Trương Nguyên biết tam huynh đã uống say là thích hát, liền nói:
Tam huynh, hát bài <Đơn đao hội> đi.
Không.
Trương Ngạc từ chối, nói:
Hôm nay không hát <Đơn đao hội>, phải hát
Nói rồi gã ngồi ngay mui thuyền, tay vỗ vào mạn thuyền, hát rống lên:
“Mắt đói nhìn xuyên thấu hết, miệng thèm tứa nước miếng không buồn nuốt, bệnh tương tư thấu cả vào xương tủy ta, ánh mắt đẹp kia khẽ liếc, đừng nói là tiểu sinh, chứ ngay cả người sắt đá cũng phải lụy tình. Gần hiên đình, hoa liễu tranh nhau khoe sắc. Cảnh xuân ngay trước mắt, sao người ngọc không màng, tòa Phạm Hoàng cung cứ ngỡ là Vũ Lăng nguyên…”
Trương Đại cũng hứng trí hát:
“Rồi sau này đóa hoa đẹp đơn côi, trái anh đào dần nhạt phai hương sắc, mối tương tư này có từ khi nào nhỉ? Mê đắm chìm sâu như biển đen, trắng xóa mênh mang như mặt đất, xanh thăm thẳm như bầu trời; ngước lên nhìn cao như Thái Hành sơn, tâm tư sâu thẳm như biển Đông, độc hại đến thế này sao…”
Trương Nguyên đứng bên cạnh không nhịn được cười, đại huynh và tam huynh đang kể ra nỗi khổ tương tư đây mà. Vương Vi ở cùng thuyền khiến cho hai tộc huynh của ta mê đến thất điên bát đảo, phiền phức rồi, hồng nhan gây họa sao?
Chợt nghe thấy Trương Ngạc kêu lên:
Giới Tử, ta không đánh cược Lý Tuyết Y với đệ, chỉ đánh cược Vương Vi cô với đệ thôi.
Trương Nguyên vội nói:
Tam huynh say rồi, mau đi ngủ đi.
Trương Ngạc nói:
Ta có say đâu. Phạm huynh, Văn Nhược huynh, huynh nói xem đệ đã say chưa?
Thuyền bên cạnh truyền đến tiếng ngáy mơ hồ, Phạm Văn Nhược đã chìm vào giấc ngủ.
Đầu tháng sáu, tiểu thử.
Khi trời tờ mờ sáng, Mục Chân Chân đã dậy, dậy sớm là thói quen của nàng, ngủ trên thuyền thì nàng càng phải dậy sớm hơn, nếu không bị các gã đàn ông nhìn thấy bộ dạng khi đang ngủ thì thật xấu hổ lắm.
Trong khoang có một bức bình phong bằng trúc cao bốn thước, dùng để ngăn khoang ra làm đôi, bên này bình phong là Mục Chân Chân và Trương Nguyên, có hai chiếc chiếu và một án thư, ngoài ra còn có mười rương gỗ xếp chồng lên nhau và hai cây treo quần áo. Bên kia bình phong là chỗ ngủ của Tông Dực Thiện, Vũ Lăng, Lai Phúc và Mục Kính Nham. Con thuyền đu này tuy rộng nhưng khoang thuyền cũng chỉ có bốn buồng, nên khó tránh khỏi việc chủ tớ, nam nữ phải ở chung.
Ánh nắng xuyên vào cửa buồm, Mục Chân Chân ngồi trên ghế buộc lại áo, vừa nghiêng đầu nhìn thiếu gia đang nằm ngủ bên cạnh. Thiếu gia nằm ngửa, tuy mắt chưa mở nhưng có thấy dưới mí mắt, tròng mắt đang động đậy. Mục Chân Chân cười thầm, nghĩ bụng:
“Lại làm thiếu gia tỉnh giấc rồi.”
Trên thuyền, mỗi buổi sáng bất luận nàng nhẹ chân nhẹ tay đến thế nào thì cũng đều đánh thức thiếu gia. Hơn nữa thiếu gia rất cẩn thận, hoặc là nhắm mắt, hoặc là xoay nghiêng người, đợi nàng chỉnh đốn lại y phục sau đó đứng dậy dọn dẹp chăn chiếu rồi mới duỗi dài lưng làm ra bộ vừa tỉnh giấc do mê ngủ. Như vậy thì nàng không cần phải trốn ở trong chăn để mặc lại áo váy.
Chắc cũng tương đối rồi, Trương Nguyên nghe thấy tiếng chìa khóa va leng keng, xâu chìa khóa đó trừ lúc ngủ đêm, bình thường khi nào Mục Chân Chân cũng đeo vào túi nhỏ ở thắt lưng, giống như một bà quản gia vậy.
Trương Nguyên duỗi dài chân tay, nằm thẳng lưng rồi mở to mắt. Đầu tiên hắn nhìn thấy chiếc váy bằng vải xanh bao quanh cặp mông tròn căng chắc nịch, hai chân lót dưới mông, bàn chân áp sát mặt sàn, ngón chân hơi gập lên, khi cặp mông tròn trịa cũng nhâng lên theo, có thể nhìn thấy cả đường vân trong lòng bàn chân và nếp gấp dày ở mũi bàn chân.
Thiếu nữ nghe thấy tiếng thiếu gia duỗi người, quay đầu lại, cười nói:
Thiếu gia tỉnh rồi à?
Nàng vừa nói vừa gấp vuông vắn tấm thảm mỏng trong tay.
Tư thế ngồi xổm rồi quay người lại phía sau của Mục Chân Chân quả thực rất gợi cảm, eo lưng xoay uốn cong, ống tay áo cũng nghiêng theo, trông như một bức điêu khắc tuyệt đẹp và tràn đầy sinh lực.
Trương Nguyên để hai tay sau gáy, cười nói:
Ta muốn học vẽ để vẽ Chân Chân.
Kỳ thực hắn rất muốn thò tay ra vỗ vào cặp mông kia, có thể tưởng tượng ra được sướng tay đến mức độ nào.
Mục Chân Chân thấy ánh mắt của thiếu gia dừng lại ở phía sau lưng mình, không khỏi ngượng ngùng. Nàng vội xoay người lại, nói:
Thiếu phu nhân Đạm Nhiên biết vẽ đó, sao thiếu gia không học vẽ từ thiếu phu nhân?
Trương Nguyên nói:
Bận quá, sau này sẽ kêu Đạm Nhiên tiểu thư vẽ cho ngươi một bức.
Mục Chân Chân trong lòng vui mừng, nhớ ra hôm qua Vương Vi vẽ hoa sen, liền nói:
Thiếu gia, Vương Vi Cô cũng vẽ đẹp lắm, hôm qua đã vẽ một cành sen tịnh đế, nô tỳ tuy không biết thưởng thức nhưng cũng cảm thấy rất đẹp.
Trương Nguyên “ồ” lên một tiếng, ngồi dậy nói:
Vương Vi Cô là đệ tử của Trần Mi Công, tất nhiên là giỏi thi họa rồi. Cô ta vẽ sen tịnh đế để làm gì?
Trong bụng hắn lại nghĩ:
“Tương tư rồi ư?”
Mục Chân Chân nói:
Tiểu đồng của Vương Vi Cô ngắt được bông sen tịnh đế ở bên bờ hồ, hoa hãy còn chưa nở. Vương Vi Cô liền vẽ lại bông sen đó, vẽ nhanh lắm.
Vừa nói nàng vừa đi giày vải, rồi lại nói tiếp:
Thiếu gia có muốn xem bức tranh đó không, nô tỳ đi lấy mang lại cho thiếu gia xem?
Trương Nguyên cười nói:
Có ai thức dậy sớm như ngươi đâu, trời còn chưa sáng rõ mà. Chân Chân cùng ta đi dạo bên bờ hồ một lát, nơi đây có sen tịnh đế, thật là hiếm thấy.
Mục Chân Chân “vâng” khẽ một tiếng, thò tay cầm lên tiểu bàn long côn đặt ở dưới gối.
Mấy người chèo thuyền vẫn chưa ngủ dậy, Trương Đại, Trương Ngạc đêm qua uống nhiều rượu lại càng khỏi nói, đang ngủ rất ngon lành. Con thuyền nhỏ của Phạm Văn Nhược neo ngay bên cạnh cũng rất tĩnh lặng, một lớp sương mỏng bao phủ lên mặt hồ, trời vẫn chưa sáng rõ, bờ bên kia thấy có loáng thoáng bóng cây và bóng người.
Mục Chân Chân đặt tấm ván cầu, Trương Nguyên bước lên bờ, thò tay bẻ một cành liễu, đặt cành liễu vào miệng chậm rãi nhai. Mục Chân Chân nhìn thấy, vội về khoang thuyền lấy bột đánh răng và khăn vải, xách theo một cái giỏ tre nhỏ, đi theo phía sau thiếu gia.
Ven theo bờ sông đi xuống chừng nửa dặm là tới hồ Tiết Điến. Lúc này trời đã sáng hơn một chút, trong hồ vẫn còn sương mù, chỗ nước cạn bên trái có bụi cỏ lau màu xanh nhạt, gió thổi nhè nhẹ, mặt nước không gợn sóng, bóng núi mờ ảo, cảnh trí thật trong lành. Trương Nguyên phóng tầm mắt, trên bờ hồ mờ mịt không có bóng người, cũng không nhìn thấy được nơi nào có hoa sen, bèn tìm một bờ đá, múc nước hồ rửa mặt đánh răng sau đó luyện hai lượt thái cực quyền.
Mục Chân Chân lúc này cũng rửa mặt xong, lấy từ trong giỏ tre ra tiểu bàn long côn, bắt đầu hăng say luyện côn trong ánh mắt tán thưởng của thiếu gia. Côn ảnh tung hoành, biến ảo khôn lường. Đang khi luyện côn hăng say thì đột nhiên nàng thu côn về, nói:
Thiếu gia, có người tới.
“Xin tha mạng, xin tha mạng…..”
Không cần kêu tha mạng, đã tha mạng chim cho ngươi rồi đấy thôi, hãy gọi ‘Vi Cô, trời sáng rồi’, gọi đi, gọi ‘Vi Cô trời sáng rồi.
Đây là tiếng của con chim lông đen kia và Tiết Đồng.
Tiết Đồng kiên trì dạy vài lượt, con chim vẫn im bặt, Tiết Đồng bèn nói:
Vi Cô, đây là con chim ngốc nghếch, vứt nó đi.
Trương Nguyên thầm nghĩ:
Vương Vi cũng tới rồi, nữ lang này cũng dậy sớm ghê.
Ngươi cầm lấy cái bình, để ta dạy nó nói.
Đây là tiếng nói của Vương Vi, giọng nói mềm mại trong trẻo như chim hoàng oanh. Khi giáp mặt vì ngây ngất bởi nhan sắc của nàng nên ấn tượng về giọng nói không sâu sắc lắm. Lúc này ngăn cách cả vạt cỏ lau và rừng liễu, giọng nói khiến người ta tỉnh hẳn người, nhẹ nhàng như gió thoảng vậy.
Tiết Đồng dọa con chim:
Chịu khó theo Vi Cô học nói đi nhé, nếu không ta sẽ ăn thịt nhà ngươi đó.
Xin tha mạng…
Tiếng “xin tha mạng” xem ra lại rất hợp cảnh. Tiết Đồng cười to rồi đột nhiên im bặt, nó nhìn thấy Trương Nguyên và Mục Chân Chân, vội cúi người chào:
Xin chào Trương tướng công.
Nữ lang Vương Vi giơ chiếc lồng chim nhỏ bằng trúc lên, vừa đi chầm chậm vừa dạy chim nói “Vi Cô, Vi Cô…”, nghe thấy Tiết Đồng kêu “Trương tướng công” liền hạ lồng chim xuống, thấy Trương Nguyên ngồi trên một phiến đá lớn trên bờ, đang mỉm cười nhìn nàng.
Xin chào Giới Tử tướng công.
Vương Vi đưa lồng chim trong tay cho Tiết Đồng, nhẹ nhàng vén áo thi lễ với Trương Nguyên, rồi lại nói:
Chào Chân Chân.
Trương Nguyên đứng lên, chắp tay thi lễ nói:
Chào Vương cô nương.
Vương Vi cắn nhẹ hàm răng trắng tinh vào môi dưới, nói:
Trương tướng công, xin hãy gọi tiểu nữ tử là Vương Vi hoặc là Vương Tu Vi, có được không?
Nam Kinh Cựu viện xưa có tập tục người hầu xưng với khúc trung nữ lang là “nương, cô nương”, người ngoài thì gọi khúc trung nữ lang là “tiểu nương”. Bởi vậy Vương Vi nghe thấy Trương Nguyên gọi nàng là “Vương cô nương”, đương nhiên phải đính chính, nhưng lại không muốn Trương Nguyên gọi nàng là “tiểu nương”, nên kêu Trương Nguyên gọi thẳng tên của nàng, nàng họ Vương tên Vi, tên chữ là Tu Vi, hiệu là đạo nhân áo cỏ.
Chương 244: Khó cầu một đêm vui (1).
Trương Nguyên “ồ” lên một tiếng rồi lại hỏi:
Ta nghe Mi Công gọi cô nương là Vương Quan, là có ý gì vậy?
Vương Vi đỏ bừng mặt, đáp nhẹ:
Đó là tên thân mật của tiểu nữ tử.
Tên thân mật cũng giống như tên mụ, thường là bậc bề trên hoặc người có quan hệ thân thiết mới dùng tên thân mật.
Trương Nguyên nói:
Vậy thì ta gọi cô nương là Vương Tu Vi nhé.
Thấy bình gốm trong tay Tiết Đồng, trong bình có cắm một cành hoa sen chưa nở, đó chính là sen tịnh đế, liền vui vẻ nói:
Có sen tịnh đế thật ư, sắp nở rồi đó.
Vương Vi nhìn cành sen tịnh đế, rồi lại liếc mắt qua Tiết Đồng, nói:
Tiếc là Tiết Đồng không biết, đã hái xuống mất rồi. Không biết nuôi dưỡng trong bình thì có nở được không?
Tiết Đồng nói:
Vi Cô đừng trách nô tài, để nô tài lại đưa Vi Cô đi tìm sen tịnh đế.
Nói rồi một tay cậu ta nhấc lồng chim, một tay cầm bình sứ, nhanh nhẹn đi về về phía bờ đông.
Vương Vi đi theo sau, khi đi ngang qua Trương Nguyên, nàng mỉm cười hỏi:
Giới Tử tướng công có cùng đi xem không? Tiết Đồng nói bên kia có một vạt hoa sen.
Trương Nguyên nói “được” rồi cùng với Mục Chân Chân theo Vương Vi, Tiết Đồng đi ven theo bờ đông của hồ.
Đi được vài trượng thì thấy gió hồ thổi tới, Trương Nguyên ngửi thấy có mùi lá sen và hoa sen. Nhờ bị đau mắt năm kia nên khứu giác và thính giác của Trương Nguyên lại nhạy bén hơn người.
Đi qua một hàng cây liễu nhưng vẫn chỉ thấy toàn lá sen, màu lá xanh biếc che kín cọng, những đóa sen trắng, sen hồng điểm xuyết giữa những tấm lá sen xanh mướt, chúng chen chúc nhau, tự lay động dù không có gió.
Tiết Đồng chỉ vào một cái cọng sen gần bờ đã bị ngắt đứt, nói:
Vi Cô, chính là hôm qua nô tài…
Con chim lông đen trong lồng đột nhiên vươn cổ kêu lên:
Vi Cô!
Tiết Đồng ban đầu chưa kịp định thần, nói:
Đừng có xen vào.
Ngay sau đó nó kinh ngạc kêu lên:
Con chim này biết nói tiếng người!
Nói rồi lại giục con chim:
Gọi ‘Vi Cô’ lại đi.
Con chim kia lại kêu lên ‘Vi Cô’ thật, khiến cho Tiết Đồng vui sướng hoa chân múa tay, luôn miệng nói:
Hay quá, hay quá.
Trương Nguyên nhìn kỹ con chim, nói:
Nó giống như hắc vũ linh điểu, tục gọi là hắc lĩnh bát ca, nhưng nói được mà lại nói rõ đến như vậy thì quả là hiếm gặp, hẳn là đã được dạy dỗ thành thục rồi.
Tiết Đồng vội nói:
Con chim này nô tài bắn được ở bên hồ, không có chủ.
Vương Vi cười nói:
Con chim này ban đầu kêu ‘xin tha mạng’, giống như có liên quan đến vụ án mạng người vậy.
Tiết Đồng nói:
Có khi gặp phải kẻ cướp đường, chủ nhân nó kêu to xin tha mạng nên nó học theo, nếu đã cướp của rồi thì chắc không đến nỗi giết người đâu.
Trương Nguyên liếc nhìn Tiết Đồng, thằng bé mới chục tuổi đầu mà nói năng như người từng trải vậy.
Vương Vi nói:
Không cần suy đoán lung tung, đi tìm sen tịnh đế đi.
Tiết Đồng, Vương Vi và Mục Chân Chân ở trên bờ tìm kiếm cẩn thận trong đám hoa sen. Mắt của Trương Nguyên không được tốt, nên tay phe phẩy quạt, nhìn bâng quơ xung quanh.
Ba người tìm một hồi lâu, vẫn không thấy sen tịnh đế. Tiết Đồng vội la lên:
Sao lại không có nhỉ, để con sang bờ bên kia xem sao.
Lúc này trời đã sáng rõ, mặt trời lộ ra từ phía đằng đông. Trương Nguyên nói:
Đừng tìm nữa, sen tịnh đế là giống khác, có thể gặp được nhưng không thể cầu được. Lấy chút bùn hồ cho vào trong bình, đổ nước vào rồi cắm hoa, thì may ra bông sen tịnh đế này cũng có thể nở được.
Tiết Đồng y lời lấy chút bùn ở hồ cho vào đáy bình, rót vào một chút nước hồ rồi cắm bông sen tịnh đế vào. Nước trong bình tràn ra ngoài làm ướt hết cả vạt áo. Một tay nó cầm bình gốm, một tay xách lồng chìm, theo Vương Vi đi về.
Mục Chân Chân xách lấy giỏ tre, thấy Tiết Đồng không còn tay nào trống, chỉ sợ nó sảy chân làm vỡ bình gốm xanh eo cao, liền hỏi:
Đưa tỷ cầm bình hoa cho?
Tiết Đồng lại lắc đầu nói:
Không cần.
Thấy tiểu bàn long côn trong giỏ tre của Mục Chân Chân, nó hỏi:
Mục tỷ tỷ luyện côn này à?
Mục Chân Chân “ừ” một tiếng.
Tiết Đồng còn muốn hỏi nữa, nhưng lại ngậm miệng, nét mặt chăm chú, một tay xách lồng chim, một tay cầm bình gốm, bước đi rất vững chắc.
Vương Vi đi ở phía trước hỏi Trương Nguyên:
Giới Tử tướng công, tiểu nữ tử nghe nói tướng công và Yến Khách tướng công muốn đánh cược Lý Tuyết Y, hà cớ phải cầu kỳ như vậy?
Trương Nguyên nói:
Ta nói giỡn mà thôi.
Vương Vi nghiêm túc nói:
Giới Tử tướng công muốn gặp Lý Tuyết Y có khó gì, Lý Tuyết Y là tỷ muội với tiểu nữ tử, giỏi đàn hát, dung mạo lại đoan trang xinh đẹp. Tới Kim Lăng, tiểu nữ tử sẽ dẫn Giới Tử tướng công tới gặp, có được không?
Nói rồi nàng duyên dáng ngước nhìn Trương Nguyên không chớp mắt.
Trương Nguyên mỉm cười, nói:
Vậy ta làm phiền rồi.
Vừa nói hắn vừa nhìn Vương Vi. Vương Vi khẽ mím môi, không nói gì. Cả hai đều không nói gì nữa, im lặng bước bên nhau, rồi đột nhiên cùng phá lên cười.
Ánh mặt trời chiếu lên đỉnh núi, ánh nắng chiếu khắp mặt đất. Vận tải đường sông lập tức náo nhiệt trở lại, thuyền bè đi lại giống như đột nhiên từ đáy sông nổi lên vậy, bận rộn qua lại không ngớt. Thị trấn Chu Gia Giác có chợ gạo lớn nhất Tùng Giang, đại đa số là thuyền buôn qua lại để buôn bán gạo.
Phạm Văn Nhược đứng ở mũi thuyền, nhìn Trương Nguyên và nữ lang Vương Vi đi tới, cười nói:
Giới Tử hiền đệ, mới sáng sớm đã cùng hồng nhan tri kỷ đi tản bộ tâm sự đó à?
Trương Nguyên cười ha hả:
Phạm huynh tửu lượng rất khá, đêm qua đã chuốc ba huynh đệ ta say mèm. Phạm huynh, xin mời sang thuyền bên này, bọn đệ chuẩn bị lái thuyền đi Trinh Phong Lý.
Gương mặt Vương Vi tựa hoa đào, hướng về Phạm Văn Nhược thi lễ. Nàng khẽ nâng vạt áo, bước lên thuyền trước. Trương Nguyên ở trên bờ, đợi Phạm Văn Nhược cùng lên thuyền, một mặt dặn dò Lai Phúc khẩn trương vào thị trấn mua dưa, rượu và đồ nhắm.
Một khắc sau, thuyền đu ba mái chèo nhẹ nhàng lái ra khỏi kênh đào. Con thuyền nhỏ của Phạm Văn Nhược ở phía sau. Hai thuyền một lớn một nhỏ xuyên ngang qua hồ Tiết Điến, qua Cấp Thủy cảng đến Trinh Phong Lý, đường thủy chừng hai mươi dặm, một canh giờ là có thể đến nơi.
Đầu giờ thìn, hai thuyền vào đến giữa hồ. Phạm Văn Nhược, Trương Nguyên và Tông Dực Thiện đứng ở mũi thuyền ngắm cảnh non nước tươi đẹp. Gió nhè nhẹ thổi nhưng thấy bốn bề vắng lặng, sóng êm gió lạnh, mặt nước phẳng lặng. Cảnh sắc đẹp không thua kém Tây hồ ở Hàng Châu, nhưng lại vắng vẻ tĩnh mịch hơn Tây Hồ.
Tông Dực Thiện nói:
Nước hồ Tiết Điến ngọt lành có tiếng, ta thử lấy nước hồ đun pha trà xem sao?
Trương Nguyên nói:
Đợi đại huynh Trương Tông Tử của đệ tỉnh dậy rồi hãy pha trà. Đại huynh là bậc đại sư trà đạo, hiểu biết về chất lượng nước, loại nào hay là biết ngay.
Trương Đại, Trương Ngạc vẫn chưa tỉnh rượu, vẫn còn đang ngủ rất ngon.
Mục Chân Chân cầm một bức họa đi tới, nói:
Thiếu gia, đây là bức tranh sen tịnh đế mà Vương cô vẽ, chẳng phải thiếu gia nói rằng muốn xem ư, tỳ nữ mượn được của Vương Vi Cô mang tới đây.
Trương Nguyên nhận lấy bức tranh, cùng Phạm Văn Nhược và Tông Dực Thiện thưởng thức. Tông Dực Thiện nói:
Tuy không có cốt họa pháp, nhưng có phần cương trực ở màu mực đậm nhạt, có trân chuyền của Trần Mi Công rồi.
Phạm Văn Nhược hiện giờ đã biết thân phận của Tông Dực Thiện, người có thể chấp bút thay cho Đổng Kỳ Xương thì chắc chắn tu dưỡng không thấp.
Trương Nguyên hỏi:
Dực Thiện huynh, huynh thấy thư họa của Trần Mi Công so với Đổng Huyền Tể như thế nào?
Tông Dực Thiện chần chờ một lát rồi nói:
Sàn sàn như nhau. Mi Công thì ung dung thanh nhàn, Đổng Công thì thanh thú tươi nhuận, mỗi người một vẻ.
Trương Ngạc vừa ngáp vừa đi ra, nghe thấy bọn Trương Nguyên đang bàn luận về thư họa của Đổng Kỳ Xương liền nói:
Giờ không ai muốn thư họa của Đổng Kỳ Xương nữa rồi, kỳ thực thư họa phần lớn là để cầu danh, ở Thiệu Hưng ta có nhiều người thư họa tốt hơn nhiều so với Đổng Kỳ Xương, chỉ có điều công danh không có, có họa tốt mấy cũng uổng phí, chỉ quanh quẩn ở quê nhà mà thôi.
Câu nói này của Trương Ngạc cũng là có hiểu biết. Triệu Tả là người Hoa Đình, bắt chước vẽ giả tranh của Thẩm Chu, bút mực cứng cáp, vẽ rất đẹp, cũng là bởi vì không có tên tuổi nên chỉ có thể vẽ thay Đổng Kỳ Xương để kiếm tiền nuôi sống gia đình. Người đời thực sự hiểu rõ về thư họa không nhiều, đặc biệt là những thương nhân giàu có trưởng giả học làm sang, mua tranh chỉ nhìn người chứ không nhìn tranh, nghe nói thư họa của Đổng Kỳ Xương là vội vàng đổ xô vào, trên trăm lượng bạc cũng dám chi. Những bức họa không có danh tiếng có tốt mấy cũng không cần, Triệu Tả vẽ tranh ký tên mình thì bán không tới 1 đến 2 lượng bạc, không ký tên mà giao cho Đổng Kỳ Xương, lão viết thêm vào vài chữ, đóng dấu, là lập tức có người đến xin mua với giá trên trăm lượng bạc, sau đó Đổng Kỳ Xương trả Triệu Tả năm lượng bạc tiền vẽ thuê, Triệu Tả còn phải đội ơn lão.
Nhìn thấy bức tranh sen tịnh đế mà Vương Vi vẽ, Trương Ngạc vui vẻ nói:
Hoa nở tình vợ chồng mặn nồng, hay! Hay! Bức tranh này bán cho ta, Chân Chân, ngươi giúp ta đi hỏi Vương Vi Cô xem bức họa này giá bao nhiêu bạc?
Mục Chân Chân đi rồi quay trở lại ngay, nói:
Tam công tử, Vương Vi Cô nói rằng bức tranh này không bán, muốn tự mình giữ lại.
Phạm Văn Nhược cười nói:
Vẽ lên thì là sen tịnh đế, vẽ xuống thì người thành đôi. Bức họa này đương nhiên là không tùy ý bán rồi, có lẽ ngày nào đó sẽ đem tặng cho ai đó.
Chương 244: Khó cầu một đêm vui (2).
Trương Đại cũng đã ngủ dậy, đi ra xem bức tranh của Vương Vi, khen bức tranh rất đẹp.
Trương Ngạc nói:
Để đích thân ta tự đi hỏi Vương Vi Cô, nhất định phải làm cho nàng đem bức tranh này tặng cho ta.
Đi đến khoang của Vương Vi, thấy cửa khép hờ, gã đẩy cửa nhìn vào bên trong, thấy Vương Vi đang ăn cháo, liền cười hỏi:
Vương cô nương, bức tranh vẽ sen tịnh đế của cô nương rất đẹp, có thể tặng cho ta được không?
Vương Vi buông đũa xuống, dùng khăn lụa lau lau miệng, đứng dậy cười nói:
Tiểu nữ cùng với Yến Khách tướng công đánh cuộc, nếu Yến Khách tướng công thắng tiểu nữ tử, thì người cứ việc cầm bức tranh kia đi.
Trương Ngạc nói:
Tốt lắm, cô nương nói đi.
Trương Ngạc vô cùng thích đánh cuộc với người khác.
Vương Vi nói:
Tiểu nữ tử cùng đánh một ván cờ với Yến Khách công tử, nếu công tử thắng thì bức họa kia sẽ thuộc về công tử.
Buổi sáng hôm qua Trương Ngạc đã đánh hai ván cờ với Vương Vi, thua nàng cả hai ván.
Trương Ngạc trợn mắt lên nói:
Cô nương nói vậy chẳng khác nào nói là tặng luôn cho Giới Tử đệ của ta, cô nương đánh cờ thắng sao được Giới Tử.
Vương Vi mỉm cười nói:
Nếu là Giới Tử tướng công tới, tiểu nữ tử sẽ không đánh cuộc chơi cờ, mà sẽ đánh cuộc chơi đàn thổi tiêu, tiểu nữ tử nhất định không chịu thua đâu.
Trương Ngạc trở lại mui thuyền nói lại với đám Trương Nguyên. Phạm Văn Nhược cười nói:
Muốn nữ lang này tặng bức tranh sen tịnh đế rất khó, trừ phi là ý trung nhân của cô, nếu không cô ta sẽ đánh cuộc với đệ về nữ công, về tài nghệ làm bếp, đệ khó mà thắng được cô ấy lắm. Giả mẫu của cô Mã Tương Lan đã qua đời, nữ lang này liền trở thành chủ nhân U Lan Quán, rất là tự do. Lần trước có một thương gia giàu có họ Uông đã nguyện trả ngàn lượng bạc để đổi lấy một đêm vui vẻ nhưng đã bị nàng từ chối.