TRƯƠNG NGẠC CƯỜI HA HẢ, NÓI VỚI TÚ BÀ:
Trương Ngạc cười ha hả, nói với tú bà:
Vương Lục Ma, tự dưng bà có thêm hai ngàn bốn trăm lượng, nên cảm tạ ta thế nào đây?
Chúc Triều Phụng tức giận, rống lên:
Vương Lục Ma, bà tìm hai tên tú tài vô lại chọc tức ta, đây là lừa gạt tống tiền, ta muốn cáo quan!
Huy thương rất hay kiện tụng, lấy thiếp, tranh tụng không sợ tốn tiền chỉ vì muốn thắng kiện. Nhưng Huy thương cũng rất khôn khéo, đây rõ ràng là nâng giá bịp lão, sao lão có thể coi tiền như cỏ rác, đương nhiên không chịu bỏ ra bốn ngàn lượng.
Trương Nguyên thản nhiên nói:
Gặp quan cũng chẳng sao, đây là Chu Du đánh Hoàng Cái, một người nguyện đánh một kẻ nguyện chịu, sao lại nói là lừa gạt? Chúc Triều Phụng ông không nguyện ra bốn ngàn lượng, cứ rẽ trái ra cửa rồi biến đi, lẽ nào còn chờ ta ép ông bỏ ra bốn ngàn lượng?
Chúc Triều Phụng hậm hực:
Vậy ta không bỏ ra bốn ngàn lượng, nhượng lại cho các ngươi, các ngươi móc ra ba ngàn năm trăm lượng đi.
Trương Nguyên cười nói:
Thương nhân như ông sao hồ đồ vậy, không biết chỉ có cạnh tranh thì mới nâng giá được à, nếu ông đã rút lui thì bên ta không cần bỏ ra ba ngàn năm trăm lượng. Hơn nữa là do ông lật lọng trước, muốn chuộc thân cho Tuệ Nương thì đưa bốn ngàn lượng đây, cáo quan cũng vô ích.
Nói rồi hắn phe phẩy chiếc quạt trong tay:
Chiếc quạt này là do danh gia chế quạt Tô Châu – Thẩm Thiếu Lâu làm ra, đáng giá ba lượng bạc. Giờ ta bán cho ông với giá ba trăm lượng, ông muốn chứ, nếu không cần thì ông đi cáo trạng ta à?
Trương Đại, Trương Ngạc bật cười.
Chúc Triều Phụng thấy mình có lý nhưng không nói được, vô phương đấu thắng tú tài. Lão chỉ nhắm vào tú bà lý luận:
Vương Lục Ma, hôm trước ta đã bàn rõ với bà, giờ có một ngàn sáu trăm lượng ở đây, ta chỉ muốn đòi người. Nếu hôm nay bà không giao người, ta sẽ đập nát chỗ này, bà tin hay không?
Tú bà mới đầu thấy hai bên không ngừng tăng giá, lòng thầm mừng rơn, một Tuệ Nương bằng tới ba người, vì vậy luôn im lặng đứng một bên. Nhưng lúc sau lại cảm thấy bất thường, ba tú tài này có vẻ như muốn đuổi Chúc Triều Phụng đi, lão vừa đi thì họ mới vu khống, sao chịu bỏ ra nhiều bạc đến thế. Cho nên lúc này thấy lão hỏi mình, tú bà vội nói:
Tuệ Nương đương nhiên là của Chúc Triều Phụng.
Thói tham tiền vẫn không chừa, bà lại tiếp lời:
Có điều một ngàn sáu trăm lượng bạc thì hơi ít, ta cũng không cần bốn ngàn lượng của ông, ba ngàn lượng thì thế nào?
Lúc này bỗng có tiếng nữ nhân hét lên:
Không xong rồi, Tuệ Nương tự sát rồi, Tuệ Nương đã treo cổ!
Tú bà kinh hoảng, lật đật chạy vào trong.
Trương Nguyên kinh ngạc thốt lên:
Sao Tuệ Nương lại tự sát!
Nhờ Vũ Lăng báo tin, Phùng Mộng Long và Trần sinh đồ cùng chạy đến. Đột nhiên nghe thấy Tuệ Nương tự vẫn, Phùng Mộng Long tin là thật, đau xé tâm can, ai oán thổn thức:
Tuệ Nương!
Chương 254: Bốn vách hoa sen ba mặt liễu.
Rồi y chạy vào trong, Trần sinh đồ cũng thất kinh, Trương Nguyên trước đó không nói chuyện này cho bọn họ, biểu hiện lúc này hiển nhiên rất thật.
Trương Ngạc kéo một a hoàn hầu rượu tới, hỏi:
Sao Tuệ Nương lại tự vẫn?
A hoàn sợ đến mức đờ đẫn, nói lắp bắp:
Tuệ Nương muốn được gả cho Phùng tú tài, không muốn Chúc Triều Phụng. Chúc Triều Phụng bỏ ra nhiều bạc, Lục ma liền ép Tuệ Nương, cô ấy khóc!
Trương Ngạc hỏi:
Ai là Phùng tú tài?
A hoàn nói:
Là người mới chạy vào trong.
Trương Ngạc đi ngang qua đạp đổ rương bạc, chỉ vào Chúc Triều Phụng mắng:
Lão già đáng ghét, ỷ vào chút tiền thối nát này cưỡng ép chia rẽ tình nhân. Giờ thì có người chết rồi, đừng hòng đi, mau đến gặp quan, không phải ông muốn gặp Trần tri phủ ư, giờ đi nào!
Nói rồi y sai a hoàn vào trong xem Tuệ Nương có cứu được hay không.
Hôm trước khi Chúc Triều Phụng bàn việc chuộc thân Hầu Tuệ Khanh với Vương Lục Ma, lão đã biết có tú tài họ Phùng muốn chuộc thân cho nàng ấy. Phùng tú tài ra tám trăm lượng, Chúc Triều Phụng muốn có bằng được nên lập tức tăng lên một ngàn sáu trăm lượng. Tú bà yêu tiền, đương nhiên phải bức Tuệ Nương gả cho Chúc Triều Phụng rồi.
Chúc Triều Phụng chỉ cười lạnh, lão dễ gì bị dọa đến thế. Lão lường trước đây là Vương Lục Ma cùng mấy tú tài hợp kế lừa tiền lão, không sớm không muộn lại tự vẫn vào lúc này, lão nói:
Vậy gặp quan nói rõ đi, ta không sợ ai hết.
Trần sinh đồ tức giận nói:
Đồ gian thương, bức chết người ở phủ Tô Châu ta rồi còn dám lớn lối, ta đi gọi người tới.
Dứt lời y xoay người rời đi.
A hoàn khi nãy lao ra hét lên, mặt sợ đến tái nhợt:
Tuệ Nương tắt thở rồi, người không động đậy gì hết!
Chúc Triều Phụng thấy thần tình a hoàn không chút giả dối, tức thì liền hoang hoang:
Can gì đến ta, giờ đến quan phủ nói rõ đi.
Lão vừa nói vừa ngồi vào trong kiệu.
Trương Ngạc quát lên:
Đừng để hung phạm chạy thoát!
Năng Trụ, Phùng Hổ không sợ đối phương đông người, liền xông vào ẩu đả với đám người hầu của Chúc Triều Phụng. Chúc Triều Phụng ngồi lên kiệu, chạy về phía Xương Môn trong sự bảo vệ của đám người hầu, có tên hầu tiện thể ôm luôn rương bạc chạy theo. Năng Trụ đuổi đến trước cửa, tung cước đá ngã, tên hầu lồm cồm bò dậy, mót lấy hai thỏi bạc rồi chuồn thẳng.
Mùng sáu tháng sáu nhã tiệc tổ chức tại Chuyết Chính viên, Phùng Mộng Long cùng anh là Phùng Mộng Quế đều đến tham gia. Phùng Mộng Long đương xuân phong đắc ý, tối qua Hầu Tuệ Khanh đến đến nhà y. Tú bà Vương Lục Ma của Lưu Phương quán bị dọa không nhẹ, nghe Hầu Tuệ Khanh treo cổ tự vẫn liền gấp gáp chạy vào. Bà thấy nàng ấy nằm trên mặt đất, đoạn lụa buông xuống từ xà nhà, vết đỏ hằn rõ cổ Tuệ Khanh, trước đó đã ngừng thở, nhờ Phùng Mộng Long hô hấp nhân tạo lại xoa ngực lắc tay mới cứu được. Tiếp đó mời thầy thuốc đến chẩn trị, thầy thuốc nói khi treo cổ đã làm gãy xương cổ, e là sau này bị liệt. Phùng Mộng Long vẫn không từ bỏ, nguyện chuộc thân cho Hầu Tuệ Khanh, đón về nhà chăm sóc. Vương Lục Ma dù sao vẫn là đàn bà, hoảng đến mức không còn chủ ý, thấy Phùng Mộng Long chịu ra tám trăm lượng chuộc thân liền viết ngay hôn thư, ký tên chấp thuận rồi giao cho Phùng Mộng Long. Sau khi thu dọn một số đồ dùng hàng ngày của Hầu Tuệ Khanh, ngay đêm đó y liền đưa nàng về nhà.
Tại đình Hà Phong Tứ Diện ở Chuyết Chính viên, Trương Ngạc bắt gặp Phùng Mộng Long liền thấp giọng cười hỏi:
Tử Do huynh, đêm qua vui không?
Phùng Mộng Long lặng lẽ nói:
Đa tạ hiền huynh dùng diệu kế giúp đỡ, ta xin ghi nhớ.
Hôm qua Phùng Mộng Long còn tưởng Hầu Tuệ Khanh treo cổ bị thương, ngờ đâu khi đón về thì nàng ấy tự xuống kiệu, quỳ xuống cảm tạ ân nghĩa của Phùng lang, rơi lệ vì hạnh phúc. Ngày trước nàng cùng Phùng Mộng Long phổ sơn ca, xướng Ngô khúc, xúc động vì câu “Tình chẳng hay đến từ đâu, ngày càng sâu đậm, người sống có thể chết, chết có thể sống” trong đề ký “Mẫu Đơn đình” của Thang Hiển Tổ. Còn hôm nay, Phùng Mộng Long vẫn muốn chăm sóc Tuệ Khanh khi tưởng rằng nàng bị thương ở cổ, thơ Ngư Huyền Cơ có viết: “Dễ cầu vật vô giá, lại khó cầu tình lang”, Hầu Tuệ Khanh thấy mình là nữ nhân hạnh phúc nhất thiên hạ, đối với sự dịu dàng của nàng dành cho Phùng Mộng Long đêm qua không nên nói cho người ngoài biết.
Tông Dực Thiện nói với Trương Nguyên:
Giới Tử huynh, thương nhân đó vô cớ tổn hao một ngàn sáu trăm lượng, e là sẽ không bỏ qua.
Trương Nguyên nói:
Bốn trăm lượng ở chỗ Vương Lục Ma, nếu bà ấy tham tiền không sợ phiền phức thì cứ giữ lại ngân lượng, còn nếu sợ thì sẽ trả lại, đó là chuyện của Vương Lục Ma, chúng ta hơi đâu mà quản… Còn một ngàn một trăm sáu mươi lượng kia, so với việc trả cho lão ta, chi bằng dùng làm việc thiện. Cứ xem như chúng ta nhặt được tiền quyên góp cho viện dưỡng tế Trường Châu, hơn nữa sự tình ở Lưu Phương quán cũng đã lan truyền. Thương nhân ỷ nhiều tiền chia rẽ người hữu tình, suýt nữa bức chết người, dân chúng Tô Châu rất thống hận hạng người này, ta đoán Chúc Triều Phụng chỉ còn nước ngậm bồ hòn, nào dám xuất đầu lộ diện ở Tô Châu nữa.
Trương Đại nói:
Nhưng quan sứ ở viện dưỡng tế Trường Châu được lợi rồi, chắc chắn họ sẽ cắt xén.
Năm Hồng Vũ thứ năm, Chu Nguyên Chương lệnh các quận huyện cả nước thiết lập viện dưỡng tế, nhận nuôi người bần hàn, tàn tật không nơi nương tựa. Phủ Tô Châu có hai viện dưỡng tế, một ở huyện Ngô, một ở tây bắc lầu canh Trường Châu… Chập tối hôm qua, ba huynh đệ Trương Nguyên đi cùng với Phạm Văn Nhược, quyên tặng một ngàn một trăm sáu mươi lượng cho viện dưỡng tế Trường Châu. Tiểu quan lại quản lý viện dưỡng tế vừa kinh vừa mừng, y không quen biết ba tú tài này, nhưng lại nhận ra Phạm Văn Nhược Phạm Hiếu Liêm là nhân vật lớn ở huyện. Tiến sĩ đều đã làm quan, ở địa phương thì cử nhân là lớn nhất. Phạm Văn Nhược dặn dò tiểu quan lại mua gạo cứu tế và vải phân phát cho dân nghèo, các khoản phải rõ ràng, cuối năm y sẽ cùng ba vị quyên góp tổng duyệt lại, tiểu quan lại vâng vâng dạ dạ làm theo.
Trương Nguyên mỉm cười nói:
Tham ô cắt xén khó mà tránh được, chỉ cần một nửa số bạc quyên góp đến tay dân nghèo thì không tệ rồi, đây là Tô Châu, không phải là kho lương Dương Hòa ở Thiệu Hưng của ta.
Vì chuẩn bị vội vàng nên hôm nay chỉ có hơn sáu mươi người tham gia nhã tiệc tại Chuyết Chính viên, trong đó có ba mươi ba sinh đồ cùng đồng sinh (học trò nhỏ tuổi) của huyện Gia Định và Côn Sơn, mười ngày trước họ đã tham gia nhã tiệc tại Dự viên ở Thượng Hải. Vì biết Trương Nguyên chọn tuyến đường Tô Châu đi Nam Kinh, ba mươi ba người này mấy ngày trước đã đến phủ thành Tô Châu đợi sẵn, Phạm Văn Nhược thông báo tổ chức nhã tiệc ở Chuyết Chính viên vào ngày sáu tháng sáu, họ đều tới tụ hội. Lần trước nghe Trương Nguyên luận về văn bát cổ ở Dự viên, dư vị đọng qua mấy ngày, họ tiếp thu được rất nhiều. Nhưng hôm nay Trương Nguyên không luận giảng, chỉ đơn thuần giao tiếp ăn uống với mọi người.
Phần lớn người dự tiệc đều ngưỡng mộ danh tiếng Tiểu Tam nguyên của Trương Nguyên. Ngoại trừ Phạm Văn Nhược, còn có một người họ Văn tên Chấn Mạnh, tự Văn Khởi cũng là cử nhân, cháu cố của Ngô Môn đại họa gia Văn Chính Minh. Khi Phạm Văn Nhược giới thiệu Văn Chấn Mạnh, Trương Nguyên cười nói:
Văn Hiếu Liêm, ngưỡng mộ đã lâu.
Văn Chấn Mạnh hơn ba mươi tuổi, dáng người cao lớn, ánh mắt sắc sảo ám chút ngạo khí, không thích khách sáo. Thấy Trương Nguyên xuất ngôn khách khí, y liền cất lời hàm ý chế nhạo:
Trương công tử ngưỡng mộ ta ở chỗ nào?
Trương Nguyên cười đáp:
Văn Hiếu Liêm gia học uyên thâm, say mê “Sở từ”, chuyên trị “Xuân Thu”, thư pháp tông Nhị Vương (tức Vương Hi Chi) của Đông Tấn, họa kỹ sánh với tứ gia cuối thời Nguyên, làm người cương chính cao thượng, tại hạ ngưỡng mộ Văn Hiếu Liêm đã lâu.
Văn Chấn Mạnh có chút kinh ngạc, hôm nay y đến Chuyết Chính viên chỉ vì nhất thời nổi hứng, xem thử Trương Giới Tử đảo Đổng rốt cuộc là nhân vật thế nào. Mới đầu Phạm Văn Nhược cũng không hay là y muốn đến, vốn nghĩ sự ngưỡng mộ của Trương Nguyên chỉ là thuận miệng nói ra, nào ngờ hắn lại hiểu rõ mình. Dù y có chút danh tiếng ở Trường Châu, nhưng rớt liên tiếp sáu lần thi hội, thanh danh thiếu niên tài tử cũng dần nhạt đi. Lúc này nghe thấy Trương Nguyên khen ngợi mình, y cười khổ tự giễu:
Trương công tử hiểu rõ tại hạ như lòng bàn tay, chẳng qua còn một chuyện chưa nói. Tại hạ đến kinh thi hội lần thứ bảy, bảy lần đều rớt, việc này xem ra cũng nổi. Ca khúc trẻ con Tô Châu hát rằng: “Văn Văn Khởi, rớt bảy lần, đến thành đi thi gấp, trở về tay áo che mặt”, người đó chính là tại hạ.
Trương Nguyên thầm nhủ: “Rớt lần thứ bảy à, vậy còn phải thi thêm ba lần nữa.”
Trương Nguyên thuộc sử cuối thời Minh. Văn Chấn Mạnh này là nhân sĩ nổi tiếng chính trực vào năm Thiên Khải và Sùng Trinh, tính tình khá giống Tông Dực Thiện tiên sinh, cũng là nhân vật nổi tiếng của đảng Đông Lâm. Vào năm Thiên Khởi, y buộc tội thái giám Ngụy Trung Hiền, bị đình trượng cách chức. Vào thời Sùng Trinh, y nhậm chức giảng quan Diên nhật giảng (giảng luận kinh sử cho đế vương) trong cung. Có lần nghe giảng, Sùng Trinh ngồi bắt chéo chân, Văn Chấn Mạnh ngậm miệng không nói, trừng mắt nhìn chân của Sùng Trinh. Việc này khiến Sùng Trinh rất xấu hổ, ông liền dùng tay áo che đi đầu gối, sau đó từ từ hạ chân xuống. Còn có một nguyên do khiến Trương Nguyên có ấn tượng sâu sắc với Văn Chấn Mạnh, Văn Chấn Mạnh đậu Trạng nguyên Nhâm Tuất vào năm Thiên Khải thứ hai, ứng với năm 1622 Công Nguyên, mà hiện tại là năm 1614, Văn Chấn Mạnh còn phải bị hai lần thi rớt tra tấn.
Chương 255: Giai Lệ Địa (1).
Trương Nguyên nói:
Văn Hiếu Liêm đại tài, tạm thời thi cử khó khăn, sớm muộn gì cũng đến lúc danh chấn thiên hạ.
Phạm Văn Nhược liền nói:
Hôm nay tụ hội, không thể không có luận văn chất vấn. Văn huynh và Trương công tử đều chuyên trị “Xuân Thu”. Hôm nay hạnh ngộ, cứ ở đình Hà Phong Tứ Diện này sướng ngôn “Xuân Thu”, thế nào?
Văn Chấn Mạnh có chút thiện cảm với Trương Nguyên, có cương trực đến đâu thì cũng muốn nghe người khác khen ngợi, y nói:
Vậy phải thỉnh giáo Trương công tử rồi.
Trương Nguyên nói với Phùng Mộng Long:
Tử Do huynh cũng trị “Xuân Thu”, cùng biện luận luôn đi.
Đình Hà Phong Tứ Diện đơn hiên sáu góc, bốn mặt thông thoáng. Đình nằm giữa mặt nước, đứng trên đình ngắm lá sen trong hồ cao ngút, hoa sen nở rộ, cành liễu lất phất bên bờ, có câu đối rằng: “Tứ bích hà hoa tam diện liễu, bán đàm thu thủy nhất phòng sơn”. (Bốn vách hoa sen ba mặt liễu, nửa đầm thu thủy một vách tường)
Trương Nguyên ngồi trên ghế trong đình cùng Văn Chấn Mạnh và Phùng Mộng Long, gần trăm chư sinh vây quanh thính giảng “Xuân Thu”. Vào thời Minh, “Xuân Thu” có địa vị cực cao, Chu Nguyên Chương lấy “Xuân Thu” đứng đầu các bộ kinh, cho rằng Khổng Tử làm “Xuân Thu”, rõ tam cương (quan hệ đạo đức quân thần, phụ tử, phu phụ), ghi cửu pháp (các cách trị thiên hạ), vì quy phạm bách vương, tu thân lập chính nằm ở trong đó. Khi thi đình lấy chức Trạng nguyên, các tiến sĩ thường lấy “Xuân Thu” làm kinh gốc, kinh gốc của Văn Chấn Mạnh toàn là “Xuân Thu”. Dù vậy, do “Xuân Thu” phức tạp nên chư sinh vẫn muốn trị tứ kinh (*) còn lại, chung quy Trạng nguyên ba năm chỉ có một, họ không dám vọng tưởng.
(*) Ngũ kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu.
Phùng Mộng Long am hiểu “Lân kinh chỉ nguyệt”, Văn Chấn Mạnh là cử nhân nhược quán (chỉ người 20 tuổi), những sách điển tịch liên quan đến “Xuân Thu” không có cuốn nào hai người chưa đọc. Mà Trương Nguyên thông minh hơn người, theo học hai vị đại nho là Hoàng Nhữ Hanh và Tiêu Nhuận Sinh, lại có sáng kiến độc đáo của riêng mình. Ba người chất vấn từ sơ đến sâu, từ Xuân Thu nghĩa lý đến tam truyện (*) nói không ngừng, khiến người nghe phải nín thở.
(*) Tam truyện: ba bộ sách giải thích Xuân Thu, gồm “Tả truyện”, “Công Dương truyện, “Cốc Lương truyện”.
Học vấn của hai người Phùng, Văn không thua Trương Nguyên, luận về đọc nhiều sách, hắn không thể bì với hai người họ, nhưng hắn thắng ở mạch trật tự rõ ràng. Với “Xuân Thu”, hắn học sự phát triển liền mạch từ Tần – Hán đến Nguyên – Minh. “Xuân Thu” vừa là kinh vừa là sử, đến Ngụy Tấn Nam Bắc triều thì kinh sử phân riêng. Thời Minh, Lưu Tri Kỷ định rõ “Tả truyện” là điển hình của sử văn, mà “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp thì là tông kinh. Từ cuối đời Tống đến nay, kinh sử lại hợp lưu, đây chính là văn học hóa của “Xuân Thu” học, đến cuối đời Minh thì càng rõ rệt hơn, đến văn bát cổ cũng bị văn học hóa, tiểu phẩm đã hóa, “Xuân Thu” sao có thể tránh khỏi…
Không chỉ có Phùng Mộng Long và Văn Chấn Mạnh bị ảnh hưởng mạnh, chư sinh dự thính giảng tại đình cũng vỡ lẽ. Cách giảng của Trương Nguyên về “Xuân Thu” học đi từ khởi nguyên đến khi phát triển phân lưu, mạch lạc rõ ràng, điều lý rành rẽ, khiến người khác có cảm giác mở rộng tàm mắt, vừa nhìn đã hiểu. Phùng Mộng Long và Văn Chấn Mạnh đọc sách tuy nhiều, nhưng thiếu đi sự lĩnh ngộ về hệ thống này của Trương Nguyên, đó là ưu thế của hắn, trong đó bao hàm cả lý luận học tập tiên tiến của hậu thế.
Tà dương ngả tây, bóng người tản loạn. Nhã tiệc ở Chuyết Chính viên chỉ trong một ngày ngắn ngủi, song để lại ấn tượng sâu sắc cho sĩ tử Tô Châu, chư sinh dự hội đều yêu cầu gia nhập Hàn Xã. Vì không thể lưu lại lâu ở Tô Châu, Trương Nguyên đã thỉnh Phạm Văn Nhược, Văn Chấn Mạnh và Phùng Mộng Long phụ trách việc dự trù phân xã của Hàn Xã phủ Tô Châu. Phạm Văn Nhược là xã đầu của phân xã Hàn Xã Tô Châu, Văn Chấn Mạnh và Phùng Mộng Long là xã phó, ba quy điều đầu tiên của Hàn Xã được chỉnh sửa đôi chút, không giới hạn tuổi tác. Bởi vì Văn Chấn Mạnh và Phùng Mộng Long đều hơn ba mươi lăm tuổi, quy điều hiện giờ có thể linh hoạt hơn. Suy cho cùng chỉ là tạm tiến hành, quy điều chính thức sẽ được thương nghị quyết định khi tụ hội lần đầu tiên của Hàn Xã được cử hành tại Sơn Âm vào tháng ba sang năm.
Ở Tô Châu ba ngày, Trương Nguyên tự thấy thu hoạch không ít. Hàn Xã đã mở rộng cục diện tại Tô Châu, hắn kết hảo hữu cùng Phùng Mộng Long và Văn Chấn Mạnh. Tuổi tác hai người Phùng, Văn đều lớn gấp đôi hắn, song họ chỉ dám luận giao ngang hàng với hắn. Trương Nguyên đối nhân xử thế điềm đạm, học thức tu dưỡng lại uyên thâm, không ai dám xem thường hắn nhỏ tuổi.
Mùng bảy tháng bảy sau Ngọ, Trương Nguyên xuất hành rời Tô Châu, trước hết ngồi thuyền qua sông Đại Vận đến Đan Dương. Vì sông Đại Vận ngoặt ở Thường Châu rẽ bắc chảy tới Trấn Giang, đám người Trương Nguyên ngồi thuyền đến sông Cú Dung ở phía tây. Mấy năm trước Nam Kinh bộ Công Đinh Thượng thư đốc thúc dân đào mở rộng đường sông Cú Dung, sông Cú Dung được liên thông với sông Tần Hoài giúp giao thông đường thủy trở nên thuận tiện.
Phùng Mộng Long theo thuyền tiễn ba huynh đệ Trương Nguyên đến Thường Châu. Ở trên thuyền hai ngày, Phùng Mộng Long và Trương Nguyên đàm luận thoại bản, sơn ca, hí khúc cực kỳ ăn ý. Phùng Mộng Long đáp ứng trước cuối năm sẽ viết thành mười quyển mô phỏng thoại bản tiểu thuyết giao cho Hàn Xã thư cục ấn hành, mỗi quyển khoảng mười ngàn chữ, dự tính viết bốn mươi quyển, lấy tên “Cảnh thế thông ngôn”. Bốn mươi quyển “Cổ kim tiểu thuyết” tuy đã được Lục Thiên quán thư cục ấn hành, nhưng triều Minh không có luật bản quyền. Lục Thiên quán có thể in, thư cục khác cũng có thể in, Trương Nguyên đổi tên “Cổ kim tiểu thuyết” thành “Dụ thế minh ngôn” phát hành lần nữa.
“Dụ thế minh ngôn” và “Cảnh thế thông ngôn” có rồi, “Tỉnh thế hằng ngôn” cũng sắp sửa ra mắt. Ba bộ mô phỏng thoại bản tiểu thuyết “tam ngôn” nổi tiếng nhất triều Minh được xuất bản, Phùng Mộng Long nhất thời không suy nghĩ, không có kinh nghiệm thực tế cũng không sao, Trương Nguyên sẽ viết thư nhắc nhở y. Trương Nguyên đã thuộc “tam ngôn”, tuy không thể ngâm nga, nhưng có thể hiểu đại khái câu chuyện. Nào là “Kẻ bán dầu độc chiếm hoa khôi”, “Đỗ Thập Nương nổi giận gieo mình cùng rương báu”, Phùng Mộng Long chỉ cần căn cứ theo đại cương này suy diễn là được, không cần ngại chuyện tưới nước.
Thế nào là tưới nước? Những đoạn thơ từ miêu tả dung mạo nhân vật hoặc là mây mưa Vu Sơn (làm chuyện ấy) chính là tưới nước.
Đầu giờ Thìn mùng mười tháng sáu, thuyền đến cửa kênh đào Thường Châu, Trương Nguyên và Phùng Mộng Long bịn rịn từ biệt, Phùng Mộng Long mướn thuyền khác quay về Trường Châu. Trương Nguyên tiếp tục lên đường, ngồi thuyền đến Đan Dương, lại chuyển qua sông Cú Dung. Sau buổi trưa ngày mười lăm tháng sáu, thuyền đã đến Đông Thủy quan ở ngoại thành Nam Kinh, qua quan thì đến Thập Lý Tần Hoài.
Lãng thuyền xuôi sông, hai bên bờ nhà cửa sát rạt. Nữ lang Vương Vi nghiễm nhiên trở thành mỹ nhân dẫn đường, đầu đội nón trúc rộng vành che đi nắng cháy trưa chiều. Nàng đứng ở đầu thuyền chỉ phong cảnh hai bên sông, nói:
Tên cổ của Kim Lăng là Giai Lệ Địa, áo mũ văn vật thịnh ở Giang Nam, văn chương phong lưu thịnh khắp nước, suối trong Bạch Hạ (tên gọi khác của Nam Kinh), quạt tròn lá đào, tông thất vương tôn, con cháu thế gia, mỹ nữ nhiều vô kể. Ba vị tướng công nếu nhàn rỗi, có thể tìm hiểu cố đô lục triều ngàn năm văn hiến này…
Trương Nguyên đứng cạnh Vương Vi, lời hướng dẫn này ứng với ký ức bốn trăm năm sau, phảng phất như mộng cũ chập chờn, vết tích khó tìm. Hắn lại nghĩ: “Ba mươi năm sau, cảnh tượng này sẽ hóa thành cây cỏ, diệu vũ khinh ca không thể nghe, danh hoa ngọc thảo không thể ngắm, lầu quán hóa bụi, mĩ nhân về đất, quả thực khiến người ta đau lòng. Để giữ lại những điều tốt đẹp đó, mình phải dốc sức ứng phó.”
Vương Vi có thể đoán ý qua vè mặt, thấy Trương Nguyên nghe nàng giới thiệu phong cảnh Tần Hoài, tài sĩ giai nhân, phong lưu vận sự một cách nghiêm túc, trong mắt mắt lại lộ vẻ bi thương. Nàng không khỏi cảm thấy kì lạ, hỏi:
Giới Tử tướng công, sao lại lộ tướng Phật tử?
Trương Nguyên vừa nghe liền cười, đầu óc trở về nhân gian, hắn nói:
Nghe giọng nói êm tai của nàng, bất giác trầm mê, mong rằng khi ta đầu bạc có thể quay lại Tần Hoài, phong cảnh như trước.
Vương Vi mỉm cười, sóng mắt lưu chuyển:
Đến khi ấy, thiết nghĩ Giới Tử tướng công đã phong hầu bái tướng, kiều thê mỹ thiếp, con cháu đầy đàn. Còn tiểu nữ không biết lưu lạc đến phương nào, có lẽ đã thành nấm mồ hoang. Nếu Giới Tử tướng công ngẫu nhiên nhớ về ngày đầu năm đến Kim Lăng, liệu có lưu lại một mảnh ký ức?
Khi nói lời này, mới đầu nàng còn tươi cười, lúc sau lại cảm thấy thương tâm, khóe mắt ngấn lệ.
Phút chốc Trương Nguyên không biết an ủi ra sao, nghĩ ngợi một hồi rồi vẫn giữ im lặng.
Vương Vi lại mỉm cười, nói:
Giới Tử tướng công không nói lời suông lấy lệ, chỉ giữ im lặng. Thật tốt quá, có dư vị.
Trương Nguyên nghe thấy tiếng cười trộm phía sau, quay lại bắt gặp Trương Ngạc đang đứng trong bóng râm cửa khoang nháy mắt với hắn, còn vẫy tay gọi hắn đến. Mục Chân Chân cũng đứng ở một bên, răng cắn chặt môi nhìn theo hắn, mặt thoáng ngượng ngùng.
Trương Nguyên không biết tam huynh nháy mắt làm gì, liền đi xuống đầu thuyền, vừa định mở miệng hỏi thì Trương Ngạc khoát tay, chỉ về phía Vương Vi vẫn đứng ở đầu thuyền, tỏ ý bảo Trương Nguyên quay đầu nhìn, biểu cảm trên mặt lại cợt nhả.
Trương Nguyên bị quay mòng mòng, liếc qua Vương Vi không thấy có gì bất thường, quả thực không hiểu y đang giở trò quỷ gì.
Chương 255: Giai Lệ Địa (2).
Trương Ngạc kề tai nói:
Khi nãy có bóng cây che rồi, đợi nắng chiều rọi đến là ổn, mau nhìn kìa!
Khi Trương Nguyên quay lại nhìn, lãng thuyền lướt nhanh về tây, nắng chiều vừa hay chiếu tới, Vương Vi càng trở nên xinh đẹp dưới ánh nắng. Khoan đã, còn nữa, thì ra là vậy!
Trương Nguyên xem như đã hiểu bộ dạng quỷ dị của tam huynh khi cứ muốn hắn nhìn Vương Vi. Trời hè oi bức, Vương Vi chỉ bận áo vải mỏng manh, y đứng trong bóng cửa khoang có thể thấy hình dáng eo mông và đôi chân ẩn hiện dưới váy, nếu không phải bên trong còn có váy lót thì nhìn rõ hơn rồi. Tuy nhìn con gái người ta như thế thì hơi đáng khinh, nhưng thành thực mà nói, nàng ấy quả rất quyến rũ. Đường cong thắt lưng thấp thoáng hoàn toàn có thể phổ thành nhạc khúc lưu loát.
Vương Vi thấy Trương thị huynh đệ kề tai thì thầm, ánh mắt lóe lên, người thông minh như nàng vừa quan sát thì đã hiểu nguyên do. Phút chốc mặt đẹp phủ mây, cánh mũi chun lại, nàng bước vài bước xuống hiên nói:
Hai vị tướng công, phi lễ chớ nhìn.
Trong lòng lại thầm cười: “Vị Trương công tử này, ngày thường có vẻ chín chắn điềm đạm, lúc này lại để lộ bản tính thiếu niên háo sắc không thua gì Trương Yến Khách.”
Trương Ngạc cười hì hì nói:
Người không biết vẻ đẹp của Vương Vi cô thì xem như không có mắt. Ta không bị mù, cô đứng đó nên ta thấy thôi, nếu vờ đàng hoàng mà quay đầu không nhìn, thiên nhân trong lòng giao chiến thì khó chịu lắm. Vì vậy ta phải tận tình nhìn cho rõ, chuyện này cô phải oán chính mình chứ, là cô mê hoặc huynh đệ chúng tôi.
Vương Vi nói:
Yến Khánh tướng công lời lẽ thật hùng hồn, đây là luận về hồng nhan họa thủy sao?
Trương Đại tay cầm một chén trà bước tới, cất giọng hỏi:
Nói gì vậy, cái gì mà hồng nhan họa thủy?
Trương Ngạc cười nói:
Đại huynh bỏ lỡ cảnh đẹp rồi, đáng tiếc đáng tiếc.
Trương Đại không hiểu cho lắm, còn tưởng thật đã bỏ qua phong cảnh bên bờ, vội vàng phóng tầm nhìn từ cửa mui ra đến sau thuyền, luôn miệng hỏi:
Đâu, đâu nào?
Trương Ngạc cười đến nghiêng ngả.
Vương Vi nói tránh đi:
Phía trước là Vũ Định Kiều, tiểu nữ lên bờ tại đó. Dọc đường đa tạ ba vị tướng công chiếu cố, tiểu nữ vô cùng cảm kích.
Nói rồi nàng thi lễ với ba người họ.
Trương Nguyên, Trương Đại, Trương Ngạc đều chắp tay đáp lễ. Trương Đại nói:
Mi Công đã phó thác, nào dám chậm trễ. Tu Vi cô nương thông tuệ đa tài, dọc đường ta cũng học hỏi được nhiều, như được tắm gió xuân vậy.
Trương Đại rất thành thực, có Vương Vi đồng hành, hành trình sông nước dài đằng đẵng mới không tịch mịch. Vương Vi luôn giữ khoảng cảnh đúng mực trong quan hệ với ba huynh đệ Trương thị, tạo thành một loại quan hệ nửa như tình bạn nửa lại không. Trương Đại huynh đệ cảm thấy ở bên nàng rất vui, có phần ấm áp, song không đến mức sinh lòng thấp hèn.
Trương Ngạc đĩnh đạc nói:
Tu Vi cô nương, đã đến Kim Lăng, cô không mời ba huynh đệ tôi uống rượu sao?
Vương Vi mỉm cười nói:
Ba vị tướng công nể mặt, tiểu nữ cầu còn không được, vậy mời ba vị cùng lên bờ tại Vũ Định Kiều.
Trương Nguyên và Trương Đại đều cảm thấy không ổn. Hôm này là mười lăm tháng sáu, ngày mười bảy phải đến Lễ Bộ báo danh, ngày mười tám là khảo thí nhập học Quốc Tử Giám. Vừa đến Nam Kinh đã chạy đi Khúc Trung cựu viện uống rượu hoa, nếu để giáo quan của Quốc Tử Giám biết được thì sẽ chuốc lấy phiền phức. Trương Đại nói:
Đợi đến khi ta an định ở Quốc Tử Giám sẽ lại đến thăm Tu Vi cô nương, ta còn phải thỉnh cô nương dẫn ta đến thăm hỏi Mẫn lão tử.
Trương Nguyên sực nhớ một chuyện, liền nói:
Nghe đâu quy củ Quốc Tử Giám cực nghiêm, không cho phép giám sinh ra ngoài, chẳng hay có thật như vậy?
Trương Nguyên từng hỏi chuyện Quốc Tử Giám với huynh trưởng Vương Bích Lân của Vương Anh Tư. Vương Bích Lân nói mỗi lớp có bốn mươi người, họ giao tấm “xuất cung nhập kính bài” cho sinh đồ trực nhật mỗi lớp giữ. Phàm là ai muốn ra ngoài đều phải có tấm bài này, một lớp bốn mươi người mỗi ngày chỉ có một người được ra, hơn nữa trước khi trời tối phải trở về, không được qua đêm ngoài Quốc Tử Giám.
Vương Vi cười nói:
Quy củ Quốc Tử Giám nghiêm hay không tiểu nữ biết. Nhưng mỗi khi đêm lạnh yên tĩnh, trăng thanh gió mát, từ Vũ Định Kiều đến Trường Bản Kiều, trong cảnh tượng trâm hoa hẹn ước, nắm tay sánh đôi, bộ hành thổi tiêu, diệu khúc lanh lảnh đại khái đều là người trong Quốc Tử Giám.
Trương Ngạc bật cười ha hả:
Vậy ta yên tâm rồi, bằng không chẳng khác gì ngồi tù, thật quá vô vị.
Trương Nguyên cũng cười, thầm nghĩ: “Ngày đó khi Vương Bích Lân nói chuyện này, Vương Anh Tư cũng ở kế bên, vì vậy Vương Bích Lân nâng mức nghiêm khắc của quy củ Quốc Tử Giám lên một chút, có thể thấy y rất dụng công ở Quốc Tử Giám.
Thuyền đến Vũ Định Kiều, Vương Vi lên bờ trước, tiểu tỳ Huệ Tương ôm hộp trúc, Tiết Đồng xách lồng chim, Diêu thúc gánh hành lý theo sau. Họ đứng trên bờ hành lễ với ba người Trương Nguyên, đa tạ dọc đường chiếu cố.
Vương Vi nói:
Ba vị tướng công đi tiếp năm, sáu dặm về hướng tây, lên bờ tại bến thuyền Chính Mã Doanh, nơi đó cách nha môn lục bộ không xa.
Trương Nguyên chắp tay nói:
Đa tạ nhắc nhở.
Vương Vi mỉm cười, chỉnh lại nón trúc rộng vành trên đầu, xoay người đi về hướng U Lan quán ở Trường Bản Kiều. Lãng thuyền cũng rời Vũ Định Kiều tiếp tục hướng tây, Trương Ngạc nhìn theo bóng lưng yêu kiều của Vương Vi, cảm thán:
Người đẹp đến thế, đồng thuyền nửa tháng với ba huynh đệ ta, vậy mà không hề tạp nhiễm. Là cô nương này cao khiết, hay do chúng ta vô năng?
Trương Đại cùng Trương Ngạc đều bật cười.
Trương Ngạc tiếp lời:
Không biết cô gái này thích ai trong ba chúng ta hơn?
Y tự nói tự đáp:
Thiết nghĩ không thể phân cao thấp, ba chúng ta đều anh tuấn hơn người, nữ lang đâm hoa mắt, không biết yêu người nào mới tốt.
Trương Đại nói:
Theo ta thấy thì cô gái này thích Giới Tử nhiều hơn.
Trương Ngạc cũng tán thành, song y lại nói:
Nếu Giới Tử ân cần một chút, cô gái này chắc hẳn đã sà vào lòng rồi, Giới Tử lại giả vờ đàng hoàng.
Trương Nguyên vội nói:
Hai vị huynh trưởng, chúng ta đến đây để học, chuyện khác cũng có thể làm, nhưng đừng lấy khách át chủ nhé.
Cười đùa một hồi, thuyền đã sớm cập bến Chính Mã Doanh. Ba huynh đệ lên bờ dưới trời chiều, không định tìm khách điếm tá túc. Dù sao ở trên thuyền đã quen, đợi an định ở Quốc Tử Giám rồi tính tiếp, xem thuê phòng ở tạm. Tông Dực Thiện từng ở Nam Kinh mấy tháng, y nói từ Chính Mã Doanh đi hướng đông bắc chừng hai, ba dặm là đến nha môn lục bộ Nam Kinh, đi tiếp nữa thì đến Tử Cấm Thành. Sau khi Vĩnh Lạc đế dời đô tới Bắc Kinh, Tử Cấm Thành tại Nam Kinh vắng bóng Hoàng đế, chỉ còn vài vị thái giám ở lại, trong hai trăm năm chỉ có Chính Đức Hoàng đế quá vãng Nam Kinh.
Trương Nguyên đến quán rượu gần bến tàu ăn hoành thánh và bánh bột, không dám uống rượu, bởi vì chốc nữa phải bái kiến Tiêu Thái sử. Tông Dực Thiện nói Đạm viên của Tiêu Thái sử nằm gần nha môn lục bộ, cự ly không quá hai dặm.
Bánh bột và hoành thánh Nam Kinh rất nổi tiếng, là hai trong ẩm thực “bát tuyệt” ở Kim Lăng. Cái gọi là canh hoành thánh có thể nói là nhỏ mịn (hình dung sự tươi ngon), mì kéo có thể làm đai lưng (hình dung độ dai gân thịt), khẩu vị không tồi. Đám người Trương Nguyên chén no nê, khi tính tiền ra ngoài thì thấy trăng tròn đã treo trên đỉnh Tử Kim Sơn, thanh lãnh sáng ngời, đây chính là trăng tròn mười lăm.
Trương Đại, Trương Ngạc, Trương Nguyên, Tông Dực Thiện, còn có Vũ Lăng, Năng Trụ cũng đi theo, Mục Chân Chân không cần nói cũng hối hả chạy theo thiếu gia. Trương Nguyên sai Lai Phúc mua ít hoa quả tươi biếu Tiêu Thái sử. Mọi người đến Đạm viên xuất trình bái thiếp, một âm thanh sang sảng rất nhanh cất lên:
Giới Tử, mọi người mới đến à, ta đợi mấy ngày rồi đó.
Trương Nguyên cừa nghe liền nhận ra giọng nói của Tiêu Nhuận Sinh. Tháng trước Tiêu Nhuận Sinh còn ở Hàng Châu, không ngờ cũng về Nam Kinh, hắn vui vẻ nói:
Nhuận Sinh huynh cũng đến rồi sao? Huynh xem, ta dẫn ai tới nè.
Tiêu Nhuận Sinh bước nhanh ra ngoài, lướt mắt qua mọi người, chắp tay thi lễ. Trông thấy Tông Dực Thiện, y liền mừng rỡ, cầm tay Tông Dực Thiện nói:
Tông huynh cuối cùng đã thoát khỏi ràng buộc rồi à, từ khi huynh về Hoa Đình, gia phụ nhiều lần nhắc huynh, ông quả thật rất nhớ, thường hay than vãn.
Tông Dực Thiện cảm kích, hôm nay so với cuộc tao ngộ tại Hoa Đình Đổng phủ quả là một trời một vực.
Học Đạm viên chỉ rộng chừng bốn, năm mẫu; bố cục nhà, ao đình, hoa và cây cảnh tinh tế và hợp lý, tiến vào là bức tường, sau đó là phòng khách lớn, hai bên có phòng trà, phòng đánh đàn, có một Tàng thư lầu (lầu chứa sách) hai tầng là bắt mắt nhất. Phía sau Tàng thư lầu là nội viện, bên phải nội viện có một phật đường, đèn sáng, ánh vàng, Tiêu Hồng rất sùng Phật, chủ trương tam giáo hợp lại, có nhiều nghiên cứu về kiệt tác kinh điển Phật giáo.
Tiêu Hồng bảy mươi lăm tuổi hàng ngày tay đều không rời quyển sách, không ngừng viết lách, lúc này đang ở Tàng thư lầu chỉnh sửa lại bút ký < Tiêu Nhược hầu vấn đáp> mà mấy năm gần dây ông dạy học ở Kim Lăng, Tân An, thấy Trương Nguyên và Tông Dực Thiện, Tiêu Hồng thậm chí rất vui mừng, nhưng lại nói:
Trương Nguyên, lần này việc trò gây ra ở Hoa đình quá lớn, Nam Kinh lục bộ đều truyền đi rất huyên náo, rất nhiều quan lại truy cứu căn nguyên, biết trò là học trò của ta, liền tới đây hỏi lão phu đó.
Trương Nguyên cung kính nói:
Học trò không dám nhiều chuyện, chỉ là may mắn gặp dịp, Đổng thị hoành hành ở hương lý, dân chúng phẫn nộ đến cực điểm, ắt có ngày tức nước vỡ bờ thôi ạ.
Ngay lập tức Trương Nguyên kể lại chuyện hôm đó cho thầy Tiêu nghe.
Chương 256: Sóng lòng lay động.
Tiêu Hồng im lặng hồi lâu, rồi hỏi thăm cha mẹ Tông Dực Thiện có bình an không, được biết đã được thu xếp ở trong nhà tỷ phu của Trương Nguyên tại Thanh Phổ, Tiêu Hồng có chút trấn an nói:
Dực Thiện, cha mẹ ngươi đã thu xếp ổn thỏa rồi, vậy ngươi cứ ở đây giúp ta chỉnh lý sách trước, sau đó mới mưu tính đường ra.
Lại nói với tam huynh đệ Trương Nguyên:
Ba huynh đệ các ngươi đã vào Quốc Tử giám học, thì phải chăm chỉ học hành, chớ hoang phí thời gian, Cố Thái Sơ tiên sinh mới nhậm chức Tế Tửu Quốc Tử Giám là đệ nhất thi hội năm Vạn Lịch thứ 26, là thám hoa thi đình, là người đoan chính, trầm tĩnh, học vấn tinh thâm uyên bác. Xét thấy những năm gần đây việc học hành ở Quốc Tử Giám buông thả, nên Cố Tế tửu phải nghiêm minh kèm cặp, đôn đốc chư sinh học hành, nhằm làm tái hiện lại cảnh nhân tài rầm rộ ở Nam Giám vào giữa những năm Vĩnh Lạc… Thái Sơ tiên sinh là bạn tốt của ta, tất sẽ quan tâm đến các ngươi, các người chỉ cần dốc lòng học tập là được, không nên dựa vào bản tính thanh niên mà gây chuyện thi phi.
Ba người Trương Nguyên vâng dạ đồng ý, mãi tới khi trống báo canh hai mới cáo từ quay trở về bến. Tông Dực Thiện ở lại Đạm viên, hành lý của y đã được Lai Phúc và Phùng Hổ lấy từ trên thuyền mang tới…, khi Tiêu Nhuận Sinh đưa ba huynh đệ Trương Nguyên ra cửa, có lời mời trưa mai tới Đạm Viên dự tiệc.
Buổi sáng ngày mười sáu tháng sáu, ba huynh đệ Trương Nguyên nhờ một kiệu phu dẫn đường, đi xem vị trí của Quốc Tử Giám.., một đoàn người từ bến tàu Chỉ Mã Doanh đi về hướng đông bắc, trên đường đi qua Đạm Viên, bởi vì buổi trưa phải tới đây dự tiệc, nên lúc này không vào. Kiệu phu dẫn đoàn người đi ba bốn dặm thì tới Thành Hiền phố, Nam Kinh Quốc Tử Giám chính là ở ở phía bắc của Thành Hiền phố, chùa Kê Minh ở phía nam, phía tây bắc là Khâm Thiên đài… đi tiếp thì là hồ Huyền Vũ trong xanh. Quy chế của Nam Kinh Quốc Tử Giám rất lớn, đi vài dặm, có ký túc xá của giám sinh (phòng đánh số), gần ba ngàn phòng, năm Vĩnh Lạc thứ hai mươi, Nam Giám (Nam Kinh Quốc Tử Giám) cường thịnh, có hơn chín ngàn giám sinh, sự chuẩn bị quy chế và và cường thịnh của nhân văn trước nay chưa từng có, còn bây giờ.., Nam Giám suy bại, kém xa sự hưng thịnh năm đó.
Trương Nguyên bảo Lai Phúc và Vũ Lăng tìm một căn nhà yên tĩnh ở gần Thành Hiền phố, bất luận là tiền thuê có đắt, chỉ cần cách Quốc Tử Giám không quá hai dặm đường, thanh tịnh sạch sẽ, vậy là có thể thuê được. Tuy nghe nói giám sinh bắt buộc phải ở trong ký túc xá của nam nhi, nhưng Trương Đại, Trương Ngạc và Trương Nguyên đều có người hầu, những người hầu này chắc chắn không thể ở cùng trong ký túc xá được, nên phải thuê một căn nhà gần đó.
Giữa trưa, ba huynh đệ Trương Nguyên vội tới Đạm Viên, cùng dùng bữa trưa với cha con Tiêu lão sư, sau bữa trưa liền thưởng trà luận văn. Trương Nguyên là đệ tử của Tiêu Hồng, Tiêu Hồng đương nhiên phải hỏi hắn về việc học hành hơn nửa năm nay. Trương Nguyên liền bẩm báo lại với thầy giáo về lĩnh ngộ và những cuốn sách đã đọc gần đây, Tiêu Hồng khen:
Nghe nhiều, thấy nhiều mới chính là học nhiều biết rộng, bí quyết dưỡn tâm tính. Cái nghe nhiều thấy nhiều này không phải là tin vỉa hè, mà là nghe nhiều thì chọn được cái hay để theo, thấy nhiều thì biết nhiều, đây chính là sự học của thánh nhân, miệng nói không ăn thua, bắt buộc phải có thực tiễn.
Trương Nguyên, Trương Đại nghe Tiêu Hồng giảng giải non nửa canh giờ, cảm thấy thu hoạch rất nhiều, học vấn của Tiêu Hồng cụ thể, bình dị, thứ học vấn nói suông của Vương Học Mạt tuyệt đối không thể sánh bằng được, Trương Nguyên nói:
Giáo quan của Quốc Tử Giám đâu có giảng thấu triệt được như thầy, học trò không tới Quốc Tử Giám nữa, ở luôn Đạm Viên này tháp tùng thầy, mưa dầm thấm lâu, cũng sẽ hơn hẳn tới Quốc Tử Giám.
Tiêu Hồng nói:
Chớ có xem thường những người nghiên cứu học vấn trong thiên hạ, Tế Tửu Thái Sơ nam giám tế nghiên cứu học vấn cẩn thận nghiêm túc, ta cũng thường xuyên phải thỉnh giáo ông ta.
Trương Nguyên nói:
Cố Tế Tửu học vấn tuy giỏi, nhưng sẽ không kiên nhẫn dạy chúng con như thầy.
Tế Tửu tứ phẩm là ấn quan của Quốc Tử Giám, tương đương với hiệu trưởng trường đại học trung ương, thường sẽ không đích thân giảng bài cho học trò.
Tiêu Hồng cười nói:
Lão phu tuổi già sức yếu, những ngày còn lại không nhiều, viết sách e còn không kịp, không có nhiều thời gian dạy bảo các ngươi, trong số các bác học, trợ giáo, học chính của Quốc Tử Giám cũng có nhiều người uyên bác, trong ba người đi cùng ắt có người là thầy ta, chỉ cần chịu học thì nơi nào cũng là học vấn cả.
Trương Nguyên nói:
Thầy dạy rất đúng.
Thật ra Trương Nguyên có khả năng tự học rất lớn, chỉ cần có sách là được, sở dĩ tới Nam Kinh Quốc Tử Giám xin học chỉ là một phương diện, mặt khác là để kết bạn, để tìm hiểu quan trường và phố phường Nam Đô, tìm sự khiếm khuyết trong triều chính, suy nghĩ tìm tòi con đường giải quyết.
Thói quen của thầy Tiêu là sau bữa ăn phải nghỉ ngơi một lát, hôm nay vì hai đệ tử Trương Nguyên và Tông Dực Thiện này ở đây, hứng trí cao nên giảng hơi nhiều, lúc này bèn đi nghỉ ngơi, để con trai Tiêu Nhuận Sinh tiếp khách. Tiêu Nhuận Sinh hỏi han Trương Nguyên về chuyện của Hàn xã, bày tỏ rằng gã cũng muốn tham gia, Trương Nguyên đương nhiên là rất hoan nghênh.
Tiêu Nhuận Sinh nói:
Giới tử hiền đệ, có một việc ta phải nhắc nhở đệ, Nam Kinh Quốc Tử Giám tư nghiệp Tống Thời Miễn là môn sinh của Đổng Kỳ Xương, e sẽ làm khó đệ. Đương nhiên, Cố Tế Tửu và gia phụ có quan hệ khá thân thiết, vài ngày trước Cố Tế Tửu còn tới Đạm Viên bàn luận về đồ đồng và bia đá cổ với gia phụ, gia phụ có đề cập tới chuyện huynh đệ các người sẽ tới Quốc Tử Giám xin học. Tế Tửu nói ông ta thích nhất là thiếu niên tài năng, Cố Tế Tửu sẽ quan tâm chiếu cố, bản thân đệ bình thường cũng nên lưu tâm một chút.
Quốc Tử Giám Tư nghiệp là chính ngũ phẩm, trợ giúp đỡ Cố Tế Tửu quản lý mọi việc trong giám, tương đương với phó hiệu trưởng thực quyền. Đổng Kỳ Xương là cây đại thụ, rắc rối khó gỡ, việc Trương Nguyên đánh đổ Đổng thị gây không ít phiền toái, nhưng Trương Nguyên lại không cảm thấy việc đánh đổ Đổng thị là hành động khinh suất liều lĩnh. Hắn không phải là quy phạm đạo đức, càng không phải là ông ba phải, sau này hắn còn có thể đắc tội với nhiều người hơn. Nói cách khác, ngồi ăn rồi chờ chết ai mà không biết chứ, hắn bèn nói:
Đa tạ Tiêu huynh nhắc nhở, đệ sẽ lưu tâm.
Trương Ngạc cười lạnh nói:
Một học quan ngũ phẩm có thể làm gì chúng ta?
Tiêu Nhuận Sinh nói:
Yến Khách huynh chớ có coi thường nội giám học quan, đối với người ngoài không có quyền thế gì, nhưng đối với giám sinh thì có quyền cao lắm đó. Bây giờ còn khá hơn một chút, ít dùng hình phạt về thể xác, mà trước Chính Đức, học quan hơi một chút là đánh giám sinh, giám sinh bị đánh tới chết hoặc tàn phế đều có cả.
Trương Đại gật đầu nói:
Tiêu huynh nói phải, ta nghe bậc cha chú đàm luận chuyện cũ, thời Hồng Vũ, Tế Tửu Tống Nột nổi tiếng khắc nghiệt, giám sinh không chịu nổi ngược đãi, có người còn thắt cổ mà chết, có người còn bị bỏ cho chết đói.
A!
Trương Ngạc trợn trừng mắt nói:
Đại huynh, huynh dọa đệ đấy à, đây là Quốc Tử Giám sao, đây rõ ràng là nhà tù bộ Hình, ba huynh đệ chúng ta vạn dặm xa xôi tới đây lẽ nào là tìm cái chết?
Tiêu Nhuận Sinh cười, nói:
Đó là chuyện trước thời Chính Đức mới có, lúc đó, Học quan quyền uy vô cùng, giám sinh sợ Học quan như hổ. Gần đây ngược lại rồi, giám sinh vênh váo tự đắc, Học quan không dám quản thúc, nhưng Cố Tế Tửu lên chức nghe nói đã nghiêm khắc chỉnh đốn lại rồi.
Trương Nguyên nói:
Nghiêm khắc một chút cũng tốt, chỉ cần đừng có hơi một tí là muốn đánh muốn giết, vậy thì ai còn dám vào học nữa.
Tiêu Nhuận Sinh nói:
Đúng vậy, giữa năm Hồng Vũ và Vĩnh Lạc, triều đình và nhân dân có rất nhiều việc bị gác lại đang cần phải làm, cần gấp số lượng lớn quan văn, giám sinh Quốc Tử Giám sau khi tốt nghiệp có thể đến tuyển quan ở bộ Lại. Bởi vậy giám quy tuy nghiêm, nhưng vẫn có chư sinh hăng hái xin vào giám học. Gần trăm năm nay, đặc biệt là sau thời Gia Tĩnh, tiến sĩ rất được trọng vọng. Quan mà không phải xuất thân tiến sĩ thì cao nhất chỉ làm tới chức tri phủ tứ phẩm, tuyệt đối không thể thăng quan hơn được. Hơn nữa trên quan trường dễ bị xa lánh và ghẻ lạnh, người xuất thân tiến sĩ cho dù bị trục xuất cũng còn có cơ hội phục chức. Mà người có xuất thân cử cống, một khi bãi quan thì sẽ không có ai nhắc tới nữa, trực tiếp bị xóa tên khỏi bộ Lại. Bởi thế các sĩ tử có chí khí đều không muốn thông qua giám sinh để làm quan, sợ bị người khác coi thường. Họ thà chịu khổ làm sinh đồ hay cử nhân, chỉ hi vọng sẽ đỗ tiến sĩ. Đương nhiên, các huynh đệ tới xin học là chuẩn bị cho kỳ thi hương năm tới, chứ không phải thông qua giám sinh để làm quan, thế thì khác nhau rất lớn.
Ba huynh đệ Trương Nguyên dùng bữa tối ở Đạm Viên, bái biệt Tiêu thái sử trở về bến tàu Chỉ Mã Doanh nghỉ ngơi, sáng hôm sau tới bộ Lễ Nam Kinh báo danh. Trương Đại, Trương Nguyên đều coi là tuế cống, phải tiến hành thi nhập học, sau đó căn cứ vào thành tích thi để xếp lớp học.
Nam Kinh Quốc Tử Giám có sáu học đường, lần lượt là chính nghĩa, sùng chí, quảng nghiệp, tu đạo, thành tâm, suất tính, trong đó ba học đường chính nghĩa, sùng tâm, quảng nghiệp là lớp sơ cấp; hai học đường tu đạo, thành tâm là trung cấp; suất tính đường là lớp cao cấp, được thăng lên suất tính đường thì có thể tốt nghiệp tuyển quan bất cứ lúc nào.
Chương 257: Lưu Cầu Vương tử.
Trương Ngạc đã chi một ngàn hai trăm lượng bạc để mua suất giám sinh này, lại không cần phải thi nhập học, vào thẳng chính nghĩa đường học. Chắc hẳn Nam Kinh bộ Lễ và quan viên Quốc Tử Giám đều rõ, đối với các lệ giám này mà nói, có thi cũng mất công, chẳng lẽ thi không được thì trả lại tiền cho họ, không cho vào học Quốc Tử Giám nữa ư?
Chạng vạng hôm đó, ba huynh đệ Trương Nguyên dùng xong bữa tối ở tửu lầu gần bến tàu, thong thả đi về bờ sông Tần Hoài, ngồi ở mũi thuyền hóng mát, đúng dịp trăng tròn mười bảy tháng sáu sáng tỏ như gương, sóng tâm lay động, trăng thanh tịnh không một tiếng động, Trương Đại phiền muộn nói:
Trăng đẹp như này, mà cứ nằm ở đây sao?
Trương Ngạc lập tức đề nghị:
Tới cầu Vũ Định thăm Vương Vi Cô, thế nào? Nhân tiện dò hỏi Lý Tuyết Y, so sánh một chút xem Vương Vi Cô và Lý Tuyết Y ai là Khúc trung đệ nhất danh kỹ?
Trương Nguyên cười nói:
Tam huynh ngày mai không phải thi, đêm nay có thể đi uống hoa tửu, thật tốt quá.
Trương Ngạc nói:
Giới Tử, chớ làm mất hứng, đừng có đạo đức giả, cùng đi đi.
Trương Nguyên nói:
Tam huynh muốn đệ không làm mất hứng cũng được, nhưng không được hơi một tý lại nói là đệ đạo đức giả.
Trương Ngạc nói:
Được, được, không nói đệ, cùng đi nhé, chưa biết chừng chừng ngày mai sau khi nhập giám xong không dễ mà ra ngoài được đâu. Nữ lang ở U Lan Quán kia ngày ngày đều mong chúng ta tới, mong chờ mòn mỏi, sao chúng ta nhẫn tâm được chứ.
Nói xong liền cười lớn.
Bỗng nghe bên thuyến một tiếng nói giòn giã như tiếng chim vàng oanh:
Yến Khách tướng công chuyên nói nhảm sau lưng, thật khiến tiểu nữ tử khinh thường.
Lúc Trương Ngạc xấu hổ vội quay đầu lại nhìn, nhưng thấy một chiếc thuyền lá nhỏ không biết đã trôi tới bên thuyền đu từ lúc nào. Nữ lang Vương Vi dứng ở mũi thuyền, ngẩng đầu nhìn ba huynh đệ họ, trên mặt còn nở nụ cười chế nhạo.
Việt
Thuyền bơi trên mặt nước, nước chảy chậm rãi, mũi thuyền có một cái án nhỏ bằng gỗ mun, trên án có ba cái chén sứ, nước trà vừa rót đầy, mặt trăng trong chén khẽ lay động,khi ba người Trương Đại, Trương Ngạc, Trương Nguyên cùng đứng dậy, mũi thuyền lún nhẹ, ánh trăng trong cốc chao đảo.
Trong tay nữ lang đang đứng ở mũi thuyền dưới trăng kia cầm một cái giỏ trúc, thứ trái cây trong giỏ hiện ra trong suốt sáng bóng dưới ánh trăng, tròn nhỏ, màu nhạt, giống như hạt chân trâu, giọng nói của cô gái giòn tan:
Giỏ anh đào này mời ba vị tướng công thưởng thức.
Tiểu đồng tóc dài bên cạnh nữ lang cũng đưa một giỏ khác tới, nói:
Đây là đào môn táo, nữ lang nhà nô tài mời ba vị tướng công nếm thử.
Trương Ngạc nhận lấy cái giỏ anh đào, Trương Nguyên nhận lấy giỏ táo, Trương Ngạc cười nói:
Hổ thẹn, nhắc tào tháo, tào tháo liền tới ngay, cô nương thật đúng là hồ tiên, xuất hiện thần không biết, quỷ không hay.
Vương Vi cười nói:
Tiểu nữ nhớ ba vị tướng công, thật là trông mòn con mắt, oán trách mãi không thôi, thấy ba vị tướng công không tới, liền gạt hết xấu hổ mà mang trái cây tới thể hiện thành ý, ba vị tướng công hiểu được ý của tiểu nữ chứ?
Thế này thì Trương Ngạc không còn gì đển nói. Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại liếc nhau, thầm nghĩ:
Bị nữ lang này đùa giỡn trước mặt rồi.
Trương Đại nói:
Tu Vi cô nương, mời lên thuyền bên này, thưởng trà, thưởng nguyệt, luận thơ, thế nào?
Thuyền đu ba mái chèo cao hơn nhiều so với cái thuyền nhỏ kia, nữ lang ngẩng mặt lên, búi tóc gọn gàng, vầng trán rộng, lông my đẹp, môi đỏ răng trắng, mỉm cười đáp:
Không dám quấy rầy, ba vị tướng công ngày mai phải thi, tiểu nữ tặng chút trái cây tươi để bày tỏ thành ý, bây giờ đi về, cung chúc ba vị tướng công học tập thành công.
Chiếc thuyền nhỏ đẩy hai mái chèo, tuy là ngược dòng nhưng thuyền đi cũng không chậm, nhanh chóng biến mất dưới ánh trăng trên sông Tần Hoài. Lại có tiếng sáo rẽ nước vọng đến, ánh trăng mênh mông, dòng nước chảy xiết, tiếng sáo cũng xa ngút ngàn dặm không thể nghe thấy nữa.
Mà ngay cả Trương Ngạc bản tính nóng vội cũng đợi cho tới khi không còn nghe thấy tiếng sáo nữa mới hỏi:
Là Vương Vi thổi sáo sao?
Không ai trả lời, không dám xác định.
Trương Đại ngẩn người, mê mẩn nói:
Hai mươi bốn đêm trăng sáng bên cầu, ngọc nhân dạy thổi sáo ở nơi nào?
Trương Nguyên cười nói:
Nữ lang này lại tới trêu chọc chúng ta.
Trương Ngạc nói:
Giới Tử ngứa ngáy rồi?
Trương Nguyên cười ‘hắc’ một tiếng, nhặt lên một quả anh đào, cho vào miệng, cực ngọt, khen:
Ngọt quá.
Hắn bảo bọn Mục Chân Chân, Tiểu Vũ đều tới nếm thử, lại hỏi Lai Phúc và Tiểu Vũ việc tìm thuê phòng tới đâu rồi?
Lai Phúc nói:
Bên cạnh Kê Minh tự có một chỗ rất sạch sẽ thoáng mát, bên trong còn có hoa trúc cây cỏ, trước sau rộng khoảng hai mẫu, nhưng chủ nhà đó không muốn cho thuê nửa năm, nói muốn thuê thì thuê cả năm, tiền thuê một năm là ba mươi lượng bạc, thực sự rất đắt, tiểu nhân ngày mai lại đi hỏi thăm xem, tìm nhà đẹp mà giá rẻ.
Hai mươi lượng có thể đảm bảo cơm ăn áo mặc cả năm cho nhà năm miệng ăn, thuê nhà một năm mất ba mươi lượng, theo Lai Phúc thì quá đắt.
Trương Nguyên nói với Trương Ngạc:
Ngày mai tam huynh đi tới chỗ Kê Minh tự xem nhà, thật sự tốt thì không cần so đo mấy lượng bạc làm gì, thuê nửa năm trả người ta mười tám lượng, chắc chán sẽ đồng ý cho thuê. Khi lập khế ước cần tìm bảo trưởng hoặc giáp trưởng ở gần đó làm chứng, tránh để gây ra những phiền toái không cần thiết.
Ngày mai Trương Ngạc không cần thi, ngày kia trực tiếp nhập học luôn.
Sáng sớm ngày mười tám tháng sáu, ăn xong há cảo Kim Lăng, Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại còn cả mấy nô bộc Vũ Lăng, Mính Yên vội tới cống viện Nam Kinh. Những giám sinh mới tới Quốc Tử Giám nhập học thi ở cống viện, do thượng thư bộ Lễ Nam Kinh và Tế Tửu Quốc Tử Giám cùng chủ trì.
Trương Ngạc thì bảo Lai Phúc dẫn tới gần chỗ Kê Minh tự xem nhà, quả nhiên là yên tĩnh tao nhã, tiền viện trồng hoa, hậu viện đầy trúc cảnh, ở giữa là một cái lầu nhỏ sắp xếp các tòa nhà hình chữ phẩm (品). Trương Ngạc khá hài lòng, vừa xinh ba huynh đệ họ mỗi người một tòa. Gã lập tức bàn việc lập khế ước với chủ nhà. Chủ nhà họ Từ, thấy vị giám sinh này tới thuê nhà, xem ra là con nhà giàu có, thuê nửa năm cũng bỏ ra mười tám lượng, vậy thì còn gì để nói nữa, liền nói:
Tiền thuê nửa năm sẽ phải trả hết một lần.
Trương Ngạc nói:
Ai mà có đủ kiên nhẫn để bàn tiền thuê nhà hàng tháng với ông, tiền thuê nửa năm giao hết ngay cũng không sao, nhưng ông phải tìm một lý giáp làm chứng, bằng không ai biết cái nhà này có phải là của ông không, nếu ông lấy tiền của ta chạy đi, ta chẳng phải là bị oan sao.
Chủ nhà họ Từ kia vội nói:
Sao có lý đó. Khế ước cần người làm chứng không sai, nhưng người làm chứng mà không có chút tiền nào thì ai chịu đứng ra làm chứ, lễ vật năm quan tiền là phải có, năm quan tiền này cậu phải trả.
Trương Ngạc không muốn dông dài với chủ nhà này, đồng ý đưa ra năm quan tiền. Chủ nhà họ Từ liền dẫn gã đi tìm người làm chứng để lập khế ước. Khế ước lập xong, trả luôn tiền thuê, ba bên đều điểm chỉ, mỗi bên giữ một bản. Tiểu viện dưới chân núi Kê Minh này là chỗ ở tạm của ba huynh đệ Trương thị rồi. Trương Ngạc sai Năng Trụ và mấy người hầu tới quét dọn, gã tự mình tới chỗ cống viện xem Trương Đại và Trương Nguyên thi xong chưa?
Cống viện Nam Kinh ở giữa những năm Hồng Vũ là trường thi hương, thi hội. Sau khi Vĩnh Lạc dời đô tới Bắc Kinh, nơi đây chỉ dùng cho thi hương Nam Trực Lệ, quy mô xây dựng to lớn hơn so với cống viện hành tỉnh. Đầu giờ thìn, Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại từ long môn cống viện Nam Kinh bước vào, thấy tả hữu đều có quảng trường, lần lượt là “Minh kinh thủ sĩ” và “Vi quốc cầu hiền”. Bởi vì các quan viên chưa tới, nên các giám sinh đợi thi phải đứng ở hai bên lầu Minh Viễn, chờ Nam Kinh Lễ Bộ Thượng thư Lý Duy Trinh và Nam Kinh Quốc Tử Giám Tế Tửu Cố Khởi Nguyên tới. Những giám sinh mới tới xếp thành hai hàng, có tuế cống, tuyển cống, cử giám, ấn giám, khoảng hơn hai trăm người. Nam Kinh Quốc Tử Giám này tuy không hưng thịnh như trước, nhưng hàng năm vẫn duy trì khoảng ba ngàn giám sinh tới học, phủ học và huyện học còn lâu mới bì kịp.
Minh Viễn lầu có tất thảy ba tầng, cao sáu trượng, để quan giám khảo ở trên cao nhìn xuống giám sát các thí sinh theo số thứ tự, nên bốn mặt đương nhiên là để trống không che chắn gì. Tuy là buổi sáng, nhưng cái nắng gay gắt tháng sáu cũng rất khó chịu, đợi khoảng hai khắc, mới thấy một đám quan lại tiến vào trường thi dưới sự hộ vệ của các quan sai, Lý Thượng thư nhìn dáng vẻ khoảng chừng hơn bảy mươi tuổi, hơi béo, gương mặt mỉm cười. Cố Tế tửu khoảng chừng năm mươi tuổi, vóc người bậc trung, hai mắt hơi sâu, vẻ mặt khá nghiêm túc.
Đi xuyên qua dưới lầu Minh Viễn, phía trước là “Chí công đường”, Lý thượng thư và Cố Tế tửu và một số quan viên khác ngồi vào vị trí của mình trên công đường. Các giám sinh mới nhập học đứng ở dưới đường, Lý thượng thư cũng không dài dòng, trước tiên bảo thư lại thu và kiểm tra giấy phép nhập học của giám sinh, ông nói:
Hôm nay là kỳ thi nhập học, chỉ làm một đề Tứ thư, chỉ cần chế nghệ, thư pháp không đến mức quá kém thì sẽ không đánh trượt các ngươi. Nhưng người có chế nghệ tốt có thể vào học ở Sùng Chí đường và Quảng Nghiệp đường. Những người kém hơn thì bắt đầu học ở Chính Nghĩa đường.
Lúc này, chợt thấy một quan sai của cống viện lên công đường bẩm báo:
Viện trưởng đại nhân, Lưu Cầu Vương tử Thượng Phong yêu cầu tham dự cuộc thi ngày hôm nay, xin đại nhân chỉ thị.
Chương 258: Từ Cống viện tới Cựu viện (1).
Theo như xưng hô trong quan trường thời Vãn Minh thì Thượng thư gọi là Viện trưởng. Lý Viện trưởng nói với Cố Khởi Nguyên:
Lưu Cầu Vương tử này không phải đầu năm tới rồi sao, đã học nhiều ngày rồi, tại sao bây giờ còn xin thi?
Cố Khởi Nguyên nói:
Thượng Phong là con thứ của Lưu Cầu Vương tử, được cho là hiếu học cầu tiến, khi mới nhập học vẫn chưa để cậu ta thi, chắc cũng muốn đường đường chính chính thông qua cuộc thi nhập học như các cống sinh khác.
Lý Duy Trinh gật đầu nói:
Người Man Di có chí khí thế này ũng coi là hiếm khó, để cậu ta vào đi.
Trên công đường các quan viên nói chuyện, Trương Nguyên bên dưới nghe rõ mồn một, kinh ngạc nghĩ thầm:
Lưu Cầu Vương tử cũng tới Nam Kinh Quốc Tử Giám xin học sao, ta nhớ thời Vãn Minh Lưu Cầu đã bị một đảo phiên Nhật Bản nào đó khống chế rồi, bây giờ chắc vẫn chưa có, nếu không Lưu Cầu Vương tử cũng sẽ không tới Nam Kinh này xin học.
Lại nghĩ:
Lưu Cầu cho dù bây giờ chưa bị đảo phiên Nhật Bản khống chế, e rằng cũng chỉ sau mấy năm nữa, Lưu Cầu là nước thuộc Đại Minh, chịu Đại Minh thao túng. Lưu Cầu bị xâm lấn, Đại Minh lại không thể cứu giúp, đáng tiếc.
Một lát sau, quan sai cống viện dẫn ba người bước vào, khăn đóng áo dài bằng tơ sống màu xanh ngọc, tay áo rộng, thắt đai quanh eo, đây chính là đồng phục của giám sinh Quốc Tử Giám. Diện mạo ba người cũng giống hệt như người Hán, một người trong đó khoảng chừng hai tư, hai lăm tuổi, cao khoảng năm thước rất lạ, da trắng, trán cao, mũi cao, thần thái kiên nghị, người này hẳn là con thứ Thượng Phong của Lưu Cầu Vương. Từ hai người đứng hai bên giữ khoảng cách nửa bước với cậu ta có thể thấy địa vị cao quý của cậu ta.
Lý Thượng thư gọi ba người Thượng Phong lên khen ngợi vài câu rồi bảo quan sai dẫn các thi sinh vào buồng có đánh số để bắt đầu thi, hạn nộp bài là trước chính ngọ, không được kéo dài.
Buồng đánh số của Nam Kinhn cống viện khác xa với lều thi huyện và thi phủ mà Trương Nguyên từng tham gia. Buồng đánh số này là một người một gian, lấy văn ngàn chữ “Thiên địa huyền hoàng vũ trụ hồng hoang” để sắp xếp thứ tự, số của Trương Nguyên là số chữ ‘Thử’. Trong buồng đánh số có bút, mực, giấy viết. Đầu tờ giấy có in mẫu chữ của Nam Kinh cống viện và in chữ ‘Thử’. Thi nhập học của Quốc Tử Giám đương nhiên không nghiêm khắc như thi hương, không phải xuống áp môn, trước khi vào Long môn cũng không bị soát người.
Trương Nguyên đang mài mực thì nghe thấy quan sai báo đề thi, là đề Tứ thư “Phàn trì vấn tri” bắt nguồn từ , là trình bày và phân tích về tri và nhân. Kiểu đề mục này đối với Trương Nguyên thì không hề khó. Hắn lập tức từ từ mài mực, đợi nghiên mực mài đặc, thì trong đầu hắn bài bát cổ văn đề Tứ thư bốn trăm chữ cũng đã làm xong. Nhưng hắn không vội viết ra, hắn làm quen với buồng số trước đã. Hắn coi cuộc thi nhập học Quốc Tử Giám lần này là thi thử, tháng tám năm sau hắn sẽ tham gia thi hương ở Cống viện Hàng Châu. Buồng số của Cống viện quy chế cũng không khác biệt nhiều. Buồng số này cao khoảng sáu thước, rộng ba thước, sâu bốn thước, nếu là người to béo thì e rằng buồng này không ních vào được. Trong buồng số không có bàn ghế, chỉ có hai mảnh ván gỗ, kê lên vài viên gạch, bên trên đặt một tấm coi như cái bàn, bên dưới đặt một tấm coi như cái ghế, rất đơn giản, mục đích là để tránh gian lận quay cóp trong thi cử.
Buồng số thấp bé rất bí, thời tiết mùa thè như thế này thì bên trong vô cung oi bức. May mà thi hương lại là tháng tám, nếu thi ba ngày liền trong tháng sáu mùa hè nóng bức thì chắc chắn sẽ bị cảm nắng. Nơi này cũng rất nhiều muỗi, Trương Nguyên chỉ ngồi một lúc như vậy, chân đã bị muỗi cắn cho đỏ ửng.
Chỗ này không ở lâu được. Trương Nguyên cầm bút, dùng kiểu chữ Tiểu Khải viết ngay ngắn chỉnh tề bài bát cổ văn “Phàn trì vấn tri” của mình lên tờ giấy thi của Cống viện. Hắn kiểm tra thấy không có lỗi gì, liền nâng tấm ván lên, cầm bài thi đi ra khỏi buồng số. Buồng số xếp thành hàng, ở giữa là một lối đi nhỏ. Quan sai gác cửa đưa Trương Nguyên tới ‘Chí Công đường’ nộp bài. Trương Nguyên đi qua cửa buồng có chữ “Sương”, thấy đại huynh Trương Đại cũng cầm bài thi đi ra, liền cười khẽ nói:
Đại huynh sướng thật đấy, ở buồng có chữ “Sương”, buồng đệ là chữ “Thử” (nghĩa là nóng), nóng vô cùng.
Hai huynh đệ cười khẽ, đi về phía ‘Chí Công đường’, lại thấy Lưu Cầu Vương tử Thượng Phong cũng thi ra rồi, vừa đi vừa giở xem bài thi của mình, khẽ mỉm cười, rõ ràng bài bát cổ văn này cậu ta làm khá hài lòng.
Lưu Cầu không to hơn là mấy so với một huyện của Đại Minh, Lưu Cầu Vương tử cũng tương đương với con trai của huyện lệnh, hơn nữa bây giờ còn là ăn nhờ ở đậu, cho nên Lưu Cầu vương tử Thượng Phong này rất khiêm nhường, thấy hai người huynh đệ Trương Nguyên đi tới, liền đứng một bên, chắp tay chào. Trương Nguyên, Trương Đại đương nhiên phải đáp lễ, quan sai Cống viện kia thúc giục:
Mau đi, mau đi chớ làm ảnh hưởng tới người khác làm bài.
Ba người tới “Chí Công đường”, trình bài thi lên, ngồi trên đường là Nam Kinh Lễ bộ Thượng thư Lý Duy Trinh. Lý Duy Trinh nhận ra Lưu Cầu vương tử Thượng Phong, liền lấy bài thi của Thượng Phong ra xem trước, chỉ hơn ba trăm chữ, ông ta xem hết trong giây lát, gật đầu nói:
Văn chương, thư pháp của Thượng sinh có chỗ khả quan, chứng tỏ hàng ngày rất chăm chỉ công phu, thật hiếm có.
Được Lý Thượng thư khen, Lưu Cầu Vương tử Thượng Phong vui mừng, khom người nói:
Đa tạ Viện trưởng đại nhân khen tặng, học trò nhất định cố gắng tu dưỡng, chăm chỉ ngày đêm。
Lý Duy Trinh hỏi Thượng Phong bây giờ đang học ở Đường nào, Thượng Phong trả lời là “Chính Nghĩa Đường”, Lý Duy Trinh nói:
Lát nữa lão phu nói với Cố Tế Tửu, Thượng Phong có thể có thể thăng lên Sùng chí đường … Được rồi, ngươi lui ra đi.
Lưu Cầu Vương tử Thượng Phong càng vui mừng hơn, tạ ơn Lý Viện trưởng, đang định lui xuống, chợt nghe Lý Viện trưởng trên Đường kinh ngạc nói:
Ngươi chính là Trương Nguyên?
Khi Thượng Phong ngẩng mặt lên nhìn, nhìn thấy hai thiếu niên thư sinh đứng bên cạnh Lý Viện trưởng. Trong đó một thiếu niên thư sinh bước lên nửa bước, khom người nói:
Học trò Sơn Âm Trương Nguyên Trương Giới Tử, bái kiến Lý Viện trưởng.
Sơn Âm Trương Nguyên!
Những ngày này người mà các chư sinh Nam Kinh Quốc Tử Giám nhắc tới nhiều nhất chính là Trương Nguyên – Trương Giới Tử. Thượng Phong là Vương tử Phiên Quốc, thích nhất nghe ngóng tin tức của triều Đại Minh, phàm là chuyện thay đổi nhân sự quan thần trong Nội các, động thái chính trị quân sự, việc lớn các nơi, các loại tin đồn, thậm chí dân chúng Đại Minh gần đây lưu hành loại áo mũ gì, đồ vật kiểu dáng ra sao, gã đều muốn tìm hiểu. Trương Nguyên gần đây nổi tiếng, có thể nói là độc nhất vô nhị, Thượng Phong đương nhiên từng nghe tới cái tên và sự tích của Trương Nguyên, hơn nữa lại vô cùng có hứng thú, không ngờ lại gặp được thiếu niên thư sinh tao nhã này ở đây, thật nhìn không ra hào khí nhất hô bách ứng đánh đổ Đổng thị, thật là không thể trông mặt mà bắt hình dong.
Nam Kinh Quốc Tử Giám Tế tửu Cố Khởi Nguyên đi ra, Lý Duy Trinh nói:
Cố Tế tửu, người bên tay trái chính là Trương Nguyên đó.
Cố Khởi Nguyên liếc nhìn Trương Nguyên, không hề biểu lộ cảm xúc, nói:
Lý Viện trưởng xem bài thi của hắn chưa?
Lý Duy Trinh cười nói:
Vẫn chưa kịp xem.
Lúc này ông mới giở bài thi ra định xem, những nét chữ Tiểu Khải tròn trịa mượt mà thanh tú, tuy không coi là quá tốt, nhưng đúng quy củ, không thể chỉ trích được. Ông “ừ” một tiếng rồi đọc phần phá đề:
Suy ra việc nhân và tâm, mà đâu đã vào đấy.
Lại nghiêng đầu hỏi Cố Khởi Nguyên:
Cố tế tửu là danh gia chế nghệ, bài giải của Trương Nguyên ông thấy thế nào?
Cố Khởi Nguyên nói:
Coi như là độc đáo – Lý viện trưởng dừng một chút, chờ hạ quan đến đọc.
Nam Kinh Lễ bộ Thượng thư tuy không có thực quyền gì, nhưng phẩm cấp cũng giống như Bắc Kinh Lễ bộ Thượng thư, là cao quan chính nhị phẩm, Nam giám Tế tửu Cố Khởi Nguyên là quan chính tứ phẩm, đương nhiên phải xưng là hạ quan.
Cố Khởi Nguyên nhận lấy bài thi, đọc:
Cái quỷ thần diệc nghĩa chi tồn, hoạch diệc nan chi nghiệm nhi sở vụ sở tiên bất tồn yên, thử vi tri nhân chi sự dữ tâm dục. Thả phu thế hữu chí nhân kỳ lượng cố vô hồ bất cử dã, cổ kỳ sinh bình công lực chi sở tích, do tất bất tạp hồ kỳ đồ.
Đọc tới đây, Cố Khởi Nguyên dừng lại một lúc, Lý Duy Trinh liền khen:
Bài văn này khúc dạo đầu có khả quan, người này danh bất hư truyền.
Cố Khởi Nguyên mỉm cười, tiếp tục đọc:
Tập chi vu quân thần phụ tử chi tiết, sử bất thiên vu dị vật, kinh khả thủ nhi quyền khả đạt dã; du chi vu thi, thư, lễ, nhạc chi đồ, sử bất hoặc vu dị ngôn đức khả thành nhi nghệ diệc khả quan dã... . . . Nhược thử giả, nhất ngữ chi dĩ vụ nghĩa, nhất ngữ chi dĩ tiên nan, phi minh lý tắc tận bất túc dĩ ngôn tri, phi khứ tư tắc tận bất dĩ ngôn nhân dã, tri nhân khởi dịch ngôn tai.
Cố Khởi Nguyên đọc xong, Lý Duy Trinh nhìn Cố Khởi Nguyên, đợi Cố Khởi Nguyên bình luận. Lý Duy Trinh tuy tuổi tác lớn hơn Cố Khởi Nguyên, chức vị cũng cao hơn, nhưng Cố Khởi Nguyên là đệ nhất thi Hội khóa Mậu Tuất, đỗ Thám hoa thi Điện, vào Hàn Lâm Viện. Lý Duy Trinh là đứng thứ hai mươi lăm Nhị giáp Khoa Mậu Thần, quan trường Vãn Minh rất coi trọng điều này, xuất than là cử nhân, giám sinh cho dù làm quan tri phủ tứ phẩm, trước mặt quan tri huyện thất phẩm mà xuất thân tiến sĩ, cũng không dám lên mặt.
thi ngày hôm nay, xin đại nhân chỉ thị.
Chương 258: Từ Cống viện tới Cựu viện (2) .
Xuất thân tiến sĩ, giống như con bà cả, còn xuất thân cử giám, coi như là thứ xuất, tiểu nương dưỡng. Tương tự, tiến sĩ Tam giáp thấp hơn Nhị giáp, Nhị giáp thấp hơn Nhất giáp, chỉ là không có sẽ phân biệt rõ ràng như giữa cử giám và tiến sĩ mà thôi. Cho nên Lý Duy Trinh phải nghe Cố Khởi Nguyên bình luận như thế nào trước.
Cố Khởi Nguyên được Tiêu Pháp ủy thác chiếu cố Trương Nguyên, lúc này không tiện khích lệ Trương Nguyên, khách khí nói:
Vẫn là để Lý viện trưởng bình luận trước đi.
Lý Duy Trinh cũng không nhún nhường, nói:
Câu văn chặt chẽ hiểu về chữ nhân, lặp lại lưu loát, có sự hào phóng của Tô Thức và chất phác của Tăng Củng, nghị luận độc đáo - Cố tế tửu nghĩ thế nào?
Cố Khởi Nguyên cười nói:
Lý viện trưởng khen quá mức, người này mới mười bảy, đâu thể so với Tô Thức, Tăng Củng.
Rồi nói với Trương Nguyên:
Còn không tạ ơn Lý viện trưởng khen ngợi đi.
Trương Nguyên vội vàng tạ ơn Lý Duy Trinh, trong lòng rất rõ sự yêu mến của Cố Khởi Nguyên với mình.
Cố Khởi Nguyên lại nhìn bài văn của Trương Đại, gật đầu, biểu dương hai câu, phất tay ra hiệu bọn họ lui xuống.
Lý Duy Trinh nói:
Đệ tử này của Tiêu Thái sử quả nhiên bất phàm, làm văn chính nghĩa đại khí, khó có được.
Cố Khởi Nguyên nói:
Thiếu niên thành danh, hại nhiều hơn lợi, người này xuất sắc quá mức, vì chuyện của Hoa đình Đổng Hàn lâm , ở Nam Đô khen chê đều có, đã tới Quốc Tử Giám học, ta phải chỉ dẫn cho nó tử tế.
Lý Duy Trinh nói:
Cố tế tửu chủ chì Nam giám, khi có tình hình mới, thi Hội năm tới, Nam giám hẳn là sẽ không mất tinh thần như năm trước nữa rồi.
Sau năm Gia tĩnh, Nam Kinh Quốc Tử Giám sinh đồ thi đỗ thi Hội giảm theo từng năm, mấy năm gần đây càng thưa thớt, còn kém xa Quốc Tử Giám phủ Thuận Thiên.
Cố Khởi Nguyên nói:
Những ngày này hạ quan đã thăm dò tình hình song núi ở xung quanh Nam giám, được biết mười lăm năm trước ở phía sau Minh Đức đường của Quốc Tử Giám có một núi đất cao, sau đó bị Đô ngự sử Trần Công Phượng Ngô san bằng xây một tòa Tôn Kinh các. Tòa các này theo Càn vị thì kim khí thịnh, làm cho đại môn của văn miếu Nho học và Thái học môn chịu hiện tượng Kim khắc Mộc, đây chính là nguyên nhân Nam Giám suy bại.
Đại phu Vãn Minh thích bàn về dịch lý, tướng mệnh, phong thủy. Cố Khởi Nguyên tinh thông huyền nữ trạch kinh thuật, Lý Duy Trinh một chút cũng không cảm thấy lời nói của Cố Khởi Nguyên là vớ vẩn, liền nói:
Vậy phải phá Tôn Kinh các thế nào?
Cố Khởi Nguyên cười nói:
Vừa xây dựng, lại hủy đi, sợ gây nên mối họa, Nam giám văn miếu đặt ở càn hướng, phía Minh Đức đường ở sau miếu, sau đường là Tông Kinh các, cửa thứ hai chịu khắc càn kim. Ở Khảm vị ((một trong tám quẻ Bát quái, tượng trưng cho nước) của Nam giám dựng lên một tòa các cao, gọi là “Thanh Vân các”, phải cao hơn Tôn Kinh các, để giảm bớt kim khí. Lại tiếp tục tạo một tòa Tụ Tinh đình ở Ly vị (Quẻ ly, trong bốn phương thuộc về phương nam.), khiến cho Chấn (Quẻ Chấn, trong bốn phương thuộc về phương đông) nhị mộc sinh hỏa. Bức tường chắn ở trong Thái Học môn phải mở cửa, như vậy, trong ba năm, Nam giám ắt có người thi đậu Nhất giáp.
Trong ba năm thi đậu Nhất giáp, cũng chính là nói mùa xuân năm kia Nam giám sẽ có giám sinh đỗ Trạng Nguyên, Bảng nhãn hoặc Thám hoa.
Trương Nguyên đâu biết Lý thượng thư và Cố tế tửu đang bàn về phong thủy của Quốc Tử Giám. Đối với thuật phong thủy tướng mệnh, Trương Nguyên mang thái độ kinh nhi viễn chi, nhân định thắng thiên là kiêu ngạo, ngông cuồng, mặc cho số phận là làm nhám, hai thứ đều cực đoan, hắn chỉ quan tâm làm tốt những việc của mình. Mạnh Tử nói: “Mưu sự tại nhân, hành sự tại thiên”, về phần sự cố gắng của hắn có kết quả gì, đó không phải thứ hắn có thể khống chế trong tay. Giống như Văn Chấn Mạnh, tham gia mười lần thi Hội, chín lần trước đều rớt, lần thứ mười trở thành Trạng Nguyên, lẽ nào Văn Chấn Mạnh ở trong lần thi Hội thứ mười đột nhiên thánh hiền chiếm được bài văn sao? Đương nhiên không phải, đây là số mệnh.
Thuận theo ánh mặt trời đã khuất vào lối đi nhỏ của Minh Viễn lầu, một khoảng mát mẻ, Lưu Cầu Vương tử Thượng Phong kia bước nhanh lên, chắp tay nói:
Hai vị huynh đài Lưu Cầu Thượng Phong có lễ.
Trương Đại, Trương Nguyên đáp lễ nói:
Sơn Âm Trương Đại (Sơn Âm Trương Nguyên) tham kiến Vương Tử điện hạ.
Thượng Phong vội hỏi:
Hai vị Trương huynh chớ xưng hô như vậy, tại hạ là người quốc phá khuất nhục, được thượng quốc ân chuẩn cho cầu học ở Kim Lăng, nguyện làm dân của thượng quốc, không dám tự cho mình là Vương tử phiên quốc.
Thượng Phong dùng từ vô cùng khiêm tốn, còn khiêm tốn hơn nhiều so với một giám sinh bình thường.
Trương Nguyên nghe Thượng Phong nói “quốc phá khuất nhục”, cảm thấy kinh ngạc, thầm nghĩ:
Lẽ nào Lưu Cầu đã bị Nhật Bản xâm chiếm?
Lần đầu gặp mặt, không tiện hỏi, liền nói:
Vậy cứ gọi chúng ta là huynh đệ, đã là giờ ngọ rồi, Thượng huynh có thể nể mặt, cùng đi ăn với chúng ta không?
Thượng Phong vui mừng, gã tuy là Lưu Cầu Vương tử nhưng không phải thế tử tạm trú Kim Lăng, không có chỗ nương tựa, từ quan viên lục bộ tới sĩ tử giám sinh, đều không lạnh nhạt cũng không thân thiết với gã, có rất ít người chủ động giao lưu với gã. Trương Nguyên này tài hoa hơn người, đại danh lừng lẫy, khách khí với gã như vậy, điều này khiến Thượng Phong vô cùng vui mừng, liền nói:
Tại hạ mời khách, tại hạ tuy là ngoại phiên, nhưng đầu năm tới Kim Lăng, hai vị Trương huynh mới tới, phải là do tại hạ mời.
Đang hàn huyên, hai tùy tùng của Thượng Phong cũng nộp bài thi, chạy lên trước bái kiến Thượng Phong. Thượng Phong dẫn hai vị tùy tùng của mình lên bái kiến huynh đệ Trương thị, một người là Thái Khải Tường, một người là Lâm Triệu Khánh, đều hơn hai mươi tuổi, có vẻ xốc vác, Thái Khải Tường nói với Trương Nguyên và Trương Đại:
Tại hạ nguyên quán ở Phủ Điền Phúc Kiến, tiên tổ là Thái học sĩ của Tô Hoàng Mễ Thái.
Lâm Triệu Khánh nói:
Tại hạ nguyên quán Tuyền Châu Phúc Kiến, tiên tổ là Lâm Hòa Tĩnh tiên sinh của Mai Thê Hạc Tử.
Hậu nhân khả úy, cùng họ với tiên tổ, điều này không có gì đáng ngạc nhiên, Thượng Phong nói:
Hồng Vũ Đế từng nhận lời mời của tiến đế tệ quốc, lấy Mân địa (tỉnh Phúc Kiến) ba mươi sáu họ nhập Lưu Cầu, Đại Minh với Lưu Cầu ta là phụ mẫu chi bang.
Trương Nguyên liền mời hai người Thái, Lâm cùng đi ăn, năm người ra khỏi cửa Cống viện, lại thấy Trương Ngạc dẫn theo Phúc Nhi và Phùng Hổ đang đợi ở bên ngoài, Trương Ngạc liền nói:
Nhà đã thuê rồi, miễn cưỡng ở tạm, tất cả đồ đạc ta đã bảo Lai Phúc, Năng Trụ đi mua mới rồi, căn nhà dưới núi Kê Minh đang quét dọn, ngày mai có thể ở được.
Ba người Thượng Phong lại vội vàng chào Trương Ngạc, Trương Ngạc cũng vui mừng kết bạn, chỉ cần không chọc y, y sẽ rất trượng nghĩa, nghe nói Thượng Phong là Lưu Cầu Vương tử, cười nói:
Hôm nay kết giao được với một vương tử, thật thú vị - Thượng huynh, sau này mời mấy huynh đệ chúng ta tới quý quốc du ngoạn, thế nào?
Thượng Phong nói:
Chỉ cần hiền huynh đệ nể mặt, tại hạ cầu còn không được.
Ngoài Cống viện Long môn không xa, chính là sông tiểu Tần Hoài, đây là một nhánh sông của sông Tần Hoài, phân nhánh ở cầu Võ Định, qua cầu Thái Bình một lần nữa lại nhập vào dòng chính, đoạn sông này chảy qua nơi phồn hoa nhất của Kim Lăng, cái gọi là Cống viện và Cựu viện cách nhau một con sông, chính là chỉ khúc sông này.
Đứng dưới một bóng cây bên sông Tần Hoài, Trương Ngạc dùng quạt chỉ về cái lan can ở phía xa bên bờ bên kia, nói:
Chúng ta tới U Lan quán tìm hiểu xem Vương Vi thế nào, cô nàng đó nói phải mời chúng ta uống rượu, ba vị Thượng huynh, cùng đi nhé, nghe ngóng thuyền công một chút xem U Lan quán ở đâu.
Trương Đại, Trương Ngạc đều hứng trí bừng bừng, ba người Thượng Phong ngơ ngác nhìn nhau. Thượng Phong ở Kim Lăng đã nửa năm, đương nhiên biết U Lan quán là chỗ nào, với thân phận của gã hiện giờ, thực không nên đặt chân tới những nơi ong bướm như vậy.
Trương Nguyên có ý kết giao với Lưu Cầu Vương tử này, nói:
Đại huynh, tam huynh, hai người các huynh đi tìm Vương Tu Vi, đệ bồi ba vị Thượng huynh tới tửu lầu bên kia đàm đạo uống rượu.
Thượng Phong lập tức biểu hiện sắc mặt vui mừng.
Trương Ngạc nói:
Thôi, U Lan quán vẫn nên tối mới đến, lúc này dẫn Thượng huynh đi uống mấy chén.
Mấy người đi theo ven sông Tần Hoài được vài dặm, tới một tửu lầu có tên là Hỉ Đăng Khoa, gọi lên một bình rượu nhỏ, món cá Kim Lăng, vịt mặn, vịt muối, cùng với một chút đồ ăn vặt của Kim Lăng “thất diệu” “bát sắc”, bày khắp cả một bàn. Thái Khải Tường và Lâm Triệu Khánh không dám ngồi cùng với Thượng Phong, bị Thượng Phong trừng mắt lườm, đành ngoan ngoãn ngồi vào chỗ.
Rượu qua ba tuần, Thượng Phong và huynh đệ Trương thị đã trở nên quen thuộc hơn, lời nói cũng nhiều rồi, Trương Nguyên mới tìm hiểu được vào năm Vạn Lịch thứ ba mươi, Đảo Tân Thị đại danh trên Lộc Nhi đảo của Nhật Bản, đã phái gia thần Hoa Sơn Cửu Cao dẫn ba ngàn binh xâm lấn Lưu Cầu, còn bắt hơn một trăm người nhà của Thượng Ninh cha của Thượng Phong tới đảo Lộc Nhi… nhốt gần bốn năm, ép Thượng Ninh vương cắt nhượng năm đảo phía bắc Lưu Cầu, hàng năm còn phải tiến công cho đảo Lộc Nhi. Lưu Cầu từ năm Hồng Vũ thứ năm phụng theo triều chính của Đại Minh, cứ hai năm tiến cống cho triều Minh một lần, qua nhiều thế hệ Lưu Cầu vương Đô muốn thỉnh cầu hoàng đế Đại Minh sắc phong, Minh vương triều đã ban cho Lưu Cầu rất nhiều đồ vật, còn nhiều hơn so với những gì Lưu Cầu tiến cống…
Chương 258: Từ Cống viện tới Cựu viện (3).
Chu Nguyên Trương để ba sáu họ Mân địa di dân tới Lưu Cầu không phải vì muốn xâm chiếm Lưu Cầu, mà nghe theo lời mời của Lưu Cầu Vương, phái qua đều là những người có tay nghề giỏi, giúp đỡ người dân Lưu Cầu phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp.
Qua nhiều thế hệ quân chủ Trung Quốc đều phá lệ khoan hồng độ lượng, đối với ngoại phiên, để thể hiện rõ khí thế của đại quốc mênh mông, đều là đòi ít mà ban cho rất nhiều, cái muốn chính là danh phận của một Tông chủ quốc.
Đảo Tân Thị hàng năm phải trưng trên nghìn dân phu đi Lộc Nhi đảo phục dịch, còn muốn Lưu Cầu vương tiến công hải ngư, bàn chân gấu, dược liệu, khoáng sản… Dù sao chỉ cần Lưu Cầu đảo sản xuất ra cái gì, thì Đảo Tân Thị liền muốn cái đó… cực kỳ tham lam.
Thượng Ninh vương chịu nhẫn nhục, bốn năm trước từng cử Trần Tình Thông sự đường xá xa xôi tới Bắc Kinh cầu cứu hoàng đế Vạn Lịch, nhưng sau khi các chư thần thảo luận xong, cảm thấy Lưu Cầu ở hải ngoại xa xôi, nằm ngoài tầm tay với, cho dù có phái Thủy sư trợ giúp Lưu Cầu Vương đánh đuổi những Oa Khấu (giặc Oa; giặc lùn - bọn hải tặc người Oa Nhật Bản, thường quấy phá vùng ven biển Triều Tiên, Trung Quốc, thế kỷ XIV-XVI) kia, nhưng Thủy sư Đại Minh không thể ở lâu tại Lưu Cầu, một khi về nước, Oa Khấu sẽ ngóc đầu lên, Oa Khấu cách Lưu Cầu gần… thật khó lòng phòng bị.
Cuộc chiến đánh đuôi Oa năm Vạn Lịch thứ hai mươi đã khiến Đại Minh tổn thương nguyên khí nặng nề. Lưu Cầu đối với Đại Minh mà nói, đương nhiên mãi mãi không quan trọng bằng Triều Tiên. Cho nên Diệp Hướng Cao đối với sứ thần Lưu Cầu chỉ có những lời an ủi rồi điều về nước .
Từ năm Hồng Vũ thứ mười sáu, Lưu Cầu thường phái quan sinh tới Nam Kinh Quốc Tử Giám để học. Nam Kinh Quốc Tử Giám có Quang Triết đường chuyên môn cung cấp chỗ ở cho học sinh Lưu Cầu…
Con thứ của Thượng Ninh vương Thượng Phong rất căm hận đối với việc sưu cao thuế nặng của Đảo Tân Thị ở Lưu Cầu, cho nên năm ngoái gã đã thỉnh cầu Thượng Ninh vương đến Đại Minh triều Nam Đô để đọc sách, kết bạn, những thứ này có lẽ sẽ giúp ích cho Lưu cầu sau này. Thượng Phong vì không cam tâm chịu người Oa nô dịch, nhưng mà ở Kim Lăng, thông qua sự kết giáo với giám sinh Đại Minh, Thượng Phong phát hiện tuyệt đại đa số giám sinh không hề có hứng thú với Lưu Cầu, chỉ khi nói đến Oa Khấu, mới cất tiếng măng vài tiếng, không hơn không kém.
Trương Nguyên là người đầu tiên có hứng thú sâu sắc với Lưu Cầu mà Thượng Phong gặp được khi đến Kim Lăng, hơn nữa kiến thức của Trương Nguyên khiến Thượng Phong vô cùng kinh ngạc. Trương Nguyên vô cùng quen thuộc đối với vị trí địa lý của Lưu Cầu, với cả quan hệ giữa Đại Minh và Nhật Bản. Tuy Trương Nguyên chỉ là một giám sinh, không quyền không thế, đối với Lưu Cầu lực bất tòng tâm, nhưng có thể gặp một chư sinh Đại Minh hiểu và đồng tình với Lưu cầu như thế, đã khiến cho Thương Phong thấy vô cùng an ủi.
Mà đối với Trương Nguyên mà nói, giúp đỡ Lưu Cầu chống lại Oa Khâu cũng không nằm trong mục tiêu phấn đấu của hắn. Mục đích mà hắn xác định nhất, đó là làm cho Đại Minh vương triều quốc tác trường viễn, tuyệt không để cho người Mãn Thanh nhập chủ Trung Nguyên. Nhưng giao hảo với một Lưu Cầu Vương tử là có lợi không hại, them một người bạn là them một con đường, chỉ cần không phải là kẻ thù, thì hãy tận lực kết làm bằng hữu.
Hai người Trương Đại và Trương Ngạc nghe Trương Nguyên và Thượng Phong nói chuyện, nghe đến mức phát buồn ngủ, không hiểu sao Giới Tử lại có hưng trí như vậy, nói chuyện rất ăn ý với Phiên quốc Vương tử hải ngoại này!
Khó khăn lắm mới nhịn hết một canh giờ, Trương Ngạc đứng lên nói:
Được rồi, cơm nước no nê, Thượng huynh, chúng ta tái kiến ở Quốc Tử Giám, về sau đều là đồng học, cơ hội gặp mặt còn nhiều, hôm khác sẽ nói chuyện tiếp nhé.
Thượng Phong cũng là người cực kỳ biết điều, biết hai tộc huynh này của Trương Nguyên đang nóng long đi thăm danh kỹ, bèn đứng lên nói:
Hôm nay được gặp ba huynh đệ, tại hạ xem như có phúc ba đời, chúng ta ngày khác sẽ gặp lại.
Mệnh cho Thái Khải Tường đi thanh toán tiền, lại được biết người hầu của Trương Ngạc Phúc Nhi đã thanh toán rồi, Thượng Phong liên miệng nói “Hổ thẹn”, chỉ đành hôm khác gặp lại sẽ mời ba huynh đệ Trương thị.
Hai người Trương Đại và Trương Ngạc nghe Trương Nguyên và Thượng Phong nói chuyện, nghe đến mức phát buồn ngủ, không hiểu sao Giới Tử lại có hưng trí như vậy, nói chuyện rất ăn ý với Phiên quốc Vương tử hải ngoại này!
Khó khăn lắm mới nhịn hết một canh giờ, Trương Ngạc đứng lên nói:
Được rồi, cơm nước no nê, Thượng huynh, chúng ta tái kiến ở Quốc Tử Giám, về sau đều là đồng học, cơ hội gặp mặt còn nhiều, hôm khác sẽ nói chuyện tiếp nhé.
Thượng Phong cũng là người cực kỳ biết điều, biết hai tộc huynh này của Trương Nguyên đang nóng long đi thăm danh kỹ, bèn đứng lên nói:
Hôm nay được gặp ba huynh đệ, tại hạ xem như có phúc ba đời, chúng ta ngày khác sẽ gặp lại.
Mệnh cho Thái Khải Tường đi thanh toán tiền, lại được biết người hầu của Trương Ngạc Phúc Nhi đã thanh toán rồi, Thượng Phong liên miệng nói “Hổ thẹn”, chỉ đành hôm khác gặp lại sẽ mời ba huynh đệ Trương thị.
Ba người Thượng Phong tự trở về Quang Triết đường ở Quốc Tử Giám. Lúc này đã cuối giờ Mùi, ánh mặt trời tuy đã ngả về tây, nhưng vẫn gay gắt, nóng đến kinh người. Năm người nhóm Trương Nguyên lên một chiếc thuyền nhỏ, đi về phía Cựu viện bên kia bờ.
Cựu viện chính là Giáo phòng Ti phú nhạc viện được xây dựng đầu nhà Minh, người ta gọi là khúc trung. Cửa trước đối diện với cầu Võ Định, cửa sau nằm trên phố Sao Khố, kỹ gia san sát nhau. Khúc trung kỹ gia không khác với thanh lâu kỹ viện nơi khác là bao, khúc trung kỹ gia thường là một tú bà nuôi hai ba cô gái, có người là con đẻ, có người là con nuôi. Một Kỹ gia chỉ có hai ba kỹ nữ như vậy, chứ không phải là một đàn đứng xếp hàng khắp hành lang oanh oanh yến yến mời chào khách. Cựu viện khúc trung tương đương với một nơi để giao lưu, các hội thơ văn của văn sĩ thích đến nơi này, thương nhân nói chuyện buôn bán cũng thích đến đây. Có danh kỹ cho toàn, không khí sẽ khác, có thể khiến cho khách chủ vui đến tận cùng, đùa vui quên mệt mỏi, cũng không bừa bãi, tuyệt không phải phải thứ trao đổi da thịt như ở hậu thế.
Ba huynh đệ Trương Nguyên lên bờ, theo sự hướng dẫn của thuyền công, đi về phía cầu Chu Tước, thấy cảnh sắc nơi đây, Trương Ngạc khen:
Thật là nơi đệ nhất phồn hoa của nhân gian, không đến Cựu viện, thật uổng phí làm người.
Đi qua một cây cầu bằng đá phiến, men theo tường viện mấy chục bước, bỗng nhiên ngửi thấy mùi hoa lan Phúc Kiến, Trương Nguyên nói:
Đây chính là U Lan quán rồi.
Phúc Nhi đi gõ cửa, gõ cả nửa ngày, mới có một đồng tử tóc dài ra mở cửa, chính là Tiết Đồng, cậu cười nói:
Ba vị tướng công đến thật không đúng lúc rồi, nữ lang nhà ta không có ở trong quán. Tuy nhiên vẫn mời ba vị tướng công vào trong uống trà.
Nước sông Tần Hoài xanh biếc, tà dương khói liễu, mùi hương của hoa nhài, hoa lan theo gió thoảng tới. Sau khi gõ cửa rất lâu, thằng bé mới ra mở cửa nói nữ lang không có ở đó, Trương Ngạc rất mất hứng, hỏi Tiết Đồng:
Nữ lang nhà ngươi đi đâu rồi?
Tiết Đồng nói:
Cánh Lăng Đàm tiên sinh đã tới Kim Lăng, nữ lang nhà ta đi tới bến tàu Bạch Lộ Châu bái kiến Đàm tiên sinh.
Trương Ngạc buồn bực nói:
Đàm tiên sinh nào?
Tiết Đồng nói:
Là thầy giáo của nữ lang nhà ta, làm thơ đấy.
Trương Đại nói:
Chắc là Đàm Nguyên Xuân rồi.
Trên thuyền từ Thanh Phổ tới Kim Lăng, khi Vương Vi luận thơ với Trương Đại và Trương Nguyên vô cùng tôn sùng Lăng Chung Tinh và Đàm Nguyên Xuân. Trương Nguyên nói thơ của Chung và Đàm chẳng qua chỉ thường thôi, Vương Vi rất không phục.
Trương Nguyên nói:
Thôi vậy, chúng ta về thuyền đi.
Rồi quay người liền đi.
Trương Đại, Trương Ngạc đuổi theo, tên hầu Phúc Nhi còn đứng lại nói nhỏ với Tiết Đồng điều gì đó.
Trương Ngạc phẫn nộ nói:
Cô nàng này giả vờ giả vịt, tính nết lẳng lơ không đâu với đâu cả.
Trương Ngạc tức giận, đó là vì y rất để ý tới Vương Vi, định đột ngột tới thăm, lại bị nói là đi gặp một tài tử danh sĩ khác, Trương Ngạc đương nhiên không vui.
Trương Nguyên cười nói:
Tam huynh đúng là cho rằng Vương Vi trông mong chúng ta tới à, trước khi kết bạn với chúng ta, cô ta đã kết bạn với các danh sĩ Giang Nam rồi. Đàm Nguyên Xuân từng dạy cô ta làm thơ, cũng là thầy giáo của cô ta, tới bái kiến thầy giáo cũng là điều đương nhiên.
Trương Ngạc thất vọng nói:
Thầy giáo của cô nàng này khá nhiều, vừa là Trần Kế Nho, vừa là Đàm Nguyên Xuân.
Trương Đại nói:
Đàm Nguyên Xuân làm sao có thể so bì được với Trần Mi Công, còn kém xa.
Cỏ bức hàn , hoa nhài, mười văn tiền một bó đây.
Hai thiếu niên khoảng mười bốn, mười lăm, đi guốc gỗ, mặc áo đơn không có tay mang theo một cái giỏ, lớn tiếng giao hàng. Kỹ gia dọc sông có hầu gái nhẹ nhàng cuốn mành, bỏ tiền tranh mua, thiếu niên bán hoa là rất thường thấy, lúc nào cũng cười nói xôn xao, đầu tóc rất duyên dáng.
Ba người Trương Nguyên đi theo hai thiếu niên bán hoa kia dần dần tới chỗ đông đúc, chợt thấy một cô gái khoảng mười hai mười ba tuổi, đi ra từ một tòa ẩn mình dưới mai trúc thấp thoáng, cô gái này để tóc mái ngố, mặt mày như vẽ, màu da trắng nõn, rất đáng yêu. Lòng bàn tay phải có cầm một cái khăn lụa, trên chiếc khăn có hai xếp tiền đồng, giòn giòn giã giã nói:
Quần Kịch tiểu ca, cỏ bức hàn, hoa nhài mỗi thứ nhà ta mua một bó.
Chương 258: Từ Cống viện tới Cựu viện (3).
Chu Nguyên Trương để ba sáu họ Mân địa di dân tới Lưu Cầu không phải vì muốn xâm chiếm Lưu Cầu, mà nghe theo lời mời của Lưu Cầu Vương, phái qua đều là những người có tay nghề giỏi, giúp đỡ người dân Lưu Cầu phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp.
Qua nhiều thế hệ quân chủ Trung Quốc đều phá lệ khoan hồng độ lượng, đối với ngoại phiên, để thể hiện rõ khí thế của đại quốc mênh mông, đều là đòi ít mà ban cho rất nhiều, cái muốn chính là danh phận của một Tông chủ quốc.
Đảo Tân Thị hàng năm phải trưng trên nghìn dân phu đi Lộc Nhi đảo phục dịch, còn muốn Lưu Cầu vương tiến công hải ngư, bàn chân gấu, dược liệu, khoáng sản… Dù sao chỉ cần Lưu Cầu đảo sản xuất ra cái gì, thì Đảo Tân Thị liền muốn cái đó… cực kỳ tham lam.
Thượng Ninh vương chịu nhẫn nhục, bốn năm trước từng cử Trần Tình Thông sự đường xá xa xôi tới Bắc Kinh cầu cứu hoàng đế Vạn Lịch, nhưng sau khi các chư thần thảo luận xong, cảm thấy Lưu Cầu ở hải ngoại xa xôi, nằm ngoài tầm tay với, cho dù có phái Thủy sư trợ giúp Lưu Cầu Vương đánh đuổi những Oa Khấu (giặc Oa; giặc lùn - bọn hải tặc người Oa Nhật Bản, thường quấy phá vùng ven biển Triều Tiên, Trung Quốc, thế kỷ XIV-XVI) kia, nhưng Thủy sư Đại Minh không thể ở lâu tại Lưu Cầu, một khi về nước, Oa Khấu sẽ ngóc đầu lên, Oa Khấu cách Lưu Cầu gần… thật khó lòng phòng bị.
Cuộc chiến đánh đuôi Oa năm Vạn Lịch thứ hai mươi đã khiến Đại Minh tổn thương nguyên khí nặng nề. Lưu Cầu đối với Đại Minh mà nói, đương nhiên mãi mãi không quan trọng bằng Triều Tiên. Cho nên Diệp Hướng Cao đối với sứ thần Lưu Cầu chỉ có những lời an ủi rồi điều về nước .
Từ năm Hồng Vũ thứ mười sáu, Lưu Cầu thường phái quan sinh tới Nam Kinh Quốc Tử Giám để học. Nam Kinh Quốc Tử Giám có Quang Triết đường chuyên môn cung cấp chỗ ở cho học sinh Lưu Cầu…
Con thứ của Thượng Ninh vương Thượng Phong rất căm hận đối với việc sưu cao thuế nặng của Đảo Tân Thị ở Lưu Cầu, cho nên năm ngoái gã đã thỉnh cầu Thượng Ninh vương đến Đại Minh triều Nam Đô để đọc sách, kết bạn, những thứ này có lẽ sẽ giúp ích cho Lưu cầu sau này. Thượng Phong vì không cam tâm chịu người Oa nô dịch, nhưng mà ở Kim Lăng, thông qua sự kết giáo với giám sinh Đại Minh, Thượng Phong phát hiện tuyệt đại đa số giám sinh không hề có hứng thú với Lưu Cầu, chỉ khi nói đến Oa Khấu, mới cất tiếng măng vài tiếng, không hơn không kém.
Trương Nguyên là người đầu tiên có hứng thú sâu sắc với Lưu Cầu mà Thượng Phong gặp được khi đến Kim Lăng, hơn nữa kiến thức của Trương Nguyên khiến Thượng Phong vô cùng kinh ngạc. Trương Nguyên vô cùng quen thuộc đối với vị trí địa lý của Lưu Cầu, với cả quan hệ giữa Đại Minh và Nhật Bản. Tuy Trương Nguyên chỉ là một giám sinh, không quyền không thế, đối với Lưu Cầu lực bất tòng tâm, nhưng có thể gặp một chư sinh Đại Minh hiểu và đồng tình với Lưu cầu như thế, đã khiến cho Thương Phong thấy vô cùng an ủi.
Mà đối với Trương Nguyên mà nói, giúp đỡ Lưu Cầu chống lại Oa Khâu cũng không nằm trong mục tiêu phấn đấu của hắn. Mục đích mà hắn xác định nhất, đó là làm cho Đại Minh vương triều quốc tác trường viễn, tuyệt không để cho người Mãn Thanh nhập chủ Trung Nguyên. Nhưng giao hảo với một Lưu Cầu Vương tử là có lợi không hại, them một người bạn là them một con đường, chỉ cần không phải là kẻ thù, thì hãy tận lực kết làm bằng hữu.
Hai người Trương Đại và Trương Ngạc nghe Trương Nguyên và Thượng Phong nói chuyện, nghe đến mức phát buồn ngủ, không hiểu sao Giới Tử lại có hưng trí như vậy, nói chuyện rất ăn ý với Phiên quốc Vương tử hải ngoại này!
Khó khăn lắm mới nhịn hết một canh giờ, Trương Ngạc đứng lên nói:
Được rồi, cơm nước no nê, Thượng huynh, chúng ta tái kiến ở Quốc Tử Giám, về sau đều là đồng học, cơ hội gặp mặt còn nhiều, hôm khác sẽ nói chuyện tiếp nhé.
Thượng Phong cũng là người cực kỳ biết điều, biết hai tộc huynh này của Trương Nguyên đang nóng long đi thăm danh kỹ, bèn đứng lên nói:
Hôm nay được gặp ba huynh đệ, tại hạ xem như có phúc ba đời, chúng ta ngày khác sẽ gặp lại.
Mệnh cho Thái Khải Tường đi thanh toán tiền, lại được biết người hầu của Trương Ngạc Phúc Nhi đã thanh toán rồi, Thượng Phong liên miệng nói “Hổ thẹn”, chỉ đành hôm khác gặp lại sẽ mời ba huynh đệ Trương thị.
Hai người Trương Đại và Trương Ngạc nghe Trương Nguyên và Thượng Phong nói chuyện, nghe đến mức phát buồn ngủ, không hiểu sao Giới Tử lại có hưng trí như vậy, nói chuyện rất ăn ý với Phiên quốc Vương tử hải ngoại này!
Khó khăn lắm mới nhịn hết một canh giờ, Trương Ngạc đứng lên nói:
Được rồi, cơm nước no nê, Thượng huynh, chúng ta tái kiến ở Quốc Tử Giám, về sau đều là đồng học, cơ hội gặp mặt còn nhiều, hôm khác sẽ nói chuyện tiếp nhé.
Thượng Phong cũng là người cực kỳ biết điều, biết hai tộc huynh này của Trương Nguyên đang nóng long đi thăm danh kỹ, bèn đứng lên nói:
Hôm nay được gặp ba huynh đệ, tại hạ xem như có phúc ba đời, chúng ta ngày khác sẽ gặp lại.
Mệnh cho Thái Khải Tường đi thanh toán tiền, lại được biết người hầu của Trương Ngạc Phúc Nhi đã thanh toán rồi, Thượng Phong liên miệng nói “Hổ thẹn”, chỉ đành hôm khác gặp lại sẽ mời ba huynh đệ Trương thị.
Ba người Thượng Phong tự trở về Quang Triết đường ở Quốc Tử Giám. Lúc này đã cuối giờ Mùi, ánh mặt trời tuy đã ngả về tây, nhưng vẫn gay gắt, nóng đến kinh người. Năm người nhóm Trương Nguyên lên một chiếc thuyền nhỏ, đi về phía Cựu viện bên kia bờ.
Cựu viện chính là Giáo phòng Ti phú nhạc viện được xây dựng đầu nhà Minh, người ta gọi là khúc trung. Cửa trước đối diện với cầu Võ Định, cửa sau nằm trên phố Sao Khố, kỹ gia san sát nhau. Khúc trung kỹ gia không khác với thanh lâu kỹ viện nơi khác là bao, khúc trung kỹ gia thường là một tú bà nuôi hai ba cô gái, có người là con đẻ, có người là con nuôi. Một Kỹ gia chỉ có hai ba kỹ nữ như vậy, chứ không phải là một đàn đứng xếp hàng khắp hành lang oanh oanh yến yến mời chào khách. Cựu viện khúc trung tương đương với một nơi để giao lưu, các hội thơ văn của văn sĩ thích đến nơi này, thương nhân nói chuyện buôn bán cũng thích đến đây. Có danh kỹ cho toàn, không khí sẽ khác, có thể khiến cho khách chủ vui đến tận cùng, đùa vui quên mệt mỏi, cũng không bừa bãi, tuyệt không phải phải thứ trao đổi da thịt như ở hậu thế.
Ba huynh đệ Trương Nguyên lên bờ, theo sự hướng dẫn của thuyền công, đi về phía cầu Chu Tước, thấy cảnh sắc nơi đây, Trương Ngạc khen:
Thật là nơi đệ nhất phồn hoa của nhân gian, không đến Cựu viện, thật uổng phí làm người.
Đi qua một cây cầu bằng đá phiến, men theo tường viện mấy chục bước, bỗng nhiên ngửi thấy mùi hoa lan Phúc Kiến, Trương Nguyên nói:
Đây chính là U Lan quán rồi.
Phúc Nhi đi gõ cửa, gõ cả nửa ngày, mới có một đồng tử tóc dài ra mở cửa, chính là Tiết Đồng, cậu cười nói:
Ba vị tướng công đến thật không đúng lúc rồi, nữ lang nhà ta không có ở trong quán. Tuy nhiên vẫn mời ba vị tướng công vào trong uống trà.
Nước sông Tần Hoài xanh biếc, tà dương khói liễu, mùi hương của hoa nhài, hoa lan theo gió thoảng tới. Sau khi gõ cửa rất lâu, thằng bé mới ra mở cửa nói nữ lang không có ở đó, Trương Ngạc rất mất hứng, hỏi Tiết Đồng:
Nữ lang nhà ngươi đi đâu rồi?
Tiết Đồng nói:
Cánh Lăng Đàm tiên sinh đã tới Kim Lăng, nữ lang nhà ta đi tới bến tàu Bạch Lộ Châu bái kiến Đàm tiên sinh.
Trương Ngạc buồn bực nói:
Đàm tiên sinh nào?
Tiết Đồng nói:
Là thầy giáo của nữ lang nhà ta, làm thơ đấy.
Trương Đại nói:
Chắc là Đàm Nguyên Xuân rồi.
Trên thuyền từ Thanh Phổ tới Kim Lăng, khi Vương Vi luận thơ với Trương Đại và Trương Nguyên vô cùng tôn sùng Lăng Chung Tinh và Đàm Nguyên Xuân. Trương Nguyên nói thơ của Chung và Đàm chẳng qua chỉ thường thôi, Vương Vi rất không phục.
Trương Nguyên nói:
Thôi vậy, chúng ta về thuyền đi.
Rồi quay người liền đi.
Trương Đại, Trương Ngạc đuổi theo, tên hầu Phúc Nhi còn đứng lại nói nhỏ với Tiết Đồng điều gì đó.
Trương Ngạc phẫn nộ nói:
Cô nàng này giả vờ giả vịt, tính nết lẳng lơ không đâu với đâu cả.
Trương Ngạc tức giận, đó là vì y rất để ý tới Vương Vi, định đột ngột tới thăm, lại bị nói là đi gặp một tài tử danh sĩ khác, Trương Ngạc đương nhiên không vui.
Trương Nguyên cười nói:
Tam huynh đúng là cho rằng Vương Vi trông mong chúng ta tới à, trước khi kết bạn với chúng ta, cô ta đã kết bạn với các danh sĩ Giang Nam rồi. Đàm Nguyên Xuân từng dạy cô ta làm thơ, cũng là thầy giáo của cô ta, tới bái kiến thầy giáo cũng là điều đương nhiên.
Trương Ngạc thất vọng nói:
Thầy giáo của cô nàng này khá nhiều, vừa là Trần Kế Nho, vừa là Đàm Nguyên Xuân.
Trương Đại nói:
Đàm Nguyên Xuân làm sao có thể so bì được với Trần Mi Công, còn kém xa.
Cỏ bức hàn , hoa nhài, mười văn tiền một bó đây.
Hai thiếu niên khoảng mười bốn, mười lăm, đi guốc gỗ, mặc áo đơn không có tay mang theo một cái giỏ, lớn tiếng giao hàng. Kỹ gia dọc sông có hầu gái nhẹ nhàng cuốn mành, bỏ tiền tranh mua, thiếu niên bán hoa là rất thường thấy, lúc nào cũng cười nói xôn xao, đầu tóc rất duyên dáng.
Ba người Trương Nguyên đi theo hai thiếu niên bán hoa kia dần dần tới chỗ đông đúc, chợt thấy một cô gái khoảng mười hai mười ba tuổi, đi ra từ một tòa ẩn mình dưới mai trúc thấp thoáng, cô gái này để tóc mái ngố, mặt mày như vẽ, màu da trắng nõn, rất đáng yêu. Lòng bàn tay phải có cầm một cái khăn lụa, trên chiếc khăn có hai xếp tiền đồng, giòn giòn giã giã nói:
Quần Kịch tiểu ca, cỏ bức hàn, hoa nhài mỗi thứ nhà ta mua một bó.
Chương 259: Đêm thuyền không người thức.
Hư nguồn gốc ko bổ xung đc
Chương 260: Sóng tình.
Trương Nguyên là một chàng trai mười bảy cơ thể tràn đầy huyết khí, thiếu nữ Mục Chân Chân cũng như hoa cành khỏe mạnh như tiên diễm, càng có tình mầm đối với thiếu gia.
Hôm nay là ngày thứ tư tới Nam Kinh rồi, đêm nay trên khoang chỉ có hai người thiếu gia và nàng. Cũng không biết tại sao, Mục Chân Chân rất kinh hoảng, cô không phải rất thích thiếu gia sao? Trên đường này nàng không phải vẫn âm thầm mong mỏi sớm ngày tới Kim Lăng sao? Tại sao đêm nay khi chỉ có một mình ở với thiếu gia, trái tim lại đập loạn nhịp như vậy, chỉ muốn co chân trốn đi? Là nàng sợ thiếu gia sao? Hay là vì bên kia bình phong không có tiếng ngáy ngủ của Lai Phúc nữa?
Trương Nguyên nhìn khuôn mặt đỏ ửng và ánh mắt nao núng của Mục Chân Chân, sự thẹn thùng và khiếp sợ này mê người vô cùng, khiến hắn không kìm nổi những suy nghĩ bồng bột.
Chân Chân.
Ừm, thiếu gia?
Ta rửa tay.
Oh.
Mỗi lần luyện thư pháp, tay cho dù không dính mực, cũng chí có chút mùi mực, nước trong chậu gỗ Mục Chân Chân vừa rồi đã chuẩn bị xong, vội quá nên quên mang cho thiếu gia rửa tay, lúc này mới vội vàng bưng lên, cúi đầu không dám nhìn thiếu gia.
Nước trong chậu gỗ rất mát, vì cầm bút lâu nên tay nóng lên, ngâm trong nước vô cùng thoải mái. Mục Chân Chân đã lấy khăn vải chờ sẵn, lông mày và cặp lông mi vẫn buông xuống, trái tim nhảy loạn lên, không khí đêm nay không hề giống với trước đó.
Bấc đèn đã ngắn, ánh đèn nhỏ dần, trong khoang thuyền có chút mờ tối. Trương Nguyên rửa tay, rủ mười ngón xuống, giọt nước rớt xuống từ đầu ngón tay, ánh mắt lại nhìn lên mặt Mục Chân Chân. Mục Chân Chân lại nhìn giọt nước trên đầu ngón tay hắn, đêm rất yên tĩnh, có thể nghe thấy rõ ràng tiếng nước tóc tóc rơi xuống chậu, nước tí tách rơi, đôi lông mi của Mục Chân Chân chớp chớp, lông mi của Mục Chân Chân dày hơn những cô gái người Hán khác, đây là vì tiên tổ của nàng là người Cát La Lộc sao? Người Cát La Lộc sống chủ yếu là ở phía tây Thông Lĩnh, bên đó lạnh, bão cát lớn, lông mi dày có lợi cho việc bảo vệ đôi mắt, mà tới thời của Mục Chân Chân đều không biết đã qua bao nhiêu thời đại, hẳn không còn bao nhiêu huyết thống của Cát La Lộc, nhưng sắc tộc của Mục Chân Chân vẫn khá rõ, tóc dài hơi vàng, mắt hơi có màu ngọc bích, da trắng như tuyết.
Tay thiếu gia cũng đã khô rồi, vẫn còn buông xuống như vậy sao, thiếu gia đang nghĩ gì vậy?
Mục Chân Chân thoáng giương mắt nhìn lên, đang đối ánh nhìn với Trương Nguyên. Trương Nguyên mỉm cười, chợt giơ tay xoa lên má nàng, nói:
Chân Chân, mặt ngươi thật nóng.
Với sự nhanh nhẹn của Mục Chân Chân, vốn tránh được, nhưng trước mặt thiếu gia nàng trở nên ngốc xít, cảm nhận được hơi lạnh trên bàn tay của thiếu gia, còn mặt nàng cũng nóng rực lên trong nháy mắt, nói một câu không hiểu ra sao:
Thiếu gia, đêm nay không mưa chứ?
Câu nói này có ý gì, là nói không mưa, trời nóng, mặt nàng mới nóng lên, hay là nói trời không mưa thì không thể có những cử động thân thiết?
Trương Nguyên dùng ngón tay nhẹ nhàng vuốt lên gò má của Mục Chân Chân, nhỏ giọng nói:
Không mưa thì làm sao, có trăng.
Rồi quay đầu lại thổi tắt ngọn đèn.
Đêm trăng mười tám tháng sáu nhô lên muộn, đã là nửa đêm, ánh trăng còn chưa lên tới đỉnh, thuyền đu ba mái chèo đang hướng về phía bắc, ánh trăng chiếu vào cửa sổ mui thuyền, khi châm đèn không cảm thấy, lúc này đã dập đèn, ánh trăng như ôm trọn lấy khoang thuyền, ánh mắt có chút thích ứng, thì có thể phân biệt được đồ vật. Trương Nguyên bị cận thị, nhìn gần thì có thể nhìn rõ, thấy mặt Mục Chân Chân hiện rõ dưới ánh trăng, bộ ngực hở ra, eo nhỏ, đang ngồi chồm hỗm hở ra cái mông và đùi, không hề nhúc nhích như một bản điêu khắc xinh đẹp, nhìn kỹ, đôi môi rung lên trong đêm tối đẹp như hoa hồng, hình như có một chút yêu kiều tỏa ra.
Trương Nguyên đang định tiếp cận cái môi đó, lại nghe thấy thiếu nữ này hàm hồ nói:
Thiếu gia, nước còn chưa đổ mà.
Trương Nguyên ngồi thẳng người, Mục Chân Chân vội mang chậu nước ra sông, “ào” một tiếng, qua một lúc, Mục Chân Chân quay lại, thấy thiếu gia đã cởi áo lót, chỉ thấy mặc một cái quần ngắn ngồi trên ghế, Mục Chân Chân căng thẳng hết mức, quay người trở lại cửa thuyền, chần chừ, quỳ ngồi xuống nói:
Thiếu gia, nô tì phục vụ người nghỉ ngơi nhé.
Trương Nguyên nói:
Chân Chân, cởi giầy ra, chúng ta nói chuyện.
Mục Chân Chân cúi đầu lên tiếng đồng ý, cởi giầy và váy dài, bên trong là chiếc áo vải bâu và cái quần vẻn vẹn chỉ tới đầu gối, Mục Chân Chân ngồi khép lại, hướng một bên, hỏi:
Thiếu gia muốn nói gì?
Trương Nguyên rời tới gần một chút, cười nhẹ nói:
Chân Chân muốn nói gì?
Mục Chân Chân dắt quần một góc, cúi đầu nói:
Nô tì không có gì muốn nói.
Trương Nguyên nói:
Vậy ta cũng không có gì để nói.
Mục Chân Chân không nhịn được cười lên một tiếng, nâng hàng mi nhìn thoáng qua thiếu gia, đôi mắt của thiếu gia sáng long lanh, kéo tay nàng nhẹ nhàng vuốt ve, rồi tới gần hôn nàng, thân thiết giống như hai người hồi trước đây. Mục Chân Chân tuy tim đập rất nhanh, lại không hoảng loạn, thầm nghĩ:
Khi chia tay, phụ thân dặn dò mình phải hầu hạ thiếu gia, sau này Thiếu nãi nãi quá môn, mình cũng phải cẩn thận hầu hạ, thiếu gia là người rất tốt, mình thích thiếu gia.
Mục Chân Chân giơ tay khoác lên vai thiếu gia, uyển chuyển xoay người, chợt thấy lưỡi đã vào miệng, trong lúc trêu chọc, thần hồn đều lay động, cơ thể bị thiếu gia nắm chặt, nằm sát trên ghế, thiếu nữ đọa dân này đã trở nên bối rối. Trước đây thiếu gia hôn nàng chỉ là lướt qua rồi dừng, lần này lại kiên quyết đòi lấy, khiến nàng không sao ứng phó nổi, hai tay nắm chặt lấy bả vai thiếu gia, lo lắng, hơi thở dồn dập. Tay thiếu gia lại cởi cúc áo của nàng, dáng vẻ rất nhanh nhẹn, lập tức một bàn tay che lên vú phải của nàng, tay của thiếu gia cũng rất nóng, trước nhẹ sau mạnh, hai bên đều không buông tha, nhào nặn nàng, xoa toàn cơ thể nàng khiến nó càng ngày càng nóng lên, dường như cả người đều giống như chiếc kẹo đường bị hòa tan dưới ánh nắng mặt trời.
Huyết mạch Trương Nguyên sôi lên sùng sục, sự mãnh liệt về tình dục trên cơ thể trẻ trung khiến tay hắn phát run, nảy người lên, nhìn Mục Chân Chân dưới thân mình, thiếu nữ đọa dân này môi khẽ nhếch lên, thở hổn hển, nội y bên vạt áo trái đã bị xốc ra từ bao giờ, lộ toàn bộ bộ ngực. Trong sắc nguyệt mờ ảo, giống như hai đợt trăng tròn ở đáy nước hiện lên, rất lớn, rất tròn, rất sáng, mà nở rộ…
Đêm trăng bên bờ sông Thải Thach, hẳn là ánh trắng như vậy mới khiến người ta thấy say mê vô cùng. Trương Nguyên yêu thích không buông tay, tiếp đó lấy môi lướt lên người thiếu nữ một lượt, còn hắn đã vững như đúc bằng sắt rồi.
Trương Nguyên khẽ nói:
Chân Chân…
Hai tay Mục Chân Chân nắm trên vai thấm đẫm mồ hôi của hắn, giọng nói run rẩy:
Thiếu gia.
Ánh mắt nhìn thiếu gia, thẹn thùng.
Trương Nguyên ghé vào lỗ tai nói một câu gì đó, Mục Chân Chân khẽ gật đầu, rồi khẽ “ừm” một tiếng, Trương Nguyên liền lật người lại, Mục Chân Chân hai tay đột nhiên tăng lực, còn may Mục Chân Chân chưa luyện tới Ưng trảo công, không thì xương bả vai của Trương Nguyên đã bị bóp nát rồi, nhưng cũng rất đau, giống như bị thúc giục, ra sức tiến lên, khi thịt va vào nhau, cảm thấy cơ thể đều đã đạt được khoái lạc, cơ thể trai tráng lần đầu tiên nhanh chóng được tiến thẳng lên đỉnh cao.
Ánh trăng lặng lẽ rời khỏi ngoài cửa buồm, nước dưới đáy thuyền của sông Tần Hoài vẫn chảy xuôi như trước, Trương Nguyên nằm ngửa mặt lên trời, Mục Chân Chân nghiêng người nằm trong lòng ngực của hắn, hai người nhỏ nhẹ nói chuyện, thiếu nữ này cảm nhận được Trương Nguyên ép chặt dưới cánh tay nàng, vội vàng tránh người nói:
Nô tì đè lên thiếu gia rồi.
Trương Nguyên lại nghiêng người ôm lấy Mục Chân Chân, nói:
Cứ như vậy mà ngủ đi.
Tay phải du ngoạn trên chiếc eo và mông cứng chắc của thiếu nữ, cặp vú của thiếu nữ đè chặt trên ngực hắn, hai hạt hoa lăn qua lăn lại rõ ràng, con sóng tình của hắn vừa lui lại sục sôi trỗi dậy.
Mục Chân Chân đã cảm nhận được, dùng đùi nhẹ nhàng đụng vào, xấu hổ nói:
Thiếu gia, người lại muốn rồi hả?
Trương Nguyên hỏi:
Được không?
Mục Chân Chân nghĩ đến sự đau đớn lúc ban đầu, chần chừ một chút, rồi liền xấu hổ “ừ” một tiếng, thiếu nữ này luôn ngoan ngoãn phục tùng thiếu gia.
Thuyền rất lớn, không đến mức vì một chút chấn động nhỏ đó mà lắc lư, lần này Trương Nguyên thong thả một chút, múa may rất lâu, Mục Chân Chân cũng cảm giác được sự khoái lạc. Hai người tận hứng, ôm nói chuyện một lúc, Trương Nguyên buồn ngủ, ngủ rất say, Mục Chân Chân nhất thời không ngủ được, trợn mắt nhìn dáng vẻ ngủ của thiếu gia, nhẹ nhàng đặt môi vào môi thiếu gia hôn một cái, rồi rụt cổ lại, cười không tiếng động, trước kia đều là thiếu gia hôn nàng, đây là lần đầu tiên nàng chủ động hôn thiếu gia.
Vừa không ngủ được, Mục Chân Chân liền nhẹ nhàng đứng dậy đi tắm, mặc quần áo vào, lại mượn ánh trăng bên ngoài lau sạch chiếu. Lúc này đã là canh ba, có chút lạnh lẽo, liền đắp chiếc thảm lên người thiếu gia đang ngủ say, lúc này mới nằm bên cạnh Trương Nguyên ngủ, trong lòng ngọt ngào, nhanh chóng ngủ thiếp đi.
Trời còn chưa sáng, bến tàu đã bắt đầu huyên náo, Mục Chân Chân ngủ muộn vẫn dậy sớm, Trương Nguyên cũng dậy rồi, cười hỏi nàng:
Chân Chân vẫn tốt chứ?
Mục Chân Chân đỏ mặt, không biết thiếu gia chỉ tới cái gì, liền hàm hồ suy đoán rồi ừ một tiếng, vội vàng đi rửa mặt thu dọn đồ đạc. Đêm nay phải chuyển tới căn nhà thuê dưới chân núi Kê Minh, còn nữa, hôm nay là sinh nhật của thiếu gia, nàng phải làm mì trường thọ cho thiếu gia, việc không ít, thiếu nữ này tuy cơ thể có chút không khỏe, nhưng trong lòng tràn đầy niềm vui, cả người đều tràn đầy sức sống.
Chương 261: Nhập giám (1).
Mặt trời cứ lên cao theo lẽ thường, mỗi ngày đều là một ngày mới, Trương Nguyên đứng trên đầu thuyền, nhìn về phía chân trời, “ U mông ảnh” có nói “trên lầu ngắm núi, đầu thành ngắm tuyết, trong thuyền ngắm mây”. Trên sông Tần Hoài này ngắm mặt trời mọc, ngắm ánh bình minh, quả thực phong cảnh có khác. Trương Nguyên cảm thấy tâm trạng rất tốt, quả thực muốn ngửa mặt lên trời mà hét lớn, thỏa mãn được cơn tình dục, thể xác và tinh thần đều sung sướng, sẽ khiến người ta tích cực tiến thủ, hăng hái hướng về phía trước, cảm thấy nhân sinh này rát có triển vọng.
Trương Ngạc đi ra hỏi:
Giới Tử, đêm qua có giấc mộng đẹp sao? Sao mặt mày hớn hở vậy?
Trương Nguyên cười nói:
Đương nhiên là mơ gặp được đề tên bảng vàng rồi.
Trương Ngạc cười nói:
Giới Tử rất tục, cả ngày chỉ nghĩ tới việc đỗ khoa cử làm quan, giống như Trương Yến Khách ta, ra vẻ không học hành, không nghề nghiệp, kỳ thực rất phong nhã, Giới Tử là ra vẻ phong nhã nhưng thật ra rất tục.
Trương Nguyên mỉm cười nói:
Thô tục không phải không phong nhã, không có sự thô tục của đệ, sẽ không làm nổi bật sự phong nhã của Tam huynh.
Buổi sáng hôm nay, ba huynh đệ Trương Nguyên chuyển tới căn nhà ở chân núi Kê Minh, Lai phúc, Năng Trụ hôm qua đã dọn dẹp xong, Trương Đại, Trương Nguyên đều rất hài lòng. Sau giờ ngọ, thuyền công trên thuyền tới cáo biệt ba vị thiếu gia, thuyền này là của Thanh Phổ Lục thị, thuyền công cũng là nô bộc của họ, bây giờ đám người Trương Nguyên đã thuê được nhà, bốn vị thuyền công này đương nhiên phải cáo từ về Thanh Phổ. Trương Nguyên thưởng cho bốn thuyền công mỗi người năm lượng, lại bảo Lai Phúc mua một ít đặc sản ở Kim Lăng, còn viết hai bức thư, một bức cho tỷ tỷ Trương Nhược Hi, một bức cho Dương Thạch Hương, bảo thuyền công mang về Thanh Phổ.
Còn ngày mai, ba người Trương Nguyên sẽ bắt đầu cuộc sống ở Nam Kinh Quốc Tử Giám.
Cửa chính của Quốc Tử Giám Nam Kinh là Tập Hiền môn, Tập Hiền môn đi vào là Thái Học môn, cổng chào ba tầng mái cao lớn nguy nga, màu sắc sặc sỡ như mạ vàng. Đi qua dưới cổng chào, khiến người ta tự nhiên nảy sinh ra lòng kính sợ, qua Thái Học môn, là bảy gian chính đường, đây chính là Di Luân đường. Gian ở giữa đó là chuyên cung cấp để dùng khi Hoàng đế giá lâm, trên đường có treo năm cái sắc lệnh, gian phía đông là nơi để chuyên tổ chức việc tế rượu, phía tiền đường là sân, phía nam của sân, ở giữa là hành lang, nối thẳng đến Thái Học môn. Đây là con đường chuyên dành cho Hoàng đế đi khi giá lâm, hai bên đông tây là bậc thềm, chư sinh lên lớp ở chỗ này.
Canh ba Giờ Thìn ngày hai mươi tháng sáu, ba huynh đệ Trương Đại, Trương Ngạc, Trương Nguyên và các giám sinh nhập học cùng đứng ở ngoài Di Luân đường đợi. Hôm trước chỉ có hai trăm giám sinh tham dự thi nhập học, hôm nay lên tới ba trăm người, xem ra các giám sinh nạp kê không ít.
Đúng giờ Thìn, cửa chính của Di Luân đường từ từ mở ra, hai mươi tên sai dịch mặc áo đen đứng sang hai bên cửa chính, các chư sinh ngoài cửa vốn đang chuyện trò om sòm, lúc này đều im bặt, chỉnh lý lại áo mũ, đứng trang nghiêm không một tiếng động.
Hai giám quan đội mũ ô sa, mặc đoàn lĩnh sam (*) một trước một sau đi ra cửa lớn, người phía trước chừng hơn bốn mươi tuổi, mặt trắng, hai má phẳng lì, hình vẽ trên quan phục là chim bạch nhàn, dây lưng có thêu hoa. Vị phía sau chừng năm mươi tuổi, thân hình cao béo, da mặt hơi tím, hai mắt hơi lồi ra, giống như mắc bệnh, quan phục là chim hoàng oanh, dây lưng là ô giác (loại đai lưng màu đen được làm từ vật liệu bằng sừng).
“Văn quan phục sắc ca” có câu:
“Nhất nhị tiên hạc dữ cẩm kê, tam tứ khổng tước vân nhạn phi. Ngũ phẩm bạch nhàn duy nhất dạng, lục thất lộ tư khê xích nghi. Bát phẩm cửu phẩm tịnh tạp chức, Anh Mộc thuần luyện thước dữ hoàng ly. Phong hiến nha môn chuyên chấp pháp, đặc gia giải trĩ mại luân di.
( nghĩa là: quan nhất phẩm nhị phẩm thì thường mặc áo thêu tiên hạc và gà cảnh, tam phẩm, tứ phẩm mặc áo thêu công và nhạn bay, quan ngũ phẩm áo gà lôi trắng, lục phẩm thất phẩm là áo thêu cò trắng, bát phẩm, cửu phẩm thì lẫn lộn, chim cút, chim khách, phương hoàng đỏ, chim hoàng oanh).
Vị quan đi phía trước kia quan phục là bạch nhàn, chính là quan ngũ phẩm, vị mặc quan phục chim hoàng oanh phía sau kia là quan bát phẩm. Trương Nguyên hiểu biết quan chế của Quốc Tử Giám, chính quan tế tửu của Quốc Tử Giám Nam Kinh là quan tứ phẩm, quan ngũ phẩm chỉ có một người, đó chính là Ti Nghiệp Tống Thì Miễn. Tiêu Nhuận Sinh từng nhắc nhở hắn, Tống Thì Miễn này là môn sinh của Đổng Kỳ Hưng, có lẽ sẽ làm khó dễ hắn, cần phải lưu tâm.
Hai vị giám quan đứng nghiêm trước cửa lớn, vị giám quan mặc quan phục bạch nhàn kia ho nhẹ một tiếng, vị quan mặc quan phục chim hoàng oanh kia đứng bên cạnh hơi khom người với y, sau đó quay sang các chư sinh, lớn giọng nói:
Vị này là Nam giám Ti Nghiệp Tống đại nhân, chư sinh tiếp lễ.
Quả thật là Nam giám Ti nghiệp Tống Thì Miễn, Trương Nguyên và các chư sinh cùng cúi đầu hành lễ với Tống Thì Miễn, nghe Tống Thì Miễn kia nói:
Các học đồ nghe đây, đã vào Quốc Tử Giám, sẽ không được tùy tiện như ở nhà, tất cả thói quen đều sẽ được sửa, nhất định phải theo khuôn phép, cố gắng học tập. Các quy định của giám do Cao tổ định ra phải tuân thủ nghiêm ngặt, nếu có kháng cự không phục, phỉ báng sư trưởng, khóc lóc om sòm, vi phạm học quy, nhẹ thì bị roi trúc đánh vào mông, nặng thì dùng trượng, thậm chí sung quân, phạt làm tiện lại (quan lại thấp hèn nhất) –các điều lệ học quy cụ thể, sẽ do Mao giám thừa nói tỉ mỉ với các ngươi.
Hóa ra quan viên mặc quan phục chim hoàng anh chính là Nam giám Giám thừa. Tuy chỉ la quan bát phẩm, nhưng quyền lực rất lớn, quản lý Thằng Khiên thính, Thằng Khiên thính coi như là cơ quan thẩm phán kiêm cơ quan chấp pháp của Quốc Tử Giám. Trên có các giáo quan lười biếng lơ là việc giảng dạy, dưới là các giám sinh vi phạm quy tắc, y đều phải quản lý, có quyền trừng phạt, đương nhiên, chủ yếu là quản giám sinh.
Vị Mao giám thừa này lại khom người trước Tống Thì Miễn, mặt hướng tới các học đồ, khuôn mặt màu tím kia trương lên, mở miệng nói tiếp:
Các ngươi đã từng nhìn thấy một cái cột dài bên ngoài giám môn?
Đại đa số học đồ đều không để ý, Trương Nguyên thì có chú ý tới, bên ngoài cửa lớn của Quốc Tử Giám có một cái cột cao chừng năm chượng, nói là cột cờ mà lại không có cờ, trụi lủi.
Mao Giám Thừa thấy các giám sinh châu đầu ghé tai, liền lớn tiếng nói:
Cái cột đó từng treo đầu một giám sinh, treo một trăm hai mươi sáu năm.
Các giám sinh có mặt “xì” một hơi lạnh, đây chính là hiệu quả mà Mao Giám Thừa muốn, lại nói:
Năm Hồng Vũ thứ hai mươi bảy, giám sinh Triệu Lân của Quốc Tử Giám viết tấm thiệp phỉ báng triều đình và học quan, chiếu theo giám quy là đánh một trăm trượng rồi sung quân, nhưng Cao tổ Hoàng đế vì cảnh ngu phụ giáo, hạ chỉ đem bêu đầu Triệu Lân thị chúng, liền treo trên cột cao kia, cho tới khi Chính Đức Đế nam tuần, mới hạ xuống.
Trương Ngạc đứng trong đám người càng nghe càng thấy căm tức, nhỏ giọng nói với Trương Nguyên bên cạnh:
Giới Tử, tên ôn quan này nói những điều này làm cái gì?
Trương Nguyên cũng rất bất mãn với tên Mao Giám Thừa này khi đem chuyện Chu Nguyên Chương đầu nhà Minh bị chịu khổ hình nói ra vào lúc này, hơn nữa Mao Giám Thừa này hình như có chút đắc ý, hắn cười lạnh nói:
Hù dọa người mới mà.
Trương Ngạc nói:
Ôn quan này chẳng qua là bát phẩm, dám dọa bọn ta, trước những giám sinh này, mấy năm nữa đỗ tiến sĩ làm quan chắc chắn không ít, quay lại hù chết gã.
Trương Nguyên cười một tiếng, thầm nghĩ:
Trường học đời sau cũng có nhiều sư đồ ác vậy, nhưng học trò sau này khi công thành danh toại lại rất ít người quay lại gây phiền phức, chỉ cười trừ thôi.
Mao Giám Thừa này thấy các chư sinh nháo nhác một hồi, mới tỉ mỉ nói về giám quy, cái gì mà không được phép đội mũ, không được phép thắt lưng, không được mang khan phục thường nhân, không được tới giảng đường khác nghị luận, dám có ý làm nhục sư trưởng hay gây sự với giám sinh khác, đều sẽ bị phạt nặng, đây là giám quy về phương diện lễ nghi. Phương diện quản lý đời sống, học đồ các ban phàm là có việc phải bẩm báo với giáo quan của lớp đó trước, giám sinh nếu muốn ra ngoài, phải có “lệnh bài ra vào”. Lệnh bài này mỗi lớp chỉ có một, do sinh đồ trực nhật quản, không có lệnh bài mà tự ý rời lớp, thống quyết (xử phạt bằng trượng hình), trước khi trời tối mà không về, thống quyết, giám sinh ở trường, hiệu phòng do Quốc Tử Giám thống nhất sắp xếp, không được tự ý ở chỗ của người khác, không được ở trọ bên ngoài. Nửa đêm điểm danh mà không có người, thống quyết, trong phòng không được phép say sưa ca hát, không được làm ồn, không được bàn chuyện thị phi. Về phương diện học tập, nếu không thể hoàn thành bài tập giáo quan quy định, mỗi tháng sẽ bị hạ một bậc, thống quyết...
Chư sinh nghe vậy thầm kinh hãi, động một tẹo là lại bị thống quyết, ai chịu được. Có giám sinh biết chuyện cũ của Quốc Tử Giám, thấp giọng nói với người bên cạnh:
Đều là bày ra làm vẻ thôi, đâu có nghiêm như vậy, đường huynh của ta là lão giám sinh rồi, không những thuê phòng trọ ở ngoài, còn thường xuyên tới phòng ở sông Tần Hoài rượu chè ca hát, đương nhiên, có quan hệ tốt với giám thừa và giáo quan bổn đường thì tốt hơn.
Lúc này, nghe tiếng chuông đồng nhỏ vang lên, Mao Giám Thừa im miệng. Nha môn của Di Luân đường Tế tửu mở ra, Nam giám Tế Tửu Cố Khởi Nguyên và các tiến sĩ, trợ giảng, học lục và học chính của Chính Nghĩa đường, Sùng Chí đường, Quảng Nghiệp đường tổng cộng mười ba người đi tới bên ngoài cửa lớn.
Chương 261: Nhập giám (2).
Cố Khởi Nguyên có bài phát biểu với các giám sinh, yêu cầu chư sinh phải khiêm tốn kính cẩn, biết giữ lễ nghi, phải có nghĩa khí, duy trì sự giáo huấn của thánh hiền, lập chí, vụ học, chính nghĩa, ăn nói cẩn thận, hi vọng các giám sinh đi ra từ Nam giám đều có thể trở thành quân tử, người tài, vì nước vì dân...
Theo sau đó là ba vị tiến sĩ của Chính Nghĩa đường, Sùng Chí đường và Quảng Nghiệp đường lên đọc danh tính của các thí sinh, Chính Nghĩa đường là Phương tiến sĩ, Sùng Chí đường là Vương tiến sĩ, Quảng Nghiệp đường là Triệu tiến sĩ. Các học đồ được Phương tiến sĩ đọc đến tên thì ra khỏi hàng, những người này đều được vào học ở Chính Nghĩa đường, Trương Ngạc là một trong số đó. Tất cả những giám sinh nạp kê chưa tham gia kỳ thi nhập học, đều được sắp xếp ở mười sáu lớp của Chính Nghĩa đường. Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại vì chế nghệ ưu tú, được xếp vào Quảng Nghiệp đường, Quảng Nghiệp đường có sáu lớp, những học đồ mới lần này trực tiếp vào Quảng Nghiệp đường chỉ có ba mươi hai người.
Buổi lễ tựu trường chỉ có như vậy, học đồ các đường lần lượt đi theo các giáo quản của mình tới hiệu phòng của các đường. Hiệu phòng và giảng đường của Quảng Nghiệp đường ở cùng một chỗ, ở giữa là mười một gian giảng đường, hai bên là hiệu phòng của các giám sinh ở. Một hiệu phòng ở hai giám sinh, Trương Nguyên không ở cùng phòng với cả Trương Đại, mà được xếp cùng với một học đồ bốn mươi tuổi. Còn chưa kịp hỏi danh tính, Triệu tiến sĩ đã triệu tập các tân sinh đứng lên trước Quảng Nghiệp đường phát biểu, ba mươi hai tân sinh này sẽ thành một lớp mới, gọi là Nhâm Tự của Quảng Nghiệp đường. Triệu tiến sĩ trước tiên giới thiệu Nhạc trợ giáo Lưu học chính của Nhâm Tự ban. Triệu tiến sĩ quản lý cả mười một lớp của Quảng Nghiệp đường, cụ thể mỗi một ban lại do trợ giáo phụ trách, học chính phụ tá, Triệu tiến sĩ lại nhấn mạnh một số giám quy quan trọng, rồi mới đi.
Tiếp đó liền có hai chấp dịch tới, phát cho mỗi giám sinh hai bộ khăn phục của giám sinh, về sau ở trong giám đều mặc bộ khăn phục này, bộ khăn phục này có các cỡ to vừa nhỏ, Trương Nguyên vóc người trung bình, lựa chọn cỡ vừa.
Nhạc trợ giáo quan sát một chút về ba mươi hai học đồ của Nhâm Tự ban này, chỉ một học đồ lên trước, học đồ này tầm bốn mươi tuổi, đoan chính, chính là vị ở cùng phòng với Trương Nguyên, Nhạc trợ giáo hỏi tính danh của người này, liền đáp:
Gia Thiện Ngụy Đại Trung.
Nhạc trợ giáo nói:
Xem ngươi lớn tuổi, để ngươi làm lớp trưởng.
Trương Nguyên nghe thấy cái tên “Ngụy Đại Trung”, không khỏi giật mình. Ngụy Đại Trung, một trong sáu quân tử của Đông Lâm, chết trong tay Ngụy Trung Hiền, người xưng là “đệ nhất trung liệt kiên cường suốt ba trăm năm của Đại Minh”, đời sau sử gia đối với người đảng Đông Lâm khen chê có nhiều, Hoàng Nhân Vũ luôn có đánh giá thấp với người đảng Đông Lâm, cho rằng đảng Đông Lâm mấy chục năm chỉ làm được một việc, đó chính là ngăn trở Vạn Lịch đế lập Phúc Vương làm người kế thừa.
Nhưng Trương Nguyên có cách nhìn của riêng mình, người đảng Đông Lâm nỗ lực để hạn chế quân quyền, phản đối lấy tư ngự trị công. Cho dù người đảng Đông Lâm phát ngôn thay cho tầng lớp nào, loại tư tưởng này là tiến bộ, tuy dưới tình thế Vãn Minh thù trong giặc ngoài có chỗ không hợp thời, nhưng quyết không thể đổ cái tội Minh triều mất nước lên đầu người Đông Lâm.
So với bốn trăm năm đời sau, một số luận điệu cho rằng tư tưởng tự do của Phương Tây, thể chế tam quyền phân lập sẽ giống như vong đảng vong quốc, đó đều là trắng đen lẫn lộn có dụng ý xấu xa của kẻ vừa đạt được lợi ích, đảng Đông Lâm có không ít kẻ tiểu nhân, nhưng các chi sĩ chính trực thì cũng nhiều, như Trương Nguyên từng tiếp xúc: Lưu Tông Chu, Thanh Phổ huyện lệnh Lý Bang Hoa, còn có Văn Chấn Mạnh bây giờ mới chỉ là cử nhân, đều là người có học thức, nhân phẩm uyên bác. Ngụy Đại Trung này, Trương Nguyên nhìn qua cũng là một người tài, thư pháp giỏi, tuyệt mệnh thư nói rõ ý chí chịu chết, dặn dò người nhà an bần, chăm học, tích đức, hoạn nạn có nhau.
Tội danh Ngụy Trung Bần hãm hại Ngụy Đại Trung là nhận hối lộ ba ngàn lượng, sau khi Ngụy Đại Trung chết còn phải truy tìm tang vật, bán cả gia nghiệp cũng không có ba ngàn lượng, con trai Ngụy Học Y ngày đêm đi kiếm, mượn tiền để trả cái gọi là tiền tham ô. Con người như vậy, ngươi muốn nói y là gian tà, ngươi cũng phải hỏi lại lương tâm của mình.
Như vậy, Ngụy Đại Trung trở thành lớp trưởng của Nhâm Tư ban ở Quảng Nghiệp đường.
Nhạc trợ giáo lại nói:
Hôm nay không có bài học nào, mọi người có thể quay về chỗ ở trước, đem những vật dụng liên quan như giấy bút về phòng. Người hầu không được theo, tất cả đồ dùng xa hoa đều không được mang vào, những thứ như đồ ngủ đều có Quốc Tử Giám cho mượn, những đồ tạp vụ như nước giặt quần áo, chổi quét nhà cũng có tạp dịch của Quốc Tử Giám làm thay, các người chỉ cần chuyên tâm học hành là được.
Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại ra tới cổng ba tầng của Quốc Tử Giám, thấy Trương Ngạc đã ở bên ngoài chờ, hai người Năng Trụ, và Phùng Hổ cũng đã chờ suốt ở bên ngoài. Trương Ngạc đi ra trước cửa đá một cái vào cái cột cao kia, rồi đi về chỗ Trương Đại, Trương Nguyên nói:
Ôn quan kia nói là cái cột treo đầu người chính là cái này, thật là ác độc, vừa nhập học đã nói cái này, người xấu vui mừng.
Trương Nguyên cười nói:
Tam huynh chỉ hợp với làm hoàn khố ở quê, ra ngoài không được, cũng may bây giờ là năm Vạn Lịch thứ bốn mươi hai, nếu là hai trăm năm về trước, tuyệt đối là sẽ phải chịu khổ.
Trương Đại cũng lo lắng Trương Ngạc gây chuyện, nói:
Tam đệ, đệ rõ ràng bây giờ đừng nghĩ tới việc mượn cớ ốm nữa, tính đó của đệ không chịu được sự gò bó của giám quy, nếu gây ra phiền phức còn phải khiến tổ phụ lo lắng,
Trương Ngạc nói:
Sao có lý đó, Trương Yến Khách là người gặp khó thì nản sao? Đệ càng thấy khó mà lên, đại huynh yên tâm, học quan đó cũng là người, hãy xem đệ dùng bạc đạp bọn họ.
Trương Nguyên nói:
Hà tất phải thế, bạc của tam huynh chi bằng tiêu xài trên phòng ở sông Tần Hoài.
Trương Ngạc nói:
Ta muốn xem bọn họ vẻ ngoài lễ nghĩa, liêm sỉ, sau lưng lại là thấy tiền sáng mắt. Còn nữa, trên nghìn giám sinh nạp kê của Nam giám này, đều là con cháu nhà giàu có, ta phải đẩy mạnh sự tiêu thụ kính cận thị tới bọn họ, kính cận thị bốn lượng bạc một bộ rất rẻ, sáu lượng đi.
Trương Đại bất đắc dĩ nói:
Vậy đệ cứ chơi hai ngày trước, nếu không được thì mượn cớ ốm ra ngoài, nhất định không được đối kháng với giám quan và học quan, bằng không coi như đệ xui xẻo, lẽ nào đệ còn có thể tụ tập gia nô quay về như ở Sơn Âm.
Trương Ngạc khinh thường nói:
Đại huynh, đệ không phải thằng ngốc, đệ có thể ngu xuẩn tới mức không biết nặng nhẹ sao?
Trương Đại mở quạt ra che nắng:
Được rồi, không nói đệ nữa, mau đi thôi, hôm nay thật là đen.
Ba huynh đệ cùng với Năng Trụ, Phùng Hổ quay trở lại Thính Thiền cư ở chân núi Kê Minh, Thính Thiền cư này chính là căn phòng mà họ thuê, là tên do Trương Đại đặt, núi Kê Minh không phải là có chùa Kê Minh sao, khi nghe thấy phạm âm thiện xướng, cho nên đã gọi là Thính Thiền cư.
Thiếu gia. Không cần ở trong Quốc Tử Giám phải không?
Mục Chân Chân thấy ba vị thiếu gia cùng trở về, liền cho rằng chỉ là ban ngày tới Quốc Tử Giám đọc sách, tan học thì về chỗ ở của mình. Thiếu nữ đọa dân này long tràn vui mừng, vội vàng dâng trà tới.
Trương Ngạc nói:
Chỉ là quay về khuân đồ đi, văn phòng tứ bảo, đồ dùng thường ngày đều mang tới trong giám hết. Nam giám hễ vào là đều như vậy, hễ vào là phải tới cuối năm mới được ra, tóm lại là bỏ tù nửa năm, ớn quá.
Hả.
Mục Chân Chân kinh ngạc há hốc mồm, mở to mắt nhìn Trương Ngạc, lại nhìn sang Trương Nguyên.
Tố Chi và Lục Mai cũng giật mình nói:
Vào là không thể ra à, thật hay giả vậy?
Trương Nguyên cười nói:
Không sai, nhưng thật ra ở trong Giám, năm ngày ba bữa đi ra một lần cũng được.
Bữa cơm trưa là Mục Chân Chân tự làm, có cá kho, vịt, dưa, rau nhút, đậu hũ Kim Lăng, súp nấm rơm. Trương Nguyên cảm thấy rất ngon, tán thưởng Mục Chân Chân mấy câu, lại sai Lai Phúc đi tìm một nữ đầu bếp và một người giặt đồ. Bọn họ cả chủ cả tớ tổng cộng là mười bốn người, quả thật là cần một đầu bếp và một người giặt đồ chuyên môn.
Buổi chiều, ba huynh đệ Trương Nguyên lại đi tới Đạm viên của Tiêu thái sử để bẩm lại việc nhập học ngày hôm nay, và báo cho họ biết việc thuê Thính Thiền cư. Tiêu Nhuận Sinh và Tông Dực Thiện liền tới xem Thính Thiền cư, thanh sơn sau phòng, phật tự nguy nga, trước phòng còn có vườn trúc, hoa cỏ trong vườn, ba phòng lầu nhỏ không mới không cũ, phòng khách thực sự không tồi.
Từ sau tết Đoan Ngọ một ngày thì rời khỏi Sơn Âm, đến hôm nay đã được nửa tháng, còn chưa có viết thư về nhà. Hôm nay vào giám, coi như là đã an định rồi, ba huynh đệ Trương Nguyên lần lượt viết thư về nhà, báo bình an, nói tình hình gần đây. Trương Nguyên còn viết cho Thương Chu Đức và Thương Đạm Nhiên một bức thư, Trương Ngạc thấy Trương Nguyên viết thư cho Thương thị nữ lang, liền nói:
Ta cũng viết cho bà xã Kỳ tiểu thư một bức, nàng liệu có ngượng chết không nhỉ?
Trương Đại cười nói:
Yến Khách đệ đừng có dính vào, Kỳ thị nề nếp gia phong nghiêm chỉnh, đệ chưa thấy bộ dạng ông cụ non của Kỳ Hổ Tử kia sao? Đệ viết thư này đi, nhất định bị mắng là không có đức hạnh.
Chương 262: Lại gặp Nguyễn Đại Thành.
Trương Ngạc kêu oan nói:
Dựa vào cái gì mà Giới Tử có thể viết, đệ lại không được, sao có lý đo.
Trương Đại hỏi:
Đệ từng gặp Kỳ tiểu thư chưa, đệ viết thư gì?
Trương Ngạc đột nhiên tức giận, vỗ bàn nói:
Đệ thà cưới một kỹ nữ, chứ không thèm thành thân với một ngươì chưa từng gặp bao giờ.
Trương Đại và Trương Nguyên ngơ ngác nhìn nhau, Tiêu Nhuận Sinh và Tông Dực Thiện giả bộ không nghe thấy gì, đang bàn tán việc tiếng chuông sớm của Kê Minh tự có gây ồn tới đây không.
Trương Ngạc càng nghĩ càng đau đầu, lại phát tình khí nóng nảy, la hét nói sẽ đi cưới Vương Vi và Lý Tuyết Y về.
Tam đệ, chớ có làm càn.
Trương Đại quát:
Đệ muốn nạp thiếp cũng được, nhưng việt hối hôn lấy vợ khác là tuyệt không được. Mặc dù tam thúc mẫu rất yêu chiều đệ, cũng không để đệ dính vào việc đó, tổ phụ sẽ đánh gẫy chân đệ, đừng có nóng nảy, uống chén trà đi.
Trương Nguyên khuyên giải nói:
Tam huynh, đệ và Thương tiểu thư là vì đã quen biết từ trước, đây cũng không có gì hâm mộ. Tam huynh không phải muốn đánh cược chứ, cuộc hôn nhân này của huynh cũng giống như là một vụ đánh cược vậy, ngày thành hôn, hai bên ngả bài, tướng mạo, tính cách hiện rõ, điều này há chẳng phải cũng rất thú vị sao?
Đói với tam huynh Trương Ngạc, Trương Nguyên chỉ có khai đạo y như vậy.
Trương Ngạc hết tức nói:
Nếu tướng mạo xấu xí, tính khó chịu, sư tử hà đông, ta chẳng phải là thảm sao?
Trương Nguyên cười nói:
Vậy là huynh cược thua rồi, nhận thua cuộc, không có gì đáng nói nữa.
Trương Đại, Tiêu Nhuận Sinh đều cười, Trương Đại nói:
Không đến nỗi thua thảm như vậy đâu, đệ xem Kỳ Hồ Tử rất tuấn tú, hơn nữa Kỳ thị nữ lang là do đích thân tam thúc mẫu sai người xem mặt, bảo đảm ngày đệ thành thân sẽ mừng đến cười toe toét.
Trương Ngạc cũng là vui buồn không rõ, bị Trương Đại, Trương Nguyên nói như vậy, liền chuyển tức thành vui, nói:
Giới Tử, ngày thân nghênh của ta và đại huynh Trương Đại đã định rồi, đại huynh mùng hai tháng hai đầu năm sau, ta thì mười sáu tháng hai, hai người chúng ta đều phải cược thắng thua rồi, đệ và Thương tiểu thư bao giờ sẽ thành thân?
Trương Nguyên nói:
Hai vị huynh trưởng đều là thành thân năm mười chín tuổi, tiểu đệ sao giám tranh lên trước, cũng phải mười chính tuổi chứ?
Trương Ngạc nói:
Vậy Thương thị nữ lang lớn hơn đệ một tuổi, đệ mười chín tuổi cô ấy hai mươi tuổi rồi.
Trương Nguyên cười nói:
Tam huynh thật là, đây cũng là việc tam huynh phải lo lắng sao.
Viết thư xong, vẫn như trước nhờ Tiêu Nhuận Sinh đem thư tới dịch trạm lần lượt gửi đi, nếu có hồi âm, cũng sẽ gửi đến chỗ Tiêu thái sử.
Vì các giám sinh mới nhập học phải dùng bữa tối trong Hội Soạn đường ở nội giám. Thời gian của bữa tối là đúng giờ Dậu, cho nên ba huynh đệ Trương Nguyên liền rời khỏi Thính Thiền cư về Quốc Tử Giám. Chỗ Trương Nguyên, Vũ Lăng cõng sách, Mục Chân Chân mang đồ tới Quốc Tử Giám, trên đường Trương Nguyên dặn dò Vũ Lăng chịu khó đọc sách một chút, luyện chữ, sau này việc Hàn Xã cũng có thể giúp một tay, không nên na phận với một kẻ sai vặt. Bổn phận của thư đồng là của Mục Chân Chân, Trương Nguyên nói:
Chân Chân ngoài đọc sách viết chữ ra, võ nghệ chớ có xao nhãng.
Mục Chân Chân gật đầu nói:
Nô tì biết rồi.
Lại nói:
Thiếu gia ở trong Giám phải chăm sóc tốt cho bản thân.
Trương Nguyên đúng là khó có thể thích ứng với trong giám này, trong giám và trong ngục dường như không khác gì nhau mấy, cười nói:
Biết rồi.
Quốc Tử Giám không cho phép người không có phận sự vào, Trương Nguyên và Trương Đại đành tự mình vai khiêng nách kẹp, mang đồ đạc và quần áo tới phòng ở Quảng Nghiệp đường. Trương Ngạc lại nhàn nhã, có tạp dịch trong giám đã sớm đợi ở cửa Thái Học môn để giúp y, chỉ cần có tiền là có thể sai khiến cả ma quỷ. Xem ra Trương Đại, Trương Nguyên lo lắng thừa rồi, chỉ cần có ít tiền tiêu, Trương Ngạc tuyệt sẽ thích ý hơn so với đám người Trương Nguyên khi ở trong giám.
Đối với Ngụy Đại Trung đệ nhất trung liệt, Trương Nguyên đương nhiên là rất kính ý, lại không muốn ở cùng hiệu phòng với Ngụy Đại Trung, nói với Trương Đại:
Đại huynh, ở cùng phòng với huynh là ai vậy? Hay là mình đổi nhé, đệ và đại huynh cùng phòng.
Trương Đại cầm tay nải, từ trước tới giờ chưa từng mệt như vậy, thở hồng hộc nói:
Cùng phòng là Nguyễn Đại Thành, tự Tập Chi.
Nguyễn Đại Thành!
Trương Nguyên ngạc nhiên, vào một ngày cuối tháng mười năm kia, hắn tới Hội Kê thăm Thương Chu Đức, lúc về, nghe Thạch Đầu huynh đệ nói có người tên Nguyễn Đại Thành tới thăm, để lại mấy câu “hóa ra nợ một mạng”, khiến hắn không hiểu gì. Xem ra Thạch Đầu huynh đệ nhớ nhầm rồi, không ngờ có thể gặp Nguyễn Đại Thành ở Nam Kinh Quốc Tử Giám, lại cùng phòng với đại huynh. Ngụy Đại Trung là đảng Đông Lâm, Nguyễn Đại Thành là Yêm đảng, nếu đổi phòng, Ngụy Đại Trung và Nguyễn Đại Thành sẽ ở cùng một phòng.
Trương Nguyên mang đồ đạc và quần áo về phòng, thấy Ngụy Đại Trung kia đã thay khăn phục giám sinh, đang ngồi bên bàn đọc sách, thấy Trương Nguyên vào, ấn đầu xuống, tiếp tục đọc sách.
Căn phòng này bày trí rất đơn giản, hai chiếc giường gỗ rộng chừng ba thước, hai cái bàn gỗ tùng, hai cái ghế vuông, không có đồ gì khác. Trương Nguyên đặt sách lên cái bàn gỗ tùng kia, đặt quần áo lên đầu giường, chắp tay nói với Ngụy Đại Trung:
Ngụy trai trưởng, tại hạ Sơn Âm Trương Nguyên, cùng nhập giám cầu học với đại huynh Trương Đại, tại hạ muốn ở cùng phòng với đại huynh, mong Ngụy trai trưởng chấp thuận đổi phòng.
Ngụy Đại Trung đáp lễ, nói:
Giám quy không cho phép được đổi phòng.
Nói một câu như vậy, không nói câu thứ hai, lại đọc sách tiếp.
Trương Nguyên liền biết Ngụy Đại Trung này là một người khó dàn xếp, không đổi thì không đổi, không cần nhiều lời, ngồi trên ghế nghỉ ngơi, lại nghe thấy một giọng nói sang sảng bên ngoài cửa vang vào:
Giới Tử hiền huynh, ngưỡng mộ đại danh đã lâu, hôm nay cuối cùng cũng được gặp, Đồng Thành Nguyễn Đại Thành có lễ.
Nói đến năm chữ “ Đồng Thành Nguyễn Đại Thành”, người đã vào phòng, vái chào một cái rất sâu với Trương Nguyên, sau đó đứng thẳng người, mỉm cười. Là một nam tử phóng khoáng, tuổi chừng hai mươi sáu, hai mươi bảy, tuy là một khăn phục giám sinh bình thường, nhưng chiều rộng của tay áo mặc trên người lại toát ra vẻ phóng khoáng. Nguyễn Đại Thành vì “Đào hoa quạt” mà để lại tiếng xấu cho đời sau này, không ngờ lại có bộ dáng anh tuấn tự nhiên như vậy sao? Nhìn còn dễ ưa hơn Ngụy Đại Trung kia nhiều, hơn nữa thoải mái nhiệt tình, rõ ràng là khiến người ta mới quen mà đã thân.
Trương Nguyên đáp lễ, nói:
Nguyễn huynh, ngưỡng mộ đã lâu, ngưỡng mộ đã lâu. Năm kia Nguyễn huynh ở Sơn Âm, tại hạ vô duyên nhìn thấy, hôm nay gặp lại, vô cùng vui mừng.
Nguyễn Đại Thành cười lớn, nói:
Là tại hạ vô duyên, tại hạ đặc biệt tới Sơn Âm để thăm hỏi Giới Tử huynh, lại không thể gặp được, phiền muộn tới bây giờ.
Trương Đại đi theo sau, nói:
Vừa rồi Nguyễn huynh hỏi ta có quen Trương Giới Tử của Sơn Âm không, ta nói rồi, Nguyễn huynh lập tức nhảy người lên tới đây ngay.
Nguyễn Đại Thành cười nói:
Tại hạ đã hâm mộ Trương Giới Tử và hiền đệ Trương Tông Tử từ lâu.
Nói những câu này, ánh mắt y luôn nhìn về phía Trương Nguyên.
Ngụy Đại Trung đang đọc sách liền buông cuốn sách xuống, đứng lên lắc đầu nói:
Nguyễn Tập Chi, giọng ngươi quả không nhỏ.
Trương Nguyên âm thầm kinh ngạc, nghe khẩu khí của Ngụy Đại Trung, không chỉ là quen biết với Nguyễn Đại Thành, mà giao tình còn không phải là nhạt.
Nguyễn Đại Thành cười nói:
Ngụy sư huynh, tiểu đệ là gặp bạn tốt đã lâu không gặp mà, tình động bên trong, phát ra bên ngoài.
Thấy ánh mắt Trương Nguyên có vẻ thắc mắc, liền giải thích nói:
Tại hạ và Ngụy huynh cùng là môn hạ của Cảnh Dật tiên sinh của Đông Lâm thư viện, học vấn và nhân phẩm của Ngụy sư huynh là khiến ta khâm phục nhất.
Cảnh Dật tiên sinh là Cao Phan Long, Nguyễn Đại Thành này và Ngụy Đại Trung lại là sư huynh đệ đồng môn.
Lần này từ Tô Châu đến Nam Kinh, đi qua Vô Tích, Trương Nguyên đã từng nghĩ tới muốn đi đến thư viện Đông Lâm để chào hỏi Cao Phan Long, nhưng vì thời gian gấp gáp sợ không kịp đến Nam Kinh tham gia kỳ thi tuyển học viên của Quốc Tử Giám, nên đành phải vội vàng đi qua, dự định cuối năm khi trở về sẽ đến thăm hỏi. Không nghĩ tới ở Nam Kinh Quốc Tử Giám hắn lại học cùng lớp với hai người đệ tử của Cao Phan Long. Đó chính là Ngụy Đại Trung và Nguyễn Đại Thành, sau này không biết thế nào nhưng hiện tại cả hai đều rất cố gắng, dốc lòng học tập, quyết tâm muốn tham gia khoa cử cùng các sư huynh đệ.
Nguyễn Đại Thành có tác phong nhanh nhẹn, cực kỳ nhiệt tình cùng với Trương Nguyên và Trương Đại bàn luận về Kỳ Bưu Giai, Nguyễn Đại Thành nói:
Đầu tháng, lúc ta và Ngụy huynh rời khỏi Vô Tích, thì gặp Kỳ Hổ Tử vừa mới đến thư viện Đông Lâm. Ta có hỏi thăm y về Giới Tử huynh, y nói rằng ba huynh đệ của huynh đều tới Nam Kinh rồi. Ta rất mong muốn được gặp mặt ba anh em Trương huynh, vì nghe tiếng đã lâu nhưng chưa có cơ hội gặp mặt, thật vinh hạnh.
Nguyên Đại Thành tính tình sôi nổi, còn Ngụy Đại Trung thì lãnh đạm, tính tình hai người hoàn toàn khác biệt nhau.
Trong lúc đang nói chuyện, nghe thấy có tiếng trống gõ cửa phòng, lập tức có Giám Nội Chấp Dịch hô:
Bữa tối đã dọn xong, mời các chư sinh đến Hội Soạn đường dùng bữa.
Trương Nguyên, Trương Đại, Nguyễn Đại Thành, Ngụy Đại Trung liền ra khỏi phòng đi đến Hội Soạn đường. Hội Soạn đường rất lớn, dựa vào sáu phòng dạy học mà phân ra sáu đại sảnh, chư sinh Quảng Nguyên đường dùng đại sảnh thứ ba bên trái, nơi này có thể chứa hơn một ngàn người cùng nhau dùng cơm. Phòng này được xây dựng thêm vào lúc Nam giám hưng thịnh nhất, chứ còn hiện tại thì không có nhiều giám sinh đến vậy.
Chương 263: Vô cớ bị gây chuyện mà không giận .
Trương Nguyên cùng các tân sinh của Nhâm Tự ban ở Quảng Nguyên đường, trước khi dùng cơm lại bị Mao Giám Thừa giáo huấn một trận, nói trước khi dùng cơm phong thái phải nghiêm túc, trong khi ăn không được nói chuyện, không được mua cơm bên ngoài mang vào ăn, một ngày được ăn ba bữa ngoài ra không được đòi hỏi thêm, không được lấy thức ăn của bạn, nếu không tuân theo điều lệ, Thằng Khiên Thính sẽ gọi lên nghiêm trị.
Phụ trách Nhâm Tự ban là Lưu Học Chính bắt đầu điểm danh, Mao Giám Thừa không lập tức rời khỏi mà đứng ở một bên nhìn. Khi nghe đọc đến tên của Trương Nguyên, Mao Giám Thừa mở lớn cặp mắt híp lên quan sát người thư sinh trẻ tuổi này.
Trương Nguyên chú ý đến dáng vẻ của Mao Giám Thừa, thầm nghĩ:
"Người này dường như không có thiện ý với mình, mình là một tân sinh, mình với y cũng chưa hề có bất kỳ xung đột nào. Như vậy chỉ có một lời giải thích là, người này đã được Ti Nghiệp Tống Thời Miễn mua chuộc, ra sức bày mưu tính kế để hại ta. Ti Nghiệp là người đứng thứ hai ở Quốc Tử Giám này, là quan ngũ phẩm đương nhiên sẽ không ra mặt, mà gã sai khiến Mao Giám Thừa chưởng quản Thằng Khiên thính, chính là người chủ quản bây giờ ở đây".
Tuy biết như thế, cũng không có gì đáng sợ hãi, hắn cũng không cam chịu chìm nổi với đời, như vậy về sau khẳng định vẫn còn gặp phải hoàn cảnh hiểm ác hơn, chỉ có đạo lý quyết tâm tiến về phía trước, tuyệt đối không lùi bước trước bất kỳ hoàn cảnh nào.
Chư sinh xếp hàng, mỗi người bê một khay cơm bước tới, trong khay cơm này có đủ bốn loại thức ăn trong đó một tô cơm, một dĩa rau, một chén canh và một loại nữa chính là thịt. Có thể thấy được rằng, tiêu chuẩn này không cao, đồ ăn không ngon miệng nhưng Trương Nguyên thích ứng khá nhanh. Trong khi đó, Trương Đại thì nhăn mày nhăn mặt, y là một nhà mỹ thực gia, cho nên về chuyện ăn uống còn khó tính hơn cả Trương Ngạc, đối với cơm tập thể này y không thể ăn nổi, thà húp một bát cháo hành còn hơn, y miễn cưỡng ăn vài miếng nhưng không thể ăn nổi, bỏ đũa xuống nhìn những người khác ăn.
Thức ăn ở Tây Trương nổi tiếng ở phủ Thiệu Hưng. Trương Đại lớn lên ở nơi đó, nên ăn không quen những thức ăn như thế này cũng là điều bình thường. Trương Nguyên thấp giọng nói:
Đại huynh, chịu thua tam huynh à.
Trương Đại cười "hắc", y biết Giới Tử nói thế là có ý gì. Buổi sáng y còn lo lắng, sợ rằng Yến Khách ở trong trường sẽ gây họa nên khuyên Yến Khách đi ra, nếu bây giờ Trương Đại không ăn được đồ ăn ở Quốc Tử Giám, mà mượn cớ đau ốm ra ngoài, thế nào cũng bị hắn cười đến chết luôn, cũng không có cách nào giải thích cho tổ phụ được. Đang định nói câu "Sao có thể thua nó được" bỗng nghe có tiếng quát tháo:
Không được nói chuyện!
Hai người ngẩng đầu nhìn lên chỉ thấy khuôn mặt đỏ tía của Mao Giám Thừa đang đứng bên cạnh Trương Nguyên. Hai mắt to như mắt ếch trừng to như muốn nhảy ra khỏi hốc mắt. Nội quy có nói không được ồn ào nhưng chỉ nói vài lời thôi mà cũng bắt, đúng là hung thần ác sát mà.
Trương Nguyên cung kính nói:
Vâng.
Liền ăn dĩa cơm rau một cách chậm rãi, thần sắc không có gì thay đổi.
Các giám sinh của các ban khác đang nhìn về phía bên này, tiếng nói bình luận vang to hơn tiếng bên này nói. Mao Giám Thừa không thể vì Trương Nguyên nói một câu mà trừng trị hắn được, nhưng cũng thuận miệng trách cứ một chút để lấy uy. Nếu Trương Nguyên bướng bỉnh không vâng lời gã, gã sẽ viện cớ Trương Nguyên làm nhục sư trưởng, có thể lập tức bị bắt đến Thằng Khiên thính để trách phạt. Nhưng Trương Nguyên rất vâng lời, cũng thành thật như những tân sinh bình thường, không có gì đặc biệt cả. Nhưng sự khác biệt ở đây là hắn dám đối đầu với Đổng Hàn Lâm, Tống Ti Nghiệp không hề nhận lầm người đâu?
Mao Giám Thừa lại khiển trách Trương Nguyên thêm vài câu rồi mới rời đi.
Trương Đại vẫn nhẫn nhịn từ nãy giờ, lúc này cả giận nói:
Tên Giám Thừa này cố ý nhằm vào Giới Tử đây mà, thật quá đáng, chẳng qua người ta chỉ nói một câu.
Trương Nguyên mỉm cười nói:
Đại huynh, ăn cơm, ăm cơm đi, không được nổi giận, chúng ta đến trường là để học đấy.
Trương Đại biết đệ đệ Trương Nguyên không phải người hèn nhát, sợ phiền phức, hắn sẽ không chịu để yên như vậy. Chẳng qua nếu lúc này cãi nhau sẽ không tốt, căm giận nói:
Tên Giám Thừa này cố ý gây chuyện đó.
Trương Nguyên không nói chuyện, ăn cơm rất nhanh, ngồi ở đằng kia đợi Trương Đại. Trương Đại cố gắng lắm mới ăn hết một nửa, hai huynh đệ cùng nhau bước ra khỏi Hội Soạn đường.
Trương Đại nói:
Giới Tử, đệ xem có phải tên Mao Giám Thừa này là tay sai của Tống Ti Nghiệp không?
Trương Nguyên "Ừ" môt tiếng nói:
Đệ lại không nghĩ gã lại gây chuyện một cách rõ ràng như thế.
Trương Đại nói:
Nên đối phó với gã thế nào?
Trương Nguyên nói:
Trước tiên phải nhẫn nại sau đó qua bài vở đệ sẽ thể hiện tài năng.
Nguyễn Đại Thành và Ngụy Đại Trung đi ở phía sau, Nguyễn Đại Thành nói nhỏ với Ngụy Đại Trung:
Ngụy huynh, huynh nghĩ Giới Tử là người thế nào?
Ngụy Đại Trung nói một câu:
Bị gây chuyện mà không phẫn nộ.
Nguyễn Đại Thành mỉm cười thì thầm:
Thiên hạ có có rất nhiều người có tài anh dũng, đứng trước những sự việc bất ngờ mà họ không hoảng sợ, vô cớ bị gây chuyện mà không giận, những người xấu muốn hãm hại họ rất nhiều. Ngụy huynh đem Trương Giới Tử so sánh với Lưu hầu Trương Lương sao?
Ngụy Đại Trung nói:
Giám Thừa quả thật quá đáng, Trương Giới Tử có vi phạm quy định đâu chứ!
Nguyễn Đại Thành nói:
Nếu ta không biết cậu ta là Trương Giới Tử người đã làm cho Đổng Huyền Tể chỉ còn có nửa cái mạng, vừa rồi thấy cậu ta bộ dạng nhẫn nhịn không nói lại một câu, ta sẽ nghĩ là cậu ta nhu nhược.
Ngụy Đại Trung không nói lời nào.
Trương Nguyên trở lại hiệu phòng, sau khi tắm xong trời đã tối đen như mực. Trương Đại mang cho hắn một chén trà tùng la, đây là trà mà Trương Đại tự tay dùng than củi nấu lên. Trương Đại rất thích uống trà, mỗi ngày thế nào cũng phải dùng một ly. Nấu trà xong y cũng cho người cùng phòng Nguyễn Đại Thành một ly, mang đến cho Trương Nguyên một ly, còn Ngụy Đại Trung là một người lãnh đạm không có phản ứng gì, ngược lại Trương Đại còn trẻ, lại có tính cao ngạo thấy Ngụy Đại Trung như thế nên không muốn kết giao.
Thấy Trương Nguyên mài mực chuẩn bị làm bát cổ, Trương Đại nói:
Giới Tử bắt đầu chăm chỉ học tập rồi, huynh thật thảm hại, bụng đói réo vang rồi, bây giờ ăn gì để no bụng đây? Đến cuối năm huynh về mọi người có lẽ sẽ không nhận ra huynh nữa vì huynh chỉ còn bộ xương thôi.
Trương Nguyên cười nói:
Đại huynh nhờ người trong này mua giúp ít đồ ăn nhanh về ăn là được, làm sao mà huynh gầy được.
Đang nói chuyện nghe có người kêu:
Vị nào là Trương Tông Tử công tử?
Trương Đại ngạc nhiên nói:
Còn có người tìm huynh, Trương Tông Tử công tử, nghe sao mà ngọt quá đi.
Liền đứng dậy đi ra một lát sau trở lại trong tay mang một hộp đựng thức ăn nói:
Giới tử, đệ nhìn xem đây là cái gì?
Mang hộp đồ ăn đặt trên chiếc bàn gỗ tùng của Trương Nguyên, mở nắp ra mùi hương thơm ngào ngạt xông lên mũi, một bên là bánh rán hành, một bên là bánh ngọt ngũ sắc.
Trương Nguyên cười nói:
Tam huynh cho người mang tới hả?
Trương Đại nói:
Không phải nó thì là ai.
Bên cạnh hộp đồ ăn còn có một miếng giấy nho nhỏ, vừa mở ra đã thấy bút tích của Trương Ngạc, có viết mấy chữ bằng tiếng địa phương:
Đại huynh, Giới Tử đồ ăn trong trường chắc không thể ăn được, Đại huynh tất nhiên không thể nào nuốt trôi, ha ha, bánh rán hành, bánh ngọt ngũ sắc đều là món ăn có tiếng ở Kim Lăng, mời hai vị khẩn trương ăn đi cho.
Trương Nguyên, Trương Đại cười rộ.
Trương Nguyên nói:
Chúng ta thật sự xem thường Trương Yến Khách, bạc đúng là có sức mạnh vô địch không gì sánh được, Tam huynh ở nơi nào cũng đều như cá gặp nước.
Trương Đại cầm miếng bánh rán hành đưa lên miệng ăn liên tục, vừa nhai vừa nói:
Nạp Túc giám sinh (đã giải thích ở phần đầu, là học sinh dùng tiền để được vào trường học), là người không có ai quản đấy.
Trương Nguyên đứng dậy nói lớn:
Ngụy Đại Trung, mau lại đây cùng ăn bánh đi.
Ngụy Đại Trung đang múa bút làm văn đầu không ngẩng lên nói:
Đa tạ, không ăn.
Cố gắng nhớ lại nội quy, không chính xác nhưng dường như cũng có quy định về ăn uống, điều này phải nghiêm túc, phải cẩn thận. Ngụy Đại Trung có chút bất đắc dĩ, anh em Trương thị mời trà lại mời bánh, dù y tâm trí kiên định thế nào cũng khó tránh khỏi bị quấy nhiễu, trong miệng nước bọt không tự chủ được liền trào ra.