Virtus's Reader
Lẵng Lơ Tao Nhã

Chương 59: Mục 37

TỪ BẾN CẢNG SÔNG ĐÀO ĐẾN NÚI NAM BÌNH CÁCH NHAU MƯỜI MẤY DẶM ĐƯỜNG, LÀM SAO MÀ CÓ THỂ ĐẾN NGAY ĐƯỢC.

Từ bến cảng sông đào đến núi Nam Bình cách nhau mười mấy dặm đường, làm sao mà có thể đến ngay được.

Mục Chân Chân tâm lý, biết Lai Phúc vì nàng mà ngại không ngồi kiệu, vội nói:

Lai Phúc ca, muội quả thực là bị chóng mặt, không thể ngồi kiệu được, huynh cứ ngồi trên đó đi.

Mục Chân Chân nhìn thấy những kiệu phu nọ đều mang giày vải bên trong, bên ngoài mang thêm giày cỏ, lúc trước khi cha nàng phụng mệnh khiêng kiệu đều là đi chân không với giày cỏ, nên nàng có thể đi xe ngựa, chứ không thể ngồi kiệu. Nhìn thấy kiệu phu là nàng lại nhớ đến cha mình, nếu nàng ngồi kiệu thì sẽ cảm thấy như cha mình đang khiêng kiệu cho mình, nàng không đành lòng.

“Ừ, bây giờ cha ở trong quân ngũ, chắc là được ăn no mặc ấm rồi, không biết liệu cha có nhận được thư của mình trước tết không?”

Mục Chân Chân vừa nghĩ vừa bám vào kiệu bước nhanh đi, đột nhiên cảm thấy bàn tay ấm áp lạ, thì ra tay của thiếu gia đặt lên tay nàng.

Khi đoàn người đi đến bên ngoài Kim Môn thì trời đã tối, nhưng tuyết đã ngừng rơi, bầu trời quang hơn, nữa vầng trăng đã nhô lên trên trời từ lâu, giờ phản chiếu lại ánh tuyết, soi sáng bốn bề, nhìn rõ đường đi.

Trương Đại nhìn về phía xưởng dệt Hàng Châu cách đó không xa, nói:

Chung thái giám quả đúng là một nội quan tốt, rất nhiệt huyết, người kế nhiệm hiện giờ là ai vậy?

Trương Nguyên nói:

Nghe nói tên là Trịnh Chi Huệ, không biết tính tình thế nào.

Trương Đại nói:

Mặc kệ y! Giới Tử, đệ không phải là lại muốn đi kết giao với Trịnh thái giám đó đấy chứ?

Trương Nguyên cười, nói:

Đệ không rảnh, việc này cũng cần phải có cơ duyên, Chung Thái Giám chẳng qua là vừa hay gặp ở hội đèn Sơn Âm, bằng không đệ cũng không cố ý đến giao du.

Trương Đại nói:

Giới Tử còn nhớ chuyến ngắm tuyết ở Long Sơn hồi năm trước không, tuyết năm nay dường như lớn hơn tuyết năm trước.

Trương Nguyên đột nhiên nhớ lại tác phẩm nổi tiếng của Tông Tử đại huynh là “Hồ Tâm đình khan tuyết”, đột nhiên nổi hứng, nói:

Đại huynh, sau khi bái kiến Ngụ Dung tiên sinh trở về, chúng ta sẽ đến Hồ Tâm đình ngắm tuyết, uống rượu, thế nào hả?

Trương Đại đúng lúc đang muốn có trò chơi mới, vui mừng nói:

Hay lắm, ta cũng đang có ý đó.

Họ đi qua quán rượu Ngưng Hương bên cạnh tháp Lôi Phong, lần trước khi Trương Đại đến Nam Viên luận đàm hí khúc với Bao Hàm, Trương Nguyên và Trương Ngạc chính là ngồi uống rượu ở quán rượu Ngưng Hương này đợi đại huynh. Rồi sau đó cùng nhau mướn thuyền qua Tây Hồ, dưới trăng lại gặp nữ lang Vương Vi nơi Đoạn Kiều xin đi nhờ thuyền.

Trương Nguyên dặn Lai Phúc, Năng Trụ ở lại quán rượu Ngưng Hương dặn dò họ mướn một cỗ thuyền nhỏ, trên thuyền chuẩn bị lò lửa, rượu và đồ nhắm, Trương Đại còn dặn thêm:

Rượu và đồ nhắm nhất định phải ngon, chuẩn bị thêm hai đôi guốc gỗ lớn nữa, loại mà có thể đeo bên ngoài giày ấy.

Lai Phúc và Năng Trụ ở lại, trả tiền cho bốn kiệu phu, Trương Nguyên bảo Mục Chân Chân cũng ở lại, Mục Chân Chân nói:

Cho nô tỳ đi theo thiếu gia.

Trương Nguyên hỏi:

Giày vải của nàng bị ướt hay không?

Mục Chân Chân nói:

Không đâu, nô tỳ đã dùng nẹp tre kẹp cạnh giày với ống quần lại rồi.

Nói đoạn, chìa một chân ra cho Trương Nguyên xem, thấy quả nhiên từ ống chân đến mắt cá chân được nẹp lại bằng ống tre. Một ống tre chẻ làm đôi, rồi ghép, cột lại nơi ống chân, khi đi đường trên tuyết có thể chống lạnh, chống ướt, điều này là cha Mục Chân Chân dạy cho nàng.

Có kiệu phu vui vẻ nói:

Cách này hay đấy, tiểu nhân về cũng làm theo.

Đoàn người đạp tuyết đi tới Thảo Đường dưới chân núi Nam Bình. Học đường cho học trò nghỉ học từ đầu tháng rồi, học sảnh với sức chứa hơn trăm người bây giờ vắng vặng tối tăm không một tiếng động, chỉ có vài căn nhà cỏ là có ánh đèn. Hoàng Ngụ Dung tiên sinh và gia đình đều ở đây, cùng với học trò cưng của Hoàng tiên sinh là La Huyền Phụ nữa.

Thấy Trương Đại, Trương Nguyên đạp tuyết đến thăm, Hoàng Ngụ Dung tiên sinh rất vui mừng, La Huyền Phụ cười nói:

Tuy Giới Tử không ở Hàng Châu, nhưng Hàng Châu lúc nào cũng nhắc đến tên Giới Tử.

Trương Nguyên nghe thấy quen tai, vội nói:

Hổ thẹn, hổ thẹn.

Hoàng Ngụ Dung nói:

Hồi tháng chín Tông sinh có đến đây, nên những việc của con ta cũng biết được ít nhiều, Đổng Huyền Tể đúng là tự làm tự chịu.

Nói đoạn bèn dặn vú già chuẩn bị rượu và đồ nhắm, để khoản đãi Trương Đại, Trương Nguyên.

Trương Đại đang nghĩ đến chuyến du ngoạn Tây Hồ ngắm tuyết đêm, bèn nói:

Ngụ Dung tiên sinh không cần dặn người chuẩn bị rượu và đồ nhắm đâu, bọn con ăn tối ở trên thuyền rồi mới đến, không dám uống thêm rượu đâu, lát nữa còn phải quay về thuyền nữa.

Hoàng Ngụ Dung nói:

Tuyết dày, đường trơn, cứ ở lại đây qua đêm chớ ngại.

Trương Nguyên nói:

Học trò sốt ruột về nhà, sáng sớm mai là khởi hành rồi.

Hoàng Ngụ Dung cũng không nài ép nữa, hỏi qua về tình hình học tập của huynh đệ họ Trương ở Quốc Tử Giám, tiện thể kiểm tra vài câu, rồi lại hỏi về việc Hàn Xã. Trương Nguyên giải thích với Ngụ Dung tiên sinh là Hàn Xã chỉ là một văn xã bát cổ văn, lấy tôn chỉ là giao lưu chế tác nghệ thuật, đề xướng trung quân ái quốc, Hoàng Ngụ Dung gật gật đầu, không nói gì thêm.

Chương 294: Ngắm tuyết ở Hồ Tâm đình (2).

Trương Đại, Trương Nguyên ở lại Cư Nhiên Thảo Đường nửa canh giờ, uống hai chung trà nóng, đoạn bèn đứng lên cáo từ. Khi trở về đến quán rượu Ngưng Hương ở bên cạnh tháp Lôi Phong thì đã trống canh hai. Lai Phúc, Năng Trụ chờ đợi đã lâu. Một con thuyền nhỏ đã neo đậu ở bờ nam Tây Hồ đợi sẵn, đúng ra giờ này không còn thuyền đợi khách trên Tây Hồ nữa, là do Lai Phúc nhờ tiểu nhị của quán rượu Ngưng Hương cố ý tìm một nhà thuyền đến.

Bốn người bọn Trương Nguyên lên thuyền nhỏ, Lai Phúc, Năng Trụ mang theo hai hộp đồ ăn lớn lên theo. Trong khoang có một chiếc lò bằng đất sét, than vừa mới đốt, Mục Chân Chân cời lửa hâm rượu. Trương Đại nóng lòng không nhịn nổi, múc một muôi rượu uống, cười nói:

Lát về nói cho Yến Khách nghe, cho đệ ấy hối hận.

Khi mọi người ngồi vây quanh lò than cười nói, thì những mái chèo cũng được khua động, chiếc thuyền nhỏ chậm chậm tiến ra giữa hồ.

Đầu giờ Hợi, giữa hồ vắng lặng không một tiếng người, vạn vật tĩnh lặng, sương khói ngập tràn. Trời đêm dưới trăng màu trắng, núi xa tuyết phủ, cành cây kết hoa băng, hòa sắc cùng với mây, với nước, trắng toát một màu từ trên xuống dưới. Lúc này nếu mà đứng trên đỉnh cao nhất của tháp Lôi Phong mà nhìn xuống, giữa nền trắng mênh mang này, nhất định sẽ thấy con đê dài của Tây Hồ hằn lên, Hồ Tâm đình như một chấm nhỏ giữa hồ, một con thuyền nhỏ, còn có mấy người trên thuyền nữa.

Thuyền nhỏ chèo tới đảo nhỏ giữa hồ, Trương Đại, Trương Nguyên buộc guốc gỗ vào bên ngoài giày vải, dẫn đầu bước lên bờ, bốn người bọn Mục Chân Chân, Lai Phúc mang theo nào hộp nào bình, cẩn thận đi tới hướng Hồ Tâm đình.

Đang cẩn thận bước từng bước, đột nhiên Trương Đại khẽ kéo tay áo Trương Nguyên, ra dấu cần đi tiểu tiện, Trương Nguyên cười “hắc” một tiếng. Lúc ở chỗ Ngụ Dung tiên sinh, hai người bọn họ đã uống hai chung trà nóng, hồi nãy ở trên thuyền lại uống thêm chút rượu ấm, nên bụng đã ỳ ạch từ nãy, bèn đi đến bên một gốc mai già bên đường giải quyết nỗi buồn, làm ô uế cả một khoảnh tuyết trắng.

Trương Nguyên thầm nghĩ: “hà, đây chính là câu chuyện đằng sau tuyệt phẩm “Hồ Tâm đình khán tuyết” ngày đó, việc này có làm phong cảnh xấu đi không nhỉ?

Đang nghĩ chợt nghe Vũ Lăng đã đi bên Hồ Tâm đình, lúc này đã đến bên cạnh ngôi đình gọi:

Thiếu gia, trong đình có người!

Trương Đại lấy làm lạ, nói với Trương Nguyên:

Vẫn có có người tao nhã, biết thưởng thức hơn huynh đệ ta sao?

Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại đi đến ngôi đình, thấy có hai người đang giải nệm ngồi đối diện với nhau, một tiểu đồng đốt lò hâm rượu, rượu đang sôi. Một trong hai người nọ vươn vai đứng dậy, cười nói:

Những người có thú vui hay thật không ít, mời ngồi, mời ngồi, cùng uống vài ly.

Lai Phúc, Năng Trụ cũng đã trải xong nệm, gác xong lò, bày bình rượu, hộp thức nhắm lên.

Trương Nguyên thấy hai người này đều chạc ba bốn mươi tuổi, người vừa cất tiếng gọi hắn và đại huynh ngồi xuống uống vài ly tướng mạo thanh nhã, lời lẽ hào sảng, lại nghe người còn lại xưng hô với người này là “Tiểu Tu huynh”, chấn động trong lòng, cung kính nói:

Vãn sinh xin mạo muội hỏi một câu, có phải tiên sinh họ Viên không?

Người này kinh ngạc nói:

Các hạ là ai, sao lại nhận ra Viên mỗ?

Trương Nguyên chắp tay vái, nói:

Vãn sinh là Trương Nguyên ở Sơn Âm, tham kiến Viên tiên sinh.

Trương Đại cũng vui mừng nói:

Hóa ra là em trai của Viên Thạch Công, vãn sinh Trương Đại, tổ phụ họ Trương tên húy gọi Túc Chi.

Người tướng mạo thanh nhã, lời lẽ hào sảng này chính là Viên Trung Đạo, tự Tiểu Tu, hai người anh là Viên Tông Đạo và Viên Hồng Đạo đều đã khuất núi, Công An Tam Viên giờ chỉ còn lại một mình Viên Tiểu Tu.

Viên Tiểu Tu cười nói:

Thì ra là hiền tôn của Túc Công, quả không tầm thường, đáng mừng.

Nói đoạn nhìn khắp lượt Trương Nguyên, lời lẽ ẩn ý, nói:

Ngươi chính là Trương Giới Tử, ngưỡng mộ đã lâu.

Người còn lại cũng cười, nói:

Tại hạ là Đàm Nguyên Xuân ở Cách Lăng, tự Hữu Hạ, cũng ngưỡng mộ đại danh Trương Giới Tử của Sơn Âm từ lâu, đêm nay được gặp, quả là danh bất hư truyền.

Hai người đàn ông trung niên đang ngồi cạnh lò than ngắm cảnh tuyết trong Hồ Tâm đình này chính là hai đại danh sỹ ở Công An và Cảnh Lăng đó là Viên Tiểu Tu và Đàm Hữu Hạ. Hai người này miệng thì nói với Trương Nguyên là ngưỡng mộ từ lâu, nhưng ý tứ thì có phần chế nhạo.

Trương Nguyên thầm nghĩ:

“Vương Vi từng theo Đàm Nguyên Xuân học thơ, mấy tháng trước Đàm Nguyên Xuân có đến Kim Lăng, có lẽ là Vương Vi có nhắc đến việc ta xem nhẹ thi phái Cảnh Lăng. Tục ngữ có câu “vợ người đẹp, văn mình hay”, tuy thô tục nhưng bao hàm nhân tình thế thái. Đàm Nguyên Xuân nổi tiếng với đời nhờ tài thơ, ta lại mượn lời bình trong “Đàm nghệ lục” nói thơ của y nhạt nhẽo nghèo nàn, chát chúa vụn vặt, đương nhiên là Đàm Nguyên Xuân không thích. Hơn nữa Đàm Nguyên Xuân lại còn là bạn hữu của Uông Nhữ Khiêm, Uông Như Khiêm bị một phen bẽ mặt ở Tương Chân Quán như vậy, chắc chắn không tránh khỏi nói xấu ta và Vương Vi trước mặt Đàm Nguyên Xuân. Ấn tượng của Viên Tiểu Tu đối với ta đương nhiên cũng chịu sự ảnh hưởng từ Đàm Nguyên Xuân.”

Thái độ của Trương Nguyên là, hắn có thể kính trọng những danh sỹ này, nhưng sẽ không có chuyện bợ đỡ kết thân. Nếu đối phương đã có ác cảm với hắn, thì hắn cũng sẽ chẳng nể nang gì thân phận hay sự từng trải của đối phương mà nhượng bộ này nọ, lúc cần phải phản kích thì tuyệt không nương tay. Nghĩ đoạn bèn lạnh nhạt nói:

Hai vị đại danh sỹ nói từ ngưỡng mộ với bậc hậu bối như tại hạ, tại hạ thật hổ thẹn.

Đàm Xuân Nguyên nói:

Hậu sinh khả úy, thơ văn của tại hạ không đáng giá một xu trong mắt Trương công tử, vậy chẳng phải là hậu sinh khả úy sao.

Đàm Xuân Nguyên này có vẻ sốt ruột muốn trút cơn oán hận, bị người ta phê bình văn chương một tí thôi, có cần phải đến mức như thâm thù đại hận thế này không?

Trương Nguyên mặt không chút biểu cảm, nói:

Thơ văn của Đàm tiên sinh tại hạ cũng từng vinh dự đọc qua, sao lại dám nói là không đáng một xu, chỉ có điều nếu đem ra so sánh trong vòng ba ngàn năm trước và sau thì chưa đến mức được coi là một tác gia lớn mà thôi.

Đây thật ra là một lời nói thật lòng, Đàm Xuân Nguyên sao có thể sánh được với những tác gia như Lý, Đỗ, Âu, Tô, nhưng với một người cậy tài tự phụ như Đàm Xuân Nguyên thì những lời nói đó nghe ra rất khó chịu. Ông ta cười gượng, nói:

Trương công tử nếu đã giỏi về bình giám như vậy, tất cũng có tài làm thơ, chẳng hay có thể cho tại hạ có vinh dự được nghe đọc vài bài không?

Viên Tiểu Tu mỉm cười đánh giá Trương Nguyên, ông ta cũng rất muốn được một lần mở mắt xem tài học của cái người tên Trương Giới Tử này.

Quả thật là Trương Nguyên chẳng có tâm trạng nào mà luận thơ văn với Đàm Xuân Nguyên, vốn là hắn muốn cùng đại huynh du ngoạn Tây Hồ vào ban đêm để tìm kiếm một chút cảm giác thanh lạnh cô tuyệt, chẳng ngờ lại gặp được hai người cũng có nhã hứng giống mình là Viên, Đàm. Nhưng hai người có cùng nhã hứng khi gặp nhau lại biến thành tầm thường, tranh cường hiếu thắng quả thực là chuyện làm xấu phong cảnh. Nhưng nếu như Đàm Xuân Nguyên cứ nhất định muốn tranh, thì hắn cũng chẳng có lý do gì mà chối cả, một bụng thơ văn đâu phải để uổng công, ưu thế là người của hai thời đại đâu rồi. Nghĩ đoạn bèn nghiêng đầu nhìn đại huynh Trương Đại một cái, thầm nghĩ: “đại huynh, huynh đệ chúng ta như cây một nhà, cùng chung mối thù, hôm nay đệ phải cần đến huynh làm chỗ dựa đây.” Đoạn nói:

Nếu Đàm tiên sinh muốn chỉ giáo tại hạ, quả là việc tại hạ có cầu cũng không được, chẳng bằng chúng ta cùng viết một bài du ký về chuyến thưởng tuyết giữa hồ đêm nay, Đàm tiên sinh một bài, tại hạ một bài, có được không?

Trương Nguyên vừa nói vừa ngồi xuống nệm, đón lấy một ly rượu trắng Tô Châu từ tay Mục Chân Chân, trên miệng ly khói trắng lượn lờ, mùi thơm sực nức. Hắn uống cạn một hơi, cảm thấy một luồng khí nóng chạy thẳng xuống dạ dày, các mạch máu đều thông suốt, toàn thân thư thái.

Đàm Xuân Nguyên thấy lời lẽ của Trương Nguyên có vẻ rất nho nhã lễ độ, nhưng thần thái thì rõ ràng là có ý khiêu khích, bèn cười nhạt nói:

Được, xuất khẩu thành thơ, được chứ?

Trương Nguyên nói:

Cứ theo ý của ngài, Đàm tiên sinh, mời ngài trước.

Đàm Nguyên Xuân nhìn Viên Tiểu Tu cười, lắc lắc đầu, rồi tự rót tự rượu uống một mình, nhíu mày suy tư, sau ba chung rượu bắt đầu mở miệng từ từ nói:

Năm Vạn Lịch thứ bốn mươi hai, tạm trú ở Hàng thành, được đi du ngoạn Tây Hồ ba lần. Lần đầu đi từ cổng Dũng Kim về mạn phải xuống dưới Đoan Kiều, khi đó tháng năm, trên hồ lá sen phủ kín, che lấp không nhìn thấy mặt hồ. Thất tịch lại đến, lại thấy bên hồ liễu tàn còn trúc, trúc tàn còn lau, lau mọc xanh mướt như một khu vườn. Mùng mười tháng chạp, trận tuyết lớn đầu tiên, Tiểu Tu gọi ta du hồ xem tuyết, cho nên lại vui vẻ mà đi.

Đàm Xuân Nguyên đọc một cách chậm rãi, chỉ với bốn, năm trăm chữ, mà kể lại chuyến du ký một cách rất mới mẻ đáng mừng, Viên Tiểu Tu không khỏi thốt lời khen:

Hữu Hạ hiền đệ thắng chắc rồi.

Đoạn quay sang nhìn Trương Nguyên, nghĩ thầm: “để xem Trương Nguyên viết ra được gì?”

Trương Nguyên ngâm nga đọc:

Tháng chạp năm Giáp Thân, ta đạp tuyết trở lại Kim Lăng, neo thuyền lại Hàng thành vào một buổi hoàng hôn. Cùng với đại huynh đi thăm Ngụ Dung tiên sinh ở dưới núi Nam Bình, lúc về đổi ý, nhìn quanh bốn bề, rồi thuê chiếc thuyền nhỏ, mang theo áo lông, lò lửa, đi ra Hồ Tâm đình ngắm tuyết…”

Chương 295: Món ngon khoai nướng.

Khi Viên Tiểu Tu nghe đến câu “phản chiếu trên mặt hồ, chỉ có một dải đê dài, một chấm Hồ Tâm Đình, với một chiếc thuyền của ta, cùng một vài người trên thuyền vậy thôi”, thì không khỏi trố mắt kinh ngạc. Con mắt tả cảnh lại có thể bao quát được đến mức như vậy, đạt tới cảnh giới hiếm gặp, giống như Nhị huynh của ông ta là Trung lang Văn Trung Diệc, vỗ tay khen:

Lóng lánh băng tuyết, thấu suốt không gian, bài văn này tuyệt diệu!

Trương Đại mặt mày hớn hở, bài văn mà Giới Tử ngâm đọc này, từng câu từng chữ đều đi vào lòng người, đều là những lời mà y đang muốn viết, nhưng nhất thời không viết ra được, được Giới Tử nói ra một cách êm ru, như con suối đầu được khơi mở, tuôn chảy về xuôi, hết sức trôi chảy.

Năm nay Trương Đại mới mười tám tuổi, quả thực không thể viết ra nổi chuyện theo đuổi hồi ức phồn hoa, hân hoan bi thương như cuốn “Đào am mộng ức”, cho nên Trương Nguyên quyết đoán viết thay.

Đàm Nguyên Xuân không khỏi ngượng ngùng, bài “tam du Tây Hồ ký” của ông ta rõ là có phần rườm rà, không cách gì sánh được với bài “Hồ Tâm đình ngắm tuyết” linh diệu kỳ ảo kia, nhất thời tỏ ra chán nản. Ông ta đến Kim Lăng hồi giữa tháng sáu, có nghe Vương Vi nói về Trương Nguyên, Vương Vi thì không nói thẳng là Trương Nguyên coi nhẹ thi phái Cảnh Lăng, chuyện này là do sau này Uông Nhữ Khiêm hé lộ ra, khiến ông ta giận luôn Vương Vi. Đàm Nguyên Xuân đương nhiên là tin lời bạn thân, còn viết thư đi trách mắng Vương Vi, nói là không nên qua lại với Trương Nguyên. Đêm nay gặp nhau trên hồ, Đàm Nguyên Xuân có ý bộc lộ tài học để làm bẽ mặt Trương Nguyên, không ngờ mình mới là người bị bẽ mặt, mà lại còn ở trước mặt Viên Tiểu Tu nữa, nên càng thêm xấu hổ bội phần.

Trương Nguyên và đại huynh Trương Đại đưa mắt nhìn nhau, rồi cả hai đồng loạt đứng lên chắp tay thi lễ, Trương Nguyên nói:

Trên hồ gió lạnh, không thể ngồi lâu, Viên tiên sinh, Đàm tiên sinh, xin cáo biệt.

Nói đoạn hai huynh đệ quay người đi ra khỏi Hồ Tâm đình, Mục Chân Chân, Lai Phúc, Vũ Lăng, Năng Trụ vội vàng thu dọn đồ theo sau, cùng lên thuyền.

Lúc trước Trương Đại, Trương Nguyên không để ý nhìn, giờ mới thấy có một chiếc thuyền nhỏ đậu ở mé bên đảo, đầu thuyền có khắc hai chữ “Phàn Phù” lớn.

Trương Đại nói:

Đây là thuyền của Viên Tiểu Tu, Viên Tiểu Tu thích du sơn ngoạn thủy, nên mua chiếc thuyền gỗ ở Kinh Châu, đặt tên là Phàn Phù, chở theo lương khô, thư họa, đi khắp các vùng Trường Giang, quả thực là một người thanh nhã. Đáng ra đêm nay có thể nói chuyện đàng hoàng, nhưng lại bị Đàm Nguyên Xuân phá rối, cũng may Giới Tử văn hay áp chế được ông ta, bằng không thì thật là mất hứng quá rồi.

Thuyền nhỏ phá vỡ sự lạnh lẽo trên hồ, nhắm thẳng hướng đê Bạch Công, rồi cập bến Đoan Kiều. Một đoàn người lên bờ, Trương Nguyên nhìn chiếc cầu tàu phủ đầy tuyết, nói:

Ngày trước cũng chính nơi này, Vương Tu Vi sai Tiết Đồng tới hỏi muốn đi nhờ thuyền tới Tây Linh Kiều. Mới chớp mắt đó mà đã nửa năm rồi, thời gian đi vùn vụt, khiến người ta chẳng thể níu giữ được.

Trương Đại cười, nói:

Giới Tử nhớ nữ lang đó ư?

Trương Nguyên cười cười:

Nơi này lúc này, trong tình cảnh này, thì phải nhớ thôi.

Trương Đại cất cao giọng ngâm:

Vách đá dựng đứng vách đá tỏa mùi hương lạ, màn đêm phủ xuống khiến người đi đường bước vội; Nếu chẳng phải ở vị trí cao ngàn trượng, sao tránh khỏi cửa châu son phấn muộn màng. Lúc trước khi Vương Vi ở Sơn Âm, đêm trăng uống rượu, ngâm “Chiêu Ẩn thi” để tưởng nhớ Đới Quỳ, bèn bơi thuyền nhỏ đi đến Diệm Khê trong đêm để thăm, đến nhà rồi, tới cửa lại quay về, có người hỏi nguyên do tại sao, Vương Vi chỉ nói “cao hứng thì đến, hết hứng thì về, hà tất phải gặp”. Quả là cao trí hơn người, khiến người ta ngưỡng mộ, Giới Tử, nếu đệ nhớ cô nương Vương Tu Vi đó, thì ngại gì không đạp tuyết đêm mà đến sống Tần Hoài…

Trương Nguyên không đợi Trương Đại nói hết, bật cười ha hả, nói:

Đi cả ngày đêm, thì mười ngày sau có thể đến Kim Lăng, dạo quanh một vòng quanh U Lan quán, đến cửa rồi về phải không?

Trương Đại cũng cười, nói:

Cũng không cần phải học hết theo Vương Vi, có thể đến cửa rồi vào.

Trương Nguyên nói:

Sự phong nhã hơn người thường thiếu sót tính kiên nhẫn và nhẫn nại, mặc dù có duyên dáng yêu kiều, khí khái xuất thần, nhưng cũng không tránh khỏi có lúc lỗ mãng, cuộc sống thực tế không thể hoàn toàn nghệ thuật hóa được.

Trương Đại cười nói:

Giới Tử nói cũng đúng, nếu như Đới Quỳ không phải sống ở Diệm Khê, có thể đến ngay trong đêm, mà phải đi tàu xe vất vả chừng mười ngày nửa tháng, thì nhất định Vương Vi sẽ không nhẫn nại được đến mức đến thăm Đới mà không gặp Đới.

Từ cầu tàu đến cửa sông đào cách nhau bốn năm dặm đường, sáu người bọn Trương Nguyên đi thành một hàng, nương theo ánh trăng và sắc tuyết, đạp tuyết mà đi, trên đường không gặp ai khác. Về đến thuyền buồm trắng Ngũ Minh Ngõa thì đã là sau canh ba, những người khác đều đã chìm sâu vào giấc mộng cả rồi, chỉ có Hoàng Tôn Tố là vẫn còn chưa ngủ, đang ngồi bên lò lửa đọc “Đại thừa khởi tín luận”. Đây là cuốn sách về phật giáo mà y mượn lại của Tiêu thái sử. Hoàng Tôn Tố đọc rất nhiều sách.

Trương Nguyên ngửi thấy có mùi thơm thơm, hít hít mũi, cười nói:

Chân Trường huynh, đêm tuyết nướng khoai đọc sách, thật là hăng hái nhỉ.

Hoàng Tôn Tố cười lớn, dùng que cời khều mấy củ khoai vừa chín tới từ trong đám tro than ra, nói:

Mời hai vị nếm thử món ngon.

Chỉ có trẻ con mục đồng nơi thôn dã mới ăn khoai nướng, Trương Đại cảm thấy không sạch sẽ, nên lắc đầu không chịu ăn.

Trương Nguyên đưa tay nhặt lên một củ khoai to cỡ quả trứng gà, củ khoai nóng bỏng, được tung qua tung lại giữa hai tay Trương Nguyên, Trương Nguyên cười nói:

Vừa hay được ấm tay.

Một lúc lâu sau củ khoai mới hết bỏng, lớp vỏ cháy xém chỉ cần bóc nhẹ liền rơi ra, thịt khoai trắng tựa bột tỏa ra mùi thơm nức mũi, cắn một miếng hết nửa củ, đầy miệng mềm dẻo ngầy ngậy.

Trương Đại thấy Trương Nguyên ăn có vẻ rất ngon lành vui vẻ, cũng bóc thử một củ ăn, bật thốt lên khen ăn khoai nướng giữa trời tuyết, thật là đúng kiểu.

Trương Đại khen củ khoai này nướng vừa chín tới, Hoàng Tôn Tố cười nói:

Hôm nay Tông Tử mới được biết mùi vị thực sự của đồ ăn nhỉ.

Mục Chân Chân nấu nước nóng cho Trương Đại, Trương Nguyên ngâm chân, lúc nãy đi ngoài tuyết, dày ướt cả.

Ban đêm, Trương Nguyên không nhịn nổi, muốn vui vẻ cùng Mục Chân Chân, nhìn thiếu nữ Đọa dân phía dưới mình, Trương Nguyên không khỏi nghĩ đến món khoai nướng bóc vỏ, hương thơm tỏa ra bốn phía, mềm mại vừa miệng.

Sáng ngày hôm sau, ngoại trừ Trương Ngạc ra, những người còn lại là Trương Nguyên, Trương Đại, Nghê Nguyên Lộ, Hoàng Tôn Tố đều đi bái kiến Đề học Triết Giang Vương Biên. Trong kỳ thi hương sang năm ở Hàng Châu, quan đề học của tỉnh nhà cũng nằm trong số các quan giám khảo, cho nên việc tạo mối quan hệ tốt với Vương đề học là chuyện rất quan trọng. Vương đề học gặp bọn Trương Nguyên cũng rất vui, còn khuyên phải cố gắng hơn nữa.

Sau giờ Ngọ ngày hôm đó, thuyền buồm trắng rời khỏi Hàng Châu, đến sau giờ ngọ ngày mười ba tháng chạp thì đến Hội Kê. Thành Hội Kê cũng phủ đầy băng tuyết, Trương Nguyên và Kỳ Bưu Gia lên bờ ở bến cảng Đông Đại Trì, cả hai đều là con rể của nhà họ Thương ở Hội Kê, nên đi ngang qua đương nhiên phải ghé vào thăm hỏi. Trương Đại, Trương Ngạc đi cùng với Hoàng Tôn Tố, Nghê Nguyên Bưu về Sơn Âm.

Kỳ Bưu Giai thấy người hầu của Trương Nguyên gánh theo một gánh lễ vật, trên tay Vũ Lăng còn cầm theo một hộp quà nữa, bèn nói:

Giới Tử huynh, tiểu đệ chưa chuẩn bị lễ vật gì cả, vậy phải làm thế nào bây giờ?

Trương Nguyên bèn nói:

Vậy thì cứ coi như số lễ vật này là của hai ta cùng đem đến tặng.

Kỳ Bưu Giai quyết không chịu ké món hời của Trương Nguyên, ra lệnh cho người hầu mau chóng đi chuẩn bị lễ vật tám màu, y cũng không theo Trương Nguyên cùng vào Thương phủ, mà đứng bên ngoài tường đợi.

Trong hậu viện nhà họ Thương, chẳng thể phân biệt được đâu là mai hồng, mai trắng, vì cây nào cây nấy đều phủ trắng băng tuyết, mùi thơm nhẹ nhàng của hoa mai thoang thoảng trong những cơn gió lạnh cắt da cắt thịt. Sau giờ ngọ, Thương Đạm Nhiên cùng nô tỳ Vân Cẩm đang chơi đá cầu trên tuyết ở hậu viện, Thương Đạm Nhiên không mặc áo lông dày, mà chỉ mặc áo vải bố đơn giản, bên dưới là váy dài bằng lụa Thanh Hoa, không chút son phấn, thanh lịch yểu điệu. Hai tay nàng khẽ túm váy, đôi chân khều, gắp, đỡ, đá, quả cầu bằng da tung lên tung xuống, bị thao túng bởi chân nàng như thể bị cột vào chân bằng một sợi dây vậy. Đột nhiên nàng bị trượt chân, bèn thuận đà ngồi bệt xuống tuyết, cười mãi không thôi, rồi chẳng đợi nô tỳ Vân Cẩm đến đỡ, nàng đã tự mình đứng dậy, không bị quấn chân mới tốt làm sao.

Tiểu tỳ Vân Cẩm đang mải phủi những bông tuyết dính trên váy cho Thương Đạm Nhiên, thì thấy vú già má Chu đi từ cửa hậu viện vào, gọi:

Đại tiểu thư, đại tiểu thư, lại có một chiếc thuyền buồm trắng Ngũ Minh Ngõa đi qua rồi, không dừng lại.

Kể từ khi bước vào tháng chạp, Trương Đạm Nhiên cứ đếm những chiếc thuyền trở về, nghe vậy bèn cười toe toét, nói:

Má Chu đừng chờ đợi ở đó nữa, trời lạnh rồi.

Các bà vú và nữ tỳ trong nhà họ Thương đều hiểu được tâm tư của đại tiểu thư, nên người nào người nấy cũng chịu khó dò la tin tức, thường xuyên báo lại với Đại tiểu thư.

Thương Đạm Nhiên bước đi về phía phòng khách, tiểu tỳ Vân Cẩm ôm cầu chạy theo sau, nói nhỏ với nàng:

Hôm nay đã là mười ba rồi, sao Trương công tử vẫn chưa về.

Nói đoạn thấy trên váy của Đạm Nhiên tiểu thư vẫn còn dính tuyết, nên đưa tay ra phủi, tiểu thư bèn quay lại trừng mắt với nàng một cái.

Chương 296: Hẹn nghênh thân.

Thương Đạm Nhiên đứng ở cửa sổ dài của phòng khách, ngoài cửa có một giàn dây leo, nhưng đương nhiên bây giờ thì đã khô xác hết, để mặc gió tuyết thổi qua. Trong lòng Thương Đạm Nhiên có chút hỗn loạn, thời gian gần đây nàng có nghe được một số lời đồn đại về Trương Nguyên, nói rằng Trương Nguyên uống rượu chơi hoa ở Kim Lăng, còn nữa, ở Sơn Âm còn có lời đồn, nói rằng con gái nhỏ của Vương Tư Nhâm là Vương Anh Tư ái mộ Trương Nguyên, ngoài Trương Nguyên ra sẽ không lấy ai khác. Nếu so với vụ Vương Anh Tư, thì việc Trương Nguyên uống rượu chơi hoa ở Kim Lăng chẳng đáng kể gì.

Mùng ba tháng ba mấy năm trước, trong lễ Thượng Tị, Thương Đạm Nhiên từng gặp hai người con gái của Vương Tư Nhâm ở bên bờ Giám hồ, còn nói chuyện với chị em họ Vương vài câu, lúc đó Vương Anh Tư vẫn còn nhỏ, hoạt bát linh động, thẳng thắn đáng yêu. Sau lần đó, bọn họ không gặp lại nhau thêm lần nào nữa, chỉ nghe Vương Tư Nhâm từng khoe rằng, với tài bát cổ văn của con gái ông ta, thì đoạt tú tài dễ như lấy đồ trong túi. Lần này Trương Đạm Nhiên mới nghe nói rằng, huyện lệnh Sơn Âm là Hầu Chi Hàn từng làm mai mối cho Trương Nguyên, muốn tác hợp cho Trương Nguyên và Vương Anh Tư, nhưng vừa hay đúng lúc đó Trương Nguyên lại đến chỗ nàng để cầu thân, cách nhau đúng nửa ngày thôi.

Thương Đạm Nhiên thầm nghĩ: “nếu ngày đó trên đường đi Hội Kê mà Trương lang bị Hầu huyện lệnh chặn đường gọi lại, Vương Tư Nhâm có quan hệ thầy trò với chàng ấy, Vương Anh Tư lại thông minh đa tài, Trương lang chắc là sẽ nhận lời mối thân sự đó. Học trò lấy con gái của thầy học đúng là giai thoại, nhưng mà, như thế thì mình tính là cái gì?”

Nghĩ đến đây, Thương Đạm Nhiên không khỏi buồn bực trong lòng, lại nghĩ:

Khi đó, ta và Trương lang chỉ mới gặp mặt được hai lần, một lần ở trên vườn đào của nhà họ Thương ở trên đảo giữa hồ, một lần ngoài cổng lớn của Nho học Sơn Âm. Lúc đó ta đã ái mộ Trương Nguyên chưa, chắc chỉ là niềm vui muốn được gặp mà thôi. Rồi sau đó Trương lang đến núi Bạch Mã đọc sách tiêu khiển, má tựa vai kề, tương thân tương ái, từ đó mới khắc cốt ghi tâm. Kệ vậy, Vương Anh Tư tuy có thiện cảm với Trương lang, nhưng chắc không có được tình cảm sâu đậm như bọn ta. Ta và Trương lang đính hôn cũng được gần hai năm rồi, lần trước cha ta đến Sơn Âm thăm cha Trương lang, tức cha chồng tương lai của ta, đã hẹn ước ngày nghênh thân rồi, chính là vào ngày mười hai tháng tư sang năm, chắc là Trương lang vẫn còn chưa biết việc này.

Đại tiểu thư, Đại tiểu thư…

Một nữ tỳ vội vội vàng vàng chạy vào phòng khách, vui mừng nói:

Đại tiểu thư, Trương công tử về rồi, Nhị lão gia đang nói chuyện với Trương công tử đó.

Thương Đạm Nhiên “a” lên một tiếng, giật mình bừng tỉnh khỏi cơn trầm tư, xoay người lại, nét mặt sáng bừng, thầm nghĩ: “Trương lang đến rồi, chắc là từ chiếc thuyền buồm trắng lúc nãy”. Nghĩ đoạn nàng vội chạy vào thư phòng, lấy nghiên mực ra, nhấc bút viết chữ.

Thương Chu Đức nghe Trương Nguyên nói Kỳ Bưu Giai vì đợi người hầu đi chuẩn bị hộp lễ vật mà đứng chờ bên ngoài, thì cười lớn, vội đi mời anh chàng Kỳ Bưu Giai mười ba tuổi vào nhà. Hàn huyên một hồi, do Kỳ Bưu Giai còn nhỏ, nên chỉ mới có lời hứa hẹn hôn sự với Thương Cảnh Lan mà thôi, chứ chưa chính thức đính hôn. Kỳ Bưu Giải dự định, năm sau dù có đỗ kỳ thi hương hay không thì cũng vào kinh, phụ thân y là Kỳ Thừa Tùng, hiện đang đảm nhiệm chức ngũ phẩm Binh bộ lang trung, Kỳ Bưu Giai vào kinh thăm cha, rồi mới chính thức đính hôn với Thương Cảnh Lan.

Lúc thường, khi Trương Nguyên đến Thương phủ ở Hội Kê, Thương Chu Đức đều cho phép Trương Nguyên và tiểu muội Đạm Nhiên gặp nhau một chút, hôm nay thì mãi chẳng thấy nhắc gì tới. Trương Nguyên bèn làm mặt dày tự hỏi, Thương Chu Đức cười nói:

Giới Tử, ta và lệnh tôn hồi tháng mười đã hẹn định hôn kỳ cho đệ và Đạm Nhiên, chính là vào giờ Mậu Tí ngày mười hai tháng tư sang năm, ngày đó đúng là ngày tốt giờ tốt. Theo quy củ của người Thiệu Hưng, sau khi hôn kỳ đã được quyết định, thì nam nữ tạm thời không được gặp nhau, nếu không sẽ không may mắn.

Kỳ Bưu Giai vội chúc mừng Trương Nguyên, còn Trương Nguyên thì ngây người, cha hắn cũng thật là ôm đồm, vừa về đến là đã quyết định hôn kỳ của hắn xong rồi. Chắc là thân mẫu Lã thị cũng muốn nhanh nhanh cưới Đạm Nhiên về, bây giờ phụ thân về rồi, thì có người làm chủ ra mặt rồi, cho nên bèn quyết định kỳ hạn nghênh thân luôn.

Trương Nguyên ngẫm lại như vậy cũng tốt, tháng tư sang năm kết hôn là vừa hay. Tháng tám năm sau thi hương, nếu đậu thì phải lập tức khởi hành về kinh, sau khi vào kinh rồi thì chắc chắn hắn sẽ chẳng còn nhàn hạ được như thế này nữa. Tuy nói rằng, cử nhân phải đợi sau khi đỗ cao rồi mới xin nghỉ phép, áo gấm về quê cho nở mặt nở mày rồi mới hoàn thành hôn sự, nhưng hắn thì hiển nhiên là không làm như vậy được. Từ Bắc Kinh về Sơn Âm kết hôn, rồi sau đó lại vào kinh đợi tuyển, là mất gần hết nửa năm rồi, đây là mới tính nếu mọi việc thuận lợi, thi hương, thi hội đều đỗ, chứ nếu một mắt xích nào đó xảy ra sự cố ngoài ý muốn, vậy thì hắn sẽ còn phải đợi lâu nữa. Không có thân phận tiến sỹ, thì lời nói cũng bị mất đi khá nhiều trọng lượng, thời gian chẳng đợi ai, Nỗ Nhĩ Cáp Xích sẽ không có chuyện kéo dài thời gian dựng nước, bảy mối đại hận thôi thúc con người…

Trương Nguyên nói:

Vậy xin Nhị huynh cho phép đệ nói vài câu với Đạm Nhiên qua rèm có được chăng?

Lần này thì Thương Chu Đức khăng khăng giữ lề thói, uyển chuyển khuyên nhủ, không chịu để Trương Nguyên và Đạm Nhiên gặp mặt, nói chuyện qua bức rèm chẳng qua là trò vải thưa che mắt thánh mà thôi, Thương Chu Đức cười nói:

Giới Tử chớ vội, hôm nay đã là mười ba tháng chạp rồi, đợi qua tết, nháy mắt là đến tháng tư thôi. Đến lúc đó tiểu muội ta sẽ thành người họ Trương nhà đệ rồi, chớ vội, chớ vội.

Thương Chu Đức đã nói vậy, Trương Nguyên đành thôi. Thương Chu Đức muốn giữ hắn và Kỳ Bưu Giai ở lại dùng cơm tối, hai người đều chối từ, Thương Chu Đức biết hai người còn phải vội về nhà, nên cũng không cố giữ, uống một chung trà, rồi tiễn hai người ra cửa. Tiểu tỳ Vân Cẩm chạy ra đuổi theo đưa cho Trương Nguyên một bức thư, nói:

Cô gia, đây là thư tiểu thư viết cho người.

Vân Cẩm lúc trước xưng hô Trương Nguyên là Trương thiếu gia, bây giờ sửa lại gọi là cô gia rồi.

Trương Nguyên mừng rỡ, nhận lấy bức thư, cười nói:

Vân Cẩm nhìn ta cho kỹ vào, lát về miêu tả lại cho tiểu thư nhà cô.

Nói đoạn tạo dáng rất khí thế.

Tiểu tỳ Vân Cẩm cười hì hì, nhìn từ đầu đến chân Trương Nguyên thật, đột nhiên nhìn thấy Vũ Lăng đứng bên cạnh Trương Nguyên, Vũ Lăng đang nhìn nàng cười, Vân Cẩm lấy làm kinh ngạc nói:

Ý, Tiểu Vũ, sao huynh lại lùn đi rồi!

Vũ Lăng có tình ý với Vân Cẩm, lúc nào cũng mong mỏi trở về để được gặp Vân Cẩm, lúc này đang mặt mày hớn hở, nghe Vân Cẩm nói một câu, đột nhiên nhăn nhó, lẩm bẩm nói:

Dù thế nào đi nữa thì cũng không thể lùn đi được đâu.

Vân Cẩm mười bốn tuổi, Vũ Lăng mười sáu tuổi, mùa hè năm ngoái ở núi Bạch Mã, rõ ràng là Vân Cẩm thấp hơn Vũ Lăng một ít, thế mà bây giờ Vân Cẩm đã cao xấp xỉ Vũ Lăng rồi, nhìn thân hình trổ mã thon thả của Vân Cẩm, Vũ Lăng muốn phát khóc.

Vân Cẩm nhìn nhìn Trương Nguyên, rồi lại nhìn nhìn Vũ Lăng, nói:

Là cô gia cao hơn lên, còn Tiểu Vũ không cao, cho nên trông Tiểu Vũ lùn hơn.

Kể từ hồi mùa hè năm kia, khi mắt của Trương Nguyên mới khỏi, đã hơn hai năm rồi mà Vũ Lăng chẳng cao được hơn bao nhiêu.

Thấy Vũ Lăng hết sức ủ rũ, Trương Nguyên an ủi:

Có người cao trước, có người cao sau, Vân Cẩm nàng nhìn xem, một ngày nào đó Tiểu Vũ đột nhiên cao lên một đoạn, nàng sẽ giật mình cho coi.

Vân Cẩm “ồ” lên một tiếng, bật cười.

Vũ Lăng cũng vui vẻ trở lại, lời thiếu gia nói đời nào sai.

Thương Chu Đức cho người chèo thuyền, đưa Trương Nguyên, Kỳ Bưu Giai về Sơn Âm. Trên thuyền, Trương Nguyên mở thư của Thương Đạm Nhiên ra xem, nét chữ có vẻ hơi nguệch ngoạc, từng dòng từng chữ đều bộc lộ niềm vui vì Trương Nguyên đã bình an trở về, nhưng cũng giống như nhiều bức thư khác, bao giờ mấy câu cuối cùng mới là những câu quan trọng nhất. Thương Đạm Nhiên nói với Trương Nguyên về lời đồn đại liên quan đến Vương Anh Tư xuất hiện ở Sơn Âm mấy tháng gần đây, hy vọng Trương Nguyên có cách xử lý ổn thỏa, chớ làm tổn thương Anh Tư tiểu thư.

Trương Nguyên xếp thư lại, lông mày hơi nhíu, đứng trên mui thuyền nhìn ngắm đôi bờ tuyết phủ của Đông Đại Trì. Một bến cảng nhỏ chầm chậm lùi dần về phía đuôi thuyền, nếu lên bờ ở cảng nhỏ này, đi thêm hơn trăm bước là tới trước phủ của thầy học Vương Tư Ân. Tháng tư năm nay Vương sư phụ vào kinh tuyển quan, không biết được phong chức gì rồi?

Lại nghĩ: “Đạm Nhiên thật thông minh, nàng nói muốn ta xử lý lời đồn này cho thỏa đáng, chớ làm tổn thương tới sư muội Anh Tư, nhưng lời này chẳng phải chính là nói về nàng ấy hay sao. Ừ, ngày mai sẽ đến phủ của Vương sư phụ thăm hỏi, về tình về lý đều nên đến, ta không nên thấy khó mà tránh. Nếu so sánh với tai kiếp sẽ sảy ra vào ba mươi năm tới, thì những việc khác ở trên đời này đều không đáng kể gì. Người khác không có ý thức gì về mối nguy cơ này, nhưng ta thì biết, điều này không có nghĩa là ta phải xem nhẹ những xung đột tình cảm trong bối cảnh này, mà có nghĩa là càng phải trân trọng hơn nữa, phải dũng cảm đối mặt với tình cảm thực của mình…

Chiếc thuyền nhỏ đi quanh co, từ Đông Đại Trì chuyển qua đường sông của Sơn Âm, rồi dừng lại bên bờ Bát Sỹ Kiều. Trương Nguyên vừa bước ra mui tàu, đã nghe trên bờ có người mừng rỡ gọi:

Giới Tử hiền đệ…

Thiếu gia, thiếu gia…

Tiểu Vũ ca…

Trương Nguyên ngẩng đầu nhìn lên, hóa ra là Tông Dực Thiện và anh em Đại Thạch Đầu, Tiểu Thạch Đầu. Chàng bèn nhảy lên bờ, nắm lấy tay Tông Dực Thiện, hỏi:

Tông huynh, lệnh tôn, lệnh đường ở Sơn Âm có quen không?

Vừa nói vừa xoa xoa đầu hai anh em Thạch Đầu.

Tông Dực Thiện mỉm cười:

Tốt lắm.

Kỳ Bưu Giai dẫn theo hai người hầu chắp tay chào từ biệt Trương Nguyên trên cầu. Trương Nguyên cùng Tông Dực Thiện về đến Đông Trương, thấy cánh cổng bị đập phá hồi hắn mới đậu tú tài đã được sửa lại, trông khí thế hơn hẳn, ra dáng nhà quan lắm. Hoàng Tôn Tố đang ngồi trong sảnh khách chính nhà Trương Nguyên nói chuyện với phụ thân Trương Nguyên là Trương Thụy Dương, Nghê Nguyên Lộ theo Trương Đại, Trương Ngạc sang Tây Trương. Thấy Trương Nguyên trở về, vợ chồng Thạch Song, Thúy Hoa đều đến chào. Mặc dù tuyết phủ nặng mái nhà, nhưng không khí tết trong nhà rất rộn ràng, lão gia về, thiếu gia về, cả nhà đều vui mừng hớn hở.

Chương 297: Không ai hiểu con mình hơn cha.

Thỏ Đình khoác một chiếc áo bông giày, khá dài, nhẹ nhàng chạy ra từ trong viện, đã hơn nửa năm tiểu nha đầu này không được thấy Trương Nguyên, nên giờ cảm thấy hơi xa lạ cùng ngượng ngùng, tiểu nha đầu vén áo lên thi lễ nói:

Thiếu gia mạnh khỏe.

Rồi lại chào hỏi:

Tiểu Vũ ca...

Thỏ Đình năm nay mười hai tuổi, thân hình có nảy nở một chút, nhưng dáng vẻ thì vẫn như trước, vẫn là cặp mắt lúc nào cũng mở to tròn, làm cho tiểu nha đầu này luôn mang bộ dạng tò mò, lanh lợi, cảnh giác, hệt như một chú thỏ con vậy, chỉ có kiểu tóc là thay đổi, bây giờ tóc thả dài, bên trên búi hình hai trái đào, không như lúc trước lúc nào cũng búi thẳng đứng, dựng lên như hai cái tai thỏ, không còn hai cái tai thỏ, giờ đây trông tiểu nha đầu này thật khác.

Trương Nguyên cười nói:

Thỏ Đình ngoan, hai cái bím tóc tai thỏ của ngươi đâu rồi?

Thỏ Đình đưa tay lên sờ soạng một chút, hai con ngươi quay tròn, nói:

Y Đình tỷ tỷ không giúp nô tỳ chải đầu, nô tỳ tự búi tóc cho mình nhưng không búi dựng thẳng lên được, nên đành phải để kiểu này.

Nói xong Thỏ Đình nhìn Tông Dực Thiện cạnh Trương Nguyên.

Trương Nguyên nói:

Hiện giờ trong nhà có nhiều người, nên Y Đình khá bận, Thỏ Đình cũng phải học cách tự chải đầu thôi.

Thỏ Đình gật đầu lại nói:

Thiếu gia, thái thái đang chờ thiếu gia đấy.

Trương Nguyên đi theo Thỏ Đình vào nội viện để gặp mẫu thân, Vũ Lăng đương nhiên là đi theo thiếu gia, còn Lai Phúc cũng đuổi theo nói:

Thiếu gia, Lai Phúc bây giờ đã là người của Trương gia, xin cho tiểu nhân được vào bái kiến thái thái không thì thái thái sẽ không biết tiểu nhân là ai mất.

Trương Nguyên "Ừ" một tiếng, dẫn Vũ Lăng, Lai Phúc đi vào nội viện, cạnh mảnh sân hình chữ nhật có đặt hai bồn hoa mai màu vàng được tỉa uốn khúc, những bông mai vàng được tuyết trắng phủ lên, tỏa hương ngào ngạt, Trương Nguyên thấy mẫu thân Lã Thị ngồi ở Nam lầu cạnh Tiểu trà đại sảnh, đang nói chuyện với Mục Chân Chân và Y Đình đang đứng hầu ở hai bên.

Thỏ Đình nhanh nhẹn chạy qua sân phía Tây đến trước sảnh của Tiểu trà nói lớn:

Thái thái, thiếu gia đã trở về.

Trương Nguyên kéo vạt áo, nhanh chân bước qua sân đi vào đại sảnh quỳ trước Trương mẫu Lã Thị, ngửa đầu nói:

Mẫu thân, nhi tử đã trở về,

Trương Nguyên quan sát mẫu thân mình, tuy tóc mai đa chuyển bạc nhưng thần thái rất tốt.

Trương mẫu Lã Thị đứng dậy đưa tay sờ mặt của Trương Nguyên, rồi thủ thỉ:

Mùa này trời đông giá rét, con đi đường chắc vất vả lắm - Y Đình đưa lò sưởi cho Thiếu gia.

Khi bà nói, mắt bà không hề rời Trương Nguyên, ánh mắt tràn ngập yêu thương nhìn con, thấy con đã cao lớn và khỏe mạnh hơn nhiều, người làm mẹ như bà cũng thấy an tâm phần nào.

Lúc đó Y Đình bước ra đứng trước Trương Nguyên chào, đưa một cái lờ sưởi đặt vào tay Trương Nguyên, cười hì hì nói:

Thái thái bây giờ thì có thể thưởng cho Chân Chân rồi, Chân Chân đã hầu hạ thiếu gia tốt như thế.

Mục Châu Châu mặt đỏ bừng, xấu hổ đến nỗi không ngẩng đầu lên nổi.

Trương mẫu Lã Thị cười ha hả nói:

Đương nhiên phải thưởng rồi, trước mắt ta sẽ thưởng cho Chân Chân trang sức cùng quần áo mặc cho cả năm, còn những thứ khác để sau khi Trương Nguyên cùng tiểu thư Đạm Nhiên thành hôn xong thì nói sau, ta nhất định sẽ không bạc đãi Chân Chân đâu.

Trương mẫu Lã Thị nói như thế không khác gì để làm rõ mối quan hệ giữa Trương Nguyên và Mục Chân Chân.

Vũ Lăng tiến vào dập đầu với Trương mẫu Lã Thị, chưa kịp nói câu nào thì nghe thấy tiếng dập đầu rất lớn từ bên ngoài, Lai Phúc dập đầu rất mạnh, vừa dập đầu vừa nói:

Tiểu nhân Lai Phúc khấu kiến thái thái.

Trương mẫu Lã Thị hỏi Trương Nguyên:

Tên Lai Phúc này có quan hệ gì với Lai Vương không?

Lai Vương là người đầy tớ mà Trương Thụy Dương mang từ phủ Chu Vương về nhà, khi ở Nam Kinh gặp Lai Phúc, rồi hai người trở thành huynh đệ, Trương Nguyên giới thiệu lai lịch Lai Phúc cho mẫu thân nghe, Trương mẫu Lã Thị cười nói:

Thật là trùng hợp.

Rồi sai Y Đình thưởng cho Lai Phúc sáu lượng bạc, cả Vũ Lăng cũng có phần.

Trương Nguyên lấy bức thư Nhược Hi tỷ tỷ viết cho Trương mẫu Lã Thị, Trương mẫu Lã Thị đeo kính lên để đọc thư, vui vẻ nói:

Nhược Hi và Lục Thao tháng ba năm sau muốn tới Sơn Âm à, vậy thì vừa khéo, phụ thân ngươi mấy ngày trước có viết thư cho Nhược Hi nói về chuyện hôn sự của con, muốn Nhược Hi tháng ba năm sau phải đến kịp, hiện tại như thế này là rất tốt.

Trương mẫu Lã Thị cùng Trương Nguyên nói chuyện mãi, chẳng ai muốn rời đi, Trương mẫu Lã Thị thì cái gì cũng hỏi, nói chuyện hơn nửa canh giờ, Trương mẫu Lã Thị thấy trời đã tối, liền giật mình nói:

Tiểu Nguyên, con có bằng hữu đang chờ trước sảnh phải không? Ta già nên hồ đồ rồi, còn hỏi lắm điều như vậy, con nhanh đi tiếp bằng hữu của mình đi.

Trương Nguyên ra đến tiền sảnh, thấy Trương Thụy Dương đang nói chuyện cùng Hoàng Tôn Tố, Tông Dực Thiện thì ngồi xuống một bên, bây giờ đã là giờ ngọ, hai người cũng đã nói chuyện khá lâu rồi, Trương Thụy Dương rất tán thưởng tài học vấn của Hoàng Tôn Tố, ông nói với Trương Nguyên:

Trương Nguyên vị này là Hoàng tú tài học rộng tài cao, con có một người bằng hữu như vậy, làm ta rất vui mừng, con phải thỉnh giáo Hoàng tú tài nhiều hơn. Còn Dực Thiện cũng vậy học vấn của vị này rất đáng để con thỉnh giáo, vì thế con tuyệt đối không được kiêu ngạo.

Trương Nguyên khom người nói:

Vâng.

Hoàng Tôn Tố, Tông Dực Thiện vội đứng dậy đồng thanh đáp:

Không dám.

Người ta nói, không ai hiểu con bằng cha mình, nhưng quả thật, Trương Thụy Dương rõ ràng không hiểu gì về trình độ học vấn của Trương Nguyên rồi. Nhưng Hoàng Tôn Tố thì hiểu rất rõ, y phải công nhận Trương Nguyên còn hiểu biết hơn cả y, điều này ngay cả Cao Phan Long, Trâu Nguyên Tiêu cũng phải công nhận.

Lúc này Trương Đại đến mời hai cha con Trương Thụy Dương, Trương Nguyên còn cả Hoàng Tôn Tố, đi Bắc viện ở Tây Trương dự tiệc, theo lời mời của tổ phụ Trương Nhữ Lâm.

Tông Dực Thiện cảm thấy hơi lúng túng. Trương Nguyên, Hoàng Tôn Tố đều phải đến Tây Trương, nên y chỉ còn nước cáo từ, sao khi y cùng song thân theo Trương Thụy Dương về đến Sơn Âm, Trương Thụy Dương dựa theo lời nói của Trương Nguyên tìm cho ba người nhà họ một ngôi nhà nhỏ ở cạnh Học phố, lấy lễ để đối đãi với ba người nhà họ Tông, không đối đãi theo kiểu người hầu. Nhưng trong lòng Tông Dực Thiện lúc nào cũng rối rắm, tâm thì cao ngất mà thân phận thì lại thấp hèn, yếu đuối lại nhạy cảm.

Trương Nguyên nói:

Đại huynh, tộc thúc tổ không biết Dực Thiện đã ở đây sao?

Trương Đại lập tưc tỉnh ngộ, vội hỏi:

-Tông huuynh mời huynh cùng đi với mọi người, tổ phụ nhà ta rất yêu thích tài học vấn của huynh.

Tông Dực Thiện vẫn cứ chối từ, Trương Đại không nói không rằng kéo tay y đi ra ngoài.

Đoàn người đi qua Thạch Củng Kiều trên sông Đầu Lao, hoàng hôn buông xuống, nhìn thấy hai bờ sông bị đóng băng và chỉ duy nhất một dải nhỏ ở giữa sông vẫn còn nước chảy, Trương Thụy Dương thở dài:

Thời tiết thật sự là quá lạnh. Trước đây, ta chưa từng thấy sông Đầu Lao bị đóng băng một mảng lớn như thế này, cứ cái đà này, thêm vài ngày rét nữa, nhất định cả con sông sẽ bị đóng băng hết, ngay cả sông Giang Bắc cũng không thể tránh khỏi.

Trương Nguyên đoán chừng nhiệt độ xung quanh bây giờ khoảng âm sáu, âm bảy độ, chỉ sợ ban đêm sẽ xuống đến âm mười độ, nhiệt độ như vậy những cây ăn quả ôn đới này nếu không được giữ ấm sẽ đông cứng mà chết. Nghe phụ thân nhắc đến Giang Bắc, liền hỏi phụ thân về tình hình ở Giang Bắc-Hà Nam. Trương Thụy Dương nói rằng mấy năm gần đây ở Hà Nam và Sơn Đông thường xuyên xảy ra thiên tai, năm trước ở Sơn Đông xảy ra một nạn đói lớn, thậm chí đã có rất nhiều người chết đói, ở Thanh Châu, những người dân đói tụ họp lại rồi đi cướp bóc tuy nhiên chúng nhanh chóng bị tiêu diệt.

Trương Nguyên thầm nghĩ:" Những thiên tai này sẽ ngày càng nghiêm trọng, ông trời muốn Đại Minh diệt vong ư ,mười năm nữa nạn châu chấu sẽ xảy ra ở Thiểm Tây, đồng thời Hậu Kim tăng cường xâm lược Liêu Đông. Theo lý thuyết vị trí của bộ tộc Nữ Chân ở Kiến Châu là một nơi giá rét, dòng sông băng cùng khí hậu nơi đây ảnh hưởng tới họ rất nhiều, nhưng sao người Nữ Chân không bị thiên tai làm gục ngã? Phải rồi, người Nữ Chân lấy việc xâm lăng để chống chọi với thiên tai, gặp thiên tai thì sẽ đến cướp ở biên giới Đại Minh, dân Liêu Đông bị cướp bị giết, cả hai kinh mười tám tỉnh của Đại Minh cũng bị người Liêu cướp bóc làm cho dân chúng hết sức lầm than.

Sự việc này, Trương Nguyên cũng chỉ có thể ngẫm lại, có sầu lo một chút, nhưng dù có lo lắng cũng chẳng làm gì được , sự tình còn phải đi từng bước một, nhiêm vụ thiết yếu trước nhất là kì thi Hương tháng tám năm sau, còn có cuộc hẹn tụ tập ở Hàn Xã Sơn Âm.

Mọi người bước trên băng tuyết đi vào Bắc Viện của Tây Trương. Trương Nhữ Lâm nhìn thấy Trương Nguyên, vô cùng vui vẻ, sau khi tan tiệc gọi một mình Trương Nguyên vào thư phòng hỏi về việc đảo Đổng và việc Tống Ti Nghiệp cố tình hãm hại. Trương Nguyên kể lại ngắn gọn mọi chuyện. Trương Nhữ Lâm nhẹ nhàng nói:

-Ngươi thật đúng là có người làm quan to trợ giúp, nâng đỡ ha. Chuyện ngươi bày kế cho Hình thái giám chắc Cố Tế Tửu cũng không biết chứ gì?

Rồi ông nghiêm mặt trách cứ Trương Nguyên vài câu, đại loại trách Trương Nguyên mới chỉ là một tú tài, không nên khoa trương như vậy, mà phải một lòng chuyên tâm đọc sách, chú ý đến khoa cử. Nhưng thực ra ở trong lòng, Trương Nhữ Lâm-một người đã qua tuổi sáu mươi cũng âm thầm lấy làm kì lạ với cách hành xử có chút đanh đá chua ngoa của đứa cháu này.

Chương 298: Trăm năm đời người, chân trời góc bể (1).

Hai xã phó Lỗ Vân Bằng và Liễu tú tài của kho lương thực dự trữ xã Dương Hòa nghe nói Trương Nguyên đã trở về, thì chạng vạng ngày hôm đó liền tới Đông Trương thăm hỏi, khi Trương Nguyên trở về từ bữa tiệc của phó tộc thúc tổ thì lúc đó Lỗ Vân Bằng và Liễu tú tài đã đợi khá lâu rồi. Hai người liềnbáo cáo cho Xã chính là Trương Nguyên về việc cứu giúp dân tị nạn cùng việc bán gạo của kho lương xã Dương Hòa trong một năm qua. Việc xây dựng kho lương thứ hai đã hoàn thành, với sức chứa hơn ba ngàn tấn lương thực của Thái Tử, theo kế hoạch của Trương Nguyên, kho lương thực dự trữ không chỉ có nhiệm vụ là một kho lúa từ thiện mà phải tự tạo cho mình một con đường phát tài, như vậy mới có năng lực làm việc thiện được, cho nên vào giữa tháng tám kho lương xã Dương Hòa bắt đầu khai trương. Kho lương có gạo đem bán cũng có gạo đi cứu trợ người đói. Nếu gặp năm thiên tai mất mùa giá gạo nhảy vọt, thì có thể khống chế ngăn chặn được giá gạo lên cao.

Lúc Liễu tú tài cùng Lỗ Vân Bằng báo cáo với Trương Nguyên, Trương Thụy Dương ngồi một bên lắng nghe, thỉnh thoảng có nói xen vào mấy câu rất uyên thâm. Trương Thụy Dương đã nhiều năm đảm nhiệm chức Duyện Sử Trưởng tại Chu vương phủ, kiến thức sâu rộng, những chuyện như gạo tiền đều tìm ra giải pháp thích hợp. Trương Nguyên từ lâu đã nghĩ tới việc chờ phụ thân về Sơn Âm rồi để phụ thân đến quản lý kho lương xã Dương Hòa. Vì thế lúc này liền đưa ra đề xuất ngay, Trương Thụy Dương vui vẻ đồng ý, tuy ông đã qua tuổi năm mươi, nhưng trước đây ở Chu vương phủ lúc nào cũng bận rộn thành quen, bây giờ trở về được rảnh rỗi thì lại thấy vô cùng trống trải, vì vậy bảo ông đến quản lý kho lương là vô cùng thích hợp.

Trương Nguyên vui vẻ nói:

Ngày mai nhi tử sẽ đến chỗ Tộc thúc tổ để giải thích việc này, rồi cũng phải báo cáo chuyện này cho Hầu huyện ở chỗ ấy.

Trương Thụy Dương cười nói:

Hầu huyện tôn là người biết quan sát tỷ mỉ, biết phê bình đáng giá sự việc, rất xứng với chức vụ của ông ấy. Vì thế giữa tháng tám sẽ được vào kinh thành yết kiến hoàng thượng, có thể sẽ được lên chức, huyện lệnh họ Lưu sẽ là người kế nhiệm ông ấy.

Trương Nguyên tiếc nuối nói:

Hầu huyện lệnh có ân với con, lần này ông ấy rời khỏi Sơn Âm, con lại không đi tiễn được, thật đáng tiếc.

Trương Thụy Dương nói:

Báo ân không sợ muộn, có lòng là tốt rồi.

Sau khi tiễn Lỗ Vân Bằng và Liễu tú tài, Trương Nguyên cùng Hồ Tôn Tố đến bên lầu gỗ bên dòng sông nghỉ tạm. Tông Dực Thiện cũng ở lại đó, ba người cùng nói chuyện, đi đến hậu viện, thấy tiểu nha đầu Thỏ Đình đang cho bạch la Tuyết Tinh ăn cỏ đêm , Trương Nguyên bảo Vũ Lăng dẫn Hồ Tôn Tố, và Tông Dực Thiện đến lầu gỗ trước, hắn đi thăm Tuyết Tinh đã. Thỏ Đình nói ngày thường Tuyết Tinh này đều ra ngoài kiếm ăn, đến lúc tối đen mới về, chúng không đi kiếm ăn lúc sáng sớm, mà chúng đợi đến trưa, thấy lặng thinh mới chui ra vườn sau kiếm ăn. Tiểu nha đầu này không khỏi đắc ý nói trong nhà Tuyết Tinh nghe lời nàng nhất.

Mục Chân Chân cầm theo một chiếc đèn lồng từ trong phòng đi ra gọi lớn:

Thiếu gia, thái thái có chuyện muối hỏi người.

Trương Nguyên "hắc hắc" cười, mẫu thân mà hỏi thì có đến trưa cũng chẳng xong. Nghe Mục Chân Chân nói là chuyện về Tông công tử.

Trương Nguyên trong lòng buồn bực “mẫu thân muốn hỏi chuyện gì về Tông Dực Thiện đây?”

Y Đình đứng trong bóng tối cạnh giếng, cạnh hai bồn hoa mai lớn, nhìn thiếu gia và Mục Chân Chân ở trên lầu Nam, nơi thang lầu vang lên tiếng "Cạch, xèo xèo", thiếu gia đang thấp giọng nói với Mục Châu Châu chuyện gì đó.

Sân rất lạnh, hương thơm của hoa mai thấm vào ruột gan, Y Đình xoa xoa hai tay, đi đến vườn sau, mấy ngày trước có một trận tuyết lớn, ở vườn sau tuyết đông dày khoảng hai thước, làm mấy cha con Thạch Song, Lại Vương cùng Phù Thành, Phù Công dọn dẹp hơn nửa ngày mới làm sạch được lối đi, bây giờ có thể thông lối từ đại sảnh đến lầu gỗ ở vườn sau, còn hai bên đường, tuyết dày chồng chất.

Ngày mười ba tháng chạp, ánh trăng như vụn băng rơi, làm người ta cảm thấy lành lạnh, Y Đình dừng lại dưới hai gốc quế cạnh cánh cửa của vườn sau, ngẩng lên gian phòng thứ ba trên tầng hai của lầu gỗ, dựa theo ánh sáng phát ra từ ánh đèn của hai gian phòng bên trái ở trên lầu, một trong hai gian ấy là phòng của Tông Dực Thiện. Ba tháng trước, ba người nhà Tông Dực Thiện cùng về Sơn Âm với Trương Thụy Dương. Đi tìm một tháng trời mà vẫn không tìm được chỗ ở liền xin được ở lầu gỗ này, Y Đình thấy cha mẹ Tông Dực Thiện đã già, nên hàng ngày nàng thường xuyên đến phụ giúp những việc vặt, Tông Thị nhị lão rất thích Y Đình, lâu rồi Y Đình cũng thích con trai họ, mấy ngày Tông Dực Thiện ở lầu gỗ ở vườn sau, cũng đều do Y Đình giúp trải giường, xếp chăn, bưng trà đưa nước, khi đó Y Đình cảm thấy Tông công tử có chút đặc biệt, đối với nàng lại vô cùng nho nhã, lễ độ, lại rất khiêm nhường. Lúc đó Y Đình không dám nghĩ nhiều, sau đó nhờ Trương Nguyên mà nàng mới được gặp lại Tông Dực Thiện, Y Đình liền rung động, ý trời hợp ý người, cuối cùng Tông Dực Thiện cũng ở lại Đông Trương này.

Không phải vì Y Đình biết được Tông Dực Thiện là con trai của nô bộc nên mới thấy mình cũng xứng đôi với y. Tuy Y Đình chỉ là một nữ tỳ, nhưng tâm hồn không thấp hèn như thân phận, tuy nhiều lúc nàng khá đanh đá, có lẽ vì Trương mẫu Lã Thị hiền quá lại hay chiều chuộng nàng, nhưng Y Đình chưa từng thấy mình thấp hèn hơn ai, sự tự tôn này nàng chỉ dám để trong lòng, nhưng khoảng cách về địa vị hay đẳng cấp lớn thế nào cũng không thể đạp đổ lòng tự tôn của nàng. Nàng luôn coi thường chúng như chúng chẳng hề tồn tại vậy, nhưng chúng lại luôn âm thầm áp bức nàng, làm nàng phải cẩn thận giữ mình. Bây giờ nàng đã biết được thân phận của Tông Dực Thiện, trở ngại lớn nhất đã mất, nhưng tình cảm của nàng dành cho Tông Dực Thiện không hề thay đổi, chỉ là như thế nàng có thể mạnh dạn theo đuổi, dám biểu lộ tình cảm đích thực của mình, còn Tông Dực Thiện có thích nàng hay không, đều đó nàng chưa bàn đến, vì nàng thích Tông Dực Thiện nên từ sau khi Tông Dực Thiện về đây sống, nàng làm gì cũng chẳng nên hồn.

Trương mẫu Lã Thị từ lâu đã nhìn thấu tâm tư của đại a đầu Y Đình, Y Đình giờ đã mười chín tuổi rồi, qua năm nữa đã là hai mươi, nếu không lấy chồng sẽ trở thành lão a đầu mất, vì vậy Trương mẫu Lã Thị liền đợi Trương Nguyên trở về để bàn bạc.

Tại hai gian phòng lớn ở Nam lầu, Trương Thụy Dương và Trương mẫu Lã Thị ngồi song song trên ghế, Trương Nguyên hơi cúi người ngồi trước hai vị Nhị lão, Mục Chân Chân đứnh bên cạnh, Trương Nguyên nghe mẫu thân nói đến chuyện này liền cười nói:

Y Đình tỷ tỷ động tâm rồi ư, đúng là chuyện tốt, nhi tử có thể hỏi ý của Tông Dực Thiện.

Trương mẫu Lã Thị nói:

Y Đình thì chắc chắn là đồng ý rồi, chỉ sợ tên Tông Dực Thiện kia không chịu, có phải Tông Dực Thiện là người học rộng tài cao không?

Lúc Trương Thụy Dương và Tông Dực Thiện từ Kim Lăng đến Sơn Âm, chuyến đi vô cùng bình an, mỗi ngày ông ta cùng Tông Dực Thiện đều nói chuyện, quả thật tài học của Tông Dực Thiện rất đáng khâm phục, liền nói:

Tông Dực Thiện nếu tham gia thi cử, thi hương, thi hội thì ta không dám nói, nhưng nếu thi sinh đồ thì nhất định đỗ là cái chắc, thư pháp của nó lại rất tốt, bằng không làm sao có thể viết thay Đổng Hàn Lâm.

Ông hỏi Trương Nguyên:

Nghe nói ngươi khuyến khích nó tham gia thi cử để đổi phận?

Trương Nguyên nói:

Đúng là con có ý đó, cả Tiêu Thái Sử cũng ủng hộ.

Trương Thụy Dương gật đầu nói:

Con trai nô bộc tham gia thi cử thì không có gì xa lạ nữa, hơn nữa còn có Tiêu Trạng Nguyên giúp đỡ, vậy thì không còn khó khăn nào nữa.

Trương mẫu Lã Thị nói:

Như vậy Y Đình nhà ta chẳng phải không xứng với nó?

Trương Nguyên nói:

-Nhi tử có ý này, không biết Nhị lão thấy thế nào?

Nhìn thấy phụ mẫu đang chăm chú lắng nghe, hắn nói tiếp:

Nhi tử rất kính phục tài học cùng nhân phẩm của Tông Dực Thiện , nếu như huynh ấy có ý với Y Đình tỷ tỷ, vậy thì chi bằng Nhị lão nhận Y Đình tỷ tỷ làm nghĩa nữ, như vậy mọi người đều vui vẻ, không biết Nhị lão thấy thế nào?

Trương mẫu Lã Thị vui vẻ nói:

Chủ ý này rất được, Y Đình cùng ta xưa nay rất thân thiết, nhận nó làm nghĩa nử rất hợp ý ta.

Rồi bà quay sang nhìn Trương Thụy Dương chờ ý kiến của ông.

Trương Thụy Dương cười ha hả nói:

Ta biết thể nào tiểu Nguyên cũng đề xuất ý kiến này, quả thật là đôi bên vẹn toàn, chỉ là phải sắm thêm một chiếc gương mà thôi, còn nhà ta hiện tại thì vẫn còn rộng chán.

Nói rồi ông xua tay bảo Trương Nguyên đi tìm Tông Dực Thiện nói chuyện.

Trương Nguyên cùng Mục Chân Chân xuống lầu bước ra vườn sau, liền gặp Y Đình. Trương Nguyên cười cười nói:

Y Đình tỷ tỷ, đừng lo lắng, chờ tin lành từ ta, coi như ta làm Nguyệt lão đi.

Y Đình mặt đỏ bừng, khẩn trương trở lại nội viên, lại nhìn thấy Thỏ Đình đang bước xuống cầu thang bảo nàng đi lên lầu. Trương mẫu Lã Thị nói rõ mọi chuyện cho nàng nghe, muốn nàng có thể trở thành tân nương với thân phận như một người bình thường, Y Đình vui đến phát khóc, quỳ xuống vái lạy.

Khoảng nửa canh giờ sau, nơi cầu thang vang lên tiếng bước chân, Trương Nguyên đã trở lại, vửa vào đến cửa liền chắp tay nói với Y Đình:

Chúc mừng Y Đình tỷ tỷ, chuyện tốt đã hoàn thành.

Chương 298: Trăm năm đời người, chân trời góc bể (2) .

Trương Thụy Dương cùng Trương mẫu Lã Thị đều vui vẻ ra mặt. Trương mẫu Lã Thị nhìn Y Đình nói:

-Y Đình nhà ta tính tình tốt, sống ngay thẳng, lại chăm chỉ cần cù làm việc, tên Tông Dực Thiện không thể không đồng ý được.

Trương Thụy Dương nói:

Ngày mai mời Tông gia Nhị lão đến bàn chuyện hôn sự cho hai đứa, sau khi tiểu Nguyên thành hôn sẽ gả Y Đình đi.

Trương mẫu Lã Thị nói:

Từ trước đến nay mọi chuyện bếp núc đều do Y Đình giúp ta, Y Đình lấy chồng rồi, ta sẽ bận rộn đây.

Trương Thụy Dương nói:

Gả Y Đình đi rồi, lúc đó Thương tiểu thư cũng đã là người của gia đình ta rồi mà.

Trương mẫu Lã Thị nói:

Đạm Nhiên lại muốn theo tiểu Nguyên ra ngoài đấy.

Trương Thụy Dương cười nói:

Bà còn lo buồn vì mấy đồng bạc từ cái ruộng ngũ cốc kia không có ai quản. Ta đây làm cái gì, cả phủ Chu vương lớn như vậy ta còn quản lý được nữa là.

Trương Thụy Dương không nói ngoa, làm Duyện Sử Trường Tựu là phải quản lý những chuyện thường ngày trong vương phủ, vô cùng bận rộn, không có tài thì không thể nào đảm nhiệm nổi.

Trương Nguyên cùng phụ mẫu bàn về chuyện hôn sự của Y Đình, Y Đình đứng một bên, đỏ mặt không nói gì, thật là hiếm lúc nàng im lặng như vậy.

Hai giờ chiều mặt trời đã lên đỉnh đầu, Trương Thụy Dương, Trương Nguyên và Trương Đại, Trương Ngạc đưa Nghê Nguyên Lộ cùng Hồ Tôn Tố lên thuyền, Nghê Nguyên Lộ quê ở Thượng Ngu, còn Hồ Tôn Tố quê lại ở Dư Diêu, cả hai người đều vô cùng nhớ nhà, đứng ở đầu thuyền ân cần nói chuyện với hai huynh đệ họ Trương. Hồ Tôn Tố nói:

Tông Tử hiền đệ thành hôn là ngày mồng sáu tháng hai, Yến Khách hiền đệ là mười sáu tháng hai, Giới Tử hiền đệ là mười hai tháng tư, lại cùng lúc diễn ra cuộc tụ hội ở Hàn Xã, xem ra sang năm ta phải ở lại luôn Sơn Âm ba tháng rồi.

Nghê Nguyên Lộ cười nói:

Tông Tử, huynh đệ các người cứ thành hôn liên tiếp nhỉ, đều chuẩn bị thành hôn xong thì mới vào kinh thi cử sao?

Trương Đại nói:

Sang năm ta đã mười chín tuổi rồi, cũng phải thành hôn sớm một chút cho phụ mẫu ta yên tâm.

Trương Ngạc trợn tròn mắt nói:

Ta dù không thành hôn cũng phải làm cha.

Lục Mai đã có bầu hơn bốn tháng, tháng tư năm sau, nhất định sẽ sinh, Trương Ngạc không vui mừng cho lắm, còn mẫu thân Vương Thị của gã thì vô cùng sung sướng, địa vị của Lục Mai bây giờ đã khác, nàng không còn phải hầu hạ, mà chỉ cần chuyên tâm dưỡng thai.

Sau khi đưa tiến hai người họ Nghê và Hoàng, Trương Đại, Trương Ngạc, Trương Nguyên mang theo Vũ Lăng cùng Lai Phúc lên chiếc thuyền Ô Bồng đi Hội Kê thăm quý phủ của Vương Tư Nhâm sư phụ. Tới bến sông Đông Đại, Lai Phúc bưng lễ vật đi theo sau thiếu gia cùng tiểu Võ lên bờ, hôm đó thời tiết quang đãng, tuyết trên đường đã được nạo sạch chồng sang hai bên, nhưng vẫn còi hơi trơn trượt, lúc ba người tới quý phủ của Vương Tư Nhâm, có một lão người hầu mặc một chiếc áo dày, đội mũ Hồ, thấy Trương Nguyên đến, liền vui vẻ nói:

A, Trương công tử đã trở lại.

Rồi sa sầm nét mặt, hổ thẹn nói:

Trương công tử xin đợi một lát, tiểu nhân lập tức đi thông báo.

Lúc lão người hầu đi vào bên trong báo cáo, Trương Nguyên đứng trước cửa Vương quý phủ nhìn chùa Hạnh Hoa cạnh cây Hạnh Lâm ở phía xa, mắt hắn không tốt cho lắm, hắn chỉ thấy mờ mờ, hình như cây lê đang nở hoa, chợt nhớ đến câu thơ:" Hốt như nhất dạ xuân phong lai, thiên thụ vạn thự lê hoa khai ( Một đêm xuân lộng gió, hoa nở rộ trên ngàn vạn cây lê), chính là khung cảnh này, làm hắn nhớ lại hồi tháng tư sau khi hắn thi đậu án đầu, hắn đến để tạ ơn lão sư. Khi đó Vương sư phụ đã vào kinh, sau khi hắn bái kiến Vương sư mẫu, lúc đi ra, Anh Tư sư muội đuổi theo đến trước cửa, hai người cùng đứng dưới bóng tường, nghe âm thanh của những chiếc lá cây Hạnh Hoa rơi xuống, chuyện xảy ra mới chỉ gần nửa năm, mà sao hắn có cảm giác như những kí ức ấy sao mà xa vời quá, hay là vì khoảng cách giữa hắn và Anh Tư sư muội ngày một lớn?

Giới Tử đệ.

Người con cả của Vương Tư Nhâm là Vương Bính Lân nhanh nhẹn bước ra, chắp tay hướng Trương Nguyên chào, mời Trương Nguyên vào đại sảnh ngồi, nét mặt có một chút xấu hổ , nghe Trương Nguyên kể những chuyện lý thú tại Quốc Tử Giám, nét mặt mới thoải mái hơn một chút, y cười nói:

Quốc Tử Giám hiện giờ nghiêm khắc như vậy sao? Ta khi đó ở Nam giám cũng không chịu nổi cảnh gò bó.

Trương Nguyên hỏi:

Sư phụ ở kinh thành như thế nào, có được bổ nhiệm làm quan không?

Vương Bính Lân nói:

Gia phụ có gửi thư về hồi tháng mười, nói là đang đảm nhiệm chức Thôi Quan tại Viên Châu phủ, rồi ít ngày nữa sẽ trở về Hội Kê, để sang năm ra nhận chức Phó Viên Châu Chi.

Thôi Quan Chưởng quản lý một luật pháp riêng, tước thất phẩm, ngang hàng với chức Tri Huyện, Viên Châu phủ thuộc Giang Tây.

Trương Nguyên vui vẻ nói:

Vậy thì tốt quá, khi nào sư phụ trở về, xin huynh cho người thông báo cho đệ biết.

Vương Bính Lân gật đầu nói:

Được rồi, gia phụ rất yêu quý ngươi, trong bức thư lần trước người có nhắc đến ngươi.

Trương Nguyên nói:

Ân tình của sư phụ, đệ luôn khắc sâu trong lòng.

Vương Bính Lân thở dài, hai hàng lông mày nhăn lại, nhất thời im lặng.

Trương Nguyên nói thẳng:

Vương sư huynh sao lại thở dài, có thể nói rõ cho đệ biết không?

Vương Bính Lân nhìn Trương Nguyên chần chừ một lúc, rồi mới nói:

Thực không dấu gì đệ, là chuyện của tiểu muội Anh Tư của ta, Tiền Đường cống sinh Đinh Mỗ là bạn học của ta, biết ta có một sư muội chưa gả, mấy tháng trước từ Tiền Đường tới đây cầu hôn, mẫu thân ta vừa lòng gia thế nhà gã, tiếc rằng Anh Tư...

Nói tới đây, Vương Bính Lân lắc đầu, rồi lại nói tiếp:

Ta biết nhân phẩm con người hiện đệ, nên ta xin nói thẳng, vì đệ mà Anh Tư sư muội không chịu đồng ý thành hôn với ai.

Trương Nguyên hít sâu một hơi, nói:

Đệ nghĩ đệ cần nói chuyện cùng Anh Tư sư muội, không biết như thế có được không?

Người con này của Vương Tư Nhâm không phải là người cứng nhắc, Vương Bính Lân liền gật đầu nói:

Cũng tốt, ai đeo chuông thì phải tự mình gỡ, chuyện của Anh Tư đệ phải tự giải quyết thôi, đệ lựa lời khuyên nhủ nó, có phải tháng tư năm sau đệ thành hôn không?

Dứt lời, Vương Bính Lân đứng lên, bước đi, được vài bước y quay lại nói:

Hiền đệ đến thư phòng chờ một lát, ta đi nói cho mẫu thân biết chuyện này.

Trương Nguyên gặp mặt Vương Anh Tư, đương nhiên địa vị hai người hiện giờ không ngang nhau.

Tiền viện trong quý phủ của Vương Tư Nhâm không phải là nơi lạ lẫm gì đối với Trương Nguyên, cách bài trí trong thư phòng vẫn như xưa, chậu than trong thư phòng vẫn chưa đươc đốt lên, phòng rất lạnh, Trương Nguyên đợi một lúc, bước đi thong thả đến cửa sổ phía bắc của thư phòng, nhìn ra ngoài cửa sổ hắn thấy một người tuyết cạnh lùm trúc nhỏ, người tuyết có đôi mắt bằng than đen, củ cải đỏ làm miệng và không có mũi, một người tuyết có đôi mắt đen thui cùng đôi môi đỏ tươi đang ngồi ngay ngắn dưới khóm trúc, đối diện với cửa sổ của thư phòng.

Chợt nghe có tiếng nói nhỏ nhẹ từ đằng sau:

Người tuyết này chính là học quan, giám sát những người đọc sách trong thư phòng này.

Trương Nguyên xoay người, thì thấy Vương Anh Tư mặc một chiếc áo khoác bằng lông đứng ở cửa thư phòng, mắt mở to nhìn hắn, Anh Tư sư muội đang cười, ngoài cửa còn có một tiểu nha đầu cầm cái lò sưởi ấm Đồng Lô.

Anh Tư sư muội gần đây mạnh khỏe chứ?

Trương Nguyên thở dài nói.

Vương Anh Tư là một thiếu nữ xinh đẹp lại hơi gầy một chút, nàng vén áo chào Trương Nguyên, cười nói:

Giới Tử sư huynh mà cũng phải nói chút lời khách sao như vậy sao?

Nói xong nàng ra hiệu cho tiểu nha đầu ngoài cửa, tiểu nha đầu liền bước tới, rụt rè đưa cái lò sưởi Đồng Lô cho Trương Nguyên, Trương Nguyên cầm lấy, quay lại đưa cho Vương Anh Tư, nói:

Sư muội cầm lấy đi, ta không lạnh.

Vương Anh Tư bảo tiểu nha đầu kia ra ngoài, trong thư phòng giờ chỉ còn Vương Anh Tư cùng Trương Nguyên, còn cái lò sưởi Đồng Lô thì thì đặt trên bàn sách, cố gắng tỏa nhiệt để lấn áp cái khí lạnh trong phòng.

Trương Nguyên và Vương Anh Tư ngồi xuống cạnh một chiếc bàn, đôi mắt tròn to của Vương Anh Tư nhìn Trương Nguyên không rời, nàng nói:

Giới Tử sư huynh muốn hỏi muội chuyện gì vậy?

Trương Nguyên im lặng một chút, vốn là muốn tốt cho nàng, nhưng khi đối mặt thì hắn lại có cảm giác không ổn, nhất thời có chút do dự.

Vương Anh Tư áp hai tay vào chiếc Đồng Lô trên vách đá, chăm chú nhìn Trương Nguyên, nói:

Giới Tử sư huynh, muội làm huynh khó xử sao?

Trương Nguyên nhướng mày nói:

Sao muội lại nói như vậy?

Vương Anh Tư hỏi:

Sư huynh có phải nghe được lời đồn đại nào khiến trong lòng không vui?

Rồi nàng lại nói:

Muội biết sư huynh cùng Thương tiểu thư sẽ lập gia đình.

Trương Nguyên hiểu ý của Vương Anh Tư, hắn cảm động vô cùng, nói:

Không phải là không vui, chỉ là ta có chút lo lắng cho sư muội.

Ngay cả sắp xếp từ ngữ hắn cũng thấy khó khăn.

Vương Anh Tư nhìn Trương Nguyên, hai tay chậm rãi thu về, đẩy cái lò sưởi ấm Đồng Lô sang bên kia bàn, cặp mắt tròn to từ từ vương đầy nước mắt, đầu hơi cúi xuống, nước mắt cứ rơi không ngừng, rơi cả vào lửa than của lò Đồng Lô, vang lên những tiếng "tách, tách", trong phòng lạnh như băng lại nhanh chóng xuất hiện những giọt nước mắt ấm áp.

Vương Anh Tư vẫn giữ được giọng bình tĩnh, nói:

Giới Tử sư huynh, thân làm nữ tử thật bất lực, muội có cả đầy bụng kinh thư, thì chỉ có thể rảnh rỗi làm bát cổ, muội muốn được đi chu du khắp nơi, lại chỉ có thể ở khư khư trong thuê phòng, muội không muốn lập gia đình, lại phải chịu bức bách nơi chốn này, ôi, nói như thế nào đây, muội thật sự thích Giới Tử sư huynh, được kết giao cùng Giới Tử sư huynh muội vô cùng sung sướng, chỉ lặng lẽ suy nghĩ trong lòng thôi thì muội cũng đã không kìm nén được niềm vui sướng rồi, Giới Tử sư huynh, trên đời này sẽ còn có một nam tử nào như huynh không?

Chương 298: Trăm năm đời người, chân trời góc bể (3).

Vương Anh Tư hỏi Trương Nguyên, nhưng lại không để cho Trương Nguyên kịp mở lời thì đã tự đáp:

Cho dù là có đi chăng nữa, thì muội cũng không được biết đến, cha muội sẽ không tiếp tục nhận một học trò đến xin học bát cổ nữa, người học trò đó cũng sẽ không cùng muội trốn vào rừng trúc đào măng, cũng sẽ không mời muội cùng làm văn bát cổ, cho nên, đời người trăm năm, dù có đi hết chân trời góc biển, muội cũng chỉ biết đến duy nhất một Giới Tử sư huynh thôi.

Nói tới đây, Vương Anh Tư lấy tay lau nước mắt, thẹn thùng nói:

Không biết tại sao lại rơi nhiều nước mắt như vậy, lại đều rơi trên lò sưởi, muội không thương tâm, thật sự, Giới Tử sư huynh, muội thật sự không thương tâm, được biết Giới Tử sư huynh là muội sung sướng lắm rồi, giống như khi ở trong một gian phòng tối mở một cánh cửa sổ, có một thứ ánh sáng lạ kỳ chiếu vào, ánh sáng đó không phải là ánh nắng, cũng không phải là ánh trăng, trước kia kiến thức của muội nông cạn quá.

Vương Anh Tư nhìn Trương Nguyên, rồi lấy ra một chiếc khăn lụa từ trong tay áo đưa cho Trương Nguyên nói:

Sư huynh lau một chút nước mắt đi.

Vương Anh Tư nhẹ nhàng xoa xoa bàn tay vào cái lò sưởi Đồng Lô, nhìn Trương Nguyên nói:

Giống như muội không dám mơ tưởng đến việc con gái thi đậu Trạng Nguyên, muội cũng không quá mong được gả cho huynh, sư huynh đã có Thương tiểu thư, gia thế của muội cũng không cho phép muội làm tỳ thiếp. Tuy muội vẫn còn thích sư huynh, cũng giống như muội mặc dù không thể tham gia thi cử nhưng vẫn thấy vui vẻ vì có thể rảnh rỗi làm văn bát cổ, việc này cũng chẳng gây trở ngại cho ai, muội không muốn thành hôn không phải vì huynh. Vì vậy huynh đừng áy náy, đây là quyết định của muội, không phải vì riêng một ai cả, chẳng lẽ nữ tử nào cũng phải tìm cho mình một người để gả đi hay sao? Muội đọc sách, học thơ, vẽ tranh, thỉnh thoảng lại nghĩ về Giới Tử sư huynh không phải là rất tốt sao?

Những lời Trương Nguyên định nói đều không nói ra được một lời, hắn không ngờ Anh Tư sư muội lại buồn như vậy. Giúp đỡ loạn thế, ngăn địch cứu quốc, hắn đều tin tưởng mình có thể từng bước hành động, nhưng khi đối mặt với đôi mắt rưng rưng nước mắt của Anh Tư sư muội, hắn thấy mình thật vô dụng, “tình” là một trong những chữ vô cùng phức tạp, đây không phải là đập nát cái quy định cứng nhắc là có thể giải quyết được.

Vương Anh Tư lên tiếng:

Sư huynh của muội nói Giới Tử sư huynh có chuyện muốn nói với muộn, Giới Tử sư huynh muốn nói chuyện gì vậy?

Trương Nguyên duỗi tay ra, đưa tay vuốt ve chiếc lò sưởi Đồng Lô trên bàn, nói:

Sư muội thông minh sắc sảo, ta không sánh kịp.

Vương Anh Tư cười tươi nói:

Chờ sang năm sư huynh thi hương rồi, sư huynh mà đỗ, thì có nghĩa muội cũng có thể đỗ phải không?

Trương Nguyên cũng cười:

Sư muội nói đúng.

Vương Anh Tư nói:

Phụ thân muội mấy ngày nữa sẽ trở về, chỉ sợ người cũng muốn ép muội phải gả cho gã Đinh Sinh kia, sư huynh phải nói giúp muội đấy.

Trương Nguyên "Ách" một tiếng:

Nói giúp á, như vậy thì thật kỳ quái.

Vương Anh Tư cười rộ lên nói:

Đùa sư huynh thôi, làm sao muội giám làm phiền sư huynh những chuyện như thế.

Anh Tư sư muội luôn có cách làm người khác vui vẻ, nàng chưa từng nói một lời oán trách.

Vương Bính Lân đi dạo trong đình ở ngoài viện, nghe trong thư phòng thầm thì to nhỏ không ngớt, tay chân gã đông lạnh như băng, cuối cùng không chịu nổi, liền đi vào thư phòng hỏi:

Giới Tử đệ, ngươi khuyên bảo thế nào rồi?

Vương Anh Tư nói:

Không tốt lắm.

Vương Bính Lân đành chịu. Bây giờ đã trưa, Vương Bính Lân mời Trương Nguyên dự tiệc, trong bữa tiệc có hỏi Trương Nguyên rốt cuộc sư muội Anh Tư của y trong lòng đang nghĩ gì? Trương Nguyên không biết trả lời thế nào, cuối cùng đành phải nói:

Anh Tư sư muội vô cùng thông minh, nàng biết mình đang làm gì.

Rời khỏi quý phủ của Vương lão sư, Trương Nguyên không đi theo đường cũ mà đi qua cầu Việt Vương rồi đi bộ xuống Sơn Âm. Đứng ở đầu cầu Việt Vương, nhìn đỉnh núi Bạch Mã phủ đầy tuyết, Trương Nguyên nghĩ: "Đạm Nhiên nếu biết Anh Tư sư muội có suy nghĩ như vậy, không biết sẽ làm gì?

Trương Nguyên trở về nhà ở Đông Trương, tiểu Thạch Đầu ra chào đón, vẻ mặt vô cùng khẩn trương:

Thiếu gia, có một người tóc đỏ, mắt xanh, lại vô cùng cao lớn, gã muốn được gặp thiếu gia, đang ngồi ở đại sảnh chờ người, bộ dạng của gã thật đáng sợ.

Trương Nguyên thầm nghĩ:

Tóc đỏ, mắt xanh, chà, ai nhỉ?

Người đang nói chuyện với Trương Thụy Dương chính là cái người Tây Dương tóc nâu đỏ, nhìn thấy Trương Nguyên đang bước vào phòng, gã liền đứng dậy, mắt nhìn Trương Nguyên, rồi quay sang Trương Thụy Dương hỏi:

Vị này chính là lệnh lang Trương Giới Tử Trương công tử?

Người Tây Dương này nói giọng Nam Kinh rất chuẩn, tuy nhiên còn hơi cứng nhắc.

Trương Thụy Dương cũng đứng dậy nói:

Đúng vậy.

Người Tây Dương này cao hơn Trương Nguyên gần một cái đầu, gã phải cao hơn một thước chín, mà thước đo cắt quần áo thời Minh cái dài nhất cũng chỉ năm thước sáu tấc, ở Giang Nam ít người có vóng dáng như vậy, phụ thân của Mục Chân Chân là Mục Kính Nham cũng chỉ được năm thước bồn tấc. Đầu người Tây Dương này đội một chiếc mũ cao, dưới thì hẹp trên lại rộng, mặc một chiếc áo dài đến tận bàn chân, cặp mắt xanh biếc như mắt mèo, lại không ngừng nháy mắt, thảo nào tiểu Thạch Đầu lại kinh sợ như vậy.

Trương Thụy Dương nói:

Trương Nguyên, vị này là hội trưởng giáo đoàn Jesus tại Nam Kinh, Vương Phong Túc.

Trương Thụy Dương lúc ở Chu vương phủ đã từng gặp không ít giáo sĩ phương Tây, cho nên khi nhìn thấy người này ông không ngạc nhiên lắm, người này tự xưng là đến từ Nam Kinh, đặc biệt muốn gặp Trương Nguyên. Đối với những thầy tu người Tây Dương, Trương Nguyên cũng có chút hiểu biết, hắn biết đến Matteo Ricci và Thang Nhược Vọng (Johann Adam Schall von Bell). Matteo Ricci bốn năm trước đã qua đời, còn Thang Nhược Vọng giờ y còn đang đọc sách tại Rome Thần học. Vậy Vương Phong Túc này là người ra sao?

Sau một hồi nói chuyện, Trương Nguyên biết được Vương Phong Túc là người phụ trách Giáo đoàn Ki-tô Giáo tại Nam Kinh. Tháng trước, sau khi nhận được thư của Từ Quang Khải, gã liền một mạch chạy đến Sơn Âm để được gặp Trương Nguyên.

Có mấy lời Vương Phong Túc không nói ra cho Trương Nguyên biết, trong thư Từ Quang Khải vô cùng khen ngợi trí tuệ cùng tài học vấn của Trương Nguyên, bảo hắn tuyệt đối không phải người bình thường. Còn nói rằng Thiên Chúa giáo nếu muốn truyền bá tại Đại Minh, Trương Nguyên là nguồn trợ lực lớn, cho nên vô cùng mong Vương Phong Túc sớm đến gặp Trương Nguyên, tốt nhất là thuyết phục Trương Nguyên gia nhập giáo đoàn. Từ Quang Khải là nhân vật kiệt xuất của giáo đoàn Thiên Chúa giáo tại Đại Minh, là bạn thân của Matteo Ricci. Vương Phong Túc nhận được thư của Từ Quang Khải, không dám chận trễ, cưỡi ngựa thâu đêm tới Sơn Âm để gặp Trương Nguyên, nhưng lúc này khi nhìn thấy Trương Nguyên chỉ là một học trò mười bảy, mười tám tuổi, liền có chút thất vọng. Một học trò chưa qua nhược quán (cách gọi thanh niên khoảng hai mươi tuổi) có thể giúp được gì cho giáo đoàn cơ chứ? Nhưng vì đã đến đây rồi, Vương Phong Túc cố gắng giữ vững tinh thần khi nói chuyện với Trương Nguyên, đầu tiên sai người đem quà tặng cho Trương Nguyên, đó là một chiếc lăng kính, một bức "Bản đồ Sơn Hải" tạc trên đá, một chiếc đồng hồ, lúc trước Matteo Ricci đến tặng cho hoàng đế Vạn Lịch hai chiếc đồng hồ. Thường thì các hội viên trong giáo đoàn khi đi thăm hỏi những nhân vật trọng yếu của Đại Minh mới được đem đồng hồ để tặng, bây giờ cả Đại Minh chỉ có không quá mười chiếc, còn lần này là vì Từ Quang Khải đề nghị tặng cho Trương Nguyên một chiếc.

Cái đồng hồ cao chừng ba thước, cây kim đồng hồ bằng gỗ mun, bốn góc đồng hồ được gắn thêm hai cánh thiên sứ. Toàn bộ chiếc đồng hồ như một đỉnh tháp nhọn của một nhà thờ, chế tác cực kỳ tinh xảo. Ở phương Tây, một chiếc đồng hồ như thế này có giá trị bằng cả một chiếc kính viễn vọng, vô cùng đắt. Trương Nguyên nhìn thấy chiếc đồng hồ, mừng rỡ, hắn rất cần nó, có nó hắn có thể nắm rõ thời gian, hắn muốn Đại Minh sẽ có nhiều nghệ nhân làm đồng hồ, nhân dân mà phát triển mạnh điểm này có lẽ phải vượt trước lịch sử bốn trăm năm.

Quả lắc của chiếc đồng hồ vẫn không chịu nhúc nhích, Vương Phong Túc cũng không nói gì, chờ cho Trương Nguyên hỏi, không ngờ Trương Nguyên lại không hỏi, mở nắp phía sau của chiếc đồng hồ ra, quan sát thật kỹ. Chiếc đồng hồ này không phải là chiếc đồng hồ lên dây cót, mà là một chiếc đồng hồ Trọng chùy, máy móc của chiếc Trọng thùy này rất lớn mỗi ngày đều phải chỉnh. Trương Nguyên liền thả rơi chiếc trọng chùy, rồi chỉnh kim phút có hình dáng giống miệng chim diều hâu, chỉnh thời gian thành ba giờ chiều. Chiếc đồng hồ đó đã bắt đầu chạy.

Trương Nguyên quay đầu nhìn Vương Phong Túc nói:

Bây giờ hình như là chừng này giờ, sau này sẽ điều chỉnh lại.

Vương Phong Túc trợn mắt há hốc mồm, lát sau hỏi:

Trương công tủ đã từng nhìn thấy cái tháp Thông Thiên này?

Tháp Thông Thiên?

Trương Nguyên kinh ngạc, rồi liền hiểu ra, thì ra đó là cách mấy thầy tu phương Tây thể hiện sự thần kỳ, gọi đồng hồ là tháp Thông Thiên, hắn liền trả lời:

Ta từng mơ thấy nó, hôm nay lại thấy, không ngờ so với cái thấy trong mộng cũng không khác nhau là mấy.

Vương Phong Túc trợn tròn đôi mắt màu xanh của mình, không nói được gì, rồi lại đưa chiếc "Bản đồ Sơn Hải" cho Trương Nguyên xem, chiếc bản đồ này là theo bản vẽ của Matteo Ricci in ra đá, cũng được đánh dấu bằng màu sắc rực rỡ, châu Á màu vàng, châu Mĩ và châu Nam Cực màu hồng phấn, châu Âu và châu Phi màu trắng, biển màu xanh lá cây, bản đồ chưa ghi rõ châu Đại Dương, vì lúc này người phương Tây không biết đến sự tồn tại của châu Đại Dương.

character:line-break">

Chương 299: Tháp Thông Thiên.

Trương Nguyên nói:

Bản đồ này vẽ có chênh lệch chút ít, lãnh thổ Đại Minh ta đáng lẽ phải ở hướng Đông Bắc, có sai lệch một chút.

Vương Phong Túc kinh hãi, lúc trước khi Matteo Ricci vẽ bức "Bản đồ Sơn Hải" này có nghĩ đến sự kiêu ngạo của người Đại Minh, liền đem phía đông Đại Minh thuộc châu Á làm trung tâm, dùng cái này để lấy lòng người Đại Minh, quả nhiên vô cùng hiệu quả, người Đại Minh xem bản đồ thì kiêu ngạo cho rằng Đại Minh là đất nước trung tâm, họ rất thích, thì hảo cảm của họ với các thầy tu tăng gấp bội, nhưng bây giờ, một học trò chưa qua tuổi nhược quán lại chỉ ra được chỗ sai của bản đồ làm Vương Phong Túc sợ đến ngây người.

Trương Nguyên thấy mình chỉ điểm đến những kiến thức phổ thông đã làm tên Vương Phong Túc này sợ rồi, lòng thầm hổ thẹn nói:

Tại hạ trong mơ từng được nhìn thấy người phương Tây các vị vẽ bản đồ, nhưng chiếc này thì có chút khác khác.

Giải thích những lỗi sai bằng cách nói “trông khác với trong mộng”, đây chỉ là mẹo cũ của Trương Nguyên, vừa chứng tỏ mình quang minh chính đại lại gây được lòng tin của người phương Tây, Vương Phong Túc bây giờ đã có thể khẳng định hành trình tới Sơn Âm của gã là không uổng phí, Trương Nguyên đúng là một kỳ tài, hơn nữa lại có kỳ mộng, chắc chắn Chúa Cha, Chúa Con cùng Chúa Thánh Thần đã khai sáng cho hắn, Vương Phong Túc cực kì hưng phấn, nhưng cũng cẩn thận hỏi:

Trong giấc mộng đó Trương công tử đã gặp những người nào?

Trương Nguyên hiểu rõ tâm tư của Vương Phong Túc, liền lắc đầu nói:

Không có ai cả.

Vương Phong Túc lấy chiếc vòng cổ xuống, mặt dây chuyền là một chiếc Thánh Giá hình chữ thập nói:

Vậy có nhìn thấy vật này hay không?

Trương Nguyên lắc đầu, hắn không muốn tiếp tục đề tài này liền nói:

Vương giáo sĩ đến từ Ý, Bồ Đào Nha hay là Đức?

Vương Phong Túc lại vô cùng kinh ngạc, hầu như đại đa số người Đại Minh xem tất cả người phương Tây đều từ một quốc gia mà đến, không phân biệt nổi Bồ Đào Nha với Tây Ban Nha, nói chung đều gọi bọn họ là người Phật Lãng Cơ, các người truyền giáo ở Đại Minh trước giờ chủ yếu là người Ý và người Bồ Đào Nha, không có người Tây Ban Nha, nhưng đời vua Vạn Lịch thứ ba mươi mốt, người Tây Ban Nha ở Lã Tống giết hại những người di dân của Đại Minh, dân chúng Đại Minh liền trách tội những người truyền giáo bọn họ, thời gian đó việc truyền giáo gặp trở ngại vô cùng.

Tuy đã lấy tên như một người Đại Minh, nhưng Trương Nguyên hỏi vậy làm Vương Phong Túc phải nể Trương Nguyên thêm mấy phần, gã trả lời:

Tại hạ người Ý.

Dứt lời, gã liền mở bọc hành lý ra, lấy hai bộ sách đưa cho Trương Nguyên, nói:

Đây là mấy bài viết vụng về của tôi, mong được Trương công tử chỉ giáo.

Trương Nguyên nhận lấy, mở ra xem, một quyển là "Tề gia Tây học", còn quyển kia là "Chúa Trời, vị Vua đích thực", nói:

Tại hạ thật có vinh dự khi được đọc thế này.

Trương Thụy Dương lại không hề có một chút hứng thú với người giáo sỹ này, liền đứng lên nói:

Trương Nguyên, ngươi tiếp khách nhé, lão phụ đi vào nghỉ ngơi một lúc.

Cha mẹ Tông Dực Thiện ở trong nội viện đợi đã lâu, việc hôn nhân của Tông Dực Thiện và Y Đình đã được bàn tới, Y Đình là nghĩa tử của Trương Thụy Dương nghĩa là Tông Dực Thiện sẽ trở thành con rể của ông ta.

Trương Nguyên mời Vương Phong Túc đến lầu gỗ vườn sau để nói chuyện. Hôm nay trời khá nhiều mây, lúc này mây tách ra, mặt trời xuất hiện, ánh sáng mặt trời chiếu lên hai bờ sông bị đóng băng của sông Đầu La phát lên thứ ánh sáng lóng lánh, trông rất đẹp mắt, Vương Phong Túc nhân cơ hội liền lấy lăng kính ra sử dụng, phân tán ánh mặt trời thành bày màu đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.

Đồng hồ, bản đồ vạn nước và chiếc lăng kính là ba đại pháp bảo của các thầy tu Thiên Chúa giáo ở Đại Minh, giống như cách Phật giáo truyền vào lãnh thổ Trung Hoa vậy. Các cao tăng Tây Vực thường xuyên thể hiện vẻ thần thông để thu hút những tín đồ bình thường, còn các giáo sỹ Ki-tô giáo thì mượn một chút sự tiến bộ của khoa học để thu hút các tín đồ, nhưng với Trương Nguyên cả ba đại pháp bảo của họ chẳng có tác dụng gì cả, tuy nhiên Trương Nguyên vẫn giả bộ tò mò về nguyên lý làm cho chiếc lăng kính có thể phát sáng như vậy. Vương Phong Túc rõ ràng cũng chẳng rành chuyện này, trả lời đến hơn một nửa là sai, tuy vậyTrương Nguyên cũng im lặng không nói gì.

Vương Phong Túc ở lại căn lầu nhỏ bên sông Đầu Lao ba ngày, mỗi ngày, gã và Trương Nguyên đều nói chuyện và trao đổi với nhau, học thức của Vương Phong Túc không uyên thâm bằng Matteo Ricci, đối với hình học, thiên văn học, quang học, gã chỉ biết đôi chút, tuy rằng kiến thức của Trương Nguyên ở những lĩnh vực này chỉ biết nhiều hơn trình độ của một học sinh trung học ở hiện đại một chút, nhưng lại có thể so sánh hơn kém với Vương Phong Túc được rồi, hơn nữa nói chuyện với Vương Phong Túc chả có gì thú vị, cũng chả có đề tài nào hấp dẫn hắn cả, Vương Phong Túc một lòng khuyên Trương Nguyên nhập giáo, bảo các quan viên Đại Minh như Từ Quang Khải, Lý Chi Tảo đều đã nhập giáo, Vương Phong Túc tích cực tuyên dương giáo lý, tha thiết hy vọng có thể cứu vớt linh hồn Trương Nguyên.

Trương Nguyên biết rõ mình từ đâu tới, cần phải làm gì, hắn trước tiên phải tự cứu lấy mình và người nhà mình cùng dân chúng Đại Minh không cho người Sấm, người Hiến và người Nữ Chân chà đạp, về phần linh hồn, có thể từ từ cứu vớt sau cũng được, không vội. Đối với những thầy tu như gã, hắn đều có thiện cảm giống như Đạt Ma từ phía tây đến và Giám Chân từ phía đông qua, chỉ cần không dùng vũ lực ép buộc người khác tin vào tôn giáo của họ, dân chúng yêu thích và tin tưởng tôn giáo nào là quyền tự do của họ. Hơn nữa bây giờ Thiên Chúa giáo tận lực chống lại Nho giáo, đi ngược chiều hướng dân trí cũng tốt, xã hội cũng cần phải có sự xuất hiện của tôn giáo mới, nhưng ở bản thân Trương Nguyên, đương nhiên hắn không thể theo Thiên Chúa giáo, vừa vào thì sẽ mang tiếng ngay, vì thế mà con đường cứu quốc sau này nhất định khó khăn.

Trương Nguyên mượn cớ mình còn trẻ, mẫu thân lại theo đạo Phật, sẽ không cho phép hắn theo Thiên Chúa giáo, nhưng Trương Nguyên không dứt khoát chối từ, hắn bảo về sau sẽ suy nghĩ thêm, làm cho Vương Phong Túc có chút hy vọng. Ở Đại Minh, Trương Nguyên cũng phải làm quen với các giáo sỹ để có một lực lượng đoàn kết, bây giờ kẻ thù lớn nhất của Đại Minh là thiên tai và bộ tộc Nữ Chân ở Kiến Châu. Bây giờ nếu muốn phát triển khoa học ở phương Tây thì nhất định phải nhờ Trương Nguyên giúp. Từ trong lời nói của Vương Phong Túc cũng nhận ra sự lo lắng của hội Thiên Chúa, không giống với sự thận trọng của Matteo Ricci, Vương Phong Túc truyền giáo một cách quá mức đường hoàng. Năm đó khánh thành nhà thờ đạo Tin Lành ở Nam Kinh, Vương Phong Túc tổ chức cho các tín đồ đi rêu rao khắp nơi, nam nữ tín đồ thường xuyên tụ họp một nơi, tụng kinh cầu nguyện, điều này làm dân chúng Nam Kinh có chút bất mãn, còn với Thiên Chúa giáo thì ôm ý định chống lại quan lại, đồng thời chỉ trích chống lại Phật giáo, Vương Phong Túc lại khá lơ đễnh. Năm trước bởi vì công việc truyền giáo tại Đại Minh có thành tựu lớn mà được giáo hội khen thưởng, cho nên gã càng cố gắng thu hút thêm nhiều tín đồ, nếu không thì cũng không từ Nam Kinh đến Sơn Âm trong cái mùa đông giá rét khắc nghiệt này để tìm Trương Nguyên.

Trương Nguyên khuyên Vương Phong Túc nên theo phương pháp truyền giáo của Matteo Ricci, lấy việc truyền bá khoa học là chính, bằng không sợ không có người theo, nhưng Vương Phong Túc rõ ràng không để tâm. Có điều xuất phát từ sự kính nể và ý muốn lôi kéo Trương Nguyên, nên Vương Phong Túc đồng ý sử dụng quan hệ của mình để nhờ người mang hai khẩu súng ngòi lửa mới nhất của Tây Ban Nha sang cho Trương Nguyên, ở Đại Minh, súng ngòi lửa được gọi là súng điểu.

Trương Nguyên còn mời Vương Phong Túc đi thăm kính phường Hàn Xã, Vương Phong Túc rất kinh ngạc khi thấy kính phường Hàn Xã có thể sản xuất ra được kính viễn vọng.

Ngày mười sáu tháng chạp, Vương Phong Túc mang trong lòng sự tán thưởng vô bờ mà rời khỏi Sơn Âm. Vì quen biết được Trương Nguyên nên gã nhận thấy chuyến đi này không tệ, Trương Nguyên còn rộng lượng quyên góp cho quỹ của giáo đoàn hai trăm lượng bạc trắng, cũng khuyên Vương Phong Túc nên truyền giáo cẩn thận, đề phòng bị những quan lại chống lại Thiên Chúa giáo buộc tội, nhưng nhìn vẻ mặt của Vương Phong Túc, chắc chắn gã chẳng hề để tâm. Trương Nguyên thầm nghĩ:"Không nghe ta nói, giáo đoàn Thiên Chúa giáo ở Đại Minh nhất định sẽ nhanh chóng sụp đổ, nhưng như vậy cũng tốt, như vậy sẽ làm thay đổi phương pháp truyền giáo của các giáo sỹ Ki-tô giáo, quay lại dùng phương pháp lấy khoa học kỹ thuật là điều được ưu tiên như cách trước kia của Matteo Ricci.

Chạng vạng ngày hai mươi bốn tháng chạp, Trương Nguyên mang theo Lai Phúc và Vũ Lăng đến phủ của Vương Tư Nhâm, chậm rãi đi đến cầu Việt Vương, ven đường thấy dân Hội Kê lấy kẹo mạch nha, kẹo mềm gạo hoa, bột đậu vo tròn, những chiếc kẹo bánh nhỏ để cúng Táo Quân, rồi mua vàng mã đốt trước cửa nhà, đây là nghi thức tiễn Táo quân lên chầu trời. Còn phải đổi câu đối tết, môn thần, thiếp xuân, thần Chung Quỳ, Phúc Lộc, Đầu Hổ cùng Chư Đồ, dán ở vách tường. Đám ăn mày thì tụ tập lại với nhau, không ngại giá lạnh hóa trang thành những ma quỷ có hình thù quái dị, kêu nhảy xua đuổi tà ma để xin tiền và thức ăn của mọi người, từ ngày đó, trong phường tiếng trống tiếng tiêu không dứt, tiếng pháo cũng nào nhiệt suốt ngày.

Chương 300: Gặp lại Vương Anh Tư.

Vương Tư Nhâm mới trở về ngày hôm qua, qua năm sau ông đã phải ra nhận chức phó Viên Châu Thôi Quan, hôm nay Trương Nguyên liền tới Hội Kê bái kiến.

Thấy Trương Nguyên, Vương Tư Nhâm vô cùng vui mừng, hỏi thăm chuyện bài vở của hắn rồi nói:

Ta ở kinh đô cũng nghe thấy dân Hoa Đình tụ họp lại bàn tán, tên tuổi của con truyền đến tai khắp các quan của Lục bộ, ta chỉ sợ đó không phải là chuyện tốt đẹp.

Vương lão sư là người thông minh, Trương Nguyên cũng nghiêm túc, nói:

Học trò vẫn chỉ là một tú tài, những quan viên kia sẽ nhanh chóng quên học trò thôi.

Vương Tư Nhâm nói:

Ngươi sẽ nhanh chóng trở nên nổi tiếng, rồi sẽ được rất nhiều người nhớ đến.

Trương Nguyên nói:

Mộc tú vu lâm phong tất tồi chi, đối xuất vu ngạn lưu tất thoan chi (người nổi bật dễ bị ghét).

Hành cao vu nhân, chúng tất phi chi (Đi nhanh hơn người, dễ bị người chê bai).

Vương Tư Nhâm cười bổ sung một câu như vậy, qua hai năm tiếp xúc, ông ta biết rõ ý chí cứu quốc của Trương Nguyên, cũng biết Trương Nguyên là người làm việc rất có chừng mực, không cần ông ta quan tâm làm gì. Điều ông ta cần lo lắng lúc này là chuyện hai người con gái của ông ta, đứa con gái lớn Tĩnh Thục thì muốn ở góa, còn đứa em Anh Tư sang năm đã là mười tám tuổi rồi, cũng không chịu thành hôn, có thể là do Trương Nguyên mà nó như vậy. Nhưng Vương Tư Nhâm thì không có ý muốn trách cứ Trương Nguyên, mà việc này cũng không thể trách ai được, chỉ có thể đổ thừa cho Nguyệt Lão đang cố ý chọc ghẹo người ta. Vương Tư Nhâm lạc quan nói đùa vậy, không đến mức lo lắng thái quá, tuy chuyện của Anh Tư khá phiền nhưng không phải không có cách giải quyết, có thể từ từ rồi tính, ông ta cũng không phản đối chuyện Trương Nguyên cùng Anh Tư có thư từ qua lại với nhau.

Còn về Trương Nguyên, việc trao đổi thư từ với Anh Tư là chuyện rất vui vẻ và thoải mái, hai người thường xuyên trao đổi và giải quyết những vấn đề khó khăn trong học tập, làm cho chuyện học tập của Trương Nguyên trong một năm có thể tiến bộ vượt bậc, nhưng qua việc trò chuyện cùng Anh Tư, hắn nhận ra sư muội cũng có điểm tiến bộ. Trong một năm qua, Anh Tư còn đọc sách nhiều hơn hắn, có thể là vì Anh Tư có nhiều thời gian đọc sách hơn, trong lúc đó Trương Nguyên luyện bắn cung, ít nhiều bị phân tán thời gian.

Cho dù Trương Nguyên là người Đại Minh hay là người hiện đại đi chăng nữa, đều không từ chối quyết tâm kết giao gặp gỡ với Vương Anh Tư, hai người làm gì cũng rất tâm đầu ý hợp, như đọc được suy nghĩ của nhau vậy, có chút bất đồng với Trương Ái Linh, không thể qua quýt dối trá quyết định, giống như quan hệ của Lý Chí và Mai Thị, tuy có trao đổi thư từ, mặc dù nhiều lần bị người ta trách móc nhưng vẫn kiên quyết:

"Doanh doanh tế mạt tùy phong tuyết,

Điểm điểm hồng trang đái vũ mai.

Mạc đạo môn tiền mã xa phú,

Tử quy kim dĩ hoán xuân hồi."

"Thanh thanh hoán xuất tự gia thân,

Sinh tử như sơn bất động trần.

Dục kiến quan âm kim nhữ thị,

Liên hoa nguyên chúc tự hoa nhân."

Há chẳng phải có một tâm tình khác tróng đó?

Mà Trương Nguyên nếu vì chuyện hôn nhân đại sự của Vương Anh Tư mà đoạn tuyệt việc qua lại thăm hỏi, thì đó mới thật là dối trá, sống ở nhân gian, ai mà có thể phân biệt rạch ròi trắng đen, không bị tình cảm giằng co, ai mà có thể suốt đời sống độc thân? Rất nhiều thứ con người không thể nào làm chủ được mình, chỉ là họ chưa gặp qua mà thôi.

"Boong...boong...boong".

Trong phòng ngủ, chiếc đồng hồ vang lên sáu tiếng, Mục Chân Chân ngủ ở trên gường gian ngoài, nhanh nhẹn đứng dậy mặc quần áo tiến vào hầu hạ Trương Nguyên mặc quần áo, rửa mặt ở gian trong. Hàng ngày Mục Chân Chân cũng không ngủ cùng thiếu gia, nàng vẫn tuân thủ nghiêm ngặt bổn phận của một tỳ nữ.

Rửa mặt xong, kim phút đồng hồ chạy qua một khắc, Trương Nguyên mở nắp đồng hồ phía sau, ngón tay giữa chỉnh kim đồng hồ đúng sáu giờ nói:

Mỗi ngày cứ cho đồng hồ chạy từ lúc sáu giờ.

Qua một thời gian ngắn quan sát, Trương Nguyên phát hiện một ngày chiếc đồng hồ này sẽ nhanh hơn mười lăm phút, cho nên mỗi ngày sau khi nghe tiếng chuông vang rời giường rửa mặt xong, hắn lại phải chỉnh sửa lại cho đúng.

Mục Chân Chân nói:

Thiếu gia mấy ngày nay bận quá rồi, quả thực, thái thái luôn miệng dặn dò thiếu gia đừng cố gắng quá kẻo mệt.

Trương Nguyên nói:

Ta hiểu chứ, lúc nào mệt ta sẽ nghỉ ngơi.

Sau khi luyện quyền cho khỏe người, hắn đi đến vách thư phòng, thấy có một phong thư đặt ở trên những quyển sách cao nhất, là thư của Vương Bính Lân, nhưng Trương Nguyên biết thật ra là thư của Vương Anh Tư, hắn liền mở ra xem, vẫn là dặn hắn phải tham gia hội Hàn Xã, còn trích dẫn mấy câu thơ của Ngư Huyền Cơ:

" Vân phong mãn mục phóng xuân tình,

Lịch lịch ngân câu chỉ hạ sinh,

Tự hận la y yểm thi cú,

Cử đầu không tiện bảng trung danh."

Mấy câu thơ này nói lên ước muốn được đề danh trên bảng vàng của những sỹ tử đi thi hương, Trương Nguyên xem xong mỉm cười, thầm nghĩ:"Anh Tư sư muội vẫn thất vọng khi không được làm con trai". Nhân mấy câu thơ của Ngư Huyền Cơ, Trương Nguyên không khỏi thờ dài khi nghĩ đến Vương Tu Vi ở Kim Lăng.

Giờ đã là năm Vạn Lịch thứ bốn mươi ba, tháng hai, xuân đã về, ngàn hoa khoe sắc, mấy hôm trước là sinh nhật Thương Đạm Nhiên. Thương Đạm Nhiên đã mười chín tuổi rồi, Trương Nguyên mười tám, Trương Nguyên đến Thương phủ để tặng quà cho Đạm Nhiên, ngày sinh nhật Đạm Nhiên năm ngoái và năm kia Trương Nguyên đều cùng Thương Đạm Nhiên đi đến chùa Hạnh Hoa, năm nay tuy không thể làm như mọi năm, nhưng may mà hôn sự của hai người chỉ còn nửa tháng nữa, về sau có thể nhìn ngắm nhau thoải mái.

Mới mồng hai tháng hai, Trương Đại đã thành hôn với Lưu Thị, ngày mười sáu tháng hai Trương Ngạc thành hôn với tỷ tỷ của Kỳ Bưu Giai, nhà họ Trương ở Sơn Âm có thể nói chuyện vui không ngừng, tuy nhiên Trương Đại thật sự không có tình cảm gì với thê tử của y là Lưu thị cả, y là làm theo ý phụ mẫu mình mà thôi, dựa theo cách nói của Trương Ngạc thì y chính là người thua cuộc, mà Trương Ngạc lại là người thắng cuộc. Trương Ngạc rất vừa ý với Kỳ thị, trong lời nói của y luôn ngập tràn niềm vui, Trương Ngạc vốn không chịu sự quản giáo của gia đình, y là người sống tùy hứng và buông thả, người hầu nếu như đụng chạm đến y, nhất định sẽ bị đánh, tính tình y từ nhỏ đã thế đến nỗi cả mẫu thân y là Vương Thị cũng chẳng thể quản nổi y. Nhưng từ lúc Kỳ Thị được gả về đó, Trương Ngạc rất ít khi nổi giận, cho dù người hầu vô ý đụng chạm đến y, chỉ cần cầu xin thê tử của y, thì dù Trương Ngạc tức giận đến đâu Kỳ Thị cũng có thể làm dịu đi, Trương Đại mỉm cười nói với Trương Nguyên:

Nếu Tam đệ là hổ, thì Tam phu nhân chính là Võ Tòng, từ nay Tam đệ xem như là tìm được khăc tinh rồi.

Tới tham dự lễ thành hôn của Trương Đại và Trương Ngạc có Chu Mặc Nông người Sơn Âm, Diêu Giản Thúc người Hội Kê, còn có Hồ Tôn Tố, Nghê Nguyên Lộ từ những huyện khác. Hai bằng hữu của Trương Ngạc từ Gia Hưng, Côn Sơn cũng đã tới, bởi vì đầu tháng ba chính là ngày đầu tiên phải tụ họp tại Hàn Xã với quy mô lớn, vì thế những bằng hữu ở phương xa đều phải ở lại Sơn Âm, Hồ Tôn Tố ở chỗ Trương Nguyên, còn chỗ ở của những người khác đều do Tây Trương lo liệu.

Những ngày sau đó, lại có thêm nhiều người đến Sơn Âm. Ngày hai mươi lăm, Tiêu Nhuận Sinh và La Huyền Phụ từ Nam Kinh đến, bấy giờ đã có hơn bốn mươi bạn học ở Hàng Châu, Nam Bình tụ họp tại Sơn Âm này. Ngày hai mươi sáu, Nguyễn Đại Thành và mười đồng hương khác từ Đồng Thành đến, đây là những người bạn học mà Nguyễn Đại Thành tập hợp lại lúc ở Đông Thành. Ngày hai mươi bảy, Phạm Văn Nhược, Văn Chấn Mạnh, Phùng Mộng Long cùng hơn năm mươi người khác từ Tô Châu đến Sơn Âm. Ngày hai mươi chín, hơn hai trăm chư sinh từ ba huyện ở Tùng Giang ngồi trên hơn mười chiếc thuyền, trùng trùng điệp điệp tiến đến Sơn Âm. Vợ chồng Lục Thao, Trương Nhược Hi, còn có Lý Thuần, Lý Khiết đều đến đây, còn có Dương Thạch Hương, Hồng Đạo Thái, Hạ Doãn Di, Kim Lang cũng đồng loạt tới. Rồi có cả bạn học của Trương Nguyên hồi ở Quốc Tử Giám, còn có các sinh đồ ở Côn Sơn, Gia Hưng đều tới tụ họp. Đến ngày mồng một tháng ba, toàn Sơn Âm đã có năm trăm sáu mươi mốt chư sinh, tính cả nhà hắn cùng người hầu thì con số không nhỏ hơn hai ngàn người, đó là còn chưa tính chuyện các sinh đồ Hội Kê, Sơn Âm cũng tham gia lần tụ họp này.

Một hội nghị tụ tập của những sinh đồ với quy mô lớn như thế này chưa từng xảy ra, trước đó Trương Nguyên đã báo cáo với Lưu huyện lệnh và Từ Tri phủ Thiệu Hưng, được hai người ủng hộ. Thiệu Hưng phủ học và Sơn Âm huyện học mở ra là vì chư sinh, cung cấp chỗ nghị luận hàng ngày của các chư sinh.

Trương Nguyên trước đó đã lệnh cho Lai Phúc bao nhiều nhà trọ ở Sơn Âm, còn có một ít sinh đồ ở Sơn Âm tham gia lần tụ họp này, trong nhà của họ cũng thu lưu không ít những sinh đồ ở nơi xa đến. Trương Nguyên lập các xã thủ, xã phó để quản lý các xã viên, chuyện ăn ngủ của các sinh đồ do Hàn Xã sắp xếp, còn những người hầu đi cùng với các sinh đồ thì ăn ở trên thuyền.

Trên các con sông Sơn Âm đầy ắp những con thuyền từ nơi khác đến, khói lửa mịt mù không ngừng, muốn cuộc tụ họp này thành công, không có sự giúp đỡ và chuẩn bị trước là không được. Lần này, được Trương Nhữ Lâm ủng hộ, Tây Trương đã xuất ra ba trăm hộc gạo, những người khác cũng cố gắng cung cấp về tài chính. Trương Nguyên lấy danh nghĩa Hàn Xã xuất ra năm trăm lượng. Lần đầu tiên Hàn Xã tụ tập với một quy mô lớn như vậy, hỗn loạn là điều khó tránh khỏi. Trương Đại, Trương Ngạc thì không giúp được gì, cũng may là có Hồ Tôn Tố và Tông Dực Thiện giúp đỡ.

Chương 301: Hoành đao đoạt ái (1).

Ngày mồng hai tháng ba, Trương Nguyên, Trương Đại, Phạm Văn Nhược, Dương Thạch Hương, Văn Chấn Mạnh, Hạ Doãn Di và các xã trưởng, xã phó khác tổng cộng cả thảy là hai mươi người cùng nhau ngồi lại bàn bạc công tác phân vùng Hàn Xã. Những người này đến từ Thiệu Hưng, Tô Châu, Nam Kinh, Tùng Giang, ban đầu tổ chức thành các loại văn xã, như Tô Châu Phất Thủy Sơn Phòng Xã, Tùng Giang Kỷ xã, Côn Sơn Vân Trâm xã, Vũ Lâm Độc Thư xã, bây giờ đều thống nhất nhập cả vào Hàn Xã, còn việc xét duyệt xã viên, Trương Nguyên yêu cầu tuân thủ theo nguyên tắc: nghiêm chỉnh chớ lạm dụng, tham lam, vô liêm sỉ, ỷ quyền mà nâng đỡ người đồng hương, tuyệt không được nhập xã như vậy, phải nghiêm chỉnh tuân thủ nguyên tắc. Về mặt tổ chức, cơ bản vẫn theo như hội nghị Hoa Đình năm ngoái, gồm ba nhánh, tăng thêm trung quân, bảo vệ tổ quốc, lấy lợi ích của người dân là mục đích, để sau này có thể tránh khỏi được nhiều phiền phức.

"Hàn Xã tính thị lục" (sáu dòng họ Hàn Xã) do Tông Dực Thiện và Hồ Tôn Tố chịu trách nhiệm chỉnh sửa, là bản ghi chép quê quán, họ tên, năm sinh, tuổi tác cùng họ tên bạn bè của các xã viên, tổng cộng số xã viên chính thức được ghi trong đó gồm 385 người, còn lại sẽ được các xã trưởng, xã phó xem xét sau.

Mọi chuyện đã sẵn sàng, chỉ thiếu gió đông, Sơn Âm một ngày huyên náo dần trở nên yên tĩnh, chỉ còn chờ đến ngày mai Hàn Xã tụ tập lại. Trương Nguyên đang ở trên lầu hai của căn lầu gỗ cạnh sông Đầu Lao, trò chuyện không ngừng, hơn hai mươi người gồm xã trưởng, xã phó của Hàn Xã đều đang ở đây, đàm văn luận nghệ, náo nhiệt vô cùng. Bỗng Đại Thạch Đầu báo có khách đến, trình lên thiếp báo, Trương Nguyên nhận lấy xem, đây là một chiếc đơn thiếp, chứng tỏ vị khách này là đến một mình, ghi: "Thảo y đạo nhân bái". Trương Nguyên giật mình, mặt trái tấm thiếp còn đề chữ, nét nhỏ, thanh lịch quyến rũ:

"U tung thùy thức nữ lang thân,

Ngân phổ tiền đầu hảo vấn tân.

Triều bãi ngọc thần vô nhất sự,

Đàn biên nguyện tác tảo hoa nhân.

Bất tín tiên gia dã bất nhàn,

Bạch vân xuân loạn bích đào quan.

Hành chu ngẫu hướng trương quân dịch,

Nhất cục vị chung hoa dĩ tàn."

Trương Đại ngồi bên cạnh Trương Nguyên, nhìn những chữ được đề trên tấm thiếp, kinh ngạc nói:

A, người nữ lang kia là từ Kim Lăng tới đây!

Trương Ngạc vội hỏi:

Ai, ai? Vương Tu Vi?

Trương Đại cười nói:

Không phải Vương Tu Vi thì còn ai vào đây nữa? Chẳng lẽ lại là Lý Tuyết Y.

Đang ngồi ở đây ngoại trừ Phạm Văn Nhược, Văn Chấn Mạnh, Phùng Mộng Long và một số người từng trải ra, những người khác đều dưới ba mươi tuổi, là lớp người vô cùng nhiệt huyết và phong lưu. Lần này Hàn Xã tụ tập thanh thế khá lớn, giao lưu, bình luận văn chương, cùng nhau liên hoan, nên có chút náo nhiệt, nhưng dường như thiếu một chút văn thơ, bây giờ nghe nói danh kỹ Nam Kinh đã đến, giống như Trương Nguyên, tất cả mọi người đều giật mình, đều nhao nhao hỏi han, Trương Ngạc nhanh mồm nhanh miệng, liền kể lại chuyện Vương Vi lên thuyền ở Đoạn Kiều trên Tây Hồ.

Trương Nguyên đứng lên nói:

Tam huynh cứ từ từ nói chuyện nhé, ta đi xem một chút.

Nguyễn Đại Thành, cùng Nghê Nguyên Lộ cười nói:

Trương Xã Thủ, chớ để tuột mất mỹ nhân, đi nhanh lên.

Trương Nguyên đi theo Đại Thạch Đầu vào tiền sảnh, thấy một người khác đang đứng trước bậc thềm, đây chính là Diêu Thúc người hầu của Vương Vi.

Diêu Thúc chắp tay trước ngực nói:

Trương công tử, chủ nhân nhà ta đang ở trong đò ngoài Tây Quách Môn, không biết có thể mời Trương công tử dời bước đến đó hay không?

Tây Quách Môn là một trong bốn cửa sông của Sơn Âm, nơi này cách Đông Trương chừng hơn một dặm, nó nằm ngay tại bên bờ Hà phủ.

Trương Nguyên hòa nhã nói:

Diêu Thúc từ xa tới vất vả, đã dùng cơm chưa?

Diêu Thúc nói:

Tiểu nhân đã ăn cơm lúc ở trên đò rồi.

Trương Nguyên gật đầu nói:

Vậy thì đi thôi.

Hắn dặn Mục Chân Chân mang một cái giỏ đựng một bộ ấm trà để tặng cho Vương Vi.

Lúc này trời đã tối đen, đêm ngày mồng hai tháng ba, mây phủ dày đặc, không trăng không sao, Vũ Lăng cầm một chiếc đèn lồng đi ở phía trước để rọi đường, gió làm chiếc đèn xoay tròn, Trương Nguyên, Mục Châu Châu, Diêu Thúc ở phía sau, bốn người dọc theo ngõ nhỏ sau phủ Học Cung bước vào phủ Hà, ngõ nhỏ này khác hẳn với ngã tư phố náo nhiệt, hai bên đường là những gia đình giàu có tường cao ngõ sâu, tĩnh lặng, có một đứa trẻ đang chơi đùa với chiếc chong chóng, ánh đèn mờ nhạt chiếu lên vách tường đá, Trương Nguyên cảm thấy có chút kỳ dị, dường như mình đang bước vào trong mộng, tại sao hắn lại có cảm giác này? Vương Vi từ Kim Lăng đến Thiệu Hưng, đương nhiên là vì hắn mà đến, tất nhiên là hắn rất vui vẻ, tuy nhiên cũng không đến nỗi giống như một loại cảm tưởng kỳ ảo như trong mộng này.

Ở bức tường cao cuối cùng của hẻm, hai bên dân cư không đều, hàng rào làm tường, cây tử đằng bò trên tường lộ ra ánh đèn nhàn nhạt, còn nghe được cả tiếng bước chân, tiếng chó sủa. Những tiếng động đó đều không làm rung động tâm tư yên lặng của Trương Nguyên lúc này, mấy ngày nay hắn đi dự tiệc tùng khắp nơi, có khi còn bận sứt đầu mẻ trán, mà tối nay vì Vương Tu Vi từ xa tới thăm, bởi vì bài trúc chi từ "U tung thùy thức nữ lang thân" của nàng (trúc chi từ là một loại thơ dân gian, hình thức thất ngôn tuyệt cú, lời thơ mộc mạc, giản dị, có âm điệu. Lúc đầu nói về tình yêu nam nữ, sau dùng để ca ngợi phong cảnh và con người ở từng vùng) Trương Nguyên đã cảm nhận được ý thơ đẹp đẽ trong đời sống chưa?

Đi qua mấy ngôi nhà, trước mặt chính là phủ Hà, xuôi dòng xuống phái dưới, nơi đó cách cầu Việt Vương và Tây Quách Môn không xa, một chiếc thuyền Tứ Minh Ngõa màu trắng đang đậu cạnh bờ sông, màn trúc được vén lên, ánh đèn trong khoang thuyền sáng ngời, người trong thuyền đang đánh cờ, nam có nữ có, có thể nghe được tiếng các quân cờ va chạm vào nhau giòn vang.

Trương Nguyên dừng bước, hỏi Diêu Thúc:

Chính là chiếc thuyền này sao?

Diêu Thúc đáp:

-Vâng.

Trương Nguyên hỏi:

Trên thuyền còn có người nào vậy?

Diêu Thúc trả lời:

Nữ lang nhà ta đi nhờ thuyền Mao tướng công để tới đây, là Quy An Mao Chỉ Sinh Mao tướng công. Còn có bạn của Mao tướng công là Ngô Ngưng Phủ Ngô tướng công, người đang cùng nữ lang nhà ta đánh cờ chính là thị thiếp của Mao tướng công Dương Uyển, nguyên là người quen cũ quen biết khi ở Quảng Lăng.

Trương Nguyên trong lòng có chút không vui, suy nghĩ lại một chút hắn liền cảm thấy khá hơn, hắn không phải là một người hẹp hòi, hơn nữa Vương Vi có thể đi nhờ thuyền của ba huynh đệ hắn đi Kim Lăng, vì sao không thể đi nhờ thuyền của Mao tướng công tới Sơn Âm, Vương Vi vốn là uốn khúc trung nữ lang, nàng không phải là người của hắn, nàng kết giao với ai là quyền của nàng.

Trương Nguyên nói:

Hóa ra người đó là Quý An Mao công tử, vậy phiền Diêu Thúc vào thông báo, Trương Nguyên ta mạo muội tới chơi.

Diêu Thúc nói:

Lúc trước Mao tướng công nói, tối nay nữ lang nhà ta phải tiếp đón khách, nữ lang nhà ta chính là chủ nhân, Mao tướng quân cũng muốn được gặp mặt Trương công tử, Mao tướng quân tới đây cũng là vì việc tụ tập Hàn Xã ở Sơn Âm.

Trương Nguyên khẽ mỉm cười, thầm nghĩ:"Mao Nguyên Nghi là bạn tốt của Uông Nhữ Khiêm và Đàm Nguyên Xuân, có lẽ y đã nghe người ta nói ít nhiều về tiếng xấu của ta, “lai giả bất thiện” (kẻ đến thì không thiện) nhỉ.

Diêu Thúc lên thuyền kêu một tiếng, Trương Nguyên liền nhìn vào trong khoa thuyền, mấy người trong thuyền đang yên lặng đánh cờ lập tức có phản ứng, rồi một người từ trong thuyền bước ra, chiếc thuyền lắc lư, hình như trò hay đã đến lúc thu hoạch, chính là câu "Nhĩ tại kiều thượng khán phong cảnh, khán phong cảnh đích nhân tại lâu thượng khán nhĩ" (Người trên cầu ngắm phong cảnh, người trên lầu đang ngắm ngươi).

Có ba nho sinh bước ra mũi thuyền nhìn về phía Trương Nguyên, người đi đầu có đội một chiếc khăn xanh, mặc áo màu xanh phiêu dật, vóc dáng người này nhỏ gầy hơn hẳn hai người phía sau, mắt của Trương Nguyên tuy không tốt, nhưng hàm răng sáng cùng đôi mắt của Vương Vi rất dễ phân biệt, cô gái này cải trang thành nam nhi chỉ như bịt tai trộm chuông (chỉ lừa được mình, không lừa nổi người), nam tử có thể có ánh mắt đẹp và quyến rũ như vậy sao?

Trương Nguyên chắp tay nói:

Tu Vi huynh, tháng mười một năm trước, lúc từ biệt ta rất buồn, nay được gặp lại, trong lòng ta rất vui. Có thể làm quen với hai vị bằng hữu này không?

Vừa nói, hắn liền bước lên mũi thuyền.

Vương Vi thấy mình cải trang thành nam nhi, Trương Nguyên liền gọi nàng là Tu Vi huynh, trong lòng nàng có chút vui vui, chắp tay đáp lễ, rồi chào hai người Mục Chân Chân và Vũ Lăng, không chờ nàng giới thiệu hai người sau lưng, người thư sinh cao lớn mũi rộng miệng lớn đứng bên trái nàng đã bước lên trước hai bước, chắp tay nói:

Tại hạ là Quy An Mao Nguyên Nghi, đặc biệt tới đây để được giao lưu với các nhân tài.

Trương Nguyên đáp lễ, thầm nghĩ:" Nghe giọng điệu của Mao Chỉ Sinh này có chút không tốt, ta tối nay đến gặp Vương Tu Vi, không nghí rằng lại phải cùng tên Mao Chỉ Sinh này múa kiếm một phen, giống như lần trước đến đình giữa hồ ngắm tuyết gặp Đàm Nguyên Xuân, U cảnh giai nhân, lại có ác khách kề bên, thật sự là không thoải mái.

Người thanh niên tầm hai mươi mốt tuổi bên phải Vương Vi nói:

Tại hạ người Tô Châu, Ngô Đỉnh Phương, tự là Ngưng Phủ, nghe qua đại danh của Trương công tử ở Sơn Âm, đặc biệt đến đây muốn được làm quen.

Vương Vi nói:

Mao tướng công hành sự hào hiệp hiên ngang, tấm lòng thanh khiết, rất thích được đọc binh thư, có tài thao lược. Ngô tướng công có sở trường về thơ họa, lúc trước ở Tô Châu có làm một bài thơ, bài thơ đó đã được truyền tụng một thời:

“ Lục ấm như vũ vạn điều tà.

Đề bãi triều oanh hựu vãn nha

Tận nhật xuân phong vô biệt ý

Chích xuy hoa điểm quá tây gia.

( Bóng cây xanh như muôn vàn hạt mưa.

chim oanh đã ngừng hót vào buổi sáng sớm, quạ kêu ban đêm

gió xuân cuối ngày không có tâm ý khác

chỉ thổi những cánh hoa đến ngôi nhà phía tây)

Chương 301: Hoành đao đoạt ái (2).

Trương Nguyên khen:

Thơ hay, thơ hay.

Ngô Đỉnh Phương khoát tay nói:

Hổ thẹn, hổ thẹn.

Mao Chỉ Sinh nói:

Ngưng huynh mặc dù thơ phú tốt, nhưng nếu so sánh với Đàm Hữu Hạ ở Cánh Lăng thì thật kém cỏi, thơ của Đàm Hữu Hạ mà Trương Xã Thủ cũng không để vào mắt, thì việc Trương công tử vừa ken Ngưng huynh chẳng phải là nói ngoa sao?

Mao Nguyên Nghi là một nhân vật nổi tiếng đời Vãn Minh, Trương Nguyên biết rất rõ về cuộc đời của người này. Sau khi Hậu Kim có nổi loạn, tình hình Liêu Đông ngày một xấu đi, Mao Nguyên Nghi một lòng muốn nâng cao khả năng chiến đấu của quân Minh, liền thu thập các binh khí lợi hại, thực dụng nhất, viết thành một cuốn binh thư "Võ bị chí". Mao Nguyên Nghi từng làm phụ tá cho Tôn Thừa Tông, tham gia vô vàn cuộc chiến tại Liêu Đông, người này thực sự có tài, so với Uông Nhữ Khiêm, Đàm Nguyên Xuân thì càng đáng được kính nể, vì vậy, giờ Mao Nguyên Nghi mới chỉ là một thanh niên hai mươi tuổi, có hiệp khí, cũng có sự bồng bột tuổi trẻ, Trương Nguyên không phải đến để tranh dành tình nhân với Mao Nguyên Nghi, cũng không phải đến để đối chọi với y.

Trương Nguyên cười nói:

Tại hạ nhất thời nên nói vậy, tại hạ nhận xét bài thơ của Đàm Hữu Hạ cũng là vì hoàn cảnh đặc biệt lúc bấy giờ. Lúc ấy là nói về các đại thi nhân từ xưa đến nay, nên khi đem thơ của Đàm tiên sinh so sánh với các bậc đại thi nhân đó tại hạ mới chê bai thơ của Đàm tiên sinh, Chỉ Sinh huynh chớ nghe lời đồn đại của thiên hạ mà lại có thành kiến với ta đấy. Tại hạ giờ đang ở đây, Chỉ Sinh huynh có thể dùng ánh mắt của mình để nhìn hạ rốt cuộc là người như thế nào, cứ xem như Chỉ Sinh huynh chỉ là ngẫu nhiên đi qua Sơn Âm, tình cờ gặp tại hạ, hai bên không hề quen biết, và bắt đầu kết giao thôi, huynh thấy thế nào?

Trong lòng Vương Vi thầm khen Trương Nguyên nói ra những lời thật hay, nói:

Mao tướng công, Trương tướng công đều vì lòng trượng nghĩa mà kết giao, chỉ cần nói chuyện với nhau một buổi tối thôi thì nhất định hai người sẽ trở thành bằng hữu tốt đấy.

Mao Nguyên Nghi thấy Trương Nguyên không kiêu ngạo cũng không siểm nịnh, khiêm tốn lễ độ, so với người vừa gặp đã gây sự như y thì Trương Nguyên lại càng phong độ hơn, bất giác y thầm hổ thẹn, trước giờ y luôn có một chút ghen tỵ với Trương Nguyên, không phải vì Uông Nhữ Khiêm, cũng không phải vì Đàm Nguyên Xuân, mà là vì Vương Vi. Đầu tháng hai Vương Vi thuê thuyền từ Kim Lăng đến Tô Châu, lúc đó y đang ở trong nhà Ngô Đỉnh Phương, Ngô Đỉnh Phương là bạn thơ của Vương Vi, Mao Nguyên Nghi nhìn thấy Vương Vi, biết tin Vương Vi muốn đi Sơn Âm để xem Hàn Xã, Mao Nguyên Nghi không vui, nhờ Uông Nhữ Khiêm, gã được biết Vương Vi đem lòng mếm mộ Trương Nguyên, rồi Uông Nhữ Khiêm tự nhiên nói không ít lời gièm pha, Mao Nguyên Nghi hỏi Vương Vi để chứng thực lại những lời nói đó, Vương Vi kể lại chi tiết việc đêm, nhưng nàng lại phủ nhận chuyện nàng ái mộ Trương Nguyên, chỉ nói là vì cảm kích vì lúc trước được Trương Nguyên giúp đỡ, kính nể học thức của Trương Nguyên, chỉ là muốn kết giao làm bạn bè mà thôi. Mao Nguyên Nghi cũng biết tính cách cao ngạo của Vương Vi, Trương Nguyên không hề mời nhưng nàng lại không quản xa xôi ngàn dặm để đến xem Hàn Xã, rõ ràng cho thấy nàng đối với Trương Nguyên tình thâm nghĩa trọng, Vương Vi là một mỹ nữ tài mạo song toàn, tiêu tiền như nước, Mao Nguyên Nghi vốn phong lưu phóng khoáng, từ lâu đã đem Vương Vi đặt vào trái tim mình rồi.

Năm ngoái, y, Uông Nhữ Khiêm và Vương Vi cùng đi đến Hoàng Sơn du ngoạn. Mao Nguyên Nghi có thể cảm nhận được tình cảm của Vương Vi đối với y, có một chút tính ý, nhưng lần đến Tô Châu này, Mao Nguyên Nghi phát hiện thứ tình cảm ấy của Vương Vi đối với y đã không còn nữa, nàng nhiều lúc không kìm được mình nói về Trương Nguyên thế này thế nọ, cho nên Mao Nguyên Nghi cùng Vương Vi đi Sơn Âm, để được biết một chút về cái người đã vung đao cướp người tình của y, để xem xem tên Trương Nguyên ấy rốt cuộc là người như thế nào? Có xứng đáng để được Vương Vi yêu thương như vậy không?

Lúc này nghe Trương Nguyên nói vậy, Mao Nguyên Nghi thấy vô cùng hổ thẹn, y bình sinh tính rộng lượng, khẳng khái quang minh, khác với tên Uông Nhữ Khiêm lòng dạ hẹp hòi kia, liền chắp tay nói:

Trương công tử nói đúng, coi như bây giờ ta và ngươi bắt đầu kết giao, là bằng hữu hay người qua đường, sau buổi này sẽ rõ.

Vương Vi rất mừng, nàng tin tưởng Mao Nguyên Nghi sẽ trở thành bằng hữu tốt với Trương Nguyên thôi, nàng cười nói:

Nếu không muốn vào khoang thuyền, chúng ta có thể cùng nói chuyện nơi mũi thuyền thâu đêm, chỉ tiếc là đêm nay trời không có trăng sao gì cả.

Mao Nguyên Nghi vội nói:

Trương công tử, mời.

Trương Nguyên đi theo Mao Nguyên Nghi, Ngô Đỉnh Phương, Vương Vi vào thuyền, chiếc thuyền Tứ Minh Ngõa trắng có bốn khoang, khoang bên trái phía trước coi như làm phòng, trang trí chó chút sa hoa, Trương Nguyên có thể thấy khá rõ Quy An Mao Thị là một gia tộc giàu có. Ngồi bên cạnh bàn cờ trên thuyền là một nữ lang duyên dáng, thấy Trương Nguyên bước vào nàng ấy liền đứng dậy hướng Trương Nguyên thi lễ.

Mao Nguyên Nghi không kiêng kị, giới thiệu:

Đây là tiểu thiếp của ta Dương Uyển, là tỷ muội cùng Vương Tu Vi.

Dương Uyển có vẻ ngoài vô cùng xinh đẹp, chỉ thua Vương Vi một chút, nhưng cũng là một mỹ nữ hiếm thấy, Trương Nguyên mỉm cười một cái, không nói gì, nếu là tỷ muội của Vương Vi thì có lẽ là xuất thân từ sấu mã Dương Châu hoặc là từ thanh lâu.

Dương Uyển và Vương Vi cùng tuổi, đều chỉ mới mười bảy, đôi mắt xinh đẹp của nàng ngó quanh, nhìn Trương Nguyên rồi lại nhìn Vương Vi, dịu dàng nói:

Tu Vi, ván cờ còn chưa xong, ngươi nhận thua, hay là mời vị Trương công tử này giúp đỡ?

Một chiếc đèn dầu lưu ly đang được thắp sáng, chiếu rọi những hoa văn nhỏ trên bàn cờ. Trên bàn cờ đã bày hơn trăm quân, hai bên đen trắng đan xen lẫn nhau, thế cờ đang ở trong giai đoạn vô cùng kịch liệt, nữ nhân chơi cờ thường háo thắng hơn nam nhân, vừa lên liền giằng co quay ra giết, thế cờ trước mắt chính là như vậy, cuộc chiến bắt đầu bùng nổ từ góc trái, dần dần mở rộng ra toàn cục. Bây giờ bên trái bố trí chi chít quân cờ, còn phía bên phải bàn cờ lại vẫn trống không, Mao Nguyên Nghi nói:

Nghe Vương Tu Vi nói tài chơi cờ của Trương Xã Thủ rất lợi hại, xin xem thế cờ này sẽ như thế nào?

Phán đoán thế cờ trong cờ vây vô cùng quan trọng, dưới tình hình có ưu thế trong tay cần phải hiểu cách nắm giữ phần thắng, hoá phức tạp thành đơn giản, không cần tham thắng, còn khi đang ở thế bất lợi thì cần tìm cơ hội phản công, đánh cược một phen.

Trương Nguyên nhìn thế cờ một lát, nghiêng đầu hỏi Vương Vi:

Cờ trắng là của Tu Vi huynh?

Nghe Dương Uyển thị thiếp của Mao Nguyên Nghi nói muốn Vương Vi nhận thua, hiện xem thế cờ, cờ trắng đang gặp khó khăn, hai bên đều đang khó khăn để sống.

Mắt Vương Vi đảo qua, khẽ cắn môi, nói:

Uyển thúc có Mao tướng công ở bên trợ giúp, ta làm sao có thể địch nổi.

Dương Uyển cười mà như không nói:

Hiện Trương tướng công đến rồi, mời Trương tướng công trợ giúp cho Tu Vi, xem có thể xoay chuyển cục diện hay không?

Trương Nguyên nhìn ván cờ nói:

Cờ trắng cho dù hai nước thuận lợi cũng sẽ thua, ta không thể chống lại được môt cục diện khó đỡ như vậy.

Dương Uyển khẽ cười nói:

-Tu Vi, Trương tướng công không muốn giúp cô, cô đi đến bên thuyền khóc đi thôi.

Vương Vi gắt giọng:

Không được khích bác ta.

Trương Nguyên cười nói:

Chuyện cũ có hối cũng không kịp, nhưng thế cờ có thể phá đi lặp lại, hà tất phải để mắt tới một ván cờ, cái nên quý trọng phải quý trọng, cái có thể từ bỏ hãy từ bỏ.

Dương Uyển lập tức tiếp lời:

-Trương tướng công nói rất đúng, cái nên quý trọng chính là Vương Tu Vi, cái có thể bỏ qua là cái nhìn của thế tục, có phải ý của Trương tướng công chính là như vây?

Dương Uyển này rõ ràng là muốn tác hợp cho Trương Nguyên và Vương Vi rồi, nói thật, mặc dù là chị em tốt với Vương Vi nhưng Dương Uyển cũng không muốn Vương Vi được Mao Nguyên Nghi nhập thất, cùng một chồng chắc chắn sẽ có lục đục và mâu thuẫn, Vương Vi ái mộ Trương Nguyên, rất hợp với ý của Dương Uyển.

Trương Nguyên nói với Mao Nguyên Nghi:

Tôn sủng đúng là rất hiểu rõ lòng người rồi.

Mao Nguyên Nghi vì vẫn chưa xoá được hiềm khích với Trương Nguyên nên vẫn xưng gọi là Trương Xã thủ, y rất không muốn tác hợp Vương Vi với Trương Nguyên, nói:

Tại hạ rất thích đàm luận binh pháp, cờ vây cũng có hàm chứa đạo lí binh pháp, không biết Trương Xã thủ có đồng ý bớt chút thời gian cùng tại hạ đánh một ván không?

Kẻ sĩ khi ghen, đánh bại đối thủ về cầm kỳ thi hoạ là thấy sảng khoái nhất, lấy thế đè người là thừa thãi.

Trương Nguyên nói:

Sẵn lòng lĩnh giáo.

Tài đánh cờ của Vương Vi không kém chút nào, Mao Nguyên Nghi có Dương Uyển trợ giúp liền thắng được Vương Vi, hiển nhiên là có thể thấy tài đánh cờ thật không tầm thường, Trương Nguyên cũng không có phần thắng.

Ngồi đối diện bàn cờ, sai tiên (thuật ngữ cờ vây, cách quyết định xem ai đi trước), Trương Nguyên đoán được quân trắng, có lợi thế đi trước. Mao Nguyên Nghi dùng quân đen bày ra thế kinh điển “Kim tỉnh lan” ở phía góc phải bắt đầu cuộc chiến kịch liệt. “Kim tỉnh lan” trải qua hơn trăm năm từ cuối thời Minh đầu thời Thanh, nghiên cứu của Chu Lại Dư cho rằng bên đi trước không có nghĩa là có lợi thế, vì vậy cờ thủ trong thời đại Hoàng Long Sĩ của năm Khang Hi hiếm khi sử dụng “Kim Tỉnh Lan”, Trương Nguyên thích văn hoá cổ cũng có chút hiểu biết với những thế cờ cổ, cạm bẫy, chiêu lừa của “Kim Tỉnh Lan” là không ít, có một số là do Chu Lại Dư nghiên cứu ra, Chu Lại Dư hiện tại vẫn chưa ra đời.

Chương 302: Vấn đề nan giải (1).

Trương Nguyên ra tay có phần mau lẹ, thông qua việc bỏ qua những cái rắc rối, đi đến quân năm mươi mốt, cờ trắng của Trương Nguyên phản khách làm chủ, vây quân đen của Mao Nguyên Nghi ở góc. Cổ nhân đi quân cờ, đặc biệt là những người trình độ không cao thường cho rằng ăn được nhiều quân là có lợi, đối với những uy hiếp từ bên ngoài không đủ hiểu biết, hai quân đen của Mao Nguyên Nghi ăn quân trắng bị vây ở góc, xác thực là khả quan, nhưng hai bên đều bị quân trắng kìm hãm, đương nhiên đối với quân đen ở phía sau cũng bất lợi. Điều này cần Trương Nguyên phải biết lợi dụng ưu thế bên ngoài của mình, nếu không thì, những quân trắng bị ăn lúc đầu đều trở thành vô ích, hơn nữa thế cờ của Mao Nguyên Nghi không yếu chút nào, tình thế trước mắt của Trương Nguyên chỉ là hơi có lợi, thế cờ không mạnh căn bản không nhìn ra được ưu thế trong đó.

Dương Uyển không nhận ra, nhỏ giọng nói với Vương Vi:

-Tu Vi, có vẻ như thế cờ của Trương tướng công không hay lắm.

Vương Vi dựa vào cửa sổ bên thuyền nói:

-Vẫn chưa thấy.

Dương Uyển khẽ cười bên tai nói:

-Tu Vi rất tin tưởng Trương tướng công nha, có muốn phó thác cả đời không?

Vương Vi khẽ sẵng giọng:

-Không nói với tỷ, muội lên bờ hít thở không khí.

Kéo tay Mục Chân Chân ra khoang thuyền lên bờ. Theo lời Mục Chân Chân,Trương Nguyên khoảng mười hai tháng sau sẽ thành hôn,Vương Vi lại cười nói:

-Trương tướng công muốn thành gia lập nghiệp rồi.

Mục Chân cảm thấy hơi lạ, thầm nghĩ Vương Vi không ghen tị chút nào sao, nàng nhìn ra tình cảm của Vương Vi dành cho thiếu gia, nhưng nàng không biết rằng một cô nương xuất thân từ sấu mã Dương Châu như Vương Vi rất kiêu ngạo,từ nhỏ đã được dạy dỗ là “ Thế sự đích trường”, danh kỹ Kim Lăng,có lẽ không thể dễ dàng chấp nhận phu quân tiếp tục tìm hoa hỏi liễu nhưng đối với vợ cả vẫn có thể đủ tôn trọng.

Mục Chân Chân thầm nghĩ:

-Thiếu gia có học lại là người tốt Vương tiểu thư của Hội Kê, còn có Vương Vi cô nương kia cũng thích thiếu gia, nhưng chẳng lẽ thiếu gia lại lấy nhiều vợ như vậy sao?

Bầu trời đêm tối đen, nước chảy dưới sông cũng nặng nề trôi, nhìn ngọn đèn trên thuyền lấp lánh như sao, trong gió đêm có lẫn mùi hương hoa anh túc và tố hinh, còn có tiếng ca vẳng lại không biết từ đâu, giống như đang hát <>.

Vương Vi cảm nhận tiếng nước chảy, gió thổi, hương hoa và khúc ca của Sơn Âm, lấy một quả dâu tây cho vào miệng, thật ngọt, không kìm được khen:

-Trên đường đi Sơn Âm, chẳng những có nhiều thứ để xem mà thể xác và tinh thần đều thật là tốt.

Mục Chân Chân không đáp, nghĩ thầm: “Vương Vi cô nương rất hài lòng với Sơn Âm, có phải trái tim sắt đá đã định là ở cùng với thiếu gia nhà ta không?”

Chợt thấy bên kia tường có hai bóng đen lén lút,Mục Chân lập tức cảnh giác, hô to:

-Ai!

Hai bóng đen đứng thẳng lên, giọng cười lớn truyền đến:

-Mục Chân, ngươi làm bảo vệ thật tốt.

Mục Chân “ồ”một tiếng:

-Là tam thiếu gia!

Trương Ngạc tưởng Vương Vi đến cửa rồi, thấy Trương Nguyên ra ngoài lâu rồi không thấy trở lại, hai người Hoàng Tôn Tố, Tông Dực Thiện lại không nói gì, y liền tới tiền sảnh, mới biết Trương Nguyên đi cửa Tây Quách Thuỷ,thầm nghĩ: “Được lắm Trương Giới Tư, bỏ bạn ở một bên để một mình đi gặp danh kỹ Kim Lăng, ta phải đi bắt kẻ thông dâm”.

Nghĩ rồi, dẫn theo Năng Trụ, hai người không mang theo đèn lồng, lần theo bóng đêm đi đến cửa Tây Quách Thuỷ, mới nhìn thấy dáng người cao gầy của Mục Chân và một nho sinh nhỏ nhắn đứng bên cạnh hồ, thì đã bị Mục Chân Chân phát hiện.

Trương Ngạc đi đến gần, cũng không để ý thư sinh đang đứng bên hồ đó, cười hỏi Mục Chân Chân:

-Thiếu gia nhà ngươi đâu, chẳng lẽ “củi khô bốc lửa”, đang điên đảo loan phượng với Vương Vi cô nương trên thuyền?

Vương Vi đang bận trong bộ đồ thư sinh áo xanh định chào hỏi Trương Ngạc, nghe thấy câu nói đó lập tức đỏ mặt, sẵng giọng:

-Yến Khách tướng công, người đang nói cái lời gì vậy!

Trương Ngạc mượn ánh đèn lồng trên thuyền chú ý nhìn “Ách” kêu lên một tiếng:

-Người không biết không có tội, ha ha. Tu Vi cô nương là khách từ xa tới, Trương Giới Tử kia sao lại không tiếp đón, ở đâu có cái lí đó.

Vương Vi biết Trương Ngạc mở miệng là nói hươu nói vượn, không có cách nào so đo với con người này, nói:

-Giới Tử tướng công đang đánh cờ.

Trương Ngạc nhìn về hướng mui thuyền, thầm nghĩ:

-Giới Tử thật là hồ đồ,Vương Vi cô nương đến cửa không rèn sắt lúc còn nóng, lại đánh cờ cùng người khác, thật là không biết nặng nhẹ, hỏi:

-Là ai hạ cờ?

Vương Vi nói:

-Quy An Mao Chỉ Sinh.

Trương Ngạc lại “Ách” lên một tiếng nữa, quan sát hai mắt Vương Vi hỏi:

-Nàng và họ Mao kia cùng một thuyền đến Sơn Âm.

Vương Vi nói:

-Đúng vậy, Yến Khách tướng công có gì thắc mắc sao?

Trương Ngạc nói:

-Ta không thắc mắc, chỉ sợ Giới Tử đệ có.

Vương Vi khẽ hừ một tiếng thầm nghĩ:

“Trương Giới Tử không đáng khinh, hạ lưu như ngươi, phỏng đoán lung tung”.

Nhưng lại nghĩ:

“Có thể hắn cũng nghĩ như thế, nhưng hắn lòng dạ thâm trầm, không giống Yến Khách có thể nói thẳng ra những lời như vậy, tâm tư của Trương Giới Tử thật là khó dò, nhưng hắn thấy ta tới Sơn Âm, thật sự vui mừng, điều này ta có thể nhìn ra.”

Trương Ngạc nói:

-Ta đi xem Quy An Mao Chỉ Sinh

Trương Ngạc lên thuyền, Vương Vi lên thuyền giới thiệu cho y, Ngô Đỉnh Phương và Trương Ngạc làm lễ chào hỏi, Mao Nguyên Nghi vẻ căng thẳng hết sức nhìn vào thế cờ, chỉ chắp tay với Trương Ngạc, mắt vẫn chăm chăm nhìn vào bàn cờ.

Thế cờ của Mao Nguyên Nghi mạnh hơn Trương Nguyên, là kình địch đầu tiên của Trương Nguyên trong hơn hai năm nay. Trương Nguyên lợi dụngthế “Kim Tỉnh Lan” dựng lên thế cờ dày đặc cho quân trắng, cuối cùng quân trắng thắng được hai quân.

Trương Ngạc vui vẻ nói:

-Giới Tử, đệ lại thắng rồi, cao cờ!

Liếc Mao Nguyên Nghi, nghĩ thầm:

-Tên tiểu tử này, dám giành tình nhân với Sơn Âm Trương thị, thật sự không biết lượng sức.

Mao Nguyên Nghi thua, rất chán nản, không chú ý đến biểu cảm trên mặt Trương Ngạc, chỉ nhíu mày nhìn bàn đầy quân cờ miệng “chậc, chậc”tỏ vẻ tiếc nuối.

Trương Nguyên nói:

-Chỉ Sinh huynh có tài đánh cờ xuất chúng, ván cờ này ta thắng thực ra chỉ là nhờ lợi thế đi trước.

Cổ cờ đi trước không phải là nước quyết định, nếu như vậy, quân trắng của Trương Nguyên vẫn không có lợi.

Mao Nguyên Nghi lắc đầu nói:

-Thua là thua, Trương Xã Thủ tài cờ quả nhiên lợi hại, Vương Tu Vi khen ngợi quả không sai.

Trương Ngạc nói:

-Đó là dĩ nhiên, Giới đệ của ta rất giỏi đánh cờ che mắt, khi đó hắn đánh còn lợi hại hơn lúc có hai mắt nhìn đến ba phần đấy, Tu Vi cô nương cũng từng thấy qua, ta không có nói quá đâu.

Vương Vi mím môi cười, không cho ý kiến.

Ngô Đỉnh Phương không thích đánh cờ, sợ Mao Nguyên Nghi thua lại muốn đánh tiếp thì thật vô vị, vội nói:

-Từ lâu nghe Trương Xã Thủ tinh thông bình phẩm thi từ, tại hạ muốn thỉnh giáo một chút luyện chữ, thơ từ.

Trương Ngạc nói:

-Đây không phải là thay nhau đánh chứ?

Trương Nguyên xua tay mỉm cười nói:

-“Ngâm an nhất cá tự, niêm đoạn sổ căn tu”----tại hạ tuy không biết nhiều về thơ từ, nhưng cũng biết nhà thơ luyện chữ rất khổ cực<>có viết “Thiện vi văn giả, phú vu vạn thiên, bần vu nhất tự, nhất tự phi thiếu, tương tị vi nan dã…” Ngưng huynh cũng là Khổ ngâm phái sao?

Ngô Đỉnh Phương nói:

-Tại hạ ngưỡng mộ nhất là Giang Tây thơ phái, Hoàng Sơn Cốc là thầy ta.”

Trương Nguyên liền cùng Ngô Đỉnh Phương thảo luận một hồi “Cú nhãn” của Hoàng Đình Kiên, cái gọi là cú nhãn, chính là trong một câu thơ có thể thấy một chữ được sử dụng thần kì khéo léo, ai là người có mắt thưởng thức sẽ nhận ra được, “huyền thượng vô thanh ngã độc tri” (trên cây đàn không có âm thanh chỉ một mình ta biết)-Trương Nguyên lấy lời bình hay trong <<Đàm Nghệ Lục>>chậm rãi nói. Ngô Đỉnh Phương vô cùng thán phục, Vương Vi thấy tài hoa của Trương Nguyên, không biết tại sao trong lòng lại thấy vui mừng.

Mao Nguyên Nghi nói:

-Trương Xã Thủ đứng đầu Hàn Xã, chí hướng không nhỏ, tại hạ nguyện nghe Trương Xã Thủ luận đại sự thiên hạ.

Trương Nguyên nói;

-Kiến thức của một người là có hạn, kiến thức của mọi người là vô hạn, bạn bè đồng sự, hoặc là thân thiết về thể xác tinh thần hoặc là nội dung quan trọng của thi thư, hoặc là tìm hiểu nhân vật thời nay, hay đàm luận kinh bang, rất nhiều nỗi khổ không thể lí giải, nghiên cứu sách vở không được, mỗi lần hành động đều vì người khác, vài câu lập khế, cùng vui vẻ giải quyết, đây là ước nguyện ban đầu của Hàn Xã tại hạ.

Mao Nguyên Nghi nói:

-Lời này có lý, đúng là đọc sách mười năm không bằng ý nghĩa một buổi đàm luận.

Trương Nguyên hỏi:

-Chỉ Sinh huynh cho rằng hiện thiên hạ có thái bình không?

Mao Nguyên Nghi trầm ngâm một chút nói:

-Không kể đến thiên tai liên miên, thì có thể coi là thái bình.

Trương Nguyên đáp:

-Không đến ba năm nữa, Liêu Đông đại Minh ta sẽ không có một ngày yên ổn.

Mao Nguyên Nghi thích đàm binh, Trương Nguyên liền trực tiếp cùng y đàm luận chiến sự Liêu Đông, lần trước ở Đông Lâm viện cùng Cao Phan Long, Trâu Nguyên Tiêu nói đến sự hỗn loạn chính trị trong lịch sử, sự thôn tính đất đai thì không nói nữa. Đại Minh thành lập hơn hai trăm năm, ngoại trừ thay đổi lô cốt đất gỗ, không có nguy cơ quá lớn về việc người Mông Cổ đòi tách ra, vì thế không tạo lên nguy cơ uy hiếp lớn với đại Minh.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!