Virtus's Reader
Lẵng Lơ Tao Nhã

Chương 62: Chương 314: Động phòng hoa chúc (3).

-CAO HƠN LÀ DO THIẾP ĐI GIÀY CAO ĐẤY.

-Cao hơn là do thiếp đi giày cao đấy.

Lại nói:

-Trương lang mới thật sự cao hơn rất nhiều.

Trương Nguyên vừa nhìn thấy đôi giày cao kia, vội đỡ Thương Đạm Nhiên ngồi xuống, nói:

-Đi đôi giày này chắc không dễ chịu chút nào phải không?

Thương Đạm Nhiên nói:

-Không sao.

Trương Nguyên nói:

-Cởi giày ra, lên giường đi.

Hai gò má Thương Đạm Nhiên ửng hồng, cúi thấp đầu đáp một tiếng, cởi giày lên giường, ngồi sát vào bên trong, vừa thẹn thùng lại vừa lo lắng, không dám ngẩng đầu. Nghe thấy tiếng động, Trương Nguyên cũng đã lên giường, Thương Đạm Nhiên ngẩng đầu nhìn một chút, lại vội vàng cúi đầu xuống, tim đập thình thịch.

Thiếu

Chương 315: Cầu độc mộc (1).

Từ miếu Thành Hoàng ở Long Sơn trở về Đông Trương thì đã sắp trưa rồi. Trương Thụy Dương và Trương mẫu Lã thị lại dẫn đôi vợ chồng trẻ đến từ đường của dòng họ để tế bái. Cho đến tận lúc này, Thương Đạm Nhiên mới chính thức được xem là người của nhà họ Trương ở Sơn Âm, được nhập tên vào gia phả nhà họ Trương. Quay trở lại tòa nhà ở phía bên trong, Trương Nguyên và Thương Đạm Nhiên lại bái lạy ba sao Phúc Lộc Thọ lần nữa. Sau đó cô dâu mới dâng trà và hành lễ với bố mẹ chồng. hai người hầu nam và bốn tỳ nữ mà Thương Đạm Nhiên mang theo làm của hồi môn lúc này cũng tiến lên phía trước bái kiến Trương Thụy Dương và Trương mẫu Lã thị, lúc này Trương Thụy Dương và Trương mẫu sẽ thưởng tiền cho họ. Tiếp đó là những người hầu trong nhà như Thạch Song, Mục Chân Chân, Lai Phúc, Thỏ Đình đến bái kiến thiếu phu nhân Thương Đạm Nhiên, Thương Đạm Nhiên cũng đưa cho họ tiền làm lễ gặp mặt. Đợi đến lúc Mục Chân Chân đến bái kiến, Thương Đạm Nhiên tự mình nâng dậy, để nàng đứng bên cạnh mình, để bày tỏ sự thân thiết.

Hôm sau, Trương Nguyên lại cùng Thương Đạm Nhiên đến thăm hỏi những bậc bề trên của Đông Trương và Tây Trương.

Ngày tiếp theo, ngày thứ ba sau khi cưới chính là ngày lại mặt. Trương Nguyên và Thương Đạm Nhiên về Thương phủ ở Hội Kê, tiếp đón và ra mắt những người trong họ tộc của Thương thị, sau đó sẽ trở về Sơn Âm ngay trong ngày chứ không được ở lại Thương phủ qua đêm, tập tục trong hôn nhân ở Thiệu Hưng là vậy.

Trương Nguyên không thích cái đồng hồ báo thức làm bằng gỗ mun được mạ bạc một chút nào, bởi tiếng của nó trong đêm vang lên lanh lảnh hết sức dọa người. Nên lúc bố trí sắp xếp tân phòng đã mang chiếc đồng hồ báo thức đó xuống thư phòng ở dưới lầu. Cuộc sống sinh hoạt hàng ngày vẫn dựa theo những hồi chuông được vọng tới từ gác chuông ở Thành Nam. Tiếng chuông lúc sáng sớm vang lên thì thức dậy, rửa mặt làm vệ sinh cá nhân xong thì cũng xấp xỉ sáu giờ sáng. Ban đêm, khi nghe được tiếng chuông thì thu dọn sách vở bút nghiêng rồi lên giường ngủ, lúc đó đồng hồ báo thức dưới lầu cũng vừa hay điểm mười giờ đêm. Những nho sinh nhìn ngắm đồng hồ báo thức không phải để xem giờ mà là chiêm ngưỡng hiếu kỳ với sự tinh xảo của máy móc thôi.

Sáng sớm ngày thứ tư sau khi cưới, tức là sau ngày Trương Nguyên và Thương Đạm Nhiên về Hội Kê làm lễ lại mặt, trời mới tờ mờ sáng, Mục Chân Chân đã thức dậy, bưng một ngọn đèn đế cao bằng sứ màu trắng đến thư phòng, vặn đồng hồ báo thức chạy chậm lại mười lăm phút. Đang lau án thư thì nghe thấy tiếng bước chân vang lên, vội vàng quay đầu lại, nhìn thấy Trương Nguyên chân đi giày bước vào, tóc vẫn còn rối bù, rõ ràng còn chưa có rửa mặt chải đầu.

Mục Chân Chân vén áo thi lễ, nói:

-Thiếu gia, chào buổi sáng!

Thời gian thực ra vẫn còn rất sớm, tiếng chuông buổi sáng còn chưa vang lên, đồng hồ báo giờ hiển thị thời gian là năm giờ ba mươi phút.

Trương Nguyên gật đầu một cái, nói:

-Chân Chân, nhanh mài mực cho ta.

Vừa nói vừa tìm kiếm gì đó trên thư án.

Trời còn chưa sáng hẳn, trong thư phòng vẫn còn mờ tối, Mục Chân Chân cầm cây đèn sứ trắng đến gần hơn một chút, hỏi:

-Thiếu gia tìm cái gì vậy?

Trương Nguyên nói:

-Ta phải đọc và sửa chữa mười bài văn bát cổ của Đỗ Định Phương. Mấy ngày nay bận quá tí nữa thì quên mất. Quản gia của Đỗ gia hôm nay phải về rồi, không làm ngay thì không kịp đưa cho ông ấy.

-Thiếu gia, có phải cái này hay không?

Mục Chân Chân lấy xuống một tập mười cuốn văn bát cổ từ trên giá sách.

Trương Nguyên lật qua xem một chút, vui mừng nói:

-Đúng rồi!

Tán dương một câu:

-Vẫn là Chân Chân chu đáo cẩn thận nhất.

Trên mặt Mục Chân Chân hàm chứa ý cười, rót thêm nước vào nghiên mực, cầm lấy thỏi mực nhẹ nhàng mài theo từng nhịp đều đều, thỉnh thoảng liếc mắt nhìn Thiếu gia một cái. Thiếu gia đang xem tập văn bát cổ của Đỗ Định Phương, rất nhanh đã đọc xong một tờ rồi tiếp tục lật sang một tờ khác.

Không đến nửa khắc, mười bài văn bát cổ đã được đọc xong. Trương Nguyên đứng lên nói:

-Ta đi rửa mặt trước đã.

Có thể dùng thời gian rửa mặt để nghĩ ngợi một chút xem, nên phê chữa mười bài văn bát cổ của Đỗ Định Phương này như thế nào. Đợi đến khi hắn rửa mặt trở về, Mục Chân Chân đã mài xong xuôi một nghiên mực rồi, mùi mực tỏa ra thơm ngát cả căn phòng.

Trương Nguyên trải một tờ giấy làm bằng tre trúc Duyên Sơn ra mặt bàn, viết thư cho Đỗ Định Phương. Mục Chân Chân đứng ở phía sau hắn, dùng cây lược được làm từ gỗ cây hoàng dương chải đầu cho hắn, động tác hết sức nhẹ nhàng mềm mại để không ảnh hưởng đến Thiếu gia đang viết, động tác ẩn chứa rất nhiều tình cảm. Bỗng nhiên Mục Chân Chân ngẩng đầu, nhìn thấy Thiếu phu nhân Thương Đạm Nhiên đang đứng cạnh cửa thư phòng, khẽ mỉm cười.

Thương Đạm Nhiên đã đứng đấy yên lặng nhìn một lúc lâu rồi. Trương Nguyên đang chuyên chú viết thư, Mục Chân Chân chải đầu búi tóc cho Trương Nguyên, ánh mắt ẩn chứa đầy tình cảm, tất cả suy nghĩ đều đặt trên người Trương Nguyên, hai người cũng không hề chú ý đến nàng đã đứng ở đấy.

-Chào Thiếu phu nhân!

Mục Chân Chân nhanh chóng tiến lên phía trước thi lễ, trong lòng có chút bất an.

Trương Nguyên ngẩng đầu nói:

-Đạm Nhiên nàng cũng dậy rồi à.

Sau đó lại cúi xuống tiếp tục viết thư.

Thương Đạm Nhiên bước vào thư phòng, mỉm cười với Mục Chân Chân, hỏi Trương Nguyên:

-Chàng có việc gì gấp à?

Trương Nguyên nói:

-Có một học sinh người Côn Sơn muốn ta đọc và cho ý kiến về văn bát cổ của anh ta. Hai người hầu của anh ấy đã đến đây được nửa tháng rồi. Hôm qua có rất nhiều khách ở xa đến chào từ biệt ta để ra về, còn hai người hầu của Đỗ phủ này thì lại đứng ở một bên vò đầu, ha ha.

Thương Đạm Nhiên bước sát vào nhìn một chút, tờ giấy làm bằng tre trúc đã viết được hơn một nửa rồi, chữ tiểu Khải ngay ngắn rõ ràng. Trương lang luôn luôn làm việc rất nghiêm túc, không qua quít lấy lệ.

Thương Đạm Nhiên nói với Mục Chân Chân:

-Ta đi sai Vân Cẩm cầm khăn vuông xuống cho Trương lang.

Sau đó xoay người đi ra ngoài, chậm rãi bước lên lầu, đối với cảnh tượng Mục Chân Chân hầu hạ Trương Nguyên một cách ôn nhu mà mình vừa nhìn thấy cũng không cảm thấy mâu thuẫn, thầm nghĩ:

“Chân Chân hầu hạ Trương lang đã nhiều năm rồi. Lúc nào Trương Nguyên vui mừng, lúc nào bực tức thì Chân Chân là người hiểu rõ hơn ai hết. Cô gái này hiền lành chất phác, mình phải đối xử tử tế với cô ấy. Điều này cũng thể hiện sự khoan dung độ lượng của mình.”

Nghĩ đến đây Thương Đạm Nhiên không khỏi nghĩ đến Vương Vi. Người nữ lang đó quá thông minh, để thư lại rồi ra đi, lấy lui để tiến. Điều đó làm cho tình cảm của Trương Lang đối với cô ấy càng tăng lên. Sau này Vương Vi vẫn là muốn làm người của Trương gia rồi.

Thương Đạm Nhiên lắc lắc đầu, không nên nghĩ nhiều đến những cái này. Vừa mới tổ chức hôn lễ xong, Trương Lang rất tốt với nàng, bố mẹ chồng cũng rất hiền lành tốt bụng, nàng không có gì không vừa lòng cả.

Trong thư phòng, Trương Nguyên dùng hơn một canh giờ để viết cho Đỗ Định Phương và Đỗ Tùng một bức thư. Bức thư gửi cho Đỗ Tùng là để chúc mừng ông ấy được khôi phục chức Tham tướng, lại lấy giọng điệu bàn bạc để phân tích tình hình ở Liêu Đông, nói rằng Đỗ Tùng sẽ vì việc dân tộc Nữ Chân ở Kiến Châu đe dọa nước Đại Minh mà được lên chức. Chiến đấu với bộ tộc Nữ Chân ở Kiến Châu cố nhiên là một cơ hội tốt để lập công, nhưng đồng thời cũng là một việc hết sức nguy hiểm. Đương nhiên Trương Nguyên không thể nói đến việc Đỗ Tùng chết trận ở Tát Nhĩ Hử vào năm Vạn Lịch thứ bốn mươi bảy. Trong lá thư này chỉ nhắc nhở và đưa ra ý kiến cho Đỗ Tùng. Có một số việc rất nhanh sẽ biết được kết quả thông qua sự kiểm chứng, việc này sẽ làm cho trong lòng Đỗ Tùng cảm thấy Trương Nguyên phân tích tình hình rất cặn kẽ, liệu sự như thần, ấn tượng này của Đỗ Tùng về Trương Nguyên rất quan trọng.

Mục Chân Chân đưa lá thư mà Trương Nguyên đã viết xong cho phụ thân mình Mục Kính Nham. Trương Nguyên giao cả ba phong thư cho hai người hầu của Đỗ gia, thưởng cho hai người hầu đó một ít tiền, rồi sai Lai Phúc đưa bọn họ lên thuyền.

Khách đến chúc mừng hôn lễ hôm nay rất nhiều người cáo từ Trương Nguyên để ra về. Ngoài mấy người Dương Thạch Hương, Hồng Đạo Thái ở Thanh Phổ muốn ở lại hai ngày nữa đợi vợ chồng Lục Thao để cùng về ra, thì còn lại những đồng nghiệp ở Hàn Xã hầu như đều cáo từ ra về hết. Phạm Văn Nhược, Phùng Mộng Long, Văn Chấn Mạnh, Tiêu Nhuận Sinh…bọn họ đều đã đến Sơn Âm được nửa tháng rồi, hàng ngày mấy người bạn tri kỉ cùng nhau họp mặt, tranh luận với nhau về văn chương, giờ đây cảm thấy học thức có tiến bộ lên rất nhiều, cho nên khi phải cáo biệt ra về, cảm thấy lưu luyến không muốn rời cũng là lẽ đương nhiên.

Giờ Ngọ ngày hôm đó, Hoàng Tôn Tố dẫn theo Hoàng Tông Hi cũng đến chào từ biệt Trương Nguyên. Mấy ngày này Hoàng Tông Hi với huynh đệ Lý Thuần, Lý Khiết, cùng nhau đi chơi, cùng nhau học bài. Hoàng Tông Hi và Lý Khiết bằng tuổi nhau, đều sáu tuổi, cũng đã có thể ngâm nga vài bài thơ, hơn nữa còn có thể nói về những đạo lý trong Tứ thư. Không phải chỉ là học bằng cách học thuộc lòng để nhớ, mà Lý Khiết mới biết “Chi vô”, Lý Thuần tám tuổi vừa học xong “ Tam tự kinh” và “Bách gia tính”, không thể bì kịp với Hoàng Tông Hi. Có Hoàng Tông Hi ở đây thì hai huynh đệ Lý Thuần, Lý Khiết cũng chịu khó học tập hơn rõ rệt.

Nghe nói Hoàng Tông Hi phải về nhà, hai huynh đệ Lý Khiết, Lý Thuần khóc lớn không ngừng, đi cùng với cậu Trương Nguyên tiễn cha con Hoàng Tông Hi lên thuyền. Hoàng Tông Hi nhìn thấy hai huynh đệ Lý Thuần, Lý Khiết khóc như vậy liền khóc theo, tình cảm của trẻ con luôn là thứ tình cảm thuần khiết và chân thành tha thiết nhất.

Chương 316: Cầu độc mộc (1).

Hoàng Tôn Tố thấy Trương Nguyên rất yêu quý con trai mình Hoàng Tông Hi, trước khi chia tay cười nói:

-Giới Tử hiền đệ, đợi khuyển tử lớn hơn chút nữa thì cho nó nhận đệ làm thầy đi theo đệ đọc sách, học cùng với hai vị tiểu công tử Lục gia đây nhé!

Trương Nguyên thầm nghĩ:

-Đệ làm gì có thời gian dạy học. Mai này Hoàng Tông Hi sẽ trở thành đệ tử của Lưu Tông Chu. Lưu Tông Chu tiên sinh cũng sắp cáo quan về rồi. Tính tình Lưu Tông Chu tiên sinh rất thẳng thắn, bướng bỉnh. Người như vậy không thích hợp để làm quan, chỉ thích hợp để dạy học thôi.

Trương Nguyên cười nói:

-Được đấy, được đấy. Nhưng không biết đệ có phúc phận được đến Dư Diêu làm quan không nữa.

Ngày mười bảy tháng tư, đoàn người Dương Thạch Hương, Lục Thao, Trương Nhược Hi dẫn theo Lý Thuần và Lý Khiết còn sáu tên người hầu rời khỏi Sơn Âm. Chi nhánh cửa hàng Thịnh Mỹ ở Sơn Âm đã tìm được đại điểm để mở chi nhánh rồi, chỗ đó ngay bên cạnh cầu Vụ Lộ, cách hiệu thuốc bắc Lỗ Vân Cốc mấy gian hàng. Trương Nhược Hi để Lục Đại Hữu ở lại để xử lý và lo liệu mọi việc, tiền bạc thì do chưởng quản Y Đình quản lý. Tơ lụa, vải vóc sắp hết cũng đã chở bằng thuyền từ Thanh Phổ đến đây rồi. Vẫn như cũ dùng cách của Trương Nguyên đó là phân chia lợi nhuận cho công nhân may quần áo để mở rộng nguồn tiêu thụ. Nếu cửa hàng kinh doanh ở Sơn Âm này thu được lợi nhuận thì sẽ tiếp tục mở một chi nhánh nữa ở Hàng Châu. Như vậy thì Hàng Châu sẽ là điểm chung chuyển hàng hóa từ Thanh Phổ đến Sơn Âm, sẽ thuận tiện hơn rất nhiều.

Trương Nguyên viết thư cho Vương Vi, nhờ tỷ tỷ Trương Nhược Hi mang đến giao cho Vương Vi. Trương Nhược Hi nói:

-Khi nào về đến Thanh Phổ, tỷ sẽ giao lá thư này cho cô ấy. Đệ yên tâm đi, tỷ tỷ sẽ chăm sóc cô ấy giúp đệ.

Trương Nguyên cười “hắc hắc”, chắp tay nói:

-Cảm ơn tỷ tỷ!

Trương Nhược Hi dặn dò:

-Đệ hãy chuẩn bị tốt cho kì thi hương đi, đừng để bị phân tâm. Đệ là Hàn Xã Xã thủ, mọi người đều chú ý quan tâm đến đệ đấy.

Nghe tỷ tỷ nói như vậy, Trương Nguyên thực sự cảm thấy áp lực rất lớn. Hiện nay hắn bình luận phê bình văn bát cổ, tham gia vào những việc chính trị, làm chủ của Hàn Xã, danh tiếng vang xa. Mà kì thi hương đang ở trước mắt rồi, đây chính là một cửa ải lớn mà hắn cần phải vượt qua. Nếu hắn thi trượt, danh tiếng tất nhiên sẽ bị tiêu tan hết. Vì thế kì thi hương này hắn chỉ có thể đỗ chứ không được phép trượt. Quả thật là hắn không có đường để lui nữa. Trong kì thi hương thì tỷ lệ thi đỗ ước chừng khoảng ba mươi người mới có một người đỗ. Kì thi này không phải là ngươi cứ làm văn bát cổ giỏi là nhất định có thể thi đỗ mà trong đó còn rất nhiều biến cố không lường trước được, hắn nhất định phải chuẩn bị thật cẩn thận, tận lực loại trừ những nhân tố bất lợi cho mình.

Dương Thạch Hương từ Thanh Phổ mang đến sách “Tiêu thị bút thừa”(bút tích của Tiêu thị) và “Cảnh Thế Thông ngôn” (lời nói của Cảnh Thế Thông), cùng với Trương Nguyên bình luận về hơn ba nghìn tập văn bát cổ, được bốn trăm hai mươi lượng bạc, đem số bạc đó mua lại cửa hiệu sách ở ngã tư đường Phủ Học Cung, hiệu sách này đã có từ lâu, cũng giống như cửa hiệu Thịnh Mỹ. Nhà in Hàn Xã cũng mở một tiệm sách ở thị trấn Đại Thành-Giang Nam.

Một đoàn người thân bạn hữu cuối cùng rời khỏi Sơn Âm, Trương Nguyên không phải tất bật đi xã giao nữa, cuối cùng cũng được yên tĩnh rồi. Từ bây giờ còn cách kì thi hương Hàng Châu được tổ chức vào tháng tám còn không đến bốn tháng nữa. Những quyển sách bắt buộc phải đọc khi dự thi là “Thuyết uyển”, “Đại học diễn nghĩa”. “Lịch đại danh thần tấu nghị”, “Ngự chế đại cáo”. Tất cả sách này Trương Nguyên đều đọc hết rồi, giờ thì chỉ cần tiếp tục dùi mài kinh sử, sưu tập đề thi hương những năm gần đây ở Chiết Giang, Trực Lệ và ở Kinh thành để tham khảo. Kì thi hương ở ba nơi này là có tính tiêu biểu và điển hình nhất.

Bắt đầu từ ngày hai mươi tháng tư, Trương Nguyên đóng cửa không ra ngoài mà chỉ ở lầu gỗ bên cạnh sông Đầu Lao đọc sách, viết văn. Đương nhiên, mỗi buổi sáng sớm và chiều tối thì dành để tập thể dục, tập bắn tên. Những việc này thì chưa bao giờ bị gián đoạn cả.

Thương Đạm Nhiên giúp đỡ Trương mẫu quản lý việc nhà. Vẫn duy trì những thói quen sinh hoạt như lúc còn ở Hội Kê như: đọc sách, vẽ tranh, đá cầu… Có Trương Nguyên bên cạnh, trong lòng cũng tràn đầy hạnh phúc, mỗi buổi sáng sớm đều đi học Thái Cực Quyền cùng với Trương Nguyên, vì Trương Nguyên mà đọc sách, tay nắm tay, mắt liếc mắt, hết sức ân ái ngọt ngào.

Chớp mắt đã đến mồng một tháng năm, thuyền rồng ở bên kia sông Phủ đi lại đánh trống “tùng tùng tùng”. Buổi sáng ngày hôm đó, Trương Nguyên đang ở trên lầu gỗ nghe Thương Đạm Nhiên đọc bài thi của trạng nguyên Từ Quang Khải, đó là cuốn “Thuấn chi cư thâm sơn chi trung” (Vua Thuấn ở trong núi sâu), chợt nghe thấy tiếng Trương Ngạc trên cây cầu đá hình vòm lớn tiếng gọi mình:

-Giới Tử, Giới Tử! Kính phường vừa cho người tới báo rằng, chiếc kính thiên lý đã chế tạo thành công, đệ cùng ta đến đó xem đi.

Thương Đạm Nhiên thản nhiên cười, buông quyển sách xuống nói:

-Trương lang đi thôi, hôm nay nghỉ ngơi một ngày. Mười ngày học cũng phải có một ngày nghỉ ngơi chứ!

Trương Nguyên dẫn theo Vũ Lăng đến bên sông. Trương Ngạc vui mừng chào đón, nói:

-Giới Tử, cả ngày đệ đều ân ân ái ái với thê tử. Đại huynh cũng thế, gần như là đóng cửa vất vả đọc sách suốt ngày.

Trương Nguyên cười nói:

-Không phải tam huynh cũng suốt ngày ân ái với thê tử rất ít khi đi ra ngoài đấy sao. Đúng rồi, Lục Mai chắc cũng sắp sinh rồi phải không? Phải chúc mừng Tam huynh rồi.

Trương Ngạc đối với việc mình sắp làm cha rất ngượng ngùng xấu hổ, vì thế liền nói lảng đi:

-Ta là không có người chơi cùng, lại sợ Tổ phụ mắng. Đi, đi đến Kính phường thôi.

Kính phường ban đầu là một tòa nhà ba gian của người dân. Thợ làm kính thủ công, người học nghề, người chế tạo kính đều ở chung một chỗ. Đầu năm Trương Nguyên bàn bạc với Trương Ngạc, bỏ ra năm trăm lượng bạc, mua một ngôi nhà dân bên cạnh làm nởi cho thợ thủ công làm kính, cho người học nghề, người chế tạo kính. Còn toàn bộ toà nhà ở lúc trước thì dùng để làm xưởng sản xuất chế tạo kính. Hai người thợ làm kính được mời từ Hàng Châu đến lúc trước, giờ đây đã chiêu mộ thêm mười đệ tử ở Sơn Âm để truyền nghề. Theo cách sắp xếp của Trương Nguyên thì mỗi người chỉ học một khâu trong toàn bộ quá trình chế tạo kính. Như vậy vừa đơn giản, vừa nhanh chóng có thể ra nghề được, tăng thêm hiệu suất và chất lượng chế tạo sản xuất kính lên rất nhiều lần.

Cạnh miếu Quan Vương bên kia có một người thợ thủ công trẻ tuổi chuyên chế tạo các đồ khí cụ bằng đồng, người đó tên là Cam Luân. Y là một người thông minh, hiếu học, tay nghề tinh xảo. Được một người ở Tô Châu xui khiến, Cam Luân bắt trước chế tạo ra loại lư đồng giống hệt lư đồng Tuyên Đức, từ màu sắc, hình thức đến chữ khắc trên đó đều bị làm giả, chỉ có loại giấy màu Tàng Kinh kia mới có thể làm ra được loại lư đồng Tuyên Đức thượng đẳng đó.

Những chiếc lư đồng được người ở Tô Châu đó giả làm đồ cổ để đem bán. Một cái lư có tai cầm được bán với giá mười lăm lượng bạc, một chiếc lư nhỏ thì bán được hai mươi đồng bạc. Nào biết được ở Sơn Âm nhiều người biết thưởng thức tinh tế đến vậy, bị phát hiện là đồ giả, người Tô Châu đó chạy trốn suốt đêm. Mấy người thân hào nông thôn yêu thích đồ cổ mua phải đồ giả liền đến bắt Cam Luân phải bồi thường bạc. Cam Luân phải quỳ xuống đất cầu xin, nói rằng mình chế tạo ra một cái lư đồng chỉ được có một lượng ba bạc, làm gì có bạc mà bồi thường. Mấy người thân hào nông thôn đó liền kêu Lưu Bổ đầu của huyện nha đến bắt Cam Luân đến quan phủ để xét xử. Cam Luân và mẹ của y sợ đến mức khóc lớn.

Trương Ngạc đang đi dạo nhìn thấy chuyện đó bèn hỏi tri huyện ngọn nguồn câu chuyện. Trương Ngạc bỗng nhiên nghĩ đến kính phường Hàn Xã đang thiếu một người thợ thủ công chế tạo đồ đồng, vì thế liền bỏ tiền ra bồi thường cho mấy thân hào nông thôn thay cho Cam Luân, sau đó mang Cam Luân về kính phường Hàn Xã làm người chế tạo kính viễn vọng bằng đồng loại có thể kéo ra ấn vào được. Quả nhiên là quyết định sáng suốt, tên Cam Luân này biết chữ, lại chịu khó học hỏi, rất nhanh đã nắm vững nguyên lý chế tạo kính viễn vọng. Cuối cùng quy trình sản xuất và lắp ráp kính viễn vọng đều do Cam Luân chỉ huy.

-Tam thiếu gia, Giới Tử tướng công!

Cam Luân chắp tay trước ngực thi lễ, người học trò đứng bên cạnh y lấy ra một chiếc kính viễn vọng từ chiếc hộp gỗ đang cầm trong tay, cung kính đưa cho Trương Ngạc nói:

-Đây là chiếc kính mới nhất có thể nhìn xa vạn dặm, nhìn rõ hơn loại kính chế tạo từ năm trước nhiều, tam thiếu gia thử đi sẽ biết!

Trương Ngạc tiếp nhận chiếc kính viễn vọng bằng đồng trắng, vặn ra co vào, độ co duỗi không tồi, kính nhìn cũng rất là tinh xảo. Trương Ngạc liền đi đến bên cạnh cửa sổ, dùng kính viễn vọng nhìn ra gác chuông cách đó một dặm, bỗng nhiên “ha” một tiếng, vừa cười vừa tiếp tục nhìn, cũng không biết là nhìn thấy việc gì thú vị nữa.

-Giới Tử, ngươi xem, gác chuông bên kia, đám trẻ con đó cũng không sợ ngã chết hả!

Trương Ngạc đưa kính viễn vọng cho Trương Nguyên, cười không ngừng.

Trương Nguyên cầm lấy kính viễn vọng nhìn một chút, thấu kính trong suốt, tay nghề mài thấu kính của thợ thủ công quả thật tiến bộ rất nhiều. Trương Ngạc điều chỉnh tiêu cự cũng rất hợp lý, gác chuông cách đây một dặm nhìn cứ như là gác chuông đó chỉ ở ngay trên đường phố cách đây có hai trượng vậy.

Chương 317: Đồ vật yêu thích.

Đặc biệt hơn là ngay cả chữ lớn khắc trên chiếc chuông đồng đều có thể nhìn thấy lờ mờ, có thể phân biệt được là chữ gì. Ha, ha có năm đứa trẻ con đang đứng ở lan can dưới mái hiên của gác chuông để đi tiểu, ánh nắng chiếu lên nước tiểu tạo nên một ánh sáng giống cầu vồng.

Trương Nguyên cười nói:

-Tam huynh vận khí tốt, luôn có thể chứng kiến được những chuyện thú vị.

Nhớ đến năm trước dùng kính viễn vọng nhìn thấy Diêu Phục cùng với vợ của người cháu ngoại Dương Thượng Nguyên đang dùng dằng muốn thông dâm. Trương Ngạc cười ha ha nói:

-Kính viễn vọng này không tệ, không khác mấy so với chiếc kính viễn vọng mà ta mua ở Macao.

Rối sai Năng Trụ mang chiếc kính viễn vọng bằng đồng đến để so sánh kĩ càng xem. Kính viễn vọng bằng đồng trắng do kính phường Hàn Xã chế tác có độ rõ nét không kém gì kính viễn vọng bằng đồng thau của phương Tây.

Trương Nguyên cũng cầm lất hai chiếc kính quan sát so sánh một hồi, độ rõ nét không khác nhau là mấy, nhưng khả năng thay đổi tiêu cự của kính viễn vọng bằng đồng thau hơi lớn một chút, tiêu cự hẳn là mười hai lần, còn kính viễn vọng bằng đồng thau do kính phường Hàn Xã chế tạo ước chừng là khoảng mười lần. Trương Nguyên nghe thấy một người thợ thủ công thở dài một tiếng:

-Đáng tiếc đã muộn mấy ngày.

Trương Ngạc đã sớm quên lời hứa hẹn đó, nhưng Trương Nguyên vẫn còn nhớ rõ, nói với ba người thợ kính thủ công:

-Ngày hai mươi sáu tháng tư năm ngoái, ta và tam huynh đã từng hứa nếu trong vòng một năm mà kính phường có thể chế tạo ra loại kính viễn vọng giống với kính viễn vọng của phương Tây thì sẽ thưởng cho ba người các ngươi mỗi người bốn mươi lượng bạc. Nếu có thể chế tạo thành công trước mười ngày so với hạn định thì sẽ thưởng thêm cho mỗi người một lượng bạc. Hôm nay là ngày mồng một tháng năm, tuy chậm hơn mấy ngày so với ước định nhưng chiếc kính viễn vọng này thật sự không tồi, vì thế tiền thưởng của các ngươi sẽ không thiếu một phân.

Ba người thợ kính thủ công mừng rỡ, luôn miệng nói tạ ơn. Đối với một gia đình nhỏ mà nói thì bốn mươi lượng bạc chính là một khoản tiền lớn, số tiền đó có thể mua một ngôi nhà có khoảng sân rộng ở vùng ngoại thành Sơn Âm.

Trương Ngạc vò đầu nói:

-Đúng rồi, ta đã quên mất. Đúng là đáng thưởng.

Trương Nguyên nói:

-Thưởng cho Am Luân mười lạng bạc, còn lại mỗi người thợ học việc thưởng mỗi người ba lạng. Do ba vị thợ cả của kính phường làm chủ, chịu khó cần mẫn làm việc nên thưởng mỗi người ba lạng bạc.

Cả đám người học việc vô cùng vui vẻ, đều rối rít nói lời cảm tạ. Những người thợ học nghề ở kính phường ngoài trừ được nuôi cơm ra, mỗi tháng chỉ được nhận hai lạng bạc tiền công, có thể được thưởng đến một lượng bạc cũng đã rất vui mừng rồi.

Trương Nguyên giơ chiếc kính viễn vọng bằng đồng trắng trên tay lên, nói:

-Khả năng nhìn xa của chiếc kính viễn vọng này vẫn còn kém hơn một chút so với kính viễn vọng của người phương Tây. Cách thức chế tạo kính các ngươi đều đã biết, ta cho các ngươi năm tháng nữa. Trước tháng mười, nếu có thể chế tạo ra loại kính viễn vọng nhìn được xa giống như phương Tây hoặc tốt hơn của phương Tây thì ta sẽ thưởng cho ba vị sư phụ chế tạo kính và Cam Luân mỗi người bốn mươi lạng bạc nữa, còn lại những học đồ khác cũng sẽ có thưởng.

Sở dĩ ước định trước tháng mười là vì nếu hắn thi đỗ kì thi hương thì đầu tháng mười sẽ phải vào kinh thành để chuẩn bị cho kì thi vào hội vào đầu mùa xuân, còn nếu không đỗ thì không thể nói gì.

Những người thợ kính thủ công và những học đồ vui mừng khôn xiết, hăng hái gấp bội.

Kính viễn vọng của kính phường Hán Xã vẫn chưa tiến hành sản xuất để tung ra thị trường mà vẫn là đang trong giai đoạn sửa đổi và chế tạo thử, vẫn phải bỏ vốn ra, còn tiền lãi của kính phường là dựa vào việc sản xuất và bán các loại kính mắt. Hiện tại, mỗi tháng kính phường có thể chế tạo được năm mươi chiếc kính mát quang lọc, bốn mươi chiếc kính cận thị, bốn mươi chiếc kính thắp hương. Trương Nguyên vốn cho rằng kính thắp hương sẽ bán không chạy bằng kính cận thị và kính mát quang lọc. Nhưng không ngờ sự thật là kính thắp hương bán chạy nhất đến mức cung không đủ cầu. Rất nhiều người dân dùng kính thắp hương thay cho dao đánh lửa, đá đánh lửa. Đương nhiên dùng kính thắp hương để lấy lửa thì phải xem thời tiết, nếu trời mà mưa thì không thể dùng được, nhưng người đặt mua vẫm đông nghịt. Trương Nguyên đã chỉ đạo kính phường giảm sản lượng kính mát quang lọc đi hai mươi cái và tăng kính thắp hương lên hai mươi cái.

Việc tiêu thu kính mắt của kính phường Hàn Xã do môn khách của Tây Trương là Ngô Đình và phụ thân của Phúc Nhi là Trương Lão Thực phụ trách, một người làm sổ sách, một người làm thu ngân. Giá bán lẻ một chiếc kính mát quang lọc là bốn lượng bạc, kính cận thị là sáu lượng bạc, còn kính dâng hương vốn định bán ba lượng một chiếc nhưng bởi vì bán chạy nên muốn nâng giá lên thành bốn lượng bạc. Nếu mua kính của các thương nhân ở bên ngoài mang đến bán thì cũng chỉ rẻ hơn được một lượng bạc, mà kính của họ không thể tinh xảo và hoàn mỹ bằng kính của kính phường Hàn Xã. Hơn nữa với danh tiếng của kính phường Hàn Xã thì không lo là không bán được hàng. Trương Nguyên đã hỏi rõ lượng đá thủy tinh còn dự trữ trong kho của kính phường chỉ đủ dùng trong hai năm tới, liền bàn bạc với Trương Ngạc một chút. Hắn sẽ bỏ ra một ngàn lượng bạc, Trương Ngạc bỏ ra năm trăm lượng, lại lấy năm trăm lượng bạc tiền lãi của kính phường, gom đủ hai nghìn lượng bạc, sai người thợ kính họ Tôn cùng với Lai Phúc ở Đông Trương và ông chủ Tiền của Tây Trương đi Hải Châu Đại Lượng mua đá thủy tinh. Bởi vì kính phường Hàn Xã dùng đá pha lê ở Hải Châu để mài thấu kính, mà xưởng chế tác kính ở Tô Châu và Hàng Châu cũng sẽ học theo, vì thế trong vòng hai, ba năm nữa giá cả đá thủy tinh sẽ tăng lên gấp bội. Cho nên kính phường Hàn Xã phải mua tích trữ trước số lượng đá pha lê đủ dùng trong vòng mười năm.

Rời kính phường, hai huynh đệ đi chầm chậm men theo hàng liễu bên bờ đê. Ánh mặt trời giữa mùa hạ có phần chói chang, mặt nước ánh lên chói mắt. Trương Nguyên nheo mắt lại, ánh sáng quá chói sẽ làm cho mắt hắn không thoải mái. Lúc này là ước chừng là vào khoảng đầu buổi trưa, trên sông có mấy cái thuyền rồng đang gõ trống chậm rãi khua mái chèo. Hôm nay là mồng một, hội thi đấu thuyền rồng của hai huyện Sơn Âm và Hội Kê phải đến mồng ba mới bắt đầu, hiện tại chỉ là đang phối hợp tập luyện thôi.

Trương Nguyên đề nghị:

-Tam huynh, ngày mồng ba chúng ta mang nương tử đến xem thuyền rồng, gọi cả vợ chồng Đại huynh nữa. Xem thuyền rồng xong thì lại đi dạo chơi hoa viên, hoa sen trong vườn chắc hẳn đã nở rộ rồi.

Trương Ngạc vui vẻ nói:

-Được, ta sẽ nói với vợ chồng Đại huynh. Tuy nhiên phải xin phép tổ phụ trước, nếu đúng lúc tổ phụ muốn mời khách đi dạo hoa viên thì chúng ta đành phải đổi sang ngày khác vậy.

Trương Nguyên nói:

-Được, Tam huynh đi hỏi rõ rồi có gì thì báo cho đệ biết.

Trở lại Đông Trương, Thương Đạm Nhiên hỏi việc về chiếc kính viễn vọng kia. Chiếc kính viễn vọng bằng đồng trắng Trương Nguyên cũng mang về theo, liền lấy ra cho Thương Đạm Nhiên xem. Thương Đạm Nhiên đứng ở hành lang trên lầu dùng kính viễn vọng chiếu đến đình viện Tây Trương ở phía đối diện xem thử một chút, dựa theo lời nói của Trương Nguyên mà chậm rãi điều chỉnh tiêu cự, vui vẻ nói:

-Quả nhiên, giống như đang ở trước mặt mình vậy.

Lại nói:

-Tiểu Huy rất muốn có một chiếc kính thiên lý như thế này đấy.

Trương Nguyên nói:

-Ta từng đáp ứng với nó là khi nào vào kinh sẽ tặng nó một chiếc kính thiên lý, không biết năm nay có thể đỗ đạt để được vào kinh hay không nữa.

Thương Đạm Nhiên mỉm cười nói:

-Chắc chắn là chàng có thể. Tập văn bát cổ của Trương Lang đã được lưu truyền đến kinh sư. Đại huynh của thiếp cũng đã xem qua, viết thư về còn khen ngợi chàng nữa đấy.

Trương Nguyên nói:

-Có thể đỗ tiến sĩ hay không, cũng là do ý trời. Thầy giáo Tiêu Nhược Hầu của ta, kiến thức uyên bác như biển nhưng do ý trời mà để thời gian trôi qua một cách vô ích đến khi học Cao trung, đến năm nhất cao trung đã trở thành Trạng Nguyên rồi. Chính là người lúc trước cho ta đọc bài chế nghệ của Giải Nguyên Từ Quang Khải “Vua Thuấn ở trong núi sâu”. Vốn bài chế nghệ đó đã bị thất lạc, là Tiêu lão sư vô tình tìm thấy, vừa đọc xong liền vỗ tay tán thưởng, vì thế liền sắp xếp cho Từ Quang Khải thi Giải Nguyên, bằng không thì không biết Từ Quang Khải còn lãng phí thời gian thêm bao nhiêu năm nữa.

Thương Đạm Nhiên gật đầu nói:

-Có thiên lý mã rồi vẫn còn phải có Bá Nhạc nữa. Quan chủ khảo cũng là điểm mẫu chốt trong kì thi. Không biết kì thi hương Hàng Châu năm nay thì vị quan hàn lâm nào là chủ khảo nữa?

(Bá Nhạc và thiên lý mã là câu chuyện của Hàn Dũ đời Đường. Ý tứ của câu này là ở trên đời này có Bá Nhạc là người có tài năng phân biệt được ngựa tốt xấu, thì sau đó mới phát hiện ra được ngựa hay ngàn dặm. Ngựa thiên lý vốn vẫn tồn tại như thế, như Bá Nhạc thì không phải lúc nào cũng có. Điều này nói rõ một chân lý hiển nhiên: Khi đã có người tài nhận biết được tài, thì sẽ phát hiện ra được vô số nhân tài. Người có khả năng nhận biết nhân tài, càng hiếm hoi hơn nhân tài và rất đáng quý.)

Quan chủ khảo của kì thi hương được gọi là Tổng tài. Bắt đầu từ năm Vạn Lịch thứ mười ba, quan chủ khảo của kì thi hương ở các tỉnh đều do Lại Bộ, Lễ Bộ chọn lựa và phái những viên quan ở kinh thành đến đảm nhiệm. Hơn nữa phần lớn là do Hàn Lâm Viện sắp xếp, những người được sắp xếp làm chủ khảo đều là người của Từ Lâm Quan.

Chương 318: Tổng tài Tiền Khiêm Ích (1).

Bởi vì những người ở Từ Lâm Quan đều là những người xuất sắc và nổi bật trong các kì thi đình những năm trước, nói về học thức hay danh vọng họ đều có cả. Đó là những người có điều kiện tốt nhất để chọn làm quan chủ khảo, còn bởi vì các phụ thần nội các nhất định phải xuất thân từ Hàn Lâm. Cho nên còn có một cách nói khác, nói đây là dịp các phụ thần chọn lựa nhân tài để kế tục mình, để lấy thanh thế cho chính bản thân mình nữa.

Trương Nguyên nói:

-Bây giờ chắc là vẫn chưa có quyết định, chắc phải đến cuối tháng hoặc đầu tháng sau mới có quyết định. Các vị Tổng tài chủ khảo phải xuất phát từ kinh sư đến những nơi mình được phân phó. Khi nào biết được vị quan Tổng tài của Chiết Giang là ai thì ta phải nghiên cứu một chút về văn bát cổ của vị đó, để làm văn sao cho hợp ý của Tổng tài.

Trương Nguyên sai Mục Chân Chân lấy một ngàn lượng bạc đưa cho Lai Phúc, lệnh cho Lai Phúc hai ngày này cùng với ông chủ Tiền ở Tây Trương và người thợ kính thủ công họ Tôn khởi hành đi Hải Châu mua đá pha lê.

Thương Đạm Nhiên thấy Trương Nguyên có nhiều bạc như vậy, rất là kinh ngạc. Nghĩ đến một chuyện, liền đến chỗ hòm hành lý lấy ra một tấm khế đất, đưa cho Trương Nguyên, nói:

-Trương lang, đây là Nhị huynh cho thiếp, là khế đất ở vùng núi Bạch Mã. Nhị huynh đem vườn trà, vườn trái cây ở núi Bạch Mã tặng cho thiếp làm vốn riêng.

Vườn trà và vườn trái cây của Thương Thị trên núi Bạch Mã mỗi năm thu được bốn đến năm trăm lượng bạc tiền lời. Thương Chu Phúc, Thương Chu Đức biết Đông Trương nghèo khó nên đem núi Bạch Mã cho tiểu muội làm vốn riêng là để cho Trương Nguyên không cần phải quan tâm đến những vấn đề nhỏ nhặt như củi gọa dầu muối hàng ngày chỉ chuyên tâm đọc sách, mà chi phí sinh hoạt hàng ngày của tiểu muội cũng không quá eo hẹp.

Trương Nguyên nhìn khế đất ở núi Bạch Mã, kinh sợ cười nói:

-Trương Nguyên ta đã cưới được một nương tử nghìn vàng quý giá hả?

Thương Đạm Nhiên cười ha ha nói:

-Ai ngờ Đông Trương cũng tiềm ẩn nhiều của cải quá nhỉ!

Trương Nguyên biết Đạm Nhiên có chút nghi ngờ khi thấy hắn có nhiều bạc như vậy. Vơj chống sống với nhau cả đời, có một số việc phải nói rõ với nàng ấy, sau này còn phải dựa vào Đạm Nhiên để quản lý gia đình nữa. Vì thế liền kể cho nàng chuyện mình lấy được vàng bạc và sách họa từ chiếc thuyền bị đắm của nhà Đổng thị.

Thương Đạm Nhiên ngạc nhiên, một lúc lâu sau mới hỏi:

-Trương lang, chàng và tỷ tỷ hợp tác mở hiệu buôn Thịnh Mỹ, lại mở thư cục, kính phường. Chàng muốn kiếm nhiều tiền như vậy để làm gì?

Trương Nguyên mỉm cười nói:

-Đạm Nhiên hỏi rất hay, ta muốn kiếm nhiều tiền như vậy làm cái gì. Ta cũng không có nhiều hứng thú với mỹ thực, cũng không có hứng thú với việc ăn chơi xa xỉ. Ta làm tất cả những việc này chỉ có một mục đích duy nhất, đó chính là vì “Tứ hải vô ngu, vạn lý hà thanh đích, xướng từ, hoàn hữu” đoạn cuối cùng của “Tây Sương kí”. Còn có…

Cầm tay Đạm Nhiên nói:

-Muốn làm cho ngày tháng sau này của chúng ta được sống yên ổn, muốn phu thê chúng ta được bạch đầu giai lão.

Mùng ba tháng năm, chiếc đồng hồ trong thư phòng “đinh dong” điểm chín giờ, Trương Nguyên cùng Thương Đạm Nhiên ra ngoài, đi theo có Mục Chân Chân, Vân Cẩm, Vũ Lăng và lão nô bộc Phù Thành. Hôm qua Trương Ngạc sai Phúc Nhi tới nói, ngày Đoan Ngọ tổ phụ muốn tổ chức hội Hoa sen ở Giới viên, ngày mùng ba trong vườn không có việc gì, có thể đến đây du ngoạn, đã nói với lão Tạ, ngày mùng ba đừng cho người ngoài vào vườn.

Thương Đạm Nhiên là người biết đạo lý, tuy việc dạo chơi công viên là do phu quân Trương Nguyên sắp xếp, nhưng nàngvẫn phải hỏi mẹ chồng Lã thị, mặc dù biết mẹ chồng nhất định sẽ đồng ý, nhưng phép tắc này là không thể thiếu.

Từ Đông Trương đến Giới viên chừng ba dặm, thời tiết giữa mùa hạ có phần nóng bức, Trương Nguyên muốn gọi kiệu có mái che cho Đạm Nhiên đi, nhưng Đạm Nhiên lại muốn đi bộ. Nàng đội một chiếc mũ vành, vành mũ bằng lụa trắng rủ xuống che khuất mặt. Lụa trắng rất mỏng nên vẫn nhìn thấy, nhưng từ ngoài nhìn vào mặt Đạm Nhiên giống như ngắm hoa trong sương mù, một vẻ đẹp mông lung. Trương Nguyên vẫn cho rằng mỹ nữ đeo mạng che mặt là nửa kín nửa hở, càng thêm hấp dẫn, nhất là Đạm Nhiên, chưa bó chân, đi đứng nhẹ nhàng mau lẹ, gió thổi nhẹ chiếc mạng che mặt như hoa sen đón gió.

Xuất ngoại du ngoạn trước và sau ngày Đoan ngọ là phong tục của Việt Trung. Trên phố cũng có những người cùng vợ đi, thấy Thương Đạm Nhiên đi giày lụa, bước đi nhanh nhẹn, đều sững sờ, chăm chú nhìn, Trương Nguyên giờ là người nổi tiếng, không ai không biết. Trương Nguyên lấy một cô vợ không bó chân sao?

Trương Nguyên không thèm để ý đến những ánh mắt sững sờ này, nói với Thương Đạm Nhiên:

Thay đổi phong tục cũ, bắt đầu từ hôm nay.

Thương Đạm Nhiên vẫn còn có chút xấu hổ, thấp giọng nói:

Thiếp sẽ bị người ta giễu cợt.

Trương Nguyên nói:

Giễu cợt cái gì, bó chân gãy xương tổn thương gân, làm hại sinh lý, nên giễu cợt cái phong tục quái ác này đấy, lần sau Hàn Xã xã viên tụ tập ta nhất định sẽ đề xuất chuyện phản đối phụ nữ phải bó chân, muốn viết một quyển sách trường văn nói lên những tác hại của việc bó chân.

Lại hạ giọng nói:

Yêu nhất lúc Đạm Nhiên bước đi đấy.

Thương Đạm Nhiên khẽ mỉm cười, đi bên cạnh Trương Nguyên, có một cảm giác tự hào.

Tới ao Bàng Công, gió lạnh chợt thổi tới, mang theo hơi nước, Trương Nguyên cười nói:

Đạm Nhiên thử ngửi xem, trong gió có vị của trà tùng la đấy.

Chợt nghe một người đáp lại:

Gió xuân như rượu. Gió hạ như trà.

Trương Nguyên quay đầu lại nhìn, thấy Đại huynh Trương Đại đang cầm ô, bước nhanh đến gần, theo sau là hai người hầu mang hộp đồ ăn, Trương Nguyên vội hỏi:

Chị dâu Lưu Gia không tới sao?

Mặt Trương Đại có vẻ không hài lòng, xua tay nói:

Đừng nói đến cô ấy nữa.

Chào Thương Đạm Nhiên:

Chào em dâu.

Chào Đại huynh.

Thương Đạm Nhiên nhẹ nhàng đáp lễ Trương Đại.

Trương Nguyên kéo Trương Đại qua một bên hỏi xem chuyện gì xảy ra? Trương Đại rất không vui, làu bàu nói:

Cái người phụ nữ ngu ngốc kia nói là phụ nữ thì không nên xuất đầu lộ diện ra ngoài du ngoạn. Vì thế nên không chịu đến.

Trương Nguyên lắc lắc đầu. Cuộc hôn nhân này của Đại huynh như một ván bài thua thê thảm, cưới một người phụ nữ cổ hủ như vậy, du ngoạn lâm viên nhà mình một chút cũng không chịu. Cửa chính không ra cửa trong không vào, không có một chút hứng thú nào, khó trách Đại huynh lúc nào cũng buồn bực, lập tức trấn an Đại huynh vài câu. Tới cửa Giới viên, Lão Tạ đã chờ ở đó, Trương Đại, Trương Nguyên đều cho Lão Tạ ít tiền thưởng. Đang nói chuyện, một chiếc kiệu đi đến, đi theo bên cạnh chính là Năng Trụ, Phúc Nhi và hai tỳ nữ.

Trương Ngạc từ trong kiệu đi ra, sau đó đỡ một người phụ nữ dáng người cao gầy, cô gái này có làn da trắng nõn, khí chất lạnh lùng diễm lệ, đây chính là vợ của Trương Ngạc- Kỳ thị, xem ra người cũng thông minh, bằng không làm sao thuần hoá được con ngựa hoang như Trương Ngạc.

Thấy Trương Đại, Trương Nguyên đã tới trước, Trương Ngạc cười hì hì chắp tay:

Đại huynh, Giới Tử, em dâu. Ngu huynh có lễ.

Kỳ Thị lại có chút do dự, nhị tẩu Thương Đạm Nhiên là tiểu cô cô của nàng, thân phận này có chút loạn.

Thương Đạm Nhiên lại duyên dáng tiến lên, gọi Trương Ngạc là "Tam huynh", xưng hô với Kỳ thị là "Tam tẩu", đã tới Trương gia, đương nhiên phải theo Trương gia rồi.

Trương Đại thấy em dâu họ Thương hiền lành tao nhã như vậy, so với cô vợ theo đạo giáo của mình, càng thêm buồn bực.

Đoàn người vòng qua Tiểu Mi Sơn, dốc Giác Thanh hương thơm ngào ngạt, hoa hồng khắp nơi, lá sen cao vút ở dưới hồ trải ra suốt hai bên cầu, che hết cả mặt nước, hoa sen cao thấp so le, thướt tha vô cùng, có bông hoa sen đã nở rộ, những cũng có những nụ hoa còn e ấp. Một cơ gió thổi đến mặt ao, lá sen khẽ nhảy múa, hoa sen hơi rung rinh, đẹp không sao tả xiết.

Trương Nguyên cười nói:

Lúc trước ngửi cứ tưởng là hương trà tùng la trong gió, hóa ra là hương sen.

Bỗng nhiên trong lòng xao xuyến, nhớ tới đêm đó đưa Vương Vi đến Mai Hoa thiền ở lúc đi qua cây cầu này hắn đã nói hơn một tháng nữa hoa sen sẽ nở, không những sen trắng, sen hồng, sen xanh nở đầy trong hồ, mà hương sen còn thấm vào tận ruột gan. Bây giờ, Tu Vi ở mãi tít Tùng Giang xa xôi, ừ, chắc là tỷ tỷ đã về Thanh Phổ rồi, chắc Tu Vi cũng tới đó với tỷ tỷ rồi chứ?

Thương Đạm Nhiên và Kỳ thị- vợ của Trương Ngạc cầm tay nói chuyện, một mình Trương Nguyên vòng qua Mai Hoa thiền, thấy người đi rồi phòng cũng trống rỗng, không khỏi có chút phiền muộn, trong lòng vẫn rất nhớ người con gái ấy, chợt thấy một cành trúc nhỏ tựa dưới hành lang, cũng là cần câu mà Tiết Đồng đã làm còn bỏ quên ở nơi này.

Trương Nguyên cầm chiếc cần câu, từ cửa sau ra ngoài, sai Vũ Lăng đào hai con giun để làm mồi câu, ở trên Lư Hương đình thả câu, mồi câu vừa mới vào nước đã có cá mắc câu, đợi con cá nuốt mồi rồi kéo cần câu, kéo lên thì là một con cá lư dài nửa thước.

Thương Đạm Nhiên và Kỳ thị phe phẩy quạt, đang lên đình, thấy con cá lư mà Trương Nguyên vừa câu được đang giãy dụa ở giữa đình, đều vừa vui vừa sợ, đứng ở bên đình không dám tiến lên, Trương Ngạc bước đến, dẫm lên con cá một cái, vui vẻ nói:

Cá lư hấp, ngon tuyệt.

Lập tức sai Phúc Nhi trở về gọi người đem bếp lò, lửa than đến, phải ăn ngay tại Giới viên.

Trương Đại nói:

Ta đi sắp xếp, hôm nay huynh đệ chúng ta mừng tết Đoan Ngọ ở Giới viên này.

Vội vã đi luôn.

yle="mso-special-character:line-break">

Chương 318: Tổng tài Tiền Khiêm Ích (2) .

Thương Đạm Nhiên và Kỳ thị đều nghe phu quân của mình nói về hội cua mùng chín tháng chín năm ngoái ở đỉnh Hương Lô, vô cùng mong chờ.

Năng Trụ dùng dây cỏ xuyên qua con cá, rồi lại cho nó xuống ao dưới đình đề phòng cá chết, ăn không ngon.

Trương Ngạc lấy cần câu của Trương Nguyên, y muốn dạy Kỳ thị câu cá, Trương Nguyên liền dẫn Thương Đạm Nhiên đi du ngoạn ở Hà Sảng hiên, Vô Lậu am, vừa đi vừa nói:

Đạm Nhiên, nàng nhìn xem tiểu Vũ hôm nay không làm bộ dạng buồn cười nữa, tìm mọi cách lấy lòng Vân Cẩm, tới đây không phải là vì hầu hạ thiếu gia này mà chỉ xun xoe với Vân Cẩm, Vân Cẩn lại rất xa cách với tiểu Vũ.

Thương Đạm Nhiên mím môi cười, quay đầu lại nhìn, Vũ Lăng và Vân Cẩm đều ở trên đình không đi theo bọn họ tới đây, nói một câu:

Cuối cùng tiểu Vũ cũng bắt đầu lớn rồi.

Trương Nguyên nói:

Tiểu Vũ mười bảy tuổi, Vân Cẩm năm nay mười lăm đúng không, không biết ý tứ của Vân Cẩm đối với Tiểu Vũ thế nào, hôm nào đó nàng giúp ta hỏi Vân Cẩm một chút.

Thương Đạm Nhiên "Ha ha" cười, nói:

Trương lang muốn kết đôi uyên ương cho họ à.

Trương Nguyên nói:

Trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng, nếu đôi bên đều vừa ý, năm sau có thể cho bọn chúng thành hôn.

Thương Đạm Nhiên "Ừ" một tiếng.

Phía sau Vô Lậu am có vườn tre, Tiết Đồng đã bẻ tre ở đây để làm cần câu. Đi qua phía sau am, nhìn thấy tất cả đều một màu xanh, sau vườn tre còn có một vườn rau xanh nữa, chắc là lão Tạ trồng, giàn đậu giàn mướp, rất có phong vị nhà nông, Trương Nguyên đi vào hái hai quả mướp đắng ra, Thương Đạm Nhiên khanh khách cười, nói:

Trộm rau.

Trộm rau.

Trương Nguyên cũng cười, giơ hai cái quả mướp đắng nói:

Cây mướp đắng này là Tam Bảo thái giám mang về từ Nam Dương, Trung Hoa ta trước kia không có quả mướp đắng. Ngày mùa hè mà ăn quả mướp đắng có thể thanh nhiệt, rất mát.

Đi một vòng vườn, trở lại Hương Lô đình, thấy Trương Ngạc cũng câu được một con cá lư bốn mang, đang cười to với Kỳ thị. Trương Ngạc nói:

Năm đó tổ phụ xây dựng Giới Viên, sai người tới Tùng Giang mua mấy trăm con cá lư bốn mang thả trong ao này, giờ đã sinh sôi đầy đàn rồi.

Một lát sau. Trương Đại đến, dẫn theo tỳ nữ Tố Chi đến, còn có hai tên người hầu mang bếp lò và than củi, và một đầu bếp nữ đi theo, mang rượu Ma Cô, giác kê, dầu ăn, thịt xông khói đến.

Trương Đại là một người sành ăn, mặc dù không tự tay cầm muôi nhưng ở một bên chỉ điểm đầu bếp nữ kia chế biến thế nào, cá lư phải hấp cùng chân giò Kim Hoa hun khói, măng, nấm hương và rau thơm, khi đã hơi tái thì bỏ thêm gừng, hành tây, hoàng tửu và gia vị.

Bữa cơm trưa thịnh soạn. Trên Hương Lô đình bày ba chiếc bàn, vợ chồng Trương Ngạc, Trương Nguyên đều ngồi cùng nhau khiến Trương Đại rất hâm mộ, đành phải mượn thức ăn ngon giải sầu.

Dùng xong cơm trưa, Trương Đại tự mình pha trà, Trương Đại độc chế một loại trà lan tuyết, lấy Nhật Đúc trà ở chân núi phía bắc của Long sơn. Dùng phương pháp sao khô của trà Tùng La, khi pha trà cho vào vài bông hoa nhài, màu trà như màu măng tre lại xanh như sắc hoàng hôn bao trùm lên ngọn núi, như ánh sáng xuyên qua tờ giấy. Nước trà rót xuống chiếc chén trắng muốt, hương như hoa lan, màu như tuyết.Bởi vậy nên gọi là trà Lan Tuyết, ngay cả Trương Nguyên không biết thưởng trà nhưng vừa uống nửa chén cũng cảm nhận được hương trà lưu trong miệng, khen:

Trà nghệ của Đại huynh phải hơn cả Đào Diệp Độ Mẫn Vấn Thuỷ đấy.

Trương Đại rất vui vẻ, nhưng lại khiêm tốn:

Không dám, Vấn lão chìm đắm trong trà kỹ mấy chục năm, ta đây hậu sinh tiểu tử làm sao có thể sánh bằng được.

Khoảng giờ Mùi, nghe thấy nhịp trống của thuyền rồng bên kia sông rộn rã hơn, chắc là sắp bắt đầu thi đấu thuyền rồng. Mùng ba đấu trận nhỏ, mùng năm đấu trận lớn. Trương Nguyên cùng mấy người kia đang định sang bên sông xem đua thuyền rồng thì một người hầu Tây Trương chạy tới, mướt mồ hôi, nói với Trương Ngạc:

Tam thiếu gia, Lục Mai sắp sinh, phu nhân bảo thiếu gia nhanh về.

Trương Ngạc không biết làm sao, y còn chưa chuẩn bị tâm lí làm cha nữa.

Kỳ thị nói với Trương Ngạc:

Phu quân, chúng ta nhanh đi về thôi.

Sau đó nói lời từ biệt Thương Đạm Nhiên, hẹn sau này sẽ lui tới nhiều hơn.

Thương Đạm Nhiên gọi Kỳ thị là "Tam tẩu tẩu", Kỳ thị gọi Thương Đạm Nhiên là "Thương tỷ tỷ", bởi vì Thương Đạm Nhiên lớn hơn Kỳ thị một tuổi.

Sau giờ Ngọ mặt trời lên cao, từ Giới viên tới bờ phủ Hà khoảng năm, sáu dặm đường, nhưng Thương Đạm Nhiên vẫn không chịu đi kiệu, muốn theo Trương Nguyên đi bộ, nói không mệt, Trương Nguyên cũng chiều theo ý nàng. Đoàn người tới ngoài Tây Quách Thuỷ môn, nghe được tiếng trống rộn rã, trên mặt sông bốn chiếc thuyền rồng dài năm trượng đang lướt nhanh trên mặt nước, tranh giành nhau, hai bên bờ sông và trên cầu Việt Vương dân chúng đến xem đua thuyền rồng liên tiếp hò hét cổ vũ.

Nhưng Trương Nguyên lại bận việc xã giao, bởi không ngừng có người đến hàn huyên chào hỏi với hắn, Thương Đạm Nhiên liền cùng Mục Chân Chân, Vân Cẩm lui sang một bên, đứng dưới bóng cây hoè trên bờ xem thi đấu thuyền rồng, lại không biết cách xa nửa dặm trên cầu Việt Vương, có người đang nhìn nàng và Trương Nguyên.

Đó là Vương Anh Tư, và tỷ tỷ Vương Tĩnh Thục. Hia tỷ muội họ đi một chiếc xe ngựa đến trên cầu xem thi đấu thuyền rồng, nhìn thấy Trương Nguyên và Thương Đạm Nhiên từ xa, Vương Tĩnh Thục nói:

Anh Tư, nhìn thấy không, vợ chồng người ta rất ân ái, cầm tay nhau cùng du ngoạn.

Vương Anh Tư im lặng một lúc lâu sau, nói:

Tỷ tỷ, về thôi, đi đọc sách viết văn.

Vương Tĩnh Thục nói:

Trong sách có ngôi nhà vàng, trong sách có ngàn tấn hạt kê, trong sách có Nhan Như Ngọc... Anh Tư, trong sách muội đọc có những gì?

Vương Anh Tư nói:

Tỷ tỷ hà tất phải thực dụng như vậy, đọc sách nhất định phải có những thứ đó ư, muội chỉ là thích đọc sách, đọc sách để hiểu lí lẽ, mở mang kiến thức, như vậy là đủ rồi.

Lại nói:

Ngày mai bảo đại huynh kêu người hầu mang một ít sách muội sưu tầm được đưa cho Giới Tử sư huynh, những quyển sách đó rất có ích với kì thi hương, thi hội.

Vương Tĩnh Thục lắc đầu nói:

Tỷ tỷ thật sự không hiểu được muội.

Xe ngựa quay đầu hướng về phía đông cầu Việt Vương mà đi, Vương Anh Tư từ cửa xe nhìn Trương Nguyên đang nói chuyện với các chư sinh, nói thầm:

Rất đơn giản, chỉ là muội rất thích mà thôi.

...

Sau tết Đoan Ngọ một ngày, Vương Bính Lân tự mình đến Sơn Âm mang tới một hòm sách cho Trương Nguyên, nói:

Giới Tử, những sách này đệ nhìn xem, ta đã đọc qua, rất hữu ích, chỉ là ta ngu dốt, lĩnh hội không sâu.

Trương Nguyên lật ra xem một chút, biết những quyển sách này là Anh Tư sư muội thu thập, có một vài quyển là Anh Tư tự tay viết, sửa sang lại, nói với Vương Bính Lân:

Thay mặt đệ cảm ơn sư muội.

Vương Bính Lân vỗ vỗ cánh tay Trương Nguyên, cười nói:

Mong đệ liên tiếp đỗ đạt.

Chuyển chủ đề nói:

Đại Tông sư đã đến các phủ để chủ trì khoa thi, cuối tháng sẽ tới Thiệu Hưng trước, năm trước đệ được tiến cử không cần thi, còn ta vẫn phải thi.

Không phải tất cả tú tài đều có thể tham gia thi hương, cũng phải tiến hành chọn lựa. Cuối tháng năm trước khi thi hương năm tí, ngọ, mão, dậu, đề học quan phải triệu tập sinh đồ của các phủ để kiểm tra, bậc một, hai mới có tư cách tham gia thi hương vào tháng tám. Năm ngoái Trương Nguyên là án đầu của kì thi đó, không cần phải chờ khoa khảo mà đã đủ tư cách thi hương rồi. Nếu là lần này thi hương không đỗ, như vậy khoa kế tiếp Trương Nguyên muốn tham gia thi hương cũng phải thi khoa khảo trước.

Trương Nguyên nói:

Sư huynh nhất định có thể được bậc một, đến lúc đó chúng ta cùng đi Hàng Châu.

Vương Bính Lân lắc đầu nói:

Ta thật sự không có đủ lòng tin, không sợ Giới Tử giễu cợt. Nếu như Anh Tư là ta, đỗ bậc một kỳ thi kia không thành vấn đề, đệ xem muội ấy tổng kết cách làm bát cổ đi, ta mãi không theo kịp.

Đứng lên nói:

Thôi được rồi, ta đi đây.

Trương Nguyên nói:

Vương sư huynh dùng cơm trưa đã rồi hẵng về.

Vương Bính Lân khéo léo từ chối.

Tiễn Vương Bính Lân đi rồi, Trương Nguyên trở lại thư phòng bên sông Đầu Lao, bây giờ hắn đều tiếp khách, bạn bè ở bên này. Thương Đạm Nhiên đến lầu gỗ phía trước để Vân Cẩm đến trước xem có khách lạ hay không, hầu hạ ở lầu gỗ bên này là Mục Chân Chân.

Hòm sách Vương Bính Lân đưa tới lẳng lặng nằm yên ở trên bàn, chiếc hòm được làm từ trúc, không thấm nước, cứng cáp, đây là chiếc hòm mới được làm, vẫn còn mùi trúc thơm ngát.

Trương Nguyên cẩn thận xem sách bên trong, ngoài mấy quyển sách luận xuân thu như "xuân thu định chỉ", "độc tả phụ nghĩa" ra, còn có tuyển tập văn bát cổ của các bát cổ danh gia như Quy Hữu Quang, Thang Hiển Tổ, Đổng Kỳ Hưng , còn có ba quyển "Bảy tác phầm xuất sắc nhất trong kì thi Hương Chiết Giang", đây đều là Vương Anh Tư chọn lọc từ trong đống bát cổ thư mênh mông ra đấy, quyển sách cực kỳ có ích, ở góc dưới của hòm sách là hai cuốn bút ký và tổng kết làm cách làm bát cổ của Vương Anh Tư.

Trương Nguyên giở quyển sách "Phương pháp làm bát cổ" ra xem. Vương Anh Tư viết chữ rất đẹp: "Phương pháp làm bát cổ, có thể biết rõ cảnh tượng tuyệt vời ảo diệu của cổ văn, mà khi học quy củ của văn bát cổ, có thể dưỡng tâm tính, thấy rõ ý của đầu đề bài văn. Mở rộng cảm thụ, bày tỏ rõ ràng. Thì tự nhiên không hiện đại mà hiện đại, không cổ mà cổ, không bát cổ mà bát cổ, không tiền bối mà tiền bối. Nếu như có một trái tim ngưỡng mộ văn bát cổ, tức phi văn bát cổ; có một trái tim ngưỡng mộ tiền bối, tức phi tiền bối. Làm thi gia tất nhiên câu nào cũng phải có chừng mực; định phi chân đỗ, trì gia thì nét nào cũng là vua, định phi chân vương, hoặc là vì gông cùm mà không phát huy được tài.

Chương 318: Tổng tài Tiền Khiêm Ích (3).

Trương Nguyên vừa xem vừa gật đầu, Anh Tư sư muội tổng kết vô cùng tốt, cái này còn tiến thêm một bước so với bài giảng cách làm bát cổ văn đúc rút từ kinh nghiệm bản thân của thầy Vương Tư Nhâm.

Trương Nguyên cẩn thận đọc từng trang, đọc tới một chương Anh Tư luận chủ khảo quan, lấy ví dụ là bài thi của Từ Quang Khải được giải Nguyên ngày đó "Thuấn chi cư thâm sơn chi trung", Anh Tư phân tích quyển chế nghệ này tại sao lúc đầu lại bị phòng quan đánh rớt nhưng lại được Tổng tài Tiêu Pháp cho đỗ đầu? Nguyên nhân là ở trong bài văn của Từ Quang Khải có tích hợp tâm học của Vương Dương Minh rất khác biệt so với nho học chính thống, còn có tư tưởng của Trang Tử, Lão Tử.

Cuối năm Gia Tĩnh tới nay, tâm học của Dương Minh tuy rằng hưng thịnh, nhưng nho học vẫn là tư tưởng chủ đạo trong giới quan, cho nên phòng quan chấm bài thi kia đánh trượt bài thi của Từ Quang Khải cũng là chuyện rất bình thường, tư tưởng dị đoan mà. Trước đây Từ Quang Khải thi hương liên tục năm lần không trúng cũng rất bình thường, nhưng khi Từ Quang Khải thi hương lần thứ sáu, gặp Tổng tài Tiêu Pháp, Tiêu Pháp chính là người theo Dương Minh tâm học, chủ trương tam giáo hoà hợp thành đại nho, thấy quyển chế nghệ này của Từ Quang Khải trong đống các bài thi trượt, tán thưởng không ngừng, quyết định cho đỗ đầu, giống như giai thoại khoa cử, thực ra nguyên nhân là có tư tưởng sâu sắc trong lòng, trong cái ngẫu nhiên bao hàm yếu tố tất nhiên.

Trương Nguyên xem tới đây, không khỏi đạp bàn kêu to, có cảm giác vui vẻ bất ngờ, trong lòng cực kỳ hạnh phúc, càng có niềm tin vào bản thân hơn trong kì thi hương tháng tám.

Trương lang, chuyện gì mà hả hê thế?

Thương Đạm Nhiên đi tới, cười khanh khách hỏi.

Trương Nguyên nói:

Câu đố trong lòng đã tìm được lời giải, có thể không hả hê sao!

Thương Đạm Nhiên nhìn bản thảo trong tay Trương Nguyên, thư pháp kia rõ ràng là phong cách của con gái, nàng biết con trai của Vương Tư Nhâm vừa mới tới, hòm này và sách hẳn là do Vương công tử đưa tới, hỏi:

Ai có thể giải thích nghi hoặc cho Trương lang?

Trương Nguyên chần chừ một chút, đáp:

Vương Anh Tư tiểu thư.

Thương Đạm Nhiên "Ồ" một tiếng, nói:

Cho thiếp xem một chút nào.

Lấy quyển sách "phương pháp làm bát cổ" xem chương "Luận Tổng tài", liên tưởng đến ngày hôm trước Trương Nguyên nói qua với nàng về nỗi hoang mang về chủ khảo quan, hoang mang về bài thi rớt của Từ Quang Khải cuối cùng lại là giải Nguyên, chính chương này của Vương Anh Tư đã giải đáp những hoang mang của Trương Nguyên, phân tích vô cùng tốt, đây hoàn toàn không phải là trong tối tăm có trời sắp đặt, mà là có tính tất yếu.

Thương Đạm Nhiên thở dài nói:

Vương tiểu thư thật có tài, chỉ tiếc là thân nữ nhi.

Trương Nguyên cười cười, không nói gì.

Thương Đạm Nhiên cũng không muốn hỏi nhiều, chỉ nói:

Trương lang có muốn thiếp đọc sách cho nghe không?

Trương Nguyên nói:

Được, vậy đọc hết quyển cách làm bát cổ này đi.

Thương Đạm Nhiên ngồi xuống đối diện Trương Nguyên, cầm quyển sách đọc:

Bát cổ danh gia bây giờ hoặc coi trọng quyền lực, hoặc chưa tài tình, hoặc hung biện vui vẻ, hoặc dẫn chứng theo trong sách, hoặc mô phỏng trong các tập sách.

Trương Nguyên ngồi đối diện nhắm mắt lắng nghe, Thương Đạm Nhiên bỗng nhiên nghĩ: " Trong lòng Trương lang có đang tưởng tượng là Vương Anh Tư đang đọc sách cho mình không?

Ý nghĩ này thật đáng ghét, Thương Đạm Nhiên khẩn trương sắp xếp lại tinh thần, chuyên tâm đọc sách.

...

Hai mươi ba tháng năm, Chiết Giang Đề Học Vương Biên tới Thiệu Hưng phủ học, chủ trì khoa thi Ất Mão của hơn bốn nghìn sinh đồ thuộc tám huyện của Thiệu Hưng phủ, có 800 sinh đồ sẽ được xếp bậc một, bậc hai, 800 sinh đồ này sẽ có tư cách để thi hương tháng tám này.

Vương Đề Học trước khi rời Sơn Âm, đã phá lệ triệu kiến Trương Nguyên, khích lệ hắn cố gắng trong kì thi hương tháng tám này. Vương Đề Học là phó khảo quan, tất nhiên hy vọng hãnh diện vì môn sinh Trương Nguyên đỗ cao.

Còn quan về chủ khảo, Vương Đề Học nói với Trương Nguyên:

Nghe đồn Thám Hoa khoa Canh Tuất Tiền Thụ Chi sẽ làm chủ khảo khoa thi hương Chiết Giang, không biết có phải không, tuy nhiên ngươi có thể nghiền ngẫm chế nghệ của Tiền Thụ Chi trước, y là bát cổ danh gia, cho dù có là chủ trì khoa thi hương Chiết Giang hay không, học tập chế nghệ của người khác luôn rất hữu ích.

Tiền Thụ Chi chính là Tiền Khiêm Ích.

Rạng sáng mùng bốn tháng năm, Lục Mai sinh hạ một đứa bé, tiếng khóc to lớn. Mẫu thân Vương thị của Trương Ngạc chỉ có một đứa con trai là Trương Ngạc, hiện tại có cháu rồi, tuy là thứ, nhưng cũng rất mừng rỡ. Lập tức bảo Trương Ngạc viết thư báo tin vui cho phụ thân Trương Bảo Sinh đang ở kinh, lại cùng bàn bạc với Kỳ thị vợ Trương Ngạc, lập Lục Mai làm tiểu thiếp, xem như có một danh phận.

Hai mươi hai tháng sáu, phụ thân Trương Bảo Sinh của Trương Ngạc từ Cấp Đệ Phô trong kinh báo về nhà, mang đến một tin tức xác thực: năm nay thi hương Chiết Giang chủ khảo quan quả thực chính là Thám Hoa Tiền Khiêm Ích khoa Canh Tuất năm năm trước.

Từ lúc Vương Đề Học nhắc nhở Trương Nguyên rằng, Tiền Khiêm Ích rất có khả năng chủ trì khoa thi hương Chiết Giang năm Ất Mão, hắn đã bắt đầu chuẩn bị. Không chỉ đọc bát cổ tập của Tiền Khiêm Ích mà Anh Tư sư muội tìm giúp hắn, còn mời Tông Dực Thiện đi Thường Thục giúp hắn thu thập thi văn của Tiền Khiêm Ích. Hắn phải hiểu biết một cách toàn diện học thuật, tư tưởng và phong cách thi văn của Tiền Khiêm Ích. Ngay hôm sau khi Trương Ngạc nhận được thư gửi từ kinh về, Tông Dực Thiện cũng từ Thường Thục trở về, mang đến một chồng bản thảo thi văn của Tiền Khiêm Ích, có bản khắc, có bản viết tay, tổng cộng không dưới hai trăm ngàn chữ, có cả "Lưu Hầu Luận" mà Tiền Khiêm Ích làm lúc mười lăm tuổi.

Hạ tuần tháng bảy sẽ khởi hành đi Hàng Châu, chỉ có thời gian một tháng chuyên tâm học tập. Giờ Trương Nguyên đã nổi tiếng, mỗi ngày khách tới thăm không ngừng, có người tới thỉnh giáo bí quyết viết văn, có người gửi tặng điền sản, có người xin làm người hầu, còn có mời Trương Nguyên ra mặt biện hộ cho... khiến việc học tập của Trương Nguyên bị quấy nhiễu.

Năm nay mùa hè ở Thiệu Hưng cực kì nóng bức, đọc sách viết văn, mồ hôi ướt đẫm lung. Mục Chân Chân quạt quạt cho hắn, vừa lau mồ hôi cho mình, thời tiết nóng đến mức đáng sợ, cho nên khi Đại huynh Trương Đại đến rủ hắn tới Thiên Ngoã am trên núi Ngọc Tứ đọc sách cho đỡ nóng, Trương Nguyên lập tức vui vẻ đi cùng ngay.

Sáng sớm ngày hai mươi bốn tháng sáu, Trương Nguyên tạm biệt cha mẹ và người vợ xinh đẹp, cưỡi con la trắng Tuyết Tinh, dẫn theo Lai Vượng và Vũ Lăng, cùng với Đại huynh Trương Đại còn có Chu Mặc Nông, Kỳ Bưu Giai, hơn mười người ra Kê Sơn môn, qua lăng Đại Vũ, lên tới Thiên Ngoã am ở lưng chừng núi Ngọc Tứ. Thiên Ngoã am không phải là ni am, chỉ là một tòa miếu nhỏ thờ Quan Thế Âm Bồ tát, trưởng lão trong am là Sơn Âm Trương thị bổn gia, ngay cả bảy tăng nhân trong am đều do Tây Trương cung cấp áo cơm, chẳng khác gì là từ đường của Sơn Âm Trương thị.

Hướng lên trên Thiên Ngoã am chính là đường núi quanh co thông lên đỉnh núi Hương Lô, bên trái là Lâm Thâm cốc, trước và sau am toàn là hoè và trúc. Hơn nữa lại ở chân núi phía tây nam của Ngọc Tứ, trời nắng thì phải sau giờ Tỵ ánh nắng mới chiếu tới, nhưng sau giờ ngọ đầu giờ Thân, lại được đỉnh Hương Lô che khuất, cho nên Thiên Ngoã am cực kỳ mát mẻ. Trương Nguyên Biện, Trương Nhữ Lâm đều từng ở đây tránh nóng đọc sách.

Trương Nguyên ngồi xuống dưới một bóng cây xanh, cảm giác cái nóng đã biến mất, khen:

Quả nhiên là nơi thích hợp để đến đọc sách vào giữa mùa hè.

Năng Trụ vác hành lý, Lai Vượng và mấy tên người hầu khác mồ hôi ướt đẫm, nghỉ ngơi trước sơn môn, lau mồ hôi, hô to:

Mát mẻ quá.

Trương Đại cười nói:

Yến Khách cũng muốn đến, bị tổ phụ mắng, nói hắn là con sâu làm rầu nồi canh, sẽ làm chậm trễ việc chúng ta ôn tập, không cho hắn đến.

Chu Mặc Nông, Kỳ Bưu Giai cười rộ lên.

Trương Ngạc là nạp kê giám sinh, không có tư cách tham gia thi hương. Sau khi tốt nghiệp Quốc Tử Giám làm một tiểu quan, Trương Ngạc hiển nhiên không kiên nhẫn làm chức quan nhỏ bé đó. Theo quy định năm nay y vẫn còn phải tiếp tục tới Quốc Tử Giám học, nhưng Trương Đại, Trương Nguyên không đi, một mình y cũng không muốn đi.

Trưởng lão của Thiên Ngoạ am Hoàn Sơn một ngày trước đã sai tăng nhân quét dọn sạch sẽ năm gian phòng khách, để đợi Trương Đại và mấy người đến. Lúc này liền sắp xếp cho mọi người ở lại và nói rượu thịt không cấm, chỉ cần không ăn uống ở trên đại điện trước mặt Bồ Tát là được, Trương Đại nói:

Chúng ta cũng ăn chay như Hoàn Sơn đại sư, làm sạch cơ thể, ăn thịt mãi rồi.

Hoàn Sơn trưởng lão cười nói:

Cùng được, cũng được, thức ăn chay ở tiểu am cũng ngon đấy.

Cứ thế, Trương Nguyên ở lại Thiên Ngoã am. Mỗi buổi sáng, buổi chiều đều đọc sách, viết văn, ban đêm thì bàn bạc về các bài văn đã làm trong ngày, giao lưu tâm đắc. Bố cục viết văn ba phần hoàn toàn giống như thi hương. Ba ngày một vòng, ngày đầu tiên làm chế nghĩa bảy câu, trong đó bốn câu đề tứ thư, ba câu đề kinh nghĩa, mỗi câu tứ thư hai trăm chữ trở lên, kinh nghĩa ba trăm chữ trở lên, bảy đề tổng cộng không ít hơn hai ngàn chữ.

Quy định như thế, nhưng thường không chỉ viết hai ngàn chữ, mà ba nghìn, năm nghìn đều có, nhất định phải trong thời gian một ngày phải hoàn thành. Thi hương ở đời Minh và ở đời Thanh không giống nhau, một lần thi chỉ vẹn trong một ngày, ở đời Thanh thì thi ba ngày.

Chương 319: Cuộc sống nở rộ (1).

Cho nên đối với sĩ tử bình thường mà nói, sử dụng thời gian một ngày để làm bảy đề văn là rất gấp, nhưng Trương Đại, Trương Nguyên, Kỳ Bưu Giai đều là người tài nổi danh, Chu Mặc Nông còn hơi châm chước, nhưng cũng không chậm, buổi sáng ba câu, buổi chiều bốn câu, vẫn còn thời gian rỗi.

Ngày kế thì làm năm câu phán từ, dùng thể biền ly, mỗi câu khoảng trăm chữ, mô phỏng, sáng chế một đoạn, không ít hơn ba trăm chữ.

Ngày thứ ba thi sách, làm năm đề, không hạn chế dài ngắn.

Mỗi đêm, bốn người ở cùng nhau bình luận văn của nhau, khi bình luận văn của một người, ba người kia liền lần lượt làm như là phòng quan, Phó chủ khảo và chủ khảo, phải viết lời bình luận. Sau ba ngày liên tục làm bài, nghỉ một ngày, ngày hôm đó chỉ để nghiên cứu thi văn của Tiền Khiêm Ích, chủ yếu là Trương Nguyên giảng, Trương Nguyên đã đọc qua toàn bộ bản thảo của Tiền Khiêm Ích, hắn tổng kết: đặc điểm học thuật, tư tưởng của Tiền Khiêm Ích là cùng kinh học cổ, trở về căn nguyên của học thuật, kinh thế trí dụng, xây dựng lại cương thường và các nội hàm khác.

Mặc kệ ngày sau Tiền Khiêm Ích có ngứa da đầu hay không, nước quá lạnh, lúc lâm chung có hối hận vì không chết ngày Ất Dậu để toàn danh tiết hay không, bây giờ Tiền Khiêm Ích mới ba mươi bốn tuổi, tài văn chương hơn người, lòng ôm chí lớn, lấy phong khí của Lưỡng Hán học để sửa chữa thói nói suông nông cạn đã phá hỏng học thuật cổ, làm cho thế đạo bất công và quốc sự không thịnh vượng.

Thông qua bước đầu nghiên cứu bộ sưu tập thi văn của Tiền Khiêm Ích, Trương Nguyên đã hiểu rõ được khuynh hướng tư tưởng, sở thích văn phong của Tiền Khiêm Ích. Tư tưởng Tiền Khiêm Ích cực kỳ tạp nham, không sách nào không đọc, đã thuần Lưỡng Hán rồi lại chịu ảnh hưởng lớn của Dương Minh tâm học, kinh Phật, đạo tạng và chư tử Tiên Tần. Thi văn có thể đột phá ra khỏi kiểu mô phỏng một cách cứng nhắc phục cổ phái, kiểu phiến diện của phái Cánh Lăng, kiểu nông cạn của phái Công An, văn phong rộng lớn dày dặn, có thể kết hợp được học vấn và tính cách rất tốt, tung hoành khúc chiết, không bị phóng túng. Về thơ, Tiền Khiêm Ích vô cùng cần cù, nghiền ngẫm danh gia Đường, Tống, qua nhiều thầy, học tập rất giỏi. Thơ của Tiền Khiêm Ích nổi danh đứng đầu Giang Tả tam đại gia, danh bất hư truyền.

...

Những ngày sống trong núi trôi qua rất chậm lại rất nhanh. Sáng nhìn sương sớm tan dần, sương mù trong núi bất giác tiêu tan hết. Chiều nhìn mặt trời lặn, nhìn áng mây đỏ kia trôi trên khoảng không của đỉnh Hương Lô, tối dần rồi biến thành màu xám, như một lò lửa than đang từ từ nguội dần, mặt trời sắp xuống núi, ánh hoàng hôn bao phủ. Gió đêm hơi lạnh, thời gian cứ thế quay vòng, hơn hai mươi ngày đã trôi qua.

Bốn người đều cảm thấy lần này tới Thiên Ngoã am đọc sách có ích lợi rất lớn, cho nên mười bốn tháng bảy xuống núi hẹn nhau qua lễ Vu Lan, mười sáu tháng bảy lại lên Thiên Ngoã am, sẽ làm thêm hai đợt văn nữa, hai mươi bốn ngày sau xuống núi rồi chuẩn bị đi Hàng Châu.

Sau giờ ngọ ngày mười tám tháng bảy, Trương Nguyên ở dưới cửa sổ phía tây của Tăng xá làm sách luận. Ngoài cửa sổ màu xanh của hòe trúc làm nền cho ánh nắng ánh chiếu vào, đập vào trước mắt một màu xanh, xanh đến mát lạnh, xanh đến sáng trong, từng chữ tiểu Khải được viết ra cũng mang một màu xanh ngọc bích.

Trong khung cảnh vui vẻ, mát mẻ Trương Nguyên hạ bút như bay. Cuối giờ Thân đã làm xong năm quyển sách luận, nhìn Đại huynh Trương Đại và Kỳ Hổ Tử vẫn đang làm đến đề thứ ba, còn Chu Mặc Nông thì càng chậm hơn, mới bắt đầu làm đề thứ hai.

Yên tĩnh quá lại muốn động đậy một chút, Trương Nguyên thu hồi giấy bút nói:

Đại huynh, đệ lên đỉnh Hương Lô xem mặt trời lặn đây.

Trương Đại đang chuyên tâm viết văn, ừ bừa một tiếng.

Trương Nguyên uống một chén trà lạnh, dẫn theo Vũ Lăng ra ngoài Thiên Ngoã am, qua con đường ngoằn ngoèo dẫn lên đỉnh núi Hương Lô. Đường núi ngoằn ngoèo này có gần ngàn bậc thềm đá, một bên là vách đá cheo leo, có chút hiểm trở.

Con đường rẽ sang một phía, tới tảng đá bán nguyệt phía đông núi Ngọc Tứ, hòe trúc thấp thoáng, không thấy Thiên Ngoã am tường vàng ngói đen nữa. Ở phía dưới tảng đá bán nguyệt, từng mảnh rừng trúc liên tiếp trải dài xuống phía dưới hơn trăm trượng, một khe núi lấp ló ở giữa rừng trúc, ánh tà dương chiếu rọi, rừng trúc xanh, khe núi kia dường như do sắc xanh của rừng trúc hội tụ thành, xuống chút nữa, tùng hạp chân đá, cây cổ lá đỏ, ở giữa có một lầu các, mái hiên nhọn cao hơn rừng cây.

Trương Nguyên bỗng nhiên mất hứng thú với chuyện lên đỉnh Hương Lô xem nằng chiều, nói với Vũ Lăng:

Tiểu Vũ, chúng ta đến khe núi ở rừng trúc chơi đi.

Vũ Lăng vừa nghe, vui vẻ nói:

Đó là Tị viên của Vương lão gia.

Thấy thiếu gia không tiếp lời, thầm nghĩ:

"Làm sao thiếu gia không biết điều đó được, thiếu gia muốn gặp Anh Tư sư muội rồi, không trùng hợp như vậy chứ, sư muội đã ở trong vườn kia rồi sao?”

Vũ Lăng làm bộ như rất hào hứng nói:

Hay lắm, tới bên khe núi vui đùa một chút, còn có thể bơi nữa.

Trong lòng Vũ Lăng, vẫn có kỳ vọng với "Tây Sương ký" của thiếu gia và Vương Anh Tư tiểu thư. Vương tiểu thư mười tám tuổi rồi, cũng bởi vì thiếu gia mà không chịu bàn chuyện hôn nhân, Vương tiểu thư rất si tình, nhưng phải làm sao, Vương tiểu thư không phải Vương Vi cô, khó giải quyết lắm, tuy nhiên trước "Tây sương" dường như cũng không phải lo lắm.

Vũ Lăng đi theo phía sau thiếu gia, thật cẩn thận từ ngã ba đường đi xuống hướng khe núi ở rừng trúc, không có đường, triền núi rất dốc, cũng may có những cây trúc lớn nhỏ dày đặc hai bên, hai người giống như khỉ bám vào gốc cây trúc trước rồi lại vịn vào gốc cây trúc sau, vịn trúc một mạch đi xuống, gần đến bên khe núi, triền núi đột nhiên bằng phẳng hơn, cánh tay và hai má của hai người đều bị trúc quyệt vào chảy máu, người đầy mồ hôi, nhìn nhau, đều cười ha ha, cảm thấy rất sung sướng.

Cánh rừng trúc này chính là chỗ Trương Nguyên và Vương Anh Tư đào măng hồi mùa xuân năm kia. Cây trúc sinh trưởng thật nhanh, đã không thể phân biệt cây phù trúc mà Vương Anh Tư tựa vào khóc lớn là gốc trúc nào nữa rồi. Xuân tới những củ măng chưa bị đào lớn thành những cây trúc nhỏ xanh tươi đáng yêu.

Đi vào bên khe núi, quay đầu nhìn hướng đỉnh Hương Lô, phía trên rừng trúc xanh ngắt, vầng mặt trời đỏ đã lặn xuống sau đỉnh núi từ lâu, xem ra bây giờ chắc là giờ Dậu nhị khắc giống như kiểu đồng hồ báo năm rưỡi.

Trương Nguyên vốc nước rửa mặt ở bên khe núi, đột nhiên nói:

Tiểu Vũ, chúng ta bơi tới Tị viên đi, rồi lại đi vòng lại Thiên Ngoã am, thế nào.

Vũ Lăng nói:

Được ạ.

Lớn lên ở vùng sông nước Thiệu Hưng, rất gần gũi với nước, khe nước ở núi này trong suốt thấy được tới đáy, có thể thấy những con cá nhỏ ở tảng đá dưới khe nước đột nhiên bơi đi, làm cho người ta rất muốn nhảy vào trong nước bơi như cá vậy.

Trương Nguyên tháo khăn vuông, cởi áo ngoài và tất, giày, thân trên mặc toàn bộ màu đỏ, thân dưới mặc quần dài đến gối, quay đầu lại nhìn Vũ Lăng, vẫn là thói quen bơi lội lúc nhỏ, cởi hết ra, không khỏi bật cười.

Thấy thiếu gia cười, Vũ Lăng lại vội vàng mặc quần đùi vào, học bộ dạng của thiếu gia quấn quần áo và tất giày cùng nhau, cầm một tay giơ lên, bơi vào khe núi.

Năm nay Thiệu Hưng lại có hạn hán, từ lập hạ tới nay chỉ mưa có một trận, khe núi này cũng nông, nước chỉ ngập đến đầu gối, tuy nhiên đi xuống khoảng mười trượng, nước đã ngập đến phần hông rồi, đi thêm mấy trượng nữa, nước đến eo, cả người nhảy nhào vào trong nước, chỉ lộ đầu và cánh tay trái cầm quần áo, xuôi dòng nước bơi xuống phía dưới, gần đến chỗ khe suối Mộc Các của Tị viên thì lên bờ.

Khe núi như gập lại, nhìn lên tòa sơn các kia, từ từ đã, ngồi trên mộc đài cạnh các là ai?

Vũ Lăng mắt tinh, nhận ra đó chính là Vương nhị tiểu thư, trong lòng hô to:

"Hữu duyên, hữu duyên, Vương nhị tiểu thư giống như chỉ ở chỗ này chờ thiếu gia nhà ta, đúng rồi, thiếu gia không hẹn với Vương nhị tiểu thư, Tiểu Vũ ta đã biết được, phải trốn đi thôi, để thiếu gia tiện hành sự."

Vũ Lăng bám vào bờ đá gần đó, dừng lại, nhìn tay thiếu gia đưa quần áo như tặng lễ rồi lại xuôi dòng bơi tiếp.

...

Từ hai mươi lăm tháng trước, lúc trời nóng, Vương Anh Tư và tỷ tỷ Vương Tĩnh Thục còn có mẫu thân cùng ba em trai vẫn ở Tị viên để tránh nóng. Vương Anh Tư mỗi ngày đọc sách, viết văn, ngâm thơ, hội họa, chơi cờ, còn ở bên khe núi thả câu, nước ở khe núi từ rừng trúc hai nhánh giao hội chảy xuống róc rách, đến trước thủy các này thế nước bằng phẳng, sâu thẳm, chỗ sâu nhất hơn năm thước, có đủ các loại cá sống ở đó.

Hoàng hôn, mặt trời đã lặn xuống sau đỉnh Hương Lô, rừng trúc xanh thẫm, thung lũng dày đặc, sắc hoàng hôn bắt đầu ngưng tụ. Vương Anh Tư và tỷ tỷ ngồi ở ghế trúc trên Mộc đài, một người thả câu, một người nói chuyện phiếm, có một chiếc chậu gỗ để bên cạnh. Nước đổ nửa chậu, trong nước có cá, có bốn, năm con, đều là dài ba, bốn tấc. Cá trích đen, cá mè trắng, cá sống quẫy đuôi, bơi quanh chiếc chậu, tưởng rằng bơi nhanh thì có thể trốn thoát.

Vương Tĩnh Thục cười nói:

Vương Anh Tư mười tám. Khương Tử Nha tám mươi, đều rảnh rỗi đến thả câu ở khe suối này. Xin hỏi đã từng đi bên con thuyền mộng?

Vương Anh Tư nói:

Đại Minh triều không cần nữ thủ phụ, nếu không thì muội đã có thể mơ rồi.

“Rảnh rỗi đến thả câu bên khe suối. Chợt lại đi bên con thuyền mộng" là hai câu thơ của Lý Bạch, câu trên chính là chỉ Khương Tử Nha, câu dưới chỉ chính là Y Doãn, hai người này đều là trọng thần khai quốc

Chương 319: Cuộc sống nở rộ (2).

Vương Tĩnh Thục nói:

Như vậy Trương Giới Tử có thể mơ một giấc rồi, sẽ không biết hắn có thả câu không?

Vương Anh Tư cười nói:

Giới Tử sư huynh chuẩn bị thi hương, sao có thể rỗi rãi như chúng ta được.

Vương Tĩnh Thục có chút hơi mót, liền gác cần câu lên chậu nước, cười đứng lên nói:

Ta đi vào trước một chút, cần câu để ở đây, muội giúp ta nhìn, có cá mắc câu thì giật lên.

Vương Anh Tư cười nói:

Tỷ tỷ đây là người tình nguyện mắc câu à.

Vương Tĩnh Thục cười, thướt tha xinh đẹp lướt đi.

Vương Anh Tư nhìn bóng lưng tỷ tỷ, thầm nghĩ:

"Tỷ tỷ cũng mới hai mươi ba tuổi, giống như một cành hoa, lại không chịu tái giá, thủ tiết vì Trần tỷ phu ư, tỷ tỷ nói không phải, tình cảm giữa tỷ tỷ và Trần tỷ phu đã qua đời cũng không sâu nặng, chỉ là không muốn lại đi đánh cuộc một phen”.

Vương Anh Tư nhìn bờ bên kia dòng suối nhỏ, có một khối đá trắng rất giống con sư tử đang nằm mơ màng, chợt thấy dây câu khẽ động động, dựa vào cảm giác ở tay, con cá mắc câu này không nhỏ chút nào, vội vàng hạ thấp người nhìn xuống dưới Mộc Đài, lại thấy lộ ra cái đầu trên mặt nước, một tay còn cầm bọc quần áo. Lúc đầu rất ngạc nhiên, lập tức nhận ra đây là Giới Tử sư huynh, vừa mừng vừa sợ, đứng lên nói:

Giới Tử sư huynh tại sao lại ở chỗ này?

Vừa hỏi, vừa bước hai bước tới bên cạnh Mộc Đài, quên mất cần câu của tỷ tỷ để dưới mặt đất, liền lên dẫm lên chiếc cần câu nhỏ tròn, chiếc cần lăn đi, làm đổ ụp cả chậu nước. Nước trong chậu chảy lênh láng ra đất, mấy con cá nhỏ quẫy tanh tách, có một con cá nhảy vào trong váy của Vương Anh Tư.

Mấy chuyện này gần như đều xảy ra cùng một lúc, Vương Anh Tư thấy Trương Nguyên vừa mừng vừa ngạc nhiên, con cá nhảy vào váy, đang quẫy ở bên chân, hoảng loạn giẫm phải chiếc cần câu, lảo đảo một chút, vốn không đến mức ngã mạnh nhưng đúng lúc con cá đang nhảy loạn lên rơi xuống đế giày, thế là, Vương Anh Tư liền trượt chân ngã xuống ngoài Mộc Đài.

Trương Nguyên hai chân đạp nước, một tay cầm quần áo, một tay kéo nhẹ dây câu của Vương Anh Tư, vừa ngửa đầu hỏi:

Sư muội thả câu thu hoạch được những gì?

Chỉ thấy Vương Anh Tư lảo đảo kêu lên sợ hãi rồi ngã từ trên Mộc Đài cao sáu thước xuống, vội vàng bỏ sợi dây câu ra, tay trái cầm quần áo cũng bất chấp, vứt tất cả xuống nước, hai tay vừa mới giơ lên, Vương Anh Tư đã rơi xuống bịch một cái, giữa khuỷu tay và ngực hắn, nhấn hắn xuống nước, vội vàng xoay người duỗi chân, ôm Vương Anh Tư nổi trên mặt mặt nước.

Trong lúc xuống nước như vậy, Vương Anh Tư đã uống một ngụm nước, nước mắt chảy giàn giụa, bị sợ, hai tay hai chân như bạch tuộc ôm chặt lấy Trương Nguyên, khiến Trương Nguyên không thể bơi được, Trương Nguyên vội hỏi:

Sư muội chớ hoảng sợ, buông lỏng chân ra một chút để ta bơi.

Vương Anh Tư nghe Trương Nguyên nói vậy, bình tĩnh lại một chút, cùng lúc mặt đỏ bừng, vội vàng buông hai chân đang quắp lấy eo Trương Nguyên, hai tay vẫn ôm chặt lấy cổ Trương Nguyên, cũng không dám buông ra, đôi mắt không dám nhìn thẳng vào Trương Nguyên, trong lòng đang hỗn loạn.

Trương Nguyên cảm giác được ngực của Anh Tư sư muội đang áp sát vào ngực hắn, cúi đầu thấy yếm của sư muội mở ra trong làn sóng nước, mương ngọc thâm sâu, song đế ẩn hiện, vội vàng nhìn đi chỗ khác. Một tay ôm lấy vòng eo nhỏ của Vương Anh Tư, một lúc sau bơi tới bên bờ Mộc các, đặt Vương Anh Tư ngồi lên khối đá trắng mịn bên bờ, nói:

Sư muội ngồi vững nhé.

Quay người bơi nhanh đuổi theo bọc quần áo của hắn đã trôi xa bảy, tám trượng, lại bơi về dưới Mộc các thấy Vũ Lăng giờ mới bơi tới.

Vương Anh Tư cả người ướt đẫm ngơ ngác ngồi trên mỏm đá trắng trên bờ, hai tay ôm ngực, kêu một tiếng:

Giới Tử sư huynh.

Vừa muốn khóc lại vừa muốn cười.

Trương Nguyên quăng quần áo lên bờ, sau đó tự mình trèo lên, quần đùi ngang đầu gối, cởi trần, tự thấy rất khiếm nhã, nói xin lỗi:

Sư muội, xin lỗi, là ta làm muội sợ, làm muội rơi xuống nước.

Vương Anh Tư liếc bờ vai rộng, eo nhỏ của Trương Nguyên, vội vàng quay đi, hạ giọng nói:

Không trách sư huynh được, là tự muội dẫm lên cần câu rồi trượt ngã.

Ôm ngực, ôm chân, không dám đứng dậy, quần áo lụa bị ướt là gần như trong suốt, dính sát vào người, lộ hết.

Không phải vì hắn đột nhiên xuất hiện, Anh Tư cũng sẽ không dẫm lên cần câu để rồi bị rơi xuống nước. Trương Nguyên tự biết lỗi, nhất thời không biết nên làm thế nào. Sắc trời đã dần tối, nếu như hắn đi thì không yên tâm mà đi gọi người đến thì quá xấu hổ, nhìn bộ dạng Anh Tư sư muội hai tay ôm người, liền lấy áo ngoài của mình, nói:

Ướt rồi, sư muội khoác tạm, che đi một chút. Sư muội có thể đi không, nếu không thì ta bế muội về các?

Nói xong đi giày đầu chim câu vào. Đế giày sau khi ra khỏi nước kêu lõng bõng.

Áo của Trương Nguyên thùng thình, Vương Anh Tư nhỏ xinh, giống như mặc áo gió, khoác áo xong, che được rồi, vội vàng đứng lên nói:

Muội đi được, muội không sao, sư huynh, vậy muội đi?

Giọng điệu hỏi, đầy lưu luyến.

Tình cảnh quá xấu hổ, quá mờ ám, Trương Nguyên không tiện ở lại lâu, mỉm cười nói:

Trời nóng, chắc là không đến mức cảm lạnh, sư muội trở về rồi khẩn trương thay quần áo, muội đi đi.

Nói với Vũ Lăng đang ngơ ngẩn đứng một bên:

Mau mặc quần áo tử tế vào, chúng ta đi thôi.

Vẫy tay, cởi trần đi về phía cửa vườn, trong tay cầm chiếc khăn vuông.

Vương Anh Tư ở bên bờ, choàng chiếc áo lên vai, đi theo hai bước, gọi:

Sư huynh.

Thấy Trương Nguyên quay đầu lại, lại nói:

Sư huynh bây giờ huynh đi đâu?

Trương Nguyên nói:

Ta ở Thiên Ngoã am đọc sách, cách đây không xa, về rồi sẽ thay quần áo ngay, không sao.

Chưa kịp nói xong, Trương Nguyên ngậm miệng, bởi vì thấy Vương Tĩnh Thục từ đầu đường đang đi tới. Lúc này cũng không nên chạy đi, đi cũng không được mà ở cũng không xong, lúng túng.

Bất thình lình Vương Tĩnh Thục nhìn thấy một người đàn ông cởi trần đứng ở bên Mộc các, rất sợ hãi, đứng vững, chuẩn bị hô người bất cứ lúc nào, đợi thấy rõ là Trương Nguyên, thở phào nhẹ nhõm, lại nhìn thấy Anh Tư khoác áo khoác tú tài đứng ở một bên, rất là kinh ngạc, đi tới hỏi:

Chuyện gì đã xảy ra vậy?

Vương Anh Tư lắp bắp nói:

Muội, không cẩn thận ngã xuống nước, là Giới Tử sư huynh đã cứu muội.

Vương Tĩnh Thục nhìn Trương Nguyên, lại nhìn Anh Tư, xem ra đúng là rơi xuống nước thật, nhưng Trương Nguyên tới đây bằng cách nào, thật là kì lạ. Lúc này sợ muội muội xấu hổ, không tiện hỏi nhiều, bèn nói:

Vậy khẩn trương đi thay quần áo đi, ngộ nhỡ bị cảm lạnh, phong hàn.

Nhìn Trương Nguyên, nói:

Trương công tử cũng cùng đi thay quần áo đi, ta đi xem có quần áo của Bính Lân đệ ở đây không.

Lại nói một câu:

Mẫu thân của ta và ba tiểu đệ ở Quân Chi các.

Trương Nguyên chợt cảm thấy đứng ngồi không yên, sư tỷ, sư muội thì thôi, nếu như bị sư mẫu biết có khách không mời mà đến như hắn, sẽ mắng hắn chết mất, vội hỏi:

Không dám làm phiền, đệ sẽ về Thiên Ngoã am thay quần áo.

Vương Tĩnh Thục nói:

Trương công tử ra vườn với bộ dạng trần truồng thế này, để cho người ta nhìn thấy sẽ nói thế nào!

Trương Nguyên không nói gì, giờ trời đã tối, hắn cũng không thể theo khe suối trở về rừng trúc, rồi lại leo lên tảng đá bán nguyệt.

Vương Tĩnh Thục đột nhiên nói:

Không xong rồi, các tiểu đệ chạy tới rồi, a, mẫu thân cũng tới.

Vội vàng nói vớiTrương Nguyên, Vương Anh Tư:

Khẩn trương tránh đi một chút, bộ dạng hai người như vậy không thể để cho mẫu thân nhìn thấy, chạy nhanh, chạy nhanh, xuống dưới các tạm lánh một lúc trước đã.

Trương Nguyên bị Vương Tĩnh Thục nói như vậy, vội vàng kéo tay Vương Anh Tư, hai người trốn xuống dưới cột gỗ của Mốc các. Mộc các này được xây dựng nửa trên bờ, hai cái cột đá phía trước chống trong nước, dưới các có một góc nhỏ có thể trú ẩn.

Vũ Lăng đáng thương, nhảy loạn lên như con ruồi không đầu, chỗ đứng dưới Mộc các có hạn, thiếu gia và Vương nhị tiểu thư ở bên trong, hắn không tiện chen vào, tìm bên trái bên phải mà không thấy chỗ trốn, cuối cùng nhảy xuống nước "Bùm" một cái, ôm cột đá kia, còn chưa thở một hơi thì chợt nghe thấy mặt trên tấm ván gỗ vang lên tiếng "Thịch thịch", có đứa bé đã chạy tới hỏi:

A, cái gì rơi xuống nước vậy, có tiếng bùm một cái?

Vương Tĩnh Thục nói:

Ta đã ném một tảng đá.

Đứa nhỏ hỏi:

Đại tỷ tỷ ném cá ư, ném được cá không, đệ tới gần nước xem một chút.

Vương Tĩnh Thục kéo lại nói:

Không được tới gần, giờ trời tối, sẽ có quỷ dưới nước, nếu trẻ con đến gần nước, quỷ nước liền nhảy lên kéo xuống nước, có sợ không?

Đây không biết là đệ đệ nào của Anh Tư, sợ chết khiếp, vội hỏi:

Sợ, rất sợ, đại tỷ tỷ, đệ không đến gần nước nữa.

Cách một tầng tấm ván gỗ, ở góc tối âm u dưới Mộc các Vương Anh Tư nghe tỷ tỷ dọa đệ đệ, không nhịn được cười, tựa lên vai trái của Trương Nguyên, cố nhịn. Dưới Mộc các hẹp, hai người trốn ở bên trong phải ở cùng với nhau, nghe thấy trên đỉnh đầu Vương Tĩnh Thục nói:

Đệ đệ ngoan, không tới gần nước thì sẽ không sao. Mẫu thân tới rồi sao?

Tiếng bước chân trên sàn Mộc các lộn xộn, một đám người đã đến. Một lão phụ nói nói:

Trời tối rồi, sao vẫn còn đang câu cá, Anh Tư đâu?

Vương Tĩnh Thục nói:

Anh Tư về các rồi ạ, con cũng đang định về, mẫu thân, chúng ta về đi, phải ăn cơm tối nữa.

Một đứa bé hơn mười tuổi đứng ở Mộc đài nhìn xuống nước. Nói:

Hai tỷ tỷ hôm nay chả thấy câu được con cá nào.

Chương 319: Cuộc sống nở rộ (3).

Vũ Lăng ôm cột gỗ ở dưới nước khẩn trương lặn xuống, lặng lẽ chuyển sang cột đá bên cạnh, như vậy từ Mộc đài nhìn xuống sẽ không thấy y.

Vương Tĩnh Thục vội vàng kéo tiểu đệ này trở về. Nói:

Mẫu thân, phải xây một lan can bảo vệ quanh Mộc đài này, nếu không thì có chút nguy hiểm.

Vương phu nhân nói:

Lan can bảo vệ cũng không ăn thua đâu, chúng nó càng giỏi trèo đó. Nhưng không sao, xây thì xây một cái vậy.

Sắc trời vào thu, hoàng hôn phủ xuống cực nhanh. Trương Nguyên lên bờ khi trời vẫn còn sáng, một lúc trôi qua thế mà trời đã đen kịt rồi, góc dưới Mộc các càng tối, mùi quần áo ướt, hơi thở có chút gấp gáp, vì kích thích khác thường mà thân thể hơi run, không khí mờ ám mãnh liệt, làm ai cũng không thể tự kềm chế được.

Trương Nguyên như sợ lạnh, ôm chặt Anh Tư sư muội đang tựa vào trong lòng ngực của hắn. Nghe thấy Anh Tư thỏ thẻ một tiếng, hai tay đưa lên ôm lấy cổ của hắn, kiễng mũi chân, thanh âm rất nhỏ nhưng lại có thể nghe thấy rõ ràng.

Sư huynh

Ừ?

Hôn muội đi.

...

Không biết sẽ có vị gì, muội muốn sư huynh hôn muội.

Trong tình cảnh này, ý loạn tình mê, Trương Nguyên hơi hơi cúi đầu, đôi môi nóng rực ấn xuống, không kìm nổi liền hơi đưa đầu lưỡi lên, đinh hương thầm qua, giằng co không ngớt...

Tiếng người trên sàn gác đã xa, Vũ Lăng bò lên giống quỷ nước, hai người trong góc tối không có tiếng động gì, Vũ Lăng khẽ kêu một tiếng:

Thiếu gia.

Lúc này mới nghe thấy tiếng thiếu gia thở gấp, còn có tiếng thở gấp của Vương nhị tiểu thư, Vũ Lăng không khỏi suy nghĩ:

"Thiếu gia và Vương nhị tiểu thư đang làm gì, đột nhiên lúc chả có tiếng gì giờ lại có, vừa nãy đều đang nén giận sao?

Đây là cảnh mà một thiếu niên không thể tưởng tượng ra được.

Trương Nguyên kéo tay Vương Anh Tư đi ra, cảm giác tay của Anh Tư đang run, không chỉ có tay, cả người đều đang run rẩy. Trương Nguyên cũng không để ý Vũ Lăng ngay tại bên cạnh, ôm lấy Anh Tư, hỏi:

Sư muội, sao vậy, lạnh sao?

Người Vương Anh Tư nóng như lửa, lắc đầu nói:

Không lạnh, trong lòng vui, ừ, hoá ra là như thế.

Trương Nguyên im lặng, vừa đau lòng vừa bất lực.

Vương Anh Tư kéo tay Trương Nguyên nói:

Sư huynh không nên suy nghĩ nhiều, chuẩn bị thi hương cho tốt, sư huynh đã nói rồi, sư huynh đỗ chính là muội đỗ.

Lại nói:

Có một chuyện muốn nói cho sư huynh, gần đây muội tìm được vài bài thi rớt của bát cổ danh gia trong kì thi Hương và kỳ thi mùa xuân, phát hiện trong đó có một điểm giống nhau, chính là bảy câu thủ tràng ưu điểm và khuyết điểm không đều. Khi làm thủ nghệ của câu thứ nhất lúc đó tinh thần tốt nhất, tất nhiên là làm tốt nhất. Câu thứ hai có hứng với tuỳ bút, viết đến câu thứ ba tinh thần đã không liền mạch rồi. Thời gian lại gấp, dù không có tinh thần cũng phải làm, cho nên làm đã không tốt. Muội nhớ phụ thân từng nói với muội, có ít người khi thi làm xong câu thứ nhất sau đó làm câu thứ ba, rồi trở về làm câu thứ hai, bình thường phòng quan chỉ xem ba câu đầu trong tất cả bảy câu thủ tràng, bởi vì đều là những người từng trải qua khoa cử, biết bốn câu sau không còn đủ tinh thần, trình độ ngày càng đi xuống cũng là chuyện bình thường, không có gì đáng xem, chỉ đánh giá ba câu đầu. Cha muội nói năm đó đi thi cha vẫn còn trẻ, không cảm thấy giúp đỡ được gì, nhưng đối với vài thí sinh lớn tuổi, biện pháp này rất hữu dụng đấy, phòng quan chấm bài thi nhìn câu thứ nhất tinh thần sung mãn, lại xem tiếp câu thứ hai, câu thứ hai làm kém hơn một chút, xem như ngắt đoạn một chút, đến câu thứ ba, lại thấy làm rất tốt, tự nhiên tinh thần phấn khích, như thế là được rồi.

Trương Nguyên nghe xong cười thành tiếng, bí quyết khoa cử này thật sự là có ở khắp mọi nơi, thay đổi trình tự viết văn như vậy có thể thay đổi vận mệnh của thí sinh, nhìn vớ vẩn như vậy nhưng trong đó bao hàm sự nắm bắt một cách chính xác tâm lý tinh tế của những viên quan chấm bài thi.

Những lời này Vương Anh Tư vốn có thể viết thư nói cho Trương Nguyên, lúc này lại vội vàng vội nói ra là vì muốn xua tan mới bầu không khí mờ ám vừa rồi.

Lại vang tới tiếng bước chân, Vũ Lăng thò đầu ra nhìn thấy, nói:

Là Vương đại tiểu thư, còn có một tiểu nha hoàn.

Vương Anh Tư nắm chặt tay Trương Nguyên một chút, nói:

Sư huynh, Chúc sư huynh thi Hương, thi Hội đỗ liên tiếp, sư huynh nhất định sẽ trúng.

Trương Nguyên "Ừ" một tiếng:

Làm bài hết sức, không để phải tiếc nuối.

Vương Tĩnh Thục đã tới, nói:

Anh Tư, nhanh về thay quần áo đi, Trương công tử, đây là áo của phụ thân ta, ngươi mặc đi.

Nói xong, cởi chiếc áo choàng trên người Vương Anh Tư ném cho Vũ Lăng, khoác một chiếc áo khác lên cho Anh Tư.

Tiểu nha hoàn kia đưa áo cho Trương Nguyên, rồi đỡ Vương Anh Tư đi về.

Trương Nguyên mặc áo vào, nghe Vương Tĩnh Thục thấp giọng nói:

Trương Giới Tử, ngươi đường đường nam tử mà không nghĩ ra được cách nào sao? Chẳng lẽ muốn để cho Anh Tư muội của ta tiều tụy cả đời vì ngươi?

Vương Anh Tư quay đầu lại gọi một tiếng:

Tỷ tỷ.

Vương Tĩnh Thục cười cười, nói với Trương Nguyên:

Chúc Trương công tử thi Hương đỗ cao.

Quay người đi theo Vương Anh Tư.

Khi Trương Nguyên và Vũ Lăng ra cửa chính Tị viên, tên giữ vườn rất kinh ngạc, Trương Nguyên không đợi hắn hỏi, đã nói:

Ta nghĩ rằng Vương lão sư đã trở về, nhưng lại vẫn chưa về. Lão Quản, lúc nãy khi ta vào không gặp ông đó?

Lão giữ vườn họ Quản kia bị Trương Nguyên nói như vậy, có chút mơ hồ, thầm nghĩ:

"Có lẽ Trương công tử vào vườn lúc ta nghỉ tay."

Nhìn theo chủ tớ Trương Nguyên đi ra, lại thấy một tiểu tỳ cầm một chiếc đèn lồng đuổi tới, kêu lên:

Trương công tử chờ một chút đã.

Tiểu tỳ giao đèn lồng cho Trương Nguyên, thở hồng hộc nói:

Nhị tiểu thư đưa cho Trương công tử để soi đường, Trương công tử đi đường núi cẩn thận.

...

Mười tám tháng bảy, trăng chưa lên, Trương Nguyên và Vũ Lăng mượn ánh đèn lồng đi về. Khi lên đến đường núi Thiên Ngoã am, trăng đã lên, hình bầu dục, sáng ngời, giống như một chiếc đèn lồng vậy.

Trương Nguyên đột nhiên cất giọng hát:

Ta muốn cuộc sống nở rộ, tựa như được bay lượn trên không trung rộng lớn, tựa như đi xuyên qua cánh đồng bát ngát khôn cùng, có sức để vẫy vùng; ta muốn cuộc sống nở rộ, tựa như trên đỉnh cầu vồng đứng sừng sững, tựa như đi xuyên qua ngân hà rực rỡ, có sức mạnh siêu phàm.

Vũ Lăng nghe không hiểu ca từ có ý nghĩa gì, chỉ cảm thấy bài hát này thật dễ nghe, nghe rất vui, trong lúc vô ý nhìn lên đỉnh Lư Hương, bất ngờ kêu lên:

Thiếu gia, mau nhìn đi, đó là cái gì?

Khi Trương Nguyên ngẩng đầu nhìn, thấy mấy chục ngọn đuốc, như con rết lửa bò lên con đường núi quanh co, còn nghe được tiếng rít mơ hồ.

Sau khi Trương Đại, Kỳ Bưu Giai làm xong năm quyển sách luận, cũng chuẩn bị lên đỉnh Hương Lô xem mặt trời lặn, Chu Mặc Nông còn có một quyển chưa làm xong, kêu hai người kia đợi hắn, Trương Đại nói:

Đợi đệ? Chờ đệ xong thì lúc đấy trăng lên mất.

Chu Mặc Nông dùng cán bút gãi cổ nói:

Vậy thì lên đỉnh Hương Lô ngắm trăng, dù sao bây giờ đi lên cũng không kịp nhìn thấy mặt trời lặn.

Trương Đại ngẫm lại cũng có lý, liền đi pha một bình trà, thưởng trà cùng Kỳ Bưu Giai đợi Chu Mặc Nông. Đợi được nửa canh giờ, bầu trời trước mắt đen kịt rồi, Lai Vượng có chút hớt hải, tiến vào nói với Trương Đại:

Tông Tử thiếu gia, thiếu gia nhà tiểu nhân và Tiểu Vũ lên đỉnh núi giờ vẫn chưa về.

Kỳ Bưu Giai nói:

Ta nghe các tăng ở đây nói trong núi này có hổ.

Hả.

Lai Vượng sốt ruột:

Nếu như thiếu gia gặp hổ thì phải làm sao!

Trương Đại nói:

Núi này làm gì có hổ, ta đi hỏi trưởng lão.

Hỏi Hoàn Sơn trưởng lão, Hoàn Sơn trưởng lão nói dù chưa thấy hổ bao giờ, nhưng chắc chắn đã từng nghe được tiếng hổ gầm. Hổ từ núi Hội Kê đến kiếm ăn, nghe nói dưới chân núi người ta thường bị mất lợn sữa, chó, chắc chắn là bị hổ ăn thịt.

Trong phút chốc Trương Đại cũng có chút luống cuống, Hoàn Sơn trưởng lão an ủi:

Mặc dù có hổ thật nhưng hổ cũng chỉ ở dưới chân núi kiếm ăn, trên đỉnh núi Hương Lô không có đâu. Ngắm trăng ư, nhưng trời tối rồi, Giới Tử tướng công không mang theo đèn lồng, xuống núi sợ lạc đường trượt chân, mau cho người đi tiếp ứng.

Trương Đại, Chu Mặc Nông liền tụ tập nô bộc, tính cả các tăng trong am tổng cộng là mười bốn người, cầm đuốc, côn gỗ, cồng chiêng, đi lên con đường núi quanh co, vừa đi đường vừa đánh cồng, một là để dọa cho hổ chạy, hai là để Trương Nguyên nghe được. Nhưng đi mãi lên tới đỉnh núi Hương Lô rồi cũng không thấy bóng dáng hai chủ tớ Trương Nguyên đâu. Chỉ thấy một vầng trăng sáng chiếu lanh lảnh, trong núi nhiều cỏ cây, vách núi có những hòn đá kì dị, dưới ánh trăng chỗ này giống như đang cất giấu yêu ma quỷ quái, tất cả mọi người đều sởn tóc gáy, ngơ ngác nhìn nhau.

Dưới ánh trăng cảnh núi âm u, nhìn ra ngoài, thật đáng sợ.

...

Trương Nguyên và Vũ Lăng từ Tị viên đi ra, vòng tới phía nam núi, trèo lên Thiên Ngoã am. Tới sơn môn, đột nhiên nhìn thấy những cây đuốc trên đường núi, nghe được tiếng cồng vang lên, Trương Nguyên cười nói:

Đại huynh và bọn họ đang tìm chúng ta.

Tiếng cồng vang to, Vũ Lăng cũng gọi theo, nhưng trong khoảng không của núi, con rết lửa ở đường núi cách nơi này hai dặm đường, làm sao nghe thấy được, mắt thấy những ngọn đuốc đó xoay quanh rồi đi lên đỉnh Hương Lô.

Lão tăng Hoàn Sơn đã nghe được tiếng Trương Nguyên hét rồi, cầm một chiếc đèn lồng ra đón, xoa xoa đôi mắt nói:

Sao Giới Tử tướng công sao ở dưới chân núi thế?

Trương Nguyên cười nói:

Ta cũng không biết làm sao mà vòng được tới bên này.

Không nói nhiều, cầm theo đèn lồng đi lên đường núi, đi đón Đại huynh và mọi người.

Chương 320: Hủy hoại và danh dự .

Sáng ngày kế, Lai Phúc và Tây Trương Phùng Hổ tới Thiên Ngoã am, nói thành Hội Kê đồn đại rằng đêm qua canh Đinh, có mười mấy ngọn đuốc, đạo tặc hơn trăm người, qua Trương công lĩnh, kinh động đến Từ Thái Thú. Không biết đám đạo tặc kia có đến am quấy rầy hay không?

Trương Đại cười to, nói với Trương Nguyên:

Giới Tử. Chúng ta không bị coi là sơn tặc trói Hiến thái thú, thật may mắn nhỉ.

Chu Mặc Nông, Kỳ Bưu Giai cười rộ lên, chuyện xảy ra đêm qua có chút kì lạ, vậy cũng coi như là ngắm trăng trên đỉnh Hương Lô rồi.

Hai mươi lăm tháng bảy cũng là ngày bốn người chấm dứt đọc sách ôn tập ở Thiên Ngoã am. Chủ khảo quan khoa thi Hương ở Chiết Giang năm Ất Mão Tiền Khiêm Ích đi thuyền từ Đại Vận Hà ở Kinh Hàng rồi tới Vô Tích, đặc biệt lên bờ thăm hỏi Trâu Nguyên Tiêu và Cao Phan Long ở thư viện Đông Lâm, mục đích là hỏi suy nghĩ của hai người Trâu, Nguyên về Trương Nguyên?

Trung tuần tháng sáu, Tiền Khiêm Ích chính thức được Lễ Bộ và Lại bộ bổ nhiệm làm chủ trì khoa thi Hương Chiết Giang Ất Mão. Ngay trước đêm ông rời kinh, Đổng Kỳ Xương đang ở trong kinh thành đến thăm ông. Đổng Kỳ Xương ốm đau nửa năm, cuối năm trước bệnh tình chuyển biến tốt hơn, ở Hoa Đình không còn mặt mũi nào gặp ai, chuyển nhà đến kinh thành, sống ở ngoài Sùng Văn môn bên sông Bào Tử.

Đổng Kỳ Xương và Tiền Khiêm Ích đã quen biết nhau từ lâu, Đổng Kỳ Xương là tiền bối, Tiền Khiêm Ích tất nhiên là tôn kính lão ta, việc sĩ tử Hoa Đình đảo Đổng Tiền Khiêm Ích cũng biết, nhưng không phải chuyện bản thân trải qua, lại không bị liên lụy trong đó, tất nhiên là sẽ chịu ảnh hưởng của một bên, hơi ghét Trương Nguyên. Hắn lấy thân phận là một sinh đồ cổ động sĩ tử làm cho một địa chủ lớn không còn nhà để về, Đổng Kỳ Xương còn nói Trương Nguyên nhân lúc cháy nhà cướp của, lấy hết tất cả của cải lão ta tích tụ nửa đời, vàng bạc của cải không nói làm gì, trong đó còn có một số lượng lớn đồ cổ và thi họa, “Hoàn kỳ biểu”, “Lực mệnh thiếp”của Chung Diêu, “Tiêu tương đồ”, “Vân sơn đồ” của Đổng Nguyên, “Khê sơn hành lữ đồ”, “Tuyết sơn đồ” của Phạm Khoan, còn có không ít bút tích của Tô Hoàng Mễ Thái và nhiều thư hoạ của các danh gia thời Minh, Nguyên đều bị Trương Nguyên lấy mất.

Tiền Khiêm Ích cũng đam mê sưu tập sách cổ, thi họa, nghe Đổng Kỳ Xương vừa nói vậy, buồn bực nói:

Làm gì có lí đó, vì sao Huyền Tể công không tố cáo Trương Nguyên kia?

Đổng Huyền Tể thở dài:

Lời đồn đáng sợ, Trương Nguyên kia giỏi mê hoặc dân chúng, lợi dụng trái tim của điêu dân ghẹn tị với nhà giàu, thù quan khiến cho Đổng thị ta ở Hoa Đình không thể sống yên ổn. Ta lại ốm đau, không thể cùng hắn nói lí lẽ nên đành thôi. Tuy vậy ta vẫn phải nói, Trương Nguyên này có tài học.

Nói tới đây lão dừng lại một chút, chợt nghe Tiền Khiêm Ích tiếp lời nói:

Có tài mà làm chuyện ác, xưa nay hạng người gian ác, phần lớn là loại tài hoa hơn người, nói không xa, Nghiêm Đông Lâu kia chẳng phải là tài tử ư, nhưng hạ bút ngàn ngôn.

Dù sao thì Tiền Khiêm Ích tuổi trẻ ngạo mạn, Đổng Kỳ Xương cảm thấy mừng thầm, phụ họa nói:

Tiền Hàn lâm nói rất đúng, Trương Nguyên này lại lập ra Hàn Xã, tự mình làm minh chủ, tháng ba Thiệu Hưng Hàn xã tụ tập, không ngờ có hơn một ngàn xã viên, thanh thế không nhỏ, tuyên bố Hàn Xã xã viên của hắn phải có năm Ngũ kinh khôi trong kì thi Hương Chiết Giang năm nay.

Thi hương phải phân phòng chấm bài thi theo Ngũ kinh, mỗi kinh chọn ra một người đứng đầu, gọi là Ngũ kinh khôi, giải Nguyên sẽ chọn trong năm Ngũ kinh khôi này.

Thực ra từ lúc Đổng Kỳ Xương bước vào cửa, Tiền Khiêm Ích đã phần nào đoán được ý định của lão rồi. Từ lúc Lễ Bộ truyền chỉ y chủ trì thi Hương Chiết Giang tới nay, lần lượt có những thân hào địa chủ Chiết Giang đang sống ở kinh thành đến nhờ vả cho con cháu, bạn bè, có tặng bạc, có tặng đất nhưng Tiền Khiêm Ích đều khéo léo từ chối. Đổng Kỳ Xương này không phải tới nhờ vả cho con thứ của hắn, mà là tới bôi xấu Trương Nguyên.

Tiền Khiêm Ích cười nói:

Hàn Xã có nhân tài như vậy ư, ta đây mỏi mắt mong chờ.

Nói đến chuyện thi Hương, y liền ậm ờ từ chối.

Đổng Kỳ Xương cũng không nói thêm chuyện về Trương Nguyên nữa, ngừng lại một chút rồi ra lệnh cho tên người hầu đi theo trình lên một hòm sách, nói:

Trong này có vài bức tranh và bản viết tay kinh Phật, mời Tiền Hàn lâm góp ý.

Vừa nói, vừa mở ra, lấy ra một bức tranh, chính là bức tranh của lão "Yên giang điệp chướng đồ".

Tiền Khiêm Ích liền nói "Nào dám" rồi cung kính thưởng thức, khen:

Huyền Tổ công bức họa này cấu tứ đẹp kì lạ, mực nhuộm mây trôi, thiết kế màu sắc giống như Đường nhân Lý Tư dạy dỗ nhưng trò giỏi hơn thầy, thực sự khiến tại hạ rất khâm phục.

Đổng Kỳ Xươngcười nói:

Tiền hàn lâm quả thật là tri âm của Đổng mỗ.

Nói vài câu chuyện phiếm rồi cáo từ.

Tiền Khiêm Ích tiễn Đổng Kỳ Xương về, lại lật hòm sách kia ra xem, ngoại trừ bức "Yên giang điệp chướng đồ" vừa mở ra là bút tích của Đổng Kỳ Xương, còn lại tất cả đều là danh họa và sách cổ bản tốt nhất đời Tống, Nguyên, có thi họa của cha con Mễ Phất, Triệu Tùng Tuyết, Hoàng Công Vọng. Về phần sách cổ Tiền Khiêm Ích lại càng yêu thích, từ lúc hai mươi Tiền Khiêm Ích đã tìm kiếm sách đời Tống, đời Nguyên, lúc này Đổng Kỳ Xương đưa tới những bản khắc Tống, Nguyên, thích đến nỗi không muốn buông tay.

Nếu như Đổng Kỳ Xương đưa khế ước, vàng bạc, vậy thì Tiền Khiêm Ích sẽ lập tức từ chối. Thường Thục Tiền thị, gia tài bạc triệu, còn khinh bỉ kẻ hối lộ, nhưng cổ họa này lại là sở thích của Tiền Khiêm Ích, muốn kêu người hầu khiêng hòm sách này đuổi theo trả lại Đổng Kỳ Xương, rồi lại không nỡ, nghĩ thầm rằng:

"Ừm, giờ mà trả lại thì sẽ không nể mặt Đổng Huyền Tổ, ta tạm giữ lại thưởng thức, lần sau hồi kinh sẽ trả lại. Còn về phần nói muốn cho Trương Nguyên thi Hương rớt, khoa trường không rõ tên, sao chép, quy chế nghiêm khắc, tuy ta là Tổng tài, nhưng cũng không thể quyết định ai đỗ ai trượt, ở trường thi không bàn đến chuyện nhân phẩm có ưu điểm khuyết điểm gì, chỉ quan tâm tài chế nghệ cao thấp.

Nhưng trong lòng có một chuyện luôn thắc mắc, nghe nói khi Sơn Âm Hàn Xã tập hợp, Trâu Nguyên Tiêu và Cao Phan Long từng tham dự, cho nên tới Vô Tích rồi, Tiền Khiêm Ích liền tới Đông Lâm thăm hỏi hai người Trâu, Nguyên. Lúc này thư viện Đông Lâm yên lặng, phần lớn đám học sinh tứ phương đã về quê của mình để chuẩn bị thi Hương. Khi Tiền Khiêm Ích còn trẻ đã từng cầu học Cố Hiến Thành, sau bái Thái Thương đại nho Quản Đông Minh làm thầy. Tiền Khiêm Ích dù chưa tham dự dạy học cùng Đông Lâm nhưng cũng có quan hệ sâu xa với Đông Lâm, Tiền Khiêm Ích hỏi hai người Trâu, Nguyên những kẻ sĩ có tài ở Chiết Giang?

Trâu Nguyên Tiêu cười nói:

Tiền Tổng tài muốn chọn môn sinh trong các sĩ tử Chiết Giang ư, ta đưa ra ba cái tên, Tiền tổng tài nhất định phải chọn lấy ba người này, chắc chắn sẽ làm nổi danh ngài.

Tiền Khiêm Ích liền hỏi:

Không biết Nam Cao tiên sinh muốn đề cử ba người nào?

Trâu Nguyên Tiêu nói:

Sơn Âm Trương Nguyên, Dư Diêu Hoàng Tôn Tố, Gia Thiện Ngụy Đại Trung, ba người này chắc chắn sẽ đem lại vinh quang cho thầy của chúng.

Tiền Khiêm Ích nói:

Ta nghe nói Sơn Âm Trương Nguyên hành sự quá sắc sảo, tài danh là có, không phải chê trách.

Trâu Nguyên Tiêu nói:

Là vì việc của Đổng Huyền Tổ ư, cái này ta tưởng Đổng Huyền Tổ không thể dạy dỗ được con cháu và gia nô của ông ta nên mới gặp tai họa.

Cao Phan Long nói:

Tiền Biên Tu cũng chớ quan tâm những lời nói không đâu, trong trường thi chỉ quan tâm đến chế nghệ, nếu như vậy thì sẽ không mập mờ, văn tốt, kinh thế trí dụng thì chọn.

Tiền Khiêm Ích gật đầu nói:

Cảnh Dật tiên sinh nói đúng.

Tiền Khiêm Ích không dám nghỉ đêm ở thư viện Đông Lâm để tránh nghi ngờ, đi thuyền suốt đêm đến Hàng Châu.

...

Hai mươi sáu tháng bảy, 165 sinh đồ ở Sơn Âm đỗ kì thi cuối tháng năm lấy được tư cách thi Hương tập trung tại Huyện Nho Học, nghe Lưu huyện lệnh và Tôn giáo thụ phát biểu, Lưu huyện lệnh còn cho mỗi vị thí sinh hai lượng bạc, các thí sinh ai nấy đều đeo dải lụa đỏ, hăng hái đi ra khỏi nho học trong tiếng chiêng trống. Đây là điều mà trên huyện làm vì thí sinh, thi Hương không như thi phủ, thi đạo, nếu đỗ, con người lập tức có giá trị gấp trăm lần, có thể tuyển quan, có thể tham gia thi Hội vô kỳ hạn, địa vị xã hội này tú tài không thể bì được.

Anh họ hơn sáu mươi tuổi kia của Thương Đạm Nhiên từng nói muốn cùng Trương Nguyên đi thi, ông hướng dẫn cho Trương Nguyên một ít quy đinh, nhưng lần khoa khảo này vị lão tú tài lại đỗ bậc ba, không có tư cách đi thi, không thể hướng dẫn cho Trương Nguyên rồi.

Anh của Vương Anh Tư, Vương Bính Lân thi được bậc hai. Ngày hai mươi sáu hôm đó đến Sơn Âm hỏi Trương Nguyên khi nào khởi hành tới Hàng Châu. Anh ta muốn đi cùng Trương Nguyên, lại thuận miệng nói muội muội Anh Tư của anh ta bị bệnh mấy ngày rồi, hôm qua mới hết sốt hẳn. Trong lòng Trương Nguyên biết là do lần trước Anh Tư sư muội rơi xuống nước ướt quần áo không thay quần áo ngay nên mới bị cảm phong hàn, may mà đã khỏi, hắn vốn muốn đi thăm, nhưng lại nghe Bính Lân sư huynh nói hiện Anh Tư đã trở về Thành Trung phủ, hắn không tiện tới thăm liền sai Vũ Lăng mang tặng một giỏ táo và hai hộp mật ong.

Trường thi Hàng Châu ở phía đông bắc Tây Hồ, phía nam Vận Hà. Tên con đường bên cạnh trường thi là phố Thanh Vân, thí sinh không quen bạn hay có người thân ở tỉnh phải đi thuê chỗ ở thường chọn ở tại con đường này, cách trường thi gần, làm thủ tục thuận tiện. Còn nữa, con đường này mang danh là phố Cát lợi, danh đăng ất bảng, bình bộ thanh vân, đây chẳng phải là nguyện vọng của thí sinh sao?

Chương 321: Lên đường.

Hàng Châu vào tháng tám, tất cả các nhà trọ lớn nhỏ kinh doanh rất thịnh vượng. Chả cần phải nói, hộ dân nào có phòng trống, cũng thường dán một tấm giấy đỏ ở trước cửa, rao đủ mọi lời tốt đẹp như "An ngụ thu nguyên" để thu hút sĩ tử vào ở. Nếu sĩ tử nào trẻ tuổi phong lưu, chủ nhà lại có thê thiếp xinh đẹp hoặc khuê nữ tuổi thanh xuân, có khi sẽ phát sinh một chút lộ thủy nhân duyên, nếu không cẩn thận bại lộ, hoặc việc xấu trong nhà không thể truyền ra ngoài, hoặc dắt nhau đến công đường bồi thường bạc, hoặc đã bỏ trốn cao chạy xa bay, đây đều là chuyện thường xảy ra. Mỗi lần thi Hương xong, ngõ khúc uốn lượn, có rất nhiều đề tài phong tình, cũng có nhà tiểu thuyết gia tưởng tượng nên "Hạnh Hoa Thiên", "Vu sơn diễm sử" các loại tiểu thuyết tình yêu để kiếm tiền.

Tri giao cố cựu của Trương Nhữ Lâm ở Hàng Châu rất nhiều, Trương Nguyên, Trương Đại muốn thuê phòng bỏ ra chút tiền là được, nhưng hai người lại không có ý định đi thuê phòng, cũng không tới phố Thanh Vân, bọn họ tính ở trên thuyền, trên thuyền càng tiện hơn. Trương Đại chuẩn bị một chiếc thuyền Tứ Minh Ngõa, Thương Chu Đức mượn một chiếc thuyền Tam Minh Ngõa cho em rể Trương Nguyên tới Hàng Châu đi thi.

Hai mươi bảy tháng bảy, Hoàng Tôn Tố, Nghê Nguyên Lộ đi tới Sơn Âm cùng Trương Đại, Trương Nguyên tụ hợp, còn có Kỳ Bưu Giai, Chu Mặc Nông và Vương Bính Lân. Nghê Nguyên Lộ tự chuẩn bị thuyền, Kỳ Bưu Giai, Hoàng Tôn Tố ở trên thuyền Tứ Minh Ngõa của Trương Đại. Vương Bính Lân và Trương Nguyên ở cùng thuyền.

Sáng ngày hai mươi tám, ba chiếc thuyền nối đuôi nhau rời khỏi cầu Bát Sĩ, trên bờ thân hữu đến tiễn đưa cùng hô lên chúc phúc:

Hương vi tấu tiệp, hỉ đăng hiền khoa

Đầu cầu đốt pháo kêu "Lốp bốp".

Trương Nguyên đứng ở đuôi thuyền, dưới ánh dương chính ngọ, đầu cầu dâng lên một màn sương khói pháo, thầm nghĩ:

“Khoa cử thủ sĩ, thi hương mới là mở đầu. Lúc trước thí sinh chỉ là vì đạt được tư cách tham gia thi hương mà thôi, thi hương thi đậu, mới có thể xưng thân sĩ."

Lại nghĩ:

"Ta danh thanh tại ngoại, thời gian không đợi ta, lần thi hương này không thể để vuột mất.”

Trương Nguyên có niềm tin vào bát cổ văn của chính mình. Nếu không có gì xảy ra thì trúng cử là chuyện không nói chơi. Tộc thúc tổ Trương Nhữ Lâm nhìn các bài văn hắn làm ở Thiên Ngõa am, cũng cho rằng hắn lần này tất trúng, nhưng trong trường thi có rất nhiều nhân tố quyết định vận mạng của một người. Trương Nguyên không dám có bất kỳ sơ suất nào. Nói là lo nơm nớp cũng không đủ, tự tin cũng không thể thiếu, nhưng thái độ cẩn thận mới bảo đảm thành công.

Mục Chân Chân đứng bên Trương Nguyên, im lặng như thể sợ mình sẽ cười ra tiếng. Cô thích nhất là theo thiếu gia ra ngoài. Lần này đi Hàng Châu, thiếu gia vốn không có ý định mang cô đi theo, thái thái Lã Thị lại lệnh cho cô đi theo hầu hạ thiếu gia, dặn dò cô phải cẩn thận đề phòng, chớ để thiếu gia bị thương.

Trong mắt Trương mẫu Lã thị, hai năm qua đứa con này chọc vào không ít chuyện, Diêu gia, Đổng gia đây đều là các nhà có thì oán với con trai. Lần trước Diêu gia không phải thuê người ở bến tàu Vận Hà Hàng Châu muốn đánh gãy chân Trương Nguyên đó ư, nhi hành thiên lý mẫu đam ưu, cho nên nhất định phải sai Mục Chân Chân đi theo, tiểu bàn long côn cũng mang, như vậy bà mới yên tâm phần nào.

Cười cái gì, Chân Chân, nhặt được tiền sao?

Trương Nguyên quay đầu nhìn Mục Chân Chân, thiếu nữ mười bảy tuổi này dáng người cao gầy, cao khoảng 1m74, cũng gần bằng hắn, đang nở một nụ cười lay động trái tim.

Mục Chân Chân nghe Trương Nguyên nói nhặt được tiền, không nhịn được cười khanh khách ra tiếng, nói:

Nhặt được của rơi, toàn bộ sẽ giao cho thiếu gia.

Nói xong, mở bàn tay ra, trong lòng bàn tay thật là có hai đồng tiền vàng sáng choang.

Trương Nguyên kỳ lạ:

Đúng thật là nhặt được tiền rồi. Không đúng, ngươi lấy đồng tiền từ bên hông, tay chân nhanh nhẹn thật đấy.

Mục Chân Chân cười, nói tránh đi:

Thiếu gia sau kỳ thi lần này có phải sẽ tới kinh thành không?

Trương Nguyên "hừ" cười, hắn biết ý của Mục Chân Chân. Mục Chân Chân chính là muốn vào kinh thăm phụ thân Mục Kính Nham của cô, Mục Chân Chân tưởng rằng Diên An vệ ở ngay cạnh kinh thành. Hắn nói:

Nếu thi hương rớt, vậy còn tới kinh thành làm gì.

Mục Chân Chân nói:

Sẽ không đâu, thiếu gia làm sao rớt được, thiếu gia nhất định có thể đỗ cao.

Trương Nguyên nói:

Ừ, đỗ cao rồi sẽ dẫn ngươi tới kinh thành, tuy nhiên có thể gặp phụ thân ngươi hay không cũng không nói chắc, Diên An vệ cách kinh thành cũng có ba nghìn dặm thôi.

A.

Mục Chân Chân há to miệng:

Xa như vậy sao!

Tuy nhiên rất vui sướng khi thiếu gia đồng ý mang cô vào kinh, cách chỗ phụ thân gần hơn một chút, không phải sao.

Bởi vì Trương Nguyên dẫn theo Mục Chân Chân, Trương Đại cũng dẫn theo Tố Chi, nói là cho làm bạn với Mục Chân Chân.

Thuyền đến bến tàu nhỏ bên Hạnh Hoa tự của Hội Kê, Vương Bính Lân dẫn theo hai người hầu một già một trẻ đã ở trên bến tàu chờ. Vợ Phùng thị và Vương Tĩnh Thục, chị em của Vương Anh Tư đều ngồi kiệu đến đưa tiễn. Trên bến tàu người qua lại, ở bên trong kiệu cũng tiện hơn, bên cạnh Phùng thị có một bà vú ôm đứa trẻ, đây là đứa con mới sinh năm trước của Vương Bính Lân.

Trương Nguyên nhảy lên bờ, hành lễ với Vương Bính Lân, ánh mắt nhìn về phía hai chiếc kiệu kia, Vương Bính Lân liền nói:

Tĩnh Thục tỷ và Anh Tư muội ở bên đó.

Chỉ về phía bên trái hướng chiếc kiệu.

Trương Nguyên liền đi tới bên cỗ kiệu kia hành lễ, người trong kiệu đi ra, Anh Tư sư muội mặt trái xoan, quả nhiên dung nhan gầy đi một ít, cằm nhọn hơn, tuy nhiên tinh thần vẫn tốt lắm. Đôi mắt to trong trẻo như nắng xuân. Còn nhớ ba năm trước đây, sau lễ vu lan một ngày, hắn ở Giới viên lần đầu tiên gặp Anh Tư đi theo sau thầy Vương, mặc áo đạo ra vẻ thiếu niên thư sinh, đôi mắt to hiếu kỳ nhìn quanh, còn hỏi mượn hắn "Kim Bình Mai". Khi đó Anh Tư linh động, hoạt bát như thiếu niên, không có chút gì thướt tha, yểu điệu. Giờ ba năm đã qua đi, dung mạo, thân thể của Anh Tư muội đã thay đổi, Anh Tư sư muội đã biến thành thiếu nữ mười tám như vậy rồi. Dung mạo của Anh Tư mặc dù không được coi là rất đẹp, nhưng phong trí sở sở, khí chất tuyệt giai, lời nói cử chỉ làm rung động lòng người.

Sư muội khỏe hơn chưa?

Trương Nguyên cúi chào tỷ muội Vương Tĩnh thục, Vương Anh Tư ngồi song song bên trong kiệu.

Bên trong kiệu không tiện đáp lễ, Vương Tĩnh thục và Vương Anh Tư đều là hơi cúi người, làm tư thế vạn phúc, Vương Tĩnh thục mỉm cười không nói, Vương Anh Tư đáp:

Bệnh nhẹ thôi mà, sớm đã khỏi rồi. Giới Tử sư huynh, chớ để mất Giải Nguyên nhé.

Nụ cười của Vương Anh Tư rất trong sáng.

Trên bến tàu người qua lại đông đúc, Trương Nguyên nói:

Nhận cát ngôn của sư muội, không dám không cố gắng.

Khom người lui ra phía sau, cỗ kiệu kia cũng hạ xuống chỉ trong chốc lát.

Lai Phúc và người làm của Vương thị mang hành lý của Vương Bính Lân lên thuyền, Vương Bính Lân nói với thê tử vài câu, vuốt ve khuôn mặt mềm mại nhỏ nhắn của đứa con rồi quay người lên thuyền.

Ba chiếc thuyền nối đuôi nhau qua Tiền Thanh Yển, Tây Lăng, Tiêu Sơn. Buổi sáng mùng một tháng tám qua sông Tiền Đường tiến vào đường sông Đại Vận, theo hướng bắc đi vài dặm, rồi quẹo hướng tây đi được ba, bốn dặm đã thấy bên tả ngạn thuyền ô bồng, thuyền bạch bồng đã đậu dày đặc. Đều là thuyền của thí sinh, không còn chỗ đỗ, ba chiếc thuyền của Trương Nguyên cứ tiếp tục đi về hướng tây, chuyển hướng bắc tìm bờ để xuống. Trên bờ có một hàng cây phong và cây quế, quế tử phiêu hương, phong diệp kim hoàng, Nghê Nguyên Lộ đứng ở đầu thuyền nhìn lên bờ sông, khen:

Nơi này rất tốt, đẹp như tranh.

Bèn đi lấy bút mài mực vẽ tranh. Nghê Nguyên Lộ chính là nhân tài thi họa trẻ tuổi kiệt xuất trong số các sĩ tử ở Giang Nam.

Chỗ đậu thuyền cách trường thi Hàng Châu chỉ có hai dặm đường, cách Học Đạo nha môn có bốn, năm dặm. Sáng sớm hôm sau, Trương Nguyên, Trương Đại, Kỳ Bưu Giai, Vương Bính Lân, Hoàng Tôn Tố, Nghê Nguyên Lộ sáu người tới Học Đạo nha môn báo danh. Giáo thụ, giáo dụ mười một phủ của Chiết Giang đạo đều đến đây, giáo thụ của Thiệu Hưng phủ và giáo thụ của tám huyện cũng tề tụ tại Học Đạo nha môn. Danh sách thí sinh đã đưa lên Học Đạo, giờ thí sinh đến Học Đạo nha môn xem như báo danh, nhất định phải báo danh trước ngày bốn tháng tám, nếu không sẽ không sắp xếp được hào xá và chuẩn bị bài thi. Nhờ người thi hương là chuyện chưa từng nghe tới, dù sao tham gia kỳ thi đều là sinh đồ, ở quê hương coi như là người nổi tiếng, nhờ người thi hộ thì không thể che giấu, cũng không có người nào mình không đi thi lại đến thi thay cho người khác cả, đương nhiên, điểm danh nhận người cũng là bắt buộc, đây là chức trách của giáo thụ, giáo dụ các phủ, huyện, nếu xảy ra sai sót, duy chỉ có giáo thụ, giáo dụ bị hỏi tội.

Giáo thụ Thiệu Hưng phủ dặn dò bọn Trương Nguyên ngày bảy đến trước cửa trường thi xem thí sinh của Thiệu Hưng vào cửa nào, trường thi có ba cửa, thí sinh của phủ nào huyện nào vào cửa nào, lúc nào, sẽ được công bố vào ngày mùng bảy, đây là đề phòng lúc đó người đông hỗn loạn vào nhầm.

Trương Nguyên đến Hàng Châu tham gia thi hương, vốn không muốn giao tiếp cùng những người khác, thầm nghĩ lặng chờ khi Long Môn của cống viện mở ra, nhưng thanh danh là con dao hai lưỡi, hắn là thủ lĩnh Hàn Xã bây giờ muốn yên tĩnh cũng khó. Ở trên thuyền, khách tới thăm không dứt, có khi là Hàn Xã xã viên, có khi là sinh đồ muốn gia nhập Hàn Xã, ngưỡng mộ, bắt chuyện, từ sang đến tối, Trương Nguyên không được rảnh rang chút nào.

Chương 322: Người làm rối lòng ta.

Ngày mùng bảy, sáu người Trương Nguyên tới cửa chính của trường thi xem bố cáo, thí sinh tám huyện của Thiệu Hưng phủ đi cửa Đông vào trường thi, điểm danh vào canh ba bắt đầu đến canh bốn sẽ đóng cửa không được vào nữa.

Nhóm sáu người Trương Nguyên trở lại thuyền, trời bắt đầu mưa tí tách, to hơn đêm trước. Mưa rồi, cuối cùng thì cũng không có ai tới thăm, Trương Nguyên có thể thoải mái một chút, bỏ dùng cơm tối, đến thuyền bạch bồng của đại huynh cùng Đại huynh đánh một ván cờ vây, chơi cờ vây giảm áp lực cho mình. Khúc song này giờ cũng chật ních thuyền của thí sinh. Ba năm đợi một lần, có không ít thí sinh áp lực quá lớn, thất thái, túy tửu, cuồng ca đều có.

Mưa thu rơi xuống mui thuyền, thanh âm hạ cờ, Trương Nguyên lấy cờ vây để làm mình định tâm lại. Hắn nắm giữ thế chủ động của ván cờ, lúc công sát bạch long của Đại huynh chưa hạ sát, khiến bạch long tử lí đào sinh, nghe được Đại huynh làm sống đại long vui vẻ thở phào một hơi, liền mở mắt nói:

Long này sống rồi, cờ của đệ chỉ sợ sẽ thua, Đại huynh, xuống đi.

Trương Đại cũng biết Trương Nguyên dung nhượng, gật đầu nói:

Cũng tốt, vậy tạm nghỉ sớm một chút đi, sang sớm hôm sau sẽ vào thi, chúng ta phải dưỡng tinh thần.

Hai người đang thu quân cờ, chợt nghe đầu thuyền "Bốp" một tiếng, giống như hòn đá bị ném xuống. Năng Trụ và người hầu của Hoàng Tôn Tố lập tức nhảy ra, đứng ở đầu thuyền hướng trên bờ xem. Mưa đêm sương mù, không thấy trên bờ có ai, lại nhìn đầu thuyền, có một hòn đá bọc vải trắng lăn ở góc.

Nghê Nguyên Lộ, Vương Bính Lân, Hoàng Tôn Tố, Kỳ Bưu Giai đều ở Tứ Minh bạch mui thuyền xem đánh cờ. Lúc này thấy người hầu Năng Trụ cầm một mảnh vải bẩn nhăm nhúm tiến vào, Nghê Nguyên Lộ cau mày nói:

Đây là cái gì?

Năng Trụ đem ô vải dâng lên cho Trương Đại:

Bẩm, không biết là ai ném lên thuyền, không thấy người.

Nói đoạn giơ tay trái lên, trong tay nắm một hòn đá cuội, nói:

Nó quấn ngoài hòn đá này, hòn đá, vải.

Không có kéo sao?

Trương Đại cười “hì” một tiếng, thấy tấm vải bẩn , không chịu cầm, nói:

Mở ra cho ta xem.

Năng Trụ ngồi xổm xuống trên sàn nhà mở tấm vải ra, đây là một tấm vải bông màu trắng rộng khoảng nửa thước vuông, trên viết mấy hàng chữ bằng mực đen, hẳn là viết bằng bút bị khô mực, nhưng vẫn có mấy chữ gặp nước bị nhòa ra một chút.

Đêm trước đại hội, thần hồn nát thần tính, mọi người đều cảm thấy rùng mình, đồng loạt tụ hợp lại nhìn chăm chú vào tấm vải bẩn thỉu, nhăn nhúm này, chỉ thấy trên vải viết: "Hàn xã đồng nhân bái thượng Trương xã thủ thủ tràng thất nghệ, dĩ nhất triều bình bộ thượng thanh thiên, thất tự tác kết tức bảo tất trúng."

Chính là hai mươi chín chữ này, giống như một tiếng sấm nổ vang bên tai mọi người, trong nhất thời, những vụ án tồi tệ trong các cuộc thi lớn của bổn triều lần lượt hiện về.

Trong kỳ thi hội năm Ất Mùi, năm Hoàng Trị thứ mười hai, Từ Kinh của Giang Âm cùng Đường Dần của Tô Châu mua đề từ quan chủ giám khảo, , chuyện bại lộ Đường Dần phải từ kinh, công danh bị phế truất, cách chức khảo quan.

Kỳ thi hương của phủ Thuận Thiên, khoa thi Quý Mão, năm Gia Tĩnh thứ hai mươi hai, khảo quan Tần Minh Hạ, phổ ứng đề thi đem bán cho anh em Địch Nhữ Kiệm, Địch Nhữ Hiếu, chuyện bị phát giác, cách chức khảo quan, khảo sinh thì sung quân.

Mấy người bọn Nghê Nguyên Lộ đều nhìn về phía Trương Nguyên, kinh nghi bất định, đây không phải là chuyện nhỏ đâu.

Trương Nguyên liếc qua tấm vải dưới sàn nhà, trong lòng trong sáng như gương, cực kỳ phẫn nộ, nhưng vẫn hết sức bình tâm tĩnh khí, nói:

Đây là do bọn đạo chích gian nhân muốn làm loạn tâm ta, chư vị chớ để mắc mưu.

Vương Bính Lân căm giận nói:

Kẻ nào ác độc như vậy, đêm trước khi thi lại dùng tiểu xảo này đến quấy rối ta, thật là đáng ghét.

Trương Nguyên đáp:

Sư huynh chớ để tâm vì những chuyện này mà rối loạn tâm ý, như vậy chẳng phải đúng ý của kẻ gian hay sao.

Hoàng Tôn Tố suy nghĩ càng thâm sâu, nói:

Kế này rất độc, là nhằm vào Giới Tử, nhằm vào Hàn Xã đồng nhân ta. Không chỉ là muốn nhiễu loạn tâm ta, mà tất có lời đồn sau đó, nếu Hàn Xã đồng nhân ta có nhiều người đỗ, lời đồn sẽ xôn xao, mặc dù không làm gì được chúng ta, nhưng tóm lại với ta vô cùng bất lợi.

Hoàng Tôn Tố không hổ là người nhiều mưu trí của Đông Lâm đảng, lúc nào cũng suy nghĩ nhạy bén tinh thâm.

Trương Nguyên gật đầu nói:

Chân Trường huynh nói rất đúng, gian nhân cũng không chắc vùi lấp được chúng ta, nhưng vẫn có thể bôi xấu, đảo loạn cục diện của ta. Nếu như lại mua chuộc được tuần án Ngự Sử, đưa bài thi lên triều đình cho Hàn Lâm Viện Ma xem xét, khi đó lời đồn đại rộ lên, đêm dài lắm mộng, bất lợi với chúng ta.

Trương Đại vội hỏi:

Nếu vậy chúng ta nên ứng đối thế nào?

Trương Nguyên trầm tư một lát, nói:

Tham gia thi hương lần này, xã viên của Hàn Xã Chiết Giang có hơn một trăm người, ta đoán trong số bọn họ không ít người cũng nhận được tảng đá bọc vải như vậy. Lúc này cũng không có khả năng nghiệm chứng, đi thông báo cho từng người, chỉ có thể tiên phát chế nhân, đem việc này truyền ra ngoài, ta sẽ đến trường thi cầu kiến đề điều quan.

Hoàng Tôn Tố khảng khái nói:

Giới Tử, ta với ngươi cùng đi.

Vương Bính Lân nói:

Chúng ta cùng đi.

Sáu người mang sáu chiếc ô, còn mấy người người hầu mang nón tre, khoác áo tơi bước trong mưa đêm bờ nam Vận Hà, Mục Chân Chân trên tam minh bạch mui thuyền nghe thấy động tĩnh liền chạy ta đầu thuyền hỏi:

Thiếu gia, người muốn đi đâu?

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!