You have paid 20 points for this content
Chạng vạng ngày hôm đó sau khi rời khỏi nha môn, Trương Nguyên đi bộ về nơi ở cũ của mình. Trên đường về gió lạnh thấu xương, thời tiết trung tuần tháng mười đã rất lạnh rồi. Xem ra trận tuyết đầu tiên của năm nay cũng sắp đến. Trương Nguyên thầm nghĩ:
“Sau khi tuyết rơi, Nỗ Nhĩ Cáp Xích nhất định sẽ dẫn quân lui về Kiến Châu, cướp sạch Phủ Thuận cùng với các thành trại xung quanh, đủ để Hậu Kim Nữ Chân sống qua được mùa đông. Đợt xâm lược đầu tiên này của Hậu Kim có thể tạm gián đoạn một thời gian, nhưng tổng binh Trương Thừa Dận đại bại vào ngày mùng sáu tháng mười,hôm nay là ngày mười bảy tháng mười, thời gian này kém mười một ngày. Trong thời gian này quân Bát Kỳ của Hậu Kim chắc chắn sẽ vẫn tiếp tục tiến công bắt người,cướp của. Chỉ có điều là tin tức vẫn chưa truyền đến kịp thời mà thôi, mùa đông này của Bắc Kinh sẽ rất khó sống đây.”
Đã đến Hồ Đồng ngụ sở của Lý các lão, Trương Nguyên tạm thời vứt bỏ những việc lo lắng cho nước cho dân đi, cất bước vào cửa. Hắn ta chỉ nhìn thấy dưới sảnh hành lang có treo một lồng chim bằng tre. Trong lồng có một con chim Bát ca lông màu đen đang nhảy lên nhảy xuống. Trương Nguyên mừng rỡ, lớn tiếng nói:
Tu Vi đến kinh thành rồi sao?
Con chim Bát ca lông đen trong chiếc lồng đẹp đẽ kia lên tiếng:
Vi cô tìm Giới Tử, Vi cô tìm Giới Tử.
Trương Nguyên cười ha hả.
Tiết Đồng và Diêu thúc từ trong phòng bên cạnh đi ra, còn có Lâm thị- vợ của Diêu thúc. Ngoài ra còn có bốn người lão bộc và vú già mà Trương Nguyên không quen mặt lắm đều cùng đến chào hắn.
Tướng công.
Vương Vi từ trong sân bước nhanh ra, dịu dàng cung kính quỳ xuống hành lễ. Trương Nguyên dìu nàng đứng lên, nhìn kỹ dung nhan. Làn da trắng đôi mắt quyến rũ, không thấy sự gian nan vất vả nào. Vương Vi rất khéo trang điểm, hơn nữa lại không lộ ra những vết hoa chì.
Vương Vi giới thiệu cho Trương Nguyên mấy lão bộc và phụ nữ già đều là người cũ trong quán U Lan ở Kim Lăng. Lần này Vương Vi về Kim Lăng bán luôn quán U Lan đi. Vương Vi vốn định phân phát chút bạc cho những người hầu trong quán lúc theo Mã Tương Lan, nhưng những người này không muốn rời đi, tỏ ý muốn đi theo Vương Vi. Nàng đành phải đưa họ tới Bắc Kinh, trong kinh thành những hiệu buôn phát triển cũng đang thiếu người làm. Những người hầu này mặc dù tuổi tác cũng khá lớn nhưng đều có thể sai khiến được.
Trương Nguyên và Vương Vi đi vào trong sân, đám người Thương Đạm Nhiên, Thương Cảnh Huy đang đọc thư nhà, xem lại quà của quê hương. Những thứ này đều là Vương Vi mang về từ Sơn Âm và Hội Kê. Ngày mùng mười tháng sáu Vương Vi đến Sơn Âm, ngày mười chín tháng sáu là sinh nhật của Trương Nguyên. Đông Trương tổ chức long trọng nghi thức tế tổ, vợ chồng già Trương Thụy Dương một tháng trước nhờ bức thư nhà của Trương Nguyên mà biết được Mục Chân Chân đã sinh được con trai. Càng hỏi tỉ mỉ hơn ở chỗ Vương Vi, hai năm được hai cháu, vợ chồng già vui mừng khôn xiết.
Trương Nguyên nghe Vương Vi nói mà biết được cửa nhà quê hương vẫn như cũ. Lão phụ Trương Thụy Dương đã tuân thủ nghiêm ngặt lời hứa năm kia mà trước khi Trương Nguyên vào kinh dự thi. Đó là không chấp nhận đi nhờ ruộng nhà người khác, không ra vào công môn kéo tụng. Ngày thường chỉ quản lý Dương Hòa nghĩa thương và Hàn Xã thư phô, ra sức tận lực với lợi ích chung của địa phương, có danh tiếng ở Sơn Âm.
Lần này Vương Vi còn mang về hai thuyền hàng, là vải vóc tơ lụa Thanh Phổ và các loại kính mắt phường Sơn Âm. Còn có lượng sách lớn do thư cụHàn Xã c in ấn. Trong hai năm nay, các hiệu buôn phát triển, phường kính Hàn Xã và thư cục Hàn Xã đều phát triển rất mạnh, phát triển không ngừng. Điều này làm cho Trương Nguyên rất vui mừng.
Đang lúc nói chuyện thì Bạch Mã - người hầu trẻ vào báo lại là Vũ lão gia của nước Triều Tiên lại đến rồi. Trương Nguyên cười, nói:
Đến thì đã đến rồi, đừng có thêm chữ “lại” vào. Điều này chẳng phải là tỏ ra chúng ta thấy phiền khi ông ta đến hay sao.
Đám người Thương Đạm Nhiên đều mỉm cười, cả đoàn Triều Tiên Tấu Thỉnh Sứ ở lại Bắc Kinh đã gần ba tháng. Chiếu chỉ Đại Minh sắc phong Lăng Dương Quân Lý Tống là quốc vương của Triều Tiên đến chậm trễ nên đám người Vũ Yên, Kim Trung Thanh lòng nóng như lửa đốt. Quan viên Đại Minh trong kinh không còn ai đáng tin cậy, chỉ có Trương Nguyên có thể phó thác được. Vì vậy bọn họ năm ba hôm lại đến nhà Trương Nguyên để hỏi kế sách.
Nhìn thấy Trương Nguyên, Vũ Yên - sứ thần Triều Tiên vẻ mặt u sầu, nói:
Kiến Châu Nữ Chân ngang nhiên đánh chiếm Phủ Thuận, bắt người cướp của các trại vùng biên giới, chỉ e là cũng sẽ chiến tranh với Triều Tiên thôi. Hơn nữa Lăng Dương Quân điện hạ chưa được triều đình sắc phong, mặc dù một lòng trung thành với triều đình nhưng chỉ sợ chánh lệnh khó làm.
Trương Nguyên trấn an, nói:
Vũ phán thư xin hãy bớt phiền muộn. Theo ý kiến của tại hạ thì trong vòng tháng này, chiếu thư sắc phong sẽ đến thôi.
Đám người Vũ Yên, Kim Trung Thanh cho rằng Trương Nguyên có được tin tức trong cung nên mừng rỡ, vội hỏi đến cùng.
Trương Nguyên nói:
Các vị trở lại quán đợi tin tốt lành đi, trước tiên chớ để lộ tin tức ra bên ngoài để phòng ngừa bất trắc.
Đám người Vũ Yên đồng ý cuống quýt, hớn hở ra mặt. Trương Nguyên đã nói như vậy thì chắc chắn là có tin tức chính xác rồi. Sau khi đàm đạo một lúc lâu thì cáo từ, lúc Trương Nguyên tiễn bọn họ ra cửa thì Vũ Yên quay người lại khẩn thiết nói:
Lăng Dương Quân điện hạ hết mực tôn kính Trương đại nhân. Nếu như Hoàng đế hạ ý chỉ sắc phong thì vẫn xin Trương đại nhân chớ ngại khó khăn, hãy đi tệ bang một chuyến nữa.
Vũ Yên cảm thấy Trương Nguyên còn dễ gần, còn có thể nói chuyện được, không tự cao tự đại như những quan viên Đại Minh khác.
Trương Nguyên vội hỏi:
Nếu như tại hạ lại đi quý bang, làm cho người ta chê trách thì lại không có lợi cho các vị.
Đi sứ thật sự là khổ sai, hơn nữa bây giờ đại thế đã định Lăng Dương Quân chủ chính Triều Tiên, hắn cũng không cần phải đến Triều Tiên nữa.
Vũ Yên cũng biết đối thủ trong triều của Trương Nguyên cũng không ít, nhất cử nhất động đều phải cẩn thận. Ngay sau đó, ông ta không nói gì thêm, chắp tay thi lễ rồi quay về dịch quán.
Ban đêm Trương Nguyên nghỉ ngơi trong phòng của Vương Vi. Sau một hồi ân ái, hai người đầu gối tay ấp, lời nói nhỏ nhẹ. Vương Vi nói lại tỉ mỉ quá trình đi Giang Nam lần này, lại nói:
Thiếp trên đường đi đã để ý hỏi thăm, muốn tìm ngôi chùa mà năm đó gửi lại linh cữu của tiên phụ, nhưng không có thu hoạch gì cả.
Nói xong nàng lại thở dài:
Cái này đã qua hơn mười năm rồi, linh cữu của tiên phụ chắc đã bị tăng ni ở chùa đốt hết rồi, có tìm nữa cũng không thấy.
Trương Nguyên nói:
Những người chết ở nơi quê người, gửi quan tài ở chùa là điều thường gặp. Cho dù đã qua mười năm, hai mươi năm thì tăng ni trong chùa cũng không thể vứt bỏ linh cữu đi được. Bởi vì một khi con cháu của người chết tìm lên núi thì phiền phức cũng không nhỏ đâu— Vương Vi không cần đau lòng, năm sau ta về Giang Nam, trên đường sẽ tìm giúp nàng, sẽ để cho cha nàng được an nghỉ.
Ồ
Vương Vi ngạc nhiên hỏi:
Năm sau tướng công về Giang Nam sao?
Trương Nguyên nói:
Các bè phái trong triều đình tranh giành không ngừng, ta tạm lánh đi thì tốt hơn. Thầm nghĩ:
“Vạn Lịch triều sắp kết thúc rồi, ta không tiếp tay làm việc xấu, hơn nữa sẽ đợi minh quân mới lên ngôi—tất nhiên, ta vẫn có thể bày mưu tính kế đối với cuộc quyết chiến sắp tới giữa Đại Minh và Hậu Kim nữa, tiếc rằng quyết sách không do ta. Nếu như có thể tránh được trận đấu lớn thì là thành công rồi. Thời cục như vậy chỉ có thể từ từ mà tính thôi.”
Vương Vi nghe Trương Nguyên nói như vậy, trong lòng rất vui mừng, nói:
Hoa Đình Trần My Công từng nói:
“Thoát được ra chốn phồn hoa mật ngọt, không bị trói buộc, đến đi tự nhiên mới là đức hạnh cao thượng, lúc gió mưa bão bùng, khó khăn mà đứng vững gót chân, mới là quân tử có lập trường kiên định”
Tướng công làm được như câu nói này của My Công.
Trương Nguyên cười không nói gì mà lại nghe Vương Vi nói tiếp:
-Thật ra đất bắc này thiếp sống không quen, thiếp vẫn thích ở Giang Nam, chỉ là tướng công đến đâu thì Vương Vi cũng phải đi theo đấy.
Trương Nguyên cười hỏi:
-Nếu như ta bị giáng chức đến Quỳnh Châu phủ, Tu Vi có nguyện đi cùng ta không?
Vương Vi nói:
Đương nhiên rồi, bất luận là nơi đó có xa cách như thế nào.
Trương Nguyên khẽ vuốt eo thon của nàng, nói:
Không cần phải dự tính trước sẽ khổ như vậy đâu. Ta muốn Tu Vi được vui sướng một đời, ngắm trăng ở Tần Hoài, du ngoạn Tây Hồ, đó là ước nguyện của ta.
Vương Vi nghiêng người ôm sát Trương Nguyên, không nói gì nữa. Hai người yên lặng nghe tiếng gió bên ngoài khẽ thổi, không biết tuyết đầu mùa đã buông cánh hay chưa?
Vì chiến sự Liêu Đông nên Hà Tông Ngạn- Lễ Bộ Tự Hữu Thị lang đều cảm thấy lo lắng. Việc sắc phong Lăng Dương Quân Lý Tống làm Quốc vương Triều Tiên không thể kéo dài nữa. Lão nô Kiến Châu lần này khí thế hung hăng, sau khi tổng binh Liêu Đông bại vong thì thái độ của Triều Tiên với Đại Minh rất quan trọng. Bị nô tù áp bức mà không thần phục Đại Minh thì tất nhiên sẽ có quan truy cứu Lễ bộ về trách nhiệm để lâu không quyết sắc phong Lý Tống. Vì vậy, Hà thị lang nhiều lần thăm hỏi Phương Tòng Tiết thương nghị việc sắc phong quốc vương Triều Tiên. Phương Tòng Tiết cũng lo lắng thế cục Liêu Đông không giải quyết được, Triều Tiên nhất định phải lôi kéo, vì thế đã đồng ý sắc phong, và báo lên Hoàng đế Vạn Lịch cho ý kiến phúc đáp.
Chương 500: Hán gian đáng sợ (1)
Đến ngày hai mươi tư tháng mười, tuần phủ Liêu Đông Lý Duy Hàn truyền tình hình biên giới khẩn cấp, quân Bát Kỳ Hậu Kim sau khi đánh tan một vạn đại quân của Trương Thừa Dận thì lập tức vây đánh tiến công phía bắc Phủ Thuận, Phủ An phía nam Thiết Lĩnh, đánh liên tiếp mười một trại lớn nhỏ. Lý Vĩnh Phương- nguyên Phủ Thuận du kích tiên phong Kiến nô, lúc quân Bát Kỳ tiến đánh trại Tùng Sơn thì Lý Vĩnh Phương ra sức khuyên hàng. Quân dân trại Tùng Sơn mở cửa trại đầu hàng, bốn xung quanh nếu trại nào không chịu đầu hàng sẽ phải chịu tàn sát nặng nề. Quanh Phủ Thuận chừng mấy trăm dặm, ngoài thành Thanh Hà được mệnh danh là nơi hiểm trở vẫn đang cố thủ thì những trại thành khác đều bị cướp sạch không còn gì. Người và lương thực cướp được đều bị chở đi, trước khi lui binh bọn chúng còn phóng hỏa, đốt hết thành trại và nhà cửa...
Ngày hai mươi sáu tháng mười, chiếu chỉ hạ, cử Chiêm Sự phủ Tán Thiện Từ Quang Khải làm sứ giả đến Triều Tiên sắc phong Lăng Dương Quân Lý Tống làm quốc vương Triều Tiên.
Ngày hai mươi chín, sứ đoàn Đại Minh rời kinh. Trương Nguyên tiễn ra ngoài cửa Sùng Văn, trận tuyết rơi đầu tiên từ mùa đông đến nay, ngoài cửa Sùng Văn trắng xóa một màu. Trương Nguyên và sư huynh Từ Quang Khải lưu luyến tiễn biệt nhau. Từ Quang Khải hiểu biết về tình thế Liêu Đông gần giống như Trương Nguyên, chuyến đi lần này có thể thuyết phục Triều Tiên cùng chống chọi với Hậu Kim.
Đám người Vũ Yên, Kim Trung Thanh lần lượt từ biệt Trương Nguyên, Vũ Yên khẩn thiết nói: - Tệ bang có thể bạt loạn phản chính cũng là nhờ ân đức của Trương đại nhân. Ngài thanh liêm, viễn thần không dám lấy lễ tục để cảm tạ. Xin mượn lời trong thơ của Đào Uyên Minh: "Núi sông ngàn dặm, khó có cơ hội cùng nhau nói cười..." Hôm nay từ biệt không biết ngày nào mới có thể được lắng nghe lời vàng ngọc của Trương đại nhân.
Trương Nguyên nghe Vũ Yên dẫn ra câu thơ của Đào Uyên Minh thì tự nhiên nghĩ ngay đến ẩn sĩ mù, tinh thông bói toán, châm cứu, kiếm thuật mà lại đam mê thơ Đào Uyên Minh. Nhưng hiện lên trong đầu hắn bây giờ lại là dáng vẻ của một thiếu nữ xinh đẹp: nón tre lụa đen, áo trắng eo thon, lông mày nhỏ mà cao, con ngươi đen trắng rõ ràng, mũi cao tinh khôi, lông mi dài, nhọn cằm, thần thái rất động lòng người.
Đây là ấn tượng của Trương Nguyên trong lần đầu tiên gặp Trinh Minh Công chúa tại đại đồng quán Bình Nhưỡng.
Trương Nguyên thầm nghĩ:
"Trinh Minh Công chúa không nói gì đến những việc làm sai trái của mệnh đồ, danh vị cũng đã khôi phục lại, khổ tận cam lai rồi."
Mùa đông rét lạnh đã đến, đất đai Liêu Đông đã bị băng tuyết che phủ. Nô Nhĩ Cáp Xích không tiếp tục tăng cường tiến đánh thành Thanh Hà nữa, cuối tháng mười áp tải mười vạn người Hán và lượng lớn tiền lụa lương thảo cướp được về. Chiến hỏa Liêu Đông tạm thời ngưng, nhưng ở Bắc Kinh của Đại Minh lại nhanh chóng triển khai một trận đấu với quân của Hậu Kim. Đại Minh mêng mông làm sao có thể để Kiến Châu Nữ Chân đến xâm lược được, nhất định phải đánh trả lại.
Do thành Phủ Thuận bị phá, Trương Thừa Dận đến một quân cũng không còn. Tuần phủ Liêu Đông Lý Duy Hàn khó chối được sai lầm này. Đã có mấy vị quan buộc tội Lý Duy Hàn ngu ngốc vô dụng, nhất định phải chọn một đại thần khác đắc lực kinh lược Liêu Đông. Thế là, Dương Hạo hiểu rõ Liêu sự, nhàn rỗi nhiều năm cũng đã có thời cơ rồi.
Mặc dù Hoàng đế Vạn Lịch lười tiếp triều, nhiều tấu sớ của các đại thần ông ta đều lựa chọn giữ lại chứ không biểu lộ thái độ tiêu cực, nhưng vẫn coi trọng về việc Liêu Đông xâm chiếm biên giới. Từ sau khi tin Phủ Thuận bị chiếm đóng truyền đến kinh thành thì ba đêm liên tiếp Hoàng đế Vạn Lịch đều mơ ác mộng. Mỗi lần ông đều mơ thấy một người con gái ngoại tộc cưỡi trên người và đâm ông ta, lúc tỉnh dậy thì toàn thân mồ hôi đầm đìa.
Không cần mời các hạ thần đến giải mộng thì Vạn Lịch hoàng đế cũng hiểu được đại diện của người con gái ngoại tộc đó chính là người tộc Nữ Chân. Sự uy hiếp của Kiến Châu Nữ Chân với triều đình Đại Minh đã vô cùng cấp bách. Ngày mười sáu tháng mười nhận được tin Trương Thừa Dận- tổng binh Liêu Đông đã bại trận thì Hoàng đế Vạn Lịch đứng ngồi không yên. Từ sau vụ án đĩnh kích năm ngoái, hoàng đế không triệu kiến ngoại thần nữa, nhưng lần này không gặp ngoại thần không được. Ngày hai mươi mốt tháng mười Hoàng đế đã triệu kiến nội các và sáu bộ tại điện Văn Hoa để cùng bàn về tình thế nguy hiểm của Liêu Đông.
Đại diện Bộ Binh Thượng thư Tiết Tam Tài bẩm báo Liêu Đông thiếu quân lương, từ mùa thu năm ngoái đến nay đã thiếu năm mươi vạn lượng, khẩn cầu hoàng thượng đại phát quân lương để Liêu Đông mộ binh ứng phó với sự công kích của nô tù. Nô tù dấy binh xâm phạm biên giới, có các bộ lạc Mông Cổ hỗ trợ, đợi mùa xuân sẽ lại xâm phạm biên giới. Uông Khả Thụ- Kế Liêu tổng đốc mặc dù đã lựa chọn và điều động sáu nghìn năm trăm binh lính, viện binh theo kỳ hạn nhưng binh lính vẫn chưa đủ, vì vậy Đại Minh chiêu mộ binh lính, chuyển quân lương, thời khắc khó mà trì hoãn.
Hoàng đế Vạn Lịch vừa nghe thấy phải lấy tiền từ nội khố thì liền nói: - Ngân khố đã trống không rồi, chi dùng trong cung còn chưa đủ, làm gì có dư thừa bạc để hỗ trợ quân lương. Việc này cứ để Binh bộ và Hộ bộ cùng bàn bạc hỗ trợ quân lương đi. Thái Phó Tự còn có thể bỏ ra chút ngân lượng để mua ngựa chiến mà. Ông nói quanh co về quân lương rồi lại nói: - Quân Liêu binh hùng thế mạnh, việc biên giới vô cùng nguy cấp, bên ta sẽ phải cử một viên quan tổng binh, lệnh đến thời hạn đến nhận chức, thu xếp việc quân, tất cả các công việc phòng ngự.
Phương Tòng Triết khởi tấu nói các thần quan lớn tới các khoa đều thiếu quan, nhất thiết phải bổ sung nên tiến cử Dương Hạo hiểu biết rõ kinh lược Liêu Đông, lại chỉ trách tuần phủ Liêu Đông Lý Duy Hàn hèn hạ không có chí tiến thủ, theo cách chức điều tra, tất cả đều do Hữu Thiêm Đô ngự sử Chu Vĩnh Xuân thay thế. Hoàng đế Vạn Lịch đã phê chuẩn, lệnh cho Lại bộ lập tức triệu Dương Hạo vào triều.
Ba ngày sau, Tiết Tam Tài của Thự Binh Bộ Sự mới trình sớ bẩm báo lên Hoàng đế Vạn Lịch kết quả của buổi chầu các chư quan Binh bộ: một là điều động ba vạn người ở Bảo Định, Chân Định sung quân. Hai là gia đinh cũng phải thu dụng được trên nghìn người, Sơn Hải quan làm Kế Liêu môn hộ, cần phải bổ nhiệm một vị đại tướng đem binh đi đàn áp. Như thế vừa đảm bảo kinh sư không có lo lắng, vừa lên tiếng ủng hộ Liêu Đông. Bảo Định Tổng binh Vương Tuyên ở Quan Nội, Binh bộ sẽ đề cử Diên Tuy Tham tướng Đỗ Tùng trú quân tại Sơn Hải quan. Trương Thừa Dận sau khi chết trận thì thiếu người đảm nhận Tổng binh Liêu Đông nên đề bạt phế tướng Lý Như Bách.
Bản tấu chương của Tiết Tam Tài vừa dâng trình lên thì tin phản tướng Lý Như Bách chiêu hàng trại Tùng Sơn đã truyền về. Mười một làng có tường xây quanh như Phủ An, Hoa Báo Xung, Tam Sá Nhi đều rơi vào tay giặc. Sau khi giặc Kiến Châu Nữ Chân cướp bóc bốn phía thì đốt hủy thôn trại, áp giải người Hán và trâu bò về Hách Đồ A Lạp để qua trận tuyết của mùa đông năm nay.
Sau khi lui binh, Nô Nhĩ Cáp Xích thả hai người thương nhân tù binh Phủ Thuận, để bọn họ gửi thư cho Lý Duy Hàn ở Quảng Ninh. Hai người thương nhân đó đều là thủ hạ của Lỗ thái giám, trong đó một người đã từng đi theo Trương Nguyên đến Triều Tiên, tên là Trương Nho Thân, một người khác tên là Dương Hi Thuấn. Hai người đó đều giao bức văn thư của Nô Nhĩ Cáp Xích cho Lý Duy Hàn, lấy lý do bảy nỗi hận lớn để khởi binh, lại yêu cầu triều Minh phái quan đến để cùng đàm phán với Đại Kim của gã về việc cống nạp và hủy bỏ chiến tranh. Trong đó đề cập đến việc trả lại Nạp Lan Ba Khắc cùng với thủ cấp của Hỗ Nhĩ Hãn.
Thành Phủ Thuận đã bị phá, Trương Thừa Dận chết, quân dân Liêu Đông tổn thất vô cùng thê thảm. Tuần phủ Liêu Đông như Lý Duy Hàn tất nhiên hiểu được những tội lỗi mà mình phải gánh chịu. Để giảm bớt đi chỉ trách của quan viên trong triều đối với việc y không làm tròn trách nhiệm, thì Lý Duy Hàn trong khi chuyển bức văn thư của Nô Nhĩ Cáp Xích thì đã trình một bản tấu lên Hoàng đế. Y cố ý tô đậm điều hận thứ bảy trong bảy điều hận của Nô Nhĩ Cáp Xích. Y nói việc Kiến Châu Nữ Chân khởi binh xâm lược Liêu Đông là do Trương Nguyên bắt buộc. Đây là tâm lý bỉ ổi của Lý Duy Hàn muốn tìm người chịu tội thay mình, Lý Duy Hàn lúc đó vẫn chưa biết triều đình đã bãi quan của y rồi.
Ngày hai mươi chín tháng mười, Lại bộ và Binh bộ sau khi trải qua buổi chầu đã trình thư kiến nghị lên Hoàng đế Vạn Lịch: Khôi phục Dương Hạo làm Binh bộ Tả Thị lang kiêm Đô ngự sử kinh lược Liêu Đông, Uông Khả Thụ- Tổng đốc Kế Liêu dẫn binh đến thẳng Quảng Ninh; Chu Vĩnh Xuân thay thế cho Lý Duy Hàn làm Tuần phủ Liêu Đông, tuần phủ từ Quảng Ninh dời đến Liêu Dương, hợp lực giữ thành với tổng binh Liêu Đông mới nhận chức Lý Như Bách. Đợi sau khi đại binh đến rồi sẽ tính kế tiến thủ, thiết lập quân trấn Sơn Hải quan. Do Diên Tuy Tham tướng Đỗ Tùng nhận chức Tổng binh Sơn Hải quan. Tổng binh Bảo Định Vương Tuyên dẫn binh mã dời đến Quan Nội, cùng với Đỗ Tùng bảo vệ kinh sư. Quân lương sẽ nhanh chóng được phát đến, Hoàng đế phải mở ngân khố để trợ giúp quân lương.
Chương 500: Hán gian đáng sợ (2)
Hoàng đế Vạn Lịch ngày trước lười tiếp triều nhưng cũng biết việc ở Liêu Đông cấp bách, hôm nay đã phê tấu trả lời, đã tiếp thu ý kiến của Binh bộ và Lại bộ, đồng thời bổ sung như sau: - Uông Khả Thụ cầm binh xuất quan, tùy cơ tiến dừng, nhất định phải thận trọng, bảo vệ chu toàn, tuần phủ Bảo Định, Thuận Thiên dời đến Sơn Hải, Dịch Châu, tiếp ứng cho nhau. Phải nhanh chóng chiêu mộ bổ sung lính Liêu Đông, cách chức Lý Duy Hàn, cắt cử sai nhân thúc Dương Hạo đi ngày đêm đến, tổng tiến công tiêu diệt, chớ trì hoãn kẻo hỏng việc.
Đối với việc phát quân lương, Hoàng đế Vạn Lịch cuối cùng cũng nới lỏng hơn, đồng ý lấy mười vạn lạng từ ngân khố để giải quyết vấn đế cấp bách. Thái Phó Tự cũng góp sáu vạn lạng mua chiến mã, số còn lại là do Binh bộ, Hộ bộ phải tự mình xoay xở.
Ngày mùng ba tháng mười một, chạng vạng tối hôm đó Kỳ Thừa Tùng đến chỗ ở của Trương Nguyên. Y nét mặt nghiêm trọng, thưởng thức trà, nói: - Giới Tử! Lý Duy Hàn Liêu Đông có bản tấu mới nhất đưa đến, bên trong kèm bội từ (từ ngữ ngông cuồng) của nô tù, nhắc lại bảy nỗi hận lớn đồng thời yêu cầu đàm phán bãi binh phó cống, và đề cập đến việc trả lại Nạp Lan Ba Khắc Thập.
Phó cống chính là sản vật cống hiến đến kinh thành Đại Minh, Nô Nhĩ Cáp Xích đánh thắng trận vẫn phải đến phó cống, há chẳng phải là kỳ quái hay sao? Thật ra không có gì kỳ quái cả, Nô Nhĩ Cáp Xích mặc dù chiếm đánh Phủ Thuận, tiêu diệt một vạn quân Minh của Trương Thừa Dận, nhưng rất kiêng nể với thực lực của Đại Minh. Gã nói bảy đại hận là lí do để khởi binh, nói thành bị hãm hại nên đành phải phản kháng. Bãi binh phó cống là muốn để Đại Minh mở lại buôn bán với Kiến Châu. Dù sao Nô Nhĩ Cáp Xích đối kháng với Đại Minh không phải là việc hoàn toàn có niềm tin. Nếu như có thể bãi binh, phó cống là tốt nhất, dù sao đã cướp được rất nhiều rồi. Từ sau khi Nô Nhĩ Cáp Xích lui binh, đốt hết trại thôn xung quanh thành Phủ Thuận, có thể thấy lúc đó Nô Nhĩ Cáp Xích không còn tâm tư muốn chiếm lãnh thổ Đại Minh nữa. Gã chỉ là một tên trộm, cướp được rồi thì đi, là sự yếu đuối của quân Minh Liêu Đông không có khả năng chặn lại dã tâm của gã.
Trương Nguyên nói: - Hoàng thượng gần đây rất chăm tiếp triều, điều binh khiển tướng, xoay xở quân lương, muốn tổng tiến công Kiến Châu. Hạ thần nghĩ không nên nóng lòng, ngại gì không đàm phán với lão nô, dùng kế hoãn binh.
Hoàn toàn không được.
Kỳ Thừa Tùng sợ hãi nói: - Giới Tử chớ có nói đến việc bãi binh bàn hòa, Kiến Nô công kích Phủ Thuận, bắt người cướp của Liêu Đông, kinh sư chấn động. Từ Hoàng đế đến thứ dân không ai không nghiến răng căm hận Kiến Nô. Chỉ muốn đem binh đi đánh, bắt giữ lão nô, thiên triều khí phách to lớn ta thì sao có thể đàm phán với Kiến Nô được chứ.
Trương Nguyên im lặng, Kỳ Thừa Tùng nói đúng. Nếu như lúc này hắn chủ trương đàm phán với Nô Nhĩ Cáp Xích, mặc dù là kế hoãn binh đi chăng nữa cũng không dễ dàng thoát khỏi dư luận của triều đình và người dân. Đại Minh lúc này vẫn đang chìm trong giấc mộng thiên triều thượng quốc. Phủ Thuận bị chiếm đóng và Trương Thừa Dận bị thất bại không làm cho họ có cảnh giác gì, chỉ cho rằng nhất thời sơ sẩy bị địch áp chế mà thôi. Lãnh thổ Đại Minh ngang dọc cũng ngàn dặm, hàng vạn vạn người, mà Kiến Châu Nữ Chân chỉ đóng ở ngoài Hải Đông, số dân không quá mười vạn, làm sao mà chống lại được với Đại Minh. Đợi khi đại quân vừa đến thì Kiến Nô đã bị thất bại thảm hại, ba trận đánh lớn của Vạn Lịch hai mươi năm trước đều là đại thắng của Đại Minh, lần này cũng không ngoại lệ. Ai mà trong lúc này nói quân Bát Kỳ mạnh, khó mà thắng nổi thì nhất định sẽ bị nói thành "Kẻ thù uy phong diệt chính chí khí của mình", " Hán gian" hoặc là "Minh gian". Chiếc mũ này sẽ được đội lên đầu ngài đó.
Kỳ Thừa Tùng lại nói: - Tên Lý Duy Hàn vì chịu tội mà trong bản tấu nói xấu là Giới Tử đã giết Kiến Nô ở Triều Tiên làm cho lão nô tức giận dấy binh.
Trương Nguyên cười nhạt nói: - Mặc cho nô tù và Quang Hải Quân cấu kết với nhau thì có thể tránh cho thành Phủ Thuận không bị chiếm đóng sao? Lý Duy Hàn thật là vô liêm sỉ.
Kỳ Thừa Tùng nói: - Những nỗi bực hoang đường này không đáng nói, nhưng những người có tâm ý khác thì sợ gây bất lợi với Giới Tử thôi. Giới Tử vẫn phải cẩn thận, những lời lẽ bàn hòa thì đừng có nhắc đến nữa, nếu không sẽ để cho những kẻ có dụng ý khác sẽ thừa cơ lợi dụng đấy.
Trương Nguyên gật đầu nói: - Đa tạ Khoáng Ông đã nhắc nhở, Trương Nguyên biết lợi hại trong đó.
Kỳ Thừa Tùng nói: - Đám Khoa đạo quan đó nào có biết nỗi vất vả của Binh bộ, thiếu binh thiếu lương, sứt đầu mẻ trán đấy.
Trương Nguyên hỏi: - Hoàng đế không chịu phát thêm nhiều ngân khố để trợ giúp quân lương, vậy quân lương phải giải quyết thế nào đây?
Thật ra Hoàng đế Vạn Lịch rất biết thu gom của cải, nội phủ tồn ngân rất nhiều. Theo sách sử ghi lại thì Quang Tông Chu Thường Lạc sau khi tại vị thì lập tức phát hai trăm vạn lạng làm quân lương Liêu Đông và cửu biên. Đây đều là tích góp của Hoàng đế Vạn Lịch, nhưng hiện giờ Hoàng đế Vạn Lịch chỉ bỏ ra mười vạn lạng để sung quân lương. Binh Bộ, Hộ bộ có thỉnh cầu thế nào cũng vô dụng, chỉ có nghĩ cách khác thôi.
Kỳ Thừa Tùng nói: - Hôm nay Binh bộ và Hộ bộ sẽ thương lượng, Lý Nhữ Hoa- Hộ bộ Tả Thị lang nắm giữ vấn đề của Hộ bộ đã lấy ví dụ trưng Uy, trưng Bá Châu năm đó, tăng số mẫu ruộng trên đầu người, mỗi mẫu tăng ba cm trên năm.... Như vậy ngân khố cả nước có thể là hơn hai trăm vạn lượng. Dùng cái này để bổ sung quân lương cho Liêu Đông, sau khi mọi chuyện Liêu Đông bình ổn thì số tăng lập tức hủy bỏ.
Trương Nguyên thầm nghĩ: "Liêu Đông loạn lạc đã lâu, hai trăm vạn lượng bạc quân lương liền có thể giải quyết quân Bát Kỳ của Nô Nhĩ Cáp Xích, thực ra là quá mức rồi". Nhưng hiện tại những thứ này đối với Kỳ Thừa Tùng cũng vô dụng, Kỳ Thừa Tùng chỉ là trong Binh bộ mà thôi, hỏi: - Uông tổng đốc xuất quan chưa?
Kỳ Thừa Tùng nói: - Uông Tổng đốc còn lưu lại Sơn Hải Quan, phải đợi Sơn Hải Đỗ tổng binh suất binh đến đã.
Trương Nguyên nói: - Băng tuyết ngập trời như này thì tộc Kiến Châu Nữ Chân cũng trở về "hang ổ" để tránh rét thôi. Quân ta tạm thời không cần vội vã xuất binh, mua ngựa, tạo giáp mới, hỏa thương, tích cực chuẩn bị chiến tranh mới đúng. Xin hỏi Khoáng Ông, kiểu súng toại phát mới kia đã tạo được bao nhiêu khẩu rồi?
Kỳ Thừa Tùng nói: - Tầm khoảng năm nghìn khẩu, các bên đã lĩnh đi hai nghìn khẩu rồi, Quân giới ti còn tồn ba nghìn khẩu.
Trương Nguyên nói: - Ba nghìn khẩu thì ít quá, vẫn phải khẩn trương chế tạo mới được.
Kỳ Thừa Tùng nói: - Thương Khâu Dương thị lang ngày mai sẽ đến kinh thành, Dương thị lang phụng chỉ kinh lược Liêu Đông, điều binh, trưng cầu quân lương, chế tạo quân giới, đều có quyền quyết định tất cả. Giới Tử phải xin lời góp ý hiến kế của Dương thị lang.
Giữa tháng bảy, Trương Nguyên từng cử Vũ Lăng cầm thư của hắn đến Thương Khâu gặp Dương Hạo. Chưa tới tháng tư, Dương Hạo đã hồi thư rồi. Dương Hạo là nhân vật quyết sách của trận đại chiến sắp đến này, rõ ràng là y quan trọng hơn hẳn Đỗ Tùng. Trương Nguyên nhất định sẽ tạo thêm ảnh hưởng đối với Dương Hảo rồi.
Chương 501: Đêm tuyết luận việc binh
Chiều tối mùng bốn tháng mười một, chim yên bay rợp trời dưới ánh hoàng hôn, một chiếc xe ngựa xông gió đạp tuyết vào cửa Chính Dương, vết bánh xe kéo dài tận đến phường Đại Thời Ung, dừng lại trước cửa phủ Nội các Thủ phụ Phương Tòng Triết. Một nam nhân đội mũ tròn khoác áo lông cáo xuống xe bước vào cửa, còn xe ngựa thì đợi bên ngoài. Con ngựa thi thoảng lại động đậy bốn vó tạo nên một mảng đen trên mặt đất trắng xóa màu tuyết.
Mã phu ngồi xếp bằng trên xe ngựa, hai tay khoanh lại co rúm người. Tuyết rơi lất phất trong im lặng, thời gian chậm chạp trôi qua dưới tiết trời lạnh giá. Chừng một canh giờ sau, nam nhân đội mũ tròn lại đi ra rồi lên xe ngựa ngồi, mã phu không đợi phân phó, lập tức cho ngựa quay lại đi về hướng Thiên Bộ Lang, song lại nghe nam nhân nói: - Đến ngõ Lý Các Lão.
Mã phu vâng dạ, đánh xe một vòng rồi rời khỏi phường Đại Thời Ung, băng ngang qua phố tây Trường An, dọc theo phố Thạch Xưởng đến đầu đông ngõ Lý Các Lão. Lúc này đã bắt đầu giới nghiêm, xung quanh hoàng thành lại là trọng địa tuần tra, do đó liền có quân sĩ ngăn xe lại truy hỏi. Nam nhân trong xe đưa thẻ bài ra, quan sĩ chất vấn lập tức cúi rạp người lui về sau cho đi, mã phu hỏi viên quan sĩ kia: - Xin hỏi quân gia, vị Trương Trạng nguyên nhà ở đâu?
Trương Trạng nguyên dĩ nhiên là chỉ Trương Nguyên, quan sĩ đáp: - Từ đầu đường đi đến cửa thứ tư là tới.
Nam nhân bên trong bèn bảo để xe ngựa dưới mái hiên bên đường tránh tuyết, còn y thì một mình tiến vào nơi ở của Trương Nguyên. Vừa đến bên cửa lớn đã thấy mé tây có hai người đang sải bước đến gần, người hơi thấp bên phải cầm đèn lồng soi đường, nam nhân đội mũ tròn mỉm cười, nghĩ bụng:
"Thật đúng lúc." Rồi y chắp tay nói: - Tiểu Vũ quản sự.
Người cầm đèn lồng là Vũ Lăng, nghe thấy liền giơ cao đèn nhìn kỹ, đột ngột trừng to mắt: - Là Dương lão gia của Thương Khâu, Dương lão gia, đây là thiếu gia nhà tôi.
Theo sau Vũ Lăng là Trương Nguyên lúc này đã bước lên, chắp tay: - Phong Quân tiên sinh phải không, Trương Nguyên hữu lễ.
Phong Quân chính là hiệu của Dương Hạo. Dương Hạo cũng thành danh ở tuổi thiếu niên, là nhược quán tiến sĩ , năm nay đã năm mươi bảy tuổi, quan vận có thể nói là thăng trầm. Vì binh bại Úy Sơn (Ulsan của Hàn Quốc) mà bị buộc tội, bãi quan ở ẩn gần hai mươi năm. Hiện nay vì nguy cục ở Liêu Đông mà được khởi phục, sau khi bái kiến Phương Tòng Triết liền đến thăm Trương Nguyên, có thể thấy y coi trọng hắn. Phong thư Trương Nguyên nhờ Vũ Lăng gửi đi bốn tháng trước đã phát huy tác dụng.
Nhược quán: chỉ nam thanh niên ở tuổi 20.
Dương Hạo tuy tuổi gần lục tuần nhưng nhìn vẫn khỏe mạnh. Mặt chữ điền, mày rậm râu đen, đôi mắt hơi nheo tinh anh hữu thần. Dương Hạo đánh giá Trương Nguyên, rất hiếu kỳ với vị Trạng nguyên thiếu niên đầy thị phi này, y đáp lễ: - Trạng nguyên công, Dương Hạo đặc biệt đến thỉnh giáo.
Trương Nguyên nói: - Không dám không dám, Phong Quân tiên sinh mời vào.
Hắn nhìn xung quanh, lại hỏi: - Phong Quân tiên sinh đạp tuyết đến, tôn giới ở đâu? Tiểu Vũ, đi mời mã phu của Dương lão gia vào uống chén trà nóng chống lạnh, cho ngựa ăn cỏ.
Họ vào đại sảnh ngồi, hàn huyên một lúc, Dương Hạo bèn đi vào việc chính: - Tháng bảy Trương Trạng nguyên gửi thư, Dương Hạo cảm phục. Dương Hạo có tội nhàn cư đã hai mươi năm, không ngờ Trạng nguyên công lại gửi thư đến thỉnh chỉ giáo.
Trương Nguyên cung kính nói: - Phong Quân tiên sinh chớ dùng Trạng Nguyên công xưng hô, tại hạ tuổi ít học cạn, được bỏ phận dân thường đã là may mắn, trước mặt tiền bối nào dám kiêu ngạo. Tại hạ đi sứ Triều Tiên, dọc đường nghe dân chúng Triều Tiên ca ngợi công trạng năm đó của Phong Quân tiên sinh, sĩ thứ Triều Tiên lấy làm tiếc cho việc lập công mà bị hàm oan của tiên sinh, còn lập miếu sống cho tiên sinh, do chính tay vua Triều Tiên đề biển "Tái tạo phiên bang". Tuy quân dịch ở Úy Sơn bất lợi, nhưng đại thắng Úy Sơn sao có thể gạt bỏ. Những viên quan trong triều không biết sự nguy hiểm của chiến tranh, họ chưa từng trải nghiệm thì đã cao giọng ba hoa, không bàn công trạng, chuyên nhắm khuyết điểm. Ở Hàn Lâm viện tại hạ đã đọc công báo năm đó, rất bất bình cho tiên sinh.
Bại trận Úy Sơn là vết nhơ cả đời của Dương Hạo, nếu chẳng phải Thủ phụ Triệu Chí Cao lúc đó cứu giúp, Dương Hạo sẽ bị nhốt vào ngục luận tội. Song Dương Hạo rất không phục và phẫn uất đối với vết nhơ này, quân Minh trong trận Úy Sơn đã bị suy sụp nặng nề, chứ không phải "đại bại" như lời chỉ trích của các quan viên kia. Vì vậy giờ đây nghe thấy Trương Nguyên đánh giá y công bằng như thế, hỏi sao không cảm động, bèn nói: - Chim không còn thì cất cung tiễn. Khi ấy người Oa (Nhật Bản) đã rút binh, trong triều không còn cần Dương Hạo lãnh binh ở phiên bang. Ba cuộc xuất chinh đã tiêu hao quốc lực, cộng thêm quân lương khiến dân oán thán, vì vậy cần có người bình ổn lòng dân. Dương Hạo bại trận, vấn tội bãi quan cũng là đương nhiên.
Đây là lời nói xuất phát từ nội tâm, tuy là lần đầu gặp mặt, nhưng Dương Hạo cảm thấy có thể nói chuyện chân thành với Trương Nguyên. Dương Hạo đọc kỹ cuốn nhật ký "Đi đường khó - Đinh Tị Triều Tiên kỷ hành" của Trương Nguyên, biết kiến thức hắn không tầm thường, nhưng điều khiến y nghi ngờ chính là: Trương Nguyên sẽ không vô duyên vô cớ đường xa phái người truyền tin với y để luận về thế cục Liêu Đông, Trương Nguyên làm sao biết y sắp tái nhậm chức? Mới vừa rồi y cùng với Phương Tòng Triết nói chuyện, khi được biết chuyện y phục chức là do Phương Tòng Triết đề xuất vào ngày hai mươi mốt tháng trước, trước đó trong kinh cũng không có tin đồn y được phục chức.
Dương Hạo chần chờ một chút, rốt cục vẫn nói ra nghi vấn của mình, song lại thấy Trương Nguyên mỉm cười: - Phương Các lão tiến cử tiên sinh tái nhậm chức, mà trong triều ít có dị nghị, vì sao? Chính là vì tiên sinh am hiểu việc Liêu Đông, từng chỉ huy đại chiến dịch chống Oa. Tại hạ đi sứ Triều Tiên, đập nát âm mưu kết giao Triều Tiên của tù trưởng Nô, từ sứ giả Nạp Lan Ba Khắc Thập mà biết được dã tâm lão Nô ở Kiến Châu, lường trước Liêu Đông sắp có chiến sự. Mà theo những gì tại hạ thấy, quân Minh Liêu Đông chuẩn bị chiến đấu lỏng lẻo, rất khó chống lại quân bát kỳ, tháng trước Phủ Thuận thành bị đánh chiếm, Trương tổng binh chết trận là do hậu quả suy yếu kéo dài. Hiện giờ Liêu Đông nguy cấp, không phải tiên sinh thì chẳng còn ai chủ trì đại cục, sau khi tại hạ về từ Triều Tiên thì dự đoán tiên sinh sắp phục chức.
Dương Hạo thầm nghĩ: "Đây quả thực là Khổng Minh thần cơ diệu toán tái sinh."
Mặc dù y nghĩ Trương Nguyên tính toán tài tình, nhưng nghe chuyện cũng cảm thấy vui. Đây quả thực là "An Thạch không xuất hiện như thiên hạ lầm than" , dự đoán chính xác của Trương Nguyên cho thấy năng lực dẫn hướng đại chúng của Dương Hạo có thể dậy sóng.
Ý chỉ hai huynh đệ Tạ An và Tạ Thạch thời Đông Tấn, có công lớn trong chận chiến Phì thủy, cứu được rất nhiều sinh mạng của lê dân bá tánh.
Dương Hạo không biểu cảm gì, từ tốn nói: - Trương Tán thiện trí tuệ tựa biển, tại hạ kính phục. Tại hạ tuổi gần lục tuần, lại sống ẩn nhiều năm, đã trở nên xa lạ với Liêu Đông, với kiến Nô và Mông Cổ, vật đổi sao dời, chuyện Liêu Đông không còn giống với hai mươi năm trước nữa. Năm đó triều đình ban chức quan cho Nô Nhĩ Cáp Xích, có ai ngờ kẻ này lại trở thành họa lớn của Đại Minh.
Trương Nguyên gật đầu. Dương Hạo vẫn rất tỉnh táo, biết mình biết người, người bàn việc binh trên giấy ở hậu thế chỉ biết lấy thành bại luận anh hùng, chiến bại Tát Nhĩ Hử của Dương Hạo bị châm biếm tồi tệ.
Lại nghe Dương Hạo nói: - Hoàng đế hạ chỉ triệu gấp, tại hạ đêm hôm vội đến, chiều tối vừa vào nội thành liền đến chào Phương Các lão trước tiên, sau đó đến đây chào hỏi Trương Tán thiện, muốn nghe cao luận của Trương tán thiện về việc Liêu Đông.
Trương Nguyên mỉm cười: - Phong Quân tiên sinh hẳn là biết Trương Nguyên cùng Phương Các lão có chút căng thẳng, nếu tiên sinh qua lại thân thiết với tại hạ, e rằng sẽ bị một vài người khinh khi.
Không đợi Dương Hạo nói tiếng nào, Trương Nguyên liền đổi đề tài, giọng nói cũng thâm trầm hơn: - Nhưng tại hạ có vài lời muốn nói với tiên sinh, quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, ân oán đảng phái không nên liên lụy quân chính đại sự triều đình. Tiên sinh hiểu biết Liêu Đông, giáp mặt với thế cục cực hiểm này, dám hỏi tiên sinh có sách lược gì?
Dương Hạo đáp: - Ta nghe nói Chủ sự Trâu Chi Dịch của Binh bộ Sơn Hải Quan có nghị luận về ba lộ tiến binh. Đại quân ta phân thành ba lộ, mỗi lộ đều có đại tướng thống lĩnh, từ đường tắt Quảng Thuận đi thẳng đến Ninh Cung nhằm phá hang ổ. Một theo Ái Dương, Thanh Hà chặn đường địch trước; một ra Liêu Dương, hoặc theo sông Bồ, hoặc theo Vũ Tĩnh nhằm vượt qua xung đột, như vậy có thể đại thắng. Phương Các lão và quan Binh bộ đều tán thành kế sách này, chẳng hay Trương tán thiện nghĩ thế nào?
Trương Nguyên trầm ngâm chốc lát, lại hỏi: - Triều đình muốn mạnh tay chinh phạt kiến Nô, không biết có thể động dụng bao nhiêu quân?
Dương Hạo trầm ngâm nói: - Tổng cộng phải có một trăm ngàn quân mã mới có thể điều độ, Binh bộ đã thúc giục binh mã các trấn Tuyên, Đại, Sơn Tây, Diên, Ninh, Cam, Cố, lại trưng dụng hai vạn binh mã Triều Tiên, một trăm ngàn đại quân có thể triệu tập, nhưng đối ngoại thì phải xưng bốn trăm ngàn, khiến Nô tù kinh sợ.
Trương Nguyên nói: - Vậy tiên sinh nghĩ đến Nô Nhĩ Cáp Xích có thể có bao nhiêu binh mã?
Chương 502: Mưu sự tại nhân (1)
Dương Hạo nói: - Từ việc Phủ Thuận binh bại lần này, đoán chừng bộ kỵ (binh bộ và binh mã) của kiến Nô khá ít, vốn tưởng không quá năm vạn, hiện giờ tổng số hẳn là không dưới sáu vạn.
Trương Nguyên nói: - Tại hạ đi sứ Triều Tiên khi, từng nghe thám báo Triều Tiên nói kiến Nô có ba vạn trường giáp quân, bộ kỵ có bốn, năm vạn, đều có thể trưng dụng, mà tháng trước quân của Trương tổng binh thất bại, chín ngàn con chiến mã và bảy ngàn bộ giáp trụ quy về kiến Nô, kiến Nô lần này lại có thể hơn vạn kỵ binh. Tại hạ phỏng chừng sang đầu xuân năm sau, kỵ binh mặc giáp kiến Nô có bốn vạn, lính bộ cũng tương tự, tổng số gần tám vạn. Mà Đại Minh gấp gáp triệu tập một trăm ngàn quân đối kháng với tám vạn quân địch, lính cũng không chiếm được ưu thế là mấy, lại còn chia binh như vậy, chẳng phải cho địch cơ hội tiêu diệt từng bộ phận hay sao?
Dương Hạo nghiêm túc nghe phân tích của Trương Nguyên, nghe thấy tiêu diệt từng bộ phận, y mỉm cười nói: - Ta biết lão nô giỏi về dụng binh, nhưng mấy lộ quân từ nơi đó xuất kích, khi nào xuất kích, lão nô làm thế nào có thể biết trước được. Kỵ binh của gã tuy hành động mau lẹ, nhưng cũng không thể chắp cánh mà bay, sao có thể tràn ra khắp Đông Nam Tây Bắc tiêu diệt từng bộ phận!
Trương Nguyên lúc này thật không còn cách nào khác thuyết phục Dương Hạo, hắn nhíu mày, nói: - Một trăm ngàn quân chia làm mấy lộ, nếu gặp phải chủ lực kiến Nô, chỉ sợ dữ nhiều lành ít, một lộ thất bại, các lộ khác sẽ hoang mang thậm chí thần hồn nát thần tính. Cuộc chiến tao ngộ giữa Trương tổng binh và kiến Nô, mười ngàn quân sĩ chỉ chạy về vài trăm người, mà nghe nói quân bát kỳ chỉ mất hơn chục người, lực đánh của thiết kỵ kiến Nô cực kì khủng bố.
Mười ngàn quân của Trương Thừa Dận đại bại là sự thật, Dương Hạo nhất định coi trọng, nghiêm mặt nói: - Ta sẽ cẩn thận hỏi bại binh Liêu Đông về tình hình giao chiến thực tế khi đó, tìm hiểu chiến thuật kiến Nô. Thật ra phân - tiến - hợp - kích cũng là kế sách nhập gia tuỳ tục, các lộ quân không cùng tập trung, sào huyệt Hách Đồ A Lạp của kiến Nô chính là chỗ đại binh ta tập kết quân, đáng tiếc hiện tại các lộ quân chưa tới, bằng không tiến binh trong trời tuyết chính là lấy dài tránh ngắn, đất tuyết có thể ngăn kỵ binh kiến Nô xung phong.
Trương Nguyên nói: - Các lộ quân cách xa nhau mấy trăm dặm, khó có thể thống nhất chỉ huy, càng khó cam đoan đúng hạn đi tới Hách Đồ A Lạp, kiến Nô có địa lợi hơn so với quân ta, kế sách phân - tiến - hợp - kích ta nghĩ không ổn.
Dương Hạo hỏi: - Vậy Trương tán thiện có kế gì?
Trương Nguyên nói: - Không cần gấp gáp tiến binh mà cứ từ từ, trước tiên phái người ngăn cản giặc Nô, lấy Nạp Lan Ba Khắc Thập trao đổi với Lý Vĩnh Phương du kích Phủ Thuận hàng địch. Kẻ này mở ra tiền lệ tướng lĩnh Đại Minh ta đầu hàng kiến Nô, và là tiên phong địch, ở các bảo trại mê hoặc chiêu hàng quân dân ta, ảnh hưởng cực tệ. Nếu có thể đôi vê kẻ này, vấn tội tử hình, từ nay về sau tướng sĩ quân Minh không dám dễ dàng hàng địch.
Lửa trong chậu than nổ lách tách, bên ngoài tuyết lớn vẫn bay đầy trời.
Trương Nguyên và Dương Hạo bó gối trò chuyện, hắn phải cố gắng biểu đạt nỗi lo về thế cục Liêu Đông với Dương Hạo, nóng nảy thì dễ bại, bình tĩnh phản kích mới là thượng sách.
Bất luận lão Nô có chịu trao đổi Lý Vĩnh Phương hay không, chỉ cần tin tức truyền ra, Lý Vĩnh Phương chắc chắn hoảng sợ, có thể tăng cường ý chí chiến đấu của tướng sĩ Đại Minh. Sau khi Phủ Thuận thành bị công phá, Thanh Hà đã trở thành cô thành mấy trăm dặm xung quanh Phủ Thuận. Tham tướng Trâu Trữ Hiền trung nghĩa quả cảm, thủ thành có công nhất định phải ngợi khen, còn muốn nhân sơ hở khi kiến Nô lui binh vào mùa đông mà tăng cường thủ vệ thành Thanh Hà. Thanh Hà vốn có năm ngàn hai trăm năm mươi binh Tuất, khẩn cấp điều tám ngàn tiếp viện có thể thủ thành, trang bị pháo, súng kíp, nghiêm lệnh thủ vững, không cho phép xuất chiến. Chỉ cần có thể bảo vệ Thanh Hà, tù trưởng Nô cũng không dám xâm nhập Liêu Đông, sau đó quân ta ung dung mưu tính xây dựng lại Phủ Thuận thành.
Dương Hạo nhíu mày, nói: - Nếu lấy kế sách thủ vững chống địch, Hoàng đế cũng sẽ không gọi ta từ Thương Khâu đến kinh thành, luận việc chiến, phải tốc chiến, phải đại thắng. Nếu ta chủ trương thủ thành, ắt sẽ bị chỉ trích vì sợ địch khiếp nhược, không đợi ra Sơn Hải Quan cũng sẽ bị bãi quan.
Trương Nguyên yên lặng gật đầu. Dương Hạo nói rất phải, hiện tại vua dân trong kinh đều muốn khai chiến, đối với việc lão Nô Kiến Châu dám mạo hiểm xâm phạm Thiên triều thì lòng đầy căm phẫn. Ai cũng có vẻ trung can nghĩa đảm, hận không thể tự mình xông lên giết địch, những người này không biết mình biết ta, mù quáng tự đại, lúc này nếu có người chủ trương phòng thủ, chắc chắn sẽ bị chửi làm người nhu nhược.
Trương Nguyên nói: - Thủ chỉ là thủ Thanh Hà, thủ Thanh Hà chính là phối hợp đại quân ta xuất kích, khai chiến là khẳng định, nhưng tuyệt đối không thể gấp gáp động binh. Từ bại vong của Trương tổng binh, pháo súng quân ta gần như không có lực sát thương, cho nên chỉnh đốn quân bị không thể xem nhẹ, nghiên cứu sâu hơn lực phòng ngự của binh trường giáp của quân bát kỳ, làm sao có thể gây lực sát thương nhất cho kẻ thù. Còn nữa, các lộ quân mã làm thế nào thống nhất chỉ huy cũng là một nan đề, tại hạ cho rằng, thu đông sang năm dụng binh chính là thời cơ tốt, trước đó phải thủ vững.
Dương Hạo gật đầu nói: - Trương Tán thiện nghĩ kế rất ổn, ta sẽ tham khảo đề nghị của Trương Tán thiện, trận chiến này chỉ có thể thắng không được bại. Nếu bại, toàn bộ Liêu Đông không còn thuộc Đại Minh ta, Diệp Hách Bắc quan cũng không thể bảo vệ.
Trương Nguyên thầm nghĩ: "Chỉ cần không đại bại thì sẽ không gây tổn thương gân cốt Đại Minh ta, muốn bằng một trận chiến này mà hoàn toàn loại bỏ sự uy hiếp của kiến Nô, đây là khinh địch tự đại." Nói đến thế thôi, nói thêm nữa cũng chẳng có tác dụng gì, rất nhiều việc Trương Nguyên không thể chu toàn được, Dương Hạo phụng chỉ kinh lược Liêu Đông cũng không thể làm chủ mọi chuyện, dư luận vua dân rất kinh người.
...
Rời chỗ ở của Trương Nguyên, Dương Hạo ngồi xe ngựa ra khỏi ngõ Lý Các Lão. Lúc này đã là giờ Hợi, tuyết rơi thưa hơn, nhưng trời vẫn giá rét, xe ngựa chậm rãi chạy qua phía tây Trường An Phố đọng tuyết trắng xóa, Dương Hạo đột nhiên nói: - Đến phủ Phương Các lão.
Đêm dài rét buốt, Phương Tòng Triết qua tuổi lục tuần lúc này đã lên giường, lão thiếp thị tẩm đang xoa bóp chân cho lão. Nghe thấy gia nhân gõ cửa báo lại nói Dương Thị lang lại đến cầu kiến, Phương Tòng Triết lập tức rời giường. Liêu sự nguy cấp, Dương Hạo đi rồi lại đến tất có chuyện quan trọng, lão không dám chậm trễ.
Gặp lại Phương Tòng Triết, Dương Hạo cáo lỗi vì quấy rầy, sau đó bẩm báo lại toàn bộ cuộc trò chuyện với Trương Nguyên. Dương Hạo hiểu tình cảnh mình, y rời khỏi triều đình đã hai mươi năm, mạng lưới quan hệ đã hiếm. Phương Tòng Triết và y là đồng môn, lại là Nội các Thủ phụ, ra ngoài lãnh binh nếu trong triều không có sự ủng hộ lớn, vậy có công cũng vô ích, mắc chút lỗi cũng sẽ bị luận tội. Cho nên Dương Hạo cố nhiên kinh ngạc và bội phục Trương Nguyên tính toán tài tình, nhưng kế sách ngăn địch của hắn trái với dư luận, có phần khó thực thi. Hơn nữa y cũng phải chú ý sự căng thẳng giữa Trương Nguyên và Phương Tòng Triết, y xem trọng cảm nhận của Phương Tòng Triết hơn, y không thể đánh mất sự tín nhiệm của Phương Tòng Triết, nếu không chuyện gì cũng không thành.
Phương Tòng Triết dùng đầu ngón tay vuốt hàng lông mày dài của mình, nghe Dương Hạo nói xong, một lúc sau lão mới lên tiếng: - Trương Nguyên này tâm cơ sâu như thế, thật sự nằm ngoài ý muốn của ta, Kinh Phủ hiền đệ có biết dụng tâm của Trương Nguyên không?
Dương Hạo không dám dễ dàng đáp lời, sợ hiểu sai ý của Phương Tòng Triết, y nói: - Sách lược của Trương Nguyên có thể nói độc nhất vô nhị, đệ còn đang nghĩ về nó.
Phương Tòng Triết cười lạnh một tiếng: - Hắn đây là muốn mượn cơ hội lật đổ lão phu.
Dương Hạo hít sâu, không rõ Phương Tòng tại sao lại kết luận như thế!
Phương Tòng Triết từ tốn nói: - Kinh Phủ à, đệ nghĩ Trương Nguyên kiến thức bất phàm, bị lời nói của hắn mê hoặc cũng không có gì ngạc nhiên. Con người kẻ này cũng có chút tài nhưng không được chính đạo, chuyên tính toán ngầm. Giống như năm đó Nghiêm Thế Phiên - con trai của Nghiêm Phân Nghi tái sinh, đáng tiếc hắn không có người cha như Nghiêm Phân Nghi, nghĩ gian kế cũng không phải chuyện dễ.
Dương Hạo câm như hến, yên lặng nghe Phương Tòng Triết quyết liệt công kích Trương Nguyên, lão nói:
Trương Nguyên dã tâm không nhỏ, đậu Tiến sĩ mới hơn một năm đã muốn độc quyền. Hàn Lâm Viện vốn là nơi bồi dưỡng khát vọng học hỏi, hắn lại không chịu an phận, hoạt động sôi nổi, nhiều lần muốn nhúng tay vào triều chính, đi sứ Triều Tiên lại khiến Triều Tiên long trời lở đất. Cũng không biết hắn vì sao lường trước đệ sẽ phục chức, trước thì gửi thư đường xa khiến đệ ngạc nhiên thán phục hắn có dự kiến trước, nhưng dụng tâm của hắn là muốn cho đệ và lão phu lâm vào khốn cảnh. Tù trưởng Nô dấy binh, Hoàng đế tức giận, nhiều lần hạ ý chỉ yêu cầu phát binh thảo phạt, trong kinh dân chúng cũng muốn báo thù, mà Trương Nguyên lại hiến diệu kế phải cố thủ, đến lúc đó tội danh sợ địch co vòi chỉ có chủ tướng như đệ phải gánh vác. Đệ lại do lão phu tiến cử, nếu đệ bị hoạch tội, lão phu còn mặt mũi nào ở Nội các nữa, tọa sư Ngô Đạo Nam của Trương Nguyên liền có thể danh chính ngôn thuận làm Thủ phụ rồi. Hiền đệ có hiểu được lợi hại trong chuyện này?
PAGE
Chương 503: Đêm trước khi quyết chiến (1)
Phủ Thuận du kích Lý Vĩnh Phương cưỡi một con ngựa đỏ rực xuất hiện ở nơi cách Thanh Hà hơn hai trăm bước, đứng ngoài tầm bắn của cung tiễn và súng kíp, kêu gọi Thanh Hà Thủ tướng Trâu Trữ Hiền đầu hàng.
Thân phận Lý Vĩnh Phương hiện tại là Đại Kim Quốc tam đẳng phó tướng, bởi vì gia quyến đều ở Liêu Dương, Nô Nhĩ Cáp Xích liền đem cháu gái của mình, cũng là trưởng nữ của A Ba Thái gả cho Lý Vĩnh Phương, một tháng trước ở Hách Đồ A Lạp cử hành hôn lễ long trọng, dùng việc này làm lung lạc Lý Vĩnh Phương. Trước đây Nô Nhĩ Cáp Xích xem người Hán là kẻ thù, bắt được người Hán liền giết, hiện tại tiếp nhận đề nghị của Hoàng Thái Cực, phải trấn an người Hán để lợi dụng. Lý Vĩnh Phương là tướng Đại Minh đầu tiên đầu hàng, đương nhiên phải trọng dụng, người Hán bắt về từ Phủ Thuận sau khi nhập hộ khẩu đều do Lý Vĩnh Phương quản hạt. Quyền thế của Lý Vĩnh Phương còn hơn cả lúc làm du kích Phủ Thuận, Ngạch phụ (con rể) Lý Vĩnh Phương tất nhiên cảm động đến rơi nước mắt, có chiến đấu đều tiên phong, dụ chiêu hàng, khiến quân bát kỳ không đánh mà thắng, hạ được không ít bảo trại. Lần này Nô Nhĩ Cáp Xích vây công Thanh Hà, Lý Vĩnh Phương vừa đe dọa vừa dụ hàng chư tướng Trâu Trữ Hiền, muốn lập công mới cho Đại Kim.
Ở đầu thành, Trâu Trữ Hiền cao giọng: - Lý Vĩnh Phương, tên chuột cống vô phụ vô quân kia, chết đến nơi còn ở đây phất cờ hò reo, ngươi có biết Nô Nhĩ Cáp Xích chuẩn bị dùng ngươi đôi vê Nạp Lan Ba Khắc Thập?
Vì khoảng cách xa nên Lý Vĩnh Phương không nghe rõ, liền hỏi: - Trâu phó tướng, ngươi có điều kiện gì cứ việc nói?
Trâu Trữ Hiền cười ha ha:
Đây là cơ mật, ta không nói lần thứ hai.
Lý Vĩnh Phương liền hỏi thân vệ đứng trước và sau y, đám thân vệ này đều là gia đinh của hắn, một người trong đó thính tai, đáp: - Hồi Ngạch phụ đại nhân, Trâu phó tướng nói Hãn muốn dùng đại nhân ngài đôi vê Nạp Lan Ba Khắc Thập.
Lý Vĩnh Phương xanh mặt, cúi đầu nghĩ xem Trâu Trữ Hiền nói thật hay giả. Y biết Nạp Lan Ba Khắc Thập là văn thần Nô Nhĩ Cáp Xích nể trọng nhất, mấy ngày nay y đều nghe Nô Nhĩ Cáp Xích vài lần nhắc tới Nạp Lan Ba Khắc Thập. Gã căm hận Trương Nguyên bắt đi Nạp Lan Ba Khắc Thập, nếu triều Minh đề xuất lấy Nạp Lan Ba Khắc Thập để đổi y, rất khó nói Nô Nhĩ Cáp Xích liệu có đồng ý hay không.
Một người cưỡi ngựa từ sau tiến lên, hỏi:
Lý Vĩnh Phương, Phụ Hãn hỏi ngươi chiêu hàng thế nào rồi?
Người đến là nhạc phụ A Ba Thái của Lý Vĩnh Phương, A Ba Thái so với Lý Vĩnh Phương còn nhỏ hơn một tuổi, không ưa gì lão nữ tế này, nói chuyện từ trước đến nay đều dùng giọng điệu khó chịu.
Lý Vĩnh Phương ngẩng đầu nhìn lướt qua quân Minh trên cổng thành đối diện, nói: - Trâu Trữ Hiền không chịu hàng.
Chưa dứt lời, Trâu Trữ Hiền lại hét lớn: - Lý Vĩnh Phương, triều đình có ân chỉ, chỉ cần ngươi đồng ý trở về, chuyện cũ sẽ bỏ qua, ngươi cũng có thể cùng người nhà ở Liêu Dương đoàn tụ. Lý Vĩnh Phương, ngươi phải hiểu rõ, đến lúc đó bị trao đổi trở về thì không được như vậy nữa đâu.
A Ba Thái vừa nghe Lý Vĩnh Phương chiêu hàng không được, ngược lại cũng bị chiêu hàng, lão hung hăng trừng mắt nhìn Lý Vĩnh Phương, quát: - Lui xuống, tên Nam man này thấy đầu đao không biết sợ hãi, ngươi lúc đó chẳng phải đợi phá thành mới đầu hàng đấy sao!
Lý Vĩnh Phương hổ thẹn, mặt rầu rĩ lui xuống.
Nô Nhĩ Cáp Xích không muốn lãng phí thời gian thêm nữa, lập tức hạ lệnh công thành, có kinh nghiệm công hãm Phủ, quân Hậu Kim lúc này chuẩn bị đầy đủ hơn, đầu thành mắc thang dây, dưới thành đào góc tường, thế công vô cùng hung mãnh.
Thanh Hà vì đề phòng kiến Nô công thành đã chuẩn bị mấy tháng, Thanh Hà ở đông nam sơn cốc Phủ Thuận, địa thế hiểm yếu, dễ thủ khó công, hơn nữa thủ quân Thanh Hà có vạn người, so với thủ quân Phủ Thuận thì gấp mấy lần. Nhưng quân đội Hậu Kim công thành cũng người đông thế mạnh hơn lúc tấn công Phủ Thuận, Hậu Kim tử sĩ mặc trọng giáp quên mình không ngừng khởi xướng tấn công. Tại đầu thành, quân Minh cũng lấy pháo, súng kíp, cung tiễn, lôi thạch đánh trả, hỏa pháo đối kháng với lính Hậu Kim mặc giáp không có sức uy hiếp; lực sát thương của súng kíp, cung tiễn đối với Hậu Kim tử sĩ mặc ba lớp giáp dày cũng rất có hạn, còn không bằng dùng cây lăn hoặc lôi thạch. Cuộc chiến bảo vệ Thanh Hà từ lúc bắt đầu tình thế đã cực kỳ hung hiểm, Trâu Trữ Hiền, Trương Bái và tướng lĩnh quân Minh lúc này mới cảm thấy không đủ sức đối với chiến lực kiến Nô, song cũng không nghĩ nhiều, chỉ đốc thúc sĩ tốt liều chết thủ thành. Đại quân nam lộ của Lý Như Bách tiên phong, Hạ Thế Hiền đã đến Ái Dương, chỉ cần thủ vững hai ngày thì có thể đợi được viện quân, Trâu Trữ Hiền sớm đã được Dương Hạo lệnh cho thủ vững thành.
Cuộc chiến Thanh Hà cực kỳ thảm khốc, tham tướng Trâu Trữ Hiền, du kích Trương Bái, Thủ bảo quan Trương Vân Trình mỗi người dẫn thân vệ gia đinh lên thành đốc chiến. Từ buổi sáng cho đến chạng vạng, kiến Nô tử sĩ hơn mười lần tiến công lên đầu thành, đều bị thủ quân gây ra thương vong gấp mấy lần ngăn chặn.
Đêm xuống, tuyết đọng ngoài thành cùng vầng trăng tròn trên cao sáng lấp lánh, trong thành ngoài thành có thể thấy quân Minh thủ thành đã mệt rã, quân sĩ tử trận cũng lười kéo xuống thành xử lý, song thế công của kiến Nô vẫn không giảm, bốn vạn quân kiến Nô thay nhau công thành suốt đêm. Đối với quân bát kỳ kiến Nô mà nói, hành quân đường dài, giao chiến mấy ngày liền là chuyện thường, nhưng đối với quân Minh thì chiến đấu gian khổ thế này là lần đầu, toàn bộ đều dựa vào nhiệt huyết chống cự. Họ vốn tưởng kiến Nô sẽ tạm thời lui binh trong đêm, như thế quân Minh có thể được nghỉ ngơi và chỉnh đốn, nhưng hiện giờ chỉ có thể dũng cảm tái chiến.
Vào canh hai, Thủ bảo quan Trương Vân Trình tử chiến, Trâu Trữ Hiền lòng gấp không thôi, đốc thúc quân tử thủ. Tính sơ thì một vạn thủ binh đã chết một phần ba, còn kiến Nô bị thương hay tử trận không quá mấy trăm, số thương vong khi thủ thành còn nhiều hơn công thành, thành này khó giữ rồi. Hiện giờ chỉ mong Hạ Thế Hiền của Ái Dương có thể mau chóng dẫn viện quân đến, Liêu Đông phó tổng binh Hạ Thế Hiền là mãnh tướng danh tiếng hiển hách.
Trong thành Trâu Trữ Hiền cực khổ chống đỡ, ngoài thành Nô Nhĩ Cáp Xích cũng lòng như lửa đốt. Quân Minh chống cự ngoan cường vượt qua dự đoán của gã, quân bát kỳ chủ lực công thành đã tổn thất hơn bốn trăm người, những lực sĩ tinh anh này đều theo gã chinh chiến hơn mười năm, nếu cứ thế tổn thất thì gã chịu không nôi. Quân mặc giáp của gã chết một người thì ít đi một người, thời gian ngắn ngủi không thể bổ sung, không thể so với quân Minh, tuy sức chiến đấu có hạn, nhiều người thì thắng, nhưng Thanh Hà nhất định phải đánh hạ.
Trăng sáng về tây, bầu không khí u ám bao phủ trước bình minh, song phương công thủ vì thế mà tạm thời bình ổn. Đột nhiên phía nam thành Thanh Hà hét vang một trận, góc tường phía nam bị đào xuyên qua, quân Hậu Kim đã tiến vào thành!
Trâu Trữ Hiền lạnh gáy, vội lệnh cho du kích Trương Bái đốc chiến ở thành đông, còn y suất lĩnh mọi người đến thành nam ngăn chặn lỗ hổng này.
Quân trường giáp kiến Nô dũng mãnh, chỗ bị hổng khó mà chặn lại, đã có hơn trăm quân kiến Nô xông vào thành nam. Trâu Trữ Hiền tự biết thành phá khó tránh, bèn hạ lệnh trảm ngựa đốt lương, lương thảo ở Thanh Hà đã sớm tập trung bảo quản từ một tháng trước, chính là vì đề phòng nếu lỡ thành bị phá thì cũng không rơi vào tay kiến Nô.
Lửa cháy phừng phực, tiếng hô giết động trời, tham tướng Trâu Trữ Hiền dẫn theo mấy trăm gia đinh chiến đấu ở thành nam. Trời tảng sáng, thành đông cũng bị công phá, du kích Trương Bái tử chiến, Trâu Trữ Hiền cũng tử chiến, một vạn thủ quân ở Thanh Hà không một ai hàng địch, tất cả đều hy sinh.
Nô Nhĩ Cáp Xích thấy lương thảo bị đốt thì rất giận dữ, hạ lệnh tàn sát hàng loạt dân trong thành. Dân chúng ở Thanh Hà và ở trại Giảm Trường phụ cận chưa kịp trốn thoát đã bị tàn sát, một số bá tính thoát khỏi tử địa gặp được Liêu Đông Phó tổng binh Hạ Thế Hiền dẫn năm ngàn viện quân cách Thanh Hà trăm dặm. Hạ Thế Hiền nghe tin biết Thanh Hà đã bại thì lấy làm kinh hãi, một mặt phái người cấp báo Lý Như Bách, một mặt thúc giục quân sĩ chạy tới Thanh Hà.
Lý Như Bách nghe tin liền sai người cưỡi khoái mã đuổi theo Hạ Thế Hiền, lệnh Hạ Thế Hiền đóng quân xem chừng. Kiến Nô dã chiến rất mạnh, chớ nên tranh đấu, năm trước Trương Nhận Dận là vì cứu Phủ Thuận mà toàn quân tận diệt.
Lúc này Hạ Thế Hiền cách Thanh Hà chỉ còn ba mươi dặm, trạm canh gác báo kiến Nô đã lui lại, còn để lại một nhánh quân đang phá hủy tường thành Thanh Hà và Giám Trường.
Hạ Thế Hiền lúc này quyết định truy kích. Hoàng hôn ngày kế tiếp sau khi Thanh Hà bị phá, quân Hạ Thế Hiền chạy tới ngoài thành Thanh Hà, nhưng khắp nơi đều là cảnh hoang tàn, giữa đống đổ nát vẫn còn bốc khói đen. Thành đông và nam của Thanh Hà cơ bản đã bị hủy, ba ngàn Hậu Kim bộ kỵ lưu lại phá thành đang chuẩn bị rút lui, thấy có quân Minh liền gấp rút tiếp viện, lập tức nghênh chiến.
Hạ Thế Hiền khua đại đao một mình xông lên, phá tan hàng rào quân kiến Nô, giết hơn trăm tên. Kiến Nô không dám lưu lại, thừa đêm tối bỏ chạy, Hạ Thế Hiền lo bị truy kích nên không đuổi theo, để lại trăm binh sĩ dọn xác tướng sĩ đã tử chiến, sau đó dẫn quân rút lui.
Chương 503: Đêm trước khi quyết chiến (2)
Ngày mười lăm tháng hai, Dương Hạo sớm đã dọn đến Quảng Ninh nhận được tin thủ quân Thanh Hà tử trận, y thất kinh hồn vía, vội triệu tập Lý Như Bách, Hạ Thế Hiền đến Quảng Ninh cùng thương lượng đối sách. Trong tình hình Thanh Hà có một vạn thủ quân chiến đấu một ngày một đêm cũng không thể trụ vững, hơn nữa theo lời bá tính còn sống sót kể Trâu Tham tướng đã anh dũng chiến đấu, một vạn tướng sĩ dưới trướng cũng tử chiến. Điều này khiến Dương Hạo kinh hãi, cuộc nói chuyện cùng Trương Nguyên vào đêm tuyết kia lại hiện lên trong tâm trí.
Sau khi Trương Nguyên biết phương án tác chiến bốn lộ xuất binh từng dâng thư lên Dương Hạo, nói Mã Lâm, Lý Như Bách đều khó gánh trọng trách, chọn chủ tướng cho hai lộ này phải cân nhắc kỹ. Dương Hạo không để ý, cho rằng Trương Nguyên chưa từng quen biết Mã Lâm và Lý Như Bách, nào biết có dùng được hay không.
Nhưng không chỉ có Trương Nguyên phản đối Mã Lâm làm chủ tướng quân bắc lộ, giám quân bắc lộ Phan Tông Nhan cũng nói Mã Lâm hèn nhát không gánh vác được, mời tướng khác làm soái, còn Mã Lâm là kế dự phòng, bằng không tất bại.
Phan Tông Nhan là giám quân của lộ quân Mã Lâm, giám quân nói chủ tướng không thể gánh vác khiến Dương Hạo khó xử. Mã Lâm là Khai Nguyên tổng binh, đóng quân lâu ở Bắc quan, để y làm chủ tướng quân bắc lộ là thích hợp nhất, do đó Dương Hạo không định để người khác làm. Song thất bại ở Thanh Hà khiến Dương Hạo phải suy xét lại sức chiến đấu của quân Hậu Kim, lực sát thương thấp của súng kíp súng pháo ở Thanh Hà cũng khiến y sầu lo.
Sau khi thương nghị cùng Kế Liêu tổng đốc Uông Khả Thụ, Liêu Đông Tuần phủ Chu Vĩnh Xuân và Liêu Đông Tuần án Vương Đình, Dương Hạo quyết định hoãn lại thời gian xuất binh. Vốn định là ngày hai mươi hai tháng hai, hiện giờ hoãn lại nửa tháng, phái thêm gián điệp, thám báo dò hỏi quân tình kiến Nô.
Sớm định ra ngày tiến quân, lộ tuyến và chủ phó tướng báo lên triều đình, Dương Hạo liền lấy lý do đổi chủ tướng quân nam lộ phái người cấp báo Binh bộ, để Liêu Đông Đô Chỉ Huy Sứ Hàn Nguyên Thiện thay thế Lý Như Bách làm chủ tướng quân nam lộ. Năm đó Dương Hạo từng cùng huynh đệ Lý Như Tùng, Lý Như Bách vào Triều Tiên chống Oa, khi đó Lý Như Bách dũng mãnh thiện chiến, để lại ấn tượng sâu sắc với Dương Hạo. Hai mươi năm sau gặp lại Lý Như Bách, Lý Như Bách qua tuổi sáu mươi tóc hoa râm, thân thể mập mạp, còn đâu khí thế anh dũng. Khi nói đến đợt tiêu diệt Hách Đồ A Lạp, Lý Như Bách dường như không có lòng tin. Dương Hạo nghĩ đi nghĩ lại, so với đổi Mã Lâm, không bằng đổi đi Lý Như Bách phóng túng tửu sắc hai mươi năm ở nhà, Thanh Hà bị chiếm đóng, Lý Như Bách có cứu viện cũng không kịp qua, đây chính là lý do lâm trận đổi tướng.
Ngày mười tám tháng hai, Nô Nhĩ Cáp Xích sau khi công phá Thanh Hà thì phái người gửi một phong thư cho Dương Hạo, trong thư viết rằng:
"Nếu Hoàng đế trách cứ người Liêu Đông, rút binh biên phòng về, nghĩ ta là đúng, giải bày mối hận của ta, lại cho Vương tử ta sắc thư, thì chiến tranh cớ gì không ngừng? Đem sắc thư Phủ Thuận đã thưởng cho ta năm trăm đạo, sắc thư Khai Nguyên một ngàn đạo, cho ta quan binh; ngoài ra cho ta cùng các Bối Lặc đại thần đứng đầu của ta tơ lụa ba ngàn xấp, bạc trắng ba ngàn lượng, hoàng kim ba trăm lượng, như thế ta không xâm phạm nữa, đôi bên tự giữ biên giới."
Dương Hạo nhìn thư Nô Nhĩ Cáp Xích gửi đến, không khỏi giận dữ nói: - Nghịch tặc quá sức kiêu ngạo, ngông cuồng, còn dám tới xin thưởng. Đang định sai người chém kẻ đưa thư, bỗng nhiên lại đổi chủ ý. Dương Hạo thương nghị cùng Uông Khả Thụ, Chu Vĩnh Xuân lấy Nạp Lan Ba Khắc Thập đôi vê Lý Vĩnh Phương, trước đây y đã luồn tin đồn ra, vì vậy mới có cuộc đối thoại giữa Trâu Trữ Hiền và Lý Vĩnh Phương ở đầu thành Thanh Hà.
Uông Khả Thụ từ chối cho ý kiến, Chu Vĩnh Xuân cũng cau mày nói: - Đại Minh ta sao có thể cùng kiến Nô trao đổi tù binh! Chu Vĩnh Xuân sớm biết đây là đề nghị Trương Nguyên nói với Dương Hạo.
Dương Hạo nói: - Nạp Lan Ba Khắc Thập đối với Đại Minh mà nói không hề có ích, nuôi gã chỉ phí đồ ăn, mà phản tướng Lý Vĩnh Phương lại vì địch mà chiêu hàng người Hán ở Liêu Đông, tội ác tày trời. Nếu có thể đôi vê người này xử cực hình, làm gương cảnh cáo cho chư tướng Liêu Đông.
Chu Vĩnh Xuân nói:
Tù trưởng Nô sẽ không chịu cuộc trao đổi này, chỉ rước lấy dị nghị.
Dương Hạo nói: - Nếu gã không chịu đổi, Lý Vĩnh Phương nghe nói cũng run sợ, nảy sinh hiềm khích thì sẽ có biến, điều này có lợi với phe ta.
Chu Vĩnh Xuân thấy Dương Hạo vẫn kiên trì, nói: - Dương Thị lang nếu cố chấp muốn vậy, hạ quan không còn gì để nói.
Dương Hạo liền bảo kẻ đưa thử chuyền lời đến Nô Nhĩ Cáp Xích, tuyên bố đại quân bốn mươi bảy vạn người sắp quét ngang Kiến Châu, lệnh Nô Nhĩ Cáp Xích sớm tự trói quy hàng. Điều này đương nhiên là phô trương thanh thế, dụng ý là tạo khủng hoảng cho kiến Nô.
Nô Nhĩ Cáp Xích dĩ nhiên sẽ không bị dọa, nhưng nghe thấy lấy Nạp Lan Ba Khắc Thập để đổi Lý Vĩnh Phương, gã có chút động tâm. Lúc này gã đang thảo luận với con trai Đại Thiện và Hoàng Thái Cực, Đại Thiện chủ trương trao đổi, Hoàng Thái Cực kiên trì phản đối, hai người tranh chấp không thôi. Nô Nhĩ Cáp Xích nói: - Trước tiên không cần lo việc này, làm thế nào đối phó đại quân triều Minh mới là đại sự sinh tử tồn vong. Ta nếu thắng, Đại Minh sẽ cung kính đưa Ngạch Nhĩ Đức Ni trở về, ta nếu chiến bại...
Nô Nhĩ Cáp Xích không nói thêm nữa, chỉ nói: - Các ngươi đều hiểu được.
Đại Thiện nói: - Dương Hạo chỉ có mười hai, mười ba vạn binh mã, nào có bốn mươi bảy vạn. Theo thám báo phía tây Phủ Thuận, phía nam Đống Ngạc cho hay, hai lộ này có rất nhiều quân Minh tập kết, xem ra quân Minh muốn tiến công từ mấy lộ.
Hoàng Thái Cực nói: - Còn có quân Triều Tiên ở đông lộ, bắc lộ Khai Nguyên và Diệp Hách liên quân, có lẽ phía tây Ái Dương còn có một lộ quân, phỏng chừng có từ bốn tới năm lộ quân Minh theo Đông Tây Nam Bắc giáp công Hách Đồ A Lạp.
Đôi mắt Nô Nhĩ Cáp Xích lóe sáng, cười lạnh nói: - Kệ bọn chúng dùng mấy lộ, ta chỉ cần một lộ.
Hoàng Thái Cực nói: - Phải phái thêm người thăm dò, nắm bắt thời gian và lộ tuyến quân Minh tiến công, trước tiên tập trung binh lực đánh tan lộ chủ lực, các lộ còn lại tất chạy tán loạn.
Nô Nhĩ Cáp Xích nói: - Nghe nói triều Minh đề bạt Lý Như Bách làm Liêu Đông tổng binh, xem ra triều Minh quả thực không còn tướng dùng được, Lý Như Bách kia lớn hơn ta sáu tuổi, hơn nữa nhàn cư nhiều năm, làm sao có thể đánh giặc.
Hoàng Thái Cực nói: - Đỗ Tùng cũng được đề bạt, người này dũng mãnh thiện chiến, phải đề phòng nghiêm ngặt. Nhi thần đề nghị phái người đến Tát Nhĩ Hử, xây công sự phía tây Giới Phiên Sơn để phòng bị quân Minh theo tây lộ đánh thẳng vào Hách Đồ A Lạp.
Nô Nhĩ Cáp Xích phê chuẩn, đồng thời cũng lệnh đại quân bát kỳ sẵn sàng rút lui khỏi Hách Đồ A Lạp. Nô Nhĩ Cáp Xích cực kì kiêng kỵ đối với đợt tiến công lần này của quân Minh. Thực ra phương án tác chiến "Kệ bọn chúng dùng mấy lộ, ta chỉ cần một lộ" là kế dự bị, một khi giao chiến bất lợi, Nô Nhĩ Cáp Xích định từ bỏ Hách Đồ A Lạp, dẫn quân bát kỳ lui về Hổ Nhĩ Cáp, chỉ cần kỵ binh chủ lực còn đó, chắc chắn sẽ có lúc Đông Sơn tái khởi.
......
Cái gọi là gậy trúc đánh rắn hai đầu sợ. Bên phía Dương Hạo dò hỏi kỹ tình hình thực tế khi Trương Nhận Dận binh bại và Thanh Hà thất thủ, cực kỳ kiêng kỵ sức chiến đấu của quân bát kỳ, lòng tin tất thắng cũng có chút dao động.
Liêu Đông Phó tổng binh Hạ Thế Hiền lần này còn mang về mấy bộ khôi giáp của quân trường giáp kiến Nô, thử lấy súng kíp và cung tiễn bắn cũng khó xuyên thủng gây sát thương cho địch. Đương nhiên, loại khôi giáp nặng đến trăm cân này cũng không phải quân sĩ bình thường có thể mặc, chỉ có người dũng mãnh hữu lực mới có thể khoác trọng giáp này tiến hành chiến đấu, mà Nữ Chân thì lại có nhiều người như thế.
Ngày hai mươi hai tháng hai, Binh bộ trả lời, đồng ý để Hàn Nguyên Thiện làm chủ tướng nam lộ, đồng thời đốc thúc Dương Hạo mau chóng tiến binh.
Ngày hai mươi chín, Nội các Thủ phụ Phương Tòng Triết viết thư đốc thúc Dương Hạo phát binh tiến công, Binh bộ Thượng thư Hoàng Gia Thiện, Binh khoa Cấp sự trung Triệu Hưng Bang cứ cách hai ngày lại phát cờ đỏ đốc chiến, nói để lâu thiếu quân lương, lợi ở tốc chiến.
Dương Hạo bị đốc thúc mãi, quyết định mùng năm tháng ba đại quân khởi hành, ngày mười một tháng ba quân bốn lộ đồng thời hành động, ngày mười hai hợp doanh trước Nhị Đạo quan tiến về phía trước.
......
Lúc này Nô Nhĩ Cáp Xích cũng đã biết quân Minh có bốn lộ quân. Khi triệu tập các Bối Lặc đại thần thảo luận đối sách, Đại Bối Lặc Đại Thiện cho rằng lộ Thanh Hà có chủ tướng là Lý Như Bách, Lý Như Bách tuổi già hèn nhát, tất không dám dẫn đầu ra biên giới, cho nên lộ này không cần thủ. Thay vào đó tập trung binh lực đối phó các lộ Thẩm Dương, Phủ Thuận, lộ này chủ tướng là Đỗ Tùng, Đỗ Tùng hữu dũng vô mưu, lại thích tranh công, tất sẽ một mình liều lĩnh, có thể phục kích tiêu diệt ở khu vực Tát Nhĩ Hử.
Đám người Nô Nhĩ Cáp Xích không biết chủ tướng lộ Thanh Hà không còn là Lý Như Bách, mà chính là Hàn Nguyên Thiện vừa thay đổi khi lâm trận.
Chương 504: Tát Nhĩ Hử! Tát Nhĩ Hử! (1)
Ngày mười một tháng ba năm Vạn Lịch thứ bốn mươi sáu, lửa bốc ngút trời, binh khí leng keng. Đại Minh Sơn Hải Quan tổng binh Đỗ Tùng lĩnh hai vạn tám ngàn sĩ binh xuất phát từ Thẩm Dương, trong ngày qua Phủ Thuận quan, vượt Ngũ Lĩnh, đến sáng thì tới tả ngạn sông Hồn.
Trước tiên phái thám báo qua sông trinh sát, quân sĩ còn lại theo sau qua sông. Tham tướng Sài Quốc Đống thống lĩnh xa pháo doanh bẩm báo với Đỗ Tùng: - Sông Hồn đáy sâu nước xiết, xe binh mà xuống thì tay không khó giữ, xe hỏa dược hoàn toàn không thể qua.
Đỗ Tùng rất hứng thú với kính thiên lý mà Trương Nguyên đưa, Chính phó đội trưởng của quân canh gác các lộ đều có kính thiên lý, bản thân y cũng mang một chiếc. Lúc này y dùng nó quan sát bên kia sông, thấy núi Nam bên sông có vật cưỡi của địch lui tới, bèn hạ lệnh tăng tốc qua sông chiếm bãi đất cao, xa pháo doanh có thể đi chậm hơn, để Sài Quốc Đống nghĩ biện pháp vượt sông.
Nhưng khi Đỗ Tùng qua sông cùng địch giao chiến, Sài Quốc Đống vẫn chưa nghĩ cách qua sông, ra lệnh hạ trại bên tả ngạn, cũng không phái người thông báo với Đỗ Tùng ở bờ bên kia.
Sau khi Đỗ Tùng qua sông, bộ đội tiên phong lập tức tiến công quân trại Hậu Kim trên núi Nam. Hai quân trại này có bốn mươi quân Hậu Kim canh giữ, du kích Uông Hải Long dũng cảm lên trước phá hai trại, giết chết hai mươi sáu tên kiến Nô, bắt sống mười bốn người, quân Minh cũng có mấy chục người thương vong.
Từ miệng tù binh kiến Nô biết Nô Nhĩ Cáp Xích đang phái người đến Tát Nhĩ Hử chuyển đá xây công sự, có kỵ binh bảo vệ. Thám báo quân Minh phái đi cũng nói núi Giới Phiên ở đông bắc Tát Nhĩ Hử có trên vạn dân phu đang xây công sự, dưới núi có kỵ binh cảnh giới, không rõ số người, đoán chừng không quá năm trăm người.
Đỗ Tùng và Bảo Định tổng binh Vương Tuyên, Kế Liêu tổng binh Triệu Mộng Lân, giám quân Trương Thuyên thảo luận phải nhanh chóng chiếm núi Giới Phiên, dọn sạch đường đến Hách Đồ A Lạp, bằng không thì không thể đúng kỳ hạn tới Nhị Đạo quan và hội hợp với quân nam lộ của Lý Như Bách.
Các tướng quan đều không dị nghị. Đỗ Tùng lập tức cùng Vương Tuyên, Triệu Mộng Lân lĩnh quân đi tiếp. Giám quân Trương Thuyên ở phía sau đốc xúc quân dụng hỏa khí, lúc này mới phát hiện Xa doanh tham tướng Sài Quốc Đống và xe súng pháo còn ở bờ bên kia, hơn nữa cũng không dùng cách gì đưa xe qua sông thuận lợi.
Trương Thuyên giận dữ, cưỡi ngựa qua sông khiển trách Sài Quốc Đống, Sài Quốc Đống lúc này mới vội vàng cho người hoặc kéo hoặc khiêng qua sông. Có một số súng pháo và xe bị sông cuốn đi, lúc này không thể bận tâm đến chút tổn thất đó, phải đuổi kịp đại quân chủ lực mới được.
......
Quân tây lộ của Đỗ Tùng vừa ra Thẩm Dương thì đã bị thám báo Hậu Kim biết. Khi Đỗ Tùng suất quân qua Phủ Thuận quan, Nô Nhĩ Cáp Xích đong quân ở một chỗ cách Hách Đồ A Lạp một trăm dặm về phía tây đã nhận được tin xác thực rằng quân của Đỗ Tùng tiến công, gã lập tức lệnh Đại Thiện, Hoàng Thái Cực dẫn mười lăm ngàn kỵ binh tinh nhuệ suốt đêm từ Hách Đồ A Lạp xuất phát tới Tát Nhĩ Hử mai phục. Còn gã theo sau dẫn mười lăm ngàn thiết kỵ tiếp viện, ba vạn kỵ binh mặc giáp này là toàn bộ kỵ binh chủ lực mà Nô Nhĩ Cáp Xích có thể điều động, còn ba lộ quân Minh khác thì gã chỉ phái hai trăm kỵ binh đi phòng thủ mỗi lộ. Có hiệu quả chính là tác dụng ngăn cản của thám báo, không cho quân Minh nhanh chóng uy hiếp Hách Đồ A Lạp, ở lại Hách Đồ A Lạp còn có hai vạn năm ngàn lính bộ, tất cả quân đội Hậu Kim có thể điều động đều tập trung ở tây tuyến Hách Đồ A Lạp.
Đúng lúc Nô Nhĩ Cáp Xích gấp rút tới Tát Nhĩ Hử, phía nam Đống Ngạc truyền đến tin tức: Nam lộ quân chủ tướng không phải Lý Như Bách, mà là Hàn Nguyên Thiện.
Điều này khiến Nô Nhĩ Cáp Xích có chút bất ngờ. Hàn Nguyên Thiện là Liêu Đông Đô Chỉ Huy Sứ, không phải xuất thân võ tướng, mà là tiến sĩ quan văn. Quan văn triều Minh lãnh binh không đáng ngạc nhiên, Nô Nhĩ Cáp Xích xưa nay khinh thường quan văn Đại Minh, cho nên tuy biết quân nam lộ lâm trận đổi tướng, cũng không cho rằng vì vậy mà nguy hiểm tăng cao. Gã đã quyết tâm đấu với lộ quân của Đỗ Tùng, chỉ cần đánh tan quân Minh tây lộ của Đỗ Tùng, kỵ quân của gã hành động mau lẹ, vẫn có thể có thời gian đối phó với ba lộ quân Minh còn lại đang tiến sát Hách Đồ A Lạp.
Sáng ngày mười một tháng ba, Đại Thiện suất quân qua Trát Khách quan, một mặt phái thám báo cưỡi ngựa đến Tát Nhĩ Hử trinh sát, một mặt đóng quân chờ Hoàng Thái Cực và Nô Nhĩ Cáp Xích. Hoàng Thái Cực bởi vì giết trâu tế trời ở phía nam Hách Đồ A Lạp nên một canh giờ sau mới đến Trát Khách quan, gặp Đại Thiện thì ngừng lại, liền nói: - Lộ quân Đỗ Tùng đi rất nhanh, quân bộ và dân phu xây công sự ở núi Giới Phiên thiếu quân giới, khó ngăn cản quân Minh tiến công, chúng ta phải khẩn trương tiếp viện. Thủ quân trên núi Giới Phiên thấy viện vân tới, tất hợp lực tử thủ, như thế có thể cao thấp cùng đánh, Đỗ Tùng tất bại.
Đại Thiện nói:
Quân ta ẩn nấp ở đây, đợi trời tối rồi phục kích quân Minh thì có thể đại thắng.
Hoàng Thái Cực nói: - Trận chiến này quân ta phải thắng, hơn nữa phải đại thắng tốc thắng. Đỗ Tùng chỉ có ba vạn nhân mã, mà quân bát kỳ tinh nhuệ của ta đều tập trung ở đây, còn gì phải sợ, cứ diễu võ dương oai nổi trống tiến lên. Thủ quân ở núi Giới Phiên thấy đại quân ta uy vũ tiến đến, sĩ khí tất phấn chấn, lập tức anh dũng đánh trận, tối nay tiêu diệt Đỗ Tùng ngay tại Tát Nhĩ Hử, ngày mai chỉ huy lên phía bắc đối phó lộ quân của Khai Nguyên Mã Lâm.
Do đó, mười lăm ngàn Hậu Kim kỵ binh hướng về phía Tát Nhĩ Hử cách đó bốn mươi dặm.
.....
Quân tây lộ Đại Minh tiên phong du kích Uông Hải Long đầu giờ Thìn đã đến cửa thung lung Tát Nhĩ Hử. Buổi sáng trinh sát cho thấy có mấy trăm kỵ binh địch ở cửa thung lũng, nhưng lúc này một bóng cũng không thấy, dân phu vận chuyển đá đều rút lui lên núi Giới Phiên. Uông Hải Long ghi nhớ nghiêm lệnh không được liều lĩnh của Đỗ tổng Binh, bèn phái người hướng Đỗ Tùng xin chỉ thị.
Đỗ Tùng giục ngựa đi vào cửa thung lũng Tát Nhĩ Hử. Y quan sát địa hình, xa xa là núi Thiết Bối hiểm trở, sông Hồn và sông Tô Tử chảy giao nhau dưới chân núi, phía tây chân núi Thiết Bối nối liền với núi Giới Phiên. Có thể thấy công sự kiến Nô đang xây trên núi Giới Phiên dựa vào phía đông của núi, vách đá Cát Lâm cao ngàn mét đứng sừng sững, sông Hồn chảy từ đông sang tây lượn qua núi Giới Phiên, vùng thung lũng Hà Nam này chính là Tát Nhĩ Hử, địa thế gập ghềnh, cây rừng rậm rạp.
Đỗ Tùng lấy kính thiên lý trông ra xa, thấy kiến Nô ở công sự trên núi Giới Phiên đang nhìn về phía vách đá Cát Lâm, điều này đương nhiên là muốn cứ hiểm tự thủ. Khi nhìn kỹ lại, kiến Nô xây công sự đều không phải dân phu, mà chính là lính bộ kiến Nô.
Tổng binh Vương Tuyên đề nghị lập tức tiến công vách đá Cát Lâm, chiếm lĩnh núi Giới Phiên, đánh tan lính kiến Nô, đồng thời chia tám ngàn binh chiếm cứ bãi đất phía tây Tát Nhĩ Hử, đề phòng kiến Nô kỵ binh bất ngờ đột kích đường lui của quân Minh.
Loại chiến thuật bộ binh chiếm cứ bãi đất, tạo thế gọng kìm này rất thường thấy. Lộ quân của Đỗ Tùng mặc dù cũng có sáu ngàn kỵ binh, nhưng kỵ binh của quân Minh và Hậu Kim kỵ binh không cách nào so sánh được, chỉ có hiệu quả tăng tốc độ hành quân, lực đánh của cung kỵ rất yếu, cho nên hành quân bày trận đều là áp dụng chiến thuật bộ binh.
Đỗ Tùng có biệt hiệu là "Cuồng phu", tác chiến dũng mãnh nhưng thiếu mưu kế. Song lần này từ lúc xuất binh Thẩm Dương tới nay, hành quân lại khá cẩn thận, rất xem trọng thám báo, lúc này nghe Vương Tuyên nói phải chia binh, y liền nói: - Phái nhiều thám báo trinh sát, xem tù trưởng Nô đến ngăn chặn bộ kỵ quân ta đang ở đâu, nếu ở khá xa, quân ta cứ chiếm núi Giới Phiên trước. Tiến công núi Giới Phiên phải vượt qua sông Giới Phiên trước, nếu nhất thời công không được, cường địch tập kích ta lui lại, quân ta tiến thoái không được thì há chẳng phải hai mặt thụ địch rồi à.
Vương Tuyên có chút kinh ngạc, Đỗ Tùng luôn luôn thích đoạt công lao, lần này vì sao cẩn thận như thế, phải biết kiến Nô trên núi Giới Phiên đều là quân công!
Đỗ Tùng đương nhiên là có chút cân nhắc. Gần ba vạn đại quân ra Thẩm Dương tiến sát Hách Đồ A Lạp, trừ phi Nô Nhĩ Cáp Xích là người chết, bằng không thế nào cũng biết tin phái binh tới đón đầu rồi, không thể để quân Minh đánh thẳng vào Hach Đồ A Lạp, cho nên Đỗ Tùng sớm chuẩn bị ác chiến. Hơn nữa, đầu năm Trương Nguyên từng cho người đưa thư nhắc nhở phải phòng bị kiến Nô tập trung binh lực đối phó lộ Phủ Thuận, đối với điều này Đỗ Tùng bán tín bán nghi. Bốn lộ đại quân tiến sát Hach Đồ A Lạp, Nô Nhĩ Cáp Xích đương nhiên phải chia binh đón địch, nếu chuyên đối phó lộ quân của y, vậy các lộ khác ứng phó thế nào?
Đỗ Tùng tuyệt đối không tin Nô Nhĩ Cáp Xích có thể nội trong một ngày tiêu diệt ba vạn đại quân của y, sau đó chỉ huy lên phía bắc đánh tan quân bắc lộ của Mã Lâm, rồi chặn đánh quân đông lộ và liên quân Triều Tiên, cuộc chiến ở Tát Nhĩ Hử sẽ hạ màn khi ba lộ bị đánh tan tác. Trương Nguyên cũng phản đối Đỗ Tùng đề cập đến khả năng này, bởi vì như thế chỉ làm Đỗ Tùng không tin bất kỳ lời nào của hắn, mà hiện tại, Đỗ Tùng vẫn tương đối kính phục Trương Nguyên. Tuy nói không tin tưởng lắm Nô Nhĩ Cáp Xích sẽ tập trung binh lực ở tây lộ Hách Đồ A Lạp, nhưng cũng không dám khinh thường, khi hành quân y đều cho thám báo đi trước, chuẩn bị chiến đấu mọi lúc.
Chương 504: Tát Nhĩ Hử! Tát Nhĩ Hử! (2)
Mọi người đang nói chuyện, một thám báo tức tốc đến báo có đại đội kỵ binh kiến Nô đang cách Trát Khách quan bốn mươi dặm, đều là kỵ binh mặc giáp, tổng cộng không dưới vạn người.
Đỗ Tùng kêu một tiếng: - Đến rất hay! Rồi y lệnh đại quân nhanh chóng chiếm cứ bãi đất Tát Nhĩ Hử, đào hào xây công sự phòng ngự, lại phái người thúc giục Xa doanh tham tướng Sài Quốc Đống tăng tốc đi tới, súng pháo phải bày trận ở bãi đất chuẩn bị nghênh địch. Trải qua thất bại của Trương Nhận Dận, quân Minh đã tăng cao cảnh giác đối với Hậu Kim dã chiến.
Bốn trăm Hậu Kim kỵ binh phụ trách cảnh giới ở cửa thung lũng Tát Nhĩ Hử do thám biết quân Minh đã đến, liền mai phục bên sông Giới Phiên, chỉ đợi lúc quân Minh qua sông Giới Phiên tiến công thủ quân trên núi thì lao ra tập kích bất ngờ. Chúng không ngờ quân Minh vẫn chưa tiến công núi Giới Phiên, mà là chiếm cứ bãi đất trong thung lũng bắt đầu xây dựng công sự phòng ngự. Nhìn quân Minh đang không ngừng chạy đến, bốn trăm Hậu Kim kỵ binh không dám tự ý hành động, hiện tại chỉ chờ viện quân đến mới giáp công quân Minh từ hai phía.
Đầu giờ Mùi (13-15h), Đại Thiện và Hoàng Thái Cực lĩnh mười lăm ngàn kỵ binh qua đồi Thái Lan, nơi này cách núi Giới Phiên chỉ có hai mươi dặm đường. Thám báo lại nói quân Minh trú quân ở bãi đất Tát Nhĩ Hử, vẫn chưa tiến công núi Giới Phiên, điều này làm cho Hoàng Thái Cực cực kỳ mất mặt, y luôn lường trước sự việc rất chuẩn, lúc này lại tính sai.
Đại Thiện thầm cười lạnh Hoàng Thái Cực luôn lấy lòng trước mặt Nô Nhĩ Cáp Xích, nhưng ngoài mặt lại nói:
Đỗ Tùng cũng biết hướng đi của đại quân ta, không dám tấn công núi Giới Phiên, hiện tại nên ứng phó thế nào?
Hoàng Thái Cực quyết đoán nói: - Thừa dịp quân Minh chưa ổn định, lập tức khởi xướng tiến công, cho người đưa tin tới núi Giới Phiên, lệnh bộ kỵ trên núi cùng nhau giáp công quân Minh. Nhất định phải càn quét toàn bộ lộ quân Minh này trước sáng ngày mai, bằng không Hách Đồ A Lạp sẽ bị tấn công.
Đại Thiện mặc dù tranh đấu gay gắt với Hoàng Thái Cực, nhưng trong lúc bốn lộ đại quân triều Minh tiến sát, y cũng sẽ không cố ý làm trái lại Hoàng Thái Cực. Y cũng biết trận chiến này lợi ở tốc thắng, lớn tiếng nói: - Vậy chiến thôi! Y đem mười lăm ngàn kỵ binh chia làm hai cánh trái phải, Hoàng Thái Cực trai, Đại Thiện phai, không tiếc mã lực, tiến nhanh về hướng Tát Nhĩ Hử.
Mười lăm ngàn kỵ binh mà Đại Thiện, Hoàng Thái Cực suất lĩnh chính là quân bát kỳ tinh nhuệ, đều là một người hai ngựa, hành quân một con, khi xung phong thì cưỡi con còn lại, cho nên lực rất mạnh.
Đại chiến Tát Nhĩ Hử bắt đầu từ lúc hoàng hôn, núi Giới Phiên nắng chiều như lửa, mười lăm ngàn bộ quân Hậu Kim trên núi theo sau bốn trăm kỵ binh đã vượt sông Giới Phiên, canh giữ ở cửa thung lũng Tát Nhĩ Hử nhằm cắt đứt đường lui của quân Minh. Còn Đại Thiện lĩnh hữu quân tứ kỳ binh bắt đầu tiến công quân Minh ở bãi đất Tát Nhĩ Hử.
Quân Minh lúc này đã kết thành ba đạo trận doanh, đạo ngoài cùng là xa trận, mấy trăm chiếc chiến xa liên kết với nhau, mỗi chiếc trang bị ba khẩu pháo ngắn Phật Lang Cơ , có thể luân phiên bắn. Tuy gấp gáp ứng chiến, nhưng từ trên cao nhìn xuống, pháo bắn liên phát, đối với Hậu Kim kỵ binh xung phong gây sát thương rất lớn, loại đạn bắn ra chính là đạn ria, lực sát thương không nhỏ. Hậu Kim kỵ binh tuy ai cũng mặc trọng giáp, nhưng khó chắn đạn ria tấn công, nhất là ngựa thì phòng hộ càng kém, Đại Thiện chỉ huy hai đợt xung phong trước đó đều bị đánh lui.
Phật Lang Cơ: cách gọi của triều Minh dùng cho nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha.
Sắc trời tối dần, chiến đấu kịch liệt vẫn tiếp diễn. Nô Nhĩ Cáp Xích dẫn mười lăm ngàn kỵ binh chạy tới, nghe Đại Thiện, Hoàng Thái Cực nói rõ tình huống, Nô Nhĩ Cáp Xích cau mày. Vận mệnh Đại Kim nằm ở trận chiến này, tối nay nếu không thể đánh tan quân đội Đỗ Tùng, gã không thể chỉ huy đón đánh bắc lộ Mã Lâm và liên quân Diệp Hách. Theo hồi báo thăm dò mới nhất, Mã Lâm dẫn quân từ Tam Xóa Nhi ra biên giới, đêm qua tụ tập ở khe núi Bái Tử, khe núi Bái Tử cách Tát Nhĩ Hử chỉ có một trăm hai mươi dặm, cách Hách Đồ A Lạp hơn hai trăm dặm. Mà hiện tại vẫn chưa biết lộ quân này sẽ đi đến đâu, nếu nhanh thì cách Hách Đồ A Lạp cũng không xa nữa, cách Tát Nhĩ Hử còn gần hơn. Tình thế Đại Kim nguy hiểm chồng chất, không liều mạng thì đợi khi nào nữa, gã liền hạ lệnh suốt đêm tấn công, không tiếc bất cứ giá nào, nhất định phải phá tan trận doanh quân Minh, tiêu diệt toàn bộ lộ quân Minh này. Quân Minh chưa đến ba vạn người, mà gã có ba vạn kỵ binh và mười lăm ngàn bộ tốt. Với hiểu biết của gã về sức chiến đấu của quân Minh, chỉ cần đột phá xa trận quân Minh, quân Minh tất tan tác.
..............
Ánh trăng đêm nay không khác gì đêm Thanh Hà thất thủ, sáng ngời trong trẻo, điểm khác biệt chính là không có tuyết đọng trắng xóa trên đất. Từ bãi đất Tát Nhĩ Hử trông ra, khắp núi đồi đều là quân bát kỳ Hậu Kim. Lúc này rốt cuộc Đỗ Tùng đã biết Trương Nguyên lại đoán đúng, tù trưởng Nô quả nhiên tập trung chủ lực ở tây lộ, muốn diệt gọn quân tây lộ của y.
Chiến đấu vô ùng kịch liệt, Hậu Kim kỵ binh không ngừng mạo hiểm lửa đạn đột nhập trận doanh, nhưng đều bị súng kíp thủ, cung tiễn thủ của đạo phòng tuyến thứ hai và thứ ba trong chiến hào tiêu diệt. Song Hậu Kim kỵ binh xông lên cực kỳ hung hãn, trước khi bị giết chết có thể sát thương mấy người, thậm chí hơn mười người bên quân Minh. Hơn nữa bởi vì quân Minh lập trận doanh khổng lồ, mấy trăm chiếc chiến xa pháo của xe pháo doanh cũng không thể hình thành vòng tròn phòng ngự. Một bên bãi đất gần sông Hồn này là do Bảo Định tổng binh Vương Tuyên dẫn tám trăm gia đinh thủ vệ, giám quân Trương Thuyên thì không ngừng cổ vũ các tướng sĩ, chỉ cần thủ vững hai ngày tại bãi đất này, ba lộ quân kia sẽ tới, khi đó trong ngoài giáp công, lập được nhiều kỳ công bất phàm.
Đỗ Tùng tay nắm trường mâu, chỉ huy giết địch ở mé đông - nơi kiến Nô kỵ binh tiến công mạnh nhất. Chiến đấu kịch liệt và máu tanh khiến cả người y khô ran, Xa doanh tham tướng Sài Quốc Đống bẩm báo một ngàn hai trăm khẩu pháo ngắn Phật Lang Cơ đã có hơn hai trăm khẩu không thể sử dụng, cũng có hơn trăm viên pháo thủ bởi vì pháo tự phát nổ mà chết. Cuộc chiến càng tiếp diễn thì càng có nhiều khẩu pháo bị hủy hoại, chỉ sợ kiên trì không đến tảng sáng, những khẩu pháo này sẽ toàn bộ tận diệt.
Đỗ Tùng tức giận, trách mắng Sài Quốc Đống.
Mục Kính Nham đứng kế bên nói với Đỗ Tùng: - Tướng quân, Dương Thị lang thiết nghĩ không biết tướng quân ở Tát Nhĩ Hử gặp phải chủ lực kiến Nô, ba lộ quân khác hiển nhiên lại càng không biết, chỉ sợ nhất thời sẽ không đến giúp. Ty chức có thể cùng một quân sĩ biết đường ở đây xông ra khỏi trùng vây đến bắc lộ tìm kiếm nhân mã của Mã tổng bộ, xin Mã tổng binh nhanh chóng đến giúp.
Đỗ Tùng nhìn quân bát kỳ tràn khắp núi đồi, cau mày nói: - Các ngươi xông ra ngoài được sao?
Mục Kính Nham nói: - Có áo giáp lấy được từ kiến Nô, hai người ty chức sẽ mặc vào, từ một bên sông Hồn nghĩ cách phá vây, xin tướng quân cấp lệnh tiễn cho ty chức làm bằng chứng.
Lúc này ước chừng là giờ Hợi, trăng sáng đã về tây, tiếng súng pháo, cung tiễn, tiếng gào thét sôi sục. Hậu Kim bộ kỵ tiến công như thủy triều, ba đạo trận doanh quân Minh bày ra có kiên trì đến rạng sáng hay không thật sự rất khó nói, trận doanh vừa vỡ thì phải đánh giáp lá cà. Chiến lực quân Hậu Kim hơn xa quân Minh, hơn nữa nhân số cũng chiếm ưu thế, khi đó sẽ khó thoát khỏi vận mệnh toàn quân bị diệt.
Đỗ Tùng nhìn đăm đăm Mục Kính Nham, suy nghĩ một lúc rồi nói: - Được, mong ngươi có thể lập đại công.
Mục Kính Nham cùng một vị tổng kỳ quan tên là Chu Khánh Hổ mặc áo giáp của lính Hậu Kim. Mục Kính Nham cầm lệnh tiễn và thư của Đỗ Tùng, hai người theo một bên mé sông Hồn đi xuống. Hậu Kim bộ kỵ đang tiến công tưởng quân bát kỳ bị quân Minh đuổi đánh chạy xuống, chiến đấu trong đêm rất hỗn loạn, cũng không kịp xem xét. Hai người Mục Kính Nham chạy hơn mười bước rồi nhảy xuống sông Hồn, nước sông đoạn này chảy xiết, Chu Khánh Hổ là người Liêu, không biết thế nước, Mục Kính Nham nếu không phải sinh trưởng ở vùng sông nước Thiệu Hưng, vả lại sức mạnh, bằng không rất khó ôm theo thanh niên trai tráng bơi lên bờ trong đêm tối.
Hai người Mục Kính Nham bò lên bờ bắc sông Hồn, đều đã sức cùng lực kiệt. Nghe tiếng chém giết rung chuyển trời đất vọng lại từ xa, họ hiểu được quân tình khẩn cấp, không dám nghỉ nhiều, chỉ thở gấp một chút liền đứng dậy đi về hướng bắc.
Trước khi Mục Kính Nham tòng quân, ông là kiệu phu Sơn Âm, sức chân rất khỏe, còn tổng kỳ họ Chu kia khi nãy bơi uống phải ngụm nước nên khá uể oải, Mục Kính Nham lại đi mau, y cố sức theo sau. Hai người đi một mạch đến hơn hai mươi dặm, thể lực không đủ, bị vấp chân té lộn nhào, tay chân bủn rủn, nhất thời không đứng dậy được.
Mục Kính Nham lòng nóng như lửa đốt, ông lại không biết đường đi, đỡ Chu Khánh Hổ cõng trên lưng rồi đi nhanh bước. Chu Khánh Hổ vội la lên: - Mục Bách hộ, sao làm vậy được, để tôi thở một chút, tôi tự đi được mà.
Mục Kính Nham nói: - Ngươi cứ thở trên lưng ta, từ từ lấy lại sức, chúng ta không nên trì hoãn.
Cứ như vậy, hai người đi xuyên qua sơn dã, vào canh bốn đã đến vách đá Thượng Gian. Họ gặp được thám báo của Mã Lâm, nếu không phải thám báo bắn cung không giỏi thì Mục Kính Nham suýt nữa bị tên bắn chết.
Chương 505: Tình thế nguy cấp (1)
Khai Nguyên tổng binh Mã Lâm suất lĩnh hai vạn năm nghìn quân Minh khi cách vách đá Thượng Gian còn mười dặm thì cắm trại, nơi này cách Tát Nhĩ Hử ước chừng hơn năm mươi dặm, cách nơi này năm dặm còn có bốn ngàn kỵ binh của thủ lĩnh Kim Đài Thạch, Bố Trường Cổ của Nữ Chân Diệp Hách.
Xem qua lệnh tiễn và thư của Đỗ Tùng do Mục Kính Nham trình lên, vừa cẩn thận hỏi thăm tình hình chiến đấu Tát Nhĩ Hử, Khai Nguyên tổng binh Mã Lâm nhíu chặt mày, do dự không nói. Mục Kính Nham quỳ xuống cầu xin: - Mã Tướng quân, Đỗ tổng Binh dẫn hơn hai vạn bộ kỵ chiếm cứ bãi đất, còn đang khổ cực thủ vững, nếu cho quân lập tức tiếp viện thì có thể giải vây Tát Nhĩ Hử, lộ quân Thanh Hà do Hàn Chỉ huy sứ suất lĩnh cũng có thể theo sau. Các lộ giáp công, kiến Nô tất bại, xin Mã Tướng quân lập tức phát binh!
Mã Lâm sống lâu ở Khai Nguyên, biết rõ sự lợi hại của kỵ binh Nô Nhĩ Cáp Xích. Nô Nhĩ Cáp Xích đã tập trung binh lực đối phó lộ quân của Đỗ Tùng, tất nhiên là tình thế bắt buộc, Trâu Trữ Hiền thủ vững Thanh Hà cũng chưa thể chống đỡ đến hừng đông. Lúc này y dẫn quân chạy tới Tát Nhĩ Hử, nếu Đỗ Tùng đã bị đánh tan, vậy bắc lộ quân của y sẽ chiến đấu với bộ kỵ kiến Nô đang sung mãn sĩ khí, Mã Lâm tự nghĩ khó có thể đối kháng.
Mã Lâm nói: - Đợi bổn trấn và Phan giám quân thảo luận với thủ lĩnh Diệp Hách.
Khai Nguyên binh bị đạo Thiêm sự Phan Tông Nhan nghe nói Phủ Thuận lộ Đỗ Tùng sai người đưa tin đến cầu viện, Mã Lâm lại sợ kiến Nô hung mãnh, đối với việc tiếp viện Tát Nhĩ Hử do dự không quyết.
Trong lúc này, một khắc thời giờ chính là mấy trăm tính mạng quân Minh, sớm một khắc tới Tát Nhĩ Hử có lẽ sẽ giúp lộ quân Đỗ Tùng tránh bị tận diệt. Phan Tông Nhan đến gặp Mã Lâm, chủ trương gấp rút tiếp viện, kỵ binh đi trước, bộ tốt và xe lửa trại pháo theo sau.
Tháng trước Phan Tông Nhan dâng thư lên Dương Hạo nói Mã Lâm hèn nhát, không gánh được chức lớn, nêu để Mã Lâm làm tướng thì tất bại. Yêu cầu đổi tướng không biết tại sao lại bị Mã Lâm biết, y tất nhiên xấu hổ phẫn hận, nghe vậy nói: - Phan Giám quân, nơi này cách Tát Nhĩ Hử năm mươi dặm, hơn nữa vùng núi chiếm đa số, quân ta hơn phân nửa là bộ tốt, đồ quân dụng quá nhiều, nếu lập tức khởi hành đến Tát Nhĩ Hử thì nhanh nhất cũng là sau giờ Ngọ rồi, Phan Giám quân có dám đảm bảo Đỗ Tổng binh có thể thủ vững đến lúc đó?
Không đợi Phan Tông Nhan hồi đáp, Mã Lâm lại nói: - Nếu bộ kỵ ta đường dài chạy tới Tát Nhĩ Hử, lộ quân của Đỗ Tổng binh đã bại, tướng ta mỏi mệt thì liệu có thể chiến đấu với kiến Nô đang bừng bừng sĩ khí?
Phan Tông Nhan nói: - Đỗ Tổng binh nếu có thể sai người phá vây tới đây, vậy cho thấy kiến Nô vây công có sơ hở. Hai vạn tám ngàn binh mã của Đỗ Tổng binh phần lớn đến từ Diên Tuy, Diên Tuy quân sĩ lấy cương nghị xưng chiến, hiện đang thủ vững Tát Nhĩ Hử, chủ lực không tổn thất, xa doanh đều còn, sao lại không thể thủ vững đến sau giờ Ngọ hôm nay. Vả lại quân ta có thể lệnh cho kỵ binh đi trước, kích trống nổ súng, khuếch trương thanh thế, khiến thủ quân Tát Nhĩ Hử biết bộ phận ta đến giúp, lòng quân dao động, anh dũng tử chiến, đến lúc đó trong ngoài giáp công, liền có thể đánh bại kiến Nô.
Mã Lâm cười lạnh, cho rằng quan văn Phan Tông Nhan chỉ biết lý luận suông, hoàn toàn không biết Kiến Châu Nữ Chân hung hãn. Quân bát kỳ chủ lực đều tập trung ở Tát Nhĩ Hử, vậy tổng cộng có chừng sáu vạn người đang ở đó, hai vạn tám ngàn nhân mã của Đỗ Tùng trải qua một đêm luân phiên công kích, dù không bị toàn diệt thì chỉ sợ còn lại không bao nhiêu. Bộ kỵ quân Khai Nguyên của y tổng cộng có hai vạn năm ngàn người, làm sao có thể cùng năm, sáu vạn quân bát kỳ dã chiến, y không thể mạo hiểm như vậy. Lộ quân Đỗ Tùng tan tác là chắc chắn, y chỉ cầu bảo toàn binh mã của lộ quân mình thì đã có công vô tội, bèn nói: - Phan Giám quân chớ quên Thanh Hà Trâu Tham tướng bại vong như thế nào, nếu bộ phận ta gấp rút tiến đến thì trúng gian kế của tù trưởng Nô. Theo ý ta, bộ phận ta lập tức xây dựng công sự phòng ngự tại đây, một mặt phái người liên lạc với Hàn Chỉ huy và Lưu Tổng Binh, tranh thủ hợp binh một chỗ, đây mới là kế sách tất thắng.
Phan Tông Nhan lạnh lùng nói:
Mã Tướng quân, Phủ Thuận quân sai người cầu viện, ngài lại án binh bất động, làm hỏng thời cơ chiến đấu khiến đồng đội thất bại, phải bị tội gì?
Phan Tông Nhan đã ra mặt, vậy Mã Lâm cũng không khách khí, lạnh lùng nói: - Phan đại nhân, nếu ta nghe theo ngu kiến của ngươi, đẩy quân Khai Nguyên đến chỗ vạn kiếp bất phục, vậy phải chịu tội lớn hơn nữa.
Phan Tông Nhan tức giận đến cực điểm. Y là Giám quân, chưởng quản thưởng phạt trong quân nhưng không có quyền điều binh khiển tướng. Tuy bảy ngàn người vận chuyển quân dụng hậu cần do y thống lĩnh, nhưng đều là bộ tốt, nếu không có Mã Lâm suất lĩnh chủ lực ủng hộ, một nhánh quân của y tùy tiện tiến đến Tát Nhĩ Hử, quả thực sẽ cùng quân của Đỗ Tùng bại vong như Mã Lâm đã nói!
Dương Hạo ở Liêu Dương xa xôi, tám trăm dặm cấp báo cũng không kịp, Phan Tông Nhan lòng nóng như lửa đốt, lớn tiếng tranh chấp với Mã Lâm trong quân trướng. Lúc này vệ binh báo lại: Bối Lặc Kim Đài Cát, Bố Dương Cổ của bộ lạc Diệp Hách cầu kiến Mã Tướng quân.
Kim Đài Cát và Bố Dương Cổ dẫn theo vài người hầu đi vào quân trướng Mã Lâm, Mã Lâm và Phan Tông Nhan đứng dậy chào. Mã Lâm thấy Mục Bách hộ kia cũng theo sau Bố Dương Cổ, lấy làm lạ, chỉ nghe Bố Dương Cổ nói: - Mã Tướng quân, khẩn trương tiếp viện đi, bốn ngàn thiết kỵ của bộ lạc Diệp Hách ta tình nguyện dẫn đầu. Kim Đài Cát không biết nói tiếng Hán, chỉ liên tục gật đầu.
Mã Lâm sửng sốt, Phan Tông Nhan mừng rỡ, khẩn trương nói: - Mã Tướng quân, binh trọng thần tốc, Bắc quan kỵ binh không kém hơn kiến Nô, hai vị Bối Lặc lại dũng mãnh vô địch, Đỗ Tổng binh chủ lực vẫn còn, đánh bại kiến Nô lập kỳ công chính là hôm nay. Giọng điệu của y đầy khẩn thiết.
Mã Lâm lúng túng. Hai đại thủ lĩnh của Bắc quan Diệp Hách đều chủ trương cứu viện, chủ tướng bắc lộ quân như y nếu cố ý án binh bất động, mặc kệ chiến cuộc ra sao, y chắc chắn sẽ bị buộc tội trừng phạt
Mục Kính Nham theo sau Bố Dương Cổ đứng ra, quỳ xuống nói: - Mã Tướng quân, cứu binh như cứu hỏa, trì hoãn không được.
Bố Dương Cổ nói: - Nếu đợi quân Nô đánh tan Đỗ Tổng binh, chúng sẽ lên bắc tấn công Mã Tướng quân và Bộ lạc Diệp Hách của ta, thế không đội trời chung, chiến muộn không bằng chiến sớm.
Mã Lâm rốt cục không cố chấp nữa, đáp ứng toàn quân tiếp viện, lấy bốn ngàn kỵ binh Bộ lạc Diệp Hách làm tiên phong. Khai Nguyên Phó tổng binh Ma Nham dẫn sáu ngàn kỵ binh quân Minh tiến đến, còn lại đại đội xa mã theo sau, đồng thời phái người hướng về lộ Thanh Hà kiếm Hàn Nguyên Thiện chuyển vũ khí đạn dược nhanh chóng đến Tát Nhĩ Hử tham chiến.
Canh năm, từ Thiết Lĩnh tới Phủ Thuận sắc trời vẫn lờ nhờ sáng, nơi rừng núi hàn khí dày đặc, chim trong rừng bị tiếng vó ngựa dồn dập đánh động bay loạn lên, quanh quẩn trên không trung rồi sà xuống hai bên thung lũng, bốn ngàn kỵ binh Bắc quan Diệp Hách đã khởi hành.
Bộ lạc Diệp Hách và Kiến Châu Nữ Chân ân oán căng thẳng mấy trăm năm, là địch thì nhiều, là bạn thì ít, ba mươi năm trước từng có thời gian hòa thuận ngắn ngủi, cho nên muội muội của Diệp Hách Đại Bối Lặc Kim Đài Cát liền trở thành mẹ đẻ của Hoàng Thái Cực. Nhưng hiện tại, hai bộ lạc Nữ Chân này không còn đội trời chung, Kiến Châu hùng mạnh, khiến cho Diệp Hách nhất định phải tìm kiếm sự che chở từ triều Minh để sinh tồn. Lần này bốn lộ đại quân triều Minh tiến công Hách Đồ A Lạp, Kim Đài Cát và Bố Dương Cổ cảm thấy phấn chấn, cho rằng thời điểm báo thù rửa hận đã tới, sẵn sàng ra trận tích cực tham chiến. Bởi vì thời gian xuất binh khá gấp gáp, cho nên họ chỉ dẫn theo bốn ngàn kỵ binh theo Khai Nguyên quân Minh xuất chinh, còn mười ngàn bộ kỵ khác thì tụ tập ở cố thành Khai Nguyên.
Mục Kính Nham cưỡi ngựa đi theo Diệp Hách Bối Lặc Bố Dương Cổ, thấp giọng trả lời câu hỏi của Bố Dương Cổ, người đàn ông ngang tàng mặc áo giáp, cầm binh khí phía sau y chính là Khách Quang Tiên. Thân phận thật sự của Khách Quang Tiên là biểu đệ Ni Nhã Cáp của Bố Dương Cổ, cũng là biểu đệ của Khách Ấn Nguyệt. Lần này bộ lạc Diệp Hách tích cực tham chiến, đương nhiên có can hệ lớn đến Khách Quang Tiên.
Một lúc lâu sau, kỵ binh tiên phong của bộ lạc Diệp Hách đã vượt qua núi Thiết Bối đến bờ bắc sông Tô Tử. Lúc này chợt nghe thấy tiếng vang của súng kíp từ Tát Nhĩ Hử ở phía trước, Giám quân Phan Tông Nhan và Thiết Lĩnh du kích Trịnh Quốc Lương dẫn một đội súng kíp thủ và Diệp Hách tiên phong đồng hành. Nghe tiếng súng và tiếng chém giết vang lên từ xa, Phan Tông Nhan trong lòng đã xác định, quân đội Đỗ Tùng vẫn đang thủ vững bãi đất, chưa bị đánh bại, nhưng chỉ nghe tiếng súng kíp mà không có tiếng pháo, hiển nhiên pháo đã hư hại. Đạo trận doanh thứ nhất chỉ sợ đã bị công phá, lúc này vội vàng ra lệnh súng kíp thủ bắn chỉ thiên, báo cho quân minh trên bãi đất Tát Nhĩ Hử biết rằng viện quân đã tới.
...
PAGE
Chương 505: Tình thế nguy cấp (2)
Chiến đấu kịch liệt cả đêm, Đỗ Tùng lúc này đã mỏi mệt rã rời, hơn ngàn khẩu pháo ngắn Phật Lãng Cơ không kiên trì được đến hừng đông, toàn bộ đã thành pháo lép, đạo trận doanh thứ nhất đã bị công phá. Kiến Nô bộ kỵ có thể xông tới rất gần bắn tên lên chỗ bãi đất, gây sát thương lớn cho quân Minh, mà uy lực súng kíp quân Minh không lớn, không ngừng có kỵ binh kiến Nô nhảy qua chiến hào quân Minh đào mà tiến vào trận doanh quân Minh. Đánh giáp lá cà càng lộ rõ thế yếu của quân Minh, tính sơ quân Minh thương vong đã gần vạn người, rải khắp núi đồi, máu chảy thành sông. Kế Liêu tổng binh Triệu Mộng Lân bị tên bắn chết, Bảo Định tổng binh Vương Tuyên cũng bị thương.
Diên Tuy du kích Uông Hải Long tự xưng không sợ chết lúc này cũng bắt đầu sợ hãi, y nói với Đỗ Tùng: - Tướng quân, nơi đây nguy hiểm, còn tử thủ thì toàn quân chúng ta đều tận diệt, không bằng tập trung binh lực phá vây?
Đỗ Tùng lau máu trên mặt, biểu hiện có chút dữ tợn, quát: - Tử thủ, đợi tiếp viện.
Giám quân Trương Thuyên cũng nói: - Nơi đây sông Hồn lượn quanh, khắp nơi đều là quân địch, nếu bỏ núi này xuống tới thung lũng thì càng khó ngăn cản kỵ binh kiến Nô tấn công. Chỉ có tử thủ, chờ đợi Khai Nguyên binh cứu viện, đây là con đường sống duy nhất.
Rất nhiều binh lính Mãn Châu nhảy qua chiến hào đạo thứ hai vào trận doanh quân Minh, hỗn chiến bắt đầu, Đỗ Tùng và Vương Tuyên đem thân vệ gia đinh hợp lực tử chiến...
Lúc này Nô Nhĩ Cáp Xích hai mắt đỏ bừng, hổ tướng Ngạch Diệc Đô của y cũng đã bị lửa đạn của quân Minh đả thương, đã được khiêng xuống cứu trị, mặc dù không chết nhưng cũng là phế nhân. Gã tận mắt nhìn thấy Ngạch Diệc Đô một chân bị nổ nát bấy, Ngạch Diệc Đô là một trong ngũ đại thần đứng đầu Đại Kim, theo gã chinh chiến nhiều năm, chiến công hiển hách. Hôm nay y bị trọng thương ở Tát Nhĩ Hử, Nô Nhĩ Cáp Xích lòng đau như cắt, càng khiến gã thất kinh chính là binh lính bách chiến của gã trong một đêm thương vong đã vượt qua hai ngàn. Chính Bạch Kỳ và Tương Hoàng Kỳ tổn thất càng thê thảm, Tương Hoàng Kỳ có hai Ngưu Lục gần như thương vong không còn, đây là tổn thất khiến gã khó chấp nhận được. Những chiến binh mặc giáp đó đều theo gã chinh chiến tứ phương, ai cũng thành thạo cung mã, lấy một chống trăm, nhưng bây giờ liên tiếp bị mất mạng ở thung lũng này, hơn nữa quân Minh vẫn tử thủ vững vàng trên bãi đất.
Ngưu Lục: một loại tổ chức xã hội hợp nhất giữa sản xuất và quân sự.
Thám báo báo lại, có rất nhiều quân Minh đến từ phía bắc, tiên phong sẽ nhanh chóng đến núi Thiết Bối!
Bọn người Đại Thiện, A Mẫn, Hoàng Thái Cực đều hoảng sợ biến sắc, lộ này ắt hẳn chính là Khai Nguyên Mã Lâm thống lĩnh bắc lộ quân, vì sao lại đến đây nhanh như thế?
Nô Nhĩ Cáp Xích bình sinh kinh qua vô số chiến sự, chưa bao giờ thất bại, tuy trong lòng dậy sóng, trên mặt lại hung tàn, quát: - Tới rất đúng lúc, miễn cho binh lính bát kỳ ta bôn ba đi tìm y, cứ để núi Thiết Bối làm bãi tha ma của bọn chúng. Lúc này gã hạ lệnh Hoàng Thái Cực, A Mẫn lĩnh năm nghìn kỵ binh Chính Bạch Kỳ, Tương Lam Kỳ đi chặn đánh lộ quân Mã Lâm, còn lại lục kỳ tinh nhuệ tiếp tục tấn công quân minh ở Tát Nhĩ Hử.
Trên bãi đất, Đỗ Tùng nghe thấy tiếng súng từ bên núi Thiết Bối, lập tức thấy kỵ binh kiến Nô trong thung lũng hướng về sông Tô Tử dưới chân núi Thiết Bối điều động. Đỗ Tùng mừng như điên, gọi to: - Các tướng sĩ, viện binh chúng ta tới rồi! Viện binh tới rồi!
Quân Minh sĩ khí đại chấn, binh lính vốn đã kiệt sức đột nhiên có động lực mới, phấn đấu quên mình cùng kiến Nô tử chiến.
Viện quân mặc dù đến, nhưng vẫn không giảm bớt nguy cơ của quân Đỗ Tùng. Kiến Nô thế công mãnh liệt, trận doanh đã bị công phá toàn bộ, quân Minh thương vong thảm trọng, máu tươi nhuộm đỏ sông Hồn.
...
Diệp Hách và liên quân Khai Nguyên lộ tạm trú bờ bắc sông Tô Tử, chủ tướng Mã Lâm thúc ngựa phóng tới, thấy bờ bên kia toàn quân bát kỳ thì đâm ra hoảng sợ. Y lập tức hạ lệnh bày trận gần sông, vòng qua ba đạo chiến hào, dựng tường rào ngăn trở Hậu Kim thiết kỵ tấn công, mà xa doanh hỏa pháo thì ở ngoài chiến hào, chuẩn bị pháo kích quân bát kỳ ở bờ bên kia.
Mã Lâm cũng là một viên lão tướng, chiến thuật phương trận của bộ binh áp dụng rất lão luyện. Y không có ý định đi cứu Đỗ Tùng ở bãi đất Tát Nhĩ Hử cách đó năm, sáu dặm, chỉ muốn tự bảo vệ mình.
Giám quân Phan Tông Nhan trong lòng lo lắng, nhưng thấy bờ bên kia Hậu Kim thiết kỵ bày trận đâu ra đó, y cũng không dám tùy tiện suất quân qua sông. Đây là tối kỵ, nhưng chẳng lẽ cứ trơ mắt nhìn Đỗ Tùng bị tiêu diệt, sau đó lại để kiến Nô thong dong xoay người đối phó bọn họ?
Đột ngột thấy một vật cưỡi đi qua sông Tô Tử, nước sông chỗ này phẳng lặng, sâu không quá hai thước, sông rộng khoảng hai, ba mươi trượng. Người nọ rất nhanh phóng ngựa qua sông Tô Tử, tay chống một cây trường thương, một mình cưỡi ngựa chạy về hướng hai thiết kỵ Chính Bạch Kỳ, Tương Lam Kỳ của Hậu Kim.
Là Mục Bách hộ! Chính là Mục Bách hộ tới báo tin.
Quân Minh bờ bắc đều kêu to lên, Diệp Hách kỵ binh nóng lòng báo thù cũng xông qua sông Tô Tử đón đánh Kiến Châu kỵ binh. Khai Nguyên Phó tổng binh Ma Nham dẫn ba nghìn kỵ binh quân Minh theo sát Bắc quan kỵ binh qua sông chiến đấu, chủ tướng Mã Lâm thì tự thủ.
Bộ lạc Diệp Hách và Kiến Châu Nữ Chân chinh chiến nhiều năm, sức chiến đấu mặc dù không bì kịp lính bách chiến của Nô Nhĩ Cáp Xích, nhưng so với quân Minh Liêu Đông cũng dũng mãnh hơn nhiều. Lần này bốn ngàn kỵ binh theo Kim Đài Cát, Bố Dương Cổ xuất chinh là tinh nhuệ trong bộ tộc, cưỡi ngựa bắn cung đều tinh thông. Trong nhất thời, song phương chiến mã hí vang, tên bay như châu chấu, chiến mã đang lao tới hứng trọn làn tên, âm thanh va chạm làm lòng người kinh hãi.
Nô Nhĩ Cáp Xích thấy Chính Bạch Kỳ, Tương Lam Kỳ không thể nhanh chóng đánh tan Diệp Hách và Khai Nguyên quân Minh đang qua sông, gã lập tức phái thêm một ngàn kỵ binh đẩy mạnh thế công lộ này. Binh lính Đỗ Tùng trên bãi đất Tát Nhĩ Hử thả lỏng người đôi chút.
Bảy ngàn quân mặc giáp Hậu Kim nhanh chóng khống chế kỵ binh mà bộ lạc Diệp Hách và Khai Nguyên Phó tổng binh Ma Nham thống lĩnh. Quân Minh không ngừng lui về phía sau, rất nhanh liền thối lui đến bờ sông Tô Tử, một số ngựa và quân sĩ vừa ngã xuống sông.
Có tiếng nổ "ầm ầm" vang lên, xa doanh pháo quân Minh ở bờ bắc bắt đầu phát pháo, Mã Lâm không để ý kỵ binh Kim Đài Cát và Ma Nham còn ở bờ bên kia đang hỗn chiến với kỵ binh kiến Nô thì đã hạ lệnh pháo kích. Mã Lâm lo lắng kỵ binh kiến Nô thừa dịp liên quân kỵ binh lui về phía sau thì xông qua sông Tô Tử, khi đó địch ta hỗn loạn, phòng tuyến của quân Minh sẽ sụp đổ.
Đêm qua hỏa pháo của Đỗ Tùng gây sát thương không nhỏ cho quân bát kỳ, vì vậy Hoàng Thái Cực thấy bờ bên kia phát pháo, tức thì lệnh cho bộ hạ rời khỏi tầm bắn của pháo, cuộc chiến bên sông Tô Tử nhất thời căng thẳng không thôi.
...
Nô Nhĩ Cáp Xích dẫn quân bát kỳ chủ lực ác chiến ở Tát Nhĩ Hử, nhưng vẫn theo sát hành tung của các lộ quân Minh khác. Sáng ngày mười hai tháng ba, thám báo gã phái đi thăm dò đông lộ Lưu Diên báo lại, hơn hai vạn quân của Lưu Diên cùng hơn một vạn súng pháo thủ Triều Tiên từ giữa Khoan Cú, Hoài Nhân đi thẳng đến Hách Đồ A Lạp. Năm trăm kỵ binh Đại Kim đảm nhận ngăn chặn lộ quân Minh này không thể làm gì, chỉ có vừa đánh vừa lui, đã có một Ngưu Lục Ngạch Chân bị giết, lộ quân này di chuyển quá nhanh. Đêm qua tiên phong đã đến đồi A Bố Đạt Lý cách Hách Đồ A Lạp một trăm hai mươi dặm, với tiến độ này, tối nay sẽ tới gần phía nam bên ngoài Hách Đồ A Lạp.
Hơn nữa, năm ngàn binh mã do tiên phong Hạ Thế Hiền suất lĩnh của nam lộ Hàn Nguyên Thiện đã qua đồi Hổ Lan, cách Hách Đồ A Lạp chỉ có tám mươi dặm. Cũng may đoạn đường này gập ghềnh hiểm trở, quân đội tiến lên không nhanh, nhưng sáng mai cũng sẽ tiến đến phía nam bên ngoài Hách Đồ A Lạp. Người Nữ Chân trong thành Hách Đồ A Lạp đã nảy sinh khủng hoảng, có người chuẩn bị trốn đi, còn có vài nô lệ người Hán bắt đầu phản kháng.
Sắc mặt Nô Nhĩ Cáp Xích đỏ gay, gã phải lập tức quyết đoán, nếu không sẽ phải đối mặt với cảnh tượng đô thành bị phá.
Nô Nhĩ Cáp Xích thúc ngựa lên núi Giới Phiên, từ trên cao quan sát chiến cục hai tuyến nam bắc. Tuy quân minh trên bãi đất thương vong nghiêm trọng, nhưng vì có tiếp viện cách đó mấy dặm, vì vậy ai nấy cũng quả cảm tử thủ, trận doanh tuy bị phá nhưng vẫn chưa đến hồi tan tác. Tình hình chiến đấu rất khốc liệt, quân Minh ở bờ bắc sông Tô Tử cũng bày trận địa tử thủ, bộ tốt của họ vẫn đang liều mạng đào chiến hào. Khai Nguyên tổng binh Mã Lâm tuy tuổi già hèn nhát, nhưng nếu tử thủ thì cũng không dễ thắng. Nếu gã không tiếc quân bát kỳ bị thương vong mà toàn lực tiến công, có lẽ sẽ đánh bại hai lộ quân Minh trong tối hôm nay, nhưng chỗ này cách Hách Đồ A Lạp hơn trăm dặm, nếu đánh bại hai lộ quân Minh này, rồi chạy hơn trăm dặm đến Hách Đồ A Lạp quyết chiến với hai lộ đông, nam của quân Minh, vậy thì gã không còn phần thắng nào hết.
Bởi vì phải hoàn toàn đánh bại hai lộ quân của Đỗ Tùng và Mã Lâm, quân bát kỳ phải hy sinh biết bao nhiêu thương vong, Nô Nhĩ Cáp Xích chịu không nổi tổn thất. Đã có một số Giáp Lạt Ngạch Chân kêu khổ liên hồi vì Ngưu Lục dưới trướng chết thảm, một Giáp Lạt Ngạch Chân của Tương Hoàng Kỳ quả quyết kháng lệnh rút khỏi tiến công, bị Đại Thiện trói ngay tại chỗ, kẻ này gào to Giáp Lạt của y không còn sức chiến đấu, cần được nghỉ ngơi.
Chương 506: Thời cơ dễ lỡ (1)
Những vị Giáp Lạt Ngạch Chân dưới trướng bát kỳ này vốn là thủ lĩnh của mỗi bộ lạc Nữ Chân, sau khi bị Nô Nhĩ Cáp Xích chinh phục thì cho làm Giáp Lạt dưới cờ, ai cũng đều có tư tâm vì bộ lạc của riêng mỗi người. Khi cướp trại cướp nhân khẩu tài vật thì xung phong lên trước, nhưng trên trận địa chiến đấu tàn khốc này, thương vong quá nhiều khiến các Giáp Lạt Ngạch Chân khó tiếp nhận. Phen này quyết chiến ở Tát Nhĩ Hử, con cái tài sản của họ đều ở Hách Đồ A Lạp và Phí A Lạp, vì vậy nghe thấy hai lộ đông, nam của quân Minh tiến sát Hách Đồ A Lạp thì đều có ý thối lui.
Nô Nhĩ Cáp Xích thúc ngựa xuống núi Giới Phiên, hạ lệnh mãnh công quân Đỗ Tùng trên bãi đất Tát Nhĩ Hử và quân Mã Lâm ở bờ bắc sông Tô Tử. Thiết kỵ bát kỳ mạo hiểm pháo lửa xông qua sông Tô Tử, công kích trận địa của quân Mã Lâm, kỵ binh Diệp Hách cùng bộ kỵ Khai Nguyên chuẩn bị nghênh chiến.
Bộ kỵ Hậu Kim lần này tiến công ào ạt như nước lớn sông Tiền Đường, quân bát kỳ hung hãn không sợ chết đã gây thương vong rất lớn cho quân Mã Lâm. Song lần công kích này đến thì nhanh mà lui cũng nhanh, quân bát kỳ để lại hơn hai trăm thi thể nhanh chóng lui về bờ nam, sau đó lui tiếp về hướng đông nam.
Mã Lâm bị lần công kích này của kiến Nô làm cho rùng mình, thấy quân bát kỳ thối lui thì lấy làm khó hiểu, chỉ gấp rút lệnh cho xa doanh bộ quân tranh thủ chỉnh đốn công sự phòng ngự, hoàn toàn không nghĩ đến truy kích.
Mấy vạn kỵ binh Hậu Kim lui lại rất nhanh, chỉ sau hai canh giờ, quân bát kỳ vốn dàn trải đen đặc cả bãi đất Tát Nhĩ Hử đều rút lui hết, nhưng trên núi Giới Phiên vẫn còn mấy ngàn bộ tốt cùng mấy trăm kỵ binh vẫn chưa lui theo đại quân, đang thủ tại tuyến vách đá Cát Lâm.
Sau một lúc ngờ vực, Giám quân Phan Tông Nhan quả quyết tù trưởng Nô đã nhận được tin Hách Đồ A Lạp bị tấn công, cho nên lui binh trở về tiếp ứng, Phan Tông Nhan kiến nghị Mã Lâm lập tức truy đánh.
Mã Lâm nói: - Lão Nô giỏi dụng binh, chẳng qua là giả vờ hòng dụ quân ta xuất kích, nơi này vô hiểm khả cư, nếu gã dùng hai cánh kỵ binh giết đến thì làm sao địch lại? Lại nói: - Diệp Hách Bối Lặc Kim Đài Cát trúng tên bị thương cánh tay phải, kỵ binh Bắc quan tổn thất nghiêm trọng, quân ta cũng có hơn ngàn người tử vong, tướng Ma Nham cũng bị thương.
Phan Tông Nhan định nói tiếp, nhưng nghe thấy quân sĩ dưới trướng du kích Cát Thế Phượng cùng kỵ binh Diệp Hách vì tranh giành thủ cấp kiến Nô mà cãi nhau. Triều Minh lấy thủ cấp địch để luận quân công, màn kịch chiến vừa rồi có hơn hai trăm xác quân bát kỳ lưu lại ở bờ bắc, quân Minh không màng đến xử lý xác chết của binh sĩ bên mình mà tranh nhau thủ cấp. Bờ bên kia cũng có hơn trăm thi thể kiến Nô, lúc này phần lớn kiến Nô đã lui hết, quân Minh tướng sĩ tranh nhau qua sông chém thủ cấp, nảy sinh xung đột với kỵ binh Diệp Hách.
Phan Tông Nhan vội đi xử lý, theo điều thứ mười một trong mười bốn điều quân lệnh mà Dương Hạo đã định ra trước khi xuất binh, y chém viên Bách hộ quân Minh đã tranh chấp thủ cấp. Điều mười một viết rằng:"Người tranh chấp thủ cấp Triều Tiên và Bắc quan thu hoạch được thì chém", bộ tốt của lộ quân Minh này vẫn chưa qua sông tác chiến, viên Bách hộ đó rõ ràng đã tranh công với Diệp Hách.
..........
Đỗ Tùng trên bãi đất Tát Nhĩ Hử thấy quân Hậu Kim rút lui, ngay cả người dũng mãnh như y cũng không còn sức truy kích. Giám quân Trương Thuyên cũng không đề nghị truy kích, kiến Nô chủ lực vẫn còn, đang tuần tự lui đi. Quân Minh trên bãi đất thương vong quá nửa, những người còn lại sức cùng lực kiệt, làm sao truy kích được nữa, với lại quân bắc lộ ở bờ bắc sông Tô Tử cũng không truy kích.
Đỗ Tùng lệnh cho sĩ tốt nghỉ ngơi chỉnh đốn tại chỗ, cứu trị thương binh, thống kê tên người chết trận và cắt thủ cấp thi thể kiến Nô. Quân tây lộ của Đỗ Tùng khổ chiến một ngày một đêm, chết sáu ngàn tám trăm mười ba người, trọng thương bốn ngàn bảy trăm năm mươi mốt người, người bị thương nhẹ nhưng có thể hành động thì vô số kể. Tây lộ quân tổng cộng hai vạn tám ngàn người, người tử vong và trọng thương đã tiếp gần một nửa, có một số quân sĩ dưới trướng Thiên hộ thủ bị đã toàn diệt, nhưng khi cắt thủ cấp kiến Nô thì chỉ có một ngàn một trăm hai mươi ba cái, những kẻ này chết trong khi xông vào trận doanh quân Minh, còn thi thể kiến Nô chết ở bãi đất đã bị quân đội kiến Nô rút lui mang đi, phỏng chừng cũng hơn một ngàn.
Kế Liêu tổng binh Triệu Mộng Lân chết trận, Bảo Định tổng binh Vương Tuyên trọng thương, quan quân từ Thiên tổng trở lên chết hơn mười người. Điều này làm cho Đỗ Tùng cực kỳ chán nản, y cũng không biết vận mệnh bản thân đã thay đổi, chỉ vì tổn binh hao tướng mà lo âu.
Thân vệ báo lại, Chu Khánh Hổ đã trở về, cùng đi còn có Thiết Lĩnh du kích Trịnh Quốc Lương, Trịnh Quốc Lương phụng mệnh Mã Lâm đến liên lạc với Đỗ Tùng.
Đỗ Tùng nhìn thấy Chu Khánh Hổ, vội hỏi Mục Kính Nham ở đâu. Biết Mục Kính Nham bị trọng thương, Đỗ Tùng vội vàng ra lệnh quân y đến trị liệu, nhất định phải bảo vệ tính mạng của Mục Kính Nham.
Thám báo còn nói đại quân kiến Nô đã lui về hướng đồi Thái Lan, Đỗ Tùng lúc này mới tin Nô Nhĩ Cáp Xích đã rút binh. Xem ra Hách Đồ A Lạp gặp nguy, kiến Nô không thể không quay về cứu.
Đỗ Tùng và Trương Thuyên tới bên sông Tô Tử gặp Mã Lâm, Phan Tông Nhan, Kim Đài Cát, Bố Dương Cổ cùng bàn bạc đối sách. Mã Lâm chủ trương cho người cấp báo Dương Hạo đang trấn thủ Liêu Dương, chờ lệnh Dương Hạo; Phan Tông Nhan và Bố Dương Cổ chủ trương theo đuôi kiến Nô đi tới Hách Đồ A Lạp, phối hợp hai lộ quân đông, tây cùng tác chiến; Đỗ Tùng cũng chủ trương tiếp tục tiến công Hách Đồ A Lạp.
Mã Lâm chỉ vào đường núi Giới Phiên cách đó không xa: - Kiến Nô bộ kỵ có gần vạn người trên núi này, không tiêu diệt trước thì làm sao có thể tiến sát Hách Đồ A Lạp?
Trương Thuyên nói: - Trên núi Giới Phiên tuyệt đại đa số là bộ tốt xây dựng thành, chiến lực bình thường, kỵ binh không đến mấy trăm. Lão Nô sở dĩ để bọn họ lại là vì kiềm chế hai lộ quân tây, bắc của ta, tiện cho đại bộ phận thong dong điều quân trở về đồi Sư Hoành (tức Hách Đồ A Lạp) ứng phó hai lộ quân đông, nam. Theo ta thấy, không cần để ý đến bộ tốt kiến Nô còn ở trên núi, trực tiếp dẫn quân tiến sát đồi Sư Hoành, không cầu tốc chiến, thận trọng từng bước. Tạo nỗi lo sợ hai mặt thụ địch cho kiến Nô, không dám toàn lực tiến công hai lộ đại quân Thanh Hà và Khoan Điện, như thế có thể đại thắng.
Đỗ Tùng, Phan Tông Nhan đều thấy Trương Thuyên nói phải, Mã Lâm lại nói: - Nếu trên núi kiến Nô tập kích đường lui của ta thì phải làm sao?
Điều này xác thực không thê không lo, Trương Thuyên nói:
Vậy dẫn địch xuống núi tập trung binh lực tiêu diệt.
Mã Lâm không phản đối nữa, y cũng muốn lập công, quân địch trên núi Giới Phiên cũng tương đối dễ đối phó, hơn nữa chương thứ hai trong mười bốn chương quân lệnh của Dương Hạo có viết: "Bản lộ mặc dù giết tặc thu binh, thấy lộ khác bị giặc áp chế, người không lập tức cứu viện, chỉ đứng nhìn, quan lãnh binh dưới chủ tướng đều chém hết".
...........
Giờ Mùi (13-15h), hai lộ tây, bắc của quân Minh bắt đầu rời khỏi Tát Nhĩ Hử đi về hướng đồi Thái Lan. Mới đầu kỵ binh Hậu Kim trên núi Giới Phiên án binh bất động, thấy xe quân dụng Đại Minh bắt đầu rời đi, năm trăm kỵ binh Hậu Kim phụng mệnh tập kích cũng bắt đầu ào xuống núi, xông qua sông Giới Phiên bắt đầu xung kích hậu doanh quân Minh. Đợi hai cánh quân Minh chủ lực vây lại đánh, đám kiến Nô giảo hoạt lại tức tốc lui về núi Giới Phiên, kỵ binh quân Minh không hành động nhanh như thế, khó mà chặn lại đám giặc.
Dụ địch không được, ngược lại còn mất nhiều bộ tốt, Đỗ Tùng cùng Mã Lâm quyết định càn quét kiến Nô trên núi Giới Phiên trước. Sĩ tốt có thể chiến đấu của tây lộ quân Đỗ Tùng còn hơn vạn người, quân Khai Nguyên chủ lực của Mã Lâm không bị tổn thất, cộng thêm kỵ binh Diệp Hách thì tổng cộng chừng bốn vạn người. Quân Hậu Kim trên núi Giới Phiên có chừng năm ngàn người, phần lớn đều là phụ binh và lính lác, ít khi xung trận, tuy phụng mệnh tử chiến, nhưng những kẻ không có trọng giáp bảo hộ này đều tử thương nghiêm trọng dưới hỏa pháo của quân Minh. Kịch chiến hai canh giờ, năm ngàn quân kiến Nô ở vách đá Cát Lâm đều bị diệt, quân Minh cũng có gần hai ngàn mạng người phải trả giá.
Đỗ Tùng thở phào, diệt hết kiến Nô trên núi Giới Phiên, số người thương vong của quân Phủ Thuận y cũng không đáng sợ như thế.
Họ thanh lý chiến trường, đem sĩ binh tử trận và trọng thương đưa về Thẩm Dương. Đêm nay quân Minh tạm đóng trên núi Giới Phiên.
.....
Sáng ngày mười một tháng ba, Dương Hạo dời từ Quảng Ninh đến Liêu Dương nhận được tin chiến thắng từ người đưa tin của Lưu Diên. Từ ngày sáu tháng, Lưu Diên cùng liên quân Triều Tiên từ Khoan Điện tiến binh đến nay, tới các trại Khắc Ngưu Mao, Mã Gia giết chết hai Ngưu Lục Ngạch Chân của kiến Nô, hơn ba trăm tên địch. Đội tiên phong hiện giờ đã đến đồi A Bố Đạt Lý, cách Hách Đồ A Lạp một trăm hai mươi dặm.
Đồng thời du kích Kiều Nhất Kỳ dưới trướng Lưu Diên báo: - Có hơn năm trăm kỵ binh tinh nhuệ kiến Nô dụ chiến, vừa dụ liền lui lại, lập nhiều chướng ngại hòng cản quân ta.
Chỉ trong mấy ngày, mái tóc hóa râm của Dương Hạo đã bạc trắng, có thể thấy tâm huyết tiêu hao. Thấy quân đông lộ báo thắng, Dương Hạo không hề vui vẻ, ngược lại còn âu sầu nhiều hơn, Nô Nhĩ Cáp Xích liệu có tập trung binh lực đối phó lộ Phủ Thuận thì chưa thấy có tin báo về, nhưng nhìn tin báo chiến của Kiều Nhất Kỳ, Nô Nhĩ Cáp Xích rõ ràng lấy một nhóm kỵ binh nhỏ để ngăn chặn đông lộ đẩy mạnh tốc độ.
PAGE
Chương 506: Thời cơ dễ lỡ (2)
Sau khi bốn lộ đại quân phát binh, Dương Hạo phái rất nhiều thám báo thu thập tình hình tiền phương. Sáng sớm ngày mười hai tháng ba, tin tức Đỗ Tùng ở Tát Nhĩ Hử thấy đại quân kiến Nô chủ lực phục kích truyền tới Thẩm Dương, nhóm người Dương Hạo, Chu Vĩnh Xuân, Trần Vương Đình đều kinh hãi. Dương Hạo vội vàng ra lệnh người đưa tin truyền lệnh cho Hàn Nguyên Thiện đã ra Nha Cốt quan và Mã Lâm đã ra Tam Xóa Nhi hoả tốc tiếp viện Tát Nhĩ Hử.
Quân lệnh mặc dù hạ xuống, Dương Hạo cũng biết nươc xa khó cứu lửa gần. Liêu Dương cách Tát Nhĩ Hử bốn trăm dặm, đợi Mã Lâm và Hàn Nguyên Thiện nhận lệnh rồi chạy tới Tát Nhĩ Hử, quân đội Đỗ Tùng chỉ sợ đã sớm tan tác. Lúc này Dương Hạo mới ý thức được Nô Nhĩ Cáp Xích muốn áp dụng chiến lược tập trung binh lực tiêu diệt từng bộ phận, Mã Lâm và Hàn Nguyên Thiện vội vàng chạy tới Tát Nhĩ Hử vô cùng có khả năng bị Nô Nhĩ Cáp Xích phục kích. Đương nhiên, điều kiện tiên quyết là Nô Nhĩ Cáp Xích đã đánh tan đại quân hai vạn tám ngàn người của Đỗ Tùng.
Tuần phủ Chu Vĩnh Xuân hiến kế: - Còn vây Nguỵ cứu Triệu thì sao?
Dương Hạo biết ý Chu Vĩnh Xuân chính là truyền lệnh Hàn Nguyên Thiện và Lưu Diên suất bộ binh gấp rút tiến công Hách Đồ A Lạp, ép quân Nô Nhĩ Cáp Xích ở Tát Nhĩ Hử hồi binh cứu giúp, như vậy có thể giải vây cho Đỗ Tùng. Nhưng khi mệnh lệnh truyền xuống, quân đội Đỗ Tùng còn ở đó hay không vẫn là nghi vấn, chiến cuộc không rõ, thúc giục hai lộ đông, nam tiến binh chỉ sợ sẽ chuốc lấy thất bại sớm hơn!
Liêu Dương đi lên phía bắc tới Khai Nguyên và đi về hướng đông đến Khoan Điện đều là hơn bảy trăm dặm, ở nơi rộng mênh mông như thế chỉ huy đại chiến gồm bốn lộ tiến binh, việc dựa vào ngựa truyền tin của đời Minh chính là một sai lầm. Bốn lộ quân Minh so với quân bát kỳ có thể động viên chẳng những không chiếm ưu thế, sức chiến đấu lại kém xa, quân bát kỳ chinh chiến nhiều năm chưa từng thất bại, mà quân Minh chuẩn bị chiến đấu kém cũng không phải việc một sớm một chiều. Hiện tại đã xác minh Nô Nhĩ Cáp Xích tập trung quân bát kỳ phục kích lộ quân Đỗ Tùng, Đỗ Tùng thất bại cũng không thể tránh khỏi. Cuộc nói chuyện trong đêm tuyết vào mùng bốn tháng mười một năm ngoái vối Trương Nguyên hiện lên trong đầu Dương Hạo, Dương Hạo hối hận bản thân sơ suất và thất sách khi bốn lộ tiến binh, nhưng lúc này muốn sửa chữa cũng không kịp. Chỉ có đốc thúc thám báo nhanh chóng báo cáo tình hình chiến đấu tiền phương, đúng lúc ra quyết định lui binh tự thủ.
Sáng sớm ngày mười hai, Mã Lâm ở vách đá Thượng Gian phát binh gấp rút tiếp viện Đỗ Tùng ở Tát Nhĩ Hử, đã sai thám báo báo cáo tình hình này cho Dương Hạo ở Liêu Dương, đồng thời cũng phái người đi Nha Cốt quan yêu cầu Hàn Nguyên Thiện theo sau tiếp viện Tát Nhĩ Hử. Đêm hôm đó, Dương Hạo nhận được Mã Lâm cấp báo, quả thật vừa mừng vừa sợ, Đỗ Tùng có thể sai người hướng Mã Lâm cầu viện, vậy cho thấy tây lộ quân dù bị vây nhưng chưa vỡ. Vách đá Thượng Gian cách Tát Nhĩ Hử không xa, gấp rút tiếp viện có lẽ còn kịp.
Dương Hạo lập tức phấn chấn hẳn lên, nghĩ thầm Đỗ Tùng cho người đưa tin trong đêm tối có thể kịp thời tìm được quân đội Mã Lâm, đây chẳng lẽ không phải thần phu hô hay sao!
Dương Hạo lập tức cho người lệnh Hàn Nguyên Thiện dẫn hai vạn ba nghìn binh mã chạy tới Tát Nhĩ Hử, cùng quân đội Đỗ Tùng và Mã Lâm quyết chiến với Nô Nhĩ Cáp Xích, đồng thời truyền lệnh Lưu Diên và Triều Tiên liên quân hoả tốc tiến công Hách Đồ A Lạp. Khi đã biết kiến Nô đại bộ phận tập kết ở tây tuyến Hách Đồ A Lạp, vậy đông lộ quân Minh liền có thể thẳng tiến, hướng đến hai thành Hách Đồ A Lạp và Phí A Lạp phát động công kích.
........
Dương Hạo phát ra chỉ lệnh quân sự thật ra chỉ là cú pháo chót, hoàn toàn theo không kịp tình thế chiến trường hay thay đổi. Đêm khuya ngày mười hai, khi Dương Hạo nhận được báo cáo gấp rút tiếp viện Tát Nhĩ Hử của Mã Lâm, kịch chiến ở Tát Nhĩ Hử đã chấm dứt. Bộ kỵ chủ lực của Nô Nhĩ Cáp Xích đã nhân lúc hoàng hôn ngay hôm đó chạy về Hách Đồ A Lạp, bắt đầu bố trí phục kích nhằm vào lộ quân Minh Thanh Hà. So với quân Minh, Kiến Châu Nữ Chân đương nhiên hiểu rõ khu vực mấy trăm dặm xung quanh Hách Đồ A Lạp hơn họ, người Nữ Chân cư trú ở đây cũng chiếm đa số, cho nên Nô Nhĩ Cáp Xích càng có thể nắm giữ động thái quân Minh.
Hoàng hôn ngày mười hai, khi Nô Nhĩ Cáp Xích nhận được tin: quân đông lộ Lưu Diên và Triều Tiên liên quân cách Hách Đồ A Lạp chỉ còn mười lăm dặm, tiên phong Hạ Thế Hiền của nam lộ Hàn Nguyên Thiện cách Phí A Lạp hai mươi lăm dặm, Phí A Lạp là cố đô thành của Kiến Châu, cách Hách Đồ A Lạp tám dặm về phía tây nam.
Nô Nhĩ Cáp Xích quyết định trước tiên phục kích nam lộ quân Minh, nam lộ nhiều núi, dễ dàng phục kích, đông lộ Lưu Diên tuy khí thế hung hãn, nhưng theo thám báo báo lại, Lưu Diên quân kỷ lơi lỏng, giết một tên địch thì có hơn mười tên tranh giành chém thủ cấp, quân đội như vậy không đủ gây sợ, cứ để y lại đây công thành, quan trọng nhất chính là đánh tan lộ quân Thanh Hà. Về phần Đỗ Tùng và Mã Lâm ở Tát Nhĩ Hử, Mã Lâm tuổi già hèn nhát, không dám suất quân truy sát, Đỗ Tùng mặc dù dũng mãnh, nhưng chủ lực đã bị thương nặng, cũng không đủ gây sợ. Hơn nữa gã để lại một ngàn bộ kỵ canh giữ ở Trát Khách quan phía tây Hách Đồ A Lạp, một ngàn binh mã mặc dù không thể chống lại quân đội Đỗ Tùng và Mã Lâm, nhưng chỉ cần ngăn cản bọn họ nửa ngày cũng đủ rồi. Theo thám báo hồi đáp, năm nghìn quân coi giữ trên núi Giới Phiên đã bị tận diệt, quân Minh nghỉ đêm tại Tát Nhĩ Hử, chưa dám suốt đêm tiến sát đến Hách Đồ A Lạp, những điều này đều nằm trong dự liệu của Nô Nhĩ Cáp Xích. Năm nghìn bộ kỵ tận diệt, đây là đội quân mà ba mươi lăm năm trước gã chỉ bằng mười ba bộ khôi giáp mà khởi binh.
Tổn thất thương vong khi quân bát kỳ cường công Thanh Hà và Tát Nhĩ Hử, khiến Nô Nhĩ Cáp Xích hối hận vì quyết sách dấy binh tác chiến của mình với Đại Minh, cảm thấy thời cơ quyết liệt tuyên bố "thất đại hận" với triều Minh chưa tới. Có lẽ nên bình định Bắc quan trước, kết giao Mông Cổ cô lập Khai Nguyên, từng bước thôn tính Liêu Đông, mà hiện tại, sách lược tập trung binh lực tiêu diệt Đỗ Tùng chưa thành công, khiến cho đô thành Hách Đồ A Lạp bị vây trong nguy hiểm.
Giờ Hợi tối ngày mười hai, nhị Bối Lặc A Mẫn - cháu Nô Nhĩ Cáp Xích dẫn ba nghìn quân mặc giáp lặng lẽ tiếp cận quân đội Thanh Hà lộ của tiên phong Hạ Thế Hiền. Song phương trong đêm tối chiến đấu kịch liệt, Hậu Kim quân đội mạo hiểm súng pháo cùng gậy gộc bên quân Minh, nhảy vào trận doanh quân Minh chém giết. Liêu Đông mãnh tướng Hạ Thế Hiền ra sức nghênh địch, sau nửa canh giờ, Đại Thiện lĩnh một nhánh quân khác xuất hiện ở cánh trái của Hạ Thế Hiền. Tên bắn như mưa, quân Minh chết thê thảm, Hạ Thế Hiền trúng mấy mũi tên sau lưng, cố sức trảm hơn mười cường địch rồi dẫn mấy trăm người thoát khỏi vòng vây
Hàn Nguyên Thiện nghe thấy biết tiên phong bị tập kích, gấp gáp dẫn chư tướng Trương Ứng Xương, Lý Hoài Trung tới cứu, tiếp ứng đến Hạ Thế Hiền. Nhưng kì lạ là kiến Nô phục binh lại nhanh chóng rút lui, Hàn Nguyên Thiện kinh ngạc, không dám tiến lên, đánh mất cơ hội tốt tiến công Hách Đồ A Lạp!
Khi Đại Thiện, A Mẫn phục kích Hạ Thế Hiền, trong thành Hách Đồ A Lạp đã xảy ra một đại sự. Một trong ngũ đại thần là Hà Hòa Lý phụng mệnh thủ vệ Hách Đồ A Lạp hạ lệnh bắt giết Lý Vĩnh Phương, bởi vì trong thành có lời đồn Lý Vĩnh Phương sẽ dâng cửa khi quân Minh công thành. Lý Vĩnh Phương vốn là phản tướng Triều Minh, không được sự tín nhiệm của người Nữ Chân, hiện tại Hách Đồ A Lạp lại khủng hoảng, có một người Hán tam đẳng phó tướng thống lĩnh như thế ở trong thành sẽ khiến Hậu Kim Nữ Chân cảm thấy cực độ bất an.
Lý Vĩnh Phương gần chết tới nơi mới muốn phản kháng, nhưng đã muộn rồi, y bị Hà Hòa Lý giết chết.
Hà Hòa Lý lại hạ lệnh tru sát người Hán mà Lý Vĩnh Phương quản lý, những người Hán này đều bị Hậu Kim bắt tới trong trận chiến ở Phủ Thuận, có hơn hai vạn người, đại bộ phận ở giữa lão thành Phí A Lạp và thành trại Hách Đồ A Lạp. Lúc này họ dĩ nhiên muốn phản kháng chạy bán mạng, Hậu Kim tân đô và cố đô trở nên hỗn loạn. Nô Nhĩ Cáp Xích đang cùng Lưu Diên và Triều Tiên liên quân giao chiến, gã vội vàng ra lệnh Đại Thiện, A Mẫn rút quân về trấn áp, ổn định thế cục đô thành.
Nếu Hàn Nguyên Thiện có thể kịp thời nhận được tình báo, tấn công mạnh Hách Đồ A Lạp, địa thế Hách Đồ A Lạp bằng phẳng, vô hiểm khả cư, đánh hạ không khó. Như vậy Nô Nhĩ Cáp Xích chỉ có thể lĩnh bộ quân đi xa đến Hổ Nhĩ Cáp, Liêu Đông sẽ bình an trong nhiều năm.
Nô Nhĩ Cáp Xích dẫn ba vạn Hậu Kim tinh nhuệ đến trại Ngưu Mao phía bắc đồi A Bố Đạt Lý ngăn chặn Lưu Diên và Triều Tiên liên quân. Nô Nhĩ Cáp Xích trước tiên phục binh trong khe núi Ngõa Nhĩ Khách Thập Sơn Nam, đợi khi ba vạn đại quân Triều Minh và Triều Tiên đi qua một nửa liền chặn ngang khởi xướng tấn công. Lưu Diên từ Khoan Điện tiến binh tới na, chưa từng bị cường lực ngăn chặn, sĩ khí rất thịnh, nhưng đồng thời cũng sơ suất khinh địch, ít khi cho người trinh sát nên bị tập kích. May mà Hàn Nguyên Thiện suất quân tới cứu, Nô Nhĩ Cáp Xích lãnh binh lui về Hách Đồ A Lạp.
Chương 507: Cánh của bươm bướm (1)
Mùng mười tháng ba, Trương Nguyên biết tin Liêu Đông Kinh lược Dương Hạo quyết định khởi hành đại quân vào mùng năm tháng ba, đến chiều ngày mười lăm tháng ba lại biết bốn lộ đại quân bốn ngày trước phụng mệnh đã ra biên giới tấn công Hách Đồ A Lạp. Liêu Đông cách kinh thành cả ngàn dặm, quân tình truyền đến rất chậm, Trương Nguyên nghĩ bụng: "Có lẽ tin tức Đỗ Tùng binh bại Tát Nhĩ Hử lúc này đang theo khoái mã cấp báo đến kinh thành."
Thời cuộc như thế khiến Trương Nguyên rất khó lạc quan, tuy hắn đã bỏ bao công sức vì lần quyết chiến này quyết định vận mệnh Đại Minh. Hắn kết giao với Đỗ Tùng, Dương Hạo, ngàn dặm xa xôi đi sứ Triều Tiên làm thất bại âm mưu tù trưởng Nô, lại in nhật kí để thế nhân hiểu thế cục Liêu Đông, tránh việc mù quáng, hắn còn chuẩn bị mời người Tây Dương từ Macao đến trợ giúp đúc hỏa khí...
Nhưng bất kể Trương Nguyên cố gắng như thế nào, hắn dù sao cũng chỉ là một nhàn quan lục phẩm, không có năng lực đối với triều đình quyết sách. So với chủ trương ổn thủ phản kích của hắn, Phương Tòng Triết lại làm như gian kế tranh đảng, trong kinh dư luận cũng có dị nghị rằng hắn hèn nhát sợ chiến. Tuyệt đại đa số kinh thành sĩ thứ cho rằng Thiên triều đại binh vừa ra, tù trưởng Nô chắc chắn bị chém đầu hoặc chạy tán loạn, tháng trước Dương Hạo hoãn lại ngày xuất binh đã bị quan viên buộc tội, bị ngu dân khắp phố trách mắng.
Trương Nguyên hiểu rất rõ chính mình kinh nghiệm còn ít, trong tam đảng cầm quyền ở triều Vạn Lịch hắn khó làm gì được, chỉ có điều nếu không thể cứu vãn đại bại ở Tát Nhĩ Hử, về sau thời cuộc sẽ gian nan khôn cùng. Sau khi tân quân thượng vị, hắn dù có thể thuận lợi ở địa vị cao, nhưng trong tình hình loạn trong giặc ngoài như thế há chẳng phải phải sứt đầu mẻ trán cúc cung tận tụy hay sao!
Hoàng hôn cuối xuân, Trương Nguyên trở lại ngõ Lý Các Lão, chỉ thấy Mục Chân Chân đang dắt tiểu Minh Khiêm vừa biết tập tễnh đi tiến đến, Mục Chân Chân hỏi: - Thiếu gia, có tin tức của Liêu Đông không?
Mấy ngày nay Trương Nguyên từ Chiêm Sự phủ tán nha trở về, câu đầu tiên của Mục Chân Chân là hỏi việc này. Nàng quan tâm đến an nguy của phụ thân Mục Kính Nham, hơn nữa mấy ngày nay Trương Nguyên cũng mang tâm tình nặng nề, điều này càng làm cho Mục Chân Chân lo lắng.
Trương Nguyên ôm con bẹo má, cười đáp: - Chưa có tin báo chiến truyền về, hai ngày nay hẳn là sẽ có tin.
Tiểu Hồng Tiệm gần hai tuổi cũng bước đến, giơ tay nói:
Cha, hài nhi cũng muốn bế.
Trương Nguyên cười đặt Minh Khiêm xuống, bế Hồng Tiệm rồi bẹo má vài cái. Đứa bé cười khanh khách, tiểu Minh Khiêm cũng cười theo.
Tiếng cười vô tư của trẻ con vang khắp tứ hợp viện, tâm tình Trương Nguyên cũng thoải mái hơn, thầm nghĩ: "Mình đến cuối đời Minh không phải để xem kịch, sao có thể không làm gì được. Bướm bên sông Amazon mà chắp cánh thì Bắc Mĩ sẽ có lốc xoáy, thế cục Tát Nhĩ Hử chắc chắn sẽ thay đổi."
....
Ngày mười lăm tháng mười, Liêu Đông truyền đến tin chiến thắng: Đông lộ Lưu Diên và Triều Tiên liên quân thế như chẻ tre, trực tiếp bức hang ổ kiến Nô ở đồi Sào Hoành, thu hoạch ba trăm thủ cấp kiến Nô.
Tin tức truyền ra, trong kinh sĩ thứ đều vui mừng khôn xiết, có dân chúng đốt pháo chúc mừng, cho rằng ngày phá Hách Đồ A Lạp sắp tới. Ngày xưa Nhạc Vũ Mục không thể đánh đổ Hoàng Long (thành nước Kim) trở thành mối hận thiên cổ, hôm nay thiên tử thánh minh, tướng sĩ quên mình, kiến Nô sớm muộn cũng diệt vong, từ nay về sau thiên hạ thái bình.
Nhưng đến ngày mười bảy, Liêu Đông tuần phủ Chu Vĩnh Xuân báo: Phủ Thuận lộ Đỗ Tùng ở Tát Nhĩ Hử đụng độ năm vạn bộ kỵ giặc đông, chiến đấu kịch liệt một đêm, Kế Liêu tổng binh Triệu Mộng Lân tử trận.
Chiến báo này khiến Binh bộ chư quan khiếp sợ, Binh bộ Thượng thư Hoàng Gia Thiện cấp báo nội các, Phương Tòng Triết kinh ngạc trợn mắt há mồm, nhất thời không biết nên làm thế nào bẩm báo Vạn Lịch Hoàng đế!
Nhưng một chiến báo khác trong cùng ngày lại khiến cho Phương Tòng Triết và Hoàng Gia Thiện kinh nghi bất định, chiến báo này là do Liêu Đông tuần án Ngự Sử Trần Vương Đình trình báo. Trần Vương Đình báo hai lộ đại quân của Đỗ Tùng và Mã Lâm ở Tát Nhĩ Hử đánh bại năm vạn bộ kỵ kiến Nô, trảm hơn sáu ngàn thủ cấp, tù trưởng Nô dẫn quân chạy về Hách Đồ A Lạp.
Đám người Phương Tòng Triết và Hoàng Gia Thiện ngơ ngác nhìn nhau, không biết nên tin ai. Hoàng Gia Thiện biết lúc này chiến báo đều được truyền đến bằng trinh kỵ ở tiền phương, tin chiến báo xác thực phải do giám quân trình báo Binh bộ. Nhưng hiện tại giám quân Trương Thuyên trực thuộc Đỗ Tùng, giám quân Phan Tông Nhan trực thuộc Mã Lâm cũng không có chiến báo trình lên, với lại hơn sáu ngàn thủ cấp kiến Nô và Kế Liêu cùng tin tổng binh Triệu Mộng Lân tử trận hoàn toàn là hai cực đoan, làm thế nào bẩm lên Hoàng đế đây?
Chập tối hôm đó, Trương Nguyên từ xã đảng Kỳ Thừa Tùng biết được hai tin đại thắng đại bại. Kỳ Thừa Tùng thỉnh Trương Nguyên phán đoán chiến báo đầu nào xác thực hơn, Trương Nguyên nửa vui nửa buồn, nói: - Nếu ta đoán không lầm, đây đều là tình hình thực tế, tù trưởng Nô triệu tập quân bát kỳ chủ lực chuyên tấn công lộ quân Phủ Thuận Đỗ tổng Binh, âm mưu một kích đánh tan Phủ Thuận lộ quân. Sau đó lợi dụng sự nhanh nhẹn của tinh nhuệ kỵ binh một người song mã, sau khi đánh bại lộ quân Phủ Thuận thì sẽ lên bắc chặn đánh Khai Nguyên binh mã, ở đông lộ thì lấy du kỵ tập kích, phòng ngừa Lưu Tổng binh và Triều Tiên liên quân nhanh chóng tiến sát Hách Đồ A Lạp, lão Nô suy tính tập trung binh lực tiêu diệt từng bộ phận. Chu tuần phủ báo cáo tình hình tổn thất nghiêm trọng của lộ quân Phủ Thuận khi bị quân kiến Nô phục kích, nhưng Đỗ tổng Binh lãnh binh khổ chiến, cầm cự đến khi Khai Nguyên Mã Tổng binh gấp rút tiếp viện, thay đổi chiến cuộc, cho nên mới có chiến báo của Trần tuần án. Về phần nói đánh bại năm vạn bộ kỵ kiến Nô, trảm sáu ngàn thủ cấp, chỉ sợ là có phần khoa trương.
Quân Minh biên tướng khoa trương quân công là chuyện thường xảy ra, có trường hợp thậm chí giết người lương thiện để lập công giả. Trương Nguyên không cho rằng dựa vào Khai Nguyên quân tiếp viện mà có thể chuyển bại thành thắng, hắn không suy xét đến Nô Nhĩ Cáp Xích sẽ vứt bỏ giới binh lính trên núi Giới Phiên.
Kỳ Thừa Tùng và Trương Nguyên quan hệ rất thân, nhiều lần cùng Trương Nguyên bàn luận Liêu Đông thế cục. Trương Nguyên luận về Liêu sự ứng nghiệm như thần, Kỳ Thừa Tùng rất khâm phục, lúc này nghe xong phân tích của hắn, cảm thấy rất có lý. Sớm hôm sau y đến Binh bộ tọa nha, cùng Binh bộ lang trung Trương Hạc Minh nhắc đến kiến giải của Trương Nguyên về chiến cuộc Liêu Đông. Trương Hạc Minh là phòng sư khi Trương Nguyên thi hội.
Khi Kỳ Thừa Tùng và Trương Hạc Minh đang nghị luận, chưởng Binh bộ sự Tả Thị lang Hoàng Gia Thiện mệnh cho tiểu quan lại triệu tập quan viên từ chủ sự trở lên đến đại đường nghị sự, nói có chiến báo Liêu Đông mới nhất truyền đến.
Phần chiến báo này dùng ấn ký của Liêu Đông kinh lược, đây là chiến báo quyền uy nhất, Dương Hạo hướng Binh bộ bẩm báo tường tận tình hình đại chiến Tát Nhĩ Hử, kèm theo tình hình chiến đấu và thống kê thương vong của hai vị giám quân Trương Thuyên và Phan Tông Nhan. Quân Phủ Thuận lộ Đỗ Tùng: chết sáu ngàn tám trăm mười chín người, bị thương ba nghìn bảy trăm bốn mươi mốt người; quân Khai Nguyên Mã Lâm: chết tám trăm lẻ chín người, bị thương ba trăm hai mươi người; Bắc quan Diệp Hách: chết bốn trăm tám mươi người, bị thương hai trăm mười hai người; thu hoạch sáu ngàn một trăm bảy mươi chín thủ cấp của giặc đông, đả thương vô số giặc đông.
Chiến báo của Dương Hạo và báo cáo của hai lộ giám quan tây, bắc đều là về cuộc chiến ở Tát Nhĩ Hử từ ngày mười một đến ngày mười hai tháng ba. Khi đề cập đến quân nam lộ Hàn Nguyên Thiện, đông lộ Lưu Diên và Triều Tiên liên quân, Dương Hạo chỉ nói đã lệnh cho quân hai lộ đông, nam hoả tốc tiến công Hách Đồ A Lạp, tình hình chiến đấu cụ thể không rõ.
Trong báo cáo, Phủ Thuận lộ giám quân Trương Thuyên còn nhắc tới Bách hộ Mục Kính Nham và Tổng kỳ Chu Khánh Hổ liều chết phá vây đến Khai Nguyên quân cầu viện, đệ trình Binh bộ ban thưởng.
Chiều hôm đó, Trương Nguyên biết được chiến báo Liêu Đông. Hắn hạ quyết tâm, chỉ cần Nô Nhĩ Cáp Xích không thể toàn diệt lộ quân Đỗ Tùng, vậy gã không thể thong dong phục kích mấy lộ quân Minh khác, cục diện thảm bại của quân Minh ở Tát Nhĩ Hử trong lịch sử đã thay đổi.
Mục Chân Chân biết phụ thân Mục Kính Nham lập công, nàng vui mừng đến rơi nước mắt, Minh Khiêm chưa đầy một tuổi thấy mẫu thân khóc, không rõ xảy ra chuyện gì đáng sợ, cũng oa oa khóc lớn lên. Mục Chân Chân khẩn trương ôm lấy đứa bé dỗ dành: - Mẹ đang vui, ông ngoại con lập quân công rồi, con xem, mẹ cười rồi.
Tiểu Minh Khiêm nghiêm túc nhìn mẫu thân, lại quay đầu nhìn Trương Nguyên, đứa bé kháu khỉnh phá ra cười.
.....
Đối với chiến báo của Dương Hạo về Tát Nhĩ Hử, trong triều ý kiến không đồng nhất. Có không ít quan viên cho rằng Đỗ Tùng tổn binh hao tướng thì phải luận tội, lộ quân Phủ Thuận thương vong gần nửa, quan quân từ Phó trấn, Tham, Du, Đô ti, Thông phán, Thủ bị, Trung quân, Thiên tổng trở lên bỏ mình mười bảy người. Đây chẳng phải là thảm bại sao, ở triều đình ngồi cao này, theo quan viên nói bốc phét, quân bát kỳ thấy Thiên triều đại binh đã đến thì sẽ chạy trối chết, Đỗ Tùng lại tổn thất thảm trọng như thế, chẳng lẽ không phải vô năng. Binh khoa cấp sự trung Triệu Hưng Bang liền buộc tội Đỗ Tùng: "Bảo thủ cố chấp, binh tướng không tập, trí không thể liệu địch, mưu không thể ngự chúng, đến nỗi tổn binh hao tướng."
Chương 507: Cánh của bươm bướm (2)
Vài quan viên khác như Tôn Thừa Tông, Trương Nguyên, Hộ khoa cấp sự Lý Kỳ Trân, Chiết Giang đạo Ngự Sử Dương Hạc thì dâng thư ra sức ủng hộ Đỗ Tùng, cho rằng Đỗ Tùng một mình chống đỡ kiến Nô năm vạn kỵ binh, khiến âm mưu tiêu diệt từng bộ phận của tù trưởng Nô không thực hiện được, công lao to lớn.
Chiều ngày mười chín, Binh bộ lại thu được chiến báo mới nhất, Thanh Hà lộ tiên phong Hạ Thế Hiền lãnh năm nghìn binh gặp mai phục ở phía nam Hách Đồ A Lạp, thương vong hơn ba ngàn người, Phó tổng binh Hạ Thế Hiền bị thương nặng không trị; đông lộ Lưu Diên ở phía bắc đồi A Bố Đạt Lý chiến đấu kịch liệt với quân kiến Nô gặp nguy, Hàn Nguyên Thiện lãnh binh viện trợ, địch lui giữ hai thành Hách Đồ A Lạp và Phí A Lạp. Trận chiến này đông lộ thương vong hơn sáu ngàn người, giết địch lấy được thủ cấp cũng hơn năm ngàn, nguyên Phủ Thuận du kích Lý Vĩnh Phương hàng địch bị giết chết.
Binh khoa cấp sự trung Triệu Hưng Bang mãnh liệt công kích Dương Hạo, chỉ trích Dương Hạo làm lỡ ngày tiến binh, đến nỗi kiến Nô có thể thong dong triệu tập binh lực chuyên tấn công lộ quân Phủ Thuận. Y lại chỉ trích Dương Hạo ra quân lệnh thác loạn, lộ quân Thanh Hà vì sao không thể cùng Khai Nguyên hợp binh một chỗ, ngăn chặn kiến Nô chủ lực rồi tiêu diệt ngoài Trát Khách quan, ngược lại còn khiến kiến Nô lui về đồi Sào Hoành liên tiếp phục kích Thanh Hà lộ và Khoan Điện lộ, chẳng lẽ không phải là do không thêm trạm canh gác, quân lệnh thất thố hay sao?
Triệu Hưng Bang là nòng cốt Tề đảng, sau khi Đông Lâm tận truất, tam đảng cầm quyền, đặc biệt Tề đảng thế lớn, nhưng không có đối thủ chung Đông Lâm, giữa tam đảng cũng sinh ra hiềm khích, một đảng bên trong cũng có xích mích. Triệu Hưng Bang cũng bởi vì Chu Vĩnh Xuân thăng chức làm Hữu Thiêm Đô ngự sử mà bất mãn với Phương Tòng Triết, cho nên công kích Liêu Đông chiến sự cực kỳ sắc bén, đồng thời y cũng đại biểu dư luận kinh thành sĩ thứ nóng lòng cầu thắng. Ngoài ra, Triệu Hưng Bang cũng là nghĩ đến tâm ý Vạn Lịch Hoàng đế, Vạn Lịch Hoàng đế rất quan tâm đến lần xuất binh này của bốn lộ quân, chờ mong đại thắng, đối với cục diện này ngài đương nhiên là rất không hài lòng.
Quả nhiên, ngày hai mươi tháng ba, Vạn Lịch Hoàng đế hạ chiếu nghiêm trách Dương Hạo, mệnh lệnh bốn lộ đại quân hợp binh một chỗ, nhất định phải đánh hạ Hách Đồ A Lạp, Binh bộ lại phát tiểu hồng kỳ thúc chiến.
Trương Nguyên dâng thư phản đối vội vàng thúc chiến, kiến Nô chủ lực vẫn còn, lại có Khoa Nhĩ Thấm Mông Cổ và Đông Hải Nữ Chân tương trợ, nếu muốn tiêu diệt Kiến Châu Nữ Chân tuyệt đối không thể thành công. Nay quân Đỗ Tùng Lưu và Diên đã áp chế mũi giặc, quân Đỗ Tùng có thể về tụ tập ở Thẩm Dương, xây dựng lại Phủ Thuận thành, kêu gọi Liêu dân, tăng mạnh chuẩn bị chiến đấu. Còn quân Lưu Diên thì lại mở rộng sáu công sự Khoan Điện, bức bách kiến Nô lui giữ, tu sửa tòa thành, chuẩn bị lương thực, sửa khí giới, lấy người Liêu thủ Liêu. Lộ Khai Nguyên là Hà Đông căn cơ, ứng với trọng binh trấn thủ, liên hợp với Bắc quan Diệp Hách ngăn chặn Kiến Châu và Mông Cổ lui tới, mà Đại Minh lại xoa dịu Mông Cổ, như thế mười năm, Kiến Châu tất diệt, việc xâm phạm biên giới Liêu Đông cũng kết thúc.
Vạn Lịch Hoàng đế không màng tới tấu chương của Trương Nguyên, trong triều quan viên đối với kế sách mười năm bình Liêu của Trương Nguyên cũng phần lớn không cho là đúng. Mười năm lâu lắm, chỉ tranh sớm muộn thôi, mà ngay cả kinh thành dân chúng đối với vị Trương Trạng nguyên cũng có nhiều dị nghị, nói bốn lộ đại binh vất vả triệu tập đến Liêu Đông, không cổ vũ tinh thần tiêu diệt lão Nô Kiến Châu, lại muốn tiến hành trường kỳ chiến đấu, đây không phải hao tài tốn của sao? Trương Trạng nguyên ngươi ăn ngon mặc đẹp, không thèm để ý đến sống chết của dân chúng!
Áp lực mà Trương Nguyên chịu đựng nghĩ đến thì có thể biết.
....
Mùng một tháng tư, Liêu Đông chiến báo truyền đến, Lưu Diên và Triều Tiên liên quân tiến công Hách Đồ A Lạp, cùng quân của Đại Thiện, Hoàng Thái Cực kỳ chiến đấu kịch liệt, lại bị Mông Cổ kỵ binh tập kích đường lui, hỏa khí của quân Minh và quân đội Triều Tiên lại bị ngược gió nên không có tác dụng, trận doanh quân Minh bị kiến Nô thiết kỵ công phá. May mà Triều Tiên bộ binh ra sức chiếm trước bãi đất chiến trường, yểm hộ quân Minh, Hàn Nguyên Thiện phụng mệnh tiến công Phí A Lạp rút vây dẫn binh đến giúp, đông lộ liên quân mới có thể bảo toàn. Trận chiến này đông lộ liên quân tổn thất nghiêm trọng, quân Lưu Diên thương vong hơn ngàn người, nghĩa tử du kích Lưu Chiêu Tôn vì cứu nghĩa phụ Lưu Diên mà chết, Triều Tiên phó Nguyên soái An Nhữ Nột bị tên bắn xuyên qua đầu mà chết, quân Triều Tiên thương vong hơn ba ngàn người, trảm một ngàn ba trăm thủ cấp kiến Nô, giết chết đại tướng An Phí Dương Cổ của giặc, đánh trọng thương con trai Hồng Đài Cát của tù trưởng Nô.
Vì tiến công bất lợi, thương vong quá lớn, Lưu Diên đã suất quân lui về hướng vách đá Cố Lạp Khố, Hàn Nguyên Thiện lãnh binh rời khỏi Nha Cốt quan, đại quân Đỗ Tùng và Mã Lâm giao chiến ở Trát Khách quan với kiến Nô, hai bên đều có thương vong. Dương Hạo lo lắng tù trưởng Nô liên hợp Mông Cổ thừa dịp Khai Nguyên và Bắc quan binh lực trông thì tập kích ngược lại, liền mệnh cho Mã Lâm điều quân trở về Khai Nguyên trấn thủ. Diệp Hách Đại Bối Lặc Kim Đài Cát trúng tên không nhẹ, cùng Bố Dương Cổ đem người trở về Bắc quan, Đỗ Tùng cũng lui về Thẩm Dương. Bốn lộ đại quân đến đây toàn bộ vào biên giới, có tám ngàn người Hán năm trước bị bắt đi hộ tống đại quân trở lại Liêu Dương
Vạn Lịch Hoàng đế hiển nhiên rất không hài lòng với kết quả này, lần này từ cả nước điều động tinh binh tướng tài, ngài còn phát mười vạn lượng bạc trợ giúp quân lương, vậy mà lại tổn binh hao tướng không công mà lui. Khỏi cần nói về sau còn phải tiêu phần lớn quân lương Liêu, đã có Ngự Sử phản đối ruộng đồng cả nước tăng số quân lương Liêu, vừa muốn phát quốc khố, điều này làm cho lão Hoàng đế nhiều bệnh rất giận.
Mùng ba tháng tư, Liêu Đông tuần án Trần Vương Đình dâng sớ buộc tội Lưu Diên giết người lương thiện để giả công, Lưu Diên lần trước báo thu hoạch hơn năm ngàn thủ cấp kiến Nô cũng giết chết phản tướng Lý Vĩnh Phương. Thực ra trong hơn năm ngàn thủ cấp có không ít người Hán từ Hách Đồ A Lạp trốn tới, bộ hạ Lưu Diên vì tranh giành quân công, không phân tốt xấu mà giết chết, Lý Vĩnh Phương cũng không phải Lưu Diên giết mà là do nội loạn kiến Nô giết chết.
Vạn Lịch Hoàng đế giận dữ, mệnh cho Binh bộ và Đô Sát viện thẩm tra Dương Hạo và Lưu Diên, Binh bộ muốn gọi Dương Hạo và Lưu Diên trở lại kinh thành vấn tội, lấy Hùng Đình Bật thay thế Dương Hạo. Hùng Đình Bật mười năm trước từng tuần án Liêu Đông, ở Liêu mấy năm, Hạch Quân Thực, Đỗ Quỹ Di, liền được Liêu Đông đại chấn. Hơn nữa Hùng Đình Bật là người Hạ ở Hồ Bắc giang, thuộc Sở Đảng, Lại bộ văn tuyển ti lang trung Vương Đại Trí hết lòng đề cử Hùng Đình Bật thay thế Dương Hạo, nhưng nội các Thủ phụ Phương Tòng Triết ra sức cứu vãn Dương Hạo, nói Liêu Đông thế cục chưa ổn, Kế Liêu tướng sĩ chưa định, Liêu dân loạn ly phải an trí, còn phải để Dương Hạo chủ trì đại cục.
Thứ phụ Ngô Đạo Nam cũng dâng sớ khẩn xin đừng thay Dương Hạo, Vạn Lịch Hoàng đế lúc này mới hạ chỉ để Dương Hạo tiếp tục làm kinh lược Liêu Đông, đồng thời miễn chức Tả thiêm Đô ngự sử của Dương Hạo, còn Lưu Diên thì hạ ngục vấn tội.
Bởi vì việc đi hay ở của Dương Hạo, Phương Tòng Triết và Sở Đảng nảy sinh hiềm khích, lại vì mâu thuẫn giữa Binh khoa cấp sự trung Triệu Hưng Bang và Chu Vĩnh Xuân, Tề đảng cũng không đoàn kết như trước. Từ lần kinh sát năm ngoái, sau khi tận truất Đông Lâm quan viên, họ đã không còn đối thủ chung, mâu thuẫn phân tranh giữa tam đảng cũng bắt đầu hiện ra.
.........
Ngày hai mươi mốt tháng tư, Lưu Diên đã suất quân lui về Khoan Điện nhận được tin từ Cẩm Y Vệ phó Liêu Đông gọi vào kinh thành vấn tội, không thể chịu nhục, liền bắt chước Lý Quảng tự sát.
Liêu Đông đại hội chiến không công mà lui, đại bộ phận Kế Liêu tướng sĩ điều động từ khắp nơi phải trở về nơi trú trước đó, đông lộ quân do quân đội Tứ Xuyên, Sơn Đông và Nam Kinh tạo thành. Sau khi Lưu Diên chết, Xuyên quân do Phó tổng binh Giang Vạn Hóa suất lĩnh trở về Tứ Xuyên, còn lại binh mã Sơn Đông, Nam Kinh cũng lục tục trở về nơi trú. Về phần quân đội Triều Tiên, Vạn Lịch Hoàng đế đặc biệt sai sứ giả tới Khoan Điện trợ cấp cho tướng sĩ Triều Tiên vong trận, quân Triều Tiên qua sông Áp Lục về nước vào đầu tháng năm, Từ Quang Khải đến Nghĩa châu nghênh đón thăm hỏi.
Sáu ngàn bộ kỵ Đỗ Tùng dẫn đến từ Diên Tuy thương vong gần ba nghìn, còn lại đều ở Thẩm Dương xây lại Phủ Thuận quan. Đỗ Tùng thay thế Lý Như Bách đảm nhiệm Liêu Đông tổng binh, đệ đệ Lý Như Trinh của Lý Như Bách đảm nhiệm Phó tổng binh. Đây là triều đình vì trấn an gia tộc Lý thị mà bổ nhiệm, Lý Thành Lương mặc dù đã qua đời, song con cháu gia đinh của y ở Liêu Đông vẫn có thế lực rất lớn.
Phần lớn người thuộc Thanh Hà lộ của Hàn Nguyên Thiện là triệu tập từ Liêu Dương, Ái Dương, Quảng Ninh, hiện tại cũng thuộc Đỗ Tùng thống lĩnh, mỗi đội quay về đóng ở bổn trấn, tăng mạnh chuẩn bị chiến đấu, phòng ngừa kiến Nô lại đến cướp bóc.
Liêu Đông đại chiến vào năm Vạn Lịch thứ bốn mươi sáu, quân đội triều Minh tổng cộng tử vong hơn mười chín ngàn người, trọng thương mười bốn ngàn người, mà chém được tổng cộng hơn bảy ngàn tám trăm thủ cấp quân Hậu Kim, trọng thương cũng năm nghìn người trở lên. Trên thực tế số quân bát kỳ mà bốn lộ quân Minh giết chết hẳn là nhiều hơn so với thủ cấp có được, bởi vì có nhiều thi thể bị quân Hậu Kim đoạt về, cho nên nói quân bát kỳ thương vong mặc dù ít hơn quân Minh, nhưng đối với tổng đinh hộ của Hậu Kim còn không bằng một châu quận của Đại Minh mà nói, tổn thất như vậy đã là cực kỳ nghiêm trọng, chế độ bát kỳ gần như sụp đổ.
Chương 508: Hạnh hoa như mộng - KẾT (1)
An Phí Dương Cổ được xưng là một trong Hậu Kim khai quốc ngũ đại thần mất mạng, Ngạch Nhĩ đều tàn tật, hơn nữa Hỗ Nhị Hãn bị sứ đoàn Trương Nguyên giết chết ở núi Phượng Hoàng. Ngũ đại thần đã mất ba người, Nô Nhĩ Cáp Xích nguyên khí đại thương, Nạp Lan Ba Khắc Thập vốn bị giam giữ trong ngục Cẩm Y Vệ ở Bắc Kinh cũng bị xử trảm, bởi vì giữ lại chỉ phí đồ ăn.
........
Ngày hai mươi bảy tháng năm, Mục Kính Nham thăng làm Liêu Đông quân Thiên tổng, sau khi dưỡng thưởng đã phái hai quân sĩ dưới trướng vào kinh thành truyền tin, hỏi đường tìm được chỗ ở của Trương Trạng nguyên ở ngõ Lý Các Lão đã là sau giờ Ngọ. Họ thấy hơn mười người hầu bận rộn vận chuyển đồ vật, vừa hỏi mới biết Trương Trạng nguyên sẽ đi Quảng Đông.
Vũ Lăng hỏi hai gã quân sĩ từ đâu tới đây, biết được là Mục thúc phái người đưa tin, mừng rỡ, nói: - Đến khéo thật, nếu tới trễ một ngày thì chúng tôi đã rời kinh rồi.
Trương Nguyên không ở nhà, Mục Chân Chân dẫn tiểu Minh Khiêm ra gặp hai vị quân sĩ, hỏi biết phụ thân Mục Kính Nham đã thăng làm Thiên tổng, nàng tất nhiên vui mừng. Bởi vì sắp rời kinh xuôi nam, Mục Chân Chân khẩn trương đi viết hồi âm, nàng cũng không biết Mục Kính Nham trên chiến trường bị thương nặng, Mục Kính Nham dặn dò quân sĩ truyền tin không được nói.
Liêu Đông chiến sự thảm khốc, tướng sĩ đẫm máu, Liêu dân lầm than, lời đồn dấy lên khắp kinh, dân chúng triều Minh cùng chung mối thù nhiệt tình dâng cao không thể đợi được đại thắng lật đổ sào huyệt địch. Họ hoảng sợ, hụt hẫng, phẫn uất, chẳng những dân thường oán than khắp chốn, quan viên cũng công kích lẫn nhau, chỉ đợi việc xảy ra rồi mới bàn. Nhưng đối với hơn mấy mươi vạn sinh đồ của mười ba tỉnh hai kinh ở Đại Minh mà nói, Liêu Đông chiến sự như nước đổ lá khoai. Thứ bọn họ quan tâm nhất là vận mệnh của mình, bởi vì năm Vạn Lịch thứ bốn mươi sáu cũng là năm kim phong quế tử, thi hương ba năm một lần lại tới.
Giữa tháng tư, Liêu Đông chiến hỏa còn kịch liệt, Lễ Bộ hai kinh sẽ cùng Hàn Lâm Viện, Chiêm Sự phủ bắt đầu chọn quan chủ khảo trong mười ba tỉnh hai kinh. Đầu tháng năm, mười lăm vị quan chủ khảo đã xác định, nằm ngoài suy đoán của mọi người chính là: Chiêm Sự phủ Hữu Xuân phường Hữu Tán thiện Trương Nguyên đảm nhiệm chức tổng tài thi hương tỉnh Quảng Đông.
Dựa theo lệ thường, chỉ có kỳ thi lớn tỉnh Chiết Giang, Giang Tây, Phúc Kiến mới có thể chọn Tu soạn, Biên tu Hàn Lâm Viện làm quan chủ khảo tổng tài. Tỷ như ba năm trước đây thi hương khoa Ất Mão ở Chiết Giang có quan chủ khảo là Hàn Lâm Viện Biên tu Tiền Khiêm Ích xuất thân từ Thám Hoa, mà thi hương ở một số tỉnh xa xôi cơ bản sẽ không phái Hàn Lâm đi chủ trì. Về phần quan Chiêm Sự phủ trẻ tuổi khỏe mạnh như Trương Nguyên đảm nhiệm giám khảo mà nói..., bình thường đều ở phủ Thuận Thiên hoặc phủ Ứng Thiên, mà hiện tại, Trương Nguyên lại bị phái đi Lĩnh Nam xa xôi, đây rõ ràng có ý giáng chức.
Chẳng những bạn bè Hàn Xã vì Trương Nguyên mà thấy bất công, trong kinh sĩ thứ đều nghị luận, nói Phương Các lão đố kị người tài muốn đem Trương Nguyên đuổi ra kinh thành, nói Trương Nguyên phản đối kế hoạch bốn lộ tiến quân của Phương Các lão. Trương Nguyên nói phân binh hợp tiến có nguy hiểm rất lớn, sự thật chứng minh Trương Nguyên liệu sự như thần, Phương Các lão cực kỳ mất mặt, lại bởi vì Trương Nguyên đánh con của Phương Các lão, cho nên Phương Các lão quyết tâm trả thù, phái Trương Nguyên đến địa phương xa như vậy làm giám khảo.
Phương Tòng Triết cũng nghe thấy những lời đồn đãi này, lão rất buồn bực. Thực ra lão rất muốn khiến Trương Nguyên bị giáng chức đuổi khỏi kinh, nhưng lần này đi Quảng Đông chủ trì thi hương rõ ràng là do Trương Nguyên tự mình yêu cầu, lão dĩ nhiên liền bày mưu Lễ Bộ thuận nước đẩy thuyền. Có lẽ Trương Nguyên là sao Dịch Mã thích đi đường, năm trước đi sứ Triều Tiên, năm nay sắp phải xuôi nam đến Quảng Đông, nhưng lời đồn trong kinh nói Phương Tòng Triết đố kị người tài, cố ý loại trừ Trương Nguyên. Chuyện này quả thực buồn cười, buồn cười!
........
Mùng chín tháng tám là ngày mở kỳ thi hương, mà thành Bắc Kinh cách Quảng Châu phủ hơn bảy nghìn dặm cả đường thủy lẫn đường bộ, Trương Nguyên nhận được bổ nhiệm là vào mùng tám tháng năm. Thăm hỏi từ biệt, ăn uống xã giao, thu dọn hành trang, chớp mắt đã đến ngày mười bảy tháng năm, tuy có Đại Vận hà đi nhanh đến Hàng Châu, nhưng chỉ trong chín mười ngày mà đi bảy nghìn dặm đường thì cũng rất gấp, nếu không khởi hành sẽ không kịp kỳ thi hương ở Quảng Đông, không thể trì hoãn nữa.
Giờ Thìn ngày mười tám tháng năm, bên bến tàu Triều Dương môn, hai mui thuyền lớn màu trắng chờ lên đường, đều là thuyền của Trương Nguyên. Hắn phải dẫn theo vợ con xuôi nam, quả thật giống như bị giáng chức ra kinh hai ba năm cũng chưa về.
Từ khi Thương Đạm Nhiên rời Thiệu Hưng đến kinh đã gần hai năm rồi, rất nhớ cha mẹ ở Sơn Âm cùng anh trai chị dâu ở Hội Kê, lần này cùng Trương Nguyên về Giang Nam, hơn nữa nàng lại có bầu, vừa lúc về Sơn Âm sinh nở.
Mục Chân Chân dẫn theo tiểu Minh khiêm đương nhiên cũng phải về, lão phu phụ Trương Thụy Dương vẫn chưa gặp qua đứa cháu ngoan này.
Vương Vi thì ở kinh thành lo liệu thư cục và cửa hàng, Vũ Lăng và vợ chồng Vân Cẩm cũng ở kinh thành phụ giúp Vương Vi. Vũ Lăng than thở, y rất muốn cùng thiếu gia thiếu nãi nãi về Sơn Âm.
Trương Đại cùng bạn bè Hàn Xã đến tiễn Trương Nguyên, họ cho đậu một chiếc thuyền trúc trước một ngày ở cây tùng lớn bên sông. Lúc này bạn bè ở thuyền trúc uống rượu làm thơ, Nghê Nguyên Lộ đột nhiên cười lạnh nói: - Nguyễn Tập Chi lại bị bệnh sao?
Từ lần đi sứ Triều Tiên năm ngoái đến nay, Nguyễn Đại Thành ít khi tham gia tụ tập cùng Hàn Xã, lần nào cũng cáo bệnh không tới.
Văn Chấn mạnh ghét ác như cừu, nói: - Y khỏe như trâu, nào có bệnh gì. Y hay cùng Diêu Tông Văn, Chu Vĩnh Xuân qua lại, muốn leo lên quyền quý, Hàn Xã ta cứ dứt khoát xóa tên y.
Trương Nguyên nói: - Kệ y, kệ y.
Khi nói chuyện, Tiền Long Tích, Tôn Thừa Tông,Kỳ Thừa Tùng, Dương Liên cũng tới tiễn Trương Nguyên. Trương Nguyên hôm qua đều nhất nhất đi từ biệt, hôm nay lại không phải ngày nghỉ, xem ra mấy người Tiền Long Tích xin nghỉ đến đưa tiễn.
Tiền Long Tích nói: - Hôm qua Đông cung truyền chỉ, mệnh bản phủ thay mặt Thái tử điện hạ tiễn Trương Tán thiện. Nói xong, y sai người hầu đem lễ vật mà Đông cung tặng lên thuyền cho Trương Nguyên.
Trương Nguyên khẩn trương quay về hướng tây tạ ơn.
Mọi người Hàn Xã đều vui mừng, Đông cung quả thật coi trọng Trương Nguyên. Tiền Long Tích chính là quan Chiêm Sự phủ, không thể so với đám người nhàn rỗi.
Lúc này, Vũ Lăng đột nhiên bước nhanh đến cạnh Trương Nguyên, thấp giọng nói: - Thiếu gia, tiểu Cao công công nói Chung công công ở miếu Đông Nhạc muốn gặp thiếu gia, muốn tiễn thiếu gia.
Trương Nguyên nhướn mày, gật đầu, nói: - Thỉnh Cao công công đợi một chút. Hắn nghĩ bụng: "Hoàng trưởng tôn có thể đã đến rồi."
Tiền Long Tích và Trương Nguyên nói vài câu, liền về Chiêm Sự phủ phục mệnh Hoàng Thái tử Chu Thường Lạc. Tôn Thừa Tông, Kỳ Thừa Tùng, Dương Liên, Hồng Thừa Trù cũng trở về nha môn mỗi người, chỉ có mấy người Hàn Lâm Viện như Văn Chấn Mạnh, Trương Đại muốn nhìn Trương Nguyên giương buồm đi xa.
Đại huynh và các bằng hữu quá nhiệt tình, Trương Nguyên đành phải nói thật: - Đông cung Chung thái giám muốn nói vài lời với đệ ở miếu Đông Nhạc.
Trương Đại cười nói:
Đệ cứ đi đi, chúng ta ở đây đợi.
Cao Khởi Tiềm đợi Trương Nguyên dưới bia khắc của Triệu Mạnh Phủ trước đại điện miếu Đông Nhạc, thấy Trương Nguyên và một lão giả lạ mặt đi tới, liền khẩn trương đến đón. Trước tiên y nhìn đánh giá lão giả kia, nghe Trương Nguyên nói đây là Vương Tông Nhạc Vương sư phó, Cao Khởi Tiềm gọi một tiếng "Vương sư phó", liền hạ giọng nói với Trương Nguyên: - Trương tiên sinh, người kia cũng tới, ở hậu điện Đế Phi Hành Cung chờ Trương tiên sinh.
Bởi vì năm ngoái, lần đó Hoàng trưởng tôn gặp nạn ở miếu Đông Nhạc, cho nên lần này rõ ràng tăng cường cảnh giới. Xưởng vệ và phòng tuần bộ sắp xếp người khắp từ trong ra ngoài miếu, việc này chắc là Chung thái giám an bài, hiện tại quyền thế Chung thái giám cũng phát triển.
Đi đến hậu điện, một người to con đứng ló ra từ bên hành lang chắp tay với Trương Nguyên, chính là Khách Quang Tiên, trên má phải có vết thương bắt mắt. Sau khi Trương Nguyên cử người gặp Khách Quang Tiên vấn đáp một phen, mới biết Khách Quang Tiên tham gia cuộc chiến Tát Nhĩ Hử, bị thương nhẹ, Mục Kính Nham bị thương quá nặng, trúng hai mũi tên, may mà đều không phải vết thương trí mạng.
Trương Nguyên kinh ngạc nói: - Mục thúc hôm qua phái người tới báo tin, chỉ nói thăng làm Thiên tổng, không đề cập đến việc bị thương.
Khách Quang Tiên nói: - Vậy chắc là khỏi rồi.
Khách Quang Tiên không giỏi ăn nói, sẽ không chủ động mở lời, đều là Trương Nguyên hỏi rồi y đáp, vẻ mặt cực kỳ cung kính. Trương Nguyên tiên đoán chiến cục Liêu Đông chuẩn xác khiến y bị thuyết phục.
Trương Nguyên chợt nhớ tới một chuyện, hỏi: - Ta từng xem chiến báo biết được đông lộ quân đả thương con trai Hồng Đài Cát của Nô Nhĩ Cáp Xích, không biết có xác thực không?
Khách Quang Tiên nói: - Hồng Đài Cát bị hỏa khí đả thương, bị thương ở mặt, mù một con mắt.
Trương Nguyên mỉm cười: - Tốt lắm, tốt lắm.
Hồng Đài Cát chính là Hoàng Thái Cực, Hoàng Thái Cực mặc dù không có con, nhưng mù một con mắt, từ nay về sau dung nhan không hoàn chỉnh, về sau muốn tiếp chưởng quyền lực Nô Nhĩ Cáp Xích cũng khó, đám người Đại Thiện, A Mẫn, Mãng Cổ Nghĩ Thái cũng sẽ không phục gã. Nô Nhĩ Cáp Xích dựa vào con trai, con rể thống lĩnh quân bát kỳ chinh chiến thiên hạ, một khi đã chết, những con rể này tranh quyền tất sẽ thảm thiết.
Chương 508: Hạnh hoa như mộng KẾT (2)
Ngụy Trung Hiền đi ra từ sau điện, thấy Trương Nguyên đang nói chuyện với Khách Quang Tiên, vội thi lễ: - Trương tiên sinh, người đó đợi Trương tiên sinh đã lâu.
Khách Quang Tiên lui qua một bên, Trương Nguyên đi theo Ngụy Trung Hiền tiến vào hậu điện, hậu điện không cho ai khác vào, đến đạo sĩ cũng đuổi hết. Trương Nguyên bước vào Đế Phi Hành Cung, thấy hai thái giám Chung, Ngụy đứng một bên, hoàng trưởng tôn Chu Do Hiệu đang chơi đùa với tiền vàng. Hắn đến gần mới thấy Khách Ấn Nguyệt quỳ gối khấn thầm trước Đế Phi, phần mông chống đỡ gót chân, thân trên hơi khom, phần eo lại cong, dáng người hồ lô ẩn trong lớp váy cung trông rất gợi cảm, nhưng mấy người Chung thái giám cũng không nhìn nhiều, hiển nhiên không có cảm giác gì.
Trương tiên sinh, Quảng Đông gần Nam Hải, cực kỳ xa xôi, thật hâm mộ Trương tiên sinh, có thể đến Nam Hải xem cá kình.
Chu Do Hiệu mười bốn tuổi không cao hơn hai năm trước là mấy, người vẫn gầy, nhưng khí sắc không tệ. Tính tình thiếu niên không chịu ràng buộc, y cực kỳ ngưỡng mộ Trương Nguyên có thể vào nam ra bắc.
Trương Nguyên lại cười nói: - Lần này đi Lĩnh Nam cũng không phải du sơn ngoạn thủy, chính là vì nước chọn nhân tài.
Ngụy Trung Hiền nói: - Trương tiên sinh, Lĩnh Nam là nơi rất chướng, Trương tiên sinh vì sao phải đến đó!
Ngụy Trung Hiền có vẻ suy nghĩ cho Trương Nguyên, có lẽ là thật lòng, bởi vì Thái tử và hoàng trưởng tôn đều lễ kính Trương Nguyên.
Trương Nguyên cười nói: - Trước thời Đường Tống, Lĩnh Nam là nơi rất chướng, nhưng Đại Minh ta khai quốc hai trăm năm đến nay, Quảng Châu là nơi vạn thương tập hợp, phồn hoa sung túc tựa Tô Châu và Hàng Châu, cũng có nhiều phiên bang nhân sĩ, kỳ trân dị bảo, nhiều chuyện ly kỳ của Tây Dương, trước đây chưa từng thấy.
Hoàng trưởng tôn Chu Do Hiệu nghe Trương Nguyên nói vậy, y rất muốn đến đó.
Khi Trương Nguyên và Chu Do Hiệu nói chuyện, Khách Ấn Nguyệt đứng một bên mỉm cười quan sát. Đến khi Trương Nguyên cáo từ, nàng dâng lên một chiếc mâm có hơn mười cái bánh cam lộ, Chu Do Hiệu nói: - Trương tiên sinh, đây là bánh cam lộ ma ma tự làm, gửi Trương tiên sinh nếm thử.
Trương Nguyên xúc động. Cảnh tượng hoang đường ở Văn Hoa điện trong cơn mưa lớn năm ngoái lại hiện lên trong đầu, ngoài mặt vẫn thản nhiên, hắn nói: - Đa tạ Khách ma ma, Khách mama và điện hạ bảo trọng, nỗ lực học hỏi, yêu quý thân thể.
.....
Hai mui thuyền trắng trước sau rời bến Triều Dương môn, nước Đại Vận hà tháng năm dồi dào, Trương Nguyên ngồi bên cửa sổ ném hết mấy chiếc bánh cam lộ xuống nước, tiểu Hồng Tiệm thấy liền hỏi:
Cha đang làm gì vậy?
Trương Nguyên đáp: - Cho cá ăn.
Tiểu Hồng Tiệm nói: - Trương Hồng Tiệm cũng muốn cho.
Tiểu Hồng Tiệm không tự xưng mình là "con", mà lại xưng là "Trương Hồng Tiệm".
Thương Cảnh Huy từ khoang thuyền bên tiến đến, nói: - Trương Hồng Tiệm, không được đến gần cửa sổ.
Thương Cảnh Huy mười hai tuổi đã duyên dáng yêu kiều, mặt mũi giống Thương Đạm Nhiên đến bốn, năm phần, hơi gầy. Cô bé đi kéo tay tiểu Hồng Tiệm, đứng bên Trương Nguyên nhìn nước sông dồi dào ngoài cửa sổ, thỉnh thoảng nghiêng đầu nhìn Trương Nguyên, nói: - Cô phụ, hình như người rất vui.
Trương Nguyên gật đầu cười nói: - Phải, tâm tình rất vui.
Thương Cảnh Huy hỏi: - Là vì phải về Giang Nam sao?
Trương Nguyên nói: - Đúng vậy, nhớ song thân, nhớ chiếc cầu dòng nước ở quê hương, hoa cỏ ở núi Bạch Mã đã nở rộ chưa?
Thương Cảnh Huy khẽ cười, nói: - Con thấy cô phụ rất có khí ẩn dật, không ham thích con đường làm quan cho lắm. Vậy tại sao dượng lại phải ngàn dặm xa xôi vào kinh ứng thí, ở lại Thiệu Hưng không tốt hơn sao?
Trương Nguyên cười nói: - Trước phải nổi danh sau đó quy ẩn, bằng không không cam lòng.
Thương Cảnh Huy cười khúc khích, lại nói: - Cô phụ hiện tại cũng quy ẩn không được, lần này về Thiệu Hưng cũng không ở được mấy ngày, cô phụ dẫn con đi Quảng Châu đi, con muốn từ Quảng Châu ngồi thuyền đến Phúc Kiến thăm hỏi cha mẹ và a tỷ.
Trương Nguyên nói: - Cái này không thể được, nhật trình rất sát sao, ta phải gấp gáp đi Quảng Châu, bằng không không kịp.
Thương Cảnh Huy nói: - Con làm thư ký cho cô phụ.
Trương Nguyên cười nói: - Ta đã quyết định mời Tông Dực Thiện làm Mạc tân, còn con thì ta không mời nổi.
Thương Cảnh Huy bĩu môi, không nói gì nữa.
....
Hai chiếc thuyền của Trương Nguyên từ Bắc Kinh lên đường vào ngày mười tám tháng năm, dọc đường gần như không trì hoãn. Thủy trạm trên Đại Vận hà cách sáu, bảy mươi dặm có một tòa, cũng có khi trên trăm dặm đường sông mới có một trạm nghỉ chân, Trương Nguyên vì thời gian đang gấp, thường thường một ngày qua hai thủy trạm, tới Hàng Châu là ngày mười hai tháng sáu. Hắn chỉ dừng lại ở Hàng Châu nửa ngày, thăm hỏi Chiết Giang tỉnh Tam Ti trưởng quan. Đêm hôm đó hắn nghỉ tạm ở Bất Hệ viên bên Tây Hồ, tòa biệt thự hoa lệ này là do Trương Nguyên dùng mười lượng bạc mỗi năm mà cầm, kỳ hạn bảy mươi năm.
Thương Đạm Nhiên, Thương Cảnh Huy dạo vườn dưới ánh trăng, nghe Trương Nguyên kể ngày đó từ tay Huy Thương Uông Nhữ Khiêm cầm được tòa lâm viên này, việc này hiện tại đã thành trò cười ở Hàng Châu.
Chiều tối ngày mười bốn tháng sáu, thuyền của Trương Nguyên đã đến bến tàu Tây Hưng. Thân sĩ nổi tiếng ở Sơn Âm, Hội Kê đã sớm thăm dò, ra đón dưới sự suất lĩnh của Thiệu Hưng Tri phủ Từ Thời Tiến. Trên bến đen đặc đầu người, không khí nóng bức, mồ hôi tuôn như mưa, tộc thúc tổ Trương Nhữ Lâm, phụ thân Trương Thụy Dương của Trương Nguyên, còn có Thương Chu Đức cũng tới. Thiếu niên anh tuấn Kỳ Bưu Giai mỉm cười, đứng một bên nhìn Trương Nguyên mang theo thê thiếp và hai đứa con dập đầu với trưởng bối trên bến tàu.
Trương Thụy Dương một tay kéo Trương Hồng Tiệm, một tay kéo trương Minh Khiêm, nhìn trái nhìn phải, mừng đến chòm râu run run, nói: - Hồng Tiệm rời khỏi Sơn Âm khi vẫn chưa dầy nửa tuổi, hiện tại trưởng thành như thế, Minh Khiêm cũng không sợ người lạ. Rồi ông nói với Trương Nguyên: - Mẫu thân con ở nhà đang mong, ta dẫn Hồng Tiệm, Minh Khiêm về nhà trước, mẫu thân con nhìn thấy hai đứa cháu này chắc chắn rất vui!
Hai huynh đệ Lý Thuần, Lý Khiết mấy năm nay vẫn ở nhà ngoại tổ, lúc này chen lên trước mặt Hồng Tiệm, Minh Khiêm lớn tiếng nói: - Về nhà, về nhà, ngoại tổ mẫu sốt ruột rồi. Đoạn dắt tay Hồng Tiệm, Minh Khiêm bước đi.
......
Trương Nguyên ở Sơn Âm ba ngày, người đến nhà chơi gần như muốn san bằng cửa, có không ít xã viên Hàn Xã từ những nơi xa xôi như Thượng Ngu, Dư Diêu, thậm chí là từ Thanh Phổ, Hoa Đình tới. Bọn họ biết Trương Nguyên sắp chủ trì thi hương ở Quảng Đông, lường trước Trương Nguyên thuận đường về Sơn Âm một chuyến, liền tới sớm chờ sẵn. Điều làm cho bọn họ thán phục chính là, có rất nhiều người chỉ gặp Trương Nguyên một lần vào lần tụ hội ba năm trước ở Long sơn, lần này tái kiến, Trương Nguyên lại nhất nhất nhớ rõ tên, tự và biệt hiệu của bọn họ. Bạn bè tứ phương, mặt đầy xuân phong, không hề kiêu ngạo tự mãn, làm cho người ta cảm thấy gần gũi như bạn cũ nhiều năm không gặp.
Tối ngày mười bảy tháng sáu, khách và bạn đã giải tán, sự yên tĩnh trở lại khu nhà Đông Trương. Sau khi Trương Nguyên tắm rửa, hắn cùng lão phụ ngồi trong sân vườn hóng mát. Một vầng trăng sáng treo trên không trung, trong trẻo rọi xuống làm hành lang quanh sân nhà sáng rõ, tiếng đùa giỡn của bọn trẻ con trên lầu gỗ vang vọng. Lý Khiết chín tuổi cùng Hồng Tiệm ba tuổi và Minh Khiêm hai tuổi đọc "Tam Tự kinh", Hồng Tiệm và Minh Khiêm dù sao tuổi nhỏ, Minh Khiêm vừa tròn một tuổi nói vẫn chưa rõ, hai đọc vài câu thì không chịu đọc nữa, Lý Khiết thích lên mặt, nhất định phải dạy hai tiểu biểu đệ này. Hồng Tiệm bị ép buộc quá, kêu thét lên: - Cha ta là Trạng Nguyên, đọc sách không ai hơn được phụ thân, cha ta một ngày đọc năm trăm quyển sách. Năm trăm đối với tiểu Hồng Tiệm xem ra đã là nhiều tới cực điểm.
Trên lầu, Trương mẫu Lã thị và Thương Đạm Nhiên cười vang, Trương Thụy Dương ngồi bên sân cũng vuốt râu cười, nói với Trương Nguyên: - Hồng Tiệm, Minh Khiêm để ở nhà vậy, qua hai năm mời Dực Thiện dạy vỡ lòng cho chúng, Dực Thiện học thức bất phàm.
Trương Nguyên nói: - Mà lần này đi Quảng Đông, con muốn Dực Thiện huynh làm trợ tá xử lý công văn.
Trương Thụy Dương gật đầu nói: - Tốt, rất tốt, có Dực Thiện giúp con thì rất tốt, chuyện học của đám nhóc không cần con quan tâm, ta sẽ tìm được danh sư thụ giáo cho chúng.
Trong góc sân có một cái chậu lớn, trong chậu trồng câu hoa nhài cao năm xích, mùa hạ mà mùa hoa nhài nở rộ. Dưới ánh trăng, hoa nhài như ngọc như tuyết, hương hoa phảng phất trong không trung.
Trương Nguyên ngồi ở trên ghế trúc nghe lão phụ nói chuyện, ngửi hương hoa nhài, quang cảnh thoảng như mộng huyễn, lại nghe lão phụ nói: - Mai con sẽ đến Lĩnh Nam, con vẫn chưa đến quý phủ Hước Am tiên sinh thăm hỏi. Hước Am tiên sinh mặc dù nhậm chức ở Viên châu, nhưng phu nhân y còn ở Hội Kê, con vẫn phải đi bái kiến sư mẫu.
Trương Nguyên đáp: - Nhi tử định ngày mai đến bái kiến, sau đó khởi hành.
Trương Thụy Dương gật đầu, đột nhiên nói: - Vị Vương nhị tiểu thư đến nay vẫn chưa kết hôn, vi phụ mệt rồi, con cũng sớm nghỉ ngơi, đi Quảng Đông đường xá xa xôi, rất vất vả, sớm đi ngủ đi.
Trương Nguyên vâng dạ, nhìn lão phụ lên lầu rồi ngồi rất lâu trong sân. Bất giác ánh trăng đã dời đi, tiểu viện u ám, hoa nhài vẫn lẳng lặng tỏa hương.
.......
Trương Nguyên cũng không biết ngủ từ lúc nào, tỉnh lại thì trời đã sáng, bởi vì tối qua uống hơi nhiều nên đầu hơi nhức. Hắn nằm trên giường phân phó Vũ Lăng ở gian ngoài bảo dưới bếp chuẩn bị nước, hắn muốn tắm rửa.
Vũ Lăng nói: - Chẳng phải hôm qua thiếu gia tắm rồi à, sao hôm nay tắm nữa?
Trương Nguyên: - Bớt lôi thôi, đi mau đi.
Hắn rời giường tắm rửa, dùng xong bữa sáng, Đại Thạch Đầu báo lại có người tới đón thiếu gia. Trương Nguyên vừa đi ra liền thấy một chiếc xe ngựa đứng ngoài cửa rào trúc, hai người hầu theo xe nhìn khá quen mắt, nhất thời nhớ không rõ đã gặp nhau ở đâu, còn có một người dáng như quản sự tươi cười chắp tay nói: - Trương công tử, lão gia nhà tôi mệnh cho tiểu nhân tới đón Trương công tử đến Hạnh Hoa tự ngắm hoa.
Trương Nguyên thầm nghĩ: "Ngắm hoa, bây giờ là mùa hạnh hoa nở sao?"
Quản sự kia rất nhiệt tình:
Trương công tử mời lên xe, lão gia nhà tôi đã đợi công tử ở đó.
Thịnh tình không thể chối từ, Trương Nguyên ngồi lên xe ngựa, phu xe cho xe ngựa chạy qua Phủ Học cung, lại thấy một người hầu đuổi theo phía sau, thở hồng hộc nói: - Trương thiếu gia, huyện tôn đại nhân cho mời.
Quản sự nói với người hầu kia: - Lão gia nhà ta mời Trương công tử đi ngắm hoa.
Người hầu kia trợn mắt nói: - Huyện tôn có chuyện quan trọng muốn cùng Trương thiếu gia thương lượng, làm chậm trễ việc của huyện tôn, ai gánh nổi tội. Trương thiếu gia, xin nhanh cho, huyện tôn đại nhân đang chờ ở công đường.
Trương Nguyên liền xuống xe ngựa, cáo tội với quản sự, rồi theo người hầu kia đi về hướng Sơn Âm huyện nha.
Gió xuân lay động, hạnh hoa như tuyết.