"Chư vị đồng liêu, có ai phản đối việc lập Viện Nghị Chính không?" Phương Vận mở lời trong lúc Thái hậu đang trầm tư.
Đông đảo quan viên đều nhìn về phía Thịnh Bác Nguyên.
Thịnh Bác Nguyên mắt nhìn thẳng, dường như không thấy phản ứng của các quan viên.
Rất nhiều quan viên nheo mắt nhìn chằm chằm Thịnh Bác Nguyên, thậm chí đã chuẩn bị sẵn sàng, một khi Thịnh Bác Nguyên dám tiếp tục phản đối, bọn họ sẽ lập tức liên thủ công kích.
Trong triều đình, Bách gia đều có mặt.
Hiện nay, Hình Điện, Công Điện, Chiến Điện, Nông Điện và Y Điện gần như đều đứng về phía Phương Vận. Các đại thần thuộc những nhà này của Cảnh quốc gần như không có lựa chọn nào khác, hoặc có lẽ là họ cũng bằng lòng đứng cùng một phe với Phương Vận như các Điện khác. Bởi vì Phương Vận đã cống hiến to lớn cho các nhà, khai sáng Thánh đạo, chưa nói đến những chuyện khác, chỉ riêng việc báo ân cũng không thể nào phản đối Phương Vận.
Những người thực sự phản đối Phương Vận là một bộ phận quan viên Nho gia và hơn nửa số quan viên Tạp gia.
Số lượng học giả Nho gia thực sự quá đông, cho nên luôn có người ủng hộ hoặc phản đối.
Tạp gia phản đối là vì Tông Thánh hiện đang chấp chưởng Tạp gia. Tông gia đã đối lập với Phương Vận thì bọn họ cũng khó mà giao hảo, cho nên thà ngả về phía hoàng thất.
Nhưng bây giờ, không một quan viên Tạp gia nào đứng ra phản đối Phương Vận, bởi vì dù nhìn thế nào, Viện Nghị Chính này cũng giống như đang tăng cường Thánh đạo của Tạp gia, cho nên họ không những không phản đối mà ngược lại còn phải ủng hộ.
Giống như những cải cách triều đình trước đây của Phương Vận, ở nhiều phương diện đều có lợi cho Tạp gia, cho nên họ không chống đối toàn diện, mà chỉ phản đối một số cải cách có lợi cho các nhà khác.
Không ai lên tiếng, Thịnh Bác Nguyên ho nhẹ một tiếng, nói: "Dám hỏi Phương Hư Thánh, Hương Giáo và Viện Nghị Chính này sẽ thành lập và vận hành như thế nào?"
Phương Vận đáp: "Hương Giáo rất đơn giản. Nếu đã muốn học theo cổ pháp, vậy thì cứ thành lập một nơi có thể tự do ra vào trong học cung hoặc khu vực lân cận. Những người rảnh rỗi có thể vào đó bàn luận chính sự, trao đổi với nhau. Viện Nghị Chính sẽ cử quan viên thường trú tại Hương Giáo, nếu có người đề xuất được phương pháp trị quốc hiệu quả, quan viên của Viện Nghị Chính phải ghi chép lại. Đương nhiên, những người đó cũng có thể chủ động tìm quan viên của Viện Nghị Chính. Một khi phương pháp trị quốc được triều đình tiếp nhận và đạt được hiệu quả tốt, người đề xuất sẽ được ban thưởng, có thể là tiền bạc, ruộng đất hoặc tước vị. Thậm chí, có thể được vào Viện Nghị Chính."
"Bất kỳ ai cũng có thể vào sao? Tiểu thương, ăn mày, tú bà, lẽ nào cũng có thể vào trong đó?" Thịnh Bác Nguyên hỏi.
Phương Vận đáp: "Chỉ cần là nghề nghiệp hoặc thân phận được triều đình công nhận thì đều có thể vào. Tiểu thương có thể vào, nông dân, công nhân có thể vào. Về phần ăn mày, không được xem là nghề mưu sinh chính thức nên không được vào. Còn sòng bạc, lầu xanh, cá nhân ta thiên về việc cấm tuyệt hoàn toàn, nhưng đề nghị trước đây của ta đã gặp phải sự phản đối, cho nên sẽ bàn lại sau. Người trong sòng bạc, lầu xanh cũng được coi là có nghề mưu sinh, chỉ cần không vi phạm pháp luật thì đương nhiên có thể vào. Hương Giáo không phức tạp như mọi người nghĩ, có thể xem nó là một hoa viên hơi khác biệt. Hoa viên ta xây ở thành Ninh An, chắc mọi người đều biết chứ?"
Tào Đức An cười nói: "Phương Hư Thánh nói vậy ta đã hiểu, chính là gom hết mấy vị các lão đầu đường, thượng thư cuối hẻm, những cao quan chỉ giỏi võ mồm vào trong Hương Giáo."
Các quan viên bật cười.
"Như vậy, người đọc sách và những người khác chẳng phải là không có chút khác biệt nào sao?" Thịnh Bác Nguyên hỏi.
"Người đọc sách và những người khác vốn dĩ có gì khác biệt sao? Là nhiều hơn một con mắt, hay nhiều hơn một cái miệng?" Phương Vận giả vờ kinh ngạc hỏi.
Thịnh Bác Nguyên hừ lạnh một tiếng, nói: "Ta đang nói đến học vấn. Rất nhiều chuyện, không phải người đọc sách thì rất khó thực sự tham gia. Những kẻ khoác lác ngoài đường trong ngõ đó chẳng có ích gì cho triều chính."
Phương Vận nhớ lại xuất thân của Thịnh Bác Nguyên, nói: "Ta nghe nói Thịnh thượng thư từ nhỏ gia tài bạc triệu, áo đến đưa tay, cơm đến há miệng, về phương diện học chữ thì vượt xa nông dân bình thường. Thế nhưng, nếu Cảnh quốc muốn ban bố luật pháp hoặc chính lệnh liên quan đến nông vụ thì cần phải thấu hiểu nông dân, cũng phải lắng nghe ý kiến của họ. Ít nhất về phương diện nông vụ, chín thành nông dân Cảnh quốc còn có học vấn hơn Thịnh thượng thư."
"Ngươi đây là ngụy biện." Thịnh Bác Nguyên nói.
Phương Vận mỉm cười nói: "Thịnh thượng thư hiểu lầm rồi. Thời gian và tinh lực của mỗi chúng ta đều có hạn, chúng ta cũng không phải toàn trí toàn năng. Cho nên, nếu chúng ta muốn quản lý quốc gia, nhất định phải lắng nghe đề nghị của người trong mọi ngành nghề, cho dù họ không phải là người đọc sách. Ngay cả Khổng Thánh cũng thừa nhận, bản thân mình làm nông không bằng lão nông, làm vườn không bằng người làm vườn. Chúng ta thừa nhận sự thiếu sót của mình là chuyện rất bình thường, hơn nữa còn rất đúng đắn. Lấy một ví dụ đơn giản, việc cải tiến kỹ thuật trong công xưởng, có khi lại do công nhân bình thường phát hiện ra đầu tiên. Chúng ta có thể nói những công nhân bình thường đó không có học vấn sao? Ít nhất bản tướng cho rằng, họ rất có học vấn, trong lĩnh vực của mình, họ còn hiểu biết hơn chúng ta. Đôi khi chúng ta cho rằng họ không có học vấn, là bởi vì, nhiều lúc chính chúng ta mới là người vô tri."
Lời của Phương Vận có chút không khách khí, nhưng Thịnh Bác Nguyên lại lạ thường không phản bác.
Mấy hơi thở sau, Thịnh Bác Nguyên nói: "Hương Giáo chỉ là nơi bàn luận chính sự, vậy tác dụng của Viện Nghị Chính là gì? Làm thế nào để đưa những người đó vào Viện Nghị Chính? Để họ trực tiếp làm quan, há chẳng phải là phá vỡ quy củ của triều đình sao?"
Phương Vận mỉm cười nói: "Ai nói vào Viện Nghị Chính thì nhất định phải là quan viên? Sai dịch trong nha môn có phải là quan viên không? Tiểu lại không có phẩm cấp có phải là quan viên không? Viện Nghị Chính do triều đình quản lý, cho nên một số chức vị quản lý chủ chốt trong đó đúng là quan viên, nhưng người đưa ra ý kiến đề nghị thì không nhất thiết phải là quan viên. Do đó, chúng ta nên tạo ra một thân phận mới cho những người giỏi bày mưu tính kế vì Cảnh quốc. Bất luận có phải người đọc sách hay không, nếu đã vì quốc gia bày mưu tính kế, chúng ta cũng không nên xem thường, mà nên đối đãi ngang hàng với người đọc sách. Vì vậy, có thể phong cho họ là học sĩ, danh xưng chính thức là Học Sĩ Bàn Luận Chính Sự."
"Học Sĩ Bàn Luận Chính Sự là mấy phẩm? Có quyền hành gì?" Thịnh Bác Nguyên hỏi.
Phương Vận cười nói: "Học Sĩ Bàn Luận Chính Sự không có phẩm cấp, chỉ là một danh xưng đặc thù của Viện Nghị Chính. Bất kể lúc khác họ có thân phận gì, nhưng khi đảm nhiệm chức Học Sĩ Bàn Luận Chính Sự trong Viện Nghị Chính, họ không có bất kỳ đặc quyền nào. Sứ mệnh của họ chính là đưa ra những ý kiến hoặc đề nghị tốt cho triều đình, giúp hoàn thiện triều đình, để triều đình và Cảnh quốc trở nên tốt đẹp hơn."
"Ngươi mới nói, không nhất thiết phải là quan viên, ý là quan viên cũng có thể vào Viện Nghị Chính?" Thịnh Bác Nguyên hỏi.
Phương Vận đáp: "Đương nhiên, mọi ngành nghề đều có thể bàn luận chính sự, quan viên tự nhiên cũng có thể. Tuy nhiên, Viện Nghị Chính là của Cảnh quốc, không phải của riêng quan viên. Cho nên, ta dự định bước đầu, tỷ lệ quan viên trong số các Học Sĩ Bàn Luận Chính Sự không thể vượt quá ba thành."
"Bảy thành còn lại của các Học Sĩ Bàn Luận Chính Sự dành cho ai?" Thịnh Bác Nguyên hỏi.
Phương Vận đáp: "Cảnh quốc nhân tài lớp lớp, chúng ta nên căn cứ vào dân số và ngành nghề để phân bổ vị trí Học Sĩ Bàn Luận Chính Sự. Lấy một ví dụ, Giang Châu giàu có, dân số đông đúc, Mật Châu dân cư thưa thớt, như vậy, số học sĩ được tuyển chọn từ Giang Châu tự nhiên phải nhiều hơn Mật Châu. Hơn nữa, để lắng nghe rộng rãi tiếng nói của các ngành nghề, chúng ta phải chọn lựa từ các tầng lớp như nông dân, công nhân, thương nhân, lại viên, lão sư, thầy thuốc, nữ tử..."