Virtus's Reader
Quyền Bính

Chương 563: CHƯƠNG 563: VÂY THÀNH

Gió thu cuốn lên cỏ khô cuồn cuộn, đất trời tràn đầy hương vị tiêu điều xơ xác.

Vó ngựa ầm ầm, thiết kỵ Đại Tần như sấm sét xông lên, thành Thượng Kinh nguy nga đang ở ngay trước mắt, vinh quang cũng đã ở ngay trước mắt.

Nhìn tường thành xa xa dài dằng dặc, trong lòng Tần Lôi cảm khái vô hạn. Khoảng chừng bốn năm trước, hắn vẫn còn là một tù phạm trong tòa thành nho nhỏ này, tính mạng sớm chiều khó giữ, hoảng sợ vô cùng. Vậy mà sau bốn năm, tình hình đã thay đổi nghiêng trời lệch đất, hắn đang dẫn theo hai mươi vạn thiết kỵ vây quanh tòa thành chết tiệt này, để cho tất cả vương công đại thần trong thành nếm thử tư vị hoảng loạn.

Hắn cũng biết, không có khí giới hàng nặng, quân Tần không có cách nào đối phó với thành Thượng Kinh, nhưng cũng không có nghĩa lần này chỉ vẻn vẹn là một chuyến du hành võ trang thị uy đe dọa. Thượng Kinh là trái tim nước Tề, không cần đánh nó, chỉ cần sờ một cái, cào một cái, Hoàng đế và đám đại thần trong thành sẽ bị dọa mất hồn.

Nếu ai cũng giống như lão già Triệu Vô Cữu lấy tĩnh chế động, Tần Lôi còn thật sự không biết nên làm thế nào mới có thể dẫn bộ đội về nước Tần.

Tướng lãnh liên can đều hăng hái giục ngựa tiến lên:

- Vương gia, thuộc hạ xin chiến!

Tần Lôi bĩu môi cười:

- Vớ vẩn! Thành trì cao vậy làm sao mà lên?

- Chúng ta có thể xuống ngựa, làm thang!

Xem ra sức mê hoặc của việc tấn công thành Thượng Kinh không phải lớn bình thường, lịa khiến cho đám tướng lĩnh kỵ binh luôn tự cho mình là cao quý n ày lại muốn làm bộ binh thấp hèn một lần.

- Thành Thượng Kinh cao bảy trượng, rộng tám trượng, thành lũy như rừng, thủ vệ sâm nghiêm, còn có hơ văm vạn dân chúng trong thành trợ giúp.

Tần Lôi không hề xúc động, chỉ vào tường thành xa xa cao ngất:

- Các ngươi cảm thấy có thể cứng rắn đánh hạ tòa thành này sao>

- Chuyện do người làm mà Vương gia!

Các tướng lĩnh vẫn chộn rộn:

- Chỉ cần chúng ta không tiếc hy sinh đổ máu, không có tòa thành nào không phá được!

- Cô sợ hy sinh đổ máu!

Sắc mặt Tần Lôi trầm như nước:

- Tỉnh lại tỉnh lại đi chư vị. Chúng ta là cô độc xâm nhập, không có hậu viện, không có đường lui, chỉ cần bất cẩn một chút sẽ bị diệt toàn quân, vạn kiếp bất phục!

Lời này như một chậu nước lạnh hất thẳng khiến cho chúng tướng lập tức không còn kiêu ngạo nữa. Từ Tái Vũ không phục:

- Vậy Vương gia dẫn chúng ta hành quân mấy trăm dặm chẳng lẽ chỉ để cho các tướng sĩ đi chơi?

- Làm càn!

Tần Lịch thấp giọng quát:

- Từ Thống lĩnh, không biết xấu hổ phải không?

Từ Tái Vũ bị Đại Hoàng tử trừng mắt sói sợ tới rụt cổ lại, chợt cảm thấy da mặt cực kỳ khó chịu, gắng gượng nhỏ giọng lầm bầm:

-Không phải chỉ là… áo gấm về nhà sao?

Chúng tướng ồ lên, không ngờ nổi gã lại có thể nói vậy. Tuy Vương gia thường xuyên giắt đoạn lịch sử kia bên miệng, nhưng nếu là người khác nói thì thật sự là không nên… càng không nói đến cách dùng từ “áo gấm về nhà” đầy trào phúng này. Quả thực là bị ma quỷ ám ảnh rồi!

Lời vừa buột ra, Từ Tái Vũ lập tức biết mình lỡ lời, vội vàng nhìn Thành Thân Vương, thì thấy hắn vẫn tươi cười, gánh nặng trong lòng lập tức được giải khai, thấp giọng xin tội:

- Mạt tướng lỡ lời, Vương gia cứ coi như mạt tướng đánh rắm đi!

Tần Lôi lắc đầu cười vang:

- Cô không phải Ngự sử Đô Sát Viện, không quan tâm Từ Tướng quân nói cái gì. Chỉ mong từ sau ngươi chừa chút khẩu đức, đừng có để bị người ta chê cười…

- Mạt tướng hiểu.

Thấy Tần Lôi không truy cứu, gã cũng vội vàng liên mồm xin lỗi, nhưng trong lòng lại khinh thường nghĩ: làm Thống soái phải tạm nhân nhượng vì toàn cục, không ai hơn được người này. Hắn không biết, vào một khắc này, vị Thành Thân Vương không ai hơn được này đã nổi sát tâm. Đối với loại ngu đần năm lần bảy lượt tỏ vẻ miệt thị mình, hắn cũng không biết, ngoại trừ tiêu diệt ra còn có biện pháp nào thích hợp hơn.

Nhưng dù sao Tần Lôi cũng đã trở thành một chính trị gia thành thục, không như trước kia hỉ nộ ái ố bày hết lên mặt, càng không phát tác ngay tại chỗ. Hắn gạt chuyện này sang một bên, chờ khi mọi người đều quên đi mới tìm cơ hội xử lý, cần gì phải vội một lát rồi mang cái ác danh lòng dạ hẹp hòi, có thù tất báo?

Từ Tái Vũ còn không biết mình đã gieo mầm tai họa, vẫn còn lảm nhảm:

- Mạt tướng không hiểu, vì sao Vương gia không đánh?

- Về nhà.

Tần Lôi thản nhiên đáp:

- Về nhà to như trời.

Không ngoài sở liệu của Tần Lôi, đám quan lại quyền quý trong thành Thượng Kinh đều sợ vãi ra quần. Bọn họ gọi năm túm bảy kết đội quỳ ngoài điện Vạn Thọ thỉnh cầu Hoàng đế hạ lệnh cho Bách Thắng Công quay về cần Vương. Tuy Thượng Quan Thừa tướng đã phái ra mười khâm sai điều động quân đội đóng giữ các nơi vào Kinh, nhưng trong mắt đám quý tộc nước Tề, ba vạn năm vạn quân đội chỉ như muối bỏ biển, làm sao giải được tình thế như lửa xém lông mày?

Ngoài điện liên liên tiếp tiếp lúc đứt lúc nối ồn ào huyên náo, khiến cho Hưng Hóa Đế không thể tĩnh tâm tu thiền, khẽ thở dài, rồi chậm rãi mở mắt.

- Bệ hạ, có cần lão nô đuổi hết bọn họ đi không?

Thấy Hoàng đế có vẻ chán nản bực bội, Hoàng thái giám vội nhỏ giọng hỏi thử.

Khẽ lắc đầu, Hưng Hóa Đế thở dài:

- Người nước Tần đã bao vây thành Thượng Kinh, còn không cho người ta được phát tiết sao?

Không thể tưởng tượng được tính tình vị Bệ hạ này lại dễ chịu như vậy.

- Bệ hạ khoan dung!

Thấy Hoàng đế không để ý, đương nhiên Hoàng Thái giam sẽ không lắm miệng, liền khom lưng muốn lui ra.

Chờ lão thái giám lui xuống, Hưng Hóa Đế nhìn vào góc tường âm u nói chuyện:

- Rốt cuộc Triệu Vô Cữu đang làm cái trò gì? Chẳng lẽ muốn nhìn thấy trẫm bị quân Tần bắt đi mới vui vẻ sao?

Đống bụi ở góc tường hơi bay bay, đột nhiên hiện ra một người toàn thân bọc vải đen. Hưng Hóa Đế không hề giật mình, xem ra vừa rồi là lão hỏi bóng đen này.

Bóng đen kia quỳ xuống, không ngẩng đầu, đáp:

- Theo như tình báo mới nhất của Nam Trinh Thị Hán thì Bách Thắng Công đại nhân vẫn chưa bắc thượng.

Giọng nói kia khàn khàn như vàng chạm vào nhau, rất khó nghe:

- Hôm qua còn ở phòng tuyến Triều Ca, cách thành Thượng Kinh năm trăm dặm.

Tuy Hưng Hóa Đế niệm Phật tu thiền, nhưng cũng chỉ vì quá yêu nghề nghiệp, muốn kéo dài tuổi thọ, có thể ngồi trên ghế rồng thêm vài năm, nào có thể thực sự không quản không hỏi chính sự triều đình? Toàn bộ tin tức lão có được đều dựa vào tổ chức tên Trinh Thị Hán. Đó là tổ chức đặc vụ mà hơn trăm năm trước Hoàng đế đã phái thái giám đắc lực xuất cung bí mật tổ kiến.

Qua trăm năm, các đời Hoàng đế đều cực lực nâng đỡ tổ chức này, đến đời Hưng Hóa Đế thì nó đã thành một con quái vật lớn rắc rối khó gỡ. Bọn họ phụ trách giám thị bách quan, thám thính tin tức, thậm chí có quyền trực tiếp bắt quan viên có hiềm nghi, tuy không khỏi có hiềm nghi là đặc vụ chính trị, thì sợ là Hưng Hóa Đế cả ngày chỉ ở nhà tu luyện bị bán còn đếm tiền giúp người ta nữa.

Hắc y nhân ki là đại đầu phụ trách Trinh Thị Hán, đương nhiên là thái giám vô căn, trung thành tuyệt đối, trong mắt các đời Hoàng đế, chỉ có thái giám mới là người nhà, đại thần chỉ là người làm công mà thôi.

- Người bên cạnh lão nói sao?

Hưng Hóa Đế hơi chau mày, hiển nhiên rất không hài lòng với câu trả lời này.

- Hình như Bách Thắng Công đang chờ đợi.

Người kia nhẹ giọng đáp:

- Nghe Võ Chi Long nói, hình như Hoàng đế nước Tần đã mất tích. Bách Thắng Công phải chờ có tình báo xác thực mới xuất hiện.

Nói lại, cũng là Hoàng đế biến thái, có rất nhiều chuyện rõ ràng có thể trực tiếp viết thư howjc phái người đến hỏi, nhưng lõ lại cố tình không tin câu trả lời của đại thần, chỉ có nghe báo cáo của Trinh Thị Hán mới tin, rõ ràng đã ỷ vào đặc vụ.

- Hoàng đế nước Tần?

Nhè nhẹ gõ gõ ngón tay lên đầu gối, Hưng Hóa Đế không vui nói:

- Chẳng lẽ lão ta còn quan trọng hơn cả an nguy của trẫm?

Nhưng lão cũng chỉ dám oán giận vài câu, chứ không có gan công khai thể hiện bất mãn với Bách Thắng Công… Uy tín của lão gia hỏa kia dường như còn cao hơn bản thân lão.

- Lui ra đi.

Hưng Hóa Đế vẫy vẫy tay, bóng đen kia lại lẩn vào trong bóng tối.

Nhắm mắt trầm tư thật lâu, Hưng Hóa Đế cầm lấy một cái chùy vàng nhỏ tinh xảo xoa xoa trong tay, phát ra một tiếng kêu du dương êm tai.

- Bệ hạ có lệnh gì ạ?

Hoàng Thái giam xuất hiện ngay tại cửa.

- Mời Dung Thân Vương tiến vào.

Hưng Hóa Đế thản nhiên nói.

Trong vô số tiếng huyên náo bên ngoài, Dung Thân Vương có địa vị cao nhất, kêu gào lớn nhất. Khi Hoàng công công mời y tiến điện, một đám quan lại quyền quý đều vây quanh xin y hỏi Bệ hạ.

- Các vị cứ cất trái tim vào trong bụng đi.

Dung Thân Vương đĩnh đạc nói:

- Cứ để Cô Vương phân trần với Bệ hạ.

Bỏ lại một đám như kiến bò trên chảo nóng, y đi theo Hoàng Thái giam vào trong thiền thất.

Sau khi vấn an vài câu, Hưng Hóa Đế liền ban cho cho Dung Thân Vương ngồi xuống bồ đoàn đối diện, nhẹ giọng hỏi:

- Các công thần nói thế nào? Có đề nghị gì tốt sao?

Chương 563.1: Vây thành.

- Các đại thần nói, hiện giờ trong nước quân Tần đang tàn sát bừa bãi, như nhốt sói trong nhà.

Dung Thân Vương hạ giọng đáp:

- Nếu Bách Thắng Công không đánh được sói, thì nên mở cửa thả sói ra…

- Thả ra?

Hưng Hóa Đế chậm rãi lắc đầu:

- Thả ra thế nào? Ta thấy mời thần khó tiễn thần dễ rồi.

Dung Thân Vương cúi thấp đầu thưa:

- Các đại thần nói…. đàm phán…

Rất rõ ràng bản thân y đã bị thuyết phục, lần này y tới làm thuyết khách hoặc có thể nói chính y cũng có ý định này.

Hưng Hóa Đế chau mày, giọng nói lạnh đi:

- Đàm phán? Binh tới dưới thành mới nhớ tới đàm phán? Hay là muốn trẫm ký minh ước bất đắc dĩ?

Trong mắt Hoàng đế, làm như thế không khác gì để cho lão phải gánh tiếng xấu thay người khác.

Dung Thân Vương và Hoàng đế đã là huynh đệ vài chục năm, khá là hiểu ý lão, khẽ mỉm cười đáp:

- Hoàng huynh quá lo lắng rồi, đệ thấy quân Tần kia đã phải rất vất vả trằn trọc mà đến, chỉ cầu bất quá là bình an về nhà, không thể nói đến yêu cầu không an phận gì.

Sắc mặt Hoàng đế quả nhiên cũng dịu hơn, nhẹ nhàng gật đầu:

- Nếu có thể ký được cái minh ước có thể diện thì để bọn họ về cũng không sao.

Lão gõ gõ ngón tay lên đầu gối:

- Quốc đô cứ bị vây thế này, trẫm cũng mất hết thể diện thôi.

- Bệ hạ anh minh.

Dung Thân Vương vui mừng tung hô:

- Vậy đệ sẽ lập tức truyền lệnh cho Lễ bộ sắp xếp.

Hoàng đế gật đầu:

- Nhưng mà, phải nhớ kỹ điểm mấu chốt của chúng ta, nhiều nhất là dùng chút kim ngân tiêu tai họa, còn lại tuyệt đối không cho phép nhượng bộ.

- Tuân mệnh!

Dung Thân Vương liền lui xuống lo liệu. Tuy bình thường lười nhác vô cùng, nhưng bản thân y là một kẻ rất yêu hòa bình nên vẫn thực nguyện ý làm chút việc để tăng tình hữu nghị Tần Tề.

Quân Tần đang hạ doanh cách thành mười dặm, chờ bố trí xong xuôi doanh trại công sự thì cũng phải đến chiều tối. Tần Lôi dứt khoát lệnh toàn quân tu chỉnh, chờ qua hôm nay rồi nó.

Nghe thông báo có sứ tiết nước Tề cầu kiến, hắn hơi giật mình, kỳ quái nói với Lão Đại:

- Đệ còn tưởng rằng phải đánh nhau một chút kia.

Tần Lịch cười cười khinh miệt:

- Đừng nhìn mấy kẻ thượng tầng nước Tề cứ cả ngày hô hoán đánh Tần diệt Sở, chỉ khi nào chính mình lọt vào uy hiếp sẽ lập tức biến thành nhân sĩ yêu hòa bình, nhao nhao hô nghỉ ngơi dừng kiếm.

Y cười giòn tan khinh thường:

- Điển hình là Diệp Công Hảo Long.

Tần Lôi nhoẻn miệng cười:

- Để ý tới kẻ đó làm cái khỉ gì.

Chốc lát sau, có hai gã quan viên nước Tề ngẩng đầu đi tới, một gã hai tay cầm tiết, một gã cầm quốc thư đứng giữa đại trướng, cùng hô:

- Ngoại thần Trần Ngạn, Chu Sướng bái kiến Thành Thân Vương Điện hạ Đại Tần.

- Nếu bái kiến, vì sao không quỳ?

Tần Lôi cười nhạt.

- Ngoại thần cầm tiết mà tới, là đại diện cho nước Tề. Xin thứ cho ngoại thần không thể toàn lễ.

Trần Ngạn đứng trước không kiêu không nịnh đáp.

- A, nói cũng phải.

Tần Lôi mỉm cười:

- Vậy không truy cứu nữa. Cô hỏi, các ngươi là mấy phẩm? Chức quan gì?

- Ngoại thần là Hồng Lư Tự Khanh Đại Tề, tòng tam phẩm.

Trần Ngạn chắp tay đáp.

- Ngoại thần là Lễ bộ Hữu Thị lang Đại Tề, cũng la tòng tam phẩm.

Chu Sướng cũng chắp tay thưa. Nào ngờ, sắc mặt Tần Lôi sụp xuống, cực kỳ không vui nói:

- Tòng tam phẩm… Các ngươi biết Cô Vương là phẩm nào chứ?

- Là… siêu phẩm….

Trần Ngạn biết vị gia này muốn tìm lỗi, nhưng cũng chỉ có thể gặp chiêu phá chiêu.

- Vậy siêu phẩm và tòng tam phẩm hơn kém nhiều không?

Sắc mặt Tần Lôi rất khó coi.

- Như mây với bùn.

Trần Ngạn nhỏ giọng đáp. Từ tòng tam phẩm leo lên đến chính nhất phẩm còn tới năm cấp nữa, mà siêu phẩm cũng được phân theo cấp, bắt đầu từ Bá tước là siêu phẩm, tới đỉnh cao tước vị là Thân vương, kém xa vạn dặm, nên Trần Ngạn mới nói vậy.

- Vậy Hưng Hóa Đế Bệ hạ phái các ngươi tới để nhục nhã ta sao?

Đột nhiên Tần Lôi lớn tiếng hỏi:

- Khuyên các ngươi một câu, vũ nhục người khác là tự vũ nhục mình! Dụng cụ đáp lễ nghi bang đâu rồi? Còn không hiểu chuyện bằng bọn trẻ con Tây Man!

Hai người bị mắng ngẩn ra, thầm nghĩ: không phải cấp bậc chúng ta quá thấp, mà là cấp bậc của ngài quá cao… Thật ra nước Tề người ta không có ý vũ nhục gì, Tự Khanh hay Thị lang đều là quan viên chuyên quản lễ nghi ngoại giao cấp bộ, sao có thể nói là không đủ tư cách?

Nhưng rõ ràng là Tần Lôi đang cố ý bới móc, mặc kệ hai vị sứ tiết biện bạch thế nào cũng đề bị từ chói. Bị họ ồn ào phiền hà, hắn phất tay áo đứng dậy:

- Nhị vị cứ tùy tiện, ngày mai chúng ta đánh xong rồi nói.

Hắn thở phì phì rời đi, để lại hai vị sử tiết nhìn nhau.

Trong thành Thượng Kinh, điện Vạn Thọ, Dung Thân Vương đang vội vàng đi tới, hơi thở gấp gấp, vừa đi vừa tức giận nói:

- Hoàng huynh, Tần Vũ Điền kia đã đuổi sứ tiết của chúng ta về!

- Hắn không muốn đàm sao?

Hưng Hóa Đế sầu lo:

- Chẳng lẽ không đánh không được?

- Vậy cũng không phải.

Ngồi xuống bồ đoàn, Dung Thân Vương căm giận:

- Hắn chê người thần đệ phái đi có cấp bậc quá thấp, nói là chúng ta có ý định vũ nhục hắn! Đệ thấy là hắn nhìn thấy thành Thượng Kinh là tự ti hết thuốc chữa rồi!

Hưng Hóa Đế không hứng thú gì với châm chọc của y, chậm rãi hỏi:

- Ngươi xem chọn ai thì thích hợp?

- A, bọn họ còn có thư gửi hoàng huynh.

Dung Thân Vương vội vàng lấy ra một phong thư từ trong lòng đưa cho Hưng Hóa Đế.

Hoàng đế nhận lấy lá thư, chính là thư chính tay Tần Lôi viết cho lão, ngoài mấy câu vô nghĩa thì nội dung quan trọng chỉ có một câu: Trong số mấy vị Triệu Vô Cữu, Thượng Quan Vân Hạc, Dung Thân Vương hoặc Tuệ Năng hòa thượng chọn ra đại diện tới đàm phán, nếu không sẽ coi là vũ nhục khiêu khích. Lập tức khai chiến!

- A….

Trầm ngâm một lát, Hưng Hóa Đế nhẹ giọng nói:

- Đành để ngươi vất vả một chuyến thôi.

Dung Thân Vương thật muốn tự tát cho mình một cái, trong lòng gào thét: Ta lắm miệng làm cái gì thế này? Y không có chí lớn, theo đuổi lớn nhất đời là làm một vị Vương gia thái bình sống an ổn cả đời, cho nên mới chủ lực cầu hòa. Chút tâm phế vật này làm sao lại nguyện mạo hiểm rời thành đàm phán chứ? Nhưng y lại không nói nổi câu xin tha từ chối.

- Đối diện Thống soái không phải Thân Vương sao? Bên này chúng ta cũng phải đưa ra người có địa vị tương đương mới phải.

Hưng Hóa Đế mỉm cười an ủi:

- Không phải sợ, hai nước giao chiến không chém sứ giả. KHông có gì nguy hiểm đâu.

- A…

Thấy hoàng huynh đã quyết, Dung Thân Vương đành phải đồng ý một cách cực kỳ không tình nguyện.

Dù sao cũng là huynh đệ một đời, nhìn y tội nghiệp đáng thương, Hưng Hóa Đế cũng không đành lòng, bèn nhẹ giọng nói:

- Để cho Tuệ Năng thiền sư đi cùng đệ đi. Ông ta là người chốn bồng lai, chắc người nước Tần cũng sẽ nể mặt một chút.

Nghe nói lão hòa thượng kia cũng đi, Dung Thân Vương mới vui vẻ trở lại.

Chương 564: Vưu ái phú âu

Thật ra Tuệ Năng thiền sư rất dễ nói chuyện. Dung Thân Vương vừa nói sẽ đến Hộ Quốc Tự, lão liền gật đầu đồng ý, hẹn với y hừng đông sẽ rời thành.

Một đêm yên tĩnh, sáng sớm ngày hôm sau, Dung Thân Vương tới Hộ Quốc Tự đón Tuệ Năng thiền sư đi ra ngoài thành.

Lão hòa thượng chỉ mặc áo cà sa đơn giản, đằng sau còn có mấy cỗ xe ngựa có vẻ vững chắc, xung quanh có một đàn võ tăng đề phong sâm nghiêm.

Nhìn lão quốc sư như áp tiêu, Dung Thân Vương kỳ quái hỏi:

- Quốc sư, ngài muốn tặng lễ cho qua công kia?

Hai hàng lông mày trắng như cước hơi run run, lão hòa thượng cười nhạt:

- Vật quy nghuyên chủ thôi…

Đoạn, lão nhắm mắt ngồi xếp bằng, không nói gì nữa.

Đoàn người đến nội môn Nam Hoa, tướng quân cảnh vệ Kinh đô đã chờ sẵn.

- Có thông báo cho ngoài thành không?

Dung Thân Vương cũng không xuống xe, chỉ hỏi qua mành.

- Đã thông báo rồi.

Tướng quân cảnh vệ trầm giọng bẩm báo:

- Quân Tần đã đồng ý tạm hoãn công thành hai canh giờ.

Sắc mặt Dung Thân Vương căng thẳng, run giọng hỏi:

- Tạm hoãn? Chẳng lẽ họ muốn công thành?

- Đúng vậy thưa Vương gia. Quân Tần đã làm thang tiễn tháp suốt đêm, sáng sớm nay đã xếp thành hàng. Lúc này đang chờ tại chỗ, không về doanh.

Dung Thân Vương thấp giọng lẩm bẩm:

- Đây là chuẩn bị đàm không thành thì đánh đây mà. Quốc sư, ngươi xem thế nào cho tốt?

Lão hòa thượng ngồi đối diện vẫn không mở mắt, chỉ khẽ mấp máy môi:

- Yên lặng xem xét.

Tính toán kiểu gì thế này? Dung Thân Vương thầm oán trong bụng, nhưng vẫn dặn bên ngoài:

- Mở cửa đi, phái thêm chút binh sĩ đi theo.

- Đã phái ra năm ngàn binh mã rồi.

Tướng quân bên ngoài thấp giọng thưa:

- Nhiều hơn nữa sẽ khiến người ta chê cười…

Các binh sĩ cũng không nhịn được muốn cười nhạo. Hôm qua hai vị sử tiết dẫn theo một trăm người đi ra ngoài, hôm nay đến phiên Dung Thân Vương Điện hạ, năm ngàn người còn lo ít. Có thể thấy được quý nhân quả nhiên là quý giá.

Cũng may trong xe thân Vương Điện hạ không thấy được. Cửa thành mở rộng, được năm ngàn quân Tề hộ vệ, xe của thân Vương Điện hạ lắc lư men theo con đường quanh co khúc khuỷu đi ra ngoài doanh địch cách mười dặm.

Chỉ chốc lát sau đã gặp quân Tần xếp hàng ngoai thành, chặn đường sứ tiết nước Tề.

Viên tham tướng hộ giá vội giơ tín vật của thân Vương, nói với lính Tần chắn đường:

- Chúng ta là đội ngũ của Dung Thân Vương Điện hạ Đại Tề cùng Hộ Quốc Thiền sư Tuệ Năng đại sư, phụng chỉ dụ của Hoàng đế Bệ hạ Đại Tề, tới đàm phán cùng Thành Thân Vương Điện hạ quý quốc.

Nghe vậy quan Tần mới lùi sang hai bên nhường ra một con đường.

Đội ngũ nước Tề chậm rãi đi sâu vào trong quân Tần trong vô số cặp mắt cực kỳ khó coi.

Qua khe hở của cánh cửa, Dung Thân Vương thấy hút mắt đều là lính Tần võ trang đầy đủ, như lang như hổ, không thấy bờ đâu, mãi cho đến khi vào đại doanh quân Tần vẫn là cảnh đao thương như rừng, chen vai thích cánh, số lượng không biết bao nhiêu.

- Chừng này là bao nhiêu binh lự cdaay?

Dung Thân Vương dựa vào ghế mềm hỏi.

Tuệ Năng hòa thượng mở mắt, sắc mặt ngưng trọng:

- Thật là đông người. Tường thành Thượng Kinh của chung sta lớn như thế rộng như thế, nhưng nếu thực sự bị bọn họ tấn công, không chắc được có thủ được hay không đâu.

- Ai, tận lực thúc đẩy thôi.

Xe ngựa dừng lại, Dung Thân Vương liền giúp lão hòa thượng xuống xe.

Sau đó, y lấy quốc thư ra, thể hiện thân phận Thiên Tử, một gã hiệu úy quân Tần nói chuyện khá khó nghe:

- Chờ!

Đoạn, gã vao trong thông báo, mặc kệ hai vị ở giữa đường.

Cả Dung Thân Vương và Tuệ Năng thiền sư đều là người tôn quý đứng đầu nước Tề, nào đã từng bị lạnh nhạt như vậy? Da mặt hai người dày lên, tâmtình càng thêm căng thẳng. Hai người chờ thật lâu sau, gã hiệu úy kia mới đi ra báo:

- Vào đi!

Cả hai bước tới lều lớn, thấy tướng lãnh nước Tần đứng chia làm hai hàng chăm chằm nhìn mình. Trên một cái bàn lớn là một người cực kỳ trẻ tuổi mặc trường bào màu đen ngồi trên ghế da hổ, sắc mặt âm u xám xịt nhìn họ. Ánh mắt hắn lạnh thấu xương khiến cho cả hai không rét mà run.

- Không biết vị trên kia là…?

Dung Thân Vương chắp tay hỏi. Mấy năm trước y đã từng gặp tiểu hạt nhân kia, ấn tượng rất sâu với bộ dáng uất ức nhát gan của hắn, thật sự không thể liên hệ tới vị Vương giả không giận tự uy trước mặt.

- Lớn mật!

Tướng lãnh hai bên cùng quát lên:

- Còn ai có thể tọa trên quân trướng quân ta? Ai dám ngồi trên ghế Vương gia nhà ta?

Tiếng quát bất ngờ dọa cho hai quý nhân nước Tề sợ tới khẽ run rẩy, thầm nghĩ: Đây là quân doanh sao? Sao giống hang thổ phỉ vậy?

- Tại hạ Dung Thân Vương nước Tề, xin chào Thành Thân Vương Điện hạ Đại Tần.

Dung Thân Vương nào dám nhắc tới thân phận qua công kia, chỉ đành thành khẩn hành lễ vấn an Tần Lôi. Tuệ Năng hòa thượng cũng hành lễ chữ thập vấn an hắn.

- Miễn!

Tần Lôi khẽ gật đầu xem như trả lễ, liếc sang hai chỗ trống bên phải:

- Ngồi đi!

Hai người tạ ơn, sau đó ngồi xuống, nhỏ nhẹ nói năng một đống lời vô nghĩa, trọng tâm chỉ có mấu lời: Chiến tranh rất dữ dội, nên nghe theo Thánh nhân, chúng ta đánh từ mùa hạ đến mùa thu rồi, cũng nên nghỉ ngơi một chút.

Tần Lôi không yên lòng nghe, nửa ngày sau mới bĩu môi:

- Sớm vậy sao? Chờ Quốc đô bị vây mới đến xin tha hả? Muộn rồi.

Hắn chỉ ra ngoài trướng:

- Tướng sĩ Đại Tần ta như tên đã lên dây, lòng dạ tăng vọt ròi, làm sao dừng được?

Dung Thân Vương ha ha cười khan:

- Điện hạ ngài cũng đã từng ở trong thành Thượng Kinh, tất biết trong thành ta có trăm vạn quân dân, lương thảo sung túc. Chỉ cần chúng ta dựa vào tường thành cao kiên cố cho dù Điện hạ có trăm vạn tinh nhuệ cũng làm được gì?

Xem ra y cũng không phải một bao cỏ, nếu không Hưng Hóa Đế cũng sẽ không ủy thác trọng trách.

Tuệ Năng thiền sư cũng nói theo:

- Đúng vậy, Điện hạ, chúng ta rất ổn rồi, nhưng kỵ binh nước Tần các ngài thì không đợi được.

Tần Lôi khoanh hai tay trước ngực, ánh mắt âm trầm đảo quanh hai người, cười lạnh:

- Xem ra các ngươi không phải đến cầu hòa, mà là đến tuyên chiến phải không?

Chúng tướng cũng phối hợp nhìn chằm chằm hai người.

Bị một phòng hung thần ác sát nhìn chằm chằm, hai vị quý nhân lạnh toát sống lưng. Coi như bọn họ đã được mở mang người Tần thô lỗ thế nào.

Dung Thân Vương hối hận xanh cả ruột, lòng thầm kêu khổ mình lắm miệng làm cái gì? Nhưng sợ thì sợ, y vẫn phải thể hiện ra nước Tề muốn nói chuyện, nào có thể dễ dàng chịu thua?

Kín đáo lau mồ hôi, Dung Thân Vương khẽ cười:

- Điện hạ nói vậy là không có ý rồi.

Y ngồi thẳng lưng nghiêm mặt nói:

- Tiểu Vương và thiền sư tới đây với thành ý thật lớn, là muốn tránh ngao cò đánh nhau ngư ông đắc lợi! Nếu ngài hco là chúng ta đã sợ thì sai ngàn dặm rồi.

Tần Lôi cười lạnh:

- Không biết là ai khơi mào chiến đoan trước? Suất lĩnh sáu mươi vạn đại quân rời Hổ Lao Quan đoạt lấy một tỉnh ngoài quan ngoại của Đại Tần ta, khiến cho trăm vạn dân chúng Đại Tần ta phải xa xứ? Hơn mười tường thành bị hủy hoại chỉ trong chốc lát?

Giọng hắn cao vút, tức giận vô hạn:

- Không biết ai thiết kế giữ quân đội Đại Tần ta ở bờ bắc Đại Hà, hơn mười vạn hồn trung chôn xương nơi tha hương, hơn hai mươi vạn tướng sĩ có nhà không thể về?

Tần Lôi vỗ mạnh bàn, chỉ vào Dung Thân Vương:

- Là nước Tề các ngươi! Các ngươi phải chịu trách nhiệm toàn bộ ! Không bù lại toàn bộ tổn thất này cho Đại Tần ta, đừng vội nói chuyện hòa bình gì !

Dung Thân Vương bực đến lệch mũi, cười lớn:

- Dân gian có câu nói thật hay, một bàn tay vỗ không nên tiếng, đánh nhau là chuyện của hai quốc gia, cả hai nước đều có tổn thất, đều có trách nhiệm, nào có thể dổn hết cho chúng ta? Không công bằng!

- Cô vốn không có ý hòa đàm, là các ngươi tự mình đa tình đó chứ.

Tần Lôi cười lạnh quay đầu đi chỗ khác, nhìn lên trời qua trướng đình:

- Nói thật cho ngươi biết, lần này chúng ta tới là để trả thù! Không đánh thành Thượng Kinh của các ngươi tan tành tuyệt không thu binh!

Đối diện với vị Vương gia nước Tần đầy một bụng thuốc súng, miệng mở ra là hô đánh kêu giết, Dung Thân Vương cảm thấy cực kỳ vô lực, nghĩ bụng: KHông phải là trả thù cho hơn mười vạn binh sĩ mà là trả thù cho mười sáu năm của ngươi chứ? Sắc mặt âm tình bất định biến hóa thật lâu sau, y mới đứng dậy chắp tay:

- Vương gia cứ cho cái giá đi, nếu hợp lý, Cô Vương có thể đồng ý ngay tại chỗ.

Y hiểu rồi, đám người này là muốn đến tống tiền!

Một đám ăn mày! Dung Thân Vương rất tức giận.

- Lời này còn giống tiếng người.

Tần Lôi thản nhiên nói:

- Cô chỉ muốn năm trăm vạn lượng bồi thường…

Dung Thân Vương thất thanh cười:

- Năm trăm vạn lượng? Ngài cũng thật biết….nói đùa đấy….

Cho dù là năm tốt nhất sau biến pháp thu nhập từ thuế một năm của nước Tề chỉ có ba ngàn ngàn lượng bạc, chính là phù dung sớm nở tối tàn, đến năm ngoái đã hạ xuống chỉ còn hai ngàn vạn lượng, mà thuế vụ hè năm nay chỉ được tám trăm vạn lượng, vốn còn trông cậy đến vụ thuế thu còn có thể thu thêm một chút, kết quả lại bị đám thổ phỉ nước Tần phá hoại, ai biết còn có được nổi hai ba lượng không?

Nói không dễ nghe thì, trong quốc khố có còn nổi năm trăm vạn lượng không cũng là vấn đề.

Tần Lôi ngồi cao cao tại thượng, Dung Thân Vương ngẩng đầu ưỡn ngực, song phương mắt to trừng mắt nhỏ, thế cục giằng co.

Chương 564.1: Vưu ái phú âu.

Hơn nửa ngày sau, Tần Lôi đột nhiên cười nói:

- Thôi thôi, quý sứ người tới là khách, Cô làm chủ, ngay cả ly trà cũng không có, nước cũng không rót, thật sự là có hơi thiếu chu đáo.

Dung Thân Vương tức giận suýt cười phì ra tiếng, thầm nghĩ: Giờ mới nhớ tới hả? Y cười khổ:

- Cô cũng hơi khát.

Tần Lôi đỏ mặt, cao giọng hạ lệnh:

- Người đâu, mau mang trà.

- Không có trà, Vương gia.

Thạch Cảm nhỏ giọng đáp:

- Chúng ta đã xuất binh hơn ba tháng rồi, ngoài binh khí ra thì không còn gì.

Thạch Cảm biết đây là chứng thích ngược đãi quyền quý của Vương gia phát tác thôi, rất ngầm hiểu phối hợp:

- Chỉ còn nước sôi để nguội.

Tần Lôi cười khan vò đầu:

- Ha ha…. Thật ngại, vậy dâng nước trắng thôi.

Liền có hai binh sĩ bước lên, một người cầm một cái bát mẻ tùm lum đen sì, một người cầm theo cái ấm đồng rót nước cho hai vị sứ giả nước Tề.

Dung Thân Vương và Tuệ Năng nhìn thấy rõ nước kia rót xuống đọng lịa một tầng cáu bẩn thật dày dưới đáy bát, mà cổ họng quợn lên buồn nôn, vội vàng nhìn sang hướng khác.

Tần Lôi vẫn nhiệt tình mờ:

- UỐng đi, uống hết vẫn còn.

Sắc mặt Dung Thân Vương hơi khó coi:

- Hết khát rồi.

Tần Lôi áy náy xoa xoa tay đứng dậy nói:

- Điều kiện gian khổ quá, hai vị sống an nhàn sung sướng không chịu nổi cũng là bình thường.

Hắn cười khan:

- Nhưng lâu dẫn cũng quen rồi.

Hai người còn đang sửng sốt chưa kịp phản ứng lại, hắn lại nói tiếp:

- Theo lẽ thường, Cô phải lấy hết bản lãnh giữ nhà cho hai vị một việc vui.

Đoạn, hắn đi tới bên cạnh Dung Thân Vương thân thiết kéo tay y đi ra ngoài.

Dung Thân Vương muốn tránh thoát nhưng từ nhỏ y được nuông chiều, đùi bé như cánh tay, làm sao chống cự nổi Tần Lôi, gần như là bị lôi ra khỏi lều lớn. Tuệ Năng hoa thượng đành phải đứng dậy, hai tay hành lễ chữ thập đi theo sau ra ngoài.

Chúng tướng cũng đều đứng dậy nối đuôi sau mà ra.

Đứng trên bãi đất trống ngoài trướng, Tần Lôi mới buông tay Dung Thân Vương cười ha ha:

- Điện hạ muốn xem văn trước hay xem võ trước?

- A….

Dung Thân Vương không rõ tình hình đành phải thuận miệng đáp:

- Cái nào cũng được…

- Cũng không cần chọn.

Tần Lôi vỗ vỗ tay:

- Vẫn nói tiên lễ hậu binh, vậy là vấn trước đi.

Thạch Mãnh đã chờ sẵn bên ngoài thấy Vương gia vỗ tay liên phất tay lên:

- PHóng!

Liền có đạn tín hiệu đỏ được bắn lên.

Dung Thân Vương cùng Tuệ Năng hòa thượng ngửa đầu chăm chú nhìn hỏa diễm khá là chói mắt giữa không trung, tới khi màu đỏ nhạt dần chỉ để lại một làn khói trắng cũng không thấy gì khác.

Vận động cần cổ hơi tê mỏi, Dung Thân Vương cười lớn nói:

- Thật là đẹp….

Nhưng trong lòng y lại nghi ngờ đối phương đang trêu đùa mình, hoặc mức độ hài hước của nước Tần chỉ đến thế mà thôi.

Tần Lôi cười mà không nói gì, chỉ chỉ chỉ phía đông bầu trời.

Dung Thân Vương nhìn theo hướng hắn chỉ, khẽ hô lên một tiếng:

- Cái gì vậy?

Y thấy một đống thứ gì đó bay bay từ phía đông đến thành Thượng Kinh, xem số lượng chừng hai trăm cái.

Tần Lôi cũng không đáp lời, chỉ nghiêm trang nhìn thứ đó, các tướng quân của hắn cũng có vẻ rất khẩn trương… xem ra mấy thứ kia cực kỳ nguy hiểm.

Dung Thân Vương cùng lão hòa thượng bị người nước Tần hù dọa rồi, há hốc miệng nhìn thứ đang bay kia, khi đến gần hơn bọn họ mới phát hiện hình như ở dưới còn treo một cái rổ lớn…

- Đèn Khổng Minh!

Vẫn là lão hòa thượng hiểu biết nhiều, Tuệ Năng hòa thượng đột nhiên vỗ đùi hô lên.

Liếc lão một cái, Tần Lôi vãn không nói gì, các tướng quân của hắn cũng không khen ngợi gì lão hòa thượng hiểu biêt rộng, đều chỉ làm một việc là cầu nguyện hướng gió không đổi…

Đúng vậy, mấy thứ bay trên trời kia là do doanh đặc chủng đặc chế theo nguyên lý của đèn KHổng minh, mất rất nhiều ngày công phu mới chế ra được thứ vũ khí bí mật này, tên là Vưu ái phú âu.

Vưu ái phú âu này nửa thân trên chỉ là trúc mềm dán giấy vòng quanh, lại được thoa dầu cây trẩu chống thấm. Ở đáy đèn có gác thanh ngang để trang bị thêm ống dầu hỏa. Đây gần như là bắt chước cấu tạo của đèn Khổng Minh, Tần Lôi chỉ cải tiến nhiên liệu sinh ra nhiệt khí thành nước dầu để có thể liên tục cung cấp và khống chế nhiệt lượng mà thôi.

Thứ này có quy cách hoàn toàn giống với đèn Khổng Minh mặc dù bay lên trời nhìn thì không lớn nhưng đường kính ước chừng phải tám thước, khi bay lên có thể nâng theo hai mươi cân.

Bên dưới đèn Khổng Minh dùng dây thừng xuyên thêm cái rổ, đương nhiên bên trong là đạn dầu lửa bảo bối của Tần Lôi. Thứ này chỉ cần có va chạm sẽ nổ mạnh, hỏa diễm mãnh liệt, không thể dùng nước dập tắt.

Muốn đốt thì đốt ống dầu hỏa kia, sinh ra khí nóng, đèn Khổng Minh sẽ phồng lên, sau khi hết cỡ sẽ bay lên trời. Khi nhiên liệu trong bếp bị đốt hết, đèn sẽ tự động rơi xuống, đạn dầu lửa cũng vì bị va chạm mạnh mẽ khi rơi từ trên không xuống mà nổ mạnh..

Đây cũng là nguyên lý của Vưu ái phú âu, nhưng thứ đồ chơi này có rất nhiều nhược điểm, cũng rất trí mạng. Đầu tiên là nó không tự chủ được, lực đẩy duy nhất là gió. Gió thổi đến đâu thì nó tới đó, cho nên, một khi thả ra sẽ hoàn toàn mất đi khống chế, cho dù là thông minh như Tần Lôi cũng không cách nào giải quyết. Biện pháp duy nhất là tìm hướng gió thích hợp thả lên như chơi diều, có thể hạn chế nó bay không đúng hướng.

Lại thông qua khống chế nhiên liệu đại thể cũng có thể dự đoán được điểm rơi. Nhưng cho dù vậy cũng không thể cất cánh khi trời có gió to, bằng không nếu lửa bị thổi tắt sẽ không có cách nào đốt lại được.

Mặc dù cũng có thiếu hụt nhược điểm này kia nhưng Tần Lôi vẫn lệnh cho Thạch Mãnh chế tạo và thả ra thứ đồ chơi này. Đầu tiên là vì phàm là thứ gì không biết có thể tạo ra được khủng hoảng khó tưởng tượng nổi, nhất là ở thời đại mọi thứ đều duy tâm này, sự sợ hãi sẽ được tăng lên với cấp số nhân. Thứ hai là vì thành Thượng Kinh rất lớn, tỷ lệ trúng đạn đương nhiên sẽ tăng lên nhiều, sẽ không làm náo loạn rồi bị chê cười. Cuối cùng là vì…. mùa thu phương bắc trời hanh vật khô…

Thả thứ vũ khí bướng bỉnh nhất này ra, Tần Lôi và đám tướng quân của hắn bắt đầu dốc lòng cầu nguyện hướng gió đừng có đổi… Để tránh ánh sáng mặt trời thay đổi sẽ sinh ra luồng khí lưu hỗn loạn do nóng lạnh thay đổi, Tần Lôi còn cố ý kéo dài sứ tiết nước Tề, tới khi Thạch Cảm ra dấu báo cáo trời trong nắng ấm mới bắt đầu biểu diễn.

Cũng may lão thiên gia thật nể tình, quả thật hôm nay là một ngày lành trời trong nắng ấm…

Một đám Vưu ái phú âu lướt qua quan trận quân Tần, lại chậm rì rì bay về phía tường thành nước Tề, tiếp tục bay vào thành.

Quân coi giữ trên thành cũng choáng váng, thầm nghĩ: Cái quái gì thế này? Thả diều hâu à?

Nhưng cũng có không ít người hiểu biết kinh hô:

- Là đèn Khổng Minh!

Liền có người muốn dung cung nỏ bắn xuống, nhưng thứ kia bay rất cao, hoàn toàn vượt ra khỏi tầm bắn của tên nỏ. Có lẽ sàng nỏ có thể bắn tới, nhưng thứ này quá cồng kềnh, lại cố địn trên thành, không ai có cách nào bắn nó lên.

Vật kia bay bay qua tường thành cao cao, bay vào trong thành Thượng Kinh, thậm chí hút khỏi tầm mắt bọn Tần Lôi không thấy đâu nữa.

- Vương gia. Thứ đồ chơi kia có ích lợi gì?

Lau lau mồ hôi trán, Dung Thân Vương khô khốc hỏi. Tần Lôi thần thần bí bí như vậy khiến cho y rất không yên tâm…

- Ầm…

Đột nhiên Tần Lôi giang rộng hai tay, giả kêu một tiếng nổ.

Dung Thân Vương sợ tới mức suýt ngồi sụp xuống đất.

Dường như cso thể nhìn qua tường thành dày thật dày, nhìn thấy Vưu ái phú âu, Tần Lôi minh họa như thật:

- Lửa, biển lửa, một biển lửa thật lớn…

Mặt mày Dung Thân Vương xám xịt màu đất, suýt nữa quỳ xuống:

- Ngừng đi Vương gia, chúng ta còn chưa đàm xong mà…

- Chậm rồi.

Tần Lôi cười nhẹ, chỉnh chỉnh áo khoác, xoay người đi vào trong lều lớn, trầm giọng nói:

- Nếu muốn tránh thêm tổn thất thì đi theo ta.

Chương 565: Lừa bịp tống tiền

Hai người vừa muốn đi vào theo thì nghe viên quan chỉ huy Vưu ái phú âu bẩm báo:

- Khởi bẩm Vương gia, võ cũng chuẩn bị xong.

- Cho bọn họ xem một chút đi.

Tần Lôi thản nhiên ra lệnh, sau đó nghênh ngang rời đi.

Hai người Dung Thân Vương nhìn nhau, đi theo Thạch Mãnh lên xe chạy tới trước trận quân Tần.

- Xin hỏi vị tướng quân này, chúng ta sẽ đi xem cái gì?

Dung Thân Vương nhẹ giọng hỏi.

- Máy ném đá.

Thạch Mãnh cũng không quay đầu lại, đáp:

- Vương gia nhà ta lệnh đặt một máy ném đá trước trận, hai vị tự mình xem đi.

Hai người im lặng không nói gì nữa, đi theo Thạch Mãnh tới trước trận quân Tần. Khi còn cách tường t hành không đến sáu trăm thước, quả nhiên thấy một thứ khí giới khổng lồ. Đặt nó ở đây có thể tránh phần lớn tầm bắn của binh khí trên cổng thành, bao gồm cả sàng nỏ đáng sợ kia, chỉ có máy ném đá có thể bắn tới, nhưng tầm bắn của thứ này thật sự không yên tâm được, phỏng chừng ngay cả người nước Tề cũng không trông cậy vào nó.

Máy ném đá của nước Tần cao chừng hai trượng, cán dài chừng hơn một trượng sáu, đầu cán buộc túi da thật dài, trong túi đã xếp đầy đạn đá.

Dung Thân Vương đã từng nhìn xe bắn đá nước mình, đương nhiên có thể nhận ra hai cái khác nhau… Xe bắn đá của nước Tề cần vài thậm chí mười mấy binh sĩ kéo mới có thể cố định được cán bắn, mà xe bắn đá của nước Tần chỉ cần hai binh sĩ vận chuyển bàn kéo treo vật nặng lên, tuy không biết hiệu quả thế nào nhưng chỉ nhìn điệu bộ này cũng thấy tiến bộ chắc chắn hơn.

- Bắn cho họ xem!

Thạch Mãnh trầm giọng nói:

- Mục tiêu là phía trước, bắn ra với tầm bắn lớn nhất!

- Tường thành quý quốc cao bảy trượng.

Thạch Mãnh trầm giọng :

- Mà độ cao nhất của máy bắn đá của chúng ta là mười lăm trượng, cho nên thừa sức lướt qua tường thành.

Gã còn chưa dứt lời thì có tiếng vang thật lớn, bọc đạn đá lớn đá nhỏ bắn ra, vẽ nên một đường cong duyên dáng lướt qua tường thành rơi vào trong.

Ngay sau đó, có tiếng ầm ầm từ trong thành vọng ra, còn có khói đen dâng lên… rõ ràng là cháy rồi.

Dung Thân Vương nuốt nước bọt, thầm kêu gào khóc thét: Thế đạo gì thế này? Sao lại bọn tây man có thứ vũ khí tiên tiến thế này? Còn cho Đại Tề ta sống nữa không? Bộ binh và đủ thứ khí giới công thành của nước Tề vẫn dẫn đầu hai nước, trong đó, các loại khí giới chiến tranh được triều đình nước Tề coi là đòn sát thủ, giữ bí mật chế tạo một cách cực kỳ nghiêm khắc.

Nếu ngay cả khí giới cũng không bằng nước Tần, thì còn chơi thế nào được nữa?

Vẫn là Tuệ Năng hòa thượng trầm ổn hơn, chắp hai tay thành chữ thập lên tiếng:

- A di đà Phật, chẳng lẽ quý quân vẫn mang theo khí giới cồng kềnh như vậy để hành quân sao?

- Người nước Tề các ngươi vẫn tưởng người Tần chúng ta ngốc lắm.

Thạch Mãnh cười đắc ý:

- Nói cho các ngươi biết, thật ra bàn kéo, dây kéo, cán cầm của xe bắn đá này mới là những thứ quan trọng đáng giá, khi hành quân chúng ta chỉ đem theo các bộ phận này thôi, còn lại có thể lấy nguyên liệu ngay tại chỗ.

Gã vỗ vỗ ngực, hò hét:

- Chỉ cần có gỗ có đá, một ngày có thể chế tạo một trăm cái.

Con số này là gã bốc phét rồi, nhưng đối phương không biết là được.

Hai người vừa nghĩ, sẽ có tới mấy trăm đại gia hỏa kiểu này một đen một trắng ném đốt vào trong thành, mà sợ nổi da gà, thầm nghĩ: Không phải là hỏa lò rồi sao? Bọn họ chợt nghĩ tới một vấn đề, thứ đồ chơi này chỉ có thể đánh tới dân cư gần tường thành, còn đối với đám đại nhân trong Kinh thì căn bản không có tác dụng.

Nhưng sẽ không có ai nhắc nhở bọn họ, Thạch Mãnh còn ước gì bọn họ sẽ nghĩ vậy nữa.

Dung Thân Vương và Tuệ Năng thiền sư lại nhìn nhau, cùng thấy được sự sợ hãi và thỏa hiệp trong mắt đối phương, liền thở dài, nói với Thạch Mãnh:

- Làm phiền tướng quân đưa chúng ta về, chúng ta hiểu ý Vương gia rồi…

Thạch Mãnh lập tức hớn hở đáp:

- Hiểu được là tốt rồi, thấy cây trên núi Mai của các ngươi đều là cây tốt mấy trăm năm, chặt cũng thật đáng tiếc.

Dung Thân Vương thầm nghĩ: Quả nhiên vạt hợp theo loài. Thuộc hạ của Vương gia ăn cướp đều là loại lính không thể nói chuyện. Y lên xe, một lần nữa quay về lều lớn trung quân.

Vào trong lều lớn, cũng không thấy Tần Lôi và các tướng quân nước Tần.

Hỏi thử thị tòng duy nhất trong trướng, họ nhận được câu trả lời thuyết phục:

- Giai đoạn thứ nhất đã xong xuôi, Vương gia nhà ta đi ăn cơm.

Thật thiếu lễ phép. Dung Thân Vương tức giận trợn mắt:

- Chúng ta từ sáng sớm đến bây giờ là giữa trưa một hạt cơm chưa ăn một giọt nước chưa uống, hắn lại đi ăn cơm? Lễ nghi ở đâu? Khí độ ở đâu?

Thạch Cảm nhún nhún vai:

- Vương gia nhà ta đã nói, chúng ta đang là địch, không có đạo lý ăn cơm chung với kẻ địch.

Gã chắp tay:

- Chỉ cần ngài ký hiệp ước, Vương gia sẽ đích thân bãi tiệc rượu mời ngài ăn bữa ngon.

Đoạn, gã cũng xoay người đi ra ngoài trướng, để lại hai người.

- Ai thèm chứ….

Người ngoài duy nhất vừa đi ra, Dung Thân Vương liền trở về với cái tính hoàn khố, phất tay áo mắng:

- Tây man vẫn là tây man, tù phạm vẫn chính là tù phạm!

Y vừa nói vừa nhìn lão hòa thượng, thật sự hy vọng Quốc sư có thể nói mấy câu căm giận thảo phạt vân vân, coi như cùng chung mối thù.

Nhưng Tuệ Năng hòa thượng đang chăm chú nhìn lên tường…

Theo ánh mắt của lão hòa thượng, Dung Thân Vương phát hiện ở đó có một tấm bản đồ, trên đó còn dùng bút chỉ hồng vòng một vòng. Y bèn bước tới gần đánh giá cẩn thận, chậc lưỡi:

- Chậc chậc, rất tinh tế đó, Tử Cấm Thành, cung Vạn Thọ, phủ Thừa tướng, phủ Bách Thắng, phủ Dung Vương….

Y nghẹn lời, hai mắt chằm chằm nhìn vào tấm bản đồ kia, thật lâu sau mới thất thanh hô:

- Đây là bản đồ chi tiết của thành Thượng Kinh.

Lão hòa thượng nhìn chằm chằm nơi vẽ Hộ Quốc Tự, giọng nói cố nén hoảng sợ:

- Vì sao lại khoanh tròn chỗ ở của chúng ta lại?

Dù sao Dung Thân Vương cũng chưa già, tâm tư xoay chuyển khá nhanh nhạy, đột nhiên nghĩ tới một khả năng, bật thốt:

- Không phải là muốn dùng cái máy ném đá kia cùng cái Vưu ái phú âu gì đó…. đốt hết chỗ này chứ?

Bọn họ chỉ nghe Tần Lôi và Thạch Mãnh thổi phồng chúng lên vô cùng kỳ diệu, mà không biết hai thứ này có nhược điểm trí mạng, một cái không thể tính điểm rơi, một cái khác thì cực kỳ tốn kém, nhiều nhất cũng chỉ có thể cổ vũ góp sức mà thôi.

Đây là nhược điểm khi để một lão thanh niên hoàn khố cùng một nhân sĩ tôn giáo đi đàm phán… Đừng thấy bọn họ có vẻ khôn khéo mà lầm, vì họ thiếu kiến thức chuyên môn, nên quá dễ dàng bị người ta lừa cũng là chuyện bình thường.

Lão hòa thượng Tuệ Năng hơi ngẩn ra, sau đó lại chậm rãi lắc đầu:

- Nếu đập phá thiêu những nơi này đầu tiên, còn đàm cái gì?

Lão nói xong cũng tự tin, ngẩng đầu bình tĩnh nhìn bản đồ kia, trầm giọng nói:

- Hẳn là xao sơn chấn hổ thôi… (dọa)

- Ta nhớ lúc nãy hắn nói là năm trăm vạn lượng?

Dung Thân Vương suy sụp ngồi xuống, bưng cái bát bẩn thỉu kia, ghé ghé vào miệng mấy lần mà vẫn không thể uống, đành phải đặt mạnh xuống bàn, bất đắc dĩ nói:

- Thật là công phu sư tử ngoạm mà, có chuyển hết toàn bộ quốc khố cho hắn cũng không chắc chắn đã gom được nhiều như vậy.

Đừng nhìn miệng y cứng, thật ra y đã quyết định trả tiền ồi.

- Được rồi, theo như ý của hai vị, không cần năm trăm vạn…

Chợt Thành Thân Vương đi tới, các tướng lãnh nước Tần cũng vỗ bụng đi theo, mặt mày hồng hào, hình như còn uống chút rượu.

Chờ chúng tướng ngồi xuống, Tần Lôi mới tiếp tục nói chuyện, nhưng khiến cho người nghe không chịu nổi:

- Bảy trăm vạn lượng nhé, khi đó vàng, bạc, ngọc khí đồ cổ cô cũng không chê đâu.

Hai người choáng váng, thầm nghĩ: Nào có kiểu mặc cả như vậy? Dung Thân Vương chắp tay cười khổ:

- Từ xưa đàm phán vẫn là rao giá trên trời, mặc cả tại chỗ. Vương gia đã ra giá năm trăm vạn lượng, trước mắt nên để tiểu Vương trả giá, sao ngài có thể tăng giá chứ?

- Ha ha, Ta dựa vào cái này!

Hắn lấy ra một tấm tín chỉ từ trong ống tay áo, đặt xuống trước mặt Dung Thân Vương:

- Tự mình xem đi, tin tức này có đáng hai trăm vạn lượng không?

Nghi hoặc nhận lấy tờ giấy kia, liếc nhìn một cái, thì thấy trên đó viết ngoáy mấy chữ to: Phủ thừa tướng rất gần chỗ cháy… Vấn đề vừa rồi hai người còn lo lắng đã có đáp án rồi.

Sau một hồi trầm mặc đáng kể, rốt cuộc Dung Thân Vương cúi đầu:

- Năm trăm vạn lượng bạc.

- Sáu trăm vạn lượng bạc!

Rốt cuộc đã bắt đầu mặc cả rồi.

- Nhiều nhất là năm trăm vạn lượng…

Dung Thân Vương kiên quyết:

- Con số này cũng cần phải do các vương công sĩ tộc góp lại mới đủ.

- Cái này ta không quan tâm.

Tần Lôi không nhúc nhích:

- Năm xưa ở thành Thượng Kinh có ai không biết Dung Thân Vương ngươi đầy ngọc trong ruột, gia tài trăm ngàn, không nhỏ ra chút máu mà muốn rút lui toàn thân à?

- Sáu trăm vạn lượng, thực sự không thể hơn.

Dung Thân Vương bị ép đến điên rồi, đành cúi đầu thở dài:

- Tiểu Vương cung phải thu thập gần hết tiền bạc rồi. Nhiều hơn nữa thật sự là bất lực.

- Được rồi.

Tần Lôi cười tủm tỉm đáp lời.

Chương 566: Hòa ước

Nghe được hai tiếng “được thôi” của Tần Lôi, Dung Thân Vương cảm thấy như được giải thoát, ngồi nhũn ra trên ghế, cảm giác yết hầu bốc hỏa, bất chấp nước sạch hay bẩn bưng chén lớn ngửa đầu uống sạch, lại bị sặc ho khan liên tục.

Rút khăn tay lau miệng, lau cả mồ hôi trên trán, Dung Thân Vương mới thở ra một hơi:

- Mau ký minh ước thôi…

Giọng y không phải không có căm tức:

- Lần này Vương gia biểu diễn đủ quý rồi!

Nếu ngay từ đầu đồng ý với yêu cầu của Tần Lôi thì phải là năm trăm vạn, kết quả, sau một phen cò kè mặc cả ép buộc, lại tăng thành sáu trăm vạn, ngươi nói giận hay không giận?

Tần Lôi cũng không tranh cãi gì, liền sai người lấy ra khế thư đã được phác thảo sẵn, mời Dung Thân Vương cùng Chí Thiện hòa thượng ký tên đóng dấu.

Nhận khế văn vàng vàng trắng trắng đã được viết đâu ra đấy, Dung Thân Vương cùng Tuệ Năng thiền sư cẩn thận đọc một lượt. Trên đó có độ hơn một ngàn chữ, lời ít ý nhiều, tổng kết xuống có ba nội dung:

Thứ nhất hai nước ước hẹn lui binh, nước Tề sẽ dùng lễ tiễn quân Tần xuất cảnh, dọc đường không được ngăn trở.

Thứ hai, nước Tề bồi thường tổn thất cho nước Tần sáu trăm vạn lượng bạc trắng (6.000.000).

Thứ ba, song phương không thể ngược đãi tù binh, cũng hẹn ngày đổi tù binh.

Nghĩ một lúc lâu, Dung Thân Vương mới châm chước hỏi:

- Có thể đổi cách dùng từ một chút không?

Tần Lôi mỉm cười hỏi:

- Đổi thế nào?

- Gộp điều thứ nhất và thứ hai làm một, sửa thành song phương lui binh, còn về bổn quốc nước Tề sẽ cấp phát kinh phí…. sáu trăm vạn lượng.

Dung Thân Vương nhỏ giọng thương lượng:

- Từ “ bồi thường” này có hơi khó nghe.

- Có thể!

Tần Lôi rất hào phóng đồng ý, dặn Bôi Cung Thuần:

- Viết lại một tờ khế thư khác, phải chú ý tìm từ không được làm ảnh hưởng đến tình cảm của nước Tề bằng hữu.

Thật giỏi, vừa được Dung Thân Vương đồng ý, hắn lập tức đổi địch nhân thành bằng hữu.

Không hổ là tiến sĩ xuất thân khoa cử, không bao lâu sau, Bôi Cung Thần đã viết lại khế thư dâng lên xin Vương gia xem qua.

Tần Lôi chỉ nhìn qua một lượt, rồi cho người đưa cho Dung Thân Vương và Tuệ Năng hòa thượng xem.

Xem kỹ khế thư kia một lượt, Dung Thân Vương gật đầu:

- Lần này dễ nghe hơn nhiều.

Y nhìn sang Tuệ Năng thiền sư.

- Thiện tai…

Lão hòa thượng thể hiện thái độ, hai người đứng dậy nói:

- Chờ chúng ta mang thư về cung xin Bệ hạ ngự lãm.

- Chỉ cần Bệ hạ đóng dấu, ta sẽ lập tức quay lại cùng Vương gia lập ước.

- Nên làm như vậy.

Tần Lôi gật đầu cười cười:

- Chuyện lớn như vậy, chắc cũng cần Thượng Quan Thừa tướng gật đầu.

Da mặt Dung Thân Vương siết chặt lại, thấp giọng sửa lời:

- Là Hoàng huynh của ta, Hưng Hóa Hoàng đế Bệ hạ, không phải Thượng Quan Thừa tướng.

Tần Lôi nghe vậy vỗ vỗ nhẹ quai hàm cười cực kỳ áy náy:

- Thứ tội thứ tội, đã nhiều năm tiểu Vương ở nước Tề, đều nghe nói Bệ hạ chuyên tâm tu luyện, nước Tề là do Thượng Quan Thừa tướng định đoạt… xem ra đó chỉ là lời đồn.

- Quả thật là lời đồn bừa bãi.

Dung Thân Vương gượng cười:

- Thiên hạ nước Tề của chúng ta đương nhiên vẫn do họ Tề định đoạt.

Tần Lôi cười ha ha:

- Đúng vậy, Cô nói lỡ lời.

Hắn chỉ châm ngòi ly gián theo thói quen thôi, không ngờ lại vừa vặn chọc vào đúng chỗ đau của Dung Thân Vương. Đoạn, hắn đứng dậy cười nói:

- Để bồi tội với hai vị, Cô sẽ mời hai người ăn cơm chiều.

Dung Thân Vương và Tuệ Năng thiền sư đã đói vang bụng rồi, nhưng nhìn ngoài trướng vẫn đang nắng sáng chang chang, thầm rên rỉ: Còn phải chờ mấy canh giờ nữa? Cả hai đành đứng dậy cáo từ:

- Bệ hạ còn đang chờ tin nơi này, chúng ta thật sự không dám trì hoãn.

Cả hai kiên quyết từ chối lòng tốt của Thành Thân Vương Điện hạ.

Tần Lôi đang muốn giữ lại, thấy hai người cố ý muốn đi, đành phải tiễn bọn họ rời doanh trại, tới khi hai người lên xe vẫn không nỡ buông tay, một tay lôi kéo Dung Thân Vương một tay lôi kéo lão hòa thượng:

- Cô Vương đã cho thủ hạ chuẩn bị tiệc tối, chờ hai vị quý sứ về liền mở tiệc.

Đến lúc này thì ngay cả Tuệ Năng thiền sư cũng hết kiên nhẫn rồi, chắp tay thành chữ thập cười nói:

- Không cần vội. Không bằng chờ ngày mai ta lại đến?

Đối với người nước Tề, thời gian càng kéo dài càng có lợi, điều này người ngu cũng biết…

Đương nhiên Tần Lôi sẽ không để cho bọn họ được như ý, hắn cười sang sảng:

- Từ đây đến Hoàng cung đi tới đi lui cũng chỉ có bốn mươi dặm, nhị vị chỉ cần nhanh nhẹn một chút, trước khi trời tối thế nào cũng kịp về.

Hai tay hắn hơn siết một chút, hai người bị đau đến tái mặt, đanh liên tục gật đầu, nhưng trong lòng hơn phân nửa là lệ.

Tần Lôi lại ôn hòa nói:

- Nếu đến khi lên đèn hai vị vẫn chưa về…

Hắn ngẩng đầu nhìn trời, giọng nói lạnh đi:

- Cô sẽ rất mất hứng.

Dứt lời, hắn mới buông tay, thả cho hai người rời đi.

Đội ngũ nước Tề dần dần đi xa, Tần Lôi đứng yên ngoài cửa doanh không có ý định đi vào.

Chúng tướng cũng đứng bên cạnh, hơn nửa ngày không thấy hắn nói gì, không nhịn được mà hỏi:

- Vương gia, có gì không ổn sao?

Tần Lôi tỉnh lại, lắc đầu, xoay người vào doanh địa.

Chúng tướng nhìn nhau, đành phải đi vào theo.

Quả thật Tần Lôi có nghĩ tới vài thứ, nhưng hiện giờ không thể chia sẻ với họ. Hắn phát hiện thái độ của nước Tề cực kỳ yếu đuối, hình như không đủ lòng tin Triệu Vô Cữu sẽ tới giải vây. Điều này có nghĩa là gì? Điều này có nghĩa tám phần là Bách Thắng Công kia không bắc thượng. Có nói lên điều gi? Nói lên rằng, có thứ gì đó hấp dẫn hơn quân chủ lực quân Tần…

Tần Lôi tạm thời vẫn không xác định được rốt cuộc đó là Hổ Lao Quan hay Chiêu Vũ Đế? Bởi vì, đối với Triệu Vô Cữu, vô luận là mục tiêu nào cũng có giá trị cao hơn là quay về cứu thành Thượng Kinh.

Điều duy nhất hắn có thể xác định, chắc chắn đây là một tin tức xấu…

Trên xe ngựa quay lại thành Thượng Kinh, Dung Thân Vương ai oán dai dẳng:

- Quốc sư, ngài đã từng gặp Vương gia nào như Tần Vũ Điền sao? Thô lỗ không văn, khí thế bức người, tham lam giả dối, không kiêng không sợ gì! Thật sự là lật khắp sách sử cũng không tìm được người thứ hai.

- Quả thật là giống một vị Sơn Đại Vương (tướng cướp).

Tuệ Năng thiền sư cười khổ:

- Có lẽ dẫn binh đánh giặc lâu năm, bị đám binh lính ảnh hưởng.

Lại phát tiết mắng chửi một trận, Dung Thân Vương mới nhớ tới một chuyện:

- Thiền sư, trong những rương hòm kia đựng cái gì vậy? Sao không thấy nữa?

Tuệ Năng thiền sư như đã biết trước, không chút hoang mang đáp:

- Đó là đồ năm xưa Thành Thân Vương ở Thượng Kinh tặng cho lão nạp. Nhưng hiện giờ song phương là địch, lão nạp thẹn làm Thiên Sứ, đại diện cho Bệ hạ đi đàm phán, đương nhiên phải trả lại, tránh có người nói này nói nọ.

Người thông minh sẽ không nói thật, nhưng cũng sẽ không nói dối hoàn toàn. Mấy cái rương lớn kia quả thật có chứa một vạn vàng, nhưng có mang theo bí mật gì khác hay không thì không biết.

Nhưng Dung Thân Vương cũng chỉ hỏi vậy thôi, thấy lão hòa thượng trả lời đâu ra đấy bèn nói sang chuyện chính:

- Quốc sư, ngài nói Bệ hạ có thể đồng ý với khế ước này không?

- Chỗ Bệ hạ thì không ngại.

Tuệ Năng thiền sư khẽ vuốt lông mày thọ, chậm rãi trầm ngâm nói:

- Chỉ là chỗ Thừa tướng, sợ là không nhất định sẽ đồng ý… sáu trăm vạn lượng thật sự là nhiều lắm.

- Đại Tề là của Tề gia ta, là của Hoàng huynh ta !

Nghe lão hòa thượng nói vậy, Dung Thân Vương đột nhiên nhớ lại bộ dáng Tần Lôi chỉ biết đến Thừa tướng không biết có Hoàng đế, ngọn lửa vô danh cháy lên trong lòng :

- Cô đã nhịn ông ta đủ rồi ! Lần này nếu ông ta sảng khoái đồng ý thì thôi, nếu vẫn ra sức khước từ, sẽ cho ông ta đẹp mặt !

Không biết là đẹp mặt thế nào đây. Hai người không nói nữa, trầm mặc ngồi trong xe lẳng lặng thầm tính toán trong lòng.

Tiến vào trong kinh, Dung Thân Vương liền hỏi Tướng quân cảnh vệ đợi ở cửa thành:

- Đèn Khổng Minh lúc sáng có tạo thành hỏa hoạn trong thành không?

Tướng quân kia gật đầu:

- Thứ này rơi xuống không ít, quả thực đốt cháy hơn mười địa điểm, trong đó quan trọng nhát là phủ đệ của Thừa tướng đại nhân.

Gã nhìn theo cột khói đen vẫn cuồn cuộn bốc lên, sầu lo nói:

- Nửa tháng vừa rồi không mưa, trời hanh vật khô, cái gì cũng cháy được, đùng lên một cái là không nước nào dập được.

Dung Thân Vương chép miệng:

- Chậc chậc, nhiều phủ đệ quan lại quyền quý như vậy sao lại đốt trúng phủ Thừa tướng chứ?

Bộ dáng vui sướng khi người gặp họa thực đáng giận.

Hùng hùng hổ hổ đến trước điện Vạn Thọ, Dung Thân Vương mới dừng miệng, cùng lão Quốc sư xuống xe, chuẩn bị báo cáo kết quả với Hoàng đế Bệ hạ.

Ngoài dự kiến của hai người là Thượng Quan Thừa tướng cũng ở trong điện… Lão đang nghiêm mặt đen sì ngồi trên bồ đoàn bên dưới Hoàng đế, như ai cũng nợ lão hai trăm quan tiền vậy.

Không ngoài dự kiến của hai người, khi Dung Thân Vương đưa khế ước cho Hưng Hóa Đế xem, Hoàng đế Bệ hạ cũng không nói gì, chỉ đưa cho Thừa tướng đại nhân. Thượng Quan Vân Hạc nhận lấy khế thư kia, đeo kính đồi mồi, nghiêm trang túc mục. Lão Thừa tướng không xem thì thôi, vừa xem đã nổi giận không kềm được, cố nén lửa giận mà đọc hết cả thư, một tay quơ lấy Dung Thân Vương, run run giận dữ hét:

- Nếu ai lại ký tên vào cái khế ước nhục nước bán nước này, người đó chính là tội nhân thiên cổ của Đại Tề!

Dung Thân Vương đã chuẩn bị tâm lý rồi, bắt đầu cãi lại. Y trầm như nước nhìn chằm chằm lão Thừa tướng, gằn từng tiếng:

- Khế ước này là Cô Vương và Quốc sư dựa theo ý tứ của Bệ hạ bàn bạc với nước Tần. Hay là với Thừa tướng, Bệ hạ và Cô Vương cũng sẽ phản quốc?

Y đổi “tội nhân thiên cổ” thành “phản quốc”, chính là đánh tráo khái niệm tiêu chuẩn.

Nhưng đây không phải chỗ âm hiểm nhất, âm hiểm nhất là y kéo cả Hưng Hóa Đế vào, tạo thành tư thái Cô cùng Bệ hạ tiến thối, khiến cho Hoàng đế không thể nào phán đoán công bằng được. Nói Dung Thân Vương sai chính là tự nói mình sai, Hoàng đế cao cao tại thượng làm sao sai được.

Thắng bại là một bút mai phục lúc này.

Chương 567: Thừa tướng, Thân Vương cùng lão hòa thượng

Đừng nhìn Hưng Hóa Đế khoác áo cà sa không gần nữ sắc, còn phải tu thiền cực khổ cả ngày mà lầm, trên thực tế, vị Hoàng đế Bệ hạ này nghiện nặng hơn tất cả những kẻ khác… Chỉ cần không phải đứa ngốc cũng biết làm Hoàng đế sướng hơn làm hòa thượng, vậy tại sao Hưng Hóa Đế lại không mặc long bào lại đi mặc áo cà sa? Chẳng qua lão hy vọng có thể tu thành kim thân vạn năm không tàn, để có thể làm Hoàng đế một vạn năm.

Từ tín niệm này, Hưng Hóa Đế không quan tâm đến chính vụ dân sinh nữa, dốc hết tâm tư vào tu thiền. HOàng đế đang tính toán thôi mà… Trẫm tạm thời đặt những tục vụ này sang một bên, để cho Triệu Vô Cữu cùng Thượng Quan Vân Hạc quản lý trước, chờ tới khi trẫm tu thành kim thân không tàn, không phải là lúc sẽ quay lại thống trị quốc gia xử trí tham quan, tạo phúc cho dân chúng, nhất thống giang sơn sao?

Tu luyện là để có thể trị quốc càng tốt hơn càng lâu hơn. Đây là nguyên nhân mà một vị Hoàng đế tu thiền tha thứ cho mình. Nhờ vào cái lý do to tướng này, Hưng Hóa Đế lý giải việc tư lợi tổn hại quốc dân quân chính thành ánh mắt lâu dài, dốc bao công sức, đương nhiên sẽ yên tâm thoải mái nhìn dân chúng trầm luân trong nước lửa, lạnh nhạt nhìn quốc gia chịu nhục thôi.

Nhưng không phải là lão không đúng tí nào, ít nhất là cũng biết nhìn người. Lão trọng dụng hai đại quản gia văn võ Thượng Quan Thừa tướng cùng Triệu Nguyên Soái, cả hai đều là trọng khí quốc gia, một là lão thành mưu quốc, một là bách chiến bách thắng, cả hai đều thông minh hơn người, thưởng thức lẫn nhau, quần anh tụ hội, hợp tác khăng khít, khiến cho Đế quốc Đại Tề như một cái cây khô bệnh gặp mùa xuân, tăng thêm mười năm tuổi thọ. Sử gọi Hưng Hóa trung hưng.

Nói thẳng ra thì, cũng là vì Hưng Hóa Đế chuyên tâm tu luyện không hỏi quốc sự mới có thể sung hưng.

Sau đó, mặt trời chiếu rói, tất có bóng ma. Hai vị quốc sĩ triển khai kế hoạch lớn, nhất là Thượng Quan Thừa tướng nắm giữ triều cục, nắm giữ rất nhiều không gian quyền lực của hoàng thân quốc thích, hào môn đại tộc, đương nhiên sẽ khiến cho những kẻ này cắn ngược lại. Nhất là khi lão thừa tướng thi hành tân chính, chữa bệnh trầm kha, lại xúc phạm vào không gian lợi ích của những người này.

Nói tới quý thích trên đời, thường ngày vẫn lục đục với nhau, không phải là vì quyền vì lợi sao? Thượng Quan Thừa tướng xâm phạm vào cả hai thứ này, chẳng lẽ bọn họ không nóng nảy? Họ chỉ hận không thể rút xương lột da lão.

Khi mọi chuyện trôi chảy thì đương nhiên không ai dám lên tiếng, nhưng quốc sự vừa gặp gian nguy, những người này lập tức liên tục nhảy ra không ngừng, ầm ầm đổ tội lên đầu lão, chỉ hận không thể đánh lão vào vực sâu vạn kiếp bất phục mới thỏa.

Cho nên, trên đời này, những kẻ tiện nhất chính là những kẻ có điều kiện tốt nhất, trừ những người hiểu chuyện. Mà Hưng Hóa Đế Bệ hạ hoàn toàn là có điều kiện tốt nhất, cũng là người hiểu rõ nhất. Lão có thể kéo hết công tích của hai vị quốc sĩ thành thành quả của mình, cả ngày tự cho mình là siêu phàm, thực sự cho rằng mình là Thần nhân vận trù trong trướng quyết thắng ngàn dặm. Tuy coi trọng hai vị quốc sĩ, nhưng lão hcwa bao giờ coi họ là cánh tay đắc lực không thể thiếu.

Cho nên, khi không thể tránh né mâu thuẫn giữa quý thích và Thừa tướng, lão không kiên định đứng ở phe nào, lại bị đám quý thích khua môi múa mép chọc lên bất mãn với Thừa tướng. Giai thoại quân thần tương nghi hơn mười năm rốt cuộc đã có một vết rạn.

Nhưng Thượng Quan Thừa tướng lại không phát hiện ra điểm này, vẫn như một con chó già tận trung với cương vị công tác canh chừng thiên hạ cho Tề gia…

Cho nên, khi Hoàng đế muốn Thượng Quan Thừa tướng lấy một khoản tiền lớn từ trong công quỹ để dừng binh qua thì lão thừa tướng chỉ hô vang sang sảng:

- Bệ hạ thứ tội, thần muôn vàn khó tiếp chỉ.

Thượng Quan Thừa tướng không muốn nhận lấy củ khoai lang nóng bỏng tay này. Không có lý gì lão phải đi chủi đít cho kẻ khác cả.

- Ngươi dám kháng chỉ?

Dung Thân Vương giơ chân chỉ trích:

- Đại nghịch bất đạo! Hoàng Huynh, người này không để họ Tề ta vào mắt rồi!

Y vẫn ôm oán hận chất chứa với lão Thừa tướng, đến nay, một khi đã xả ra thì đương nhiên sẽ không từ bỏ ý đồ.

- Ngươi im miệng!

Hoàng đế trầm mặt, quát lớn:

- Đợi một bên đi!

Dung Thân Vương vội đứng sang một bên, nhưng sắc mặt không hề buồn bã tí nào. Y b iết hoàng Huynh có một tật xấu, mắng người nào là gần người đó, càng khách khí lại càng bất hòa.

- Thừa tướng, ngươi có chuyện gì khó xử không ngại cứ nói ra?

Mắng xong Dung Thân Vowng, HOàng đế hỏi Thượng Quan Thừa tướng.

- Thần không dám kháng chỉ.

Thượng Quan Vân Hạc thở dài:

- Vừa rồi Bệ hạ cũng nói, đương gia ba năm cũng có cái khó, thật sự đã hiểu rất sâu tấm lòng của thần, suýt nữa vi thần rơi nước mắt.

Lão kéo kéo góc áo lau mắt như thể đang cảm động lắm, giọng nói khàn khàn trầm trầm:

- Dung Thân Vươngng không đương gia đương nhiên không biết gạo muối đắt thế nào, mà Bệ hạ đèn cao soi chiếu lại có thể nhìn rõ mọi việc, đương nhiên biết rõ, một trận đại chiến này, công quỹ Đại Tề ta đã rất trống. Thu nhập bình thường không thể tiêp tục, kiếm đâu ra khoản bạc lớn như vậy?

Dung Thân Vương chen miệng:

- Thang trước Thị bạc ti Đại Giang đã áp giải thuế ngân năm nay vào Kinh. Vẻn vẹn một chuyến buôn bán với nước Sở một năm đã có năm trăm vạn lượng doanh thu, sao có thể nói là không có?

- Có thì có, nhưng cuộc chiến này không biết còn đánh đến khi nào, còn phải cung ứng quân nhu cho vài chục vạn đại quân, mấy trăm vạn nạn dân cũng phải an trí trợ cấp, đều phải lấy tiền từ trong thuế ngân của Thị Bạc Ti.

Thượng Quan Thừa Tướng không đổi sắc:

- Bạc trong kho đều có việc cần dùng cả rồi, một văn tiền nhàn rỗi cũng không có.

Dung Thân Vương bĩu môi:

- KHế ước này ký rồi, sẽ không đánh trận nữa, còn cần quân phí làm gì? Còn trông cậy vào người chết mà phát tài sao?

- Ngưng chiến là ý của các ngài, nhưng Triệu công nơi đó còn có đối sách, ai thắng ai thua còn chưa biết được, có lẽ nào nhận thua như vậy?

Thượng Quan Thừa tướng tức giận cả người phát run lên, run run tay chỉ Dung Thân Vương:

-Điện hạ vẫn nên chết cái tâm này đi, cho dù là quốc khố tràn trề ta cũng sẽ không chi số tiền này!

- Vì sao?

Dung Thân Vương không tránh không nhường, hỏi.

- Ta không thể làm như ngươi!

Thượng Quan Vân Hạc dựng hết râu tóc, gần như gầm lên:

- Tướng sĩ tiền phương còn đang chém giết quên cả sống chết, quân đội cần Vương đang ngày đêm kiêm trìnhmà đến, chúng ta thân là những kẻ đứng dầu lại không chiến mà lui, quỳ gối đền tiền, làm lạnh lòng trăm vạn tướng sĩ! Làm như vậy thiên lý ở đâu? Liêm sỉ ở đâu?

Trúng đích. Dung Thân Vương sụp mi cúi đầu, không nói gì nữa.

Lời vừa ra khỏi miệng, Thượng Quan Vân Hạc liền nhận ra mình đã bị kích động căm phẫn mà lỡ lời rồi. Quả nhiên, sắc mặt Hoàng đế Bệ hạ xanh mét, tay phải nắm chặt Phật châu siết mạnh đến trắng bệch.

Xưa nay Thượng Quan Vân Hạc vẫn coi đám hoàng thân quốc thích như Dung Thân Vương chỉ là đám sâu mọt hai dân, khá là xem thường. Lại thêm đương quốc lâu ngày đã thành thói quen càn cương độc đoán, đương nhiên nói chuyện không quá cố kỵ.

Nhưng lão không chút lưu tình phê phán Dung Thân Vương như vậy đã vô ý đụng phải vảy ngược của Hoàng đế. Phải biết rằng Dung Thân Vương là phụng chỉ mà đi, làm tốt hay làm hư đều là đại biểu cho ý tứ của Hoàng đế. Đánh chó còn phải ngó mặt chủ, Hoàng đế nghe Thượng Quan Thừa tướng mắng Dung Thân Vương đầu hàng đền tiền là hành động không biết xấu hổ, táng tận thiên lương, không phải chỉ dâu mắng hòe thì là gì?

Tuy tu là thiền bất động, nhưng dù sao Hưng Hóa Đế vẫn còn chưa thực sự tu thành được Phật tổ, mà cho dù là Phật tổ, lúc phẫn lên cũng còn có Minh Vương hống! Lão vừa nghe Dung Thân Vương nói người Tần chỉ biết nước Tềcó Thừa tướng không biết nước Tề có HOàng đế, trong lòng đã rất không vui rồi, hiện tại lại nghe Thượng Quan Thừa tướng gần như công khai chỉ trích, hiển nhiên càng không coi Hoàng đế lão ra gì!

Chúng ta đã nói rồi, Hưng Hóa Đế tu thiền là vì muốn kéo dài thời gian làm Hoàng đế, chứ không phải hòa thượng đích con mẹ nó thực. Một cỗ nghiệp hỏa vô minh nhảy vọt lên, trong lòng Hoàng đế chỉ còn một câu: Thử hỏi thiên hạ hôm nay là của Thượng Quan gia ngươi, hay là của Tề gia ta?

Thấy sắc mặt Hoàng đế không tốt, Thượng Quan Thừa tướng vội vàng dập đầu thỉnh tội:

- Cựu thần lỡ lời, xin Bệ hạ thứ tội.

Sắc mặt Hoàng đế lúc xanh lúc trắng, thật lâu sau mới cứng ngắc nói:

- Chỉ cần Thừa tướng đem được bạc ra, có tội gì?

- Cái này….

Lão Thừa tướng biết Hoàng đế nhẫn nại hết sức rồi, nhưng lão có tín niệm cũng có kiên định với nước Tề, trong lòng lão kịch liệt đấu tranh, bất tri bất giác mồ hôi đã ướt đẫm.

Hoàng đế cũng không thúc giục, chỉ trượt lần tràng hạt trong tay một cách nhịp nhàng, tựa như đang đếm từng thời khắc của Thừa tướng.

Một hồi lâu sau, khi tràng hạt kia lướt qua viên thứ một trăm lẻ tám, Hoàng đế dựng mày, giọng lạnh như băng thấm đến tận xương:

- Nay trẫm đã không thể làm chủ ư?

Thượng Quan Thừa tướng dập đầu liên tục, nghẹn ngào thưa:

- Thần không độc chuyên, nhưng quả thật công quỹ đều đã có việc cần dùng, không thể đưa ra nhiều tiền nhàn rỗi như vậy….

- Vậy ngươi có thể lấy ra bao nhiêu?

Hoàng đế cố nén cơn giận:

- Đương quốc đương quốc, đương tới quốc cũng bị vây rồi, chẳng lẽ không phải là do các ngươi sao? Giải vây cho Thượng Kinh, giải qu cho quân phụ, chẳng lẽ không phải trách nhiệm của các ngươi sao?

Câu này là nói thật. Hưng Hóa Đế chỉ hy vọng có thể thái thái bình bình làm Hoàng đến an an ổn ổn tu kim thân, so với đại sự này, dân sinh khó khăn, quốc sự khốn đốn gì đó, đều có thể xem là vấn đề nhỏ thôi…

Chỉ mấy quả bom của nước Tần, Hưng Hóa Đế đã gấp lắm rồi.

Thượng Quan Thừa tướng bi thương thở dài, biết không nhỏ ra chút máu sẽ không qua được cửa này, đành cúi đầu thưa:

- Công quỹ chỉ có thể gánh một nửa thôi.

Tới lúc này sắc mặt Hoàng đế mới nguội đi. Lão cũng biết Thượng Quan Thừa tướng không dễ dàng, bèn đỡ lão Thừa tướng già nua nước mắt đầy mặt dậy, an ủi vài câu tượng trưng rồi ra lệnh:

- Quôc sự là chuyện của thiên hạ, không phải chuyện riêng của Thừa tướng. Công quỹ gánh ba trăm vạn lượng là được, còn lại chúng ta sẽ gom góp.

Đoạn, lão nhìn Hoàng thái giam đứng hầu bên cạnh, trầm giọng hỏi:

- Lão Hoàng, nội nô còn bao nhiêu tiền?

- Thưa bệ hạ….

Hoàng Thái giam nhẹ giọng đáp:

- Còn hai trăm vạn lượng, nhưng nếu trừ đi các khoản cần dùng thì chỉ có năm mươi vạn lượng nhàn rỗi thôi.

- Ồ, quốc gia có việc, hậu cũng cũng phải tiết kiệm một chút hoa.

Hưng Hóa Đế trầm giọng nói:

- Lấy ra một trăm vạn lượng đi, xem như trẫm giúp cho quốc gia.

- Bệ hạ… ôi, lão nô sẽ cố mà làm thôi.

Hoàng đế nói vậy, đương nhiên lão hòa thượng và Dung Thân Vương biết mình nên làm gì. Tuệ Năng chắp tay trước ngực:

- Để miễn cho dân chúng Đại Tề khỏi họa binh đao, bệ hạ lại bớt ăn bớt mặc, tự ngược đãi mình, dùng nội nô quyên góp, chắc chắn Phật Tổ sẽ biết đến hành động đại từ đại bi này, con đường tu hành của Bệ hạ sẽ càng thêm bằng phẳng.

- A di đà Phật….

Hoàng đế cũng nghiêm nghị ngâm.

Sau khi hỏi thăm Phật Tổ, Tuệ Năng thiền sư liền khẳng khái lên tiếng:

- Bần tăng kính nể sâu sắc, xin cống hiến bảy vạn lượng hoàng kim gom góp suốt mười năm để dát kim thân cho Phật Tổ ra thôi.

Bảy vạn lượng hoàng kim là mười vạn lượng bạc trắng, chính là một món tiền khổng lồ. (100.000)

- Hay là thôi đi…

Hoàng đế cũng kinh ngạc:

- Đây đều là cung phụng cho Phật Tổ, làm sao chúng ta có thể lấy dùng?

Lão hòa thượng cười ha ha:

- Bệ hạ nghĩ nhiều rồi. Ngã Phật có câu, cứu một mạng người hơn xây bảy tầng tháp. Trước mắt có thể cựu trăm vạn người trong thành Thượng Kinh, đây là xây bao nhiêu tầng bảo tháp đây? Đương nhiên Phật Tổ sẽ rất vui.

- Ngã Phật từ bi.

Hưng Hóa Đế vui lòng phục tùng. Đoạn, lão nhìn sang Dung Thân Vương chờ y trả lời.

- Thần đệ cũng không thể không vì người…

Dung Thân Vương đau lòng lên tiếng:

- Sẽ lấy hết bạc trong nhà đệ ra…

- Bao nhiêu?

Hoàng đế cũng không dễ gạt.

- Năm… vạn lượng.

Dung Thân Vương thẹn thùng đáp:

- Thần đệ tiêu dùng khá lớn, nhất thời chỉ có thể đưa ra chừng đó.

Hưng Hóa Đế mỉm cười, thản nhiên nói:

- Chuyện này là do các ngươi đề nghị, con số cũng là các ngươi định ra, muốn trốn trách nhiệm không được đâu.

Lão gằn từng tiếng:

- Một trăm lẻ ba vạn lượng, một đồng cũng không thể thiếu.

- Hoàng Huynh tha mạng. Thần đệ có đập nồi bán sát cũng không lấy ra nổi năm mươi vạn.

Dung Thân Vương vừa dập đầu vừa gào thét:

- Không tin người có thể đi xét nhà….

- Ai bảo một mình ngươi bỏ ra?

Hoàng đế bực bội phất ống tay áo:

- Cho ngươi một đạo thánh chỉ, đi tìm đám người đề nghị lúc trước ấy, bảo bọn họ quyên góp, quyên không được thì xét nhà!

Lão khép hai mắt đuổi:

- Lui ra…

Chương 567.1: Thừa tướng, Thân Vương cùng lão hòa thượng.

- Chúng thần cáo lui….

Lão Thừa tướng, lão hòa thượng cùng Dung Thân Vương liền ngoan ngoãn rời thiện phòng.

Còn chưa đi xa lắm, Thượng Quan Thừa tướng đang bị chọc điên chỉ thẳng vào mũi Dung Thân Vương mắng:

- Đồ nhát gan! Quân bán nước!

Dung Thân Vương không nhường tí nào:

- Đại Tề đã bị dám cướp đường giữa ban ngày các ngươi trộm hết, Cô bán thế nào được?

- Ngươi đổi trắng thay đen!

- Ngươi đại gian giả trung!

Hai người cãi nhau như gà chọi, tới tận khi Hoàng Thái giam truyền ra:

- Bệ hạ có lệnh, cút hết đi cho trẫm…

Họ mới căm giận tách ra, đi chuẩn bị ngân lượng.

- Cô Vương đi các nhà thu tiền.

Tách khỏi Thượng Quan Thừa tướng, Dung Thân Vương chia nhiệm vụ với Tuệ Năng thiền sư:

- Phiền Quốc sư tới đại doanh quân Tần, ký hòa ước với Tần Lôi.

- Vậy tốt lắm, chúng ta chia ra hành động thôi. Ha ha, đừng để cho gia hỏa kia đốt Vương phủ và Hộ Quốc Tự.

Dung Thân Vương cầm theo Thánh chỉ, dẫn theo Kim Ngô Vệ hùng hổ đi tìm giết nhà giàu trong kinh. Tuệ Năng cũng mang theo đội nghi trượng ngựa không dừng vó tiến tới trước quân doanh quân Tần bên ngoài thành.

Đi nhanh đi chóng, vào tới quân doanh thì trời đã tối đen.

Lão hòa thượng bước xuống khỏi xe, dầu tiên là nhìn lên bầu trời đã lốm đốm ánh sáng, lo lắng hô lên:

- Thủ hạ lưu tình, lão nạp tới rồi!

Tiến vào trong lều lớn, Tuệ Năng mới có thời gian lau mồ hôi trán, thở hồng hộc báo:

- Bệ hạ đã đóng dấu trên khế thư, mời Vương gia cũng ký.

Lão vừa dứt lời, các tướng lãnh nước Tần trong màn như nổ tung, ai nấy thì thào bàn bạc:

- Thật sự đồng ý rồi sa?

- Vương gia thật sự là thần!

- Sao lại có loại Hoàng đế này chứ?

Buổi sáng, Tần Lôi giở công phu sư tử ngoạm, mặc dù chúng tướng không dị nghị trực tiếp, nhưng chờ sứ tiết nước Tề vừa đi, các tướng quânliền mở bát cược, không ai tin Hoàng đế nước Tề có thể đồng ý loại hiệp ước không bình đẳng này, trong lời nói cũng có vài phần ý đánh giá Vương gia cố quá hóa dở, sẽ chọc giận Hoàng đế nước Tề.

Nhưng Tần Lôi cũng không phân trần với họ, bị cuốn phát phiền, bèn ôm gối đi ngủ trưa.

Chúng tướng chờ chờ đợi đợi suốt một buổi chiều, trong đó có cả những người muốn nhìn Ngũ Điện hạ bêu xấu…

Nhưng Tuệ Năng thiền sư đã xuất hiện đúng thời hạn, còn mang đến hiệp ước đã được Hưng Hóa Đế đóng dấu, khiến cho tướng quân cả phòng chấn kinh rớt hàm.

Mà Tần Lôi thì không lo lắng tí nào, hắn nhìn Hoàng đế nước Tề chuyên tâm tu thiền, đã thấy được kết quả hôm nay... Thử hỏi, một vị Hoàng đế Bệ hạ không chịu gánh trách nhiệm của mình, mấy chục năm như một chỉ chuyên tâm tu luyện, sao lại để ý chút vật ngoài thân đó chứ?

Đọc kỹ hòa ước kia một lượt, xác nhận không lầm, hắn bèn cầm kim ấn của mình đóng dấu lên hai phần vàng trắng, hòa ước với Thượng Kinh này xem như chính thức có hiệu lực.

Lệnh cho Thạch Cảm trả lại một bản khế thư cho Tuệ Năng hòa thượng, lui lại mộtbản khác của mình, Tần Lôi vui vẻ cười nói:

- Hai bên biến chiến tranh thành tơ lụa, quả thật là may mắn của cuộc đời này, nhờ ân đức đại sư cả.

Lão hòa thượng chắp hai tay thành hình chữ thập, không dám nói gì.

- Chính sự đã xong rồi, giờ đến lúc thoải mái ăn uống thôi.

Tần Lôi đứng dậy cười nói:

- Mời đại sư nhập tịch.

Lão hòa thượng từ chối:

- Người xuất gia phải rời xa nơi tiệc tùng vui vẻ, kính xin Vương gia ban thưởng một chén cơm bố thí là được.

Đương nhiên Tần Lôi nghe ra được ý ngầm của lão, hiểu ý cười cười:

- Vậy nghe theo đại sư.

Hắn vẫy vẫy tay:

- Đại sư không ăn đồ mặn, vậy tiện nghi cho các ngươi rồi, đi ăn đi.

Chúng tướng ai nấy đều hân hoan:

- Thật có cảm tình….

Lại thấy Vương gia không nhúc nhích gì, đương nhiên không ai dám đứng dậy, đều cười nói:

- Mời Vương gia đi trước.

- Các ngươi đi đi.

Tần Lôi lắc đầu:

- Cô ở lại cùng đại sư.

Chúng tướng đứng dậy thi lễ lập tức giải tán đi uống rượu ăn tiệc.

Trong đại trướng chỉ còn lại Tần Lôi và Tuệ Năng thiền sư. Ho khẽ một tiếng, Tần Lôi nói ngay vào điểm chính:

- Vì sao đại sư lại giúp ta?

Trong cái rương Tuệ Năng đưa tới ngoài một vạn lượng hoàng kim còn có danh sách mật thám nước Tề ở nước Tần, nhìn mà kinh hoảng, chỉ là không thể xác định là thật hay giả.

- Giúp người người giúp lại.

Lão hòa thượng sụp mi đáp:

- Thứ nhất là đáp tạ Vương gia lúc trước đã có ân, để cho Chí Thiện có thể toàn thân trở ra. Thứ hai là xin nhờ Vương gia ngày sau che chở.

- Cái này không thành vấn đề.

Tần Lôi cười sang sảng:

- Tần Lôi tín ngưỡng tự do, chỉ cần không ảnh hưởng đến yên ổn xã hội, tôn giáo dạy dân tộc đoàn kết, cũng có thể tự do truyền giáo, tự do phát triển.

- Không phải là Thiền Tông ở quý quốc.

Lão hòa thượng nhẹ giọng nói:

- Mà là Thiền Tông ở nước Tề.

- Cô đã từng ở nước Tề, sao không biết địa vị của Thiền Tông rất cao, đại sư lại có tôn hào Quốc sư…

Tần Lôi giật mình hỏi:

- Còn chờ Vương gia ngoại bang như ta che chở sao?

Lão hòa thượng nhẹ giọng giải thích:

- Vương gia có điều không biết. Thiền Tông ta và Đạo gia cùng tồn tại ở nước Tề, từ xưa đến nay vẫn là cái này tiêu đi thì cái kia bành trướng, cạnh tranh lẫn nhau, vốn là không phân được thư hùng. Nhưng đương kim Bệ hạ si mê tu thiền đến tẩu hỏa nhập ma, ân sủng với Thiền Tông cũng là tột đỉnh, khiến cho người ta lo lắng!

- Sao ta nghe có gì đó không thỏa?

Tần Lôi khẽ cười:

- Thánh quyến là thứ bao nhiêu người cầu còn không được, vì sao ngươi lại sợ như sợ cọp vậy?

Nhìn lão hòa thượng trâu bò nhất nước Tề đánh giá tín đồ có địa vị cao nhất của mình như vậy, Tần Lôi cảm thấy cực kỳ vớ vẩn.

- PHật nói, nhất minh nhất khkoo, vĩnh tẫn tắc khô.

Lão hòa thượng không nhanh không chậm giải thích:

- Thiền Tông chúng ta một nhà độc đại đã mấy chục năm, khá là chèn ép Đạo gia, khiến cho đám mũi trâu kia oán hận không ít. Một khi bọn họ lật người, tất sẽ phải thanh toán.

Tần Lôi khẽ nhíumày, nhẹ giọng trầm ngâm:

- Làm việc không nên quá tuyệt, ngày sau cũng dễ gặp lại.

- Vương gia anh minh, chỉ tiếc lão nạp ngộ được quá muộn.

Lão hòa thượng cười khổ:

- Song phương đã chất chứa oán hận sâu nặng, chỉ sợ người Đạo gia muốn không chết không thôi.

- Nếu không thể hòa giải, vậy chém tận giết tuyệt đi.

Tần Lôi cười dài:

- Người chết chắc sẽ không biết mang thù.

Dưới ánh đèn, Tuệ Năng nhìn thấy hai cái răng nanh trắng toát của hắn mà rùng mình:

- Chậm rồi, Đạo gia đã tìm được kẻ chống lưng.

- Kẻ chống lưng gì?

- Thái tử Điện hạ.

Tuệ Năng trầm giọng nói:

- Con trai độc nhất của đương kim Bệ hạ, người thừa kế duy nhất của nước Tề, giống hệt phụ thân, hết lòng tin theo Đạo giáo.

Tần Lôi phì cười:

- Hai người này thật đúng là thành kính đấy.

Nghĩ nghĩ một chút, hắn lại lắc đầu:

- Cho dù Hoàng đế mới đăng cơ, vì nể mặt người cha ma quỷ của mình, cũng sẽ không đuổi tận giết tuyệt các ngươi.

Nhưng Tuệ Năng cười không nổi, đau khổ nói:

- Tuy nói vậy, nhưng chúng ta có một mệnh môn đủ để thu nhận đại họa tám phương.

Tần Lôi gật gật đầu, ý bảo lão tiếp tục:

- Là chính Hưng Hóa Đế. Năm xưa, để tranh thủ tình cảm, phương trượng tiền nhiệm đã mạnh miệng tuyên bố… Ông ấy nói rằng chỉ cần Bệ hạ chuyên cần tu thiền là có thể bách bệnh bất xâm, vạn thọ vô cương…

Tần Lôi bật cười:

- Vớ vẩn! Nếu thực sự thần thánh như thế thì làm sao đến lượt ngươi lên đài.

Lão hòa thượng cười xấu hổ:

- Điện hạ anh minh. Gia sư mưu đồ thống khoái nhất thời, vẩy ra một lời hứa, khiến cho Bệ hạ đắm chìm trong đó không thoát ra được, mơ giấc mộng đẹp mấy chục năm, cũng cho Thiền Tông ta hưng thịnh mấy chục năm. Nhưng mộng thì vẫn phải tỉnh, khi Bệ hạ còn sống, lão nạp còn có thể hồ lộng, một khi băng hà, Tân Đế có thể lấy đây là cái cớ chém tận giết tuyệt Thiền Tông ta…

Tần Lôi gật đầu, mỉm cười nói:

- Tuy lão thiền sư không có được bảo tướng trang nghiêm nhưng lại là người thông minh hiểu đời, có ánh mắt lâu dài, Phật Tông có ngươi là phúc khí.

Lão hòa thượng sượng mặt, cười ha ha:

- Không biết lời này biếm cỡ nào, cũng khiến cho lão nạp phải cân nhắc.

Tần Lôi ngừng cười, nghiêm mặt nói:

- Tuyệt không có ý trào phúng. Phật Tông có vô số kẻ trọc đầu, đám đầu trọc lớn đầu trọc bé đều sống tại nhân thế, nếu thiền sư một lòng hỏi thiền, không thông tục vụ, mới thật khiến cho Cô Vương xem thường.

Trong lòng lão hòa thượng dâng lên cảm xúc gặp tri kỷ, cười chân thành nói:

- Vương gia thánh minh! Bàn về Phật lý, bần tăng không bằng các vị sư đệ, thậm chí cả các đồ đệ cũng không bằng, nhưng bọn họ lại không dị nghị khi bần tăng được làm chủ trì. Bởi vì… chỉ vì bần tăng thông nhân tình, hiểu thế sự mà thôi.

Tần Lôi trầm giọng nói:

- Nói ra yêu cầu của ngươi. Ngươi có tư cách yêu cầu Cô Vương một lần.

Lão hòa thượng đứng dậy, cung kính dập đầu ba lần với Tần Lôi:

- Khi ngài trì hạ, xin Vương gia giữ lại cho Thiền Tông ta một vị trí.

- Có thể.

Tần Lôi mỉm cười:

- Tôn giáo tự do mà!

Chương 568: Biến chiến tranh thành tơ lụa

Sau khi thượng đạt thành hiệp nghị, cả Tần Lôi và lão hòa thượng đều rất vui vẻ. Rốt cuộc hắn đã thật lòng thật ý mời lão dùng bữa cơm bố thí, lại sai người dẫn lão đi nghỉ ngơi, chờ tới hừng đông rồi bàn việc.

Theo như thời gian trong hiệp nghị, giờ thìn một khắc ngày hôm sau là lúc giao ngân lượng, rút quân giải vây.

Sự thật chứng minh, nước Tề không hổ là lễ nghi chi bang, người nước Tề rất giữ chữ tín. Vừa tới giờ thìn, Dung Thân Vương đã dẫn theo đoàn xe thật dài xuất hiện trước doanh trại.

Hắc Y Vệ yêu cầu đội ngũ dừng lại, bắt đầu cẩn thận bận rộn kiểm tra chất lượng, số lượng, Dung Thân Vương được mời tới trong trướng trung quân uống trà.

Hai bên ngồi xuống, đột nhiên Dung Thân Vương trừng hai mứt:

- Ngài đổi thân quần áo khác quả thực là như hai người.

Thì ra hôm nay Tần Lôi đã tắm rửa cạo râu, đổi sang một thân áo dài màu lam, bày hết bộ mặt tuấn lãng của mình ra, ai thấy cũng muốn khen một tiếng: Thật là một thế giai công tử!

Ngoài bảo kiếm giắt bên hông, hôm nay hắn khác với hình tượng râu ria xồm xoàm, thô lỗ bưu hãn hôm qua quá xa, chẳng trách gì Dung Thân Vương lại ngạc nhiên như vậy.

Cười nhẹ, Tần Lôi nhìn y, đáp:

- Điện hạ cũng giống như hai người vậy.

Giọng nói của hắn ôn hòa nho nhã, khiến cho người ta tưởng như được tắm gió xuân.

Sắc mặt Dung Thân Vương rất mệt mỏi, thậm chí hai mắt đều thâm quầng, thô thanh đáp:

- Muốn gom góp được năm trăm vạn lượng bạc chỉ trong một đêm, có là thần tiên cũng mệt rũ, huống chi Cô chỉ là phàm phu tục tử?

Giọng nói của y khàn đặc.

Tần Lôi ấm áp cười:

- Vương gia cực khổ rồi.

Một đêm không ngủ, cơn tức của Dung Thân Vương rất lớn, nói rất không dễ nghe:

- Cô đã đắc tội toàn bộ các nhà trong Kinh rồi.

Liên quan gì tới ta? Tần Lôi thầm oán hận, nhưng ngoài mặt vẫn tủm tỉm :

- Dâng trà, cho Ngũ Điện hạ nguôi cơn tức.

- Đừng có lấy thêm bát nước bẩn sỉ nhục ta.

Dung Thân Vương vẫn còn sợ hãi:

- Hôm qua đến đây được các ngươi mời nước, chạy đến đau cả bụng, mắc cỡ chết người.

- Trước khác nay khác.

Tần Lôi tươi cười chân thành nói:

- Hiện giờ ngài là bằng hữu của Cô Vương rồi, đương nhiên là sẽ được tiếp đón với quy cách cao quý nhất.

Hắn lệnh cho Thạch Cảm:

- Lấy đại hồng bào Hoàng đế nước Sở tặng cho ta tới đây, còn cả bộ trà cụ kia nữa.

Dung Thân Vương kinh hãi không thôi, giật mình hỏi lại:

- Là đại hồng bào sống trên đỉnh vách đá Vu Di Sơn, trên đời chỉ còn chín gốc thôi sao?

- Đương nhiên rồi.

Tần Lôi vừa nhận lấy tiểu quán vẽ Vu Di Sơn mây mù giăng trắng vừa đắc ý cười :

- Thứ này là cống phẩm của nước Sở, sản lượng quá ít, mà thượng phẩm lại quá hiếm lạ. Ngoài Cảnh Thái Đế, số người có thể uống ở nước Sở chỉ hơn mười người, còn về đại hồng bào cực phẩm, chỉ có mấy người ít ỏi thôi.

Tài ăn nói của Tần Vũ Điền vô cùng tốt, chỉ mấy câu đã chọc cho Dung Thân Vương ngứa ngáy vô cùng, vò đầu bứt tai giục:

- Mau mở ra cho ta xem. Có phải là thứ thần thánh trong truyền thuyết kia không ?

Y đứng dậy nhào tới, hoàn toàn quên mất sỉ nhục hôm qua.

Có thể xóa được mâu thuẫn không còn, cũng là một trong những bản lĩnh đắc ý của Tần Lôi.

Mở lọ sứ tinh mỹ kia ra, Dung Thân Vương chỉ thấy lá trà trong lọ đều kết chặt, ánh sáng màu lục tươi non, chưa pha đã có thể ngửi được mùi hương cực kỳ thanh nhã.

Vừa rời mắt khỏi lọ trà, y lập tức bị bộ trà cụ Thạch Cảm bưng lên hấp dẫn. Bộ tử sa trà cụ kia rất khác biệt. Ấm trà chỉ nhỏ như quả phật thủ, chén chỉ bằng quả hồ đào, phỏng chừng rót đầy một ly không được hai giọt nước trà.

Mặc dù Dung Thân Vương là người phương bắc hào sảng uống trà như trâu, nhưng thói đời, quý không thể thiếu thân vương, đương nhiên cũng phải theo đuổi một vài phẩm chất không giống người thường. Trong mắt Thân Vương Điện hạ, bộ trà cụ chỉ hợp nuôi chim này thực sự đã thể hiện được hết phong phạm quý tộc.

Cái gọi là quý tộc, chính là đám trứng thối phấn khích bất thường với một thứ bình thường, chỉ giỏi ăn no rỗi việc.

Chờ nước suối trên tiểu lô bằng được than bùn đun sôi lăn tăn, Tần Lôi đặt trà cụ đã được rửa sạch lên khay trà, chờ nước sôi kỹ, hắn với lấy hũ nước sôi, súc ấm trà chén trà một lượt, lại đặt về trên lô. Động tác của hắn trôi chảy thanh tao, xem ra cũng rất hưởng thụ.

Nhìn khuôn mặt bình tĩnh an tường của Tần Lôi, Dung Thân Vương nghĩ thế nào cũng không tưởng tượng nổi Thành Thân Vương hôm qua như thổ phỉ con hô đánh hô giết lại có bộ mặt khác như vậy. Bất tri bất giác, cảm giác đối địch trong lòng y nhạt đi thật nhiều, nhẹ giọng hỏi:

- Có gì cần chú ý không?

- Rửa chén phải dùng nước mắt cá.

Tần Lôi vừa thản nhiên đáp vừa mở lọ trà, he hé đổ ít trà đại hồng bào thiên kim khó cầu kia ra tờ giấy trắng nõn, phân biệt to nhỏ. Đoạn, hắn bỏ phần to nhất vào đáy ấm trà cùng với nước, mạt nhỏ đổ ở tầng trung, đặt lá trà thô lên trên cùng.

- Việc này có gì cần chú ý không?

Nhìn Tần Lôi pha trà, Dung Thân Vương cảm giác đời này mình sống vô vị rồi.

- Phần mạt nhỏ có hương vị nồng nhất, lá trà cũng dễ nở nhất, dễ nở đầy nước nhất. Cần phải phân biệt to nhỏ là để có thể chia trà thật đều, vị trà dần dần phát huy.

Bỏ năm phần lá trà vào trong ấm trà to bằng quả phật thủ, hắn đậy nắp lọ trà dặn bảo Thạch Cảm cất đi.

Thấy Tần Lôi cất lá trà đi, Dung Thân Vương tiếc nuối hỏi:

- Cho thêm ít nữa đi.

Tần Lôi mỉm cười:

- Đã nhiều lắm rồi, nếu thêm nữa, trà pha ra hương vị quá nồng, lại hơi chua chua. Hơn nữa, chồi của đại hồng bào cuốn rất chặt, nước sôi sẽ nở ra rất lớn, đổ quá nhiều trà còn không rót nổi nước vào nữa.

Lúc này nước trong lô đã bắt đầu sôi lên ùng ục như liên châu, nghe tiếng nước reo, Tần Lôi mở nắp ấm trà dùng nước sôi dội một vòng miệng, rồi mới đổ vào bên trong. KHông đợi Dung Thân Vương hỏi hắn đã trả lời trước:

- Rót từ trên cao là để đánh sâu vào trong lá trà bên trong, để cho hương trà phát ra nhanh hơn.

Đổ ba phần nước, bọt trà nổi lên, nhưng không tràn ra, Tần Lôi nhấc nắp ấm, nhẹ nhàng thổi bọt trà, sau đó đóng lại.

Khi Dung Thân Vương nghĩ rằng đại công cáo thành rồi, đang chờ uống thì hắn lại dùng nước nóng xối lên hũ, thứ nhất là dùng hơi nóng bên ngoài cùng bên trong ủ trà, thứ hai là loại bớt bọt trà. Sau đó, hắn xối chút nước sôi vào trong chén trà, nước trong bầu đã đủ hỏa hậu, rốt cuộc đã có thể rót trà kính khách.

Nhìn hai tay Tần Lôi múa như hồ điệp xuyên hoa, Dung Thân Vương hoa mắt ngẩn người, không hề cảm thấy buồn chán chút nào.

Tần Lôi hạ độ cao cực thấp, dùng tốc độ cực nhanh đưa ấm trà như bánh xe rót đầy một dãy chén trà, cuối cùng đưa tay mời.

Dung Thân Vương nhấc lên một ly, nhìn nước trà màu da cam sáng rực, lá hồng xanh thấp thoáng thật đẹp. Y đưa chén lên trước chóp mũi ngửi hương thơm ngào ngạt, hơn hẳn hoa lan mà lại thâm trầm kéo dài, lại đưa lên môi khẽ nhấp một chút, chợt cảm thấy tư vị nùng thuần thanh hoạt, ngọt ngào dễ chịu, nồng mà không gắt, không nhịn được phải khen ba tiếng:

- Ngon! Ngon! Ngon!

- Tốt thế nào?

Tần Lôi vừa say mê thưởng trà vừa cười hỏi.

- Trà ngon, tay nghề tốt, hương vị tuyệt!

Dugn Thân Vương vui lòng phục tùng. Không thể không thừa nhận, ăn chơi nghe chừng rất có phẩm vị.

- Không tưởng được Điện hạ là tri âm của Cô Vương đó! Ha ha, ngài có biết nghệ thuật uống trà này tinh túy ở đâu không?

- Đặc điểm không ít.

Dung Thân Vương thuộc lòng kể:

- Nóng, nhỏ, chậm, kéo, đợi..

- Tinh túy nhất là ở đâu?

Tần Lôi lại nhấc chung trà lên mỉm cười hỏi.

- Quan trọng nhất là một chữ nóng. Từ nấu trà đến ủ trà, đều không thể rời khỏi chữ nóng này.

- Điện hạ rất rành đấy.

Tần Lôi dựng ngón cái khen:

- Trà nhờ nóng mà thơm, cho nên phải uống lúc nóng.

- Không sai, trà nguội rồi uống còn không bằng nước trắng.

Dung Thân Vương thâm sâu gật đầu, xem bộ dáng y như đã tìm được tri kỷ.

Hai người thấm tắc có tình có vị uống mấy vòng, tới tận khi bên ngoài trướng có tiếng Bôi Cung Thuần báo cáo:

- Vương gia, đã kiểm kê xong, số lượng chính xác, tỷ lệ cũng chuẩn.

Tần Lôi gật gật đầu với Dung Thân Vương:

- Trong số ngày ngài có bao nhiêu?

- Năm vạn lượng.

Dung Thân Vương cúi đầu buộc bực uống trà:

- Ta chi tiêu khá lớn.

Tần Lôi trầm giọng nói với bên ngoài:

- Đếm ra năm vạn lượng, đưa cho thân binh của Dung Thân Vương đi.

- Làm cái gì vậy?

Dung Thân Vương giật mình hỏi.

- Đời này có một tri âm là đủ.

Tần Lôi chân thành:

- Cô đã coi ngài là bằng hữu rồi, sao còn có thể lấy tiền của bằng hữu chứ?

Mới hôm qua, Dung Thân Vương vừa hận vừa sợ hắn, nhưng Tần Lôi hôm nay diễn một hồi khiến cho can qua trong lòng y tiêu hết, vui mừng vô hạn:

- Đã đưa ra ngoài rồi làm gì còn đạo lý thu lại? Điện hạ cứ cầm đi.

- Có phải không coi ta là bằng hữu không? – Tần Lôi cả giận hỏi.

- Được được, ta nhận lấy là được chứ gì?

Dung Thân Vương tâm hoa nộ phóng: Thực là bằng hữu chí cốt mà.

Chương 569: Bắc thượng Thái Hành Sơn, gian tai hà nguy nguy!

Coi nhân gian thiên hạ như bàn cờ, điều khiển Vương hầu, coi vạn triệu sinh linh là quân cờ, thay đổi phân hợp đại thế, vận mệnh thế nhân là ván cờ, đây là người đánh cờ.

Có thể có tư cách ngồi bên bàn cờ đã là người cao nhất thế gian… Cao nhất này không chỉ là địa vị cao nhất thiên hạ, còn phải có trí tuệ không ai sánh kịp, hơi thở mang theo cả thiên địa. Chỉ có như vậy mới có thể xuyên qua sương mù nhìn thấu sự thật, nhìn trời xanh nhận ra đường hướng, mới có thể không so đo lợi hại trước mắt mưu họa bố cục tương lai.

Thiên hạ này, người có thể hát khúc Liên Hoa Lạc nào có mấy ai!

Cho dù là Tần Lôi, mặc dù ở trong nước hắn vênh mặt hất hàm, không ai địch nổi, cũng không có tư cách chơi bàn cờ này. Là vận luôn không buông tha cho hắn, đẩy hắn lên đầu sóng ngọn gió liên quan đến sinh tử Đại Tần, là ý chí dũng cảm không lùi, nên hắn mới gánh vác lấy vận mệnh hưng vong của Đế Quốc.

Khi đang đeo cái trách nhiệm nặng nề kia trên lưng, hắn cũng đang lặng lẽ đánh bàn cờ quyền lực thiên hạ này!

Thời thế tạo anh hùng, nhưng nếu muốn thành đại sự, anh hung thuần túy không đủ.

Ngoại Thánh nội Vương, mưu lấy quyền lực, đây là chiến lược Nhạc Bố Y vạch ra cho hắn.

Cho dù là thuốc đắng giã tật, cho dù có vi phạm bản tâm, nhưng nếu muốn đánh tốt bàn cờ này thì nhất định phải làm…

Vừa được thưởng thức trà đạo cao tuyệt, lại thu về được năm vạn lượng bạc, đương nhiên lòng Dung Thân Vương nở đầy hoa, nhìn Tần Lôi cũng vô cùng thuận mắt, mở miệng là hô huynh gọi đệ:

- Có việc gì cứ phân phó, chỉ cần có thể làm, Cô Vương tuyệt đối nghiêm túc.

Thấy y nói vậy, Tần Lôi cũng vui vẻ cười đáp:

- Đúng là có một chuyện muốn làm phiền Điện hạ.

Hắn lại châm một vòng trà, vươn tay mời:

- Đương nhiên là không có gì nguy hiểm, cũng không có khó khăn, nhiều nhất chỉ có chút bôn ba lao khổ thôi.

Dung Thân Vương vân vê ly trà, đặt lên miệng nhấp nhẹ môi, ánh mắt nhìn theo Tần Lôi đang múa trên bàn trà:

- Chẳng lẽ muốn Cô Vương hộ tống quý quân xuất cảnh?

- Không sai. Ha ha, tuy hai nước đã khôi phục hòa bình, nhưng quý dân cũng khó tránh khỏi có vài phần đối địch với quân ta, dọc đường đi sẽ xảy ra chút phiền toái không cần thiết, sẽ có chút trở ngại tới bang giao.

- Yêu cầu này cũng hợp lý.

Dung Thân Vương khẽ trầm ngâm:

- Chỉ là, chuyến đi này lấy danh nghĩa gì mới có thể không tổn hại đến thể diện triều đình... và da mặt Cô Vương?

Tần Lôi hơi gật gật đầu:

- Cái này đơn giản, quân đội nước Tần đông như vậy đi qua cảnh nội, chẳng lẽ không phái đoàn quan sát sao?

Chú trọng thực lợi, chứ không phải mặt mũi, đây là điểm khác nhau giữa Tần Lôi và người khác.

- Cái này…

Thật không ngờ Tần Lôi sẽ sắp xếp cho mình bậc thang tốt như thế, sắc mặt Dung Thân Vương trầm tĩnh lại, chậm rãi gật đầu:

- Cũng là có ý tứ.

Y lập tức đồng ý với yêu cầu của Tần Lôi. Đối với loại đại nhân vật thanh quý như Thân Vương Điện hạ thì mặt mũi quan trọng hơn tất cả.

- Còn cả các Vương công quý tộc ra tiền nữa.

Tần Lôi cười tủm tỉm:

- Ngài cũng bảo họ tới nhé, chỉ cần tới biên cảnh sẽ trả hết bạc lại.

Hắn hơi nâng chén với Dung Thân Vương:

- Hai nước có thân thiết chúng ta mới có ngày lành.

- Đúng vậy, ai muốn đánh nhau chứ!

Dung Thân Vương đồng ý sâu sắc, uống cạn chén đại hồng bào, đứng dậy cười nói:

- Ta sẽ về bàn bạc với Hoàng huynh!

- Cô Vương sẽ chuẩn bị tôt trà thơm, kính chờ tin lành.

Tần Lôi cười nhạt.

Theo sử sách, năm Chiêu Vũ thứ mười chín, trong đại chiến Tần Tề, nước Tề dụ địch xâm nhập, đóng cửa đánh chó, nhốt quân chủ lực quân Tần trong nước, ý đồ một lần vất vả diệt hết cường Tần.

Đầu chiến dịch, mọi thứ đều nằm trong kế hoạch của Thống soái quân Tề Triệu Vô Cữu. Trước hết quân Tề giả bại ở Lạc Thủy, lại bại ở Hổ Lao Quan, lại bại ở thành Mục Dã, dẫn dụ quân Tần đang cuồng vọng tự đại tới vùng đồng hoang Mục Dã, cũng nhờ một trận phản kích thành công mở màn cho chiến lược phản công.

Nếu theo như kịch bản gốc của Bách Thắng Quân, quân Tần đại bại sẽ tan rã, lại bị sông lớn cản đường, hoặc là sẽ nhảy sông tự sát, hoặc là sẽ chạy loạn tứ phía, hoặc quỳ xuống xin hàng… Nhưng vô luận là kết cục nào, vận mệnh tan tành mây khói của bốn mươi vạn quân tinh nhuệ Đại Tần cũng sẽ chỉ có một coi như đã định. Thực lực nước Tần coi như cũng hết…

Nhưng nào ngờ biển đông dậy sóng, Tần Vũ Điền ngang trời xuất thế! Hắn với tư thế cường ngạnh khác thường chặn lại truy kích của quân Tề, dùng mị lực cá nhân vượt quá sức tưởng tượng của mọi người ngưng tụ đám binh sĩ vốn đã không đoàn kết, suất lĩnh bọn họ đập nồi dim thuyền tử chiến đến cùng, phát động nghịch tập kinh thiên địa khiếp quỷ thần! Lấy được một thắng lợi vốn không thể có!

Một trận chiến trên vùng đồng hoang Mục Dã đã kéo hết quân Tần đang ở bên bờ vực lại, một lần nữa cho Đế quốc Đại Tần cơ hội đánh cờ thiên hạ, rẽ ngoặt lịch sử ban đầu theo một hướng khác. Mà Tần Lôi một tay hoàn thành được nhiệm vụ không tưởng đó cũng có được uy danh hiển hách, từ nay về sau, vượt qua tục thế, trở thành truyền kỳ.

Có được thành tựu truyền kỳ này, ngoài vì đã đưa được hai mươi vạn quân Tần khỏi hiểm cảnh, nguyên nhân quan trọng hơn, là hắn đã đánh bại Triệu Vô Cữu, đánh bại Bách Thắng Công bất khả chiến bại trong thần thoại… Một thần thoại mới bắt đầu, luôn có một thần thoại khác mai một dần đi, đây là một sự thật không thể thay đổi.

Ngày mồng một tháng chín, Tần Lôi suất quan vây quanh thành Thượng Kinh của nước Tề, vây thành ba ngày khiến cho nước Tề phải ký kết hòa ước bất đắc dĩ, ngưng chiến đền tiền, dùng quân lễ đưa tàn quân Đại Tần đang trong hiểm cảnh khỏi Đại Tề, sử gọi “Hòa ước Thượng Kinh”.

Ngày mồng ba tháng chín, ngân lượng giao xong, quân Tần bắt đầu rút quân theo hướng đông, đi theo còn có Dung Thân Vương dẫn đầu đoàn quan sát của nước Tề. Tuy ngoài năm ngàn vệ binh chỉ có hơn năm trăm người, nhưng trong đó có hơn ba mươi Bá tước, hơn năm Công tước, còn cả hai Vương tước! Tuy cách cực cao, chưa từng nghe thấy!

Đối với quý tộc nước Tề vốn thiếu thú vui thì việc này coi như một lần đi chơi xa, sẽ là câu chuyện để tán hươu tán vươn với người ta sau này, còn có mười tám vạn lượng bạc kia nữa. Bọn họ cũng không lo lắng quân Tần sẽ trở mặt bắt cóc tống tiền, bởi theo như hiệp nghị, bọn họ chỉ cần đưa người quân Tần đến Dương Tràng Phản là được, đó là tiền tuyến xa nhất của hai quân Tần Tề, có năm vạn tinh nhuệ quân Tề đóng đó, còn sợ quân Tần gây ra sóng gió gì sao?

Mà sở dĩ Tần Lôi muốn đám vương công này đi theo, thứ nhất là tránh bị dân Tề dọc đường quấy rầy. Nếu bị quấy rầy ngày đêm không yên, ăn không ngon, ngủ không yên, chỉ sợ đi hết hành trình ngàn dặm, bộ đội sẽ chỉ còn cái vỏ rỗng, làm gì còn sức chiến đấu?

Thứ hai cũng là vì muốn cho đám quý tộc nước Tề chút từng trải. Kẻ địch dù sao cũng là kẻ địch, Tần Lôi không hy vọng xa vời qua con đường này có thể biến mấy kẻ này thành Tần phái, nhưng có đoạn đường này, nhất định lòng người sẽ lẳng lặng có xảy ra biến hóa. Nếu có một ngày quân Tần thật sự lâm thành, vây thành Thượng Kinh, ý chí của những người này sẽ không quá kiên định, mới cho hắn cơ hội để lợi dụng.. Trước mắt xem ra đây là một nước cờ rảnh rỗi, nhưng chính vì như vậy nên mới không bị ai nhìn thấu.

Đối với thành lũy chắc chắn, công phá từ bên trong là biện pháp tốt nhất. Đây là niềm tin của Tần Lôi.

Phòng ngừa chu đáo, còn hơn lâm trận mới mài gươm. Đây là một niềm tin khác của Tần Lôi.

Bởi vậy, hắn dùng quy cách cao nhất để chiêu đãi những người này. Dọc được bảo mã hương xa rượu ngon nồng đậm, ngắm sông núi Đại Tề, cho chư vị vương công vui mà quên phản.

Được hộ tống cấp bậc cao, một đường biển lặng sông êm, thái bình vô sự, chỉ nửa tháng đã đi hết lộ trình ngàn dặm, tới Thái Hành Sơn trong cảnh nội huyện Hũ Quan phủ Trường Trì. Lúc này là tháng mười đầu đông, gió bắc cuốn mù, cỏ cây héo rũ, ban đêm bắt đầu kết băng…

Đại quân bèn đóng quân tu chỉnh ngoài huyện Hũ Quan, chuẩn bị bước nốt bước cuối cùng trước khi về nước, cũng là đoạn lộ trình hung hiểm nhất: Đại hạp cốc Hồ Quan.

Hạp cốc Hồ Quan do Ngũ Chỉ hạp, Long Tuyền hạp, Vương Mãng hạp và Tử Đoàn Sơn tạo thành, cả đoạn đường đều là sườn treo vách đứng, trừ bỏ mấy khúc đường núi nhỏ hẹp quanh co như cổ họng thì chỉ có sạn đạo treo cheo leo trên vách núi, độ hung hiểm không thau gì Thục đạo, có thơ của Tào Thừa tướng làm chứng:

Bắc thượng Thái Hành Sơn

Gian tai hà thôi nguy.

Dương Tràng Phản cật khuất,

Xa luân vi chi tồi.

Thủy thâm kiều lương tuyệt,

Trung lộ chính bồi hồi.

Mê hoặc thất cổ lộ.

Bạc mộ vô túc tê.

Mạnh Đức huynh xưa nay vênh váo tận trời xem thường anh hùng thiên hạ, khi suất quân tây thu, tấn công chiếm cứ Hồ Quan thì không che giấu nổi uất ức trong lòng mà đành phải quay về. Bài thơ « Đông Sơn » kia khiến ta buồn bã, thở dài, có thể thấy được Hồ Quan hạp sâu hiểm cỡ nào, vượt qua được lạch trời khó khăn cỡ nào.

Chương 569.1: Bắc thượng Thái Hành Sơn, gian tai hà nguy nguy!

Mà nay Tần Lôi cũng đang đứng ngoài hạp cốc khiến cho thiên cổ kiêu hùng phải đau khổ khó qua. Năm tháng vội vàng, ngàn năm thoắt cái, Tào Công cùng sự thống trị của ông ta đã bị gió táp mưa sa cuốn đi, nhưng con đường hiểm trở, hoàn cảnh ác liệt, thậm chí là khí hậu rét lạnh nơi này chưa bao giờ thay đổi. Đứng trong doanh địa, ngóng nhìn xa xa rặng núi rậm rạp, không biết con đường phía trước thế nào, Tần Lôi khẽ thở dài:

- Đi trăm dặm đường dễ qua chín mươi. Con đường phía trước thật khó khăn mà!

- Vương gia không cần phải lo nghĩ nhiều.

Tướng lãnh bên cạnh trấn an:

- Có nhiều vương công quý tộc đồng hành cùng chúng ta như vậy, còn sợ gì nhiễu loạn hỏng việc chứ?

Chậm rãi lắc đầu, Tần Lôi kéo bảo kiếm bên hông, trầm giọng nói:

- Mới hôm trước ta nhận được mật báo, Thượng Tướng quân nước Tề Tân Giá Trang đã phụng lệnh Triệu Vô Cữu, nửa tháng trước đã đuổi tới Dương Tràng Phản, tiếp chưởng quyền chỉ huy chiến tuyến hạp cốc nước Tề. Haizz, các ngươi nói xem, điều này có nghĩa là gì?

- Nếu chỉ là giữ môn hộ, chỉ cần hạ lệnh cho tướng thủ thành phòng thủ thật nghiêm là được.

Dương Văn Vũ khẽ nói:

- Lại phái một Thượng Tướng quân tới, chỉ sợ toan tính không ít.

- Mưu đồ cái gì?

Đại Hoàng tử đã ở bên cạnh cau mày:

- Hiển nhiên Triệu lão tặc tà tâm bất tử, không muốn để cho chúng ta nhẹ nhàng về nước như vậy!

- Chẳng lẽ lão không để ý đến tính mạng bao nhiêu vương công vậy sao?

Xa Dận Quốc khó tin hỏi.

La Vân lắc đầu:

- Tuy Triệu Vô Cữu làm việc không kiêng sợ gì, nhưng chôn vùi đám người Dung Thân Vương thì lão vẫn không dám.

Đám vương công đó bao gồm cả các đại môn đại phiệt giàu có của nước Tề, làm sao Triệu Vô Cữu dám đắc tội nổi?

Gật gật đầu, Tần Lôi thản nhiên nói:

- Cô Vương đã bỏ một đống bạc ra không phải để mời bọn họ du sơn ngoạn thủy.

- Nhưng nếu quân Tề bí quá làm liều thì sao? – Tần Lịch trầm giọng hỏi – Vách đá sạn đạo không thiếu nhất là nơi hiểm yếu chứa vạn người! Bọn họ có thể cho một đội ngũ mạnh mai phục ở Hồ Quan và Dương Tràng Phản, chờ đoàn quan sát vừa đi, sẽ đánh quân ta.

Tần Lôi gật đầu cười nói:

- Đại ca lo lắng rất đúng.

Nghĩ tới khả năng sẽ bị chặn đánh trên sườn treo vách đứng, chúng tướng kinh hồn táng đảm, sắc mặt ai nấy đều đanh lại.

Tần Lôi lại nhìn sang Thái Hành Sơn lồng lộng, nhìn dãy núi xanh mướt rộng lớn, không nói gì nữa.

Thấy không khí hơi nặng nề, Tần Lịch liền vẫy vẫy tay:

- Tất cả giải tán đi, nên làm gì thì làm đi.

Tuy không muốn nhưng chúng tướng cũng chỉ có thể thi lễ rời đi.

Chờ mọi người đi hết, nơi này chỉ còn lại hai huynh đệ Tần thị.

Tần Lịch bước tới bên cạnh Tần Lôi, cùng hắn nhìn dãy núi xa xa, tới tận khi đau hết vai cổ mới thấp giọng cười hỏi:

- Ngươi đang mỏi mắt chờ mong điều gì thế?

Tần Lôi lắc đầu:

- Không, lạnh cứng người.

Hai mắt Tần Lịch tỏa sáng:

- A, bắt đầu nói đùa rồi, vậy là có đối sách rồi hả?

Nghiêng nghiêng nhìn y, Tần Lôi thản nhiên nói:

- Đừng nhìn năm vạn tinh nhuệ dưới trướng Tân Giá Trang, lại chiếm được hạp cốc hiểm yếu mà nhầm, trong mắt huynh đệ ta, chỉ là đám gà đất chó kiểng thôi.

Không tưởng nổi Tần Lôi lại cuồng ngôn như vậy, Tần Lịch bật cười:

- Ta muốn nghe thử xem thế nào là gà đất chó kiểng?

- Ngươi xem bên cạnh ta thiếu người nào?

Tần Lôi giảo hoạt cười hỏi:

- Mấy kẻ mấy hôm trước cả ngày cứ lắc lư trước mắt ta ấy…

- Hình như thiếu mất hai người. Một người cả ngày mặt lạnh, một người mặt dài như ngựa, hình như từ khi rời thành Mục Dã không thấy hai người này.

- Đại ca rất cẩn thận đấy.

Tần Lôi gật đầu cười cười:

- Lần này quá quan cần chờ hai người này rồi!

- Hai tiểu tử kia thần thông vậy sao?

- Rốt cuộc thần thông hay không thần thông còn phải xem kết quả.

Tần Lôi lại nhìn dãy núi dài dằng dặc, nhẹ giọng nói:

- Địa hình rất phức tạp, chỉ hơi không cẩn thận sẽ gặp cảnh vạn kiếp bất phục.

Tần Lịch gật đầu đồng ý, trầm giọng nói:

- Nhưng đây cũng là điều kiện cho chúng ta sáng tạo ra chiến thắng kỳ diệu.

Đêm hôm đó, Tần Lôi vừa mới nằm ngủ, thì nghe tiếng Thạch Cảm khẽ báo:

- Trầm Băng tới.

- Vào đi!

Hắn khoác áo ngồi dậy, đốt đèn bão trên bàn.

Nương theo ngọn đèn lờ mờ, hắn nhìn thấy Trầm Đô Ti như dã nhân hiện ra trước mặt mình.

- Thế nào?

Tần Lôi không quan tâm vì sao Trầm Băng lại ra thế này, chỉ gọn gàng dứt khoát hỏi:

- Có khả năng công hãm không?

Trầm Băng vẫn trả lời ngắn gọn:

- Có! Nhưng cũng có thể thất bại.

Đoạn, gã cẩn thận báo cáo tình hình của Dương Tràng PHản và kế hoạch tác chiến mình và Mã Khuê đã định ra.

- Thiên binh thiên giáng chứ sao! Ha ha, nếu thành công, cái tên Trầm Băng ngươi sẽ được thế nhân nghe đến đấy.

Gã chỉ nhẹ giọng đáp:

- Nếu thất bại, kính xin Vương gia chiếu cố gia mẫu.

Trịnh trọng gật đầu, Tần Lôi trầm giọng đáp:

- Chuyện này ngươi không cần dặn.

Sáng sớm hôm sau, sương mù còn chưa tan, đại quân nước Tần liền nhổ trại vào núi. Tần Lôi xếp soái doanh ở hậu quân, đương nhiên đoàn quan sát cũng đi cùng hắn.

Hai mươi vạn đại quân, sáu vạn dân phu quanh co khúc khuỷu mà đi, vẫn mất thêm ít hôm nữa hậu quân của Tần Lôi mới vào được núi.

Nhìn một ngọn núi hình dáng như năm ngón tay vươn lên, hắn cười hỏi Dung Thân Vương bên cạnh:

- Núi này tên Ngũ Chỉ Phong sao?

Dung Thân Vương đã từng tuần tra qua nơi này, nghe vậy vươn ngón cái khen ngợi:

- Huynh đệ nói không sai, núi này tên Ngũ Chỉ Phong, ngay cả Ngũ Chỉ hạp cũng là lấy tên theo ngọn núi này.

Gã tả rành rẽ như lòng bàn tay:

- Ngũ Chỉ Phong hùng, kỳ, hiểm, u, đẹp, không chỉ có vách núi đen láng như dùng đao gọt búa bổ, còn có núi đá thiên kỳ muôn màu. Năm ngón tay mở rộng, duyên dáng yêu kiều tuyệt trần ai. Kinh đào hốt trướng nước trong xanh.

- Văn thải thật hay!

Các vương công nước Tề xung quanh đều vỗ tay khen:

- Cảnh trí đẹp!

Cũng có người tiếc nuối nói:

- Chỉ tiếc là không đúng lúc, nếu vào lúc xuân hạ, núi xanh biêng biếc, nươc chảy róc rách, chim hót hoa thơm, tươi mát dễ chịu, chẳng phải thật vui sướng sao?

Đoạn, họ ước hẹn tết Đoan Ngọ năm sau sẽ tới nơi này nghỉ hè. Thật sự coi chuyến đi này là một chuyến du lịch rồi.

Đi qua Ngũ Chỉ hạp, sơn đạo đột nhiên hẹp lại, dần dần không còn đường nữ mà cần phải nhờ vao san đạo cheo leo trên vách đá.

San đạo đó rộng không tới một trượng, uốn lượn kéo dài, tất cả mọi người xuống xe ngựa đi thật cẩn thận, khiến cho Tần Lôi nhìn mà phải run sợ. Nếu có một đội phục binh giết ra từ đây, thần tiên cũng không cứu được.

Các vương công nước Tề lại vẫn cứ hứng trí dạt dào, thậm chí vì muốn nghe tiếng vang trong sơn cốc có người thi thoảng còn hét lên mấy tiếng.

Đi dọc theo sạn đạo vài dặm, lại qua mấy cây cầu nối núi, thì tiến vào Long Tuyền hạp. Long Tuyền hạp có cửa khẩu cổ, tên Đại Hà Quan. Tương truyền, thời Tam quốc, Tào Tháo đuổi giết Cao Kiền, bắt đầu từ phá quan này tiến nhập Thái Hành Sơn. Mặc dù đã là chuyện quá khứ từ ngàn năm trước, nhưng vẫn có thể nhìn được ba chữ Đại Hà Quan, cũng có thể nhìn ra được cổ quan, cầu cổ, và dấu vết sạn đạo.

Khi chư vương công nước Tề nhớ lại tích này, cảm khái vạn lần, thì có tiếng vó ngựa dồn dập vang lên ngoài quan khẩu, có thám báo tiến vào, xoay người xuống ngựa bẩm báo:

- Khởi bẩm Vương gia, tiền quân gặp quân Tề mai phục, Đại Điện hạ đã tỏ chức phản kích, cũng xin mời Vương gia tới!

Gã vừa dứt lời, binh sĩ nước Tần đều rút đao phẫn nộ bao vây đám vương công nước Tề và bọn hộ vệ.

Tuy đám vương công nước Tề trốn sau bọn hộ vệ nhưng vẫn xám mặt, hiển nhiên vô cùng sợ hãi.

- Cô muốn được giải thích.

Nhìn Dung Thân Vương mặt cắt không còn hột máu, Tần Lôi thản nhiên hỏi.

Dung Thân Vương luôn ở bên cạnh Tần Lôi. Đột nhiên song phương giương cung bạt kiếm, thậm chí y còn chưa kịp né ra đã bị Tần Lôi nắm chặt cổ tay, chỉ có thể liên tục kêu oai oái:

- Ta cũng không biết mà !

Nhưng đây chỉ là câu nói vô nghĩa, y cũng không trông cậy Tần Lôi nghe lọt.

Ai ngờ Tần Lôi thực sự buông tay y ra trầm giọng hỏi:

- Ngươi thật sự không biets?

- Thật là nóng đó.

Xoa xoa cổ tay, Dung Thân Vương cười khổ:

- Chúng ta là nhân vật cỡ nào chứ? Mặc dù không dám nói nhất ngôn cửu đỉnh, nhưng chưa bao giờ nói láo.

Y rất hài lòng với thái độ của Tần Lôi.

- Vậy đã xảy ra chuyện gì ?

Tần Lôi phẫn hận hỏi :

- Chẳng lẽ là Triệu Vô Cữu kia to gan lớn mật muốn chư vị chôn cùng Cô Vương ?

Đám vương công nước Tề lập tức tin lời này, trong lòng thầm ân cần thăm hỏi Bách Thắng Công tùy ý làm bậy vô tình vô nghĩa một trăm lần.

- Ý Vương gia là sao?

Thấy sắc mặt Tần Lôi khó coi, Dung Thân Vương nhỏ giọng hỏi thử. Chư vị vương công cũng rất cẩn thận chờ hắn trả lời. Bọn họ chỉ lo hắn sẽ lấy bọn họ ra làm lá chắn mở đường.

Lấp lánh nhìn mọi người đánh giá một hồi, đột nhiên Tần Lôi cười ha ha:

- Sợ Cô Vương lấy các người ra làm con tin sao?

- Không dám không dám….

Mọi người ngượng ngùng cười, ánh mắt tràn ngập vẻ cầu xin.

Chương 570: Thiên binh thiên giáng

- Chư vị quá lo rồi, các ngươi là khách quý của Cô Vương, ít nhất đến hôm nay vẫn là.

Tần Lôi cười hảo sảng:

- Cô Vương không giống với Triệu Vô Cữu xuất thân binh lính kia!

Hắn đổi giọng kiêu ngạo:

- Cô là quý tộc hậu duệ Thiên hoàng, là Thân Vương một nước, sao có thể xuống tay với bằng hữu của mình?

Mọi người đều gật đầu, bất giác sinh ra lòng hảo cảm, liên tục tán dương:

- Vương gia cao thượng!

Tần Lôi cười ha hả:

- Các ngươi không cần khiến cho ta phổng mũi, hiện giờ Cô Vương tha cho các ngươi rời đi.

Đoạn, hắn vung tay lên, quân Tần tách ra một con đường, cho các vương công quý tộc kia rời đi.

Các Vương công quý tộc nước Tề đồng loạt thi lễ với Tần Lôi rồi bắt đầu thối lui. Dung Thân Vương đi tới trước mặt hắn, lưu luyến yêu quý vương vấn:

- Tề Dân ta sẽ nhớ kỹ tấm lòng cao thượng của Huynh đệ. Tương lai mặc kệ hai nước Tần Tề thế nào, ta sẽ vẫn nhận ngươi làm Huynh đệ.

Tần Lôi nắm thật chặt tay y, mắt hổ rưng rưng:

- Đại ca, chúng ta kết bái chứ?

- A…. A…. A…

Dung Thân Vương thật không nghĩ tới Tần Lôi lại có bản lĩnh đến thế, nào không biết xấu hổ sửa miệng, đành phải ấp úng chối:

- Nơi này không có hương án gà trống, cũng không có giấy vàng cống phẩm, không có dụng cụ.

- Ai, đại ca câu nệ rồi.

Tần Lôi chân thành thuyết phục:

- Cổ nhân nói, mượn đất làm hương, quý ở tâm thành! Ta và ngài tương giao tâm đầu ý hợp, đã sớm tình như thủ túc, nào có chịu để những thứ khuôn sáo này ước thúc?

Hắn lôi kéo Dung Thân Vương quỳ hướng phía bắc, nắm đất làm hương, bắt đầu quỳ lạy các bậc tiền bối thần linh.

Nhất bái Bá Nha Tử Kỳ, để được tình tri âm, nhị bái Liêm Pha Tương Nhi, để được tình vẫn cảnh, tam bái Trần Lôi Trọng Nghĩa, để được tình thành giao, tứ bái Nguyên Bá Cự Khanh, thành tình kê thử, năm bái Giác Ai Bá Đào, để có tình xá mệnh, sáu bái Lưu Bị Quan Trương, xin chứng tình sinh tử, bảy bái Quản thúc Trọng Nha, chứng cho tình quản bảo, tám bái Khổng Dung Nỉ Hành, xin được tình vong niên!

Sau tám bái kết thành tình thủ túc, tình Huynh đệ nghĩa cứng hơn vàng.

Tần Lôi thả cho Dung Thân Vương ngồi thẳng lên, kích động gọi:

- Đại ca…

-….huynh đệ.

Dung Thân Vương cứ u u mê mê như vậy mà nhận huynh đệ, hiện giờ y cảm thấy mình cực kỳ ngốc. Nhưng rất nhiều năm sau, tám bái Huynh đệ này lại là chuyện cả đời y đắc ý nhất.

Tiễn vị ca ca mới kết nghĩa vẫn còn đang choáng váng đi, vừa xoay người, Tần Lôi đã thu lại nụ cười, trầm giọng hỏi:

- Hắc giáp binh mai phục xong chưa?

- Vừa rồi câu kỵ đã sai người báo lại, Hắc giáp binh đã ẩn nấp trong Ngũ Chỉ Hạp.

Thạch Cảm nhẹ giọng đáp:

- Chỉ cần thấy tín hiệu sẽ lập tức phong tỏa đường đi, nhốt đám vương công nước Tề này trong núi.

- Nói với câu kỵ theo dõi kỹ bọn họ.

Tần Lôi lạnh lùng nói:

- Chỉ cần hơi có dị động lập tức giết không cần hỏi!

- Vâng!

Thạch Cảm trầm giọng đáp ứng, rồi đi xuống truyền lệnh.

- Vương gia, ngựa đã chuẩn bị tốt.

Tần Cầu lăn tới bên cạnh Tần Lôi ồm ồm báo. Trong trận chiến ở vùng đồng hoang Mục Dã, gã đã để lại ấn tượng sâu sắc cho Tần Lôi. Sau trận đó, gã được rút ra khỏi quân đoàn số ba, gia nhập Hắc Y Vệ, quan hàm cũng thăng làm Thượng sĩ.

- A…

Tần Lôi gật gật đầu, lật mình nhảy lên ngựa, được Hắc Y Vệ vây quanh tiến vào Dương Tràng Phản.

Dương Tràng Phản chính là hiểm đạo mà muốn đi về được phương bắc nước Tần phải đi qua. Nơi này đường đi nhỏ hẹp, quanh co như ruột dê, nên mới có cái tên đó. Mà tên vốn có của nó là Sơn Thượng Tà Pha (sườn dốc trên núi), tên như nghĩa, nghe cũng hiểu, con đường hẹp như ruột dê này là một sườn dốc rất đứng. Thật thần kỳ là, trên đỉnh sườn dốc là một mặt phẳng kéo dài hơn mười dặm, nơi lớn nhất có thể chứa mấy vạn người.

Chúng ta chỉ cần nhìn một cách đơn thuần, nước Tề có huyện Hũ Quan, mà nước Tần không có, là có thể đoán được hũ quan hùng vĩ hiểm trở trên Thái Hành kia là thuộc nước Tề. Sự thật đúng là như vậy, nước Tề có được Hũ Quan hơn một trăm năm, nhưng năm mươi năm trước đã bị nước Tần cướp mất.

Để phòng bị cường Tần, nước Tề đành phải phá hủy mười tám bàn sạn đạo giữa Hũ Quan và Dương Tràng Phản, lại dựng thành lũy dọc sườn dốc trên Dương Tràng Phản, trấn giữ con đường nhỏ hẹp này. Sau này, hai nước thôi binh nghị hòa, lại sửa mười tám bàn, một lần nữa khôi phục giao thông phương bắc Tần Tề.

Đi liền với tiện lợi thì người nước Tề vẫn luôn cảm thấy bất an với quân Tần ở Hũ Quan. Bọn họ nhận thức được, một tòa thành lũy không thể thỏa mãn yêu cầu phòng ngự, liền tu kiến quân doanh trên bình đài đằng sau thành lũy. Một khi quan hệ giữa hai bên trở nên gay gắt, bốn vạn bộ đội biên phòng trú đóng trong huyện Hũ Quan sẽ lập tức chạy vào Dương Trang Phản, tiến vào chiếm giữ quân doanh, nhập với một vạn quân đội thường trú trong thành lũy, ngăn cản quân bước chân đông chinh của quân Tần.

Có thể nói, gặp phải sách lược này, quân tần ở quân doanh hơn bốn mươi năm vẫn không chiếm được Hũ Quan khẩu, vẫn không thể vươn xúc tu tới nước Tề. Các tướng lãnh đông thu các đời không biết bao nhiêu lần bất lực, chỉ hận không thể mọc thêm hai cái cánh bay qua nơi Dương Tràng Phản thiên hiểm này!

Nhưng tướng lãnh nước Tề lập nên phòng tuyến Dương Tràng Phản này trăm triệu lần không ngờ được người nước Tần lại ngang nhiên đâm một kích từ đằng sau lưng, cho nên phòng tuyến đằng sau xa xa không bằng mặt trước. Hơn nữa, hiện tại tướng lãnh quân Tề vẫn đang đắm chìm trong giấc mộng đẹp về tòa thành lũy không thể công hãm, không ý thức được chỗ thiếu hụt này.

Tệ hơn là, Tần Lôi đam mê xem bản đồ lại nhận ra được nhược điểm này.

Khi Thành Thân Vương Điện hạ ở trên vùng đồng hoang Mục Dã đang đau khổ suy tư tìm đường ra cho đại quân tổng hợp lại các con đường, bắc theo U Châu, theo thảo nguyên về nước, nam vượt Hoàng Hà, theo Hổ Lao Quan về nước, hay tây tới Thái Hành Sơn, theo Hũ Quan về nước, ba đường này, hắn lựa chọn con đường Hũ Quan ít khó khăn nhất.

Bắc thượng, đường sá xa xôi, còn có mười lăm vạn đại quân phòng bị du mục thảo nguyê của quân Tề. Xuôi nam không chỉ phải qua sông lớn, còn chắc chắn sẽ gặp phải quân chủ lực của Triệu Vô Cữu. Cả hai đều là nan đề khó giải.

So với Thái Hành Sơn phương bắc sừng sững gian khổ, chính là con đường bảo đảm nhất trong ba đường….

Hơn nữa Mã Khuê cũng bọn phỉ của gã đã vào Thái Hành Sơn làm cướp đã lâu, tốt xấu gì cũng được tính là nửa địa chủ, cũng còn có thể vãn hồi vài phần địa lợi phải không?

Nếu chọ Hũ Quan, Tần Lôi liền phái ra Trầm Băng suất lĩnh thám tử xuất sắc am hiểu tác chiến đặc thù, tổng cộng hơn ba trăm người, theo Mã Khuê lẻn vào Thái Hành Sơn, âm thầm rình ở Dương Tràng Phản, chuẩn bị cho một kích trí mạng.

Khi Tần Lôi dẫn theo hai mươi vạn đại quân quanh co ngàn dặm trong cảnh nội nước Tề đốt giết đánh cướp thì Trầm Băng và Mã Khuê đang vội vàng trèo non lội suối, đêm đi ngày nghỉ trong Thái Hành Sơn, rốt cuộc ngày một tháng chín, cũng chính là khi Tần Lôi đang vây thành Thượng Kinh, đã tới được đỉnh Liên Hoa Phong đối diện Dương Tràng Phản, từ trên cao nhìn xuống giám thị hành động quân Tề.

Khe sâu trong núi rất hẹp, từ đỉnh Liên Hoa đến quân doanh Dương Tràng Phản chỉ cách nhau chừng chưa đến mười trượng theo đường chim bay, quân đội Trầm Băng tiềm phong trong đỉnh Liên Hoa mà trong quân doanh nói gì cũng có thể nghe rõ ràng. Nhờ vậy, Cũng tương đương, nhất cử nhất động của bọn Trầm Băng cũng rất dễ bị bại lộ trước quân Tề.

Sau gần một tháng, bọn Trầm Băng làm bạn với hổ báo sài lang, lấy nước suối rễ cây làm thức ăn, không tiếng động, không xôn xao, không nhóm lửa, thậm chí ban ngày không động không cựa, ẩn nấp hơn hai chục ngày ngay trên đỉnh đầu quân Tề mà không bị phát hiện.

Đợi gió bắc cuốn lên, lá vàng rơi rụng, quân Tề ở Dương Tràng Phản đang chuẩn bị đối phó với chủ lực quân Tần, một cách rất tự nhiên, họ coi đỉnh Liên Hoa là trung tâm của khu vực an toàn, hoàn toàn nằm trong giới tuyến, phơi bày hết phòng tuyến lõa lồ không chút phòng bị cho ba trăm quân Tần trên đỉnh Liên Hoa.

Buổi chiều trước khi phát động, Trầm Băng lặng lẽ một mình trốn khỏi đỉnh Liên Hoa, từ Ngũ Chỉ Hạp rời đại hạp cốc, gặp Vương gia của mình, đem về mệnh lệnh “giờ dần hành động” cho ba trăm dũng sĩ trên đỉnh Liên Hoa.

Tần Lôi chú trọng tùy theo thế mà phát triển, hắn lựa chọn thời điểm này là vì hắn biết tin quân Tề đã phát hiện ra động tĩnh ở Dương Trường Phản, liền nhân lúc trời tối xuất binh theo hướng tây, đến tầm giờ tí thì dốc hết hơn bốn vạn quân đội khỏi quân doanh, mai phục tại mười tám vị trí quanh Vương Mãng hạp, chuẩn bị phục kích quân Tần sẽ đi ngang qua. Mà cuối giờ dần đầu giờ mẹo sẽ xuất quân, quân doanh trống trơn, bộ đội ở lại thủ thì đang ngủ say, là lúc buông lỏng cảnh giới nhất.

Cũng phải nói Tân Giá Trang bàn tính thật kỹ. Gã tính toán sẽ tách quân Tần ở Dương Tràng Phản làm đôi, đến lúc đó chỉ cần nhét đám điểm tâm phế vật kia vào trong Dương Tràng Phản là có thể buông tay mà đánh không cần cố kỵ gì.

Như vậy, tây có bốn vạn quân đội ở Vương Mãng hạp, đông có thành lũy ở Dương Tràng Phản vạn người khó qua, cho dù không thể diệt hết quân Tần chí ít cũng có thể cắt ngang, lại dùng năm vạn biên quân đã chạy tới, cũng có thể quét sạch!

Tân Giá Trang tính tính toán toán đâu ra đấy, lại quên mất câu bọ ngựa bắt ve sầu chim sẻ rình sau lưng, không biết rằng, khi mình đang tính kế người khác, thì người khác cũng đang tính kế mình. Khi quân Tề phóng ra toàn bộ, đội mai phục ở đỉnh Liên Hoa sắp biến thành dã nhân đã bất ngờ hành động, như thiên binh thiên giáng.

Tuy quân Tề đã xuất động phần lớn quân oddoij, nhưng vẫn có hơn tám ngàn quan binh ở lại trong thành, bởi vậy, đội mai phục không dám mạo muội xông ra, mà chỉ phái từng phân đội nhỏ thăm dò trước khi hành động…

Giao quyền chỉ huy cho Mã Khuê, kiểm tra trang bị trên người lần cuối, Trầm Băng liền dẫn năm Hắc Y Vệ xung phong xuất phát. Với thân phận của gã, vốn không cần phải tham gia vào hành động nguy hiểm này, nhưng người này hiện tại cực kỳ không bình thường, luôn có vẻ sẵn sàng liều chết, cả đầu đều chất chứa ý niệm lấy công chuộc tội, không quản tới an nguy.

Nương theo bóng tối đen đen thẫm trước khi trời sáng, sáu người mặc áo đen thân thủ nhanh nhẹ lần mò xuống núi. Mấy người này hành động rất cẩn thận, chỉ e sợ sẽ kinh động đến quân coi giữ trong thành, rốt cuộc cũng mò tới bên dốc đá trên thành lũy. Dốc đá này cao chừng ba mươi trượng, cực kỳ lớn, từ trên nhìn xuống như thành giếng. Trầm Băng gật gật đầu với đám thủ hạ, mấy người liền tản ra tự tìm nơi có thể mượn sức như đá, thân cây.

Trầm Băng tìm được một cây tùng thân to như thùng nước, buộc dây thừng đen trên vai quanh thân cây, kéo kéo thử, tin chắc rất an toàn rồi mới cẩn cẩn thận thận thả dây leo xuống vách đá.

Động tác của gã cực kỳ thành thạo, mỗi lần đặt chân đều đạp vào nơi chắc chắn, giảm xóc cho bản thân, cũng không phát ra âm thanh gì, hiển nhiên đã thầm diễn tập trong đầu không biết bao nhiêu lần… Đương nhiên, cũng là nhờ đế giày được đặc chế.

Chỉ mất mấy hơi, Trầm Băng còn cách mặt đất không đến mười trượng. Gã hít sâu, hai chân đạp mạnh vào vách đá, nương theo lực đẩy thật mạnh bắn qua khe hở giữa hai vách núi, tới sườn dốc đối diện.

TrầmBăng lặng lẽ hạ xống, chân trượt một cái, suýt nữa thì rơi xuống vực sâu vạn trượng. Cũng may thân thủ gã rất khá, kịp bám chặt vào một gốc táo bên cạnh, mới đứng vững được.

Hít một hơi thật sâu, nương theo ánh sáng ảm đạm, gã có hơi sợ hãi nhìn nhìn, thì thấy mình đáp trên một tảng đá lớn láng trơn, trên đó chỉ có một khe nhỏ, chỉ cần hơi lỡ một cái sẽ rơi xuống vực sâu. Dù lúc này gió lạnh đang kéo hun hút tận xương thì gã vẫn toát một thân mồ hôi, âm thầm sợ hãi. Nhìn nhìn năm đồng bạn khác, thấy họ cũng đã bình yên chạm đất, thầm oán: Sao ta lại xui xẻo như vậy chứ?

Nghĩ linh tinh một tí cũng chỉ để bớt căng thẳng, rất nhanh, hắn điều tiết cảm xúc bình tâm lại, tiến về phía quân doanh trong Dương Tràng Phản. Chỉ chốc lát sau, năm Huynh đệ cũng lần lượt bò vào.

Sáu người cảnh giác lục tìm tứ phía, xác định không có quân Tề mới buộc sáu sợi dây thừng vào sáu gốc đại thụ, đồng thời giật giật ba cái!

Chỉ chốc lát sau, có tiếng gió rít vù vù, vô số bóng đen đếm không hết từ ngọn núi đối diện bay xuống, lướt qua khe hở đen thui giữa hai vách núi vững vàng dừng trên Dương Tràng.

Thật sự là thiên binh thiên giáng rồi!

Chương 571: Huyết chiến Dương Tràng Phản

Sau hơn năm mươi năm cải tạo xây dựng, thành lũy Dương Tràng Phản càng ngày càng lớn, dùng đá cứng làm gạch thay cho tường thành giản dị bằng bùn củi ban đầu. Còn về tiễn tháp, mái tường chắn, chiến hào, cầu treo, miệng cộng, vân vân, cần gì đều có, đã trở thành một tòa thành không thể phá vỡ.

Người nước Tề cực kỳ tự tin về năng lực phòng ngự của tòa thành này, thậm chí có thể to mồm tuyên bố: Đánh Thái Hành Sơn dễ, đánh Dương Tràn Phản khó!

Nhưng chưa bao giờ Tần Lôi tin rằng có một thành lũy không thể công phá, nhất thời chưa công hãm được là vì không tìm được phương pháp thích hợp mà thôi.

Hắn ngửi ra cơ hội từ trong lời nói của người nước Tề, quyết định tấn công tòa thành lũy khó công hãm nhất này… Phòng ngự chính diện quá cường đại sẽ khiến cho người nước Tề bất giác sơ hở nơi khác, cho dù là phòng bị tên bắn sau lưng, có lẽ sẽ bố trí ít phòng ngự ở mặt sau.

Không phải các ngươi muốn phục kích lão tử ở Vương Mãng hạp sao? Vậy lão tử chỉ có thể tiên hạ thủ vi cường, chiếm lấy thành Dương Tràng Phản của các ngươi, xem là ai vây ai!

Để đạt mục tiêu này, Tần Lôi giả vờ như thật mời Dung Thân Vương thành lập đoàn quan sát, khiến cho người nước Tề ảo tưởng rằng người nước Tần muốn dùng đám vương công kia làm con tin, và họ sẽ hành động dựa theo ngộ nhận này, tất sẽ lội ra sơ hở. Chỉ cần quân Tề dốc toàn bộ lực lượng hắn sẽ có cơ hội công hãm thành Dương Tràng Phản, chỉ cần có thể công hãm thành lũy ở Dương Tràng Phản, quân Tề đã dốc toàn bộ lực lượng sẽ tiến thoái lưỡng nan, ngoại trừ đầu hàng thì chỉ có thể nhảy xuống vực.

Đội quân thiên binh thiên giáng kia là chìa khóa mở cửa thành lũy Dương Tràng Phản của Tần Lôi! Nhận được tín hiệu dưới chân núi truyền lên, các đồng đội liền bắt móc thép vào dây thừng, thả người nhảy xuống vách núi đen, nhờ dây thừng trượt đến vách đá đối diện trên Dương Tràng Phản.

Sau gầnba mươi phút, hơn ba trăm người đều dừng lại.

Mọi người gỡ binh khí trên lưng xuống, ghép làm ba đoạn lang tiễn làm một, rồi lẳng lặng sờ sờ thành lũy.

Trầm Băng lại muốn xung phong thì bị một người áo đen buộc khăn đỏ đằng sau giữ chặt lại, khẽ nhắc:

- Giao cho du kỵ binh đi.

Nghe giọng nói kia chính là Tần Kỳ Thủy đặc lập độc hành.

Để đảm bảo lần hành động này phải thành công, Tần Lôi chọn những quan binh có thân thủ tốt nhất trong hệ thống quân núi Kinh vào đội đặc nhiệm này, trong đó có Tần Kỳ Thủy dẫn theo mười mấy thám cao cấp – du kỵ binh. Bản thân thám báo chính là tinh nhuệ được chọn từ trong quân rồi, chỉ có các thám báo tinh thông tất cả các kỹ thuật dò hỏi, ám sát, ẩn nấp, đột phá mới có tư cách được tấn thăng làm thám báo.

Do dự một chút, Trầm Băng gật gật đầu, trả đường cho Tần Kỳ Thủy và đám du kỵ binh.

Hắc y nhân buộc khăn đỏ nhìn lướt qua đại bộ đội, bước tới gần thành lũy xây thật cao.

Bởi vì chưa từng nghĩ tới sẽ có người tấn công từ đằng sau thành lũy. Trên con đường bằng phẳng thông vào đằng sau thành lũy chỉ có hai vệ binh đang ôm thương đang canh gác ôm thương ngủ gà ngủ gật.

Hai Hắc Y Vệ lặng lẽ không một tiếng động từ sau lưng tiếp cận họ, dễ dàng giải quyết hai vệ binh, sau đó nhè nhen đẩy cánh cửa khép hờ ra.

- Ai?

Bên trong, thủ vệ tỉnh ngủ thấp giọng hỏi.

- Ta.

Tần Kỳ Thủy không chút hoang mang đáp lời, nhấc chân đi vào,

- Ngươi….

Gã trả lời trấn định như vậy khiến cho thủ vệ bên trong buông lỏng cảnh giác. Khi thấy người tới là hai dã nhân cầm theo liên hoàn nỏ, hai thủ vệ kia ngây người, vừa định hỏi “Ngươi là ai?” thì đã bị Tần Kỳ Thủy bắn một phát trúng yết hầu.

Một người vùng vẫy giãy chết, một người dốc hết sức muốn trốn sang bên cạnh lại bị Tần Kỳ Thủy đá một cái ngã xuống, đầu đập vào vách tường, máu tươi chảy ra, nhưng không phát ra tiếng động nào.

Giải quyết hết bốn thủ vệ canh cửa trong ngoài, du kỵ binh có thể tự do vọt vào.

Chém giết mấy trạm gác cả sáng cả tối xong xuôi, họ quét sạch cả cầu thang lên thành, Trầm Băng liền dẫn đội đặc nhiệm nhanh chóng bò lên đầu tường thành.

Gập người đi treent ường thành, rất nhanh, họ đã vây quanh mặt bên trái thông đạo. Mục tiêu của bọn Trầm Băng – điều kiển cầu treo và miệng cống cửa thành – đang ở ngay phía trước.

Nhưng đoạn chính diện tường thành được quân Tề phòng ngự tương đối nghiêm ngặt, năm bước một bộ, mười bước một đội. Tới lúc này thì đội đặc nhiệm không thể che dấu hành tung được nữa, cùng với tiếng kêu sợ hãi của một vệ binh nước Tề, trận giáp lá cà bắt đầu.

Các bộ hạ của Trầm Băng không cúi người nữa, giơ liên hoàn nỏ và trường đao, lộ ra hết răng nanh và trảo sắc, tạo thành trận thế tam tài. Lang tiễn binh nhanh chóng vọt lên trước tất cả đồng bạn đứng trước đội ngũ, hai trường thương thủ theo sát sau lưng, thuẫn bài thủ và đoản đao thủ đứng hai bên trường thương thủ, bảo hộ bên cánh cho bọn họ. Toàn bộ trận hình do lang tiễn binh dẫn, tấn công quân Tề phòng ngự vẫn còn bất ngờ chưa kịp phòng bị.

Trăm triệu không ngờ được sẽ có kẻ địch từ đằng sau xông ra, quân Tề vội vã rớt cả mông, không tổ chức nổi trận thế hữu hiệu. Mà phản kích tán loạn cho dù có dũng mãnh cũng hoàn toàn không thể đột phá lang nha tiễn, không phải bị quét ngã dẫm lên đến chết thì cũng bị loạn thương đâm chết.

Ba trăm người đội đặc nhiệm đánh trên tường thành lũy như chẻ tre, như vào chỗ không người, một hơi đột tiến vào chục trượng, rốt cuộc đã gặp trở ngại, không phải đến từ tiền phương, mà là đến từ tiễn tháp trên tường thành!

Tiễn tháp thò ra từ trên tường thành bằng phẳng, cao hơn mặt trường hơn hai trượng, bản thân nó cũng là một lô cốt nhỏ. Các xạ thủ có thể từ đây bắn tên xuống, tường che của tiễn tháp còn có thể phòng hộ, ngăn cản cung nỏ quân Tần phản kích.

Chỉ có thể bị đánh, không thể đánh trả hữu hiệu, điều này khiến cho quân Tần cực kỳ khó chịu, lại không dám dừng bước, chỉ chậm dần lại.

Tần Kỳ Thủy muốn dẫn người đi giải quyết tiễn tháp thì bị Trầm Băng phản đối, chỉ vào hàng hiên cửa thành phía trước:

- Mục tiêu của các ngươi là ở đó, không nên bị phân tán chú ý!

Nếu dây dưa với đám người trên tiễn tháp, có thể tránh được một chút tổn thất, nhưng sẽ kéo dài rất lâu, đại đội quân Tề bên dưới thành sẽ kịp leo lên.

Như vậy không chỉ không thể cướp được cửa thành còn có thể bị quân Tề vây giết. Các binh sĩ này chỉ có thể giơ cao tấm chắn tận lực che tên từ trên tháp bắn xuống, mặc kệ cho xạ thủ nước Tề trên tháp khi dễ.

Cũng may, trên tháp chỉ có từng bảy tám xạ thủ, tuy tên bắn trúng mục tiêu nhưng quá thưa thớt, lại thêm khôi giáp quân Tần tuy nhẹ nhưng chắc chắn, nên cũng không tạo thành thương tổn thực chất nào.

Trả giá hơn mười mạng người, đội đặc nhiệm đã vọt tới ngoài lầu cửa thành, vừa vặn đụng phải quân Tề tiếp viện.

- Con mẹ nó!

Hung tợn mắng một tiếng, Tần Kỳ Thủy giận dữ hét lên:

- Theo ta ngăn bọn họ lại!

Gã bị Trầm Băng lôi lại, một cước đá ra bên ngoài, bỏ lại một câu:

- Làm việc ngươi nên làm đi!

Gã liền chỉ huy thủ hạ chặn đường quân Tề.

Chật vật đứng vững lại, Tần Kỳ Thủy mắng to:

- Dám đá mông ta! Trầm Băng, lão tử thù ngươi!

Đoạn, gã dẫn du kỵ binh giết vào trong lầu cửa thành.

Mấy lang tiễn binh được trường thương đao thuẫn hộ vệ nhanh chóng chặn đường lên lầu.

Chương 571.1: Huyết chiến Dương Tràng Phản.

Quân Tề đến tiếp viện hoàn toàn là trường mâu binh. Bọn họ cũng đã phát hiện ra mưu đồ của quân Tần, chắc chắn một khi thả được cầu treo, sẽ có vô số phục binh quân Tần từ bên ngoài vọt vào. Tới khi đó, cả thành hỗn loạn, quân Tề chỉ có thể bị giết hại.

Tuy lang nhã tiễn của quân Tần có thể hoành tảo thiên quân, nhưng cũng không thể chu đáo hoàn toàn, một khi quân Tề đã quyết tâm giơ trường mâu đồng loạt xông về phía trước, vẫn có thể lọt vào trong phạm vi phòng ngự của lang nha tiễn.

Trường tương binh và phác đao binh vội vàng tới bổ sung, ngăn cản trường mâu của quân Tề. Nhưng đường đi trên tường thành quá nhỏ hẹp, binh chủng khác vừa xông lên, lang tiễn binh lại mất không gian đâm trái dâm phải, cực kỳ hạn chế uy lực của nó.

Quân Tề nhân cơ hội này đồng loạt xông lên, nhưng quân Tần cũng không nhường nhịn, nâng trường thương, giơ phác đao, nghĩa vô phản cố chém giết với quân Tề, trận giáp lá cà thảm thiết thực sự bây giờ mới bắt đầu!

Trên chiến trường thà ăn ba đao chứ không chịu một thương, ý chỉ sức mạnh vô địch của trường thương trường mâu. Lực sát thương của những thứ này vô cùng lớn, có mặc khôi giáp hoàn mỹ cũng không ngăn nổi. Tiếng trường mâu đâm phầm phập vào thịt, quân Tề đã tạo ra được sát thương thật lớn, từng hàng bộ đội đặc chủng ngã xuống.

Máu tươi vẩy ra, một hàng bóng dáng quen thuộc ngã xuống, nhưng Trầm Băng không hề dao động, vẫn không đổi sắc chỉ huy đội đằng sau tiến lên ngăn cản. Bộ hạ của gã cũng không chút do dự, biết rõ vọt lên trước tương đương với tử vong, nhưng vẫn kiên quyết xông lên.

Trải qua lễ rửa tội suốt mấy tháng chiến hỏa, vô luận là quan quân hay binh lính đều đã thay đổi từ trong xương.

- Đại nhân, đằng sau quân Tề cũng tới!

Đằng trước đang kịch chiến say sưa, đằng sau lại có tiếng hô kinh hoàng của thủ hạ.

Trầm Băng quay phắt lại, quả nhiên thấy quân Tề đông như kiến, từ một cầu thang bên tường thành khác cách vài chục trượng theo đường lui của mình giết tới.

Tuy đã sớm biết không còn đường lui, nhưng tận mắt thấy bị người ta bao vậy, các binh sĩ vẫn bị khủng hoảng không hề nhỏ.

- Gấp cái gì!

Trầm Băng quát lên, nói với Mã Khuê đang lo lắng bên cạnh:

- Hôm nay ta và ngươi hy sinh vì Tổ quốc!

- Thật ra ta còn chưa muốn chết!

Mã KHuê cười khan, nhưng trước khi Trầm Băng trở mặt gã lại nói tiếp:

- Nhưng bọn họ sẽ không bỏ qua cho ta.

Cười ha ha mấy tiếng, Trầm Băng vỗ vỗ vai Mã Khuê, trầm giọng nói:

- Phải nhìn ngươi bằng cặp mắt khác xưa rồi!

Đoạn, gã lớn tiếng hạ lệnh:

- Mã Khuê dẫn người bảo vệ chỗ này, đội dự bị theo ta ngăn cản đường lui!

- Vâng!

Các binh sĩ không đổi sắc cùng hô lên.

Trong lầu cửa thành, đám người Tần Kỳ Thủy cũng đang gặp phải phiền toái không nhỏ.

Khi bọn họ vọt vào trong lầu phòng, bên trong không một bóng người, còn đang khấp khởi mừng thầm nhiệm vụ nhẹ nhàng lại phát hiện cơ quan điều khiển cầu treo và miệng cống không ở đây.

Nhìn khắp sảnh đường, Tần Kỳ Thủy lập tức phát hiện ở góc đông bắc có dấu vết mắc thang, tìm tòi dọc lên trên thì thấy trên nóc nhà khảm một tấm ván gỗ chừng sáu thước vuông. Họ liền hiểu đây là đường nối lên phòng trên của quân Tề, họ đã cắt đứt đường lên.

Con ngươi đảo một vòng, trong lòng gã đã có tính toán. Gã bèn gọi các du kỵ binh tới bên cạnh, chọn lấy một người, chỉ chỉ tấm ván gỗ kia, lại khoa tay múa chân chỉ ra ngoài cửa sổ, cuối cùng, hai tay đập mạnh vào nhau. Thủ hạ lập tức hiểu ra.

Tiêu sái vung tay lên, gã dẫn đầu đi tới bên cạnh cửa sổ, thủ hạ cũng đều tản ra, từ các cửa sổ khác nhau nhìn ra ngoài, chỉ để lại du kỵ binh được chọn kia bê một cái bàn lên góc đông bắc, lại ôm cây gậy chốt cửa to bằng miệng chén lên trên, thấp thỏm nhìn ra ngoài cửa sổ, bộ dáng cực kỳ ngốc nghếch.

Đột nhiên xôn xao một tiếng, một mảnh ngói từ ngoài cửa sổ ném vào, mảnh ngói kia còn chưa kịp rơi xuống đất, du kỵ binh kia đã dùng hết sức đâm một cái lên tấm ván gỗ, ầm một tiếng, đục thủng.

Kỳ Thủy Huynh đệ đoán không sai, quả thật quân Tề trốn trên lầu hai, rút thang lên, còn lắp cửa lầu lại. Sau đó họ bao vây quanh cửa thang lầu, chỉ cần có người thò dầu ra sẽ loạn côn đánh chết.

Đợi lâu không có động tĩnh gì, mọi người không dám lơi lỏng chút nào, ai nấy đều trợn mắt to như chuông đồng thở hổn hển chờ đợi.

Ầm một tiếng, sàn gác bay len, đám binh sĩ quân Tề sợ như lợn hoang, ầm ầm liều mạng nện binh khí xuống, đánh sàn gác nát thành bột mịn.

Khi tất cả đều bận tập trung vào cái nắp sàn gác kia thì có tiếng rên rỉ thống khổ từ tứ phía, Tần Kỳ Thủy cùng một du kỵ binh phá cửa sổ mà vào.

Lúc này, quân Tề vẫn còn đang vẫn còn đang đánh chém mãnh liệt, không một ai kịp để ý.

Bọn du kỵ binh vừa chạm hai chân xuống đất đã lập tức không ngừng vungbinh khí giết quân Tề.

Quân Tề kinh ngạc chưa kịp xoay người lại đã có non nửa ngã xuống dưới đao quân Tần. Những người còn lại vội vàng lật đao phản kích, nhưng lại không phải đối thủ của bọn Tần Kỳ Thủy. Binh khí bay lượn như hoa rơi nước chảy, trong phòng không còn một lính Tề nào đứng nữa.

Nhìn bánh xe và dây treo trong phòng, Tần Kỳ Thủy biết cái đầu là khống chế miệng cống, cái sau là cầu treo, bèn cho bốn thủ hạ lay động bánh xe thật lớn kia, chậm rãi nâng miệng cống ở cửa thành lên. Còn dây treo thì càng dễ đối phó hơn, gã tìm được ở đâu một cái búa, nhổ hai ngụm nước miếng vào lòng bàn tay, rồi vung một vòng chém vào dây thừng, chặt đứt sợi dây to bằng cánh tay!

Nói thì chậm mà mọi sự lại diễn ra rất nhanh, ngay trong nháy mắt dây thừng đứt, đầu dây buộc vào cầu treo bay ra ngoài, mà đầu kia được thắt cố định cũng rút mạnh về, đập thẳng vào khuôn mặt tuấn tú có vài phần khinh bạc của Tần Kỳ Thủy.

Gã kêu oái một tiếng thê lương thảm thiết, ôm mặt ngồi thụp xuống, nhưng bị tiếng ầm ầm nổ vang dưới thành át hết!

Bọn du kỵ binh vội vàng đỡ gã dậy, hô gọi:

- Lão đại, không có chuyện gì chứ?

- Ngài đừng làm chúng ta sợ!

Tần Kỳ Thủy ôm mặt gắt gao, đau khổ kêu lên:

- Chỉ sợ là… lão tử sẽ bị hủy dung…

Mọi người biết gã không có vấn đề gì cũng an lòng, lại nghe gã giơ chân chửi bậy:

- Còn không đi xuống giúp Trầm đại nhân!

- Dạ!

Các binh sĩ nhanh chóng dừng trêu đùa, từ trên lầu nhảy xuống, vọt tới chỗ các đồng chí đang bị vây ở cửa lầu thành môn.

Khi bọn đến đay, chiến đấu ngoài cửa thành lầu đã cực kỳ nguy hiểm. Ngay cả Trầm Băng và Mã Khuê cũng đã vung đao ra trận, đẫm máu chém giết với quân Tề.

Bên Mã Khuê còn đỡ, vì từ trên cao đánh xuống chiếm được địa lợi, tuy phòng tuyến đã lung lay nhưng miễn cưỡng vẫn có thể bảo vệ. Còn bên Trầm Băng, trực diện bị quân Tề đánh thẳng sâu vào, trên đầu còn có cung tiễn thủ quân Tề đánh lén, đã sớm máu chảy thành sông, hy sinh thảm trọng.

Trầm Băng đã bị thương thủng toàn thân đẫm máu như lệ quỷ. Cánh tay trãi mềm nhũn buông thõng, chỉ còn một cánh tay phải đang giơ cao binh khí hô quát chém giết, khi du kỵ binh xông lên bảo vệ thì đã kịp bị thương thêm hai chỗ nữa.

Một thương đâm vào đùi, một thương đâm vào bụng, nếu không phải có du kỵ binh nhanh tay lẹ mắt giữ lại thì đã bị xuyên thủng từ lâu.

Chương 572: Truyền kỳ về một người

Trầm Thanh suát lĩnh năm ngàn người xuất phát suốt đêm tiến vào trong Thái Hành Sơn.

Trời đêm tối như mực, thưa thớt vài điểm sao, dưới ánh sao ảm đạm là con đường nhỏ gập ghềnh. Để tránh bại lộ hành tung, gã không cho bộ hạ đốt lửa soi đường, toàn quân năm ngàn người đều mò mẫn đi trong bóng đen. Có thể nói, ngoại trừ quân núi Kinh hoàn toàn không bị bệnh quáng gà ra thì đương thời không có đội quân nào có thể hành quân trong tình hình như vậy.

Trầm Thanh đi đầu đội ngũ, nhờ đôi hỏa nhãn kim tinh được luyện nên từ vô số lần huấn luyện ban đêm mà phân biệt phương hướng, dẫn đường cho đội ngũ. Phía sau gã là quan binh sư đoàn số ba, năm ngan tướng sĩ cực kỳ cẩn thận tập tễnh tiến lên trong sơn đạo, sạn đạo, cầu trong hạp cốc. Cả đoạn đường nghiêng ngả lảo đảo, có không ít binh sĩ đau chân mỏi lưng chỉ có thể ngồi nghỉ tạm ở bên đường, chờ đội y liệu đi đằng sau lên giúp đỡ.

Chỉ cần vô ý một tí sẽ rơi xuống vực sâu vĩnh viễn không thể tìm lại được di thể, chỉ có thể làm bộ xương cốt anh liệt mai táng ở Thái Hành Sơn.

Có người nói, tính cách của một đội quân sẽ do chủ quan đứng đầu quyết định. Lời này cũng khá có lý. Dưới tay Trầm Thanh, quan binh sư đoàn só ba chịu khổ chịu nhọc, trung thành trầm mặc, sức nhẫn nại chịu đựng thống khổ vượt qua mọi đội bộ đội khác, lực chấp hành mệnh lệnh chống lại tất cả cũng vượt qua mọi bộ đội khác.

Theo như “Quân sử quân núi Kinh” ghi lại thì một trận trên Dương Tràng Phản, sư đoàn số ba xuất động năm ngàn không trăm mười bốn quan binh, sau chiến báo cáo, bỏ mình bốn trăm ba mươi bảy người, nhưng trong thành lũy Dương Tràng Phản chỉ tìm dược hai trăm mười một thi thể danh tướng sĩ. Có nghĩa là, tướng sĩ sư đoàn số ba hy sinh trong chuyến dạ hành này thậm chí còn nhiều hơn cả bỏ mình vì chiến đấu….

Hai trăm hai mươi sáu danh tướng sĩ Đại Tần an giấc ngàn thu nơi thanh sơn cũng xứng với chiến công vô thượng tấn công Dương Tràng Phản.

Chừng tới giờ dần, sau hai canh giờ bôn ba gian khổ, rốt cuộc Trầm Thanh đã dẫn theo sư đoàn số ba của mình tới cửa sông Cổ Bảo, lấy khí thế sét đánh không kịp bưng tai tiêu diệt ba trăm quân coi giữ ben trong. E sợ có người thừa dịp nửa đêm đào thoát, sau khi nghỉ ngơi hồi phục, gã liền thúc giục đội ngũ hỏa tốc đi tới, cần phải vượt qua hơn mười dặm đường đuổi tới bên ngoài Dương Tràng Phản trong vòng nửa canh giờ.

Hành quân gấp trên núi sẽ phải trả giá hy sinh thật lớn, hơn hai trăm tướng sĩ rơi xuống vách núi bỏ mình kia phần lớn là trên đoạn đường này.

Ngay cả Trầm Thanh cũng vấp liên tục, ngã bầm dập cả mặt mũi. Gã từ chối đề nghị chữa trị của sĩ quan phụ tá, xé kéo quần áo lung tung băng lại cầm máu rồi tiếp tục vội vàng đi tiếp.

Tinh thần đùa giỡn với tính mạng của Thống lĩnh đại nhân như vậy có tác dụng ủng hộ sĩ khí cực lớn, tốc độ hành quân bất ngờ tăng thêm một phần… Khi họ đuổi tới Dương Tràng Phản thì trên đầu thành vừa mới vang lên tiếng hét hò vang trời.

Trong đêm tối muộn mằn, chỉ dựa vào vài điểm sao, tướng sĩ sư đoàn số ba chỉ dùng vẻn vẹn không đến ba canh giờ đi hết sáu dặm sơn đạo gập ghềnh nguy hiểm khó đi. Không thể không nói đây là một kỳ tích trong lịch sử quân sự.

Khi Trầm Thanh suất lĩnh bộ hạ đuổi tới thành thì vừa kịp nhìn thấy cầu treo ầm ầm hạ xuống. Gã bèn chỉ huy bộ hạ mau chóng lẻn vào.

Đại quân ào vào trong thành như thủy triều tuôn, gây áp lực tâm lý cực lớn cho quân Tề trong thành vừa mới tụ họp lại. Cho dù quân Tề vẫn đang chiếm ưu thế về nhân số, nhưng sĩ khí đã hạ xuống thấp nhất vì quá kinh hoàng, miễn cưỡng tạo thành trận thế khập khập khiễng khiễng, vừa va chạm với quân Tần sĩ khí như cầu vồng liền lập tức tan rã!

Thấy quân Tề không chịu nổi một kích, quân Tề càng thêm phấn chấn, dốc hết thể lực chẳng còn được mấy phát khởi tấn công mãnh liệt như chém dưa thái rau dánh cho quân Tề phải liên tục lùi lại, chỉ chốc lát sau đã thối lui đến tận sau cửa thành. Không biết ai là kẻ bắt đầu, có quân Tề bắt đầu bỏ chạy… Không thể chém giết đào binh đúng lúc, đây là nhược điểm nếu không có đội đốc chiến.

Cơn khiếp đảm và hành động bỏ chạy tán loạn như ôn dịch chỉ trong nháy mắt đã lan tràn khắp trong trận quân Tề dần dần thành ra một dòng chạy trốn, cho dù có người cứng lòng chống cự cũng bị bại binh xô đẩy không đặt nổi chân. Càng nhiều người thấy đại thế đã mất liền bỏ lại vũ khí chạy trốn khỏi thành.

Tướng sĩ quân núi Kinh vốn đã mệt mỏi không chịu nổi thấy thế tinh thần rung lên, như gió cuốn mây tan đuổi tất cả quân Tề trong thành ra ngoài, đóng cửa thành lại.

Hai cánh cửa lớn chậm rãi đóng lại, thành Dương Tràng Phản được xưng không thể công chiếm đã rơi vào tay địch. Nhưng trong thành vẫn còn tàn quân không kịp chạy trốn cần quét sạch, nhất là quân Tề đang giết đỏ mắt trên cửa thành lầu, không để ý đến viện quân quân Tần tấn công từ đằng sau, nhất định muốn giết sạch đám chuột Tần đang trốn trong thành lầu.

Các tướng sĩ may mắn còn sống sót của đội đặc nhiệm đã gần như thối lui toàn bộ lên lầu hai. Đổi một cách nói khác… tất cả mọi người ở lầu một đều đã hy sinh.

Tầng lai thành lâu chủ yếu dùng để đặt ròng rọc và bàn kéo, chỗ có thể đứng vốn cũng rất ít, nhét vào năm mươi mấy quan binh cũng đã là cố lắm rồi… Nhưng mặc dù không gian lớn hơn nữa cũng sẽ không có nghĩa là có càng nhiều người sống sót, chỉ có năm mươi ba binh sĩ đội đặc nhiệm cả cả thương cả tàn, đó là toàn bộ những người kịp lui vào trong thành lâu, còn lại tướng sĩ bên ngoài đã bỏ mình toàn bộ…

Không biết từ khi nào mặt trời dần dâng lên, xua tan sương mù, trả lại ánh sáng và sự ấm áp cho sinh linh trong sơn cốc.

Lúc này là đầu đông, trong Dương Tràng Phản bị quần sơn vây quanh đã có thể nhìn thấy ánh mặt trời vàng rực lấp lánh thì ít nhất đã là cuối giờ mẹo.

Rốt cuộc tiếng hò hét trong thành đã im lặng, quân núi Kinh dốc hết sức chín trâu hai hổ, trả giá hơn một trăm nhân mạng mới quét sạch hơn một ngàn quân địch trên tường thành. Khi quân Tề ngoan cố cuối cùng ngã xuống, trong thành chỉ còn lại quân Tần.

Tướng sĩ quân núi Kinh mệt mỏi muốn chết cũng không dám lơi lỏng chút nào. Bọn họ tranh thủ thời gian phòng thành quen thuộc chuyển vũ khí khí giới thru thành sắp đặt tứ phía tòa thành, trước khi viện quân đến, bọn họ phải đứng vững trước mười tám bàn quân Tề sẽ phản công.

Tới tận khi trời sáng, quan binh sư đoàn số ba mới nhìn thấy Thống lĩnh đại nhân mặt mày xây sát, mắt trái sưng, mũi vẫn còn hai vết rách đỏ ửng, khác một trời một vực với hình tượng gọn gàng của gã xưa nay. Nhìn sắc mặt mọi người quái dị Trầm Thanh mới nhớ tới mặt mũi mình te tua, vội vàng kéo hai tấm vải rịn trên mũi xuống, lại muốn dùng mu bàn tay quệt đi, nhưng vừa chạm vào miệng vết thương đã đau tới tê người hít một hơi khí lạnh.

Đội y tế vội vàng tiến tới muốn xử lý một chút vết thương cho Thống lĩnh đại nhân, lại bị gã vươn tay ngăn lại, trầm giọng hỏi:

- Đã cứu trị xong hết người bị thương ở đội đặc nhiệm chưa?

Đội y tế lức đầu:

- Vẫn chưa. Gần như tất cả mọi người bọn họ đều bị thương, đội y tế dốc hết sức vẫn bận không xuể.

- Vậy ngươi còn đợi gì chứ?

Trầm Thanh muốn nghiêm mặt lại cứng rắn, nhưng da mặt vừa động đã đau nhức nên đành thôi.

- Đại nhân, mặt ngài….?

Lính y tế oan ức hỏi.

- Cút nhanh!

Không kiên nhẫn vẫy vẫy tay, Trầm Thanh bực tức nói:

- Ta đã đính hôn rồi, không định cưới thêm nàng dâu nữa.

Đuổi gã lính y tế đầy một bụng ý tốt, Trầm Thanh tiện tay dính một tờ giấy lên khuôn mặt đầy vết thương, đi tuần tra trên tường thành, thì gặp phải một du kỵ binh đang ôm mặt đi loanh quanh tìm y quan. Gặp Thượng tá đại nhân, viên Chuẩn úy kia không để ý gì, chỉ nhe răng cười cười hỏi:

- Trầm đại nhân, phiền ngài, ngài biết có y quan rảnh rỗi nào không?

Hành động không lớn không nhỏ này chọc cho Trầm Thống lĩnh coi trọng quân uy nhất không vui:

- Ngươi tên gì? Thuộc bộ phận nào?

Sau chiến thắng trên vùng đồng hoang Mục Dã, quan binh tham chiến đều được thăng quân hàm, không ít người có công huân hiển hách còn được thăng hai cấp. Nên chỉ nhìn vào quân hàm sẽ không nhận ra được ai là ai nữa.

- Đại nhân đừng nóng giận, ta là Tần Kỳ Thủy.

Viên Chuẩn úy buông tay trái ra, lộ một bên khuôn mặt, quả nhiên là Tần Kỳ Thủy nổi danh.

Chương 572.1: Truyền kỳ về một người.

Vừa thấy kẻ dở hơi này, Trầm Thanh giận không nổi nữa, cười mắng:

- Tiểu tử ngươi ôm mặt làm gì?

Người này là ngoại tộc trong quân núi Kinh, phạm quân quy như cơm bữa, gần như đã nếm mấy lần mọi hình phạt rồi. Để sửa trị gã, thậm chí Hứa Điền đã nghĩ ra rất nhiều khổ hình còn không có trong quân quy. Ví dụ như cởi hết quần áo treo ngược một ngày một đêm. Nhưng người này còn ương ngạnh hơn cả con gián, mặc kệ là chịu bao nhiêu hình phạt, chỉ sau vài hôm đã lại vui vẻ, vẫn cứ làm theo ý mình, tiếp tục vi phạm quy định…

Nhưng tố chất quân sự của người này quá mạnh, cũng là số một trong số các du kỵ binh vốn là tập trung tinh nh, khiến cho người ta vừa yêu vừa hận. Nếu theo ý kiến của quân pháp quan Tần Thọ thì phải đuổi con sâu này ra khỏi quân doanh từ lâu rồi, nhưng Tần Lôi lại không đồng ý, dùng lệnh bài Thống soái của mình, ban bố một quân quy đặc biệt cho Tần Kỳ Thủy: ngoài các quân quy vi phạm lập tức chém, gã không cần phải tuân thủ quân quy nào hết.

Đương nhiên những người còn lại cũng không cần phải ghen tỵ. Bởi vì mở đầu quân quy này còn có một câu: “Phàm là người có thể hưởng thụ tất cả hình phạt ngoại trừ chém đầu của quân núi Kinh một lần, sẽ có được đãi ngộ này”. Chỉ cần ngươi có được thân thể nấu không chín đập không nát như của Tần Kỳ Thủy kia thì cũng sẽ được hưởng thụ đãi ngộ này.

A, còn phải có thân phận thân vương thế tử hiển hách, ít nhất cũng phải khiến cho người ta không dám hạ tử thủ nhé. Bằng không, quân côn vô tình thật sự chỉ dùng để cường gân hoạt huyết sao?

Bất kính thượng quan phạt bốn mươi trượng. Chống đối thượng quan phạt tám mươi trượng. Cho nên, Tần Kỳ Thủy có thể hi hi ha ha với tất cả quan tướng trong doanh, trừ Tần Lôi. Thấy Trầm Thanh hỏi mình, gã đau khổ đáp:

- Ôi, hủy dung rồi.

Đoạn, y nhẹ nhàng mở tay kia ra cho Trầm Thanh nhìn lướt qua vết thương trên khuôn mặt mịn màng, rồi lập tức che kín lại.

- Mới có một nửa thôi mà.

Trầm Thanh chỉ chỉ mặt mình cười khổ:

- Ta bị hủy dung toàn bộ cũng không gấp, ngươi gấp cái gì?

- Đại nhân của ta ơi.

Tần Kỳ Thủy trợn trắng mắt :

- Ngài vốn không có ngoại hình, cho dù hiện giờ càng không có cũng không ai cảm thấy tiếc nuối.

Gã sầu mi khổ kiếm :

- Nhưng nếu khuôn mặt hoàn mỹ này bị hủy, các cô nương trong thành Trung Đô sẽ thương tâm muốn chết thôi.

Với kẻ tự luyến ái đến thế, Tràm Thanh cũng không nói được gì, chỉ đành tránh đi:

- Trầm Băng đâu? Sao vẫn không thấy gã?

Tần Kỳ Thủy không cười nổi nữa, cúi đầu đáp:

- A, Trầm đại nhân bị mười ba vết thương, trong đó còn có hai vết thương xuyên qua cả thân thể, cả ruột cũng xổ ra rồi.

- A….

Trái tim Trầm Thanh sầm xuống, vội hỏi :

- Ở đâu ? Mau đưa ta đi xem.

- Đại nhân vẫn không nên đi thì hơn.

Tần Kỳ Thủy nhún nhún vai:

- Ta mới từ bên kia tới, các y quan đang giải phẫu cho anh ta, không mất một canh giờ sẽ không xong đâu.

- Ai…

Trầm Thanh vỗ mạnh vào lỗ châu mai, hai mắt vô thần nhìn xa xa, lẩm bẩm:

- Vạn nhất…..ta biết ăn nói với thím thế nào đây?

Gã và Trầm Băng là đường huynh đệ, xưa nay quan hệ giữa hai nhà rất tốt.

Tần Kỳ Thủy nhẹ giọng an ủi:

- Thẩm Đô ti các nhân tự có thiên tướng. Không có việc gì.

- Chỉ hy vọng vậy…

Lúc này dù sao cũng không phù hợp để cảm khái, Trầm Thanh điều chỉnh lại cảm giác yếu đuối rất nhanh, chỉ đằng sau nói:

- Có thể bên kia có y quan, ngươi thử xem có may mắn không.

Đoạn, gã đi trước, lại hảo tâm nhắc nhở:

- Nhưng ngươi đừng ôm quá nhiều hy vọng, người bị thương nhiều lắm.

Ai ngờ Tần Kỳ Thủy gã gãi đầu quái thanh quái khí nói:

- Bỏ đi, không chữa được đâu, để đó càng có phong vị nam nhân!

Sau đó gã lắc lắc lư lư đi xuống thành lầu, không biết muốn làm gì.

Trầm Thanh cười cười không nói gì, chính là vì người này bản chất không xấu, nên Vương gia mới dung túng gã ở trong quân tới tận bây giờ.

Người nước Tề không khoa trương, trong tình huống phòng giữ sâm nghiêm, quả thực thành lũy Dương Tràng Phản là khoogn thể công phá. Quân tề nghe tin vội vàng quay về, muốn đoạt lại thành, nhưng không có bất kỳ khí giới công thành nào, ngay cả thành Dương Tràng Phản trơn láng như gương rất khó leo lên, làm sao mà công? Phí công nếm thử vài lần, mất mấy trăm mạng vô ích, chủ lực quân Tề liền từ bỏ, chắc là muốn đi làm ít khí giới đơn giản như thang gỗ, rồi lại tới.

Nhưng quân Tề từ trong thành chạy trốn với Dương Tràng Phản, lại từ bình thượng giết xuống vẫn có vài vấn đề khó giải quyết. Vẫn là vấn đề đó thôi, so với ba mặt kia, quả thực mặt thành đối diện với Dương Tràng Phản không có đề phòng. Cũng may trong thành đầy đủ khí giới thủ thành, gạch đá khúc cây nồi chảo, cái gì cần có đều có, cũng có ích rất lớn cho quan binh.

Mặc dù quân Tần có hơi luống cuống tay chân nhưng tới khi viện quân đến, quân Tề phải bỏ lại hơn một ngàn thi thể, cũng không thể công phá được tường sau.

Đến giữa trưa, La Vân suất lĩnh quân Ưng Dương xuất hiện tại Dương Tràng Phản, hết thảy thấp thỏm lo lắng đều đã xong.

Thành lũy Dương Tràng Phản mà tất cả mọi người đều cho rằng không thể công phá lại thuộc về tay quân núi Kinh chỉ sau một đêm. Đây là một chấn động quá mức đối với quân Tần… Tuy Tần Lôi đã lấy được đại thắng trên vùng đồng hoang Mục Dã, nhưng dù sao vẫn nhờ được lão thiên gia hỗ trợ, có vài phần không phục. Cho nên tuy chúng tướng cho rằng Vương gia là tướng tài, nhưng vẫn chưa đặt hắn cùng một cấp ngang với Triệu Vô Cữu.

Nhìn cờ Hắc Hổ rít gào tung bay trên đầu tường, các tướng lĩnh cấm quân từ đằng sau đuổi tới đã ăn xong thở dài một tiếng:

- Thien hạ anh hùng, duy chỉ có Điện hạ cùng Bách Thắng Công vậy!

Có thể thuyết phục được đám tướng lãnh kiệt ngạo bất tuân này không phải chỉ dựa vào một trận. Chẳng qua đây là một quá trình biến đổi lượng dẫn đến biến đổi chất mà thôi…

Các tướng sĩ sẽ không quên, là ai vào thời khắc nguy nan toàn quân tan rã chủ động bước ra, chặn đường vài chục vạn đại quan nước Tề.

Các tướng sĩ cũng sẽ không quên, là ai cao giọng vang vọng nói rằng:

- Nếu tiến là chết, lùi cũng là chết, sao không vung hai tay bổ ra một đường sinh tử, một đao chặt đứt mọi vật cản!

Các tướng sĩ càng sẽ không quên, là ai trong đại chiến thiết đảm hùng phong, lâm nguy không sợ, khi bị địch nhân mạnh gấp bội giáp công cũng không cho quân kỳ lùi một bước, để cho quan binh khổ chiến không bị tan vỡ tán loạn, mới chịu đựng được tới thời khắc thần kỳ kia…

Các tướng sĩ cũng sẽ không quên, sau hai tháng hành trình thần kỳ, hai mươi vạn đại quân như vào chỗ không người, thổi quét hơn một nửa nước Tề, cuối cùng vây khốn Kinh đô, khiến cho quốc quân nước Tề phải ký kết hòa ước bất đắc dĩ, ngưng chiến đền tiền, dùng lễ đưa kẻ xâm lược xuất cảnh. Phong cảnh cỡ nào!

Nhưngtới tận bây giờ, các Tướng sĩ vẫn chưa hẳn đã công nhận năng lực của Vương gia, dù sao đây cũng là Dương Tràng Phản vạn người không thể khai thông, còn có năm vạn quân Tề tinh nhuệ, căn bản là một con đường chết.

Nếu không thể bình yên về nước, vậy tất cả mọi thứ Thành Thân Vương đã làm sẽ chỉ là hoa trong gương trăng trong nước, không có bất kỳ ý nghĩa nào.

Lại thấy Vương gia búng tay như vẽ rồng thêm mắt, đổi chủ tại nơi Dương Tràng Phản hiểm yếu.

Một trăm ngày ngày đêm đêm này đều biến thành truyền kỳ về một người.

- Xin khấu kiến Vương gia!

Khi thân ảnh cao ngất kia xuất hiện ở Dương Tràng Phản, hai mươi sáu vạn quân dân đồng loạt quỳ rạp xuống, cúi đầu lễ bái Thành Thân Vương Điện hạ.

Trong thiên địa, chỉ có một mình Tần Lôi ngạo nghễ mà đứng.

Chương 573: Bất chợt quay đầu, người nọ suy yếu như đèn cạn

Khi đoàn quan sát nước Tề quay về, Tần Lôi bèn thay một thân nhung trang của Thân Vương, một lần nữa mặc lên khôi giáp liền thân màu đen, khoác áo khoác đỏ rực, lưng đeo bảo đao vỏ da cá mập. Ngoài túm lông màu đỏ trên đỉnh nón trụ và phần hộ thủ hình chữ thập ở chuôi đao thì hắn không khác gì quan quân bình thường khác.

Hắn đeo yêu đao leng keng mà đi, quan binh ben đường nhìn hắn nóng bỏng, hành lễ với hắn như tiếng thông reo.

Tần Lôi không cần dùng phục sức hoa mỹ chứng minh sự siêu phàm của mình. Bởi vì bản thân hắn đã là siêu phàm.

Khi hắn tới thành lũy Dương Tràng Phản, mặt trời đã sắp xuống núi, chút dư âm cuối cùng phản chiếu trong sơn cốc phủ lên tòa thành hùng vĩ một tầng lưu tinh viền vàng.

Chúng tướng đứng chờ ngoài cửa thanh, vừa thấy bóng Vương gia liền nhất tề hành lễ:

- Bái kiến Vương gia.

- Miễn lễ!

Tần Lôi cười tủm tỉm gật đầu, cùng Đại Hoàng tử vào thành.

Không vội tới nơi đã được chuẩn bị sẵn, hắn lên thẳng trên cổng thành. Trên cầu thang vẫn còn ướt sũng, vẫn có thể nhìn thấy nhiều vệt máu đỏ sẫm.

Giày đạp trên cầu thang lịch bịch, hắn vươn tay nhè nhẹ xoa xoa lên tường thành một chút, trên ngón tay liền hơi hồng lên màu máu. Đưa vệt hồng đó lên chóp mũi ngửi thử, hắn thấp giọng hỏi:

- Thương vong thế nào?

- Bẩm Vương gia, đội đặc nhiệm có hai trăm bốn mươi quan binh bỏ mình, còn lại ai cũng bị thương, trong đó có mười mấy người sợ là bị thương nặng khó lành.

Trầm Thanh đã rửa mặt sạch sẽ, dán vết thương trên mặt, đi theo sau hắn nhẹ giọng đáp.

- Nhiều như vậy…

Tần Lôi không kiềm được hơi run giọng.

- Nếu không phải nhờ đội đặc nhiệm gánh vác tổn thất thảm trọng nhất, sư đoàn số ba của thuộc hạ có chết tất cả cũng không thể lấy được nơi Dương Tràng PHản hiểm yếu này.

Trầm Thanh trầm giọng giải thích, đoạn dập đầu với Tần Lôi cao giọng hô:

- Ty chức xin công đầu cho đội đặc nhiệm!

- Việc này Cô hiểu, không cần ngươi nhắc.

Chầm chậm bước dọc theo tường thành, Tần Lôi trầm giọng hỏi:

- Trầm Băng và Mã Khuê thế nào? Nghe nói họ đều bị thương?

Sắc mặt Trầm Thanh hơi căng thẳng:

- Vâng. Trầm Băng bị thương hơn mười chỗ, cả ruột cũng xổ ra rồi. Mã Khuê không còn tay trái, cũng không nói được là ai thương nặng hơn ai.

Khi ấy, tình hình cả hai người đều có thể nói là trí mạng, ngoại trừ tận tâm cứu trị, còn cần có phúc lớn mạng lớn mới sống nổi.

- Chỉ cần có một tia hy vọng, tận lực cứu sống từng người đi.

Đi tới tường thành phía tây, Tần Lôi chạm tay vào lỗ châu mai lạnh lẽo, chậm rãi dặn:

- Trợ cấp gấp đôi cho đội đặc nhiệm. Đây là phần bọn họ nên được. Còn những người sống sót, tất cả đều ghi công đầu.

Công đầu, ngoại trừ có được vinh quang vô hạn, còn có hai mươi điểm quang vinh, đủ cho các quan binh này có thêm hai phần tiền xuất ngũ.

- Vương gia anh minh.

Trầm Thanh cao giọng đáp ứng:

- Chỉ có ca ngợi dũng sĩ mới có thêm nhiều dũng sĩ.

- Lời này còn có thâm ý khác hả.

Tần Lôi bật cười:

- Cũng không thể bạc đãi tướng sĩ sư đoàn số ba.

Nghĩ nghĩ một lát, hắn gõ gõ nhịp tay:

- Phát thêm một nửa trợ cấp, tập thể ghi công bậc hai.

Công bậc hai được tích thêm năm điểm vinh quang, cũng là được thưởng rất dày rồi.

Trầm Thanh vui mừng:

- Thuộc hạ tạ ơn Vương gia!

- Không có gì cả.

Tần Lôi không quay lại, khoát tay:

- Đều là bọn họ nên được.

Trầm Thanh muốn khiêm tốn vài câu, nhưng Vương gia lại muốn đổi đề tài:

- Bằng hữu trên Thập Bát Bàn của chúng ta sao rồi?

- Buổi sáng đã đánh một trận, nhưng viện quân của chúng ta vừa lên họ liền lui xuống.

Trầm Thanh mau chóng trả lời:

- Bọn họ không có khí giới công thành, cũng không phát động nổi tấn công hữu hiệu, có vẻ sĩ khí giảm nhanh.

Nhìn sơn đạo Dương Tràng Phản tối dần, Tần Lôi xốc lại áo khoác, khẽ cười nói:

- Chỉ mong bọn họ mang theo đủ lương khô.

Hắn cao giọng hạ lệnh:

- Canh phòng tử thủ nghiêm ngặt, không được cho một quân Tề nào tiến lại.

- Vâng!

Chúng tướng cùng hô ran lĩnh mệnh. Có người nhỏ giọng hỏi:

- Nếu có đàm phán thì sao?

- Chờ ba ngày sau rồi nói.

Tần Lôi xoay người xuống thành, bỏ lại một câu nhẹ bẫng:

- Đến lúc đó thì đàm cũng dễ hơn!

Chúng tướng mỉm cười. Quay lại căn phòng Trầm Thanh đã chuẩn bị cho mình, Tần Lôi cởi chiến bào bẩn két, ngâm trong nước nóng tắm gội sạch sẽ. Khi từ trong bồn tắm đi ra thì ngoài trời đã lấp lánh sao.

Mặc một thân áo dài vải bông sạch sẽ, hắn ngồi lên ghế, cảm thấy toàn thân mình hơi chìm xuống, cổ cũng thật đau, nhìn Thạch Cảm trước mặt cũng hơi hoa đi, nhẹ giọng hỏi:

- Chuyện gì?

Chỉ vậy thôi mà yết hầu đau rát, giọng nói cũng hơi khàn đi.

- Vương gia, ngài không có chuyện gì chứ?

Thạch Cảm trầm giọng hỏi:

- Ngài có thấy hơi bệnh không?

Bực bội khoát tay, hắn nhắm mắt:

- Không có gì, chỉ là hai tháng nay hơi mệt thôi. Bớt nói nhảm đi, nói xong chính sự ngủ một giấc là được.

Thạch Cảm nhanh chóng bẩm báo:

- Vâng. Một khắc đồng hồ trước đã quét sạch tàn quân Dương Tràng Phản rồi, cũng bắt được bảy ngàn năm trăm quân Tề. La Tướng quân xin chỉ thị Vương gia, nên xử lý thế nào?

- Bọn họ có ý kiến gì?

Chỉ chỉ lên giường hắn khàn giọng dặn:

- Lấy thêm đệm giường cho ta đi, hơi lạnh đấy.

Nhìn hai chậu than cháy hồng rực trong phòng, Thạch Cảm khẽ thở dài, lấy thêm đêm giường tới, vừa nhẹ chân nhẹ tay phủ lên cho Vương gia vừa nhỏ giọng đáp:

- Ý kiến của mấy vị tướng quân cũng khác nhau. La Tướng quân cùng Xa Tướng quân muốn đem về khai thác mỏ. Từ Tướng quân và Lý Tướng quân ngại phiền toái muốn giết luôn.

Vô tình chạm phải da Vương gia, gã khẽ hô lên:

- Nóng như vậy..

- Giết cũng không hết, giữ lại phí lương thực, cũng không ổn.

Hơi nhún nhún đầu cọ cọ, Tần Lôi thở dài:

- Nói với La Vân, đuổi hết tù binh đến Thập Bát Bàn đi. Để cho Tân Giá Trang xử lý phiền toái này thay ta đi.

- Vâng. CÒn một việc nữa, ngay cả quân doanh di động cũng chỉ chứa được bảy vạn người tối đa, những người còn lại sẽ phải đóng quân dã ngoại đêm nay. Đại Điện hạ hỏi, ngày mai có cần tu kiến doanh trại không?

Tần Lôi gật gật đầu, khẽ đáp:

- Có xây. Sau này nơi này sẽ là của chúng ta, người trước trồng cây, người sau hưởng bóng thôi.

- Vâng.

Thạch Cảm cung kính thưa, lại lo lắng nhìn hắn, hỏi thử;

- Vương gia, mời đại phu đến xem một chút nhé.

- Ngủ một giấc rồi nói.

Tần Lôi chống tay vịn đứng dây, nặng nề lảo đảo đi tới bên kháng. Thạch Cảm vội vàng đỡ Vương gia nằm xuống, đắp chăn cho hắn, dém lại đệm giường, mới tắt đèn, nhẹ chân nhẹ tay lui ra khỏi phòng.

- Không được nói lung tung với người khác.

Trong bóng đêm vang lên giọng khàn khàn của Tần Lôi:

- Tất cả vẫn như cũ.

Thân là Thống soái một quân, hắn không nên bị bệnh.

Nhưng bệnh đến như núi đổ, ngăn cũng không nổi, một trăm ngày ngày đêm đêm ưu tư kiệt sức, lăn lộn mất ngủ đã rút sạch tinh lực của hắn, lại vẫn phải hành quân ăn tập thể như binh lĩnh bình thường, không được nghỉ ngơi, thể lực đã sớm cạn kiệt, thật ra khi ở ngoài thành Thượng Kinh hắn đã cảm thấy không thoải mái rồi.

Chẳng qua, trọng trách đè nặng hai vai, hắn vẫn phải đè xuống. Lúc này, đã thoát ly hiểm cảnh, tâm thần buông lỏng, bệnh tình mới bộc ra, nhấn ngã Thành Thân Vương sinh long hoạt hổ xuống giường.

Nửa đêm, Thạch Cảm lo lắng cho hắn, lại lặng lẽ vào xem, thấy Vương gia cuốn chặt bọc chăn, run rẩy không ngừng. Gã vội đốt đèn lên thì thấy sắc mặt hắn tím tái, mồ hội đầm đìa, có lẽ là bệnh nặng.

Không dám chậm trễ, Thạch Cảm vội chạy ra ngoài gọi y quan, vẫn còn loáng thoáng nghe Vương gia khàn giọng dặn:

- KHông được lộ ra…

Vừa đi ra ngoài vừa cân nhắc xem nên tim ai, ra đến bên ngoài, thấy Công Tôn Kiếm đang đi tuần, Thạch Cảm nghĩ bụng thôi gọi gã. Vị đại hiệp này là cao tuc của Nhạc tiên sinh, y thuật vẫn rất tốt.

Thạch Cảm kéo Công Tôn Kiếm vào trong phòng, nhỏ giọng kể lại tình hình củ Vương gia. Công Tôn Kiếm chạy nhanh vào, vọng văn vấn thiết một lượt, rồi cùng Thạch Cảm đi ra, nhỏ giọng hỏi:

- Chắc là bị sốt rét rồi.

- Sốt rét?

Thạch Cảm không hiểu lắm, nhỏ giọng hỏi:

- Là cái gì?

- Là mọt loại sốt.

Công Tôn Kiếm nhẹ giọng giải thích:

- Bình thường vào mùa hạ và mùa thu, tỷ lệ mắc bệnh sẽ cao hơn, mùa này cũng có, nhưng khó chữa hơn.

- Vậy phải làm sao bây giờ? Vương gia không muốn ai biết đâu.

Nào biết Công Tôn Kiếm không hề bối rối, mà vẻ mặt lại như trút được gánh nặng, khiến cho Thạch Cảm không vui.

Thấy sắc mặt Thạch Thống lĩnh khó chịu, Công Tôn Kiếm biết gã hiểu lầm, bèn kéo tay:

- Đến phòng ta nói chuyện đi.

- Vương gia phải làm thế nào bây giờ?

Thạch Cảm bực tức giằng tay ra:

- Ngươi một không khai phương hai không bốc thốc, còn nhàn hạ thoải mái cười ở đây!

Công Tôn Kiếm vẫn cứ chỉ cười, cứng rắn kéo tay Thạch Cảm vào trong phòng mình, đóng cửa lại, nói:

- Mực dù bệnh sốt rét là nặng, nhưng đó là đối với thầy thuốc bình thường.

Hai mắt Thạch Cảm sáng rực, vui vẻ hỏi:

- Ngươi có chắc chắn chữa khỏi chứ?

- Có.

Công Tôn Kiếm khá tự đắc:

- Sư môn ta có một loại đan dược, tên Thanh hao hoàn, chuyên trị bệnh sốt rét nặng. Đảm bảo thuốc đến bệnh tiêu.

- Vậy ngươi còn chờ cái gì?

Thạch Cảm vui vẻ giục:

- Thân thể vạn kim của Vương gia còn đang bị giày vò đấy.

- Không vội không vội.

Công Tôn Kiếm cười tủm tỉm:

- Đây là một cơ hội, có thể chấm dứt cái chuyện chúng ta vẫn vò đầu kia.

Thạch Cảm bừng tỉnh đại ngộ, vỗ mạnh vào đùi Công Tôn Kiếm:

- Đúng!

Hai người nhỏ giọng bàn bạc máy câu, cùng tới hậu viện nơi ở của nhóm phục vụ.

Trong hậu viện ồn ào có một nơi im ắng, là một gian phòng bằng gỗ nhỏ, đằng sau tòa núi giả, trong phòng đốt ngọn đèn nhỏ như hạt đậu, chiếu giấy song sáng lên một mảng màu cam.

Một bóng người nhỏ gầy ngồi bên bàn, hai tay đỡ má, lẳng lặng nhìn một tờ giấy đến xuất thần. Chính là tiêu thị vệ có chút khác thường ở vùng đồng hoang Mục Dã kia.

Trong thành, người nhiều phòng thiếu, hơn trăm người sống trong hai hàng nhà ngói tám gian ở trong hậu viện, ngay cả đại nhân vật như Công Tôn Kiếm, Hạ Toại Dương cũng phải ở chung một giường.

Nhưng thật lạ, vị tiểu thị vệ này lại là một ngoại lệ, tuy trong doanh trại khẩn trương bận rộn và chật chội nhưng Thạch Cảm vẫn cho gã một gian phòng riêng, còn sắp xếp hai Hắc Y Vệ kín đáo theo dõi, tránh có người lầm xông vào.

Càng lạ hơn là, không chỉ các thị vệ phải chịu gian khổ khác, mà các phục vụ khác cũng thấy bình thường với đãi ngộ đặc biệt này. Rốt cuộc gã là thần thánh phương nào?

Đột nhiên tiểu thị vệ thở dài sâu kín, tiếng thở còn ôn nhu hơn cả nữ nhân. Gã vươn ngón tay tinh tế nhẹ nhàng gõ gõ lên bàn, khẽ ngâm nga:

- Địa chi giác, thiên chi nhai,

Khả hữu giai nhân vi ngã thương?

Ngã chi hậu, hữu lai sinh, nhất khúc “Phượng cầu hoàng”, tái tấu đãi vân thường…

(Cuối trời góc đất

Có giai nhân nào mà ta thương?

Đời sau này lại được tái sinh,

Một khúc “Phượng cầu hoàng” lại tấu lên đợi Vân Thường…”

- Ngã chi hậu, hữu lai sinh,

Nhất khúc « Phượng Cầu Hoàng », tái tấu đãi Vân Thường…

Ngâm nga lặp lại câu này, tiểu thị vệ hơi ngây ra, nước mắt lặng lẽ chảy xuống hai gò má, xóa đi tro đen trên mặt lộ ra da thịt tuyết trắng…

Đang khe khẽ ngâm, chợt nghe có tiếng bước chân nho nhỏ bên ngoài, tiểu thị vệ lập tức cảnh giác, vội lau nước mắt, cẩn thận cất đi tờ giấy vàng có ghi lời ca kia lại. Thị vệ bên ngoài thấp giọng hỏi:

- Ai?

- Ta.

Là giọng Thạch Cảm:

- Ta muốn cầu kiến Vương phi!

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!