HỒI THỨ MỘT TRĂM
Về thẳng phương Đông
Năm thánh thành Phật
Tạm gác chuyện bốn người trốn thoát, bay theo tám vị Kim Cương cưỡi gió bay đi. Lại nói chuyện mọi người trong chùa Cứu Sinh ở Trần Gia Trang, sáng ngủ dậy, sửa soạn phẩm quả dâng lên, tới dưới lầu, chẳng thấy thầy trò Đường Tăng đâu cả, bèn hốt hoảng kẻ hỏi người tìm chẳng thấy ở đâu. Mọi người kêu la rầm trời:
- Mấy vị Phật sống lẳng lặng đi mất rồi!
Rồi chẳng còn cách nào, bèn sắm sửa phẩm quả, bưng lên lầu, đốt giấy tiền tế lễ. Từ đó trở đi, hàng năm đều tổ chức bốn lần đại lễ, và hai mươi tư lần tiểu lễ. Chưa kể những người cầu khỏi bệnh, cầu yên lành, cầu hôn nhân, cầu con cái, cầu của cải thì rầm rập suốt ngày đốt hương lễ bái không lúc nào vắng. Thật là:
Lò vàng nghìn thuở hương còn ngát,
Đèn ngọc muôn năm lửa chẳng tàn.
Lại nói chuyện tám vị Đại Kim Cương nổi hai trận gió thơm đưa bốn người bay về cõi Đông, chưa đầy một ngày, xa xa đã nhìn thấy thành Tràng An.
Nguyên là vua Thái Tông từ ngày trước ngày rằm tháng chín ba hôm, năm Trinh Quán thứ mười ba tiễn chân Đường Tăng ra khỏi thành, tới năm thứ mười sáu, sai quan bộ Công dựng một ngôi lầu Vọng Kinh ngoài cửa Tây An để đón kinh, năm nào vua Thái Tông cũng tuần tới đó. Một hôm xa giá nhà vua vừa tới trước lầu, bỗng nhìn thấy ở phía chính tây mây đẹp khắp trời, gió thơm lồng lộng. Kim Cương dừng lại giữa không trung nói:
- Thưa thánh tăng, đây đã là thành Tràng An. Chúng tôi không tiện hạ xuống. Người vùng này khôn ngoan lắm, e tiết lộ mất chân tượng. Tôn Đại Thánh và mấy vị này cũng không nên đi, một mình ngài xuống trao kinh cho chúa ngài xong rồi quay lại đây ngay. Chúng tôi đợi ngài trên tầng mây này rồi cùng về trao trả thánh chỉ.
Đại Thánh nói:
- Lời tôn giả tuy đúng, nhưng sư phụ tôi làm sao gánh được kinh? Làm sao dắt được ngựa? Phải cần có chúng tôi đưa sư phụ xuống, phiền các ngài đợi một lát, chúng tôi không dám làm lỡ việc.
Kim Cương nói:
- Hôm trước Quan Âm có thưa với Như Lai, cả đi cả về chỉ trong vòng tám ngày cho đủ số tạng. Nay đã quá bốn ngày rồi, chỉ sợ Bát Giới ham vòng giàu sang lỡ mất kỳ hạn thì chết.
Bát Giới cười nói:
- Sư phụ thành Phật, con cũng mong được thành Phật, đâu còn có lòng tham lam gì nữa! Có họa là đồ ngốc! Các ngài cứ đợi chúng tôi ở đây, trao kinh xong, chúng tôi quay lại ngay, rồi cùng đi.
Chú ngốc bèn gánh kinh, Sa Tăng dắt ngựa, Hành Giả hộ vệ thánh tăng hạ mây bước xuống bên lầu Vọng Kinh.
00200.jpg [/images/images/00200.jpeg]
Vua Thái Tông và các quan nhìn thấy, vội vàng xuống lầu nghênh đón, hỏi:
- Ngự đệ đã về đấy à?
Đường Tăng cúi đầu lạy tạ. Thái Tông đỡ dậy, hỏi tiếp:
- Ba người kia là ai?
Đường Tăng thưa:
- Đó là những đồ đệ mà bần tăng thu phục được dọc đường.
Thái Tông mừng lắm truyền lệnh cho quan hầu:
- Mau sửa soạn yên cương ngựa của trẫm, mời ngự đệ lên ngựa cùng trẫm về triều.
Đường Tăng lạy ta, cưỡi lên ngựa. Đại Thánh múa gậy sắt đi sát bên cạnh, Bát Giới, Sa Tăng dắt ngựa gánh đồ theo sau xa giá cùng về Tràng An. Thật là:
Năm nào dự yến thanh bình,
Trăm quan văn võ triều đình xênh xang.
Diễn pháp thủy lục đàn tràng,
Vua ban chiếu chỉ lên đường sang Tây.
Điệp văn xuất cảnh trao tay,
Ngũ hành phối hợp mang ngay kinh về.
Tai ương, hoạn nạn vượt qua,
Công thành toại nguyện nay về Tràng An.
Bốn thầy trò Đường Tăng theo xa giá vào triều. Khắp thành không ai là không biết người lấy kinh đã về.
Lại nói các nhà sư chùa Hồng Phúc là nơi ở cũ của Đường Tăng ở Tràng An thấy mấy cây tùng ngọn nào cũng quay cả về hướng đông thì kinh ngạc nói:
- Quái nhỉ, đêm qua lặng gió, mà sao ngọn tùng lại vẹo cả đi thế kia?
Trong số đó có người là đồ đệ cũ của Tam Tạng, người ấy nói:
- Mau mặc quần áo vào, lão sư phụ đi lấy kinh về rồi đấy!
Các nhà sư hỏi:
- Sao ngài biết?
Người đồ đệ cũ đáp:
- Năm xưa, khi sư phụ ra đi, sư phụ có dặn rằng: “Sau khi ta đi, hoặc dăm ba năm, hoặc sáu bảy năm, nhưng chừng nào ngọn tùng ngả cả về hướng đông, ấy là lúc ta về”. Sư phụ tôi là bậc thánh, bậc Phật, đã nói tất đúng, nên tôi biết.
Đoạn mọi người mặc áo ra đi, lúc tới phố tây, đã thấy mọi người bàn tán:
- Người lấy kinh vừa mới về, đức vua đã đón vào thành.
Các nhà sư nghe nói vội vàng chạy theo, may ra được gặp. Nhìn thấy xa giá, mọi người chẳng dám tới gần, lẽo đẽo theo đằng sau tới ngoài cửa triều đình.
Đường Tăng xuống ngựa cùng mọi người vào triều, đặt gánh kinh và buộc con long mã lại, cùng Hành Giả, Bát Giới, Sa Tăng đứng cả dưới thềm ngọc. Vua Thái Tông truyền lệnh cho ngự đệ lên điện, mời ngồi. Đường Tăng tạ ơn ngồi xuống, và bảo khiêng số kinh lại. Bọn Hành Giả lấy kinh ra, các quan cận thị chuyển vào. Vua Thái Tông hỏi:
- Lấy được bao nhiêu kinh? Làm thế nào đưa được về?
Tam Tạng thưa:
- Bần tăng khi tới núi Linh Sơn, yết kiến Phật Tổ. Phật Tổ sai hai vị tôn giả A Nan, Ca Diếp dẫn vào lầu báu thết cơm chay, rồi đưa vào gác báu trao kinh. Hai vị tôn giả ấy vòi lễ, vì không chuẩn bị, không có vật gì biếu, nhưng hai vị vẫn trao kinh cho. Bần tăng tạ ơn Phật Tổ để về Đông Thổ, bỗng kinh kệ lại bị làn gió yêu cướp đi mất. May có đồ đệ của bần tăng trổ thần thông đuổi theo lấy lại kinh, nhưng kinh bị vứt tung tóe khắp mặt đất. Kịp khi giở ra xem, mới thấy toàn là kinh không có chữ. Bần tăng sợ quá, quay lại trình bày van xin tha thiết với Phật Tổ. Phật Tổ nói: “Đạo kinh ta mới tạo tác ra, thánh tăng, tỳ kheo mang xuống núi tụng cho nhà trưởng giả họ Triệu ở nước Xá Vệ, phù hộ cho những người trong nhà trưởng giả được bình yên, người chết được siêu thoát, mà chỉ lấy có ba đấu ba bơ vàng cốm, ta còn bảo là lấy rẻ quá, sau này con cháu lấy tiền đâu tiêu dùng”. Bần tăng biết hai vị tôn giả đòi ăn của đút, Phật Tổ cũng biết rõ việc đó, nhưng bần tăng vẫn phải biếu hai vị ấy chiếc bát tộ vàng thì mới được trao kinh có chữ. Số kinh gồm ba mươi nhăm bộ, hai vị chọn một số quyển trong đó trao cho, tổng cộng là năm nghìn linh bốn mươi tám quyển. Số ấy là số hợp với số bộ tạng.
Vua Thái Tông mừng lắm, bèn truyền lệnh:
- Quan Quang lộc tự bày tiệc ở điện Đông Các để tạ ơn.
Chợt nhìn thấy ba vị đồ đệ đứng dưới thềm, mặt mũi dị thường, nhà vua bèn hỏi:
- Mấy đồ đệ này là người nước ngoài à?
Tam Tạng phủ phục xuống thưa:
- Đồ đệ cả họ Tôn, pháp danh Ngộ Không, thần quen gọi là Tôn Hành Giả. Hắn là người động Thủy Liêm, núi Hoa Quả, nước Ngạo Lai, thuộc Đông Thắng Thần Châu. Năm trăm năm trước, do đại náo thiên cung, bị Phật Tổ nhốt trong một chiếc hộp đá đè dưới núi Lưỡng Giới ở Tây Phiên, đội ơn đức Quan Âm Bồ Tát khuyến thiện, hắn tình nguyện quy y, thần khi đi qua đó đã cứu hắn ra, công lao bảo hộ dọc đường là nhờ ở hắn nhiều lắm. Đồ đệ hai họ Trư, pháp danh Ngộ Năng, thần thường gọi hắn là Trư Bát Giới. Hắn vốn ở động Vân Sạn núi Phúc Lăng. Do hắn làm yêu quái ở thôn Cao Lão, nước Ô Tư Tạng, rồi đội ơn Bồ Tát khuyến thiện, lại được Hành Giả thu phục, dọc đường chịu khó gánh hành lý, lội nước cũng có công. Đồ đệ ba họ Sa, pháp danh Ngộ Tĩnh, thần còn gọi là Sa Hòa Thượng. Hắn vốn là yêu quái sông Lưu Sa, đội ơn Bồ Tát khuyến thiện, theo đạo Sa Môn. Còn con ngựa này không phải là của bệ hạ ban cho đâu.
Vua Thái Tông nói:
- Màu lông giống hệt, sao lại không phải?
Tam Tạng thưa:
- Khi thần lội qua khe Ưng Sầu, núi Xà Bàn, con ngựa đó bị con ngựa này ăn thịt mất. May nhờ Hành Giả đi hỏi lai lịch con ngựa này, mới biết hắn là con trai của Tây Hải Long Vương, vì có tội, may được Bồ Tát cứu thoát, bảo hắn làm ngựa đỡ sức chân cho thần. Khi ấy hắn biến thành con ngựa giống y con ngựa trước, nên bệ hạ không phân biệt được. Dọc đường hắn trèo đèo lội suối, vượt núi băng ngàn, khi đi thần cưỡi, lúc về chở kinh, toàn nhờ vào sức hắn cả.
Thái Tông nghe xong, thán phục mãi không thôi, đoạn lại hỏi:
- Đường sang Tây phương xa độ bao nhiêu?
Tam Tạng thưa:
- Theo lời Bồ Tát là mười vạn tám nghìn dặm. Dọc đường thần chẳng ghi được mọi điều, chỉ biết rằng đã trải qua mười bốn lần nóng lạnh, ngày ngày vượt núi, tháng tháng băng đèo, qua bao rừng thẳm, lội bao sông sâu, đi qua kể cũng nhiều nước, tới nước nào đều có đóng dấu vào điệp văn.
Đoạn Tam Tạng gọi:
- Đồ đệ, mang điệp văn lại đây nộp trả cho đức vua.
Điệp văn được dâng lên. Thái Tông nhìn xem thấy tờ giấy cấp vào ngày trước ngày rằm tháng chín năm Trinh Quán thứ mười ba ba ngày, bèn cười nói:
- Lặn lội lâu ngày vất vả quá! Hiện tại đã là năm Trinh Quán thứ hai mươi bảy rồi.
Tờ điệp văn có đóng dấu nước Bảo Tượng, nước Ô Kê, nước Xa Trì, nước Tây Lương đàn bà, nước Tế Trại, nước Chu Tử, nước Tỳ Kheo, nước Diệt Pháp, còn có cả dấu của quận Phượng Tiên, châu Ngọc Hoa, phủ Kim Bình nữa. Thái Tông xem xong, sai cất đi.
Chợt có quan đương giá tới mời đi dự tiệc, Thái Tông bèn dắt tay Đường Tăng cùng xuống điện.
Thái Tông hỏi:
- Mấy đồ đệ có biết nghi lễ không?
Tam Tạng thưa:
- Đồ đệ của thần đều xuất thân là yêu quái chốn rừng rú thôn quê, chưa từng am hiểu nghi lễ của thánh triều Trung Hoa, muôn xin bệ hạ tha tội.
Thái Tông cười nói:
- Không bắt tội đâu! Không bắt tội đâu! Xin mời cả vào điện Đông Các dự tiệc.
Tam Tạng tạ ơn, gọi cả ba người vào điện cùng dự. Quả là đại quốc Trung Hoa, thật khác hẳn những nơi khác. Chỉ thấy:
Cửa treo bức thêu gấm,
Đất trải thảm đỏ hồng.
Hương xạ thơm ngan ngát,
Phẩm lạ đẹp vô cùng.
Nào chén hổ phách, chén lưu ly dát vàng điểm thúy;
Nào chén dạ quang, chén bạch ngọc chạm trổ lá hoa
Củ từ bung thật dừ,
Khoai sọ thắng mật ngọt.
Mạch nha mùi thơm phức,
Rong biển vị thanh kỳ.
Mấy loại măng ngon ghê,
Hạt hướng dương bùi béo.
Miến đậu xanh trắng dẻo
Đậu phụ, mộc nhĩ thơm.
Rau rừng với hoa tiên,
Thức nào cũng tuyệt diệu.
Mấy món thức ăn toàn đồ thượng hảo,
Phẩm quả bày kia mới thực thanh kỳ.
Bánh hạnh nhân thơm tho,
Vải thiều và long nhãn.
Lê Tuyên Châu đỏ thắm,
Táo Sơn Đông mỡ màng.
Ngân hạnh vùng Giang Nam,
Cùng là lê đầu thỏ,
Đu đủ, bồ đào nữa,
Lại củ ấu, hạt sen.
Lâm cầm với trám đen,
Mận mơ và sa quả.
Các loại đều đủ cả.
Mọi thứ bày chỉnh tề.
Lại thêm mật ngọt với bánh, chè
Cùng là hương trà và mỹ tửu.
Kể sao hết các món bách vị chân tu tuyệt hảo,
Quả là đại quốc Trung Hoa khác hẳn cõi Tây.
Bốn thầy trò cùng văn võ bá quan ngồi ở hai bên, hoàng đế Thái Tông ngồi ở chính giữa. Các đội múa hát sáo đàn tề chỉnh trang nghiêm. Mọi người dự tiệc vui vẻ suốt một ngày. Thật là:
Quân vương mở hội vui sao,
Chân kinh lấy được, phúc nào to hơn?
Công lao muôn thuở còn truyền,
Hào quang Phật rọi ngai vàng đế vương.
Tối hôm ấy, tiệc tạ ơn kết thúc. Thái Tông quay về cung, các quan cũng lui chầu. Thầy trò Đường Tăng về nghỉ ở chùa Hồng Phúc, các nhà sư trong chùa dập đầu đón tiếp. Vừa vào tới cửa chùa, các nhà sư đã nói:
- Thưa sư phụ, ngọn cây này hôm nay bỗng nhiên đều ngả về hướng đông, chúng con nhớ lời sư phụ ngày xưa, bèn ra ngoài thành đón tiếp, quả nhiên thấy sư phụ đã về.
Tam Tạng vui mừng khôn xiết, bèn bước vào phương trượng. Lúc ấy Bát Giới không hề ăn uống tí gì, cũng không nói năng ầm ĩ ồn ào. Hành Giả, Sa Tăng cũng điềm đạm ít nói. Ấy là do đạo quả đã hoàn toàn, nên tự nhiên an tĩnh như vậy. Sau đó mọi người đi ngủ.
Sáng hôm sau, Thái Tông khai triều, nói với quần thần:
- Trẫm nghĩ tới công lao của ngự đệ sâu xa rộng lớn, không gì báo đền được. Đêm qua trẫm không ngủ, ứng khẩu mấy câu nôm na, nhưng chưa viết ra giấy.
Đoạn truyền lệnh:
- Quan trung thư lại đây, trẫm đọc cho khanh viết.
Bài văn viết rằng:
“Từng nghe lưỡng nghi[328] có hình tượng, hiển hiện che cho chúng sinh: bốn mùa không có hình lặng lẽ tạo nóng rét để nuôi dưỡng muôn vật. Vậy nên: nhìn trời ngắm đất, người bình thường cũng rõ được đầu mối: Sáng âm thấu dương, bậc hiền triết ít kẻ bắt thấu được tận cùng. Thế thì trời đất bao quát cả âm dương, dễ biết được là vì có hình tượng: Âm dương hoạt động trong trời đất, khó thấu tận cùng là vì vô hình thôi. Vậy mới biết hình tượng hiện rõ có chứng cớ, tuy ngu cũng không ngờ vực; Hình tượng lặn đi không nhìn thấy, kẻ trí cũng có khi mê. Huống hồ đạo Phật lại chuộng hư không, vượt vào cõi u minh, giữ lấy tịch mịch, rộng giúp muôn loài, trị yên mười phương. Nâng uy tinh lên trên hết, nên thần lực không gì bằng. Lớn thì bao trùm cả vũ trụ; Nhỏ thì chứa đựng đến tóc tơ. Không diệt không sinh, trải nghìn kiếp mà vẫn trẻ: Như ẩn như hiện, chở trăm phúc vẫn mới nguyên. Đạo lớn diệu huyền, đi mãi không biết đâu là bờ bến: Dòng pháp trong lắng, bơi lặn lường sao được ngọn nguồn. Vậy nên những kẻ tầm thường, bo bo ngu xuẩn, cố giữ chấp trước, không hoặc không nghi làm sao được? Thế rồi đại giáo hưng thịnh, gốc từ Tây phương bừng tỉnh mộng vượt sang triều đình Hán; khơi dòng từ bi chiếu rọi cõi Đông. Thời xưa, khi mới chia hình chia dấu, lời nói chưa chạy xa mà đã thành giáo hóa; Đương lúc thường hiện thường ẩn, dân dã ngưỡng đức mà noi theo. Kịp khi bóng tối lẩn theo chân lý, dời đổi qua các đời, ánh vàng bị che sắc, không soi được ánh sáng ba nghìn: Tượng đẹp mở tranh, chỉ rõ ràng ba mươi hai tướng đẹp. Thế rồi chân ngôn truyền rộng, vớt loài chim ở ba đường: Di huấn vang xa, dẫn sinh linh khắp mười cõi. Nhà Phật có kinh chia ra đại thừa và tiểu thừa, lại có pháp đó là thuật truyền-ngoa-là-chính. Nhà sư của ta là pháp sư Huyền Trang, đứng đầu trong pháp môn, thuở nhỏ cẩn thận thông minh, sớm giác ngộ công quả tam không, lớn lên hợp với thánh thần, hành vi nào cũng gồm trong tứ nhẫn. Gió thông trăng nươc chẳng sánh vẻ hào hoa: Ngọc sáng móc tiên khó so bề cốt cách. Cho nên đem cái trí vô lụy, suy nghiệm thần tinh từ chỗ chưa thành hình, vượt ra sáu cõi lục trần, thật nghìn đời không ai sánh. Lắng lòng nơi nội cảnh, thường thương chính pháp trễ tràng: Thành tâm chỗ cửa huyền, hay bực bội kinh văn sai suyển. Những muốn xét rõ điều lý, mở rộng đường kiến văn đời trước: Phân rõ chân ngụy, mở lối cho kẻ hậu học đời sau. Cho nên lòng mong sang nơi Tịnh Thổ, chu du tới ba cõi Tây Vực, xông pha lặn lội, chống gậy ra đi. Buổi sớm tuyết trắng xóa lên đường, dặm trường mờ mịt; Buổi chiều bãi hoang lương dừng lại, trời đất mông lung. Muôn dặm non sông, rẽ khói mây mà tiến bước: Trăm tầng nóng lạnh, đội mưa gió mà xông lên. Tấm lòng thành coi khinh vất vả, ước vọng lớn muốn thành tựu to, rong ruổi cõi Tây mười bốn năm ròng, đi khắp nước ngoài tìm cầu chính giáo. Vườn Lộc Uyển mến dạo xem hoa; Đỉnh Linh Thứu ngưỡng kỳ mộ lạ. Vâng lời chí ngôn của tiên thánh; Nhận sự chân giáo bậc thượng hiền, xem xét cửa diệu môn, nghiền ngẫm nơi áo nghiệp. Đạo tam thừa lục luật, rong ruổi nơi ruộng đồng; Kinh một tạng trăm hôm, chơi vơi nơi cửa biển. Vậy nên trải qua biết bao góc biển chân trời, cầu tìm được vô số kinh kệ. Tổng cộng được ba mươi nhăm bộ kinh Đại Thừa cốt yếu, gồm năm nghìn linh bốn mươi tám quyển, để dịch ra truyền bá khắp Trung Hoa, tuyên dương đức nghiệp. Dẫn mây lành từ Tây Vực, tưới mưa pháp khăp Cõi Đông. Thánh giáo khuyết nay lại tròn; Dân đen tội mà được phúc. Dập lửa đỏ nơi nhà cháy, cùng thoát đường mê; Soi sáng tối nơi nước vàng, cùng sang cõi Phật. Thế mới biết ác vì nghiệt đọa, thiện do duyên thăng. Đầu mối của sự đọa hay thăng, hoàn toàn do con người cả. Ví như cây quế mọc nơi núi cao, mưa móc thấm mới nở hoa thơm; Hoa sen chồi lên từ sóng xanh, bụi bậm không thể bám vào lá. Đâu có phải tính hoa sen tự trong sạch và chất cây quế tự thẳng ngay đâu, mà là do được mọc ở chỗ cao nên vật nhỏ không làm lụy đến; được sinh ở chỗ sạch, nên loài đục chẳng giây vào. Kìa đến cả loài cây có vô tri còn biết nuôi thiện mà thành thiện, huống hồ loài người có tri thức, lại không biết nương theo phúc mà cầu phúc ư? Mong rằng kinh này sáng soi mãi như hai vầng nhật nguyệt; Phúc lớn lan xa trường tồn mãi cùng đất trời!”
Quan trung thư viết xong, nhà vua cho gọi thánh tăng vào. Khi ấy Tam Tạng đã đứng đợi ngoài triều môn chờ lạy tạ, nghe nói nhà vua cho vời vào, bèn bước vào phủ phục làm lễ. Thái Tông mời lên điện, đưa bài văn cho Tam Tạng xem. Xem xong, Tam Tạng lại cúi lạy tạ ơn, thưa rằng:
- Văn từ của bệ hạ lời lẽ cao cả, nghĩa lý sâu xa, nhưng chưa rõ tên gọi là gì?
Thái Tông nói:
- Ấy là trẫm ứng khẩu lúc đêm khuya để tạ ơn ngự đệ đấy. Vậy gọi là bài “Thái giáo tự” không biết có được chăng?
Tam Tạng dập đầu tán thưởng mãi không thôi.
Thái Tông nói:
Trẫm tài kém ngọc ngà,
Văn từ thua vàng đá.
Còn như phần kinh kệ,
Lại càng ít được nghe.
Bèn ứng khẩu làm ra,
Mấy lời văn quê kệch.
Làm bẩn cả giấy mực,
Múa bút mặt văn nhân.
Lòng áy náy băn khoăn,
Mặt ngượng ngùng xấu hổ.
Thật chẳng đáng bày tỏ,
Xin tâm thành cảm ơn.
Lúc ấy trăm quan lạy mừng đảnh lễ bài ngự văn thánh giáo, rồi truyền khắp trong ngoài.
Thái Tông nói:
- Ngự đệ hãy tụng chân kinh một lần xem sao.
TamTạng nói:
- Thưa bệ hạ, muốn diễn chân kinh phải vào nơi đất Phật chứ, điện báu của bệ hạ không phải là nơi tụng kinh.
Thái Tông mừng lắm, lập tức hỏi quan Đương giá:
- Thành Tràng An có chùa nào thanh tịnh?
Quan đại học sĩ là Tiêu Vũ từ trong ban bước ra tâu:
- Trong thành có chùa Nhạn Tháp là thanh tịnh.
Vua Thái Tông bèn tức thời truyền lệnh cho các quan:
- Mau thành tâm mang mấy quyển chân kinh cùng trẫm tới chùa Nhạn Tháp, để mời ngự đệ tới giảng kinh.
Các quan ai nấy mang vài quyển theo xa giá đưa Thái Tông tới chùa, dựng một ngôi đài cao, sắp xếp ngay ngắn.
Tam Tạng ra lệnh:
- Bát Giới, Sa Tăng dắt con long mã, gánh hành lý. Hành Giả đứng bên cạnh ta.
Lại quay sang phía Thái Tông nói:
- Bệ hạ muốn truyền bá chân kinh trong thiên hạ thì phải sao lục thành một bản phụ khác, thì mới truyền bá được, còn nguyên bản phải giữ gìn trân trọng không được xem thường.
Thái Tông cười nói:
- Lời ngự đệ đúng lắm! Đúng lắm!
Đoạn cho gọi các quan trong viện Hàn lâm và khoa Trung thư sao chép chân kinh. Lại cho dựng một ngôi chùa ở phía đông thành đặt tên là chùa Đằng Hoàng[329]. Tam Tạng mang mấy quyển kinh lên đài, đang định tụng niệm, bỗng ngửi thấy mùi gió thơm phảng phất, tám vị Đại Kim Cương hiện thân giữa tầng không dõng dạc cất tiếng gọi:
- Hỡi người tụng kinh, hãy bỏ kinh xuống, theo chúng tôi về Tây!
Bọn Hành Giả đứng dưới đài và cả con ngựa bạch bỗng từ mặt đất bay thẳng lên trời. Tam Tạng cũng buông mấy quyển kinh, từ đài cao bay vút lên chín tầng mây cưỡi gió bay đi. Thái Tông và các quan vội vàng ngẩng lên trời lễ bái. Đó chính là:
Thánh tăng gắng sức lấy kinh,
Ruổi rong mười bốn năm ròng trời Tây.
Gian lao vất vả đêm ngày,
Trèo đèo lội suối đắng cay muôn phần.
Hoàn thành công quả vô vàn.
Ba nghìn viên mãn đủ vòng đại thiên.
Chân kinh về tới Đại Đường,
Từ nay mãi mãi lưu truyền cõi Đông.
Thái Tông và các quan lạy tạ xong, sau đó sai kén cao tăng tới chùa Nhạn Tháp, dựng đàn chay thủy lục, tụng bộ Đại Tạng Chân Kinh, siêu thoát cho các oan hồn cõi u minh, ban rộng thiện phúc, và cho sao chép số kinh ấy để truyền bá khắp thiên hạ. Chuyện không nhắc nữa.
Lại nói chuyện tám vị Đại Kim Cương cưỡi làn gió thơm đưa bốn vị trưởng lão cùng con ngựa là năm quay về Linh Sơn, cả đi cả về vừa đúng tám ngày.
00201.jpg [/images/images/00201.jpeg]
Lúc ấy chư Phật ở Linh Sơn đang nghe giảng kinh trước mặt Phật Tổ. Tám vị Kim Cương dẫn thầy trò Đường Tăng vào thưa với Như Lai:
- Đệ tử vâng sắc chỉ đưa mấy vị thánh tăng về nước Đường nộp kinh văn, nay trở về dâng trả sắc chỉ.
Đoạn gọi thầy trò Đường Tăng vào nhận chức.
Như Lai nói:
- Này thánh tăng, kiếp trước nhà ngươi là đồ đệ thứ hai của ta, tên gọi Kim Thiền Tử. Chính vì nhà ngươi không chịu nghe thuyết pháp, coi thường đạo giáo của ta, nên ta đày linh hồn nhà ngươi xuống cõi phương Đông. Nay mừng nhà ngươi đã quy y, giữ đạo Sa Môn, tuân theo giáo lý của ta, đi thỉnh chân kinh có nhiều công quả, vậy ta gia phong cho chính quả chức to là Chiên Đàn Công Đức Phật. Tôn Ngộ Không trước kia vì nhà ngươi đại náo thiên cung, ta lấy pháp lực vô biên nhốt nhà ngươi dưới núi Ngũ Hành. May mắn nạn to đã hết, đi theo Thích Giáo. Cũng mừng nhà ngươi bỏ ác theo thiện, dọc đường diệt ma trừ quái có công, sau trước vẹn tròn, gia thăng chính quả chức to là Đấu Chiến Thắng Phật. Trư Ngộ Năng, nhà ngươi vốn là thủy thần Thiên Hà, giữ chức Thiên Bồng nguyên soái, chỉ vì nhà ngươi say rượu trong hội Bàn Đào, trêu ghẹo tiên nga, cho nên bị đày xuống đầu thai hạ giới, thân làm súc vật. May mà nhà ngươi biết quý thân người, làm yêu quái ở động Vân Sạn núi Phúc Lăng, biết theo về đại giáo, vào cửa Sa Môn của ta, dọc đường bảo vệ thánh tăng. Tuy tính ương vẫn còn, sắc tình chưa hết, nhưng dọc đường gánh hành lý có công, gia phong nhà ngươi chức chính quả là Tịnh Đàn Sứ Giả.
Bát Giới miệng lầu bầu:
- Mọi người đều thành Phật, tại sao chỉ mỗi mình con là Tịnh Đàn Sứ Giả?
Như Lai nói:
- Tại nhà ngươi ăn khỏe tính lười, dạ dày to lắm. Mà khắp bốn đại bộ châu trong thiên hạ, những nơi ngưỡng mộ đạo ta rất nhiều, phàm các việc Phật, ta giao cho nhà ngươi làm tịnh đàn, cũng là một chức phẩm có được ăn uống, sao lại không tốt? Còn Sa Ngộ Tĩnh, nhà ngươi vốn là Quyển Liêm đại tướng, do đánh vỡ chiếc chén ngọc lưu ly trong hội Bàn Đào, nên bị đày xuống hạ giới, trú ở sông Lưu Sa làm yêu quái bắt người ăn thịt, sau đó may mắn theo giáo lý của ta, thành kính giữ gìn, bảo hộ thánh tăng, dắt ngựa trèo non có công, gia phong chính quả chức to làm La Hán Mình Vàng.
Rồi Phật Tổ lại nói với con Ngựa Bạch:
- Nhà ngươi vốn là con của Long Vương Tây Dương đại hải Quảng Tấn. Do nhà ngươi trái mệnh cha, mắc vào tội bất hiếu. May được quy y đạo pháp, theo đạo Sa Môn, hàng ngày cõng thánh tăng sang Tây, lại cõng thánh tăng về Đông có công, ta gia phong cho nhà ngươi chức chính quả là Bát Bộ Thiên Long.
Bốn vị trưởng lão đều dập đầu tạ ơn. Con ngựa cũng cúi đầu lạy tạ. Phật Tổ sai các vị Yết Đế dẫn con ngựa xuống thung lũng đằng sau núi Linh Sơn, đến bên ao để hóa rồng. Con ngựa được đẩy xuống ao, trong chớp mắt nó vươn mình, trút hết da lông, thay đổi đầu tóc, vẩy vàng mọc ra khắp người, râu bạc dài hai bên mép, khắp người khí đẹp, bốn vuốt mây lành, hóa rồng bay ra khỏi ao, lượn quanh cửa chùa, sừng sững chống trời trên cây hoa biểu. Chư Phật đều không ngớt tán thưởng pháp lực của Như Lai.
Tôn Hành Giả nói với Đường Tăng:
- Thưa sư phụ, bây giờ con đã thành Phật giống sư phụ rồi, mà vẫn phải đội mãi cái vòng Kim Cô này sao? Sư phụ từ nay vẫn còn đọc bài “Khẩn cô nhi chú” để bóp đầu con nữa hay sao? Sư phụ mau mau đọc bài “Tùng cô nhi chú”, tháo vòng ra đập nát tan tành, đừng để Bồ Tát mang đi hại người khác nữa!
Đường Tăng nói:
- Trước đây chỉ vì con khó bảo, nên phải dùng phép đó để chế ngự con. Nay con đã thành Phật, nên phải dùng phép đó để chế ngự con. Nay con đã thành Phật, cái vòng ấy tự nhiên cũng biến mất, lẽ đâu cứ nằm trên đầu con mãi, con cứ thử sờ lên đầu mà xem.
Hành Giả giơ tay sờ lên đầu, quả nhiên không thấy cái vòng Kim Cô đâu nữa. Bấy giờ bốn vị Chiên Đàn Phật, Đấu Chiến Phật, Tịnh Đàn Sứ Giả và Kim Thân La Hán đã đều thành chính quả, con long mã cũng được trở về với chân như. Có bài thơ làm chứng rằng:
Một thể chân như lạc xuống trần,
Hợp hòa bốn tướng lại tu thân.
Ngũ hành sắc tướng không rồi tịch,
Trăm quái hư danh thấy chẳng bàn.
Chính quả chiên đàn theo đại giác,
Hoàn thành phẩm chức thoát trầm luân,
Kính truyền thiên hạ ân vô lượng,
Năm thánh ngồi cao bất nhị môn.
Lúc ấy năm thánh đã thành chính quả, các vị Phật Tổ, Bồ Tát, Thánh Tăng, La Hán, Yết Đế, Tỳ Kheo, Ưu Bà Di, Ưu Bà Tắc, các vị thần tiên ở các núi các động, các vị đại thần, Lục đinh Lục giáp, Công tào, Già lam, Thổ địa, cùng các vị sư tiên đắc đạo tới nghe giảng kinh, đến bây giờ đều ra về. Thật là:
Đỉnh Linh Thứu ráng đẹp mơ màng,
Cõi Tây phương mây lành quấn quýt.
Rồng vàng ngồi vững chãi,
Hổ ngọc nằm yên vui.
Vầng ô bóng thỏ tùy ý trôi,
Rắn rùa mặc sức bò quanh quẩn.
Phượng tía loan xanh hót lanh lảnh,
Vượn đen hươu trắng chạy tung tăng.
Tám tiết hoa lạ nở tưng bừng,
Bốn mùa quả tiên sai chíu chít.
Tùng già gội cỗi,
Trắc biếc hòe xanh.
Mơ năm sắc quả thơm trĩu cành,
Đào vạn niên chín hồng đỏ mọng.
Muôn quả nghìn hoa như thêu gấm,
Một trời rực rỡ ráng mây lành.
Mọi người chắp tay quy y cùng niệm:
- Nam Vô Nhiên Đăng Thượng Cổ Phật. Nam Vô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Nam Vô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Vô Quá Khứ Vị Lai Hiện Tại Phật. Nam Vô Thanh Tịnh Hỉ Phật. Nam Vô Tỳ Lư Thí Phật. Nam Vô Bảo Tràng Vương Phật. Nam Vô Di Lặc Tôn Phật. Nam Vô A Di Đà Phật. Nam Vô Vô Lượng Thọ Phật. Nam Vô Tiếp Dẫn Quy Chân Phật. Nam Vô Kim Cương Bất Hoại Phật. Nam Vô Bảo Quang Phật. Nam Vô Long Tôn Vương Phật. Nam Vô Tinh Tiến Thiện Phật. Nam Vô Bảo Nguyệt Quang Phật. Nam Vô Hiện Vô Ngu Phật. Nam Vô Bà Lưu Na Phật. Nam Vô Na La Diên Phật. Nam Vô Công Đức Hoa Phật. Nam Vô Tài Công Đức Phật. Nam Vô Thiện Du Bộ Phật. Nam Vô Chiên Đàn Quang Phật. Nam Vô Ma Xi Tràng Phật. Nam Vô Tuệ Cừ Chiếu Phật. Nam Vô Hải Đức Quang Minh Phật. Nam Vô Đại Từ Quang Phật. Nam Vô Từ Lực Vương Phật. Nam Vô Hiến Thiện Thủ Phật. Quảng Trang Nghiêm Phật. Nam Vô Kim Hoa Quang Phật. Nam Vô Tài Quang Minh Phật. Nam Vô Trí Tuệ Thắng Phật. Nam Vô Thế Tinh Quang Phật. Nam Vô Nhật Nguyệt Châu Quang Phật. Nam Vô Tuệ Tràng Thắng Vương Phật. Nam Vô Diệu Am Thanh Phật. Nam Vô Tu Di Quang Phật. Nam Vô Đại Tuệ Lực Vương Phật. Nam Vô Kim Hải Quang Phật. Nam Vô Đại Thông Quang Phật. Nam Vô Tài Quang Phật. Nam Vô Chiên Đàn Công Đức Phật. Nam Vô Đấu Chiến Thắng Phật. Nam Vô Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam Vô Đại Thế Chí Bồ Tát. Nam Vô Văn Thù Bồ Tát. Nam Vô Phổ Hiền Bồ Tát Chư Bồ Tát. Nam Vô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. Nam Vô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát. Nam Vô Tây Thiên Cực Lạc Chư Bồ Tát. Nam Vô Tam Thiên Yết Đế Đại Bồ Tát. Nam Vô Ngũ Bách A La Đại Bồ Tát. Nam Vô Tỳ Kheo Di Tắc Ni Bồ Tát. Nam Vô Vô Biên Vô Lượng Pháp Bồ Tát. Nam Vô Kim Cương Đại Sĩ Thánh Bồ Tát. Nam Vô Tịnh Đàn Sứ Giả Bồ Tát. Nam Vô Bát Bảo Kim Thân La Hán Bồ Tát. Nam Vô Bát Bộ Thiên Long Quảng Lực Bồ Tát.
Ấy là niệm Chư Phật ở tất thảy thế giới.
Nguyện đem thửa công đức,
Đất Phật tổ trang nghiêm.
Trên báo bốn trọng ơn,
Dưới cứu ba đường khổ.
Những kẻ kiến văn tỏ,
Ắt phát tâm Bồ Đề.
Cõi Cực Lạc theo về,
Thân này được tận báo
Tất cả các vị Phật ở mười phương ba cõi, Chư tôn Bồ Tát ma ha tát, Ma ha bát nhã ba la mật.
Truyện Tây du ký đến đây là hết.
HẾT
[1] [/links/id2110/index_split_001.html#id_1] Nhà Hán học xô viết V. I Xêmanốp coi Tam quốc, Thủy hử, Tây du ký là “trung gian giữa anh hùng sử ca và tiểu thuyết”. Xem bài: Tiểu thuyết anh hùng Trung Hoa và vai trò của nó trong việc hình thành nền văn học mới, in trong cuốn Chủ nghĩa hiện thực và tương quan giữa nó với các phương pháp sang tác khác. Viện hàn lâm khoa học Liên Xô xuất bản – Mátxcơva 1962.
[2] [/links/id2110/index_split_001.html#id_2] Tôn Ngộ Không có nghĩa là giác ngộ giáo lý nhà Phật (sắc không).
[3] [/links/id2110/index_split_001.html#id_3] Ngộ Tĩnh có nghĩa là giác ngộ giáo lý nhà Phật (tĩnh tâm).
[4] [/links/id2110/index_split_001.html#id_4] Bát Giới là tám điều răn của nhà Phật, Trư là con lợn. Trư Bát Giới có nghĩa là con lợn đã phá giới luật nhà Phật (8 điều ấy là: không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói bậy, không uống rượu, không trang điểm, không nằm ngồi giường quá rộng, ăn chay).
[5] [/links/id2110/index_split_001.html#id_5] Trong bài Tây du ký khảo chứng Hồ Thích coi Tây du ký là “hàng nhập khẩu”, Tôn Ngộ Không là hình bóng của hoàng tử Hanuman trong trường ca Ramayana của Ấn Độ, giá trị văn học của Tây du ký chỉ là “đùa cợt với đời”. Lỗ Tấn đã bác bỏ quan điểm này, coi Tây du ký là tác phẩm lãng mạn kiệt xuất, cho rằng hình tượng Tôn Ngộ Không bắt nguồn từ Lý thang truyện đời Đường.
[6] [/links/id2110/index_split_001.html#id_6] Lời nói đầu bộ Tây du ký do Phan Quán dịch, nhà sách Khai trí Sài Gòn in năm 1962. Thật ra lập luận này vốn là của A. Walley, người dịch Tây du ký ra tiếng Pháp.
[7] [/links/id2110/index_split_001.html#id_7] Chính sách bỏ ngục, thậm chí chặt đầu các nhà văn, nhà thơ châm biếm chính trị.
[8] [/links/id2110/index_split_001.html#id_8] Theo V. I Xêmanốp, Tây du ký đánh dầu bước chuyển biến từ khuynh hướng “tiểu thuyết anh hùng” mà Tam quốc, Thủy hử là tiêu biểu sang khuynh hướng “tiểu thuyết sinh hoạt” mà Kim Bình Mai, Hồng lâu mộng là tiêu biểu.
[9] [/links/id2110/index_split_001.html#id_9] Sự thật thì Trần Huyền Trang phải trốn đi và triều đình đã có lệnh truy nã, nhưng nhờ có thứ sử Qua Châu là Lý Xương che chở nên mới đi thoát. Bấy giờ, nhà Đường nghiêm cấm việc đi sang phía Tây có lẽ vì sợ thong đồng với Tây phiên.
[10] [/links/id2109/index_split_002.html#id_10] Nguyên văn: Tây du thích ách.
[11] [/links/id2109/index_split_002.html#id_11] Thiệu Khang Tiết: một nhà triết học nổi tiếng đời Tống.
[12] [/links/id2109/index_split_002.html#id_12] Chín lỗ: Bảy lỗ (khiếu) trên mặt (hai lỗ mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, một lỗ mồm) và hai đường đại tiểu tiện.
[13] [/links/id2109/index_split_002.html#id_13] Nguyên văn: Cao thiên thượng thánh đại từ nhân giả Ngọc Hoàng đại thiên tôn huyền khung cao thượng đế.
[14] [/links/id2109/index_split_002.html#id_14] Nguyên văn: kim khuyết vân cung Linh Tiêu bảo điện.
[15] [/links/id2109/index_split_002.html#id_15] Nguyên văn: một chữ khải to. Chữ khải là một kiểu chữ nét chân phương, ngay ngắn, mạch lạc, rõ ràng, khác với kiểu chữ thảo
[16] [/links/id2109/index_split_002.html#id_16] Nguyên văn: Hoa Quả sơn phúc địa, Thủy Liêm động động thiên, chúng tôi (N D) lược ngắn lại.
[17] [/links/id2109/index_split_002.html#id_17] Nguyên văn: Thiên tuế
[18] [/links/id2109/index_split_002.html#id_18] Năm giống: Người xưa chia động vật ra làm năm loài: loài người là “khỏa trùng “(trần trụi), loài thú là “mao trùng “, loài chim là “vũ trùng “, loài cá là “lân trùng “(có vẩy), loài côn trùng là “giới trùng “(theo nguyên chí)
[19] [/links/id2109/index_split_002.html#id_19] Thế giới Diêm phủ: tức thế giới loài người
[20] [/links/id2109/index_split_002.html#id_20] Tính: chữ Hán nghĩ là “họ”, đồng âm với chữ tính nghĩa là “tính tình”. Hầu vương không hiểu trả lời nhầm.
[21] [/links/id2109/index_split_002.html#id_21] Nguyên văn: Đẻ ra ở trên cây
[22] [/links/id2109/index_split_002.html#id_22] Ngộ Không: có nghĩa là giác ngộ lẽ sắc không. Đạo Phật quan niệm rằng ai giác ngộ được lẽ sắc không, thậy sự vật chỉ là không hư giả tạm, thì mới sáng suốt, hết mê mờ.
[23] [/links/id2108/index_split_003.html#id_23] Bồ Đề: Phiên âm tiếng Ấn Độ, có nghĩa là giác ngộ chân lý, biết rõ mọi việc ác (theo nguyên chú).
[24] [/links/id2108/index_split_003.html#id_24] Nguyên thần: Đạo giáo quan niệm linh hồn người chết đã trải qua tu luyện thì gọi là nguyên thần. Những người đắc đạo thành tiên, nguyên thần của họ có thể thoát khỏi xác, tự do tự tại (theo nguyên chú).
[25] [/links/id2108/index_split_003.html#id_25] Tam thừa: “thừa” là vận chuyển, chuyên chở. Phật giáo cho rằng Phật pháp có thể đưa người tu hành đến cõi Phật. Nhưng tùy theo trình độ và phương pháp của người tu hành có khác nhau, mà chia làm ba bậc: Đại thừa, trung thừa và tiểu thừa, gọi chung là “tam thừa “(theo nguyên chú).
[26] [/links/id2108/index_split_003.html#id_26] Bàng môn: Đạo giáo cho rẳng chỉ có đạo luyên “kim đan” là con đường tu hành chính đáng, còn ngoài ra đều là bàng môn, ngoại đạo cả, không thành chính quả (theo nguyên chú).
[27] [/links/id2108/index_split_003.html#id_27] Bói bằng cỏ thi: Một phép bói của Kinh Dịch.
[28] [/links/id2108/index_split_003.html#id_28] Chân tức là chân nhân, đạo tiên.
[29] [/links/id2108/index_split_003.html#id_29] Nhập định: Một cách tu hành trong Phật giáo, ngồi ngay mắt nhắm, không có những tạp niệm, để có thể cảm thông với quỷ thần (theo nguyên chú).
[30] [/links/id2108/index_split_003.html#id_30] Tọa quan: Một phép tu hành của Phật gia, đạo gia, ngồi trong phòng nhỏ, kín, cách biệt với bên ngoài, trong một thời gian lâu (theo nguyên chú).
[31] [/links/id2108/index_split_003.html#id_31] “Nấu hồng diên, luyện thu thạch”: Hồng diên là kinh nguyệt của phụ nữ, thu thạch là tinh hoàn nam giới (theo nguyên chú)
[32] [/links/id2108/index_split_003.html#id_32] Công án tỉ ngữ: công án dùng lời nói hình tượng để so sánh, ví von giúp người nghe khai mở, hiểu được ý chỉ.
[33] [/links/id2108/index_split_003.html#id_33] Ngoại tượng: những cái thiện ác, tốt xấu biểu hiện ở thân, cùng hành động ngần ngừ biểu hiện ra ngoài (theo nguyên chú).
[34] [/links/id2108/index_split_003.html#id_34] Bao bì: chỉ hình thức, cái vỏ biểu hiện ra bên ngoài, giống nghĩa “ngoại tượng” (theo nguyên chú)
[35] [/links/id2108/index_split_003.html#id_35] Huyệt Dũng Tuyền: ở gan bàn chân (theo nguyên chú)
[36] [/links/id2108/index_split_003.html#id_36] Cung Nê Viên: Chỗ thóp trẻ con giật giật. Còn gọi là cung Nê Hoàn (theo nguyên chú)
[37] [/links/id2108/index_split_003.html#id_37] Tin môn: tức đỉnh thóp (theo nguyên chú)
[38] [/links/id2108/index_split_003.html#id_38] Đan điền: vùng dưới rốn 3 tấc (theo nguyên chú)
[39] [/links/id2108/index_split_003.html#id_39] Chín lỗ: Bảy lỗ (khiếu) trên mặt (hai lỗ mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, một lỗ mồm) và hai đường đại tiểu tiện.
[40] [/links/id2108/index_split_003.html#id_40] Nguyên văn: Bộ binh: một loại lính liên lạc dùng trong khi có tình hình khẩn cấp thời Nguyên, mỗi ngày phải chạy trạm 400 dặm (theo nguyên chú).
[41] [/links/id2108/index_split_003.html#id_41] Trâu sắt: Trâu đúc bằng sắt, người xưa đúc ném xuống sông để tránh thủy tai.
[42] [/links/id2107/index_split_004.html#id_42] Nguyên văn: phương tốn.
[43] [/links/id2107/index_split_004.html#id_43] Nguyên tác: Ba xa không bằng hai gần.
[44] [/links/id2107/index_split_004.html#id_44] Ba cõi: Dịch chữ Hán “tam giới”, từ nhà Phật, gồm dục giới (thế giới của chúng sinh có tình dục), sắc giới ở trên cõi dục giới, của những sinh vật còn hình sắc nhưng không có dục vọng, và trên nữa là vô sắc giới, thế giới không còn hình tượng, dục vọng (theo nguyên chú).
[45] [/links/id2107/index_split_004.html#id_45] Khỏa trùng: những loài thân thể trần trụi, không có lông.
[46] [/links/id2107/index_split_004.html#id_46] Nguyên văn: Cao thiên thượng thánh đại từ nhân giả Ngọc hoàng đại thiên tôn huyền khung cao thượng đế.
[47] [/links/id2107/index_split_004.html#id_47] Nguyên văn: Kim khuyết văn cung Linh Tiêu bảo điện.
[48] [/links/id2107/index_split_004.html#id_48] Hạ nguyên: Đạo giáo gọi bầu trời là thượng nguyên, mặt đất là trung nguyên, dưới nước là hạ nguyên (theo nguyên chú).
[49] [/links/id2107/index_split_004.html#id_49] Nguyên văn: Hàng long.
[50] [/links/id2107/index_split_004.html#id_50] Xem chú thích trên Hồi 2.
[51] [/links/id2106/index_split_005.html#id_51] Ngự mã giám: Trại nuôi ngựa của Thượng đế.
[52] [/links/id2106/index_split_005.html#id_52] Bật mã ôn: Theo truyền thuyết dân gian loài khỉ có thể giúp ngựa tránh được bệnh dịch. Tác giả sử dụng truyền thuyết này, đổi chữ tỵ (tránh) thành chữ bật (giúp), đổi chữ ôn (bệnh) thành chữ ôn (ấm), (theo nguyên chú),
[53] [/links/id2106/index_split_005.html#id_53] Xích thố, truy phong: Hai giống ngựa quý, ngày đi ngàn dặm. Nguyên bản còn kể tên nhiều giống ngựa quý trong “bát tuấn cửu dật”.
Bát tuấn: tám con tuấn mã của Chu Mục Vương: Xích ký, Đạo ty, Bạch nghĩa, Thân luân, Sơn tử, Cử hoàng, Hoa lưu, Lục nhĩ.
Cửu dật: vua Hán Hiến Đế từ đất Đại về có chín con ngựa quý: Phù vân, Xích điện, Tuyệt quần, Dật phiêu, Tử yến lưu, Lục ly thông, Long tử, Lân câu, Tuyệt trần. Chúng tôi (ND) lược bớt chỉ dịch tượng trưng hai giống ngựa quý quen thuộc là Xích thố và Truy phong mà thôi.
[54] [/links/id2106/index_split_005.html#id_54] Tề thiên đại thánh có nghĩa là: thánh lớn bằng trời.
[55] [/links/id2106/index_split_005.html#id_55] Nguyên văn: Cái bọc thối.
[56] [/links/id2106/index_split_005.html#id_56] Nguyên văn: Răng sữa còn chưa rụng.
[57] [/links/id2105/index_split_006.html#id_57] Nguyên văn: Quang minh chính đại.
[58] [/links/id2105/index_split_006.html#id_58] Môi vượn, tay gấu: Những món ăn ngon và bổ.
[59] [/links/id2105/index_split_006.html#id_59]Nguyên văn: Ly hận thiên Thái Thượng Lão quân.
[60] [/links/id2105/index_split_006.html#id_60]Nguyên văn: Đến giọt nước cũng không tiết ra được.
[61] [/links/id2104/index_split_007.html#id_61]Chín lỗ: Hai lỗ mắt, hai lỗ mũi, hai lỗ tai, một lỗ mồm ở đầu, và hai lỗ đại, tiểu tiện.
[62] [/links/id2104/index_split_007.html#id_62]Tam sinh: Ba con gồm lợn, trâu, dê dùng trong cuộc cúng tế.
[63] [/links/id2103/index_split_008.html#id_63] Tam quy: Đạo Phật gọi quy y phật, quy y pháp, quy y tăng là tam quy.
Ngũ giới: Năm điều cấm của đạo Phật: cấm sát sinh, cấm trộm cắp, cấm tà dâm, cấm nói dối, cấm uống rượu (theo nguyên chú).
[64] [/links/id2102/index_split_009.html#id_64] Thập địa: Mười cảnh giới mà Bồ Tát khi tu hành đã trải qua: Hoan hỷ địa. Ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm tuệ địa, Cực nạn thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện tuệ địa và Pháp chân địa (theo nguyên chú)
[65] [/links/id2102/index_split_009.html#id_65] Tứ sinh: Chỉ bốn loài: Thai sinh, noãn sinh, tháp sinh và hóa sinh
[65] Lục đạo: Sáu đường: Địa ngục, ngã quỷ súc sinh, A tu la, Nhân gian và thiên thượng, Con người, tùy theo hành vi thiện ác mà luân hồi mãi trong sáu đường này (theo nguyên chú)
[66] [/links/id2102/index_split_009.html#id_66] Du già: Dịch âm chữ phạn nghĩa là không có tham vọng.
[67] [/links/id2102/index_split_009.html#id_67] Nước yếu: Thứ nước quá yếu không đỡ nổi một vật gì, dù là một sợi lông nhỏ.
[68] [/links/id2102/index_split_009.html#id_68] Ngũ cốc: chỉ lúa nước, kê, cao lương, lúa mì và đậu.
[69] [/links/id2102/index_split_009.html#id_69] Trư: tiếng Hán nghĩa là con lợn.
[70] [/links/id2102/index_split_009.html#id_70] Ngũ huân: Phật giáo gọi năm loài cây theo giới điều phải kiêng, không được ăn gồm: Hành, tỏi, ớt, hạt tiêu, rau thơm.
[70]Tam yếm: Đạo giáo gọi ba loài: chim nhạn trên trời có đạo vợ chồng, chó trên mặt đất biết giữ nhà, loài cá chim ở trong nước biết trung kính, thì cấm không được ăn thịt, gọi là “tam yếm” (theo nguyên chú).
[71] [/links/id2101/index_split_010.html#id_71] Bảng vàng: Bản yết thị của nhà vua viết bằng giấy màu vàng nên thường gọi là bảng vàng (Theo nguyên chú)
[72] [/links/id2100/index_split_011.html#id_72] Từ là một thể thơ cách luật của Trung Quốc, phát triển mạnh ở đời Tống, có số chữ trong bài cố định, câu dài câu ngắn, cùng cách gieo văn có phối hợp chặt chẽ với âm nhạc. Có nhiều làn điệu từ khác nhau. Trong hồi này chúng tôi chuyển dịch sang thể thơ Việt Nam cho thích hợp.
[73] [/links/id2100/index_split_011.html#id_73] Nguyên văn: Nói chuyện trên đường, bụi cỏ có người.
[74] [/links/id299/index_split_012.html#id_74] Quân ngự lâm: Đội quân đi theo hầu hạ bên cạnh Hoàng đế còn gọi là quân vũ lâm (theo nguyên chú).
[75] [/links/id299/index_split_012.html#id_75] Tam tào: chỉ nhân tào, âm tào và thủy tào cùng hợp lại đối án xét xử.
[76] [/links/id299/index_split_012.html#id_76] Nguyên văn: xuất một thần sư
[77] [/links/id299/index_split_012.html#id_77] Chữ nhất nghĩa là “một”, thêm hai nét, thành chữ tam nghĩa là “ba”
[78] [/links/id299/index_split_012.html#id_78] Nguyên văn: châu huyện
[79] [/links/id298/index_split_013.html#id_79] Chùa Tướng Quốc xây dựng theo sắc chỉ nhà vua.
[80] [/links/id298/index_split_013.html#id_80] Ba đường: theo đạo Phật, người làm ác phải rơi xuống ba đường: đường địa ngục lửa dữ đốt thân, đường súc sinh ăn thịt lẫn nhau, đường quỷ đói bị đao thương đâm chém. (theo nguyên chú).
[81] [/links/id298/index_split_013.html#id_81] Năm đế ba vương: các triều vua xa xưa nhất của Trung Quốc: Phục Hy, Hoàng Đế, Thần Nông, đế Nghiêu, đế Thuấn và vua Vũ nhà Hạ, vua Thành Thang nhà Thương, vua Văn vương, Võ vương nhà Chu.
[82] [/links/id298/index_split_013.html#id_82] Đô tăng cương: Tăng cương là chức vụ của nhà sư quản lý các tăng, còn đô tăng cương là chức vụ tổng quản lý các tăng (theo nguyên chú).
[83] [/links/id298/index_split_013.html#id_83] Sa bà: thế giới loài người.
[84] [/links/id298/index_split_013.html#id_84] Xá Vệ, Kỳ Viên: nơi đức Phật giảng đạo bên Ấn Độ.
[85] [/links/id298/index_split_013.html#id_85] Nguyên văn: giang sơn.
[86] [/links/id297/index_split_014.html#id_86] Non Thứu: tức nước Phật, còn đọc là non Tựu
[87] [/links/id297/index_split_014.html#id_87] Tỳ kheo tẩy nghiệp: Theo truyền thuyết nhà Phật: có một lần đức Phật Như Lai nom thấy dưới chân một ngôi thần ở mé Đông bắc vườn Cấp Cô Độc một người tu hành đau khổ. Như Lai hỏi ông ta: “Tại sao lại ngồi một mình buồn khổ như vậy?”. Người kia nói: “Tôi đang ốm và chẳng có ai chăm sóc”. Đức Phật Như Lai bèn lấy tay xoa nhẹ lên người người ấy, người ấy khỏi bệnh ngay. Như Lai lại đỡ người ấy dậy, dắt đi tắm, thay quần áo mới cho, và khuyên cố gắng tu hành. Từ đấy, người ấy tâm thần rất là thoải mái. Câu chuyện này, nhà Phật gọi là: tỳ kheo tẩy nghiệp. Tỳ kheo, dịch theo âm tiếng Ấn Độ, nghĩa là người tu hành (theo nguyên chú).
[88] [/links/id296/index_split_015.html#id_88] Sáu giặc: Đạo Phật cho rằng có sáu thứ gây tác hại cho sự tu hành: sắc (màu sắc), thanh (âm thanh), hương (mùi thơm), vị (vị ngon), xúc (tiếp xúc) và pháp (sự vật) gọi là “sáu giặc).
[89] [/links/id296/index_split_015.html#id_89] Sa môn: người xuất gia tu hành theo đạo Phật.
[90] [/links/id296/index_split_015.html#id_90] Đầu đà: Danh từ của nhà chùa chỉ lớp tu hành đàn em.
[91] [/links/id296/index_split_015.html#id_91] Nguyên văn phun thành mấy hạt ngọc.
[92] [/links/id296/index_split_015.html#id_92] Nghĩa là: Sắt thần quý trấn giữ thiên hạ.
[93] [/links/id296/index_split_015.html#id_93] Nguyên văn: Có thủ đoạn hàng long, phục hổ, có thần thông lật bể nghiêng sông.
[94] [/links/id296/index_split_015.html#id_94] Nguyên văn: Một bàn tay chẳng địch nổi hai nắm tay, hai nắm tay không bằng bốn bàn tay.
[95] [/links/id296/index_split_015.html#id_95] Nguyên chú: tay bắt chuồn chuồn. Đó là cử động của người sắp chết.
[96] [/links/id295/index_split_016.html#id_96] Nguyên văn: Tức nổi tam bành, bảy khiếu bốc khói.
[97] [/links/id295/index_split_016.html#id_97] Nguyên văn: Hỗn nguyên thượng chân.
[98] [/links/id295/index_split_016.html#id_98] Tam sinh: Ba loài trâu, dê, lợn giết để tế thần.
[99] [/links/id295/index_split_016.html#id_99] Nguyên văn: Không biết cao thấp.
[100] [/links/id295/index_split_016.html#id_100] Nguyên văn: Bố thí.
[101] [/links/id294/index_split_017.html#id_101] Nguyên văn: ngồi đáy giếng dòm trời.
[102] [/links/id294/index_split_017.html#id_102] Nguyên văn: Bẩn mắt
[103] [/links/id294/index_split_017.html#id_103] Nguyên văn: giấy mỡ (hoặc giấy xoa dầu) dùng để chống ẩm.
[104] [/links/id294/index_split_017.html#id_104] Nguyên văn: Phải xem xét động tĩnh.
[105] [/links/id294/index_split_017.html#id_105] Nguyên văn: Bịt tai mắt mọi người.
[106] [/links/id294/index_split_017.html#id_106] Nguyên văn: thuận tay dắt dê, tương kế tựu kế.
[107] [/links/id294/index_split_017.html#id_107] Theo truyền thuyết của Trung Quốc, Toại Nhân là người phát minh ra lửa đầu tiên bằng cách dùi cây vào đá.
[108] [/links/id294/index_split_017.html#id_108] Xích Bích: Một địa điểm trên sông Trường Giang. Thời Tam Quốc, Chu Du và Khổng Minh dùng mẹo hỏa công đốt cháy toàn bộ hạm đội và tám mươi vạn quân Tào Tháo ở đây.
[109] [/links/id294/index_split_017.html#id_109] A Phòng: Tên một cung điện nguy nga tráng lệ do Tần Thủy Hoàng xây dựng, bị Hạng Võ đốt cháy, ngọn lửa ba tháng mới tắt hết.
[110] [/links/id294/index_split_017.html#id_110] Nguyên văn: Tán chuyện lâu mục cả ghế.
[111] [/links/id293/index_split_018.html#id_111] Nguyên văn: bánh thịt.
[112] [/links/id293/index_split_018.html#id_112] Trong tiếng Hán còn có nghĩa là gấu đen.
[113] [/links/id293/index_split_018.html#id_113] Đạo phật cho rằng vạn sự, vạn vật đều là một Pháp thân Chân thể mà ra cả, nhưng tùy theo nhân duyên hội hợp khác nhau mà thành những hiện tượng khác nhau.
[114] [/links/id292/index_split_019.html#id_114] Nguyên văn: giầy cỏ ba tai
[115] [/links/id292/index_split_019.html#id_115] Nguyên văn: cho người phương tiện thì mình cũng được phương tiện.
[116] [/links/id292/index_split_019.html#id_116] Nguyên văn: như bốn hợp với sáu
[117] [/links/id292/index_split_019.html#id_117] Ông tổ các thần thánh có tài quét sạch yêu ma
[118] [/links/id291/index_split_020.html#id_118] Cửu chuyển đơn: Linh đơn qua chin lần luyện.
[119] [/links/id291/index_split_020.html#id_119] Hoa trì: Tên gọi bộ phận dưới lưỡi.
[120] [/links/id291/index_split_020.html#id_120] Đan điền: khu vực cách rốn chừng hai phân.
[121] [/links/id291/index_split_020.html#id_121] Ly, Khảm: phương Nam thuộc hỏa (lửa), phương Bắc thuộc thủy (nước) ở đây nói âm dương điều hòa.
[122] [/links/id291/index_split_020.html#id_122] Nguyên văn: không có ba người làm mối, sáu người làm chứng, và lễ rượu, trà.
[123] [/links/id291/index_split_020.html#id_123] Ngũ huân, tam yếm: ngũ huân là năm thứ gia vị mà người tu hành không ăn: Hành, hẹ, tỏi, ớt, rau thơm. Tam yếm: ba loài kiêng không giết thịt, chim nhạn, chó và cá đen (ô ngư). Vì chim nhạn có nghĩa vợ chồng, chó biết nghĩa chủ tớ, ca đen có lòng trung kinh.
[124] [/links/id291/index_split_020.html#id_124] Nguyên văn: ba thạch.
[125] [/links/id291/index_split_020.html#id_125]Năm uẩn: năm cái chứa góp, che lấp: sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Sắc là vật chất, thụ là lĩnh nhận lấy, tưởng là mơ tưởng tới sự vật mình đã tiếp xúc, hành là trôi chảy, cái nhớ cứ bám víu trôi chảy mãi, thức: ý thức phân biệt những cái sự vật mà mình đã vấn vít. Năm cái uẩn này nó che lấp chân tình, khiến cho người ta mê hồn, cho sự vật là có thật.
[126] [/links/id291/index_split_020.html#id_126]Xá Lị Tử (Sariputra): một trong mười đệ tử giỏi của Phật
[127] [/links/id291/index_split_020.html#id_127] Xem chú thích về năm uẩn ở trên
[128] [/links/id291/index_split_020.html#id_128] Nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý: tức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà đạo Phật gọi là sáu căn (lục căn)
[129] [/links/id291/index_split_020.html#id_129] Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp: Đạo Phật gọi lá sáu trân (lục trần): sáu thứ bụi bặm làm vẩn đục chân tinh, tương ứng với sáu căn ở trên. Những gì đối với mắt là sắc trần, đối với tai là thanh trần, đói với mũi là hương trần, đối với lưỡi là vị trần, đối với thân là xúc trần, đối với thân là pháp trần.
[130] [/links/id291/index_split_020.html#id_130] Nhãn giới, ý thức giới: cảnh giới mà mắt nhìn thấy được và ý thức phân biệt được.
[131] [/links/id291/index_split_020.html#id_131] Vô minh, vô minh diệt tận: trạng thái tâm trí không sáng suốt, u tối và trạng thái của sự “vô minh” bị diệt hết.
[132] [/links/id291/index_split_020.html#id_132] Lão tử, lão tử diện tận: trạng thái sự vật già, chết và trạng thái không còn sự già chết.
[133] [/links/id291/index_split_020.html#id_133] Niết bàn (Nirvana): một tráng thái của tâm hồn con người hoàn toàn trong sáng, an vui, tự tại, giải thoát một khi con người đã hoàn toàn giác ngộ, thoát khỏi mê lầm, trừ bỏ hết tham, sân si không bị ràng buộc bởi phiền não, ô uế, đồng thời thể nhập vào vũ trụ không gian vô biên, thời gian vô tận vượt ra ngoài cảnh sinh tương đối.
[134] [/links/id291/index_split_020.html#id_134] Ba đời: Quá khứ, hiện tại và tương lai.
[135] [/links/id291/index_split_020.html#id_135] Bậc vô thượng chảnh đẳng chánh giác: Chỉ bậc công quả lại được cao nhất, chân chính bình đẳng, hiểu biết hoàn toàn chân chính của Phật do tu tại phép Bát nhã bà la mật đã mang lại.
[136] [/links/id291/index_split_020.html#id_136] Bài chủ đại thần: Chủ là những lời nói bí mật, huyền nhiệm có công hiệu phi thường, Kinh Bát nhã ba la mật đa này cực kỳ thần diệu nên gọi là đại thần chủ.
[137] [/links/id291/index_split_020.html#id_137] Bài chú vô thượng: Bài chú cao siêu nhất, vượt mọi bài chú khác.
[138] [/links/id291/index_split_020.html#id_138] Bài chú mà không có bài chú nào sánh bằng.
[139] [/links/id291/index_split_020.html#id_139] Yết đế yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha.
Dịch âm theo tiếng Hán, lời chú bằng tiếng Phạn Gâti gâti Pragâti prasangâti Bodhi Svàhà.
Theo nguyên tắc “bí mật bất phiên” bí mật thì không dịch nên để nguyên, chỉ phiên âm thôi.
[140] [/links/id290/index_split_021.html#id_140] Nguyên văn: Chào thí chủ
[141] [/links/id290/index_split_021.html#id_141] Nguyên văn: ném đá ném gạch, rồi kêu mở cửa
[142] [/links/id290/index_split_021.html#id_142] Theo lịch Trung Quốc, sáu mươi năm gọi là một hoa giáp, hết lại quay lại từ đầu. Vì vậy, sáu mươi mốt tuổi, Hành Giả gọi là “hoa giáp trùng phùng”.
[143] [/links/id290/index_split_021.html#id_143] Chữ Hán là quẻ bói đồng âm với chữ hào là món ăn ngon. Ở đây tác giả chơi chữ là cách sử dụng từ đông âm dị nghĩa.
[144] [/links/id290/index_split_021.html#id_144] Nguyên văn: chim ưng tha chim sẻ
[145] [/links/id290/index_split_021.html#id_145] Nguyên văn: thoát thân muốn nhảy ra khỏi lưới, lại gặp rọ của ông chài.
[146] [/links/id289/index_split_022.html#id_146] Nguyên văn: Chín đầu tám đuôi.
[147] [/links/id289/index_split_022.html#id_147]Nguyên văn: Người giỏi không vội, người vội không giỏi.
[148] [/links/id289/index_split_022.html#id_148]Nguyên văn: Phương tốn.
[149] [/links/id289/index_split_022.html#id_149] Lỗ Ban: Ông tổ nghề mộc.
[150] [/links/id289/index_split_022.html#id_150]Nguyên văn: Mây nhiều người ít.
[151] [/links/id288/index_split_023.html#id_151] Tức sao Tâm. Sao này lặn về phương Tây là ứng vào tiết thu (theo nguyên chú)
[152] [/links/id288/index_split_023.html#id_152] Nước yếu: Dịch chữ “nhược thủy”, có nghĩa là nước yếu quá không đỡ nổi dù chỉ là một chiếc lông ngỗng nhỏ bé, huống hồ thuyền bè thì chìm ngay.
[153] [/links/id288/index_split_023.html#id_153] Nguyên văn: Gần son thì đỏ, gần nhọ thì đen.
[154] [/links/id288/index_split_023.html#id_154] Nguyên văn: Mua bán
[155] [/links/id288/index_split_023.html#id_155] Lỗ Ban: Ông là thợ mộc (theo nguyên chú)
[156] [/links/id287/index_split_024.html#id_156] Mộc mẫu: tức thủy ngân, chỉ Trư Bát Giới
[157] [/links/id287/index_split_024.html#id_157] Kim công: tức chì, chỉ Tôn Ngộ Không
Hoàng bà: thần của tỳ tạng
Xích tử: thần của tâm
Những từ trên đều là thuật ngữ của Đạo giáo
[158] [/links/id287/index_split_024.html#id_158] Câu này ý nói phải có sự tu luyện công phu mới đạt được chính quả, cũng như muốn nắm bắt được những hiểu biết chân chính (chân tiên tức) thì cần phải phá vỡ lớp vỏ che đậy bên ngoài rắn chắc (thiết đạn).
[159] [/links/id287/index_split_024.html#id_159] Nguyên văn: Lão bồ tát
[160] [/links/id287/index_split_024.html#id_160] Dắt ngựa: Ở đây còn có nghĩa “dắt mối” (theo nguyên chú)
[161] [/links/id287/index_split_024.html#id_161] Chu lễ: Một cuốn sách dạy nghi lễ của Trung Quốc thời xưa
[162] [/links/id286/index_split_025.html#id_162] Còn lâu, còn lâu.
[163] [/links/id286/index_split_025.html#id_163] Nguyên văn: Xiểm nịnh.
[164] [/links/id286/index_split_025.html#id_164] Nguyên văn: Cò không ăn thịt cò
[165] [/links/id286/index_split_025.html#id_165] Nguyên văn: Đã điều động con trùng tham của em rồi.
[166] [/links/id285/index_split_026.html#id_166] Áo chuông: Một loại áo của nhà sư, hình như cái chuông, trên chật dưới rộng (theo nguyên chú).
[167] [/links/id284/index_split_027.html#id_167] Ngũ hành: kim loại, gỗ, nước, lửa, đất
[168] [/links/id283/index_split_028.html#id_168] Nguyên văn: Nữ bồ tát
[169] [/links/id283/index_split_028.html#id_169] Nguyên văn: “Người hiền tự có trời giúp”.
[170] [/links/id283/index_split_028.html#id_170] Nguyên văn: có mệt nhọc mà không có công.
[171] [/links/id283/index_split_028.html#id_171] Nguyên văn: Giấu quỷ trong tay áo
[172] [/links/id283/index_split_028.html#id_172] Nguyên văn: Tai mềm
[173] [/links/id282/index_split_029.html#id_173] Nguyên tác: Đại thánh gia gia.
[174] [/links/id282/index_split_029.html#id_174]Mỗi một câu thơ, tác giả dùng tên một vị thuốc bắc: Ô đầu, hải mã, nhân sâm, quan quế, chu sa, phụ tử, tân lang, khinh phấn, hồng nương tử, mà vẫn miêu tả được cảnh bọn thợ săn bị thương vong (theo nguyên chú).
[175] [/links/id282/index_split_029.html#id_175] Nguyên văn: Dùi băng lấy lửa, ép tuyết tìm dầu.
[176] [/links/id282/index_split_029.html#id_176] Nguyên văn: Làm bếp mới biết giá gạo củi.
[177] [/links/id282/index_split_029.html#id_177] Nguyên văn: Nhặng xanh đậu trên râu, của cải tự đến.
[178] [/links/id281/index_split_030.html#id_178] Nguyên văn: Nữ bồ tát.
[179] [/links/id281/index_split_030.html#id_179] Nguyên văn: Hồn gia.
[180] [/links/id281/index_split_030.html#id_180] Nguyên văn: Lang quân.
[181] [/links/id281/index_split_030.html#id_181] Nguyên văn: Đến nói chuyện thị phi, hẳn là người thị phi.
[182] [/links/id281/index_split_030.html#id_182] Nguyên văn: Ông thần mở đường.
[183] [/links/id281/index_split_030.html#id_183] Nguyên văn: Đem Sa Tăng trói rúm chân tay như bốn vó ngựa.
[184] [/links/id280/index_split_031.html#id_184] Nguyên văn: lang quân.
[185] [/links/id280/index_split_031.html#id_185] Nguyên văn: Cho người phương tiện cũng là cho mình phương tiện.
[186] [/links/id280/index_split_031.html#id_186] Nguyên văn: Có tính chất của nước.
[187] [/links/id280/index_split_031.html#id_187] Kim công, mộc mẫu, hoàng bà: Xem chú thích ở hồi hai mươi hai và hai mươi ba.
[188] [/links/id280/index_split_031.html#id_188] Xem chú thích trang trên.
[189] [/links/id280/index_split_031.html#id_189] Nguyên văn: Một sợi tơ không thành chỉ, một bàn tay vỗ khó kêu.
[190] [/links/id280/index_split_031.html#id_190] Nguyên văn: Đại Thánh gia gia
[191] [/links/id280/index_split_031.html#id_191] Nguyên văn: Tùy làng vào làng
[192] [/links/id279/index_split_032.html#id_192] Nguyên văn:
Trai không vợ như của cải không có chủ
Gái không chồng như lạc giữa không trung.
[193] [/links/id279/index_split_032.html#id_193] Xá lị: (Xá lị tử) danh từ nhà Phật dùng chỉ tinh cốt Phật.
[194] [/links/id279/index_split_032.html#id_194] Nguyên văn: “Một ngày làm thầy như làm cha cả đời”.
“Bố con không để hận thù quá một đêm”.
[195] [/links/id279/index_split_032.html#id_195] Nguyên văn: “Diệp để thân đào thế”.
[196] [/links/id277/index_split_034.html#id_196] Nguyên văn: Chân nhân.
[197] [/links/id276/index_split_035.html#id_197] Nguyên văn: nát vụn sáu lá gan phổi, dùng hết quả tim ba lông bảy lỗ.
[198] [/links/id275/index_split_036.html#id_198] Nguyên văn: Đốt giọt băng trên ngọn lửa.
[199] [/links/id274/index_split_037.html#id_199] Bài thơ làm bằng tên các vị thuốc: ích tri, vương bất lưu hành, tam lăng tử, mã đâu linh, kinh giới, phục linh, phòng kỷ, trúc lịch, hồi hương.
[200] [/links/id274/index_split_037.html#id_200] Nguyên văn: công đến tự nhiên thành.
[201] [/links/id274/index_split_037.html#id_201] Chùa Bảo Lâm dựng theo sắo chỉ vua ban.
[202] [/links/id274/index_split_037.html#id_202] Nguyên văn: Trong Phật hội, đều là người có duyên.
[203] [/links/id274/index_split_037.html#id_203] Một thạch, đơn vị đo lường cũ bằng mười đấu.
[204] [/links/id274/index_split_037.html#id_204] Vua Hán Vũ đi ra vuờn chơi làm bài ca “thu phong tử” than tiếc tuổi già.
[205] [/links/id274/index_split_037.html#id_205] Tần Thủy Hoàng có chiếc gương soi các cung nữ, biết được rõ tâm địa của mỗi người.
[206] [/links/id274/index_split_037.html#id_206] Dữu Lượng: Một viên tướng giỏi đời Tấn. Một đêrn, các tướng ngắm trăng trên lầu, bất chợt Lượng đến. Mọi người định bỏ trốn. Luợng vui vẻ giữ mọi người lại, cùng nhau làm thơ vịnh trăng.
[207] [/links/id274/index_split_037.html#id_207] Ngày hối: Ngày cuối tháng âm lịch.
[208] [/links/id274/index_split_037.html#id_208] Ngày sóc: Ngày mồng một âm lịch hàng tháng.
[209] [/links/id274/index_split_037.html#id_209] Theo thuyết nhà Phật: Hai tám là mười sáu, chỉ sự viên mãn, đầy đủ. Chín chín tám mốt. Tính từ ngày đông chí trở đi tám mươi mốt ngày là vào lúc giữa xuân, muôn vật tuơi tốt, ở đây chỉ sự tu đạo đến chỗ vẹn tròn đầy đủ.
[210] [/links/id273/index_split_038.html#id_210] Nguyên văn: Vẽ hùm khắc ngỗng.
[211] [/links/id273/index_split_038.html#id_211] Nguyên văn: Không tin người thẳng trong những người thẳng, đề phòng kẻ bất nhân trong những người nhân đức.
[212] [/links/id272/index_split_039.html#id_212] Kim, mộc: chỉ Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới.
[213] [/links/id272/index_split_039.html#id_213] Tiêu Hà: Thừa tướng của Hán Cao Tổ.
[214] [/links/id272/index_split_039.html#id_214] Nguyên văn: Quả hồ lô không miệng.
[215] [/links/id271/index_split_040.html#id_215] Nguyên văn: giã tỏi.
[216] [/links/id271/index_split_040.html#id_216] Nguyên văn: điếc mũi không uống rượu.
[217] [/links/id270/index_split_041.html#id_217] Chữ “khiếu” là kêu và chữ “kiệu” đồng âm nên Hành Giả nghe nhầm.
[218] [/links/id270/index_split_041.html#id_218] Nguyên văn: Làm bằng cái bấc đèn.
[219] [/links/id269/index_split_042.html#id_219] Nguyên văn “nhiều sợi lông dệt thành tấm chăn”
[220] [/links/id268/index_split_043.html#id_220] Nguyên văn là “gia gia”
[221] [/links/id268/index_split_043.html#id_221] Tử bình: tên một cách bói
[222] [/links/id268/index_split_043.html#id_222] Nguyên văn “ít gạo ít cải”
[223] [/links/id267/index_split_044.html#id_223] Nguyên văn: công đến tự nhiên thành
[224] [/links/id266/index_split_045.html#id_224] Phương chấn: tức phương đông
[225] [/links/id266/index_split_045.html#id_225] phương thìn: tức phương đông đông nam
[226] [/links/id266/index_split_045.html#id_226] Nguyên văn: dễ như thổi bụi
[227] [/links/id266/index_split_045.html#id_227] nguyên văn: một sợi khó xe dây, một bàn tay không vỗ tay được
[228] [/links/id265/index_split_046.html#id_228] Nguyên văn: như Lã Lương Hồng đánh đổ tấm ván
[229] [/links/id265/index_split_046.html#id_229] Nguyên văn: oan gia đường trốn hẹp
[230] [/links/id265/index_split_046.html#id_230] nguyên văn: Cửu thiên ứng nguyên Lôi thanh phổ độ thiên tôn
[231] [/links/id263/index_split_048.html#id_231] Nguyên văn: “Lá mai vàng chưa rụng, lá mai xanh đã rụng. Trời già sao riêng hại người hiếm hoi.
[232] [/links/id263/index_split_048.html#id_232] Nguyên văn: Con gà không ăn một cách không công.
[233] [/links/id262/index_split_049.html#id_233] Nguyên văn là hương hỏa.
[234] [/links/id262/index_split_049.html#id_234] Thạch” đơn vị đong lường xưa, một thạch là mười đấu.
[235] [/links/id262/index_split_049.html#id_235] Nguyên văn: Một lời nói ra, ngựa tứ khó đuổi.
[236] [/links/id261/index_split_050.html#id_236] Anh oa: Em gái nhỏ.
[237] [/links/id257/index_split_054.html#id_237] Nguyên văn: Tình người là quan trọng ngang chiếu chỉ nhà vua.
[238] [/links/id257/index_split_054.html#id_238] Chân diên: tức chì.
[239] [/links/id257/index_split_054.html#id_239] Chân hống: tức thủy ngân. Những câu thơ này nói về thuật luyện đơn của đạo sĩ.
[240] [/links/id257/index_split_054.html#id_240] Anh nhi: Thuật ngữ của đạo giáo chỉ chì. Ở đây chỉ Tam Tạng, Bát Giới.
[241] [/links/id257/index_split_054.html#id_241] Mẹ đất: Ở đây chỉ Sa Tăng, Hành Giả.
[242] [/links/id256/index_split_055.html#id_242] Ý nói được làm vua. Thời xưa ở Trung Quốc, vua ngồi ngoảnh mặt về phương Nam, và tự xưng là “cô”.
[243] [/links/id256/index_split_055.html#id_243] Nguyên văn: Cành liễu to thì đan thúng, cành nhỏ đan đấu.
[244] [/links/id255/index_split_056.html#id_244] Nguyên văn: Nhánh tỏi xuân
[245] [/links/id255/index_split_056.html#id_245] Tiếng Trung Quốc “cao” là cao và “cao” là bánh đồng âm. Tác giả chơi chữ
[246] [/links/id255/index_split_056.html#id_246] Nguyên văn Hành Giả nói “phóng, phóng, phóng”. Bát Giới nói “lãng, lãng, lãng”. “phóng lãng” nghĩa là phóng túng, buông thả. ở đây ý Bát Giới suy bụng ta ra bụng người, nghi ngờ sư phụ buông thả mê đắm nữ sắc.
[247] [/links/id255/index_split_056.html#id_247] Nguyên văn: Cá kho có thể dùng làm gối cho mèo gối được không?
[248] [/links/id254/index_split_057.html#id_248] Sáu giặc (lục tặc) gồm: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Chúng quấy rối, cướp đoạt thiện pháp làm người ta mê muội. Muốn giác ngộ đạo Tam thừa (đạo phật), phải diệt trừ sáu tên giặc đó.
[249] [/links/id254/index_split_057.html#id_249] Người nước Sở gói bánh nếp hình sừng bò thả xuống sông Mịch La nơi Khuất Nguyên tự vẫn để viếng ông vào ngày Tết Đoan dương (hay) Đoan ngọ ngày năm tháng năm âm lịch.
[250] [/links/id253/index_split_058.html#id_250] Ba hoa: Một phép tu dưỡng của đạo giáo: Ba hoa tụ ở đỉnh đầu, năm khí về nguồn. Ba hoa rụng thì chết. “Ba hoa chưa rụng” chỉ sự sống
[251] [/links/id253/index_split_058.html#id_251] Bốn đại: theo thuyết nhà Phật, bốn chất: đất, nước, lửa, gió tạo thành cơ thể con người gọi là “bốn đại”.
[252] [/links/id253/index_split_058.html#id_252] Nguyên văn: Đòn xóc nhọn hai đầu tuột hết cả củi.
[253] [/links/id253/index_split_058.html#id_253] Hoàng Bà: ở đây chỉ Sa Tăng-Kim Lão: chỉ Ngộ Không.
[254] [/links/id253/index_split_058.html#id_254] Mộc Mẫu: ở đây chỉ Bát Giới
[255] [/links/id253/index_split_058.html#id_255] Tâm Viên: chỉ Hành Giả
[256] [/links/id252/index_split_059.html#id_256] Người có nhị tâm: chỉ người chưa giác ngộ theo giáo lý nhà Phật, nhìn nhận sự vật còn theo phương pháp nhị nguyên, dùng lý trí tư tưởng phân chia sự vật ra manh mún để xem xét, đánh giá.
[257] [/links/id252/index_split_059.html#id_257] Đoạn này đức Phật giảng về mối quan hệ giữa bản thể (không) và hiện tượng (sắc). Ai hiểu thấu thời giác ngộ.
[258] [/links/id251/index_split_060.html#id_258]Ý nói thầy trò đã giác ngộ, vứt bỏ lối suy nghĩ nhị nguyên luận, giữ tâm mình trong lặng không xao động, nhảy nhót trong những tạp niệm như loài vượn, loài ngựa hiếu động nữa.
[259] [/links/id250/index_split_061.html#id_259] Sách đơn thư: Sách dậy phép luyện linh đơn của đạo giáo
[260] [/links/id250/index_split_061.html#id_260] Nguyên văn: Như thân mình không có chủ.
[261] [/links/id249/index_split_062.html#id_261] Nguyên văn: Chiếc thuyền đậu phụ lật ngoài biển khơi, lại qua trong làn nước nóng
[262] [/links/id249/index_split_062.html#id_262] Khảm ly kỷ tế: Tên một quẻ trong Kinh Dịch, tạo thành do sự kết hợp của nước (khảm) và lửa (ly), chỉ sự đã thành công.
[263] [/links/id248/index_split_063.html#id_263] Nguyên văn: Con thỏ chết con cáo thương, vật cùng loài thì thương nhau.
[264] [/links/id248/index_split_063.html#id_264] Chùa Kim Quang bảo hộ đất nước dựng theo sắc chỉ của nhà vua.
[265] [/links/id248/index_split_063.html#id_265] Nguyên văn: Thấy trời xanh.
[266] [/links/id248/index_split_063.html#id_266] Nguyên văn: như hổ nhai, sói nuốt.
[267] [/links/id247/index_split_064.html#id_267] Mộc mẫu: Chỉ Bát Giới
[268] [/links/id247/index_split_064.html#id_268] Tâm Viên: Chỉ Hành Giả.
[269] [/links/id247/index_split_064.html#id_269] Chùa Phục Long bảo hộ đất nước xây dựng theo sắc chỉ của nhà vua.
[270] [/links/id246/index_split_065.html#id_270] Kinh cức có nghĩa là cây gai.
[271] [/links/id246/index_split_065.html#id_271] Thất hiền: Bảy người hiền ẩn dật cùng giao du với nhau trong rừng trúc đời Tấn.
[272] [/links/id246/index_split_065.html#id_272] Tứ hạo: Bốn ông già ẩn dật ở núi Nam Sơn đời Hán.
[273] [/links/id246/index_split_065.html#id_273] Lục căn lục thức: Tức sau giác quan: mắt, tai, lưỡi, mũi, thân, ý.
[274] [/links/id246/index_split_065.html#id_274] Tượng võng: Chỉ sự vô tâm, rời bỏ thanh sắc, tuyệt hết tư lự.
[275] [/links/id246/index_split_065.html#id_275] Đỉnh châm: Một lỗi thơ chơi chứ. Cách làm là lấy chữ cuối của câu trước làm chữ đầu của câu sau. (Theo nguyên chú) nhưng ở đây, họ chỉ lấy chữ cuối ở hai câu của người thứ nhất làm chữ đầu ở câu thứ nhất của người thứ hai mà thôi.
[276] [/links/id246/index_split_065.html#id_276] Hiến ô: Một tên khác chỉ chức Ngự sử đài: hiến đài và ô đài, tên một chức quan cao trong triều đình (theo nguyên chú).
[277] [/links/id246/index_split_065.html#id_277] Tử Du, Tử Hạ: Hai người học trò giỏi của Khổng Tử theo học môn văn học.
[278] [/links/id245/index_split_066.html#id_278] Đế hồ: Một loại chế phẩm từ sữa bò mà người tu hành thường dùng.
[279] [/links/id243/index_split_068.html#id_279] Nguyên văn: Uống nước đá mài dao.
[280] [/links/id243/index_split_068.html#id_280] Mười đấu gạo là một thạch
[281] [/links/id243/index_split_068.html#id_281] Những nhà tu hành theo đạo Phật coi sáu điều trần dục là sau giặc.
[282] [/links/id242/index_split_069.html#id_282] Nguyên văn: Chuông hiện có chẳng đánh, lại đánh chuông đang đúc.
[283] [/links/id242/index_split_069.html#id_283] Quan thái giám còn gọi là hoạn quan, bị thiến mất dương vât, nên Bát Giới gọi là bà.
[284] [/links/id241/index_split_070.html#id_284] Nguyên văn: Yến tiệc ăn một nhìn mười.
[285] [/links/id241/index_split_070.html#id_285] Nguyên văn: Có cái miệng muối và dấm
[286] [/links/id240/index_split_071.html#id_286] Ô, thỏ: tức là mặt trời, mặt trăng.
[287] [/links/id239/index_split_072.html#id_287] Sấu: tên một giống thú, thuộc loài chó.
[288] [/links/id239/index_split_072.html#id_288] Nguyên văn: Mèo cắn bọng đái vui mừng hão.
[289] [/links/id239/index_split_072.html#id_289] Ngoại thụ phó huấn: Nghĩa là bên ngoài chịu sự dạy bảo.
[290] [/links/id239/index_split_072.html#id_290] Hùng là vật dương, thư là vật âm.
[291] [/links/id238/index_split_073.html#id_291] Nguyên văn: Rắm đã tuột khỏi lỗ đít, còn lấy tay bịt.
[292] [/links/id238/index_split_073.html#id_292] Nguyên văn: Nữ bồ tát
[293] [/links/id238/index_split_073.html#id_293] Nguyên văn: Bán đường ngọt lừa quân tử
[294] [/links/id237/index_split_074.html#id_294] Nguyên văn: Đánh một cái hèn ba phân.
[295] [/links/id237/index_split_074.html#id_295] Nguyên văn: Việc tốt không ra khỏi cửa, việc xấu lan nghìn dặm
[296] [/links/id236/index_split_075.html#id_296] Đại diệu: Những ngôi sao lớn
[297] [/links/id235/index_split_076.html#id_297] Nguyên văn: Có gió thì sóng nổi, hết triều nước lặng êm.
[298] [/links/id234/index_split_077.html#id_298] Nguyên văn: Nói dối không giấu được người làng.
[299] [/links/id230/index_split_081.html#id_299] Trong bài thơ này, tác giả dùng những thuật ngữ con bài chơi mạt chược tạo thành. Như: Thiên bài, cẩm bình phong, quan đăng thập ngũ, Thiên địa phân, long hổ phong vân hội, ảo mã quân, Vu Sơn phong thập nhị đối từ … chúng tôi theo ý dịch nghĩa để được dễ hiểu.
[300] [/links/id230/index_split_081.html#id_300] Nguyên văn: Có công đi mãi ắt có ngày đến
[301] [/links/id229/index_split_082.html#id_301] Nguyên văn: Chớ tin điều thẳng trong điều thẳng, phải phòng bất nhân chỗ người nhân.
[302] [/links/id229/index_split_082.html#id_302] Tức hai thanh kiếm báu Long Tuyền và Thái A mà Lôi Hoàn đời Tấn tìm thấy ở Phong Thành.
[303] [/links/id229/index_split_082.html#id_303] Cây đao quý của Lữ Kiền đời Tấn.
[304] [/links/id229/index_split_082.html#id_304] Thời Chiến Quốc, Quản Trọng và Bão Thúc Nha kết làm bạn thân, hai người cùng đi buôn, khi chia lãi, bao giờ Quản Trọng cũng đòi phần hơn nhưng Bão Thúc Nha vẫn vui vẻ sẵn lòng.
[305] [/links/id229/index_split_082.html#id_305] Tôn Tẫn và Bàng Quyên, hai tướng giỏi thời Chiến Quốc.
[306] [/links/id228/index_split_083.html#id_306] Nguyên văn: Người khác to gan thì thân thể bọc mật, nhà ngươi to gan, mật bọc thân thể
[307] [/links/id227/index_split_084.html#id_307] Nguyên văn: Đánh rắm thêm gió.
[308] [/links/id227/index_split_084.html#id_308] Nguyên văn: Muôn việc nên khoan dung.
[309] [/links/id227/index_split_084.html#id_309] Nguyên văn: Chết đứng nằm chung mộ với người già chỉ tổ lộ chỗ sở đoản của mình.
[310] [/links/id227/index_split_084.html#id_310] Nguyên văn: Một ngày việc quan, mười ngày bận rộn
[311] [/links/id226/index_split_085.html#id_311] Nghĩa là khác họ vẫn sống chung với nhau.
[312] [/links/id226/index_split_085.html#id_312] Trường chay: Ăn chay quanh năm.
[313] [/links/id226/index_split_085.html#id_313] Nguyên văn: Mười ngày ngồi đầu bãi, một ngày đi chín bãi.
[314] [/links/id225/index_split_086.html#id_314] Nguyên văn: trắng nhuộm thành đen.
[315] [/links/id224/index_split_087.html#id_315] Nguyên gốc: Nắm tay nhúng vào giỏ cá, nào tránh khỏi tanh.
[316] [/links/id224/index_split_087.html#id_316] Lão Quân họ Lý: Tức Lão Tử. Theo Sử ký, ông họ Lý tên Nhi.
[317] [/links/id224/index_split_087.html#id_317] Cửa sài: Cửa làm bằng những cành cây ghép lại.
[318] [/links/id223/index_split_088.html#id_318] Nghĩa là chùa nước ngọt cứu dân
[319] [/links/id222/index_split_089.html#id_319] Một thạch bằng mười đấu.
[320] [/links/id221/index_split_090.html#id_320]. “Điêu Toàn Cổ Quái” hay “Cổ Quái Điêu Toàn” đều có nghĩa là tính tình quái dị.
[321] [/links/id219/index_split_092.html#id_321] Nguyên văn: Dừng lại để có trí dài
[322] [/links/id217/index_split_094.html#id_322] Nguyên văn: Gả gà sánh gà, gả chó sánh chó.
[323] [/links/id216/index_split_095.html#id_323] Bốn thứ báu trong phòng văn là: bút, nghiên, giấy, mực.
[324] [/links/id214/index_split_097.html#id_324] Thẻ tre: tức sách cổ. Thời xưa, chưa chế ra giấy, người ta khắc chữ lên những thanh tre.
[325] [/links/id213/index_split_098.html#id_325] Nguyên bản nêu tên bốn viên tri phủ giỏi đời Hán là Cung Toại, Hoàng Bá, Trác Mậu, Lỗ Cung để so sánh. Chúng tôi lược bớt (N. D).
[326] [/links/id212/index_split_099.html#id_326] Nguyên văn: Trông thấy núi rồi còn phải chạy đổ ngựa
[327] [/links/id211/index_split_100.html#id_327] Nguyên văn: Mười ngày ngồi đầu bãi, một ngày đi chín bãi.
[328] Lưỡng nghi - tức âm dương.
[329] Đằng hoàng nghĩa là chép kinh.