Virtus's Reader
Thập Niên 70 - Đoán Mệnh Sư

Chương 30: CHƯƠNG 30: THUẬT TỬ ANH

“Thuật có trăm ngàn loại thuật nhưng tựu chung lại chúng đều vô cùng huyền bí và kỳ ảo. Hầu hết người đời đều đã từng nghe qua Đạo thuật của Đạo gia, Phật thuật của Phật gia tuy nhiên hiếm ai biết rõ kỳ thực “thuật” bắt nguồn từ ngũ y. Trong đó, Đạo y truyền Đạo thuật, Phật y truyền Phật thuật, Vu y truyền Vu thuật, Đan y truyền khí thuật và còn một y nữa nhưng nó gần như đã bị thất truyền từ lâu, hiện tại rất ít người nhắc tới. Đó chính là Mệnh thuật.”

Vừa nói Văn Trạch Tài vừa thả nhẹ một đồng xu vào trong bát nước. Ngay lập tức, đồng xu và giọt máu đụng phải nhau, thế nhưng lại chẳng xảy ra bất cứ phản ứng gì, giọt máu vẫn giữ nguyên hình dạng ban đầu, thậm chí nó như thể có linh tính, cố tình chuyển động ra xa nhằm tránh né sự va chạm.

Quá hãi hùng, quá khiếp sợ, Hạ Chính Quốc chẳng còn biết gì nữa, cứ thế ngồi ngây ra như phỗng, mắt mở trân trân, mồ hôi lạnh chảy dọc hai bên sườn mặt.

“Vậy mà anh lại trúng ngay phải loại thuật thất truyền ấy. Xem ra người hạ thuật cũng có tí chút bản lĩnh đây.” Dứt lời, Văn Trạch Tài tiếp tục ném vào một đồng tiền nữa và cảnh tượng vẫn y chang lúc nãy, không có gì đổi khác. Song, anh chẳng lấy làm bất ngờ bởi mọi thứ đang diễn ra đúng như trong dự đoán.

Nhìn chằm chằm vào chén nước không rời mắt, Văn Trạch Tài đủng đỉnh nói tiếp: “Mệnh Thuật xuất hiện từ thời nhà Triệu (1). Lúc bấy giờ, nổi danh nhất là tứ đại gia tộc Triệu, Tần, Chu, Văn. Mỗi gia tộc này đều có riêng cho mình hai bộ bí kíp về Mệnh Thuật. Sau đó, vì mưu quyền đoạt lợi can dự triều chính nên hai họ Triệu, Tần đã bị Triệu Văn Đế (2) tiêu diệt. Bốn đại gia tộc vì vậy chỉ còn họ Chu và họ Văn.”

“Để bảo vệ Mệnh Thuật không bị xoá sổ cũng như bảo toàn an nguy cho gia tộc, hai nhà Chu, Văn thống nhất phong ấn bốn bộ bí kíp Mệnh Thuật cuối cùng còn sót lại, đồng thời trốn ra biên ải và từ đó trở đi không tiếp tục truyền dạy Mệnh Thuật cho hậu thế nữa.”

Nhờ vẻ mặt bình thản cùng tông giọng trầm ổn của Văn Trạch Tài hoặc cũng có thể là vì câu chuyện quá sức cuốn hút mà Hạ Chính Quốc bỗng chốc tạm quên đi nỗi sợ hãi. Anh ta tò mò cất tiếng hỏi: “Vậy Mệnh Thuật cũng thất truyền từ đó luôn hả?”

Văn Trạch Tài lắc đầu: “Tuy nói là tứ đại gia tộc nhưng kỳ thực trong đó luôn tồn tại những mối quan hệ mật thiết đan xen, chồng chéo, không thể tách rời. Bởi vì, để đảm bảo duy trì dòng máu thuần khiết cho các đoán mệnh sư mà bốn nhà này buộc phải liên hôn với nhau. Điều đó có nghĩa là, bên trong gia tộc Triệu, Tần có không ít con cháu xuất thân từ Chu, Văn. May mắn tại thời điểm cuộc thanh trừng đẫm máu xảy ra, những người này đã nhanh chân tẩu thoát, ẩn mình vào nơi thâm sơn cùng cốc. Nhờ vậy mới thoát khỏi kiếp nạn diệt vong. Ngay khi Triệu Văn Đế vừa băng hà, hai nhà Chu, Văn liền tiến hành truy lùng tung tích và tìm về bốn bộ bí kíp thuộc sở hữu Triệu, Tần. Từ đó, Mệnh Thuật lại được hoàn nguyên như lúc ban đầu.”

Cùng lúc ấy, Chu gia và Văn gia, từng nhà âm thầm tuyển chọn một thành viên xuất sắc nhất trong gia tộc để chuyên tâm bồi dưỡng. Nhưng không ngờ, tân đế vừa mới đăng cơ đã lập tức ban chiếu tầm nã tất cả các mệnh sư trong thiên hạ. Vậy là một lần nữa, hai nhà Chu, Văn bị rơi vào tầm ngắm của triều đình. Để được yên ổn, bọn họ bắt buộc phải thay đổi chỗ ở liên tục, tứ tán lẩn trốn khắp nơi.

Cứ như thế, tình trạng đó kéo dài suốt hai mươi năm ròng. Và trong lúc ấy, hai truyền nhân cũng theo vậy mà trưởng thành.

“Quá mệt mỏi với cuộc sống lang thang vất vưởng, rày đây mai đó, Chu gia quyết định quy phục triều đình. Vì để thể hiện lòng trung thành, Chu gia thi (3) thuật giúp đỡ tân vương tróc nã con cháu Văn gia.”

Thế nhưng ngàn vạn lần Chu gia không ngờ tới, cả gia tộc họ Văn đồng lòng liều chết bảo vệ bằng được truyền nhân duy nhất cũng là vị mệnh sư sở hữu trọn vẹn bí kíp Mệnh Thuật. Văn gia cho người đó thay tên đổi họ đồng thời thiết lập quy củ, ngoại trừ con trai ruột thì không được phép truyền thụ Mệnh Thuật cho bất kỳ một ai khác.

Tất nhiên đây là bí mật gia tộc, Văn Trạch Tài không kể cho Hạ Chính Quốc nghe mà chỉ nói rằng Văn gia đã bị diệt sạch.

“Sau khi tiêu diệt được Văn gia, Chu gia khấp khởi mừng thầm cứ tưởng rằng kể từ đây sẽ được sống trong giàu sang quyền lực, an hưởng thái bình. Tuy nhiên người tính không bằng trời tính, chỉ trong vòng một đêm ngắn ngủi, toàn bộ Chu gia bị quân triều đình khống chế. Nam thì bị đóng cọc xuyên thủng hai bả vai, dùng xích sắt khoá chết xương tì bà (4), còn nữ thì bị bắt làm nô tì hoặc bị bán vào lầu xanh. Và thế là, con cháu Chu gia chính thức trở thành nô lệ của Quân vương.”

Há mồm trợn mắt chăm chú lắng nghe nãy giờ, Hạ Chính Quốc vô thức hít vào một ngụm khí lạnh, gấp gáp hỏi: “Vậy Chu gia cũng chết sạch à? Có còn ai sống sót không?”

“Đương nhiên là có!” Văn Trạch Tài nhướng mày đáp tỉnh bơ: “Bởi vì quân vương tính tình bạo ngược cho nên chưa đầy mười năm tại vị đã có rất nhiều người đứng lên phất cờ khởi nghĩa, mà nổi bật nhất chính là trận Côn Dương (5) trong cuộc đại chiến Hán - Tân lừng danh lịch sử. Nhân lúc loạn lạc, Chu gia liền tìm cách trốn khỏi kinh thành. Sau khi nếm trải biết bao đau khổ, Chu gia không dám ngông nghênh huyênh hoang nữa mà căn dặn hậu thế phải sống khiêm tốn ẩn mình, chỉ làm một đoán mệnh sư bình thường là được, nếu không rơi vào cảnh vạn bất đắc dĩ tuyệt đối không được thi triển Mệnh Thuật, để lộ bản lĩnh thực sự ra bên ngoài.”

Nghe xong, Hạ Chính Quốc siết chặt tay thành nắm đấm, nghiến răng nghiến lợi tức giận nói: “Vậy là cái đám người họ Chu đó hạ thuật tôi đúng không?”

Văn Trạch Tài nhún vai: “Ừhm, nó đó!”

Nhắc tới đây thì không thể không giới thiệu, tổ tiên của Văn Trạch Tài chính là vị truyền nhân duy nhất của Văn gia Mệnh Thuật. Để tăng cường tính bảo mật, Văn gia thực hiện hạ Mệnh Thuật lên chính huyết thống của mình. Cũng bởi vì vậy mà mỗi thế hệ Văn gia chỉ sinh được một người con duy nhất, dù trai hay gái thì tuyệt nhiên cũng chỉ có một mà thôi. Cứ như vậy, trải qua hàng ngàn năm, Văn gia lặng lẽ ẩn mình vào dòng chảy lịch sử mặc cho người đời nghĩ rằng gia tộc họ đã hoàn toàn bị chôn vùi trong trận hạo kiếp năm xưa .

Hạ Chính Quốc mếu máo khóc không ra nước mắt: “Thế giờ phải làm sao? Tôi thật sự không nghĩ ra mình đã lỡ đắc tội với người nào họ Chu luôn ấy. Hơn nữa tôi chỉ là một anh nông dân tầm thường, cả ngày quanh quẩn với ruộng đồng, bao tâm tư đặt hết lên cây cỏ hoa màu. Đến hàng xóm xung quanh còn chẳng có thời gian tranh cãi nữa là đi sinh sự với người ngoài. Thật sự nghĩ không ra luôn ấy!”

Văn Trạch Tài không trả lời câu hỏi mà trực tiếp thả nốt đồng xu cuối cùng vào bát nước. Ngay sau đó, anh dùng kim châm tự đâm vào đầu ngón tay giữa của mình rồi nhỏ một giọt máu xuống theo.

Cơ hồ khi giọt máu ấy vừa chạm vào mặt nước, tức thì cả ba đồng xu đồng loạt rung lên. Càng lúc tần suất dao động càng nhanh cũng như biên độ dao động càng lớn, chúng va chạm với nhau phát ra thanh âm “leng keng…leng keng…” liên tục không ngừng.

Đứng một bên, Hạ Chính Quốc căng mắt theo dõi, tập trung đến độ quên cả việc hít thở.

Trong tích tắc, ba đồng tiền dựng thẳng đứng rồi chụm lại với nhau tạo thành hình nón, bao bọc lấy hai giọt máu. Lúc này, không gian đã bị thu hẹp đi rất nhiều, giọt máu của Hạ Chính Quốc điên cuồng né tránh giọt máu của Văn Trạch Tài, thế nhưng rất dễ để nhìn thấy lớp màng bên ngoài đang dần bị phá vỡ, máu đỏ bắt đầu tràn ra, từ từ loang dần trên mặt nước.

Kế đến, Văn Trạch Tài vừa rì rầm niệm chú vừa che kín miệng bát bằng chính bàn tay mới bị trích máu ban nãy.

Sự việc diễn ra tiếp theo đây mới thực sự rợn người. Đương lúc không gian đang vô cùng tĩnh mịch thì bỗng nhiên từ trong chén nước vang lên tiếng gào khóc xé lòng của trẻ sơ sinh và đan xen vào đó là những tràng cười khanh khách của một người phụ nữ. Cùng lúc này, chén nước bắt đầu rung lên bần bật, nếu không phải Văn Trạch Tài đang dùng sức chấn trụ thì nhất định những thứ quỷ dị bên trong chắc chắn sẽ được phóng thích ra ngoài.

Hạ Chính Quốc vô thức đứng bật dậy, theo bản năng lùi ra thật xa.

Không chỉ một mình anh ta, ngay cả Điền Tú Phương cũng đang sợ chết khiếp. Vốn dĩ dỗ con gái ngủ xong, cô định quay trở về phòng mình, ai dè khi đi ngang phòng khách, đập vào mắt cô là hình ảnh chồng mình đang nhắm nghiền mắt, tay giữ chặt cái chén đang rung lắc dữ dội, miệng thì không ngừng lẩm nhẩm cái gì đó, thoáng nghe qua tưởng chừng như Kinh Phật nhưng chú tâm nghe kỹ thì lại không phải.

Ngay lúc Điền Tú Phương đang hoang mang không hiểu chuyện gì thì tới lượt cái bàn lắc lư dữ dội. Đột nhiên, Văn Trạch Tài mở bừng mắt, nhanh như cắt anh nâng tay rồi dứt khoát đập mạnh cái chén xuống nền nhà.

Vậy nhưng điều khiến cả Điền Tú Phương lẫn Hạ Chính Quốc khiếp đảm tột độ chính là trên mặt đất không hề thấy bất cứ một giọt nước nào mà chỉ có ba đồng tiền nằm lẫn trong những mảnh chén vỡ.

Điền Tú Phương bất tri bất giác thốt lên một tiếng “ông xã” rồi cuống cuồng nhào lại gần, lo lắng nhìn vào bàn tay đang nắm chặt của chồng. Hình như anh ấy đang cầm cái gì đó thì phải?!

Không để vợ phải thắc mắc quá lâu, Văn Trạch Tài từ từ mở lòng bàn tay ra, kỳ lạ thay ở trong đó xuất hiện một giọt máu đỏ tươi.

Hạ Chính Quốc nuốt nước bọt đánh ực, khiếp đảm nhìn Văn Trạch Tài dùng hai ngón tay dễ dàng nhấc giọt máu lên như thể đang nhấc một cái mật rắn, rồi anh ấy đưa cái thứ lủng lẳng, lòng thòng đó tới trước mặt anh và nói: “Nuốt đi!”

Một lời rất đơn giản nhưng đủ khiến Hạ Chính Quốc kinh hồn bạt vía. Nhưng đã tới nước này thì không thể hèn nhát được nữa, Hạ Chính Quốc run rẩy vươn tay. Tại thời điểm giọt máu đó chạm vào da thịt, anh cảm thấy toàn thân mình lạnh toát. Bởi vì quá đỗi tò mò nên Hạ Chính Quốc khẽ lắc tay xem thế nào. Quả nhiên giọt máu ấy không phải giọt máu bình thường mà nó đóng thành một khối tròn, lăn quay lăn lại trên tay anh.

Thấy Hạ Chính Quốc cứ đứng đó tẩn ngẩn tần ngần, Văn Trạch Tài sốt ruột thúc giục: “Mau ăn đi, nhanh lên!”

Hạ Chính Quốc hít vào một hơi thật sâu để tăng lòng can đảm rồi nhắm chặt mắt, ngửa đầu quả cảm nhét cái thứ gớm ghiếc này vào họng.

Không mùi, không vị, không nóng, không lạnh, cảm giác duy nhất Hạ Chính Quốc cảm nhận được là có một thứ gì đó trượt qua yếu hầu. Đang lúc anh định mở miệng nói chuyện thì bất thình lình bụng dưới quặn lên. Cơn đau bất ngờ ập đến khiến Hạ Chính Quốc chỉ biết ôm chặt lấy bụng không ngừng kêu la: “Aizz, đau quá….”

Văn Trạch Tài chỉ chỉ ra phía đằng sau kho chứa củi: “Nhà xí ở bên kia. Ít nhất cũng phải ba hiệp mới xong. Cho nên anh cứ ngồi yên trong đó, đừng hấp tấp chạy ra sớm không là “đựt cáp trum tùm lây” đấy!”

Hạ Chính Quốc chẳng kịp nói lời nào, vội vàng chạy về hướng Văn Trạch Tài vừa chỉ.

Đợi người đi rồi, Điền Tú Phương mới quay sang, bắt lấy tay chồng lật trái lật phải, cẩn thận kiểm tra từng li từng tí. Một lúc sau, cô mới thở phào nhẹ nhõm: “May quá, không bị thương.”

Văn Trạch Tài xoay tay bao bọc lấy bàn tay mảnh khảnh của vợ, nhẹ nhàng trấn an: “Em yên tâm, không phải thứ gì cũng có thể gây thương tổn đến anh đâu.”

Điền Tú Phương khẽ gật đầu rồi tính tiến tới dọn gọn mấy mảnh vỡ đang nằm chổng chơ trên nền đất. Thấy vậy, Văn Trạch Tài lập tức kéo vợ vào lòng: “Đừng chạm vào, cứ để đó cho anh!”

Dứt lời, anh bước nhanh về phòng cầm ra một miếng vải vụn rồi mang cả vải lẫn mấy mảnh vỡ ra sân, châm lửa đốt.

Ủa, bát sành làm sao cháy được? Điền Tú Phương nhíu nhíu mày đang tính ngăn cản chồng thì cảnh tượng trước mắt khiến cô lập tức im bặt. Lửa bừng cháy phừng phực rồi vụt tắt trong nháy mắt và tất cả còn lại chỉ là đống tro tàn. Chẳng lẽ sành cũng có thể cháy thành tro ư?

Trời ơi, cái quái quỷ gì thế này?! Điền Tú Phương sững sờ, đứng chết trân tại chỗ. Một lúc sau, cô mới từ từ ngẩng đầu nhìn về phía chồng với ánh mắt phức tạp khó che giấu.

Văn Trạch Tài hốt hết tro vào ống trúc, đậy nắp cẩn thận rồi mỉm cười khẽ nói: “Em đừng sợ, Văn Trạch Tài là anh, anh cũng chính là Văn Trạch Tài. Anh không phải cô hồn dã quỷ. Bởi vì đời này thiếu nợ mẹ con em cho nên trời cao mới cho anh một cơ hội quay về chuộc lỗi.”

Điền Tú Phương sửng sốt vô cùng. Cô đứng đó, ngây ngẩn nhìn thẳng vào mắt anh như thể muốn xác nhận những lời này là thật lòng hay giả dối.

Hai người cứ thế đứng đó mắt đối mắt nhìn nhau không chớp. Ước chừng mấy phút sau, Điền Tú Phương cuối cùng cũng trả lại cho chồng một cái gật đầu kiên định: “Em tin anh!”

Đối với sự thay đổi quá mức đột ngột của Văn Trạch Tài, Điền Tú Phương không chỉ ngỡ ngàng ngày một ngày hai. Nhưng dù cho anh có khác lạ đến thế nào đi chăng nữa thì trong cô vẫn luôn tồn tại một cảm giác thân thuộc khó nói thành lời.

Nhận được chữ “tin” đáng giá ngàn vàng từ vợ, đáy lòng Văn Trạch Tài trào dâng một niềm hạnh phúc vô bờ bến. Nhân lúc không có ai ở đấy, anh liền hoá yêu thương thành hành động, ngang nhiên cúi xuống phớt nhẹ nụ hôn lên môi bà xã.

Điền Tú Phương hốt hoảng tới độ trừng lớn mắt, nhất thời không biết phản ứng thế nào, cứ đứng đực ra như bị điểm huyệt.

Không phản đối là đồng ý nhé, Văn Trạch Tài được đằng chân lân đằng đầu. Anh quăng cái ống tre sang một góc rồi vươn tay ôm sát vợ vào lòng khiến cho nụ hôn càng thêm nồng nàn và cháy bỏng.

Chẳng biết lấy dũng khí từ đâu, Điền Tú Phương dần khép mi mắt, vươn hai tay choàng lên cổ chồng rồi bắt đầu phối hợp cùng anh.

Môi tìm môi triền miên không dứt…ước gì thời gian mãi mãi dừng lại ở giây phút ngọt ngào say đắm này thì tuyệt vời biết bao!

Song cũng không thể đứng ở đây mãi được, dù rất lưu luyến nhưng Văn Trạch Tài cũng đành phải dừng lại. Điền Tú Phương bẽn lẽn nâng cằm đối diện với chồng. Lúc này, hai má cô đã phiếm hồng còn cặp mắt thì lúng liếng lấp lánh ánh nước, cô khẽ đánh vào ngực anh, nũng nịu mắng: “Anh to gan lớn mật quá đấy, trong nhà đang có khách mà!”

Văn Trạch Tài vẫn giữ nguyên tư thế ôm chặt lấy vợ, anh đặt cằm lên hõm vai cô đợi ổn định nhịp thở rồi mới khẽ cười: “Tối om om thế này thì nhìn thấy cái gì. Mà nhìn thấy thì cũng đã sao, chúng ta là vợ chồng hợp pháp. Anh hôn em quang minh chính đại mà lại!”

Trời ơi cái ông tướng này, đã không biết xấu hổ lại còn nói năng bá đạo nữa chứ, thật là chịu hết nổi! Điền Tú Phương ngượng ngùng đẩy đẩy ngực chồng: “Thôi, buông ra để em về phòng!”

Văn Trạch Tài đứng thẳng người dậy, thuận thế hôn chụt thêm một cái nữa rồi ngọt ngào thì thầm: “Đợi anh vào rồi cùng ngủ nha!”

Lại nữa rồi, Điền Tú Phương đỏ bừng mặt, vội vàng đẩy chồng ra, luống cuống chạy biến vào phòng!

Nhìn theo bóng lưng chạy trối chết kia, Văn Trạch Tài khẽ bật cười. Sau đó, anh khom lưng nhặt ống trúc lên rồi thong thả tiến vào nhà chính.

Còn về phần Hạ Chính Quốc, sau khi bắn liên hoàn 6 hiệp không dừng thì cuối cùng cũng xong. Anh mệt lả, đỡ tường lết ra khỏi nhà xí. Hai cặp giò gần như tê dại vì ngồi xổm quá lâu.

Khó khăn lắm mới lết được tới phòng khách, Hạ Chính Quốc ngồi phịch xuống ghế, thở hổn hển.

Văn Trạch Tài rót cho Hạ Chính Quốc một chén nước sạch, để anh ấy ngồi im nghỉ ngơi còn mình thì đi xuống bếp, châm một ngọn đuốc đem vào nhà xí.

Nương theo ánh lửa, Văn Trạch Tài có thể nhìn rõ ràng một vũng nước đen ngòm bên dưới hầm cầu. Quả nhiên đúng như những gì anh dự đoán!

Kế đến, Văn Trạch Tài nhổ một sợ tóc trên đầu vất xuống hầm cầu rồi quăng cả ngọn đuốc xuống theo.

Gặp nước nhưng lửa không tắt mà ngược lại càng bùng cháy dữ dội hơn. Dường như lửa liếm tới chỗ nào là dòng nước đen sẽ điên cuồng cuộn cao lên, cố gắng nhấn chìm ngọn lửa bằng mọi cách. Hai bên giằng co vô cùng dữ dội, nhưng rất tiếc bóng tối sẽ không bao giờ đẩy lùi được ánh sáng. Ước chừng năm phút sau, bãi nước đen ngòm bị dồn vào một góc rồi vụt biến mất hoàn toàn, như thể nó chưa từng xuất hiện ở nơi đây.

Văn Trạch Tài xúc hai xẻng lớn phân tro rải xuống. Sau đó anh ra giếng múc nước rửa sạch tay chân rồi mới quay về nhà chính.

Ngồi nghỉ một lúc, tuy đã khôi phục được chút ít tinh thần nhưng trông Hạ Chính Quốc vẫn chật vật vô cùng. Thấy Văn Trạch Tài quay lại, anh liền thều thào hỏi: “Cái nước đen đen kia là gì thế?”

“Những thứ dơ bẩn tích tụ trong người anh mấy năm nay.” Vừa nói, Văn Trạch Tài vừa cẩn thận quan sát đuôi mắt Hạ Chính Quốc. Rất tốt, hai chấm đỏ đã không cánh mà bay. Tiếp theo, anh bảo Hạ Chính Quốc xoay đầu lại. Ồ, cái gân xanh ở sau hõm tai cũng lặn mất luôn rồi.

“Xong, thuật đã được giải!” Văn Trạch Tài khẽ cười rồi dặn dò thêm: “Ngày mai tuyệt đối không được ăn gì, chỉ uống nước thôi. Bắt đầu từ ngày mốt quay trở lại ăn uống như bình thường.”

Hạ Chính Quốc liên tục gật đầu tỏ ý đã nhớ rõ. Vì chính mắt chứng kiến tường tận mọi việc nên giờ đây Hạ Chính Quốc tin tưởng và kính trọng Văn Trạch Tài tuyệt đối. Anh khép nép nói: “Văn đại sư, có phải bởi vì tôi bị trúng cái thuật này cho nên con tôi mới chết non đúng không?”

Văn Trạch Tài gật đầu xác nhận: “Anh đã trúng phải Mệnh Thuật chặt đứt con nối dõi có tên gọi Thuật tử anh. Thuật này bắt buộc phải hạ trên cha ruột bởi anh chính là người tiếp xúc gần với cơ thể người mẹ nhất. Đêm khuya, khi hai người ngủ say, những thứ dơ bẩn trong cơ thể anh sẽ di chuyển sang vợ anh, làm suy yếu bào thai trong bụng cô ấy. Vậy nên kể cả đứa bé có được sinh ra thì cũng không thể nuôi sống nổi.”

Thuật tử anh là độc thuật, hại người ta đoạn tử tuyệt tôn, không có con nối dõi tông đường.

Nghe Văn Trạch Tài giải thích, nỗi sợ hãi trong lòng Hạ Chính Quốc tức thì chuyển hoá thành cơn giận dữ ngút ngàn. Một hồi sau anh mới có thể lấy lại bình tĩnh để hỏi đến chuyện quan trọng nhất: “Văn đại sự, thế còn cái thai lần này liệu có thể giữ được không?”

Văn Trạch Tài lắc đầu: “Chuyện này tôi cũng không chắc, phải gặp trực tiếp vợ anh xem tình huống cụ thể thế nào đã.”

===

Chú thích:

(1)Nhà Triệu: (chữ Hán: 趙朝 ; bính âm: Zhào cháo; Hán Việt: Triệu triều) là triều đại duy nhất cai trị nước Nam Việt (Ngày nay gồm 1 phần của Miền Nam Trung Quốc và Miền Bắc Việt Nam) suốt giai đoạn 204–111 trước Công nguyên.

Nguồn gốc của nhà Triệu bắt nguồn từ Triệu Đà, một võ tướng của nhà Tần theo lệnh Tần Thủy Hoàng dẫn quân xuống chinh phạt phía Nam sông Trường Giang (khi đó là lãnh thổ của các bộ tộc Bách Việt). Ông chiếm được nhiều vùng lãnh thổ (nay là Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam), nhưng nhà Tần ở Trung Hoa đã diệt vong. Nhận thấy triều đình trung ương đã sụp đổ, Triệu Đà bèn tách ra cát cứ, dùng những lãnh thổ ông chiếm được để lập nên nước Nam Việt. Sau khi nhà Hán làm chủ Trung Hoa, khi về già, Triệu Đà đã quyết định bỏ việc xưng Đế, quy phục nhà Hán (nhưng vẫn xưng Hoàng đế ở trong Nam Việt). Triệu Đà viết thư gửi cho vua Hán, trong thư Triệu Đà đã công nhận rằng mình là người Trung Hoa, nhà Triệu chỉ là chư hầu phục vụ cho nhà Hán, thay mặt vua Hán để cai trị phía Nam, bản thân ông cũng chỉ coi những thần dân người Việt là đám "Man Di" mà thôi.

(2)Triệu Văn Đế: ( 趙文帝 ) hay Triệu Văn Vương ( 趙文王 ), húy Triệu Mạt, có khi phiên âm là Triệu Muội ( 趙眜 ), còn gọi là Triệu Hồ ( 趙胡 ), sinh năm 175 TCN, mất năm 124 TCN. Triệu Văn Đế là vị vua thứ hai nhà Triệu nước Nam Việt, cháu nội của Triệu Đà, lên ngôi năm 137 TCN. Tại vị 13 năm.

(3)Thi triển

(4)Xương tì bà là xương bả vai.

(5)Trận Côn Dương là trận đánh giữa quân nhà Tân và quân khởi nghĩa Lục Lâm năm 23 trong lịch sử Trung Quốc. Quân triều đình nhà Tân có 42 vạn người đã bị quân khởi nghĩa chỉ có hơn 1 vạn người đánh thua tan tác. Trận đánh khiến quân chủ lực nhà Tân tan rã, không còn khả năng trấn áp các lực lượng chống đối và nhà Tân sụp đổ vào cuối năm đó.

*Diễn biến lịch sử: Năm thứ 8 sau CN, Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, lập ra nhà Tân. Do tiến hành những cải cách mất lòng dân và liên tiếp gây chiến với các ngoại tộc, chính quyền nhà Tân bị sự căm phẫn của nhân dân trong nước vì phải đi lính thú và cung đốn quân phí.

Cùng lúc ấy, trong nước lại xảy ra mất mùa, hạn hán, nạn châu chấu, vỡ đê sông Hoàng Hà, đổi dòng chảy sông Hoàng Hà… khiến cho đời sống nhân dân ngày càng quẫn bách. Trong hoàn cảnh đó, khởi nghĩa bạo loạn chống triều đình đã nổ ra khắp nơi.

Trong các cánh quân khởi nghĩa, quân Lục Lâm là một trong các lực lượng lớn mạnh nhất và có địa bàn hoạt động gần với kinh thành Trường An của nhà Tân, trực tiếp uy hiếp sự tồn tại của nhà Tân. Quân khởi nghĩa nổi dậy từ năm 17, sau nhiều thắng lợi, tới năm 23 đã phát triển lực lượng lớn mạnh. Tham gia vào quân khởi nghĩa có cả những tông thất nhà Hán như Lưu Huyền, Lưu Diễn, Lưu Tú, Lưu Tứ…

Để có danh chính ngôn thuận chống nhà Tân, các thủ lĩnh quân Lục Lâm đã lập hoàng thân Lưu Huyền lên làm vua, đặt quốc hiệu là Hán, lấy niên hiệu là Canh Thủy.

Tháng 2 năm 23, quân Lục Lâm chia làm 2 đường, cánh quân chủ lực do Vương Khuông, Lưu Diễn chỉ huy đánh Uyển Thành; cánh thứ 2 nhỏ hơn do Vương Phượng, Vương Thường, Lưu Tú chỉ huy, mang 2 vạn quân đánh Côn Dương, Định Lăng và đất Yển.

Cuộc chiến ở Côn Dương, có liên quan đến mặt trận Uyển Thành xảy ra đồng thời giữa quân Tân và quân Lục Lâm.

Chương 31: Tính nhân duyên

Nhận được sự đồng ý của Văn Trạch Tài, Hạ Chính Quốc mừng quýnh. Anh kích động đứng phắt dậy, gấp gáp nói: “Vậy ngày mai tôi sẽ dẫn vợ đến đây gặp đại sư.”

Không phải anh không nghĩ tới chuyện mời Văn Trạch Tài về tận nhà, nhưng trước mắt vẫn chưa xác định được kẻ nào là thủ phạm. Nhỡ đâu rút dây động rừng, hắn cùng quá hoá liều xuống tay với vợ con anh thì sao. Không được, chuyện này quá nguy hiểm, anh không dám làm liều, phải hết sức cảnh giác, đề cao phòng bị mới được!

Tất nhiên Văn Trạch Tài thừa hiểu những băn khoăn trong lòng Hạ Chính Quốc, thế nên không cần đối phương trình bày anh đã gật đầu nhận lời ngay: “Được, ngày mai cũng tầm giờ này anh dắt cô ấy tới đây gặp tôi.”

“Cám ơn Văn đại sư, cám ơn Văn Đại sư!”

Cung kính nói lời cảm tạ xong, Hạ Chính Quốc lại lặng lẽ ẩn mình vào trong đêm đen, dò dẫm đi về hướng nhà mình.

Tiễn khách về rồi, Văn Trạch Tài đóng chặt cửa nẻo. Sau đó tâm tình phơi phơi mà quay về phòng, vì anh biết có người đang chờ mình trong đó.

Quả nhiên, Điền Tú Phương chưa ngủ, vẫn đang nằm thấp thỏm đợi chồng.

Văn Trạch Tài tủm tỉm cười, mau chóng leo lên giường, nằm xuống cạnh vợ. Anh thu cánh tay kéo sát vợ vào lòng rồi ghé đầu thủ thỉ: “Bà xã, mai cho anh một đồng nhá.”

Đang tình tứ tự nhiên lại xin tiền, Điền Tú Phương sửng sốt trừng lớn mắt: “Tiền mấy ngày nay anh đưa cho em, em đều cất hết vào hộp gỗ để dưới ngăn tủ ấy. Cần bao nhiêu anh cứ lấy mà dùng.”

“Anh không tự lấy đâu…” Văn Trạch Tài cúi sát vào vành tai vợ thì thầm rồi thuận thế trườn sang cổ cô bắt đầu hôn hôn cắn cắn. Ban đầu chỉ là những cái va chạm rất nhẹ như có như không nhưng càng lúc anh càng tăng thêm lực, in lại rất nhiều ký hiệu độc quyền, khiến Điền Tú Phương không khỏi vật vã giữa mớ cảm giác đan xen lẫn lộn, lúc thì ngưa ngứa lúc lại hơi đau đau.

Cô cắn chặt môi, cố gắng không để bản thân chìm vào những hồi đê mê tê dại, cô run rẩy nâng tay chống lên vòm ngực rắn chắc chẳng hiểu từ khi nào đã nằm đè lên người mình: “Tiền là anh kiếm về mà, anh muốn lấy bao nhiêu hoặc lấy lúc nào cũng được, không cần phải nói với em.”

“Anh kiếm tiền nhưng em là bà quản gia là tay hòm chìa khoá của nhà mình mà, không hỏi em thì hỏi ai bây giờ…” Văn Trạch Tài bận rộn đến độ chẳng kịp ngẩng đầu dậy, anh mê mẩn vuốt ve từng tấc da thịt mềm mại, mịn màng.

Lửa nóng từ bàn tay anh không ngừng khơi lên xúc cảm rạo rực trong lòng cô đồng thời có thể thiêu rụi tâm trí cô bất cứ lúc nào.

Nương theo từng động tác của chồng, Điền Tú Phương như chìm như nổi trong men say tình ái. Khi tất cả vụt lên cao rồi vỡ oà, cô ngất ngây rơi vào ý loạn tình mê rồi mơ mơ màng màng thiếp đi lúc nào không biết.

Sáng hôm sau, bị tiếng nồi niêu xoong chảo đánh thức, Điền Tú Phương giật mình ngồi bật dậy, theo bản năng cúi đầu kiểm tra…ồ, quần áo chỉnh tề, chắc anh ấy đã giúp mình mặc lại đây mà. Nghĩ tới đây, một dòng nước ấm khe khẽ lan tràn nơi đáy lòng, Điền Tú Phương hé cánh môi để lộ một nụ cười ngọt ngào, hạnh phúc.

Sực nhớ tới lời thỉnh cầu của chống tối hôm qua, cô bước xuống giường, tiến tới ngăn tủ, mở hộp gỗ lấy ra một đồng tiền. Sau đó cô đi thẳng xuống nhà bếp, len lén nhét vào tay chồng, khẽ nói: “Anh cầm lấy này.”

Khi tờ tiền lành lạnh chạm vào gan bàn tay, Văn Trạch Tài sung sướng cong cong khoé miệng. Thừa dịp Hiểu Hiểu còn chưa rời giường, anh bất thình lình kéo vợ vào lòng, đặt xuống một nụ hôn lãng mạn chào buổi sáng rồi dẻo giọng nịnh nọt: “Anh xin, cảm ơn bà xã.”

Sau khi ăn xong bữa sáng, Văn Trạch Tài đút túi một đồng vợ cho, thong thả đạp xe đi làm.

Thế nhưng mới đến gần hiệu sách anh liền phát hiện thấy có một người đàn ông to béo mập mạp đang đứng dựa người vào cửa chính. Nguyên bản cứ tưởng quản lý Vương ai ngờ tới gần mới nhìn rõ thì ra là Dương Tiên Bích.

Văn Trạch Tài dựng xe vào lề đường rồi mới cất tiếng chào: “Anh Dương, anh tới từ khi nào thế?”

Nghe tiếng gọi, Dương Tiên Bích như choàng tỉnh khỏi cơn mê, chậm chạp quay đầu lại. Chính bản thân anh cũng chẳng biết mình đã đứng ở đây từ khi nào nữa. Chắc có lẽ cũng lâu lắm rồi, bởi tóc anh đã thấm ướt một tầng hơi sương, quần áo trên người nhăn nhúm, nhàu nhĩ còn gương mặt thì tiều tuỵ, bơ phờ như thể chớp mắt đã già đi cả chục tuổi.

Nhìn thấy người trước mặt là Văn Trạch Tài, Dương Tiên Bích run rẩy kêu lên ba chữ “Văn đại sư”, rồi trịnh trọng cúi gập người một góc 90 độ.

Trời, cái gì thế này? Văn Trạch Tài vội vàng tiến tới nâng Dương Tiên Bích dậy, nhẹ giọng nói: “Anh Dương, đi vào bên trong uống ly trà nóng rồi có gì từ từ nói.”

Trước thái độ lịch thiệp và khiêm nhường của Văn Trạch Tài, Dương Tiên Bích càng thêm tôn kính bội phần. Không ngoa khi nói rằng Văn Trạch Tài chính là một người tài đức vẹn toàn, hơn thế nữa cậu ấy còn là trường hợp hiếm hoi duy nhất có thể khiến Dương Tiên Bích vừa nể phục vừa sợ hãi. Thì cũng phải thôi, một đại sư cao tay như vậy đội lên đầu còn chả kịp làm sao dám đắc tội. Nên nhớ, ngàn vạn lần tuyệt đối không thể đắc tội, bằng không hậu hoạ sẽ rất khó lường!

Hai người một trước một sau tiến vào trong hiệu sách. Văn Trạch Tài pha một bình trà rồi bảo Dương Tiên Bích ngồi đợi một lát, còn anh thì lập tức bắt tay vào công việc như thường nhật.

Dương Tiên Bích thoải mái đồng ý ngay. Anh thẫn thờ dựa lưng vào cái ghế đặt ngay sát cửa chính, vừa nhâm nhi ngụm trà nóng vừa nhìn Văn Trạch Tài tất bật quét tước, dọn dẹp, sắp xếp sách vở. Hai người không ai nói với ai câu nào thế nhưng lại không hề có cảm giác gượng gạo, khiên cưỡng. Mà ngược lại, chính điều ấy đã tạo nên một bầu không khí buổi sớm thật sự thanh bình và dịu nhẹ. Ngồi trong không gian ấy, yên lặng điều hoà hơi thở, Dương Tiên Bích bất tri bất giác cảm thấy bình tâm trở lại, trái tim đang rỉ máu đau đớn cũng dường như được xoa dịu còn đáy lòng đang cuồn cuộn trăm mối tơ vò cũng mau chóng phẳng lặng, êm ả.

Tận khi xử lý xong hết những việc cần làm, Văn Trạch Tài mới ngồi xuống đối diện Dương Tiên Bích, mỉm cười nói: “Xin lỗi anh nha, bắt anh đợi lâu quá.”

Dương Tiên Bích vội vàng xua tay: “Không không, là do tôi đường đột tới đây làm phiền anh. Văn đại sư à, anh đoán đúng rồi. Thằng bé… không phải con tôi!”

Vợ Dương Tiên Bích tên là Lâm Như Hà, vốn xuất thân trong gia đình thuộc giai cấp tiểu tư sản. Sau khi bị hồng vệ binh tịch biên toàn bộ gia sản, Lâm gia phải lang thang đầu đường xó chợ, xin ăn qua ngày. Vậy nên, lần đầu tiên Dương Tiên Bích gặp gỡ Lâm Như Hà cũng chính là lúc cô ấy bị một đám lưu manh vây lại ức hiếp. Anh hùng hảo hán giữa đường thấy việc bất bình chẳng tha, Dương Tiên Bích lập tức nhào vào giải cứu người đẹp.

Và một màn anh hùng cứu mỹ nhân này đã se duyên cho hai người bọn họ đến với nhau. Dương Tiên Bích chủ động hỏi Lâm Như Hà có nguyện ý đi theo mình không. Gần như không cần suy nghĩ, Lâm Như Hà gật đầu đồng ý ngay, thậm chí còn chẳng cần quay về xin ý kiến người lớn trong gia đình.

“Bởi Lâm gia là một gia đình cực kỳ trọng nam khinh nữ. Sống ở đó, cô ấy không những không được yêu thương mà còn bị chính cha mẹ, anh em rẻ rúng, khinh thường. Sở dĩ gặp phải tình cảnh khốn đốn đó là vì mẹ cô ấy muốn đổi lấy mấy cái bánh bao cho thằng con trai nên đã để mặc cho đám lưu manh chơi đùa con gái mình. Tội nghiệp cho cô gái mỏng manh, yếu đuối, rõ ràng có người thân, có gia đình mà chẳng thể nương nhờ, dựa dẫm, vậy nên tôi càng ra sức yêu thương và bảo vệ cô ấy hết mình.”

Và cũng chính vì mong muốn Lâm Như Hà có cuộc sống sung túc, đầy đủ hơn, Dương Tiên Bích mới nhận lời gia nhập bang phái. Còn nhớ cái hôm anh bị trọng thương suýt chết, Lâm Như Hà khóc lóc thương tâm vô cùng như thể sẵn sàng quyên sinh mà đi theo anh: “Lúc ấy, tôi cảm thấy mọi sự hy sinh đều vô cùng xứng đáng, kể cả có phải bỏ mạng ngay tại đó thì cũng không còn gì hối tiếc bởi kiếp này tôi đã tìm được người thật lòng thật dạ yêu thương mình.”

Nói tới đây, Dương Tiên Bích không nhịn được bật cười chua chát: “Haha, giờ nghĩ lại thì có lẽ những giọt nước mắt ấy không phải dành cho tôi. Cô ấy khóc là vì lo lắng tôi chết đi rồi sẽ chẳng còn thằng nào đem tiền, đem tem phiếu về nữa, cô ấy khóc vì sợ phải quay lại cuộc sống đói khổ trước đây.”

Có một sự thật là Dương Tiên Bích không hề khoẻ mạnh cường tráng như vẻ bề ngoài mà trong cơ thể ẩn chứa rất nhiều bệnh tật. Tất cả là do những cơ cực từ thuở nhỏ tích tụ tạo thành. Vậy nên mặc dù đã về ở với nhau được một thời gian nhưng hai vợ chồng vẫn chẳng có lấy một mụn con. Ước chừng phải vài năm sau, Lâm Như Hà mới mang thai. Nhưng lúc sinh thì cô ấy bị rong huyết, suýt mất mạng.

“Tận mắt chứng kiến vợ chiến đấu giữa ranh giới sống chết để sinh con cho mình, tôi thương xót và áy náy vô cùng. Thế là từ đó trở đi, tôi càng chiều chuộng vợ hết mực. Mà cô ấy cũng đằm thắm, dịu dàng hơn, quan tâm, chăm sóc tôi từng ly từng tý một. Những tưởng một nhà ba người sẽ mãi mãi hạnh phúc bên nhau, ai ngờ đâu…”

Ngược thời gian về cái ngày Dương Tiên Bích tìm Văn Trạch Tài coi bói. Sau khi nghe Văn Trạch Tài phán chắc nịch, Dương Tiên Bích bán tín bán nghi quay về nhà âm thầm điều tra. Rất nhanh, anh đã phát hiện ra một vấn đề hết sức bất thường đó là mỗi khi anh hay con trai bị bệnh thì Lâm Như Hà sẽ tìm mọi cách tách hai cha con ra và tuyệt đối không bao giờ để hai người nằm chung một bệnh viện.

Trùng hợp thay, khoảng thời gian này cậu con trai bỗng nhiên cảm thấy không khoẻ trong người, phải nhập viện xét nghiệm tổng quát. Thế là nhân cơ hội ấy, Dương Tiên Bích bèn lén đi theo vợ để xem có gì khuất tất mà bao lâu nay cô ấy cứ phải giấu giấu diếm diếm. Và cuối cùng, Dương Tiên Bích đã khám phá ra sự thật, một sự thật hết sức nghiệt ngã khiến anh chết lặng. Trong phòng bệnh, vợ anh ôm ấp, dựa dẫm vào lòng một thằng đàn ông khác. Mà điều đáng nói ở đây thằng đàn ông ấy không phải ai xa lạ, nó chính là anh em tốt của anh, người đã theo anh lên núi đao xuống biển lửa, người đã cùng anh vào sinh ra tử thề sống chết có nhau. Và cũng bởi vì lăn lộn chốn giang hồ, suốt ngày đâm đâm chém chém cho nên nó đã không may bị cụt mất một cánh tay từ khi còn rất trẻ. Thành thử Dương Tiên Bích luôn ưu ái nó hơn tất cả, chăm sóc cả đời sống vật chất lẫn tinh thần, thậm chí lúc trở về huyện thành an cư lập nghiệp anh cũng dẫn nó theo cùng.

Hồi tưởng lại cảnh tượng đau lòng ấy, Dương Tiên Bích không khỏi cười khổ: “Bình thường ở trước mặt tôi, hai đứa nó gần như chẳng nói với nhau câu nào. Thế mà sau lưng tôi lại ôm ấp, tình tứ. Haha, thật là đáng buồn cười.”

Dừng một nhịp, anh nói tiếp: “Đại sư, bây giờ tôi mông lung lắm, không biết phải xử trí thế nào cho đúng. Một bên là tình nghĩa huynh đệ, đứng chung một con đường, uống chung một dòng nước. Hơn nữa cậu ấy vì theo tôi nên mới cụt mất một cánh tay. Thế nhưng nó lại dám ngủ với vợ tôi, lừa tôi nuôi con trai nó suốt bao năm nay. Đại sư à, anh khuyên tôi nên làm thế nào bây giờ?”

Văn Trạch Tài khẽ nhấp một ngụm trà rồi từ tốn đáp: “Nên làm thế nào, không phải trong lòng anh đã có sẵn đáp án rồi sao? Cái anh không buông bỏ được chính là hai mẹ con Lâm Như Hà!”

Dương Tiên Bích nhắm chặt mắt, đau khổ thừa nhận: “Đại sư nói đúng…”

Người phụ nữ mà anh đã yêu thương bằng cả tấm chân tình, đứa con trai mà anh coi như bảo bối, dốc lòng dốc sức bươn chải, làm ăn những mong tạo dựng cho con một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Vậy mà đùng một cái hai thứ quý giá ấy lại thuộc về một thằng đàn ông khác. Thử hỏi làm sao anh có thể cam lòng? Làm sao có thể nuốt trôi nỗi nhục nhã này đây? Đau, đau lắm chứ, rồi đây cả thiên hạ sẽ chỏ vào mũi mà chê cười thằng Dương Tiên Bích này ngu hơn heo, bị vợ cắm sừng bao nhiêu năm thế mà cứ ngu ngơ chẳng hay biết gì.

Thấy Dương Tiên Bích ủ rũ, chán chường, mất hết niềm tin và hy vọng vào cuộc sống, Văn Trạch Tài liền nói: “Anh Dương, số anh đã định sẵn kiếp này sẽ phải trải qua hai đoạn nhân duyên. Vả lại cho dù anh có muốn níu kéo thì đối phương cũng không chịu đâu.”

Dương Tiên Bích bỗng nhiên cảm thấy đáy lòng dâng lên một cỗ đắng chát: “Đúng, đại sư nói rất đúng. Cho dù tôi không nỡ buông tay thì cô ấy cũng sẽ tuyệt tình mà chặt đứt thôi. Nói không chừng…à không…là nhất định, nhất định bọn họ đã lên sẵn kế hoạch cướp hết tài sản sau đó sẽ đá tôi ra đường như đá một con chó ghẻ!”

Đúng là trên đời này, không gì sâu nặng hơn chữ “tình” và cũng không gì bạc bẽo hơn chữ “tình”! “Người yêu hoa, trồng hoa, hoa không nở. Kẻ vô tình, cắm liễu, liễu lại xanh.”

Chuyện đã đến nước này thì còn gì để mà níu với chẳng kéo nữa, quá chăng chỉ làm bản thân thêm đau khổ mà thôi. Tâm sự thêm một lúc, Dương Tiên Bích xin phép ra về để Văn Trạch Tài còn làm việc. Trước khi đi, anh ấy đưa cho Văn Trạch Tài một trăm đồng.

Tất nhiên, Văn Trạch Tài từ chối ngay: “Ngày đó anh đã trả tôi một đồng tiền rồi. Tôi có nguyên tắc, chỉ thu phí ngay tại thời điểm xem bói. Sau khi kết thúc sẽ không thu thêm bất cứ khoản nào khác nữa. Vậy nên số tiền này anh lấy về đi, tôi không nhận đâu.”

Thế nhưng Dương Tiên Bích không thu lại mà thản nhiên cười nói: “Thì vừa rồi anh mới tính cho tôi một quẻ, nói đời này tôi vẫn còn một đoạn nhân duyên nữa còn gì.”

Ồ, cái này thì đúng nha, haizz, giờ mà khước từ nữa thì nghe chừng dối lòng quá nhỉ. Thôi thì vì hoàn cảnh, đành phải khom lưng trước đồng tiền vậy, chứ ở đó làm bộ thanh cao thì có mà ăn cám. Tuy nhiên cũng không thể lấy không của người ta nhiều như thế được, vậy nên Văn Trạch Tài liền tiết lộ thêm một chút thiên cơ: “Mệnh anh vượng hoả (1), từ giờ trở đi nên cố gắng khắc chế bản tính nóng nảy, làm sao luôn giữ được trạng thái tâm bình khí hoà là tốt nhất. Đoạn nhân duyên tiếp theo của anh sẽ là một người ngoài cứng trong mềm. Tuy cô ấy cũng khá nóng tính nhưng bản chất là một người tốt bụng, nhân hậu, lại rất dễ mềm lòng. Hơn nữa, cô ấy mang mệnh thuỷ vừa hay kết hợp với anh tạo thành một đôi trời sinh, đủ để hai bên bổ khuyết và dung hoà cho nhau.”

Nghe được những lời này, Dương Tiên Bích cảm thấy nhẹ lòng hơn hẳn, bao phiền muộn bỗng chốc vơi đi một nửa. Anh chấp nhận số phận, chấp nhận buông tay và tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp đang đến rất gần. “Sau cơn mưa trời lại sáng, ai xứng đáng thì mình yêu!”

Không chỉ mình Dương Tiên Bích mà lúc này cả Văn Trạch Tài cũng đang rất vui. Thì dĩ nhiên rồi, đang ngồi yên có thần tài gõ cửa, ném thẳng 100 đồng vào mặt, bảo sao không vui cho được. Tiền bạc rủng rỉnh trong túi, anh bỗng cảm thấy tự tin ngời ngời, ngay cả sống lưng cũng bất giác mà vươn thẳng tắp. Này cũng phải thôi, đang lúc có tiền không tranh thủ ngẩng mặt nhìn đời thì còn tính đợi tới khi nào nữa, đúng không?!

Đợi quản lý Vương đến, Văn Trạch Tài liền xin phép ra ngoài xử lý chút việc riêng.

Đầu tiên, anh tính tới chỗ Trần Vân Hồng đặt may thêm mấy bộ quần áo cho vợ và con gái. Thế nhưng đang đi giữa đường anh chợt khựng bước chân, bữa trước có cả thằng Đại Phi đi cùng mà đã gây ra một vụ long trời lở đất thế rồi, lần này đi một mình không biết sẽ ầm ĩ tới mức nào đây? Thôi vậy, quần áo có gì để từ từ cũng được.

Nghĩ vậy, anh liền chuyển hướng, không đi tìm Trần Vân Hồng nữa, mà tới nhà một ông lão họ Hồng.

Ông Hồng trước đây làm dịch vụ mai táng. Trong giới lưu truyền, nhà ông ấy có giấy hoàng cốt tương. Loại giấy này thoạt nhìn rất giống giấy vàng mã, nhưng bản chất lại khác nhau hoàn toàn. Về cơ bản, giấy vàng mã hay còn được gọi là tiền âm phủ được làm từ bột tre và vôi, thường dùng để cúng bái trong các dịp ma chay, giỗ chạp hoặc cúng tế thần linh. Phần đông người dân tin rằng, khi đốt càng nhiều giấy tiền vàng bạc cho người ở cõi âm thì người sống sẽ càng nhận được sự phù hộ, độ trì, phúc trạch an khang, tiền tài vô lượng.

Còn để chế tạo giấy hoàng cốt tương thì ngoài bột tre và vôi ra, phải bỏ thêm tro cốt người chết cùng vài loại thảo dược bí truyền. Chẳng những vậy mà mỗi lần thực hiện, chỉ có thể làm ra đúng 44 tờ, không hơn không kém. Vì thế, loại giấy này vô cùng khan hiếm và điều đáng nói ở đây, người có thể chế tạo ra nó thì chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Vậy nên hôm nay Văn Trạch Tài tới đây chẳng qua cũng là thử chút vận may, chứ kỳ thực anh cũng không dám chắc.

Ông Hồng sinh được ba người con trai, cả ba đều đã thành gia lập thất, phân gia ra ở riêng. Hiện ông đang sống cùng thằng con út. Bởi vì tuổi tác đã cao, ông không tiếp tục hành nghề nữa cho nên cả ngày chỉ quanh quẩn ở nhà, ngồi buồn giết thời gian.

Bây giờ đang là giờ hành chính, con cái đều đã đi làm cả cho nên trong nhà chỉ có một mình ông Hồng.

Khi Văn Trạch Tài tìm đến đúng địa chỉ, anh thấy cổng ngoài chỉ khép hờ chứ không khoá. May quá, có người ở nhà!

Anh vươn tay, gõ gõ mấy cái, thế nhưng chờ mãi chờ mãi đáp lại anh vẫn chỉ là một mảnh im lìm. Cực chẳng đã, Văn Trạch Tài đành ghé miệng qua khe cửa, gọi to: “Xin hỏi, có ai ở nhà không?”

Lúc này, bên trong mới bắt đầu truyền ra chút thanh âm. Là tiếng kéo ghế nhè nhẹ, tiếng mặc áo khoác rồi sau đó là tiếng bước chân thong thả tiến lại gần.

“Ai đấy?”

Theo tiếng nói, cánh cửa gỗ từ từ mở ra. Một ông lão khoảng tầm trên 60 tuổi xuất hiện, tay trái ôm một con chó nhỏ, tay phải tuỳ ý vuốt ve. Ông lão đứng đó, hơi híp mắt tỏ ý thăm dò. Tuy trên mặt ông ấy không có quá nhiều nếp nhăn nhưng có thể thấy hai tròng mắt đã bắt đầu vẩn đục.

Văn Trạch Tài mỉm cười, lịch sự cất tiếng: “Chào ông ạ, cháu họ Văn. Ông cho cháu hỏi ở đây có giấy hoàng cốt tương không?”

Giấy hoàng cốt tương? Ông Hồng sững sờ, lập tức nheo mắt đánh giá thật kỹ chàng trai trẻ trước mặt. Một lúc sau, ông mới nhàn nhạt nhả ra ba chữ: “Bạch hắc xích.” (2)

Gần như ngay tức thì, Văn Trạch Tài đáp lại ngay: “Bạch tử hoàng.” (3)

Mật khẩu trùng khớp, ông Hồng khẽ nhếch khoé miệng, nhướng mày cười: “Mời cậu vào nhà.”

Dứt lời, ông xoay người đi trước.

“Cám ơn ông!” Văn Trạch Tài nhẹ nhàng nối gót theo sau.

Vào tới phòng khách, ông Hồng gật gù nói: “Còn trẻ như này mà đã làm cái nghề cúng tế ma chay, quả là hiếm gặp!”

Văn Trạch Tài khẽ cười: “Dạ không, cháu không làm dịch vụ mai táng, cháu là truyền nhân phái Chu Dịch.”

Nghe thấy hai từ “Chu Dịch”, ông Hồng lập tức ngẩng phắt đầu dậy, thích thú hỏi tới: “Cậu đã xuất sư chưa?”

Văn Trạch Tài gật đầu xác nhận: “Đã xuất sư!”

Ông Hồng mừng quýnh, hỏi dồn dập: “Cậu tính bao tiền một quẻ?”

“Còn tuỳ vào vấn đề ông muốn tính là cái gì. Nhưng hôm nay cháu tới là có việc muốn nhờ cậy, cho nên có thể miễn phí cho ông một quẻ.” Văn Trạch Tài nói thẳng, không hề che giấu việc hôm nay mình đến đây là có mục đích.

Ông Hồng cười vang nhà: “Haha, khá lắm chàng trai trẻ, rất thẳng thắn. Vừa hay chỗ tôi đang có giấy hoàng cốt tương. Nhưng nếu cậu có thể tính đúng thì tôi sẽ chỉ cho cậu một chỗ, sau này muốn mua bao nhiêu cũng được, không cần phiền não kiếm tìm.”

Văn Trạch Tài phấn khởi sáng bừng mắt. Đúng thế, mục đích của anh chính là cái này, nguồn cung cấp giấy hoàng cốt tương!

Anh tủm tỉm cười: “Xin hỏi, ông muốn tính cái gì?”

Ông Hồng lập tức dựng thẳng lưng ghế, giơ ngón tay trỏ vào chính mình: “Nhân duyên của tôi.”

Hả? Văn Trạch Tài hơi ngẩn người, nhìn về ông lão hơn 60 mươi tuổi đang ngồi đối diện. Tính nhân duyên?

===

Chú thích:

(1)Người sinh vào mùa hạ (khoảng từ 5/5 đến 7/8 dương lịch) thường có Bát tự vượng Hỏa. Mệnh này tuy không hoàn toàn xấu nhưng vì Hỏa quá thịnh nên cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc đời chủ sự. Bát tự vượng Hỏa hay còn gọi là thân vượng Hỏa hoặc mệnh vượng Hỏa là một khái niệm thuộc bộ môn Bát tự (Tứ trụ). Thuật ngữ này dùng để chỉ người có hành Hỏa chiếm tỷ lệ lớn hơn so với 4 hành còn lại (Mộc, Thủy, Kim, Thổ) khiến ngũ hành chân mệnh mất cân bằng.

(2), (3) Cái này mình không dám chắc nhưng khi tìm hiểu thì mình thấy có một kiến thức khá thú vị và gần trùng khớp, nên viết ra đây để các bạn cùng tham khảo ạ.

Theo Huyền Không Phi Tinh thì cửu tinh là chín con số đại diện cho chín ngôi sao. Mỗi ngôi sao lần lượt đại diện tương ứng cho: một vận, năm, tháng, ngày. Cửu tinh gồm: Nhất bạch, Nhị hắc, Tam bích, Tứ lục, Ngũ hoàng, Lục Bạch, Thất xích, Bát bạch, Cửu tử.

===

P/s: Sáng nay mình gặp chút xui rủi, đang buồn thỉu buồn thiu thì nhận được một món quà vô cùng bất ngờ và đầy ý nghĩa tới từ bạn @zelld242. Minh xin chân thành cảm ơn bạn rất nhiều ạ!

Chương 32: Gan dạ

Đối diện với mẻ mặt kinh ngạc của Văn Trạch Tài, ông Hồng thoáng lúng túng mất tự nhiên. Ông bối rối ho khụ khụ hai tiếng rồi trừng mắt nói cứng: “Làm sao, già cả thì không được phép có mùa xuân thứ hai hả?”

“Được, đương nhiên là được chứ!” Văn Trạch Tài bật cười.

Nhìn vào tướng mạo có thể thấy vợ của ông Hồng đã qua đời từ nhiều năm trước đây, ước chừng cũng phải cỡ mười mấy, hai mươi năm rồi. Hiện tại ba đứa con đều đã khôn lớn, ngay cả cháu chắt cũng đã chạy nhanh được rồi. Mà người trẻ thì có cuộc sống của người trẻ, có những niềm vui và đam mê riêng, vậy nên ông Hồng cảm thấy cô quạnh, muốn tìm một người bầu bạn sớm hôm cũng là lẽ thường tình.

Nhận được sự tán đồng của Văn Trạch Tài, ý cười trên mặt ông Hồng càng thêm sâu. Kế đến, ông đọc rành mạch ngày sinh tháng đẻ của mình cho Văn Trạch Tài nghe, rồi sốt ruột hối thúc: “Đó ngày giờ là như thế, phiền cậu tính tính giúp tôi với.”

Văn Trạch Tài từ tốn phân tích: “Ông sinh vào ngày Nhâm Thân, tháng Nhâm Dần, năm Đinh Sửu nhằm ngày Thiên lao hắc đạo (1), nhưng may mắn được sao phúc tinh Thiên Đức (2) chiếu mệnh. Suốt đời ông không thể tách rời hai việc đó là bái tế và cầu tự (3). Việc đầu tiên ông đã làm suốt 30 năm, như vậy cũng miễn cưỡng xem như thoát kiếp. Còn việc thứ hai…”

Điểm tới vấn đề con cái, ông Hồng bất giác khẩn trương hơn hẳn, cặp mắt già cả đục ngầu giờ phút này đột nhiên sáng quắc. Điều đó chứng tỏ ông cực kỳ chú trọng và quan tâm tới khía cạnh này.

“Ông có ba người con trai, cả ba đều đã sinh con đẻ cái kéo dài huyết mạnh cho nhà họ Hồng. Như vậy, việc cầu tự của ông đến đây cũng đã hoàn thành”, dừng một nhịp, Văn Trạch Tài quan sát kỹ thần sắc người ngồi đối diện rồi mỉm cười nói tiếp: “Nhìn gương mặt ông hồng hào, tinh thần vui vẻ phấn chấn thế này, hẳn là đã có bạn già rồi. Hai người ít nhất cũng đã ở bên nhau được ba năm. Thế cho nên ông à, rõ ràng là có vợ nhưng lại đòi coi bói nhân duyên, không lẽ ông định có mới nới cũ?”

Ngay khi Văn Trạch Tài vừa dứt lời, cánh cổng gỗ đột nhiên bị đẩy cái rầm, một bà thím khoảng 50 tuổi, tay xách rổ rau hằm hằm bước vào. Bà nhàn nhạt đưa mắt liếc hai người đàn ông đang ngồi trong phòng khách một lượt, nhíu mày nghi hoặc: “Ai có mới nới cũ?”

Thôi xong, phen này tiêu tùng rồi, ông Hồng than thầm một tiếng rồi nhanh trí chỉ thẳng vào Văn Trạch Tài, sẵng giọng mắng: “Tôi nói cậu đấy, còn trẻ thì phải biết thuỷ chung, ngàn vạn lần không được học cái thói xấu có mới nới cũ, biết chưa?”

Vừa nói ông vừa nháy nháy mắt ra hiệu cho Văn Trạch Tài.

Hiểu ý, Văn Trạch Tài vội vàng gật như bổ củi, tận lực phối hợp: “Vâng vâng, cháu xin nghe lời dạy bảo của ông ạ.”

Nói đoạn, anh đứng dậy, lễ phép chào người phụ nữ: “Cháu chào thím ạ.”

“Tốt tốt tốt, chàng trai trẻ, cháu cứ tự nhiên ngồi chơi nhé.” Sau khi xác nhận không phải ông già nhà mình ăn no rửng mỡ, bà Hồng tươi cười niềm nở hơn hẳn. Cũng chẳng cần biết Văn Trạch Tài tới đây có việc gì, bà nhiệt tình mời cậu lát nữa nhất định phải ở lại dùng bữa cho vui. Chào hỏi xong, bà liền đi ra sau nhà chuẩn bị cơm nước.

Nín thở nhìn theo bóng lưng bà vợ, tận tới khi cánh cổng bên hông nhà thực sự đóng lại, ông Hồng mới dám giơ tay vuốt ngực thở lấy thở để: “Chàng trai trẻ, cừ lắm, ứng biến tốt đấy!”

Việc ông cưới bà hai cho đến tận bây giờ vẫn nằm trong vòng bí mật, ngoài mấy thằng con ra thì không một ai được biết. Nhắc tới đây thì phải quay ngược lại khoảng thời gian trước, khi ấy sức khoẻ ông giảm sút rõ rệt, bệnh tật kéo đến như núi đổ nhưng khổ nỗi mấy anh con trai đều tối mắt tối mũi bận bịu với công việc mà ông thì rất ngại cái chuyện con dâu hầu hạ cha chồng. Cách này không được, cách kia cũng không xong, bàn tính mãi cuối cùng chúng nó quyết định thuê một thím bảo mẫu, sáng đến tối về, chuyên chăm lo cơm nước và thuốc thang cho ông.

Cứ thế, ngày qua ngày, tháng qua tháng, bà chăm sóc ông, bầu bạn cùng ông. Dần già, hai người nảy sinh tình cảm tuổi xế chiều và quyết định đến với nhau. Vì ngại vấn đề tuổi tác, lại sợ thiên hạ đàm tiếu chê cười nên bà Hồng không cho ông thông báo rình rang, đồng thời bà vẫn giữ nguyên thời gian biểu như cũ, sáng đi tối về, không ngủ lại qua đêm. Ôi, đã tới cái tuổi này rồi, sống nay chết mai nào ai lường trước được đâu, vậy nên bà chẳng cần danh phận, bà chỉ cần mỗi ngày được trông thấy ông, trò chuyện cùng ông, chia sẻ niềm vui nỗi buồn và tìm kiếm chút ít hạnh phúc trong những năm tháng cuối đời, như vậy là mãn nguyện lắm rồi!

Thế nhưng dù cho có kín kẽ cỡ nào cũng không qua được đôi mắt cú vọ của mấy bà hàng xóm. Cuối cùng một đồn mười, mười đồn trăm, không ai không biết ông Hồng đã đi bước nữa, chẳng qua chưa chính thức thừa nhận mà thôi.

Thoả mãn với quẻ bói vừa rồi, ông Hồng hào phóng bán cho Văn Trạch Tài 30 tờ giấy hoàng cốt tương với cái giá 2 đồng, coi như tượng trưng. Thật ra ông có cả thảy 40 tờ cơ, nhưng giấy này rất quý hiếm, gì thì gì cũng phải giữ lại một ít, phòng khi có việc cấp bách cần dùng đến.

Thể theo lời hứa ban đầu, ông không quên chỉ điểm cho Văn Trạch Tài địa chỉ chuyên cung cấp mặt hàng này: “Mai sau nếu cần thêm thì cậu cứ lên huyện thành, tìm tới ngõ Mộc Trung, sau đó hỏi nhà ông Dương. Yên tâm đi, ở đó có nhiều lắm, cậu muốn bao nhiêu cũng được. Nhưng nhớ kỹ ông ấy không lấy tiền mà chỉ nhận tem phiếu, đặc biệt là phiếu gạo. 1 phiếu gạo loại 1 cân sẽ đổi được 20 tờ giấy hoàng cốt tương.”

Văn Trạch Tài nghiêm túc lắng nghe, nhất nhất ghi nhớ toàn bộ, không bỏ sót một chữ nào.

Xong việc, Văn Trạch Tài liền đứng dậy xin phép ra về, hẹn lần sau có thời giờ nhất định sẽ ở lại dùng cơm, còn hôm nay thì anh phải quay về chỗ làm ngay vì không thể xin nghỉ quá lâu.

Sau khi tạm biệt ông Hồng, Văn Trạch Tài chưa vội trở lại hiệu sách mà đi thẳng tới cửa hàng bán quần áo may sẵn lớn nhất thị trấn.

Bởi vì không có phiếu vải nên giá thành tương đối cao, nhưng anh ngại đi kiếm phiếu lắm, với lại có tiền sẵn ở đây thì cứ mua luôn cho tiện, đỡ phải chạy tới chạy lui mất thời gian. Thế là Văn Trạch Tài hăm hở chọn cho vợ và con gái mỗi người hai bộ quần áo mùa hè, tiện thể lấy cho mình một bộ nữa, tổng cộng là năm bộ tiêu tốn 15 đồng.

Vừa rồi trả ông Hồng 2 đồng. Tức là ngày hôm nay tiêu hết 17 đồng.

Sáng nay trước khi đi làm vợ cho 1 đồng, Dương Tiên Bích đưa 100 đồng. Vị chi là 101 đồng.

Sau một hồi mua sắm thả cửa, cuối cùng còn dư lại 84 đồng. Ồ, cũng nhiều ra phết đấy chứ, đem về cho vợ thể nào cô ấy cũng sẽ bất ngờ lắm đây. Tự nghĩ tự vui, Văn Trạch Tài tung tăng xách theo bọc quần áo, hớn hở tiến thẳng về hiệu sách.

Cùng lúc này, Điền Tú Phương đang cùng Chu Xuân Hoa lên núi lượm củi. Mùa này ít mưa, thời tiết hanh khô, cành lá không bị ẩm ướt nên rất thích hợp nhặt về để dành làm chất đốt.

Trên đường đi, Chu Xuân Hoa không ngừng trêu chọc Điền Tú Phương: “Í ì i, coi cái bộ dáng kìa, tối qua máu lửa lắm hả, kể chị nghe tí coi…”

Điền Tú Phương ngượng chín mặt, vội vàng quay đi chỗ khác, bối rối nói: “Chị đừng trêu em nữa mà.”

“Ai trêu, người ta hâm mộ còn không kịp…”, nói tới đây, Chu Xuân Hoa bất chợt cảm khác: “Mà ngẫm lại mới thấy chuyện nhà em kỳ diệu thật. Trước đây chẳng ai dám tin tưởng người như Văn thanh niên trí thức sẽ có ngày lãng tử hồi đầu. Ấy thế mà anh ấy đã làm được, không những sửa sai mà còn thay đổi thành một người hoàn toàn mới, một phiên bản hoàn hảo hơn rất rất nhiều.”

Điền Tú Phương buông sọt và lưỡi hái xuống, thong thả cười nói: “Thôi, đừng mải nói về em nữa, nói sang chuyện của chị đi. Sao hôm bữa thím Chu sắp xếp buổi coi mắt mà chị không tới hả?”

Chu Xuân Hoa thoáng lúng túng, ném đại cái sọt của mình xuống đất, bắt đầu đảo đảo mắt tìm cách lấp liếm: “Ờ thì bữa đó đại đội có việc nên không đi được.”

Điền Tú Phương phá lên cười ha hả: “Chị nói dối nha. Em đã hỏi cha em rồi, bữa đó ông không giao cho chị việc gì hết. À, bật mí cho chị thêm thông tin nữa, mẹ chị cũng đã nói chuyện với cha em rồi đó!”

“Á đù!” Chu Xuân Hoá méo xệch mặt: “Thôi xong chị rồi, giời ơi là giời, sao lần này mẹ chị lại thông minh đột xuất biết đi tìm Điền đội trưởng cơ chứ. Thể nào hôm đó bị ăn chửi một trận lên bờ xuống ruộng. Kiểu này tiêu rồi, lần sau biết tìm lý do gì đây. Chán thế không biết!”

Điền Tú Phương mỉm cười hiền lành: “Chị Xuân Hoa, gì thì gì chị cũng phải tính cho tương lai chứ, không lẽ cứ như này mãi?”

Chu Xuân Hoa chép miệng, đặt mông ngồi phịch xuống tảng đá bên cạnh. Mỗi lần đụng tới chủ đề này là bao nhiêu kiên cường bất khuất trôi đi bằng sạch, cô mơ hồ lắc đầu: “Chị…không biết nữa…”

Điền Tú Phương chần chừ ướm lời: “Chị vẫn còn nghĩ đến…”

Chưa đợi Tú Phương nói hết câu, Chu Xuân Hoa đã mạnh mẽ đánh gãy: “Chị không có! Kể từ sau khi anh của em đi lấy vợ, chị đã khoá chặt đoạn tình cảm này lại rồi. Thú thực thì, buông tay một người mà mình yêu thương nhất là điều rất khó, nhưng hạnh phúc đã muốn bay thì đôi tay làm sao níu giữ. Càng nắm chặt sẽ càng đau, thôi thì để mất nhau, nỗi đau…rồi cũng sẽ hết. Chỉ là mãi tới bây giờ chị vẫn chưa gặp được người nào tâm đầu ý hợp mà thôi.”

Nói tới đây, Chu Xuân Hoa không nhịn được mà buông khẽ một tiếng thở dài não nề.

Đang lúc Điền Tú Phương định cất lời an ủi thì từ phía sau bất ngờ truyền đến một giọng nói sặc mùi châm chọc: “Ồ, tưởng chị chị em em nhà ai ríu ra ríu rít ở đây, hoá ra là đống chí Chu Xuân Hoa đáng mến của đại đội ta.”

Cả Chu Xuân Hoà lẫn Điền Tú Phương đều giật bắn mình. Hai chị em vội vàng quay phắt đầu lại thì phát hiện Dương Diễm Cúc cùng vợ Trương Tam đang đứng ở lùm cây bên kia, khoanh hai tay trước ngực, cười cợt nhìn về phía này.

Chu Xuân Hoa bĩu môi, tỏ vẻ ghét bỏ ra mặt: “Ồ cứ đinh ninh chó hoang ở đâu lại đây kiếm ăn, hoá ra là mấy cô đấy à?!”

Sau sự việc bắt ghen tại rừng trúc lần trước, đúng là Dương Diễm Cúc khá nể Văn Trạch Tài nhưng vợ anh ta thì cô đây không ngán. Tức thì, Dương Diễm Cúc bước lên một bước, lạnh giọng quát: “Cô nói ai là chó hoang đấy hả?”

Tuy nhiên, Chu Xuân Hoa chẳng hề kém cạnh, cô với lấy cái lưỡi hái, chỉ thẳng vào mặt Dương Diễm Cúc, ngang tàng nói: “Tôi nói cô đấy! Sao, thậm thụt rình mò người khác mà còn giả bộ thanh cao à? Chửi cô như vậy là còn nhẹ ấy, cái đồ không biết xấu hổ!”

Bị nói trúng phóc, vợ Trương Tam chột dạ, vô thức lùi về sau một bước. Vốn dĩ bà và Dương Diễm Cúc đang nhặt củi ở mé khác, nhưng vì thấy Chu Xuân Hoa và Điền Tú Phương đi về phía bên này nên mới cố tình bám theo, rình nghe xem bọn họ tâm sự cái gì. Tiếc rằng hôm nay gió to quá, cứ phập phà phập phù tiếng có tiếng không, thành ra chả hóng hớt được cái đếch gì cả.

Nhìn thấy cái lưỡi hái sắc lẹm vung lên, Dương Diễm Cúc lập tức quéo giò. Đùa à, đấu võ mồm thì còn chơi chứ động đến vũ khí thì chịu. Còn nhớ năm trước có kẻ to gan lớn mật dám đi tố cáo Chu Xuân Hoa gian díu với một người đàn ông trong rừng cây, thế là cô ta không nói không rằng, trực tiếp cầm dao đi xử lý cái kẻ dám đặt điều dựng chuyện. Tới tận bây giờ Dương Diễm Cúc vẫn còn nhớ rất rõ, gương mặt Chu Xuân Hoa lúc ấy đằng đằng sát khí, như thể sắp giết người đến nơi. Mà nếu hôm đó mọi người không kịp thời chạy vào ứng cứu có khi cái gã kia đứt lìa tay cũng nên.

Lúc này, Dương Diễm Cúc cũng hoảng hồn lắm rồi những vẫn cố cứng miệng cãi: “Cái gì, cô bị ảo tưởng à. Ai thèm rình mò gì nhà cô?! Đúng là vớ vẩn!”

Thấy Chu Xuân Hoa hùng hùng hổ hổ tính nhào lên, Điền Tú Phương vội vã giữ chặt tay chị bạn, ghé sát tai thì thầm: “Đừng để trúng kế tiểu nhân!"

Cả cái đại đội này làm gì có ai không biết Dương Diễm Cúc vẫn luôn tăm tia vị trí của Chu Xuân Hoa. Chỉ cần bắt được lỗi gì là cô ta sẽ không từ thủ đoạn cướp về tay ngay.

Chu Xuân Hoa khiêu khích liếc xéo về phía Dương Diễm Cúc, nhếch mép cười đểu “Hừ! Còn khuya lắm!”. Ngay lúc cô định xoay người kéo Điền Tú Phương chuyển sang chỗ khác cho không khí trong lành thì chợt nghe thấy tiếng thôn dân Giáp nháo nhào gọi bà Trương, đi kèm với đó là tiếng bước chân tương đối gấp gáp và có phẩn hoảng loạn.

Nghe có người kêu mình, bà Trương liền vẫy vẫy tay hô lớn: “Đây, tôi ở đây, có việc gì mà anh gấp dữ vậy?”

Thôn dân Giáp gào toáng lên: “Ông Trương Tam nhà bà bị đá đè gãy chân rồi. Thôn y Lý đang kêu Vương Thủ Nghĩa lấy máy kéo chở lên trấn cấp cứu kia kìa. Bà còn đứng tần ngần ở đó làm gì nữa, mau về xem thế nào đi.”

Cái gì, bà Trương choáng váng suýt ngã khuỵ, cũng may Dương Diễm Cúc đứng ngay gần đó nên nhanh tay lẹ mắt đỡ kịp: “Ấy, bà cứ bình tĩnh đã, chắc không sao đâu.”

Bà Trương hốt hoảng nắm chặt lấy cánh tay Dương Diễm Cúc, run rẩy nói: “Sao có thể không sao được…phen này…phen này ông nhà tôi tàn phế mất rồi….”

Đang nói thì chợt nhớ tới việc gì đó, bà ta liền vùng dậy, chỉ thẳng về phía Điền Tú Phương, nghiến răng nghiến lợi đầy căm hận: “Chính là cô…chính chồng cô đã trù ẻo chồng tôi…là các người đã hại ông ấy. Quân ác độc này, hôm nay tao liều mạng với chúng mày….”

Dứt lời, bà ta điên cuồng vồ lấy con dao chẻ củi, định nhào tới chém Điền Tú Phương.

Ai ngờ Điền Tú Phương phản xạ cực nhanh, gần như cùng lúc, tay phải cô bắt lấy lưỡi hái của mình còn tay trái chộp lấy lưỡi hái của Chu Xuân Hoa, rồi lạnh tanh mở miệng: “Nào, tới đây, để xem tôi với bà ai chém nhanh hơn.”

Giây trước mới hùng hùng hổ hổ thế mà ngoắt một cái, bà Trương đã hoá đá đứng như trời trồng.

Không chỉ mình bà ta, ba người còn lại cũng sửng sốt trợn tròn mắt.

Thôn dân Giáp và Chu Xuân Hoa phản ứng nhanh nhất, hai người vội vàng lao lên, mỗi người giữ chặt lấy một người, ngăn cản cuộc xung đột có thể nổ ra bất cứ lúc nào.

Thôn dân Giáp kéo tuột bà Trương về đằng sau: “Bà vẫn còn tâm trí đứng ở đây gây chuyện nữa à, mau chạy lên trấn xem chồng mình thế nào đi chứ!”

Bà Trương không nói không rằng, chân thấp chân cao cuống quýt đi theo, nhưng chốc chốc lại vô thức quay đầu nhìn Điền Tú Phương. Lạ thật, ngày thường nó hiền lắm cơ mà, sao tự nhiên hôm nay lại dữ thế nhỉ?!

Đứng tại chỗ, Điền Tú Phương mặt không đổi sắc, bình tĩnh thu dao về.

Đối với sự biến hoá bất ngờ của cô, Dương Diêm Cúc sợ hết hồn hết vía, chẳng biết đã lẩn đi từ lúc nào rồi, còn Chu Xuân Hoa thì bật ngón cái, khen lấy khen để: “Em gái, hôm nay giỏi lắm!”

===

Lúc Văn Trạch Tài đạp xe về tới đầu thôn đã thấy vợ và con gái đứng đây đợi mình từ khi nào. Wow, một sự kinh hỷ quá lớn nha, Văn Trạch Tài cười không khép được miệng. Anh nhảy xuống, ẵm con gái đặt lên yên, rồi thong thả dắt xe, thả bộ đi bên cạnh vợ.

Điền Tú Phương gấp gáp thông báo tình hình: “Hôm nay trong lúc làm việc, ông Trương bị một hòn đá từ trên vách núi rơi xuống đè trúng chân. Không biết có bị tàn phế không nữa.”

Văn Trạch Tài lắc đầu: “Không đâu, cùng lắm là giống Vu Quảng Bình, nằm một chỗ dưỡng thương mấy tháng là khỏi thôi.”

Điền Tú Phương nhoẻn miệng cười: “Vậy là anh lại tính đúng rồi, công nhận ông Trương xui thật.”

“Bản lĩnh của chồng em không chỉ có thế đâu, từ từ em sẽ biết!” Văn Trạch Tài ưỡn ngực khoe khoang.

Ôi lại nữa rồi, cái ông tướng này, chẳng biết khiêm tốn là gì cả, Điền Tú Phương lắc đầu bật cười. Kế đến, cô thuật lại cho chồng nghe sự việc phát sinh trên núi.

Sau khi nghe xong, Văn Trạch Tài cực kỳ tức giận nhưng vẫn không quên khích lệ vợ rất can đảm, gặp nguy không loạn mà còn có thể bình tĩnh ứng phó.

Nhưng những sự việc kiểu như này, anh không muốn cô gặp lại lần thứ hai, vậy nên anh nghiêm túc căn dặn: “Sau này em tránh xa bọn họ ra.”

Điền Tú Phương nhu thuận gật đầu tỏ ý đã nhớ.

Về tới nhà, Văn Trạch Tài liền đưa túi quần áo mới cho vợ.

Không nằm ngoài dự đoán, Điền Tú Phương đau lòng như thể bị ai xẻo mất một miếng thịt. Cô cứ tần ngần nhìn vào đồng đồ mới mà không thể thốt lên bất cứ lời nào.

Thấy thế, Văn Trạch Tài buồn cười vô cùng, anh tiến lại gần, âu yếm nựng má vợ rồi nhẹ giọng hỏi: “Em không hỏi anh lấy tiền ở đâu để mua quần áo à?”

Điền Tú Phương ngơ ngác ngẩng đầu, mờ mịt lặp lại: “Anh lấy tiền ở đâu?”

Văn Trạch Tài dở khóc dở cười, kéo vợ ngồi xuống, lần lượt kể lại tường tận quá trình thu chi ngày hôm nay. Sau đó rất tự giác mà nộp lên 84 đồng còn lại.

Điền Tú Phương cầm xấp tiền như cầm củ khoai nóng, lo lắng hỏi chồng: “Sao nhiều quá vậy, không phải anh nói mỗi quẻ chỉ lấy 10 đồng thôi sao?”

Văn Trạch Tài bĩu môi, uỷ khuất nói: “Người ta ép anh phải nhận chứ anh nào có đòi!”

Điền Tú Phương lập tức mềm lòng: “Được rồi, được rồi, để em cất vào tủ.”

Văn Trạch Tài phấn khởi giao nộp toàn bộ gia tài cho vợ rồi tủm tỉm đi xuống bếp lục tìm tỏi. Ủa, đâu nhỉ, hôm bữa mới trông thấy một bọc nhỏ mà ta?! À, đây rồi, Văn Trạch Tài tiền hành bóc bỏ vỏ rồi nghiền nát toàn bộ thành bột mịn. Kế đến, anh đổ vào nửa bát rượu trắng cùng hùng hoàng (4), khuấy đều cho tới khi hỗn hợp hoà quyện lại với nhau, anh bỏ tiếp vào hai muỗng chu sa (5). Cuối cùng đem chưng cách thuỷ nửa giờ đồng hồ cho đến khi nửa bát nước rút xuống hai phần ba, trở thành một hỗn hợp màu đỏ đậm, đặc như mực là được.

Mực đã xong, giờ đến công đoạn viết chú thuật. Hôm nay mua được tổng cộng 30 tờ hoàng cốt tương nhưng trước mắt anh chỉ dùng 10 tờ thôi, còn lại 20 tờ thì đem cất kỹ vào trong hộc tủ, để dành dùng dần.

Sau khi cẩn thận trải 10 tờ giấy hoàng cốt tương ra bàn, Văn Trạch Tài mới sực nhớ tới còn chưa chuẩn bị bút lông.

Anh bực bội tự gõ vào đầu mình một cái, đúng là thất sách mà!

Đúng lúc này, Lý Đại Thuận từ đâu chạy tới. Nhìn một bàn phủ kín giấy bùa, cậu ta ngây ngốc hỏi: “Ủa, không phải anh chỉ là thầy bói thôi à, giờ kiêm luôn cả đạo sĩ nữa hả?”

Văn Trạch Tài lạnh mặt, trừng mắt hỏi ngược lại: “Không lẽ những thứ này chỉ có đạo sĩ mới được dùng?”

Hừ, từ cổ chí kim, đoán mệnh sư vốn chẳng ưa gì đạo sĩ và ngay cả bản thân Văn Trạch Tài anh cũng vậy! Anh đường đường là một đại sư dựa vào các thuật bói toán để tiên đoán tương lai và hoá giải kiếp nạn chứ không bao giờ làm ba cái trò bắt quỳ trừ tà vớ vẩn giống như tụi đạo sĩ thúi kia!

Lần đầu tiên thấy Văn Trạch Tài giận dữ như vậy, Lý Đại Thuận chớp chớp mắt, gãi đầu cười cầu hoà: “Hề hề, thì tại lúc nhỏ thường nghe người lớn nói thế thì em biết thế chứ em nào đã thấy mấy cái nào bao giờ. Ủa, anh đang tìm cái gì thế?”

Vừa nói Lý Đại Thuận vừa chạy tót theo Văn Trạch Tài. Còn Văn Trạch Tài thì mải mê xắn tay áo, bước nhanh ra bên ngoài chuẩn bị rượt bắt hai con gà con.

“Thế cậu tìm tôi có chuyện gì?” Văn Trạch Tài thuận miệng hỏi lại một câu nhưng cặp mắt vẫn khoá chặt vào hai mục tiêu đang chạy tán loạn trong sân.

Lý Đại Thuận cười hềnh hệch: “À, em có chuyện quan trọng muốn hỏi anh đây. Chả là ban nãy em với Vương Thủ Nghĩa đưa Trương Tam lên trấn cấp cứu. Ai ngờ giữa đường tình cờ gặp một cô gái. Cô ấy xinh dã man luôn, cặp mắt to tròn đen láy, khuôn mặt trái xoan bầu bĩnh, nhìn đáng yêu vô cùng. Anh, anh tính giúp em xem cô ấy tên họ là gì, nhà ở chỗ nào với.”

Rất nhanh, Văn Trạch Tài đã vồ được một con gà, anh dứt khoát nhổ một sợi lông rồi thả nó xuống. Chú gà con hoảng loạn, vội vã chạy đi tìm chỗ núp. Phía sau cánh cửa trong phòng khách, Hiểu Hiểu cũng đang trừng lớn mắt, hoảng sợ tột độ…

Vừa cẩn thận kiểm tra cọng lông gà, Văn Trạch Tài vừa nhàn nhạt nói: “Tính làm sao được, cậu nghĩ tôi là thần tiến sống chắc? Cùng lắm thì tôi chỉ có thể tính xem bát tự hai người có hợp nhau hay không thôi.”

Lý Đại Thuận chán nản thở dài: “Haizz, nếu em mà biết bát tự của cô ấy thì cần gì phải nhờ anh bói ra tên tuổi với cả địa chỉ.”

Văn Trạch Tài xoay người vào nhà, Lý Đại Thuận cũng tò tò đi theo, nửa bước không rời.

Aizz cái thằng này, vướng tay vướng chân quá đi mất! Văn Trạch Tài xoay đầu, nhíu mày nói: “Nếu rảnh rỗi thì cậu chịu khó thường xuyên chạy lên trấn đi. Nói không chừng lại có thêm một cuộc gặp gỡ tốt đẹp nữa, biết đâu sau này cậu phải cảm ơn nó đấy!”

Lý Đại Thuận đần thối mặt, mờ mịt hỏi: “Hả? Tốt đẹp thì em hiểu, nhưng cảm ơn nó là cảm ơn ai? Ý là sau này em phải cảm ơn cái cô gái đó hả?”

Văn Trạch Tài tức điên, chỉ muốn giơ tay đập cho cái thằng ngu này một trận! Anh nhắm mắt, hít vào một hơi thật sâu rồi mới cố gắng bình tĩnh nói: “Hiện giờ tôi đang rất bận không có thời gian cắt nghĩa cho cậu từng câu từng chữ đâu. Nếu muốn hiểu thì chạy ngay ra ký túc xá thanh niên trí thức, kiếm đại một người mà hỏi đi.”

Lý Đại Thuận gật như bổ củi, lảm nhảm thêm vài câu nữa rồi mới chịu rời đi.

Ơi là trời, điếc hết cả tai, Văn Trạch Tài vô thức nâng tay xoa xoa huyệt thái dương. Haizz, nói chuyện với đứa kém thông minh thật là đau não quá đi mất!

Vừa lúc định cầm bút lên viết thì anh nghe thấy tiếng con gái khe khẽ gọi: “Cha!”

Văn Trạch Tài xoay người, cong lưng ôm bé con lên, nhẹ giọng hỏi: “Sao vậy con?”

Hai mắt Hiểu Hiểu ầng ậc nước, lắp ba lắp bắp đầy sợ hãi: “Gà…gà con…còn bé lắm…chưa thể ăn được…”

Văn Trạch Tài vô thức đánh mắt nhìn chiếc lông gà đang nằm trên bàn, anh xoa đầu con gái khẽ cười: “Cha biết rồi, Hiểu Hiểu ra sân chơi để cha làm việc nha. Tí làm xong cha sẽ chơi với con!”

Nhận được câu khẳng định chắc chắn của cha, Hiểu Hiểu mới yên tâm chạy ra sân chơi xe gỗ.

Bây giờ văn Trạch Tài mới có thể yên tĩnh bắt tay vào việc. Không lâu sau, anh đã hoàn thành chỉn chu 10 tờ giấy hoàng cốt tương.

Buổi tối, sau khi cả nhà ăn xong bữa chiều thì cũng vừa lúc Hạ Chính Quốc dắt vợ sang tới nơi.

Vợ của Hạ Chính Quốc không mấy xinh đẹp, về cơ bản cô ấy giống như phần lớn những người phụ nữ sinh ra và lớn lên ở nông thôn với nước da vàng vọt, sần sùi, thô ráp. Chỉ có điều cô ấy rất gầy, cơ hồ nhỏ bé, gầy gò hơn hẳn những người phụ nữ cùng trang lứa.

Ngay lúc này, cô ấy đang cực kỳ sợ hãi, không hiểu tại sao lại bị chồng dắt tới nhà một người hoàn toàn xa lạ.

Còn Hạ Chính Quốc thì lịch sự chào hỏi Văn Trạch Tài rồi lễ phép cất lời: “Văn đại sư, nhờ ngài xem giúp cho hai mẹ con cô ấy.”

Tức khắc, chị Hạ co rúm người, hoảng loạn túm chặt lấy tay chồng, run rẩy nói: “Anh… anh muốn bán em hả?”

Lời này vừa thốt ra không những Hạ Chính Quốc mà ngay cả Văn Trạch Tài cũng sửng sốt vô cùng.

Hạ Chính Quốc nhíu mày, khẽ gắt: “Em mơ sảng à, nói linh tinh cái gì đấy!”

===

Chú thích:

(1)Thiên Lao hắc đạo trước tiên được hiểu là một ngày xấu làm việc gì cũng không được thuận lợi, như ý. Đây là ngày mà Mặt trời tạo ra những dòng trường khí, những năng lượng tiêu cực và có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, tinh thần cũng như vận may của con người. Trong ngày này làm việc gì cũng gặp khó khăn, bất lợi, dễ xảy ra tranh cãi, bất hòa hay vướng vào kiện tụng, pháp lý.

(2)Thiên Đức - thuộc Hoả, được xếp vào loại phúc thiện tinh.

Thiên Đức chủ sự trong sáng, rõ ràng, đoan trang, đức độ, nhu thuận. Tượng là hành động, sự việc phúc thiện

Thiên Đức đóng Mệnh là người hay làm việc thiện, đóng cung Tật là người có lòng từ tâm, hiền lành, nhu thuận. Hội cùng Long đức hoặc Phúc đức tạo thành cách Tam - Tứ đức rất tốt về mặt phẩm hạnh, văn hoá.

Thiên - Nguyệt đức, Giải thần tàng

Cùng là Quan Phúc một làng trừ hung

Thiên - Nguyệt đức ngộ Đào Hồng

Trai lấy vợ đẹp, gái chồng giàu sang

3)Cầu tự: lễ bái van xin để có con trai nối dõi.

(4)Hùng hoàng, α-As4S4 là một khoáng vật arsenic sulfide, còn được biết đến như là realgar hay "lưu huỳnh rubi" hoặc "arsenic rubi" và "đá hùng hoàng". Nó là khoáng vật mềm, có thể cắt ra được, xuất hiện dưới dạng các tinh thể đơn nghiêng hay dưới dạng hột đặc chắc hoặc dạng bột, thường đi cùng khoáng vật có liên quan là thư hoàng (As2S3, orpiment). Nó có màu từ đỏ tới vàng cam, nóng chảy ở nhiệt độ 320 °C và cháy với ngọn lửa màu xanh lam giải phóng ra hơi chứa arsenic và lưu huỳnh. Hùng hoàng mềm, với độ cứng Mohs khoảng 1,5 - 2 và có tỷ trọng riêng là 3,5. Màu vết vạch của nó là màu cam. Nó là ba hình với alacranit và pararealgar.

(5)Chu sa (tiếng Trung 硃砂 -bính âm: zhusha hay thần sa, hay đan sa, hoặc xích đan, hoặc là cống sa) là các tên gọi dành cho loại khoáng vật cinnabarit của thủy ngân sẵn có trong tự nhiên, có màu đỏ. Thành phần chính của nó là sulfide thủy ngân (II) (HgS).

Chương 33: Hồ ly

Cứ thế chị Hạ run lẩy bẩy, nắm chặt lấy tay chồng nhất quyết không buông.

Hạ Chính Quốc bất đắc dĩ vỗ cùng, anh khẽ vỗ vỗ vài cái an ủi: “Em đừng sợ, đây là Văn đại sư. Lần trước anh bị bệnh, chính anh ấy đã chữa khỏi cho anh đó. Nay anh dắt em sang đây là để nhờ đại sư nhìn xem có thể giúp được cho em và con không.”

Rõ ràng được chồng dỗ dành nhưng chị Hạ không những không bình tĩnh lại mà đáy mắt càng dâng lên nỗi khiếp sợ cùng hoảng loạn vô ngần. Trông thấy một màn này, Văn Trạch Tài thoáng nhíu mày khó hiểu. Lạ thật, hình như cô ấy rất sợ Hạ Chính Quốc thì phải?

Tạm gác sự nghi ngờ sang một bên, Văn Trạch Tài mềm mỏng cất lời: “Chị Hạ, tôi muốn kiểm tra lưỡi của chị.”

Mặc dù rất sợ hãi nhưng đã bị chồng giữ chặt, chị Hạ không thể thoái lui cũng chẳng thể bỏ trốn. Hết cách, chị đành phải quay đầu sang, thật cẩn thận nhìn về phía Văn Trạch Tài. Thấy anh mỉm cười hiền hoà, ánh mắt có thần lại trong sáng, không hề tỏ ra bất cứ sự uy hiếp nào, cuối cũng chị cũng có thể cởi bỏ rảo cản phòng ngự, từ từ mở miệng phối hợp với yêu cầu của Văn Trạch Tài.

Tốt lắm, mặt lưỡi không có đốm đen. Văn Trạch Tài nhẹ nhàng thở ra: “Cơ thể chị rất ổn, không có vấn đề gì đáng ngại. Nhưng để phòng ngừa vạn nhất, tốt hơn hết nên giữ một lá bùa bên mình. Giờ tôi sẽ cho chị một lá bùa vàng, chị mang về luồn chỉ đỏ, đeo lên cổ. Nhớ, phải nối dây thật dài, sao cho miếng bùa vừa vặn che tới trước bụng.”

Ồ, tốt tốt, có cái món đó là chắc chắn đứa bé sẽ được bảo vệ, Hạ Chính Quốc hớn hở ra mặt, còn chị Hạ thì nhíu chặt mày, nhìn chằm chằm vào bụng mình, lưỡng lự vô cùng…Bùa?!…Lại còn để trước bụng nữa á…sao nghe giống giống tà thuật quá vậy…

“Yên tâm đi, Văn đại sư sẽ không hại chúng ta đâu”, Hạ Chính Quốc vui vẻ bảo vợ ra cổng đợi mình, anh còn có chuyện muốn nói với đại sự.

Thế nhưng Văn Trạch Tài khéo léo tránh né, viện cớ đi sang gian bên lấy bùa.

Một lát sau, Điền Tú Phương bước ra sân, lịch sự chào hỏi vài câu với chị Hạ.

Ước chừng mấy phút sau, Văn Trạch Tài quay trở về nhà chính, đưa cho Hạ Chính Quốc một tấm bùa màu vàng, với lời căn dặn: “Đứa bé này là cơ hội cuối cùng của vợ chồng anh. Nếu còn không giữ được nữa thì sau này hết hy vọng.”

Hạ Chính Quốc vội vàng giơ hai tay kính cẩn nhận lấy: “Dạ đại sư, tôi sẽ cẩn thận.”

Kế đến, anh ta rút một đồng từ túi áo ngực, đặt lên bàn rồi rối rít nói lời cảm ơn. Còn chưa đợi Văn Trạch Tài trả lời, Hạ Chính Quốc đã ba chân bốn cẳng lao ra sân, nhìn cái bộ dáng vội vàng và hấp tấp lắm, không biết là lo lắng cho đứa nhỏ vẫn chưa thành hình…hay là vì một lý do nào khác….

Nhìn tờ tiền giấy nằm trơ trọi trên mặt bàn, Văn Trạch Tài chán nản nhắm chặt mắt, khe khẽ buông một tiếng thở dài…Hạ Chính Quốc có vấn đề!

Tiễn khách về rồi, Điền Tú Phương thuận tay đóng cổng lại rồi lật đật quay vào kể cho chồng nghe: “Ban nãy chị Hạ bảo với em sống ở Hạ gia khổ lắm, bọn họ đối xử rất tề bạc, không ai coi chị ấy là con người hết! Sao lại như thế anh nhỉ?”

Văn Trạch Tài vươn tay xé nát tờ tiền, nhàn nhạt nói: “Biết người biết mặt không biết lòng. Lần này anh đã xem nhẹ nhân tâm rồi!”

Hôm sau, Văn Trạch Tài xin nghỉ một ngày. Anh cố tình đạp xe tới đại đội Thanh Sơn để chứng thực một số vấn đề.

Nhìn chung, Hạ Chính Quốc rất biết giữ hoà khí trong các mối quan hệ xã giao. Trước giờ anh ta không có xích mích, tư thù với ai nhưng cũng không đặc biệt thân thiết với bất cứ một người nào. Khi được hỏi về Hạ Chính Quốc, thoạt đầu mọi người tương đối bối rối, chẳng biết nên xếp anh ta vào nhóm tốt hay xấu. Cuối cùng, tất cả đều lựa chọn đưa ra đáp án chung chung, đó chính là “không tệ”!

Kỳ thực, lời nhận xét này chỉ mang tính lịch sự mà thôi, bởi gần như không một ai hiểu rõ bản chất con người Hạ Chính Quốc. Mỗi ngày, ngoại trừ thời gian ra đồng làm việc thì anh ta chỉ ru rú trong nhà, tuyệt nhiên né tránh các hoạt động chung tỉ như vui chơi hội hè, tham gia chợ phiên, lên núi săn bắn, hái lượm hay đơn giản là các cuộc tụ tập tán gẫu, buôn chuyện phiếm cũng không nốt. Cứ như vậy, anh ta chủ động tách mình khỏi đám đông, độc lai độc vãng đi đi về về. Vậy nên chẳng ai biết gì để mà nhận xét. Nhưng chị vợ thì hoàn toàn ngược lại, mọi người có rất nhiều điều để nói về người phụ nữ này…

Vì không muốn làm ầm ĩ mọi chuyện, Văn Trạch Tài cố tình tránh khu vực ruộng lúa đang tập trung đông người. Anh lặng lẽ đạp xe vào thẳng thôn, gõ cửa hỏi thăm mấy ông già bà cả đang rảnh rỗi ở nhà trông cháu.

“Kỳ thực thời gian đầu về làm dâu cũng không tới nỗi nào. Nhưng sau khi liên tiếp sảy mất hai cái thai, Hạ gia bắt đầu tỏ thái độ bất mãn, không hài lòng với con bé.” Một ông cụ trầm ngâm cảm thán.

Văn Trạch Tài lịch sự cảm ơn, rồi tiếp tục gõ cửa căn nhà kế bên.

Một bà lão chép miệng thở dài: “Nó không giữ được con nên hết bị mẹ chồng chửi rủa rồi lại bị chồng đánh đập. Haizz, cũng không biết tại sao số nó lại khổ như thế, cứ có thai là sẩy, có thai là sẩy…”

Liên tiếp 7, 8 nhà liền, ai được hỏi cũng đều lắc đầu tội nghiệp cho số phận người phụ nữ đáng thương.

Ngẫm nghĩ thế nào, cuối cùng Văn Trạch Tài quyết định rẽ vào Hạ gia.

Bởi vì chị Hạ đang mang thai, Hạ gia lo lắng cho đứa bé trong bụng nên không bắt chị ấy làm các công việc đồng áng nặng nhọc, chỉ cần ở nhà lo cơm nước với mấy việc vặt vãnh là được. Thành ra lúc này trong nhà cũng chỉ có một mình chị Hạ.

Nhìn thấy Văn Trạch Tài tới, chị Hạ hơi bất ngờ sau đó ngượng ngùng nói: “Văn đại sư, mời anh vào nhà ngồi. Hôm qua thật ngại quá, tôi xin lỗi vì đã hiểu lầm anh.”

Văn Trạch Tài cười hiền hoà: “Không có gì, là tại tôi không nói rõ ràng.”

Chị Hạ mời Văn Trạch Tài vào nhà, rót nước tiếp khách rồi định chạy đi gọi chồng. Thấy vậy, Văn Trạch Tài liền ngăn lại: “Chị Hạ, không cần đâu. Tôi có vài câu muốn hỏi riêng chị.”

Chị Hạ thoáng do dự, nhưng rồi cũng ngồi xuống, dè dặt cất lời: “Vâng, có chuyện gì, Văn đại sư cứ hỏi đi ạ.”

“Tôi muốn hỏi cái cây mượn tử hương kia là ai trồng?” Vừa nói Văn Trạch Tài vừa chỉ tay ra góc sân phía Tây.

Mượn tử hương là một loại cây có thân giống phong lan, nhưng hoa của nó lại từa tựa mẫu đơn, hương thơm thì cực kỳ ngào ngạt. Chính vì lẽ đó, người trong nghề đặt cho nó cái tên “mượn tử hương.”

Sở dĩ gọi như vậy bởi ẩn bên dưới còn một tầng ý nghĩa mà ít người biết đến, đó là loài hoa này cực độc, thai phụ chỉ cần ngửi trúng hương thơm của nó là sẽ dẫn tới hiện tượng thai chết lưu hoặc nếu đứa trẻ may mắn được sinh ra thì cũng không sống quá một tháng tuổi.

Và trong dân gian còn lưu truyền một phương pháp “mượn con” hết sức kỳ quái, đó là những người phụ nữ hiếm muộn chỉ cần đốt một loại bùa có tên “mượn tử phù” rồi hoà chung với hoa của cây mượn tử hương, sau đó uống tất cả xuống bụng bảo đảm chưa đầy một tháng sau sẽ tự động hoài thai.

Ở đây, chị Hạ liên tiếp sảy thai mà ngay góc sân nhà lại mọc sừng sững một cây mượn tử hương. Điều này khiến Văn Trạch Tài không thể không suy nghĩ nhiều.

Theo hướng tay của Văn Trạch Tài, chị Hạ nhìn ra sân, nhưng đến khi chị ta quay đầu lại thì thái độ nhút nhát sợ sệt đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là ánh mắt xảo quyệt, nụ cười quỷ dị cùng giọng nói lạnh lẽo, âm ngoan khác xa bình thường: “Ha, không ngờ Văn đại sư ngươi cũng có vài phần bản lĩnh.”

Dựa vào thần sắc và ngữ khí có thể chắc chắn đây là hai người hoàn toàn khác nhau. Một hồi chuông cảnh báo vang lên, Văn Trạch Tài âm thầm siết chặt ba đồng xu trong lòng bàn tay nhưng nét mặt vẫn thản nhiên, không bộc lộ bất cứ cảm xúc nào: “Là do chính ngươi trồng?”

Tức khắc, chị Hạ phá lên cười khanh khách. Cười chán, chị ta nghiêng mình dựa sát vào mép bàn, kiều mị nâng tay chống cằm, lả lơi cất tiếng: “Đúng, là do ta trồng đấy. Ha, người phụ nữ này quá ngốc, ngốc đến độ cái gì cũng không biết, bị đánh bị mắng cũng trân mình ra mà chịu, chẳng biết phản kháng dù chỉ là một chút…haizz, ta vốn bản tính thương người, cầm lòng không đặng nên giúp nàng ấy một tay.”

Dứt lời, chị Hạ lại cong người, ngửa mặt cười vang khắp nhà.

Văn Trạch Tài lạnh giọng hỏi: “Thế còn những đứa trẻ thì sao?”

Đứa trẻ? Chị Hạ chớp chớp đôi mắt lúng liếng, đưa tay che miệng cười khúc khích: “Biết trước chúng có sinh ra thì cũng phải chịu khổ chịu sở ở Hạ gia. Vậy tại sao ta không sớm một bước tiễn chúng tới gia đình tử tế hơn. Văn đại sư, ngươi xem ta nói vậy có đúng không?!”

Văn Trạch Tài khó nhọc tránh đi đôi mắt đỏ rực đầy ma mị của đối phương. Anh nặng nề cắn mạnh vào đầu lưỡi mình. Ngay khi mùi máu tươi loang khắp khoang miệng, Văn Trạch Tài mới lấy lại được chút ý thức, cảm thấy đầu óc thanh tỉnh vài phần.

“Nếu ngươi có thể phá vỡ pháp thuật của ta…” vừa nói, chị Hạ vừa chậm rãi bước từng bước về phía Văn Trạch Tài…

Theo bản năng, Văn Trạch Tài muốn tránh thoát nhưng anh không thể nhúc nhích. Dường như cả cơ thể đã bị khoá chặt, anh thậm chí còn không cử động được đầu ngón tay. Xem ra mình đã bị trúng yêu thuật rồi!

Đang lúc định tung chiêu tấn công thì chị Hạ chợt phát hiện có điều gì đó rất kỳ quái, chị ghé sát vào động mạch cổ của Văn Trạch Tài, chun mũi ngửi ngửi: “Mùi gì thế nhỉ? Tại sao lại có hai mùi máu, rõ ràng thuộc về hai cá thể khác nhau nhưng lại là của chung một người, thật là quái lạ và kỳ dị!”

Đối phương càng tiến lại gần thì mùi hồ ly càng nồng nặc, Văn Trạch Tài gồng mình, cố hết sức né khỏi sự đụng chạm: “Ta với ngươi nước sông không phạm nước giếng, hà tất phải đi tới bước này?”

“Nước sông không phạm nước giếng?” Chị Hạ lùi về sau một bước, cả gương mặt ngập tràn nét châm biếm: “Vậy tại sao ngươi lại giúp hắn giải thuật?”

Nghe được lời này, Văn Trạch Tài bất ngờ cực kỳ: “Thuật là do ngươi hạ?”

“Phải hay không phải thì cũng không liên quan đến nhà ngươi.” Dứt lời, chị Hạ ngoác miệng để lộ ra hai chiếc răng nanh nhọn hoắt, đồng thời vươn tay bẻ quặt đầu Văn Trạch Tài sang một bên, hướng thẳng yết hầu anh chuẩn bị cắn đứt.

Bất thình lình, Văn Trạch Tài hét lớn một tiếng, thừa dịp đối phương nới lỏng cảnh giác vì giật mình, anh dồn toàn bộ chút ít sức lực còn sót lại vào hai ngón tay, cố gắng búng thật mạnh đồng xu trúng người chị Hạ.

Đồng xu này hôm bữa mới dùng để giải thuật cho Hạ Chính Quốc, sau lại được Văn Trạch Tài ngâm trong chu sa (1), thế nên nó rất mạnh, có thể nói là món đồ hữu hiệu nhất trong việc đối phó với yêu ma, quỷ quái.

Quả nhiên, trong tích tắc, chị Hạ luống cuống buông Văn Trạch Tài ra, hai tay ôm chặt lấy ngực, hét lên đầy đau đớn: “Aaaaaa….”

Nhân cơ hội, Văn Trạch Tài thi triển Mệnh thuật nhằm phá yêu thuật đang bủa vây khắp bốn phía xung quanh. Và tất nhiên điều này càng kích động cơn giận dữ điên cuồng trong chị Hạ. Chị ta điên lên, hai mắt đỏ ngầu như máu, chuẩn bị lao tới sống chết một phen. Thấy vậy, Văn Trạch Tài vội lên tiếng trước: “Sở dĩ ta tới đây là vì hôm qua chợt phát hiện thấy Hạ Chính Quốc có vài điểm bất thường, thế nên hôm nay mới đích thân sang đây chứng thực hoàn cảnh của chị Hạ. Ta tới là có thiện chí chứ không phải đối đầu với nhà ngươi. Nếu ngươi còn tiếp tục bức ta thì đừng trách ta đây không khách khí…”

Dứt lời, anh xoè bàn tay còn lại ra, trong đó có một cái la bàn. Tất nhiên không phải la bàn trừ tà của đạo sĩ mà là la bàn Chu Dịch.

Trông thấy vật này, hai con ngươi đang rực lửa của chị Hạ dần dần dịu xuống, nhưng vẫn không hề tỏ ra sợ hãi chút nào: “Ha, thứ này còn chưa khai quang, ngươi nghĩ có thể đối phó được ta?”

Ngay lập tức, Văn Trạch Tài cắn mạnh đầu ngón tay mình, nặn một giọt máu nhỏ lên trên chiếc la bàn, rồi thản nhiên nhướng mày: “Còn giờ thì được rồi chứ?”

Chị Hạ thở phì phò: “Hừ, hoá ra ngươi cũng chẳng khác gì mấy tên đạo sĩ thúi, thật là khiến dòng tộc hồ ly tụi ta chán ghét tận cổ!”

Văn Trạch Tài khó chịu ra mặt: “Đừng mang mấy tên đạo sĩ thúi ra so với ta!”

Đã đến nước này, biết là chẳng thể làm gì Văn Trạch Tài, cho nên chị Hạ đành thu cái đuôi hồ ly của mình lại, lười biếng dựa người vào ngạch cửa, khẽ cười: “Tất nhiên ta biết bản lĩnh của đoán mệnh sư cao cường hơn đạo sĩ nhiều và ta cũng không hề có ý định đối địch với các ngươi. Thế nhưng thời buổi này đạo sĩ thì đầy đường mà các thầy tướng đã quy ẩn từ thời nhà Triệu rồi…”

Văn Trạch Tài mặt không đổi sắc, cứng rắn nói: “Nếu đã không có ý định đối địch vậy thì tốt hơn hết nên đường ai nấy đi!”

Chị Hạ cười lên thé thé, thanh âm đầy yêu mị, nhẹ như gió văng vẳng lúc gần lúc xa: “Giữa ta và Hạ gia vốn có mối thù không đội trời chung. Chẳng qua thấy số phận người phụ nữ này quá bi đát, đâm ra ta mới động lòng trắc ẩn mà thôi. Dù gì nàng ấy cũng chết dưới sự hành hạ, ngược đãi của bọn họ. Thế nên ta bèn mượn cơ thể này dùng tạm một chút. Ngươi yên tâm, nếu không có sự đồng ý của nàng ấy, ta cũng không thể nhập vào thân xác được.”

Nói đoạn, chị Hạ giơ tay nhẹ nhàng ve vuốt cái bụng hơi nhô cao: “Còn đứa nhỏ này ta sẽ bỏ qua cho nó, xem như lưu lại huyết mạnh cho người phụ nữ xấu số kia!”

Sau khi hiểu rõ ngọn ngành, Văn Trạch Tài liền cáo từ ra về. Bước khỏi cổng, anh quay lại nhìn Hạ gia một lần nữa rồi khẽ lắc đầu, rồi dứt khoát nhấc chân rời đi!

Anh không phải đạo sĩ, có một số việc anh không thể can thiệp, mà dẫu có cố tình phá vỡ quy tắc nhúng tay vào thì kết cục cuối cùng cũng chỉ là lưỡng bại câu thương (2) mà thôi. Bởi nếu thực sự chị Hạ bị chết dưới tay người nhà họ Hạ thì đây chính là nhân quả báo ứng. Mà một khi cái nhân đã gieo xuống rồi thì dù có trốn lên núi cao hay lẩn xuống vực thẳm cũng không thể nào tránh được nghiệp quả lúc đủ nhân duyên.

===

Đang lúi húi chăm sóc mảnh vườn nhỏ phía sau hậu viện, Điền Tú Phương bỗng nghe thấy tiếng lịch kịch phát ra từ nhà trên. Cô liền buông cái cuốc xuống, tiến lên phía trước xem thử, nhưng nhìn quanh ngó quất chẳng thấy ai cả. Đoán là chồng đã về, Điền Tú Phương bèn chạy vào phòng trong.

A, anh ấy đây rồi, cô mỉm cười nhẹ nhàng tiến vào, nhưng bước lại gần mới phát hiện ra chồng đang cẩn thận xử lý vết thương trên đầu ngón tay, hơn nữa đầu mày anh ấy nhăn chặt, chứng tỏ vết thương rất nghiêm trọng!

Thì cũng phải thôi, muốn phá yêu thuật bắt buộc phải dùng tinh huyết. Mà đã là tinh huyết thì chắc chắn không dễ cầm như máu thường rồi. Bên cạnh đó miệng vết thương cũng sẽ lâu lành và thậm chí còn đau hơn bình thường.

Điền Tú Phương hoảng hồn: “Trời ơi, anh làm sao thế này?”

Văn Trạch Tài mỉm cười, ôm vợ vào lòng trấn an: “Gặp phải chuyện hơi phức tạp mội chút, nhưng không sao, anh đã xử lý xong hết rồi. Em đừng lo. À, về sau nếu không có việc gì hệ trọng thì em đừng đi sang đội sản xuất Thanh Sơn nha.”

Thấy sắc mặt chồng nghiêm nghị, giọng nói cũng rất nghiêm túc, nên Điền Tú Phương không tò mò hỏi nhiều mà chỉ nhu thuận gật đầu, rồi dựa sát vào lồng ngực chồng, lắng nghe nhịp tim trầm ổn của anh.

Vì hôm nay về sớm nên Văn Trạch Tài chủ động đòi đi đón Hiểu Hiểu. Điền Tú Phương mỉm cười đồng ý ngay, sao cũng được, chỉ cần tâm tình anh ấy vui vẻ là được!

Tan học, Hiểu Hiểu ngơ ngác đừng ở cổng trường dáo dác nhìn qua nhìn lại. Đứng bên cạnh là Đại béo và Nhị béo đang cãi nhau ủm củ tỏi.

Văn Trạch Tài cười cười tiến lại gần, vừa vẫy tay vừa kêu tên con gái.

Theo thanh âm, Hiểu Hiểu quay ngoắt đầu lại. Bất ngờ phát hiện thấy hình bóng quen thuộc lẩn giữa đám đông, bé con phấn khích reo vang: “Cha!”, rồi sau đó chạy vọt đến ôm chầm lấy một bên chân cha.

Văn Trạch Tài cong lưng bế bổng con gái cưng lên. Kế đó, anh đưa Đại béo và Nhị béo về Điền gia trước rồi mới nắm tay Hiểu Hiểu đi về nhà mình.

Vừa đi hai cha con vừa chuyện trò không ngớt. Văn Trạch Tài hỏi: “Hôm nay Hiểu Hiểu đi học có gì vui không con?”

Nghe cha hỏi Hiểu Hiểu liền xụ mặt tỏ vẻ không vui: “Hôm nay lên lớp Hiểu Hiểu thấy hai mắt cô giáo Lý đỏ ửng cha ạ, hơn nữa giọng nói cũng khàn khàn, chả giống mọi ngày. Có một bạn học bảo là trông thấy cô giáo khóc.”

Cô giáo Lý chính là thanh niên trí thức Lý Vũ Tình.

Văn Trạch Tài cười xoà, xoa đầu con gái dỗ dành: “Chắc các bạn nhỏ không nghe lời nên cô giáo buồn, cô giáo khóc đấy!”

Hiểu Hiểu kinh ngạc trợn tròn mắt: “Thật ạ? Vậy từ mai Hiểu Hiểu nhất định sẽ nghe lời hơn!”

Trước vẻ đáng yêu và ngô nghê của con gái, Văn Trạch Tài không khỏi bật cười vui vẻ: “Ngoan lắm, Hiểu Hiểu nhà ta đích thực là một em bé vừa thông minh vừa ngoan ngoãn!”

Buổi tối trước khi đi ngủ, Điền Tú Phương liền đem hộp tiền ra đếm. Hiện tại trong nhà có tổng cộng 91 đồng tiền.

Thấy vợ cứ loay hoay đếm tới đêm lui, Văn Trạch Tài liền chỉ chỉ lên nóc nhà rồi nói: “Chắc mấy hôm nữa anh phải nhờ cha với anh cả sang đây phụ lợp lại cái mái nhà. Có gì hôm đó mình mua mấy cân thịt về đãi mọi người, em nhỉ?”

Điền Tú Phương lập tức lắc đầu quầy quậy: “Không được, chả mấy mà tới kỳ thi đại học rồi, phải tranh thủ tiết kiệm thêm tiền mới được. Em đang lo không đủ đây này, tiền học phí rồi cả tiền sinh hoạt phí nữa, chắc phải cần nhiều lắm đây.”

Nhưng cho dù đủ tiền mà không có tem phiếu thì cũng như không…haizza…biết kiếm ở đâu ra bây giờ?

Văn Trạch Tài nhoài người, vòng tay ôm lấy vợ từ phía sau, ghé sát vào tai thủ thỉ: “Những chuyện đó em không cần lo, cứ để đó cho anh. Trước mắt, vợ chồng mình tập trung tu sửa lại nhà cửa cho chắc chắn cái đã….”

Nói đoạn, tay chân bắt đầu không yên phân, anh nở nụ cười nham nhở: “Còn bây giờ thì…ngủ thôi bà xã!”

===

Chú thích:

(1)Chu sa - thần sa - hồng hoàng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Có tên gọi chung là châu sa hay đơn sa, đều là một loại thuốc có thành phần hóa học giống nhau "sunfua thủy ngân tự nhiên “

Chu tức là đỏ - sa tức là đá - thần (không phải là thần tiên, thần thánh) tức là nói đến thần hiệu tốt!

Chu sa ở thể bột đỏ - Thần sa ở thể cục thành khối óng ánh, to nhỏ không đều, màu đỏ tối hay đỏ tươi.

Tác dụng của thần sa - chu sa trong phong thuỷ : trấn trạch, trừ tà, nâng cao khí cho đất.

- Được sử dụng cực mạnh và cực kỳ tốt việc bao sái bát hương, trộn chung tro cho tà ma cô hồn, dã quỷ không dám nhảy vào giành lấy bàn thờ.

- Át phần sóng âm, tăng mạnh khí dương, lưu thông khí mạch của đất.

- Trong việc động thổ xây nhà: việc dùng linh vật ( tỳ hưu, nghê, sư tử, long quy...) cháo, trà vang, bùa trừ tà / bùa cầu may.... Chỉ có tác dụng / giá trị tạm thời, chưa mang lại hiệu quả tốt cho việc trấn trạch, trừ tà, nâng cao khí.

Nguyên nhân chính ở trong đất có âm khí, tà khí, vong, tinh là vì "đất đó có chỉ số BOVIS thấp", tức là năng lượng của đất luôn ở dạng có nhiều sóng âm từ lòng đất bắn lên. Mà khi đất có nhiều sóng âm thì sẽ là môi trường tốt để vong, tinh trú ẩn. Sóng âm nhiều sẽ gây cho con người bị hao kiệt khí dương, dẫn đến bệnh tật, ốm đau, ung thư, làm ăn thất bát.

Trong thành phần của chu sa - thần sa chứa sunfua thuỷ ngân "khoáng vật tự nhiên " có tác dụng ức chế / đẩy lùi khí âm tức khí BOVIS cao , gia tăng sản sinh khí dương, nuôi dưỡng cho đất.

Trong nhà ở, nơi cửa hàng buôn bán, các phương tiện đi lại (ôtô, xe máy....) sử dụng lượng nhỏ chu sa - thần sa => át khí âm, tăng vượng khí dương, gia đình mạnh khỏe , kinh doanh thuận lợi, an toàn đi lại...

Trẻ nhỏ quấy khóc về đêm, tinh thần hoảng hốt... Các mẹ có thể dùng 1 lượng nhỏ thần sa - chu sa gài vào mũ hoặc áo cho con tránh bị trêu ghẹo.

Hồng hoàng có tác dụng trừ tai giải ách và trở thành một trong ngũ đại bùa hộ thân bảo vệ bình an của dân gian.

(2)Thành ngữ phương Đông xưa kia có câu: “Lưỡng bại câu thương” với ý nghĩa là trong cuộc giành giật, đấu đá vô nghĩa, cả hai bên đều bị tổn thương, chẳng có bên nào được lợi cả.

Chương 34: Truyền thuyết hắc hồ

Mắt thấy mùa màng đã thu hoạch xong, công việc đồng áng đã hòm hòm, thế nên Văn Trạch Tài tính mở lời nhờ anh cả và cha vợ hỗ trợ lợp lại cái mái nhà kẻo thu đông giá rét sắp kéo tới nơi rồi. Vậy là sau khi tan sở, anh không đi thẳng về nhà ngay mà rẽ vào Điền gia trước.

Hôm nay nhân dịp đúng ngày lãnh lương, chả biết quản lý Vương kiếm đâu được hai phiếu đường đưa cho anh. Dĩ nhiên, Văn Trạch Tài không khách khí mà tươi cười cảm ơn ngay. Thời buổi này không gì quý hơn tem phiếu mà lại.

Có hai phiếu đường, Văn Trạch Tài liền ghé cung tiêu xã mua luôn nửa ký đường trắng với nửa ký đường đỏ. Tiện thể anh xuất tiền túi mua thêm một ký thịt mỡ nữa.

Treo lủng lẳng đầy hai bên ghi đông xe, Văn Trạch Tài đạp thẳng về Điền gia.

Nhìn túi to túi nhỏ nào đường, nào thịt, thoạt đầu cả ông Điền lẫn bà Điền đều mừng rỡ hoan hỉ nhưng rồi sau đó lại bắt đầu cảm thấy ruột gan đau thắt vì xót của. Thời gian gần đâu cậu con rể thay đổi như nào, ông bà đều nhìn ra và ghi nhận trong lòng. Thế nhưng mua cùng lúc lắm đồ như này chắc tốn kém lắm đây, haizz, cái thằng này thiệt tình…

Bà Điền nhẹ giọng ướm lời: “Bộ hôm nay con được phát lương hả?”

Văn Trạch Tài mỉm cười gật đầu: “Vâng, nay con lãnh lương, hơn nữa còn được anh quản lý cho thêm hai phiếu đường. Chợt nhớ hôm bữa mẹ bảo mỗi khi khách tới chơi trong nhà chẳng có gì để tiếp đãi nên tiện có phiếu con rẽ qua cung tiêu xã mua luôn cân đường. Đây, mẹ giữ lên đi để thỉnh thoảng dùng tiếp khách.”

“Ôi trời, nhà mình cũng làm gì lắm khách vậy đâu.” Tuy lời nói thì khách sáo như vậy chứ nụ cười đã kéo từ khoé miệng lên tận đuôi mắt bà Điền rồi!

Văn Trạch Tài dứt khoát đặt toàn bộ vào tay mẹ vợ: “Mấy ngày nữa sẽ có cán bộ từ trên trấn xuống, ít nhiều gì nhà ta cũng phải có chén nước đường cho lịch sự chứ ạ. Mà kể cả không có khách thì cứ để đây cho cha mẹ với anh em Đại béo, Nhị béo uống.”

Nhìn thấy Văn Trạch Tài loay hoay tính gỡ túi thịt ra khỏi xe, ông Điền lập tức ngăn cản: “Ấy, cái đó mang về cho mẹ con nó ăn đi.”

Văn Trạch Tài cười xoà, trực tiếp đưa cả cho mẹ vợ rồi mới quay lại trình bày dự định: “Cha, mẹ, căn nhà của chúng con đã đến lúc phải tu sửa lại rồi, mà ngặt nỗi con còn bận việc trên trấn không phụ giúp gì được. Vả lại trong khoảng thời gian sửa chữa, con muốn gửi mẹ con Tú Phương sang đây cho đỡ bụi bặm thế nên chắc phải phiền mẹ cơm nước cho mẹ con cô ấy mấy ngày giúp con.”

Vừa nghe con gái và cháu ngoại sẽ sang đây ăn cơm, bà Điền vui vẻ đón lấy túi thịt ngay. âm thầm ước lượng một chút, ồ cũng nặng phết đấy, nhắm chừng chỗ này phải cả ký chứ không ít đâu. Thế này nêm nếm chút gia vị mằn mặn là có thể xào dư hai đĩa, còn nếu khéo léo thái mỏng chút là kiểu gì mỗi người cũng được hơn hai gắp. Mới tưởng tượng thôi mà bà Điền đã cười tới độ không khép được miệng.

Vừa thoáng liếc qua là ông Điền biết tỏng bà bạn già đang nghĩ cái gì trong đầu. Vốn dĩ ông định từ chối nhưng Trạch Tài đã nói sẽ để mẹ con Tú Phương sang đây ăn cùng thì chắc nó đã có sắp xếp cả rồi. Thôi thì, cứ làm theo như vậy đi!

Trước khi Văn Trạch Tài quay xe về, bà Điền liền dặn với theo: “Này, bữa sáng với bữa tối con cũng sang đây ăn luôn thể nhá, cứ để mẹ nấu luôn cho.”

Văn Trạch Tài tươi cười đồng ý ngay, sau đó nhấn bàn đạp hướng thẳng về nhà mình.

Chưa ra khỏi khúc cua thì bắt gặp Điền Kiến Quốc đi làm về. Hai anh em dừng lại chào hỏi đôi câu rồi tạm biệt ai về nhà nấy.

Lúc Điền Kiến Quốc vừa bước vào sân, Ngô Mai đã đứng chờ sẵn từ bao giờ, rối rít vẫy lấy vẫy để.

Anh mỉm cười bước đến bên cạnh, tuy nhiên chưa kịp hỏi có chuyện gì thì chị vợ đã liến thoắng căn dặn: “Em bảo, dượng út hôm nay hào phóng lắm, mới xách sang đây nào đường trắng, đường đỏ rồi còn cả thịt nữa. Ngày mai anh qua đó hỗ trợ nhớ tận tâm chút nha.”

Điền Kiến Quốc cười cười sờ cái bụng đã nhô cao của vợ: “Anh biết rồi.”

Với lại chuyện này kể cả không có thịt, không có đường thì anh vẫn sẽ giúp nhiệt tình mà.

Nhờ được anh cả và cha vợ giúp đỡ, Văn Trạch Tài chẳng phải lo lắng gì, sáng sáng anh chở vợ và con gái sang Điền gia ăn ké rồi thong dong đạp xe đi làm, buổi tối lại nhàn nhã đạp thẳng về Điền gia ăn tối. Xong đâu đó, vợ chồng con cái mới quay về nhà mình tắm rửa nghỉ ngơi.

Tất nhiên Văn Trạch Tài không tới ăn không. Ngày nào anh cũng xách theo chút đồ, hôm thì bó rau, hôm thì tí thịt. Mà tất nhiên thức ăn trên trấn thì luôn ngon hơn dưới thôn, thế nên hai cái thằng nhóc Đại béo và Nhị béo cứ xoen xoét một câu dượng út, hai câu dượng út ngọt xớt.

Cuối cùng sau hai ngày, căn nhà của anh cũng đã được tu chỉnh xong xuôi. Mặc dù không có gì to tát nhưng cũng gọi là hoàn công, vậy nên hôm nay Văn Trạch Tài cố tình mua một vò rượu ngon để mấy cha con nhâm nhi với nhau. Tuy anh không uống nhưng anh cả và cha vợ khoái cái món này lắm. Chỉ cần rang thêm đĩa lạc nữa là vui quên sự đời.

Sau bữa tối, ba cha con kê cái bàn ra hiên ngồi cho mát mẻ. Văn Trạch Tài lấy trà thay rượu kính hai người họ: “Cha, anh cả, mấy ngày nay vất vả cho hai người rồi.”

Thời gian gần đây tuy không đến mức sớm chiều chung đụng nhưng gặp mặt thường xuyên tất nhiên sẽ thân thiết hơn và cũng dễ tìm được nhiều đề tài chung để nói.

Đương nhiên đàn ông không nói mấy chuyện vặt vãnh con gà củ tỏi như hội chị em phụ nữ. Cái họ quan tâm chủ yếu là chính sách quốc gia với cả làm thế nào để đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng hạt giống cây trồng.

Ở đây, Văn Trạch Tài là người có học thức, có văn hoá nhất, vậy nên Điền đội trưởng tự nhiên mà hướng câu chuyện về phía anh: “Có thật là sau này quốc gia sẽ phân bổ công tác cho toàn bộ sinh viên đại học không?”

Văn Trạch Tài buông chén trà, nghiêm túc trả lời: “Kể cả không phải đi chăng nữa thì học đại học cũng là một việc trăm lợi không một hại. Hiện tại, quốc gia đang yêu cầu nhân tài, thậm chí có thể nói là tha thiết kêu gọi người tài đứng ra xây dựng đất nước. Hơn thế nữa còn đẩy mạnh chủ trương nam nữ bình đẳng. Cho nên từ giờ trở đi, giáo dục sẽ được ưu tiên hàng đầu, trẻ em không kể trai hay gái đều được khuyến khích đến trường. Học tập sẽ giúp con em chúng ta thay đổi tương lai.”

Nghe cậu em rể phân tích quá hợp lý, Điền Kiến Quốc liên tục gật gù tỏ ý đồng tình: “Đúng đúng, Đại béo, Nhị béo và cả Hiểu Hiểu nữa nhất định phải đi học. Dù có phải đập nồi bán sắt anh cũng quyết cho chúng học được đại học mới thôi.”

Đúng lúc này Ngô Mai đi ngang qua, loáng thoáng nghe được cái gì mà bán sắt, bán nồi, chị hoảng quá, vội lật đật chạy lại kéo tay chồng: “Cái gì? Nhà mình tới miếng thiếc còn chả có, anh bảo bán là bán cái gì cơ? Em nói cho anh biết, làm như thế là bị quy vào tội đầu cơ trục lợi, là tù mọt gông như chơi đấy. Ngàn vạn lần chớ có dính vào, chẳng may anh bị làm sao thì mẹ con em biết sống thế nào hả?!”

Hiện tại ở trong nhà từ cây cuốc đến cái lưỡi hái đều là tải sản chung, thuộc sở hữu của đội sản xuất. Bình thường lúc làm việc còn phải cẩn thận từng ly từng tý, sợ bị móp méo hỏng hóc chứ nói chi tới chuyện lén bán kiếm tiền.

Haizz, nể tình vợ đang bầu bì bụng mang dạ chửa, Điền Kiến Quốc không muốn đôi co, vậy nên anh lựa chọn cách im lặng cho qua chuyện. Văn Trạch Tài thức thời lập tức đổi qua đề tài khác: “À, lúc đi làm thỉnh thoảng con lại nghe có người nhắc đến chuyện cũ của nhà họ Hạ ở đại đội Thanh Sơn. Nhưng chả bao giờ chịu kể hết chuyện cả, cứ nói lưng chừng là ngừng, kỳ lạ ghê!”

Kỳ thực anh cố tình nói nửa kín nửa hở là muốn thăm dò xem ông Điền đã từng nghe qua tin đồn quái dị nào chưa.

“Hạ gia ở đại đội Thanh Sơn à?” Ông Điền nhíu mày suy ngẫm một lát rồi lắc đầu: “Cha chưa nghe nói qua, nhưng nếu con muốn tìm hiểu chuyện xưa thì nên tới hỏi ông ba Trần. Thế hệ chúng ta gọi là ông còn các con phải kêu bằng cụ.”

Ông Trần năm nay 82 tuổi, là người sống thọ nhất trấn này. Thậm chí toàn bộ huyện thành cũng rất hiếm cụ có được tuổi thọ đáng quý như vậy.

Tuy đã ở độ tuổi gần đất xa trời, răng cỏ rụng hết, da dẻ lấm ta lấm tấm phủ kín bởi các đốm đồi mồi, tay chân già yếu và chậm chạp đi nhiều nhưng ông vẫn giữ được tinh thần minh mẫn, thậm chí vào những hôm đẹp trời còn nổi hứng đòi ra sân chầm chậm tản bộ vài vòng. Chỉ có điều ông nói chuyện khá thều thào, chữ được chữ mất, phải kiên nhẫn lắng tai nghe kỹ lắm thì mới mong hiểu hết nhưng điều ông nói.

Theo chỉ dẫn của cha vợ, hôm nay Văn Trạch Tài mua một cân kẹo mềm tới thăm cụ Trần.

Bởi vì vợ con ông đã qua đời cả cho nên hiện tại ông sống cùng thằng cháu nội, và dĩ nhiên nói là cháu vậy thôi chứ thực tình ông chú ấy cũng đã ngoài bốn mươi rồi.

Thấy có khách tới thăm, chú Trần niềm nở ra mở cổng rồi dẫn đường cho Văn Trạch Tài vào phòng ông nội.

Văn Trạch Tài lễ phép thưa: “Cháu chào cụ ạ.”

Đang lim dim ngủ gà ngủ gật bỗng nghe có tiếng léo nhéo bên tai, ông Trần từ từ nâng mí mắt rồi móm mém cười: “Tới rồi đấy hả?”

Đứng bên cạnh, chú Trần vội vàng lên tiếng giải thích: “Cậu thông cảm, gặp ai ông nội tôi cũng nói vậy cả.”

Văn Trạch Tài khẽ gật đầu, tỏ ý không vấn đề gì.

Kế đó, anh chủ động ngồi xuống chiếc ghế gỗ bên cạnh giường, bắt đầu trò chuyện cùng ông cụ. Mặc dù tuổi tác đã cao nhưng thần trí của ông vẫn còn rất sáng suốt, không hề lẩm cẩm một tí nào, bởi vậy ngay khi Văn Trạch Tài nhắc tới hai chữ “Hạ gia”, nét mặt ông lập tức trầm hẳn xuống, để lộ ra vẻ thương tiếc cùng đau xót tột độ.

Ông thả mình chìm vào miền ký ức đã cất giấu từ rất lâu, trầm ngâm mở lời:

“Năm đó…

Khi ông Trần mới chỉ là cậu ba Trần 15 tuổi, đúng cái độ tuổi thiếu niên tò mò, hiếu kỳ thích tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh.

Và tại thời điểm ấy, dân tình đang xôn xao kháo nhau rằng trên núi Thanh Sơn xuất hiện một cặp hắc bạch hồ ly. Xưa nay người ta chỉ nghe nói có hồ ly đỏ, hồ ly trắng chứ nào ai đã trông thấy hồ ly đen bao giờ. Thế nên lúc bận rộn nông vụ thì thôi chứ hễ rảnh rang một cái là mọi người lập tức kết nhóm lên núi truy tìm hồ ly.

Tiếc rằng rất nhiều người đi nhưng chẳng ai may mắn thu được kết quả gì. Dần già, nó trở thành câu chuyện nhàn thoại, mua vui trong các buổi trà dư tửu hậu. Những tưởng chuyện về hắc hồ sẽ chỉ tồn tại trong truyền thuyết thì kỳ diệu thay cậu ba Trần lại có cơ duyên tận mắt nhìn thấy hồ ly bằng xương bằng thịt.

Hôm ấy, cậu cùng anh hai nhà họ Hạ rủ nhau lên núi kiếm củi, ai dè giữa đường hai anh em bất ngờ trông thấy một con hồ ly trắng muốt, xinh đẹp muôn phần. Và bất ngờ hơn cả chính là, bạch hồ cứ đứng yên một chỗ, nhìn chằm chằm về phía này với đôi mắt ầng ậc nước như thể đang đau khổ van xin cầu cứu, thậm chí còn liên tục phát tín hiệu ý bảo bọn họ theo sau.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!