Virtus's Reader

STT 4667: CHƯƠNG NGOẠI TRUYỆN: GHI CHÉP VỀ GÁC MINH GIÁM

Chương Ngoại truyện: Ghi chép về Gác Minh Giám

Gác Minh Giám, tọa lạc tại nơi cách huyện lỵ mười lăm dặm về hướng đông bắc, nằm trên vách núi cheo leo, giữa rừng cây sa la và dây sắn. Cách đó hơn năm mươi dặm về phía đông, chính là ngôi chùa nơi Trương Hoa đời Tấn từng ghé thăm. Sách cũ «Lang Hoàn Ký» có chép: "Thời vua Đường Thái Tông, ngài cùng bề tôi là Ngụy Chinh đến thăm cố tích của Trương Hoa, nhân bàn chuyện 'minh giám' tại đây mà đặt tên cho nó. Về sau, chùa tháp mọc lên, người ta trồng thêm vài gốc tùng bách trên đỉnh, dáng núi trông tựa Lăng Tràng Bảo giữa lầu son gác tía, dân địa phương bèn gọi là núi Tràng Bảo. Sau này, Lý Kiệu cũng về đây ở ẩn, có câu thơ nhắc đến 'minh giám', hẳn là phỏng theo tích cũ. Kế đó, có người họ Y tên Thế Trân, vì loạn lạc thời Nguyên mà đến đây lánh nạn, gác lại sự đời, tự gọi chốn này là phúc địa Lang Hoàn." Ngày mùng bảy tháng Bồ, năm Giáp Thân, ta cùng Đan Ảnh mới dựng nên gác này. Ta ngắm dãy núi này, uốn lượn trập trùng, chẳng biết dài đến mấy ngàn dặm. Các ngọn núi nối liền một dải xanh biếc, vừa hùng vĩ lại vừa thanh tú, san sát tựa rừng trong gang tấc, nhiều đến hàng ngàn hàng vạn. Trong đó, ngọn núi nơi Gác Minh Giám tọa lạc là cao hơn cả.

Vào canh năm giờ Dần đêm ấy, ta cùng Đan quân và Thục quân tao ngộ tại Đình Ngẫu Phong. Hôm sau, tại nơi cách cầu Vồng một tầm tên về phía tây, chính là chốn mà tiền nhân cho rằng Lý Kiệu đã vịnh câu thơ về 'minh giám'. Vì vậy, chúng ta đã dựng một tòa đình đài hoa lệ bên cạnh, khắc thơ của Lý Kiệu lên cửa, đặt tên là Gác Minh Giám.

Gác Minh Giám dựng xong, ngày ngày ta cùng Đan quân, Thục quân sớm đi tối về, hát ca say ngủ tại đó.

Hôm sau, ta chợt mộng thấy Đông Dã gửi lời, nhắc lại chuyện “tứ khoái” của ngư dương sơn nhân và “tứ mỹ” của Vương Bột, rằng: "Cảnh đẹp lòng vui, phong quang mãn nhãn, tính ra cả đời cũng chẳng có mấy khi. Nếu không phải bậc hào sảng, sao có thể tận hưởng được những điều này. Chúng ta nên nhân lúc hứng khởi, thuận theo cảm xúc, có được ba điều: một là ngày lành, hai là thắng địa, ba là danh sĩ", vân vân. Tỉnh lại, ta cùng Đan quân và Thục quân bàn bạc say sưa, quyết định dựng Lầu Vọng Hải ở nơi cách Đình Ngẫu Phong ba dặm về phía tây, lại xây Miếu Bái Nguyệt ở sau núi của Gác Tùng Phong. Ngày lầu xây xong, trời trong xanh, gió nhẹ mát mẻ, chợt có nhóm bạn Phong Dạ Lạc Trần đến chơi. Đan quân say sưa ca hát, cho rằng tài tuấn một thời đều đã tụ hội, bèn mời mọi người lên lầu ngâm vịnh, làm thơ để ghi lại buổi tao ngộ này. Ta vốn tối dạ, kiến thức nông cạn, thi từ lại chẳng phải sở trường, chỉ đành viết đôi câu đối cho Lầu Vọng Hải và Miếu Bái Nguyệt để góp vui. Đôi câu đối ấy viết rằng:

Mưa tạnh hoa khai, đứng ngoài Lầu Vọng Hải ngắm bóng núi xanh lúc hoàng hôn, giữa khói sóng mênh mang, bất giác dâng nỗi niềm khắc bia của Tào Mạnh Đức.

Trăng sáng gió trong, trên Miếu Bái Nguyệt đón hơi sương lạnh, nhìn tuyết bay trên Hiệp Thạch, giữa rừng sâu thăm thẳm, chợt thấu nỗi lòng phi điểu của Liễu Tông Nguyên.

Đêm ấy, tiệc tàn, chén đĩa ngổn ngang, các bằng hữu đều say ngủ trong Lầu Vọng Hải. Ta phủi áo đứng dậy, một mình dạo bước bên ngoài Miếu Bái Nguyệt. Ôi, bầu trời thăm thẳm như một khối ngọc bích, nghìn dặm núi non trập trùng, mênh mông vô tận, không một gợn mây điểm xuyết. Tiếng chuông chùa từ bữa cơm chiều vọng lại từ rừng sâu. Đứng một mình giữa đất trời, lòng chợt nảy sinh ý nghĩ thoát tục.

Giây lát, gió núi chợt nổi, khí lạnh trên cao ập đến. Ta quay về phòng trằn trọc, chỉ nghe tiếng ngáy của Đan Ảnh vang như sấm, làm rung cả giường, khiến đêm ấy không sao ngủ được. Ghi lại tại Gác Tùng Phong, vào canh ba ngày rằm tháng Ất Dậu.

Cầm Xuyên cư sĩ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!