Câu chuyện này phải bắt đầu từ huyện Hấp, thuộc phủ Huy Châu.
Triều Đại Minh được chia thành mười ba Thừa tuyên Bố chính sứ ty, cùng với hai khu vực trực thuộc ở phía nam và phía bắc, chúng ta có thể tạm hiểu chúng như các tỉnh.
Khu Nam Trực Lệ có một phủ Huy Châu, từ xưa đến nay luôn là nơi địa linh nhân kiệt, bất kể trong quan trường hay thương trường đều sản sinh ra nhiều nhân tài, là một vùng đất nổi tiếng về văn hóa và giáo dục phồn thịnh. Thời bấy giờ, phủ Huy Châu quản lý tổng cộng sáu huyện: Hấp, Y, Hưu Ninh, Vụ Nguyên, Kỳ Môn, Tích Khê. Trong đó, huyện Hấp là lớn nhất, đồng thời nó còn là huyện phụ quách – tức là, trị sở của phủ Huy Châu được đặt trong huyện, cùng với nha môn huyện Hấp làm việc trong cùng một thành.
Phủ và huyện cùng một thành, nhiều văn thư hồ sơ cấp phủ tự nhiên được lưu trữ trên các giá kệ trong thành của huyện, để tiện cho việc tra cứu và đối chiếu bất cứ lúc nào. Những hồ sơ về thuế lương và hộ tịch này vô cùng quan trọng, liên quan đến sự thịnh suy của cả một huyện, nhưng lại cực kỳ nhàm chán, toàn là những con số khô khan. Vì vậy, chúng bị xếp xó trên cao quanh năm, không ai ngó ngàng tới.
Năm Long Khánh thứ ba (1569), có một người huyện Hấp đột nhiên nảy sinh hứng thú mãnh liệt với những hồ sơ này.
Người này tên là Soái Gia Mô, tự Vũ Thần. Nói một cách nghiêm túc, ông không có hộ khẩu ở huyện Hấp, không được coi là cư dân địa phương, mà là một quân hộ có quê gốc ở Giang Hạ, thuộc Tân An Vệ trong địa phận phủ Huy Châu. Quân hộ là một loại hộ tịch đặc thù của Đại Minh, đời đời làm quân nhân, thuộc về các Vệ sở ở các nơi – tương tự như quân khu – nhưng xuất thân này cũng không có gì không tốt, trong triều lúc bấy giờ có một nhân vật lớn tên là Trương Cư Chính, cũng xuất thân từ quân hộ, đang là một ngôi sao chính trị đang lên.
[Chú thích]
Phủ Huy Châu và Tân An Vệ: Theo ghi chép trong *Minh Sử · Địa Lý Chí* và *Minh Sử · Binh Chí*, toàn bộ lãnh thổ quản lý của nhà Minh được chia thành hai hệ thống lớn, tức là hệ thống hành chính gồm Lục Bộ, Bố chính sứ ty, Phủ, Huyện, và hệ thống quân sự gồm Ngũ quân Đô đốc phủ, Đô chỉ huy sứ ty, Vệ, Thiên hộ sở. Đầu thời Minh, phủ Huy Châu trực thuộc Trung thư tỉnh, sau đổi thành thuộc Nam Trực Lệ, quản lý sáu huyện Hấp, Y, Hưu Ninh, Tích Khê, Kỳ Môn, Vụ Nguyên, trong đó huyện Hấp là huyện phụ quách. Tân An Vệ, trực thuộc Trung quân Đô đốc phủ, tuy đặt trong khu vực quản lý của phủ Huy Châu, nha thự phòng bị cũng ở huyện Hấp, nhưng không chịu sự quản lý của phủ Huy Châu.
<br>
<center>Hình 1.1 *Huy Châu Phủ Sơn Phụ Thủy Nguyên Tổng Đồ* (trích từ *Huy Châu Phủ Chí* đời Hoằng Trị)</center>
<br>
Quân hộ: Theo ghi chép trong *Đại Minh Hội Điển · Hộ Bộ*, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương ra lệnh quản lý hộ khẩu trong thiên hạ, lập hộ thiếp, hộ tịch, ghi chép tên, tuổi, nơi ở của các hộ, hộ thiếp phát cho dân, hộ tịch nộp lên Hộ bộ, làm căn cứ để kiểm tra hộ khẩu, trưng thu thuế và lao dịch. Các hộ thời Minh được chia thành nhiều loại như quân, dân, y, tượng, âm dương, ngoài những người được miễn trừ sai dịch, những người khác phải đảm nhận các loại sai dịch khác nhau, không được phép thay đổi hộ tịch, và sai dịch cũng được kế thừa. Trong đó, quân hộ là những hộ đặc định kế thừa nghĩa vụ quân dịch, gánh nặng lớn, địa vị xã hội cũng tương đối thấp, nên người Minh thường coi việc thoát khỏi quân hộ là một điều may mắn. Nhiều vị các thần nổi tiếng thời Minh như Lý Đông Dương, Vạn An, Lưu Cát, Lương Trữ, Cao Củng, Trương Cư Chính, Diệp Hướng Cao... đều xuất thân từ quân hộ.
Soái Gia Mô có biểu hiện rất bình thường cả về văn lẫn võ, định sẵn con đường quan lộ vô vọng. Ông chỉ có một sở trường duy nhất: bẩm sinh nhạy bén với các con số, giỏi toán học, là một thiên tài toán học cấp học bá.
Đáng tiếc ở Đại Minh, không có nhiều lĩnh vực để vị sinh viên khoa học tự nhiên này thể hiện tài năng. Hướng đi tốt nhất là làm một viên quan lại nhỏ quản lý tiền lương. Mà vị trí này đòi hỏi phải rất quen thuộc với việc tính toán thuế khóa tiền lương, cần phải làm rất nhiều bài toán ứng dụng để luyện tập.
Thời đó không có sách tham khảo và bài tập, khát khao giải toán của Soái Gia Mô không có nơi nào để thỏa mãn. May mắn là nỗi phiền muộn này không kéo dài lâu, ông đã phát hiện ra một kho đề tuyệt vời: kho lưu trữ của huyện Hấp.
Sổ sách thuế lương qua các năm của phủ Huy Châu đều được lưu trữ trong kho của huyện Hấp. Cơ cấu thuế khóa của Đại Minh rất phức tạp, Huy Châu lại là một nơi nộp thuế lớn, sổ sách liên quan đến rất nhiều phép cộng trừ quy đổi, tính toán tiền lương, đây chính là những ví dụ bài toán ứng dụng tuyệt vời. Rèn luyện tốt kỹ năng này, sau này sẽ có việc làm đảm bảo.
Thế là vào một ngày nào đó trong năm Long Khánh thứ ba, Soái Gia Mô tìm cách tiếp cận những sổ sách của quan phủ này. Một vị học bá cứ thế vui vẻ bắt đầu giải toán.
Giải mãi, giải mãi, Soái Gia Mô cảm thấy có gì đó không ổn.
Với sự nhạy bén cao độ với các con số, ông nhận thấy một điểm đáng ngờ trong thuế khóa qua các năm của Huy Châu: trong số thuế lương mà phủ Huy Châu nộp cho kho Thừa vận Nam Kinh hàng năm, ngoài thuế chính, còn có một khoản mục gọi là "nhân đinh ti quyên", phải nộp bằng hiện vật, và số lượng khá lớn, mỗi năm phải nộp 8780 tấm lụa thô.
Soái Gia Mô tra cứu tiếp sổ sách phân bổ của các huyện thuộc phủ Huy Châu, phát hiện ra trong sáu huyện thuộc phủ, năm huyện kia đều không có khoản chi "nhân đinh ti quyên" này, chỉ có sổ sách của huyện Hấp có ghi chép, con số tương đương với số lượng phủ Huy Châu nộp cho kho Thừa vận Nam Kinh.
Nói cách khác, khoản thuế 8780 tấm lụa thô hàng năm của phủ Huy Châu là do một mình huyện Hấp gánh chịu.
Soái Gia Mô vô cùng kinh ngạc, đây không phải là con số nhỏ. Để đảm bảo mình không tính sai, ông còn đặc biệt tra cứu *Đại Minh Hội Điển*.
[Chú thích]
*Đại Minh Hội Điển*: Bộ sách do quan phủ thời Minh biên soạn, ghi chép toàn bộ các điển chương chế độ. Triều Minh đã lần lượt biên soạn, bổ sung và tu sửa lại *Hội Điển* vào các đời Hoằng Trị, Gia Tĩnh và Vạn Lịch. Dưới thời Hoằng Trị, Từ Phổ, Lưu Kiện... phụng sắc chỉ tu sửa *Đại Minh Hội Điển* gồm 180 quyển, nhưng đến khi Hiếu Tông qua đời vẫn chưa kịp ban hành. Dưới thời Chính Đức, Lý Đông Dương... phụng sắc chỉ hiệu đính lại rồi do Tư lễ giám khắc in ban hành, đó là bản Chính Đức. Bản *Hội Điển* được bổ sung dưới thời Gia Tĩnh không được phát hành. Dưới thời Vạn Lịch, Đại học sĩ Thân Thì Hành... phụng sắc chỉ tu sửa lại *Hội Điển* thành 228 quyển, là bản Vạn Lịch. Bản mà Soái Gia Mô đọc trong bài viết này có lẽ là bản Chính Đức của *Đại Minh Hội Điển*.
*Đại Minh Hội Điển* là một bộ sưu tập tài liệu do triều đình ban hành, trong đó ghi chép các điển chương thay đổi cũng như tài liệu thuế khóa, quy định hành chính của các cấp chính quyền, bắt đầu từ đời Hoằng Trị, mỗi đời đều được sửa đổi, được coi là một tuyển tập các pháp lệnh của chính phủ, cũng có thể miễn cưỡng dùng như một cuốn niên giám, có uy tín rất cao.
Soái Gia Mô trong mục phủ Huy Châu của *Đại Minh Hội Điển*, đã tìm thấy ghi chép nộp thuế tương tự. Quan trọng hơn, *Đại Minh Hội Điển* chỉ đề cập rằng phủ Huy Châu phải chịu khoản "nhân đinh ti quyên", chứ không có bất kỳ dòng chữ nào cho thấy huyện Hấp phải một mình gánh chịu.
Theo lẽ thường, khoản thuế "nhân đinh ti quyên" này của phủ Huy Châu nên được sáu huyện chia đều, sao lại chỉ đè lên một mình huyện Hấp? Mặc dù quy mô của huyện Hấp lớn hơn năm huyện kia, nhưng cũng không thể bắt nạt người ta như vậy.
Soái Gia Mô thầm nghĩ, việc này liên quan đến dân sinh của cả một huyện, không thể cứ mơ hồ như vậy được, phải đào cho ra ngọn ngành!
Giống như tất cả các học bá, Soái Gia Mô khi thấy vấn đề trước mắt, không những không hoảng sợ mà còn vui mừng, hăng hái tiếp tục đào sâu. Cuối cùng, ông đã tìm thấy một manh mối có vẻ không liên quan từ xa xưa trong *Huy Châu Phủ Chí*.
[Chú thích]
*Huy Châu Phủ Chí*: Hiện còn hai phiên bản *Huy Châu Phủ Chí* thời Minh, một là bản 12 quyển do Bành Trạch, Uông Thuấn Dân... biên soạn dưới thời Hoằng Trị, một là bản 22 quyển do Uông Thượng Ninh... biên soạn dưới thời Gia Tĩnh. Đặc biệt cần lưu ý, Uông Thượng Ninh là người huyện Hấp, từng giữ chức Thông nghị Đại phu, Đô Sát viện Hữu phó Đô ngự sử, sau khi nghỉ hưu về quê đã tổ chức một nhóm người tu sửa lại *Huy Châu Phủ Chí*, sau này cũng bị cuốn vào cuộc tranh cãi do học bá Soái Gia Mô gây ra.
Vùng đất Huy Châu này quy thuận Hồng Vũ gia rất sớm. Sau khi Chu Nguyên Chương xưng là Ngô Vương vào năm Chí Chính thứ hai mươi bốn (1364), việc đầu tiên ông thực hiện ở Huy Châu là sửa đổi thuế của nhà Nguyên, gọi là "Giáp Thìn pháp chế". Kết quả là cuối năm kiểm tra, Hành Trung thư tỉnh phát hiện có vấn đề về con số, nên vào năm Chí Chính thứ hai mươi lăm (1365) đã tiến hành một cuộc "Ất Tỵ cải khoa", điều chỉnh lại mức thuế của nhiều khoản mục.
[Chú thích]
Ất Tỵ cải khoa: Theo ghi chép trong *Huy Châu Phủ Chí · Thực Hóa Chí*, năm Ngô nguyên niên (1364), Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã sửa đổi lại chế độ thuế cũ của phủ Huy Châu, quy đổi "hạ thuế sinh ti" của sáu huyện thành lúa mạch để thu. Năm sau, tức năm Ất Tỵ, Hành Trung thư tỉnh khi kiểm tra thuế khóa của phủ Huy Châu đã phát hiện ra rằng, mức tăng giảm thuế ruộng của phủ trong năm Ngô nguyên niên có vấn đề, bèn sai người bắt giam các quan lại thuộc phủ và huyện đến tỉnh, dưới sự giám sát chặt chẽ, đã định lại mức thuế ruộng của phủ Huy Châu, sử sách gọi là "Ất Tỵ cải khoa", trong đó đặc biệt chỉ ra rằng huyện Hấp còn thiếu 9000 thạch lúa mạch so với mức ban đầu.
<br>
<center>Hình 1.2 Ảnh chụp *Huy Châu Phủ Chí* bản Gia Tĩnh</center>
<br>
Trong lần cải cách này, triều đình phát hiện số lượng lúa mạch mùa hè của huyện Hấp có vấn đề, so với năm ngoái thiếu 9700 thạch, vì vậy đã áp thêm cho 3646 khoảnh ruộng thuế nhẹ của huyện Hấp, mỗi mẫu thu thêm bốn tiền "hạ thuế sinh ti" để bù vào khoản thiếu hụt lúa mạch.
[Chú thích]
Thạch: Người xưa đục lỗ vào đá tạo thành hình lõm để cân lương thực, "thạch" do đó trở thành đơn vị dung tích, đọc là "đàn". *Thuyết Uyển · Biện Vật* ghi: "Mười đấu là một thạch". Các đơn vị dung tích thời xưa gồm: thược, hợp, thăng, đấu, thạch, theo hệ thập phân. Câu "dĩ thăng lượng thạch" trong *Hoài Nam Tử · Mậu Xưng Huấn* ví von việc dùng sức hiểu biết nông cạn để suy đoán đạo lý sâu xa. Câu "triêu thăng mộ hợp" trong *Nhị Khắc Phách Án Kinh Kỳ* của Lăng Mông Sơ thời Minh lại dùng để miêu tả cuộc sống khó khăn. Trong đời sống hàng ngày, thạch và hợp vì quá lớn hoặc quá nhỏ nên ít được sử dụng, người ta thường dùng thăng và đấu, do đó có các cách nói như thăng đấu tiểu dân, nhật tiến đấu kim, bất vi ngũ đấu mễ chiết yêu...
Việc "bù thuế hạ thuế" này đã quá xa xưa, có vẻ không liên quan gì đến "nhân đinh ti quyên". Soái Gia Mô dựa vào trực giác thiên tài của mình, cảm thấy giữa hai việc này chắc chắn có mối liên hệ nào đó, bèn cầm bút lên, tính toán sơ bộ.
9700 thạch lúa mạch mà huyện Hấp phải bù, theo tiêu chuẩn quy đổi chính thức thời Long Khánh, mỗi thạch đổi được 3 tiền bạc, 9700 thạch lương thực quy đổi thành bạc là 2910 lạng. Còn lụa thô nộp bù cho "nhân đinh ti quyên" hàng năm quy đổi thành bạc, mỗi tấm 7 tiền, vậy 8780 tấm đổi được 6146 lạng bạc. Ừm, hai con số này dường như không có liên quan.
[Chú thích]
Tỷ lệ quy đổi: Thuế khóa được định ra vào đầu thời Minh, vốn dựa trên nguyên tắc tài chính hiện vật, chính phủ dựa vào vật phẩm cần thiết để xác định loại vật phẩm thu thuế, dân chúng dựa vào đặc điểm sản vật địa phương để nộp các loại vật phẩm khác nhau. Tuy nhiên, sản vật của các nơi và nhu cầu của chính phủ không phải lúc nào cũng khớp nhau, cần phải dùng các vật phẩm khác để thay thế. Hoặc, trong trường hợp kho dự trữ hiện vật của chính phủ đã đủ, sẽ đổi sang thu các vật phẩm có chức năng vật ngang giá chung lúc bấy giờ làm dự trữ tài chính, lúc này cần có một tỷ lệ quy đổi nhất định, tức là tỷ lệ quy đổi. Giữa thời Minh, cải cách thuế khóa dần dần lấy bạc trắng làm tiêu chuẩn đo lường, tỷ lệ quy đổi chủ yếu là tỷ lệ đổi ra bạc, tỷ lệ này chủ yếu do các yếu tố như kho hàng mà thuế vật được gửi đến và mục đích sử dụng quyết định. Ví dụ, theo *Huy Châu Phủ Chí* bản Gia Tĩnh, vào những năm Gia Tĩnh, phủ Huy Châu thu lúa mạch mùa hè, nếu nộp vào kho Vĩnh Phong tại địa phương thì mỗi thạch thu 4,5 tiền bạc, nếu gửi đến kinh khố (Bắc Kinh) thì mỗi thạch thu 2,5 tiền bạc, nếu vận chuyển đến Quang Lộc tự ở Nam Kinh thì mỗi thạch thu 6 tiền bạc.
Soái Gia Mô dù sao cũng là một học bá, đầu óc nhanh nhạy. Ông nhanh chóng nghĩ ra rằng, sáu huyện của Huy Châu đều giáp nhau, một huyện mất mùa lúa mạch, năm huyện kia không thể nào thoát khỏi. Ông tra cứu thêm, phát hiện ra cùng thời điểm đó, năm huyện Y, Hưu Ninh, Vụ Nguyên, Kỳ Môn, Tích Khê cũng thiếu lương thực mùa hè, tổng cộng là 10.780 thạch, có thể đổi được 3234 lạng bạc.
2910 + 3234 = 6144.
Con số này chỉ chênh lệch 2 lạng so với "nhân đinh ti quyên".
Soái Gia Mô nhanh chóng đi đến kết luận: vào đầu triều, toàn bộ sáu huyện của phủ Huy Châu thiếu tổng cộng 20.480 thạch lương thực mùa hè, được bù bằng danh nghĩa "hạ thuế sinh ti", quy đổi thành 8780 tấm lụa thô. Theo lẽ thường, số tiền này phải do sáu huyện cùng gánh chịu, không biết vì sao lại biến thành một mình huyện Hấp nộp.
Điều đáng sợ hơn là: Huy Châu không nuôi tằm, dân chúng huyện Hấp phải bán lương thực lấy bạc, rồi dùng bạc đi mua lụa thô, sau đó mới nộp cho quan phủ. Qua hai lần trung gian, gánh nặng càng thêm nặng.
Nếu tính từ năm Chí Chính thứ hai mươi lăm "Ất Tỵ cải khoa", đến năm Long Khánh thứ ba, khoản thuế oan này đã được nộp suốt hơn hai trăm năm!
Huyện Hấp quả là xui xẻo tột cùng.
Soái Gia Mô làm việc rất cẩn thận, ông không vội vàng kinh động quan phủ, mà đi tìm hiểu một vòng ở huyện Hấp. Kết quả ông phát hiện ra, mình không phải là người đầu tiên nhận thấy có vấn đề, từ năm Gia Tĩnh thứ mười bốn (1535), đã có hai người huyện Hấp – Trình Bằng, Vương Tương phát hiện ra khoản "nhân đinh ti quyên" này có vấn đề.
Họ không kháng nghị tại phủ Huy Châu, mà vượt cấp trình văn lên cấp trên của phủ Huy Châu – Ứng Thiên Tuần phủ và Ứng Thiên Tuần án, và không chỉ một lần!
Ứng Thiên Tuần phủ và Ứng Thiên Tuần án, phạm vi quản lý của hai chức quan này không chỉ có một nơi là phủ Ứng Thiên, mà bao gồm toàn bộ khu vực Nam Trực Lệ trừ bốn phủ Phượng Dương, Lư Châu, Hoài An, Dương Châu, trong đó phủ Huy Châu cũng thuộc quyền quản lý của họ.
Về phân công cụ thể, Ứng Thiên Tuần phủ điều phối các phủ, châu, huyện, chủ yếu về thuế khóa, cũng kiêm quản tư pháp, trị an; Tuần án chủ yếu về giám sát, nhưng cũng can thiệp vào dân chính, tư pháp, quân sự. Miễn cưỡng so sánh với hiện tại, một người là tỉnh trưởng kiêm tư lệnh quân khu, một người là viện trưởng tòa án cấp cao của tỉnh kiêm ủy ban kỷ luật, tìm đến hai vị này, coi như đã gõ đúng cửa.
Thành phố không quản, lẽ nào tỉnh cũng không quản sao?
Lần đầu tiên nhận trình văn là Ứng Thiên Tuần phủ Trần Khắc Trạch, Tuần án Tống Mậu Hy, hai vị nhanh chóng phê duyệt, yêu cầu phủ Huy Châu điều tra kỹ lưỡng. Nhưng họ nhanh chóng được thăng chức chuyển đi, không ai hỏi đến nữa. Người kế nhiệm là Tuần phủ Âu Dương Đạc, Tuần án Du Cư Kính, nhận được trình văn tương tự, cũng phê duyệt, yêu cầu phủ Huy Châu triệu tập sáu huyện họp bàn. Kết quả là các quan, lại phụ trách việc này đều là người của năm huyện kia, làm qua loa cho xong chuyện, thoái thác trì hoãn.
Trong quá trình trì hoãn qua lại, Vương Tương, Trình Bằng lần lượt qua đời một cách bí ẩn, việc này cuối cùng cũng chìm vào quên lãng.
Tra đến đây, Soái Gia Mô gạt sổ sách sang một bên, đưa ra một quyết định: ông sẽ trình văn lần thứ ba, đòi lại công bằng cho huyện Hấp!
Rốt cuộc là do tinh thần chính nghĩa và tình cảm quê hương, hay là muốn nhân cơ hội này để tạo dựng tên tuổi cho mình? Sử liệu không đầy đủ, khó mà đoán mò động cơ của ông.
Dù sao đi nữa, ông quyết định bất chấp rủi ro lớn khi động chạm đến các nhóm lợi ích, bắt đầu hành động.
Đầu năm Long Khánh thứ tư (1570), Soái Gia Mô soạn một bản trình văn, viết chi tiết quá trình tra cứu của mình, sau đó đệ trình lên Ứng Thiên phủ Tuần án Ngự sử Lưu Thế Hội đương thời.
Trong bản trình văn này, Soái Gia Mô đã chơi một mẹo nhỏ, khi kể lại nguyên do đã thêm vào một câu: "Duyên bản phủ đệ niên phụng Hộ bộ khám hợp, tọa thủ nhân đinh ti chiết sinh quyên bát thiên thất bách bát thập thất, nguyên ngạch lục huyện quân thâu, phủ chí khả chứng."
Đại ý là, vấn đề tôi nói đây, trong *Huy Châu Phủ Chí* cũng có đề cập, đó là bằng chứng sắt đá.
*Huy Châu Phủ Chí* là địa phương chí do phủ Huy Châu đứng ra biên soạn, độ tin cậy rất cao. Nhưng thực ra, trong phủ chí chỉ ghi chép một cách mơ hồ rằng phủ Huy Châu hoặc huyện Hấp nộp "nhân đinh ti quyên" bao nhiêu đó, hoàn toàn không nói rõ "nguyên ngạch lục huyện quân thâu" (mức ban đầu do sáu huyện chia đều), càng không liên hệ đến khoản lúa mạch thiếu hụt từ đầu triều.
Soái Gia Mô lén thêm vào sáu chữ này, là muốn tạo ra một ấn tượng định sẵn cho quan trên, để tiện cho việc hành sự – nào ngờ một chút mánh khóe nhỏ này, sau này lại trở thành một điểm mấu chốt gây tranh cãi, chuyện này sẽ nói sau.
Ngoài việc lén sửa đổi nguyên văn, Soái Gia Mô còn phát động công kích tình cảm. Ông xúc động nói:
"Kho Thừa vận Nam Kinh mỗi năm thu 20.190 tấm tơ lụa, trong đó các vùng sản xuất tơ lụa lớn như Chiết Giang, Hồ Quảng chỉ nộp 8501 tấm; mười ba phủ như Ứng Thiên chỉ phải nộp 2905 tấm. Phủ Huy Châu chúng tôi hoàn toàn không nuôi tằm, lại phải gánh 8780 tấm. Dân chúng địa phương chỉ có thể bán lương thực, đổi thành bạc, rồi từ Chiết Giang và các nơi khác mua lại, qua hai thủ tục này, chi phí tăng gấp đôi, khổ không kể xiết. Huống hồ, gánh nặng này nếu sáu huyện cùng chia sẻ, còn có thể miễn cưỡng chịu đựng, nhưng bây giờ là một mình huyện Hấp gánh chịu – thuế của một huyện này còn cao hơn cả hai ty Chiết Giang, Hồ Quảng, hoàn toàn không hợp lý!"
[Chú thích]
Tra cứu kỹ *Đại Minh Hội Điển* mà Soái Gia Mô trích dẫn, có thể thấy số lượng hạ thuế ti quyên mà các Bố chính sứ ty, phủ, châu của Chiết Giang, Hồ Quảng vận chuyển đến kho Thừa vận Hộ bộ Nam Kinh lần lượt là 3509 tấm, 4992 tấm, tổng cộng là 8501 tấm. Mười ba phủ như Ứng Thiên bao gồm: phủ Ứng Thiên, phủ Thường Châu, phủ Trấn Giang, phủ Thái Bình, phủ Lư Châu, phủ An Khánh, phủ Ninh Quốc, phủ Tô Châu, phủ Hoài An, phủ Tùng Giang, phủ Phượng Dương, phủ Dương Châu và phủ Trì Châu. Các nơi trên nộp là ti miên chiết quyên hoặc nông tang ti chiết quyên, chỉ có khoản thuế của phủ Huy Châu có chút khác biệt, là nhân đinh ti chiết quyên, có 8779 tấm, hơi khác so với 8780 tấm mà Soái Gia Mô nói.
Đây là một mánh khóe nhỏ về thống kê mà Soái Gia Mô đã sử dụng. Bởi vì chế độ thuế của Đại Minh không phải là thu chung nộp chung, một nơi thường phải nộp thuế cho nhiều nơi.
Lúc bấy giờ, thuế tơ lụa của Chiết Giang, Hồ Quảng không chỉ nộp cho kho Thừa vận Nam Kinh, mà còn có một phần lớn được gửi đến kho bạc Thái Thương, kho Bính tự... Từ ghi chép thuế khóa những năm Vạn Lịch, tổng số thuế tơ lụa của Chiết Giang lên tới 130.000 tấm, của Hồ Quảng là 27.000 tấm, đều vượt xa huyện Hấp.
Logic của Soái Gia Mô là thế này: không bàn đến tổng số, chỉ lấy kho Thừa vận Nam Kinh ra so sánh, chủ yếu để làm cho huyện Hấp trông có vẻ đặc biệt thảm thương.
Sự tinh diệu của thủ đoạn này nằm ở chỗ các con số đều là thật, hoàn toàn có thể kiểm chứng, chỉ cần thay đổi một chút trong cách thống kê, lập tức tạo ra hiệu quả rõ rệt – gánh nặng của huyện Hấp vốn đã nặng nề, nhưng qua sự so sánh của Soái Gia Mô, trở nên thảm khốc đến mức kinh hoàng, đọc mà thấy rùng mình.
[Chú thích]
Chế độ thuế Đại Minh: Soái Gia Mô trích dẫn số lượng thuế tơ lụa mà các ty, phủ gửi đến kho Thừa vận Hộ bộ Nam Kinh được ghi trong *Đại Minh Hội Điển*, để than khóc rằng số thuế tơ lụa mà huyện Hấp một mình gánh chịu cho phủ Huy Châu còn nhiều hơn tổng số của hai ty Chiết Giang và Hồ Quảng, thực sự quá bất công. Cách tính của ông ngầm chứa một tiền đề, đó là cho rằng số thuế được ghi trong kho Thừa vận Nam Kinh là toàn bộ số thuế tơ lụa mà các Bố chính sứ ty, phủ đã nộp. Nhưng thực tế, giả định này hoàn toàn không đứng vững. Do chế độ lưỡng kinh, kho Thừa vận của nhà Minh có cả ở Nam và Bắc, dữ liệu mà Soái Gia Mô trích dẫn không tính đến kho Thừa vận Bắc Kinh. Hơn nữa, thuế tơ lụa mà địa phương nộp lên trung ương không phải đều được gửi đến kho Thừa vận, một phần quy đổi ra bạc có thể được gửi đến kho bạc Thái Thương, một phần tơ lụa có thể được gửi đến kho Bính tự. Vì vậy, số lượng mà kho Thừa vận Nam Kinh thu được chỉ là một phần của tổng số thuế tơ lụa. Như biểu đồ ở trang sau cho thấy, nếu xếp hạng tổng số thuế tơ lụa của các Bố chính sứ ty, phủ, huyện trong thời kỳ Gia Tĩnh, Vạn Lịch được ghi trong *Vạn Lịch Hội Kế Lục*, có thể thấy thuế tơ lụa của phủ Huy Châu đứng thứ chín trong các phủ trên toàn quốc, huyện Hấp đứng thứ sáu trong các huyện, đều khá cao, nhưng cũng có khoảng cách đáng kể so với phủ Nghiêm Châu và huyện Thuần An đứng đầu, càng không thể so sánh với tổng số 167.544 tấm của hai ty Chiết Giang và Hồ Quảng.
Đây thực sự là thủ đoạn chỉ có học bá mới nghĩ ra được.
Ngoài việc làm giả trong sử liệu và thống kê, Soái Gia Mô còn chuẩn bị lá bài thứ ba: lá bài chính trị.
Câu đầu tiên trong trình văn của ông viết thế này: "Thiên hạ chi đạo, quý hồ quân bình, cố vật hữu bất đắc kỳ bình tắc minh. Hấp huyện cửu thiên trọng phú, dân khốn dĩ cực, cung ngộ nhân minh tại vị, bị trần tình khoản, khẩn khất quân bình."
[Chú thích]
Thiên hạ chi đạo, quý hồ quân bình, cố vật hữu bất đắc kỳ bình tắc minh. Hấp huyện cửu thiên trọng phú, dân khốn dĩ cực, cung ngộ nhân minh tại vị, bị trần tình khoản, khẩn khất quân bình: Đạo lý lớn nhất trong thiên hạ chính là sự quân bình, vì vậy khi gặp chuyện bất công, phải lên tiếng phản đối, bảo vệ công đạo! Huyện Hấp một mình gánh vác gánh nặng thuế khóa nặng nề như vậy đã nhiều năm, dân chúng đã cùng quẫn đến cùng cực, không còn đường sống. May mắn được trời cao soi xét, gặp được vị Ngự sử đại lão gia nhân từ, hiền minh như ngài, tiểu nhân có may mắn được trình bày rõ ràng tình hình, khẩn cầu đại lão gia quân bình thuế dịch, cứu dân huyện Hấp khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng!
Chỉ một đoạn ngắn, đã hai lần yêu cầu "quân bình".
Vào những năm Long Khánh, Giang Nam đang thực hiện Nhất Điều Tiên pháp. Mà khẩu hiệu của Nhất Điều Tiên pháp lại chính là: "Quân bình thuế dịch, giải cứu dân khốn." Vì vậy, hai lần "quân bình" của Soái Gia Mô đã nâng tầm cuộc tranh cãi thuế khóa này lên ngang hàng với việc hưởng ứng chính sách quốc gia.
[Chú thích]
Nhất Điều Tiên pháp: Theo *Minh Sử · Thực Hóa Chí*, đầu thời Minh vẫn theo Lưỡng thuế pháp, dựa vào hộ tịch do quan phủ đăng ký, ruộng đất phải nộp thuế ruộng, chia làm hai kỳ hạ, thu; nhân khẩu phải đảm nhận nhiều loại lao dịch. Sau này, quan phủ vin vào nhiều lý do để tăng thuế, tăng thêm các loại tạp dịch, dân chúng khốn khổ, bỏ trốn hàng loạt để tránh thuế. Chính phủ cũng rơi vào khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, nên quyết định gộp thuế ruộng, các loại lao dịch, tạp thuế của một châu một huyện lại, trừ lúa gạo và lúa mạch bắt buộc, đều quy đổi thành bạc, phân bổ vào ruộng đất của châu huyện đó, thu thuế dựa trên số lượng ruộng đất sở hữu, quan phủ thu, quan phủ vận chuyển, gọi là "Nhất Điều Tiên pháp". Điều này không chỉ giúp thu nhập tài chính quốc gia ổn định tăng lên, mà còn đơn giản hóa rất nhiều thủ tục thu thuế, nâng cao hiệu quả.
Từ tầng sâu hơn, cốt lõi của Nhất Điều Tiên pháp là hợp nhất thuế ruộng, lao dịch, hủy bỏ các loại thuế hiện vật ngoài lúa gạo và lúa mạch, thống nhất đổi sang thu bạc. Vì vậy, Soái Gia Mô trong trình văn đã nhiều lần nhấn mạnh "nhân đinh ti quyên" là thuế hiện vật quy đổi, việc nộp thuế rất phiền phức, điều này đã gắn chặt với tinh thần của trung ương.
Chỉ cần việc này có thể mượn được gió đông của quốc sách, liền có thể thu hút sự chú ý đặc biệt của Ứng Thiên Tuần phủ.
Phải biết rằng, vị Ứng Thiên Tuần phủ đương nhiệm này rất nỗ lực trong việc thực thi chính sách Nhất Điều Tiên. Chỉ cần ông chịu lên tiếng, việc này đã thành công một nửa, không, hơn một nửa! Soái Gia Mô có được sự tự tin này là vì vị Tuần phủ này quá nổi tiếng, không phải quan viên tầm thường có thể so sánh – ông tên là Hải Thụy, hiệu Cương Phong.
[Chú thích]
Hải Thụy: Theo *Minh Sử · Hải Thụy Truyện* và các tài liệu khác, Hải Thụy, tự Nhữ Hiền, hiệu Cương Phong, người Quỳnh Sơn, Hải Nam, mồ côi cha từ nhỏ, được mẹ tần tảo nuôi nấng, nên thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ của dân chúng. Sau khi đỗ cử nhân, Hải Thụy từng đến Nam Bình làm quyền giáo dụ, có một vị ngự sử đến huyện học thị sát, một số học quan muốn lấy lòng cấp trên, vừa gặp mặt đã phủ phục xuống đất hành lễ khấu đầu. Hải Thụy thì chỉ vái chào, ông cho rằng trường học không phải là nha môn quan phủ, là nơi thầy dạy dỗ học trò, không nên quỳ gối. Vì vậy, đã có một hình ảnh như thế này: thân là giáo dụ, đứng giữa, Hải Thụy chỉ vái chào, không quỳ; hai bên học quan phủ phục dưới đất khấu đầu, giống như một chữ "sơn", lại giống như một cái giá bút, do đó Hải Thụy có biệt danh là "Bút giá bác sĩ". Sau khi Hải Thụy được thăng làm Tri huyện Thuần An, ông không chỉ kiên quyết chống lại các khoản phụ thu của cấp trên, mà còn tích cực hủy bỏ các loại thuế, tạp dịch bất hợp lý, giảm bớt gánh nặng cho dân chúng.
Không cần nói nhiều nữa.
Thực ra nếu xét kỹ, hành động này của Soái Gia Mô thuộc loại cố tình nâng tầm.
Bởi vì trọng tâm của cuộc tranh cãi "nhân đinh ti quyên" lần này là việc phân bổ gánh nặng thuế, rốt cuộc là một mình huyện Hấp chịu hay sáu huyện cùng chịu? Còn việc quy đổi hiện vật chỉ là một vấn đề thứ yếu, không liên quan nhiều đến Nhất Điều Tiên pháp.
Điều này giống như hai người tranh cãi về việc ai trả tiền bữa ăn. Ai trả tiền bữa ăn mới là trọng tâm của cuộc tranh cãi, còn việc trả bằng tiền mặt hay thẻ tín dụng không quan trọng. Đợi cảnh sát đến, một trong hai người hét lên: "Đồng chí cảnh sát, đồng chí phân xử giúp, để hưởng ứng lời kêu gọi của nhà nước khuyến khích sử dụng thẻ tín dụng, bữa ăn này nên do ai trả?" Cảnh sát nghe xong chắc chắn sẽ thấy khó hiểu, hai việc này hoàn toàn không liên quan.
Nhưng dưới ngòi bút tài hoa của Soái Gia Mô, lỗi logic này đã được che đậy một cách khéo léo, không những không lộ ra sơ hở, mà còn tỏ ra chính khí ngời ngời, tầm vóc lập tức được nâng cao.
Ngoài những điều này, Soái Gia Mô còn chuẩn bị lá bài thứ tư – giải pháp.
Ông am hiểu sâu sắc tính cách của quan lại, biết rằng điều họ khó chịu nhất là khi cấp dưới tranh cãi mà không đưa ra được giải pháp. Vì vậy, ở cuối trình văn, ông đã lo trước cái lo của cấp trên, rất chu đáo đề xuất một giải pháp: "Hoặc là theo nguyên tắc của *Đại Minh Hội Điển*, sáu huyện phân bổ theo nhân khẩu; hoặc là theo *Huy Châu Phủ Chí*, sáu huyện phân bổ theo ruộng đất, quy đổi lúa mạch rồi quy đổi bạc rồi quy đổi tơ."
Xem này, giải pháp tôi đã làm sẵn cho ngài rồi, ngài chỉ cần châu phê phê chuẩn là được.
Như vậy, dù tính theo đầu người hay theo ruộng đất, huyện Hấp đều có thể giảm ít nhất một nửa gánh nặng.
Phải nói rằng, bản trình văn này của Soái Gia Mô quả thực là một kiệt tác đơn kiện. Mở đầu mượn thế lớn của triều đình, ý tứ cao xa, giữa bài số liệu chi tiết, luận cứ xác đáng, từng lớp suy luận cực kỳ thuyết phục. Cuối bài không quên khơi gợi tình cảm, miêu tả cuộc sống của người dân huyện Hấp gian khổ ra sao, tác động vào phương diện tình cảm. Những mánh khóe nhỏ trong văn tự, logic được sử dụng liên tục, như linh dương treo sừng không để lại dấu vết.
Về nghề nghiệp của Soái Gia Mô, sử sách không ghi rõ, năm huyện khác của Huy Châu mắng ông là một tên tụng sư gian xảo. Nhìn vào bản đơn kiện này, nếu không phải là một tay trạng sư lão luyện, thật khó mà viết ra được những lời lẽ như vậy.
Bản hùng văn này được đệ trình lên, hiệu quả tức thì, quả nhiên nhận được sự coi trọng cao độ của phủ viện và án viện.
Tiền lương thuế khóa, từ xưa đến nay luôn là việc quan trọng nhất trong các vấn đề dân chính. Ngày mười tháng hai năm Long Khánh thứ tư, Tuần phủ Hải Thụy đưa ra chỉ thị: "Ngưỡng phủ tra nghị báo đoạt." Ý là ta rất coi trọng, các ngươi hãy điều tra rõ ràng. Sau đó, Tuần án Lưu Thế Hội đưa ra chỉ thị chi tiết hơn: yêu cầu phủ Huy Châu triệu tập các quan lại, hương thân, kỳ lão và các đại diện dân chúng của sáu huyện, để điều tra và họp bàn về việc này.
Tri phủ Huy Châu Đoàn Triều Tông nhận được văn thư, vừa thấy tên của Hải Cương Phong, không dám chậm trễ, lập tức phát bài thúc giục sáu huyện cử người đến thương nghị.
Ai ngờ, đúng vào lúc mấu chốt này, lại xảy ra chuyện.
Ngày hai mươi lăm tháng hai năm Long Khánh thứ tư, tức là mười lăm ngày sau khi hai viện ra chỉ thị, đột nhiên có tin, Hải Thụy được điều chuyển, đổi sang làm Nam Kinh Lương trữ.
Tại sao Hải Thụy đột nhiên rời khỏi chức Ứng Thiên Tuần phủ, đó lại là một câu chuyện lớn khác, ở đây không bàn đến. Tóm lại, việc ở Huy Châu này, Hải Cương Phong không thể quản được nữa.
Hải Thụy là chỗ dựa lớn nhất của Soái Gia Mô. Việc ông đột ngột bị điều chuyển khiến vụ án "nhân đinh ti quyên" đột nhiên mất đi động lực tiến lên. Mặc dù Tuần án Lưu Thế Hội vẫn còn, Tri phủ Huy Châu Đoàn Triều Tông vẫn còn, nhưng không có Hải Cương Phong làm trụ cột, họ không muốn động vào vũng nước đục này.
Phải biết rằng, họ phải đối mặt với một nhóm lợi ích đã có sẵn vô cùng lớn.
Chủ trương của Soái Gia Mô có lợi cho huyện Hấp, nhưng đối với năm huyện còn lại thì hoàn toàn là tin xấu. Một khi được thông qua, họ sẽ phải nộp thêm không ít thuế. Vì vậy, đối với đề xuất này, các quan viên, thư lại, hương thân, và dân chúng của năm huyện đều kiên quyết phản đối.
Phải biết rằng, phủ Huy Châu không giống những nơi nhỏ bé khác, có rất nhiều người từng làm quan trong triều. Những quan viên đã nghỉ hưu này có quan hệ mật thiết với trung ương, lại thích kết thông gia với nhau, tạo thành một mạng lưới quan hệ chằng chịt. Hương thân hương hoạn ở đây, ai nấy đều có năng lực lớn, tay mắt thông thiên. Sáu huyện tranh chấp, động một chút là có thể lôi kéo ra những nhân vật lớn trên chính trường. Đừng nói là Tri phủ Huy Châu, ngay cả Ứng Thiên Tuần phủ và Tuần án cũng phải có chút e dè.
[Chú thích]
Trong số các quan viên xuất thân từ phủ Huy Châu, có rất nhiều người giữ chức vụ cao, những người được ghi vào danh thần liệt truyện trong *Minh Sử* có hơn bốn mươi người, trong tỉnh An Huy, chỉ đứng sau phủ Phượng Dương, quê hương của Thái Tổ Chu Nguyên Chương, nơi có nhiều người nhậm chức nhờ quân công vào đầu thời Minh. Đặc biệt, các quan viên xuất thân từ phủ Huy Châu đa số là những người đỗ đạt khoa cử sau thời Tuyên Đức, quan vận hanh thông. Vào thời Gia Tĩnh, Vạn Lịch, những người làm quan trong triều có: ở Tích Khê có Hồ Tùng, giữ chức Công bộ Thượng thư, Hồ Tông Hiến, người dùng mưu kế bắt được thủ lĩnh Oa khấu, sau giữ chức Binh bộ Thượng thư kiêm Đô Sát viện Hữu đô Ngự sử; ở Hưu Ninh có Uông Tứ Luận, giữ chức Phúc Kiến Binh bị thiêm sự; ở Vụ Nguyên có Uông Nguyên Tích, giữ chức Binh bộ Tả thị lang, được truy tặng Binh bộ Thượng thư, Dư Mậu Học, giữ chức Đô Sát viện Hữu thiêm Đô ngự sử, Phan Trân, giữ chức Binh bộ Thị lang, biệt hiệu "Phan Thanh Thiên"; ở Hấp huyện có Uông Thượng Ninh, giữ chức Đô Sát viện Hữu phó Đô ngự sử, Uông Đạo Côn, giữ chức Binh bộ Thị lang, Hứa Quốc, giữ chức Lễ bộ Thượng thư kiêm Văn Uyên các Đại học sĩ, v.v.
Còn từ lập trường của Tri phủ Huy Châu thì sao?
Bất kể "nhân đinh ti quyên" được phân bổ như thế nào trong sáu huyện, đối với phủ cũng không có gì khác biệt, chỉ cần mỗi năm gom đủ 8780 tấm lụa thô nộp cho Nam Kinh là được. Vì vậy, nếu khoản thuế tơ lụa này không thay đổi, tình hình vẫn yên bình như cũ, cùng lắm là huyện Hấp phàn nàn vài câu – dù sao các ngươi cũng đã nộp hơn hai trăm năm rồi, quen rồi; nếu ủng hộ chủ trương của Soái Gia Mô, phân bổ đều thuế cho sáu huyện, phủ Huy Châu không được lợi gì, ngược lại còn gây ra náo động ở năm huyện kia, có thể nói là trăm hại mà không một lợi.
Phủ Huy Châu sẽ lựa chọn thế nào, không cần hỏi cũng biết.
Tại sao Soái Gia Mô lúc đầu không tìm đến phủ Huy Châu để đòi công đạo, mà lại phải vượt cấp trình văn lên hai viện? Lý do rất đơn giản, vì ở địa phương ông hoàn toàn không nhận được sự ủng hộ.
Bây giờ Hải Thụy đã đi, chỗ dựa không còn, toàn bộ sự việc lập tức không thể tiến triển được nữa.
Ứng Thiên Tuần án vào ngày mười bốn tháng hai đã chỉ thị sáu huyện họp bàn, phủ Huy Châu cũng lập tức phát bài thúc giục. Nhưng bên dưới không có phản ứng gì, như điếc không nghe. Đừng nói đến năm huyện Y, Hưu Ninh, Vụ Nguyên, Kỳ Môn, Tích Khê, ngay cả bên bị hại là huyện Hấp, cũng im hơi lặng tiếng.
Soái Gia Mô đi hỏi thăm mới biết, Tri huyện Hấp Phòng Hoàn đang trong thời gian chịu tang, việc huyện không có ai quản lý. Tri huyện của năm huyện kia thì tuyên bố bận chuẩn bị cho việc triều kiến, nên trì hoãn công việc, không làm việc nữa.
Thời Minh từ năm Hồng Vũ thứ mười tám (1385) bắt đầu quy định, quan lại địa phương vào các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất, tức là cứ ba năm một lần, phải vào kinh triều kiến, chấp nhận sự kiểm tra và thăng giáng của Lại bộ và Đô Sát viện. Đối với quan lại, đây là một việc lớn.
Nhưng vấn đề là, năm Long Khánh thứ tư là năm Canh Ngọ, năm Long Khánh thứ năm (1571) là năm Tân Mùi, mới là năm triều kiến. Năm sau mới lên kinh, năm nay tháng hai đã bắt đầu nghỉ việc không làm rồi sao?
Hơn nữa không phải một vị, mà là cả năm vị tri huyện đều trả lời như vậy.
Rõ ràng, năm huyện đã bàn bạc với nhau, áp dụng thái độ tiêu cực không hợp tác đối với cuộc họp bàn này, cố gắng trì hoãn, kéo dài cho đến khi mọi chuyện chìm xuồng, cho đến khi bị lãng quên, cho đến khi không còn ai nhắc đến, rồi thì thiên hạ thái bình. Hai lần khiếu nại của huyện Hấp vào thời Gia Tĩnh, chẳng phải cũng bị kéo dài cho đến khi mất hút như vậy sao?
Thế là, từ ngày Ứng Thiên Tuần án ra chỉ thị, địa phương đã kéo dài suốt hai tháng. Mãi đến ngày mười tám tháng tư, huyện Tích Khê mới chậm chạp gửi lại một bản thân văn. Còn bốn huyện kia, thì lười đến mức không thèm trả lời.
Bản thân văn của huyện Tích Khê này được đệ trình dưới danh nghĩa của giáo dụ huyện là Dương Tồn Lễ, cùng với chữ ký của một vài kỳ lão trong huyện. Việc giáo dụ đứng ra, cũng phản ánh một phần thái độ của Tích Khê – việc này không liên quan đến tiền lương, mà là vấn đề giáo dục!
So với bản hùng văn của Soái Gia Mô, bản thân văn này không có nhiều nội dung thực chất, nhưng ngòi bút lại ẩn chứa sự sắc bén.
Mở đầu, Dương giáo dụ hô một câu khẩu hiệu chính trị: "Vi khẩn ân tuân quốc điển, cứ phủ chí, quân phú cứu thiên, dĩ tô khốn khổ sự." Sau đó, giọng văn đột ngột thay đổi, trước tiên mắng Soái Gia Mô "biến loạn quốc chế, võng thượng ngược hạ", là một tên tụng sư vô liêm sỉ "giả công hiệp tư", rồi lại mắng Trình Bằng, Vương Tương, những người đã trình văn vào năm Gia Tĩnh, là những kẻ dân gian xảo quyệt.
[Chú thích]
Vi khẩn ân tuân quốc điển, cứ phủ chí, quân phú cứu thiên, dĩ tô khốn khổ sự: Huyện này để hưởng ứng lời kêu gọi của phủ nha, nay đặc biệt tuân theo ghi chép trong *Đại Minh Hội Điển* và *Huy Châu Phủ Chí*, quân bình thuế khóa, sửa chữa tệ nạn, thực sự giảm bớt nỗi khổ nhiều năm của dân chúng, để tỏ rõ hồng ân bao la của đại nhân!
Biến loạn quốc chế, võng thượng ngược hạ: (Soái Gia Mô) thực sự là kẻ vô liêm sỉ giả công báo tư, hắn gây sóng gió, âm mưu biến loạn đại chính của quốc gia, đối với cấp trên thì lừa dối, che mắt đại nhân, đối với cấp dưới thì ngược đãi, hãm hại dân chúng.
Mắng chửi một hồi, Dương giáo dụ cuối cùng cũng nói đến chủ đề chính. Đầu tiên, ông thừa nhận phát hiện của Soái Gia Mô, rằng "nhân đinh ti quyên" hiện nay chính là "hạ thuế sinh ti" từ đầu triều. Nhưng ông giải thích rằng, theo ghi chép của phủ chí, năm đó triều đình phát hiện huyện Hấp thiếu 9700 thạch lúa mạch mùa hè, đã ra lệnh cho họ nộp bù "hạ thuế sinh ti", tổng cộng 8780 tấm cho kho Thừa vận Nam Kinh. Vì vậy, đây là trách nhiệm của riêng huyện Hấp, không liên quan đến các huyện khác.
Sau đó ông lại nói, khoản thuế này đã được nộp hơn một trăm bảy mươi năm, chưa từng có ai phản đối. Năm Gia Tĩnh thứ mười bốn, hai kẻ dân gian xảo quyệt của huyện Hấp là Trình Bằng, Vương Tương đi kiện cáo, Tri phủ Huy Châu lúc đó là Phùng Thế Ung đã chủ trì một cuộc điều tra, thậm chí còn đến tuần viện tra cứu bản tịch, kết luận là "nhân đinh ti quyên" nên do một mình huyện Hấp nộp. Sau đó hơn ba mươi năm, cũng yên bình. Ai ngờ lại xuất hiện một tên tụng sư Soái Gia Mô, phớt lờ quyết định của tổ chức, lại muốn gây sóng gió.
Sự phản bác này của Dương giáo dụ thực sự vô lý.
Soái Gia Mô đã tính toán rất rõ ràng. Theo tỷ lệ quy đổi thời Long Khánh, 8780 tấm lụa thô, đổi ra lúa mạch là 20.480 thạch, hoàn toàn không khớp với 9700 thạch mà huyện Hấp còn thiếu. Ngay cả theo tỷ lệ quy đổi thời Hồng Vũ, cũng không thể chênh lệch nhiều như vậy. Dương giáo dụ dù sao cũng là người học văn, không tính toán rõ ràng được khoản này.
Tuy nhiên, chi tiết kỹ thuật không quan trọng, vì người học văn giỏi nhất là biểu đạt cảm xúc.
Dương giáo dụ xúc động viết: "Tích Khê chúng tôi, tổng cộng chỉ có hai mươi bốn dặm vuông, đất đai cằn cỗi, dân chúng nghèo khổ, mỗi năm thuế đinh lương chỉ chưa đến bảy trăm thạch; huyện Hấp của họ rộng hai trăm hai mươi bốn dặm vuông, mỗi năm thuế đinh lương được hơn sáu vạn thạch. Làm gì có chuyện chuyển gánh nặng của huyện trên cho huyện dưới?"
Sau khi than khóc xong, ông thêm một câu đầy ẩn ý: "Chiếu cựu định nạp, thứ miễn tiểu dân kích biến chi ưu, quan dân lưỡng tiện." Ý là: Ngài tốt nhất nên thu thuế theo cách cũ, để tránh gây ra dân biến, như vậy cả quan phủ và dân chúng đều tiện lợi.
Những lời nói trước đó của Dương giáo dụ đều là lời vô nghĩa, điểm nhấn thực sự nằm ở đây.
Câu nói này tuy khiêm tốn, nhưng lại ngầm chứa sự đe dọa. Đọc ngược lại, ý nghĩa sẽ là: Nếu ngài không thu thuế theo cách cũ, e rằng sẽ gây ra dân biến, đến lúc đó, sẽ là quan dân lưỡng bất tiện.
Câu nói này rất hiểm, đánh trúng vào điểm yếu của phủ Huy Châu.
Phải biết rằng, lời đe dọa này tuy xuất phát từ miệng của đại diện Tích Khê, nhưng thực chất đằng sau là sự đồng thuận của năm huyện. Điều đó có nghĩa là, nếu việc này không làm họ hài lòng, sẽ khiến cả phủ Huy Châu đại loạn. Năm sau là năm triều kiến kiểm tra, thưa Thanh thiên đại lão gia, ngài tự mình cân nhắc mà làm.
Dương giáo dụ đã chơi một nước cờ rất có chừng mực. Nếu năm huyện cùng nhau đe dọa gây rối, sẽ giống như mưu phản, tuyệt đối không nên làm. Bây giờ bốn huyện im lặng, đẩy huyện nhỏ nhất là Tích Khê ra nói chuyện, dân số Tích Khê quá ít, dù có gây rối thế nào, cũng tuyệt đối không thể leo thang đến mức mưu phản. Như vậy, vừa khéo léo và ngầm truyền đạt lời đe dọa, vừa giữ đủ thể diện cho tri phủ, tiện cho việc xoay xở sau này.
Quan lại địa phương Đại Minh từ trước đến nay luôn có tư duy cai trị là lấy ổn định làm đầu, không xảy ra chuyện gì thì mọi thứ đều tốt, còn việc có hợp lý hay không là thứ yếu. Dân chúng bên dưới cũng hiểu logic này, nên khi gặp phải tranh chấp gì, dù có lý hay không, cũng cứ gây rối một trận trước đã. Gây rối thành công, quan phủ thường sẽ phân xử theo mức độ gây rối; gây rối không thành công, thì cũng là pháp bất trách chúng mà.
Bạn thấy đấy, đây là cách giải quyết vấn đề của một học bá khoa học xã hội. Dương giáo dụ hoàn toàn không thèm tra cứu các chi tiết kỹ thuật của "nhân đinh ti quyên", con số không quan trọng, con đường quan lộ mới là trọng điểm. Chỉ cần chỉ ra rằng việc này xử lý không thỏa đáng sẽ gây ra dân biến, nguy hiểm đến tiền đồ của tri phủ, là đủ rồi.
Quả nhiên, phủ Huy Châu vừa xem bản thân văn này, đã hiểu ý, không còn thúc giục họp bàn nữa. Trong sự ngầm hiểu của các bên, việc này dần dần không còn ai nhắc đến, sắp hỏng bét.
Đương sự Soái Gia Mô thấy vậy, lo lắng, khó khăn lắm mới đi được đến bước này, sao có thể để nó kết thúc vô ích? Mấu chốt của vấn đề rốt cuộc nằm ở đâu?
Từ đây, có thể thấy sự khác biệt trong tư duy của người học văn và người học lý.
Bản thân văn của Dương giáo dụ không đề cập đến đúng sai trong công việc, chỉ nói về con đường quan lộ của quan viên. Còn Soái Gia Mô không đọc ra được tầng ý nghĩa này trong bản thân văn, một mực cho rằng, sở dĩ phủ Huy Châu không muốn thúc đẩy, là vì toàn bộ sự việc vẫn chưa được nói rõ ràng – một cách suy nghĩ điển hình của nhân viên kỹ thuật.
Ông đi theo lối suy nghĩ này, suy nghĩ lại một lần nữa, phát hiện ra trong bản trình văn trước đó, quả thực có một chỗ rất mơ hồ.
"Hạ thuế sinh ti" mà sáu huyện cùng nộp vào đầu triều, chính là "nhân đinh ti quyên" mà huyện Hấp một mình nộp hiện nay, điều này không có vấn đề. Vậy thì, khoản mục "hạ thuế sinh ti" này, đã bị đổi thành "nhân đinh ti quyên" như thế nào?
Làm rõ được điểm mấu chốt này, sự thật sẽ lộ ra.
Soái Gia Mô xắn tay áo lên, lại lao vào biển hồ sơ văn thư mênh mông. Ông muốn tìm ra cây kim mấu chốt trong biển hồ sơ của sáu huyện đã tích tụ suốt hai trăm năm này.
Cuộc điều tra lần này kéo dài mấy tháng. Trời không phụ lòng người, Soái Gia Mô quả nhiên đã tìm ra manh mối:
Sự kỳ diệu nằm ở khoản mục thu thuế.
Soái Gia Mô lật ra các bản khám hợp mà Hộ bộ cấp cho Huy Châu qua các đời – tương tự như biên lai, trên đó viết rất rõ ràng: "Tọa thủ Huy Châu nhân đinh ti quyên." Tức là, khoản mục mà kho Thừa vận Nam Kinh yêu cầu Huy Châu trưng thu là "nhân đinh ti quyên", và không chỉ định huyện nào phải nộp riêng, thường mặc định là sáu huyện chia đều.
Còn Soái Gia Mô khi tra cứu văn thư thúc giục nộp thuế mà phủ Huy Châu gửi cho sáu huyện, lại phát hiện khoản mục "nhân đinh ti quyên" đã biến mất. Chỉ có trong khoản mục nộp thuế của huyện Hấp, lại có thêm một khoản "hạ thuế sinh ti".
Thế là, mánh khóe trong đó đã rõ ràng.
Phủ Huy Châu khi thu thuế của huyện Hấp, đã dùng danh nghĩa là "hạ thuế sinh ti". Vừa hay huyện Hấp quả thực có một khoản mục "hạ thuế sinh ti" từ đầu triều để bù lúa mạch thiếu, vì vậy địa phương không thấy có gì lạ. Sau khi thu được khoản thuế này, phủ Huy Châu khi nộp lên trên, lại trích ra số lượng cần thiết từ "hạ thuế sinh ti", chuyển vào mục "nhân đinh ti quyên".
Như vậy, gánh nặng thuế vốn do sáu huyện chia đều, đã thần không biết quỷ không hay trở thành một mình huyện Hấp gánh chịu. Con chim cúc cu "nhân đinh ti quyên" này, cứ thế đường hoàng chiếm lấy tổ của "hạ thuế sinh ti". Tội nghiệp dân chúng huyện Hấp không biết nội tình, vất vả nộp thuế, mà không biết rằng mình đang gánh vác cho cả sáu huyện.
Người làm ra mánh khóe này, tuyệt đối là một cao thủ. Hắn vừa am hiểu chuyện cũ về tiền lương đầu triều, vừa thông thạo quy trình hồ sơ, đã khéo léo lợi dụng khoản mục huyện Hấp nộp bù lúa mạch mùa hè này, đánh tráo khái niệm, làm rối loạn tầm nhìn, chơi một ván càn khôn đại na di tuyệt đẹp. Việc nộp thuế, một khi đã thành thông lệ, sẽ được thực hiện một cách kiên định, rất khó thay đổi. Cứ như vậy, huyện Hấp đã nộp "nhân đinh ti quyên" suốt hai trăm năm mà không hề hay biết.
Soái Gia Mô đập bàn, đây chắc chắn là do thư thủ của Hộ phòng phủ Huy Châu gian lận!
Suy đoán này không phải là không có cơ sở.
Trong các cơ quan chính quyền cấp phủ, huyện của Đại Minh, cơ quan thực thi các công việc cụ thể được gọi là "tam ban lục phòng", tam ban gồm táo ban, tráng ban, khoái ban, gọi chung là nha dịch; lục phòng gồm lại phòng, hộ phòng, lễ phòng, binh phòng, hình phòng, công phòng, tương ứng với Lục Bộ của trung ương. Tri phủ và tri huyện là quan lưu động, làm vài năm sẽ bị điều đi, nhưng các chức vụ trong tam ban lục phòng thường do các thư lại địa phương nắm giữ. Những người này đều là dân bản xứ, am hiểu cơ sở, họ lại nắm giữ các kỹ năng chuyên môn, chức vụ được truyền đời, tự tạo thành một hệ thống. Không có sự hợp tác của họ, dù là tri phủ cũng không thể ra tay.
Đặc biệt là Hộ phòng trong Lục phòng, phụ trách tiền lương, là khu vực trọng điểm của sự quản lý của thư lại. Các lại nhỏ có đủ mọi thủ đoạn để đảo lộn càn khôn. Thư thủ cao tay, thậm chí có thể "khiến người có ruộng liền bờ không có trong sổ, nhà không có đất cắm dùi lại có ruộng đầy đồng", bạn nói xem điều này ngông cuồng đến mức nào. Một vị quan viên thời Gia Tĩnh là Hoắc Dữ Hà đã từng bất lực viết: "Các huyện các hộ phòng lương khoa, năm nào cũng phân bổ lương thực, lúc nào cũng gian lận." Có thể thấy sự hỗn loạn ở cấp cơ sở lúc bấy giờ.
[Chú thích]
Khiến người có ruộng liền bờ không có trong sổ, nhà không có đất cắm dùi lại có trong sổ đầy đồng: Ruộng đất thời Minh chủ yếu có hai loại là quan điền và dân điền, hoàng trang, học điền, bãi cỏ chăn ngựa, vườn lăng mộ, trang điền của huân quý, chức điền của trăm quan, dưỡng liêm điền của biên thần... đều là quan điền, còn lại là dân điền. Ruộng đất là nguồn thu thuế quan trọng của chính phủ, đầu thời Minh đã từng kiểm tra ruộng đất trong thiên hạ, lập ra Ngư lân đồ sách, để định mức thuế, mỗi lần thay đổi ruộng đất đều phải ghi chép lại. Tuy nhiên, khi việc sáp nhập đất đai trở nên nghiêm trọng, người giàu có thể có ruộng liền bờ, người nghèo lại không có đất cắm dùi. Đáng sợ hơn là, những lại nhỏ bị mua chuộc, có thể sử dụng những thủ đoạn cao siêu nhưng bỉ ổi, khiến cho nhà giàu có ruộng ngàn mẫu trong ghi chép của quan phủ lại thể hiện là không có ruộng, nhà giàu có thể dễ dàng trốn thuế; còn nhà nghèo không có ruộng lại bị đăng ký là có nhiều ruộng đất, phải gánh chịu thuế khóa nặng nề.
Khoản thuế tơ lụa này, chắc chắn là do viên lại nhỏ phụ trách năm đó đã làm giả sổ sách, mới khiến huyện Hấp phải chịu oan ức!
Việc không thể chậm trễ, Soái Gia Mô nhanh chóng viết một bản trình văn khác, mô tả đơn giản kết quả nghiên cứu mới nhất của mình. Ông biết rằng, lại mục từ xưa đến nay đều truyền đời, nếu vạch trần hoàn toàn, rất có thể sẽ đắc tội với một đám người, vì vậy đối với nguyên nhân, ông chỉ mơ hồ đề cập một câu "tiên niên bất tri tệ do hà tác" (năm xưa không biết tệ nạn do đâu mà ra), chỉ nhấn mạnh rằng khoản thuế này đã bị sửa đổi, là sai.
Người, có thể không truy cứu, dù sao cũng đã gần hai trăm năm rồi; việc, đã làm sai, thì phải sửa lại cho đúng.
Soái Gia Mô còn đưa ra một luận cứ quan trọng khác: "nhân đinh ti quyên" rõ ràng là thuế đầu người, vậy thì nên thu theo nhân khẩu, chỉ để một mình huyện Hấp nộp, lẽ nào năm huyện kia không có một người nào sao?
Ngày hai mươi lăm tháng mười một năm Long Khánh thứ tư, Soái Gia Mô chính thức đệ trình bản văn này lên phủ Huy Châu, tràn đầy hy vọng sẽ nhận được phản hồi.
Phải nói rằng, bản trình văn lần này thuyết phục hơn lần trước, hai bằng chứng mới đưa ra cũng rất hợp lý. Nhưng báo cáo được nộp lên, không có động tĩnh gì. Phủ Huy Châu lần này ngay cả trả lời cũng không, làm như không nghe không thấy.
Soái Gia Mô dù sao cũng là học bá toán học, về phương diện tìm hiểu lòng người không bằng học bá khoa học xã hội Dương giáo dụ. Ông không hiểu sự thờ ơ của tri phủ Huy Châu là do cân nhắc đến sự ổn định và con đường quan lộ, không liên quan đến vấn đề kỹ thuật. Soái Gia Mô đã coi một sai lầm chiến lược là một sai lầm chiến thuật, một mực đi vào ngõ cụt để tra cứu chi tiết, chẳng khác nào liếc mắt đưa tình với người mù.
Nếu là người khác, có lẽ đã chấp nhận số phận, nhưng Soái Gia Mô không lùi bước. Vị học bá toán học thẳng thắn và bướng bỉnh này, nhận ra rằng không thể nhận được sự ủng hộ từ phủ Huy Châu và hai viện Ứng Thiên, bèn đưa ra một quyết định kinh người.
Vào kinh khiếu nại!
Ta đi tìm lãnh đạo của các ngươi!
Ở đây phải đặc biệt nói thêm một câu, hành động này của Soái Gia Mô, ở nơi khác có thể là kinh thiên động địa, nhưng ở Huy Châu, thực sự không phải là chuyện lạ.
Huy Châu là một nơi có dân phong mạnh mẽ, dữ dằn. "Bưu hãn" ở đây không phải là họ thích đánh nhau, mà là người Huy Châu thích kiện tụng.
Người dân Trung Quốc nói chung có xu hướng tránh kiện tụng, người thích kiện tụng sẽ bị coi là "dân gian xảo quyệt". Quan lại địa phương khi được đánh giá, cũng lấy "ít việc kiện tụng" làm một trong những tiêu chuẩn của dân phong thuần phác. Nhưng cách làm của người Huy Châu lại rất giống người Mỹ ngày nay, động một chút là kiện cáo, có việc hay không cũng thích ra tòa, vì vậy nơi đây sản sinh ra rất nhiều trạng sư, tụng sư thông thạo các điều luật – được gọi là "kiện tụng".
Dân phong này không phải đến thời Minh mới được nuôi dưỡng, từ thời Bắc Tống, người Huy Châu đã thích kiện tụng. Âu Dương Tu đã từng miêu tả dân phong Huy Châu như sau: "Dân quen luật lệ, tính thích kiện tụng. Nhà nhà tự làm sổ sách, hễ nghe được chuyện riêng tư nhỏ nhặt, lời nói hành động của người khác, đều ghi lại ngày giờ, có kiện tụng thì lấy ra làm chứng." Người Huy Châu, nhà nào cũng có một cuốn sổ nhỏ, không có việc gì cũng lén ghi lại lời nói hành động của người khác, khi kiện tụng thì tung ra làm bằng chứng, ý thức pháp luật này quả là mạnh mẽ.
Đến nỗi vào thời Nam Tống, đại tông sư lý học gốc Huy Châu là Chu Hy cũng phải bất lực nhận xét về người đồng hương của mình: "Tục của họ khó dùng sức để khuất phục, mà dễ dùng lý để thắng."
Vì vậy, việc Soái Gia Mô không thể kiện tụng ở địa phương, quyết tâm lên kinh khiếu nại, hành động này rất phù hợp với phong cách của người Huy Châu.
Tuy nhiên, việc "lên kinh" của ông không phải là đến Bắc Kinh, mà là đến Nam Kinh.
Lúc bấy giờ, trung ương Đại Minh được chia thành hai kinh đô nam bắc, các cơ quan chính phủ như Lục Bộ, Đô Sát viện, Thông chính ty, Ngũ quân Đô đốc phủ, Hàn lâm viện... ở Bắc Kinh, đều có một bộ máy sao y hệt ở Nam Kinh. Bộ máy chính phủ sao lưu này ở Nam Kinh, tuy quyền lực kém xa so với Bắc Kinh, nhưng ở khu vực Nam Trực Lệ này vẫn có tiếng nói rất lớn.
Đặc biệt là về mảng tiền lương thuế khóa, Hộ bộ Nam Kinh quản lý Nam Trực Lệ, Chiết Giang, Giang Tây và các ty Hồ Quảng, đều là những vùng đất màu mỡ, một nửa thuế khóa của thiên hạ đều từ đây mà ra. Ảnh hưởng của Hộ bộ Nam Kinh không kém Hộ bộ chính ấn ở Bắc Kinh là bao.
Soái Gia Mô sau khi đến Nam Kinh đã làm gì, không có tài liệu ghi lại. Nhưng từ các chi tiết được tiết lộ trong các văn thư của quan phủ, có thể suy đoán rằng, ông có lẽ không tìm đến Hộ bộ, mà trước tiên đã tìm đến một vị ngự sử họ Tống của Đô Sát viện, xin đệ trình đơn khiếu nại.
Đây là một quyết định sáng suốt. Với thân phận của Soái Gia Mô, muốn trực tiếp tìm đến quan lớn của Hộ bộ để khiếu nại là rất khó, nhưng nếu kết nối được với một vị ngôn quan thì sẽ dễ dàng hơn nhiều.
Đô Sát viện có mười ba đạo giám sát ngự sử, chức trách là kiểm tra sai sót của Lục Bộ và trăm ty, từ trước đến nay đều thích thu thập ý kiến dân chúng, nghe phong thanh mà tấu trình, tìm họ là có hiệu quả.
Tuy nhiên, ông không đi theo con đường đàn hặc. Đối với các quan ở kinh thành, việc này quá nhỏ, lại không liên quan đến các quan viên trung ương, việc đặc biệt dâng sớ đàn hặc không có ý nghĩa lớn. Soái Gia Mô cũng không muốn hoàn toàn trở mặt với chính quyền địa phương. Điều ông cầu xin chỉ là một thái độ của triều đình, phê vài câu là đủ rồi.
Ngày mồng hai tháng sáu năm Long Khánh thứ năm, trình văn của Soái Gia Mô cuối cùng cũng được Tống ngự sử đệ trình lên, và nhanh chóng được chuyển đến Hộ bộ Nam Kinh. Cùng với trình văn là một đoạn phê bình của Đô Sát viện: "Điển hữu sở tuân, phú đương quân phái, hợp tòng sao xuất chước hành." Ý là, yêu cầu nên tuân thủ pháp điển, phân bổ đều thuế cho sáu huyện, xin Hộ bộ xem xét xử lý.
Lời phê này chính là kết luận mà Soái Gia Mô hằng mong ước.
Hộ bộ Nam Kinh nhận được văn thư này, thêm một câu "hầu bản xứ tuần án nha môn đề", chuyển cho Ứng Thiên Tuần phủ và Tuần án, yêu cầu họ xem xét xử lý. Đồng thời, Hộ bộ còn đặc biệt gửi một bản tư văn cho phủ Huy Châu, đặc biệt chỉ ra: "Chuyển hành cai phủ tòng công tra khám, tiền hạng nhân đinh ti quyên khởi tự hà niên, nhân hà chuyên phái Hấp huyện. Kỳ các huyện hữu vô biệt hạng tiền lương tương để, như vô tương để, kim ứng tác hà nghị xử."
Đoạn văn này tuy vẫn mang giọng điệu nghi vấn, nhưng thực chất đã có kết luận: thuế khóa của huyện Hấp chắc chắn có vấn đề, điều cần làm rõ chỉ là bắt đầu từ khi nào, và làm thế nào để phân bổ lại cho các huyện khác.
Nhận được sự ủng hộ của Hộ bộ, chuyến đi lên kinh của Soái Gia Mô có thể nói là đã kết thúc viên mãn. Tiếp theo, ông chỉ cần trở về Huy Châu, chờ đợi phối hợp với cấp trên điều tra là đủ. Soái Gia Mô vui vẻ rời khỏi thành Nam Kinh, bắt đầu hành trình trở về quê hương.
Ông không biết rằng, lúc này, một bóng đen của sự đe dọa chết người đã lặng lẽ bao trùm lên đầu ông.
Cắt đứt đường tài lộc của người khác, cũng như giết cha mẹ họ. Năm huyện bề ngoài tuy tỏ ra thờ ơ với việc "nhân đinh ti quyên", nhưng ngấm ngầm lại rất coi trọng. Trong số các quan ở kinh thành, cũng không thiếu người gốc gác từ năm huyện. Hành động của Soái Gia Mô ở kinh thành, họ đều biết rất rõ.
Mấu chốt của toàn bộ sự việc chính là tên tụng sư của Tân An Vệ này! Không có hắn chạy ngược chạy xuôi, thì thiên hạ đã thái bình rồi.
Hay là, giết hắn đi cho xong.
Đây cũng không phải là lần đầu tiên. Vào những năm Gia Tĩnh, hai "dân gian xảo quyệt" của huyện Hấp là Trình Bằng, Vương Tương, những người đã dây dưa với "nhân đinh ti quyên", cuối cùng cũng chết một cách bí ẩn. Trên cầu Nại Hà, không thiếu một oan hồn này.
Soái Gia Mô trên đường trở về, quả nhiên gặp phải một nguy hiểm cực lớn, hoàn toàn nhờ may mắn mới thoát được. Nguy hiểm cụ thể là gì, ai là kẻ chủ mưu, không có ghi chép nào lưu lại. Nhưng Soái Gia Mô thực sự đã sợ đến vỡ mật, kẻ thù đã động sát tâm. Ông hoàn toàn không dám trở về Huy Châu, mang theo gia đình trốn về quê cũ ở huyện Giang Hạ, Hồ Quảng để lánh nạn.
Soái Gia Mô bỏ trốn, khiến cho vụ án tơ lụa vốn đã khó khăn mới khởi động điều tra lại rơi vào bế tắc – người khởi kiện đã không còn, làm sao mà điều tra? Thế là dưới sự làm qua loa của các bên, việc này cuối cùng lại một lần nữa chìm vào quên lãng. Còn Hộ bộ của triều đình, ngày ngày bận trăm công nghìn việc, không thể cứ mãi để mắt đến một nơi nhỏ bé như Huy Châu.
Năm Long Khánh thứ năm, không có động tĩnh gì.
Năm Long Khánh thứ sáu (1572), cũng không có động tĩnh gì.
Trong năm này, Long Khánh Đế cuối cùng cũng băng hà, Vạn Lịch Đế lên ngôi. Sau đó, Trương Cư Chính loại bỏ hết mọi đối thủ chính trị, trở thành Thủ phụ, cả Đại Minh bước vào một thời đại mới. Nhưng vụ án tơ lụa Huy Châu, vẫn không có động tĩnh gì.
Trong những ngày tiếp theo, cả Đại Minh đều bận rộn thích nghi với phong cách cầm quyền của vị Thủ phụ mới này. Còn về vụ án tơ lụa và vị học bá toán học đang trốn ở quê nhà không dám trở về, đã hoàn toàn bị người ta lãng quên, không ai nhắc đến nữa. Ông lòng nguội lạnh, không dám tranh cãi gì nữa.
Toàn bộ câu chuyện, dường như đã kết thúc như vậy.
Nhưng đến đầu năm Vạn Lịch thứ ba (1575), vụ án tơ lụa Huy Châu đã im lìm suốt bốn năm, dường như bị một sức mạnh nào đó kích động, đột ngột dấy lên một cơn sóng lớn, chấn động cả triều đình và dân gian.