CHU LOẠN.
Chu loạn.
(¯`'•.¸(¯`'•.¸† Chia sẻ bởi: BànLong.us †¸.•'´¯)¸.•'´¯)
Hơn mười vạn quân Chu bị đánh cho tơi bời, bị quân Hán đuổi giết đến đại doanh ở Đàn Châu cũng không dám vào, chạy thẳng xuống phía nam. Nếu không nhờ La Húc dẫn mười ngàn thiết kỵ Hổ Bí liều chết chặn hậu, thì quân Chu bị quân Hán đuổi đánh một trăm năm mươi dặm cuối cùng đến hai vạn người cũng không giữ được.
Trong một ngày đánh liền tám trận, quân Chu liên tiếp thua chạy. Mười ngàn thiết kỵ Hổ Bí của La Húc cuối cùng chỉ còn lại chưa tới hai ngàn, mà hơn chín vạn quân tinh nhuệ của Đại Chu bao gồm Tả Vũ Vệ, Hữu Vũ Vệ, Tả Kiêu Vệ chạy một mạch tới biên giới Hán Chu khi tập kết sơ bộ, chỉ còn lại chưa đến hai vạn nhân mã. Nếu không phải Hữu Uy Vệ Đại tướng quân Mông Hổ đem theo năm vạn viện binh tới cứu kịp thời, chỉ e quân Hán sẽ một đường đuổi đánh qua tận biên giới.
Mặc dù vậy, dưới sự chấn động của bại quân bên mình, binh mã của Hữu Uy Vệ cũng đại loạn một trận. Nếu không phải Hữu Uy Vệ Đại tướng quân Mông Hổ hạ lệnh xử chém binh lính bỏ chạy, nói không chừng năm vạn viện binh của y đều bị quân Hán quét sạch. Giết hơn một ngàn bại binh, binh mã của Hữu Uy Vệ mới ổn định dần trận tuyến.
Mười mấy vạn đại quân, thậm chí cả binh mã Ngũ hành đại doanh, binh mã của Hữu Kiêu Vệ trấn thủ tại đại doanh Đàn Châu cũng đều bị làm cho loạn hết lên. Tàn binh chạy theo các ngả tan tác, binh mã của Ngũ hành đại doanh và Hữu Kiêu Vệ còn coi như đầy đủ, Tả Vũ Vệ, Hữu Vũ Vệ, Tả Kiêu Vệ cộng thêm kỵ binh Hổ Bí, mười vạn đại quân coi như hoàn toàn tan nát rồi.
Quân Hán thuận thế thu về Đàn Châu, phân mười ngàn binh mã trấn giữ. Lưu Lăng đích thân dẫn hơn mười vạn đại quân đóng quân ở biên giới, nhìn chằm chằm về phía lãnh thổ Đại Chu. Sài Vinh thân mang trọng thương được người bảo hộ một đường chạy trối chết, qua biên giới vẫn chưa tỉnh lại. Ở Tấn Châu tĩnh dưỡng hơn mười ngày, mới được cứu về từ Quỷ Môn Quan.
La Húc và Hữu Uy Vệ Đại tướng quân Mông Hổ tập kết bại binh, bại binh chạy từ Bắc Hán không rõ phương hướng bị Lưu Lăng sai người chặn giết tứ phía, về đến Tấn Châu còn sót lại không quá mười ngàn người. Hai mươi vạn đại quân xuất chinh, sau khi kiểm kê nhân số chỉ còn sót lại hơn năm vạn tàn binh bại tướng. Cộng thêm nhân mã Hữu Uy Vệ đến chi viện, cũng tạm coi như là mười vạn nhân mã, chống cự với Lưu Lăng ở Tấn Châu.
May mắn là Lưu Lăng không định cất quân tấn công Tần Châu, không thì với sĩ khí của quân Chu thật sự không thấy được có thể chống đỡ được quân Bình Nam Đại Hán vốn đang hăng máu chém giết như lang như hổ kia. Tần Châu là cánh cửa phía Bắc của Hậu Chu, một khi Tần Châu bị công hãm, vậy thì đường xuống phía Đông Nam sẽ hoàn toàn rộng mở, sĩ khí quân Hán đang lên, ai biết chắc liệu có hăng hái đánh đến tận Đông Kinh Biện Lương hay không.
Lưu Lăng cắm quân ở ngoại thành Tấn Châu mười dặm, sai người truyền tin đại thắng về Thái Nguyên Phủ. Một ngày sau tin tức truyền đến, Tây Hạ hưng binh hơn bốn mươi vạn thảo phạt Đại Chu, vừa đánh chiếm được Linh Châu, sau đó binh mã không dừng lại, tiến quân thần tốc mấy trăm dặm bao vây Hạ Châu. Đại Liêu ở phương Bắc cũng lợi dụng dịp này, xuất binh từ Bá Châu, đánh Hùng Châu, bao vây Dịch Châu, Định Châu, quân Càn Ninh Đại Chu liên tiếp bại trận, xem ra cả Thương Châu cũng sắp không giữ được nữa rồi.
Quân Tây Hạ như mãnh hổ hạ sơn, quân Đại Liêu như đàn sói săn mồi, toàn bộ phía bắc của Đại Chu đều bị rơi vào một trận loạn chiến. Chỉ trong hai mấy ngày ngắn ngủi, quân tiên phong Tây Hạ ở Linh Châu trực chỉ về Phủ Châu bị cô lập ở phía bắc, từ đó mấy trăm dặm quốc thổ Đại Chu rơi vào tay người Tây Hạ. Quân Liêu công phá Hùng Châu, Dịch Châu, bao vây Thương Châu Phủ. Tám vạn nhân mã quân Càn Ninh bị giết chỉ còn chưa tới một vạn. Sài Vinh vẫn còn nằm trên giường bệnh cấp tốc điều binh mã của Tả Lĩnh quân vệ ở Thanh Châu, Hữu Lĩnh quân vệ ở Cổn Châu tiến lên phía bắc chống đỡ quân địch.
Lại lệnh cho mười vạn nhân mã cắm ở Tần Châu, phái gần năm vạn quân Hữu Uy Vệ hành quân đến Chương Vũ, ngăn cản đại quân Tây Hạ tiếp tục nam tiến. Chưa đầy một tháng, Hậu Chu đã mất đi hơn một nghìn dặm lãnh thổ. Từ Thương Châu lên phía bắc thuộc về Đại Liêu. Từ Chương Võ lên phía bắc thuộc về Tây Hạ. Diện tích quốc thổ giảm gần hai thành.
May là hai Đại tướng quân thống lĩnh Tả Hữu quân vệ Nhạc Lạc và Mi Hoang dụng binh thận trọng, tiến bước nào rào bước ấy, ngăn cản thiết kỵ Đại Liêu tại tuyến Doanh Châu, không cho tiến xuống phía nam nửa bước. Mà Đại Liêu chiếm được mấy trăm dặm quốc thổ phồn hoa cũng đã thỏa mãn, vội hưởng thụ chiến lợi phẩm không tiếp tục thúc binh xuống phía nam nữa.
Ở tuyến Chương Võ, Hữu Uy Vệ Đại tướng quân Mông Hổ thống lĩnh năm vạn quân, tập hợp binh lính ở các châu phủ quận và tư binh của các hộ giàu tổng cộng hơn mười vạn người, ở phía bắc của Chương Võ đại thắng Đại tướng Tây Hạ là Lý Sơn Hổ, giết hàng vạn tên địch, ngăn bước chân đại quân Tây Hạ tiến xuống phía nam. Nhưng từ phía bắc của Chương Võ trở lên mấy trăm dặm sông núi, đã không bao giờ nhìn thấy được lá cờ Đại Chu nữa.
Quốc chủ Tây Hạ là Ngôi Danh Nẵng Tiêu ra lệnh chém Lý Sơn Hổ, đích thân dẫn quân tấn công Chương Võ. Hai bên đại chiến mấy trận, mỗi bên đều tổn thất vài vạn người. Quân Chương Võ thà chết không lui, ba mươi mấy vạn quân của Ngôi Danh Nẵng Tiêu bao vây Chương Võ.
Sài Vinh tức tốc điều sáu vạn quân Tả Hữu Long Vũ Vệ gần Biện Châu đi lên tây bắc chi viện cho quân Chương Võ, lại lệnh cho binh lính các quận Lân Châu, Phượng Tường, Hộ Quốc, Vĩnh Hưng, tổng cộng tập kết được hơn hai mươi vạn nhân mã, hỏa tốc tiến lên phía bắc, hội chiến với đại quân Tây Hạ ở Chương Võ. Hai bên giằng co qua lại hơn một tháng trời, quân Tây Hạ ở thành Chương Võ bỏ lại ước chừng năm vạn thi thể, thấy quả thực không thể công phá, Ngôi Danh Nẵng Tiêu mới mang quân từ từ rút lui.
Hữu Uy Vệ Đại tướng quân Mông Hổ khinh địch đem quân truy kích, bị Ngôi Danh Nẵng Tiêu mai phục ở cách phía nam Hạ Châu năm mươi dặm, hai bên huyết chiến, quân Chương Võ tổn thất hơn sáu vạn, đại thương nguyên khí. Quân Tây Hạ thừa thắng truy kích, hơn hai mươi vạn quân Chương Võ tổn thất mất hơn nửa. Có điều binh mã Tây Hạ cũng tổn thất không nhỏ, không thể tiếp tục công thành, Ngôi Danh Nẵng Tiêu chia quân đóng giữ, đổi tên Linh Châu thành Sóc Phương, Phủ Châu thành Vĩnh Yên, Hạ Châu thành Định Nan.
Tây bắc tam châu, quy về Tây Hạ. Mà bốn châu ở đông bắc là Dịch Châu, Hùng Châu, Mạc Châu, Định Châu bị Đại Liêu thâu tóm. Quốc thổ chín mươi tám châu thoáng cái mất đi bảy châu. Quân dân Thương Châu, Doanh Châu không dám ra ngoài thành mười dặm phía bắc, kỳ thực hơn nửa đất đai đã bị Liêu Quốc chiếm giữ rồi. Xung quanh Chương Võ bị Tây Hạ cướp không chừa một mảnh, biến thành một đống hoang tàn.
Ngay khi Sài Vinh đang sứt đầu mẻ trán, Bắc Hán Trung Vương Lưu Lăng phụng chỉ dụ của Bắc Hán Hiếu Đế, nghị hòa với Đại Chu. Sài Vinh không còn sức chiến tiếp, phái Kim Tử Quang Lộc Đại Phu, Tri Xu Mật Viện Sự Ông Hòa hội đàm với Lưu Lăng tại thành Tấn Châu, xác định biên giới, hai bên nghị hòa. Đại Chu bồi thường ba mươi vạn quán tiền, năm ngàn con ngựa, cộng với các hiện vật khác. Quân Hán rút binh khỏi Đàn Châu, nhưng mười vạn nhân mã Bình Nam quân không giải trừ.
Những ngày tiếp theo, đặc sứ của Chu Quốc nhiều lần đàm phán với sứ giả Tây Hạ và Đại Liêu, nhưng lợi ích quân sự căn bản không thể dựa vào đám quan văn đấu võ mồm với nhau mà đòi lại được lãnh thổ. Hai bên cãi cọ qua lại, mất ba tháng trời, cuối cùng đất đai đã mất của Đại Chu một tấc cũng không đòi lại được.
Hữu Uy Vệ Đại tướng quân Mông Hổ, Đại Đô Hộ La Húc mặc dù có công đánh địch, nhưng vì thua trận nên cũng không được phong thưởng quá cao, chỉ thưởng mỗi người năm trăm sấp lụa, thăng tước một bậc. Mà phía Bắc Hán chiến công của Lưu Lăng quá lớn, lại cộng thêm hắn là Thân Vương, nên càng khó ban thưởng. Trừ đám người Vương Bán Cân, Trình Nghĩa Hậu, Triệu Nhị, Hoa Tam Lang đều được phong thưởng ra, bắc phương Kiến Hùng quân Tiết Độ Sứ là Hà Khôn xuất binh tới đông bắc lợi dụng sơ hở của thiết kỵ Liêu Quốc giành được hai quận của Đại Chu, gia phong Quán Quân Đại tướng quân.
Ba người Vương Bán Cân, Trình Nghĩa Hậu, Lưu Mậu phong tước lên Huyện Công, phá lệ thưởng cho mỗi người hai trăm hộ thực ấp.
Về phần Lưu Lăng, chỉ nhận được một khẩu dụ của Hiếu Đế: - Mau chóng ổn định cục diện ở phương nam rồi quay về đây, Trẫm ... nhớ đệ rồi.
Lưu Lăng để lại phần lớn nhân mã nguyên Phủ Viễn quân đóng ở tuyến Đàn Châu, Ngọc Châu. Lệnh cho tướng quân của nguyên Phủ Viễn quân là Đỗ Nghĩa làm Chỉ huy sứ Phủ Viễn quân, Mậu Nguyên làm Phó chỉ huy sứ, yên định loạn cục ở phương nam. Đợi sau khi quân Chu đóng ở Tần Châu rút lui dần, Lưu Lăng ra lệnh cho tướng quân của nguyên Kiến Hùng quân là La Tam Thủy, đem quân Kiến Hùng quay về phương bắc tìm Hà Khôn phục mệnh.
Lại lệnh cho Lưu Mậu giữ chức Đại Lĩnh Ứng Châu, nắm hai vạn binh mã đóng ở Ứng Châu, phối hợp tác chiến với quân Hán ở tuyến Đàn Châu, Ngọc Châu. Lưu Mậu làm theo chỉ thị của Lưu Lăng, ở Ứng Châu chiêu mộ hơn một vạn năm trăm nghìn người, ngày nào cũng huấn luyện không ngừng.
Lưu Lăng thấy mọi sự đã bố trí thỏa đáng, đầu tháng thứ ba kể từ khi hắn xuống phía nam, thống lĩnh một vạn tám ngàn nhân mã còn lại sau khi từ Thái Nguyên nam hạ kinh qua nhiều trận đẫm máu quay về Thái Nguyên Phủ. Một vạn tám ngàn nhân mã này trải qua máu lửa tôi luyện, đã thay da đổi thịt. Bất kể là Cấm quân, đại doanh Kinh Kỳ doanh, hay là quân thủ bị Thái Nguyên, những kẻ còn sống đã thực sự trở thành những chiến binh thiên chùy bách luyện chân chính.
Trên người bọn họ không còn trông thấy sự ngây ngô, nao núng, chỉ còn lại ý chí chiến đấu cao ngút và tinh thần bất khuất.
Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh sau khi tịnh dưỡng ở Tần Châu hơn ba tháng, xa giá trở về đô thành Đông Kinh Biện Châu. Lúc đi hai mươi vạn quân tinh nhuệ hùng hổ, lúc về chỉ đem theo hơn một vạn Ngự lâm quân. Mười sáu vạn đại quân bỏ mạng ở đất khách quê người, những kẻ còn sống mặt người nào cũng u sầu bi thảm.
Còn đâu khí thế hiên ngang cao ngạo, đến cả Ngự lâm quân vốn được tuyển chọn kỹ lưỡng mà giờ cũng ủ rũ một đám. Xa giá từ Tần Châu một đường đi về đông nam, dọc đường đi qua hai vùng Chiêu Nghĩa, Chương Khánh văn thần võ tướng trấn giữ ở đó quỳ bên ngoài thành nghênh đón thánh giá, Sài Vinh lại không thèm xuống xe, chỉ dặn dò quan lại hai vùng đó vài câu, rồi lập tức đi tiếp.
Sau nửa tháng, Sài Vinh rốt cục cũng rời khỏi cái địa ngục chiến trường mà y suốt đời không thể nào quên đó, về tới thành Biện Châu phồn hoa hưng thịnh. Văn võ bá quan đứng ở cách thành trăm dặm nghênh đón thánh giá, Sài Vinh cũng chỉ hỏi vài câu về những việc trong triều khi y vắng mặt, sau đó lại quay về xe ngựa, mãi tới khi đến cửa Cấm cung mới chịu xuống.
Biết tâm trạng của Bệ hạ không được tốt, không ai dám dây vào, chúng quan lại chỉ nói chuyện tốt không nói chuyện xấu, đều nói trong thời gian Bệ hạ xuất chinh trong nước yên ổn thái bình, không dám nói cho Sài Vinh trong thời gian y bắc phạt, ở Thọ Châu có tên thổ phỉ Dương Nhất Sơn tập hợp mấy vạn người, tấn công châu phủ, Thọ Châu trong vòng bán kính hai trăm dặm trở lại đã không còn bóng người rồi.
Sài Vinh hỏi sơ qua đám quần thần vài câu, rồi bảo mình đi đường đã mệt liền quay về tẩm cung. Sau khi tắm rửa, việc đầu tiên của Sài Vinh là sai người gọi họa sư tới, họa lại khuôn mặt của Trung Vương Bắc Hán Lưu Lăng, rồi treo trong phòng ngủ của mình. Sài Vinh làm vậy là để ghi nhớ kỹ cái kẻ đã khiến cho y gặp phải thất bại lớn nhất trong cuộc đời này, vĩnh viễn không quên.
Mặc dù triều thần không dám báo cáo chuyện Dương Nhất Sơn tạo phản ở Thọ Châu cho Sài Vinh, nhưng sang ngày hôm sau Sài Vinh đã hay tin. Đầu tiên y mắng cho văn võ bá quan cả triều một trận, sau đó liền phái Tả Vũ Vệ Đại tướng quân Hàn Canh đem quân dẹp loạn. Đại tướng quân Hàn Canh trên chiến trường Bắc Hán bị đánh cho không còn manh giáp khi đối diện với tên bạo đồ Dương Nhất Sơn, cuối cùng cũng thể hiện ra được khí phách đại danh tướng của mình.
Hàn Canh chỉ huy một vạn năm ngàn quân Tả Vũ Vệ mới bổ xung từ các phủ quận, hơn hai vạn người ở bờ sông Nam Hoài Thọ Châu quyết chiến với quân chủ lực của Dương Nhất Sơn. Đối mặt với đội quân thổ phỉ sáu vạn trong số mười lăm vạn đại quân của Dương Nhất Sơn, Hàn Canh tay cầm đại giáo xung phong đi đầu. Một trận đánh cho đại quân của Dương Nhất Sơn tháo chạy trối chết, giết chết hơn một vạn tên địch, bắt giữ hơn ba vạn tên.
Dương Nhất Sơn chỉ đem theo hơn một trăm kỵ thân binh tháo chạy, loạn Thọ Châu đã được dẹp yên.
Dương Nhất Sơn trở thành con chuột chui rúc, y không dám xuống phía nam, một đường không ngừng chạy về phía đông bắc, tiến vào biên giới Sơn Đông. Dựa vào uy tín của bản thân dọc đường đi y lại chiêu mộ thêm năm sáu ngàn sơn tặc loạn phỉ, dọc đường lên phía bắc cướp phá chém giết. Ở biên giới Sơn Đông lại gặp phải quân Càn Ninh bị thiết kỵ Đại Liêu đánh bại, quân Càn Ninh nhịn đã lâu giờ đánh bọn sơn tặc tạo phản quả thực là không tốn chút công sức nào. Dương Nhất Sơn vất vả lắm mới tập hợp được quân lại một lần nữa đại bại, đem theo ba mươi mấy thân binh chạy trốn vào trong núi.
Mà lúc này, Lưu Lăng đang ở Thái Nguyên chuẩn bị cho hôn sự đầu tiên của mình.
Đế Trụ
Tác giả: Trí Bạch
Hán loạn
Sau khi trở về Thái Nguyên, sinh hoạt của Lưu Lăng rối loạn mất mấy ngày. Có điều sự rối loạn này không phải là phiền loạn, mà là do quá náo nhiệt. Lần này nam hạ chống lại sự xâm lược của Đại Chu, nói thực kể cả Hiếu Đế cũng cảm thấy triển vọng không khả quan. Kết quả giành được thắng lợi nhanh đến mức khiến người khác không thốt nên lời, rất nhiều người vẫn còn cảm thấy mơ hồ không giống với thực tại.
Hai mươi mấy vạn đại quân hùng hổ, bị Trung Vương tiêu diệt dễ dàng như vậy sao?
Thời điểm Lưu Lăng trở lại Thái Nguyên Phủ, bách tính trong thành đã bắt đầu truyền tai nhau chuyện hắn là thần tiên hạ phàm rồi. Nói cái gì dưới chân thành Ngọc Châu Lưu Lăng đứng trên mây niệm chú, cầm một nắm hạt đậu vẩy xuống, liền biến thành ba mươi vạn võ sĩ mặc áo giáp vàng đánh cho quân Chu tan tành.
Còn có kẻ nói Lưu Lăng mượn binh của thần Lục Đinh Lục Giáp, đốt một tờ giấy liền biến thành biển cả mênh mông nhấn chìm một nửa quân Chu, sau đó lại đốt một tờ giấy biến thành biển lửa cuồn cuộn, thiêu chết nửa số quân Chu còn lại. Còn nói Lưu Lăng mượn cung thần Xạ Nhật của Hậu Nghệ, một tiễn bắn cho Hoàng đế Hậu Chu sống dở chết dở.
Nói chung là các phiên bản truyện thần thoại bắt đầu lưu truyền trong dân gian, hơn nữa còn có chiều hướng ngày càng nghiêm trọng. Thậm chí còn có những dân chúng ngu muội bày lễ thắp hương trước cửa Trung Vương phủ, quỳ ở đó cả ngày trời, đuổi cũng không đi. Những người dân này cầu xin đủ thứ, có người cầu xin Lưu Lăng hiển linh diệt ma đuổi tà, có người cầu xin Lưu Lăng ban cho lá bùa phù hộ cả nhà bình an. Còn có người cầu xin Lưu Lăng nói với Long Vương ban cho mưa xuống, thậm chí còn có một người thiếu phụ khóc nức nở cầu xin Lưu Lăng phù hộ cho cô ta nhanh chóng có thai...
Tóm lại, trong mắt dân chúng Thái Nguyên, Lưu Lăng đã trở thành vị thần tiên năng lực siêu phàm, còn tiên hơn cả Hoàng Đại Tiên, thần hơn cả Ngọc Hoàng Đại Đế, nhiệm màu hơn cả Tống Tử Quan Âm...
Mà từ sau khi Lưu Lăng vào cung nói chuyện trắng đêm với Hiếu Đế trở về Vương phủ, văn võ bá quan đến thăm hỏi liên miên không ngừng. Lễ vật gửi tới trong vòng năm ngày đã chất đầy ba xe ngựa lớn, Lưu Lăng ai đến cũng không từ chối, tặng cái gì nhận cái đó, đợi chất đầy một xe liền sai người chở vào trong cung kiểm kê số lượng in ra thành quyển, Hiếu Đế lại sai người đem nạp vào quốc khố.
Biết rõ tính Lưu Lăng sẽ không giữ lại một đồng nào, nhưng đám quan lại tới tặng lễ vật vẫn tới lui nhộn nhịp. Ước chừng nửa tháng, Lưu Lăng nhận lễ vật đến mỏi cả tay. Có điều tốt xấu gì thì tính ra, đợt này quốc khố cũng phải thu được thêm mười vạn quán tiền, gần bằng nửa tiền cống hằng năm cho Đại Liêu rồi.
Đối với kết quả này Lưu Lăng cười nói cứ như vậy nửa năm nữa, thực lực của Đại Hán nhất định tăng lên rất nhiều.
Kỳ thực Lưu Lăng cũng biết thừa tại sao đám quan lại này lại lũ lượt kéo đến, mặc dù mấy vị đại nhân đó không hề nhắc đến ai, chỉ là chúc mừng Trung Vương đại thắng, lập chiến công hiển hách. Nhưng Lưu Lăng biết bọn họ đến vì cái gì, còn không phải là vì đống thư từ Lưu Lăng sau khi giành lại Đàn Châu nhận được kia.
Đống thư từ này Lưu Lăng đều đã xem qua một lượt, hắn phát hiện ngoại trừ Đại học sĩ Tô Tú và lão Tể tướng Lư Sâm ra, quan lại Bắc Hán đều đã ngầm xưng thần với Đại Chu trong bóng tối rồi. Đến cả Thượng trụ quốc, Thiên Sách tướng quân Tô Hổ Bào, Trung Thư Lệnh Âu Dương Nhân Hòa đều có mặt trong đó.
Bất kể là ai đến gõ cửa chúc mừng, Lưu Lăng đều vui mừng nghênh đón. Tới tới lui lui hơn mười ngày, đám người cuối cùng cũng mơ hồ đoán ra Lưu Lăng không định gây khó dễ cho bọn chúng. Ngay cả hai đại nhân vật hàng Tể tướng của sở Quân Cơ cũng đều lén lút qua lại với Hậu Chu trong thời gian đại chiến, kẻ khác so với họ quả thực chỉ là tiểu lâu la.
Hai mươi ngày sau, ngay khi mọi người vừa mới thở phào nhẹ nhõm, người của Bát Môn Tuần Sát Ti liền bắt đầu đến từng nhà một bắt người. Từ quan Tam phẩm trở lên bắt bảy tám người, trong đó bao gồm cả Quân cơ Đại thần Thượng Trụ Quốc Đại tướng quân Tô Hổ Bào. Quan Tam phẩm trở xuống thực ra bắt được không nhiều, chỉ có bốn người.
Thời điểm người của Bát Môn Tuần Sát Ti muốn vào phủ Thiên Sách Tướng quân bắt người, đã xảy ra xô xát bằng binh khí. Mấy trăm gia tướng, binh sĩ, người hầu, nô bộc ở phủ của Tô Hổ Bào không ngờ lại dám cầm đao thương chống cự. Bọn họ trấn giữ ở cửa chính của phủ Thiên Sách Tướng quân, dùng vũ khí như tên tiễn gây ra không ít tổn thương cho người của Bát Môn Tuần Sát Ti.
Cuối cùng vẫn là Nhạc Kỳ Lân mời Thánh chỉ tới, điều động một ngàn binh mã từ đại doanh Kinh Kỳ cưỡng chế tấn công mới phá được phủ Tướng quân. Toàn bộ phủ trên dưới hơn bốn trăm nhân khẩu đều bị bắt, lại ở trong thư phòng của Tô Hổ Bào tìm được thư từ qua lại giữa y và Chu Thế Tông Sài Vinh, còn có chứng cứ y ngầm câu kết với Tây Hạ. Hiếu Đế giao việc này cho Lưu Lăng xử lý, Lưu Lăng ở trên công văn chỉ phê một chữ.
Trảm.
Trong vòng một ngày, bên ngoài cổng thành Thái Nguyên máu chảy thành sông, tổng cộng hơn năm trăm cái đầu người bị chặt xuống bên ngoài cổng thành. Có điều trong lúc bao vây phủ đệ của Tô Hổ Bào có một tên kiếm khách đã chạy trốn mất, kẻ đó thân thủ vô cùng tráng kiện, liên tiếp chém được mười mấy binh sĩ của đại doanh Kinh Kỳ, trong đó còn có hai Bạch tổng thân thủ không kém. Tên kiếm khách đó dùng một thanh trường kiếm sáng loáng không có vỏ, gần như không có ai là đối thủ của y.
Sau khi y vượt tường chạy trốn, người của Kỳ Lân Vệ đã đuổi theo sau. Có điều vài ngày sau đó, đều không tra ra được tung tích của kẻ này.
Ngay sau khi trảm năm trăm người, Quân cơ Đại thần, Trung Thư Lệnh Âu Dương Nhân Hòa ở trên triều thỉnh tội, Hiếu Đế phê chuẩn cho ông ta từ quan, không giết. Âu Dương Nhân Hòa khóc rống lên tại chỗ, hết sức ân hận.
Sau đó, Hiếu Đế nghe theo kiến nghị của Lưu Lăng, chọn ra hơn ba mươi người trong số các thanh niên ưu tú được đề bạt từ kỳ khoa cử năm nay bổ sung vào các Bộ, trong đó người có tài được bổ nhiệm làm quan lớn.
Hiếu Đế và Lưu Lăng đều không có tâm trạng học theo Tào Tháo đốt cháy thư từ thu phục lòng người, hiện nay Bắc Hán đã mục nát đến tận cùng rồi. Những kẻ này chính là ung nhọt thối rữa nhất, giữ lại bọn chúng không những không biết ơn lòng nhân từ của Hiếu Đế, mà ngược lại chỉ cần bất kể là quân Chu hay Tây Hạ Đại Liêu cất quân xâm lược lần nữa, bọn chúng sẽ lại giống như ruồi nhặng ngửi thấy mùi thịt tiếp tục nhào tới khấu đầu xưng thần.
Thường nói phá rồi lại lập, Hiếu Đế sau khi trải qua một trận bệnh nặng cũng coi như đã nghĩ thông suốt rồi. Nếu bản thân cứ cố chấp duy trì sự đoàn kết ngoài mặt của triều đình Đại Hán, chỉ e sẽ không có lợi cho ngày tháng sau này. Không thanh trừ hết đám sâu mọt hút máu người này, thì cây đại thụ Bắc Hán vốn đã không được khỏe mạnh này chỉ cách ngày sụp đổ không xa nữa.
Hiếu Đế chỉ cho Lưu Lăng nghỉ ngơi mười ngày, sau đó liền đem một đống việc đại sự trong triều giao cho hắn. Lưu Lăng chỉ còn nước cười khổ, sau đó liền giống như một người máy đã được lên dây cót vùi đầu vào đống công việc lộn xộn. Đám người đã giết kia là đáng phải giết, bọn chúng không chỉ đơn giản là lén lút xưng thần với Hậu Chu, Lưu Lăng thậm chí còn phát hiện trong đám thư từ kia có không dưới một bức bản đồ địa hình bố trí quân sự của Bắc Hán, các chú thích quân sự của các châu phủ đều được đánh dấu rõ ràng.
Đối với hạng người như vậy nếu nhân từ nương tay, tức là tàn nhẫn với chính bản thân mình.
Không khí vui mừng sau đại thắng không hề bị đống máu tươi đầy đất, bị hơn năm trăm cái đầu lâu dính đầy máu ngoài thành Thái Nguyên làm cho giảm bớt. Lão bách tính vẫn reo hò nhảy nhót, trong thành Thái Nguyên vẫn cứ giăng đèn kết hoa. Thậm chí đến cả Hiếu Đế cũng phá lệ xuất hiện ở trên Cổ Lâu chung vui cùng bách tính, có thể thấy trận đại thắng này có ảnh hưởng lớn như thế nào đến Bắc Hán.
Thành quả của thắng lợi không chỉ là đánh tan hai mấy vạn đại quân Hậu Chu, giành lại Đàn Châu, Ngọc Châu, mà hơn thế là chiếm được lòng dân. Dân chúng thông qua trận đại thắng này, khiến cho bọn họ cảm nhận được niềm kiêu hãnh khi là con dân của Đại Hán, cảm thấy bản thân được bảo vệ, Đại Hán có năng lực bảo vệ con dân của mình.
Mà trong khoảng thời gian Lưu Lăng nghỉ ngơi, nhận quà cáp, sau đó giết người này, tình báo các mặt của Hậu Chu, Tây Hạ, Đại Liêu thông qua ảnh vệ dưới trướng Lưu Lăng đã được dựng lên, mạng lưới tình báo ngày càng lớn mạnh được tập hợp lên. Mỗi ngày Lưu Lăng đều chú ý đến những tin tình báo này, không bỏ sót một tin nào.
Nói tóm lại lần này Bắc Hán coi như là kẻ thắng, nhưng lại không phải là kẻ được lợi nhiều nhất. Bất kể là Tây Hạ hay Đại Liêu, lần này nhân cơ hội kẻ khác gặp nguy xuất binh đánh Chu đều kiếm về đầy chậu đầy túi. Tây Hạ giành được đất đai ba châu mười mấy quận, Đại Liêu giành được bốn châu thành thị phồn hoa, lợi ích mà bọn họ thu được lớn hơn nhiều so với cái họ bỏ ra.
Mà việc khiến Lưu Lăng vui nhất chính là, Dương Nghiệp vốn vì tính toán lâu dài được sắp xếp nằm vùng ở doanh trại của quân Chu, đã tạo nên một kỳ tích ở Đại Chu. Vốn khổ nhục kế của Dương Nghiệp coi như uổng phí vô ích rồi, không ai ngờ được Phùng Phục Ba dụ địch lại dẫn tới một trận quyết chiến, hơn nữa khiến cho Lưu Lăng tìm ra cơ hội chiến thắng nhờ trận chiến đó.
Đã phái ảnh vệ tới Đại Chu chuẩn bị đón Dương Nghiệp và hai mươi mấy vị hảo hán kia về, nhưng tin tình báo mà Dương Nghiệp truyền về lại khiến cho Lưu Lăng chấn động.
Hắn không ngờ, Chu Thế Tông Sài Vinh vì để trấn an bại binh, lại có thể triệu kiến đám người Dương Nghiệp trên triều! Dương Nghiệp tự xưng là Dương Sơn Dân, mạo nhận làm một tên đội trưởng nhỏ bé thủ hạ của đại tướng quân Chu là Sở Ly Hỏa đã chết trận. Với thân phận này, trên lý thuyết là cả đời cũng không thể gặp được Hoàng đế. Có lẽ là do nghe nói đến việc đám Dương Nghiệp hai mươi mấy tên cả người đẫm máu, bảo vệ thân xác của Sở Ly Hỏa quyết không đầu hàng làm cho cảm động.
Có thể là nhằm trấn an binh sĩ thu phục lòng người, Sài Vinh đích thân tiếp kiến Dương Nghiệp, hơn nữa còn trước mặt bá quan văn võ trong triều, đặc cách đề bạt hắn từ một tên đội trưởng Cửu phẩm nhỏ nhoi lên chức Lục phẩm Chấn Uy giáo úy, tính ra thăng liền sáu cấp, đây là vinh hạnh đặc biệt mà đám con cháu tầng lớp dưới trong quân đội chưa từng có.
Hơn nữa Sài Vinh còn phân Dương Nghiệp vào làm dưới trướng của Hữu Uy Vệ Đại tướng quân Mông Hổ người đang nổi nhất ở Đại Chu lúc này, có tư cách thống lĩnh một đội binh mã năm trăm người. Đây là một chuyện tốt, đối với Bắc Hán mà nói là một chuyện cực kỳ tốt. Chỉ cần Dương Nghiệp một lòng trung thành, hắn sẽ giống như một cái đinh cắm vào trong nội bộ quân đội của Đại Chu!
Một khi Sài Vinh đã tôn Dương Nghiệp làm tấm gương cho đám con em nhà nghèo trong quân đội, Lưu Lăng nhất định phải nắm lấy cơ hội này. Hắn phái đội ảnh vệ năm mươi người tiến vào Đại Chu, ngầm bảo vệ sự an toàn của Dương Nghiệp. Mặc dù chức vị của Dương Nghiệp ở Đại Chu hiện giờ không cao, nhưng đã có thể tiếp xúc với một ít tin tức quân sự của Đại Chu.
Sau khi sắp xếp xong xuôi đường lui của Dương Nghiệp, Lưu Lăng phái ảnh vệ báo cho Dương Nghiệp, phàm sự đều lấy sự an toàn của bản thân làm đầu, một khi phát hiện thân thế của mình bị bại lộ liền lập tức rút lui. Mà Dương Nghiệp lại làm một việc khiến cho Lưu Lăng kinh ngạc, việc này khiến cho nhận thức của Lưu Lăng về con người của Dương Nghiệp lại sâu hơn một chút.
Hai mươi tám binh sĩ Bắc Hán theo Dương Nghiệp đến Đại Chu, ngoại trừ hai mươi thân tín của y ra, đều đã bỏ mạng do thương thế quá nặng mà không được điều trị. Lưu Lăng tự nhận mình không phải là một người lương thiện, nhưng cũng bị thủ đoạn của Dương Nghiệp làm cho kinh ngạc. Y làm như vậy, không có gì đáng trách. Vì sự an toàn của bản thân, phải loại trừ đi những kẻ không đáng tin lại nắm quyền sinh tử của mình trong tay. Không sai, chỉ là về mặt đạo nghĩa khiến người ta không nói nên lời.
Chuyện ở biên giới tạm thời chấm dứt, chuyện trong triều cũng tạm thời chấm dứt. Hôn sự của Lưu Lăng cuối cùng cũng chính thức được bàn tới, mà người mạnh mẽ đốc thúc việc này, vẫn là Hoàng đế Đại Hán Lưu Trác.
Đế Trụ
Tác giả: Trí Bạch
Tô Tú.
(¯`'•.¸(¯`'•.¸† Chia sẻ bởi: BànLong.us †¸.•'´¯)¸.•'´¯)
Tước vị của Lưu Lăng đã dưới một người mà trên vạn người rồi. Lần này chiến công chống lại hai mươi vạn đại quân xâm lược Đại Chu phong thưởng thế nào? Thực sự điều này cũng khiến cho người ta đau đầu. Hiếu đế là một thủ trường ưu tú có thể khai thác tài năng tiềm ẩn của thủ hạ. Do đó đã đem công lao giao lại cho người cha vợ tương lai của Lưu Lăng, Quân Cơ đại thần, Kim tử quang lộc đại phu, Xu Mật Sứ, Khai phủ nghi đồng Tam ti, Tả Thừa tướng Lưu Sâm.
Thấy danh hiệu dài ngoằng đó trên đầu Lưu Sâm là biết sau khi Thượng Trụ quốc, tướng quân Thiên Sách Tô Hổ Bào bị chặt đầu cùng với Thái tử thiếu sư, Trung thư lệnh Âu Dương Nhân Hòa cáo lão hồi hương, trong Quân Cơ Xứ chỉ còn lại lão cả ngày lo lắng đề phòng. Căn bản là Đại học sỹ Tô Tú kiên định không xử lý chính vụ.
Tô Tú cũng không phải là trong sạch gì, chỉ có điều y không ngầm cấu kết cùng Hậu Chu mà thôi. Mắt thấy đồng liêu của mình từng người từng người bị vị Trung Vương đắc thắng trở về còn mang theo một thân sát khí chém đầu, Tô Tú đã hơn mười mấy ngày chưa từng ngủ một giấc ngon lành rồi. Hàng ngày y chỉ cần tỉnh dậy liền cảm thấy trên cổ mình vẫn còn có gió lạnh thổi tới, giống như quỷ đầu đao chặt đầu người đó sụp đổ dính sau gáy mình.
Vốn cho rằng nha đầu như hoa như ngọc ở Tiên Duyên Nhân Gian đó là diễm phúc mà ông trời đã ban cho mình. Bây giờ mới biết đó là Trúc Diệp Thanh có độc giết người. Ai có thể ngờ rằng một cô nương nhìn xinh đẹp, yêu kiều như vậy mà lại độc ác như thế. Một chút tiện nghi mình cũng không chiếm được còn bị ả ta tóm lấy cán. Chuyện này giống như là một nhát dao cắm vào trái tim Tô Tú, đau đớn khiến y dường như chết đi sống lại.
Y muốn tiêu trừ mối họa này, nhưng bốn người được sai đi đã chết hai rồi. Lúc này y mới biết mình đã đánh giá thấp khả năng của cô gái thanh lâu đó. Một người vô thanh vô tức có thể tiêu diệt được bốn tên sát thủ ưu tú nhất của mình, người phụ nữ như vậy chính là một con rắn độc. Một Trúc Diệp Thanh thoạt nhìn thì nghiêng nước nghiêng thành nhưng thực chất còn hơn cả rắn độc.
Trước khi Lưu Lăng trở về, Tô Tú còn không có cảm giác nguy hiểm quá lớn. Dù sao thì Thế Tông Hậu Chu Sài Vinh thiện chiến, người thống lĩnh hai mươi vạn hổ sói quân Chu, Lưu Lăng còn có thể sống sót trở về là việc không chắc chắn rồi. Nhưng lúc này Lưu Lăng không những sống sót trở về, hơn nữa còn vừa trở về đã bắt đầu đại khai sát giới. Điều này khiến cho y sao có thể yên tâm được chứ? Mỗi ngày đều như ngồi trên đống lửa, đừng nói chính vụ, mà ngay cả ăn uống y cũng không hề bận tâm tới nữa.
Lư Sâm là người thế nào? Đương nhiên có thể thấy được vài phần tâm tư của Tô Tú, chỉ là Lư Sâm cũng biết, nếu nói luận về thông minh Hiếu đế là đệ nhất thiên hạ, vậy thì Trung Vương Lưu Lăng chính là đệ nhị thiên hạ. Ngay cả mình cũng có thể thấy được trong lòng Tô Tú có quỷ, một Đế một Vương sao còn có thể nhìn không ra chứ?
Nếu bên trên từ bi, cho Tô Tú một con đường sống, vậy thì lão cũng không cần phải suy nghĩ nữa. Hơn nữa, Quân Cơ có năm trọng thần, đã giết một, đi một rồi. Nếu còn xử lý thêm một người nữa, năm người đi ba, đó cũng là Bệ hạ đánh vào thể diện mình rồi. Dù sao ban đầu ba người này là lão xem trọng, sinh ra ba phản đồ lão cũng không còn mặt mũi nào nữa.
- Tô đại nhân, sao Bệ hạ lại giao việc phong thưởng Trung Vương này cho chúng ta nghĩ? Ngài có ý kiến gì không?
Giọng của Lư Sâm rõ ràng trong vắt, kéo Tô Tú mang vẻ mặt hốt hoảng như đi vào cõi tiên trở về.
- Ách … chuyện này vẫn là Lư đại nhân làm chủ mới đúng. Bệ hạ càng tín nhiệm Lư đại nhân hơn. Tô mỗ cũng tin chắc Lư đại nhân có thể nghĩ ra được cách hay.
Tô Tú vội trả lời vài câu. Những lời này đều là lời a dua, không có chút ý nghĩa.
Lư Sâm nhíu mày, nhìn nhân vật Thái Sơn Bắc Đẩu của văn đàn Bắc Hán này, lão thầm mơ hồ hiện lên một ý nghĩ, đó chính là loại bỏ người này.
Lư Sâm khẽ hừ một tiếng thể hiện sự bất mãn của mình. Lời thoái thoát này của Tô Tú đã khiến cho trong lòng lão cảm thấy rất khó chịu. Lão là Tả thừa tướng, quan chính nhất phẩm. Tô Tú là Đại học sỹ, tương tự cũng là quan chính nhất phẩm. Lúc này quan văn của Bắc Hán là do hai người đứng đầu, trong thời loạn thế như này quan văn ở tại Bắc Hán cũng coi như nhận được chút sự xem trọng. Thời đại này, Bắc Hán xem như là một quốc gia dị hình, các phương pháp đều dị hình dị dạng.
Diện tích quốc thổ nhỏ, tước vị của quan lại cũng dị hình, quân chính dân chính lại càng dị hình, ngay cả điều kiện sinh tồn cũng dị hình. Bắc Hán giống như là một đứa trẻ dị hình dị dạng tìm sống trong kẽ hở, muốn sống tiếp không phải là mình ăn cho no bụng mình là được, mà phải nhìn sắc mặt của những kẻ lớn mạnh xung quanh, kéo dài chút hơi tàn.
Càng không nói tới Tây Hạ, Đại Liêu, Thổ Phiên, những nước được thiên hạ an thiên hạ trên lưng ngựa. Chính là các quốc gia ở phía nam từ trước tới giờ vẫn tuyên truyền đại quốc lễ nghi Trung Nguyên như Đại Chu, Hậu Thục, Nam Đường, địa vị của quan văn thấp đến nỗi khiến cho người ta không lên được tiếng. Có thể nói, người như Lư Sâm ở Bắc Hán làm quan là bất hạnh của lão. Bởi vì tài năng của lão tuyệt đối không chỉ là trị lý ở tỉnh. Tương tự như vậy, lão cũng là may mắn, nếu làm quan ở một nước khác, không cẩn thận sẽ thành vật hy sinh.
Giống như Ninh Hạo một lòng nguyện chết, năng lực của y không mạnh sao? Quan chức của y không cao sao?
Cho nên Lư Sâm rất quý trọng cơ hội của mình, cẩn thận bảo vệ đứa bé Bắc Hán dị hình mà lại có sức sống quật cường này. Trong lòng lão, Bắc Hắn đã chính là nhà của mình rồi.
Cử chỉ khác thường của Tô Tú, Lư Sâm có thể không quan tâm tới, nhưng về mặt chính vụ nếu Tô Tú có điều thoái thác, Lư Sâm thân là người đứng đầu trong bách quan không thể không nhắc nhở y vài câu được.
- Tô đại nhân, ngài biết ngài đang nói cái gì không?
- Hả?
Nghe câu hỏi này của Lư Sâm, Tô Tú hoảng sợ.
- Tô đại nhân.
Lư Sâm chắp tay về phía điện Cần Mẫn nói:
- Bệ hạ đã giao chuyện này cho ta và ngài bàn bạc, đây là sự tín nhiệm của Bệ hạ đối với ta và ngài. Nếu Bệ hạ giao chuyện này cho chúng ta làm, thân là thần tử thì phải dốc lòng làm việc. Tô đại nhân, mấy hôm nay hình như ngài có tâm sự gì chăng?
Thấy sắc mặt Tô Tú tái đi, Lư Sâm liền nói tiếp:
- Tô đại nhân sợ là bị chuyện nhà rắc rối mà thấy phiền sao? Chuyện này là có lý do của nó, nhưng ta và ngài thân là thần tử, nhận bổng lộc của vua, trung thành với vua. Chuyện rắc rối trong nhà nên đặt sang một bên, vẫn nên dốc hết tâm tư vào triều đình.
Tô Tú thấy Lư Sâm cố ý nói y là vì chuyện nhà phiền não, trong lòng thực sự cảm động. Mặt y đỏ bừng lên, liền khom người nói:
- Lư đại nhân, Tô mỗ thực sự là vì một số chuyện rắc rối ở nhà mà tâm phiền ý loạn, là Tô mỗ thất chức.
Mấy ngày nay của mình thực sự là có chút thất thần. Lư Sâm không thể không đoán được nguyên nhân là vì sao. Lư Sâm là thần tử được sủng ái nhất của Hoàng đế sau Lưu Lăng. Nếu Lư Sâm đã chỉ đích danh y là vì chuyện nhà mà phiền muộn, sao y lại không đoán ra đó là Lư Sâm đang ngầm nhắc nhở mình, Bệ hạ không định ra tay với mình.
Thở dài một cái, Lư Sâm nói:
- Tô đại nhân, hôm qua Bệ hạ mới nói, Tô đại nhân là trụ cột của quốc gia, là giường chiếu của triều đình. Bệ hạ tin tưởng như vậy, Tô đại nhân, Lư mỗ tin chắc ngài cũng đã hiểu được nỗi khổ tâm của Bệ hạ rồi.
Thấy Tô Tú đã hiểu ý của mình, Lư Sâm lại một lần nữa nói rõ.
Tô Tú liền vái chào nói:
- Cám ơn Lư đại nhân đã nhắc nhở.
Lư Sâm liền đỡ y lên nói:
- Tô đại nhân, mau dốc sức làm cho tốt chuyện mà Bệ hạ đã giao cho chúng ta làm đi. Những chuyện khác, tạm gác sang một bên đã.
Tô Tú hít sâu một hơi, ổn định lại tinh thần của mình, tiếp tục nói:
- Phong thưởng của Trung Vương quả thực là không dễ làm đâu, luận về tước vị, Trung Vương đã ở vị trí cực phẩm rồi. Luận về quan vị, Trung Vương cũng ở vị trí đứng đầu các Quân Cơ đại thần rồi. Luận về võ chức, chức vụ Đô chỉ huy sứ binh mã sáu châu của Trung Vương vẫn chưa giải nhiệm. Tiếp tục phong thưởng nữa … khó.
Lư Sâm nói:
- Công lao của Trung Vương lớn, thân phận tôn sùng, quả thực rất khó phong thưởng tiếp nữa. Nhưng Bệ hạ đã giao chuyện này xuống, chúng ta cũng không thể đẩy đi được.
Tô Tú liếc nhìn Lư Sâm, muốn nói nhưng lại thôi.
Lư Sâm biết y có lời muốn nói, do đó liền bật cười nói:
- Tô đại nhân có đề nghị gì cứ nói, nếu có gì không thỏa đáng, ta cũng không để bụng làm gì.
Tô Tú nói:
- Ý của ta là … nếu Trung Vương đã ở vị trí vị cực nhân thần rồi, chúng ta có thể đổi sang lối suy nghĩ khác, ví dụ như … Trung Vương sắp đại hôn, thân phận của Vương phi liệu có thể ….
Lư Sâm đỏ mặt lên, đề tài này không phải lão có thể trả lời được. Đại hôn của Trung Vương, Vương phi là con gái của lão Lư Ngọc Châu. Mình thân là nhạc phụ tương lai của Lưu Lăng, về vấn đề này vẫn nên tránh là hơn. Ý của Tô Tú lão hiểu, nếu thân phận của Lưu Lăng đã được tôn sùng đến cực điểm rồi, lại chỉ là dưới Hoàng đế Bệ hạ, tiếp tục phong thưởng thì chỉ có thể đối sang một góc độ khác, ví dụ như có thể cho vợ hắn một vinh dự lớn.
Lư Sâm hắng giọng, lúng túng cười nói:
- Chuyện này vẫn nên để Bệ hạ định đoạt là hơn.
Thần mắt Tô Tú sáng lên, liền nói:
- Ừ, đúng vậy, nên viết ý tưởng của ta thành tấu dâng lên, vẫn nên để Bệ hạ định đoạt.
Tô Tú đưa ra ý kiến này, chẳng qua là linh động nghĩ tới. Y đưa ra, một là muốn tỏ chút thành ý cảm ơn sự nhắc nhở vừa rồi của Lư Sâm. Hai là biến tướng thừa cơ nịnh vị Lư Sâm đương quyền này một chút. Sau này cục diện triều đình chỉ cần không phải kẻ ngốc cũng có thể nhìn thấy, Lư Sâm là quan đứng đầu triều trong bách quan. Lưu Lăng là một người đứng trên vạn người, hai nhà liên hôn, triều đình Bắc Hán này chắc chắn trở thành của hai nhà bọn họ rồi.
Khối ân tình lớn như vậy không kiếm, Tô Tú chẳng phải là sẽ hối hận sao? Mặc dù bây giờ Bệ hạ chưa định ra tay với mình, nhưng rõ ràng là sẽ không còn sủng ái như dĩ vãng được nữa. Tô Tú cũng đã từng nghĩ tới chuyện mình không có viết thư qua lại với Chu Thế Tông Sài Vinh, vì sao Bệ hạ lại có thái độ lạnh nhạt với mình? Hơn nữa, Bệ hạ không động tới mình, cho thấy Bệ hạ bên trong rốt cuộc là còn chưa có chứng cứ của mình. Nhưng bị sơ hở ở chỗ nào thì Tô Tú quả thực không thể nghĩ ra được.
Đây mới là nguyên nhân khiến y lo lắng, không biết rốt cuộc Bệ hạ có nắm được bằng chứng của mình tư thông với địch hay không? Nhưng khẩu khí của Lư Sâm vừa rồi, Bệ hạ dường như là rất bất mãn với mình, song lại không định trị tội mình. Điều này khiến cho Tô Tú có chút kiên định, lại lo lắng tới cái được cái mất.
Thánh quyến của Bệ hạ e là sẽ không bao giờ giáng xuống đầu mình nữa. Tô Tú cũng hiểu, nếu muốn tiếp tục an ổn trong triều đình, Lưu Lăng và Lư Sâm là hai người cần phải nịnh bợ.
Y thấy Lư Sâm không phản đối ý kiến của mình, do đó liền viết tấu, quay người nhờ ánh đèn leo lét bắt đầu viết. Lư Sâm thực sự muốn cản lại, nhưng nghĩ con gái mình nếu không có thân phận xứng với Vương gia, khó mà tránh khỏi bị khinh bỉ, do đó cũng giả câm giả điếc
Đế Trụ
Tác giả: Trí Bạch
Công lao của Chu Diên Công.
(¯`'•.¸(¯`'•.¸† Chia sẻ bởi: BànLong.us †¸.•'´¯)¸.•'´¯)
Người ở trong triều dễ làm việc, đặc biệt quan to ở Quân Cơ Xứ, muốn dâng tấu lên Bệ hạ còn dễ hơn những quan viên phía dưới nhiều. Mặc dù Tô Tú đã mất sự sủng ái, nhưng chút quyền lợi này vẫn còn. Mặc dù hắn ta cảm thấy thái độ của Bệ hạ đối với hắn ta cũng đã có lòng nghi ngờ, nhưng dù nói thế nào, quyền lợi vẫn không bị tước đi.
Tấu chương hàng ngày đều quy tập lại cho hắn ta và Lư Sâm chỉnh lý, chia ra thành bốn loại chậm, nhẹ, nặng, gấp. Tấu chương có chữ chậm thì đặt lên sang một bên, chờ Bệ hạ có thời gian sẽ xem. Giống như loại tấu chương này, phần lớn là buộc tội người nào đó. Lư Sâm và Tô Tú đều biết làm người, biết Bệ hạ cũng không chào đón đám Ngự sử đại nhân đó, cho nên phàm thì tấu sớ trách tội thường cho vào loại chậm. Đương nhiên, nếu liên quan tới vụ án lớn, hai người bọn họ cũng không dám giấu đi không báo.
Trong mắt Tô Tú, những người làm Ngự sử đều có bệnh, ngươi xem xem hôm nay tấu chương này còn có một Ngự sử tên Bùi Can Tịnh buộc tội Lưu Lăng, nói hắn cầm binh tự trọng, có lòng không thuần phục. Nhưng vốn ông trời có đức hiếu sinh, Bệ hạ lại là vị vua nhân nghĩa, đề nghị không cần giết Lưu Lăng, tước bỏ quan chức, cách chức làm thứ dân là được rồi.
Tô Tú thấy tấu chương như vậy không hề có chút gì tức giận, so với những quan cùng triều ngu ngốc như vậy, Tô Tú cảm thấy mình cấp thấp rồi. Có lòng không thuần phục? Cũng thiệt hắn nghĩ ra được những lời này. Nếu ngươi buộc tội Trung Vương sang trộm dê nhà hàng xóm, hoặc buộc tội Trung Vương Lưu Lăng trộm gà hàng xóm. Điều này nói ra mọi người còn có thể coi như truyện cười. Thế mà lại nói Trung Vương ý đồ bất chính có lòng tạo phản, Tô Tú nghi ngờ tên Bùi Can Tịnh này không phải là loại đầu lợn nữa rồi.
Ban đầu khi các vị Hoàng tử tranh giành Đế vị, Trung Vương đã nắm trong tay ba vạn quân mã của đại doanh Kinh Kỳ, muốn đăng cơ làm Đế còn thật sự chưa tới lượt Bệ hạ hiện giờ. Chuyện này xa không nói, chỉ nói ngay chuyện trước mắt Trung Vương dẫn mấy chục vạn đại quân đi trấn áp Đại Chu xâm lược, nắm binh hùng, muốn phản thì sớm đã dựng cờ rồi. Nhưng cái tên Bùi Can Tịnh mắt không tròng này chọn ngay lúc đại quân giành chiến thắng trở về triều còn nhảy ra như thế, ngay cả người như Tô Tú cũng muốn đánh cho gãy răng.
Đối với loại tấu chương này, Tô Tú chẳng buồn nghĩ tới liền quăng vào thùng rác, chữ chậm cũng không có cái loại này, chùi đít cũng ngại giấy cứng.
Con người Tô Tú này làm việc vẫn còn công chính, ngoài sợ chết ra những phẩm chất khác đều rất tốt. Hắn ta có thể đặt chữ nặng lên trên các tấu chương của các châu phủ gửi tới, có thể đặt chữ nhẹ lên trên các tấu chương của các quan lại địa phương trình tấu chúc mừng Trung Vương đại thắng về triều. Đương nhiên, cũng có thể không cẩn thận viết chữ gấp lên loại tấu chương của mình về việc đại hôn của Trung Vương cho Lư Ngọc Châu một thân phận cao.
Loại tấu chương có chữ gấp hôm nay tổng cộng có bốn tấu chương.
Một bản là liên quan tới chuyện quân sự của Đại Chu sau chiến bại. Một phần là liên quan tới phương diện Tây Hạ đòi tiền và lương thực quân phí đã chi ra trong việc trợ giúp xuất binh tiến công Đại Chu. Một bản là thông báo của Đại Liêu quốc gửi đi nói về Khâm sai thu cống nạp ít ngày nữa sẽ khởi hành tới Thái Nguyên. Còn có một bản tấu nữa chính là Tô Tú tự viết.
Hiếu Đế vẫn tin tưởng vào khả năng của Lư Sâm và Tô Tú. Những ngày này việc phân chia phân loại tấu chương vẫn xem như là hợp lý. Xuất phát từ thói quen, Hiếu Đế ưu tiên xem trước chính là tấu chương có loại chữ gấp.
Đối với động hướng của bên phía Đại Chu, sau khi Hiếu Đế xem xong đã đặt sang một bên, sau đó lại xem tới quốc thư của Tây Hạ về chi phí trợ giúp, liền nhíu mày, thấy số tiền mà bên phía Tây Hạ cần không quá lớn, việc bồi thường bên phía Đại Chu lấy ra 1/3 là đủ trả rồi. Sau đó lại cầm tới bản tấu của bên phía Đại Liêu, mới liếc qua một lúc bỗng tức đến tái mặt đi.
Liêu quốc lại há miệng ra, lại một lần nữa tăng cống phẩm lên gấp đôi! Nếu như vậy, số tiền bồi thường của Hậu Chu cũng không thể chi trả đủ cho cống phẩm của Liêu quốc!
Đây quả thực chính là uống máu rồi! Uống máu của người dân Đại Hán và máu của các tướng sỹ chiến đấu đẫm máu ở tiền phương!
Nắm tay nắm chặt lại, sắc mặt Hiếu Đế tái nhợt đi đáng sợ. Hồi lâu sau, trên mặt y mới dần dần trở lại sắc máu. Thở dài một cái, y dặn dò nói:
- Tiểu Lục Tử, ba tấu chương này dán kín lại đưa tới phủ Trung Vương, mời Trung Vương xem qua, nói cho Trung Vương biết, tối nay Trẫm sẽ ở trong cung chờ hắn tới dùng bữa.
Tiểu Lục Tử dạ một tiếng, dùng dải lụa vàng buộc ba tấu chương lại, sau đó khom người lui ra ngoài. Vừa mới đi ra tới cửa, Hiếu Đế lại gọi y lại.
- Chờ chút.
Tiểu Lục Tử khom người nói:
- Bệ hạ, còn có ý chỉ gì?
Hiếu Đế nghĩ tới một chuyện, không khỏi bật cười, cái nhíu mày vì chuyện quốc sự cũng đã giãn ra vài phần, nghĩ tới chuyện này trong lòng y cũng thầm cảm thấy trò đùa dai này cũng đã sáng sủa hơn rồi.
- Nói với Trung Vương, dẫn theo tiểu nha đầu trong phủ hắn Liễu Mi Nhi cùng tiến cung.
- Nô tỳ tuân chỉ.
Tiểu Lục Tử khom người lui ra, chỉ ý của Hoàng đế không dám chậm trễ, gọi hai thị vệ nữa cùng đi. Sau khi lĩnh ngựa, Tiểu Lục Tử liền thúc ngựa chạy về phía phủ Trung Vương. Hiếu Đế chờ sau khi Tiểu Lục Tử đi rồi mới cầm bản tấu cuối cùng loại chữ gấp lên, mới liếc qua đã có chút tức giận rồi.
- Tên Tô Tú này, tự cho là thông minh.
Y mỉm cười, uống một ngụm trà, trà đã hơi lạnh rồi, nhưng Hiếu Đế không định gọi người đổi trà. Tài nghệ pha trà của người trong cung rất tốt, cho thêm ít muối, ít hương liệu, vị trà rất thơm.
- Lư Ngọc Châu đã được Trẫm nhận làm nghĩa muội rồi, phong làm Quận chúa rồi, ngươi còn định để Trẫm cho cô ta tước gì nữa?
Nghĩ tới bộ dạng Tô Tú với chòm râu dê vừa nói vừa gật gù đắc ý, Hiếu Đế nghĩ mà buồn cười. Con người này, không có khí tiết gì, nhưng bản lĩnh thì cũng có, làm việc cũng cẩn thận, lại còn viết một văn chương hay, chỉ tiếc là vốn có thể trọng dụng đấy. Lư Sâm tuổi tác cũng đã lớn rồi, bản lĩnh ở bên Quân Cơ Xứ cũng định từ từ giao lại cho Tô Tú, ai ngờ tên này lại có nghi ngờ theo địch.
Nghĩ tới những chuyện này Hiếu Đế thấy buồn phiền.
Tấu chương tạm thời đặt sang một bên, cầm tấu chương có chữ nặng lên xem. Loại tấu chương này về cơ bản đều là báo tai họa, bây giờ đã là tiết trời đông, các châu của Bắc Hán về cơ bản từ tháng 5 đã không còn mưa nữa. Các nơi đều gặp hạn hán, lương thực dường như đã không có thu hoạch gì. Tấu chương của các nơi đều thỉnh cầu triều đình phát lương thực cứu tế. Nạn dân của các phủ cộng lại đã vượt quá bốn mươi vạn.
Cho dù là mỗi bữa cơm chỉ có một bát cháo, một ngày hai bữa cũng là một khoản chi tiêu rất lớn. Lần này đại chiến phương nam quốc khố vốn đã không giàu có gì, đã trống rỗng rồi. Đây vẫn là Trung Vương Lưu Lăng tốc chiến tốc thắng. Nếu còn đánh thêm một hai tháng nữa, chỉ e là ngay cả quân lương của đại quân cũng không đủ đáp ứng. Lương thực của các đại hộ quyên góp cũng còn có một chút, lại cộng thêm Đại Chu bồi thường, miễn cưỡng cũng có thể đủ cho số cống nạp của Liêu quốc cần. Chỉ là như vậy thì ngay cả tiền thưởng của các binh lính cũng phải giảm đi, thậm chí còn bị chậm.
Nếu đều phát đi cứu giúp các nơi, chỉ e là bên phía Liêu quốc không dễ ứng phó. Nhưng lại không thể mở mắt đứng nhìn con dân của mình chết đói. Quả thực là lưỡng nan. Nghiến chặt răng lại, Hiếu Đế cầm bút lên phê duyệt, các nơi mở kho lương cứu tế. Về phần Đại Liêu cứ để đấy đã, trước tiên để cho các nạn dân miễn cưỡng sống, chỉ hy vọng chờ tới khi mưa thuận gió hòa, cuộc cũng cũng sẽ ngày càng tốt hơn.
Hai hôm trước Trung Vương Lưu Lăng nói hắn có cách ứng phó với Khâm sai của Liêu quốc, chỉ là hỏi nửa ngày hắn cũng không tiết lộ, nói thẳng sơn nhân tự có diệu kế, giả như một giả thần giả thánh lừa ăn lừa uống. Nhưng vừa nghĩ tới khi Lưu Lăng nói chuyện trên miệng vẫn có chút tự tin, trong lòng Hiếu Đế bỗng thấy khoan khoái hơn.
Đúng vậy, có Cửu đệ của mình ở đây, dường như chuyện gì cũng đều có cách giải quyết.
Bữa cơm tối nay, nhất định phải hỏi hắn xem rốt cuộc là có cách gì ứng phó với bên phía Liêu quốc. Hiếu Đế đã khó mà chịu được vài ngày nữa, không biết đáp án thì ngay cả ngủ y cũng không dám.
Đặt tấu chương báo nạn xếp lại với nhau, sai các thái giám mang tới phòng Quân Cơ, nói cho Lư Sâm và Tô Tú biết chỉnh lý con số và giao lên Hộ bộ, cũng thống kê rõ một chút số lượng lương thực của các nơi cần.
Trong tấu chương loại chữ nhẹ, lật ra Hiếu Đế bỗng dở khóc dở cười. Loại tấu chương này chín phần bên ngoài là đều viết chúc mừng Trung Vương khải hoàn, để thể hiện hiếu tâm của các quan địa phương, quà tặng linh tinh cũng đã chiếm tới phần nhiều trong mỗi tấu chương. Hiếu Đế cười khổ, lẽ nào Trẫm thành địa chủ vô lương cướp đoạt tài sản của quan viên sao?
Nhưng nghĩ lại cũng đúng, nửa năm nay các nơi đều quyên tiền theo yêu cầu của mình. Người hiểu biết thì rõ ràng quốc khố không đủ, không hiểu chuyện còn cho rằng Hoàng đế Trẫm là tham tài thành tính rồi. Nhưng như vậy cũng tốt, khiến cho những người đó quyên tiền khó, hiếu kính thì trái lại rất nhanh nhẹn.
Hiếu Đế không ngờ các quan lại địa phương dù không phóng khoáng nhưng cũng hiếu kính rất nhiều, cộng lại với nhau cũng lên tới năm vạn quan. Đám quan địa phương như vậy xem ra là không nghèo. Nghèo đều là người dân. Hiếu Đế nhíu mày, nhưng rất nhanh đã bình thường trở lại. Hiện giờ rất nhiều việc bị gác lại, bước chân dù sao cũng phải từng bước từng bước, chờ quốc gia thái bình trở lại, bước đầu tiên chính là phải trừng trị tham quan ô lại.
Còn có một bản tấu chương khiến cho Hiếu Đế chú ý. Bản tấu chương này đặt sau cùng những tấu chương chúc mừng của quan lại các nơi. Nếu không phải Hiếu Đế muốn xem người dâng tấu chương tỏ ý chúc mừng là ai, thì thật sự không muốn nhìn tới nữa. Cầm bản tấu chương lên xem, y liền bị nội dung của tấu chương hấp dẫn.
Tấu chương này là Chu Diên Công trên đường từ Tây Hạ trở về, nửa đường cho khoái mã dịch trạm đi trước đưa tới triều đình. Lúc này có lẽ y vừa vào quan cũng không xa lắm. Trên tấu chương viết Quốc chủ Tây Hạ Ngôi Danh Nẵng Tiêu vì thể hiện nguyện ý giao hảo với hai nước, đã đặc ý tặng 300 ngựa, 500 trâu, năm nghìn con dê. Số gia súc này do Chu Diên Công đang đi trên đường đảm nhiệm, nghĩ thấy y chỉ mang theo có hai ba mươi tùy tùng, thật sự khó mà đưa đàn gia súc đó trở về.
Trong đó còn đề cập tới quốc thư của Quốc chủ Tây Hạ Ngôi Danh Nẵng Tiêu hy vọng hai nhà liên minh, hiện giờ vẫn còn trong tay Chu Diên Công. Sau đó là chúc mừng Trung Vương đã đại phá quân Chu, chúc mừng Đại Hán quốc ta vận mệnh quốc gia hưng thịnh. Tấu sau cùng này mới là quan trọng, là phân tích của Chu Diên Công về thế cục hiện tại.
Chu Diên Công đề nghị giao hảo với Tây Hạ, hai nước thiết lập bang giao, bù đắp cho nhau. Xác định vài địa điểm tại biên giới, thiết lập chợ, người dân hai bên cùng giao dịch. Đối với yêu cầu đòi chỗ tốt của Tây Hạ đưa ra, ý kiến của Chu Diên Công là vắt chày ra nước. Theo ý của y thì Ngôi Danh Nẵng Tiêu không phải là một nông phu chú trọng tới cái lợi nhỏ như con ruồi, sở dĩ đề nghị cùng Đại Hán thân nhau, là muốn xem thái độ của Đại Hán. Nếu Đại Hán không đồng ý, có lẽ là hắn sẽ tức giận, nhưng tuyệt đối sẽ không nổi binh. Nếu đồng ý rồi, Chu Diên Công ngược lại lo lắng từ nay về sau Tây Hạ sẽ ngày càng táo tợn.
Còn có, Chu Diên Công đề cập tới vấn đề cống nạp của Liêu quốc. Y nói trên đường đi về phía tây tới Tây Hạ, y đã thấy quá nhiều chuyện thê lương của nạn dân thê tử phân ly. Thỉnh cầu Bệ hạ nên lấy nạn dân làm trọng, mở kho lương. Về phần làm thế nào để ứng phó với Đại Liêu, Chu Diên Công đề nghị có thể thương lượng với Khâm sai Đại Liêu. Nếu không thể gom góp đầy đủ mang tính chất một lần, thì chia ra đưa qua, tin chắc Đại Liêu sẽ nghĩ tới lâu dài về sau mà không bức ép quá gấp.
Thứ ba, là đề nghị các châu phủ chiêu mộ dân dũng, giống như chế độ quận binh của Đại Chu. Quân lương của quận binh không quy về triều đình phân bố, do địa phương tự cung tự cấp. Chiến sự phương nam thể hiện được sự bất lực của các châu phủ địa phương Đại Hán. Nếu các châu phủ đều có hàng nghìn quận binh có tố chất huấn luyện, ứng phó với những dân biến hoặc phỉ loạn ngẫu nhiên xảy ra, khi chiến tập trung cũng là một cánh quân đội. Như vậy cũng sẽ tránh được cục diện phân chia trú đóng ở các châu như Kiến Hùng quân và Phủ Viễn quân.
Ba điều này đều là lời vàng ngọc.
Hiếu Đế hít sâu một hơi, cẩn thận đọc kỹ lại lần thứ hai, trong lòng thấy rộng mở.
Đế Trụ
Tác giả: Trí Bạch
Suy tư.
(¯`'•.¸(¯`'•.¸† Chia sẻ bởi: BànLong.us †¸.•'´¯)¸.•'´¯)
Theo lý mà nói tấu chương quan trọng như vậy chắc chắn phải đặt trong tấu chương có chữ gấp. Chí ít cũng là đặt trong tấu chương có chữ trọng, nhưng lại đặt cùng với tấu chương quan lại các châu phủ địa phương. Nếu không phải Hiếu đế bỗng nhiên hiếu kỳ xem quan viên các nơi đã dâng lên quà tặng cộng lại bao nhiêu tiền, nói không chừng xem chán những lời chúc mừng tới cuối cùng cũng không phát hiện ra.
Tuy nhiên, suy nghĩ lại một chút Hiếu Đế liền hiểu huyền cơ trong đó. Chuyện này chắc chắn là Tô Tú làm. Con người này sợ chết, còn có lòng đố kỵ rất lớn. Chu Diên Công chẳng qua là một thường dân áo vải, không phải xuất thân gia thế. Mặc dù là Lưu Lăng đề bạt lên cũng đã nhận được sự trọng dụng của mình. Nhưng xem ra trong bách quan vẫn chịu sự kỳ thị không ít.
Bản tấu chương này Lư Sâm chắc chắn là vẫn chưa nhìn thấy. Với một người như Lư Sâm nếu nhìn thấy bản tấu chương như vậy chắc chắn sẽ đích thân mang tới tận tay mình.
Tô Tú, hừ!
Rõ ràng, Tô Tú không muốn mình nhìn thấy bản tấu chương này. Hắn ta là cố ý để nó trong tập tấu chương loại nhẹ, nguyên nhân trong đó chắc chắn không chỉ là đố kỵ. Hiện giờ Quân Cơ Xứ đã thiếu đi hai người rồi, mà mình thì tất nhiên là muốn chọn hiền tài để bổ sung vào đó. Mấy ngày trước Tô Tú và Lư Sâm đã đưa danh sách đề cử mấy người, nếu để mình nhìn thấy bản tấu chương này sẽ trọng dụng Chu Diên Công. Như vậy người mà hai người bọn họ đề cử chắc chắn sẽ bị loại ra một người.
Đều là vì tư lợi, hoàn toàn không quan tâm tới chuyện quốc gia. Con người Lư Sâm này vẫn là công tư phân minh, với ông ta thì sẽ không làm ra động tác lén lút như vậy. Tô Tú không dám vứt bỏ tấu chương này là vì Chu Diên Công sớm muộn gì cũng sẽ phải quay về triều đình. Hắn ta làm như vậy chỉ là muốn kéo dài, chờ người của hắn ta đề cử được mình bố trí vào Quân Cơ Xứ, Chu Diên Công trở về cũng đã muộn rồi.
Tới lúc đó nhắc tới tấu chương này, nếu mình hỏi tới Tô Tú cũng viện cớ, nhiều lắm thì nhận là không làm tròn trách nhiệm, không chú ý tới bản tấu chương quan trọng như vậy. Mà tới khi đó mình chắc chắn sẽ rất ảo não vì sao không xem toàn bộ tấu chương một lượt, đối với Tô Tú cũng không có gì để xử phạt.
Tính toán tốt đấy, Tô Tú thật đúng là hiểu mình.
Hiếu Đế thở dài một tiếng, thần tử của mình, giống như lão Cửu, Lư Sâm, Chu Diên Công vì sao lại không có nhiều thêm vài người nữa chứ? Trước đây Tiên đế vì ổn định sự nghiệp, về cơ bản sự tín dụng của quan lại đều là chọn từ trong vọng tộc địa phương. Nhận được sự ủng hộ của những đại hộ vọng tộc Sơn Tây, đối với sự ổn định đất nước khi đó cũng có tác dụng rất lớn.
Còn hiện giờ đã trôi qua 20 năm rồi, những người thế gia vọng tộc đó đối với cơ nghiệp của Bắc Hán cũng đã không có tác dụng ổn định nữa, mà là phá hoại! Những người này câu kết với nhau, bài trì dị kỷ. Họ coi thường những hàn môn tử đệ xuất thân khoa cử, xem thường chân tài thực học lại không phải là người xuất thân thế gia. Chu Diên Công chính là một ví dụ sống động.
Họ chỉ nghĩ làm thế nào ổn định lợi ích gia tộc, mà không ổn định cơ nghiệp Đại Hán. Từ khi Tiên tế lập quốc tới nay đã hơn 20 năm, quan lại từ ngũ phẩm trở lên không có ai xuất thân khoa cử! Điều đó cũng chính là nói, thực quyền của Bắc Hán đều nằm trong tay của những người gọi là thế gia vọng tộc.
Họ không muốn cùng Đại Hán chung hoạn nạn, cũng không thể cùng phú quý. Họ chỉ muốn làm thế nào để tăng thêm lợi ích của gia tộc mình, mà không phải là làm thế nào để cải thiện triều cục Đại Hán. Nhưng Hiếu Đế hiểu cục diện này, y bây giờ cũng không thể thay đổi được gì nữa. Những quan lại đó trong triều rắc rối khó gỡ, dựa vào nhau mà cũng căm thù nhau. Mặc dù sau khi lão Cửu trở về phối hợp với mình hạ được mười mấy quan lại không ra gì nhất. Nhưng đó là vì họ ngầm tư thông với giặc ngay cả Hoàng đế cũng dám bán đứng. Tiêu diệt được những thế gia vọng tộc như họ cũng không dễ dàng gì, qua một thời gian nữa, muốn động tới họ cũng khó.
Dù như vậy, khi Hiếu Đế ra tay cũng rất cẩn thận, y có thể chém đầu Tô Hổ Bào là vì Tô Hổ Bào sau khi Tiên đế đăng cơ mới mắt đầu phát tích. Bối cảnh gia tộc của ông ta không thâm hậu, hơn nữa còn có thể nói là gia tộc của ông ta là dựa vào một tay ông ta gây dựng lên. Còn Tô gia bản địa lại không giống với ông ta, người xuất thân võ phu chân đất. Nhân vật đại diện cho Tô gia bản địa là Tô Tú.
Còn thế lực của Âu Dương gia cũng lớn tương đương. Cho nên Hiếu Đế và Lưu Lăng sau khi bàn bạc với nhau, cuối cùng cũng chỉ là nói chuyện bãi quan Âu Dương Nhân Hòa. Rõ ràng nghi ngờ Tô Tú ngầm tư thông với Tây Hạ, nhưng bởi vì thế lực Tô gia quá lớn mạnh, cuối cùng cũng chỉ có thể tạm thời giả câm giả điếc mà thôi.
Tô Tú lúc này lại đưa ra một chiêu, Hiếu Đế làm sao lại không tức giận cơ chứ?
Y ngồi trên ghế oán hận nghĩ, Tô Tú ngươi không phải không muốn Trẫm đề bạt hàn môn đệ tử sao? Ngươi không phải sợ Chu Diên Công uy hiếp địa vị của ngươi sao? Vậy thì được, Trẫm sẽ ban cho Chu Diên Công một phần thưởng lớn!
Nghĩ tới đây, Hiếu Đế đich thân viết một chỉ ý. Chỉ ý này không giao lại cho phòng Quân Cơ định ra, mà là y đích thân viết đóng dấu. Ngẫm nghĩ lại sau đó tuyên Bùi Hạo, người cùng Lưu Lăng đi xuống phía nam đã trở về, tiến cung.
Từ sau khi Bùi Hạo trở về đã trở thành một người khác, có thể nói là chiến tranh đã khiến cho nội tâm của y có sự xung kích lớn. Y đã trở nên mạnh mẽ hơn, càng kiên cường hơn. Từ trên người y toát lên khí chất, có thể khiến cho người ta nhìn thấy rõ sự biến đổi lớn của y. Điều này giống như một con trùng kén, sau khi trải qua một trận mưa gió đã phá kén thành bướm.
Hiếu Đế đã đề bạt y làm Hình bộ Thượng thư, chủ quản công việc của Hình bộ. Mặc dù phụ thân của Bùi Hạo chỉ là một phú hào, nhưng Bùi gia ở Sơn Tây, thậm chí là đối với cả Trung Nguyên mà nói đều xem như là danh môn vọng tộc. Bùi gia Sơn Tây chẳng qua chỉ là một chi. Họ Bùi thế gia thực sự ở Đại Chu quốc phương nam. Với hai vị Hoàng đế tôn trọng võ công là Thái tổ Đại Chu Quách Uy và Thế Tông Sài Vinh, cũng không dám xem thường sự tồn tại của Bùi gia.
Đại Chu hiện giờ từ quan lớn tam phẩm trở lên, trong quan văn chí ít cũng có tới bốn người xuất thân từ Bùi gia. Còn võ tướng từ tứ phẩm trở lên, Bùi gia cũng có năm người.
Mặc dù chi này của Bùi Hạo gia là chi cuối, nhưng sức ảnh hưởng cũng không thể xem thường được.
Nhìn Bùi Hạo mặc trang phục quan văn tam phẩm, dù gầy gò không ít, nhưng tinh thần lại sáng lạng, Hiếu Đế hiểu ý mỉm cười.
- Trẫm có chuyện muốn khanh đi làm, người khác, Trẫm không tin tưởng.
Lời mở đầu của Hiếu Đế khiến Bùi Hạo kinh ngạc, trong lòng liền dâng lên niềm cảm kích vô cùng.
- Bệ hạ chỉ bảo vi thần, vi thần nhất định sẽ tận lực làm.
Bùi Hạo khom người nói.
Hiếu Đế mỉm cười nói:
- Khanh còn chưa biết Trẫm nhờ khanh làm gì, khanh đã long trọng như vậy sao?
Bùi Hạo trang trọng nói:
- Bệ hạ dặn dò, cho dù là chuyện gì, vi thần cũng đều tận lực làm.
Hiếu Đế hài lòng gật đầu, đem thánh chỉ vừa viết xong đóng dấu chuyển cho Bùi Hạo nói:
- Khanh xem qua cái này trước đi.
Bùi Hạo ngẩng đầu lên, không dám đón nhận.
- Bệ hạ có lẽ để vi thần đi tuyên chỉ? Không biết là vị đại nhân nào tiếp chỉ?
Hiếu Đế thấy y không nhận, cũng không thèm để ý, tiện tay đặt xuống bàn nói:
- Khanh bây giờ là Hình bộ Thượng thư, chuyện này vốn không nên giao cho khanh đi làm. Nhưng hiện giờ trong văn võ toàn triều này, Trẫm có thể tin tưởng được cũng không nhiều. Lời này Trẫm thực sự không nên nói, dù sao các khanh cũng đều là thần tử của Trẫm, người nghi ngờ không dùng, dùng người không nghi ngờ. Nhưng Trẫm lúc này thực sự là đã thất vọng quá rồi.
Hiếu Đế đập mạnh xuống bàn một cái, ngữ khí vẫn không hề thể hiện chút tức giận nào, mà phần nhiều là bất đắc dĩ.
- Khanh chọn một trăm thân tín từ bộ hình ra, mang thánh chỉ của Trẫm ra Thái Nguyên nghênh tiếp Chu Diên Công từ Tây Hạ trở về. Sau đó bất kể nơi gặp y là ở đâu, lập tức tuyên chỉ. Khanh sẽ giao một trăm thân tín đó lại cho Chu Diên Công, còn khanh thì hộ tống quốc thư và lễ vật của Tây Hạ trở về Thái Nguyên.
Hiếu Đế ngẫm nghĩ một hồi, lại nói tiếp:
- Nói cho Chu Diên Công biết, Trẫm đã tin tưởng hắn ta, để hắn ta buông tay đi làm, cho dù là xảy ra vấn đề lớn gì, Trẫm cũng đều đứng về phía hắn ta.
Y liếc nhìn thấy sự kinh ngạc trong mắt Bùi Hạo, liền cười giải thích:
- Trẫm định cho Chu Diên Công một tiến trình lớn, để hắn ta giúp Trẫm làm việc. Trẫm định phong Chu Diên Công làm Ngân Thanh Quang Lộc Đại Phu, kiêm Xu Mật Viện Sử, Lục Châu Tuần Án Chuyên Sử, giám sát đôn đốc sáu châu phương nam về vấn đề thiên tai.
Bùi Hạo ban đầu thì khiếp sợ, nghe Hiếu Đế nói xong đã từ khiếp sợ chuyển sang chết lặng người. Ngân Thanh Quang Lộc Đại Phu, kiêm Xu Mật Viện Sử là đại quan tam phẩm. Còn Lục Châu Tuần Án Chuyên Sử càng là quyền lợi lớn vô cùng. Đỡ đầu cái danh này, Chu Diên Công chính là có quyền lợi đôn đốc và giám sát quan viên, bổ nhiệm và bãi bỏ quan lại từ tứ phẩm trở xuống mà không cần xin chỉ. Còn việc giám sát và đôn đốc sáu châu phương nam về vấn đề thiên tai lại càng là miếng mồi béo bở.
Nếu muốn nhét đầy túi riêng, một vòng tuần tra cũng kiếm được chục vạn quan cũng không chừng.
- Kinh ngạc sao?
Hiếu Đế thấy rõ sự chấn động trong lòng Bùi Hạo.
Y liền cầm tấu sớ của Chu Diên Công dâng lên mình cho Bùi Hạo xem:
- Khanh xem cái này trước đi.
Lần này Bùi Hạo không từ chối, mà khom người hành lễ sau đó tiếp nhận. Bản tấu của Chu Diên Công không quá nghìn từ, nhưng lời ít mà nhiều ý. Mỗi câu đều chỉ rõ điểm căn bản của vấn đề. Bùi Hạo sau khi xem xong, không kìm nổi đập bàn tán dương.
- Ba cẩm nang diệu kế, hay cho một Chu Diên Công!
Bùi Hạo tán thưởng từ tận đáy lòng:
- Cả đời vi thần đến giờ khâm phục thứ nhất là Bệ hạ, thứ hai là Trung Vương, Chu Diên Công này là người thứ ba vi thần thực sự khâm phục.
Hiếu Đế đối với phản ứng của Bùi Hạo rất hài lòng, y gật đầu:
- Chu Diên Công quả thực là trụ cột của quốc gia. Khanh và hắn ta đều là nhân tài Trẫm trọng dụng. Bùi Hạo, khanh và Chu Diên Công đều là người tâm phúc của Trẫm chuẩn bị sắp xếp ở Quân Cơ Xứ, hai người các khanh không được phụ lại hy vọng của Trẫm.
Bùi Hạo gập đầu nói:
- Thần nhất định sẽ không phụ lại trọng dụng của Bệ hạ.
Sau khi ra khỏi cung, Bùi Hạo không dám chậm trễ. Hiếu Đế bố trí gấp như vậy, hơn nữa để Hình bộ Thượng thư mình chạy mấy trăm dặm đường tuyên chỉ, Hiếu Đế đang lo lắng điều gì, Bùi Hạo rất dễ hiểu ra.
Là có người sẽ ra tay với Chu Diên Công!
Mà vì bảo vệ Chu Diên Công, Bệ hạ mới có thể để một Thượng thư chủ quản hình sự mình đích thân đi truyền chỉ. Hơn nữa, còn phải dẫn theo một trăm thân tín cao thủ tới bảo vệ sự an toàn của Chu Diên Công, trong triều đình là ai muốn gây bất lợi cho Chu Diên Công?
Bùi Hạo nhíu chặt mày lại.
Để Bệ hạ đích thân hạ chỉ bảo vệ sự an toàn của một người, Chu Diên Công này rõ ràng đã được Bệ hạ xem trọng rồi. Mà còn có một người để Bệ hạ xem trọng muốn ra tay với Chu Diên Công, người này rốt cuộc là ai?
Người đầu tiên mà Bùi Hạo nghĩ tới là Trung Vương Lưu Lăng, liền lắc đầu thật mạnh. Mình liệu có phải là đầu óc bị chập rồi không? Lại có thể nghĩ ra được chuyện hồ đồ như vậy? Chu Diên Công là một tay Trung Vương đề cử, Chu Diên Công được trọng dụng trong lòng Trung Vương cũng vui mừng, vậy ai không vui?
Bệ hạ vừa rồi có nói muốn bố trí hai người mình và Chu Diên Công vào quân cơ, thay cho Tô Hổ Bào đã bị chặt đầu, và Âu Dương Nhân Hòa bị bãi chức. Theo lý mà nói Bệ hạ không nên nói ra chuyện này với mình, chuyện quan trọng như vậy Bệ hạ không thể tùy tiện nói ra được.
Cũng chính là nói, Bệ hạ nói tới Quân Cơ Xứ là có thâm ý.
Là Quân Cơ Xứ có người muốn gây bất lợi cho Chu Diên Công sao?
Chắc chắn không phải là Lư Sâm!
Bùi Hạo lần đầu tiên phủ nhận tính khả năng của Lư Sâm. Con người Lư Sâm Bùi Hạo rất kính phục. Hơn nữa ông ta vẫn là nhạc phụ tương lai của Trung Vương. Ông ta thì quả nhiên không thể tính toán tới Chu Diên Công của phủ Trung Vương đi ra, như vậy cũng chỉ còn lại một vị Đại học sỹ Tô Tú.
Bùi Hạo thở phào một cái, Hiếu Đế đã nhắc nhở y nhiều rồi, y chỉ cần sắp xếp ý nghĩ một chút, thì có thể suy đoán ra người đó.
Ra khỏi cung cấm, Bùi Hạo không trực tiếp trở về Hình bộ, mà cưỡi ngựa, đi thẳng tới phủ Trung Vương.
Đế Trụ
Tác giả: Trí Bạch
Vào sau mới là vương đạo.
(¯`'•.¸(¯`'•.¸† Chia sẻ bởi: BànLong.us †¸.•'´¯)¸.•'´¯)
Lưu Lăng đang trong thư phòng đọc ba bản tấu chương của Tiểu Lục Tử mang tới. Nếu nhị ca của hắn đã cho người mang tấu chương thẳng tới phủ hắn, hắn cũng không cần phải dùng lễ nghi phiền phức mà già mồm cãi láo. Đây là sự tín nhiệm của nhị ca hắn đối với hắn.
Bản tấu chương đầu tiên là liên quan tới tình báo của bên phía Đại Chu điều động quân đội. Tin tức như vậy Lưu Lăng sớm đã có được rồi, thậm chí còn tỉ mỉ hơn cả tấu chương này.
Người tâm phúc số 1 của quân Đại Chu hiện nay là Hữu Uy Vệ Đại tướng quân Mông Hổ. Con người này dù khi ở Chương Vũ vì khinh địch mà liều lĩnh bị Ngôi Danh Nẵng Tiêu hung hăng đánh một trận. Nhưng nói chung thì khả năng về mặt quân sự của y vô cùng xuất chúng. Nếu không phải y trấn thủ tốt Chương Vũ, thiết kỵ Tây Hạ không chừng còn có thể cướp đi ít nhiều địa bàn rồi.
Bởi vì khi ở Chương Vũ, về cơ bản Hữu Uy Vệ vốn đã bị lính Tây Hạ đánh cho tàn phế rồi. Hữu Uy Vệ mới tổ chức lại hiện đang tập kết ở gần Tấn Châu, do Mông Hổ đích thân luyện binh. Hữu Uy Vệ mới thành lập vẫn tổ chức theo cơ cấu ba vạn người, chỉ có điều những binh lính mới chiêu mộ này chưa qua khổ luyện một hai năm thì rất khó đạt được sức chiến đấu của binh lĩnh cũ.
Ch dù là Mông Hổ dùng khoảng thời gian một hai năm để luyện những tân binh này có thể đánh trận. Nhưng còn chưa nhìn thấy máu, tân binh mãi mãi cũng không thể trưởng thành được. Chính như ba vạn nhân mã của Lưu Lăng đi xuống phía nam, sống quay về được một vạn tám nghìn người đã hoàn toàn thoát thai hoán cốt. Mười tám nghìn người này kỳ thực không có hệ thống huấn luyện, nhưng mỗi người bây giờ đều đã có khí chất thiết huyết rồi.
Mà Mông Hổ chọn Tấn Châu để luyện tập tân binh Hữu Uy Vệ, kỳ thực không phải là vì Tấn Châu thích hợp luyện binh, mà phần nhiều là vì không phục. Đối với cuộc chiến tranh của Bắc Hán, y cũng không kịp tham gia, lúc dẫn nhân mã Hữu Uy Vệ chạy tới thì Lưu Lăng đã đánh cho hai mươi vạn đại quân dưới trướng Sài Vinh chạy trốn trối chết rồi.
Con người Mông Hổ này rất tự phụ. Y chưa từng giao đấu với Lưu Lăng, tuyệt đối không thể nhận thua. Hôm qua khi Lưu Lăng nhận được tin tức này, liền lệnh cho người sáu trăm dăm đưa thư cho Đỗ Nghĩa ở Đàn Châu. Nội dung bức thư là muốn Đỗ Nghĩa tăng cường phòng bị, đề phòng con người Mông Hổ này.
Địa điểm luyện binh của Mông Hổ chọn là Tấn Châu, vì muốn để tân binh luyện được tâm huyết, y chắc chắn sẽ gây chiến với quân Hán ở biên giới, sẽ không hưng binh khấu biên, nhưng các trận xung đột nhỏ tuyệt đối sẽ không thiếu được. Trong thư, Lưu Lăng còn nói cho Đỗ Nghĩa biết, chỉ cần Mông Hổ dám sai người tới biên giới gây sự, cũng không cần cố kỵ, tới bao nhiêu người thì giết chết bấy nhiêu người.
Mông Hổ muốn mượn xung đột để luyện binh, đó chính là muốn đám tân binh nếm thử hương vị của máu. Sức chiến đấu của tân binh có hạn, với thực lực quân Phủ Viễn hiện tại dạy dỗ một lũ tân binh hoàn toàn không cần tốn sức. Nếu Mông Hổ tự phụ, vậy thì đánh cho y tự phụ, chỉ cần đánh y nhiều lần, tân binh Hữu Uy Vệ mãi mãi đừng có mơ nâng cao được sỹ khí.
Ý của Lưu Lăng là muốn để nhân mã của Hữu Uy Vệ cứ nghĩ tới đánh trận là sợ.
Đã có sự bố trí, cho nên tấu chương này Lưu Lăng chẳng qua là xem qua chút, lát nữa sau khi vào cung sẽ bẩm báo thật sắp xếp của mình cho Hiếu Đế nghe. Dù sao chức vị Lục châu binh mã sứ mình cũng đã nhận rồi, chỉ thị cho Đỗ Nghĩa hắn cũng không phải là có chút vượt quyền nào.
Tấu chương thứ hai là liên quan tới Khâm sai Đại Liêu sắp tới Thái Nguyên Phủ thu nhận cống nạp. Chuyện này trước khi Lưu Lăng đi xuống phía nam đã nghĩ xong cách ứng phó rồi. Đương nhiên cũng không cần quá quan tâm, chỉ cần Khâm sai Liêu quốc tới Thái Nguyên, Lưu Lăng đương nhiên sẽ có cách để hắn ta ra về tay không.
Hơn nữa còn chuyện Tây Hạ muốn chỗ tốt, sau khi Lưu Lăng suy xét cẩn thận chỉ mỉm cười. Hắn đưa ra đề nghị với Hiếu Đế chính là bốn chữ, vắt chày ra nước.
Quan điểm này thật ra cũng không có suy nghĩ khác biệt với Chu Diên Công. Lưu Lăng tin tưởng Quốc chủ Tây Hạ Ngôi Danh Nẵng Tiêu không thể là người có tầm nhìn hạn hẹp. Con người này đơn giản chính là muốn thăm dò thái độ của Bắc Hán, kiên cường một chút cũng không phải là điểm xấu. Ngược lại càng yếu thế, hậu quả sẽ càng không thể khống chế được.
Xem xong ba tấu chương, Lưu Lăng liền duỗi thẳng lưng ra, thấy thời gian cũng đã không còn sớm nữa, do đó đã gọi Liễu Mi Nhi thay quần áo theo mình vào cung cấm.
Nghe nói Hoàng đế Bệ hạ điểm danh muốn mình vào hoàng cung, trong lòng Liễu Mi Nhi liền thấy thấp thỏm không yên. Nàng không phải là một người phụ nữ ngốc nghếch, hôn sự của Lư Ngọc Châu và Vương gia nàng cũng biết, trong lòng khó tránh khỏi có chút ghen tức. Nhưng nàng cũng biết đây là mệnh lệnh của Hoàng đế, Vương gia cũng không thể ngăn cản được.
Huống hồ, khi biết Lư Ngọc Châu ngàn dặm xa xôi tới Ngọc Châu vì Vương gia, Liễu Mi Nhi đối với vị đại tiểu thư của Lư phủ nhỏ hơn mình nửa tuổi này, càng thấy kính phục. Nàng thường nghĩ, nếu nàng và Lư Ngọc Châu đổi vị trí cho nhau, liệu mình cũng có dũng khí vượt ngàn dặm đuổi theo?
Nàng biết đáp án, cho nên mới càng khâm phục Lư Ngọc Châu hơn.
Nàng cũng biết Hoàng đế Bệ hạ vì sao lại muốn Vương gia đưa mình vào cung. Nàng đã chuẩn bị tốt tâm lý rồi. Với thân phận của nàng, có thể nhận được sự sủng ái của Vương gia, còn gì xa xỉ hơn nữa. Cũng đã từng có khi nàng ảo tưởng có một ngày nào đó Vương gia nạp nàng vào một phòng tiểu thiếp, như vậy cũng xem như là bay lên đầu cành làm phượng hoàng rồi. Nhưng từ sau khi thân mật da thịt với Vương gia, ý nghĩ này đã dần nhạt đi.
Cái gì mà thân phận hay không thân phận, chỉ cần mỗi ngày đều có thể nhìn thấy Vương gia, là đủ rồi.
Từ sau khi Vương gia trở về, những ngày này hai người hàng đêm đều ôm nhau ngủ. Mỗi lần Vương gia đòi hỏi, nàng đều động tình phối hợp. Nàng biết mình đang mong mỏi điều gì, nàng khao khát mang thai một sinh mệnh nhỏ của Lưu gia. Hàng đêm, hai người đều triền miên khiến cho nàng như si mê như say sưa, khó mà tự kiềm chế.
Dưới cái nhìn chăm chú của Lưu Lăng, mặt Liễu Mi Nhi đỏ lên khi thay quần áo. Nàng mặc váy dài màu xanh biếc vừa mới tháo xuống một nửa, đôi tay ma mãnh luồn lách trên người nàng đến đỉnh của hai tòa nhũ phong cao ngất đó. Động tác ma mãnh thuần thục, sờ nắn hai quả nho đã ngày càng thuần thục.
Ngón tay nhẹ nhàng vân vê, cái cảm giác đó khiến cho Lưu Lăng vừa say sưa vừa si mê.
Mặc dù Liễu Mi Nhi đã không còn là thiếu nữ ngây thơ lần đầu tiên trải qua chuyện đó, nhưng Lưu Lăng vuốt ve mạnh dạn như vậy cũng khiến nàng khó mà thích ứng. Hơn nữa cái dáng vẻ Vương gia bất lương này căn bản là không thèm để tâm tới lời thánh nhân dạy bảo ban ngày không thể tuyên dâm. Hắn muốn là động tình … Liễu Mi Nhi đến giờ vẫn vì chuyện giao hợp mạnh bạo trên thảm cỏ ở hoa viên đó mà đỏ ran mặt lên.
Thấy bàn tay ma quái đó di chuyển tới cặp mông nhẵn nhụi của Liễu Mi Nhi, bỗng nhiên luồn vào đám cỏ đó sờ soạng. Liễu Mi Nhi bỗng hoảng hồn:
- Vương gia … chúng ta còn phải vào cung … Bệ hạ … ừ … Bệ hạ đang chờ chúng ta.
Âm thanh mất hồn được phát ra từ mũi Liễu Mi Nhi, không thể nghi ngờ chính là một liều thuốc kích tình. Động tác trên tay Lưu Lăng càng ngày càng mạnh bạo, càng ngày càng kịch liệt. Hắn đứng phía sau Liễu Mi Nhi, cúi người xuống hôn nhẹ lên chiếc cổ nhẵn nhụi của nàng, đầu lưỡi lướt qua tấm lưng trơn mịn của nàng, để lại một đường mờ mờ.
Cảm thấy hơi thở của người đàn ông phía sau gấp gáp, cảm thấy dục vọng nóng bỏng của người đàn ông phía sau, tim Liễu Mi Nhi đập loạn xạ. Nàng thích cùng Vương gia làm chuyện thân mật này, thích Vương gia yêu thương từng tấc da thịt của mình, càng thích Vương gia ôm nàng vào trong lòng.
Dần dần, ngón tay Lưu Lăng cảm nhận được sự ẩm ướt, Liễu Mi Nhi đã được Lưu Lăng dạy dỗ dưới sự âu yếm yêu thương của Lưu Lăng cũng đã động tình. Dòng nước ướt át đó chính là lời tố cáo nàng. Bọt nước trong suốt trên thảm cỏ rậm rạp đó, phong cảnh mê đắm lòng người.
Ngón tay Lưu Lăng linh động phá lệ, chuyển lên khe suối dưới ngọn núi đó. Ngón tay hắn rất thô, luyện võ thời gian dài đã khiến cho tay hắn cũng không còn mềm mại nữa, mà cũng chính vì như vậy, cảm giác của Liễu Mi Nhi mới ngày càng mãnh liệt, ngày càng khó mà tự chủ được.
Ngón tay đó như giao long, luồn lách trong thủy liêm động.
- Ừ …
- Vương gia … Mi Nhi xin người dừng tay, mau chút …
Lưu Lăng ôm chặt lấy nàng từ phía sau, môi áp sát dái tai Liễu Mi Nhi khẽ hỏi:
- Vẫn dừng tay? Hay là nhanh hơn?
Liễu Mi Nhi mi thái như hỏa, quay người lại ôm lấy Lưu Lăng. Môi hai người chạm vào nhau, cuồng nhiệt đáp ứng lẫn nhau. Đầu lưỡi nàng khéo léo quấn quanh trong miệng Lưu Lăng, trêu trọc dục hỏa của Lưu Lăng.
Cuối cùng, Lưu Lăng cũng không nhẫn nại được nữa đã cởi bỏ quần áo trên người xuống, đưa tay ra kéo chiếc váy dái trên mông Liễu Mi Nhi xuống. Liễu Mi Nhi ưm một tiếng, xấu hổ vô cùng. Mặc dù nàng biết thư phòng của Lưu Lăng rất an toàn, đám người hầu không thể vào được, nhưng chuyện nam nữ làm giữa ban ngày ban mặt như vậy, một thiếu nữ 17 tuổi như nàng sao có thể thoải mái được?
Nhưng Liễu Mi Nhi biết Lưu Lăng thích nhất là tiến vào từ phía sau, cho nên dù nàng xấu hổ cũng vẫn ngoan ngoãn cúi người xuống. Hai cánh tay vịn lên đầu giường, thân trên cúi thấp xuống, nâng cao cặp mông tròn trịa đó lên. Mông nàng rất đẹp, hai đường cong hoàn mỹ khiến cho huyết mạch người ta sôi trào.
Làn da trắng nõn, cặp mông đầy đặn mà không mất đi sự đàn hồi, Lưu Lăng nhìn đám tuyết trắng đó, lại càng không thể kìm nén nổi dục hỏa của mình.
Ôm lấy vòng eo tuyệt đẹp của Liễu Mi Nhi, nhẹ nhàng tách đôi chân thon dài thẳng tắp của Liễu Mi Nhi ra. Hắn ngả người về phía trước, tìm kiếm đào nguyên bí động khiến người ta si mê đó. Bởi vì nóng vội, vài lần lỗ mãng đều không thể đi vào, Liễu Mi Nhi đưa bàn tay ngọc của mình vào giữa hai chân, đỡ lấy hỏa nhiệt đó đặt đúng địa điểm.
Lưu Lăng ngả người về phía trước, kêu khẽ một tiếng giống như dã thú được phát ra từ cổ họng hắn.
Ấm áp, chặt hẹp, cảm giác đó khiến người ta say mê.
Liễu Mi Nhi tận hưởng sự tấn công từ phía sau, hai cỗ xác thịt phát ra âm thanh va vào nhau ba ba ba cùng với tiếng rên rỉ của nàng trong phòng rất rõ ràng. Trước đây, Liễu Mi Nhi chưa từng thấy mình lại là một người phụ nữ to gan như vậy, lại say mê chuyện nam hoan nữ ái như vậy.
Lưu Lăng ra sức xung kích, động tác của hắn kịch liệt mà lại nhanh. Mỗi lần va chạm đều khiến cho Liễu Mi Nhi không khỏi tự chủ mả rên rỉ thành tiếng. Tiếng rên rỉ ấy càng khiến cho người ta thấy ngứa ngáy khó chịu. Từ phía nam trở về nhiều ngày như vậy, hàng ngày hai người đều có cơ hội gặp nhau. Dù như vậy, Lưu Lăng vẫn rất si mê Liễu Mi Nhi.
Cơ thể Liễu Mi Nhi ngày càng mềm ra, hai cánh tay cũng dần không thể chống nổi thân mình. Đôi chân thon dài của nàng cũng dần cong lại, một dòng suối róc rách cũng theo cặp đùi nhẵn mịn của nàng từ từ chảy xuống. Nàng lao lên giường, tiếng rên rỉ cũng có chút khàn khàn. Thân thể đã hoàn toàn mấy đi khí lực. Nếu không phải Lưu Lăng phía sau đỡ lấy bờ eo của nàng, chỉ e là nàng đã mềm nhũn mà ngã xuống đất rồi.
Cũng không biết là bao lâu, cùng với tiếng rên rỉ khàn khàn của Lưu Lăng, một dòng lửa nóng xông vào bên trong cơ thể Liễu Mi Nhi. Cơ thể nàng run rẩy, cơ thể vốn đã bị mất đi khí lực dường như được nguồn điện, run lên từng hồi. Tóc nàng bị mồ hôi dính chặt vào tấm lưng trắng nõn của nàng, giống như quốc họa xuân sắc dưới ngòi bút của đại sư.
Đế Trụ
Tác giả: Trí Bạch
Đau lòng.
(¯`'•.¸(¯`'•.¸† Chia sẻ bởi: BànLong.us †¸.•'´¯)¸.•'´¯)
Ra khỏi Thái Nguyên về phía tây chưa đầy hai trăm dặm, là đã ra khỏi đất Bắc Hán. Chính là trong thời loạn thế như vậy, Bắc Hán là một quốc gia có sự sinh tồn mạnh mẽ, quật cường. Có lẽ sự tồn tại không đủ để tự hào, nhưng sức sống ngoan cường của nó khiến người ta thán phục. So với ba nước Liêu, Hạ, Chu thì Bắc Hán có thể nói là tìm kiếm sự sinh tồn trong ngõ hẹp giữa ba đại quốc siêu cấp, đã không chỉ là nghị lực có thể duy trì.
Đặc biệt là một quốc gia nhỏ bé diện tích không bằng Đại Chu như Bắc Hán vậy lại có thể đánh tan hai mươi vạn hùng sư Đại Chu xâm lược. Điều này đã được xưng tụng là hành động vĩ đại rồi. Mà chủ nhân tạo ra kỳ tích này là Trung Vương Lưu Lăng, hiện đang cùng đương kiêm thiên tử Hiếu Đế Lưu Trác của Bắc Hán ăn cơm.
Đồ ăn rất đơn giản, nếu chỉ là nhìn thức ăn đặt trên bàn thì bất luận thế nào cũng không thể thấy được đây là ngự thiện cung đình, bốn món ăn một món canh, chính là gia chủ của một đại hộ bình thường dùng bữa cũng còn xa xỉ hơn cả Hoàng đế. Người giàu có nhất Thái Nguyên là Tạ Vạn Tài, thể hiện ra ngoài là một người mộc mạc, nhưng có kẻ nói chi phí mỗi bữa cơm của ông ta đều không dưới ba lượng bạc.
Có người nói, ba lượng bạc không nhiều sao? Không ít, quả thực không ít. Không nói tới thời loạn thế bạc quý đồng tiện, vào thời kỳ phát triển của triều Đường một quan tiền lớn tương đương với một lượng bạc. Nhưng hiện giờ ngươi chính là lấy ra một nghìn ba trăm tiền đồng đều không thể đổi được một lượng bạc.
Ở Bắc Hán thì càng kỳ quái hơn, hai quan tiền đồng chưa chắc đã đổi được một lượng bạc. Nguyên nhân tạo thành sự quy đổi kỳ quái như vậy đầu sỏ là Hoàng đế khai quốc Bắc Hán Lưu Nghiệp. Khi ông tại vị đã đúc lượng lớn tiền đồng, mà bởi vì sản lượng đồng không đủ, cho nên trong việc chế tạo tiền của Bắc Hán đã kèm thêm lượng lớn kim loại khác. Tiền đồng vốn nên là màu vàng da cam, giờ thoạt nhìn là một màu vàng nhạt của bệnh trạng, có thể thấy rõ lượng lớn tạp chất trong đó.
Khả năng mua bằng tiền đồng của Bắc Hán cũng thấp, cho nên mới có thể xuất hiện việc quy đổi tiền đồng gấp đôi. Bạc thì lưu thông cứng nhắc, khác xa việc chào đón việc đúc tiền của những năm Càn Hữu. Căn cứ vào mức sống của người dân bình thường Bắc Hán, ba lượng bạc đủ cho một hộ dân bình thường chi tiêu trong nửa năm. Đây là điều kiện sống trong Thái Nguyên Phủ. Nếu ở nơi khác, ba lượng bạc có thể nuôi sống một gia đình một năm ăn no mặc ấm.
Còn bây giờ Hiếu Đế mời Lưu Lăng bữa cơm này lại một đồng tiền cũng không tốn, chí ít bên ngoài cũng xem như là như vậy. Rau là Hiếu Đế lệnh người tự trồng trên đất của mình ở phía sau hậu cung. Thịt là gia súc của mười mấy thái giám của ngự thiện phòng nuôi. Mùa đông tới có thể ăn được loại rau mà mình trồng, nhờ vào sự bác học của Lưu Lăng. Nhưng mỗi khi Hiếu Đế khen ngợi sự giúp đỡ của Lưu Lăng ở phương diện này, Lưu Lăng lại hầu như làm ra vẻ của kẻ trộm. Dù sao thì vẫn là kỹ thuật được dùng từ hậu thế, Lưu Lăng cũng không dám kể công.
Chính là một bữa cơm đơn giản như vậy, có lẽ nếu là đặt ở Đại Chu, Nam Đường, thức ăn của Hoàng đế Bệ hạ đơn giản như vậy đều sẽ trở thành chuyện nghìn lẻ một đêm.
Bởi vì cũng coi là bữa liên hoan gia đình, cho nên thê tử của Hiếu Đế, Hoàng hậu nương nương của Bắc Hán Tô Tiên Lê cũng đang ngồi. Tô Tiên Lê hóa ra vốn là cháu gái của Đại tướng quân Thượng Trụ quốc Tô Hổ Bào. Đây là một người con gái rất hiểu đại nghĩa. Khi Hoàng đế hạ chỉ tịch thu tài sản giết kẻ phạm tội cả nhà Tô Hổ Bào, nàng không hề nói một câu nào.
Nàng và Hiếu Đế hai người xem như là phu thê hoạn nạn. Nàng đã sinh cho Hiếu Đế một người con gái và một con trai. Con gái lớn Lưu Mặc Ngữ đã 8 tuổi, Thái tử Lưu Lập năm nay mới hơn 3 tuổi, đúng thời điểm đáng yêu nhất, giống như phấn điêu ngọc mài vậy. Khi đi đường giống như chú vịt nhỏ béo ục ịch, luôn khiến cho người ta vui cười.
Cũng chỉ có những lúc nhìn thấy con trai con gái mình, lông mày Hiếu Đế Lưu Trác mới giãn ra. Y lâm nguy đăng cơ, lo lắng hết lòng, lòng ôm chí lớn, lại không thể đại triển quyền cước.
Con gái Mặc Ngữ đã hiểu chuyện, biết Phụ hoàng và Hoàng thúc còn có chuyện muốn nói với nhau, do đó đã bế đệ đệ của mình đi ra ngoài chơi. Trong phòng chỉ còn lại bốn vị đại nhân, bỗng chốc tiếng cười cũng dừng lại.
Tô Tiên Lê đứng dậy đích thân rót cho Lưu Lăng một ly rượu. Lưu Lăng liền đứng lên khom người thi lễ:
- Tạ Hoàng hậu.
Tô Tiên Lê không để ý tới sự ngăn cản của Lưu Lăng, rót đầy ly rượu cho Lưu Lăng, nói:
- Hôm nay không có Hoàng đế Hoàng hậu gì hết, là ca ca tẩu tẩu mời đệ tới ăn cơm mà thôi. Lẽ nào làm chị dâu rót cho đệ ly rượu cũng không được sao? Hôm nay bỏ hết những quy củ rối rắm đó sang một bên đi, đệ trong đại chiến sinh tử thiên quân vạn mã đều chưa từng nhíu mày, lại sợ tẩu rót rượu cho sao?
Lưu Lăng cười khổ nói:
- Hoàng hậu nói đùa, trong đại chiến sinh tử thiên binh vạn mã, lông mày đệ còn nhíu chặt hơn bây giờ.
Lưu Trác cười nói:
- Cứ nghe theo lời tẩu tẩu đệ đi. Hôm nay chỉ là một nhà đoàn tụ ăn bữa cơm rau dưa. Nếu đệ còn lầm bà lầm bầm nữa ta sẽ đuổi đệ ra ngoài đấy, Mi Nhi ba người chúng ta cùng ăn.
Liễu Mi Nhi thì được Hoàng hậu Tô Tiên Lê ấn ngồi xuống ghế. Lúc này nàng sợ hãi quả thực là muốn chạy một mạch về nhà. Mặc dù đang ngồi đó, nhưng khắp người từ trên xuống dưới đều không có chỗ nào tự tại, chỉ cảm thấy ăn cũng không phải, không ăn cũng không được, trong lòng lo lắng bồn chồn.
Dù sao thì nàng cũng đã từng là cung nữ trong cung, đối với Hoàng hậu và Hoàng thượng có chút sợ hãi và tôn kính gần như là thành bản tính rồi. Nỗi sợ hãi này nàng không thể khắc phục được, đã ăn sâu vào xương tủy rồi. Nhưng càng như vậy, Tô Tiên Lê lại càng cố ý thể hiện sự hòa hợp với nàng. Ngược lại càng thể hiện rõ vẻ cao cao tại thượng. Hiếu Đế Lưu Trác rất muốn ngồi xuống đều có thể có được cảm giác của người một nhà. Cái nhà này không bao gồm hoàng gia, mà chỉ muốn là gia đình bình thường.
Cũng không thể nói chuyện như mong muốn, nhưng ở thời đại này thì dù là Lưu Lăng cũng không thể làm những gì mình muốn được, càng huống hồ Liễu Mi Nhi xuất thân ti tiện? Liễu Mi Nhi ở trong cung làm tì nữ không phải một hai ngày. Hoàng hậu nương nương đã mang lại áp lực cho nàng giống như ngọn núi, thậm chí là còn nặng hơn cả Hoàng đế Bệ hạ.
Còn Tô Tiên Lê thì dường như là không thấy được sự e dè của Liễu Mi Nhi. Sau khi vừa rót rượu cho Lưu Lăng xong lại quay sang rót rượu cho Liễu Mi Nhi, dọa Liễu Mi Nhi liền nhổm người khỏi ghế không biết làm thế nào. Nàng muốn hành quỳ lễ tạ, nhưng Hiếu Đế và Hoàng hậu đều đã nói trước rồi, hôm nay ai cũng không được phép hành đại lễ quân thần. Nhưng để Hoàng hậu nương nương rót rượu cho mình, nỗi sợ hãi trong lòng nàng giống như là đê Hoàng Hà nước dâng lên không thể cứu vãn được nữa.
Mặt Liễu Mi Nhi bỗng nhiên tái đi, sau đó lại đỏ bừng lên sợ hãi. Nàng vừa sợ vừa kinh vừa thẹn, càng không nói tới dũng khí từ chối ý tốt của Hoàng hậu nương nương. Nàng đứng như vậy liên tục xua tay, co quắp giống như một chú thỏ trắng bị con sói ngăn ở trong hang vậy.
Hiếu Đế thấy bộ dạng cử chỉ thất thố của Liễu Mi Nhi, liền nhíu mày, nhưng rất nhanh đã giãn ra. Thoáng chốc, y nghĩ đến một người con gái ti tiện như vậy thật sự có xứng đôi với cửu đệ của mình không? Chẳng quản họ Lưu này của mình liệu có phải thực sự là hậu duệ của Đại Hán không, hay là di mạch của Hung Nô, dù sao hiện giờ họ Lưu này cũng là họ của Đế Vương rồi.
Mà Liễu Mi Nhi xem như là được sự sủng ái của cửu đệ cũng chẳng qua là tì nữ từ trong cung đi ra, e là cửu đệ dù chỉ cho nàng một thân phận thị thiếp, cũng là ô nhiễm huyết thống của hoàng tộc rồi. Chỉ là y không nghĩ tới trong trường hợp này thể hiện suy nghĩ thực sự của mình, như vậy lão cửu liệu có thể xuống đài không?
Làm Hoàng đế, y không muốn cửu đệ mình nể trọng nhất lại cưới một người phụ nữ có thân phận như vậy. Nhưng là huynh trưởng, y lại thực sự không nhẫn tâm chia rẽ uyên ương.
- Hoàng hậu rót rượu cho nàng, đây là vinh quang lớn thế nào rồi? Còn không tạ ân?
Lưu Lăng cười nói.
Vẻ mặt hắn rất sung sướng, dường như là bị chân tay luống cuống của Liễu Mi Nhi làm cho buồn cười. Từ nụ cười như ánh mặt trời trên mặt hắn có thể thấy, hắn không ngại Tô Tiên Lê thân là Hoàng hậu cố ý gây khó dễ Liễu Mi Nhi. Có lẽ, với tâm lý thẳng thắn trung hậu của hắn căn bản không thể nhìn thấy được dụng ý của Hoàng hậu nương nương. Chỉ là chủ định ai cũng không thể nhìn thấy được, phía sau nụ cười của Lưu Lăng còn ẩn chứa nỗi lo lắng và sự bi thương khó mà nói được thành lời.
- Tạ ân điển Hoàng hậu.
Cuối cùng Liễu Mi Nhi cũng vẫn quỳ xuống hành lễ. Tô Tiên Lê rất phóng khoáng đích thân đỡ nàng đứng lên vẻ mặt tươi cười nói:
- Đã nói rồi hôm nay chỉ có người nhà không có quân thần, sao ngươi còn hành đại lễ chứ? Liệu có phải lời của Bệ hạ và bổn cung ngươi không thèm để ý tới chăng? Chỉ quan tâm tới lời của Vương gia nhà ngươi?
Lời này nghe ra thì không có ác ý, giống như là một đại tỷ dịu dàng đang trách tiểu muội muội của mình không hiểu chuyện. Nhưng, sau khi nàng ta nói xong lời này cả người Liễu Mi Nhi bất giác khẽ run lên. Nàng ngẩng đầu lên, khẽ nói:
- Nô tì thân phận thực sự không thể cùng Bệ hạ, nương nương, Vương gia ngồi cùng chiếu. Nếu Bệ hạ, nương nương không ngại, nô tì nên đứng phía sau hầu hạ.
Tô Tiên Lê vừa muốn ngăn Liễu Mi Nhi rời tiệc, Lưu Lăng liền trước một bước nói:
- Cũng được, nếu không nàng co quắp như vậy cũng không ăn được gì, còn ảnh hưởng tới Bệ hạ và Hoàng hậu. Nhưng trước tiên uống cạn ly rượu mà Hoàng hậu đã rót cho nàng đã, cẩn thận chút, trong Đại Hán quốc chúng ta người có phúc có thể uống được ly rượu mà Hoàng hậu đích thân rót, tuyệt đối không quá năm đầu ngón tay đâu.
Lưu Lăng cười vui vẻ, chỉ có điều hắn đã dùng ngữ khí có chút mệnh lệnh.
Liễu Mi Nhi trong lòng thở phào nhẹ nõm, đứng lên nâng ly rượu uống cạn, sau đó lại một lần nữa quỳ xuống tạ ơn, động tác cẩn thận tỉ mỉ, thành tâm giống như tham bái chư thiên thần Phật.
Tô Tiên Lê liếc nhìn Lưu Lăng, đã thu lại lời nói bên miệng lại. Nàng ta bật cười ha hả nói:
- Nói cho cùng ngươi vẫn là người hầu của Vương gia, vẫn là lời của Vương gia nhà ngươi còn hơn cả lời của Hoàng hậu ta. Nếu Vương gia nhà ngươi đã nói rồi, ta cũng không làm khó ngươi nữa.
Trong lòng Liễu Mi Nhi rất đau xót, bởi vì nàng đã nghe ra khi Tô Tiên Lê nói tới hai từ người hầu đã nhấn mạnh ngữ khí.
Hiếu Đế liếc nhìn sắc mặt của Lưu Lăng, lập tức hắng giọng nói:
- Vốn cho rằng mấy người chúng ta có thể giống như người một nhà bình thương ăn chung một bữa cơm thường, xem ra vẫn có chút khó rồi. Ha ha, Trẫm làm Hoàng đế lại không có lạc thú cuộc sống của người dân bình thường, không biết là được hay mất?
Thần mắt của Lưu Lăng tối lại, nhưng lại cười nói:
- Nhị ca ngày thường cũng quá mệt mỏi rồi, chuyện triều chính chuyện quốc gia đều đè nặng lên vai nhị ca, chỉ ngóng trông nhị ca có thể thư giãn tu dưỡng, không cần mệt mỏi tới tấm thân.
Hắn nâng ly rượu lên, trang trọng nói:
- Vì Bệ hạ thọ mệnh.
Hiếu Đế mỉm cười nâng ly rượu lên nói:
- Vì vạn dân thọ.
Hai người cùng uống cạn ly rượu. Tô Tiên Lê mỉm cười uống một ngụm. Liễu Mi Nhi đứng xa xa bên ngoài khom người rót đầy ly rượu cho mọi người, chỉ có chút rời khỏi bàn rượu áp lực của nàng mới giảm nhẹ đi một chút. Từ sau khi bất an ngồi trên bàn ăn, Hoàng hậu bắt đầu khen ngợi vẻ đẹp của nàng, lại từng câu đều có ý mà lại như vô ý nhắc tới thân phận của Liễu Mi Nhi. Ý tứ trong và ngoài lời nói cho dù là kẻ ngốc cũng hiểu.
Nàng cảm thấy bi thương trong lòng, hóa ra hai người bên nhau cũng là một chuyện đau khổ. Mặc dù trước đây nàng đã ngầm đoán được tình cảnh hiện nay, nhưng nghĩ lại ngay cả Hoàng đế, Hoàng hậu cũng đều đích thân đứng ra ngầm ám chỉ điều gì, thấy trong mắt họ mình thực sự không phải là tì nữ bình thường. Vừa nghĩ tới sự miệt thị của Hoàng đế quăng tới có mà như không có, sự bài xích trong lời nói của Hoàng hậu, Liễu Mi Nhi ngay cả ấm ức cũng không cảm thấy, càng đừng nói gì tới cái gì là sỉ nhục. Đôi khi chỉ là nỗi đau trong lòng.
Đế Trụ
Tác giả: Trí Bạch
Gió xuân tháng ba.
(¯`'•.¸(¯`'•.¸† Chia sẻ bởi: BànLong.us †¸.•'´¯)¸.•'´¯)
Bữa cơm này cuối cùng cũng đã thay đổi hương vị. Liễu Mi Nhi đều có thể thấy rõ ý tứ của Hoàng thượng và Hoàng hậu, càng huống hồ là Lưu Lăng? Chỉ là để Hiếu Đế và Tô Hoàng hậu thất vọng, dù hai vợ chồng họ làm thế nào ngầm ám chỉ, thậm chí là chỉ rõ, Lưu Lăng cũng đều có bộ dạng bật cười ha hả từ chối cho ý kiến.
Thái độ như vậy khiến cho Hiếu đế và Tô Hoàng hậu đều rất thất vọng. Hôm nay họ mời Lưu Lăng và Liễu Mi Nhi tới ăn cơm mục đích chính là dằn mặt Liễu Mi Nhi một chút. Dù sao thì không bao lâu nữa ái nữ của Lư Sâm, nghĩa muội của Hoàng đế Bệ hạ Lư Ngọc Châu cũng sẽ gả cho Lưu Lăng làm chính thê. Vị trí Trung vương phi đường đường vẫn là người phụ nữ danh môn vọng tộc đến đảm đương.
Sở dĩ y làm như vậy là vì nghe thấy không ít lời đồn về Lưu Lăng và Liễu Mi Nhi. Lần trước Lưu Lăng vì cứu Liễu Mi Nhi mà suýt chút nữa đã trúng độc chết, chuyện ồn ào này đã khiến cho Hoàng đế Lưu Trác không tiện hỏi tới chuyện nhà của Lưu Lăng. Nhưng Lưu Lăng là trụ cột của Bắc Hán, là bức bình phong của giang sơn họ Lưu. Nếu vì một tì nữ không đáng mà có bất kỳ tổn thất nào thì quá oan uổng.
Xa thì không nói, dù sao hôn sự lúc đó Lưu Lăng và Lư Ngọc Châu cũng chưa rõ ràng. Nhưng bây giờ đã khác rồi, Lưu gia và Lư gia đều khua chiêng gõ trống rùm beng cho hôn sự lần này ở thành Thái Nguyên cho tới cả nước rồi. Mà Lưu Lăng thì hàng ngày đều muốn gọi tiểu tì nữ Liễu Mi Nhi tới thư phòng sủng hạnh, truyền tới tai tiểu thư nhà Lưu gia dù sao cũng không dễ lọt tai.
Là huynh trưởng và chị dâu của Lưu Lăng, họ tuyệt đối không thể ngồi nhìn tì nữ cỏn con làm lớn trong Vương phủ Lưu Lăng được. Nàng có thể nghỉ đêm ở thư phòng mà ban ngày Lưu Lăng xử lý việc công, khó mà đảm bảo không ỷ vào sự sủng ái phóng túng của Lưu Lăng mà làm càn. Nếu tiểu thư Lư gia gả tới mà bị một tiểu nha hoàn làm cho tức giận, như vậy thì mặt mũi của người làm mai Hiếu Đế cũng chẳng còn ra gì nữa.
Mặc dù đối với tiểu nha đầu Liễu Mi Nhi này, Hiếu Đế ít nhiều cũng có chút hiểu, ban đầu khi Lưu Lăng sống trong thiên lao hai năm không có sinh hoạt điều độ, chính là tiểu nha đầu này một tấc cũng không rời bên cạnh hắn. Lòng người đều là thịt, Lưu Lăng động lòng với nàng cũng là chuyện thường tình của con người.
Nhưng Lưu Lăng có thể hồ đồ, nhưng Hiếu đế thì không thể hồ đồ. Y không thể nhìn Lưu Lăng từng bước từng bước đi xa thân phận địa vị của hoàng gia. Nếu Lưu Lăng khư khư cố chấp cưới tiểu tì nữ này làm chính thê, mặt mũi hoàng gia cũng không còn chút nào nữa. Quần thần ngoài miệng không nói gì, nhưng trong lòng lại đang cười nhạo Trung Vương, cười nhạo Đế Vương gia.
Cho dù là Lưu Lăng không cưới Liễu Mi Nhi làm chính thê chỉ là cho nàng một thân phận tiểu thiếp, cũng khó mà bảo đảm nàng sẽ không ỷ vào sự sủng ái của Lưu Lăng mà xỏ vào giày của Lư Ngọc Châu. Bệ hạ đích thân làm mai, Lư Ngọc Châu không những là con gái của Tể tướng, mà còn là nghĩa muội của Bệ hạ, thật sự bị một tiểu tì nữ ức hiếp thì quả đáng chê cười.
Lưu Lăng có thể muốn yêu thì yêu không quan tâm, nhưng Hiếu Đế thì không thể.
Cũng khó cho hai vợ chồng họ, một người là Đương kim thiên tử cửu ngũ chi tôn, một người là Mẫu nghi thiên hạ đứng đầu hậu cung, phải hạ mình dùng phương thực này để ngầm ám chỉ với Liễu Mi Nhi.
Lưu Lăng không phải là tên ngốc, không thể không hiểu ý tứ của Hiếu Đế và Tô Hoàng hậu. Nhưng hắn cũng không thực sự thể hiện điều gì, cho dù là trên bàn rượu dùng khẩu khí mệnh lệnh để Liễu Mi Nhi hầu hạ, nhưng trong lời nói của hắn cũng có chút nhẹ nhàng. Điều này khiến cho Hiếu Đế rất lo lắng. Y không chỉ sợ Liễu Mi Nhi xa lánh Lư Ngọc Châu, mà càng sợ Lưu Lăng bỗng nhiên rơi vào tiêu hồn động thì khó mà tự kiềm chế được.
Có biết bao anh hùng hào kiệt tung hoành thiên hạ đánh đâu thắng đó lại mềm yếu ngã trên da bụng của phụ nữ? Những ví dụ phụ nữ làm hỏng việc hỏng nước khắp nơi đều có. Hiếu Đế sợ Lưu Lăng vì quá sủng ái Liễu Mi Nhi mà quên đi trách nhiệm quân quốc của mình. Hiện giờ thiên hạ Bắc Hán đang đầy nguy hiểm, Hiếu Đế hiểu chỉ dựa vào một mình mình thì chắc chắn không thể chống đỡ nổi. Mặc dù giang sơn này cũng không rộng lớn gì cho lắm.
Thời điểm các Hoàng tử cướp quyền, Thái tử, lão tứ bọn họ đều đã chết rồi. Vốn có mười mấy huynh đệ hiện giờ còn sống ngay cả một nửa cũng không được. Ngày đó Thái tử thống lĩnh Cấm quân ở trong cung dấy lên một trận mưa gió đầy mùi máu tanh, có năm Hoàng tử bị Thái tử đang đắm chìm trong tham vọng cắn xé di cốt không còn. Đại Hoàng tử với tấm lòng nhân ái, dũng cảm. Ngũ Hoàng tử võ dũng hiếu thắng. Lão tứ văn thao võ lược. Lão thất không ôm chí lớn, còn có lão thập tứ mới chưa đầy 11 tuổi bướng bỉnh đáng yêu, từng người từng người một đều không còn nữa.
Các Hoàng tử còn may mắn sống sót dù hiện giờ ai nấy đều được phong vương rồi, nhưng không có loại máu mủ tình thâm giữa thủ túc. Lão tam Lưu Luận phong Tề vương, chưa tới ba mươi tuổi đã viện cớ nói mình tuổi già thể yếu, định ở trong Vương phủ cả đời bảo dưỡng tuổi thọ, hàng ngày nuôi chim, nuôi cá. Từ ngày Hiếu Đế đăng cơ đến nay ngay cả cửa chính của Vương phủ cũng chưa đi ra nửa bước, càng miễn tất cả khách tới thăm, rõ ràng xem như nhốt mình vào trong Vương phủ đại viện. Lẽ nào cuộc sống đó thật sự là rất thư thả?
Lão lục Lưu Ngạn phong Sở vương. Y lại chủ động đưa ra ý kiến muốn vì Đại Hán bảo vệ quốc gia, mình lĩnh một quan vị tướng quân Minh Uy tòng tứ phẩm, chạy tới biên thùy tây bắc chịu gió thổi ngày phơi nắng. Nói là vì bảo vệ biên cương, nhưng sau khi định cư trong một huyện nhỏ gọi là An Viễn, Lưu Ngạn cả ngày cùng đám văn nhân môn hạ du sơn ngoạn thủy làm thơ, nhìn như tiêu diêu tự tại.
Chỉ là Chu Diên Công khi xuất sứ ở Tây Hạ đã đi qua An Viễn, Lưu Ngạn đã từng lấy thân phận của chủ nhà bày yến tiệc chiêu đãi Chu Diên Công. Trong tấu chương của Chu Diên Công dù chỉ nhắc tới đôi ba câu về vị Vương gia nhàn tản này, nhưng trong đó khó mà giấu được nỗi thất vọng về vị Vương gia có danh trí giả này. Hiếu Đế biết Lưu Ngạn chạy tới An Viễn làm gì. Y là muốn tránh họa. Y sợ mình ở lại Thái Nguyên không cẩn thận sẽ nối gót theo các huynh đệ.
Chu Diên Công miêu tả Sở vương trong mắt y là như vậy. Mặc dù còn chưa tới 30 tuổi, nhưng vị Vương gia này đã từng dùng trí tuệ mà trứ danh, tóc đã hoa râm rồi. Cặp mắt đã từng thần thái tinh thông cũng không có thần thái trước đây, nhìn mắt y giống như là một dòng nước buồn vậy.
Về phần những Hoàng tử khác, dù ở lại trong thành Thái Nguyên, nhưng đều viện cớ khả năng không đủ e là làm chậm trễ quốc sự, kiên quyết không lên điện nghị sự. Lỗ Vương thập nhị Hoàng tử Lưu Nguyên, thập tam Hoàng tử Lưu Chuyên tuổi tác còn nhỏ. Hàng ngày biết uống rượu mua vui yêu cơ thoát y, cơ thể yếu ớt chỉ một trận gió có thể thổi ngã. Mà từ xưa tới nay thập Hoàng tử Lưu Trực cùng với lão cửu một văn một võ tề danh, từ năm kia đã đổ một trận bạo bệnh và vẫn luôn bị bệnh nằm ở nhà.
Trong cả hoàng tộc Đại Hán, ngoài một mình Hổ Đình Hầu Lưu Mậu có quan hệ cực kỳ xa với Đế vương gia còn có thể trọng dụng ra, những người khác ai nấy đều giống như bùn nhão không trát được tường, hoặc sống mơ mơ màng màng, hoặc ca múa mừng cảnh thái bình. Chỉ có lão cửu Lưu Lăng, sóng vai cùng mình chống đỡ cái giang sơn Đại Hán tiêu điều này.
Hiếu Đế làm sao có thể không thay Lưu Lăng mà nghĩ nhiều việc hơn chút chứ?
Nếu Lưu Lăng trụy lạc dưới váy của nữ nhân, giang sơn Đại Hán này chỉ có thể dựa vào một mình y gánh vác. Y thực sự sợ mình không thể trụ nổi. Thái tử Lưu Lập mới chưa đầy 4 tuổi, giang sơn Đại Hán này biết làm sao đây?
Cho nên Hiếu Đế và Tô Hoàng hậu mới kiên trì can thiệp vào chuyện nhà chuyện riêng của Lưu Lăng. Vì một nô tỳ nhỏ bé mà hưng sư động chúng, chút khổ tâm này, Lưu Lăng lại dường như không quan tâm, Hiếu Đế sao có thể không gấp được chứ?
Tây Hạ, Đại Liêu, Hậu Chu đều là đại quốc hàng triệu binh. Bắc Hán bị kẹp trong ba cường quốc này cầu sinh tồn, khúm núm là điều không thể tránh khỏi, lại không thể thể hiện yếu hơn người ta. Không yếu thế một chút, những cường quốc đó sẽ xem Bắc Hán như là cái đinh phải nhổ. Mà chuyện yếu thế này chính là một mình Hiếu Đế y làm. Chính như cuộc chiến của phương nam, Lưu Lăng đại thắng, y lại hạ lệnh nhanh chóng cùng Chu Thế Tông Sài Vinh nghị hòa.
Mà Lưu Lăng thân là thống soái ba quân thì phải kiên cường một chút, để cho ba nước không chú ý tới Bắc Hán, lại không thể quá coi thường được.
Vốn thập Hoàng tử Lưu Trực là có thể trọng dụng, y và Lưu Lăng một văn một võ hợp nhau lại tăng thêm sức mạnh. Chính là cánh tay trái cánh tay phải của Hiếu Đế. Tiếc là, cũng không biết là ý chí tinh thần sa sút, hay là thật sự bệnh nguy kịch rồi, lão thập Lưu Trực cả ngày nằm trên giường bệnh không màng tới thế sự.
Đôi khi Hiếu Đế lại nghĩ, nếu dùng tấm lòng nhân hậu của đại ca khống chế đại thần, dùng võ công của lão ngũ để xung phong đấu tranh, dùng sự điều độ của lão cửu để điều hành, dùng lão thập để ứng đối ngoại sự, giang sơn Bắc Hán này dù nhỏ cũng thật sự là bền chắc.
Ông trời thực sự là không bạc với phụ thân của y, đã cho người 14 người con trai, ai nấy đều có thể độc lập một phương, nhưng ông trời lại không cho phụ thân y cơ trí, cho nên giữa các Hoàng tử đấu tranh ghen tị lẫn nhau, cuối cùng càng là đao kiếm cùng hướng. Hiếu Đế cũng biết từ xưa nhà đế vương căn bản không có thân tình. Con trai của Đường Vương Lý Uyên chẳng qua chỉ có bốn người, Thái tử Lý Kiến Thành cũng giống như đại ca mình tấm lòng nhân hậu, sau cùng không phải cũng bị Lý Thế Dân lòng lang dạ sói chém chết sao?
Nhưng Hiếu Đế chính là không chịu nổi sự ảo tưởng. Nếu 14 huynh đệ của mình thật sự có thể đồng lòng, đừng nói là Tây Hạ, Đại Liêu, Hậu Chu trước mắt là mãnh hổ chặn đường, chính là có nhiều hơn vài tên súc sinh nữa cũng có thể làm được gì chứ?
Lưu Lăng dẫn Liễu Mi Nhi sau khi từ trong cung cáo từ đi ra, Hiếu Đế ngồi trên ghế ngây người ra hồi lâu. Tô Tiên Lê im lặng đứng sau y, ánh mắt đầy dịu dàng. Nàng không nói gì. Nàng biết phu quân mình đang cần được yên tĩnh. Nhưng nàng cũng không thể bước đi, bởi vì nàng cũng biết, trên vai Hiếu Đế lúc này rõ ràng là rất cô đơn.
Cũng không biết ngồi bao lâu, Hiếu Đế quay người, nhìn thê tử đã cùng mình vượt qua hoạn nạn gần 10 năm nay mỉm cười dịu dàng. Khi Tô Tiên Lê 14 tuổi đã gả cho y rồi. Hiện giờ đã 9 năm 4 tháng. Người thiếu nữ ngây ngô như nụ hoa chớm nở đó đã nở thành một đóa mẫu đơn cao quý, không thay đổi chính là nàng đối với mình trước sau như một một tấm chân tình.
Kéo tay Tô Tiên Lê, tay y vuốt ve bàn tay trắng nõn nà đó, thuận thế kéo lại, Hiếu Đế kéo Tô Tiên Lê ngồi lên đùi mình. Tô Tiên Lê ban đầu liếc nhìn xung quanh, thấy các thị nữ đều đứng xa bên ngoài, không có người ngoài, cơ thể mềm mại của nàng dựa vào lòng Hiếu Đế.
Đưa tay ra nhẹ nhàng giúp Hiếu Đế vuốt thẳng lại nếp nhăn trên mi mắt y. Tô Tiên Lê khẽ nói:
- Bệ hạ, lúc trước trên bàn rượu thể hiện của thần thiếp chắc chắn đã khiến cho Trung Vương thấy không vui, Bệ hạ thứ tội.
Hiếu Đế cười nói:
- Lão cửu hắn không hồ hồ, biết nàng đây là vì hắn mà nghĩ. Hắn không thể để bụng đâu. Lão cửu là người trung hậu thuần phác, đối với nàng cũng là tôn trọng thực sự, ta hiểu hắn.
Tô Tiên Lê khẽ cười, vẫn xinh đẹp giống như đóa hoa mẫu đơn nở rộ trong gió. Trên mặt nàng không có nếp nhăn, tuổi tác không có bất kỳ dấu vết nào trên khuôn mặt nàng. Đôi khi chỉ là càng thể hiện dư vị đôn hậu. Nàng đã không phải là lúc mười mấy tuổi ngây ngô vô tri, đôi khi là thấy nhợt nhạt nhưng lại không dễ bỏ qua sự hấp dẫn và trí tuệ.
- Bệ hạ, nếu biết Trung Vương không hồ đồ, vậy người không lo gì nữa?
Nàng ôm lấy cổ Hiếu Đế, khẽ nói vào tai y:
- Sự từng trải của Trung Vương trong số các huynh đệ của Bệ hạ xem như là vất vả nhất? Cho dù là gian nan hiểm trở thế nào, hắn cũng không hề nề hà? Bệ hạ, có lẽ chúng ta thực sự là có chút buồn lo vô cớ rồi.
Lời của nàng giống như là gió xuân tháng ba, có thể thổi tan được băng tuyết.
Đế Trụ
Tác giả: Trí Bạch
Truyền chỉ.
(¯`'•.¸(¯`'•.¸† Chia sẻ bởi: BànLong.us †¸.•'´¯)¸.•'´¯)
Trong lúc hai vợ chồng Hiếu Đế vì chuyện riêng của Lưu Lăng mà phiền muộn, Hình bộ Thượng thư Bùi Hạo mang theo thánh chỉ của Hiếu Đế, chọn ra năm trăm kỵ binh tinh nhuệ đã ra khỏi thành Thái Nguyên về phía tây đã được 40 dặm rồi. Ban đêm trong một thôn nhỏ nghỉ chân ở nhà trọ Dược Mã, khoảng 5 giờ sáng lập tức dậy tiếp tục lên đường.
Năm trăm kỵ binh này là Bùi Hạo mượn của Trung Vương Lưu Lăng. Hiếu Đế để y chọn một trăm cán sự từ Hình bộ tới làm tùy tùng của Chu Diên Công. Nhưng Bùi Hạo lại không thể không kháng chỉ, không phải y không muốn sai người từ Hình bộ mà trong Hình bộ hiện giờ thật sự không thể tìm ra được một trăm tâm phúc, còn là sai nha có thể làm việc vả lại công chính.
Trong Hình bộ y có phe cánh của mình. Y và Hình bộ Thượng thư cũ Tư Mã Luật khi đấu tới ngươi sống ta chết, bên cạnh y còn có một bộ phận tùy tùng. Chuyện của Hình bộ không phải là bí mật gì quá bí hiểm, chỉ cần là người dày dạn kinh nghiệm ở lâu trong Hình bộ hai năm đều biết Tư Mã Luật không phải trong sạch như bề ngoài. Dưới núi Thái Hành trên vùng đất Hà Đông, từ trước đến giờ không thiếu gan ương bướng tranh đấu với thế lực ác bá.
Nhưng Bùi Hạo ở Hình bộ nhiều năm như vậy vẫn luôn bị Tư Mã Luật áp chế gắt gao. Thân tín bên cạnh cộng lại ngay cả 10 người cũng không tới. Để y chọn nhân thủ từ trong Hình bộ ra, y thực sự sợ mình chưa tìm được Chu Diên Công đã chết ở giữa đường mà không rõ nguyên nhân.
Trong Hình bộ người chịu ơn của Tư Mã Luật không ít, vậy thì xem ra kẻ keo kiệt vắt cổ chày ra nước đó kỳ thực lúc phân chia vẫn công bằng. Điều Tư Mã Luật không thể nhịn được là tiền tới tay ông ta vẫn bị người ta vơ vét. Ví dụ như một lần thu nhập chia làm năm phần, ông ta không hề oán giận mà bớt xén, nên cho người khác một đồng tiền cũng sẽ không ít một đồng. Nhưng nếu tiền đã vào trong túi ông ta rồi, mà muốn lấy ra thì khó ngang với lên trời.
Cho nên, trong Hình bộ định báo thù Tư Mã Luật, kiên trì cho rằng cái chết của Tư Mã Luật cùng Bùi Hạo không thoát được khỏi liên quan có khối người. Tư Mã Luật chết rồi, Bùi Hạo tiếp nhận chức vụ, điều này tương đương với cắt đường tài lộc ngầm của những người đó. Cho nên có người muốn giết chết Bùi Hạo báo thù thay cho Tư Mã Luật, đó cũng không phải là chuyện ngạc nhiên gì.
Bùi Hạo cũng biết mình không thể trong một ngày nửa ngày có thể làm cho chuyện của Hình bộ thuận lý, có thể thu phục được những kẻ đều có mục đích của Hình bộ đó. Mặc dù có Bệ hạ, có Trung Vương chống lưng cho y, nhưng những kẻ lõi đời đó ngoài sáng kính cẩn nghe theo trong tối thì giở đủ mọi thủ đoạn ngáng chân, ngầm hạ sát thủ.
Ví như Bùi Hạo muốn đọc tài liệu của Tư Mã Luật ở nhiệm kỳ trước, quan lại phía dưới không nói câu nào đã chuyển đầy đủ tài liệu chất đầy ba xe ngựa tới. Chuyện của những năm này ở Hình bộ bất luận lớn nhỏ đều được ghi chép trong danh sách, chỉ có điều tin tức hữu dụng lại thiếu tới đáng thương.
Quan lại cấp dưới biết Bùi Hạo muốn là thứ gì, vì vậy bọn họ cố tình chuyển hết tài liệu nhiều năm này của Hình bộ tới, hơn nữa còn làm rối loạn trình tự, giống như một xe ngựa chất đầy cỏ dại. Tâm tư họ kỳ thực rất đơn giản, Bùi Hạo ngươi không phải muốn xem sao? Vậy thì cho ngươi xem, cho dù có mệt không chết được ngươi, cũng làm ngươi tức chết.
May mà Bùi Hạo cùng Lưu Lăng đi xuống phía nam vài tháng nay tâm trí đã dần trưởng thành hơn. Mặc dù còn chưa làm được tới bước đỉnh Thái Sơn sụp xuống mà gặp nguy không loạn. Nhưng chí ít thì hỉ nộ không lộ ra là không có vấn đề gì. Y mới sẽ không thật sự vì bọn đạo chích này trong Hình bộ mà tức giận, như vậy không lý trí cũng không đáng được.
Biết rõ những người này không thể trọng dụng lại vẫn phải dùng. Bùi Hạo đơn giản là không muốn Hình bộ Đại Hán từ đây sẽ bị giải tán. Nhưng để y lấy ra vài người có thể ủy thác trọng trách trong Hình bộ, y cũng chỉ có thể cười khổ một tiếng.
Từ sau khi từ hoàng cung đi ra, Bùi Hạo không trở về Hình bộ cũng không trở về nhà, mà đi thẳng tới phủ Trung Vương. Lưu Lăng đang xem ba tấu chương mà Hiếu Đế sai Tiểu Lục Tử mang tới, vừa thấy Bùi Hạo tới liền mỉm cười. Chuyện Hiếu Đế định để Bùi Hạo đi về phía tây nghênh tiếp Chu Diên Công đã nói cho Lưu Lăng biết thông qua Tiểu Lục Tử rồi. Cho nên Lưu Lăng liền đoán được ngay Bùi Hạo là tới nhờ viện binh rồi.
Không nói hai lời Lưu Lăng liền chọn ra 50 người từ trong thân binh của mình ra. Sau đó từ 600 giáp binh của Hiếu Đế phái tới phủ Trung Vương lấy ra 150 người, lại cử người gọi Đề đốc Bát môn tuần sát ti Nhạc Kỳ Lân tới, mượn hai trăm sai dịch từ Bát môn tuần sát ti, lại cộng thêm 100 người được Bùi Hạo chọn ra từ sai dịch cấp dưới của Hình bộ. Đội ngũ 500 người cũng đã đủ mạnh rồi.
Nhưng 500 người này không phải là cử cho Chu Diên Công. 50 thân binh của Lưu Lăng cộng thêm 150 cấm quân giáp binh chắc chắn là để cho Chu Diên Công thêm can đảm hơn. Mà nhiệm vụ của 300 người khác thì dưới sự thống lĩnh của Bùi Hạo, mang mấy ngàn súc sinh từ phía tây quay trở về gấp.
Khi Chu Diên Công đi qua huyện An Viễn, Sở Vương Lưu Ngạn đã cử ra 300 binh tốt đi dọc đường hộ tống Chu Diên Công. Đây là nhân số lớn nhất mà y có thể điều động được. Mặc dù Sở Vương vẫn còn treo chức vị quan võ tướng quân Minh Uy tòng tứ phẩm. Nhưng một nơi xa xôi hẻo lánh như huyện An Viễn, sao có thể có được quá nhiều quân trú đóng? Vốn Chỉ huy sứ Kiến Hùng quân Hà Khôn chia ba nghìn binh mã cho Sở Vương Lưu Ngạn. Nhưng vị Vương gia này dựng cờ hiệu ở biên giới Đại Hán, vì không muốn bị triều đình nghi kỵ, cho nên một binh cũng không giữ lại.
Tính cả dân dũng, sai dịch của nha huyện, nhân mã mà Sở Vương Lưu Ngạn có thể điều động cũng không vượt quá con số 500 người. Ngoại trừ nhân viên vì bảo vệ trị an địa phương phải giữ lại ra, có thể nói Sở Vương đã tận tâm tận lực giúp đỡ Chu Diên Công rồi. Chỉ huy sứ Kiến Hùng quân Hà Khôn là một người cẩn thận, đương nhiên không thể bảo vệ Chu Diên Công trong tình huống triều đình không có ý chỉ. Hành động lớn nhất trong cuộc đời này của Hà Khôn chính là trận trước dám chủ động xuất kích cướp hai huyện thành nhỏ của Đại Chu, càng huống hồ bộ đội chủ lực của Kiến Hùng quân cách xa An Viễn chí ít cũng phải hơn 200 dặm. Chờ người của Kiến Hùng quân chạy tới, Chu Diên Công cũng sắp tới Thái Nguyên Phủ rồi.
Khi Chu Diên Công đi sứ tới Tây Hạ chỉ mang theo mấy chục tùy tùng. Nếu không phải Quốc chủ Tây Hạ Ngôi Danh Nẵng Tiêu phái 80 mục dân giúp Chu Diên Công xua đuổi bò dê nửa đường, chỉ e là Chu Diên Công vào tới biên giới Bắc Hán sẽ rất khó đi. Nhưng cũng may Bắc Hán hiện giờ quá nghèo, nghèo tới mức mà ngay cả sơn tặc mã phỉ đều sống không nổi nữa.
Từ trước tới giờ núi Thái Hành có đạo tặc, nhưng trong lãnh thổ Bắc Hán ngay cả một bang mấy chục tên đạo tặc cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Điều này không thể không nói là nỗi bi ai của Bắc Hán. Một tên mã tặc thổ phỉ cũng không muốn xuất hiện ở đây, nếu không phải là nơi đây chính tích nổi bật ổn định lòng dân, thì chính là vì nghèo tới mức chim cũng không ở trong ổ.
Rõ ràng, đại bộ phận đất đai Bắc Hán đều thuộc phạm trù thứ hai. Trên núi Thái Hành có sơn tặc. Nhưng họ thà đi mấy trăm dặm tới lãnh thổ Đại Chu cướp bóc mấy thôn phía sau, cũng không muốn gây án ở vùng đất này. Sơn tặc thổ phỉ cũng là người, đều biết người dân Bắc Hán sống thế nào. Mặc dù Chu Diên Công lần này trở về xem như là một con dê béo mập, nhưng ai cũng không muốn cướp số đồ đó của y.
Chu Diên Công đi sứ Tây Hạ đổi lấy sự giúp đỡ mạnh mẽ cho Trung Vương đánh đuổi 20 vạn đại quân chạy về Đại Chu. Trong lòng người dân đều hiểu là chuyện gì, nếu cướp đồ của Chu Diên Công, ăn thịt dê đều có thể bị nghẹn chết. Hơn nữa, với quốc lực hiện nay của Bắc Hán, số gia súc này mang về đơn giản chính là than sưởi ấm trong ngày tuyết rơi, thật sự có sơn tặc dám cướp số gia súc này, chỉ e là triều đình Bắc Hán lập tức vỡ tổ.
Bò dê cứu mạng bị sơn tặc cướp đi rồi, e là không cần triều đình động viên, quan quân Bắc Hán sẽ như một con sói đói cắn xé một đám thỏ, không cày xới đoạn núi Thái Hành này thì tuyệt đối không thể xong được. Mà bên trong lãnh thổ Bắc Hán sơn tặc lớn nhất chính là Sử Bất Động tự xưng là An Lạc Công, thủ hạ của gã cũng không quá năm sáu trăm nhân khẩu, quả thật không dám nuốt trôi con dê béo này.
Cho nên trên đoạn đường này Chu Diên Công ngay cả nguy hiểm cũng không hề có. Ngoài đuổi hàng ngàn bò dê thực sự đã quá mệt mỏi ra, một chút nguy hiểm cũng đều không gặp. Thậm chí khi đi qua địa bàn của Sử Bất Động, Chu Diên Công rõ ràng cảm thấy ở lưng chừng núi có người đang chăm chú theo dõi y, xương sống cũng đã bắt đầu thấy ớn lạnh, nhưng cuối cùng vẫn an toàn đi qua.
Sử Bất Động tự hiệu An Lạc Công, gã mới không thể bỏ qua an lạc mà không hưởng thụ, không dại gì mà động vào quân Hán mười mấy vạn quân vừa mới đánh bại quân Chu sỹ khí ngất trời. Nếu thật sự làm như vậy rồi, gã chỉ có thể đuổi đàn bò dê chạy tới Đại Chu thể hiện lòng trung thành. Đương nhiên, trước đó gã cần phải vượt qua được sáu vạn Phủ Viễn quân trấn thủ Nam đại môn Bắc Hán.
Cho nên khi Bùi Hạo dẫn năm trăm kỵ binh đi nghênh tiếp Chu Diên Công, ngoại trừ trên mặt Chu Diên Công thể hiện rõ sự mệt mỏi, bụi đất ra, thì không hề có biểu hiện gì khác. Nỗi lo lắng của Bùi Hạo xem như là trút được gánh nặng, y biết nhiệm vụ của mình tới khi gặp được Chu Diên Công xem như là đã hoàn thành được một nửa rồi.
Nhiệm vụ còn lại chính là sẽ truyền đạt thánh chỉ của Hoàng đế, sau đó sẽ đưa mấy ngàn bò dê ngựa trở về Thái Nguyên phủ. Từ cổ chí kim, Hình bộ Thượng thư làm người chăn dê có lẽ y là người chưa từng có từ xưa tới nay, không chừng sau này cũng không có ai có được cái vinh hạnh này. Tính cả ba trăm bộ tốt của Sở Vương Lưu Ngạn, đội ngũ 600 người do Bùi Hạo thống lĩnh cộng với 80 dân du mục dày dặn kinh nghiệm, đi về cũng không quá khó khăn, chí ít cũng còn nhẹ nhàng hơn Chu Diên Công gấp bội lần.
Còn Chu Diên Công thì kiên quyết chỉ để lại 50 thân binh của Lưu Lăng, những người khác đều để lại cho Bùi Hạo đưa gia súc về. Hai người giằng co nhau, cuối cùng chỉ còn cách chia đôi. Chu Diên Công dẫn theo 100 người, 100 người còn lại sẽ cùng Bùi Hạo trở về Thái Nguyên phủ trước, chờ bò dê ngựa an toàn trở về, sau đó sẽ quay về tìm Chu Diên Công.
Hai người chỉ gặp nhau trong thời gian ngắn ngủi 2 canh giờ, lập tức chia đôi mỗi người một ngả. Chu Diên Công mang theo ấn tín và thánh chỉ của Khâm sai đại nhân Lục Châu Tuần Án Chuyên Sử, đổi quan phục, cưỡi ngựa lớn của Bùi Hạo mang tới chạy về phía đông nam. Kỳ thực trong số gia súc mà Ngôi Danh Nẵng Tiêu đưa tới có không ít là ngựa thuần Tây Vực. Nhưng Chu Diên Công biết ý nghĩa của những món đồ này, cho nên một cái lông ngựa cũng không động tới.
Đi ngang qua mấy châu phủ đều bị hạn hán lâu ngày, lương thực trên ruộng hầu như không hề có thu hoạch gì. Chu Diên Công trong lòng muốn mang số bò dê chia cho những người dân bị nạn thiên tai, nhưng do dự một hồi, y vẫn không dám làm như vậy.
Vận khí của Bùi Hạo so với Chu Diên Công kém hơn không chỉ một bậc. Y dẫn đội mang bò dê mới đi chưa được 60 dặm đã gặp một nghìn nạn dân. Những người này sớm đã đói tới mức mặt tái xanh đi rồi, thấy bò dê ngựa béo mập liền chảy nước miếng. Một đám người lao tới muốn cướp, cũng may mà thủ hạ của Bùi Hạo nhiều, cộng với 80 dân du mục cũng có kinh nghiệm dày dặn đó, đã đuổi tan được đám người đó ra phía sau, chỉ tổn thất mười mấy con dê.
Có vết xe đổ rồi, Bùi Hạo không dám lên mặt, đã trú đóng ở huyện Phượng Ninh hai ngày, chờ sau khi một nghìn giáp sỹ của triều đình cử tới mới tiếp tục lên đường. Mà khi y tới phía ngoài cổng thành Thái Nguyên phủ rồi, Chu Diên Công đã đại triển quan uy ở trạm đầu tiên trong tiến trình xuôi nam là huyện Bình An.
Người đầu tiên vuốt râu hùm của Chu Diên Công là Huyện lệnh huyện Bình An Tô Huy. Người này không có năng lực còn cả gan lớn mật, ỷ thế Tô gia là thế gia Thái Nguyên còn có Đại học sỹ Tô Tú nhậm chức ở Quân Cơ Xứ tương đương với Tể tướng.
Đế Trụ
Tác giả: Trí Bạch