Virtus's Reader
Đế Trụ

Chương 23: Mục 23

THÍCH KHÁCH

Thích khách

Khi đội đón dâu đi đến nửa đường thì vẫn còn một thứ gọi là ‘chướng ngại’. Người đưa dâu và người đón dâu cùng uống rượu, chặn xe hoa lại không cho đi về trước, lúc này là lúc Lưu Lăng nên ném tiền ra rồi. May mắn thay mặc dù phủ Trung Vương tiết kiệm nhưng số tiền này vẫn có thể bỏ ra được. Mặc dù một xâu tiền tháo ra cũng đủ vẩy một hồi rồi nhưng Lưu Lăng vẫn cảm thấy xót.

Nhưng số tiền này dùng ở lúc này lại khiến Lưu Lăng chợt nhớ tới kiếp trước khi xem người ta đi đón dâu. Ở một huyện thành nhỏ nơi hắn sống, cưới vợ phải cho Tam cân, Tam cân chứ không phải là Tam kim. “Tam kim” ở đây ám chỉ, dây chuyền vàng, vòng tai vàng và nhẫn vàng. Khái niệm về những thứ này rất không rõ ràng, những người có tiền đều không quan tâm lắm, có thể mua một ít là được. Nếu những gia đình có điều kiện không được tốt lắm, mặc dù là miễn cưỡng mua thì chất lượng cũng kém. Nhẫn hai chỉ và hai mươi chỉ, chẳng phải đều là nhẫn sao?

Nhưng “Tam cân” thì lại khác. “Tam cân” ở đây là cân rất chuẩn rất chuẩn, giá trị của tiền phải còn nguyên vẹn đủ ba cân mới thôi…

Đây là cách nói của những người dân bình thường, nếu như đổi lại những người có tiền thì còn cho nhiều hơn nữa. Ngày trước, vào một buổi sáng nào đó, khi Lưu Lăng bị cha gọi dậy chạy bộ, hắn tận mắt nhìn thấy một chiếc xe Rolls-Royce có rèm che, từ thành phố lớn đi tới, năm chiếc Audi A8 đứng ở cổng một gia đình, người phụ trách gọi cửa ném hàng trăm đồng tiền giá trị vào trong cửa, Lưu Lăng thấy vui nên bảo cha dừng lại xem, xem đến khi bụng hai người sùng sục kêu đói. Thời gian đã qua ba giờ, người kia vẫn ném tiền vào trong nhưng cửa đó vẫn không mở…

Nghĩ đến đây, cuối cùng Lưu Lăng cũng cảm nhận được tâm trạng của những chú rể lúc đó.

Đợi khi tiền đã phân phát đủ rồi, đội ngũ tiếp tục đi về trước. Vì Lưu Lăng dùng xe ngựa để đón dâu chứ không phải là kiệu hoa nên Lư Ngọc Châu cũng đỡ phải chịu nỗi khổ bị xóc. Nếu như là ngồi kiệu, chưa biết chừng bị mấy người khênh kiệu làm cho thất điên bát đảo. Thật ra cách nói “Điên kiệu tử” cũng khá hay, có ý nghĩa là thay chú rể ‘thuần phục’ cô dâu, để cho cô dâu sau khi về nhà mẹ chồng sẽ ngoan ngoãn cung kính, muốn yên ổn bình yên ở nhà chồng cũng được, vậy chỉ cần phân phát nhiều tiền hơn là được.

Đến trước cửa phủ Trung Vương, một đống lửa hỏa đã điểm lửa. Nhóm người hầu mặc lụa hồng bẻ từng đoạn trúc ném vào trong đống lửa, những tiếng kêu vang bên tai không dứt. Tiếng chiêng trống trong không khí vui mừng và tiếng pháo giòn giã lên đến đỉnh điểm.

Sau khi vào cửa, tân nương Lư Ngọc Châu được người dìu đến bái tạ trước, sau đó bái thiên địa, bái liệt tổ liệt tông, sau đó còn phải bái cao đường, cũng chính là phụ mẫu của Lưu Lăng. Phụ mẫu của Lưu Lăng đều đã qua đời, người đóng vai trò là phụ mẫu của hắn chính là đương kim Bệ hạ Lưu Trác.

Hôm nay Hiếu Đế rất vui, còn vui hơn cả khi y kết hôn. Từ khi vào phủ Trung Vương đến bây giờ miệng của y chưa khép lại lúc nào, cười rạng rỡ, càng thoải mái.

Sau khi Lư Ngọc Châu và Lưu Lăng cúi lạy đối phương thì Hiếu Đế sai thuộc hạ thưởng cho hai người mỗi người một miếng ngọc bội điêu khắc hình chim liền cánh, tượng trưng cho hai người không rời nửa bước. Sau đó Lưu Lăng và Lư Ngọc Châu còn vái chào các quan khách đến thăm, sau đó mới là phu thê giao bái.

Sau khi phu thê giao bái là đưa vào động phòng, “đưa vào động phòng” này tất nhiên chỉ là hình thức thôi, cái chính là đưa tân nương vào phòng nghỉ ngơi. Sau khi Lưu Lăng đi một vòng thì quay lại kính rượu các quan khách, còn Lư Ngọc Châu thì phải ngồi rất quy củ ở trong phòng, sau khi các quan khách ra về thì Lưu Lăng mới có thể quay về vén khăn phủ đầu lên cho nàng. Đại hôn của Vương gia, khách quý đến nhiều như mây, đợi đến khi họ về thì cũng không biết khi nào. Ngoài đợi chờ khổ sở như vậy thì Lư Ngọc Châu cũng không có cách nào khác.

Chỉ là nghĩ đến sau khi đêm yên tĩnh vắng người Lưu Lăng sẽ quay về vén khăn phủ đầu của mình lên thì mặt Lư Ngọc Châu xấu hổ đến mức nóng bừng lên. Lại nghĩ đến người phụ nữ mà tối qua mẫu thân mời đến, dạy bên tai mình những chuyện xấu hổ vô cùng thì tim nàng lại đập nhanh không thể kiểm soát được. Ngồi ở trên giường mà hai chân nàng khép nép dè chừng, dường như sợ có thứ gì đó chui vào. Càng xấu hổ nàng lại càng không kìm nổi suy nghĩ, nàng ngồi ở đó cảm thấy thời gian trôi đi thật chậm, không ngờ lại gian nan như vậy.

Không bao lâu, bên ngoài liền vang lên lời chúc phúc của các quan khách đang uống rượu. Mặc dù cách rất xa, nhưng những tiếng ồn ào này vẫn vọng lại rất rõ.

Cửa ở bên ngoài được mở ra, tiểu nha đầu Mẫn Tuệ của phủ Trung Vương bưng một mâm điểm tâm nhẹ nhàng bước vào. Nàng cười hiền với Huân Nhi nói: - Vương gia đoán chừng phải tiếp khách khá lâu, tiểu thư và cô từ sớm đến giờ đã chưa ăn gì rồi, hãy ăn chút điểm tâm trước đi, chắc đến giờ Hợi, Vương gia vẫn chưa thể phân thân được.

Nàng đem mâm đưa cho Huân Nhi, sau đó cung kính hành lễ với Lư Ngọc Châu đang ngồi bên giường, nói: - Nô tì Mẫn Tuệ xin được thỉnh an Vương phi!

Lư Ngọc Châu nghe thấy giọng nói đó dường như muốn đứng lên nói chuyện nhưng Mẫn Tuệ vội đỡ tay nàng nói: - Vương phi không cần đứng lên đâu ạ, Người cứ ngồi xuống. Trừ phi Vương gia quay về nếu không thì Vương phi không thể đứng lên được.

Lư Ngọc Châu nói: - Cảm ơn em, Mẫn Tuệ! Ta cũng có lời chào đến em, sau này chúng ta chính là người một nhà rồi. Huân Nhi! Lễ vật chuẩn bị đâu, còn không mau lấy ra đưa cho Mẫn Tuệ?

Huân Nhi đặt khay điểm tâm trong tay xuống, biết rằng tiểu thư đang muốn hòa đồng với mọi người trong phủ Vương gia, xây dựng hình tượng đẹp. Mặc dù Lư Ngọc Châu gả tới đây là chính thê, đường đường là Vương phi nhưng ngay từ đầu cũng không thể xem thường tôi tớ trong phủ của Lưu Lăng được, nếu không chưa biết chừng bọn họ sẽ giở trò quái quỷ gì đó sau lưng nàng.

Huân Nhi từ trong túi lấy ra hai viên đậu vàng nhét vào tay của Mẫn Tuệ, cười nói: - Vương phi đã sớm bảo muội chuẩn bị lễ gặp mặt cho tỷ tỷ rồi. Lần trước khi đến Vương phủ muội đã từng gặp tỷ rồi, tỷ thật đẹp.

Mẫn Tuệ bị nàng nói đến mức mặt đỏ lên, vốn muốn từ chối đồ mà Huân Nhi nhét vào tay mình nhưng nghĩ đến những lời Liễu Mi Nhi tỷ tỷ nói nên nàng ta liền nói tiếng cảm ơn rồi nhận lấy lễ vật. Ở thời đại này, vàng bạc cũng không phải thịnh hành, thông thường đều làm lễ vật quý báu để tặng người, hai viên này cũng tầm một lượng, nếu theo tỉ lệ hiện giờ thì cũng tầm mười lạng bạc trắng. Nếu đổi tiếp thành tiền thì ít nhất cũng phải được hai mươi xâu tiền. Nếu như hai vạn tiền đồng thì chắc nhét được đầy lên một xe. Đây quả là hậu lễ, đủ để Mẫn Tuệ tiêu trong mấy năm thậm chí một thời gian dài.

Sở dĩ Mẫn Tuệ không từ chối hoàn toàn như vậy là vì Liễu Mi Nhi trước đó đã nói với nàng rằng Vương phi nhất định sẽ tặng lễ vật. Nếu như từ chối thì khó tránh khiến Vương phi phiền lòng, ý của Vương phi là muốn làm gần quan hệ giữa chủ tớ để có thể nhanh hòa nhập trong đại gia đình phủ Trung Vương. Mặc dù thoạt nhìn thì Lư Ngọc Châu không phải người lòng dạ hẹp hòi nhưng vẫn phải làm ổn thỏa một chút. Nếu chẳng may vị Vương phi này lòng dạ hẹp hòi, vậy thì từ chối sự ‘lôi kéo’ của nàng ấy thì sau này chẳng phải sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn sao?

Thật ra mặc dù cân nhắc suy nghĩ của Liễu Mi Nhi ổn thỏa, nhưng vẫn chưa hiểu cách đối nhân xử thế của Lư Ngọc Châu. Lư Ngọc Châu thiện lương hào phóng, tất nhiên sẽ không thể sau khi thành Vương phi mà lại ức hiếp đả kích những người cũ trong Vương phủ được.

Mẫn Tuệ cùng Lư Ngọc Châu nói vài câu rồi cáo từ đi ra ngoài, không bao lâu Liễu Mi Nhi lại mang canh hạt sen đã cách thủy đến, Lư Ngọc Châu tất nhiên lại hao phí một phen rồi. Lư Ngọc Châu biết mối quan hệ giữa Liễu Mi Nhi và Lưu Lăng nên trong lòng khó tránh khỏi chua chát. Nhưng nàng lại nghĩ sau này mình nhất định phải hầu hạ tốt Vương gia, không thể để Liễu Mi Nhi hơn được.

Cũng không biết qua bao lâu, âm thanh bên ngoài càng lúc càng lớn, thỉnh thoảng vọng đến những tiếng cười giòn vang. Lư Ngọc Châu ngồi mà hai đùi tê rát nhưng không dám động đậy, đành phải cắn răng chịu đựng. Liễu Mi Nhi thấy nàng thỉnh thoảng nhẹ nhàng vặn vẹo một chút eo thì biết Vương phi ngồi mệt rồi, vì vậy nàng khẽ nhẹ giọng nói bên tai Lư Ngọc Châu: - Nếu như Vương phi mệt thì nằm xuống nghỉ một lát đi! Em đã hỏi qua rồi, chỉ cần mông không rời khỏi giường là được.

Nàng kéo giường chăn đặt ở sau người Lư Ngọc Châu, cười nói:

- Vương phi dựa vào là được rồi, như này thì không sao đâu!

Lư Ngọc Châu nắm lấy tay Liễu Mi Nhi, nhẹ nhàng nói tiếng cảm ơn.

- Muội muội, ta gọi như vậy, muội sẽ không từ chối chứ?

Liễu Mi Nhi được sủng ái mà lo sợ, có chút bối rối nói: - Vương phi thân phận tôn quý, nô tì không dám!

Lư Ngọc Châu thở dài nói: - Không sao đâu, ta biết thật ra mấy năm nay Vương gia làm phiền muội hầu hạ bên cạnh. Thật ra có lẽ trong lòng Vương gia đối với muội còn thân thiết hơn ta. Chúng ta… Chúng ta sau này đều là người phụ nữ của Vương gia. Ta chỉ muốn thân mật với muội hơn, chỉ muốn xưng hô tỷ muội chứ không có ý gì khác.

Bàn về tuổi tác thì Liễu Mi Nhi còn lớn hơn Lư Ngọc Châu một tuổi nhưng Lư Ngọc Châu lại là chính thê. Mặc dù Liễu Mi Nhi có được lời hứa của Lưu Lăng nhưng về thân phận thì vẫn có cách biệt nhất định. Lư Ngọc Châu gọi nàng một tiếng muội muội, cũng là hợp với đạo lý.

Hai người nói mấy câu, bỗng nhiên nghe thấy âm thanh bên ngoài bỗng nhiên trở nên hỗn loạn, xa xa còn có loáng thoáng ánh sáng hồng lóe lên, dường như nơi nào đó đang bốc cháy.

- Không xong rồi! Mau đi lấy nước!

Cùng với những tiếng hô thất thanh của đám người hầu, những quan khách đang uống rượu lập tức sợ hãi hoảng loạn.

- Bảo vệ Bệ hạ!

- Hộ giá!

Không ngừng có người lớn tiếng hô.

- Có thích khách!

- Bảo vệ Bệ hạ!

Âm thanh ngày càng loạn, tay Lư Ngọc Châu nắm tay Liễu Mi Nhi càng ngày càng có lực, bàn tay hai người đều toát hết mồ hôi. Lư Ngọc Châu đứng lên muốn xông ra ngoài nhưng , Liễu Mi Nhi lôi kéo nàng nói: - Vương phi đừng ra ngoài, bên ngoài chắc hẳn là có thị vệ rồi, hôm nay hộ vệ trong Vương phủ nhiều như mây, Vương gia sẽ không có nguy hiểm đâu.

Lư Ngọc Châu hận muốn kéo khăn trùm đầu xuống nhưng lại bị Liễu Mi Nhi kéo mạnh, nói: - Vương phi! Người ra ngoài thì có thể làm gì? Nếu như bị thích khách phát hiện thân phận của Người, lấy Người để khống chế Vương gia và Bệ hạ thì Vương gia phải làm thế nào?

Bị câu nói của Liễu Mi Nhi làm cho tỉnh táo, Lư Ngọc Châu nắm chặt tay Liễu Mi Nhi, thật lòng nói một tiếng cảm ơn.

Mẫn Tuệ đẩy cửa chạy vào. Huân Nhi, Liễu Mi Nhi và Mẫn Tuệ cùng kéo Lư Ngọc Châu ngồi xuống.

- Vương phi không nên nóng lòng, bên ngoài Hoa Tướng quân đã dẫn theo ba trăm cung tiễn thủ bảo hộ cẩn mật, thích khách tuyệt đối sẽ không xông vào đây đâu.

Mẫn Tuệ an ủi Lư Ngọc Châu.

- Phía Vương gia…

Lư Ngọc Châu không yên tâm hỏi.

Mẫn Tuệ nói: - Vương phi yên tâm đi, Vương gia sớm đã có chuẩn bị rồi.

Lư Ngọc Châu sửng sốt: - Vương gia lường trước được là hôm nay sẽ có người tới ám sát sao?

Liễu Mi Nhi gật đầu nói: - Phải nói là lo trước khỏi họa! Nô tì cũng không rõ nữa, nghe nói hình như là người của Bạch Liên Giáo muốn giở trò quỷ quái trong ngày đại hôn của Vương gia.

Nàng ta nói dối, nhưng nàng biết nếu mình nói thật ra thì Lư Ngọc Châu càng ngồi không yên.

Bốn người phụ nữ ngồi cùng nhau, đột nhiên nghe thấy bên ngoài có tiếng hét lớn của Hoa Tam Lang: - Ai đấy?

- Đứng lại! Đừng chạy!

Đám thị vệ hô lớn, bốn người không tự chủ được nắm chặt tay người bên cạnh.

Một tiếng ầm vang, trên nóc nhà bị phá tan thành một lỗ hổng lớn. Một bóng đen từ trên rơi xuống, trong tay nắm trường đao sáng quắc, sát khí đằng đằng.

Đuổi giết

Người đó đến rất đột ngột, rơi xuống phá tan nóc nhà, một đao chém lên phía đầu của Lư Ngọc Châu. Người này mặc áo đen nhưng không che giấu nổi thân thể nhỏ nhắn của mình. Thích khách này là một cô gái.

- Vèo!

Một phá giáp chùy đâm xuyên qua cửa sổ bay thẳng đến chỗ người áo đen này. Nếu như tay của người áo đen này không dừng chém về phía Lư Ngọc Châu thì sẽ bị mũi tên từ bên ngoài cửa sổ trực tiếp đính trên vách tường. Nữ thích khách này với ánh mắt hoảng hốt, thu đao chặn lại trước ngực. Lực của phá giáp chùy đó đủ để đập vào thanh đao sắc, chỉ kém một chút, nếu như ả không thu đao thì có thể giết được Lư Ngọc Châu nhưng bản thân ả cũng khó tránh khỏi cái chết.

Lực mũi tên đi này rất lớn, có thể làm cong thanh cương đao trải qua bách luyện trong tay nữ thích khách. Nữ thích khách hừ lạnh một tiếng, rõ ràng là không thể ngờ đến việc mũi tên này lại bắn với lực như thế. Một chút không cẩn thận, ả ta đã phải chịu thiệt thòi không nhỏ, bị lực trên mũi tên đập chạm vào bay xa hơn hai mét mới rơi xuống, cánh tay vẫn thấy đau nhức.

Rầm một tiếng, cửa phòng cưới bị Hoa Linh phá tan. Thấy thích khách đang ở trong phòng, Hoa Linh không cần kéo cung mà bắn luôn một mũi tên. Với khoảng cách như này, y căn bản không cần nhắm, mũi tên này từ lúc kéo cung đến bắn chỉ cần một cái chớp mắt là xong.

Nữ thích khách ngửa mạnh người về sau, không ngờ thân người mềm dẻo như mì sợi. Ả ngửa người về sau, khom người xuống, không ngờ hai tay có thể tiếp đất luôn, mũi tên đó bắn xượt qua ngực ả, cheng một tiếng đập trên vách tường, cắm thật sâu vào gạch đá.

Nữ thích khách đứng thẳng thân người dậy. Lúc còn muốn ra tay thì thị vệ bên ngoài đã bủa vây chặt đến. Hoa Tam lang giơ hoành đao ra xông lên trước. Hoa Tam Lang chém đao xuống, đao pháp hợp lại, lực đao của nữ thích khách kia không bằng y, lợi dụng thân hình nhỏ nhắn mà liên tiếp tránh được đón công kích của Hoa Tam Lang.

Thân hình của ả mềm dẻo đến mức không thể tưởng tượng được. Dựa vào thân hình đó, ả ứng phó với hàng loạt động tác với mức độ khó vượt tầm nhận biết của người thường. Ả nghiêng người đi một đao đâm về phía cổ họng Hoa Tam Lang. Đao này bột phát đến, góc độ đâm giống như con rắn độc đang thè lưỡi ra. Hoa Tam Lang có kinh nghiệm chiến trường, nhưng vẫn chậm nửa bước, đao đó chém trên vai y làm rách thành một miếng, rất sâu, máu tuôn ra ào ào.

Thị vệ phía sau bủa vây lên chém một đao, nữ thích khách đó đành phải thu đao về tự vệ. Hoa Tam Lang như đi ‘một chuyến đến trước Quỷ Môn quan’, nếu như thị vệ kia đến muộn một bước thì Hoa Tam Lang lúc này đã bị đao thứ hai của nữ thích khách này chém rách cổ họng rồi. Chỉ là mặc dù thị vệ kia đến ứng cứu kịp thời nhưng thân thủ vẫn kém nữ thích khách kia quá nhiều. Chỉ liều mạng một đao là bị nữ thích khách chém trên vai, cổ ngoẹo về một bên, mắt thấy là không sống được nữa rồi.

Thấy thị vệ ngày càng nhiều, nữ thích khách tự biết không thực hiện được thành công nên nhảy từ mặt đất nhảy qua cái lỗ hổng nóc nhà bị phá tan ban nãy. Hoa Tam Lang không có được khinh công như vậy, sắp xếp cho thị vệ ở lại bảo vệ Vương phi còn mình thì dẫn người đuổi theo. Khi ra đến bên ngoài, nhìn xung quanh thì đâu còn thấy bóng dáng của nữ thích khách đó nữa?

Chỉ có điều y không nhìn thấy nhưng lại có người nhìn thấy.

Quý Thừa Vân phụng mệnh của Lưu Lăng dẫn vài cao thủ đến bảo vệ đám người Lưu Ngọc Châu, đúng lúc nhìn thấy nữ thích khách kia từ trên nóc nhà nhảy ra. Quý Thừa Vân sợ hết hồn, còn tưởng rằng nữ thích khách đã thành công rồi, vì vậy lệnh cho đám thuộc hạ vào phòng nhìn, còn mình nhảy lên nóc nhà, nhìn rồi đuổi theo bóng dáng của nữ thích khách đó. Hai người, một người chạy trốn, một người đuổi theo, tốc độ nhanh như tia chớp.

Dù thế nào thì khinh công của nữ thích khách đó cũng vô cùng xuất chúng, Quý Thừa Vân đuổi theo một đoạn mà khoảng cách ngày càng xa. Y run tay lật hai cái phi tiêu, một tay giơ lên đánh về phía sau lưng nữ thích khách đó.

Nữ thích khách trở người lại đánh bay phi tiêu, Quý Thừa Vân nhân cơ hội kéo gần lại khoảng cách. Từ bên hông rút ra xà tiên (roi) dài ba trượng mà y hay dùng, quất về phía nữ thích khách kia. Phần đuôi xà tiên của Quý Thừa Vân được buộc bởi mười dây đồng, nếu như đánh lên người thì đủ để cắt đầu nữ thích khách kia.

Nữ thích khách vừa cúi đầu tránh thì một đao chém lên roi rắn, dù thế nào cũng không biết roi đó làm từ chất liệu gì nhưng đao sắc cũng không thể chém đứt được. Hai người nhanh chóng tiếp cận gần lại, trong chớp mắt hai bên đã giao đấu mười mấy chiêu.

Lúc này, Hiếu Đế dưới sự bảo vệ của đám thị vệ đại nội và huynh đệ Nhiếp thị đã lui về thư phòng của Lưu Lăng, bốn phía được tinh giáp võ sĩ bảo vệ như thùng sắt. Mấy thích khách tấn công thì có hai người bị bắn chết, thấy không thể hoàn thành được nhiệm vụ nên mấy thích khách còn lại liền rút lui. Nhiếp Nhân Địch bảo đệ đệ Nhiếp Nhân Vương ở lại bảo vệ Hiếu Đế, còn mình thì đuổi theo những thích khách đã chạy ra ngoài kia. Khinh công của y cực kỳ tốt, chỉ bay lên bay xuống ba cái đã đuổi giết được một người trong số đó. Người đó quay thân lại phi ra một kiếm, Nhiếp Nhân Địch không thèm nhìn mà chỉ điểm một cái trên tay người kia. Gã kêu lên một tiếng, không nắm chắc kiếm trong tay và để nó rơi xuống đất.

Nhiếp Nhân Địch rút đao ra, chém xuống, một chiếc đầu người to bay lên, máu chảy ào ào. Y tiếp tục đuổi theo thích khách khác, trong lúc thích khách đó chạy ra tầm hơn trăm mét thì bị y từ phía sau đuổi tới, một đao từ trên đầu chém xuống thành hai mảnh. Thân người thích khách đó bị một đao chém đôi, nội tạng rơi đầy đất, mùi hôi thối vô cùng.

Nhiếp Nhân Địch giết được hai tên thích khách tháo chạy kia. Trong lúc muốn quay về cứu Lưu Lăng thì đột nhiên nghe thấy trong thư phòng có tiếng hô giết. Nhớ lại lời căn dặn của Lưu Lăng, y không có cách nào đành quay về cứu.

Lần công kích thư phòng này là bốn cao thủ, đều mặc áo đen, dùng kiếm dài. Bốn người tạo thành một trận hình tấn công lý tưởng, mấy trăm tinh giáp võ sĩ mà không chặn nổi đòn tấn công liên thủ của bốn người này.

Nhiếp Nhân Địch cười lạnh, quay người nhảy xuống. Y cầm đao chém xuống đầu một thích khách trong đó. Người đó ngoẹo đầu, kiếm trong tay trái đột nhiên đâm ra như con rắn độc đâm trực tiếp đến cổ họng của Nhiếp Nhân Địch.

Ánh mắt Nhiếp Nhân Địch lạnh lùng, giơ tay bắn một cái trên kiếm của kẻ kia, kiếm giống như rồng tức giận oằn oèo một cái, rồi ngày càng rung động mãnh liệt hơn, thích khách nắm không chắc nữa rồi. Nhiếp Nhân Địch giơ tay ra nắm kiếm trong tay, vặn ngược lại thanh kiếm đó cắt ngang cổ họng của thích khách, cũng không cắt sâu thêm nữa.

- Ở trước mặt ta thì chớ dùng kiếm.

Nhiếp Nhân Địch hừ lạnh một tiếng, thân người xoay chuyển đến sau lưng một tên thích khách khác. Kiếm giống như giao long xuất hải, đâm từ phía sau người đó. Vừa lúc đâm trúng vào tim của kẻ kia, nhưng kiếm không đâm xuyên qua ngực, lực của hai kiếm này nắm chuẩn khiến người ta lạnh tim.

Hai thích khách dùng kiếm còn lại nhìn nhau một cái rồi xoay người đi luôn. Hai người vẫn chưa chạy xa được hai bước thì kiếm trong tay trái Nhiếp Nhân Địch đã đâm vào tim của một người trong đó, đao trong tay phải thì đâm vào sau gáy của người còn lại.

Hai người buộc phải quay người chống lại thì bị một mình Nhiếp Nhân Địch giữ lại, muốn chạy cũng khó.

Ba người chưa đấu quá năm chiêu thì một người trong đó đã bị kiếm của Nhiếp Nhân Địch đâm xuyên cổ họng, vẫn đâm rất đúng chỗ. Người cuối cùng kiên trì chống cự được ba chiêu thì cũng bị một kiếm của Nhiếp Nhân Địch chém chết. Giết liên tiếp sáu bảy người mà trên người Nhiếp Nhân Địch không dính một giọt máu.

Bên cạnh Lưu Lăng đã không còn cao thủ nào nên một tên thích khách áo đen thấy thời cơ đã đến nên từ trong đám người xông vào trong, hung hăng xông về phía Lưu Lăng. Chỉ có điều tên đó chưa kịp tới trước thân Lưu Lăng mười lăm mét thì phía sau Lưu Lăng đột nhiên hiện ra mười mấy nỏ thủ, liên tiếp bắn tên như mưa về phía thích khách đó. Tên thích khách múa trường kiếm trong tay lên, kiếm quang hình thành một vầng sáng, thật không ngờ đánh rơi được hơn trăm mũi tên nỏ xuống đất.

Thừa dịp nỏ thủ dùng hết nỏ trong tay, tên thích khách nhún chân một cái, một kiếm xông lại thích sát Lưu Lăng. Sắc mặt Lưu Lăng không hề thay đổi, chỉ lui về phía sau một bước lớn. Rầm rầm một trận, mấy trăm Mạch Đao Thủ mặc trọng giáp từ phía sau hắn xông lên để giết tên thích khách.

Mấy trăm Mạch Đao Thủ bao vây tên thích khách. Mạch Đao Thủ trầm nặng hình thành một trận địa, phối hợp đao chém về phía tên kia. Mặc dù tên thích khách này thân thủ rất cao nhưng chưa từng giao đấu với đám võ sĩ mặc trọng giáp này bao giờ. Mỗi mũi gã đâm ra đều có thể đánh trúng một kẻ địch, khổ nỗi trọng giáp của đối phương chắc chắn, bắn ra hàng loạt đốm lửa thì cũng rất khó phá vỡ được sự phòng ngự của trọng giáp.

Đấu trong năm sáu phút, tên thích khách tưởng chừng giơ tay là đạt được rồi, nhưng khi giết ba bốn Mạch Đao Thủ trọng giáp, trên người đã trúng một đao nát hết da thịt, máu chảy đầm đìa, gã đâm một kiếm về phía ngực Lưu Lăng.

Rất gần! Gần trong gang tấc!

Lưu Lăng nghiêng mình, kiếm thất bại, tay tên thích khách vừa chuyển, mũi kiếm vẫn lao thẳng đến tim của Lưu Lăng.

Kiếm này đâm đến quá nhanh, Lưu Lăng không thể né tránh!

Kiếm đâm phụp một tiếng đâm xuyên qua bộ trang phục cưới của Lưu Lăng nhưng không đâm về trước mấy.

Từ trong tay áo của Lưu Lăng lôi ra một con dao găm, thừa dịp thích khách kia kinh ngạc hắn đâm dao găm về phía ngực tên thích khách. Thích khách chỉ thấy ngực mình lạnh buốt, lúc đầu cúi xuống nhìn thì con dao găm đã hoàn toàn đâm vào thân thể gã. Thậm chí ban nãy gã đã nhìn thấy sự hoảng loạn trong mắt của Lưu Lăng, thậm chí còn đoán bảo kiếm đã đâm xuyên vào tim Lưu Lăng rồi, điều duy nhất chưa ngờ tới đó là tim mình cũng bị vũ khí đâm xuyên.

Nhìn thoáng qua Lưu Lăng, thích khách kia không cam lòng ngã xuống.

Lưu Lăng thở phào một cái, thứ này quả nhiên lợi hại. Hắn cố ý dẫn người đó lại, sau đó nhân cơ hội ám sát đối thủ. Tất cả những điều này đều nằm trong dự tính của Lưu Lăng.

Thích khách làm loạn trong Vương phủ hoàn toàn nằm ngoài dự tính của mọi người, không dưới trăm người ở chung quanh phóng hỏa. Cũng may Lưu Lăng đã bố trí binh lực đầy đủ ở trong Vương phủ, đám thị vệ đều hình thành trận địa chờ phản công, rất nhanh mấy tên thích khách kia đều bị đám tinh giáp võ sĩ giết chết.

Sau khi phần lớn thích khách bị chém giết, Lưu Lăng cuối cùng cũng có thể thở phào nhẹ nhõm. Số ít thích khách bắt đầu chạy trốn, nhưng dưới vòng vây của Mạch Đao Thủ mặc trọng giáp, dường như va chạm sắt thép trong rừng không tìm thấy đường, rất nhanh bị loạn đao chém thịt nát xương tan.

Lưu Lăng thấy tình thế đã bị khống chế, liền dẫn vài thị vệ đến thư phòng. Mặc dù hắn phái huynh đệ Nhiếp thị đến bên cạnh Hiếu Đế nhưng hắn vẫn không yên tâm về an toàn của Hiếu Đế.

Đang bước lớn về phía trước thì đột nhiên trong bóng đen hiện ra một người có dáng lưng gù, nhanh chóng đến gần trước mặt hắn.

- Trên người của ngươi có chí bảo hộ thân, có thể ngăn cản đao kiếm nhưng không ngăn được một chưởng của lão phu.

Người này chính là Lý Diên Phúc mai phục ở đây đã lâu.

Lão quan sát rất lâu, đặc biệt là một kiếm kia khi đâm trên ngực Lưu Lăng. Lão nhìn rất rõ, vì vậy đã kết luận trên người hắn có bảo giáp hộ thân, chỉ là lão có niềm tin, lợi khí đâm không được bảo giáp, lão chỉ cần một chưởng có thể đập nát tim của Lưu Lăng.

Lão giơ tay lên đã đẩy ra, chỉ là trong lòng đột nhiên nổi lên sự sợ hãi. Bởi vì lão phát hiện mặt Lưu Lăng không hề có chút sợ hãi nào, đôi mắt vô cùng bình tĩnh mà thậm chí còn có ý cười trêu tức người khác.

Hắn dựa vào cái gì? Vì sao không sợ hãi?

Lão nhìn thấy Lưu Lăng giơ tay lên, cầm một vật gì đó với hình thù kỳ quái.

Thình thịch!

Lão nhìn thấy ngón tay Lưu Lăng chuyển động, lập tức đốm lửa của đá đánh lửa hiện ra, sau đó một đốm lửa từ ống kỳ quái đó phun ra, sau đó lão đã bị lực lớn đó đập phải. Sau khi ngã đất, Lý Diên Phúc cảm thấy thân mình đã hoàn toàn mất lực, lụi tàn giống một kẻ đang mê man.

Lão cố sức cúi đầu nhìn thoáng qua, chỉ thấy ngực mình đã bị vô số đinh sắt đập nát, máu me bê bết.

- Ta đã đánh giá thấp hắn sao? Nếu không phải nhìn thấy bên cạnh Lưu Lăng chỉ có hai ba thị vệ và nghĩ mình nắm chắc thắng lợi trong tay, không ngăn cản ở trước mà trực tiếp ra tay thì mình có thành công được không?

Lý Diên Phúc ngẫm nghĩ một chút, cười khổ lắc đầu, người trẻ ở phía trước đang chầm chậm bước lại đây, có lẽ sớm đã nghĩ ra vô số đối sách rồi?

Lão để mình nhắm mắt lại, không phải nhìn, không cần suy nghĩ thêm nữa. Lão lưng gù nhắm mắt, chỉ là không muốn chết mà không nhắm được mắt.

Phản kích

Lưu Lăng không thể phát minh ra súng, cho dù hắn có nắm rõ toàn bộ quy trình công nghệ, nhưng ở thời đại này, hắn vẫn không thể chế tạo ra súng. Cái hắn dùng để công phá Lý Diên Phúc, chính là hỏa khí, nhưng vẫn vô cùng thô sơ. Tuy nhiên, hắn lại biết làm sao phối chế ra thuốc nổ, lợi dụng sức công phá của hỏa dược để bắn đinh sắt ra, thì đơn giản hơn nhiều so với việc chế tạo một cây súng.

Lý Diên Phúc chết rồi, tay của Lưu Lăng cũng bị ảnh hưởng của thuốc nổ, làm cho lòng bàn tay toét ra một vết thương lớn, máu thuận theo tay hắn chảy xuống, nhỏ giọt xuống.

Hôn lễ với màu đỏ vui mừng, được điểm xuyến bằng máu.

Ngay một ngày trước khi Lưu lăng tổ chức hôn lễ và gặp thích sát, Nhị Hoàng Tử Liêu Quốc lưu thủ tại Thượng Kinh Liêu Quốc, Da Luật Đức Quang làm mất một hũ tên. Chuyện này tuy gây cảnh giác cho Da Luật Đức Quang, nhưng dù sao cũng chỉ là một hũ tên, không đáng giá bao nhiêu, điều tra hết người bên dưới vẫn không thấy tung tích, Da Luật Đức Quang cũng không để trong lòng. Hắn thật sự không chắc đó là do hắn đánh rơi giữa đường lúc đi săn, hay đem về rồi mới bị lấy trộm mất.

Da Luật Đức Quang thượng võ, Da Luật Hùng Cơ dẫn quân khai chiến với Tây Hạ mà để hắn ở lại Thượng Kinh, nên vị Nhị Hoàng Tử không thể ngồi không này cứ thích đem theo 3, 5 thị vệ chạy tới Hoang Dã Hồng săn bắn. Có bắt được con nào không không quan trọng, hắn chính là thích cái cảm giác thúc ngựa tung bay này, săn bắn về rồi mất một hũ tên, đây không phải chuyện lớn gì.

Chỉ là Da Luật Đức Quang không ngờ tới là, 7 ngày sau, hũ tên mà hắn mất lại xuất hiện ở U Châu. Vả lại, một cây trong số đó còn cắm phập vào lưng của đại ca hắn, Da Luật Cực.

Da Luật Cực bị thích sát, cũng may y có thói quen mặc “nhuyễn giáp”. Cây tên đó tuy lực đạo mạnh vô cùng, nhưng do bị nhuyễn giáp cản lại nên không cắm quá sâu vào thịt, máu chảy không ít, vết thương cũng không nhỏ, nhưng sau khi xử lý rồi thì rất nhanh là có thể hồi phục. Vết thương trên lưng không nghiêm trọng, nghiêm trọng là vết thương lòng của y.

Loại tên này, y biết.

Đây là cung tên tiêu chuẩn được phát cho cung tên thủ của Cung Trướng quân Đại Liêu, loại tên này có hơn triệu cây trong kho vũ khí của Cung Trướng quân U Châu. Loại tên này Da Luật Cực cũng từng dùng qua. Tuy tên pháp của y không thể sánh bằng với nhị đệ Da Luật Đức Quang, nhưng bắn mười trúng bảy trong cự ly 50 mét thì hoàn toàn không thành vấn đề.

Tên không có vấn đề, vấn đề là ai dám to gan như thế dám đến thích sát Hoàng Đế Bệ Hạ tương lai của Liêu Quốc, vả lại còn dùng tên của Cung Trướng quân Đại Liêu. Chế độ quản lý của Cung Trướng quân cực kỳ nghiêm ngặt, số lượng tên lấy ra mỗi ngày từ kho vũ khí đều có ghi lại, ai lấy, lấy bao nhiêu nhìn qua là biết rõ, cho dù là tên dùng cho cung tên thủ và kỵ binh luyện tập, cũng được ghi chép trong sổ sách, dùng bao nhiêu, còn lại bao nhiêu, đều có người phụ trách kiểm kê.

Da Luật Cực tin rằng ở U Châu không ai to gan như thế. Y phái người điều tra ghi chép của kho vũ khí. Tổng số tên mà cung thủ và kỵ binh dùng để luyện tập là 13 ngàn cây, trừ ra những cây đã hỏng, còn lại 12,786 cây tên trả lại cho kho vũ khí, số lượng không hề sai lệch, cũng chính là, mấy chục mũi tên mà mười mấy thích khách bắn về phía y tuyệt đối không xuất phát từ kho vũ khí của U Châu.

Mà ngoại trừ U Châu ra, quân trú ở các địa phương đều là “châu binh”, mũi tên được trang bị có sự khác biệt hiển nhiên với mũi tên mà Cung Trướng quân sử dụng, mà trong phạm vi ngàn dặm, chỉ có 80 ngàn quân Cung Trướng trấn thủ U Châu.

Vậy mũi tên này từ đâu tới?

Da Luật Cực cầm chơi mũi tên trong tay, nhìn một chữ được khắc trên đuôi nó.

“Thượng”

Da Luật Cực biết chữ này có nghĩa là gì, Thượng Kinh. Không sai, mũi tên này đến từ Cung Trướng quân của Thượng Kinh, sở dĩ y cho người điều tra kho vũ khí của U Châu, là vì sợ có người ăn cắp tên rồi khắc chữ này lên đó, mũi tên của Cung Trướng quân U Châu có khắc chữ “Nam”.

Một mũi tên được cấp phát tới Cung Trướng quân của Thượng Kinh, điều đó nói lên điều gì?

Da Luật Cực đột nhiên lần nữa bẻ gãy mũi tên trong tay, vứt mạnh lên trên đất. Vì tay ra sức kéo theo vết thương, đau tới mức mặt y nhăn nhúm dữ tợn. Da Luật Cực không phải chưa từng bị thích sát qua, từ năm y 11 tuổi tới giờ, y đã trải qua ít nhất 9 cuộc thích sát, nhưng mỗi lần đều gặp dữ hóa lành. Chỉ duy có lần này, y tức sôi gan, lửa giận thiêu đốt lý trí của y, và khiến y thêm phần sát ý.

Y đột nhiên quét tất cả đồ vật trên bàn xuống đất: ly rượu, tấu chương, thư từ, mọi thứ lộn xộn cả lên, giống như tâm trạng của y bây giờ.

Một phần tấu chương rơi xuống đất rồi mở toanh ra. Ngày tháng trên đó là nửa tháng trước, phần tấu chương này được chuyển tới từ Thượng Kinh, do Hán Đế Lưu Trác đệ trình lên cho Hoàng Đế Đại Liêu, Da Luật Hùng Cơ. Da Luật Hùng Cơ đang viễn chinh Tây Hạ ngoài nhận được 10 cỗ Liên Phát Hỏa Tiễn từ sứ thần Hán quốc ra, còn nhận được phần tấu chương này nữa.

Đại ý của tấu chương là, vì Bắc Hán thật sự không có khả năng xuất binh, những mong Hoàng Đế Bệ Hạ Đại Liêu thứ lỗi. Nhưng Hán quốc là thuộc quốc của Đại Liêu, đáng lý phải có cống hiến cho Đại Liêu, ngoại trừ mười cỗ Hỏa Tiễn Liên Phát dùng trên chiến trường ra, Hoàng đế Hán quốc Lưu Trác còn nguyện dâng Đại Đồng Phủ cho Đại Liêu quốc làm cứ điểm quân sự giam chân Tây Hạ.

Sau phần tấu chương này còn có phê thị của Da Luật Hùng Cơ, đưa tới Thượng Kinh, U Châu, cho hai hoàng tử truyền nhau đọc.

Da Luật Cực nhìn chằm chằm vào phần tấn chương này, hai mắt dần đỏ bẵng ra. Tại sao phải đưa tới Thượng Kinh? Đệ đệ Da Luật Đức Quang tới giờ vẫn chưa được phong một tước vị đàng hoàng, nó dựa vào đâu mà được xem phần tấu chương này trước? Phụ thân làm vậy là có ý gì? Không lẽ người đang muốn nói y biết, người định đổi lập Da Luật Đức Quang làm Thái Tử sao? Một thằng nhóc mới 16 tuổi, nó có năng lực gì mà lưu thủ Thượng Kinh chứ? Nó có tư cách gì được xem tấu chương phụ thân phê duyệt trước?

Phụ thân đã quyết định lập Đại Đồng Phủ làm Tây Kinh rồi, cũng chính là đô thành thứ 5 của Đại Liêu Quốc. Vị trí chiến lược của Tây Kinh vô cùng quan trọng, sau này ắt sẽ phái trọng thần trấn giữ. Bản thân y trấn giữ bên Nam Kinh này nhiều năm, hiểu rõ người Hán hơn ai hết. Tây Kinh sau này ắt sẽ có trọng binh trấn thủ, mà y chắc chắn sẽ là Thống Soái của mấy chục vạn binh mã của hai bên Nam Kinh và Tây Kinh. Lúc quan trọng thế này, lại có người chạy tới thích sát y. Mưu đồ cái gì?

Da Luật Cực càng nghĩ càng hận, nhưng suy nghĩ lại càng ngày càng rõ ràng.

Da Luật Đức Quang luôn muốn một mình thống lĩnh một đạo quân ở bên ngoài, nhưng phụ thân cứ lấy cớ nó còn nhỏ thoái thác. Bây giờ nó đã 16 tuổi, và còn là một con người uy vũ, rất có uy vọng trong quân. Nếu nó nài nỉ phụ thân, nói không chừng vị trí lưu thủ Tây Kinh sẽ thuộc về nó. Nhưng trước đó còn có một điều kiện, chính là phụ thân nhất định sẽ trưng cầu ý kiến của y. Nếu y cũng muốn thống lĩnh binh mã Tây Kinh, thì tuyệt đối sẽ không tới lượt Da Luật Đức Quang nhúng tay vào quân vụ!

Phụ thân luôn biết rõ mong muốn thế chỗ cho y của Da Luật Đức Quang. Y thân là trưởng tử, và còn là một người con xuất sắc nhất, tương lai ắt sẽ kế thừa Hoàng vị. Mà dã tâm của Da Luật Đức Quang quá lớn, vì thế phụ thân luôn kiềm chân nó, không để nó nhúng tay vào quân vụ. Vốn dĩ y vì có sự yêu thương của phụ thân mà luôn không xem Da Luật Đức Quang là đối thủ, nhưng lần này phụ thân đi Tây Hạ lại cho Da Luật Đức Quang lưu thủ Thượng Kinh! Đây là một tín hiệu, một tín hiệu cho biết phụ thân sẽ trọng dụng Da Luật Đức Quang!

Không lẽ vì y quá không tích cực sao?

Không! Nhất định là tên đó nói lời đường mật lừa gạt lòng tin của phụ thân! Lại thêm Tể tướng Bắc Phủ Tiêu Thiện Thần luôn ủng hộ Da Luật Đức Quang. Lần này phụ thân thân chinh Tây Hạ, Tiêu Thiện Thần đi theo phụ thân. Suốt thời gian dài như vậy, phụ thân cũng khó tránh chịu ảnh hưởng của Tiêu Thiện Thần! Mấy năm nay y luôn không ở Thượng Kinh, Đại Vu Việt Da Luật Mạc Ca có còn ủng hộ y như trước hay không? Da Luật Đức Quang ở Thượng Kinh, không lẽ chưa từng lôi kéo qua vị Đại Vu Việt có thể ảnh hưởng đến quyết định của phụ thân sao?

Càng nghĩ, Da Luật Cực càng thấy lạnh sống lưng, lạnh thấu tim!

Nếu Tiêu Thiện Thần đại diện cho Hậu Tộc, lại thêm Đại Vu Việt Da Luật Mạc Ca đại diện cho Hoàng Tộc đều đứng bên Da Luật Đức Quang, vậy y có mấy phần thắng trong cuộc chiến tranh giành Hoàng vị này?

Nhân lúc phụ thân còn ở Tây Hạ, Da Luật Đức Quang vì muốn có được vị trí lưu thủ Tây Kinh, nên phái người tới thích sát y, sau đó Da Luật Đức Quang còn có thể danh chính ngôn thuận kiêm luôn vị trí lưu thủ Nam Kinh, nắm trong tay mấy chục vạn đại quân, bên Thượng Kinh lại không ngừng có người nói tốt cho nó, Hoàng vị ngoài nó ra thì còn của ai nữa!

Da Luật Đức Quang! Ngươi ác lắm, không lẽ trong lòng ngươi không có chút tình huynh đệ sao?

Da Luật Cực nghĩ tới nghiến răng nghiến lợi, siết nắm tay lại thật chặt thật hung hãn.

Được! Ngươi bất nhân, thì đừng trách ta bất nghĩa! Nếu ngươi đã muốn giết ta, vậy thì ta sẽ không để ngươi sống an nhàn đâu. Người Hán chẳng phải có một câu nói sao đệ đệ tốt của ta, nhận quà mà không trả lễ là không được đâu!

Sau khi tin Lưu Lăng đại hôn bị hành thích truyền ra, cả Thái Nguyên Phủ đều rung động. Lão bá tánh bàn tán xôn xao, đều đang đoán ai lại thâm độc như thế, lại hạ sát thủ vào ngày đại hỉ của Trung Vương thế này?

Sau đó lại có tin truyền ra, khách quan lễ trong phủ Trung Vương đều có không ít người bị ngộ thương. Sứ giả do Đại Vương Nam Diện Cung, Da Luật Cực phái đến còn bị thích khách đâm một nhát vào ngực, gần mất mạng tới nơi. Hoàng Đế Bệ Hạ phái cả ngự y tới trị thương cho sứ giả. Hộ vệ sứ giả đó đem theo nghe nói đều bị giết cả rồi. Nếu không phải thị vệ của Trung Vương liều mình cứu, vị sứ giả đại nhân này thật không chỉ bị một nhát thôi đâu.

Lão bá tánh đều đang suy đoán, là ai mà có mối thù lớn thế này với Trung Vương và người Khiết Đan? Không chỉ định nhân ngày đại hôn của Trung Vương biến hôn lễ thành tang lễ, ngay cả sứ giả của người Khiết Đan cũng giết? Rất nhanh, có người thông minh suy đoán, nhất định là dư nghiệp của Bạch Liên Giáo làm, chỉ có họ mới hận Lưu Lăng và người Khiết Đan vào tận xương tủy!

Ngay sau đó lại có tin truyền ra từ phủ Trung Vương, người hành thích Lưu Lăng hôm đó chính là dư nghiệp Bạch Liên Giáo, người dẫn đầu chính là Thánh Nữ Bạch Liên Giáo, Loan Ảnh lần trước tẩu thoát. Thế là, người thông minh đoán ra đáp án này cười, chỉ số uy vọng của y trong bà con lối xóm tăng nhanh.

- Bị thương rồi mà chàng còn cười!

Lư Ngọc Châu nâng cánh tay của Lưu Lăng lên thay thuốc cho hắn, sau đó cẩn thận băng bó kỹ càng, hai mắt đỏ hoe.

Tuy nhiên bị thích khách phá hoại ngày đại hỉ của mình, nhưng dù sao hôm nay bây giờ nàng cũng đã là Vương phi danh chính ngôn thuận của Lưu Lăng, mặc dù quá trình có hơi khúc khuỷu, nhưng kết quả đúng như mong đợi từ rất lâu rất lâu của nàng.

Lưu Lăng vỗ vỗ mu bàn tay trắng muốt của Lư Ngọc Châu, cười nói: - Chỉ là vết thương nhỏ thôi, không sao đâu.

- Chảy nhiều máu thế này rồi còn nói không sao.

Lư Ngọc Châu áp cánh tay bị thương của Lưu Lăng lên má mình, cứ như muốn dùng thân nhiệt của mình trị thương cho phu quân vậy. Lưu Lăng đưa cánh tay còn lại lên giúp nàng sửa lại đôi chút tóc con bị rối ở trước trán, thoáng cười rồi nói: - Đương nhiên không sao rồi, thương ngoài da thôi mà, làm gì cũng không bị cản trở.

Hắn nhìn khuôn mặt yêu kiều động lòng người của Lư Ngọc Châu, càng cười càng tá ác: - Nếu nàng không tin, để ta chứng minh cho nàng thấy.

- Thiếp biết Vương gia cơ thể cường tráng, nhưng Vương gia nghỉ ngơi cho tốt thì hơn.

- Chuyện nghỉ ngơi không gấp, chúng ta cần làm xong chuyện quan trọng đã.

Lư Ngọc Châu ngẩng đầu, chớp chớp đôi mắt to đen láy hỏi: - Bệ Hạ không phải cố tình hạ chỉ cho Vương gia mấy ngày ở nhà để nghỉ ngơi sao? Còn chuyện quan trọng gì phải làm nữa?

Lưu lăng cười hei hei: - Ta đang vội, vội động phòng bù…

Lời nhắn của tác giả: Chương sau rất nóng bỏng, mời các bạn độc giả chuẩn bị tâm lý thật tốt, độc giả nghiêm túc có thể nhảy qua chương này...

Làm đau âm ỷ

Thiếu nữ mười sáu tuổi thì có bao nhiêu sự non nớt? Có bao nhiêu thuần khiết? Có bao nhiêu mê người?

Lưu Lăng dùng một phương thức trực tiếp nhất chính là "Xâm nhập" để tìm hiểu.

Tuy rằng hôn lễ xảy ra hỗn loạn, nhưng mượn cơ hội này đã loại trừ đi rất nhiều mối tai hoạ, nói tóm lại những cái mất đi ít hơn so với có được. Chủ yếu hơn chính là, Đại Đồng Phủ đã bị Da Luật Hùng Cơ xác định làm Tây Kinh rồi. Theo lý thuyết nước Hán thiếu mất cái thành quan trọng trấn giữ và mấy trăm dặm lãnh thổ bao quanh, Lưu Lăng không nên vui mừng mới đúng, nhưng hắn cố tình cho rằng việc này cùng với việc mình cưới một người vợ đẹp có thể coi như việc đại tốt.

Trong lòng vui sướng, Lưu Lăng ở trên giường thể hiện sự hùng phong của người đàn ông lại càng uy phong lẫm liệt. Sau khi trải qua lần đầu Lư Ngọc Châu liên tục cầu xin, Lưu Lăng vẫn nghiêm khắc như cũ muốn nàng hai lần. Sau khi mai nở hai độ người con gái càng lộ vẻ xinh đẹp không gì sánh được, Lưu Lăng quả thực là thích thú không thể buông tay.

Quả đúng như đánh giá của Lưu Lăng khi lần đầu tiên nhìn thấy Lư Ngọc Châu, bộ ngực của nàng hoàn mỹ vô cùng. So với Liễu Mi Nhi xinh xắn lanh lợi mà nói, thiếu nữ hoa quý mười sáu tuổi này có một đôi nhũ đỉnh ngạo nghễ. Cũng không phải lớn thái quá, mà là vừa vặn có thể bóp. Trắng nõn, non nớt, nhỏ trượt, mười phần co dãn.

Bờ eo của nàng so với Liễu Mi Nhi thoáng thô một ít, nhưng không có thừa ra một tí nào cả, ngược lại càng thêm sự mềm dẻo có lực. Đây là Lư Ngọc Châu từ nhỏ tập võ tạo thành, bờ eo của nàng lúc uốn éo quả thực có thể muốn mạng người. Và bộ phận liên kết vòng eo, còn lại cái mông là hơi có vẻ gầy chút, đương nhiên, gầy này là đối với Liễu Mi Nhi mà nói đó. Nếu là nói Lư Ngọc Châu nắm giữ một cặp gò bồng đảo hoàn mỹ, Liễu Mi Nhi lại có một cặp mông hoàn mỹ khiến Lưu Lăng si mê.

Dáng người Lư Ngọc Châu so với Liễu Mi Nhi thấp nhỏ một chút, dựa theo kích thước hiện đại mà nói hẳn là khoảng một mét sáu hai, tuy rằng hơi thấp một chút, nhưng với dáng người gần như tỉ lệ hoàng kim làm cho nàng nhìn hết sức đẹp mắt. Duy nhất có cái mông hơi tiếc nuối một chút, Lưu Lăng cũng tin tưởng dưới sự khai thác, cày cấy không ngừng của mình, cộng thêm hấp thu đầy đủ chất dinh dưỡng tuyệt đối sẽ trưởng thành một cặp mông cực đẹp.

Ngoài bộ ngực hoàn mỹ của Lư Ngọc Châu, càng làm cho Lưu Lăng thích thú chính là phía dưới Lư Ngọc Châu lại vẫn không có một sợi lông tơ. Trơn bóng, nõn nà, xinh đẹp thật giống như siêu kiệt tác hoàn mỹ nhất.

Dưới bụng bằng phẳng là một mảnh trắng nõn, phía dưới chỗ đó là một vùng nhấp nhô, còn có khe nhỏ màu hồng phấn. Khe nhỏ kia cảnh sắc đẹp đẽ, khiến Lưu Lăng không kìm nổi ham muốn âu yếm.

Lư Ngọc Châu ôm lấy cánh tay Lưu Lăng, từ từ nhắm hai mắt, đỏ mặt, hơi thở không còn được bình thường như cũ. Nhớ lại vừa rồi phu quân điên cuồng đòi hỏi chiếm lấy, Trong lòng Lư Ngọc Châu tràn đầy hạnh phúc đồng thời vừa có một chút sợ hãi. Thật sự sợ hãi, sợ hắn đổi ý lại muốn mình một lần, nếu như vậy nàng thật sự chịu không nổi nữa.

Cái vật nhiệt huyết kia, thô lớn như thế, nàng đều không thể tin được, một cây đồ vật khổng lồ như vậy, mình không ngờ có thể chứa được. Tuy rằng lúc mới bắt đầu đau chết đi sống lại, nhưng cùng với lời nói ngọt ngào của phu quân bên tai, còn không ngừng hôn môi, vuốt ve, nàng dần dần thích ứng cái cảm giác phong phú này, và dần dần cảm nhận được cái hạnh phúc được lấp đầy này.

Lại nghĩ tới phu quân phơi bày mình ra trong những tư thế xấu hổ, Lư Ngọc Châu liền đỏ mặt, thật là giống một quả mật đào chín muồi. Ngẫm lại động tác này, bây giờ lồng ngực nàng còn đập thình thịch. Chàng... Phu quân làm sao có thể hiểu nhiều chuyện giữa nam nữ như vậy? Mấy động tác này, nếu không phải là mình từ nhỏ tập võ vòng eo mềm dẻo, có mấy cái căn bản là làm không được.

Nghĩ một chút, càng nghĩ mặt của nàng lại càng nóng lên, hơi thở cũng không nhẹ nhàng được.

Ừ... Phu quân dường như thích nhất cho mình nằm úp sấp ở trên giường, nhếch cái mông lên cao, chàng ở phía sau đỡ bờ eo của mình rồi đi vào, nhưng như vậy sâu lắm sâu lắm, dương vật giống như đã đâm xuyên qua bụng của mình, cảm giác vật kia nhúc nhích ở trong bụng của mình, thật là khó chịu.

Tuy rằng như vậy rất đau, nhưng nếu phu quân thích, về sau mình nhất định phải thích ứng với tư thế này.

Nghĩ đến đây, mặt Lư Ngọc Châu quả thực nóng tưởng chừng có thể làm chín một quả trứng gà. Thật không mắc cỡ, không ngờ nghĩ mấy thứ này, Lư Ngọc Châu, ngươi làm sao vậy?

Lư Ngọc Châu bắt buộc chính mình không được suy nghĩ tiếp, nhưng càng là bắt buộc càng không kìm nổi suy nghĩ cảm giác phút hồi ức kia.

Tay Lưu Lăng vẫn luôn vuốt ve trên bụng trơn nhẵn của Lư Ngọc Châu, hắn nhắm mắt lại nghỉ ngơi, bụng Lư Ngọc Châu hơi phập phồng, hắn có thể cảm giác được lúc này trong lòng của nàng không bình tĩnh. Mắt hơi hé ra một chút, Lưu Lăng nhìn thoáng qua Lư Ngọc châu đang nằm trên ngực mình, ôm lấy một cánh tay của mình nghỉ ngơi, chỉ thấy cả bộ ngực phập phồng, dường như là đang chịu đựng cái gì "đau đớn "

Nhìn vẻ mặt thiếu nữ khác thường, Lưu Lăng khóe miệng muốn bật cười.

Bàn tay Lưu Lăng vuốt ve ở trên bụng trơn nhẵn của Lư Ngọc Châu lặng lẽ dần đi xuống dưới, tay trùm lên khe nhỏ kia, ngón giữa động đến, đè xuống hạt nhỏ nhô ra.

- A...

Lư Ngọc Châu mở to mắt, từ trong lỗ mũi phát ra một tiếng rên rỉ mất hồn.

- Vương gia... Không được, thiếp thân, thiếp thân thật sự không được rồi.

Lưu Lăng không để ý tới lời cầu xin của Lư Ngọc Châu, động tác trên ngón tay vẫn như cũ tiến hành đâu vào đấy, dưới sự trêu đùa của hắn, hạt nho nhỏ kia dần dần trở nên cương cứng. Cảm giác xúc tu, cũng dần dần trở nên trắng mịn. Lưu Lăng thật không ngờ, thân thể Lư Ngọc Châu nhạy cảm như vậy, chỉ cần vừa chạm vào hạt nho nhỏ kia, nàng đã chịu không nổi.

Hành động của Lưu Lăng làm cho thân thể Lư Ngọc Châu bứt rứt vặn vẹo, hai cái chân thon dài rắn chắc lắc qua lắc lại, dường như là muốn ngăn cản động tác của Lưu Lăng, hoặc như là đang chịu đựng khó có thể chống cự đau đớn. Chỉ có điều nàng lại chưa từng nghĩ đến, động tác nàng như vậy, không thể nghi ngờ là đang lửa cháy đổ thêm dầu.

Theo động tác tay Lưu Lăng càng lúc càng nhanh, tiếng rên rỉ trong cổ họng Lư Ngọc Châu cũng càng lúc càng lớn. Đây là một sự rối tinh rối mù của người con gái thuần khiết, lúc nàng đang hưởng thụ khoái cảm cũng chỉ là phát ra thanh âm ư ử nhàm chán, lại giống như âm thanh tự nhiên. Lưu Lăng thích sự thuần khiết của Lư Ngọc Châu, cho nên hắn không có ý định dạy nàng làm tình như thế nào, hắn thích xem vẻ mặt nàng cầu xin, thích nghe nàng ta mất hồn rên rỉ.

Rốt cục, thân mình Lư Ngọc Châu run lên một cái, hai chân của nàng khép chặt lại, thân nàng trong nháy mắt cứng ngắc sau từ từ mềm nhũn ra. Từ trong cổ họng của nàng phát ra một tiếng gọi to mê người, lập tức đến thở dốc nặng nhọc.

Ngực nàng phập phồng, hai ti vú kia vốn còn lõm xuống đã lặng yên nhô ra, ngạo mạn đứng thẳng người. Từ hô hấp của nàng, hai vánh vú kia mềm mại run rẩy.

Lưu Lăng nắm tay Lư Ngọc Châu để ở cái kia của mình, cảm nhận được phu quân cần, ánh mắt Lư Ngọc Châu hơi híp lại lộ ra một nét có lỗi. Nàng thật sự bất lực rồi, nếu là lại làm một lần nữa, nàng biết chắc rằng mình không chịu nổi. Đã trải qua hai lần làm tình, bây giờ còn sưng đỏ.

- Vương gia... Thiếp thân thật sự không được, Vương gia, ngày mai thiếp thân lại hầu hạ Vương gia...

Lư Ngọc Châu có chút áy náy nói.

Lưu Lăng mỉm cười, nhẹ nhàng hôn ở trên trán của nàng và nói: - Ta làm sao không biết thương tiếc lại muốn nàng được? Nàng mới trải qua việc này, nếu ta một mực đòi hỏi thân thể của nàng cũng không có sức mà làm nữa. Chỉ có điều...

Lưu Lăng nhíu mày, trên mặt có vẻ rất đau khổ.

- Làm sao vậy Vương gia?

Lư Ngọc Châu vội vàng hỏi.

Lưu Lăng cau mày nói: - Chỉ là cái của ta như bây giờ thật sự rất khó chịu, nếu không được giải phóng ra ngoài, nói không chừng sẽ nhịn mà chết mất.

- Vậy... Vậy thiếp thân liền...

- Không được, thân thể của nàng cũng chịu không nổi, ta không thể vì mình mà làm tổn thương nàng.

Lưu Lăng nghiêm trang nói.

- Vậy bây giờ phải làm sao a.

Lư Ngọc Châu nước mắt như sắp trào ra.

- Kỳ thật, cũng không phải không có biện pháp khác, chỉ là như vậy ta sợ nàng có chút không thích ứng. Thôi, không nói nữa, nói không chừng qua một hồi sẽ không sao rồi.

Lưu Lăng sắc mặt ảm đạm nói.

Lư Ngọc Châu cắn môi, sắc mặt kiên định nói: - Vương gia liền nói cho thiếp thân nên làm như thế nào đi, thiếp thân không thể nhìn Vương gia đau khổ. Thiếp là thê tử Vương gia, lý nên... Lý nên hầu hạ Vương gia.

Lưu Lăng mỉm cười, ừ, hắn mỉm cười.

Thật là cô gái tốt a, cô gái như vậy nếu như đặt ở thời hiện đại, quả thực chính là cận kề diệt sạch giống rồi. Ở hiện đại, ai nếu có thể cưới được một người vợ như vậy, không phải là hạnh phúc chết đi được?

- Nàng... Kỳ thật, kỳ thật cũng có thể dùng miệng đấy, nhưng miệng của nàng nhỏ như vậy, ta sợ... Ừm!

Lưu Lăng nháy mắt liền căng thẳng thân mình, Lư Ngọc Châu đang lúc lời Lưu Lăng còn chưa nói hết liền hiểu ý, cúi đầu ngậm lấy dương vật. Một loại cảm giác khó nói lên lời xộc thẳng vào trong đầu Lưu Lăng, không ngờ trong nháy mắt khiến suy nghĩ của hắn trở nên trống rỗng.

Sau một lúc lâu, Lư Ngọc Châu ngây thơ ngẩng đầu lên, trong ánh mắt biểu đạt có ý là, cứ ngậm như vậy là được rồi sao?

Chỉ có điều kế tiếp nàng rất nhanh liền hiểu được nên làm như thế nào, bởi vì Lưu Lăng đã kéo đầu nàng xuống, đẩy một chút một chút. Lư Ngọc Châu cố gắng thích ứng với nhịp điệu của Lưu Lăng, cố gắng làm sao hàm răng của mình không làm đau của quý của Vương gia. Nàng rất vất vả, cũng cam tâm tình nguyện.

Sáng sớm ngày thứ hai, hai người tỉnh lại đều đã muộn. Tháng bảy mặt trời luôn mọc sớm, khi bọn họ còn chưa ngủ qua khung cửa sổ trời đã rạng sáng. Lưu Lăng không biết mình khi nào thì ngủ, án theo thời gian hiện tại mà đoán, hẳn là sau bốn giờ sáng. Khi tỉnh lại mặt trời đã lên cao, hắn vốn không muốn đánh thức Lư Ngọc Châu để nàng nghỉ ngơi nhiều một chút nữa, chỉ có điều lúc Lưu Lăng lặng lẽ rút cánh tay bị Lư Ngọc Châu gối lên có chút nhức mỏi, Lư Ngọc Châu đã tỉnh.

- Tỉnh rồi à?

- Dạ.

- Ta dậy trước ra bên ngoài xem sao, trong Vương phủ ngày hôm qua đánh nhau lung tung lộn xộn, ta đi xem bọn thị vệ bị thương. Nàng đừng vội dậy nên nằm thêm chút nữa, dù sao cũng không có việc gì.

Lưu Lăng cúi đầu hôn một cái lên má Lư Ngọc Châu rồi nói.

- Không ạ, thiếp thân dậy đi làm chút điểm tâm cho Vương gia.

Lư Ngọc Châu có chút bướng bỉnh nói. Tuy rằng lúc nàng đứng dậy vẻ mặt rõ ràng thoáng đờ đẫn, hiển nhiên là bởi vì thân thể của nàng còn chưa có hồi phục lại.

- Điểm tâm bọn hạ nhân sẽ đưa tới, nàng không cần đi.

- Không được... Hôm nay, là thiếp thân lần đầu tiên làm điểm tâm cho Vương gia, không thể ở trên giường không dậy, đây là chuyện thiếp thân nhất định phải làm.

Âm thanh nàng rất nhẹ, nhưng kiên định bất di bất dịch.

- Vậy được rồi... Để Mi Nhi giúp nàng cùng làm.

Lư Ngọc Châu ngẫm nghĩ một chút ừ một tiếng, sau đó được Lưu Lăng giúp mới miễn cưỡng xuống giường, chỉ có điều động đậy, là làm đau âm ỉ.

Luyện binh

Từ khi trận phong ba Lưu Lăng bị thích sát đến nay đã hơn một tháng trôi qua, quãng thời gian này Hán Quốc không có đại sự gì xảy ra. Mấy ngày nay Lưu Lăng gần như ít khi thượng triều, sau khi nghỉ ngơi ở nhà 5 ngày, là hắn bắt tay vào việc huấn luyện kỵ binh. 1000 tân binh từ Ứng Châu đem về đều là tinh tráng chi sĩ, cộng thêm 500 lão binh được chọn từ doanh Thần Chiến, doanh Thần Cơ, doanh Thần Phong, một đội kỵ binh do 1500 tân binh lão binh hợp thành ra đời.

Doanh địa của kỵ binh xây trên mảnh đất Hiếu Đế ban cho Lưu Lăng để xây Vương phủ. Diện tích mảnh đất hơn 40 mẫu, có chứa 3000 kỵ binh cũng không thành vấn đề.

Ngựa đều là chiến mã thượng hạng vận chuyển từ Tây Hạ qua, thân cao thể tráng, 3000 con chiến mã, 1500 kỵ binh, Lưu lăng định đào tạo ra một đội kỳ binh có thể làm xoay chuyển tình thế trên chiến trường. Sau khi kỵ binh bước vào doanh địa, thì doanh Kỵ Binh lập tức bị phong bế, thủ vệ ngoài đại doanh nhiều vô kể, đừng nói là bá tánh thông thường, cho dù là đạt quan hiển quý không có sự cho phép của Lưu Lăng muốn tới gần cũng khó. Nếu có người tới gần doanh Kỵ Binh trong phạm vi 200 mét, lập tức sẽ bị võ sĩ tinh giáp đi tuần tra đuổi ra ngay.

Một khu vực rộng lớn tới 40 mấy mẫu này hoàn toàn trở thành cấm địa của Thái Nguyên Phủ, thậm chí thủ bị nơi đây còn nghiệm ngặt hơn cả nội viện Hoàng Cung. Vòng ngoài nhất do sai dịch của Bát Môn Tuần Sát Ti tuần tra, một đội 10 người, thay nhau thị sát không chừa kẻ hở, bất cứ ai cũng không được vượt rào. Bên trong thì có đội ngũ tuần tra do 200 thân vệ trong Vương phủ của Lưu Lăng hợp thành, 100 người chia thành 10 đội, mỗi ngày thay ca 1 lần, tuần tra không ngừng.

Những người ra vào đại doanh Kỵ Binh, đều có đeo thẻ bài thông hành do Lưu lăng ký tên ban phát. Loại thẻ bài này bao gồm cả miếng của Lưu Lăng, cũng chỉ có 6 miếng mà thôi, cũng có nghĩa là người có tư cách bước vào doanh Kỵ Binh, không tính Lưu lăng thì cũng chỉ có 5 người, thậm chí cả Hoàng Đế Bệ Hạ cũng không thể tùy tiện ra vào, đây là điều mà lúc trước Hiếu Đế hứa với Lưu Lăng.

Sáu người này, là Lưu Lăng, Thắng Đồ Dã Hồ, Triệu Nhị, Hoa Tam Lang, Độc Cô Nhuệ Chí, ngay cả 3 Chỉ Huy Sứ của Kinh Sư doanh, người có thể xem là tâm phúc của Lưu Lăng cũng không có tư cách bước vào trong đại doanh Kỵ Binh.

Lưu Lăng mỗi sáng bước vào đại doanh Kỵ Binh, đến khuya mới trở ra, không ai biết hắn huấn luyện những tân binh đó như thế nào, cách thức huấn luyện của hắn quả thực đã trở thành cơ mật tối cao của Hán Quốc.

Nhưng cũng có người dè bỉu. Họ cảm thấy bất luận Lưu Lăng tận tâm tận lực huấn luyện tân binh tới mức nào, chỉ dựa vào có 1500 người thì làm được cái gì? Cho dù có thể huấn luyện những kỵ binh đó thành cường binh lấy một chọi mười, khi đối mặt với mấy chục ngàn, thậm chí mấy trăm ngàn đại quân thì cũng có ảnh hưởng gì tới chiến cục đâu?

Tuy rằng kỵ binh có một ưu thế nhất định khi chiến đấu với bộ binh. 1500 kỵ binh, nếu vận dụng tốt thì cũng có thể kích bại 10 ngàn, thậm chí 15 ngàn bộ binh không được trang bị trọng giáp. Nhưng nếu đối mặt với một đội bộ binh với số lượng từ 20 ngàn trở lên và còn kết thành trận thế, cho dù không được trang bị trọng giáp, ưu thế về tốc độ của kỵ binh cũng sẽ do số lượng địch quá nhiều mà hoàn toàn biến mất, một khi đã rơi vào địch trận, kỵ binh cao cao tại thượng căn bản chỉ là cái bia ngắm của vũ khí trong tay bộ binh, nhắm là trúng.

Nếu là du kích ở bên ngoài, dùng tên nỏ giết địch, thì trừ phi đối phương là một đám loạn binh không hề có sức chiến đấu như phản binh của Âu Dương Chuyên, nếu không sẽ khó lòng mà gây đả kích chí mạng đối với bộ binh. Vả lại xạ trình của kỵ cung kém xa bộ cung, một khi đã giằng co với nhau thì kỵ binh rất có khả năng sẽ bị tiễn trận của bộ binh tiêu diệt.

Vì thế, rất nhiều người đều không thấy một đội kỵ binh 1500 người có thể đạt tới thành tựu to lớn cỡ nào. Dù sao giả tưởng địch trước mắt của Hán Quốc là Liêu, Hạ, Chu, mà ba nước này lại đều nổi tiếng về kỵ binh của họ. Khoan chưa nói đội Thiết Kỵ của Hạ, Liêu, cho dù là đội Tinh Giáp Kỵ Binh Hổ Bí của Đại Chu, 10 ngàn kỵ binh được võ trang lên tới tận răng đủ để dễ dàng tiêu diệt 1500 kỵ binh này rồi.

Đại Liêu sở hữu 400 ngàn Lang Kỵ Cung Trướng Quân, số lượng kỵ binh mà Hạ sở hữu cũng không dưới 400 ngàn. Nếu kỵ binh xung trận theo quy mô lớn, 1500 người mà Lưu Lăng huấn luyện này lập tức sẽ bị dòng người của đối phương dìm chết, thậm chí còn không thể làm ra trò trống gì.

Không chỉ những người hiểu sơ về quân sự, mà ngay cả những văn nhân hoàn toàn không hiểu gì hết cũng không trông mong gì ở đội kỵ binh này, và ngay cả trong quân đội cũng đã nghe rất nhiều tiếng chất vấn rồi. Kỵ binh ưu tú thiện chiến nhất mà quân Hán từng thấy, không ai khác ngoài 10 ngàn tinh kỵ dưới trướng Đại Chu Đại Đô Hộ Hổ Bí Tướng quân, La Húc. Đây đã là sức chiến đấu cực hạn của kỵ binh mà họ có thể nghĩ tới rồi, không ai nghĩ rằng Lưu Lăng có thể huấn luyện ra một đội kỵ binh có thể vượt qua sức chiến đấu của Tinh Kỵ Hổ Bí.

Thậm chí ngay cả Hiếu Đế cũng không quá để tâm đến 1500 kỵ binh này. Theo y thấy, sở dĩ Lưu Lăng đem toàn bộ tâm tư đặt lên việc luyện binh, chẳng qua là vì muốn rời xa triều đường. Thà làm một tướng quân luyện binh, cũng không muốn làm một quyền thần quyền khuynh triều dã. Đối với một đệ đệ trên chiến trường thì gan to như trời, trên quan trường thì e dè nhút nhát như thế, Hiếu Đế cũng thấy bó tay. Chỉ là y không muốn ép Lưu Lăng quá nhiều, nên mới nói trong triều còn có mấy trọng thần Lư Sâm, Hầu Thân, Bùi Hạo, Chu Diên Công có thể dùng, Lưu Lăng đã muốn luyện binh thì Hiếu Đế cũng không can thiệp quá nhiều.

Lưu Lăng cũng mặc kệ phi nghị của ngoại giới, mỗi ngày đúng giờ bước vào đại doanh Kỵ Binh, không tới lúc lên đèn cũng không đi ra.

Đại Liêu ở phía Bắc và Tây Hạ càng đánh càng hăng, hai bên đều không rảnh chú ý tới động tĩnh của Hán Quốc, lại thêm Hán Quốc dâng trọng trấn Đại Đồng cho Liêu Quốc. Nộ khí lúc trước của Da Luật Hùng Cơ do Hán Quốc không chịu xuất binh đã hoàn toàn tiêu tan. Thay vì Hán Quốc phái tới mấy mươi ngàn binh già binh yếu, có được một trọng trấn có thể giám sát cả Trung Nguyên như thế thì được lợi nhiều hơn. Chỉ cần cho đóng quân 100 ngàn ở Đại Đồng, bất luận là Tây Hạ hay Đại Chu, đều sẽ khó chịu như đang bị cài ghim trong mắt.

Thật ra Hiếu Đế làm như thế cũng không hoàn toàn là tỏ ra mềm yếu trước mặt Đại Liêu. Về mặt lý thuyết thì Đại Đồng là lãnh thổ của Hán Quốc, chỉ là từ khi Hán Quốc thành lập tới nay luôn bị Liêu Lang Kỵ quấy nhiễu, trong phạm vi trăm dặm không người sinh sống. Mà lòng thèm khát Đại Đồng của Đại Liêu rõ như ban ngày, dùng một vùng đất có cũng như không đổi lấy hòa binh trong 5 năm thậm chí lâu hơn, cuộc buôn bán này cũng không lỗ vốn. Huống hồ, Lưu Lăng đã sớm có sắp xếp bên trong Đại Đồng Phủ, nếu không làm sao mà dễ dàng dâng nó đi?

Lưu Lăng đứng trên sân nhìn các tân binh huấn luyện, vẻ mặt hết sức nghiêm túc.

- Vương gia, huấn mã luyện binh kiểu này, tổn thất có phải hơi lớn không?

Hoa Linh e dè hỏi.

3000 con chiến mã thượng hạng, bây giờ đã tổn thất hơn 200 con, nhìn mà thấy đau cả lòng.

Lưu Lăng lắc lắc đầu không trả lời Hoa Tam Lang, mà hỏi Triệu Nhị: - Hôm nay thức ăn của các kỵ binh và thức ăn của chiến mã đã được đưa tới chưa?

Triệu Nhị ôm quyền nói: - Vương gia, đã đưa tới rồi ạ, 200 con heo sống, 15 xe cỏ tươi.

- Vẫn theo cách ta chỉ lần trước cho ngựa ăn, thịt cho kỵ binh thì cứ thoải mái cung cấp, không cần tiết kiệm.

Hắn nhìn Hoa Tam Lang một cái thở dài nói: - Ta biết ngươi đau lòng chiến mã, nhìn từng con từng con ngựa chết đói, không lẽ ta không đau lòng? Kiên trì thêm chút nữa đi, ta tin nhất định sẽ thành công. Ngoài ra, cắt thịt của những con ngựa đã chết ra, bị dụng!

Hoa Tam lang kinh ngạc: - Vương gia, ngựa ăn cỏ, bây giờ cho ăn thịt sống đã là rất khó khăn rồi, không lẽ Vương gia còn định cho chúng ăn thịt của mấy con đã chết sao?

Lưu Lăng chậm rãi gật đầu: - Cái ta cần không phải chiến mã, mà là mãnh thú!

- Cách huấn luyện ngựa kiểu này thuộc hạ chưa từng nghe nói qua. Thuộc hạ thật sự không dám tưởng tượng, nếu chiến mã thật sự được huấn luyện theo đúng những gì Vương gia nghĩ, sau này khi lên tới chiến trường sẽ là khí thế như thế nào đây.

Triệu Nhị cảm thán.

- Ta thì cảm thấy tuy cách làm thế này tiêu hao rất nhiều, nhưng nếu khi thành công, trên chiến trường còn đội kỵ binh nào dám đối đầu với chúng ta?

Độc Cô Nhuệ Chí dựa lưng vào cột, nheo mắt nhìn những tân binh đang luyện tập kỹ thuật chém giết.

Lưu Lăng cười và nói: - Chiến thuật đột kích, kỹ xảo đấu tay đôi của kỵ binh thì giao cho Thắng Đồ Tướng Quân, Độc Cô Tướng Quân chỉ dẫn. Tiễn thuật, thì giao cho Tam Lang dạy, Triệu Nhị phụ trách hậu cần quân nhu, chỉ cần qua một thời gian chiến mã thích nghi với thức ăn có mùi máu tanh, không cần một năm, đội quân này sẽ có sức chiến đấu nhất định.

Thắng Đồ Dã Hồ đang chỉ điểm các tân binh dùng giáo trên sân. Kỵ giáo mà các kỵ binh sử dụng đều được tinh công chế tạo. Không giống như bộ giáo cứng bền, sức đàn hồi của cán giáo kỵ giáo vô cùng xuất sắc, loại giáo này muốn luyện được thì rất khó. Nói tới trình độ sử dụng giáo, Thắng Đồ Dã Hồ và Độc Cô Nhuệ Chí đều vô cùng xuất chúng, hai người dùng giáo, một người cương mãnh vô cùng, một người linh hoạt đa dạng. Chỉ cần học điểm tốt của hai người này, đã là giúp ích rất nhiều cho sự tiến bộ của các tân binh.

Đang nói chuyện, một thân binh chạy tới hành một quân lễ cho Lưu lăng rồi nói: - Khởi bẩm Vương gia, có quân báo quan trọng, Bệ Hạ phái người đưa tới đây.

Lưu Lăng gật đầu, kết quả hắn chỉ xem qua rồi cười: - Sài Vinh cuối cùng cũng không nhịn được, các ngươi xem, Dương Nghiệp truyền về tin tức nói đã hạ lệnh tập kết 200 ngàn đại quân, chuẩn bị tiến công Tây Hạ, đoạt về 3 Châu Phủ bị Tây Hạ chiếm đóng, nhưng lần này Sài Vinh rút kinh nghiệm, không ngự giá thân chinh nữa.

Hoa Tam Lang hỏi: - Vậy ai lãnh binh?

Lưu Lăng đáp: - Hành quân Nguyên Soái là Đại Tướng quân Hữu Uy Vệ Mông Hổ, Phó Soái là Đại Tướng quân Tả Võ Vệ Hàn Canh.

Triệu Nhị nói: - Mông Hổ và quân Tây Hạ giao tay mấy lần, hắn làm Nguyên Soái cũng không có gì lạ.

Độc Cô Nhuệ Chí hừm một tiếng nói: - Càng là như thế, quân Chu tất bại!

Ánh mắt Lưu Lăng sáng lên, ồ một tiếng rồi hỏi: - Độc Cô Tướng quân nghĩ sao?

Độc Cô Nhuệ Chí nói: - Lâu nay nghe nói Đại Tướng quân Võ Uy Vệ Mông Hổ thiện chiến, nhưng người này lâu nay luôn tự cho mình là đúng, lại thêm năm ngoái tác chiến với Tây Hạ thắng nhiều thua ít, khó tránh sẽ có lòng khính địch. Nếu Sài Vinh phái người khác làm Nguyên Soái, do kiêng dè sức chiến đấu của quân Tây Hạ có lẽ sẽ tiến hành từng bước một, đánh chỗ nào chắc chỗ đấy, dùng 200 ngàn đại quân đoạt lại 3 Châu Phủ không phải không được. Chỉ là Mông Hổ tự cho rằng quân Tây Hạ là bại tướng dưới tay, khó tránh tâm cao khí ngạo, nếu hắn khinh địch mạo tiến, khó nói sẽ không giẫm vào vết xe đổ của năm ngoái, trúng mai phục của Ngôi Danh Nẵng Tiêu.

Lưu Lăng ha ha cười lớn: - Độc Cô Tướng quân một lời định Mông Hổ thành bại. Hay, quá hay!

Độc Cô Nhuệ Chí ngẩn người, dè dặt hỏi: - Vương gia cũng nghĩ vậy sao?

Lưu Lăng gật đầu nói: - Ta phải nhanh chóng đích thân viết một bức thư cho Đỗ Nghĩa và Lưu Mậu, đợi sau khi Chu binh đại bại quay về, hai tên địa chủ này còn không lời to? Không nhân lúc này chia phần, đợi hai tên địa chủ này nuốt hết đồ vào túi rồi muốn họ nhả ra lại thì sẽ khó đây.

Đi xa

Đại Hán tháng 9 năm thứ 3 Gia Phong, đại chiến của Đại Liêu và Tây Hạ vẫn rất hăng máu, đã đối chọi nhau suốt mấy tháng liền, cả hai bên đều đang sôi máu, đều ra vẻ không thắng tuyệt không lui binh .Không nằm ngoài dự đoán của Lưu Lăng, 200 ngàn đại quân của Đại Chu quả nhiên bị quân Tây Hạ kích bại. Mông Hổ khinh địch mạo tiến, trúng phải mai phục của đại tướng Tây Hạ Lý Bàn Cổ, cả đội trung quân hơn 40 ngàn người đều bị Lý Bàn Cổ đánh tan tác. Mông Hổ chỉ đem theo hơn 500 người đột phá vòng vây tháo chạy.

Từ đó về sau Quân Chu rơi vào thế bị động, bị quân Tây Hạ đè đầu mà đánh. 200 ngàn đại quân của Đại Chu khí thế hừng hừng đi Bắc phạt, mất gần 2 tháng không chỉ hao tổn trăm mấy chục ngàn đại quân, mà Đại Tướng quân Tả Võ Vệ Hàn Canh càng tử trận nữa, có thể nói là tổn thất thảm hại. Mông Hổ không còn cách nào giằng co tiếp nữa, gửi tấu chương thỉnh tội lên trên rồi quay về Tấn Châu.

Giữa đường bị Chỉ Huy Sứ Phủ Viễn Quân Đỗ Nghĩa và quân Ứng Châu của Lưu Mậu cản giết mấy đợt, phía sau còn có truy binh của Lý Bàn Cổ. Chu binh bị đánh đau thương tan tác, cứ đâm đầu tháo chạy tán loạn, khí giới quân nhu vứt bỏ giữa đường nhiều không kể xiết. 200 ngàn đại quân sống sót quay về Tấn Châu không tới 50 ngàn, binh khí áo giáp phần lớn đều bị vứt bỏ.

Trận chiến này thành toàn uy danh của Lý Bàn Cổ, dùng 60 ngàn nhân mã đối kháng với sự xâm nhập của 200 ngàn đại quân của Đại Chu, không chỉ đánh cho quân Chu đại bại, còn giết chết Phó Nguyên soái quân Chu Đại Tướng quân Tả Võ Vệ, Hàn Canh. Chiến tích như thế quả thật rất đáng kiêu hãnh.

Trận chiến này cũng thành toàn Đỗ Nghĩa và Lưu Mậu. Hai Trình Giảo Kim xông ra giữa đường này có thể nói là hời to rồi. Binh khí áo giáp mà quân Chu vứt bỏ, chỉ riêng những gì nhặt được thôi cũng đã đủ trang bị cho một đội quân 10 ngàn người lên tới tận răng rồi, chỉ riêng chiến mã thôi cũng được không dưới 2000 con, còn các quân giới vật tư khác nhiều không kể xiết.

Không nói Phủ Viễn Quân, cho dù là quân Ứng Châu dưới trướng Lưu Mậu, trang bị gần như thay mới hết. Trang bị của tinh binh thuộc 12 Vệ Quân Chu tốt hơn nhiều so với của Quân Hán được cấp phát. Chẳng hạn như giáp da, độ dày của giáp da của binh sĩ 12 Vệ Quân Chu hơn hẳn của Quân Hán tới 2 lần, vả lại những vị trí hiểm yếu còn có thiết giáp bảo vệ. So ra mà nói, trang bị của Quân Hán thô sơ hơn rất nhiều. Ngoại trừ hoành đao đều sắc nhọn như nhau ra, những thứ khác của Quân Chu đều là yêu cầu xa vời đối với binh sĩ Quân Hán.

Mà khinh giáp và mã giáo được trang bị cho khinh kỵ binh quân Chu, đối với quân Hán mà nói càng là trang bị chỉ có trong mơ. Mã giáo giá cả đắt đỏ, không phải binh sĩ thông thường có thể dùng được. Quốc lực Đại Chu hơn Hán Quốc tới 10 lần, thậm chí còn có thể hơn, mà Đại Chu lại lấy võ lập quốc, trang bị cho binh sĩ đều vô cùng tinh xảo, cũng không phải các xưởng chế tạo của Đại Hán có thể làm ra.

Chỉ là không đợi hai người Đỗ Nghĩa và Lưu Mậu chia tang vật, Lưu Lăng sợ 1 bức thư của hắn không đủ khiến hai người họ chia phần cho hắn, nên cố tình phái Hoa Tam Lang đi. Hoa Tam Lang chỉ trực tiếp nói 1 câu, tất cả trang bị để lại cho Phủ Viễn Quân và quân Ứng Châu, chiến mã thì Vương gia lấy hết.

Đỗ Nghĩa và Lưu Mậu đau lòng tới mức xém khóc. Nếu khóc mà có tác dụng thì hai người họ đảm bảo sẽ không ngần ngại khóc như mưa. Nhìn hơn 2000 con chiến mã đã vào tới tay rồi mà còn bị Vương gia vơ vét, hai người quả thật khóc không ra nước mắt luôn, cũng may Vương gia không định bắt họ nộp luôn đống trang bị, nếu không hai người họ nhất định sẽ chạy tới Thái Nguyên nói cho ra nhẽ với Vương gia.

Đỗ Nghĩa và Lưu Mậu đều biết Vương gia đang huấn luyện kỵ binh ở Thái Nguyên. Nhưng 1500 kỵ binh đã chiếm dụng hết 3000 con chiến mã thượng hạng đổi từ Tây Hạ về, đã vậy còn chiếm luôn hơn 2000 con chiến mã tốt xấu không đều này, họ cảm thấy khó hiểu. Nếu hai người họ nhìn thấy mỗi ngày đều có mấy chục con chiến mã chết đi trong đại doanh Kỵ Binh ở Thái Nguyên Phủ, e là hai người họ lòng đau như cắt mất.

Sau khi Mông Hổ quay về Tấn Châu, thì cho thân binh trói mình lại chui vào xe tù, áp giải lên Biện Châu. Y biết tội mình lần này không thể dung thứ. Y vốn định dùng 200 ngàn đại quân nhân lúc Tây Hạ đang kích chiến với Đại Liêu, một hơi đoạt lại ba Châu Phủ một cách dễ dàng. Ai ngờ quân Tây Hạ ngược lại đánh bại y một cách dễ dàng, 200 ngàn đại quân mới qua có hơn 1 tháng thì chỉ còn lại hơn 40 ngàn người. Tội này đủ y chết mười lần rồi.

Mông Hổ tới Biện Châu rồi, Sài Vinh niệm tình chiến công trước đó của y, lại thêm lão tướng quân Hàn Canh vừa tử trận, Sài Vinh không muốn một lúc mất đi hai vị Đại Tướng quân, nên không giết Mông Hổ, chỉ là giáng y xuống thành Lang Tướng, tạm thời tiếp quản chức vụ Tướng quân Hữu Uy Vệ. Vì là chiến bại, nên lão tướng quân Hàn Canh tử trận nhưng không được phong hầu, có thể nói là bị Mông Hổ liên lụy rồi.

Điều duy nhất khiến Sài Vinh cảm thấy an tâm là, lần đại bại này có một tiểu tướng vô cùng nổi bật. Các lộ đại quân binh bại như núi đổ rối loạn vô cùng, duy chỉ có 3000 nhân mã dưới trướng vị tiểu tướng này là an toàn lui về hết, không chỉ chưa từng mất người nào, còn chủ động đoạn hậu dùng thuật nghi binh dọa đám Phủ Viễn Quân của Hán quốc đang truy sát chạy tán loạn. Nếu không phải y quả quyết e là khi Quân Chu về tới Tấn Châu, ngay cả một nửa nhân mã của 40 ngàn người cũng không còn.

Vị tiểu tướng đó tên là Dương Nghiệp.

Sài Vinh đương nhiên sẽ không ngờ, cái “dùng kế nghi binh dọa cho Phủ Viễn Quân chạy mất” của Dương Nghiệp chẳng qua do Đỗ Nghĩa và Dương Nghiệp thương lượng dàn dựng. Nếu thay một viên Chu tướng khác đoạn hậu, e là Đỗ Nghĩa và Lưu Mậu sớm đã vồ tới như hổ như sói rồi. Quân Hán cướp trang bị cướp tới đỏ cả mắt thì làm sao mà sợ 3000 quân Chu đại bại?

Đại Hán tháng 10 năm thứ 3 Gia Phong, khí trời phía Bắc đột nhiên chuyển lạnh. Cuộc chiến giữa Tây Hạ và Đại Liêu vì tuyết rơi sớm mà đã tới hồi kết, nhưng 200 ngàn quân Cung Trướng không hề lui về Thượng Kinh, mà đóng trại trên đại thảo nguyên cách núi Kỳ Liên Tây Hạ 200 dặm về Bắc, quân trại kéo dài tới 50 dặm.

Và Tây Hạ thì tụ binh 160 ngàn, đóng ở bên núi Kỳ Liên mặt đối mặt với quân Liêu.

Lần này Da Luật Hùng Cơ hùng tâm sôi sục tới, lúc đầu đích thực thế như phá trúc, thảo nguyên phía bắc núi Kỳ Liên toàn bộ đều bị quân Liêu chiếm cứ. Chỉ là sau khi trận chiến kéo tới tháng 7, thế công của quân Liêu một rồi hai lần thất bại. Đến tháng 9, quân đội mà Ngôi Danh Nẵng Tiêu triệu tập ngày càng nhiều, đã từ thế bị động chịu đánh lúc đầu chuyển sang công phòng đều có. Càng khiến Da Luật Hùng Cơ không ngờ tới, chính là Ngôi Danh Nẵng Tiêu dám phái 1 đội kỵ binh 20 ngàn người vòng qua chiến tuyến, tấn công vào nội cảnh Liêu Quốc, giết người cướp của trên vùng thảo nguyên hơn 500 dặm. Nếu không phải Thượng Kinh lưu thủ, Da Luật Đức Quang quả quyết xuất kích, e là nhánh binh Tây Hạ này đã làm chiến hỏa lan tới dưới thành Thượng Kinh rồi.

Da Luật Hùng Cơ bị sự ngoan cường và thiện chiến của quân Tây Hạ làm cho nổi giận đã quên đi ý đồ ban đầu của mình. Hoàng đế bệ hạ của Đại Liêu bây giờ đã máu sôi sung sục, không triệt để kích bại Ngôi Danh Nẵng Tiêu một lần, ông ta tuyệt đối không cam tâm hồi kinh.

Tuyết trắng rơi suốt 4 ngày, thảo nguyên đã một màu trắng xóa, chỉ là binh sĩ song phương ai cũng không có tâm trạng thưởng thức cảnh sắc hùng vĩ tráng lệ như thế của thiên nhiên. Tâm tư đều dùng trên việc làm thế nào để để sưởi ấm, mùa đông năm nay đến quá sớm, sớm tới mức song phương đều chưa chuẩn bị gì hết.

Đến giữa tháng 11 năm thứ 3 Gia Phong Đại Hán, Da Luật Hùng Cơ bất đắc dĩ để lại 100 ngàn đại quân đóng ở phía bắc núi Kỳ Liên, còn ông ta thì dẫn theo 100 ngàn Lang Kỵ quay về Thượng Kinh. Ngôi Danh Nẵng Tiêu thì để lại Trần Thâu Nhàn suất lĩnh 160 ngàn đại quân nghiêm trận chuẩn bị, chỉ đợi thời tiết hơi có chuyển biến tốt là lập tức phát động quyết chiến với quân Liêu. Bản thân Ngôi Danh Nẵng Tiêu thì đem theo mấy ngàn thân binh về Hưng Khánh Phủ, bắt đầu trù bị cho cuộc phản công Đại Liêu sắp tới.

Bị người ta chặn đánh trước cửa nhà mấy tháng, nếu không đánh vào nhà người ta, Ngôi Danh Nẵng Tiêu tuyệt đối không để chuyện như vậy xảy ra, chỉ cần nhất cử kích bại 100 ngàn quân Liêu lưu thủ núi Kỳ Liên, y chẳng quan tâm đến khí trời rét lạnh có thích hợp xuất binh hay không, mà sẽ lập tức phát binh Bắc thượng tấn công vào Đại Liêu.

Và lúc này, trong đại doanh Kỵ Binh ở Thái Nguyên Phủ, sau mấy tháng nỗ lực, số chiến mã đã làm quen với thịt sống máu tươi đã gần 1700 con. 1300 con chiến mã thượng hạng vì không thích ứng với thức ăn có mùi màu đã bị chết vì đói. Số chiến mã sống sót, trước là làm quen với cỏ tươi được rưới máu, sau lại quen với việc ăn thịt sống.

Tới tháng chạp năm thứ 3 Gia Phong Đại Hán, 1500 con chiến mã được tuyển chọn kỹ lưỡng đã hoàn toàn thay đổi. Đâu còn nhìn thấy nét thuần phục nào của ngựa nữa, từng con chiến mã hung dữ thô bạo y như những con mãnh thú bị bỏ đói chạy xuống núi. Ngoại trừ những kỵ sĩ ngày đêm ở bên chúng ra, bất cứ ai cũng đừng hòng tới gần chúng.

Mà những kỵ binh bị Thắng Đồ Dã Hồ và Độc Cô Nhuệ Chí huấn luyện theo kiểu ma quỷ hết mấy tháng trời, ai ai cũng thay hình đổi dạng, sát khí đằng đằng.

Mà lúc này cách thời điểm cuối năm đã không tới nửa tháng. Thái Nguyên Phủ đã bắt đầu giăng đèn đón Tết, chỉ có cả vùng đất rộng lớn của đại doanh Kỵ Binh là vẫn nghiêm túc tĩnh lặng.

Mồng 23 tháng Chạp, tiễn Ông Táo.

Qua thời gian nửa năm, giáp trụ đặc chế cho 1500 kỵ binh này cuối cùng cũng hoàn thành, và được đưa tới đại doanh Kỵ Binh. Trọng giáp che toàn thân do Lưu Lăng thiết kế, tổng trọng lượng khoảng 30 kg, từ vật liệu tới thủ công đều yêu cầu lấy tinh không lấy kém, chỉ riêng số tiền chi cho 1500 bộ giáp này, cũng đủ cho cả trại binh Ứng Châu chi tiêu hết mùa đông rồi.

Ngay tại mùa đông lạnh tới mức nước nhỏ thành băng này, vào lúc đêm khuya ngày 23 tháng Chạp, Lưu Lăng đem theo 1500 kỵ binh được trang bị trọng giáp lặng lẽ rời khỏi Thái Nguyên Phủ. Không ai biết hắn đã đi đâu, thậm chí ngay cả đương kim Thiên tử Lưu Trác cũng chỉ biết Trung Vương rời Thái Nguyên Phủ đi luyện binh rồi, rốt cuộc là tới đâu thì y cũng không biết.

Còn phần lớn người thì, căn bản cũng chẳng biết đại doanh Kỵ Binh của Thái Nguyên Phủ đã trống mất rồi.

Sai dịch của Bát Môn Tuần Sát Ti mỗi ngày vẫn nghiêm mật tuần tra, không ai có thể tùy tiện đến gần khu vực đại doanh Kỵ Binh. Tầng bên trong, thân binh của Vương phủ Lưu Lăng cũng không có rời khỏi, vẫn duy trì thói quen vốn có tuần tra không sót một kẽ hở. Binh sĩ thủ thành chỉ biết có một đội quân mã rời thành, đội kỵ binh giương cờ của doanh Thần Chiến trong đêm tối, cũng không gây cho họ chú ý.

Trong làn tuyết bay phất phới, đội kỵ binh đã chính thức xác lập phiên hiệu là “Tu La” lặng lẽ đi xa.

Chặn và giết

Trên thảo nguyên Ô Lạp Đặc ở phía Nam núi Kỳ Liên Tây Hạ, có hơn 24000 quân Thiên Đức Tây Hạ đang đóng tại đây. Liêu Quốc ồ ạt xâm chiếm, ngoài quân Hắc Sơn Uy Phúc ra, thì quân Thiên Đức là toán binh gần núi Kỳ Liên nhất. Hồi giữa tháng 8, phần lớn nhân mã của quân Thiên Đức đã được Ngôi Danh Nẵng Tiêu điều tới mạn Bắc núi Kỳ Liên bố trí phòng thủ.

Còn lại 4100 mấy quân Thiên Đức đóng tại chỗ cũ. Nguyên nhân để 4000 mấy người này lại là là để canh chừng Hán Quốc ở phía Đông. Dù sao thì nơi đóng quân của quân Thiên Đức quá gần biên giới của Hán Quốc và Đại Hạ. Kiến Hùng quân của Hán Quốc nếu hành quân gấp và nhanh thì chỉ cần 3 ngày là có thể vượt biên giới xuất hiện trên phòng tuyến của quân Thiên Đức.

Với quan hệ của Liêu và Hán, khó đảm bảo Kiến Hùng uân sẽ không nhân cơ hội qua đây lấy lợi. 4100 mấy người tuy không nhiều, nhưng chỉ cần duy trì hai ngày, kỵ binh Tây Hạ ở tuyến đầu núi Kỳ Liên cũng có thể tới kịp.

Quan chỉ huy cao nhất của Thiên Đức quân lưu thủ trú địa tên là Miệt Điệp, là một Lang Tướng Tòng Tứ Phẩm. Lai lịch của người này khá lớn, y từng là đội trưởng thân binh của Hoàng Đế Đại Hạ Ngôi Danh Nẵng Tiêu, sau đó cho xuống địa phương nhậm chức Bách Phu Trưởng của Thiên Đức quân, và y chỉ dùng 4 năm để tích lũy quân công thăng tiến thành Lang Tướng, không hổ danh là một tướng lĩnh thiện chiến.

Như thường lệ, Miệt Điệp sắp xếp xong nhân thủ tuần tra canh đêm rồi quay về quân trướng của mình. Trú địa của Thiên Đức quân không như những đội quân khác, trong vòng bán kính 300 dặm không có lấy một nơi được gọi là thành thị, ngôi làng lớn nhất chẳng qua cũng chỉ có hơn 500 hộ mục dân, không có tường thành bao bọc, doanh trại của Thiên Đức quân dựa vào một ngọn núi nhỏ vô danh.

Ngọn núi nhỏ này có lẽ cũng được tính là thuộc về dãy núi Kỳ Liên. Tuy rằng nó cách núi Kỳ Liên tới mấy trăm dặm, và chính giữa còn có một vùng thảo nguyên mênh mông vô bờ ngay cả một cái gò núi cũng không thấy. Nhưng người dân ở đây đều chắc chắn rằng ngọn núi nhỏ này là 1 bộ phận của núi Kỳ Liên. Đương nhiên, những tiểu tiết như thế sẽ không ai đi tìm hiểu sâu, mọi người nói đúng thì là đúng, không nhất thiết phải quá chấp nhất.

Doanh trại của Thiên Đức quân tựa núi mà dựng, nhưng ngọn núi này thật sự là quá thấp đi, lại không dốc, nơi cao nhất trông cũng chỉ 70, 80 mét mà thôi. Sở dĩ chọn đóng trại tại đây, chẳng qua là vì có thể dựng một đài quan sát trên núi, có thể nhìn xa hơn so với khi đứng trên thảo nguyên.

Các mục dân đều biết đâu là nơi an toàn nhất, vì thế xung quanh không xa trú địa của Thiên Đức quân có không ít những làng lớn nhỏ, cái lớn nhất có hơn 500 hộ mục dân, cái nhỏ nhất thì chỉ có năm cái lều của hai gia đình là hai anh em. Làng gần nhất cách trú địa Thiên Đức quân chỉ cần tốn nửa canh giờ cưỡi ngựa là tới, cái xa nhất thì phi nhanh ngựa không tới hai canh giờ là tới.

Phạm vi tuần phòng của Thiên Đức quân vô cùng lớn. Biên giới dài 300 dặm phía đông ngoại trừ dựa vào phong hỏa đài cảnh báo ra, còn nhờ kỵ binh của Thiên Đức quân chia mỗi đơn vị 300 người đi tuần tra.

Sau khi về tới trong lều của mình, Miệt Điệp uống một tô trà sữa đã kết băng, một cảm giác mát lạnh thấu triệt nội tâm lập tức lan tỏa khắp người, cơn mát lạnh khiến tinh thần y tập trung, y rùng mình một cái. Miệt Điệp ngồi xuống bắt đầu suy nghĩ những chuyện bất thường mấy hôm nay.

Đội tuần tra phái đi 20 ngày trước theo lý mà nói đáng nhẽ đã về trước đêm nay. 300 kỵ binh thay ca cũng đã xuất phát được 3 ngày rồi, đội ngũ do Thiên Phu Trưởng An Khố suất lĩnh không lý nào tới hôm nay mà vẫn chưa về tới. Mỗi lần kỵ binh tuần phòng, trễ lắm nửa tháng là phải quay về trú địa, mà An Khố nổi tiếng tính tình nóng vội, tốc độ lượt về luôn nhanh hơn nhiều so với lượt đi. Cho dù đường khó đi vì tuyết rơi, với cung cách lĩnh binh cường ngạnh của An Khố, trễ lắm 17, 18 ngày là đã về tới mới đúng.

Miệt Điệp treo lại cái ấm sắt lớn đựng đầy trà sữa lên trên đống lửa, nhìn hơi nóng dần tỏa ra từ cái ấm, long mày của y căng chặt lại.

- Người đâu!

Thân binh đang trực ở bên ngoài vén cái màn cửa nặng nề lên rồi chui vào, gió đêm hòa thêm vài hạt tuyết ào cái thổi vào theo, ngọn lửa trong chậu than bỗng nhiên vụt lên cao, tuyết rơi vào cổ, lạnh thấu tim.

- Tướng quân, có dặn dò gì ạ?

- Gọi Lý Phong tới đây, cứ nói là ta có nhiệm vụ giao cho hắn!

Thân binh vâng một tiếng, xoay người chạy ra ngoài. Không lâu sau, đội trưởng đội do thám chui vào trong lều lớn. Y kéo chiến bào lại chặt hơn, sau đó hành một quân lễ tiêu chuẩn.

- Tướng quân, có nhiệm vụ gì?

Lý Phong là một lão binh chỉ mới 25 tuổi. Nói y là lão binh 25 tuổi, là vì tuổi tác như thế chứ y đã tham quân được 7 năm rồi. Từ một tiểu tử ngây thơ của một gia đình mục dân bình thường trưởng thành thành một đội trưởng chưởng quản một trăm quân do thám. Tuy không nhanh, nhưng lại rất là vững chãi. Nên biết người làm do thám, đều là tinh anh trong kỵ binh. Mà đội trưởng đội do thám, càng là người xuất sắc nhất về mọi mặt trong 100 quân do thám đó.

Lý Phong tuy họ Lý, nhưng y không hề có quan hệ với Hoàng tộc Lý thị của Đại Hạ. Y không biết vốn dĩ tổ tiên mình họ gì, từ khi phụ thân của y quyết định đổi họ Lý, người trong tộc của họ cũng dần chuyển họ theo. Lý Phong đã làm đội trưởng đội do thám được 2 năm, lần trước Miệt Điệp Tướng quân từng nói, nếu không có gì ngoài ý muốn xảy ra, qua một thời gian nữa chức đội trưởng của y sẽ có thể chuyển thành Quả Cảm Giáo Úy chưởng quản 300 người.

Tuy rằng đội trưởng cũng là Giáo Úy. Nhưng Bồi Nhung Giáo Úy Tòng Cửu Phẩm và Quả Cảm Giáo Úy Tòng Thất Phẩm nói sao cũng là cái sau quang vinh hơn cả. Huống hồ, sau khi đạt được phẩm cấp Tòng Thất Phẩm, là đã thuộc biên chế quan quân chính thức. Chỉ cần có thể thăng làm Quả Cảm Giáo Úy, thì sau này không cần phải lên chiến trường, không cần chấp hành nhiệm vụ nữa mà vẫn có thể có được quân hưởng nhiều hơn trước.

Miệt Điệp rất tin tưởng người thanh niên do chính tay mình đề bạt này, vả lại Lý Phong vốn dĩ cũng có thể xem là tâm phúc của y, nên mới kêu y dậy trong đêm tối lạnh lẽo như thế mà không chút áy náy. Bởi vì Miệt Điệp biết, chỉ cần Lý Phong đủ bản lĩnh, bản thân có thể cho y tiền đồ tốt hơn.

- Đem theo quân do thám giỏi nhất, nhân trời tối đi theo tuyến đường của kỵ binh tuần phòng, nếu giữa đường gặp An Khố Thiên Phu Trưởng thì về chung với hắn, nếu không gặp, thì đuổi theo đội kỵ binh của Thiên Phu Trưởng Địch La, nói với Địch La là hãy cẩn thận, Quân Hán rất có thể đã xâm nhập vào đây rồi.

Lý Phong nhướng mày, hỏi: - Tướng quân, ý ngài là, đội quân của An Khố đại nhân có lẽ đã…

Những lời sau đó y không nói tiếp, cho dù chỉ là nghĩ thôi, cũng đã thấy cả người lạnh băng tới mức khó chịu. Đây là cảm giác khó chịu còn hơn cả cái lạnh thấu xương của gió đêm.

- Ta cũng chỉ là nghi ngờ thôi. An Khố chinh chiến đã lâu, 300 kỵ binh dưới trướng hắn cũng đều là những hảo tiểu tử, cho dù gặp số lượng lớn kẻ địch cũng không thể một người cũng chạy không thoát. Ta đoán có lẽ họ gặp phải bão tuyết ở đâu đó nên chưa về kịp. Nhưng cẩn thận một chút ắt không sai, cho dù họ thật sự toàn quân phục diệt, ngươi đuổi theo người của Địch La nói với hắn hãy cẩn thận vẫn hay hơn.

Lý Phong gật gật đầu: - Thuộc hạ hiểu rồi, bây giờ thuộc hạ sẽ chọn người và đi luôn trong đêm, tranh thủ đuổi kịp đội kỵ binh của Địch La đại nhân trong 5 ngày.

Miệt Điệp gật gật đầu: - Uhm, ngươi đi đi, cẩn thận một chút. Ta rất trông đợi ở ngươi, một quân nhân ưu tú như ngươi phải được ban thưởng. Lần này quay về rồi ta sẽ đề bạt ngươi làm Trí Dũng Giáo Úy, đừng làm ta thất vọng.

Trong lòng Lý Phong vô cùng kích động. Trí Dũng Giáo Úy, đó là võ chức Chính Lục Phẩm, thủ hạ có tới 500 người! Thật sự không ngờ Tướng quân lại xem trọng mình đến vậy. Vốn tưởng Quả Cảm Giáo Úy đã là cực hạn của đề bạt rồi, ai ngờ một lúc lại được thăng tới 7 chức!

- Thuộc hạ nhất định không phụ lòng mong đợi của Tướng quân!

Lý Phong trang trọng hành một quân lễ, sau đó chui ra khỏi lều trong ánh mắt trông đợi của Miệt Điệp, rồi gọi thuộc hạ của mình thừa trời tối xuất phát đuổi theo nhân mã của Địch La Thiên Phu Trưởng.

Sau khi Lý Phong đi rồi, Miệt Điệp rót một chén trà sữa đã được đun sôi nhấm nháp từng ngụm thưởng thức, mãi tới khi hơi nóng làm ấm bụng khiến cho người ta cảm thấy buồn ngủ, y mới đặt chén trà xuống, kéo chậu than tới gần giường của mình hơn chút, rồi mới cởi giáp da nặng nề xuống, nhanh chóng chui vào trong chăn lông ấm áp.

Hoặc giả do mấy ngày gần đây suy nghĩ quá nhiều chuyện, y trăn trở hết một canh giờ mới mơ mơ hồ hồ ngủ thiếp đi. Chậu than cũng đã nguội dần, y dường như cảm nhận được sự thay đổi của nhiệt độ, kéo tấm chăn lông trên người chặt thêm chút.

Hấp!

Một cơn gió lạnh thổi vào, khiến cho tro tàn trong chậu than bay lên mặt của Miệt Điệp. Miệt Điệp vừa mới say giấc bị lạnh cho tỉnh lại, lập tức một cơn lửa giận trỗi dậy.

- Chết tiệt, các ngươi trực kiểu gì vậy? Gió thổi bay màn, các ngươi không biết ngăn lại sao?

Y xoay người hét lớn về phía cửa. Vừa hét xong, vẻ mặt của y đột nhiên đông cứng lại. Miệt Điệp đột nhiên ngồi dậy, thuận tay cầm thanh loan đao cạnh giường lên.

- Ngươi là ai!

Một người máu chảy đầm đìa đứng trước mặt Miệt Điệp. Thời tiết lạnh giá như thế mà máu của y cũng chẳng bị đóng băng mà cứ tiếp tục nhỏ giọt. Điều này chỉ có thể nói là vết thương của người này quá sâu quá nhiều, nên máu không ngừng chảy. Người đầy máu này, vẻ mặt vô cùng hoảng sợ.

- Tướng… Tướng quân, mau chuẩn bị, Lang Kỵ Khiết Đan giết tới rồi!

Người đầy máu này nói xong câu đó liền không chịu nổi nữa, cổ nghiêng qua bên ngất chết đi. Miệt Điệp bỗng tiến nhanh tới trước đỡ người này dậy, kéo đầu người này qua nhận diện kỹ càng, đợi nhìn rõ diện mạo người đó thì Miệt Điệp hết hồn tới nổi cả da gà. Lý Phong! Người này chính là Lý Phong vừa dẫn quân do thám đuổi theo đội của Địch La!

Miệt Điệp hết hồn rồi nhanh chóng bình tĩnh lại. Y chỉ một thân binh nói: - Thổi kèn! Toàn quân chuẩn bị chiến đấu!

- Làm hắn tỉnh dậy, ta muốn biết chuyện gì đã xảy ra!

Đợi sau khi Miệt Điệp mặc xong giáp đeo xong trụ, thân binh đã liên tục đút cho Lý Phong uống hai chén trà sữa lạnh. Lý Phong hừ một tiếng rồi ói ra một ngụm máu lớn, sau đó y dần dần tỉnh lại.

- Lý Phong! Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì!

Miệt Điệp nắm lấy giáp da trước ngực Lý Phong lớn tiếng hỏi.

Cổ họng Lý Phong kêu cách cách hai tiếng, rồi y lại ói ra ngụm máu nữa thì thần trí dần tỉnh lại không ít. Y thấy trước mặt chính là Tướng quân Miệt Điệp, Lý Phong đột nhiên nắm chặt tay Miệt Điệp và nói: - Tướng quân, mau! Mau chuẩn bị! Lang Kỵ của Liêu Quốc nhân trời tối tấn công tới rồi! Áo giáp đen, cờ lớn đầu sói, là người Khiết Đan!

Y siết chặt tay của Miệt Điệp vừa khóc vừa nói: - Đầu của An Khố Tướng quân, Địch La Tướng quân, chính là treo trên chiến mã của thủ lĩnh người Khiết Đan đó!

Nghe xong câu này, Miệt Điệp lập tức mặt không hột máu.

Tăm tối

Tiếng kèn thảm thiết vang lên, phần lớn binh sĩ của Thiên Đức Quân đã say giấc nồng hoảng loạn bò dậy. Họ luống cuống tay chân mặc giáp da, cầm binh khí trong tay xông ra ngoài. Rất nhiều binh sĩ vì không chịu nổi áp lực đột ngột thế này nên mở to cổ họng mà la hét, vừa chạy vừa hét. Tiếng gào rống như sói tru liên tiếp nổi dậy trong đại doanh của Thiên Đức Quân.

Không biết có phải do tâm lý hay không, các binh sĩ hét xong thì nỗi sợ hãi và kinh hoảng cũng vơi bớt đi. Họ bắt đầu tập kết dưới sự điều động của binh sĩ cấp thấp. Tuy rằng vẫn rất gấp gáp, nhưng ít ra không xảy ra tình trạng quá hỗn loạn. Trong tay các binh sĩ đều cầm loan đao, thế là đủ rồi.

- Người Khiết Đan tới bao nhiêu?

Miệt Điệp mặc kệ Lý Phong có phải hồi quang phản chiếu trước khi chết hay không. Y chỉ là nhân lúc Lý Phong còn tỉnh táo còn có thể nói được, cố gắng lấy được càng nhiều thông tin về người Khiết Đan càng tốt.

- Không… không biết. Lang Kỵ Khiết Đan đều mặc hắc y hắc giáp, lại không châm lửa, vả lại họ không có xung phong mà chỉ chậm rãi tiến bước, lúc nghe tiếng vó ngựa thì người Khiết Đan đã ở gần quân do thám của thuộc hạ không tới trăm bước. Trời quá tối, căn bản là không nhìn thấy chúng. Người của thuộc hạ có thể nói là tự mình đâm đầu đi tìm cái chết.

Lý Phong biết bây giờ mình phải cố hết sức báo cáo quân tình một cách rõ ràng. Dù bây giờ y đau đớn vô cùng, nhưng thân là một quân nhân đạt chuẩn, y cưỡng ép bản thân nói tiếp. Ói ra một ngụm máu khác, y lau đi vệt máu ở khóe miệng, cười khổ nói:

- Đám Lang Kỵ đó chẳng phải người! Còn chưa giao thủ, mùi máu tươi từ người chúng phát ra đã xộc vào mũi thuộc hạ. Không chỉ những kỵ binh đó, mà ngay cả chiến mã của chúng cũng khiến người ta phát sợ như mãnh thú trong núi rừng.

- Không biết nhân số cụ thể của chúng, nhưng hiển nhiên chúng có chuẩn bị mới tới. Thủ hạ của thuộc hạ liều chết yểm trợ thuộc hạ chạy về báo tin. Chúng không hề đuổi theo, mà vẫn duy trì động tác chậm rãi tiến bước, dường như… không vội.

Miệt Điệp đỡ y dậy và hỏi: - Ý ngươi là, đội người Khiết Đan này là tinh binh, chúng thừa lúc trời tối tiến tới đây nhưng không định đánh bất ngờ?

Lý Phong cười khổ một tiếng nói:

- E là như vậy, tốc độ tiến tới của chúng không nhanh, đội hình ngay ngắn như được cắt bằng dao vậy. Thuộc hạ… thuộc hạ nghĩ, họ vốn không hề định nhân trời tối đánh bất ngờ, mà định tấn công trực diện vào đây.

Hành quân trong đêm mà không chọn đánh bất ngờ trong đêm khi bên này không có phòng bị. Đội kỵ binh này định làm gì? Miệt Điệp nhanh chóng tính toán trong đầu. Dần dần, khi tiếng kèn trở nên có quy luật, suy nghĩ của y cũng rõ ràng ra.

Đúng rồi. Người Khiết Đan tới tấn công này nhất định là rất đông nhân mã. Chúng không quen thuộc với địa hình, không hề biết đây là trú địa của Thiên Đức Quân. Chúng tới đây cũng chỉ là do trùng hợp thôi, sở dĩ không lựa chọn tập kích là vì tới giờ chúng vẫn chưa xác định vị trí đại doanh của Thiên Đức Quân ở đâu thôi. Mà đại quân người Khiết Đan vòng tới phía nam núi Kỳ Liên này, hiển nhiên là vì muốn vòng ra sau lưng đại quân Tây Hạ. Để không bị rò rỉ thông tin, quân Tây Hạ họ gặp dọc đường toàn bộ đều bị giết hết. Đội kỵ binh tuần phòng của An Khố và Địch La chẳng qua là đụng phải lưỡi đao của chúng thôi.

Chỉ là Lý Phong đã trốn về rồi, sao chúng lại không đuổi theo? Có lẽ vì liên tục gặp được kỵ binh tuần phòng của Thiên Đức Quân, thủ lĩnh lĩnh quân người Khiết Đan này nhất định đã đoán ra có một đại đội quân Tây Hạ đóng ở gần đây. Tướng lĩnh đó sở dĩ không truy sát Lý Phong, là vì chúng không xác định vị trí cụ thể của Thiên Đức Quân. Lý Phong chạy trốn ngược lại, vô hình trung lại có tác dụng dẫn đường cho chúng. Không phát động đột kích là vì thủ lĩnh Khiết Đan không chắc chắn vị trí cụ thể và số lượng nhân mã của Thiên Đức Quân. Nhưng người Khiết Đan tới khá nhiều, vì thế chúng chậm rãi tiến bước tu dưỡng thể lực, chuẩn bị đại quy mô giao chiến với đội viện binh Thiên Đức Quân đây.

Nghĩ thông suốt những điều này, Miệt Điệp vỗ nhẹ lên vai Lý Phong, nói:

- Ngươi cứ ở lại nghỉ ngơi trong lều của ta, nếu lần này ngươi qua được, ta sẽ đề bạt ngươi làm Kỵ Binh Đô Úy Tòng Ngũ Phẩm!

Lý Phong cảm kích nhìn Miệt Điệp: - Cám… cám ơn Tướng quân, không cần đâu. Thuộc hạ… Thuộc hạ biết mình lần này nhất định sẽ không thể qua khỏi. Khụ khụ… Võ sĩ Khiết Đan lĩnh quân rất lợi hại, thuộc hạ bị thương ở nội tạng, không còn sống… sống được bao lâu nữa rồi.

Miệt Điệp đỏ cả mắt, lớn tiếng nói: - Khỉ! Ngươi là lính do lão tử đích thân đề bạt, lão tử nói không cho ngươi chết thì ngươi không được chết!

Lý Phong cười cười, đột nhiên nhớ ra một chuyện. Y nắm lấy tay của Miệt Điệp, nói:

- Tướng quân, còn một chuyện người phải hết sức chú ý. Đám Lang Kỵ đó… đều là Kỵ Binh Trọng Giáp!

- Khụ khụ!

Vì quá kích động, Lý Phong ho kịch liệt, một nhúm thịt vụn phun từ trong miệng y ra, rơi xuống mặt đất, nhìn mà rợn cả người.

- Kỵ Binh Trọng Giáp!

Miệp Điệp kinh ngạc: - Ngươi không nhìn lộn chứ? Kỵ binh Khiết Đan lâu nay luôn yêu cầu tốc độ, chủ yếu đều là khinh giáp. Ta chưa từng nghe nói người Khiết Đan còn có Kỵ Binh Trọng Giáp.

Lý Phong cười một cách đau thương, nói: - Không nhìn sai đâu. Những kỵ binh Khiết Đan đó không chỉ người mặc trọng giáp, ngay cả chiến mã cũng được trang bị toàn giáp, vũ khí được trang bị cũng không phải loan đao mà người Khiết Đan hay dùng, mà dùng binh khí dài là chính. Có thể giao đấu với một đội kỵ binh có sức chiến đấu mạnh thế này, thuộc hạ chết cũng không có gì tiếc nuối nữa…

Lý Phong cười mà nước mắt chảy: - Nhà thuộc hạ còn có mẹ già…

Miệt Điệp nắm chặt tay y, nói: - Ngươi yên tâm đi, mẫu thân của ngươi cũng chính là mẫu thân của Miệt Điệp đây. Sau này mẫu thân ngươi sẽ do ta chăm sóc!

- Tạ… Tướng quân!

Lý Phong thốt ra 3 chứ cuối cùng, đầu nghiêng sang bên, tắt hơi từ đó.

Khó trách. Khó trách chúng không tập kích bất ngờ! Miệt Điệp nắm tay lại thật chặt. Kỵ Binh Trọng Giáp, căn bản không hề có ưu thế về mặt tốc độ, và lại trời đêm không rõ địa hình, chúng đương nhiên không dám tùy tiện phát động công kích!

Đặt thi thể của Lý Phong ngay ngắn lại rồi, ánh mắt của Miệt Điệp dần sáng lên. Y chui ra lều, sải bước lớn đi về phía những binh sĩ đã tập kết xong.

- Đem tất cả trọng nỏ có trong kho ra cho ta, đặt ở chính diện, cung tên thủ thay chùy phá giáp! Tiểu Lạc Khắc! Cút ra đây cho ta!

Miệt Điệp lớn tiếng rống.

Một võ sĩ trẻ tuổi trên dưới 20 chạy bay ra, ôm quyền hành lễ: - Tướng quân, có thuộc hạ đây!

Miệt Điệp chỉ ra bên ngoài đại doanh nói: - Đô Úy Lý Phong tử trận, bây giờ ngươi chính là đội trưởng đội do thám, cho ngươi 20 người, ngươi có dám đi thám thính tình hình của địch không!

Võ sĩ được xưng là Tiểu Lạc Khắc lớn tiếng nói: - Dám!

Miệt Điệp ha ha cười lớn: - Tốt, đem theo 20 do thám, không cần đi quá xa, gặp địch là quay về ngay, nhiệm vụ của các ngươi chỉ là xác định vị trí của địch thôi!

- Thuộc hạ tuân lệnh!

Tiểu Lạc Khắc xoay người, điểm 20 quân do thám liền lên ngựa, nhanh chóng xông ra khỏi doanh.

- Người đâu, đi tới bên ngoài đại doanh 300 bước nhóm lửa lên, càng nhiều càng tốt!

Miệt Điệp tiếp tục hạ lệnh. Mấy trăm bộ tốt Tây Hạ nhanh chóng xông ra ngoài thu gom củi đốt, đốt mấy chục đống lửa to ở vị trí bên ngoài đại doanh 300 bước, củi gỗ được rưới dầu cải nên lửa rất lớn. Tình hình ở phía ngoài 300 bước thì vẫn chưa nhìn thấy rõ, nhưng chỉ cần có người bước vào xạ trình 300 bước của trọng nỏ, thì lính Tây Hạ sẽ thấy rất rõ.

Trọng nỏ cần tới 4 người thao tác được lấy ra. Tuy rằng chỉ có 6 cỗ, nhưng uy lực to lớn của trọng nỏ đủ để xiên thẳng vào người kỵ binh có mặc trọng giáp. Các cung thủ đã thay thành chùy phá giáp có giá tiền đắt đỏ. Chiếu theo uy lực của bộ cung, trong vòng 50 bước có thể bắn xuyên trọng giáp, tuy không nhất định tạo thành vết thương chí mạng, nhưng uy lực lớn hơn nhiều so với mũi tên thông thường.

Thời gian trôi qua rất nhanh, đợi bộ binh đốt xong lửa ngoài 300 bước là đã nửa canh giờ trôi qua. Người của Tiểu Lạc Khắc vẫn chưa về, Miệt Điệp cau mày. Kẻ địch cho dù có chậm tới mức nào, cho dù là đi bộ đi nữa cũng nên tới rồi. Thêm nữa, bên ngoài cũng đã đốt lửa lên, có tác dụng soi rõ vị trí địch cho người bên mình thấy, đối với địch mà nói đây cũng khác gì mục tiêu bị bạo lộ rồi. Cho dù kẻ địch không thuộc địa hình nơi đây, đi theo ánh lửa chắc cũng không thể đi sai chứ?

Lại nửa canh giờ trôi qua, Tiểu Lạc Khắc vẫn chưa về.

Lòng Miệt Điệp ngày càng khẩn trương, lòng bàn tay cũng chảy mồ hôi.

- Người đâu, phái thêm 50 người nữa đi xem sao, không lẽ Tiểu lạc Khắc chết rồi?

Khi y nói ra câu này, cũng không ngờ là câu nói này của mình lại dấy lên nỗi sợ hãi mà các binh sĩ đang hết sức dồn nén, bắt đầu lan tràn ra mà không thể ngăn cản được.

- Kẻ địch là ai?

- Quân Hán sao?

- Không thể nào, quân Hán không có cái gan đó. Ngươi không nghe lúc Lý đội trưởng vừa về nói sao. Người Khiết Đan tới rồi, là Lang Kỵ Khiết Đan!

- Lang Kỵ Khiết Đan? Người Khiết Đan không phải đang đối đầu với Trần lão Tướng quân ở phía bắc núi Kỳ Liên sao? Sao lại cố tình chạy tới đây?

- Nghe nói An Khố đại nhân, Địch La đại nhân đều tử trận rồi!

- Ngươi nói gì! An Khố đại nhân là cường giả có tiếng trong Thiên Đức Quân ta, ngài cũng tử trận rồi sao?

- Sao còn chưa tới, nhanh lên đi, cứ đợi thế này, lòng tôi cứ nao nao.

50 kỵ binh nhanh chóng xông ra ngoài, rất nhanh là biến mất sau ánh lửa ngoài 300 dặm. Lửa chỉ chiếu sáng phạm vi mười mấy mét xung quanh, đi qua phạm vi này, ngược lại màn đêm càng tăm tối hơn.

A! A! Cứu mạng!

Những tiếng kinh hô liên tục truyền vào từ ngoài xa đống lửa, lọt vào tai từng binh sĩ Tây Hạ một bên trong đại doanh một cách rõ nét. Tiếng hô kêu cứu cứ như vang lên ngay bên tai họ vậy, vang lên trong lòng của mỗi người bọn họ, khủng khiếp thế đấy. Trái tim của từng người như quặn thắt lại, dường như nó muốn bay ra khỏi cổ họng vậy. Tim họ bắt đầu đập nhanh hơn, mồ hôi trong lòng bàn tay cũng ngày càng nhiều hơn.

Dần dần, một kỵ binh Tây Hạ mình đầy máu tươi đang bò lê lếch trên đất tuyết xuất hiện bên cạnh đống lửa ngoài 300 dặm. Y đang kêu thảm thiết, và đang cố gắng hết sức bò. Cơ thể lê lếch kéo theo một đường máu dài nhuốm đỏ nền tuyết trắng. Đây chính là một trong 50 kỵ binh vừa mới đi ra, và cũng chỉ mình y tạm thời còn sống. Y không ngừng kêu cứu, hi vọng rằng đồng bạn trong đại doanh sẽ tới cứu mình. Hai chân của y đã gãy mất, xương chân bị đâm thủng thịt và máu lồ lộ ra bên ngoài.

- Cứu tôi!

Các binh sĩ đều hướng ánh mắt về phía Miệt Điệp, mọi người đều đang đợi mệnh lệnh của Miệt Điệp. Chỉ là, cái mà họ nhận được là lệnh chuẩn bị chiến đấu chứ không phải lệnh cứu người.

Một người đen thui cưỡi một con chiến mã nồng nặc mùi máu tanh chậm rãi xuất hiện trong vùng sáng của ánh lửa. Chiến mã của y đi rất chậm, nhưng mỗi một bước chân đều như đang giẫm thẳng lên tim của lính Tây Hạ trong đại doanh. Tên ác ma mặc giáp đen này từ tốn đuổi kịp người lính Tây Hạ đang bò trườn dưới đất, từ tốn giơ cao cây giáo dài trong tay, nhắm thẳng phía sau tim của lính Tây Hạ đó, cắm phập xuống!

Máu văng tung tóe, thế là xong một mạng người.

Kỵ sĩ hắc giáp cột lá cờ có hình đầu sói đại biểu cho Khiết Đan Lang Kỵ lên cán giáo của mình, giơ cao lên. Y nhìn chằm chằm vào lính Tây Hạ đang trong tư thế sẵn sàng nghênh địch, nở nụ cười khinh miệt, rồi quay lưng, bỏ đi, biến mất trong màn đem vô tận ngoài kia.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!