TUYẾT ĐANG CHUYỂN ĐỘNG.
Tuyết đang chuyển động.
Màn đêm trong lúc chờ đợi có vẻ dài hơn bao giờ hết, lính Tây Hạ sau khi bị tiếng kèn làm cho bừng tỉnh lúc nửa đêm thì lập tức cầm vũ khí lên sẵn sàng chiến đấu. Nhưng đợi mãi tới khi lửa ngoài đại doanh 300 bước đã cháy hết, màn đêm lại lần nữa bao trùm lấy tầm mắt của tất cả mọi người, nhưng Trọng Giáp Lang Kỵ của Đại Liêu vẫn không phát động tấn công. Dường như chúng đã biến mất trên thảo nguyên mênh mông trong màn đêm tăm tối.
Vầng thái dương ngày mùa đông thường tới rất chậm chạp, nhất là trong mắt của một đám lính Tây Hạ hao tâm tổn thần tới đỏ cả mắt, bình minh tới quá chậm. Nhưng, khi sắc trời dần tỏa sáng, con tim hồi hộp suốt một đêm của họ cuối cùng cũng hơi hơi buông lỏng. Màn đêm, lúc nào cũng khiến người ta sợ hãi.
Mặt trời mọc rồi, có thể nhìn thấy cả phía rất xa của thảo nguyên bị tuyết phủ một màu trắng xóa. Tận cùng tầm nhìn vẫn là một màu trắng xóa, đâu nhìn thấy bóng dáng nào của kỵ sĩ hắc giáp?
Dường như kỵ sĩ hắc giáp xuất hiện đêm qua là ác ma tới từ địa ngục, khi mặt trời mọc rồi lại quay về địa ngục, chờ đợi màn đêm kế tiếp buông xuống. Mỗi một lính Tây Hạ trong đại doanh đều bất chợt thở phào nhẹ nhõm, thần kinh căng dài rốt cuộc cũng có thể buông lỏng xuống.
Ở khu vực cách đống lửa khoảng 30 mét về phía trước, rất nhiều thi thể la liệt nằm dài ở đó, còn có chiến mã mất đi chủ nhân đang dùng mồm của mình đẩy đẩy thân thể tê cứng của chủ nhân. Dưới ánh triều dương vừa mọc, viễn cảnh này trông thật bình yên, bình yên một cách thê lương.
Bao gồm cả Tiểu Lạc Khắc, trước sau hai tốp 70 kỵ binh đều tử chiến tại khu vực cách xa đống lửa 30 mấy mét. Không ai biết họ bị giết như thế nào. 50 kỵ binh của tốp thứ 2 còn có thể phát ra tiếng cầu cứu, nhưng 21 người của tốp đầu tiên lại chết trong im lặng, cả âm thanh cũng không kịp thốt ra.
Miệt Điệp phái người kéo thi thể của những kỵ binh đó về, kiểm tra rồi mới phát hiện 21 người của tốp đầu đều bị bắn chết, nhưng tên cắm trên thi thể thì đều đã bị thu đi. Nhìn những vết thương đó có thể xác nhận, kẻ địch tuyệt đối không phải sử dụng loại tên thông thường, vết thương đó lớn tới mức gần như có thể nhét một nắm đấm tay vào.
- Là lao!
Miệt Điệp cắn răng nói.
Chỉ có cây lao nặng trịch mới có thể tạo ra vết thương to như thế, cho dù là chùy phá giáp bốn cạnh cũng không thể tạo ra vết thương như thế này.
- Đều tại ta hết!
Hai mắt Miệt Điệp đỏ chót, y cắn chặt lấy môi.
Đáng lẽ y phải nghĩ tới chứ, nơi càng nguy hiểm thì ngược lại càng an toàn , đạo lý đơn giản như thế sao y lại cứ quên mất? Kỵ binh trọng giáp của người Khiết Đan đứng ngay chỗ cách ánh lửa không xa chờ đợi, đợi từng tốp từng tốp quân do thám được y phái đi, đi tìm cái chết như thiêu thân lao vào lửa. Chúng chỉ đứng cách đống lửa có mấy chục mét thôi, quân do thám bị ánh lửa làm cho mờ mắt khi vừa mới xông ra, nhất định sẽ không nhìn thấy kẻ địch đang đứng đợi bên ngoài mấy chục mét. 20 mấy người của tốp đầu, có lẽ khi xông tới vị trí cách đối phương 20 mét mới phát hiện mình đã tới Quỷ Quan Môn rồi.
Khoảng cách 20 mấy mét, đủ để cây lao nặng chịch đâm xuyên qua giáp da của do thám Tây Hạ.
Và 50 kỵ binh của tốp 2 sở dĩ có thể phát ra tiếng kêu cứu, chẳng qua vì kẻ địch cơ bản là không có sử dụng vũ khí dài thôi. 50 người này, đều là bị chém chết. Khoảng cách 30 mét, đối với 2 đội kỵ binh đang tiếp cận với tốc độ cao mà nói, chẳng cần tới 3 lần hô hấp. Khi kỵ binh mà mình vừa phái ra vượt qua đống lửa, còn chưa kịp kéo chiến mã lại là lập tức đâm đầu vào dòng kỵ binh trọng giáp của quân Khiết Đan.
Chỉ vừa chạm mặt thôi, 50 kỵ binh chết không chừa ai.
- Tướng quân, bây giờ làm sao?
Ba Thiên Phu Trưởng lưu thủ trong đại doanh đã chết hai người. An Khố và Địch La trước sau chết trong tay của kỵ binh Khiết Đan, người đang nói chuyện chính là Thiên Phu Trưởng còn lại, Nại Chân Tuyệt.
- Trước tiên an táng trọng thể cho họ trước đi, họ tử trận cũng là sai lầm của ta. Họ đều là các dũng sĩ của Đại Hạ.
Miệt Điệp dùng tay vuốt xuống đôi mắt mở to của một binh sĩ, và nói với tâm tình trầm trọng. Khóe miệng của y khô nứt, có lẽ là do lạnh mà ra, sắc mặt của y trông rất khó coi, hai mắt giăng đầy tia máu, mắt thì lồi ra ngoài, dường như muốn rớt ra vậy.
- Còn phải phái do thám đi nữa. Kẻ địch nhân trời tối rút lui, nhưng khó nói khi nào sẽ lại xông về. Mục tiêu của người Khiết Đan là vòng ra phía Bắc núi Kỳ Liên, tập kích đại quân của Trần Lão Tướng quân. Chúng muốn dùng thế gọng kìm để đánh bại mấy trăm ngàn đại quân của ta ở núi Kỳ Liên, gặp chúng ta ở đây có lẽ ngay cả người Khiết Đan cũng không ngờ tới. Có lẽ họ đã Bắc thượng, hoặc cũng có lẽ đang ẩn nấp ở nơi nào đó.
Nại Chân Tuyệt vâng một tiếng: - Bây giờ thuộc hạ sẽ đi sắp xếp ngay. Phần lớn người của đội do thám đã tử trận, chỉ đành sắp xếp kỵ binh thế chỗ. Thuộc hạ muốn phái thêm nhiều người đi, 10 người một đội, phái thêm vài đội đi nữa, dù sao đối phương cũng là Kỵ Binh Trọng Giáp, nếu gặp mà không giao chiến, khả năng sống sót quay về là rất lớn.
- Uhm, cứ làm theo lời ngươi nói. Nói với binh sĩ là hãy cẩn thận, đừng có giao chiến với Trọng Kỵ Khiết Đan, tìm được tung tích kẻ địch rồi lập tức quay về đây báo cáo.
Miệt Điệp vung tay. Y cảm thấy bây giờ trong cơ thể mình không còn chút sức lực nào hết. Trận đả kích tối qua không chỉ binh sĩ thông thường bên dưới khó lòng chấp nhận, ngay cả một tướng quân như y, bây giờ vẫn còn bị cảm giác thất bại và sợ hãi trầm trọng đè nặng lên người. Mạnh, quả thật rất mạnh. Chưa từng thấy một đội quân khí thế hùng mạnh đến thế bao giờ. Chúng căn bản không phải là người. Là quỷ tu la tới từ địa ngục sao?
Tốp kỵ binh thứ 2 được phái đi, từ tiếng kinh hô đầu tiên tới người cuối cùng bị giết cũng chẳng qua mất có 30 lần hô hấp, trừ đi thời gian người lính Tây Hạ cuối cùng bị người ta từ tốn đi tới đâm chết, tính ra thì 50 kỵ binh, bị người ta giết sạch sành sanh chỉ trong 10 lần hô hấp. Miệt Điệp hiểu rất rõ kỵ binh dưới trướng mình, họ đều là những chiến sĩ chân chính. Mỗi người chỉ dùng sức lực không thôi đã có thể giết được một con nghé con, có thể bắn tên trúng đích cắm ngoài trăm bộ. Nhưng họ lại dễ dàng bị kẻ địch giết như chém dưa chặt quả vậy, ngay cả thời gian đánh trả cũng không có.
Nại Chân Tuyệt thở dài. Trong lòng y sao mà không sợ được? Chiến thuật của kẻ địch quá quỷ dị. Bây giờ nghĩ lại, có lẽ mục đích của kẻ địch chẳng phải là tấn công vào đây, mà chỉ là làm cho ta sợ. Làm cho binh sĩ của Thiên Đức Quân sợ và không dám bước ra khỏi đại doanh. Nói không chừng Kỵ Binh Khiết Đan đã rời khỏi và bắc thượng đi chặn đường lui của Trần Lão Tướng quân ngay sau khi giết người rồi. Kỵ Binh Khiết Đan đi trước một đêm, cho dù bây giờ có phái người tới núi Kỳ Liên báo tin e là cũng chẳng kịp nữa rồi.
Bất luận kẻ địch có đạt được mục đích hay không, nhưng lần này Thiên Đức Quân khó tránh tội rồi.
Nhìn Tưởng Kim có chút thất hồn lạc phách, Nại Chân Tuyệt lắc lắc đầu, cười khổ đứng dậy sắp xếp do thám đi thám thính tình hình của địch, còn phải phái người đi đưa tin cho Trần Lão Tướng quân nữa. Bất luận tin có tới kịp hay không, nhưng vẫn nhất định phải được đưa đi
Hạ lệnh cho binh sĩ quay về doanh trại nghỉ ngơi, đứng cả đêm dưới gió lạnh, ngay cả y cũng sắp không chịu nổi nữa rồi. Nại Chân Tuyệt triệu tập 200 viên kỵ binh, chia họ thành 10 người 1 đội, chỉ cần thấy bóng của kỵ binh Khiết Đan là quay về ngay. Những Trọng Kỵ Binh y như tu la đó, không phải họ có thể chống đỡ đâu. Bây giờ Nại Chân Tuyệt mới biết, tinh nhuệ thật sự của Đại Liêu đáng sợ tới nhường nào.
Các kỵ binh nhìn nhau một cái, rồi ôm quyền, sau đó chia nhau ra. Mỗi một đội tự chọn 1 hướng phóng đi. Nhiệm vụ lần này của họ cũng không thể nói là nguy hiểm, những huynh đệ chết trong tay kỵ binh Khiết Đan tối qua chẳng qua là do chịu thiệt thòi vì trời quá tối thôi. Lúc trời sáng tầm nhìn trên thảo nguyên rất tốt, có thể nhìn thấy kẻ địch từ rất xa. Huống hồ kẻ địch lại mặc bộ áo đen giáp đen đặc biệt nổi bật trên nền tuyết trắng bây giờ.
Với tốc độ của khinh kỵ binh, kỵ binh trọng giáp của người Khiết Đan tuyệt đối không thể đuổi kịp.
Một đội kỵ binh đi thẳng về phía mặt trời mọc. Ánh mặt trời mùa đông chiếu lên tuyết trắng, cứ mang một ý vị khác thường, chỉ là lòng của các kỵ binh bây giờ nặng như đá đè, thở còn thấy khó khăn, đâu còn tâm tư đâu mà đi thưởng thức phong cảnh như tranh này chứ. Đội trưởng kỵ binh đang dẫn đầu xì một tiếng, oán hận chửi rủa:
- Mẹ nó, chọn nhầm hướng rồi, mặt trời hôm nay sao to thế, làm cho ta mờ cả mắt.
Một kỵ binh đột nhiên chỉ phía trước mặt, kinh hô: - Tuyết lở!
Đội trưởng đó lườm y một cái, mắng: - Mở to mắt chó của ngươi ra! Đây là thảo nguyên, đâu phải núi tuyết đâu, làm sao mà có tuyết lở được!
Kỵ binh đó cười ngượng, chỉ phía trước mặt nói: - Có lẽ do nắng quá làm thuộc hạ hoa mắt, sao thuộc hạ cứ cảm thấy tuyết trước mặt đang chuyển động vậy, trông giống như sóng gợn trên mặt nước.
Người đội trưởng đó dụi dụi mắt nhìn kỹ, quả nhiên phát hiện mặt tuyết trước mắt không giống như bình thường. Tuyết trắng trên đường chân trời trước mắt hình như bị cái gì đó làm cho chấn động, trông như sóng đang gợn lên gợn xuống vậy. Y tưởng mình bị hoa mắt, nên cố nhìn kỹ. Quả nhiên, tuyết đó đúng là đang chuyển động. Rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra vậy?
- Không phải tuyết đang chuyển động. Đó là kỵ binh!
Một lính Tây Hạ tinh mắt chỉ ra trước mắt và rống lên.
Đội trưởng vội ghìm cương ngựa lại, đưa tay lên che đi ánh nắng chói chang, mở to mắt ra mà xem.
- Mẹ nó! Là kỵ binh! Mau, mau quay về!
Đội trưởng mở to họng rống lên.
Lính Tây Hạ lập tức quay đầu ngựa. Tuyết trắng chuyển động trên đường chân trời, rõ ràng là đội quân kỵ binh Khiết Đan mặc áo choàng trắng! Đợi khi 2 bên nhìn rõ mặt nhau, thì hai bên đã cách nhau không tới 300 bước rồi. 10 lính Tây Hạ quay đầu ngựa, ra hết sức quất vào mông ngựa, chạy về như điên.
- Có địch tập kích! Có kỵ binh Khiết Đan ở hướng chính đông!
Họ vừa chạy vừa hét lớn, mong rằng có thể truyền tin tới cho đồng bạn trong đại doanh biết sớm nhất có thể.
Lấy trứng chọi đá
Một đại đội kỵ binh trọng giáp thân mặc áo choàng trắng phi nhanh tới. Dưới ánh nắng chói chang, bọt tuyết bị đạp văng lên trông cứ như bọt biển bắn tung tóe trên mặt sông. Mà kỵ binh trọng giáp đang phi ngựa chính là những đợt triều cường, hoành tráng y như đại triều trên sông Tiền Đường vậy.
Áo choàng trắng tung bay phấp phới, hàng k5 binh trọng giáp đầu tiên giơ kỵ cung lên. Mỗi người được trang bị 50 cây Chùy Phá Giáp đặc chế gia trọng. Chùy Phá Giáp nặng như thế có thể dễ dàng bắn ra xa 200 bước. Đương nhiên, việc này cũng yêu cầu rất lớn về sức mạnh cánh tay, trừ phi là người vô cùng cường tráng, nếu không cũng không thể kéo căng dây kỵ cung được.
Quân do thám Tây Hạ chạy trối chết về tới đại doanh, mở to họng ra loan tin địch tập kích đi khắp đại doanh. Binh sĩ đang trực ca gióng kèn lên, cả đại doanh lập tức trở nên hoảng loạn, những binh sĩ phản ứng nhanh nhất thì đã cầm vũ khí trong tay rồi, còn những người phản ứng chậm thì vẫn còn nằm trong lều dụi mắt. Phần lớn binh sĩ đều vừa cởi giáp nằm xuống, suốt cả đêm cũng chưa chợp mắt, lại còn đứng trong gió lạnh thấu xương nữa, vừa nằm xuống mới ấm cái giường là bị tiếng kèn thảm thiết như gió bắc làm cho tỉnh dậy lần nữa.
- Có địch tập kích, mau dậy đi, có địch tập kích!
Quan quân cấp thấp tới từng cái lều gọi người dậy. Mồ hôi men theo trán của họ đã bắt đầu nhỏ giọt xuống. Binh sĩ trực ca có hơn 500 người, họ tập kết ra ngoài đại doanh một cách nhanh nhất. Chỉ là không có cung thủ, họ chỉ đành trơ mắt nhìn kỵ binh của người Khiết Đan tới ngày càng gần thôi.
Tiếng vó ngựa đồng đều. Thủ lĩnh kỵ binh đứng đầu hàng ngũ chỉ thanh loan đao được tăng thêm độ dài và độ to trong tay mình lên phía trước. 300 kỵ binh ở hàng đầu tiên đồng thời kéo căng kỵ cung. “Vèo” một tiếng, 300 thanh chùy phá giáp sắc nhọn lạnh lẽo dù đang ở dưới ánh nắng mặt trời, đổ ập xuống.
- Giơ khiên lên! Mau giơ khiên lên!
Các quan quân cấp thấp ra sức hò hét. Một số binh sĩ sợ ngây cả người cuối cùng cũng có phản ứng, vội giơ tấm khiên trong tay lên một cách loạn xạ. Chỉ là kết quả của việc không hình thành thống nhất đồng độ chính là, các binh sĩ đứng quá xa nhau căn bản là không thể tạo nên “thuẫn trận” có sức phòng ngự cung tên cao nhất. Lính cầm khiên ở hàng đầu căn bản là không thể đảm bảo an toàn cho đồng đội của mình ở phía sau. Đứng riêng lẻ thế này, họ thậm chí ngay cả an toàn của bản thân cũng không đảm bảo được.
Sau trận mưa tên đầu tiên, lính Tây Hạ bên trong đại doanh đã có 70, 80 người ngã xuống. Họ còn chưa kịp phản ứng lại, trận mưa tên thứ 2 đã nối tiếp nhau tới, chùy phá giáp đụng phải khiên, phát ra tiếng tong tong tong. Trong đó còn có tiếng phập phập phát ra khi chùy xuyên qua cơ thể người, máu bắn phụt ra từ vết thương của những người trúng tên. Họ cúi đầu xuống nhìn, nhưng lại không hề có chút sức lực hay dũng khí rút chùy phá giáp cắm trên người mình ra.
Tục ngữ có câu “lâm trận không tới 3 mũi tên”, có nghĩa là đối mặt với kỵ binh đang xông tới, ta bắt đầu bắn tên từ khi chúng bước vào tầm ngắm, thì chỉ bắn ra khoảng 3 mũi tên thôi là kỵ binh đã có thể đi tới trước mặt, cho dù là cung thủ xuất sắc nhất cũng không thể nào bắn ra mũi thứ 5 được, vả lại chất lượng còn chưa chắc được đảm bảo. Nhưng so với khinh kỵ chạy với tốc độ cao, thì tốc độ di chuyển của trọng kỵ binh chậm hơn nhiều, vì thế hàng trọng kỵ binh đi đầu sau khi ung dung bắn ra 4 mũi tên rồi mới thay mã giáo ra.
Lính Tây Hạ bị 4 trận mưa tên bắn chết mấy trăm người. Tốp lính Tây Hạ đầu tiên tập kết trước cổng cơ hồ như bị thanh lý sạch sẽ. Nhưng khi kỵ binh tới càng gần, thì càng có nhiều lính Tây Hạ quần áo xộc xệch cầm vũ khí xông ra ngoài, tham gia vào đội hình phòng thủ. Cung thủ bây giờ đã không còn đất dụng võ nữa, cái duy nhất họ có thể trông cậy vào lúc này chính là cái rào chắn ngựa cao gần bằng một người ở trước cổng đại doanh. Bất luận thế nào thì trọng kỵ binh cũng không thể vượt qua cái rào đó được.
Nếu kẻ địch xuống ngựa dời rào chắn ngựa đi chỗ khác, quãng thời gian đó cũng đủ các binh sĩ thao tác trọng nỏ và các cung thủ cho kẻ địch một kích chí mạng.
Hàng kỵ binh đầu tiên nhất cách cổng đại doanh không tới 50 bước chân. Cung thủ của lính Tây Hạ nắm chặt bộ cung trong tay, chờ đợi thời cơ kẻ địch bị rào chắn ngựa cản lại.
Hấp một cái, hàng kỵ binh đầu tiên đột nhiên tách ra hai bên, trông giống như cánh cửa đang mở, để hàng kỵ binh thứ 2 tiến lên. Hàng trọng kỵ binh đầu tiên tách ra 2 bên trái phải, trọng kỵ binh phía sau giơ cao cây lao trong tay mình, mượn quán tính khi ngựa phóng đi ném mạnh lao về phía trước!
Lúc này, kỵ binh cách cổng doanh đã không đầy 30 bước.
Một hàng giáo đông nghịt phóng tới, tập trung đánh vào lính Tây hạ đang cố gắng khống chế trọng nỏ. Sáu cỗ trọng nỏ còn chưa kịp bắn ra mũi đầu tiên, những binh sĩ thở hổn hển chạy tới trước trọng nỏ đã bị cây lao nặng trịch đâm xuyên người, cắm phập xuống đất.
Mấy trăm thanh lao, trông giống như vừa xảy ra một trận mưa đá vậy!
Những binh sĩ thao tác trọng nỏ toàn bộ đều bị cắm chết, trên người các binh sĩ ít nhất cũng bị 2 cây lao đâm xuyên, nhiều nhất thì trên người cắm tới 4 cây lao. Trên vết thương to lớn do lao tạo thành, máu chảy ào ào như thác đổ, dùng tay bịt cũng không ngăn lại được. Còn binh sĩ bị cắm trúng bụng thì cố gắng nhét lại ruột của mình vào bên trong, nhưng những cử động cứng ngắc của y đều vô dụng, nội tạng vẫn đua nhau mà trôi ra ngoài.
Lúc này, cung thủ Tây Hạ mới bắt đầu phản kích. Tên bắn đi như mưa, đánh trúng thiết giáp trên người trọng kỵ binh phát ra tiếng tong tong tong. Chỉ là không biết tại sao, ngay cả chùy phá giáp cũng không gây quá nhiều tổn thương cho đối phương. Sau một trận mưa tên, cũng chỉ có 7, 8 kỵ binh bị bắn rơi xuống ngựa.
Là “giáp khóa”, không ngờ chúng lại mặc giáp khóa!
- Trời ơi!
Cung thủ Tây Hạ hô hoán một cách tuyệt vọng, giáp xích trên người đối phương chính là loại áo giáp có sức phòng ngự cung tên cao nhất, loại giáp xích do từng sợi xích sắt một đan bện mà thành, có thể chống tên một cách hữu hiệu nhất, cho dù là chùy phá giáp cũng rất khó đâm xuyên qua giáp xích gây vết thương chí mạng cho kỵ binh. Giáp sắt liên hoàn có thể thành công cản tên lại, là nhờ lớp giáp da dày cộp bên trong có thể cản lại mũi tên cơ hồ như xuyên vào trong vòng của xích sắt.
Vài kỵ binh bị ngã xuống ngựa cũng không phải bị bắn chết, mà là bị mấy đợt chùy phá giáp liên tiếp hẩy xuống ngựa. Mấy kỵ binh chết đi cũng vì không được may mắn, chùy phá giáp đâm xuyên vị trí yết hầu có sức phòng ngự thấp nhất, cắt đứt hầu quản của họ.
Sau khi hàng kỵ binh thứ 2 ném lao xong, lấy cuộn dây thừng từ trên yên ngựa xuống xoay động, rồi quăng đầu dây mắc vào trên rào chắn ngựa. 4, 5 người ra hết sức lui ra sau kéo rào chắn ngựa ra, rất nhanh, họ đã dọn ra một lối đi rộng mấy chục mét. Lúc này, hàng kỵ binh thứ nhất nhường đường sang 2 bên cũng đã quay về đội hình, sau khi hàng kỵ binh thứ 2 dọn xong đường, tướng lĩnh dẫn quân chỉ loan đao về phía trước, các kỵ binh lập tức cầm mã giáo trong tay lên một cách chỉnh tề.
- Giết!
Tướng lĩnh trọng kỵ binh hô lớn một tiếng, lập tức 300 trọng kỵ xếp thành 6 hàng, xông vào đại doanh lính Tây Hạ qua con đường vừa được dọn ra như tràng nước lũ. Mà lúc này, phần lớn lính Tây Hạ chỉ vừa mới mặc xong giáp trụ, binh sĩ tập kết trước cửa ngay cả 1000 người cũng không có, mà lính Tây Hạ chạy ra trước nhất lại không có mặc giáp trụ, quá nóng vội nên họ chỉ vừa mặc xong áo là cầm vũ khí chạy ra.
Cơ thể xương thịt của họ không cách nào ngăn cản được cơn lũ gang thép này. Mã giáo trong tay trọng giáp kỵ binh dễ dàng làm tan rã tuyến phòng thủ của lính Tây Hạ. Vừa chạm mặt, lính Tây Hạ đã bị mã giáo bén nhọn đâm chết một lớp trước rồi! Mã giáo trong tay trọng giáp kỵ binh có tính đàn hồi rất tốt, sau khi đâm xuyên qua cơ thể của 1 lính Tây Hạ thì chỉ cần làm cong cán giáo, khi kỵ binh giơ tay lên thì đồng thời thi thể dính trên cán giáo cũng sẽ bị bắn ra xa.
Không cách nào chống trả. Phần lớn lính Tây Hạ đều quen dùng loan đao, so với cây mã giáo dài thật dài thì vũ khí của họ quá ngắn. Cho dù có người xông lên trước muốn giết chết chiến mã của kỵ binh, họ cũng sẽ tuyệt vọng mà phát hiện cơ hồ tất cả những con ngựa cao to ấy đều phủ đầy giáp sắt.
Vả lại những con chiến mã đó nói đúng hơn là những con mãnh thú, tất cả đều phát ra hơi hướm tanh hôi của máu tươi, ngay cả mắt ngựa lộ ra từ trong giáp sắt, cũng mang sát khí!
Trận hình công kích của kỵ binh nhanh chóng cắt ra một kẽ hở từ tuyến phòng ngự của quân Tây Hạ, và từ đó càng ngày càng nhiều kỵ binh xông vào đại doanh. Kẽ hở này ngày càng lớn, hàng thứ nhất, hàng thứ 2, hàng thứ 3, đội hình nghiêm chỉnh của trọng kỵ giống như chiếc xe tăng hạng nặng, nghiền nát cơ thể của quân Tây Hạ tiến vào bên trong.
Từ khi bắt đầu giao đấu, gần trăm lính Tây Hạ đã bị mã giáo của trọng kỵ giết chết, bị chiến mã đạp chết, nhưng vết thương mà họ gây cho kẻ địch lại vô cùng nhỏ nhoi. Họ đã bị dọa cho hết cả hồn, lại đứng cả đêm trong gió đêm buốt giá, tinh thần và thể lực của họ gần như không ở trạng thái tốt nhất. Nỗi sợ hãi đã bắt đầu lan rộng từ đêm qua đang nhanh chóng truyền đi với tốc độ nhanh không ngăn nổi, lính Tây Hạ xông lên từ phía sau thậm chí còn không dám giao đấu đã quay đầu bỏ chạy.
Khi họ đã xông vào đoàn quân Tây Hạ, kỵ sĩ dẫn đầu đột nhiên hô: - Thay đao!
Trọng kỵ sau lưng hắn lập tức chấp hành mệnh lệnh, không dây dưa chậm trễ chút nào. Họ hoặc là treo mã giáo lại chỗ cũ, hoặc là dùng mã giáo như cây lao phóng đi giết địch. Nói chung, trong thời gian ngắn nhất, vũ khí trên tay trọng kỵ đã đổi thành hoành đao. Lúc quân Tây Hạ nhìn thấy vũ khí trong tay họ, đã bắt đầu có người nghi ngờ. Bởi vì người Khiết Đan cũng giống như người Tây Hạ, thích dùng loan đao mà không thích dùng hoành đao!
- Chúng không phải người Khiết Đan!
Nại Chân Tuyệt kéo cánh tay của Miệt Điệp và rống lên.
Miệt Điệp cũng phát hiện ra sơ hở này. Y nắm binh khí trong tay thật chặt, hai mắt trừng to tới mức như muốn rớt cả tròng ra ngoài. Cơ thể y run rẩy kịch liệt, không biết là vì sợ hãi hay là phẫn nộ.
- Là người Hán! Chúng là người Hán!
Miệt Điệp nói với giọng khàn đục.
- Sắp xếp người đột phá vòng vây, báo tin cho Trần Lão Tướng quân, nói là người đánh sau lưng không phải người Khiết Đan mà là người Hán!
Miệt Điệp rống một câu thế này trước mặt Nại Chân Tuyệt rồi cầm vũ khí lên xông ra bên ngoài. Y không cách nào chịu được áp lực và nỗi sợ trong lòng, chỉ có giết người, chỉ có giết người y mới có thể phát tiết, nếu không y chắc chắn sẽ bị áp lực trong lòng làm cho phát điên!
- Đột phá vòng vây? Dễ gì làm được!
Nại Chân Tuyệt cười khổ một tiếng. Đại doanh tựa núi mà dựng, cho dù núi này không cao không dốc, nhưng thời gian trèo lên tới đỉnh núi cũng đủ đối phương truy sát rồi, mà cửa chính đại doanh lại bị bọn người Hán chết tiệt đó phong tỏa mất. Với sức chiến đâu bây giờ của quân Tây Hạ căn bản là không dám mơ có thể phá được vòng vây của đối phương! Quân do thám phái đi vẫn chưa kịp quay về, nhưng họ cũng đâu biết người tới tập kích không phải Lang Kỵ Khiết Đan!
- Lui về phía ta!
Miệt Điệp vừa rống lên một cách điên cuồng, vừa nhanh chóng xông về phía đối phương. Quân Tây Hạ nhìn thấy Chủ tướng của mình như tìm thấy chỗ dựa, không ít người bắt đầu tập trung ở xung quanh Miệt Điệp. Dưới sự lãnh đạo của Miệt Điệp, họ rất nhanh là đã hình thành một trận thế tấn công, tập trung được hơn 300 người. Chỉ là, hơn 300 bộ tốt đi tấn công trọng kỵ được võ trang tới tận răng, không khác nào lấy trứng chọi đá.
Suy đoán sai lầm
Miệt Điệp cùng với 300 bộ tốt được tập hợp một cách vội vã xông ra ngoài, đón đầu bước tiến của kỵ binh đối phương. Tuy rằng biết được xông qua đó nhất định sẽ cửu tử nhất sinh, nhưng các binh sĩ bị Miệt Điệp làm khơi dậy sự đồng cảm đã không ngần ngại cái chết nữa. Họ chỉ muốn dùng thân xác máu thịt của mình ngăn cản đám kỵ binh chết tiệt này, cố gắng tranh thủ ít nhiều cơ hội sống sót cho đồng đội của mình.
Nhìn thấy một đội quân đang đón đầu đoàn kỵ binh xông tới, ánh mắt Lưu Lăng nghiêm túc hẳn. Hắn giơ tay lên dùng hoành đao chỉ về phía đội hình tấn công được hợp thành từ mấy trăm người này. 100 trọng kỵ ở sau hắn nhanh chóng điều chỉnh phương hướng theo hắn, nhắm ngay đội quân của Miệt Điệp mà xông đi.
Lưu lăng đi đầu, trông như mũi nhọn của một mũi tên, cùng với 100 trọng kỵ tạo thành một cây chùy phá giáp sắc nhọn nhất. Hai bên của Lưu Lăng là Triệu Nhị và Hoa Tam Lang. Có hai người họ bảo vệ hai bên cánh của mình, Lưu lăng chỉ việc xông lên trước mà không cần phải lo lắng. Khi cách đối phương không tới 10 bước, Lưu Lăng nhanh chóng đặt ngang hoành đao đẩy ra ngoài, sau đó gập người ghé sát vào lưng của Hồng Sư Tử.
Phập!
Chấn động từ trên cánh tay truyền tới khiến Lưu Lăng nhận thức rõ ràng, một kẻ địch đã bị hắn xẻ làm đôi. Ngay sau đó hoành đao của Triệu Nhị và Hoa Tam Lang cũng đã nhuốm máu. Cùng với tiếng xung kích của kỵ binh, trận hình tấn công được tập hợp một cách gấp gáp của đối phương nhanh chóng tan rã như mặt nước bị chia cắt vậy.
Lưu Lăng tìm đúng ngay kẻ đầu lĩnh. Từ giáp sắt chỉnh tề trên người đối phương có thể thấy được, đây là một tướng lĩnh cao cấp, cũng là hạt nhân và linh hồn của đội quân này. Chỉ cần giết y, đội quân ắt hẳn sẽ sụp đổ hoàn toàn. Lưu Lăng cúi người, vung đao, chém mạnh xuống người Miệt Điệp.
Miệt Điệp thân kinh bách chiến, xoay người né khỏi lưỡi đao của Lưu Lăng. Y vung đao phản kích, định đâm vào bụng chiến mã của Lưu Lăng. Chỉ là loan đao sắc bén trong tay Miệt Điệp chỉ xẹt ra một tia lửa trên trọng giáp được phủ trên mình Hồng Sư Tử, căn bản là không thể làm nó bị thương miếng nào. Hồng Sư Tử bị chọc giận hí lên một tiếng, nhanh chóng xoay người, hai chi sau mạnh mẽ đá mạnh vào trước ngực của Miệt Điệp.
Nại Chân Tuyệt xông tới sau lưng Miệt Điệp, đẩy Miệt Điệp té nhào xuống đất. Hai chi sau của Hồng Sư Tử đạp mạnh lên người y, rầm một tiếng lớn, cơ thể của Nại Chân Tuyệt bị Hồng Sư Tử đá văng đi. Nại Chân Tuyệt đụng phải hai lính Tây Hạ và té rầm xuống đất, gãy mất ít nhất là 5 xương sườn. Y chỉ thấy trước mắt mình bỗng tối sầm lại rồi mất đi tri giác. Ngay lập tức, chiến mã của trọng kỵ giẫm đạp lên người y mà đi qua. Một con, hai con, ba con… khi đội quân đi qua rồi, đâu còn nhìn thấy Nại Chân Tuyệt đâu nữa, y sớm đã biến thành một nhúm thịt nát rồi.
Miệt Điệp bị xô té cũng không thể thoát nạn. Y giãy giụa đứng dậy, thì một thanh hoành đao sắc nhọn đã lướt qua cổ y một cái, lập tức Miệt Điệp cảm thấy cơ thể mình bỗng nhẹ đi rất nhiều. Y cảm thấy mình như bay lên, càng bay càng cao. Ở trên cao, y thậm chí có thể thấy rõ hình quỷ Tu La được vẽ trên mặt giáp của trọng kỵ. Sau đó y cảm thấy mình như xoay một vòng trên không trung, rồi thấy một cái xác không đầu vẫn còn đứng trên mặt đất, máu nóng bốc hơi liên tục trào ra từ cái cổ. Cái xác đó thật là quen thuộc, chỉ là y vẫn chưa kịp nhìn kỹ, thì mí mắt ngày càng nặng trĩu đã nhắm lại, và không còn có thể mở ra nữa.
Đội hình tấn công do hơn 300 lính Tây Hạ hợp thành nhanh chóng bị phá hủy. Khi trọng kỵ đảo một vòng rồi quay lại, thì đội quân Tây Hạ này chỉ còn không tới 100 người, sau khi bị kỵ binh tấn công lần thứ 2, dưới mặt đất lại có thêm gần trăm cái xác. Sau đó Lưu Lăng hạ lệnh cho các kỵ binh phân tán xuất kích, mấy người hợp thành một đội tự do giết địch. 900 khinh kỵ đi cuối đội ngũ xông vào đại doanh cũng bắt đầu phát uy. Trọng kỵ đã giúp họ “dọn đường”, khinh kỵ không gặp nguy hiểm nên giết người cũng không chậm tay hơn trọng kỵ.
Tu La Doanh được tạo thành từ 600 trọng kỵ và 900 khinh kỵ. Vì lúc xung trận, trọng kỵ ở phía trước nhất, nên quân Tây Hạ mới ngộ nhận rằng đây là một đội quân dụng mãnh toàn là trọng kỵ binh. 600 trọng kỵ, đã là cực hạn của số tiền chi tiêu mà Lưu Lăng có thể huy động, nhiền hơn nữa thì với tài lực của Binh Bộ hiện nay căn bản là không thể trả nổi. Vả lại, tuyển chọn 600 trọng kỵ binh cơ thể cường tráng cũng không phải là điều dễ dàng. Bộ trọng giáp đó nặng tới 30 kg lận!
So với trọng kỵ binh như cái máy nghiền thịt, khinh kỵ giết người nhanh gọn hơn nhiều. Họ đi lại trên chiến trường nhanh như gió, từng lính Tây Hạ một bị hoành đao của họ chém chết. Từ lúc xông vào đại doanh tới khi gần tiêu diệt hết phần lớn lính Tây Hạ cũng chỉ dùng có 40 phút. 4000 quân Tây Hạ chỉ còn không tới 1/3 sống sót, ngoài những người quỳ xuống đầu hàng ra, còn có hơn trăm người chạy lên núi.
Hoa Tam Lang cùng một đội khinh kỵ nhanh chóng đuổi theo, một trận mưa tên rồi một trận xung kích, số lính Tây Hạ leo núi đều bị giết sạch. Kỵ binh bắt đầu dọn dẹp chiến trường, xua những lính Tây Hạ đã thả vũ khí xuống tập trung lại với nhau.
- Vương gia, tính cả 2 đội kỵ binh ta giết giữa đường, tổng cộng giết địch 3300, bắt gần 700 tù nhân.
Hoa Tam Lang lau vệt máu trên mặt, bẩm báo con số này cho Lưu Lăng. Lần này họ mạo danh Lang Kỵ Khiết Đan vào bên trong Tây Hạ luyện binh, có thể nói là thu hoạch khá phong phú. Dọc đường giết sạch mấy đội tuần tra của quân biên phòng, cướp mấy ngôi làng có vẻ lớn để bổ sung lương thực và các thứ khác. Lần này lại thành công tiêu diệt cả một đại doanh của quân Tây Hạ, kết quả thắng lợi phong phú như thế thật khiến người ta hào hứng.
- Quân ta tổn thất bao nhiêu?
Lưu Lăng đẩy giáp che mặt lên, lộ ra khuôn mặt anh tuấn.
- Vừa thống kê xong, trọng kỵ binh tổn thất hơn 30 người, còn khoảng 70 người bị thương nhưng không ảnh hưởng chiến đấu; khinh kỵ tổn thất 19 người, bị thương thì là hơn trăm người, cũng không ảnh hưởng chiến đấu. Quân y tùy quân đang băng bó cho họ, giáp của ta dày, nên vết thương không lớn.
Lưu Lăng uhm một tiếng, thúc ngựa đi về phía tù binh.
Sở dĩ lần chiến đấu này có thể phát huy thắng lợi huy hoàng đến thế. Một là vì chiến thuật vận dụng tốt, chưa khai chiến đã làm tinh thần chiến đấu của quân Tây Hạ sụp đổ hoàn toàn; vả lại quân Tây Hạ vừa đói vừa rét lại vừa thức suốt đêm, vừa ngủ lại phải bò dậy thể lực không thể nào ứng phó được một trận chiến kịch liệt như thế. Thứ 2, trang bị của các kỵ binh trị giá gần như toàn bộ tài lực dốc ra của Thái Nguyên Phủ, so với Thiên Đức Quân của quân Tây Hạ mà nói hơn nhau quá nhiều. Vũ khí của lính Tây Hạ cơ hồ không thể phá vỡ phòng ngự của trọng kỵ, vả lại kỵ binh của họ đã bị quân Hán giết từng tốp một trên đường đi rồi. Dùng khinh giáp bộ binh đối kháng với trọng kỵ, xác suất thắng là không.
- Tù binh làm thế nào?
Hoa Tam Lang hỏi.
- Giết hết đi. Để lại mạng sống chính là để lại chứng cứ, Đại Hán chúng ta tạm thời chưa có thực lực khai chiến với Tây Hạ. Lần này tới đây là vì luyện binh, nếu vì thế mà gây ra rắc rối không cần thiết cho Đại Hán thì được không bằng mất.
Lưu Lăng điềm đạm trả lời.
Hắn dừng bước chân của Hồng Sư Tử lại, không đi tiếp nữa. Hắn biết rằng câu nói này của mình sẽ cướp đi sinh mạng của gần 700 tù binh không một tấc sắt trong tay. Lòng hắn không bình lặng như vẻ bề ngoài, thân là một người hiện đại xuyên việt tới thời đại này, thật ra hắn không hề thích ứng với máu tanh giết chóc, nhưng như thế không có nghĩa hắn là một con người nhu nhược không quả quyết. Hắn đồng cảm cho kết cục của những binh sĩ Tây Hạ đó, nhưng cũng sẽ không mềm lòng để mà rước họa vào thân.
Tù binh không có vũ khí cũng như con dê đang đợi làm thịt, đối mặt với kỵ binh được võ trang lên tới tận răng, có vũ khí trong tay họ cũng đã không cách nào phản kháng lại, huống hồ gì khi đã bỏ vũ khí xuống? Giết chết 700 người, không cần đến một chén trà. Máu từ trong thi thể làm tan chảy cả một bề mặt tuyết, máu và tuyết hòa trộn vào nhau, nhìn rợn cả người.
Thu dọn chiến trường trong thời gian ngắn nhất, xác định là không còn ai sống sót nữa, Lưu Lăng ra lệnh đem đủ lương thực đủ 3 ngày cho cả đội quân, rồi phóng hỏa thụi rụi cả đại doanh Thiên Đức Quân. Cả đội quân nhanh chóng rời khỏi, kỵ binh lại choàng lên người áo choàng màu trắng rất nhanh là đã hòa vào trong tuyết trắng, dường như chưa từng tới qua.
Sau 2 canh giờ, tốp quân do thám đầu tiên được phái đi thám thính tình hình của Lang Kỵ Khiết Đan quay trở về đại doanh. Nhưng xuất hiện trước mặt họ không phải khuôn mặt tươi cười của đồng đội, mà là ngọn lửa phừng phừng cháy cùng với xác đầy mặt đất. Cả doanh trại đều chìm trong biển lửa, đồng đội đều bị giết sạch, các binh sĩ Tây Hạ bị cảnh tượng trước mặt làm cho mất đi ý thức, gào khóc thét lên.
Hai ngày sau, tin tức Lang Kỵ Khiết Đan tập kích đại doanh Thiên Đức Quân được truyền tới đại doanh quân Tây Hạ đóng ở mạn bắc núi Kỳ Liên. Khi được tin, cái ly bạc chứa đầy trà sữa nóng hổi trong tay Trần Thâu Nhàn rơi bịch xuống đất. Sau khi hoàn hồn lại, ông ta ra ngoài phái một đội kỵ binh 5000 người đi về hướng của Thiên Đức Quân điều tra. Ông ta biết Lang Kỵ Khiết Đan không hề có ý định đột kích sau lưng mình, nếu người Khiết Đan thật sự có ý định này, bây giờ quân Tây Hạ đã nằm giữa hai gọng kìm rồi.
Từ đó có thể suy đoán, đội Lang Kỵ Khiết Đan này người không nhiều, mà vẫn có thể nhất cử tiêu diệt hết hơn 4000 người lưu thủ trong đại doanh Thiên Đức Quân. Cho dù đối phương là kỵ binh trọng giáp tinh nhuệ, nhân số cũng chỉ khoảng 1500 tới 2000, cùng lắm cũng tuyệt đối không quá 3000. 3000 kỵ binh trọng giáp, đã có đủ thực lực xung kích, nên sẽ không thể tới giờ mà vẫn không phát động công kích sau lưng quân Tây Hạ.
Sau khi phái 5000 kỵ binh đi rồi, Trần Thâu Nhàn mới dùng danh nghĩa của Nguyên Soái Hành Quân, triệu tập 5000 kỵ binh của Hắc Thủy Uy Phúc Quân đóng cách đó 300 dặm vẫn chưa tham chiến, truy tìm tung tích của Lang Kỵ Khiết Đan trong phạm vi 500 dặm.
Mỗi ngày đều có tin tức truyền về đại doanh, nhưng lại không có tin nào tốt cả.
10 ngàn kỵ binh tìm kiếm theo kiểu kéo lưới, nhưng căn bản là không thấy bóng của Lang Kỵ Khiết Đan ở đâu hết. Hôm nay chúng diệt mất một ngôi làng, ngày mai chúng giết sạch một cứ điểm đóng quân, thế mà lại không tài nào bắt được bóng của chúng. Vả lại quỹ đạo đi của đối phương mơ hồ hết sức, căn bản là vô tích khả tầm. Trần Thâu Nhàn sau khi tổng hợp lại tin tức mấy hôm nay nhận được, cuối cùng cũng rút ra kết luận. Đội Lang Kỵ Khiết Đan nhân số không nhiều này căn bản là chạy tới hậu phương của quân Tây Hạ để gây rối mà!
Chỉ là trú địa của Thiên Đức Quân cơ hồ như kề sát biên giới Hán Quốc, không lẽ người Khiết Đan mượn đường Hán Quốc qua đây? Xác suất chính xác của suy luận này không lớn. Bởi vì Trần Thâu Nhàn biết, Hán Quốc đã âm thầm ký hiệp ước với Đại Hạ, trong cuộc chiến giữa Đại Hạ và Liêu Quốc, Hán Quốc tuyệt đối sẽ không cho quân đội của Liêu Quốc tiến vào lãnh thổ Đại Hạ từ đó.
Nghĩ tới đây, Trần Thâu Nhàn chợt nảy ra ý nghĩ!
Đại Đồng! Cũng chính là Đại Đồng vừa được Hoàng đế Liêu Quốc Da Luật Hùng Cơ định làm Tây Kinh! Dạo trước Hán Quốc từng phái sứ giả tới thông báo chuyện này, nói là Hoàng đế Hán Quốc do sức ép của bên Liêu Quốc, không thể không dâng Đại Đồng cho Liêu Quốc! Nghĩ tới đây Trần Thâu Nhàn chợt ân hận tới não cả ruột, rõ ràng mình đã biết tin này, thế mà không đề ý tới nó!
Người Khiết Đan chết tiệt, không ngờ chúng lại xem trọng vị trí chiến lược của Đại Đồng mà ép Hán Quốc dâng cho chúng. Bọn trọng kỵ Khiết Đan nhất định là xuất phát từ Đại Đồng, nếu không cũng sẽ không xuất hiện ở trú địa Thiên Đức Quân! Tình huống bây giờ vô cùng nguy cấp. Nếu Liêu Quốc phái nhiều quân đội hơn nữa trấn giữ Đại Đồng, e là sẽ không chỉ quấy nhiễu hậu phương Đại Hạ thôi đâu. Nói không chừng sẽ thật sự có một đội quân hơn vạn người, thậm chí là đại quân 10 vạn người tấn công từ sau lưng của họ!
Nghĩ tới đây, Trần Thâu Nhàn toát cả mồ hôi lạnh. Ông ta lập tức phái người, dùng cách thức truyền tin khẩn cấp 800 dặm đưa tấu chương có ghi tin tức này và suy đoán của mình tới Hưng Khánh Phủ.
Nuốt cái lớn
Có lẽ Lưu Lăng không phải người đầu tiên trong thời cổ đại này dùng màu sắc để che mắt kẻ địch. Nhưng không thể nghi ngờ là hắn đã phát huy tiểu xảo này tới cực điểm. Mỗi một kỵ binh của Tu la Doanh đều được phát một chiếc áo choàng màu trắng trước khi rời khỏi Thái Nguyên. Họ trùm cái áo choàng này đi lại hay là nghỉ ngơi trong tuyết, nhìn từ xa căn bản là không thể phát hiện. Mà theo tin tức từ những người sống sót của Thiên Đức Quân cho Trần Thâu Nhàn, lang Kỵ Khiết Đan đều mặc áo đen giáp đen hết. Theo quán tính, không ai nghĩ rằng một chiếc áo choàng lại có thể che lấp hết tất cả những dấu vết của bọn Tu La.
Lần gần đây nhất, Tu La Doanh của Lưu Lăng và kỵ binh Tây Hạ chỉ cách nhau có 5 dặm thôi. Hai đội kỵ binh cơ hồ như đi lướt qua nhau, thế mà vẫn chẳng có chuyện gì xảy ra. Đương nhiên, điều kiện tiền đề chính là Lưu Lăng không chắc rằng mình có thể hoàn toàn “nuốt trôi” nó. Nếu cái mà họ gặp chỉ là một đội tuần tra mấy trăm người, sự “thèm ăn” của Lưu Lăng chắc chắn sẽ lộ rõ ra.
Cứ như thế, trong vòng một tháng, Lưu Lăng dùng chiến thuật du kích và trốn tìm có phần hơi đê tiện này, nuốt hết mười mấy đội quân lớn nhỏ của quân Tây Hạ, tính luôn cả Thiên Đức Quân, thì họ đã tiêu diệt hơn 5000 quân Tây Hạ. Mà Tu La Doanh chỉ tổn thất chưa tới 100 người, còn lại hơn 1400 mấy người, đều đã trưởng thành thành những tinh binh bách chiến sau vô số lần trải qua lửa và máu.
Lúc Lưu Lăng đem quân xuất phát từ Thái Nguyên Phủ, họ không đem nhiều lương thực. Lần này ở trong Tây Hạ, hoàn toàn là đi tới đâu lấy lương tới đó, gặp thôn nào cướp sạch thôn đó, nhưng lại không có giết những bá tánh tay không tấc sắt này. Lưu Lăng lệnh cho binh sĩ khi “làm nhiệm vụ” tuyệt đối không được nói chuyện, nên đội quân treo cờ đầu sói Đại Liêu này nhìn sao cũng không giống một đội quân người Hán. Vả lại, Lưu lăng và mấy tướng lĩnh chủ chốt còn cố tình nói chuyện với nhau bằng tiếng Khiết Đan trước mặt mục dân Tây Hạ. Từ đó càng khẳng định thêm thân phận Lang Kỵ Khiết Đan của họ.
10 ngàn kỵ binh Tây Hạ chạy vòng vòng trên thảo nguyên mênh mông, mà vẫn không tìm thấy tung tích của Tu La Doanh. Mỗi lần họ tìm tới một cái làng vừa bị cướp, thì đều được cho biết là Lang Kỵ Khiết Đan vừa mới rời khỏi, lập tức phóng ngựa đuổi theo, thì thấy mấy trăm dặm rồi mà vẫn chẳng thấy lấy một cọng lông ngựa.
Tướng quân của Hắc Thủy Quân tên là Cảnh Trung Tâm, là một người Hán thật sự. Nhưng tổ tiên y đã từ Trung Nguyên di cư ra địa bàn của người Đảng Hạng từ mấy đời trước rồi. Sau hơn trăm năm dung nhập, trên người y đã không còn bóng dáng của người Hán nữa. Sau khi kết hôn với dân tộc trên thảo nguyên, huyết thống người Hán của Cảnh gia đã dần bị phai nhạt. Từ khuôn mặt râu ria bờm xờm cho tới vóc người vạm vỡ to con của Cảnh Trung Tâm, lại còn cách ăn nói cửa chỉ, nhìn sao cũng không nghĩ đâu là một hậu duệ người Hán.
Liên tục đuổi bắt một cách không kết quả suốt một tháng nay, Cảnh Trung Tâm đã nộ khí bừng bừng. Để nhanh chóng tìm ra đội kỵ binh Khiết Đan chết tiệt đó, y không thể không làm trái mệnh lệnh không được chia binh ra của Trần Thâu Nhàn, chia 5000 kỵ binh dưới trướng làm 2 đội, chia nhau ra 2 hướng khác nhau tìm kiếm tung tích của Lang Kỵ Khiết Đan. Sở dĩ y dám làm như vậy, là vì y đoán chắc rằng người Khiết Đan không quen thuộc địa lý nơi đây, bổ cấp toàn dựa vào cướp bóc mà có, nhưng trên thảo nguyên đất rộng người thưa, người Khiết Đan chắc chắn đã liên tiếp mấy ngày không tìm thấy cái làng nào để cướp. Một khi trọng kỵ Khiết Đan đi tới nước thiếu lương thực, với cả bộ giáp nặng trịch trên người chúng nhất định sẽ không đứng dậy nổi!
Mà khinh kỵ Đảng Hạng bị người Khiết Đan làm cho tức điên thì sĩ khí cao trào. Họ quen với vùng đất này nhiều hơn người Khiết Đan, chủ trương tác chiến của họ có quá nhiều ưu thế có thể phát huy, cho dù là đối mặt với trọng giáp Khiết Đan được truyền tụng như ác ma địa ngục, họ cũng có cơ hội chiến thắng trong một trận đánh, và cơ hội này lại còn tương đối cao nữa.
Hơn nữa, từ quỹ đạo hoạt động của người Khiết Đan suốt một tháng nay có thể thấy, phạm vi hoạt động của chúng chỉ trong vòng 500 dặm quanh đây thôi, những nơi mà thiết kỵ Khiết Đan chưa tới đã bắt đầu thu hẹp, chia binh ra bao vây có thể nói là phương án tốt nhất.
Quyết định xong, Cảnh Trung Tâm phái thân binh khoái mã liên hệ tướng quân của một nhánh kỵ binh khác, Địch Cảm, nói cho hắn biết quyết định chia binh của mình, sau đó mong Địch Cảm cố gắng phối hợp hành động của mình.
Cảnh Trung Tâm chính tay viết một bức thư giao cho kỵ binh, xác định vài khu vực rồi cho thân binh nói lại với Địch Cảm. Y quyết định chia quân ra, một là để nhanh chóng tìm ra nhánh kỵ binh Khiết Đan đó rồi tiêu diệt, hai là muốn dùng một tiểu đội sau khi chia quân làm mồi nhử, dụ trọng giáp Khiết Đan xuất hiện. Y suy đoán, thủ lĩnh của trọng giáp Khiết Đan chắc chắn là một người tham lam, một khi nhìn thấy kỵ binh Đại Hạ chia nhau hành động, nói không chừng tên tướng quân Khiết Đan to gan đó sẽ nhắm mục tiêu vào một trong những tiểu đội kỵ binh chăng?
Xác định xong khu vực rồi, chỉ cần nhân mã của Địch Cảm tuần tra ở quanh đó, một khi đội kỵ binh làm mồi dụ được trọng giáp Khiết Đan ra, thì hai đội quân đó sẽ có thể nhanh chóng bao vây hợp sức tiêu diệt trọng giáp Khiết Đan. Kế hoạch này có thể nói là rất to gan nhưng khả năng thành công rất lớn. Cảnh Trung Tâm biết Địch Cảm nhất định sẽ không từ chối kiến nghị của mình. Vì Cảnh Trung Tâm biết, tên Thiên Phu Trưởng chết đi của Thiên Đức Quân, Địch La chính là em trai ruột của Địch Cảm, cho dù không phải vì Đại Hạ, chỉ là vì báo thù cho em mình thôi, Địch Cảm cũng không có lí do từ chối ý muốn hợp tác của mình.
Không ngoài dự đoán của y, Địch Cảm khi nhận được tin của y quả nhiên đồng ý với kế sách của y. Mà để phối hợp với đội của Cảnh Trung Tâm hợp thành đội hình bao vây trọng giáp Khiết Đan trong khu vực được xác định trước, Địch Cảm cũng chia 5000 kỵ binh dưới trướng mình thành 2 đội, một đội giao cho Lang Tướng Ân Tát Khắc chỉ huy, đội còn lại thì hắn đích thân chỉ huy và đã tới khu vực trăm dặm mà Cảnh Trung Tâm định sẵn.
Nhận được sự đồng thuận của Địch Cảm, Cảnh Trung Tâm tự tin hơn rất nhiều. Y lệnh cho trợ thủ của mình, Lang Tướng Mộc Li chỉ huy một đội kỵ binh 3500 người, còn y thì đem theo 1500 kỵ binh làm mồi nhử. Y không định đem theo nhiều quân hơn nữa, y sợ là sẽ không khơi dậy sự thèm ăn của tướng lĩnh Khiết Đan. 1500 người, mồi nhử béo bở như thế chắc sẽ dụ được con sói đang ẩn mình đó ra nhỉ?
Cảnh Trung Tâm không biết là, đội của y đang tìm kiếm kỵ binh Khiết Đan, mà cái gọi là trọng giáp Khiết Đan đó lại ở ngay sau đuôi của đội y, đi theo một cách nhàn nhã tự tại. Người đuổi theo gấp gáp đi ở phía trước, người bị đuổi lại theo sau đuôi người đuổi theo. Nếu Cảnh Trung Tâm biết đội trọng giáp Khiết Đan đó đang ở ngay sau đít của mình, y nhất định sẽ tức ói máu.
Đây lại là một lần vận dụng lối nghịch hướng suy nghĩ của Lưu Lăng. Hắn chắc chắn rằng quân Tây Hạ sẽ không ngờ tới là đội quân của hắn lại dám bám theo sau lưng mình, vả lại khoảng cách của hai bên còn chưa tới 30 dặm nữa. Bởi vì theo lối suy nghĩ thông thường, quân Tây Hạ sẽ không phái do thám đi thám thính kẻ địch ở những nơi mình đã đi qua. Mà Lưu Lăng, chính là nhắm vào sơ suất này. Hắn thậm chí còn theo sau đuôi của Cảnh Trung Tâm, thong dong cướp sạch một ngôi làng lớn có tới hơn 2000 mục dân, lương thảo bổ cấp còn đầy đủ hơn cả quân Tây Hạ nữa.
Khi do thám quay về báo tin quân Tây Hạ sẽ chia binh ra, Lưu Lăng đang ngậm lấy một cọng cỏ nằm dài trên thảo nguyên suy tính không biết có nên về nhà hay không, dù sao ra ngoài cũng đã một tháng rồi, mục đích lấy chiến luyện binh cũng đã đạt được rồi. Bây giờ đội kỵ binh Tu La Doanh này đã lần nữa thay da đổi thịt, trở thành một đội hùng binh chân chính.
Nhưng sau khi nghe báo cáo này xong, Lưu Lăng quyết định ở lại thêm vài ngày nữa rồi mới về đi. Nếu kẻ địch đã cam tâm tình nguyện dùng mình làm mồi, vậy thì Lưu lăng không ngại nuốt con mồi này vào bụng, rồi phủi mông đi về, có lời mà không lấy là đồ ngốc.
Lưu Lăng cùng với Hoa Tam Lang và Triệu Nhị, chỉ đem theo 4, 5 hộ vệ lặng lẽ tiếp cận doanh địa của quân Tây Hạ. Trên một gò đất cao, Lưu Lăng quan sát một cách tỉ mỉ.
- Quân Tây Hạ chia người rồi, vậy là chúng định dụ chúng ta ra ngoài à? Hay là định mở rộng phạm vi tìm kiếm?
Triệu Nhị nằm sấp dưới thảm cỏ, nói. Thảm cỏ không có tuyết phủ khô ráo mà mềm mại, nằm lên trên cảm giác rất dễ chịu, khiến người ta muốn lăn qua lăn lại.
Hoa Tam Lang hei hei cười nói: - Bất luận hắn muốn làm gì, tính toán của hắn e là công cốc rồi. Tên Cảnh Trung Tâm đó chắc tới chết cũng không ngờ, chúng ta đang ở ngay sau đít của chúng.
Triệu Nhị phì cười một tiếng:
- Lúc trước ta cứ nói theo sau đuôi người ta ngoài ăn cát thì là hưởng rắm, không ngờ lại có ngày theo sau đít kẻ địch mà cuộc sống lại sung sướng tới thế, nghĩ tới mấy ngôi làng vừa tiễn kỵ binh nhà mình đi liền bị chúng ta thanh lý sạch sẽ là ta muốn cười.
Lưu Lăng cười nhẹ: - Lần này chúng ta theo sau đuôi kẻ địch, không ăn cát hưởng rắm, mà uống máu!
- Hả?
Hoa Tam lang chỉ đại doanh quân Tây Hạ, nói: - Vương gia người xem, đếm số lượng, thì 2 đội kỵ binh này rõ ràng không phải chia đôi, một đội nhiều, còn một đội ít.
Lưu Lăng cười nói: - Đó là đương nhiên, nếu chúng chia đôi thì con mồi này lớn quá. Mồi quá lớn, hắn sợ cá sẽ chạy mất. Cái đội mà ít người đó, xem ra Cảnh Trung Tâm định đích thân chỉ huy rồi. Xem ra hắn cũng là một người to gan nhỉ.
Hắn chỉ cái đội quân ít người đã giương cờ tướng quân lên nói.
Triệu Nhị bĩu môi: - Thuộc hạ thấy hắn không phải to gan, mà là ngốc, dùng thân phận thống soái một quân đi dụ địch, không khéo bị nuốt tới xương cũng chẳng chừa cho xem! Xem ra nhân mã đi theo hắn sẽ không quá 1500 người, chúng ta chỉ cần theo dõi hắn, rồi tìm cơ hội nuốt và bỏ chạy. Tên Cảnh Trung Tâm đó dù cho không bị giết chết cũng sẽ hối hận chết thôi!
Hoa Tam Lang nói: - Đúng, chúng ta cứ theo dõi hắn, có cơ hội liền lập tức nuốt con mồi béo bở này.
Hai người ngươi một lời ta một câu bắt đầu thương lượng đối sách, thương lượng nửa ngày mới phát hiện Lưu Lăng nãy giờ chẳng có lên tiếng. Hai người ngừng lại, nhìn Lưu Lăng đợi mệnh lệnh của Vương gia. Ánh mắt của Vương gia không lưu lại trên đội của Cảnh Trung Tâm, thuận theo ánh mắt của Vương gia, thì ra người đang dõi theo cái đội quân nhiều người.
Hai người trố mắt nhìn nhau, dị khẩu đồng thanh hỏi: - Vương gia, không lẽ người định…
Lưu Lăng cười cười, đứng dậy phủi phủi cát bụi trên người, nói:
- Uhm, ta chính là định làm thế, nếu đã nuốt, thì chúng ta không nuốt cái nhỏ nữa, chọn cái lớn mà nuốt! Nuốt cho hắn đau lòng chết, nuốt cho hắn khóc không ra nước mắt!
Bị lừa
Cảnh Trung Tâm mang theo một nghìn năm trăm kỵ binh rời khỏi doanh địa, trong khoảng thời gian này gã vẫn luôn nghiên cứu phong cách tác chiến của tên tướng lĩnh Khiết Đan chưa từng giao thủ qua kia, sau khi đã nghiền ngẫm tỉ mỉ gã xác định tên tướng lĩnh Khiết Đan này là một người cực kỳ tự tin và rất có tinh thần phiêu lưu, hơn nữa tâm trí kẻ này hết sức vững vàng, tuy ưa mạo hiểm, nhưng tuyệt đối không đánh những trận có cơ hội thắng dưới năm thành. Nói cách khác, chỉ cần có một nửa khả năng thành công, người nọ nhất định sẽ nhào lên cắn xé.
Đây là một kẻ điên, còn là một kẻ điên lý trí.
Theo sự quan sát của một tháng qua kết luận, tướng lĩnh Khiết Đan này là một người rất có tầm mắt và cái nhìn đại cục, hắn có thể ở giữa vòng vây của mười ngàn kỵ binh luồn lách trơn trượt như cá, chứng tỏ năng lực chỉ huy của hắn cực kỳ xuất sắc. Sau khi cho ra kết luận như vậy Cảnh Trung Tâm chẳng những không nổi giận ngược lại càng phấn chấn bừng bừng, bởi vì gã chợt nhận ra bản thân đang hừng hực dấy lên một khao khát, gã muốn đánh bại kẻ này. Đánh bại kẻ đã dùng không tới hai nghìn kỵ binh nuốt chửng sạch sẽ Thiên Đức quân hơn bốn nghìn nhân mã.
Tên tướng lĩnh Khiết Đan dám dùng hai nghìn kỵ binh tấn công đại doanh Thiên Đức quân, chắc chắn sẽ không dễ dàng bỏ qua đội ngũ của mình, một con mồi thơm ngào ngạt. Một nghìn năm trăm kỵ binh thoạt nhìn hơi nhiều, nhưng Cảnh Trung Tâm có cách khiến cho chi đội ngũ này trở nên càng thơm ngon dụ dỗ.
Nhằm gợi lên triệt để cơn thèm ăn của tướng lĩnh Khiết Đan, gã lại chia đội ngũ của mình ra thành hai đội, gã tự mình suất lĩnh tám trăm tinh binh chậm rãi đi trước, phái bảy trăm kỵ binh còn lại phân thành bảy đội du kỵ, duy trì khoảng cách trên dưới một dặm với trung quân của gã. Gã tin tưởng quyết định “ngu xuẩn” này của mình nhất định sẽ dụ dỗ được ánh mắt của tên tướng lĩnh Khiết Đan kia, một khi ngửi được mùi kẻ đó khẳng định sẽ liều lĩnh nhào đầu về phía trước hòng thôn tính chi đội ngũ này của mình.
Cảnh Trung Tâm cảm thấy nếu mình là tên tướng lĩnh Khiết Đan kia, nhất định sẽ không kìm nổi mà lao đầu vào. Vốn chỉ có một nghìn năm trăm kỵ binh, giờ lại còn chia nhỏ ra, đây quả là mình muốn chết mà. Gã cảm thấy bản thân đã biểu hiện ra đầy đủ thành ý, kẻ kia tuyệt đối sẽ vui vẻ nhận lời mời mọc của mình.
Trên thực tế, thám báo báo cáo rất nhanh đã xác định phán đoán của Cảnh Trung Tâm. Thám báo trở về báo rằng, phát hiện người không rõ lai lịch đang quan sát đội ngũ từ xa, khi đội thám báo chuẩn bị tiến lên kiểm tra, thì hai người kia nhanh chóng đào thoát. Từ tin tức này có thể phán đoán, gã tướng lĩnh Khiết Đan đã nhắm vào mình rồi.
Cảnh Trung Tâm cười cười, gã lập tức phái người đi đưa tin liên lạc với Lang tướng Mộc Ly ở ngoài mười lăm dặm, dặn cách mình xa thêm chút nữa, không cần theo quá gần. Nếu kỵ binh Khiết Đan đến đây, gã sẽ đốt khói báo động, trên thảo nguyên trống trải, ngoài năm mươi dặm cũng có thể thấy được khói báo động bốc lên. Gã mệnh lệnh Mộc Ly dãn khoảng cách giữa hai đội ngũ ra đến ba mươi dặm, tuy rằng có hơi xa, nhưng với tốc độ của kỵ binh thì ba mươi dặm chỉ cần một canh giờ là đuổi tới rồi.
Đối phương chỉ có không tới hai nghìn kỵ binh, chẳng sợ bọn chúng đều là những trọng giáp kỵ binh được trang bị hoàn mỹ, Cảnh Trung Tâm không tin đội ngũ của mình duy trì không được một canh giờ. Vả lại chính mình đến có chuẩn bị, một khi phát hiện kỵ binh trọng giáp Khiết Đan, gã sẽ lập tức mệnh lệnh đội ngũ tản ra bốn phía trốn thoát, lấy tốc độ của khinh kỵ binh, hơn nữa chia làm mấy đội, kỵ binh trọng giáp bất kể thế nào cũng sẽ đuổi không kịp. Trận đánh này mình chủ yếu là làm mồi chứ không có ý định cứng rắn chống đỡ, chỉ cần dụ được bọn người Khiết Đan tới thì mọi sự thuận lợi cả.
Gã thầm nghĩ dụ cho trọng giáp Khiết Đan hiện thân mà thôi, chỉ cần đối phương xuất hiện trong tầm mắt, Mộc Ly ở ngoài ba mươi dặm sẽ xua quân đuổi tới rồi. Còn năm nghìn kỵ binh chia làm hai đội nhân mã của Địch Cảm cũng giữ khoảng cách ước chừng ba mươi dặm với đội ngũ của mình. Nói cách khác, một khi kỵ binh trọng giáp Khiết Đan vừa lộ diện, trong vòng một canh giờ ba chi đội ngũ sẽ hình thành vòng vây chặt chẽ bao lấy đám người Khiết Đan.
Song, sức chiến đấu của hai nghìn trọng giáp vẫn không thể xem thường. Nếu người Khiết Đan nhắm chuẩn một phương hướng làm mục tiêu xung kích phá vây, bất kể là kỵ binh dưới trướng mình hay là nhân mã của Địch Cảm chưa chắc ngăn cản nổi. Thế nhưng không quan hệ, kế hoạch tác chiến lần này của Cảnh Trung Tâm không phải là lấy cứng đối cứng, chiến thuật của gã là làm tiêu hao. Đúng vậy, là hao tổn sạch thể lực và tinh thần của người Khiết Đan, chứ không phải liều chết cùng bọn chúng.
Chỉ cần người Khiết Đan xuất hiện, kỵ binh Tây Hạ sẽ theo sát như bóng với hình, ngươi muốn phá vây thì cho ngươi phá, nhưng ngươi đừng mơ có thể cắt đuôi chúng ta. Bị mười ngàn kỵ binh chúng ta ngày đêm như hổ vờn mồi, kỵ binh trọng giáp tiêu hao thể lực nhiều và nhanh hơn khinh kỵ binh, sớm muộn gì cũng sẽ đến thời điểm mệt chết đi không nổi nữa, chờ cho nhuệ khí của kỵ binh tiêu hao sạch sẽ rồi, thể lực không chống đỡ nổi nữa, đây mới chính là lúc kỵ binh Tây Hạ lộ ra loan đao.
Kế hoạch tỉ mỉ, lòng tin thập toàn.
Tuy nhiên khiến Cảnh Trung Tâm có chút thất vọng chính là, biểu hiện của gã rõ ràng đã đủ ngu ngốc rồi, nhưng cái tên tướng lĩnh Khiết Đan vốn dĩ nên lập tức lao tới thì lá gan bỗng nhiên teo nhỏ lại. Liên tiếp ba ngày, mỗi ngày thám báo đều phát hiện có người lai lịch không rõ giám thị đội ngũ, nhưng vẫn một mực không thấy người Khiết Đan động thủ. Khi đến ngày thứ tư, Cảnh Trung Tâm thậm chí hoài nghi phán đoán của mình có phải có chỗ sai lầm hay không, hoặc là tên tướng quân Khiết Đan kia căn bản là một kẻ không có lá gan!
Tuy nhiên, sau khi Cảnh Trung Tâm rống to phát tiết một trận thì bình tĩnh lại, nhất định là có chỗ nào không đúng, cho nên lũ Khiết Đan kia mới không mắc mưu. Xem ra chi kỵ binh Khiết Đan cách mình cũng không xa, nếu không sẽ không mỗi ngày đều phái thám báo tới trinh sát.
Nghĩ tới nghĩ lui, chỉ có thể xác định con mồi mình đây có vẻ chưa đủ béo bở, hay hoặc giả là thám báo Khiết Đan phát hiện ra ở ngoài ba mươi dặm có ba chi kỵ binh đuổi theo, cho nên dù muốn nuốt chửng đội ngũ của mình vào bụng, nhưng lại sợ bị rơi vào vòng vây.
Là hắn đối với sức chiến đấu của kỵ binh trọng giáp dưới trướng không đủ lòng tin sao?
Cảnh Trung Tâm cẩn thận suy tư một hồi rồi cho ra kết luận, không phải! Không phải là tên tướng quân Khiết Đan không tin tưởng trọng giáp dưới trướng hắn, mà là hắn đang cân nhắc được mất! Nên biết, để trang bị và huấn luyện ra một chi kỵ binh trọng giáp cần phải hao tổn bao nhiêu nhân lực vật lực và sức chịu đựng, ở trong mắt gã tướng quân Khiết Đan đó, mỗi một kỵ binh dưới trướng hắn đều là bảo bối, tuyệt đối sẽ không dễ dàng lãng phí dù chỉ một người. Hắn cũng không phải không muốn nuốt mình, mà là đang chờ đợi thời cơ tốt hơn nữa!
Cảnh Trung Tâm cười lạnh, ngươi đã muốn thời cơ tốt hơn, vậy ta đây liền sáng tạo cho ngươi!
Lập tức, Cảnh Trung Tâm ra lệnh. Đội ngũ kỵ binh dưới trướng gã bắt đầu lệch khỏi tuyến đường dự định, cách càng xa ba nghìn năm trăm kỵ binh của Mộc Ly. Không chỉ vậy, sau đó gã lệnh cho bảy trăm du kỵ kéo khoảng cách với trung quân ra đến ba dặm. Đã chuẩn bị một bữa ngon lành như này, gã không tin tên tướng quân Khiết Đan kia còn có thể nhịn!
Tiên sư bà ngoại nó chứ, liều mạng!
Đây là thái độ của Cảnh Trung Tâm.
Tới ngày thứ năm, thám báo Khiết Đan lại đến cách trung quân của Cảnh Trung Tâm chừng một dặm xem xét. Bảy trăm du kỵ nhận được mệnh lệnh, thật sự tự mình xé ra một lỗ hổng lớn để thám báo Khiết Đan có cơ hội đến gần, hơn nữa đội ngũ du kỵ còn phải làm bộ như không hề phát hiện ra đối phương, tiếp tục nhàn nhã, tự tại tiến lên phía trước.
Trong lúc thám báo Khiết Đan quan sát đội ngũ Tây Hạ, Cảnh Trung Tâm ở trên lưng ngựa cũng đang quan sát thám báo Khiết Đan, tâm tình hai bên đều như nhau, giữa sự chờ mong là nỗi lo được mất.
Buổi sáng thám báo Khiết Đan rút đi, Cảnh Trung Tâm vốn tưởng rằng trò chơi mèo vờn chuột, chuột dụ mèo xuất động này cuối cùng cũng tới hồi kết. Ai ngờ đến lúc chiều thám báo Khiết Đan lại tới lần nữa, vả lại số người tới lần này càng nhiều hơn, chừng hơn mười kỵ. Nhận được tin tức Cảnh Trung Tâm tức thì hiểu ra đạo lý trong đó, nhất định là tên tướng quân Khiết Đan tự mình đến xem xét tình huống rồi! Gã cố nén kích động muốn phái binh tiến lên giết chết tướng quân Khiết Đan, mệnh lệnh bộ hạ tiếp tục giả câm vờ điếc. Gã biết kế dụ địch của mình thành công rồi, nếu tên tướng lĩnh Khiết Đan kia đã đích thân tới xem xét, nói lên kẻ kia đã quyết định muốn ăn chi đội ngũ của mình.
Mà trong lúc Cảnh Trung Tâm khó giấu vui mừng, đắc ý, thậm chí sợ hãi trong lòng, trên một sườn núi cao cách đội ngũ binh Tây Hạ ngoài một dặm, Triệu Nhị đang cùng hai mấy thân binh dưới trướng mình cười trộm như đang xem diễn.
- Tướng quân, gã tướng lĩnh Tây Hạ này diễn trò cũng quá giả rồi, cạm bẫy như vậy, dù là thằng ngốc cũng nhìn ra được, đúng là tự coi mình thành Gia Cát Lượng mà.
Một thân binh chỉ vào Cảnh Trung Tâm đang đi bên dưới tấm đại kỳ tướng quân cười nói.
Triệu Nhị cười mà rằng: - Gã này là không biết tự trọng, hơn nữa còn là loại không biết tự trọng tự coi mình là đúng. Trước đó Vương gia bảo ta mang theo các ngươi đi, ta còn gào khóc xin Vương gia cho thêm vài người, hai trăm người thôi cũng được rồi, nhưng Vương gia kiên quyết chỉ cho ta mang theo mười mấy tiểu tử các ngươi. Lúc đầu ta quả là sợ chút người này của chúng ta không dọa được tên kia, hiện tại xem ra Vương gia sớm đã nhìn thấu tâm tư kẻ nọ rồi. Không tin thì các ngươi nhìn xem, chốc lát nữa chúng ta rời khỏi, bảo đảm đến sáng mai khi binh Tây Hạ xuất phát đội ngũ lại càng rời rạc.
- Tướng quân ngài nỡ lòng nào không tin tưởng chúng thuộc hạ?
Một thân binh trêu đùa nói.
Triệu Nhị cười mắng: - Đó là ta tưởng phải giả dạng đại quân tiến đến, có mười mấy mống thì giả đại quân cái gì? May mắn là Vương gia bảo chúng ta giả trang thám báo, như vậy thì dễ dàng rồi. Được rồi, chúng ta diễn trò coi như ổn thỏa, nếu người ta đã có ý mở cửa mời chào khách, chúng ta sao có thể không từ mà biệt? Sáng mai mấy người các ngươi trở ra lượn lờ một vòng, ăn cơm trưa xong chúng ta về hội hợp cùng Vương gia, nói không chừng bên phía Vương gia đã xong việc rồi.
Một thân binh có chút thất vọng nói: - Nuốt con cá lớn kia chúng ta không có phần, ngẫm lại thật đáng tiếc.
Triệu Nhị nói: - Đi thôi, trưa mai về đến, không kịp ăn thịt, nói không chừng còn được chia cho một ngụm canh.
Mà lúc này, Cảnh Trung Tâm nhìn thấy đám thám báo Khiết Đan ở nơi xa kia đang chỉ trỏ về hướng mình, gã nghiêm túc mệnh lệnh thân binh: - Đừng xem, cứ làm như không phát hiện ra gì, tiếp tục tiến lên tiếp tục tiến lên, đi chậm chút!
Gian nan trôi qua một đêm, đội ngũ xuất phát không lâu sau Cảnh Trung Tâm quả nhiên nhìn thấy đám thám báo Khiết Đan. Gã cười lạnh trong lòng, đúng là một lũ nhát gan, xem ra phán đoán trước đó của mình rằng tên tướng quân Khiết Đan là một kẻ dồi dào tinh thần mạo hiểm quả là sai quá sai.
Khi đội ngũ đi được hơn mười dặm, Cảnh Trung Tâm chợt phát hiện ra vấn đề, thám báo bên bộ phận của Mộc Ly vốn nên mỗi ngày đến thông báo tin tức hôm nay cho tới giờ vẫn không thấy bóng dáng đâu, lại nhớ tới đêm quá phía tây nam dường như có ánh lửa nổi lên, trong lòng Cảnh Trung Tâm trầm xuống nặng nề, mồ hôi lạnh không ngừng túa ra.
Chúng ta về nhà
Bị suy đoán của mình dọa một phen toát hết mồ hôi, Cảnh Trung Tâm lập tức hạ lệnh cho du kỵ ở ngoài ba dặm thu quân về, sau đó phái thân binh truyền tin cho Địch Cảm, bảo Địch Cảm lập tức dẫn binh đến đây chi viện. Sau khi sắp xếp tất cả xong xuôi, Cảnh Trung Tâm lập tức dẫn quân xông về phía Mộc Ly.
Một nghìn năm trăm khinh kỵ binh toàn lực lao nhanh về trước với tốc độ nhanh như gió. Bất luận là người Đảng Hạng hay người Khiết Đan đều là bộ tộc lớn lên trên lưng ngựa. Những người con trai khi mới biết chạy đã được phụ thân ẵm lên lưng ngựa, bảy tám tuổi đã có thể phóng ngựa chạy rồi. Trên thảo nguyên của Mông Cổ ở thời đại này vật nuôi cây cỏ tốt tươi, du mục căn bản không cần lựa chọn nơi nào để chăn thả, chỉ cần theo nguồn nước mà đi, nơi nào cũng đều là đồng cỏ tốt. Những người con trai tầm mười tuổi là có thể một mình đi chăn thả, cho cậu ta một cây cung, không cần đến hai năm là có thể bắn trúng con thỏ đang chạy.
Con trai tầm mười lăm mười sáu tuổi đã trưởng thành khôi ngô cường tráng. Nói một cách tương đối thì con trai Trung Nguyên tầm tuổi này, điều kiện gia đình tốt thì vẫn còn đang đi học ở giảng đường, điều kiện bình thường có lẽ đang lao động ở đồng ruộng, nhưng có rất nhiều chàng trai ở thảo nguyên cùng độ tuổi này thì đã từng giết người. Cứ coi như Đại Hạ gần như thống nhất thảo nguyên Mông Cổ nhưng đấu tranh giữa bộ lạc cũng không yên bình như thế.
Kỵ binh Đảng Hạng, cho đến giờ chính là ác mộng của quân đội Trung Nguyên. Lần này đến thảo nguyên săn bắn, nếu không phải là Lưu Lăng dẫn theo kỵ binh ‘biến thái’ kia thì chỉ e thợ săn và con mồi đã sớm đổi vị trí cho nhau rồi.
Bởi vì lúc trước cố ý cách xa đội quân Mộc Ly, khoảng cách giữa hai bên từ ba mươi dặm đã biến thành ít nhất bốn mươi mấy dặm đường rồi. Nếu kỵ binh phát lực chạy như điên, trên cơ sở giữ đội hình thì nhanh nhất cũng mất một canh giờ. Nếu như một mình cưỡi ngựa tốc độ sẽ mau hơn rất nhiều nhưng lúc này rõ ràng là sau khi phái thám báo đi tìm hiểu tin tức lại đuổi ngay qua là không thực tế lắm.
Tâm trạng của Cảnh Trung Tâm nặng trĩu. Y luôn cho rằng mình đã bày ra cục diện thiết thực và lý tưởng, chỉ đợi đối phương chui đầu vào chịu chết. Phán đoán y đưa ra trước đấy là chính xác, tướng quân Khiết Đan kia là người có tinh thần mạo hiểm rất cao, hơn nữa còn điên cuồng hơn y tưởng tượng nhiều. Có lẽ từ khi mình chia binh ra thì đối phương không có ý đánh phá mình nữa mà đem ‘răng nanh’nhắm chuẩn vào ba nghìn năm trăm kỵ binh dưới trướng Mộc Ly kia.
Vừa nghĩ đến những điều này thì Cảnh Trung Tâm đã hận. Hận tên tướng quân Khiết Đan kia giảo hoạt, hận mình ngu ngốc, nếu mình đã đoán ra, một khi chia binh thì người Khiết Đan sẽ tìm cách tụ hợp thôn tính mất một đội quân thì tại sao không nghĩ đến việc đối phương có khả năng sẽ gây phiền phức cho Mộc Ly? Tại sao mình lại chắc chắn người Khiết Đan nhất định sẽ gây phiền phức cho mình như vậy? Hiện giờ điều mà Cảnh Trung Tâm mong đợi nhất chính là Mộc Ly có chuẩn bị, dù sao dưới trướng hắn cũng có ba nghìn năm trăm chiến sĩ từng trải trăm trận, chỉ cần có thể phòng ngự hiệu quả thì hai nghìn trọng giáp người Khiết Đan kia không nhất định có thể nuốt mất đội quân của Mộc Ly.
Tất nhiên, đây cũng chỉ là hoang tưởng của Cảnh Trung Tâm mà thôi, thậm chí y còn không tin người Khiết Đan sẽ thất bại, dù sao kế hoạch ban đầu là đội quân này của mình làm mồi hấp dẫn người Khiết Đan, Mộc Ly cho dù có cẩn thận thế nào đi chăng nữa cũng sẽ không nghĩ rằng thả một đội một nghìn năm trăm người lại còn chia binh thì không đánh, mà người Khiết Đan lại có chủ ý nhằm vào đội kỵ binh ba nghìn năm trăm người dưới trướng hắn.
Vừa nghĩ tới thừa dịp đêm đen, trọng giáp Khiết Đan mặc áo đen với những bước chân giẫm mạnh trong màn đêm giống như nước lũ tràn vào trong doanh trại Mộc Ly, quân binh Tây Hạ hốt hoảng căn bản không kịp tổ chức chống cự sẽ bị người Khiết Đan chém tan nát. Kết cục của ba nghìn năm trăm kỵ binh không kịp lên ngựa và bốn nghìn bộ binh trong đại doanh Thiên Đức có gì khác nhau? Cảnh Trung Tâm cảm thấy trong lòng mình như đang rỉ máu, lòng đau vô cùng.
Y thúc ngựa như phát điên, đội quân vì đi quá nhanh mà kéo thành một đường thẳng tắp, sức chân của chiến mã quyết định tốc độ. Một đội quân có một nghìn năm trăm người kéo dài năm dặm, phía trước, phía sau đã tách rời nhưng hiện giờ Cảnh Trung Tâm không có thời gian dừng lại chỉnh đốn đội ngũ. Y sợ mình đi muộn sẽ không nhìn thấy nụ cười trên mặt của người huynh đệ Mộc Ly nữa.
Biết bằng hữu của mình có khả năng sẽ gặp nguy hiểm, các kỵ binh của Tây Hạ đều cắn răng đuổi theo, bọn họ không ai nói chuyện với nhau, trong mắt mỗi người đều chứa đầy nỗi lo lắng. Trong đội quân của Mộc Ly, có huynh đệ kết nghĩa của họ, có những người đã từng uống qua huyết tửu, có người từ nhỏ lớn lên bên nhau. Nhưng hiện giờ, có lẽ những huynh đệ kết nghĩa này của họ đã nhận được lệnh ‘triệu tập’ của thượng đế, rời khỏi thảo nguyên để đến một thế giới khác rồi.
Bọn họ không thể đợi, có lẽ đi sớm hơn một bước thì có thể cứu được về thêm mấy người huynh đệ trong tay đám người Khiết Đan đáng chết kia. Có lẽ đi muộn một bước thì sẽ không nhìn thấy một người bạn nào còn sống sót nữa.
Hiện giờ Cảnh Trung Tâm chỉ có thể gửi hi vọng vào năng lực chỉ huy của Mộc Ly thôi. Một đội quân hoàn toàn không có phòng ngự bị quân địch đánh bất ngờ trong đêm khuya, cứ coi như dưới trướng Mộc Ly có một vạn người, hai vạn người, cho dù là ba vạn năm nghìn người thì chỉ e cục diện thất bại cũng đã được xác định trước rồi, quan trọng là có thể giữ lại được bao nhiêu người mà thôi. Điều này còn phải xem Mộc Ly có được tố chất gặp nguy không nao núng không? Chỉ có điều Cảnh Trung Tâm không hề nghĩ, cũng có thể nói y không muốn nghĩ. Cho dù Mộc Ly không loạn, vẫn trấn tĩnh nhưng những kỵ binh dưới trướng của hắn lúc loạn thì có thể làm gì?
Cảnh Trung Tâm hận không thể dứt mạnh miệng của mình ra. Nếu không phải là y tự cho rằng mình đúng, kiên quyết chia binh ra thì cũng sẽ không xuất hiện cục diện khiến người ta ảo não như bây giờ. Khiết Đan bị dụ ra nhưng lại xuất hiện ở nơi không nên xuất hiện.
Tính về khoảng cách thì đội quân đã chạy được một nửa lớn quãng đường rồi, từ phía xa đã có thể nhìn thấy màn khói dâng lên ở phía trước rồi. Trên thảo nguyên nhìn xa xăm, màn khói đó dường như đang ở ngay trước mặt, nhìn thấy nó mà long Cảnh Trung Tâm càng não nề, căng thẳng hơn.
- Nhanh! Nhanh lên một chút!
Y quát lớn, kỵ binh phía sau cắn răng liều mạng dùng roi quất ngựa quất chiến mã. Bình thường đám kỵ binh coi chiến mã như một nửa sinh mạng mình nhưng lúc này thì không ai xót thương nó nữa.
Nơi cỏ tươi tốt nhất cao hơn nửa người, trong thời tiết khô hanh như này chỉ cần một mồi lửa là có thể đốt ra mấy trăm dặm. Sự coi trọng của những người du mục đối với thảo nguyên khiến họ đều có ý thức cẩn thận với hỏa hoạn. Bình thường những lúc châm lửa, những lúc rời đi, họ đều dập tắt lửa, sau đó dùng đất lấp xuống, điều họ sợ chính là sẽ dẫn đến những vụ cháy diện tích rộng. Mặc dù hiện giờ là mùa đông, mặc dù khi nổi lửa sang đầu xuân năm sau, cỏ cây mầm non vẫn ngoi lên từ mặt đất nhưng những người dân du mục vẫn luôn nuôi nấng nỗi thù hận với những người đốt cháy đồng cỏ.
Mà cảnh tượng trước mắt, những người Khiết Đan đáng chết kia lẽ nào đã quên mình cũng là con dân thượng đế sao? Sao bọn chúng lại phóng hỏa? Chúng đã phạm tội không thể tha thứ được!
Thoạt nhìn cũng cách hai, ba dặm nữa, doanh trại bị đốt đã nhìn thấy rất rõ, binh Tây Hạ nóng lòng rút loan đao ra, nắm rất chặt.
Chiến mã bước qua, bụi đất tung bay.
Đột nhiên, từ vị trí trung tâm của đội quân, cỏ cây hai bên đột nhiên có hàng trăm trọng giáp bộ binh mặc giáp đen xông ra giết. Không sai! Đó chính là trọng giáp bộ binh, mà không phải là trọng giáp kỵ binh mà kỵ binh Tây Hạ vẫn luôn truy tìm. Hàng trăm Phá giáp chùy bắn lại, lập tức có hai đến ba trăm kỵ binh Tây Hạ bị bắn ngã ngựa. Khoảng cách quá gần, võ sĩ giáp đen nấp thân trong bụi cỏ cách đội kỵ binh chẳng qua cũng tầm hai đến ba mươi bước chân. Khoảng cách này khiến Phá giáp chùy có thể dễ dàng xuyên thấu thân thể của kỵ binh.
Gần như là trong khoảnh khắc, đội kỵ binh kéo thành một đường thẳng tắp bị đứt đoạn thành lỗ hổng. Trong trăm mét tất cả kỵ sĩ đều ngã ngựa, còn kỵ binh ở phía trước trong lúc nghe thấy tiếng kêu ầm ĩ đã xông ra phía xa, kỵ binh ở phía sau không kịp ghìm chặt chiến mã, bản thân họ xông lên giống như đang đi nộp mạng vậy.
Sau một trận mũi tên bắn tới, lại một lần nữa bắn hàng trăm kỵ binh ngã xuống. Sau khi dọn sạch lỗ hổng tầm ba trăm mét, những trọng giáp bộ binh mặc giáp đen vứt bỏ cung tên, thay trường giáo (trường sóc) trong tay, kết thành trận pháp chặn kỵ binh ở phía sau. Trường giáo giơ lên như rừng, chắc chắn như lô cốt.
Cảnh Trung Tâm trước tiên ghìm chặt chiến mã, y với đôi mắt đỏ hoe lập tức rút loan đao ra, nổi giận hét lên một tiếng, dẫn theo hơn năm trăm kỵ binh xông lại giết lượn lại một vòng. Vừa mới quay đầu ngựa lại, từ hướng của Mộc Ly đột nhiên có trên nghìn khinh kỵ giết lại.
Đuổi ở phía sau Cảnh Trung Tâm chính là một trận mũi tên. Binh Tây Hạ giao phía sau lại cho kẻ địch bị bắn thành một mảnh. Trong lúc lại một lần nữa ghìm chặt chiến mã đối mặt với truy binh ở sau lưng, mưa mũi tên vòng hai, vòng ba của kẻ địch lại ập tới. Hơn năm trăm người dưới trướng của Cảnh Trung Tâm bị ba vòng mưa mũi tên bắn chết hơn nửa. Ngay lập tức, chín trăm khinh kỵ binh cầm trường giáo tiến đánh đội quân giống như nước thủy triều.
Tàn sát! Tàn sát trắng trợn!
Sát khí trên người đám kỵ binh Khiết Đan này quá lớn, mỗi người đều giống như những con dã thú thích ăn uống máu sống mang theo những luồng sát khí ngập trời. Mà chiến mã bên dưới bọn họ cũng khiến người khác sợ ghê rợn. Con vật cưỡi mà binh Tây Hạ ngồi trên, sau khi nhìn thấy chiến mã của người Khiết Đan thì cũng lui về phía sau, thậm chí có chiến mã run rẩy tứ chi, rồi bị dọa đến mức đến chạy cũng không dám.
Chiến mã bị kinh hãi, binh Tây Hạ vội vàng khống chế vật cưỡi, còn phải ứng phó với sự tấn công của kẻ địch. Sức chiến đấu bình thường của bọn họ đến hai thành cũng không thể phát huy được. Những chiến mã không nghe chỉ huy khiến cho những kỵ binh này bị bó chân bó tay. Bọn họ không biết là tại sao mà con vật cưỡi của mình khi nhìn thấy chiến mã của Khiết Đan thì bị dọa đến mức quay đầu bỏ chạy!
Chín trăm khinh kỵ binh sau khi giải quyết xong năm trăm kỵ binh dưới trướng Cảnh Trung Tâm thì mới có tổn thất hơn hai mươi người. Dưới sự chỉ huy của Lưu Lăng, chín trăm kỵ binh hình thành một vòng cong tuyệt đẹp, vượt qua như trăng lưỡi liềm, tha cho đám chiến mã, trọng kỵ binh tạm thời đảm nhận phương trận thay trọng giáp bộ binh, quanh co rồi mới quay về cánh quân của binh Tây Hạ.
Bởi vì khoảng cách trước sau quá lớn, phương trận binh Tây Hạ nối sau chưa nhìn thấy trọng kỵ binh hình thành, người của Cảnh Trung Tâm ở phía trước đã bị giết sạch sẽ. Kỵ binh ở phía trước với mưu đồ xông vào phương trận do hơn năm trăm trọng giáp kỵ binh hình thành nhưng phương trận giống như con nhím căn bản không phải dễ dàng cho đám mấy chục chiến mã của họ xông vào được. Loan đao của họ không với được tới kẻ địch nhưng mã giáo dài trong tay địch lại dễ dàng đâm vào tim họ.
Trận chiến kết thúc trong vòng nửa canh giờ, một nghìn năm trăm kỵ binh Tây Hạ đến chi viện bị Lưu Lăng tiêu diệt gần như hoàn toàn, chỉ có tầm ba trăm người thoát được. Kỵ binh Tây Hạ không có cách nào để chiến mã của mình xông về phía địch, cũng không thể vượt qua phương trận được hình thành từ những rừng thép kia.
Sau khi trận đấu nhanh chóng chấm dứt thì Lưu Lăng lập tức suất quân rời đi, tổn thất mấy chục người mà đổi lại tiêu diệt được gần như toàn bộ quân địch. Đây quả là một thắng lợi huy hoàng.
Thật ra đội quân của Mộc Ly không bị tiêu diệt hết, mặc dù trong trận tập kích ban đêm, đội quân của hắn ta bị kỵ binh của Lưu Lăng đánh tơi bời nhưng dựa vào mưu lược và dũng khí, Mộc Ly tổ chức lại một nghìn ba trăm kỵ binh rút lui khỏi. Chỉ có điều binh Tây Hạ bị đánh nên sợ, không dám quay về trận đấu, dưới sự thống lĩnh của Mộc Ly, chạy tán loạn về một hướng.
Bọn họ chạy, Cảnh Trung Tâm đã đến.
Lưu Lăng đánh cho đối phương trở tay không kịp, một đòn tiêu diệt đội kỵ binh vốn đã mệt mỏi rồi còn chân tay luống cuống của Cảnh Trung Tâm. Trận đánh này tổn thất rất nhỏ nhưng lại giết được binh Tây Hạ ít nhất hơn ba nghìn người, chiến tích huy hoàng.
Đem theo lương thực thu thập được trong tối hôm qua, sau khi Lưu Lăng tập kết đội ngũ lại, hắn ngồi trên lưng ngựa, nhìn đội quân còn lại hơn một nghìn ba trăm người thì giơ tay chỉ về hướng đông!
- Chúng ta về nhà!
Lão hồ ly
Lúc đội quân xuất phát từ Thái Nguyên Phủ, tính cả thân binh của ba người Lưu Lăng, Hoa Tam Lang và Triệu Nhị trong đó, tổng cộng có chưa đến một nghìn sáu trăm người. Khi quay về, không tính thân binh của ba người đó thì đội quân vẫn còn lại một nghìn ba trăm bốn mươi sáu người.
Chưa đầy hai tháng, đội quân vẫn chưa đón tết đã xuất quân tiến vào thảo nguyên luyện binh, dự định khi quay về đã là tháng giêng rồi. Doanh Tu La vòng qua phía sau ‘mông’ của kỵ binh của Địch Cảm, lại đi một lần theo đường trước đó. Khi Địch Cảm dẫn nhân mã hội hợp với tàn binh của Mộc Ly, lập lời thề phải đánh tàn đội kỵ binh của Khiết Đan, thì doanh Tu La của Lưu Lăng đã đến nơi mà quân Thiên Đức bị thiêu rụi cách đó không xa.
Trong vòng trăm dặm đi đến hướng Đông Nam là có thể quay về lãnh thổ của Đại Hán. Hiện giờ kỵ binh Tây Hạ vẫn đang đi vòng trên thảo nguyên ngoài mấy trăm dặm, ở gần cũng không có kỵ binh của Tây Hạ đóng giữ, chỉ cần tận dụng đêm tối vượt qua tuần tra của quân biên phòng Tây Hạ thì sẽ không còn nguy hiểm gì nữa.
Lưu Lăng hạ lệnh cho đội quân nghỉ ngơi tại chỗ. Mặc dù chỗ đóng quân của quân Thiên Đức bị lửa thiêu cháy sạch sẽ nhưng cũng may là ở đây địa thế khá cao, nếu như có binh Tây Hạ đến gần thì có thể dễ dàng phát hiện. Sắp xếp xong xuôi thám báo du kỵ, Lưu Lăng dẫn mấy tướng lĩnh chính trải chiếu ngồi bàn chuyện có liên quan đến bổ sung đội ngũ và tiến hành tập luyện bước tiếp theo như nào?
Các thân binh nhóm lửa thổi cơm xong thì dâng lên đám người Lưu Lăng. Mấy người vừa ăn vừa tổng kết lại những gì được mất trong lần luyện binh lần này.
Bất giác đã qua nửa ngày, sắc trời cũng hoàn toàn tối sầm lại. Lưu Lăng khoát tay ra hiệu cho mọi người đi nghỉ ngơi, sáng sớm ngày mai sẽ xuất phát, qua ngày mai trước khi mặt trời xuống núi là có thể quay về lãnh thổ Hán quốc rồi. Đoán chừng không có chiến sự, mấy người có thể thả lỏng người rồi. Trong hai tháng này, lớn nhỏ cũng đánh không dưới ba đến năm chục trận, các binh sĩ quả thực là có chút mệt mỏi.
Lưu Lăng thấy sắc trời đã tối lại, vì vậy bảo mọi người tản ra đi nghỉ ngơi. Hiện giờ mọi người đều cần ngủ một giấc, sáng sớm mai phải lên đường sớm. Qua ngày mai, đi một canh giờ nữa là có thể vào lãnh thổ Đại Hán rồi.
Vừa xoay người lại thì đột nhiên phía sau vọng lại tiếng hô lớn: - Báo!
Lưu Lăng xoay người nhìn, dưới sắc trời vẫn chưa hoàn toàn tối sầm lại thì một thám báo phi ngựa chạy tới. Người đó cách Lưu Lăng mười mấy mét cũng chưa dừng hẳn chiến mã lại mà nhảy xuống luôn, động tác vô cùng linh hoạt. Y chạy đến trước người Lưu Lăng, sau khi thi lễ quân đội xong thì nói: - Bẩm Vương gia! Bên ngoài phía đông nam ba mươi dặm phát hiện có đại đội kỵ binh.
Thần sắc Lưu Lăng đột nhiên biến đổi, hắn nhau mày hỏi: - Là kỵ binh Tây Hạ sao?
- Nhìn kỳ hiệu thì không phải là kỵ binh Tây Hạ mà là Lang kỵ Khiết Đan!
Thám báo khẳng định, nói.
Triệu Nhị bước lại một bước nắm tay thám báo kia, hỏi lớn: - Ngươi có nhìn rõ không? Thật sự là Lang kỵ Khiết Đan không? Có bao nhiêu nhân mã?
Thám báo bị Triệu Nhị nắm đến phát đau nhưng vẫn khẳng định nói: - Khi phát hiện ra bọn họ thì trời vẫn còn sáng, chính xác là Lang kỵ Khiết Đan rồi. Thuộc hạ nhận ra đầu sói trên đại kỳ của họ mà. Thoạt nhìn thì đội quân có ít nhất ba bốn vạn người, thuộc hạ nhìn thấy ít nhất ba mặt doanh kỳ.
Lưu Lăng hỏi: - Người Khiết Đan có phát hiện ra các ngươi không?
- Không ạ! Chúng thuộc hạ không dám đến gần, thám báo ở bên cánh quân của người Khiết Đan không nhiều, vừa nhìn thấy họ là chúng thuộc hạ đã quay về rồi. Chúng thuộc hạ ở trên cao, nghe thấy âm thanh hành quân, không cưỡi ngựa mà bò qua đó để quan sát.
Lưu Lăng gật đầu, nói: - Ngươi làm tốt lắm, trước tiên hãy quay về tiếp tục theo dõi, có tình hình gì thì phải lập tức quay về báo cho ta biết!
Thám báo đó đáp lại một tiếng rồi lại một lần nữa thi lễ quân đội xoay người rời đi.
- Xem ra tối nay sẽ không ngủ ngon giấc được rồi! Nói cho các binh sĩ tập hợp, nhổ doanh trại lên, dập tắt lửa, kéo tất cả nhân mã đến ngọn núi thấp.
Lưu Lăng hạ lệnh!
Hoa Tam Lang kinh ngạc, hỏi: - Vương gia muốn đánh sao?
Lưu Lăng lắc đầu nói: - Đánh không được! Đối phương có mấy vạn kỵ binh, hơn nữa Lang kỵ Khiết Đan đều là khinh kỵ binh đến đi như mây, tốc độ của chúng ta không được bằng đối phương. Nếu như thật sự phải đánh, ngay từ đầu xuất kỳ bất ý có lẽ có thể chiếm được chút ưu thế, nhưng một khi bị Lang kỵ Khiết Đan cắn phải thì muốn thoát thân cũng khó. Doanh Tu La vất vả mới dựng lên được, không cần thiết phải liều chết ở đây.
Hắn chỉ về phía núi thấp kia, nói: - Trước hết cứ tập hợp ở trên đỉnh núi, nếu như Lang kỵ Khiết Đan hướng về phía chúng ta thì lập tức tản ra, chúng ta sẽ đi đường vòng lại. Xem ra người Khiết Đan muốn triệt đường lui của Trần Thâu Nhàn rồi. Thật không ngờ Da Luật Hùng Cơ hành động nhanh như vậy, vờ đi về Thượng Kinh với ý đồ dẫn nhân mã đi đường vòng đến Đại Đồng, sau đó sẽ từ Đại Đồng về phía lãnh thổ của Đại Hạ.
Triệu Nhị ngây người ra một chút rồi hỏi: - Vương gia muốn nói, đám kỵ binh của người Khiết Đan này là Liêu quốc Hoàng đế Da Luật Hùng Cơ đích thân dẫn binh sao? Hắn đúng là quả quyết.
Lưu Lăng nói: - Phân tích tin tức chúng ta nhận được trước đó tập hợp lại thì chắc chắn người lãnh binh đến đây chính là Da Luật Hùng Cơ rồi. Theo như ta biết thì đó là một người không bao giờ chịu thua, nếu như chịu thiệt rồi, nếu như không nghĩ các cách để thắng lại thì hắn sẽ cả đêm không ngủ được. Trận đấu trước nghe nói hắn bất đắc dĩ phải lui binh, ta nghĩ, với tính cách của Da Luật Hùng Cơ thì hắn lại có thể dễ dàng lui binh như vậy sao? Ngay lập tức dẫn mười vạn nhân mã đi, chỉ để lại mười vạn binh mà Da Luật Chân dẫn theo để ứng phó với Trần Thâu Nhàn, làm sao hắn có thể mê muội như vậy được? Xem ra Đại Đồng chúng ta dâng đến đúng lúc rồi, nói không chừng từ khi tín sứ của Bệ hạ gặp mặt Da Luật Hùng Cơ thì Da Luật Hùng Cơ đã nghĩ đến bước này rồi.
Hoa Tam Lang nói: - Tây Hạ có hai vạn nhân mã đi men theo cảnh nội Đại Liêu đốt giết, cướp bóc, trận trước mới bị Da Luật Đức Quang đánh bại quay về, xem ra tên Da Luật Hùng Cơ này đúng là có oán tất báo, gậy ông đập lưng ông đây. Lần này hắn đích thân dẫn binh ra trận, một là muốn triệt đường lui của Trần Thâu Nhàn, tốt nhất là có thể tiền hậu giáp kích tiêu diệt đội quân chủ lực của Tây Hạ. Hai là mặc dù không thể đánh bại được Trần Thâu Nhàn nhưng hắn vẫn phải gây sức ép trong lãnh thổ Tây Hạ. Dù thế nào có Đại Đồng có thể lui, hắn cũng không phải lo lắng đường lui làm gì.
Đối với cái tên Trần Thâu Nhàn này, Lưu Lăng đã nghe nói về người này từ phía Chu Diên Công rồi. Theo như Chu Diên Công biết, người này là lão tướng đã tầm sáu mươi tuổi rồi, tuyệt đối không phải là người cường tráng khỏe mạnh như Lưu Lăng miêu tả. Ngược lại, Hoàng đế Đại Hán Ngôi Danh Nẵng Tiêu, từ hình thù hay đặc điểm gì thì đều giống với những gì Lưu Lăng miêu tả. Chu Diên Công phỏng đoán, huynh đệ kết nghĩa lúc trước với Lưu Lăng ở Ngọc Châu chắc chắn không phải lão tướng Trần Thâu Nhàn, nói không chừng chính là Ngôi Danh Nẵng Tiêu cải trang vi hành.
Sau khi nghe xong Chu Diên Công nói thì Lưu Lăng cũng cảm thấy khả năng này rất lớn. Lúc đó, Lưu Lăng vẫn than thở, không ngờ mình lại kết bái huynh đệ với Hoàng đế Đại Hạ, chuyện này đúng là có chút kịch tính. Nhưng Lưu Lăng biết ở thời đại này thật ra đối với việc kết bái mà nói không quan trọng lắm. Những ví dụ như, hôm nay kết bái, ngày mai lại trở mặt thành thù đều rất nhiều. Hơn nữa, đàn ông thời đại này đều anh dũng thượng võ, gặp phải người cùng chí hướng mà kết nghĩa làm huynh đệ giống như chuyện cơm bữa vậy.
Câu chuyện kết nghĩa vườn đào trong ‘Tam quốc diễn nghĩa’ dù sao cũng là ví dụ điển hình. Trong ‘Thủy Hử’ sau khi kết bái, đối xử chân thành với nhau thật khiến người ta kính phục. Nhưng trong lịch sử những người kết bái để lôi kéo quan hệ cũng có, thật lòng kết bái cũng có. Tiêu Phong và Da Luật Hồng Cơ trong ‘Thiên Long Bát Bộ’ cũng là huynh đệ kết nghĩa nhưng Tiêu Phong chết oan khuất hơn bất cứ ai. Mông Cổ Thiên Kiều Thành Cát Tư Hãn và Trát Mộc Hợp là huynh đệ kết nghĩa, vậy mà hắn giết Trát Mộc Hợp không chớp mắt. Ban đầu triều Đại Tùy với gia tộc A Sử Na cũng là huynh đệ, nhưng sau đó không phải là cũng đánh máu chảy thành sông hay sao?
Vì vậy Lưu Lăng thật sự không có cảm tình gì với vị nghĩa huynh dễ dàng kết bái này. Hắn cũng tin rằng chỉ cần mình dẫn binh chặt đứt gần một vạn binh Tây Hạ ở trước sau Tây Hạ, vậy thì vị nghĩa huynh này nếu như không giết hắn mới lạ.
Triệu Nhị nói: - Cái tên Trần Thâu Nhàn này có bình rượu lâu năm để uống rồi, vì chúng ta hắn nhất định tin chắc quấy rối ở phía sau hắn chẳng qua là một chi hơn nghìn kỵ binh. Đợi mấy vạn kỵ binh Da Luật Hùng Cơ thình lình theo sau lưng của hắn giết tới thì Trần Thâu Nhàn không thất bại mới lạ. Mười sáu vạn đại quân bị Lang kỵ Khiết Đan đánh tơi bời, có thể sống sót được bao nhiêu thì không thể biết được.
Sau khi y nói xong, mắt Lưu Lăng sáng ngời, dường như đang nghĩ gì đó.
Nhìn thấy vẻ mặt của Vương gia, Triệu Nhị và Hoa Tam Lang đều biết Vương gia có ý nghĩ kinh ngạc gì rồi. Hai người ngơ ngác nhìn nhau, chờ Vương gia nói ra những ý nghĩ long trời lở đất kia. Quả nhiên, chỉ đợi sau một lát thì Lưu Lăng vung tay lên nói: - Thông báo cho thám báo giám sát động tĩnh của kỵ binh Khiết Đan, chúng ta quay về sẽ tiếp tục gây phiền phức cho binh Tây Hạ.
- Không phải chứ Vương gia?
Triệu Nhị mở to hai mắt nhìn nói: - Chúng ta vừa mới về lại còn quay lại tiếp sao? Những binh Tây Hạ này đã bị chúng ta chọc tức, hơn nữa nhân mã của doanh Tu La cũng mệt mỏi, nếu thật sự lấy một nghìn bốn trăm người đối phó với sáu bảy nghìn quân Tây Hạ thì mất nhiều hơn được rồi.
Lưu Lăng cười nói:
- Ai nói với ngươi là ta muốn đấu với binh Tây Hạ?
- Đó là?
Triệu Nhị và Hoa Tam Lang đồng thời hỏi.
- Triệu Nhị! Ngươi dẫn tất cả trọng giáp kỵ binh đi đường vòng về nhà, không được chậm trễ, nhớ phải đợi sau nửa đêm mới tiến vào thành Thái Nguyên. Người của doanh Tu La tạm thời chưa ra ngoài ánh sáng được! Tam Lang! Ngươi đi theo ta, dẫn theo tất cả khinh kỵ đi dụ binh Tây Hạ đến.
Triệu Nhị và Hoa Tam Lang bỗng nhiên hiểu được ý đồ của Lưu Lăng. Triệu Nhị lập tức kêu lên: - Vương gia muốn để binh Tây Hạ và Da Luật Hùng Cơ đánh nhau sao? Nhưng như vậy thì Trần Thâu Nhàn chẳng phải sẽ biết phía sau có đại đội Lang kỵ Khiết Đan vòng qua sao?
Lưu Lăng cười nói: - Ta muốn để Trần Thâu Nhàn biết! Nếu như chúng ta đã không có cách nào thông báo cho hắn thì chỉ có thể để bọn họ tự phát hiện thôi! Nếu như Trần Thâu Nhàn không biết phía sau bị người điều tra đường lui, binh Tây Hạ nhất định sẽ thất bại. Không có mười sáu vạn cường binh, Tây Hạ muốn lui cục diện thì đúng là khó như lên trời.
Hoa Tam Lang nói: - Điều này chẳng phải là hợp với tâm ý của chúng ta sao? Tây Hạ tổn binh hao tướng, trong khoảng thời gian ngắn bất lực với ước mơ đoạt lãnh thổ của Đại Hán chúng ta? Chúng ta có thể nhân cơ hội luyện binh, tranh thủ thời gian có được thế lực để chống lại Tây Hạ, Đại Liêu.
Lưu Lăng lắc đầu cười nói: - Không thể để Tây Hạ bại nhanh như vậy được, thời gian đánh trận chiến này càng dài thì càng có lợi cho Đại Hán ta. Một khi Tây Hạ thất bại, Liêu quốc chiếm cứ hàng nghìn dặm phía bắc Tây Hạ thì Đại Hán chúng ta sẽ rơi vào bước ba mặt bị người Khiết Đan vây quanh. Hơn nữa, hiện giờ Đại Đồng đã trở thành Tây Kinh của người Khiết Đan, mười vạn nhân mã mà Da Luật Hùng Cơ mang đi ở lại Đại Đồng ít nhất một nửa. Giao dịch giữa chúng ta và Tây Hạ, người Khiết Đan không phải không biết, để sau khi người Khiết Đan đánh bại Tây Hạ thì Da Luật Hùng Cơ khó bảo toàn sẽ không ra tay với Đại Hán.
- Cuộc chiến này nhất định phải đánh tiếp, Tây Hạ vẫn không thể bại! Tốt nhất đánh ba đến năm năm khiến cho hai con ác sói đó đều thua thiệt mới tốt.
Triệu Nhị và Hoa Tam Lang bừng tỉnh, ánh mắt hai người nhìn Lưu Lăng càng nhìn càng khâm phục. Trong mắt họ, Lưu Lăng nhìn thế nào cũng giống một hồ ly tu luyện ngàn năm đã đắc đạo thành tinh rồi.
Phái binh cản phía sau
Triệu Nhị muốn cùng Lưu Lăng đi dụ binh Tây Hạ đến nhưng Lưu Lăng kiên quyết không đồng ý nên y đành chịu mang theo hơn năm trăm trọng giáp kỵ binh xuất phát suốt đêm. Họ theo hướng mà thám báo chỉ vòng qua mấy vạn đại quân bên Da Luật Hùng Cơ, đi hơn mười dặm đường quay về lãnh thổ Đại Hán. Hơn năm trăm trọng giáp kỵ binh này đều là bảo vật, mặc dù số lượng không nhiều nhưng sau này sẽ là thép tốt dùng trên lưỡi đao.
Lưu Lăng và Hoa Tam Lang dẫn theo chín trăm kỵ binh này quay về theo đường cũ, nửa đêm hành quân gấp gáp năm mươi dặm, tránh ra con đường đến phía bắc của Lang kỵ Khiết Đan rồi cắm trại. Đến sáng sớm, các đội thám báo quay về báo cáo tin tức. Đội quân Lang kỵ Khiết Đan kia có ít nhất ba bốn vạn người quả nhiên dừng lại gần nơi quân Thiên Đức đang đóng trú. Xem ra người Khiết Đan quen thuộc và hiểu tình hình của binh lực Tây Hạ còn hơn đám người Lưu Lăng rất nhiều. Tiêu diệt hơn bốn nghìn người mà quân Thiên Đức để lại, Lưu Lăng có thể nói là đánh liều mà được, còn đường hành quân của Lang kỵ Khiết Đan hiển nhiên là họ biết nơi này có binh Tây Hạ đóng trú.
Điều đáng tiếc là người Khiết Đan ‘mài đao soàn soạt’ vẫn phải thất vọng. Bọn họ nghĩ mãi mà không hiểu tại sao nơi mà quân Thiên Đức đóng trú lại bị lửa thiêu rụi. Đừng nói là người, ngay đến cọng lông cũng không phát hiện ra.
Người lãnh binh quả nhiên là Hoàng đế Đại Liêu Da Luật Hùng Cơ. Ông ta nghĩ mãi không ra nguyên cớ chuyện quân Thiên Đức bị tiêu diệt. Hoàng đế không phải là thần, ông ta không thể nghĩ người Hán lại có quyết đoán như vậy. Đội quân một nghìn năm trăm người lại dám làm mưa gió trên đại thảo nguyên Tây Hạ.
Tuy nhiên người này quả thật rất lợi hại, ở trong bóng đêm mà nhìn thấy phân ngựa khi Lưu Lăng dẫn quân rời đi vẫn chưa dọn sạch. Chi tiết nhỏ mà phần lớn mọi người đều bỏ sót nhưng Da Luật Hùng Cơ lại cực kỳ chú ý đến.
Ngồi xổm xuống, dưới ánh đuốc rọi sáng, Da Luật Hùng Cơ cẩn thận nhìn phân ngựa kia. Cuối cùng ông ta đưa ra kết luận…Ừm, mới tinh!
- Phái thám báo lục soát trong vòng ba mươi dặm!
Da Luật Hùng Cơ đứng lên ra lệnh, các tướng lĩnh dưới trướng đáp lại một tiếng, xoay người sắp xếp thám báo đi lục soát.
- Có một đội kỵ binh tầm nửa ngày trước vừa mới rời khỏi đây. Số người không quá nhiều, tầm một nghìn năm trăm đến hai nghìn người. Quân Thiên Đức bị người khác tiêu diệt trước, các ngươi nghĩ thế nào?
Có thể nhìn từ một bãi phân ngựa mà đoán ra được số người của đội kỵ binh, rất nhiều người đều tỏ ra sùng bái khâm phục với Bệ hạ. Nếu như Da Luật Hùng Cơ biết suy nghĩ lúc này của bọn họ thì nhất định sẽ rất nghiêm túc nói cho bọn họ “Các ngươi sai rồi! Trẫm không phải là đoán ra số lượng từ một bãi phân ngựa kia mà là nhìn rất nhiều bãi.” Nếu như nhìn phân ngựa đoán ra số lượng người, thật ra không có gì khó. Đối với các tướng quân trên thảo nguyên thời gian dài suất lĩnh kỵ binh tác chiến mà nói thì bọn họ đều có khả năng này.
Các tướng quân lãnh binh tất nhiên biết Bệ hạ làm thế nào để đoán được như thế, nhưng một số văn thần vẫn chưa hiểu lắm. Bọn họ cảm thấy chỉ cần điểm này, Da Luật Hùng Cơ quả xứng danh với danh hiệu đế vương. Một vị minh chủ trên thông thiên văn dưới tường địa lý, còn hiểu biết về phân ngựa. Quả nhiên là thần rồi!
Đại tướng Hàn Diên Thọ nói:
- Đội kỵ binh này mới rời khỏi nửa ngày, lẽ nào là nhân mã tiêu diệt quân Thiên Đức? Như thế mà nói trong lãnh thổ Tây Hạ, chúng ta vẫn còn ‘một đội bạn’ nữa?
Đại tướng Da Luật Diên Kỳ khinh bỉ nhìn thoáng qua Hàn Diên Thọ, nói: - Hàn tướng Quân chỉ nhìn thấy phân ngựa, lẽ nào không nhìn thấy doanh địa của quân Thiên Đức?
Hàn Diên Thọ hơi sửng sốt nói: - Đã bị thiêu thành tro tàn, còn có thể nhìn ra cái gì? Lẽ nào Da Luật tướng quân có thể nhìn ra ai đã phóng hỏa sao?
Da Luật Diên Kỳ nói: - Ta nhìn không ra là ai đã phóng hỏa nhưng ít nhất ta có thể nhìn ra đại doanh ít nhất bị người ta thiêu đốt vào một tháng trước. Còn phân ngựa là nửa ngày trước, không biết đám nhân mã tiêu diệt quân Thiên Đức sau khi đốt doanh trại vào một tháng trước, có phải ngồi ngây ở đây nhìn ngọn lửa trong một tháng không?
Hàn Diên Thọ mặt đỏ lên, nói: - Sao ngươi biết là bọn họ không đi mà quay lại?
Da Luật Diên Kỳ nghiêm túc nói: - Ta không biết nên không dám chắc chắn.
Hàn Diên Thọ hừ một tiếng, biết mình không quan sát cẩn thận, lộ ra vẻ lo sợ trước mặt Bệ hạ, đây quả không phải là hiện tượng tốt. Bệ hạ trước nay vẫn luôn nhấn mạnh, có thể dùng dung binh nhưng tuyệt đối không thể dùng dung tướng. Hàn Diên Thọ sợ những lời mình tùy tiện nói ban nãy có thể khiến Da Luật Hùng Cơ phản cảm không?
Da Luật Hùng Cơ không tỏ rõ ý kiến về cuộc tranh luận của hai người. Ông ta chỉ vào ngọn núi thấp nói: - Phái mấy người đến núi xem sao, có lẽ có thể phát hiện được gì đó.
Vài tên võ sĩ kim trướng lập tức chạy đến ngọn núi thấp đó. Rất nhanh, bóng dáng họ trong đốm lửa biến thành vài đốm đen di động.
- Có lẽ là binh Tây Hạ cũng nên! Quân Thiên Đức bị người tiêu diệt, Trần Thâu Nhàn lẽ nào không phái binh đến điều tra. Hơn nữa đội kỵ binh với số lượng quá ít, quân Thiên Đức ở lại nơi như này, chí ít cũng sẽ để lại năm nghìn binh canh gác. Với đội kỵ binh hơn nghìn người tiêu diệt quân Thiên Đức với năm nghìn nhân mã thì điều này quả là khó.
Hành quân Trưởng sử Trương Chấn Phương là người Hán chính cống nhưng địa vị trong đám Hán thần Đại Liêu chỉ sau Hàn Tri Cổ, rất được Da Luật Hùng Cơ tín nhiệm. Người này nghe nói là hậu nhân của mãnh tướng Trương Cáp thời Tam quốc. Mặc dù không biết là thật hay giả, nhưng trên người người này lại không có khí thế cường tráng võ sĩ như tổ tiên của y. Y là văn nhân nho nhã, tao lạc đúng mực. Người này từng là người Biện Châu Hậu Hán, sau khi Quách Uy khởi binh tấn công Biện Châu, người này liền vứt bỏ gia quyến, một mình đến bắc và đến Đại Liêu sinh sống. Sau khi đến gặp Hàn Tri Cổ, nhận được sự tôn sùng của Hàn Tri Cổ, tiến cử với Da Luật Hùng Cơ. Trong vòng mấy năm ngắn ngủi, người này liền trở thành nhân vật người Hán lớn thứ hai Liêu quốc. Từ đây có thể thấy người này vẫn là người có tài học thật sự.
Da Luật Diên Kỳ nói: - Trưởng Sử đại nhân nói rất đúng! Mạt tướng cũng nghĩ, đây chắc không phải là dấu tích ‘đội quân bạn’ để lại rồi. Với suy đoán của mạt tướng, có thể tiêu diệt nhân mã ở lại đóng giữ của quân Thiên Đức nhanh chóng như vậy, đội quân đó ít nhất cũng phải có nhân mã ngang tầm với quân Thiên Đức, ít cũng phải năm nghìn mà nhiều thì hơn một vạn.
- Liệu có phải người Hán không?
Hàn Diên Thọ thông minh được một lúc.
Da Luật Hùng Cơ nhíu mày hỏi ngược lại: - Ngươi cảm thấy người Hán có gan chọc Ngôi Danh Nẵng Tiêu sao? Trẫm bảo bọn họ xuất binh, bọn họ không dám, chỉ lấy mười cỗ máy bắn tiễn ứng phó thì bọn họ có gan phái binh đến chọc giận Ngôi Danh Nẵng Tiêu không?
Không đợi Hàn Diên Thọ trả lời, Da Luật Hùng Cơ đã đưa ra đáp án.
Hàn Diên Thọ lau mồ hôi trên trán rồi nói: - Mạt tướng ngu dốt!
Y ngu dốt? Có lẽ người này có tính cách ngay thẳng mới thật sự đưa ra đáp án chính xác, chỉ có điều người thông minh đều không tin y mà thôi.
- Ngươi không ngu dốt, chỉ có điều ngươi lười động não thôi!
Da Luật Hùng Cơ hừ một tiếng nói: - Có dũng mà vô mưu thì cũng giống như đám Phàn Khoái mà thôi. Như thế có thể làm tướng nhưng tuyệt đối không thể làm soái. Ngươi hãy tự xem lại đi!
Hàn Diên Thọ khúm núm đáp lại một tiếng, không dám tùy ý chen miệng vào nữa.
Trương Chấn Phương cười nói: - Hàn Tướng Quân vũ dũng tuyệt luân, thật ra Phàn Khoái sao có thể so được? Trận trước chiến đấu kịch liệt với Ngôi Danh Nẵng Tiêu, chẳng phải là Hàn Tướng Quân xuất kỳ binh nỗ lực tấn công cánh quân binh Tây Hạ nên đại quân của ta mới có thể một trận mà đánh lui quân Tây Hạ sao? Từ đó binh Tây Hạ như rùa rụt cổ ở núi Kỳ Liên không dám dễ dàng xuất kích nữa?
Hàn Diên Thọ hướng ánh mắt cảm kích về phía Trương Chấn Phương, trong lòng cảm thấy ấm áp. Y thầm nói trong lòng “Thân ở Đại Liêu, quả nhiên vẫn là người Hán và người Hán thân nhau hơn một chút. Đám sói Khiết Đan kia mặc dù hùng mạnh nhưng không có tên nào có thể trở thành bạn bè cả”.
Trương Chấn Phương nói như vậy nên vẻ mặt Da Luật Hùng Cơ cũng nhu hòa rất nhiều:
- Trẫm không phải trách ngươi, nếu trẫm không coi trọng ngươi thì đã không tức giận với ngươi như vậy.
Hàn Diên Thọ vội khom người nói: - Mạt tướng đã phụ thánh ân của Bệ hạ.
Da Luật Hùng Cơ khoát tay áo nói: - Đợi tin của thám báo mang về rồi nói tiếp! Nếu trong ba mươi dặm không có tung tích của đội quân nào, vậy chúng ta không cần phải tìm nữa. Bất luận quân Thiên Đức bị người Hán tiêu diệt hay nội loạn tự giết lẫn nhau thì chúng ta cũng đã bớt đi được một chút phiền phức rồi. Chỉ cần lão tặc Trần Thâu Nhàn không biết chúng ta vòng qua phía sau hắn thì những cái khác đều có thể bỏ qua không nói đến.
Trương Chấn Phương nói:
- Bệ hạ nói đúng lắm ạ! Mục đích chính lần này của chúng ta là đánh bại mười sáu vạn đại quân của Trần Thâu Nhàn, một đòn thu hàng nghìn dặm đồng cỏ Bắc Hạ về dưới cờ Đại Liêu. Quân Thiên Đức này mặc dù bị tiêu diệt rất kỳ lạ nhưng vẫn có lợi vô hại đến Đại Liêu chúng ta.
Da Luật Hùng Cơ nói: - Truyền lệnh ta, chúng ta sẽ nghỉ ngơi tại chỗ một ngày một đêm! Chạng vạng tối mai xuất phát, hành quân trong đêm, đi thẳng đến núi Kỳ Liên.
Mấy tướng lĩnh đáp lại một tiếng, phân công nhau đi sắp xếp nhân mã dưới trướng mình nghỉ ngơi. Đợi sau khi tướng lĩnh đi rồi, Da Luật Hùng Cơ nhau mày nói với Trương Chấn Phương: - Chuyện này không điều tra rõ ràng, trong lòng trẫm không thể yên tâm được.
Trương Chấn Phương khom người nói: - Bệ hạ cho đại quân nghỉ ngơi tại chỗ một ngày một đêm, lẽ nào là sợ có gì bất trắc?
Da Luật Hùng Cơ khen ngợi, nhìn thoáng qua Trương Chấn Phương, nói: - Chuyện này rất kỳ lạ! Mặc dù trẫm đoán người Hán đó không có gan đánh Tây Hạ nhưng cũng không tin trong lúc này nội bộ Tây Hạ lại xuất hiện chuyện nội bộ tự giết lẫn nhau. Đại quân nghỉ ngơi và chỉnh đốn một ngày, phái thêm thám báo đi xem xét tình hình trong phạm vi năm mươi dặm, nếu không có chuyện gì thì trẫm mới yên tâm bắc thượng.
Trương Chấn Phương nói: - Chi bằng Bệ hạ cho một đại tướng cản phía sau, có thể bảo đảm được đường lui mà không phải lo lắng gì.
Da Luật Hùng Cơ nói: - Trẫm cũng đang nghĩ đến điều này. Lần này trẫm chỉ dẫn theo năm vạn nhân mã đến, mặc dù tấn công vào hậu phương của Trần Thâu Nhàn với phần thắng là lớn nhưng đường lui này vẫn phải đảm bảo. Trẫm định để Hàn Diên Thọ dẫn năm nghìn binh đóng tại đây để bảo đảm tuyệt đối không sai sót nhầm lẫn. Nếu chiến sự bất lợi, từ đây lui quân về Đại Đồng là đường ngắn nhất, không thể có mất mát gì.
Trương Chấn Phương ngẫm nghĩ một chút nói: - Hàn Diên Thọ, đấu tranh anh dũng không có người thứ hai đâu ạ! Cản đường lui phía sau có lẽ cũng không phải là người giỏi nhất. Da Luật Diên Kỳ tướng quân trầm ổn và hữu dũng hữu mưu, chi bằng Bệ hạ để Da Luật Diên Kỳ tướng quân đóng giữ nơi đây.
Da Luật Hùng Cơ nói:
- Ta cũng biết Hàn Diên Thọ không thích hợp, nhưng một vạn tinh giáp kỵ sĩ dưới trướng Da Luật Diên Kỳ là kỵ binh trường binh khí duy nhất dưới trướng của trẫm, lúc xông trận sẽ rất có lợi. Lần này tấn công Trần Thâu Nhàn, trẫm định lấy một vạn kỵ binh giỏi dùng binh khí dài làm chủ lực, nếu để lại nơi này thì đáng tiếc cho những chiến lực của những dũng sĩ kia.
Trương Chấn Phương nhau mày, cẩn thận ngẫm nghĩ một chút nói: - Hàn Diên Thọ ở lại cũng không phải không được, nhưng nhất định phải cho một người lão luyện cùng lãnh binh, tuyệt đối không được sai sót nhầm lẫn.
- Tiêu Loan? Người này thế nào?
Da Luật Hùng Cơ hỏi.
- Tiêu Loan? Người này tinh thông mưu tính, cũng là người thích hợp.
Trương Chấn Phương nghĩ đến bộ dạng nơm nớp lo sợ hàng ngày của Tiêu Loan mà khóe miệng gợi lên ý cười thâm thúy.
- Vậy thì cứ quyết định như vậy đi! Để Hàn Diên Thọ lãnh năm nghìn quân đóng tại đây, Tiêu Loan làm giám quân. Hai người này một người thô tục ít mưu, một người nhát gan nhưng không mất điềm tĩnh. Hai người họ thương lượng làm việc, chắc có thể bù trừ cho nhau.
Đúng là thần cơ diệu tính
Sau khi Lưu Lăng suất quân nghỉ ngơi nửa đêm thì tiếp tục xuất phát, chín trăm khinh kỵ binh hành quân với tốc độ cực nhanh, nhanh hơn nhiều so với việc dẫn theo hơn năm trăm trọng giáp kỵ binh. Hắn đoán được Da Luật Hùng Cơ nhìn thấy địa doanh của quân Thiên Đức bị thiêu trụi thì sẽ dừng lại. Với sự hiểu biết của Lưu Lăng về con người này thì bất luận là kiếp trước đọc sách có được nhiều thông tin hay những gì được nghe được thấy được ở kiếp này thì Da Luật Hùng Cơ trời sinh tính đa nghi là điều có thể chắc chắn.
Nhưng Lưu Lăng cũng biết, Da Luật Hùng Cơ xuất binh chỉ với mục đích đánh lén phía sau Trần Thâu Nhàn, nếu như trì hoãn thời gian quá dài thì khó bảo đảm sẽ không bị người khác phát hiện ra tung tích. Lưu Lăng xem chừng Lang kỵ Khiết Đan dọc theo con đường này tàn sát không ít dân làng, là vì Da Luật Hùng Cơ tuyệt đối không cho phép tin tức để lộ ra ngoài. Lang kỵ Khiết Đan không giống với tinh giáp dưới trướng của Lưu Lăng, Lưu Lăng chỉ vì muốn cướp đoạt lương thực, còn người Khiết Đan là muốn phong tỏa tin tức.
Thời gian có hạn, Lưu Lăng nhất định phải nhanh chóng dụ kỵ binh Tây Hạ mà luôn đuổi theo mông mình với ý đồ tiêu diệt doanh Tu La đến. Mặc dù hiện giờ đội kỵ binh Tây Hạ còn có hơn sáu nghìn người, đối kháng cùng mấy vạn thiết kỵ tinh nhuệ nhất với khí thế bừng bừng của Đại Liêu thì chắc chắn là không có phần thắng. Nhưng nếu muốn truyền tin người Khiết Đan giết đến ra bên ngoài, đồng thời cũng có thể để cho đội binh Tây Hạ đang đuổi theo mình trong một tháng nay ăn đòn đả kích trí mệnh, làm như vậy là cách duy nhất vẹn toàn đôi bên.
Đi một ngày đường, Lưu Lăng căn cứ vào lộ trình hành quân mà suy đoán lúc này cách binh Tây Hạ đã không còn xa. Hắn lệnh cho đội quân nghỉ ngơi tại chỗ, phái thám báo tìm kiếm tung tích của binh Tây Hạ. Đến nửa đêm, thám báo đưa tin về nói binh Tây Hạ hạ trại trong vòng bốn mươi dặm ở phía tây nam, thoạt nhìn thì là muốn quay về bắc.
Bốn mươi dặm? Với tốc độ hành quân của chín trăm khinh kỵ binh, bốn mươi dặm đường thì không cần mất đến một canh giờ đã có thể đuổi tới. Giết đến thì đơn giản, nhưng điều quan trọng là làm thế nào có thể dụ binh Tây Hạ đuổi theo sau mình không thôi, còn mình thì vẫn có thể dẫn quân lui đi trước khi binh Tây Hạ và Lang kỵ Khiết Đan tiếp xúc. Nếu như không thể sắp xếp tốt chuyện lui quân thì chín trăm người này rất có thể bị người Khiết Đan và binh Tây Hạ nuốt trọn. Đến lúc đó bị kẹp giữa binh Tây Hạ và Lang kỵ Khiết Đan, trừ bỏ bị hai đội quân nghiền chết thì không có đường ra nữa.
Dụ đến thì dễ, dù sao đội binh Tây Hạ trận trước bị mình đánh cho thất bại ê chề, lúc này căn bản không cần mình phải dẫn binh xông lên. Chỉ cần để tướng lĩnh binh Tây Hạ biết doanh Tu La ở gần, vậy chỉ e tướng lĩnh Tây Hạ hận một nỗi không thể mọc thêm đôi cánh bay lại cắn chết Lưu Lăng.
Ngẫm nghĩ một lát rồi cuối cùng Lưu Lăng cũng nghĩ ra một diệu kế.
- Ta vẫn nhớ, đi về phía tây chừng hai mươi dặm có một thôn làng lớn có hơn nghìn người đúng không?
Lưu Lăng hỏi Hoa Tam Lang.
Hoa Tam Lang lệnh cho thân binh lấy bản đồ lãnh thổ Tây Hạ tận dụng lần luyện binh này mà phác thảo ra, lấy nơi quân Thiên Đức đóng trú làm khởi điểm đi thẳng về phía tây, quả nhiên nơi cách doanh trại Tu La hiện giờ chừng hai mươi mấy dặm nhìn thấy một thôn làng lớn được đánh dấu. Trên bản đồ đánh dấu rất rõ ràng, thôn làng này do hơn một nghìn dân du mục lập thành, nơi đây đồng cỏ và nguồn nước màu mỡ. Nhóm du mục này xem như định cư ở đây, chắc sẽ không di chuyển đi nữa. Xác nhận lời nói của Lưu Lăng là đúng, Hoa Tam Lang không khỏi bày tỏ sự khâm phục với trí nhớ của Vương gia. Phải biết rằng, trên thảo nguyên mênh mông này, đưa mắt nhìn phong cảnh xung quanh đều giống nhau hết, Lưu Lăng có thể nhớ được vị trí chính xác của thôn làng này đúng là điều không dễ dàng gì.
- Vương gia nói không sai! Đi về phía tây hai mươi mấy dặm là có một thôn làng quy mô không nhỏ!
Hoa Tam Lang xem qua bản đồ rồi nói.
Lưu Lăng cười nói: - Cho đám binh lính nghỉ ngơi tại chỗ, sáng sớm mai chúng ta sẽ đến ‘thăm’ ngôi làng đó.
Hoa Tam Lang có chút kinh ngạc, nói: - Không phải là chúng ta phải đi dụ quân Tây Hạ sao ạ? Sao Vương gia lại có ý định đến thăm làng đó? Làng đó đã bị chúng ta cướp một lần rồi, lại còn bị binh Tây Hạ vơ vét một lần nữa, ở đó giờ đã không còn gì nữa rồi.
Lưu Lăng cười mà không nói gì, sau khi giơ tay chỉ vài cái trên bản đồ thì đứng dậy đi tuần tra.
Hoa Tam Lang vẫn đang không hiểu lắm, cẩn thận nhìn mấy địa điểm mà Lưu Lăng chỉ trên bản đồ, ngẫm nghĩ một lát rồi cuối cùng y cũng bừng tỉnh. Khoảng cách từ đây tính đến thôn làng ở ngoài hai mươi dặm kia đến nơi quân Thiên Đức trú đóng tổng cộng có bốn làng phân tán trên thảo nguyên. Nếu như đoạt thôn làng này, lần lượt cướp hết thôn này đến thôn khác thì không cần đến ‘chào hỏi’ binh Tây Hạ, binh Tây Hạ cũng chắc chắn sẽ đuổi phía sau doanh Tu La.
Còn phía đông mà quân Thiên Đức trú đóng vẫn còn bốn đến năm thôn như này. Trên đường cướp như vậy, binh Tây Hạ chắc chắn sẽ cho rằng doanh Tu La muốn sau khi cướp một lần sẽ sẽ đào thoát khỏi thảo nguyên. Chỉ cần tướng lĩnh đối phương không quá ngốc, nhất định sẽ dựa theo đường này mà đuổi theo, hơn nữa sẽ đuổi không ngừng nghỉ, tuyệt đối sẽ không thả người doanh Tu La ra khỏi thảo nguyên này. Đợi đến thôn làng cuối cùng ở ngoài ba mươi mấy dặm phía tây quân Thiên Đức trú đóng, doanh Tu La sau khi cướp được chỉ cần thay đổi phương hướng, các tướng sĩ Tây Hạ nhận thức chính xác doanh Tu La sẽ một đường cướp trở về Đại Đồng chắc chắn sẽ bổ nhào về phía thôn tiếp theo.
Mà muốn đến thôn tiếp theo nhất định phải đi qua nơi quân Thiên Đức trú đóng.
Vương gia thật sự là giỏi tính toán!
Vương gia đúng là giỏi nghĩ mưu!
Hoa Tam Lang cảm thấy kinh ngạc khi Lưu Lăng trong thời gian ngắn như vậy mà đưa ra quyết sách chính xác đến thế, đồng thời cũng ghi nhớ kỹ kế sách này của Lưu Lăng. Đây đã trở thành thói quen của y, chỉ cần xuất binh cùng Vương gia, y đều nghiêm túc quan sát sách lược dùng binh của Vương gia, sau đó ghi nhớ rồi mình cũng nghiền ngẫm dần.
Tinh giáp kỵ binh nhẹ của Tu La doanh nghỉ ngơi một đêm tại chỗ, sáng sớm hôm sau khệnh khạng đi về phía thôn kia. Sở dĩ lựa chọn ban ngày mà không phải ban đêm là vì Lưu Lăng muốn dồn lực dấy lên lửa giận trong binh Tây Hạ. Ban ngày lộ trình cách mấy chục dặm, lộ liễu cướp sạch hết làng này đến làng kia, đối với binh Tây Hạ mà nói đúng là trở mặt.
Dân du mục đang cho gia súc thêm chút cỏ khô đột nhiên thấy phía đông có một đội kỵ binh đến, cách rất xa họ đã nhìn rất rõ đội kỵ binh mặc giáp đen trên người, còn có đại kỳ đầu sói phấp phới trong gió nữa. Những du mục từng bị cướp đến phát sợ lập tức chạy tản bốn phía, không kịp mang theo dê bò ngựa, đành phải vứt hết lại. Những người đàn ông vừa độ tuổi trên thảo nguyên về cơ bản đều xung quân, những người ở nhà chăn nuôi dê ngựa ngoài già yếu thì cũng là phụ nữ và trẻ em, không ai biết cầm vũ khí chống lại đám Lang kỵ Khiết Đan này.
Sau khi Lưu Lăng dẫn Tu La doanh vào làng chỉ quan tâm đến phóng hỏa, sau đó nấu cơm ăn no nê thì vắt chân lên cổ chạy tan tác. Trên thảo nguyên trống trải, ngoài mấy chục dặm bụi khói mù mịt, quân Tây Hạ không thể không nhìn thấy. Với tốc độ của kỵ binh, chạy chặng đường mấy chục dặm này không mất bao lâu. Phóng hỏa xong rồi chạy, Lưu Lăng đột nhiên nảy lên niềm vui sướng của một đứa trẻ với trò đùa tác quái. Chuyện phóng hỏa này, xem ra trong lòng người đàn ông cũng có đôi chút tâm tình.
Phóng hỏa xong, Lưu Lăng dẫn binh đi như bay, đi thẳng đến thôn tiếp theo. Đợi khi quân Tây Hạ đuổi đến thuận theo hướng làn khói dày đặc kia thì Tu La doanh đã ở ngoài ba mươi dặm rồi. Mặc dù kỵ binh đi nhanh, nhưng nhân mã càng nhiều thì tốc độ lại càng chậm. Tốc độ chạy của chín trăm người hơn sáu nghìn người rất nhiều.
Đợi khi quân Tây Hạ trấn an đám du mục, Địch Cảm nghiến răng nghiến lợi thề phải băm thây đám kỵ binh Khiết Đan kia ra làm trăm mảnh thì trong một thôn khác ở ngoài mấy chục dặm lại xuất hiện làn khói đen dày đặc. Địch Cảm lập tức hạ lệnh toàn quân lên ngựa, phóng như điên đuổi theo hướng của Lưu Lăng.
Đợi khi quân Tây Hạ đuổi tới thôn tiếp theo thì lửa đã thiêu sạch sẽ lều trại rồi. Đám du mục ngã trên mặt đất khóc không ra nước mắt, không biết mọi người phạm vào tội lớn gì mà ông trời lại phái đám ác ma kia xuống trừng phạt mọi người. May mắn thay, mặc dù lều trại đều bị đốt hết nhưng phần lớn bầy cừu vẫn còn.
Nghe xong đám du mục khóc lóc kể lể, lửa giận trong Địch Cảm lại càng mạnh hơn. Bọn họ đều là những người đàn ông lớn lên trên thảo nguyên, họ quen với thảo nguyên này hơn Lưu Lăng rất nhiều. Lưu Lăng đốt xong hai thôn thì Địch Cảm đã mơ hồ đoán được đám kỵ binh Khiết Đan chết tiệt kia bước tiếp theo muốn đi đâu rồi. Không đợi phía đông có khói nổi lên, Địch Cảm hạ lệnh quân đội lập tức lên ngựa tiếp tục truy kích về hướng đông, tuyệt đối không thể để cho đám kỵ binh Khiết Đan này chạy trốn ngang tàn như vậy được.
Rất nhanh, trước khi mặt trời lặn, ngôi làng thứ ba lại dày đặc khói đen. Tiếng la khóc của đám du mục ở ngoài mấy dặm đều có thể nghe được rõ ràng. Địch Cảm suất quân đuổi theo cả một ngày nhưng bất luận là y hay binh Tây Hạ thì mỗi một người đều bị thù hận thôi thúc dấy lên ý chí chiến đấu vô tận, căn bản không có cảm giác mệt mỏi.
Bọn họ truy đuổi điên cuồng, Lưu Lăng dẫn theo Tu La doanh tất nhiên cũng không thể dừng lại nghỉ ngơi. Khoảng cách của hai bên vẫn duy trì ở hai mươi mấy dặm, chạy hết sức mà đuổi cũng hết mình.
Lúc nửa đêm, Lưu Lăng dẫn người đến ‘thăm’ thôn làng thứ tư, không kịp dừng lại phóng hỏa, kỵ binh của Tu La doanh sau khi bỏ lại cây đuốc trên lều trại thì lập tức lên ngựa nghênh ngang rời đi. Lửa này không đủ lớn cũng không thực lắm, một chút đạo đức nghề nghiệp cũng không có nhưng lại khiến Địch Cảm tức giận đến nổ phổi. Chạy trốn nhưng vẫn không quên để lại một mồi lửa, sao đám kỵ binh Khiết Đan lại có thể vô lại như vậy được chứ?
Đuổi tới nửa đêm, thật ra hai bên đều đã trong tình trạng kiệt sức. Sau khi chạy về hướng đông bốn năm dặm mệnh lệnh kỵ binh chợt chuyển hướng, thừa dịp đêm đen chạy nhanh về phía nam. Hắn không dám về hướng bắc, ai biết được đại quân của Da Luật Hùng Cơ đã xuất phát chưa? Nếu như tiến quân đụng phải quân Khiết Đan thì chết còn nhanh hơn quyết chiến với binh Tây Hạ ở phía sau nhiều.
Nhưng Địch Cảm lại không hề suy xét đội kỵ binh Khiết Đan kia có chuyển hướng chạy trốn không? Y cho rằng tên tướng lĩnh Khiết Đan kia muốn thiêu đốt một đường thẳng về hướng Đại Đồng rút lui. Nếu như y chịu dừng lại cẩn thận quan sát thì có thể từ dấu tích mã đội đi qua nhìn ra kỵ binh mà y đang truy đuổi có đổi hướng hay không?
Khi mặt trời lên, binh Tây Hạ chạy một ngày một đêm với tình trạng kiệt sức, tròng mắt đỏ ửng vẫn đằng đằng sát khí cuối cùng cũng nhìn thấy bóng dáng kỵ binh Khiết Đan. Nhưng điều khiến họ ngạc nhiên chính là đối mặt với họ đâu phải đại đội hơn nghìn quân mà rõ ràng là thiết kỵ Đại Liêu năm nghìn kỵ binh bày trận địa sẵn sàng đón quân địch.
- Bị lừa rồi!
Đây là suy nghĩ đầu tiên của Địch Cảm.
Làm sao bây giờ? Chiến đấu hay chạy?
Nếu chiến đấu thì binh Tây Hạ sớm đã bị tiêu hao hết thể lực tuyệt đối không phải là đối thủ của đội quân kia. Hơn nữa về số lượng thì bên mình cũng không chiếm được ưu thế nữa. Cứ coi như đánh bừa với trạng thái thể lực hoàn hảo thì không chắc chắn có thể bảo đảm giành chiến thắng không? Hiện giờ chạy thì có được không?
Địch Cảm khóc không ra nước mắt.
Còn Hàn Diên Thọ đóng giữ tại đây nhìn thấy sáu bảy nghìn binh Tây Hạ đằng đằng sát khí đến, suy nghĩ đầu tiên của y là ‘Bệ hạ quả nhiên thần cơ diệu toán!’