UỐNG ĐƯỢC RỒI
Uống được rồi
- Thảo dân Lý Tú bái kiến đại nhân.
Lý Tú nhìn thấy Chỉ huy sứ đại nhân quả nhiên đã đi đến hậu đường thì liền vội vàng khom người thi lễ ngay ở cửa vào. Có điều y quá béo, y cúi người rất sâu nhưng trong mắt người khác cũng chỉ giống như hơi khom người mà thôi. Lý Tú thề, y thật sự muốn gập người song song với mặt đất.
- Vào đi.
Triệu Đại không nặng không nhẹ ừ một tiếng, dẫn đầu đi vào hậu đường. Hắn ngồi ở chủ vị, bốn gã Giám sát vệ áo đen đứng xung quanh. Hậu đường là một khách phòng nhỏ, hai bên đặt ba cái ghế, ở giữa là một bàn trà thấp, bên trên bày các món điểm tâm sặc sỡ tinh xảo, thậm chí còn có cả bàn đào trái mùa do Cao Ly tiến cống.
Nhìn thấy những miếng đào này, trong lòng Lý Tú bỗng cảm thấy có chút bi thương.
Người Cao Ly phản rồi.
Trước kia, bàn đào trái mùa này đều là cống phẩm, phải đưa đến Thượng Kinh. U Châu vốn do Thái tử Da Luật Cực đóng giữ, vậy nên y cũng có phần. Bây giờ những quả bàn đào này được bày trên bàn trà ở phòng khách, phản ứng đầu tiên của Lý Tú không phải là chúng không ngọt, mà là Cao Ly chắc chắn đã quy phục nước Hán rồi.
Đại Liêu thật sự đã xong rồi, nghe nói phủ Liêu Dương ở Đông Kinh tình hình cũng hết sức nguy cấp, mấy vạn người Mạt Hạt không hiểu tại sao lại to gan đến mức dám khởi binh tấn công phủ Liêu Dương. Lý Tú biết Đại Liêu đang đối mặt với nguy cơ lớn nhất từ trước đến nay, hơn nữa xem ra có lẽ là không thể tránh khỏi. Phủ Liêu Dương ở Đông Kinh là nơi nhà Da Luật của Đại Liêu phát tích, Lang kỵ tộc Khiết Đan trước đây từng ở sông Tây Lạp Mộc Luân, sinh sống bằng việc chăn thả ven hồ Thanh Ngưu, ở Liêu Đông đánh đâu thắng đó, không gì có thể cản nổi.
Lúc đó, vua Cao Ly quỳ rạp dưới chân Da Luật Quân Đức Thực, Di ly cận tộc Khiết Đan, hôn lên móng ngựa của y. Về sau, Da Luật Hùng Cơ bệ hạ xưng đế, vua Cao Ly cũng phải run rẩy phủ phục dưới chiến mã của người. (Chú ý 1)
Khi đó, người Hán vẫn giống như sơn dương, đối mặt với thiết kỵ của Đại Liêu, bọn họ cũng không có chút dũng khí phản kháng nào. Lang kỵ Khiết Đan cướp đi một phần đất đai lớn, rất nhiều vàng bạc của cải và cả một số lượng lớn nô lệ từ tay người Hán ở Trung Nguyên. Còn hiện tại thì, Lý Tú đau xót nghĩ, y không thể không khom lưng quỳ gối trước một người Hán.
Dường như nhìn thấu được nội tâm Lý Tú, Triệu Đại cười khẽ:
- Sao, Xích Lực Đài đại nhân thấy không thích ứng được à?
Nghe thấy tên quan lớn người Hán ngồi trên kia gọi thẳng tên Khiết Đan của mình, Lý Tú sợ đến run người. Cái run này là nửa thật nửa giả, mà y trước nay rất biết diễn kịch, tự nhiên là có thể biến nửa giả kia trở thành hoàn toàn là thật. Y run lên trông rất khó coi, thịt mỡ cuộn sóng, sắc mặt trắng bệch trong nháy mắt. Dù có nhìn thế nào thì vẻ sợ hãi trên mặt y cũng không giống giả dối.
- Thảo dân không dám, đại nhân... hãy cứ gọi thảo dân là Lý... Lý Tú đi, tôi là thuận dân theo Đại Hán.
- Thuận dân?
Triệu Đại dường như cảm thấy có hơi buồn cười với từ ngữ mới mẻ này, hắn cười chỉ bụng Lý Tú nói:
- Tòng Tam phẩm Quang Lộc Đại phu, sao có thể tự xưng là thảo dân?
Lý Tú cung kính nói:
- Đó là chức quan ở Liêu Quốc, ở Đại Hán chúng ta, thảo dân chỉ là thảo dân mà thôi.
Y ngẩng đầu, cả gan nói:
- Thảo dân là một thương nhân, không phải là Quang Lộc Đại phu như lời đại nhân nói.
Triệu Đại bật cười, nhận ra ấn tượng của mình đối với kẻ mập mạp trông thành thật nhưng thật ra lại giả dối này không hề xấu, cũng không biết có phải là do bề ngoài to béo thật thà chất phác hay không, dù sao cũng không khiến người khác thấy chán ghét. Triệu Đại biết lý do Lý Tú không thừa nhận mình là quan của Đại Liêu là ý tự nguyện muốn làm một “thuận dân” như lời y đã nói.
- Sao, chẳng lẽ quan tam phẩm Đại Liêu lại không bằng một kẻ thảo dân của Đại Hán hay sao?
Triệu Đại có vẻ không chừa thể diện cho Lý Tú, lời nói thể hiện rõ sự châm chọc.
- Đại nhân... thảo dân trước nay vốn luôn là thương nhân, sau này cũng sẽ chỉ làm thương nhân, hơn nữa còn chắc chắn là một thương nhân có cống hiến cho đại nhân, cho Hán Vương, cho Đại Hán. Cái thảo dân theo đuổi chỉ là một chữ “lợi”, thảo dân thật sự chỉ là một thương nhân mà thôi.
Hai chữ thương nhân này y nói vô cùng cẩn trọng.
Triệu Đại gật đầu:
- Chẳng trách Da Luật Cực mất quyền mà ngươi cũng không phải chịu liên lụy, hơn nữa hình như còn phát triển nhanh hơn cả khi muội phu ngươi còn tại vị. Một kẻ chỉ yêu tiền không ham quyền, chắc hẳn bất kể là Da Luật Cực hay Da Luật Sở Tài cũng đều rất thích.
Lý Tú cúi gập người, thái độ vô cùng khiêm tốn.
- Ta cũng rất thích.
Triệu Đại ha hả cười nói:
- Hơn nữa ta tin Vương gia cũng sẽ rất thích ngươi.
Lý Tú vui mừng ngẩng đầu, đột nhiên quỳ rạp xuống, dập đầu nói:
- Thảo dân nguyện ý đền đáp đại nhân, đền đáp Vương gia.
Triệu Đại cười khẽ:
- Đứng lên đi, béo như vậy mà phải quỳ đúng là làm khó ngươi rồi. Tuy nhiên có một câu ngươi nói không đúng, không cần phải đền đáp ta, ta cũng là thần dân của Vương gia thôi. Nói thử xem ngươi định báo đáp Vương gia thế nào?
Lý Tú vất vả đứng lên, ngẩng đầu nhìn Triệu Đại nói:
- Thảo dân có thể tìm được những thợ thủ công tốt nhất. Trước đây những người thợ tu sửa xây dựng lại phủ Đại Vương Nam Diện Cung ở Liêu Quốc cũng chính là do thảo dân triệu tập được. Thảo dân biết ở quận Thượng Cốc có rất nhiều thợ rèn giỏi, còn đá và gỗ thì thảo dân cũng coi như có chút giao tình với Đô bột cực liệt Ô Cốt Thu của tộc Mạt Hạt, có thể vận chuyển những khúc gỗ lớn hai người ôm và những tảng đá cứng nhất, có đường vân đẹp nhất từ Liêu Đông đến.
Y ngừng lại một chút, lén nhìn sắc mặt Triệu Đại:
- Đương nhiên tất cả những khoản kể trên thảo dân đều tự nguyện đảm nhận.
Chỉ có điều, y phát hiện ra sắc mặt của viên quan lớn người Hán ngồi trên kia lại lạnh dần đi theo từng thứ mà y kể ra.
- Lý Tú, ngươi muốn nói gì?
Triệu Đại giơ từng ngón tay lên:
- Ngươi cũng biết thợ thủ công, thợ rèn thì Vương gia chỉ cần nói một câu là sẽ có vô số người tự nguyện hiến sức. Đừng nói là thợ rèn ở quận Thượng Cốc, cho dù là thợ ở Phúc Châu chẳng phải cũng là do Vương gia quản lý hay sao? Đá, gỗ, còn cả thủ lĩnh Ô Cốt Thu của Hắc Thủy Mạt Hạt nữa, chẳng lẽ ngươi cho rằng dựa vào thân phận thương nhân của ngươi mà có thể có sức nặng hơn lời của Hán Vương sao?
Hắn cười cười, gằn từng tiếng nói:
- Ô Cốt Thu vì sao dám tạo phản với người Khiết Đan các ngươi? Chỉ dựa vào mấy vạn thợ săn Mạt Hạt, hắn chắc chắc có thể phá được phủ Liêu Dương hay sao?
Trong lòng Lý Tú cả kinh.
Hán Vương Lưu Lăng đang ủng hộ Ô Cốt Thu!
Lý Tú thầm chửi mình ngu ngốc. Các quận huyện xung quanh Liêu Dương cũng có ít nhất hơn mười vạn đại quân! Nếu không phải có người làm chỗ dựa cho Ô Cốt Thu thì hắn làm sao dám tấn công Liêu Dương? Mà hiện tại người có đủ lực làm chỗ dựa cho Ô Cốt Thu chỉ có Hán Vương! Người Hắc Thủy Mạt Hạt ngay cả binh khí tấn công còn không có, bọn họ nếu có gan đánh Liêu Dương, chẳng lẽ lại không sợ đống nỏ lớn trên đầu thành Liêu Dương sao?
Y đúng là quá coi thường người Hán và Hán Vương Lưu Lăng rồi. Lúc nãy rõ ràng đã nghĩ đến, Cao Ly đã khuất phục Đại Hán thì đương nhiên Ô Cốt Thu cũng có thể làm vậy. Hán Vương Lưu Lăng chỉ cần tùy tiện cho hắn một ít vũ khí, sau đó hứa đem Liêu Đông phong thưởng cho hắn là Ô Cốt Thu sẽ đi cắn người như đám chó săn!
Lý Tú nhớ đến bản mặt tham lam của Ô Cốt Thu, trong lòng thầm nhủ, Ô Cốt Thu à, muốn nuốt trọn Liêu Đông ư? Người tiếp theo phải chết chính là ngươi! Hán Vương hiện tại chính là không bình định được Liêu Đông nên mới để ngươi tùy ý vào càn quấy. Đợi chuyện ở U Châu xong xuôi, chỉ sợ việc đầu tiên Hán Vương muốn làm chính là lột da ngươi chưng lên cho chó ăn!
Tâm Lý Tú dần lạnh đi, vì y phát hiện ra tất cả những lợi thế của mình trong mắt Hán Vương, không, cho dù là trong mắt đám quan lớn người Hán kia, cũng không là cái gì cả. Cái y có thì Hán Vương chỉ cần nói một câu cũng có thể biến nó thành của hắn. Mà những việc y nói ở trên, Hán Vương không cần phải hứa hẹn gì, chỉ cần phái bừa một người lấy đao kề cổ mình, vậy thì chẳng phải y vẫn phải ngoan ngoãn đi làm hay sao?
Y lại lén nhìn Triệu chỉ huy sứ, may mắn là không có sát khí.
Triệu chỉ huy sứ này muốn nói gì với y?
Thiên hạ giàu có của Hán Vương?
Chắc chắn không phải chuyện này!
Trong đầu Lý Tú đột nhiên lóe lên, lập tức đứng bật dậy. Hắn đang đợi y tiếp tục cấp thêm lợi ích!
Lý Tú sợ hãi, ngoài miệng nhún nhường nhưng suy nghĩ trong đầu đang xoay còn nhanh hơn quạt gió.
Hắn có ý gì?
Đúng rồi!
Hán Vương muốn tạo dựng một tấm gương tốt!
Lý Tú bị phỏng đoán của mình làm cho mừng đến nỗi nhảy dựng lên, thật giống như đám dân chúng Khiết Đan đi báo danh lúc trước. Hán Vương cần vài người dẫn đầu, chỉ cần bọn họ lấy được hai cân gạo kia thì sẽ trở thành những tấm gương, những người Khiết Đan khác cũng sẽ vui vẻ đến báo danh.
Nghe nói Hán Vương không giống với quý tộc người Hán bình thường. Hán Vương chưa bao giờ khinh thường thương nhân.
Chuyện hôm nay là do Hán Vương chèn ép chúng ta, nhưng chẳng phải là đang cho chúng ta cơ hội trở thành một tấm gương trong giới thương nhân hay sao?
Trường sinh thiên ơi!
Lý Tú thầm hét lên mừng rỡ, cảm tạ Trường sinh thiên, y đã giành được cơ hội này rồi!
- Đại nhân, ngoại trừ việc vừa rồi thảo dân tự nguyện hiến năm mươi vạn quan tiền để tu sửa thành trì ra, thảo dân còn định dùng bảy phần trong số tài sản còn lại của mình, tính ra khoảng một trăm vạn quan tiền, thảo dân nguyện ý góp một viên gạch vì cung điện của Hán Vương. Đại nhân, ngài cũng biết, ngoại trừ những việc buộc phải chi thì đây là khả năng lớn nhất của thảo dân rồi!
Nội tâm Lý Tú càng lúc càng thông suốt, ý nghĩ cũng càng lúc càng rõ ràng hơn:
- Thảo dân với các bộ tộc bên ngoài cũng có chút giao tình, tự nguyện làm sứ giả Đại Hán, đến thảo nguyên phía Bắc nói với bọn họ rằng Hán Vương rất nhân từ độ lượng, thảo dân nghĩ sẽ có không ít người tự nguyện đến gặp Hán Vương để tìm nơi nương tựa, cam tâm tình nguyện trở thành con dân của Hán Vương. Còn Liêu Đông, thảo dân tình nguyện đi thuyết phục Ô Cốt Thu đến U Châu yết kiến Hán Vương.
Lý Tú đang liều mạng đánh cược.
Y đang cược rằng Hán Vương sẽ không bỏ qua cho Ô Cốt Thu.
Rõ ràng là y đã thành công, vậy nên cả tính mạng, gia tộc và sản nghiệp của y tạm thời đều giữ lại được nhờ sự cơ trí của y. Tuy cái giá mà Lý Tú phải bỏ ra là rất lớn, nhưng không thể nghi ngờ việc trở thành người phát ngôn trong giới thương nhân của Hán Vương thì sau này sẽ giúp y lấy lại được bao nhiêu của cải. Vương quyền đặc biệt cho phép, có sáu chữ này thì còn có việc buôn bán nào trên đời này mà y không làm được?
Triệu Đại mỉm cười gật đầu:
- Hay là ngươi đến Thượng Cốc trước đi, xây dựng cung điện quả thật cần rất nhiều thợ rèn.
Triệu Đại cười rất niềm nở, vì tên mập thông minh này quả thực không hề khiến hắn thất vọng.
Cơ hội đều giao cho người có tâm chuẩn bị, tên mập này quả không tồi.
Triệu Đại cười:
- Trước tiên cho ngươi một chức danh tổng quản thu mua ảo, về việc cung điện của Vương gia, nếu ngươi quan tâm thì sau này có việc có thể trực tiếp đến phủ nha hỏi, ta sẽ dặn dò bọn họ. Nếu có gì khó khăn không giải quyết được, có thể đến căn nhà ngươi tặng cho Da Luật Sở Tài kia tìm ta, nơi đó tạm thời đang được Viện giám sát trưng dụng.
Hắn đứng lên, đi đến bên cạnh rồi vỗ vỗ vai Lý Tú:
- Chuẩn bị cho tốt một chút, chiều mai Hán Vương sẽ đến gặp ngươi.
Thân người Lý Tú hơi run lên, có điều lần này không phải là do sợ mà là do hưng phấn. Dường như, cái chức Tổng quản thu mua ảo kia thực dụng hơn cả chức tòng Tam phẩm Quang Lộc Đại phu. Y nheo mắt, cả người toát ra vẻ hạnh phúc mãn nguyện.
Y thật sự đã được ăn món cháo ngon nhất thiên hạ.
(Chú ý 1: Di Ly Cận là cách gọi của Khiết Đan, ý chỉ trưởng quan quân sự tối cao của bộ tộc, người chưởng quản quân quyền. Da Luật Quân Đức Thực là tổ phụ của Da Luật A Bảo Cơ. Chi tiết trong chương này chỉ là chuyện kể bịa đặt, mọi người đừng quá nghiền ngẫm.)
Chạy một vòng.
- Hiện tại, cục diện ở Liêu Đông hoàn toàn rối loạn.
Triệu Đại ngồi ở ghế thứ nhất ngay phía bên dưới Lưu Lăng, khom người nói cùng các vị tướng quân ngồi bên dưới: - Một tháng trước, Đô bột cực liệt Ô Cốt Thu của bộ lạc Hắc Thủy Mạt Hạt dẫn đầu bảy vạn binh lính tấn công Liêu Đông kinh phủ Liêu Dương, Da Luật Chính tử thủ Liêu Dương đồng thời triệu tập binh mã các quận ở Liêu Đông phản công.
- Mùng một tháng hai, khi Ô Cốt Thu dẫn đầu đại quân tấn công Liêu Dương, bị viện quân Khiết Đan gần đó chặn đường lui, Da Luật Chính dẫn quân từ trong thành Liêu Dương đánh ra, đại quân Mạt Hạt hai mặt giáp địch, đại bại, lui binh năm mươi dặm, binh mã chết gần hai vạn người. Viện quân Khiết Đan kỳ thật chỉ có bày nghìn nhân mã, sau khi giết lùi Ô Cốt Thu, viện quân tiến vào bên trong thành Liêu Dương.
- Mùng năm tháng hai, Ô Cốt Thu tấn công Liêu Dương mạnh mẽ, mấy lần đã đánh phá được cửa thành, đều bị Da Luật Chính dẫn binh đánh lùi ra. Hai bên đánh giết từ lúc tảng sáng tới khi mặt trời lặn, buổi tối, Ô Cốt Thu phái người tập kích đêm, lại trúng phải mai phục của Da Luật Chính, đại bại một trận. Tuy nhiên, màn đêm vừa buông xuống, viện quân Thất Vi Bộ do Ô Cốt Thu mời tới đuổi đến nơi, thủ lĩnh Tha Liệt Cai của Thất Vi Bộ suất quân đột nhập vào bên hông quân trận Khiết Đan, giết lùi quân mai phục của Da Luật Chính, cứu được Ô Cốt Thu ra.
- Kỳ thật, Thất Vi Bộ và Khiết Đan được xem như kẻ thù truyền kiếp, lúc trước mấy lần tộc Khiết Đan do Da Luật Quân Đức Thực dẫn đầu thảo phạt Thất Vi Bộ, người Thất Vi không thể không cúi đầu xưng thần. Rồi tới Da Luật Hùng Cơ xưng đế, lại một lần diệt Tiểu Hoàng Thất Vi và Thất Vi Tam Bộ, giết hơn một trăm ngàn người. Mấy lần kỵ binh Khiết Đan cưỡng bức người Thất Vi dời lên phía Bắc, người Thất Vi bị bắt di chuyển rồi bị ép tới vùng đất cực Bắc lạnh giá. Nơi kia bốn mùa tuyết rơi, nhiều năm như vậy chưa từng dừng lại.
Triệu Đại giải thích một chút tại sao người Thất Vi lại muốn tới trợ giúp Ô Cốt Thu, sau đó tiếp tục nói: - Mùng chín tháng hai, Tha Liệt Cai dẫn đầu hơn hai vạn người thuộc Thất Vi Bộ tấn công mạnh Bắc môn Liêu Dương, Ô Cốt Thu suất quân tấn công mạnh Tây môn, ngày đó, tuy rằng liên quân người Mạt Hạt và người Thất Vi không phá được Liêu Dương, nhưng mấy lần đã phá được lên đầu thành Liêu Dương, Liêu quân tổn thất thê thảm và nghiêm trọng, nếu không phải Da Luật Chính liều chết dẫn quân phản công, thậm chí phát động cả dân chúng hiệp trợ thủ thành, thì Liêu Dương đã không bảo vê được rồi.
- Mười sáu tháng hai, binh mã chư quận Liêu Đông lục đục đuổi tới Liêu Dương cùng liên quân người Thất Vi và người Mạt Hạt chiến đấu kịch liệt. Tha Liệt Cai mang theo ba nghìn dũng sĩ Thất Vi giết viện quân Khiết Đan ba lượt, viện quân đại bại, lui về sau hai mươi dặm. Một trận chiến này, Thất Vi Bộ chết trận hơn hai ngàn người, lại giết hơn mười ba ngàn binh lính Khiết Đan.
- Hai mươi mốt tháng hai, Da Luật Chính dẫn quân ra khỏi thành đánh lén doanh địa Tha Liệt Cai, lại trúng mai phục của Tha Liệt Cai. Bốn ngàn tinh binh do Da Luật Chính dẫn đi chết gần hết, bản thân Da Luật Chính trọng thương được thân binh liều chết cứu về, người Thất Vi nhân cơ hội tiến vào bên trong thành Liêu Dương. Sau khi người Thất Vi vào thành liền đóng kín cửa thành, nhốt nhân mã Ô Cốt Thu bên ngoài. Một mình Ô Cốt Thu không thể chống lại viện quân Khiết Đan, trong vòng ba ngày hai bên huyết chiến máu chảy thành sông, nhân mã Ô Cốt Thu tổn thất thê thảm và nghiêm trọng.
- Người Thất Vi vào thành được ba ngày đã tàn sát hết hàng binh và dân chúng trong thành, hơn mười vạn người bị giết, máu chảy thành sông.
Triệu Đại thả một quyển sách nhỏ trong tay xuống, day day đầu lông mày cười nói: - Xem ra oán khí của người Thất Vi thật không nhỏ, ba ngày tàn sát hàng loạt dân trong thành, thế nhưng biến một tòa đại thành thành Địa ngục. Liêu Dương một trong năm tòa kinh phủ lớn nhất Liêu quốc cứ như vậy bị biến thành một tòa quỷ thành. Chỉ có điều, dù sao Tha Liệt Cai cũng ít người, sau khi Ô Cốt Thu không kiên trì nổi dẫn đầu rút lui thì gã cũng bỏ thành rút về, Thất Vi Bộ một đường vừa đánh vừa lui trở về nơi đóng quân.
Lưu Lăng cười cười, đối vời sự tàn nhẫn của người Thất Vi cũng không phát biểu ý kiến.
Người Thất Vi chính là tổ tiên của tộc Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn và hậu đại của gã sau này cũng chuyên tàn sát hàng loạt dân trong thành, loại sự tình này coi như được truyền thừa. Bộ tộc Đảng Hạng bị Thành Cát Tư Hãn giận dữ đồ diệt, hơn ngàn vạn người Hán ở Trung Nguyên bị người Mông Cổ giết hại, ở thời điểm Thành Cát Tư Hãn và con cháu của gã ở tộc Mông Cổ xưng hùng, tru diệt gần một trăm triệu nhân khẩu. Có người từng hay nói giỡn nói Thiết Mộc Chân và con cháu của gã thành công giải quyết vấn đề ăn cơm của mấy ngàn vạn dân chúng trong thời đại đó, chỉ có điều chuyện cười này tuyệt đối không buồn cười.
Kỳ thật dựa theo căn nguyên khởi đầu có thể nói, người Khiết Đan và người Thất Vi vẫn là đồng tông đồng nguyên đấy.
Lúc trước, sau khi Nhu Nhiên bị người Đột Quyết đánh bại liền tách ra thành hai bộ phận, một bộ phận chạy tới thượng du Liêu Hà, chính là tổ tiên người Khiết Đan. Bộ phận khác chạy tới dãy núi Nhã Bố Lạc Nặc Phu, đây là tổ tiên của người Thất Vi. Cái danh từ Thất Vi này, một ý nghĩa khác kỳ thật là chỉ tộc Tiên Ti.
Gần trăm năm người Thất Vi bị người Khiết Đan đè đầu, nhất là sau khi Da Luật Hùng Cơ xưng đế, người Thất Vi bị bắt di chuyển về phương Bắc, sinh hoạt cực kỳ khốn khổ. Mặc dù như vậy, dưới dâm uy bức bách của Da Luật Hùng Cơ, hằng năm người Thất Vi đều phải tiến cống rất nhiều tài vật, chỉ cần kéo dài thời gian tiến cống là sẽ bị người Khiết Đan giết hại.
Bởi vì Lưu Lăng đột nhiên nhớ tới, chợt phát hiện Nhu Nhiên quả thật rất rất giỏi. Mặc dù dân tộc này bị Đột Quyết đánh bại, nhưng con cháu đời sau Nhu Nhiên vẫn xưng bá. Nhất là người Mông Cổ, dựa vào khoái mã, đồ đao tạo nên lãnh thổ quốc gia rộng lớn khiến người người khiếp sợ.
- Người Khiết Đan vẫn còn đang truy kích?
Hoa Linh hỏi.
Triệu Đại gật đầu nói: - Đông Kinh Liêu Dương bị người giết hại thành tử thành, người Khiết Đan tự nhiên là không nuốt trôi cơn tức này. Đến cuối tháng hai, viện quân Khiết Đan từ tất cả các quận chạy tới đuổi giết người Thất Vi, chắc đã qua Nhược Lạc Thủy rồi. Mặt khác quân Khiết Đan ở quận Bột Hải đã giết vào sở bộ Hắc Thủy Mạt Hạt, thừa dịp đại quân Ô Cốt Thu chưa quay về, giết một mạch gần một trăm ngàn người tộc Hắc Thủy Mạt Hạt bao gồm người già, phụ nữ và trẻ em trong bộ tộc, lần này tộc Mạt Hạt xem như khó lòng gượng nổi.
Lưu Lăng cười cười hỏi:
- Quý Thừa Vân đến chỗ nào rồi?
Triệu Đại hồi đáp: - Đã đến Ngư Dương, vài ngày nữa sẽ đến U Châu.
Lưu Lăng gật đầu nói: - Tùy ý đánh Liêu Đông, chỉ có điều chớ tổn thương ái tướng của ta. Mấy năm nay Quý Thừa Vân luôn luôn ở nơi các ngươi không biết yên lặng làm việc, thoạt nhìn bề ngoài việc tốt đều do các ngươi, kỳ thực công lao của y so với các ngươi cũng không ít hơn. Quý Thừa Vân cũng là người cũ đã lãnh binh theo bên cạnh ta từ ban đầu, ngay cả cái quan tước nghiêm chỉnh y cũng chưa có, mỗi khi nhớ tới, trong lòng ta vẫn hổ thẹn.
- Không giao nộp cống phẩm cho Khiết Đan, Quý Thừa Vân đem lương thảo áp tải đến Thái Nguyên, tiêu diệt Âu Dương Chuyên, Quý Thừa Vân đốt đường vận chuyển lương thảo của Âu Dương Chuyên, đánh Tả Úy Vệ…
Lưu Lăng dừng lại một chút, nhìn thoáng qua Trịnh Siêu ngồi phía dưới, lúc trước gã là Đại Chu Đại tướng quân Tả Úy Vệ. Trịnh Siêu bình tĩnh mỉm cười, ra hiệu cho Lưu Lăng không cần ngại mình.
Lưu Lăng cười cười tiếp tục nói: - Đánh Tả Úy Vệ, đốt trại lớn trên núi Thanh Phong của Trịnh Siêu Đại tướng quân. Đánh Tấn Châu, đánh lén đường lui của Mông Hổ, bình định Giang Nam, Quý Thừa Vân luôn đi trước các ngươi. Khổ công làm nhất, hưởng ít bổng lộc nhất.
Lưu Lăng đứng lên, ngẫm nghĩ một chút nói: - Cho nên, sau khi Quý Thừa Vân trở về, ta tính toán để cho y nhậm chức ngay tại U Châu, ở ngay tại đó, dù sao hiện tại mọi chuyện ở Giám sát viện y đều đã nắm trong tay.
Mọi người giờ mới hiểu được, hoá ra Vương gia là muốn Quý Thừa Vân thành đại quan. Đây là đang nói cho mọi người, không cần ghen tị với y, cũng không cần tạo ra tin đồn không cần có. Tuy rằng U Châu là do đám người La Húc, Dương Nghiệp và Hoa Linh đánh hạ. Nhưng hiển nhiên, vị đại quan để trọng trấn nơi này phải là Quý Thừa Vân rồi. Kỳ thật cho dù Lưu Lăng không nói mọi người cũng không có nửa câu oán hận, các vị đang ngồi ở đây đều là đại tướng Đại Hán, là thân tín của Lưu Lăng. Mấy năm nay công lao của Quý Thừa Vân tất cả mọi người đều nhìn thấy. Mà cho tới hiện tại, trên người Quý Thừa Vân ngoại trừ cái danh lang tướng ngũ phẩm Tiên Phong doanh ra thì không còn tước vị gì.
- Định đô ở U Châu, việc này không cần bàn nữa.
Lưu Lăng dừng lại một chút nói: - Tương lai triều đình phải dời tới đây, Binh bộ từ sau khi Hà Khôn từ chức rời đi thì chức Binh bộ Thượng Thư vẫn treo ở đấy, người Hầu Thân tiến cử lại là thám tử Tây Hạ, may mắn trong viện phát hiện kịp thời, bằng không để cho gian tế Tây Hạ làm Binh bộ Thượng thư Đại Hán ta, chê cười không chê cười để ở một bên, đó là sự tình liên quan đến đại sự sinh tử tồn vong.
Nói tới đây, mọi người không khỏi nghĩ đến chuyện lần đó mật điệp Tây Hạ quy mô lớn chặt chẽ luồn vào Đại Hán, từ đó còn bắt được mấy tên mật điệp đã ẩn núp lâu năm. Sau Hầu Thân bị Lưu Lăng khiển trách quỳ không dậy nổi, tự mình bỏ đi áo mũ muốn lấy cái chết tạ tội. Một vị Đại học sĩ khác ở Phòng Quân Cơ là Chu Diên Công cũng tự xin từ chức muốn chuộc tội lớn.
Cũng may Lưu Lăng biết cách làm người của bọn họ, vả lại quả thật người kia biểu hiện ra đích thực là một nhân tài. Chu Diên Công và Hầu Thân đều là đề cử người hiền không hỏi xuất thân, cho nên Lưu Lăng cũng không có trách tội bọn họ.
Chu Diên Công và Hầu Thân cùng là rớt mất một cấp, phạt bổng lộc ba năm.
Ba năm làm không công, cũng coi như cho bọn họ nhận chút giáo huấn.
- Để cho Quý Thừa Vân tiếp nhận Binh bộ trước. Chỉ có điều, để y nhảy từ chính ngũ phẩm lên chính nhị phẩm, mấy quan văn chỉ sợ lại có việc để huyên náo rồi.
Lưu Lăng day day cái trán, có chút đau đầu nói.
La Húc cười cười nói: - Đó là chiến trướng của bọn họ.
Lời này chọc cười tất cả mọi người, bọn họ đều rất ít khi tham gia thượng triều, bởi vì rất ít khi Lưu Lăng chủ trì triều chính, nhưng mỗi lần vào triều mấy vị quan văn này đều kiếm được chuyện để cãi nhau, ầm ĩ kinh khủng. Võ tướng như bọn La Húc, gặp phải mấy vị văn nhân miệng đầy chi, hồ, giả, dã nói có sách, mách có chứng thật sự có chút e ngại, cho nên Vương gia mới để cho bọn họ nhậm chức tại địa phương, từ điểm này mà nói đây đúng là chuyện đáng mừng.
- Từ chính ngũ phẩm nhảy đến chính nhị phẩm, thoạt nhìn là có chút thái quá, nhưng nếu để cho bọn họ biết công lao của Quý tướng quân, chỉ sợ bọn họ cũng chỉ có thể sợ hãi.
Dương Nghiệp cau mày nói. Gã rất khinh thường mấy vị quan văn này, bởi vì lúc trước khi Vương gia bổ nhiệm gã làm Tiết Độ Sứ Thương Châu, nắm giữ một trăm ngàn đại quân, đám quan văn liền kịch liệt phản đối. Nói gã là hàng tướng của Chu quốc, sao có thể ủy thác trọng trách? Nắm trong tay một trăm ngàn đại quân, đó là vinh quang cùng tín nhiệm bậc nào, làm sao có thể giao cho một tên phản đồ?
Cấp cao trong quân đội đều biết chuyện Dương Nghiệp đến Đại Chu nằm vùng, các quan văn cố tình lấy chuyện này giằng co. Những năm kia Dương Nghiệp ăn bao nhiêu khổ, lo lắng hãi hùng hằng ngày gần như khiến gã sụp đổ, cho nên đối với cái đám quan văn miệng lưỡi thao thao bất tuyệt gã không có chút hảo cảm nào.
- Chính nhị phẩm, ha hả.
Lưu Lăng cười cười, còn kém chút.
- Dù sao bọn họ cũng mất công ồn ào, cho ồn ào một lần về sau khỏi náo. Lại thêm cái danh nhất đẳng Hầu tước đi, cứ như vậy thôi.
Nhất đẳng Hầu tước, các vị tướng lĩnh đang ngồi đều là nhất đẳng Hầu tước.
- Đại quân đã nghỉ ngơi và chỉnh đốn một tháng, cũng đã đến lúc nên hoạt động rồi, thừa dịp Liêu quân ở Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ còn đang ốc không mang nổi mình ốc, mọi chuyện ở Liêu Đông cũng nên chấm dứt rồi.
Lưu Lăng chuyển đề tài, hắn xoay người hỏi Triệu Đại: - Lý Tú kia, cùng Ô Cốt Thu có chút giao tình?
Triệu Đại gật đầu nói: - Việc kinh thương ở Liêu Đông, đều nhờ biện pháp của Lý Tú. Ô Cốt Thu muốn gom góp quân phí, nóng lòng xuất thủ nhiều hàng hóa, ngoại trừ Lý Tú người khác cũng nuốt không nổi. Cho nên, hai người bọn họ có chút quen thuộc. Thành lập ở trên lợi ích giao tình, ngược lại khá tin cậy.
Lưu Lăng cười cười: - Nếu Ô Cốt Thu tin tưởng Lý Tú, để cho y đi một chuyến tới Liêu Đông đi. Các ngươi... Ai muốn chạy một vòng tới Bạch Sơn Hắc Thủy (Trường Bạch Sơn và Hắc Long Giang)?
Hắn cười đặt câu hỏi.
Chương 604.1: Người chết đói.
Sắp xếp xong xuôi mọi việc ở Liêu Đông, cuối cùng xác định xong để cho hai người La Húc và Dương Nghiệp đi bình định Liêu Đông. Lần này xuất binh đi Liêu Đông, La Húc huy động nhân mã bản bộ, sau khi tấn công U Châu quân Ký Châu còn được chín doanh biên chế hoàn chỉnh, Lưu Lăng lại lấy ba nghìn nhân mã từ Thần Cơ Doanh cho y, đại quân chuẩn bị mười ngày sau rời khỏi U Châu, dùng thân tín của Quý Thừa Vân dẫn đường tới Liêu Đông.
Cùng xuất phát với quân Thương Châu và Ký Châu, còn có Thủy sư của Chiêu Tiên.
Nếu tính cả Thủy sư vào mà nói…, lần này đại quân chinh phạt Liêu Đông có tổng cộng hai mươi lăm vạn nhân mã.
So với năm đó Đại Tùy chinh phạt Liêu Đông, số lượng binh mã ít hơn rất nhiều. Tuy nhiên, Liêu Đông lúc này không thể so cùng với Liêu Đông của thời Đại Tùy, lãnh thổ Cao Cú Lệ đã bị ngâm nước hơn phân nửa, người Khiết Đan cùng người Mạt Hạt và người Thất Vi đánh nhau đến náo nhiệt. Liêu Dương phủ biến thành một tòa thành trống không, lực cản của quân Hán cũng không lớn.
Hơn nữa, trang bị của quân Hán đã đạt tới trình độ hoàn mĩ, cũng không phải phủ binh Đại Tùy có thể so sánh cùng. Một năm qua Thần Cơ Doanh chế ra được ba mươi ổ hỏa pháo đều được đem ra sử dụng, có hỏa pháo, cửa thành Liêu Đông không ngăn được bước chân của quân Hán.
An bài thỏa đáng việc ở Liêu Đông, tầm mắt Lưu Lăng hướng về thành Thiên Nga, Vương Bán Cân cùng đại quân hai trăm ngàn người đã chờ xuất phát, chỉ cần Lưu Lăng ra lệnh một tiếng sẽ tấn công Thiên Nga thành. Đại quân của Ngôi Danh Nẵng Tiêu đã phá được Đại Đồng phủ, bại binh của Khiết Đan một đường lui theo hướng Đông Bắc, U Châu đã bị quân Hán phá được, người Khiết Đan chỉ có thể tiếp tục lui về hướng Đông Bắc của Thượng Kinh Lâm Hoàng Phủ, Ngôi Danh Nẵng Tiêu để lại hai vạn binh mã trấn thủ Đại Đồng, tự mình dẫn đầu gần ba trăm ngàn đại quân tấn công Thượng Kinh Liêu quốc.
Một trận chiến ở Đại Đồng, Ngôi Danh Nẵng Tiêu tiêu diệt hơn mười vạn quân Liêu, mà binh lực Tây Hạ cũng tổn thất hơn mười vạn người. Bởi vậy có thể thấy được trận chiến để Tây Hạ phá được Đại Đồng phủ thảm thiết ra sao.
Liêu quân ở tuyến Tây hoàn toàn tan tác, bại binh dưới sự dẫn đầu của đám người Hỏa Kiêu Linh Hồ và Tốc Ca, một bên ngăn chặn đại quân Đảng Hạng, một bên lui về hướng Thượng Kinh.
Mà lúc này Lâm Hoàng Phủ Thượng Kinh của Liêu quốc cũng loạn thành một đoàn, Thiết Mộc Cầu Ca dẫn đầu năm vạn người sau khi tranh đoạt di thể Da Luật Hùng Cơ gấp gáp rút lui về phương Bắc, một đường xông qua vài vòng vây ngăn trở của Kim Trướng tướng quân của Khiết Đan, năm vạn người thời điểm tiến vào Thượng Kinh chỉ còn lại hơn hai vạn người, lại cùng đại quân của Da Luật Sở Tài lui về từ U Châu huyết chiến ba trận, còn không tới một vạn người, rốt cuộc vào trong Lâm Hoàng Phủ, yết kiến Tiêu Hoàng hậu.
Tiêu Hoàng hậu nhờ Hàn Tri Cổ, đám người Thiết Mộc Cầu Ca ủng hộ Tam Hoàng tử khi ấy mới bốn tuổi lên ngôi Hoàng đế.
Tiêu Thái hậu phái người bao vây đại quân của Da Luật Sở Tài ở Thượng Kinh, hạ chỉ cho da Luật Sở Tài vào yết kiến tân đế. Da Luật Sở Tài gặp Tam Hoàng tử đã đăng cơ, quân trong thành coi giữ trận địa sẵn sàng đón quân địch, tự biết đã không có cơ hội tự lập. Hơn nữa sau khi bản thân bị trọng thương, hùng tâm tráng chí của Da Luật Sở Tài cũng phai nhạt đi rất nhiều, sau khi nhận được ý chỉ của Tiêu Thái hậu, tự trói hai cánh tay đi vào thành, hạ lệnh bảy vạn đại quân dưới trướng nguyện trung thành với tân đế.
Sau khi Da Luật Sở Tài vào thành, Tiêu thái hậu vì thu nạp quân tâm không có đem trị tội. Ngược lại phong cho y làm Triệu Vương, vẫn tiếp tục dẫn đầu binh mã bản bộ. Tiêu Thái hậu lệnh cho Da Luật Sở Tài dẫn dắt đại quân trú đóng ở ngoại thành Thượng Kinh, mà phòng hộ bên trong kinh thành thì giao hoàn toàn cho Thiết Mộc Cầu Ca.
Tiêu Thái hậu phong Thiết Mộc Cầu Ca làm Trấn quốc Đại tướng quân, Uy Viễn hầu, tổng thống lĩnh binh mã bên trong thành Thượng Kinh.
Phong cho Hàn Tri Cổ làm Tể tướng, quản sự mọi chuyện bên trong bên ngoài đất nước, phong Quận Vương.
Mấy ngày sau, Kim Trướng Tướng quân của các lộ quân trở về tề tụ, sau khi thương nghị liền để cử Thiết Thác lên làm Đô bột cực liệt, dâng thư yêu cầu Tiêu Thái hậu cho Bột cực liệt của Bát bộ nghị chính, việc hệ trọng phải cùng Bát bộ Bột cực liệt thương nghị và cùng giải quyết. Tiêu Thái hậu có thể đại diện cho bộ phận Da Luật thị tham kiến hội nghị của Bát bộ, nhưng nhất định phải giao ra hung thủ Thiết Mộc Cầu Ca mưu hại Da Luật Hùng Cơ bệ hạ và Thái tử Da Luật Đức Quang. Mở cửa thành Thượng Kinh, nghênh đón đại quân của Kim Trướng tướng quân vào thành.
Tiêu Thái hậu tự nhiên không đồng ý, phái sứ giả đến trong quân Thiết Thác, lệnh cho Thiết Thác và các Kim Trướng Tướng quân vào thành bái kiến tân đế, giao ra binh quyền.
Điều này đám người Thiết Thác tự nhiên cũng không đáp ứng, song phương giương cung bạt kiếm, đại chiến dường như hết sức căng thẳng.
Đại quân của Ngôi Danh Nẵng Tiêu theo sát bại binh Đại Đồng Khiết Đan, vượt qua U Châu, tiến thẳng về Thượng Kinh. Dọc đường đi, bại binh Đại Đồng Khiết Đan liên tục đại chiến cùng người Đảng Hạng, tuy rằng ngăn trở được bước chân của người Tây Hạ tiến lên phía Bắc, nhưng Đại tướng Tốc Ca, Đại tướng Đề Á Qua chết trận. Hỏa Kiêu Linh Hồ cùng Da Luật Phi Dương dẫn đầu tàn binh vừa đánh vừa lui, hội hợp với binh mã của Đại tướng Liêu quốc Phổ Nhĩ Nô, cùng Ngôi Danh Nẵng Tiêu đại chiến một trận sau đó lui về hướng Thượng Kinh.
Phổ Nhĩ Nô cùng Ly Yêu Na Nhan đều là những danh tướng thiếu niên, rất có uy vọng trong quân đội Liêu quốc. Sau khi Ly Yêu Na Nhan đi khỏi Tây Vực, Phổ Nhĩ Nô với phong thái tuyệt diễm kinh người nổi lên giữa một thế hệ tướng lĩnh thanh niên ở Liêu quốc. Phổ Nhĩ Nô, Hỏa Kiêu Linh Hồ cùng Da Luật Phi Dương sau khi thương nghị quyết định dẫn quân nhập vào đại quân Thiết Thác. Trong nhất thời, binh lực đại quân Thiết Thác lên tới hai trăm ngàn người, vượt xa binh lực trong Thượng Kinh. Được Tiêu Thái hậu phong làm Triệu Vương Da Luật Sở Tài chẳng những không tập trung hỏa lực ngăn chặn đại quân Thiết Thác, ngược lại dời binh mười dặm xây dựng cơ sở tạm thời, sống chết mặc bay.
Hỏa Kiêu Linh Hồ và Da Luật Phi Dương mang đại quân đến, đều là binh lính sống sót từ những trận chém giết bên trong Đại Hán đi ra, đều là quân tinh nhuệ. Sau khi cùng Đại Hán và người Đảng Hạng chém giết mười mấy lần, cho dù sống sót có là tân binh thì cũng đã trưởng thành là chiến sĩ chân chính. Mà hai vạn nhân mã của Phổ Nhĩ Nô, thì vẫn chưa tham gia chiến đấu, xem như một chi quân đầy đủ sức lực. Thiết Thác không duyên cớ được hơn năm vạn nhân mã, tự nhiên là vui mừng dị thường.
Từ lời nói với Tiêu Thái hậu, cũng thấy được Thiết Thác ngày càng ngang ngược và kiêu ngạo.
Gã tự tay viết một phong thư cho Tiêu Thái hậu, hạn định thời gian mở ra cửa thành Thượng Kinh, nếu không khi hai trăm ngàn đại quân tiến vào Thượng Kinh, những kẻ chống cự đều bị quy là mưu nghịch mà xử lý.
Chương 604.2: Người chết đói.
Tiêu Thái hậu tự mình đi lên đầu thành ủng hộ sĩ khí binh lính, Thiết Mộc Cầu Ca yêu cầu đại quân làm tốt công tác chuẩn bị giữ thành.
Nhưng ai biết sau đó lại có những thay đổi bất ngờ, đám người Hỏa Kiêu Linh Hồ ở trong Thiết Thác quân đến ngày thứ mười, bữa tiệc tối đêm đó, Da Luật Phi Dương bỗng nổi lên dùng dao chém Thiết Thác, trong người Hỏa Kiêu Linh Hồ và Phổ Nhĩ Nô cũng giấu những lưỡi dao sắc bén, đâm chết hai vị Kim Trướng tướng quân khác. Đồng đảng Thiết Thác bao gồm năm Kim Trướng tướng quân thì trong đó còn dư lại hai người chật vật chạy ra khỏi lều lớn, đám người Hỏa Kiêu Linh Hồ đã an bài tốt cho thân binh đi đốt lều lớn của Thiết Thác, chém ngã đại kỳ Đô bột cực liệt mà Thiết Thác vừa mới dựng lên.
Liêu quân bên ngoài thành Thượng Kinh đại loạn, đám người Hỏa Kiêu Linh Hồ nhân cơ hội xông tới đại doanh Liêu quân, chém đầu hai gã Kim Trướng tướng quân khác. Sau đó phái binh đi thu thập tàn binh, kêu gọi đám binh lính nguyện trung thành với tân Đế.
Ngày kế, Tiêu thái hậu tự mình dẫn đầu đám quan viên ra khỏi thành nghênh đón ba người Hỏa Kiêu Linh Hồ, Da Luật Sở Tài biết đại thế đã mất, lại vào trong thành thỉnh tội. Chỉ có điều lần này, Tiêu Thái hậu cho gã cũng không phải quan to lộc hậu, mà là đao phủ dưới trướng mai phục.
Tiêu Thái hậu quyết đoán chém giết Da Luật Sở Tài, phái Thiết Mộc Cầu Ca và Da Luật Phi Dương dẫn theo năm nghìn quân tinh nhuệ xông vào đại doanh của Da Luật sở Tài. Thời điểm tuyên đọc thánh chỉ, Da Luật Phi Dương đột nhiên làm khó dễ, chém giết tại chỗ hơn mười người thân tín của Da Luật Sở Tài, lập tức hàng phục đại quân.
Đến lúc này, nguy hiểm của Thượng Kinh đã được hóa giải.
Tiêu Thái hậu để bốn người Thiết Mộc Cầu Ca, Da Luật Phi Dương, Hỏa Kiêu Linh Hồ, Phổ Nhĩ Nô đều là Thượng Trụ Quốc, Trấn quân Đại tướng quân, hầu tước nhất đẳng. Bốn người cùng chưởng quản hai mươi lăm vạn đại quân Khiết Đan tập trung ở phụ cận Thượng Kinh, phân thành bốn đường, bảo vệ chặt chẽ cho Thượng Kinh Đại Liêu.
Tuy rằng thoạt nhìn bốn người quan tước bằng nhau, Tiêu Thái hậu nhờ cậy cũng như nhau, nhưng hiển nhiên đối với Da Luật Phi Dương xuất hiện làm phản lại hoàng tộc Da Luật thị lại càng thêm coi trọng, binh mã nội thành đều giao cho Da Luật Phi Dương quản lý. Ba người Thiết Mộc Cầu Ca đi cố thủ ngoại thành, ba người ba góc phối hợp tác chiến lẫn nhau.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu biết, nếu muốn công diệt Liêu quốc thì một cuộc chiến dịch khó có thể tiêu diệt hết hai mươi lăm vạn người ở ngoại thành Thượng Kinh. Nếu có thể đánh bại hai mươi lăm vạn quân chủ lực Khiết Đan, Liêu quốc chắc chắn lật úp. Vốn gã án binh bất động là chờ người Khiết Đan tự đánh giết lẫn nhau, gã biết mấy vị Kim Trướng tướng quân đều muốn giành cho Thiết Thác vị trí cao nhất kia, ức hiếp Tiêu Thái hậu mẹ góa con côi, vì hoàng quyền, người Khiết Đan tất nhiên sẽ nội đấu.
Nhưng gã thật không ngờ người Khiết Đan nội đấu lại kết thúc nhanh như vậy, đám người Hỏa Kiêu Linh Hồ đầu nhập vào Thiết Thác lại giết Thiết Thác, Tiêu Thái hậu quyết đoán tru sát Da Luật Sở Tài, không ngờ trong thời gian ngắn như vậy người Khiết Đan lại ngưng kết bền chắc như thép. Đối với người Đảng Hạng mà nói, đây tuyệt đối không phải một tin tức tốt. Ngôi Danh Nẵng Tiêu mang đến bốn trăm ngàn quân Đảng Hạng tinh nhuệ, ngoại trừ đóng giữ ven đường chiếm lĩnh thành trì ở ngoài, binh lực gã mang theo bên người còn không nhiều bằng binh lính Khiết Đan. Hơn nữa binh lính kiệt sức, từ thành Thiên Nga thế như chẻ tre tiến đánh ngàn dặm vào bên trong Liêu quốc, đã là nỏ mạnh hết đà.
Nhưng gã không có cách nào lui binh, nếu như đại quân tùy tiện lui về phía sau, chỉ sợ người Khiết Đan như dã lang ngửi thấy mùi máu sẽ nhào lên cắn xé. Đại quân Tây Hạ đã xâm nhập cảnh nội Liêu quốc, bất kể là tiến lên trước hay lui về sau, nói dễ hơn làm.
Mùa thu năm trước đúng thời điểm dê bò ngựa béo lên, rất nhiều mật điệp người Hán lẻn vào phóng hỏa khắp nơi trong Liêu quốc. Mùa đông tro tàn khắp nơi, hơn nữa tuyết trên mặt đất phải dày chừng một thước, bất kể người Khiết Đan hay người Đảng Hạng, kỳ thật lương thực đều đã báo nguy rồi.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu đâm lao phải theo lao, nếu đại quân của gã quay trở về Đại Đồng, ít nhất cũng phải mất một tháng, nhưng người Khiết Đan tuyệt đối sẽ không trơ mắt nhìn bọn họ bỏ chạy, cho dù người Khiết Đan không đuổi giết lương thảo trong quân cũng không đủ duy trì một tháng, thậm chí ngay cả mười ngày cũng không đủ.
Gã vốn tưởng rằng có thể dễ dàng đánh hạ Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ, gã vốn tưởng rằng đi lên Thượng Kinh thì sẽ có lương thực.
Gã thực không có dự liệu được, người Khiết Đan cũng đang theo dõi đại doanh của gã, cũng chỉ vì cái ăn trong thời điểm này thiếu thốn quá thôi.
Ba tháng trời đông giá rét, hai trận tuyết lớn đổ xuống, vì trận lửa lớn cháy lan khắp đồng cỏ, dân du mục của tộc Khiết Đan đã sớm giết trâu giết dê rồi, chờ đến tháng giêng, thậm chí cả dê bò bọn họ cũng không có mà giết nữa, nhìn xác dê bò vì chết đói mà đông cứng lại bọn họ khóc không ra nước mắt. Đương nhiên xác chết dê bò cũng có thể ăn, nhưng làm sao có thể ăn trong mấy tháng. Thời tiết đã ấm dần lên, dạ dày dê bò chết có lẽ chính là ngọn nguồn cho một trận ôn dịch lớn.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu bất đắc dĩ, viết một phong thư cho Hán Vương Lưu Lăng, ý muốn cho Lưu Lăng xuất binh từ U Châu phối hợp tác chiến cùng đại quân Tây Hạ, tốt nhất có thể đem theo lương thực đủ cho hai trăm ngàn đại quân ăn một tháng.
Ấn mỗi người một ngày một cân mà tính, hai trăm ngàn đại quân một ngày tiêu hao hết hai mươi vạn cân lương thực, số lương thực này còn chưa bao gồm năm sáu vạn phụ binh, dân phu, chưa kể mấy chục vạn con chiến mã.
Cùng ngày thư tín được đưa đi, người Tây Hạ đã bắt đầu giết ngựa rồi. Nếu đại quân Lưu Lăng vận chuyển lương thực đến chậm, chỉ sợ người Tây Hạ gặp đại nạn lớn rồi.
Kỳ thật, đây cũng là lựa chọn bất đắc dĩ của Ngôi Danh Nẵng Tiêu, vận chuyển lương thảo từ thành Thiên Nga tới Thượng Kinh, hơn một ngàn dặm đường, con số chi tiêu dọc đường không biết bao nhiêu mà kể.
Hơn nữa, đường vận chuyển lương thực đã bị chặt đứt.
- Ngô đệ, vi huynh đã suất đại quân vây khốn Thượng Kinh, ít ngày nữa có thể vây diệt Liêu quốc. Liêu quân nghèo rớt mùng tơi, đã khó có thể chống cự hùng binh Đại Hạ ta, ta chắc chắn trong vòng nửa tháng sẽ bắt giữ được Liêu ấu đế, Tiêu Thái hậu. Trước đó, ta muốn mời hiền đệ mang quân cùng đến, cùng đánh hạ Lâm Hoàng, cùng làm nên nghiệp lớn.
Lưu Lăng xem xong mấy câu cuối cùng trên thư, cuối cùng không nhịn được bật cười.
- Liêu quân cạn lương thực?
Hắn đứng lên đem thư đưa cho Hoa Linh: - Ta thấy nghĩa huynh chắc đã bắt đầu giết ngựa lấy thịt rồi. Dường như Thiên Nga thành bị Vương lão tướng quân vây như thùng sắt, một hạt lương thực cũng không đưa ra được. Mấy vạn quân tinh nhuệ Khiết Đan của Hoa Tịch Xích chết đói tại Đại Thanh Sơn, lần này, chỉ sợ dưới thành Lâm Hoàng Phủ khắp nơi đều là xác chết đói đi.
Không thích hợp.
Đại Hán Đại Trị năm thứ hai, đầu tháng ba.
Lưu Lăng dẫn đầu sáu vạn tinh nhuệ rời khỏi U Châu, một đường chậm rãi tới Thượng Kinh Lâm Hoàng Phủ của Liêu quốc. Sau khi ra đến phía Bắc Trường Thành đã thấy mấy chỗ cảnh tượng vô cùng thê thảm. Đại hỏa năm trước đã khiến thảo nguyên mất đi sức sống, hai trận tuyết lớn sau khi bắt đầu mùa đông càng như xát muối vào vết thương nơi này.
Lưu Lăng biết sách lược của hắn đối phó với người Khiết Đan có chút hơi độc ác quá, nhưng nếu không làm như vậy, đế quốc Đại Liêu hùng mạnh như thế không thể nói suy bại là có thể suy bại nhanh như vậy. Nếu người Khiết Đan không chết nhiều như vậy, sau khi đông sơn tái khởi sẽ càng thêm uy hiếp.
Nếu chỉ là khiến Liêu quốc diệt vong, mà không phải khiến bộ tộc Khiết Đan suy bại đi xuống, thì khi đã không còn hoàng quyền, nhân dân sẽ trở nên tán loạn điên cuồng, hoang dã, vì sống sót, vì làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, người Khiết Đan sẽ như châu chấu lướt qua phía Bắc Trường Thành, gặm trụi lủi một mảnh vùng đất phía Bắc Trung Nguyên.
Nhưng bất kể nói thế nào.
Quả thật hơi âm độc quá.
Nhìn ven đường không ngừng xuất hiện xác chết, người có, gia súc có, trong lòng Lưu Lăng cũng mơ hồ có tia áy náy. Ở mặt ngoài chỉ thấy được đó là cái xác chết, có lẽ phía sau mỗi cái xác ấy lại chứa đựng một câu chuyện thê lương, đổi con lấy cái ăn, cắt thịt cho mẹ, càng suy nghĩ, càng cảm thấy như con dao nhỏ hung hăng đâm vào trong lồng ngực, đâm ngang đâm dọc khắp nơi máu đầm đìa chảy thành sông.
Người đã chết, dê bò chết, chiến mã chết, nuôi cho mập sói đất, nuôi cho mập chó hoang, nuôi cho mập ưng trọc.
Có thể nhìn thấy loài ác điểu đang từng chút từng chút một mổ lên những thi cốt, dường như có thể nhìn thấy từng đám xương trắng lấp ló sau đám thịt nát đầm đìa máu tươi được kéo xuống. Ăn thịt người suốt mùa đông, đám sói đất chó hoang và ưng trọc nhìn thấy người cũng sẽ không còn có e ngại, mặc dù là nhân mã quân Hán, ánh mắt đám súc sinh này nhìn binh lính quân Hán cũng lóe tinh quang, thậm chí còn lộ ra ý đồ đánh giết sinh mạng tươi sống từ trong đại quân này.
Quân Hán dùng cung tiễn nói cho đám súc sinh này biết đạo lý cá lớn nuốt cá bé, chúng nó nhào đầu về phía trước, bất quá cũng chỉ cho binh lính quân Hán thêm thịt ăn thôi. Chỉ có điều, sau khi xuất quan hơn mười ngày, mỗi ngày đều có người vì không kìm được cảnh ượng thảm thiết trước mặt mà nôn mửa không ngừng. Quân y tùy quân chế ra một lượng thuốc lớn cho tất cả binh lính quân Hán, bởi vì không ai biết có phải ôn dịch đã bắt đầu lan tràn hay không.
Cảnh tượng thê thảm làm cho người ta không nỡ nhìn, những cái xương trắng kia chẳng bao lâu nữa sẽ hóa vào trong đất, thành dinh dưỡng cho một đám cỏ nuôi súc vật, tương lai thởi điểm dê bò gặm cỏ dại, có thể hay không nhai ra một miệng máu loãng.
May mắn, mùa xuân vẫn sắp tới rồi.
Mặc dù khí trời Tái Bắc lạnh khủng khiếp, nhưng đầu tháng ba, cả vùng đất đã có vài đốm màu xanh lục nhú đầu. Tro tàn mùa thu năm trước sẽ biến thành chất dinh dưỡng cho năm nay, làm cho cỏ nuôi súc vật càng trở nên tươi tốt. Đợi mùa hè đến, hẳn sẽ là cảnh tượng đồng cỏ xanh ngắt trải rộng vô bờ vô cùng xinh đẹp. Chỉ có điều, trên thảo nguyên có nước, đất đai tơi xốp, cây cỏ đang mọc, dê bò lại thiếu. Có lẽ trong vòng trăm dặm, khó có thể nhìn thấy được người đàn ông thảo nguyên quơ roi nuôi thả ngựa chăn dê.
Vì đạt được mục đích của bản thân, trực tiếp gián tiếp giết chết trên trăm vạn người, điều này chẳng nhẽ lại đúng sao, không cần cảm thấy áy náy sao?
Lưu Lăng không biết, hắn chỉ biết, tim của hắn vào cái năm huynh đệ của hắn giơ dao lên chém hắn đã biến thành một khối đá cự thạch rồi. Tảng đá kia có thời điểm hừng hực như lửa, nhưng không phải ở trên chiến trường. Chuyện liên quan đến thành bại, tảng đá kia chẳng những cứng rắn, hơn nữa còn kết lên một tầng sương lạnh.
Nếu đốt thêm vài năm nữa, chỉ sợ trên thảo nguyên ngay cả cảnh gió thổi cây lay cũng không còn nữa.
Lưu Lăng cười cười, phát hiện mình thật sự thay đổi.
Đại quân xuất quan từ Ngư Dương, đi hơn hai trăm dặm mới gặp được một bộ lạc thảo nguyên quy mô nhỏ thậm chí không thể tính là một thôn. Tất cả nhân khẩu không đến hai trăm người, đại bộ phận trong đó là đàn bà, người già và vài đứa trẻ nhỏ. Thời điểm thám báo phát hiện bộ lạc nho nhỏ kia, bên cạnh lều trướng vô cùng bẩn, vài cô gái tộc Khiết Đan đang cẩn thận đào cỏ vừa mới ló trên mặt đất, sau đó đút cho bảy tám con dê gầy trơ xương so với lều trướng còn bẩn hơn. Thời điểm các nàng nuôi nấng vẻ mặt trang nghiêm y như đi vào triều diện thánh, hoặc như nuôi con của mình.
Một bộ lạc nhỏ hơn hai trăm người, chỉ có hai con ngựa, tám con dê, một con trâu, sau khi thấy binh lính quân Hán mấy trăm cặp mắt ấy chỉ hoảng sợ bối rối, trong ánh mắt không có cả thù hận. Nhóm đàn bà con gái vừa gầy vừa đen y như bộ xương khô chui từ trong nấm mồ ra, bọn họ gắt gao đem gia sức che chở phía sau người. Không ai hoài nghi, chỉ cần có người động vào gia súc của bọn họ, các nàng sẽ giống như những con sói cái giương nanh cắn xé kẻ thù.
Chuyện này không liên quan gì đến thù hận, mà chỉ liên quan đến hy vọng sinh tồn.
Thám báo quân Hán không có tiến vào bộ lạc, nhìn đám người địa phương này từ phía xa đã khiến lòng người chua xót, sau đó quay đầu trở về. Nhìn trên sườn núi cao, mười mấy binh lính mặc khôi giáp rời khỏi, nhóm đàn bà con gái mới chậm rãi buông lỏng nắm tay, một khắc này, thậm chí có người vô lực ngã xuống mặt đất.
Chỉ có điều, tiếng nói ở cổ họng còn chưa có phát ra, vài chiến kỳ hồng sắc đón gió bay phất phới lại hiện ra ở trên triền núi xa. Không đợi người Khiết Đan phát ra tiếng kêu hoảng sợ, mấy trăm thiết kỵ trên sườn núi vồ xuống, giống như nước ao Hắc Thủy tạt xuống cây cỏ sườn núi từ trên cao, bao trùm lên những đốm xanh vừa mới nhú. Tinh kỳ phấp phới, mặt trên còn có thần long bay lượn, trong mắt người Khiết Đan nó còn là một con rồng há cái mồm to cắn nuốt tất cả đầu lâu.
Đám người bắt đầu chạy tứ tán, vẫn không quên ôm theo mấy con dê.
Các nàng cho dù không đói khát, không sợ hãi, nhưng vẫn không chạy qua được chiến mã quân Hán. Mấy trăm thiết kỵ tách ra giống như hai cánh tay hữu lực đem những người Khiết Đan còn sót hơi tàn này lượm về một chỗ.
- Đừng chạy, bọn ta sẽ không làm tổn thương các ngươi.
Có binh lính tinh thông tiếng Khiết Đan lớn tiếng la lên, vỗ bộ ngực cam đoan chính mình cũng không có ác ý.
Lưu Lăng giục ngựa lên phía trước, yên lặng nhìn dân du mục ngoan cường y nhưng những cọng cỏ nơi đây. Lúc trước hắn nhìn, thời điểm bỏ chạy thục mạng, nhìn như lộn xộn, kỳ thật dân du mục Khiết Đan vẫn luôn duy trì một loại trận hình làm cho lòng người chua xót. Người già tự giác ở lại sau cùng, cầm cây gỗ và dao găm ý đồ ngăn trở kỵ binh. Những người con gái và đứa nhỏ khỏe mạnh nhất ôm dê chạy trước tiên, không ngừng có những cô gái tay không chạy khỏi đội ngũ, chạy thẳng về nơi khác, làm như vậy có thể hấp dẫn kỵ binh đuổi theo các nàng.
Thám báo quân Hán lấy từ trong ngực ra một mảnh giấy dầu bao, mở ra, mùi thơm theo từng cơn gió xuân mát lạnh truyền vào lỗ mũi mỗi người Khiết Đan. Đó là một khối thịt bò kho lớn, suốt ba tháng các nàng chưa được thấy thứ này rồi.
Đem thịt bò nhét vào trong ngực đứa bé nhất, thám báo quân Hán cười nói: - Ta chỉ là muốn hỏi một chút, nơi này còn cách Lâm Hoàng Phủ xa lắm không?
Đứa nhỏ chảy nước miếng, nhìn chằm chằm mỹ thực ở trong tay, không ngăn cẳn nổi sức hấp dẫn của thịt bò kho, nó cúi đầu cắn xé như điên miếng thịt bò cứng nhắc. Một người phụ nữ trong tộc Khiết Đan xông ra, đoạt lấy thịt bò vứt lên mặt đất, đem đứa nhỏ gắt gao ôm vào trong ngực khàn khàn cổ họng hô: - Mời ngươi rời khỏi! Không nên thương tổn con của chúng ta!
Nàng nói rất đúng chúng ta, không phải ta.
Binh lính quân Hán vẫn duy trì giọng điệu hết sức ôn hòa, đem hoành đao bỏ về phía sau ra hiệu chính mình không có chút ác ý nào. Những nữ nhân Khiết Đan dơ bẩn này lại lộ ra cỗ tình thương mẫu tử thần thánh, tay nắm chặt quay mấy đứa nhỏ vào giữa. Trên mặt các nàng là sợ hãi không thể che giấu, nhưng cũng toát lên sự kiên cường không dễ khuất phục.
- Từ nơi này chạy về phía Đông Bắc, nếu là ngựa các ngươi chạy thì khoảng bảy tám ngày là có thể trông thấy tường thành Lâm Hoàng Phủ, ta van cầu các ngươi, khẩn trương rời khỏi nơi này đi.
Một lão phụ nhân tóc trắng xóa phủ phục dưới chân thám báo quân Hán, hôn hít lên đôi giày lấm bẩn của binh lính người Hán.
Lưu Lăng mang người rời khỏi thôn xóm nhỏ kia, ngoài trừ khối thịt bò kho rơi trên mặt đất cái gì cũng không lưu lại. Cũng không phải Lưu Lăng tàn nhẫn không có tâm thông cảm, lưu lại mấy trăm cân lương thực có thể giúp dân du mục vượt qua mùa xuân thời kì giáp hạt (dễ gây đói kém) kỳ thật không coi vào đâu, nhưng Lưu Lăng không có ý định làm như vậy, cũng không ai biết quân Hán có thể theo dự tính thuận lợi hay không, lưu cho người Khiết Đan mấy trăm cân lương thực, có lẽ thời khắc cuối cùng cũng là lương thực cứu mạng binh lính quân Hán.
Đây không phải một lựa chọn tàn nhẫn, cũng không làm ảnh hưởng tới tâm trạng Lưu Lăng.
Hắn nhìn ra, đám dân du mục kia đáng thương, cũng không thể quan trọng bằng binh lính dưới trướng của mình. Hắn không phải người lương thiện, không phải vĩ nhân, có thể nói hắn thậm chí rất hẹp hòi, rất đê tiện. Bởi vì, nếu nhìn thấy nạn dân ở nơi khác, ở Hà Bắc, ở Giang Nam, lựa chọn của Lưu Lăng vẫn là không giống như hôm nay.
Theo như lời lão phụ nhân kia, nếu ngựa chạy mau, chỉ bảy tám ngày là tới Lâm Hoàng Phủ.
Lần này Lưu Lăng mang tới sáu vạn quân tinh nhuệ, tuy rằng không phải tất cả là kỵ binh, nhưng mỗi người đều có ngựa. Như trọng kỵ Tu La, trọng giáp Cuồng Đồ tinh nhuệ, mỗi người thậm chí có ba con ngựa. Nhưng đại quân tiến lên không phải một mình cưỡi ngựa chạy như điên, cho nên dựa theo phỏng đoán, ít thì mười hai ngày nhiều thì nửa tháng nữa mới có thể tới Thượng Kinh Liêu quốc. Cho nên, Lưu Lăng không hề có cảm giác tàn nhẫn khi không để lại lương thực, từ U Châu tới Thượng Kinh phải đi mất hai tháng, lương thảo cho dù đủ cũng phải tính kế dùng cẩn thận, bởi vì không ai biết được trên thảo nguyên mờ mịt này sẽ có nguy hiểm gì.
Sáu vạn đại quân, một vạn phụ binh, hơn một ngàn chiếc xe ngựa, còn có hơn bảy vạn ngựa thồ chở lương thực, là ba tháng tiếp tế cho bảy vạn người.
Cứ như vậy, lại đi mười ngày. Lưu Lăng hạ lệnh đại quân đóng quân, sau đó phái Từ Tuyên dẫn theo một tiểu kỳ kỵ binh về phía trước dò đường. Thảo nguyên mờ mịt, thoạt nhìn đều giống nhau, mặc dù có dẫn đường, ven đường gặp người Khiết Đan còn sống có thể hỏi đường, nhưng Lưu Lăng cũng không muốn xuất hiện chuyện mấy vạn đại quân lạc đường rồi dồn nhau vào tử lộ. Đây là lần đầu tiên quân Hán bước chân vào thảo nguyên, Lưu Lăng không muốn xuất hiện bất cứ chuyện gì ngoài ý muốn. Đây là lần đầu tiên quân Hán xuất quan chiến đấu, về sau, có lẽ sẽ bởi vì lần xuất quan này, người Hán sẽ có lòng tin tuyệt đối mỗi khi xuất quan.
Đại quân hạ trại và nghỉ ngơi tại chỗ và chỉnh đốn, bốn ngày sau, thám báo Từ Tuyên phái ra phong trần mệt mỏi về tới đại doanh.
Lâm Hoàng Phủ không còn xa nữa, đi về phía Đông Bắc hai trăm dặm nữa là Thượng Kinh Đại Liêu. Từ Tuyên tướng quân nhìn thấy cờ sói Khiết Đan tung bay trên tường thành mới phái người quay về, chỉ có điều, Lâm Hoàng Phủ có chút không đúng.
Bi thương
Phủ Lâm Hoàng thật sự có điều gì đó không ổn, rất không ổn.
Từ lúc mất liên lạc với Tiểu Triều vào đầu tháng ba, Lưu Lăng đã dự cảm được phủ Lâm Hoàng nhất định đã xảy ra chuyện lớn gì đó, vì vậy Lưu Lăng mới đẩy sớm ngày xuất binh lên. Dưới tình hình không nhận được thông tin chính xác của Triều Cầu Ca xuất binh Thượng Kinh phủ Lâm Hoàng, vốn là một chuyện vô cùng nguy hiểm.
Thám báo của Đại Hán đem theo không nhiều lương thảo, vì vậy xa nhất cũng chỉ xuất binh ra bắc Trường thành trăm dặm là không thể tiếp tục vào sâu hơn được. Viện Giám Sát đã từng phái người vào sâu trong thảo nguyên nhưng tiếp tế không kịp mà người của Viện Giám Sát cũng không phải là vạn năng nên đành phải quay về. Tin tức của phủ Lâm Hoàng bị gián đoạn, vì lo lắng có biến nên Lưu Lăng đành phải đẩy sớm ngày xuất binh lên.
Lưu Lăng lo lắng phần nhiều hơn là vì Tiểu Triều. Hắn không muốn thuộc hạ trung thành, tận tụy của mình lại xảy ra vấn đề gì.
Sáu vạn đại quân đóng quân ở nơi cách phủ Lâm Hoàng chưa đầy hai trăm dặm. Khoái mã một ngày có thể đến được nhưng không biết tại sao trong lòng Lưu Lăng lại có dự cảm không lành như vậy.
Không vội vàng đi về phủ Lâm Hoàng, Lưu Lăng phân chia bảy vạn nhân mã thành ba đội, tính cả binh sĩ trợ giúp trong đó. Đội thứ nhất, một vạn tinh kỵ hắn đích thân suất lĩnh đến phủ Lâm Hoàng. Đội thứ hai bốn vạn chủ lực, do Hoa Linh dẫn đầu. Đội thứ ba là một vạn chiến binh và một vạn trợ binh, bảo vệ đội quân phía sau cùng vận chuyển đồ quân nhu và lương thảo.
Sắp xếp như vậy là sợ có nguy cơ gì đó xảy ra.
Tin tức mà thám báo báo cáo về khiến người ta kinh sợ. Nỗi lo lắng trong lòng Lưu Lăng chính là từ báo cáo của thám báo.
Thám báo nói, từ xa xa nhìn lại thì phủ Lâm Hoàng là một tòa thành trống.
Cổng thành mở rộng, lang kỳ trên tường thành đã bị rách tươm, khắp nơi trên đất là những thi thể không được toàn vẹn. Có người Đảng Hạng, có người Khiết Đan. Từ Tuyên phái người đi tìm kiếm xung quanh thành trì, phát hiện bốn cửa thành của phủ Lâm Hoàng đều mở, dấu tích khốc liệt của cuộc đại chiến vẫn còn nhìn thấy rất rõ. Chỉ có điều, cảnh tượng đó giống như một trận chiến loạn xảy ra ở dưới địa ngục hơn. Không có hơi thở con người, lúc thám báo quay về, Từ Tuyên tướng quân đang tổ chức người vào thành xem sao nhưng nhìn bề ngoài, phủ Lâm Hoàng đã không có ai còn sống.
Đô thành Đại Liêu trở thành tòa thành trống, bách tính trong thành đã đi đâu hết rồi?
Hai mươi vạn đại quân Đảng Hạng, hai mươi lăm vạn chủ lực Khiết Đan đi đâu nữa rồi?
Hài cốt khắp nơi, không thể nói rằng toàn bộ sáu bảy mươi vạn dân chúng đều chết trận rồi chứ?
Lưu Lăng chia một vạn tinh kỵ làm ngũ quân: Tiền, trung, hậu, tả, hữu, lần lượt bố trí cho binh lực tiểu kỳ. Trung quân và hậu đội đều là trọng giáp kỵ binh Tu La, Lưu Lăng đặt trọng giáp Cuồng Đồ ở đội thứ ba để canh giữ lương thảo. Một tiểu kỳ ở tiền quân là hai nghìn khinh giáp kỵ binh tinh nhuệ mà Lưu Lăng chọn ra, có tốc độ ngang với lang kỵ Khiết Đan. Luận về sức chiến đấu không thuộc vào Kim Trướng quân mạnh nhất thời Đại Liêu bấy giờ.
Lưu Lăng không ở trung quân áp trận, mà trong khinh giáp kỵ binh tiểu kỳ ở tiền quân.
Nhìn con đại hắc mã oai hùng mà ngồi, trong lòng Lưu Lăng đột nhiên cảm thấy bi thương. Chinh chiến nhiều năm, đến con Hồng sư tử cũng già, đã không thể chở mình lặn lội đường xa nữa. Còn về hắc báo, Lưu Lăng để nó lại U Châu. Chiến mã mới là ‘Bác tháp ô’ to lớn, là loại nổi danh như loại ‘Đặc lặc phiêu’ của người Khiết Đan. Luận về tốc độ, thể lực thì đại hắc mã đều mạnh hơn hồng sư tử nhưng Lưu Lăng từ khi xuất binh đến giờ dường như vẫn chưa thích ứng được với nó.
Không phải là đại hắc mã không tốt, mà là Lưu Lăng lưu luyến đồ cũ.
Đối với ngựa thì như vậy, còn đối với người thì sao?
Thật ra trong lòng Lưu Lăng rất bức bách, hắn không biết Tiểu Triều có còn sống hay không? Phân tích từ báo cáo của thám báo thì phủ Lâm Hoàng chắc chắn là chiến dịch khổng lồ bị bùng phát. Chỉ có điều rất khó phân tích ra từ trong lời nói của thám báo, người Khiết Đan thắng hay là người của Ngôi Danh Nẵng Tiêu thắng, tuyệt đối không thể có cục diện hai bên cùng bại. Cuộc chiến sinh tử, chỉ e bên nào còn một nửa người sống thì cũng được coi là chiến thắng rồi. Nếu như Ngôi Danh Nẵng Tiêu thắng thì với việc tiếp tế lương thảo của hắn thì chắc chắn sẽ không rút khỏi phủ Lâm Hoàng, thậm chí hắn còn tình nguyện đợi đến đầu hè rồi quay về thành Thiên Nga khi không có tiếp tế nữa.
Nếu là người Khiết Đan thắng thì tại sao phủ Lâm Hoàng lại trống không?
Có quá nhiều nghi vấn nhưng chỉ lo lắng một điều.
Tiểu Triều… Còn sống không?
Lúc Lưu Lăng suất lĩnh tiền quân tới ngoài thành phủ Lâm Hoàng, mặc dù chinh chiến mười mấy năm, đã thấy nhiều sinh tử, thường thấy sát phạt nhưng Lưu Lăng cũng không khỏi biến đổi sắc mặt khi nhìn thấy cảnh thảm thiết đầy đất kia. Lưu Lăng đến phía cửa tây phủ Lâm Hoàng, bởi vì xuất quan đường đi không đủ chính xác nên không đến được cửa nam như dự tính.
Thoạt nhìn thì có sự khác biệt nhỏ, chỉ là chuyện giữa cửa nam và cửa tây thôi nhưng tính ra thì quân Hán ít nhất đã đi thừa ba trăm dặm đường rồi. Hiện giờ muốn tìm được tộc người Khiết Đan trên thảo nguyên để xác định đường đi thì thật sự quá khó. Người dẫn đường của đại quân cũng chỉ là dựa theo trí nhớ, trên thảo nguyên không có đường, hắn có thể đưa đại quân đến đây đã được xem như kỳ tích rồi.
Lúc một kỵ binh tiểu kỳ xuất hiện ở ngoài cổng thành, nhìn thấy đầu tiên là một màu tối đen trên mặt đất. Sau khi Lưu Lăng hạ lệnh thổi kèn lên, lôi trống ra đánh thì màn tối đen như mực kia đột nhiên bay lên biến thành đám mây đen đều có thể che kín bầu trời, xoay quanh rất lâu.
Đó là những con quạ đen không đếm xuể đang gặm thi thể trên mặt đất.
Những tiếng kêu vang vọng phía chân trời đó khiến người ta bực mình, có binh sĩ quân Hán không chịu nổi dùng cung tiễn bắn đi một cái nhưng chỉ phí công bắn lên không trung, sau đó lại rơi xuống cắm lên trên tử thi. Không có máu văng ra, nếu có thì chỉ là nước đen như mực.
Không cần đi đếm, vì căn bản là không đếm được trên đất có bao nhiêu xác chết. Từ da thịt dập nát trên xác chết đó có thể miễn cưỡng phân biệt ra được người Khiết Đan hoặc là người Đảng Hạng. Chỉ có điều nếu không đi đến gần nhìn kỹ thì không nhìn ra. Tử thi khắp nơi, thoạt nhìn đều không có gì khác nhau.
Lưu Lăng hạ lệnh cho binh sĩ châm lửa xua tan đàn chim đi. Hắn nhảy từ trên đại hắc mã xuống, cúi đầu nhìn kỹ một thi thể đặt dưới chân.
Xem qua trang phục đã rách tươm thì chắc là người Đảng Hạng, thi thể đã hư thối nặng phảng ra mùi tanh hôi nồng nặc. Trên bụng bị phá ra một lỗ lớn, tàn huyết đen thoạt nhìn làm người ta buồn nôn. Trong bụng đã trống rỗng, nội tạng cũng không biết là bị sói hoang ăn hay quạ đen ăn hết rồi, đã không nhìn ra vết thương trí mạng trên chiến trường hôm đó là ở vị trí nào nữa. Thi thể này đã rữa thối lại bị ăn không ít thịt, điều có thể làm duy nhất là suy đoán ngày chết mà thôi.
Không quá hai mươi ngày.
Lưu Lăng thầm tính toán một chút, đại chiến diễn ra trong ngày thứ mười khi hắn suất lĩnh đại quân xuất chinh. Hắn đứng dậy, chậm rãi đi lên phía trước, trên đường nhìn thì phát hiện tỉ lệ thi thể của người Khiết Đan và người Đảng Hạng tương đương nhau. So sánh thì thấy chắc là Ngôi Danh Nẵng Tiêu bại rồi.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu chết trận? Hay là bất đắc dĩ trong lúc không có lương thảo nên quay về thành Thiên Nga rồi?
Lưu Lăng đang suy tư thì một đội kỵ binh từ đằng xa lao nhanh đến, nhìn cờ hiệu thì đó là người của Từ Tuyên. Cách rất xa đội kỵ binh đã xuống ngựa, đi bộ lại phía Lưu Lăng. Khắp nơi đều có tử thi, chiến mã bay nhanh, cứ coi như ngựa tốt đến đâu thì cũng bị ngã thất điên bát đảo.
Người tới chính là Từ Tuyên, sắc mặt y rất khó coi, khó coi đến mức giống như mây đen đang bay lượn quấn quýt trên trời vậy.
Đi đến trước người Lưu Lăng, Từ Tuyên đứng trang nghiêm, ôm quyền, chào theo cách quân đội: - Thuộc hạ tham kiến Vương gia!
- Thành trống không rồi sao?
Lưu Lăng trực tiếp hỏi.
- Thành trống không rồi ạ!
Từ Tuyên cũng trả lời đơn giản vậy.
- Thuộc hạ đã phái người vào thành tìm rồi, trong thành không ai còn sống. Binh sĩ, dân chúng đều không còn ai, nhưng từ cửa bắc vẫn có thể nhìn ra dấu vết chiến loạn, chắc là có tốp nhân mã lớn rời đi. Ngoài ra… Trên cửa nam còn có một thi thể, thuộc hạ… Thuộc hạ muốn mời Vương gia qua đó xác nhận. Thuộc hạ… Thuộc hạ nghi ngờ, nghi ngờ đó là Triều Cầu Ca.
Trong lòng Lưu Lăng chấn động, sắc mặt không khỏi biến đổi.
- Thuộc hạ cũng suy đoán vậy thôi. Người đó diện mạo mơ hồ có thể nhận được. Quan viên Viện Giám Sát trong doanh của thuộc hạ không biết Triều Cầu Ca.
Từ Tuyên giải thích một câu, nhưng hiển nhiên có chút lo lắng. Nếu y đến mời Lưu Lăng đi xác nhận thì thật ra đã có vài phần nắm chắc rồi.
- Chẳng lẽ là ta đến chậm rồi sao?
Lưu Lăng lầm bầm nói, lập tức nhảy lên đại hắc mã, chậm rãi đi về phía cửa nam. Cuối cùng, sau khi rời chiến trường chính, thi thể cũng ít hơn, roi ngựa của Lưu Lăng quất lên mông đại hắc mã. Nó hí lên một tiếng rồi vung ra bốn vó chạy đi như bay.
Từ Tuyên dẫn người theo sát ở phía sau. Một vạn nhân mã mà Lưu Lăng dẫn theo cũng đi theo sau Lưu Lăng tập kết đi về hướng cửa nam.
Ngoài cửa nam phủ Lâm Hoàng, binh sĩ của Từ Tuyên đã dọn sạch thành đường đi. Binh sĩ tản ra, đề phòng ở ngoài thành. Có thể nhìn thấy có không ít quân Hán đi lại ở trên tường thành, họ đang kiểm lại dấu vết tấn công thành, từ đó phán đoán thắng bại của người Đảng Hạng và người Khiết Đan. Đây không phải là chuyện nhàm chán mà nó là căn cứ rất quan trọng đối với hành động sau này của đại quân. Lưu Lăng đi như bay thuận theo đường đó mà đến ngoài cửa nam. Cách rất xa hắn đã nhìn thấy cỗ thi thể đang treo trên cổng thành. Thi thể đang đung đưa như cờ Chiêu Hồn ở cổng địa ngục.
Thi thể đã thối rữa, hai mắt đã bị quạ đen ăn mất, sắc mặt cũng là vết thương màu đen có thể nhìn được xương cốt màu trắng.
Áo giáp trên thi thể đã bị bóc ra, có lẽ là bị người lấy đi. Trên người chỉ có quần áo bên trong, cũng sớm bị rách nát hết cả. Chỉ có hai chân trần đung đưa theo gió.
Quân Hán trên cửa thành đang tìm chốt của dây thừng ở vị trí nào để gỡ thi thể từ trên cao xuống.
Thân người của thi thể kia rất thon dài, nhìn thể trạng thì có lẽ là người rất cường tráng. Chỉ có điều là không có áo giáp nên không dễ phân biệt thân phận.
Binh sĩ quân Hán thuận theo cổng thành chầm chậm gỡ thi thể xuống. Lưu Lăng nhảy xuống đại hắc mã, buông dây cương ra, tay khẽ run.
Thân hình khá giống với thân hình của Tiểu Triều.
Lưu Lăng nhận lấy đôi găng tay da hươu mà Từ Tuyên đưa cho hắn, lật thi thể lại, mặt hướng lên trên. Xương cánh tay của thi thể đã nát như bột giống như mì bị gãy khúc. Ngón cái tay trái có một viên ngọc, ngón trỏ tay phải còn đeo nhẫn ngọc thạch. Khung xương của người này rất lớn, trên tay phải có thể nhận ra vết chai dày, đó là dấu vết thường xuyên cầm đao để lại.
Mày rậm, mặt chữ điền, xương mặt cao, hốc mắt tương đối sâu, vầng trán rộng. Có thể hình dung người này rất kiên cường. Không phải nhìn từ trán mà ra, toàn thân xương cốt của người này đều nát hết, xương trên cổ thậm chí còn lồi ra ngoài da. Chắc là sau khi chết bị người ta treo ở trên cổng thành nhưng miệng vẫn khép lại. Nói cách khác, người này chịu sự tra tấn rất lớn nhưng không một tiếng kêu la. Ở ngực cũng có một lỗ, tim đã không còn trong lồng ngực, vết thương đã thối rữa, thịt dính trên đó cũng thối rữa lở loét hết cả.
Lờ mờ có thể nhìn ra người này sinh thời có diện mạo vô cùng anh tuấn.
Mơ hồ nhìn ra hình ảnh quen thuộc. Sau khi nhìn rõ được mặt người này, trong lòng Lưu Lăng chấn động mạnh, nỗi bi thương ngất trời lan tỏa khắp người hắn.
Là hắn
Không phải Tiểu Triều.
Nhưng trong lòng Lưu Lăng lại cảm thấy đau thương vô cùng. Hắn thật sự không thể ngờ rằng, người bị treo trên cửa nam phủ Lâm Hoàng lại là người đó.
Da Luật Hùng Cơ đã chết, hiện giờ Ngôi Danh Nẵng Tiêu cũng chết rồi.
Đúng vậy! Người đàn ông cao to bị đánh gãy tứ chi, đánh gãy xương cốt toàn thân, tim phổi dập nát lại là Quốc chủ Tây Hạ Ngôi Danh Nẵng Tiêu một đời kiêu hùng.
Vì vậy Lưu Lăng mới cảm thấy bi thương đến vậy, thậm chí còn thương cảm. Đây không phải là giả vờ giả vịt mèo khóc chuột, cũng không phải là tiếc nuối, có lẽ cũng không phải vì hai người họ là huynh đệ kết nghĩa. Có lẽ chỉ đơn giản là nỗi thương cảm đối với một kẻ mạnh có kết cục đau thương đến vậy. Không còn nghi ngờ gì khi ba người đứng ở vị trí cao nhất thiên hạ là Da Luật Hùng Cơ, Ngôi Danh Nẵng Tiêu và Lưu Lăng, nhưng trong một năm ngắn ngủi thì Da Luật Hùng Cơ chết và Ngôi Danh Nẵng Tiêu cũng đã chết.
Da Luật Hùng Cơ bị đầu độc chết, thổ huyết rất nhiều.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu bị đánh chết, gân cốt đứt gãy hết cả.
Cái chết của hai người họ đều có liên quan trực tiếp đến Lưu Lăng. Cứ coi như Da Luật Đức Quang không thêm hạc đỉnh hồng thì Da Luật Hùng Cơ trúng thuốc độc của Ngũ Xử Viện Giám Sát mật chế cũng khó lòng thoát chết. Vì thế nói, Lưu Lăng là hung thủ trực tiếp gây nên cái chết của Da Luật Hùng Cơ cũng không có gì là quá. Còn Ngôi Danh Nẵng Tiêu chết là do bị Lưu Lăng ép chết.
Y không có lương thực.
Nhìn thi thể của Ngôi Danh Nẵng Tiêu, thật ra Lưu Lăng biết tại sao y lại chết thê thảm trong phủ Lâm Hoàng, bị treo trên cổng thành như cờ Chiêu Hồn vậy.
Y không có lương thực nên buộc phải tấn công phủ Lâm Hoàng, tất cả hy vọng đều đặt vào việc trong phủ Lâm Hoàng Thượng Kinh của Liêu quốc có đủ lương thực tồn, đủ để đại quân ăn no một trận. Y buộc phải tấn công, kể cả là binh ít, kể cả là binh sĩ không có sức nhấc nổi cây thang, kể cả trọng lượng loan đao nặng đến mức nào, kể cả lưng eo khom còng đi, kể cả… Mọi người đã không còn ý chí chiến đấu nữa.
Đây đã không còn là tấn công để xâm lược nữa mà đó là tấn công để sinh tồn.
Lương thực của người Khiết Đan chắc chắn nhiều hơn trong quân của Ngôi Danh Nẵng Tiêu.
Nhưng người Khiết Đan lại đường đường chính chính tấn công Ngôi Danh Nẵng Tiêu.
Lưu Lăng có thể từ chiến trường mà nhìn ra rất nhiều thứ, vì vậy nguyên nhân cái chết của Ngôi Danh Nẵng Tiêu cũng dần dần được rõ ràng hơn. Người Khiết Đan để hở một lỗ hổng để người Đảng Hạng đói đến mờ mắt xông vào cổng thành. Thậm chí người Khiết Đan còn mở cổng thành để cho người của Ngôi Danh Nẵng Tiêu vào trong, sau đó bắt đầu tàn sát. Bất luận là người Khiết Đan hay người Đảng Hạng thì đều coi trận chiến này là trận tử chiến, vì vậy họ đều có chuẩn bị sẵn về tâm lý rồi.
Nhìn từ bên ngoài thì thi thể của người Đảng Hạng và người Khiết Đan cơ bản tương đương nhau nhưng đến dưới ngoài thành mới phát hiện ra, thi thể nằm trên đất gần như là binh Tây Hạ với bụng đói quắt. Mức độ mũi tên lông vũ dày đặc khiến người ta không nói nên lời, dưới tường thành dường như mọc ra cỏ cây rậm rạp, mũi tên trắng đã phủ đầy đất. Chiến đấu dưới tường thành, binh Tây Hạ đã bị vây khốn, người Khiết Đan từ trên tường thành áp chế xuống tấn công, sau đó phái kỵ binh ngăn chặn đường lui của binh Tây Hạ. Lang kỵ Khiết Đan trong thành cũng bổ nhào đến ép chết quân đội của người Đảng Hạng dưới tường thành.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu chắc chắn là xông vào trong cổng thành rồi.
Trong đầu Lưu Lăng tưởng tượng ra cảnh tượng lúc đó.
Người Khiết Đan đào một cái bẫy thật lớn!
Ngôi Danh Nẵng Tiêu dùng việc cướp lương thực để khích lệ ý chí chiến đấu của binh lính, nói cho binh lính, quân Hán đã sắp đến, Hán Vương Lưu Lăng mang theo lượng lớn lương thảo để tiếp tế. Nhưng chiến sĩ Đại Hạ không muốn phụ thuộc, trong phủ Lâm Hoàng có lương thực chất đống như núi, có dê bò thành đàn, chỉ cần đánh được phủ Lâm Hoàng là có thể có được lương thực. Không được để người Hán coi thường, không được để người Khiết Đan coi thường, phải để kẻ địch biết được đao trong tay dũng sĩ Đại Hạ vẫn sắc bén, vẫn có thể giết người!
Trước trận chiến y đã động viên binh sĩ trong thời gian rất dài, sau đó suất lĩnh đội quân xông lên trước.
Binh Tây Hạ bụng đói cồn cào đi theo sau Hoàng đế bệ hạ, ‘bóc lột’ chút sức lực và thể lực cuối cùng của mình. Lúc họ xông về phía trước có lẽ nhìn thấy tường thành phủ Lâm Hoàng giống như chiếc bánh nướng lớn nóng hổi, hoặc giống chiếc đùi dê chảy mỡ vàng ươm chăng? Đây không phải là truyện cười, nếu như phải thì cũng là truyện cười thật tàn nhẫn. Lần đầu tiên binh Tây Hạ chỉ vì ăn một bữa cơm mà đi chiến đấu sinh tử như vậy.
Họ đi theo sau chiến mã của Hoàng đế bệ hạ, lấy hết sức trầm mặc chạy về phía trước. Bọn họ không phải là không muốn hò hét để phô trương thanh thế hay cổ vũ khích lệ mà là họ thật sự không còn sức để hò hét nữa. Tinh giáp Tây Hạ, đội quân xung phong của bọn họ không còn nghiêm chỉnh, tản mạn giống như nạn dân. Đúng vậy! Hiện giờ họ như một nhóm nạn dân, những người vốn từng có hoài bão ý chí giờ phải rời quê hương mà đi.
Bọn họ giúp đỡ lẫn nhau, chật vật chạy về phía trước.
May mắn, ý chí chiến đấu của người Khiết Đan dường như cũng không tràn đầy!
Binh Tây Hạ chợt phát hiện, kẻ thù cũng không mạnh như trong tưởng tượng của họ. Thoạt nhìn thì nghiêm chỉnh, không ngờ quân trận của người Khiết Đan lại bị một vạn kỵ binh mà quốc chủ dẫn theo đánh ra một lỗ hổng. Đám người Khiết Đan kia dường như cũng giống bọn họ, hoàn toàn không còn sức nhấc nổi đao giết người nữa rồi. Sau khi hai bên xông trận, thoạt nhìn trận hình phòng ngự kiên cố không thể phá vỡ nhưng không ngờ lại nhanh bị tan rã vậy.
Thiết kỵ mà bệ hạ suất lĩnh đã xông vào trận hình của kẻ địch và đã giết đến dưới cổng thành rồi.
Đám binh sĩ hoan hô dường như thân thể khôi phục lại được sức lực.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu mang theo một vạn kỵ binh còn sống, lao vào phương trận người Khiết Đan tổ hợp thành như nước thủy triều. Lang kỵ Khiết Đan được xưng là “Bình nguyên dã chiến bách chiến bách thắng” lại bị đội quân mệt mỏi rã rời đánh tan. Kỵ binh hai bên hỗn loạn lao vào nhau, rất nhanh, người Khiết Đan đã bắt đầu lui quân.
Trận chém giết chưa đến nửa canh giờ thì người Khiết Đan bắt đầu tháo chạy.
Đại đội kỵ binh Khiết Đan bắt đầu quay đầu ngựa lại chạy về phía cổng thành. Vừa chạy vừa hô hào điên cuồng cho quân giữ thành trên tường thành mở cổng thành ra. Nhưng binh sĩ Khiết Đan trên tường thành lại dùng mũi tên lông vũ đuổi bắn bại binh bên mình, dường như không định tha cho bại binh kia được vào thành.
Người Khiết Đan có nội chiến.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu nhạy bén bắt được cái gì đó.
- Dính lên đi! Dính lên đi!
Y lớn tiếng la lên, dốc hết sức lực.
Nếu như người Khiết Đan thật sự có nội chiến thì trận quyết chiến hôm nay nói không chừng có thể đánh thắng. Cứ coi như không đánh được phủ Lâm Hoàng, lấy được chiến mã của người Khiết Đan thì cũng đủ ăn no một bữa rồi. Không thể đợi thêm được nữa, số may của mình đã đưa đại quân đến bờ vực này, nếu không phải mình vẫn còn ý niệm có thể tấn công Thượng Kinh Liêu quốc tiêu diệt Liêu quốc thì lúc đầu khi lương thực cạn kiệt mình nên lui binh rồi. Lúc đó, mặc dù lương thảo cũng không đủ dùng nhưng binh sĩ vừa đi vừa giết ngựa ăn, quay về thành Thiên Nga chắc không thành vấn đề.
Nhưng, cũng bởi vì người Khiết Đan nội chiến nên mình nghĩ rằng có thể mượn cơ hội một trận chiến là đánh xong toàn bộ. Đại quân của Thiết Thác đại loạn, người Khiết Đan tự giết người mình, giết và bị thương hơn vạn người. Mà Da Luật Sở Tài lúc đó vẫn ở ngoài thành nhìn chăm chú vào phủ Lâm Hoàng. Ngôi Danh Nẵng Tiêu không cho rằng Da Luật Sở Tài vẫn nhẫn nhịn mà không động đậy gì. Chỉ cần người Khiết Đan loạn lên thì chiến thắng của Ngôi Danh Nẵng Tiêu cũng coi như được bảy phần rồi.
Chỉ có điều y không hề nghĩ tới, Da Luật Sở Tài bị trọng thương lại biến thành tên ngốc, không ngờ y còn dám vào thành thỉnh tội lần hai.
Điều này lại tăng nhanh việc nội loạn Khiết Đan chấm dứt. Ngôi Danh Nẵng Tiêu biết mình không còn nhiều cơ hội nữa rồi. Y lập tức dẫn quân tấn công mạnh về phủ Lâm Hoàng. Nhưng đáng tiếc, quân quyền lúc này của người Khiết Đan đã bị đám người Thiết Mộc Cầu Ca nắm giữ trong tay. Bốn người bảo vệ phủ Lâm Hoàng như thùng sắt, binh Tây Hạ tấn công mạnh mẽ ba lần nhưng vẫn không thể mở ra hướng nào trong phòng ngự bên ngoài.
Lần quyết chiến này là quyết chiến có phần bất đắc dĩ. Ngôi Danh Nẵng Tiêu đã có ý định trước là nhất định phải thắng, sau đó thừa dịp sĩ khí binh lính tăng lên, thừa dịp lúc người Khiết Đan thu phòng ngự lại thì lập tức lui quân. Giữ những người già yếu bệnh tật ở hậu đội, kể cả chỉ có thể dẫn mấy nghìn người giết về thì cũng coi như thắng lợi rồi.
Thật ra Ngôi Danh Nẵng Tiêu đã hiểu được, đường vận chuyển lương thực bị chặn đứt là do người Hán giở trò. Ngay từ đầu mình đã nằm trong kế hoạch của Lưu Lăng.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu trước khi xông trận đã không có dã tâm diệt Liêu, chỉ muốn dựa vào thắng lợi này để làm tê liệt người Khiết Đan, sau đó cố gắng đưa những người Đảng Hạng kia về nhà.
Người Khiết Đan đã đánh nhau rồi.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu vung đao chém chết một gã kỵ binh Khiết Đan đang xông lại, lúc ngẩng đầu lên nhìn thì đột nhiên thấy bại binh Khiết Đan vây ngoài lại đang dùng cung tên tấn công lên quân giữ thành trên tường thành. Ít nhất có ba nghìn lang kỵ Khiết Đan tháo chạy về dưới tường thành, đang dùng mũi tên bắn về phía đồng bào của mình. Còn những quân giữ thành trên tường thành phát động công kích trước thì giờ lại bị lượng mũi tên dày đặc kia áp chế lại.
- Mở cổng!
- Mau mở cổng ra!
Lang kỵ Khiết Đan nhiều không kể xiết đứng tập trung ở dưới cổng thành, lớn tiếng hô để người trong thành mở cổng cho bọn họ vào.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu vui mừng phát hiện ra thắng lợi dường như rơi từ trên trời xuống.
Người Khiết Đan đã mở cổng thành nhưng không phải để cho lang kỵ ở bên ngoài vào mà là để cho hàng nghìn tinh kỵ Khiết Đan giết từ trong ra, đuổi hết đám bại binh kia quay về. Phía sau bại binh là binh Tây Hạ nhìn thấy hy vọng thắng lợi. Đội đốc chiến của người Khiết Đan đâu phải là đang đuổi bại binh mà rõ ràng là mở cổng thành đợi binh Tây Hạ vào thành. Ngôi Danh Nẵng Tiêu chỉ mã giáo về phía trước, dùng sức hét lớn:
- Giết vào trong, cướp lương thực!
- Giết vào trong, cướp lương thực!
- Cướp lương thực!
Binh Tây Hạ đã đến bước đường cùng nhìn thấy hy vọng sinh tồn nên dấy lên sức lực còn lại cuối cùng trong người. Họ vung loan đao, điên cuồng xông về phía cổng thành. Lang kỵ Khiết Đan vốn đã loạn thì đâu có thể ngăn cản được mười mấy vạn binh Tây Hạ vì ăn một bữa đến mức liều mạng kia. Đội đốc chiến ở cổng thành rất nhanh đã bị bại binh đuổi vào trong thành, họ vẫn không kịp đóng cổng thành lại thì bại binh từ phía sau đã lao vào trong như nước chảy rồi.
Đi sát phía sau bại quân Khiết Đan là người Đảng Hạng.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu chỉ huy kỵ binh cuối cùng nỗ lực xông về phía cổng thành, muốn thuận thế lấy được phủ Lâm Hoàng thì nhất định phải đứng vững được trong cổng thành đã. Hơn một vạn kỵ binh bên cạnh y là kỵ binh dũng mãnh nhất có thực lực nhất trong đại quân Đảng Hạng. Chiến mã trong toàn quân đều giết sạch rồi, hơn một vạn kỵ binh này vẫn giữ lại được chiến mã.
Tướng quân kỵ binh Thiết Lão Lang lớn tiếng hô với Ngôi Danh Nẵng Tiêu: - Bệ hạ xin hãy quay về! Thần sẽ suất quân vào thành, bệ hạ không thể mạo hiểm được!
Tiếng hô của hắn cách rất xa vẫn có thể truyền đến tai của Ngôi Danh Nẵng Tiêu. Y cảm kích nhìn Thiết Lão Lang trung thành hết mực với mình, sau đó chậm rãi lắc đầu. Y biết Thiết Lão Lang có năng lực, hơn nữa dũng mãnh hơn người, Nhưng hiện giờ, với uy vọng của Thiết Lão Lang thì không thể khống chế được đám binh sĩ đã hỗn loạn kia. Vào thành nhất định phải có một người có năng lực để trấn áp loạn binh. Thiết Lão Lang có thể trấn áp được đám người trong doanh kỵ binh, còn đám loạn binh phía sau một khi vào thành thì sẽ xông phá trận địa của doanh kỵ binh ngay.
Trong thành ít nhất còn có mấy vạn quân tinh nhuệ của người Khiết Đan. Nếu như hỗn loạn xông vào thì không mất bao lâu sẽ có thể bị người Khiết Đan áp chế hai mặt chặn chết trong thành. Vì vậy, Ngôi Danh Nẵng Tiêu quyết định mình xông vào thành để ổn định cục diện, trước tiên là khống chế khu vực, sau đó sẽ tấn công kho lương thực.
Thiết Lão Lang thấy Ngôi Danh Nẵng Tiêu tự mình mang theo thị vệ xông vào thành nên hắn lập tức đánh ngựa đuổi theo.
Nhưng chính trong lúc đó, nghịch cảnh đã xảy ra.
Đầu bên kia
Ngôi Danh Nẵng Tiêu dưới sự bảo hộ của mấy trăm thị vệ tiến vào cửa thành Lâm Hoàng phủ, vừa lớn tiếng hét đám loạn binh, vừa quan sát tình hình trong thành. Hắn trải qua mấy trăm trận chiến, cho nên lúc tiến vào thành đã rất cẩn thận, e sợ rằng người Khiết Đan đã bày ra quỷ kế gì đó. Đợi sau khi hai ngàn binh lính Tây Hạ tiến vào cửa thành, hắn mới theo sau đi vào. Sau khi vào thành cũng chỉ ở bên trong cửa thành ghìm chặt chiến mã chứ không hề tiến sâu thêm.
Có sự ước thúc của Hoàng đế bệ hạ, đám binh lính Tây Hạ vui mừng khôn xiết cũng không quá mức hỗn loạn. Dưới sự chỉ huy của Ngôi Danh Nẵng Tiêu, binh lính Tây Hạ tiến vào thành bắt đầu chuẩn bị thế trận phòng ngự, ở bên trong cửa thành hợp thành một ma trận hình vuông với ý đồ chiếm cứ từng khối địa hình, sau đó yểm hộ hàng ngũ phía sau tiến đánh vào trong thành.
Bại binh Khiết Đan sau khi lui vào cửa thành bắt đầu tán loạn khắp nơi; nhanh chóng rút chạy ngổn ngang trên mọi ngả đường. Mà Đốc chiến đội trước đó chém giết ra ngoài thành dưới sự chỉ huy của tướng lĩnh vẫn xông lên, ý đồ chém đám binh Tây Hạ chen vào. Hai bên ở cửa thành bắt đầu chém giết. Sức chiến đấu của Đốc chiến đội dũng mãnh vượt xa so với binh lính bình thường. Hơn hai ngàn binh lính Tây Hạ tiên phong ở cửa thành dần dần khó mà ngăn chặn được, chậm rãi bị Đốc chiến đội của Khiết Đan chèn ép trở về phía cửa thành.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu thấy người Khiết Đan vô cùng hung hãn phản công, lập tức điều Thân vệ đội bên cạnh mình tiến lên.
Thân vệ đội trên dưới ngàn người đều vô cùng tinh nhuệ, có bọn họ tham gia vào trận chiến, kỵ binh Khiết Đan dần dần không thể chống đỡ tiếp được nữa. Ngôi Danh Nẵng Tiêu nhân cơ hội này chỉ huy người ngựa ở ngoài thành tăng tốc tiến vào Lâm Hoàng phủ, dùng ma trận bộ binh dồn ép về phía trước.
Quân phòng thủ Khiết Đan trên tường thành cũng lao xuống đường cái, Ngôi Danh Nẵng Tiêu lại tách quân ra chiến đấu.
Trong chốc lát cửa thành đã trở thành trung tâm của trận chiến, nhân mã tinh nhuệ của song phương ở nơi đây liều mình chém giết.
Thiết Lão Lang dắt theo vài thân binh cưỡi ngựa từ ngoài cửa thành chen lấn tiến vào, lớn tiếng la lên: - Bệ hạ, trong thành nguy hiểm, mạt tướng thay bệ hạ chỉ huy, xin bệ hạ tạm thời rời khỏi thành!
Gã cứ một lần rồi một lần hô to, nhưng Ngôi Danh Nẵng Tiêu chỉ lắc đầu không đồng ý. Cuối cùng dốc hết sức bình sinh, Thiết Lão Lang rốt cục cũng chen đến bên người Ngôi Danh Nẵng Tiêu. Gã lau mồ hôi trên trán, ở trên lưng ngựa khom người nói: - Bệ hạ, tình hình trong thành không rõ, mạt tướng nghĩ đây có lẽ là quỷ kế của người Khiết Đan. Mạt tướng nguyện ý tạm thay bệ hạ chỉ huy, xin bệ hạ trước tiên hãy lui khỏi thành đi. Đợi mạt tướng sau khi suất quân vững vàng, bệ hạ lại vào thành cũng chưa muộn!
Ngôi Danh Nẵng Tiêu lại chậm rãi kiên quyết lắc đầu nói: - Thiết Lão Lang, lòng trung thành của ngươi đối với trẫm, trẫm hiểu rõ. Nhưng tình hình trong thành còn chưa rõ, với uy phong của ngươi thì không đủ để ước thúc binh lính. Nếu trận hình rối loạn mà nói, quân tinh nhuệ Khiết Đan ngay lập tức sẽ phản công nhào tới. Thật vất vả mới vào được cửa thành, trẫm không an tâm, vẫn là đích thân trẫm thống lĩnh vậy.
Thiết Lão Lang còn muốn khuyên, Ngôi Danh Nẵng Tiêu đã nói: - Nếu như ngươi lo lắng, có thể suất quân tấn công.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu chỉ chỉ đám binh lính Khiết Đan đang từ trên tường thành lao xuống, nói: - Bộ binh Khiết Đan từ trên tường thành lao xuống, chiếm cứ địa thế, người của chúng ta đói hết cả rồi, toàn bộ chỉ dựa vào chút sức lực mà đỡ đòn, kéo dài thêm nữa e rằng khó có thể chống đỡ. Ngươi trước hết hãy mang quân đi phối hợp tác chiến, không thể để cho người Khiết Đan lao xuống!
Thiết Lão Lang gật đầu nói: - Mạt tướng đi ngay!
Thiết Lão Lang vẫy vẫy tay, mang theo hai mươi mấy thân binh của mình hướng về phía đường lớn bên kia vọt tới. Cách còn khoảng mấy chục bước, đầu tiên là bắn ra ba mũi tên giết chết ba tên đội trưởng Khiết Đan, sau đó rút ra đao thép bên thắt lưng từ trên chiến mã nhảy xuống. Gã cầm đao thép chỉ về phía trước la lớn: - Theo ta tiến lên giết!
Hai mươi mấy người thân binh theo sát đằng sau Thiết Lão Lang, ngăn cản đám người Khiết Đan đang vồ đến chen chúc xung quanh binh lính của Tây Hạ. Thiết Lão Lang một đao chém bay đầu của một gã võ sĩ Khiết Đan. Trong vết máu tanh còn sót lại, một đao nữa liền tước mất cổ của một gã võ sĩ Khiết Đan khác. Nhấc chân gạt ngã người Khiết Đan chắn ở phía trước đang bụm lấy cổ, sau đó đao thép đảo ngang qua, bức người Khiết Đan lui lại hai bước, tránh né thanh loan đao đang bổ tới, gã một đao chém rụng cánh tay kia.
Cánh tay vẫn còn nắm chặt đao thép rơi xuống mặt đất, chủ nhân của cánh tay có chút cứng nhắc nhìn miệng vết thương của mình, một lát sau mới phát ra một tiếng kêu rên. Máu từ chỗ đứt như nước suối dũng mãnh phun ra, cánh tay bị chặt đứt thật giống như van ống nước đang mở. Tay trái Thiết Lão Lang giáng một quyền vào mặt tên võ sĩ Khiết Đan kia, theo tiếng kêu thảm của tên võ sĩ Khiết Đan, một chiếc răng cửa bị đánh gãy rơi xuống, và lỗ mũi cũng bị đánh vỡ.
Sức lực cực mạnh đánh cho tên võ sĩ Khiết Đan kia lảo đảo lùi lại phía sau, Thiết Lão Lang nhân cơ hội tiến lên thêm một bước nữa.
Đao thép quét ngang một cái, chặt đứt cổ. Mũi đao xoay tròn ra sau chém xéo xuống, lại rớt xuống một bên bả vai, lại đâm một đao về phía trước, chặt đứt không biết mấy đoạn ruột. Trong khoảng thời gian rất ngắn, Thiết Lão Lang dựa vào thanh đao thép cứng rắn đã cắt đứt một đoạn quân Khiết Đan đang lao xuống. Đám người Khiết Đan ở mặt trước bị đao thép tàn nhẫn của gã chém ngã hết mười mấy tên. Thế công của người Khiết Đan nhất thời ngưng trệ.
Những thân binh đi theo sau Thiết Lão Lang không ngừng mở rộng thành quả chiến đấu, đem lỗ hổng mà Thiết Lão Lang vừa mở ra tiếp tục hướng về hai bên mà xé rách lớn hơn. Hai mươi mấy người tạo thành một thế trận xung phong, lấy Thiết Lão Lang làm mũi đao, giống như một con dao găm hung hăng cắt đứt đội ngũ của người Khiết Đan.
Đám người Đảng Hạng chống đỡ binh lính của người Khiết Đan, phần lớn đều biết Thiết Lão Lang. Thấy tướng quân nhà mình dũng mãnh như thế, nhiệt huyết trong lòng bọn họ cũng sôi trào lên, không biết ai đã hô lên trước một tiếng: - Cướp lương thực!
Liền ngay sau đó không biết có bao nhiêu người đã hô to khẩu hiệu “Cướp lương thực”, đi theo sau Thiết Lão Lang hướng về phía tường thành đánh tới. Người Khiết Đan vốn chiếm lấy ưu thế dần dần ngăn cản không nổi, chậm rãi bị người Đảng Hạng như dòng nước lũ dâng cao đẩy lên. Quân phục màu vàng đất của người Đảng Hạng đục ngầu giống như thác lũ, từng chút một, chút một dâng lên!
- Giết! Ngôi Danh Nẵng Tiêu ở dưới thành! Chém Ngôi Danh Nẵng Tiêu. Người Tây Hạ ắt phải thất bại!
Một tướng quân người Khiết Đan mặc áo giáp màu đen từ phía sau dùng loan đao liên tục chém chết bốn năm tên võ sĩ Khiết Đan đang quay đầu rút lui trở về. Hắn lớn tiếng la lên, lập tức mang theo một đội võ sĩ Khiết Đan rõ ràng càng thêm tinh nhuệ từ trên tường thành chém giết xuống dưới. Tướng quân Khiết Đan này mang theo hơn một trăm người tinh nhuệ, điên cuồng chém giết những người của mình đang lui về. Những võ sĩ Khiết Đan phía trước không dám rút lui một lần nữa, đành phải liều mạng chèn ép về phía trước.
Thiết Lão Lang điều khiển binh lính Tây Hạ cùng với tên tướng quân Khiết Đan đang dẫn dắt binh lính tinh nhuệ kia thật giống như hai con sông lớn đang đối đầu nhau mà vọt tới, rốt cục cũng đụng vào nhau.
Trong nháy mắt, máu thịt tung bay, chân cụt tay đứt giữa con sóng máu tanh sôi trào.
Đám thân binh của Thiết Lão Lang hết thảy đều vũ dũng hơn người, ngặt nỗi bụng đói đã vài ngày, khí lực trong người không sung mãn. Sau khi bị đám người tinh nhuệ của tên tướng quân Khiết Đan kia đàn áp, dần dần cũng không còn dũng mãnh như trước kia nữa. Tên tướng quân Khiết Đan kia trong tay cầm một thanh loan đao, dễ dàng chém chết vài tên binh lính Tây Hạ.
Hắn ngẩng đầu nhìn, duỗi đao chỉ chỉ về hướng Thiết Lão Lang.
Lập tức, hơn một trăm tên binh lính tinh nhuệ Khiết Đan dùng loan đao vạt mở một con đường máu, chém giết về phía Thiết Lão Lang. Thiết Lão Lang một đao gỡ bỏ một cánh tay, giơ tay đẩy một gã binh lính Tây Hạ ở phía sau ra, một thanh loan đao dán sát vào mặt tên binh lính Tây Hạ này chém xuống.
- Đi theo đằng sau ta!
Thiết Lão Lang hét lớn một tiếng, lập tức lại tiến về phía trước.
Tên binh lính Tây Hạ được Thiết Lão Lang cứu một mạng cảm kích đưa mắt nhìn về phía tướng quân, giơ đao thép lên theo sát phía sau Thiết Lão Lang. Hắn vươn đao, thay Thiết Lão Lang ngăn trở một thanh loan đao, sau đó thuận thế đâm một đao vào bụng tên võ sĩ Khiết Đan kia. Sau đó một cước gạt ngã một tên võ sĩ khác đang tiến tới gần Thiết Lão Lang. Đao thép vẽ ra một đường cong chém chết một người lăn ra trên mặt đất.
- Làm không tồi!
Thiết Lão Lang không quay đầu lại, nhưng sự khen ngợi trong lời nói của gã đã khiên cho tên binh lính Tây Hạ sục sôi trong lòng. Một lời tán dương này, đã đem toàn bộ nhiệt huyết trong hắn kích phát ra rồi. Hắn ngao lên một tiếng, lập tức đuổi nhanh theo bước tiến của Thiết Lão Lang.
Một thanh loan đột nhiên xuất hiện bên cạnh người Thiết Lão Lang, binh lính Tây Hạ ra sức ngăn cản, hai thanh loan đao chạm vào nhau, lực độ cực mạnh làm cho cánh tay binh lính Tây Hạ khống chế không nổi, gan bàn tay chấn động, loan đao lập tức rơi khỏi tay. Hắn theo bản năng lấy thân mình che lên người Thiết Lão Lang. Một giây sau, loan đao hung hăng đâm vào ngực hắn. Tên binh lính Tây Hạ chậm rãi cúi đầu xem, thấy ngực mình đẫm máu.
- Tướng quân đi mau!
Tên binh lính Tây Hạ dốc hết chút khí lực cuối cùng hét lớn một tiếng, lập tức bổ nhào về phía trước muốn giữ kẻ thù để cho Thiết Lão Lang tranh thủ được thời gian. Chỉ có điều, chủ nhân của thanh loan đao này lại quá mức dũng mãnh, một đao đã tước mất cánh tay phải của tên lính Tây Hạ. Loan đao lại xoay tròn, dễ dàng chặt đứt cổ của tên lính Tây Hạ.
- Thiết Mộc Cầu Ca!
Thiết Lão Lang hét lớn một tiếng, vung đao bổ về phía tên tướng quân Khiết Đan kia.
Người đó chính là Thiết Mộc Cầu Ca. Hắn nâng đao gạt loan đao của Thiết Lão Lang ra, bả vai đánh vào ngực Thiết Lão Lang. Hai người dán chặt với nhau ở một chỗ, ai cũng không hề chú ý tới, hai người bọn họ rất nhanh đã cúi đầu nói chuyện với nhau hai câu.
Ngay sau đó, trên vai Thiết Lão Lang liền xuất hiện một miệng vết thương nhìn thấy ghê người.
Máu từ bên trong phun ra, loan đao của Thiết Mộc Cầu Ca theo vết máu xuyên qua.
Thiết Lão Lang thân mình chấn động, lập tức hét to một tiếng, liền bổ ba đao bức Thiết Mộc Cầu Ca lui lại. Hai tên thân binh từ phía sau gã nhanh chóng xông lên yểm hộ trước người Thiết Lão Lang, che chở cho gã lui vào trong đám binh lính Tây Hạ. Thiết Lão Lang quay người nhìn lại, chỉ thấy trên mỗi con đường từ Lâm Hoàng phủ đều có vô số võ sĩ Khiết Đan lao tới. Rất nhiều võ sĩ Khiết Đan đang bò lên trên nóc thành, dùng cung tiễn bắn chết binh lính Tây Hạ ở cửa thành.
- Không được rút lui! Ép sát về phía trước!
Tiếng hét của Ngôi Danh Nẵng Tiêu xuyên qua đám người lọt vào tai Thiết Lão Lang.
- Tướng quân, lui mau!
Một gã thân binh lớn tiếng hô: - Chúng ta trúng kế rồi. Kỵ binh Khiết Đan đánh úp từ phía sau, đại quân đã bị bao vây. Nếu người không đi sẽ không kịp đâu!
Thiết Lão Lang gật đầu nói: - Bảo vệ bệ hạ, đánh ra khỏi thành!
Đám thân binh che chở cho Thiết Lão Lang, cố sức lui trở lại bên cạnh Ngôi Danh Nẵng Tiêu. Thiết Lão Lang lớn tiếng nói: - Bệ hạ lui mau! Mạt tướng cản ở phía sau.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu cau mày nói: - Không thể rút lui. Binh lính phía sau chĩa vào, chúng ta không lui lại được, chỉ có thể đánh về phía trước, cho binh lính ngoài thành đánh ra một thông đạo, như vậy còn có một phần chiến thắng...
Chữ kế tiếp hắn vẫn chưa nói ra, thanh âm đột nhiên im bặt.
Ngôi Danh Nẵng Tiêu chậm rãi cúi đầu, nhìn thấy trên ngực mình cắm một thanh loan đao.
Đầu đao bên kia, chính là ở trong tay Thiết Lão Lang.
Non xanh nước biếc
- Là Ngôi Danh Nẵng Tiêu.
Lưu Lăng đứng dậy, mang găng tay da hươu vứt xuống mặt đất, quay đầu phân phó: - Từ Tuyên, phái người mang thi thể quốc chủ Tây Hạ coi sóc cẩn thận, đừng cho người ta phá hủy hắn. Một đời đế vương, cho dù có thất bại, cũng không thể tùy tùy tiện tiện chôn thân nơi đồng không mông quạnh.
Lưu Lăng có phần buồn bã lắc đầu, chỉ về phía gần cửa thành, phân phó: - Tiểu Thụ, dẫn theo người của ngươi ở cửa thành, nói không chừng có ám hiệu mà Tiểu Triều lưu lại. Lại đem người của Viện đến chia làm mấy đội, trong thành phàm nơi nào có thi thể của binh lính Tây Hạ thì phải điều tra cẩn thận. Thiết Lão Lang ở trong quân đội Tây Hạ, Ngôi Danh Nẵng Tiêu chết rồi, Thiết Lão Lang nếu không đi cùng Tiểu Triều, nhất định còn ở trong thành.
Lưu Lăng bổ sung một câu: - Mang thức ăn theo bên người đi, nếu như Thiết Lão Lang vẫn còn ở trong thành, nếu hắn nuốt không trôi thịt người, không nhất định còn có thể cử động.
- Tự Ngôn.
Lưu Lăng quay người nói với Tức Tự Ngôn đứng ở phía sau: - Theo ta vào thành, đến Kim Trướng xem xem.
- Để đại quân đóng quân ở mười dặm ngoài thành, không cần dùng tới rồi. Thắng Đồ, mang người của ngươi rút đi. Nói bọn binh lính hết sức dùng vải đay bịt lấy miệng mũi, nơi này mùi tử thi nặng quá, nếu chẳng may có người nhiễm ôn dịch, đại quân không còn vài người có thể sống sót trở về U Châu.
Lưu Lăng ngẫm nghĩ một lát rồi lập tức dẫn theo Tức Tử Ngôn và ba mươi mấy Hắc y Giám sát vệ tiến vào cửa thành Lâm Hoàng phủ. Đi vào cửa nam, trên mặt đất cát đều là một màu nâu xám. Đó chính là màu của máu ngấm xuống đất mà thành. Trong không khí ngoại trừ mùi hôi thối ra, những mùi vị khác đều không ngửi thấy. Đột nhiên có con quạ lớn gan to từ trên bầu trời bay xà xuống đậu lên một thi thể. Từng miếng từng miếng mổ lên thi thể thối rữa.
Thị vệ Giám sát viện ở phía sau giơ tay lên, lấy ra vài mũi tên, dùng nỏ liên hoàn do Giám sát viện tinh chế đóng đinh mấy con quạ đen đang ăn tử thi gần đó lên trên mặt đất. Con quạ đen bị bắn trúng vẫy cánh, nhưng rốt cuộc cũng không bay lên được, the thé kêu lên tiếng kêu rất chói tai, khiến cho người ta khó chịu.
Tức Tự Ngôn đi bên cạnh Lưu Lăng đeo một mặt nạ bảo hộ màu đen, trên mặt chỉ lộ ra một đôi mắt xinh đẹp. Nàng quay người lại liếc mắt nhìn tên Giám sát vệ bắn chết con quạ một cái, sau đó cất lên thanh âm trong trẻo nhưng lạnh lùng nói: - Viện phát cho ngươi nỏ liên hoàn không phải là để cho ngươi tới đây giết chết chim chóc. Một tên nỏ chế tạo sẽ có giá mười lăm đồng tiền, ngươi không cảm thấy đáng tiếc sao?
Tên Giám sát vệ đỏ mặt, lập tức ôm quyền khom người: - Thuộc hạ biết lỗi rồi!
- Đến nhặt về, lau chùi sạch sẽ rồi bỏ nỏ vào lại trong hộp.
Tức Tự Ngôn thản nhiên nói.
- Vâng!
Tên Giám sát vệ kia trên cổ tay áo có thêu một mảnh ngân tuyến, hiển nhiên là mới vừa được bổ lên vị trí ngân y không lâu, lần đầu tiên đi theo Hán Vương, trong lòng hắn quả thật rất khẩn trương. Tức Tự Ngôn mang theo bên người hơn ba mươi Giám sát vệ, đều là thân phận ngân y. Mà ngân y mới bổ nhiệm chỉ có ba người bao gồm cả hắn trong đó là mới được đề bạt lên. Lần đầu tiên nhìn Hán Vương với khoảng cách gần đến như vậy, hắn thật sự rất khẩn trương, bàn tay đã toát hết mồ hôi. Nghe thấy mệnh lệnh của Tức Tự Ngôn, hắn liền chạy nhanh tới rút mũi tên đang cắm trên xác con quạ ra, sau đó lấy một chiếc khăn sạch lau hết vết máu trên mũi tên.
- Nhớ kỹ, lúc này ngươi thân là cận vệ của Vương gia, ra tay nhất định phải có tính tấn công. Ta không biết ngươi muốn dựa vào việc này để cho Vương gia chú ý, hay là bởi vì khẩn trương, nhưng ngươi hãy nhớ kỹ, nếu bởi vì ngươi tùy tiện ra tay mà làm cho toàn bộ trận hình hộ vệ xuất hiện lỗ hổng, quần áo mới mặc vào này ngươi phải cởi ra, và còn có cả đầu của ngươi nữa.
Một Giám sát vệ trên cổ tay áo có thêu ba mảnh ngân tuyến nói khẽ với hắn: - Chức trách của ngươi là bảo vệ Vương gia. Đây là sứ mạng duy nhất!
Tên ngân y mới được bổ nhiệm sắc mặt càng đỏ hơn, giống như sự sợ hãi khi bị người nhìn thấu tâm sự, nhưng khi nghe tới câu nói sau cùng, vẻ mặt của hắn khôi phục lại vẻ trang nghiêm, lập tức gật đầu: - Tất cả đều vì Hán Vương!
- Tất cả đều vì Hán Vương!
Bốn người Giám sát vệ ngân y đi phía trước dò đường, cái khoan sắt màu đen trong tay chĩa xuống đất, không hề nghi ngờ rằng, nếu có chút dấu hiệu nguy hiểm nào thì hung khí của bọn họ sẽ lập tức đâm đi. Khoan sắt bốn cạnh rất bén nhọn, bị đâm trúng huyết mạch mà nói, chảy máu thôi cũng có thể làm cho người ta chết.
- Ngươi đã từng gặp Thiết Lão Lang?
Lưu Lăng hỏi.
- Đã gặp một lần ạ.
Tức Tự Ngôn gật gật đầu: - Thuộc hạ ngày đầu tiên vào Viện đã đánh với Thiết Lão Lang một trận.
- Người nào thắng?
Lưu Lăng mặc dù đang hỏi, nhưng lại giống như không tập trung.
- Thuộc hạ!
Một chữ ngắn gọn, lại lộ ra vẻ tự tin mạnh mẽ.
Tức Tự Ngôn cười cười, mặt nạ màu đen bảo hộ che lại dung nhan rung động lòng người của nàng: - Đánh nhau, Thiết Lão Lang không phải là đối thủ của thuộc hạ. Nhưng nếu mang hai người chúng ta cùng đến hai hoang đảo, không có tiếp tế tiếp viện thì người sống sót nhất định là hắn.
Tức Tự Ngôn nói thêm một câu: - Có đôi khi, Thiết Lão Lang giống như một dã nhân. Nếu như hắn còn ở trong thành và đợi Vương gia mà nói..., nếu thật không có lương thực, hắn sẽ ăn thịt người.
Lưu Lăng gật gật đầu, hắn biết Thiết Lão Lang sẽ làm như vậy. Nếu như đổi lại là hắn, để tiếp tục sống sót có lẽ cũng sẽ nuốt trôi thịt người để bảo tồn sinh mệnh. Có lúc, thấy việc đó cực kỳ khó khăn, nhưng ở trong hoàn cảnh đặc biệt thì cũng không khó để làm được. Dọc theo đường đi về hướng bắc, người Khiết Đan vẫn còn sống, đổi con lấy cái ăn có khối người. Cũng không biết, ở trong bát canh thịt lão nương bưng cho là nấu con cái nhà ai, và cũng không biết, con của mình đang nấu ở trong nồi nhà ai.
Đoàn người đi vòng qua một con đường lớn, càng đi về phía trước một khu kiến trúc nguy nga lộng lẫy càng hiện rõ ra trước mắt. Nơi đó chính là Kim Trướng của Đại Liêu, hoàng cung của Da Luật Hùng Cơ. Cái gọi là Kim Trướng thật ra là một tòa kiến trúc mái vòm lưu ly to lớn, chỉ có điều hình dáng từ đằng xa nhìn lại, rất giống một cái lều đặc biệt thật lớn. Nơi này đã từng là trung tâm chính trị của nước Đại Liêu, cũng không biết có bao nhiêu mệnh lệnh đi xâm lược nước khác từ nơi này phát ra ngoài. Lúc Da Luật Hùng Cơ còn ở Thượng Kinh, phía bên ngoài của tòa đại điện này luôn có võ sĩ kim giáp đứng đầy. Những thị vệ của Kim Trướng này đi đến Lâm Hoàng phủ nhận được tiếp đãi trọng hậu tương đương với bậc tướng quân.
Nếu như nói nơi này thoạt nhìn chính là một tòa kiến trúc bằng đá to lớn, một Kim Trướng chắc chắn, huy hoàng, lộng lẫy thì trong mắt Lưu Lăng, nơi này giống như một ngôi miếu thờ. Chẳng qua, là trên vị trí bày đặt tượng Phật lại là chỗ đặt một chiếc ghế rồng tượng trưng cho quyền lợi cao nhất. Người Khiết Đan không gọi chiếc ghế kia là long ỷ, mà gọi là Kim Trướng vương tọa.
Đi vào hoàng cung. Theo con đường đá rộng rãi to lớn kia là có thể đi đến Kim Trướng đại điện.
Vào bên trong thành cung mới thấy, hoá ra cái gọi là Kim Trướng đại điện thật giống như một ngôi miếu thờ. Cũng không biết mười tám cột đá được mài giũa tinh tế ở phía trước đại điện kia đã hao phí hết bao nhiêu nhân lực vật lực. Bên ngoài cửa chính của đại điện có điêu khắc hai con sói miệng dính đầy máu dữ tợn trông rất sống động, giống như một đớp là có thể cắn nuốt hết nửa thiên hạ. Mặt đất bằng phía ngoài cung điện rất hỗn độn, có không ít vật phẩm bị ném vứt tứ tung. Tấm áo gấm được thợ thủ công dệt khéo léo tinh mỹ rơi trên mặt đất, phía trên không đếm được bao nhiêu dấu chân hỗn độn.
Lúc đi đến bên ngoài đại điện, Tức Tự Ngôn tiến lên trước Lưu Lăng một bước. Nàng chỉ chỉ đại điện, lập tức có một đội Giám sát vệ kim y phân ra luân phiên hộ vệ, tiến vào trong đại điện xem xét.
Lưu Lăng chậm rãi ngẩng đầu: - Hai người đi đến phía trên đại điện xem xem.
Sở dĩ hắn hạ lệnh như vậy, không phải nhớ tới Nhiếp Niếp, mà là từ lúc tiến vào thành vẫn luôn mơ hồ có một dự cảm. Nơi đó, là nơi cao nhất của Lâm Hoàng phủ. Ngồi ở nơi đó nhìn ra ngoài thành, có thể nhìn thấy chỗ xa nhất. Nếu có một người cô đơn chiếc bóng chờ bạn mình đến, ở nơi cao nhất ngắm nhìn về phương xa, có lẽ đây là chuyện duy nhất hắn có thể làm mỗi ngày.
Vài tên ngân y đi đến phía dưới đại điện. Một người ngồi xổm xuống, hai tay nắm chặt, một gã ngân y khác cước bộ đạp vào hai tay của hắn, mượn lực nhảy về phía trước. Đại điện quá cao, mặc dù nhảy lên như vậy, Giám sát vệ ngân y cũng không thể nhảy lên đến nóc đại điện. Tay của hắn ôm lấy một xà ngang, sau đó treo người ở đó. Người thứ kế tiếp đạp lên tay người ngân y thứ nhất nhảy lên chỗ tên ngân y thứ hai đang bám trụ ở giữa không trung, mượn lực nhảy lên nóc.
Trước sau tiến lên ba gã ngân y, mang theo dây thừng.
- Ở trong này!
Không bao lâu, một tiếng la khó có thể che giấu niềm hưng phấn từ trên nóc nhà vọng xuống. Rất nhanh, hai gã ngân y mang theo một người khôi ngô xuất hiện ở bên cạnh đại điện, dùng dây thừng buộc người kia lại, chậm rãi đặt xuống.
Lưu Lăng bước nhanh qua, ngồi xổm bên cạnh thân thể khôi ngô kia.
Là Thiết Lão Lang. Thiết Lão Lang đã hôn mê bất tỉnh.
Y phục trên người y dễ dàng nhận thấy là đã từng thay ra, nhưng có vết máu chảy ra trên áo gấm. Lưu Lăng giơ tay đặt lên trước cánh mũi Thiết Lão Lang dò xét, lập tức giơ tay nhận lấy con dao găm mà Tức Tự Ngôn đưa cho hắn. Trước hết là cởi quần áo của Thiết Lão Lang ra, để thân thể y bớt gò bó.
- Nước!
Lưu Lăng thấp giọng mang theo chút khản đặc.
Đích thân đút cho mấy ngụm nước, cánh môi Thiết Lão Lang bắt đầu mấp máy. Thân người y rất nóng, trên vai, ngực, bụng đều có miệng vết thương đã xử lý sơ bộ, nhưng lại bắt đầu hư thối.
- Thật không biết Thiết đại nhân dựa vào cái gì mà chống đỡ tới tận giờ. Lúc chúng tôi phát hiện, trong tay ngài ấy vẫn còn nắm đao, bên cạnh có ít nhất ba bốn chục thi thể súc sinh hắc vũ. Ở bên người y còn đặt một lò đồng, nhưng lửa đã tắt rồi.
Giám sát vệ ngân y kế tiếp há miệng thở dốc, khó khăn nuốt nước miếng: - Mấy ngày nay, Thiết đại nhân phải ăn sống lũ quạ đen để sống sót đó.
- Nhà ta... Ở Giang Nam... Non... Non xanh nước biếc.
Lời nói yếu ớt phát ra từ miệng của Thiết Lão Lang, thần trí của y đã trở nên mơ hồ. Miệng vết thương bị nhiễm trùng, y đang phát sốt. Nếu phát hiện chậm nhiều nhất là nửa ngày, y đã biến thành một thi thể. Y quan Ngũ xử đi theo lập tức tiến lên, đỡ lấy Thiết Lão Lang từ trong ngực Lưu Lăng. Trước hết cho uống thưốc, sau đó xử lý miệng vết thương. Miệng vết thương trên vai rất sâu, nhìn thấu xương, nhưng cũng chỉ là chỗ vết thương nhẹ nhất. Trên lồng ngực có một vết thương ghê rợn, máu thịt lật ra bên ngoài. Phần thịt phơi ra đã có sắc trắng hư thối. Trên bụng còn có một lỗ thủng, băng vải cuốn lấy rất ít, hẳn là do Thiết Lão Lang tự mình quấn lấy.
- Làm một cái cáng, đưa Thiết Lão Lang trở về doanh địa.
Ánh mắt Lưu Lăng có chút đỏ. Đỏ đến đáng sợ.
Trên đường trở về, Lưu Lăng vẫn không nói gì. Hắn trầm mặc làm cho người khác cảm thấy không thoải mái. Những người đi bên cạnh hắn bị loại uy lực trầm mặc này làm cho sợ hãi tới mức kinh hồn bạt vía. Bọn họ ít khi nhìn thấy sắc mặt của Vương gia kém đến như vậy, trắng đến dọa người. Tức Tự Ngôn không nói lời nào đi bên cạnh Lưu Lăng, bàn tay xinh đẹp tuyệt trần gắt gao nắm lại, lòng bàn tay đều là mồ hôi.
- Có thể chữa khỏi hay không?
Sau khi trở về đại doanh, Lưu Lăng hỏi Y quan Ngũ Xứ
Y quan ngẩng đầu, muốn nói gì đó, nhưng lại không mở miệng.
Lưu Lăng đi ra khỏi doanh trướng, đưa mắt nhìn về phía nam.
Nhà ta ở Giang Nam. Non xanh nước biếc.
Không còn tồn tại
Quân Hán sau nửa tháng lặn lội đường sá xa xôi xuất quan từ Ngư Dương tiến vào Liêu Đông, sau khi vượt qua sông Liêu dưới sự yểm trợ của hỏa lực liền lập tức đánh chiếm được Liêu Dương phủ, Đông Kinh nước Đại Liêu. Đến trung tuần tháng tư năm thứ hai Đại Trị Đại Hán, quân Hán thế như chẻ tre đánh vào quận Bột Hải, người Khiết Đan vô lực chống cự, các châu huyện đều mở cửa đầu hàng. Từ Liêu Dương binh lính chia làm hai đường. Một đường quân Hán tiếp tục đi về hướng bắc. Sau khi vượt qua sông Nhược Lạc thì tập trung lực lượng bày binh ở phía nam Hắc Thủy Mạt Hạt Bộ.
Một đường còn lại, quân Hán dưới sự thống suất của Dương Nghiệp từ Liêu Dương phủ đi về hướng nam, đánh vào khu Cao Cú Lệ. Quốc vương nước Cao Cú Lệ Vương Kiến vừa triệu tập quân đội chống cự quân Hán xâm lược, vừa phái sứ thần tới quân ngũ của Dương Nghiệp biểu đạt sự phẫn nộ của gã đối với những gì quân Hán đã làm. Cao Cú Lệ đã xưng thần đối với Đại Hán, giống như con dân của Hán Vương, Hán Vương làm như vậy chính là thương tổn lòng trung thành của các thần dân đối với hắn. Cả nước Cao Cú Lệ từ trên xuống dưới đều cảm thấy phẫn nộ với loại hành vi này, nhưng, để tỏ lòng trung thành đối với Hán Vương, Vương Kiến nguyện ý mỗi năm tiến cống gấp bội.
Cao Cú Lệ lúc này với Cao Tú Lệ thời Tùy Đường gần như không có liên hệ gì. Quốc thổ có chín phần trở lên không trùng khít. Cao Tú Lệ thời kỳ Tùy Đường là một bộ tộc hùng mạnh, tương đương với Mạt Hạt, Bột Hải... Mà Cao Tú Lệ do Vương Kiến gầy dựng mặc dù tên chữ không có gì thay đổi, nhưng với người trước không hề có quan hệ kế thừa gì. Nhưng việc này cũng không gây ảnh hưởng gì đến dự tính phái quân tiêu diệt Cao Lệ của Lưu Lăng, bởi vì trong lòng Lưu Lăng luôn có một mối căm thù đối với nơi này và cũng không phải vì mối thù hận kế thừa từ Tùy Đường.
Dương Nghiệp rất nhiệt tình tiếp đãi sứ thần của Cao Cú Lệ, sắp xếp dạ tiệc thịnh soạn. Hắn bày tỏ với sứ giả của Cao Cú Lệ, lần này suất quân đến đây chỉ là vì muốn quét sạch thế lực còn sót lại của người Khiết Đan, chinh phục Thất Vi và sở bộ Hắc Thủy Mạt Hạt. Đại quân đến tận đây, chẳng qua chỉ là đi ngang qua mà thôi, mục tiêu là quận Bột Hải của Liêu quốc.
Dương Nghiệp nói với người sứ giả đó, nếu Cao Cú Lệ đã thần phục Hán Vương, vậy thì Hán Vương tất nhiên sẽ đối xử bình đẳng đối với con dân của mình, chỉ cần vua Cao Lệ không có lòng phản loạn, hùng binh Đại Hán tự nhiên sẽ không tấn công lãnh thổ của chính mình.
Sứ giả rất cao hứng, suốt đêm phái người hồi báo chuyện quân Hán không có ý định tấn công Cao Lệ với vua Cao Lệ, Vương Kiến. Ngày kế tiếp, Dương Nghiệp lại đích thân cùng với sứ giả Triều Tiên duyệt binh quân đội Đại Hán, sau đó lên núi săn bắn. Dương Nghiệp nhiều lần giữ lại, để sứ giả lưu lại trong quân ngũ, theo quân đội đông tiến chinh phạt Bột Hải. Sứ giả không thoát thân được, đành phải ở lại trong quân đội theo đại quân cùng xuất phát tiến sát quận Bột Hải. Ai ngờ đi đến nửa đường, Dương Nghiệp bỗng nhiên hạ lệnh cho đại quân thay đổi tuyến đường, vây khốn thành Ô Cốt.
Sứ giả giận dữ, tìm Dương Nghiệp tranh luận, lại bị thân binh của Dương Nghiệp bắt trói lại, ép đến trước thành quan sát cuộc chiến. Dương Nghiệp dùng lý do quân phòng thủ thành Ô Cốt đánh lén đại doanh quân Hán, giết chết vài tên binh lính Đại Hán mà vây khốn thành Ô Cốt. Lệnh cho tướng trấn giữ trong thành Ô Cốt giao hung thủ ra, bằng không đại quân sẽ công phá thành trì, chó gà cũng không tha.
Dương Nghiệp sai người cột sứ giả Cao Lệ lên giá gỗ, chất củi bốn phía, chỉ chờ ra lệnh là sẽ hỏa thiêu hắn. Tên sứ giả kia sợ tới mức không còn dũng khí như trước kia, liên tục cầu xin tha thứ.
- Ta đối đãi trọng hậu với ngươi, không ngờ ngươi lại dám thông đồng với quân giặc trong Ô Cốt thành sát hại quan binh Đại Hán ta! Ngươi đã coi thường thiên uy của Đại Hán ta, đừng trách Bản đốc ta vô tình!
Tên sứ giả kia sợ tới mức vãi đái trong quần, gào khóc giải thích: - Dương tướng quân bớt giận. Dương tướng quân bớt giận! Hạ quan luôn ở trong doanh của tướng quân, căn bản chưa từng rời đi nửa bước. Vả lại, dân chúng, binh lính trong thành Ô Cốt biết được đại quân của Dương tướng quân đi ngang qua đây còn sợ tới mức đến cửa cũng không dám bước ra, sao lại tập kích sát hại quan binh Đại Hán chứ? Xin Dương tướng quân sau khi thẩm tra rõ ràng sự việc hãy luận tội!
Dương Nghiệp cả giận nói: - Ngươi chính là nói bản đốc vu cáo hãm hại ngươi?
Hắn cầm lên một đồ vật trong tay người thân binh bên cạnh vứt xuống dưới chân tên sứ giả nói: - Đây là binh khí của tên giết người lúc hốt hoảng chạy trốn vứt lại. Chính là đồ vật trong quân đội Cao Lệ các ngươi, chẳng lẽ ngươi còn muốn ngụy biện hay sao!
- Nhất định là có người vu oan. Nhất định là có người vu oan! Tướng quân hãy điều tra rõ ràng. Mong tướng quân hãy minh xét!
- Điều tra?
Dương Nghiệp nắm lấy vạt áo trước của tên sứ giả, cả giận nói:
- Hiện giờ bản đốc đã điều tra ra rồi, ngươi vẫn còn ở đó giảo biện! Người đâu, châm lửa thiêu chết tên vong ân phụ nghĩa này!
Vài thân binh tiến lên cầm đuốc muốn châm lửa. Tên sứ giả kia sợ tới mức a a kêu to: - Tướng quân tha mạng. Tướng quân tha mạng a!
Dương Nghiệp xua tay chặn thân binh lại, sau đó lạnh lùng nói: - Ngươi nếu không muốn chết, hãy thay bản đốc vào thành tìm ra tên hung thủ giết người kia! Đi, kêu mở cửa thành! Bản đốc đích thân dẫn đại quân ở tại đây đợi. Ta phái ba trăm lính tinh nhuệ vào thành cùng với ngươi. Nếu không giao ra được hung thủ giết người, bản đốc sẽ lập tức tấn công vào thành!
Tên sứ giả kia bị hù dọa không dám cãi lại lần nữa, buộc lòng bị ba trăm quân Hán tinh nhuệ áp giải tới trước cửa thành.
Tướng giữ cửa thành Ô Cốt của Cao Lệ nhận ra được tên sứ giả kia. Sứ giả kia vài ngày trước mới qua nơi này đi về hướng đại doanh quân Hán. Hai người một người trên thành một dưới thành thảo luận thật lâu, cũng không dám xác định có phải thật là người to gan lớn mật tập kích quân Hán hay không? Thấy quân Hán chỉ phái đến ba trăm người, tên tướng giữ thành kia cũng không quá để ý, vì thế triệu tập hơn ngàn tên lính canh giữ ở cửa, sai người mở cửa thành ra thả tên sứ giả kia vào thành.
Cửa thành vừa mới mở ra, quân Hán dẫn đầu một đao chém chết tên sứ giả. Ngay sau đó, năm mươi mấy người của Thần Cơ Doanh mang hỏa dược ở bên người ném ra ngoài, bức lui quân Cao Lệ trấn giữ trong thành. Quân Hán đẩy cửa thành ra, Dương Nghiệp lập tức hạ lệnh công thành.
Quân Hán ồ ạt xông vào cửa thành, sau khi bức giết quân Cao Lệ lại tiến công lên tường thành. Quân phòng thủ Cao Lệ liên tiếp bị đánh bại. Chỉ chiến đấu trong vòng hai canh giờ, Ô Cốt thành đã bị quân Hán chiếm lấy.
Kiểm soát tù binh, tổng cộng quân trấn thủ Cao Lệ bị bắt làm tù binh khoảng hơn sáu ngàn người. Dương Nghiệp ra lệnh một tiếng, chém hết ở dưới chân thành. Sau khi Dương Nghiệp hạ lệnh tàn sát hàng loạt, hơn hai vạn dân chúng trong Ô Cốt thành tất cả đều bị giết.
Sau khi phá được Ô Cốt thành, Dương Nghiệp lấy cớ Cao Lệ tập kích binh sĩ Đại Hán, lấy danh nghĩa vì vua Cao Lệ lòng không thần phục, suất quân xuôi nam, tiến sát Bình Nhưỡng.
Sau khi tàn sát hàng loạt người dân trong thành, Dương Nghiệp đứng trước đống tử thi chất cao như núi cười lạnh.
- Người Cao Lệ sáng nắng chiều mưa, mấy trăm năm qua lừa người Hán ta bao nhiêu lần? Hàng rồi lại phản, phản rồi lại hàng, lặp đi lặp lại, từ thời Tùy Đường tới nay không dưới triệu quân dân chôn thân ở nơi này. Ngươi có thể lừa người Hán vô số lần, ta cũng có thể lừa ngươi!
- Truyền lệnh xuống, đại quân đi đến đâu, miễn có người Cao Lệ chống cự thiên uy, hãy lấy Ô Cốt thành làm thí dụ!
Đại quân sau khi phá thành Ô Cốt vào đầu tháng tư một đường hát vang tiến mạnh. Mà lúc này người báo tin mừng cho Vương Kiến vừa mới trở lại Bình Nhưỡng. Quốc vương Cao Lệ Vương Kiến mở đại tiệc chiêu đãi quần thần, ăn mừng cuối cùng đã lừa được quân Hán một lần nữa. Gã hạ lệnh cho đại quân tiếp tục tập kết, ngăn chặn đường lui của người Hán khi chinh phạt Bột Hải. Mấy trăm năm trước, loại sự tình sau khi đầu hàng rồi đuổi giết người Hán trở về này, Cao Nguyên vương triều đã để cho Vương Kiến một tấm gương.
Sau khi quân Hán từ Ô Cốt thành xuôi nam, một đường tàn sát hàng loạt dân trong thành. Nơi nào đi qua thì đến chó gà cũng không tha. Mỗi lần công phá một thành là toàn diệt một thành, cho nên mãi cho đến khi quân Hán còn cách Bình Nhưỡng không đến ba trăm dặm. Vương Kiến còn đang ôm giấc mông vây khốn hơn mười vạn quân tinh nhuệ của Đại Hán ở Liêu Đông. Nhưng gã lại không biết, vào bốn ngày trước, mệnh lệnh tập kết đại quân của gã vẫn còn chưa xuất phát, đã bất ngờ bị quân Hán tập kích. Hơn mười ổ hỏa pháo oanh tạc doanh trại, sau đó quân Hán ồ ạt xông vào. Đột nhiên bị tập kích, hơn mười vạn quân Cao Lệ lập tức tan vỡ, gần như không có cách nào để chống cự, liền bỏ thành mà chạy.
Bại binh vừa mới thoát ra đi được hơn mười dặm, đã bị đại quân Thủy sư Đại Hán mới thành công đổ bộ lên đất liền ngăn chặn. Quân Cao Lệ hai mặt gặp địch, bại quân kích động, người ngựa giẫm đạp lên nhau, người chết vô số kể.
Thống soái quân Cao Lệ Vương Siêu bất đắc dĩ phải phái người đến doanh trại quân Hán cầu kiến Dương Nghiệp, nói rằng chỉ cần đối đãi tốt với tù binh, Vương Siêu nguyện ý suất lĩnh mấy vạn quân Cao Lệ đầu hàng.
Dương Nghiệp đồng ý với điều đó, sai sứ giả trở về nói với Vương Siêu, làm cho quân sĩ Cao Lệ buông binh khí, xếp thành hàng đợi quân Hán tiếp nhận đầu hàng.
Vương Siêu tự biết phản kháng hẳn là phải chết, vì thế hạ lệnh cho đại quân buông binh khí đầu hàng.
Dương Nghiệp phái người áp giải Vương Siêu và tướng lĩnh Cao Lệ về trong quân ngũ, sau đó hạ lệnh đem toàn bộ đại quân Cao Lệ đầu hàng toàn bộ xử tử. Mấy chục phát hỏa pháo, tên nỏ điên cuồng trút xuống đám hàng binh Cao Lệ như báo thù rửa giận. Hơn năm vạn hàng binh Cao Lệ bị tàn sát hầu như không còn sót lại ai. Sau trận chiến này, Dương Nghiệp có được một ngoại hiệu là Dương chém đầu.
Cao Lệ lúc này không còn hiếu chiến bằng Cao Tú Lệ thời kỳ Tùy Đường. Binh mã phòng ngự không tới một trăm ngàn. Lần này Vương Kiến điều động binh mã cả nước nhưng gom lại cũng được mười ba mười bốn vạn người mà thôi. Việc này và chuyện bị người Khiết Đan chèn ép mấy năm nay không khỏi có quan hệ. Tổ phụ Da Luật Hùng Cơ, Da Luật Quân Đức Thực năm đó chinh phạt Cao Cú Lệ, giết hơn mười vạn người, nguyên khí Cao Lệ bị thương nặng. Chưa qua hai mươi năm, Da Luật Hùng Cơ lại chinh phạt Cao Lệ, giết đến thây người ngổn ngang khắp bán đảo Cao Lệ.
Mới trải qua mười mấy năm nghỉ ngơi lấy lại sức, thực lực người Cao Lệ quả thật không lớn mạnh bằng lúc trước.
Sau khi thủy sư từ Bình Nhưỡng đổ bộ lên đất liền hội hợp với đại quân của Dương Nghiệp, lập tức tiến binh vào Bình Nhưỡng. Đứng trên tường thành Bình Nhưỡng đều có thể nhìn thấy Hỏa long kỳ của quân Hán. Vương Kiến lúc này giống như vừa tỉnh lại từ trong mộng, sợ hãi hạ lệnh triệu tập quân đội trấn thủ Đô thành, lại phát hiện mệnh lệnh của gã đã ra không được Bình Nhưỡng rồi. Quân Hán vây kín bốn phía, hơn nữa còn một đường đánh tới chó gà cũng không tha. Rất nhiều nơi căn bản cũng không biết hành động của quân Hán lại thần tốc đến như vậy, đã đến dưới thành Bình Nhưỡng.
Vương Kiến thất kinh lập tức phái đại thần ra khỏi thành cầu kiến Dương Nghiệp và Chiêu Tiên. Đầu tiên là tỏ vẻ trung thành, sau đó khóc lóc cầu xin, nói trước giờ chưa từng dám miệt thị thiên uy của Hán Vương. Vương Kiến nguyện ý dâng ra quốc bảo để bồi thường tổn thất cho quân Hán, trọn đời xưng thần đối với Đại Hán, không dám làm trái.
Dương Nghiệp lặp lại chiêu cũ, để cho sứ thần trở về nói với Vương Kiến, đại quân vây khốn Bình Nhưỡng không phải là để diệt một nước Cao Lệ mà là vì báo thù cho những binh lính quân Hán bị hại chết, chỉ cần Vương Kiến giao ra người chủ mưu, đại quân sẽ lập tức trở về.
Vương Kiến sau khi nghe được hồi báo lập tức kêu khóc. Việc này thì gã phải đi đâu để mà tìm người chủ mưu đây. Ô Cốt thành đã bị tiêu diệt, cho dù có tập kích tiêu diệt quân Hán thật thì giờ còn muốn tìm người cũng tìm không được. Lại nói, quân Hán một đường đánh tới, ít nhất cũng tàn sát ba trăm ngàn người, chỉ là muốn báo thù, giết nhiều người như vậy cũng đủ rồi đấy chứ.
Gã không gọi ra được người chủ mưu, đành phải sai người đem đồ đạc trong quốc khố dâng cho quân Hán mang đi, hy vọng có thể dập tắt lửa giận của Dương chém đầu. Quân Hán nhận được vô số vàng bạc tài bảo lương thực vải vóc, chẳng những một bước không lui ngược lại còn đem binh trận đè ép về phía trước. Vương Kiến đành phải lại phái người đi cầu tình, Dương Nghiệp chỉ muốn tìm hung thủ chủ mưu. Nhưng tên sứ giả kia đoán ý qua lời nói và sắc mặt, sau khi trở về nói với Vương Kiến có thể là do lễ vật đưa qua còn chưa đủ.
Kết quả là, Vương Kiến vừa thống khổ vò đầu bứt tóc vừa vơ vét tiền bạc châu báu.
Vương Kiến phái đệ đệ gã và con trai cùng hộ tống nhóm đồ vật thứ hai đưa ra ngoài thành. Lần này cuối cùng cũng đã đả động tới Dương Nghiệp. Để tỏ lòng cảm tạ Vương Kiến nhiệt tình đến như vậy, Dương Nghiệp phái người chém đầu đệ đệ và đứa con của gã làm quà đáp lễ ở tại ngoài thành Bình Nhưỡng. Sau đó hạ lệnh công thành. Pháo nã mở cửa thành, Cao Lệ không còn tồn tại.