Huyện lệnh Sơn Âm Hầu Chi Hàn mở một bữa tiệc tẩy trần cho Vương Đề Học ở đại sảnh của huyện nha, hai người một bàn tiệc, tổng cộng có 8 bàn tiệc, món ăn phong phú, các đĩa thức ăn bày đầy trên bàn. Hai huynh đệ Trương Đại và Trương Nguyên được xếp ở cuối bàn tiệc, sau khi nâng chén cung kính, chúc thọ các bậc trưởng bối, họ liền bắt đầu dùng tiệc. Trên bàn có một đĩa ngỗng hấp cách thủy, mùi hương rất hấp dẫn, nhưng Trương Nguyên ăn một miếng thấy thật nhạt nhẽo. Trương Đại thì giống tổ phụ Trương Nhữ Lâm, là một nhà ẩm thực đích thực, vừa cầm đũa chọn chọn lựa lựa, vừa thì thầm giảng giải với Trương Nguyên, bình luận về tài nghệ của đầu bếp ở huyện nha, chỉ nói đầu bếp này có sở trường về món ngỗng hấp, còn lại các món khác chỉ có thể miễn cưỡng cho vào miệng mà thôi. Trương Nguyên thật bái phục đại huynh Trương Đại. Hắn vừa ăn vừa nghe đại huynh nói về những món ăn nổi tiếng ở các nơi, như là món: dạ dày dê Sơn Đông, quả Quan Văn, đào Nam Kinh, măng hốc, rau nhút Tiêu Sơn và cá diếc xanh, gà hạt đậu Hàng Châu, thịt chân giò hun khói Phổ Giang…Trương Nguyên miệng ăn không ngừng, nghe thôi cũng chảy cả nước miếng, ăn bữa cơm mà cũng có thể mở mang được nhiều kiến thức, học vấn như vậy. Thật sự là không chê vào đâu được . Trương Đại mải nói chuyện, cầm đũa gắp thức ăn cũng chậm, sau đó vừa nhìn thấy đĩa ngỗng trên bàn đã bị Trương Nguyên ăn hết hơn phân nửa rồi, mới vội vàng ngậm miệng không nói nữa để chuyên tâm ăn ngỗng, hai người đều đang ở tuổi đang lớn nên sức ăn rất khỏe. Nhìn họ không khỏi khiến Đề học đại nhân ngồi ở phía xa kia phải ngưỡng mộ, nói với Từ tri phủ ngồi cùng:
Ta thấy hai đứa cháu này của Túc ông, đúng là hậu sinh khả úy.
Một lời nói này của đại tông sư mà có hai ý nghĩa, vừa có ý khen Trương Đại và Trương Nguyên tuổi trẻ tài cao, lại thầm ngưỡng mộ tuổi trẻ sung sức, có thể ăn nhiều như vậy.
Từ tri phủ cười nói:
Hai huynh đệ bọn chúng còn phải nhờ vào sự dẫn dắt chỉ bảo của đại nhân nhiều.
Tuy rằng trong cuộc thi đấu hôm nay việc Trương Nguyên thắng Diêu Phục khiến cho Từ Thời Tiến không hài lòng. Nhưng thời thế đã như vậy, hắn lẽ nào sẽ vì chuyện của Diêu Phục mà đối nghịch với Trương Nguyên, có cần thiết phải như vậy không, Diêu Phục cũng không phải là họ hàng thân thích gì với gã, mà cho dù có là thân thích đi chăng nữa cũng phải nhìn vào sự việc có thể giúp được hay không chứ, là người thì phải biết thuận theo thời thế mà hành động, thiếu niên Trương Nguyên này là một nhân tài, xuất thân từ nhà họ Trương ở Sơn Âm, lại là học trò của Vương Quý Trọng, nói không chừng sẽ thi đỗ khoa thi mấy năm tới. Từ Thời Tiến đâu có ngu xuẩn đến mức trở thành kẻ địch của cái “cây đại thụ” này, đương nhiên lúc này phải ra sức nói tốt rồi. Trên bàn tiệc có một đĩa cá, thịt mềm rất ngon, khi ăn cá Trương Nguyên chợt nghĩ đến lần trước trong bữa tiệc ở huyện nha, ngồi cùng với Vương Anh Tư cũng rất thích ăn cá. Lúc này nhìn khắp bàn tiệc trong phòng khách, Vương Anh Tư lại không có ở đây.Hước Am tiên sinh và thúc tổ của hắn là Trương Nhữ Lâm ngồi cùng bàn với nhau, chắc là Hước Am tiên sinh cảm thấy Vương Anh Tư ở trong này không tiện, lần trước xem như là tiệc rượu riêng của Hầu huyện lệnh, còn lần này có nhiều người, ngộ nhỡ bị lộ ra chuyện nàng giả trai thì sẽ trở thành trò cười cho mọi người mất. Trương Nguyên đã uống hai chén rượu Đổng, ăn hơn nửa đĩa ngỗng hấp cách thủy, bụng gần như đã no rồi, có thể nhàn nhã mà nghĩ một số việc, ăn uống no nê nghĩ đến mỹ nhân chính là như thế này đây. Hắn với thúc phụ Thương Chu Đức của Thương Đạm Nhiên không hề thân quen, lần đầu tiên gặp mặt đã liền mời hắn đến phủ ngắm hoa cúc, ý tứ đó không cần nói cũng hiểu. Như vậy ngày mai sau khi đến viếng thăm Thương phủ, hắn phải mau chóng xin mẫu thân cho người đến Thương phủ làm mai thôi. Nghĩ đến việc vừa rồi ở bên cầu Quang Tương, Thương thị nữ lang ở trong xe ngựa nhìn hắn chăm chú, trong lòng Trương Nguyên liền nóng lên, lần đó ở Thương Đào viên là cuộc gặp gỡ tình cờ, một trận mưa, một ván cờ, một bài thơ, thật sự là duyên phận, lần gặp gỡ ở hòn đảo giữa hồ đó trong nháy mắt hiện lên rõ mồn một như vừa chỉ xảy ra mới đây thôi, khi đó Thương Đạm Nhiên nhẹ nhàng nhảy lên bờ, nàng mặc bộ y phục màu xanh nhạt, ống tay áo hẹp được làm bằng vải bồi đế giấy, chân mang giày thêu đế bằng, không nhìn thấy hắn và Vũ Lăng ngay bên cạnh, hai tay nàng nâng lên quá đỉnh đầu, lộ ra cổ tay trắng nõn, đôi chân trần chạm xuống đất nhẹ nhàng vẽ một vòng tròn, hắn cảm thấy hành động đó thật là duyên dáng yêu kiều giống như một tiên nữ giáng trần vậy.
Giới tử!
Trương Đại nhắc nhở:
Đại tông sư gọi hai chúng ta qua đó kìa!
Trương Nguyên phục hồi lại tinh thần, theo đại huynh Trương Tông Tử đi đến trước bàn tiệc của Vương Đề Học và Từ tri phủ, rồi cùng thi lễ.
Vương Đề Học tóc đã bạc, lúc này tính tình đang hòa nhã dễ gần, đâu còn cái uy như hung thần như lúc ở Minh Luân đường ban nãy, làm cho các chư sinh phải hết mực kinh sợ nữa, lão nói với Trương Đại:
Năm ngoái Trần Mi Công đến Võ Lâm, còn nói với ta, lúc ngươi còn nhỏ đã có thể làm câu đối để đối lại việc bị gã trêu ghẹo, ha ha, “Mi Công giao lộc, huyện Tiền Đường lý tống tiền (Mi Công cưỡi hươu, tống tiền huyện Tiền Đường) nhanh nhẹn làm sao.
Lại hỏi Trương Đại trong kỳ thi hương tháng tám phá đề thế nào. Vương Đề Học là phó quan chủ khảo kì thi hương ở Hàng Châu. Trương Đại liền đọc lại khổ đầu tiên của bài bát cổ trong kì thi hương cho Vương Đề Học nghe. Vương Đề Học ngẫm nghĩ một hồi, rồi lắc đầu cười nói:
Không nhớ được, bài Chế nghệ này của ngươi cũng được ca tụng là tinh thông phong phú, có điều tài văn chương hơn người, chín quá hóa nẫu, bài làm thiếu mất một chút dư vị gì đó, thành ra chấm cho y qua cũng được mà không qua cũng đúng. Gã ở khoảng giữa được qua và không qua, thôi thì coi như là thiếu một chút may mắn, rèn luyện thêm 3 năm nữa, thì kì thi lần sau sẽ đỗ.
Trương Nhữ Lâm quát khẽ:
-Đại tông sư chỉ dạy ngươi còn không mau tạ ơn.
Trương Đại nhanh chóng cúi người thi lễ.
Trương Nguyên thầm nghĩ:
Đại tông sư đúng là gừng càng già càng cay, có con mắt đánh giá cực chuẩn, bệnh văn chương của Đại huynh chính là có thể thả mà không thể thu về, tức là mở ra rồi nhưng không tài bào kết lại được, viết ra rất lưu loát, có một vài câu tự mình cho rằng rất hay nên không đành lòng xóa bỏ, có lúc khó tránh khỏi việc làm cho bài văn phức tạp thêm.
Vương Đề Học quay ra hỏi Trương Nguyên:
Trương Nguyên, ta thấy bài Chế nghệ của ngươi viết rất trôi chảy, lập luận tinh tế, không phải nhiều năm vất vả đọc sách suy nghĩ sâu xa thì không thể được như vậy, ngươi mới mười lăm tuổi, có thể làm được bài bát cổ như vậy thật sự khiến lão phu ngạc nhiên và thán phục. Ngày thường ngươi hay đọc sách gì?
Trương Nguyên kể tên những cuốn sách mà mình đã đọc qua, Vương Đề Học nói:
Những quyển sách này hầu hết các sĩ tử tham gia khoa cử đều đã đọc, nhưng chỉ có mình ngươi lĩnh ngộ được sâu sắc như vậy, thông minh như thế thật sự là hiếm có. Mong rằng ngươi sẽ khiêm tốn mà chịu khó rèn luyện nhiều hơn thì tốt.
Lúc này là đang khéo léo phê bình việc Trương Nguyên và Diêu Phục đấu bát cổ.
Trương Nguyên khom người nói:
Đa tạ đại tông sư khích lệ, học trò nhất định sẽ cẩn trọng, nỗ lực tiến lên.
Vương Đề Học gật gật đầu, nói với Trương Đại và Trương Nguyên:
Nếu huynh đệ các ngươi tới Hàng Châu, có thể đến học quán gặp ta.
Trương Đại và Trương Nguyên cùng khom người nói:
Vâng ạ!
Trương Đại thầm nghĩ;
Người mà Đại tông sư thật sự muốn gặp là đệ đệ Giới Tử kia, Đại tông sư muốn làm tọa sư của Giới Tử.
Thời nhà Minh kì thi chọn người làm quan luôn bị vướng vào trong các loại quan hệ chằng chịt giữa thầy trò, bằng hữu, có nghiệp sư, tọa sư, phòng sư, mỗi thầy giáo lại có thầy giáo của mình nữa, các mối quan hệ đan xen khó gỡ, phức tạp vô cùng. Những mạng lưới quan hệ này lại dựa vào quyền lợi, lợi ích của từng tập đoàn, từ triều đình đến địa phương, cản trở lẫn nhau, tranh đấu gay gắt.
Tiệc ở đại sảnh đã xong là đến phần thưởng thức trà. Vương Đề Học rất giỏi trà đạo, cùng thảo luận với Trương Nhữ Lâm về những chuyên gia trà đạo từ bắc chí nam. Vương Đề Học rất tôn sùng Đào Diệp Độ ở Nam Kinh, tấm tắc khen nghệ thuật trà đạo của người này là tuyệt vời nhất, mấy vị quan thân nàyVương Đề Học nhắc đến không sót một ai, từ trời nam đến biển bắc, dần dần nhắc đến cả một vài chuyện bí mật của Hoàng đế và Đông cung Thái Tử trong triều. Trương Nguyên tập trung lắng nghe, tuy rằng hiện tại hắn không có sức ảnh hưởng với triều đình, nhưng hiểu rõ hơn một chút tình hình thời sự cũng tốt. Trương Nhữ Lâm quay đầu lại nhìn, thấy hai hậu bối ngồi ở một bên chăm chú lắng nghe, liền nói:
Trương Đại, Trương Nguyên, hai ngươi về trước đi.
Trương Nguyên và Trương Đại đành phải cáo từ, hai người ra khỏi công đường thì đã có mấy nô bộc trẻ tuổi đứng chờ Trương Đại ở đình Giới Thạch. Vũ Lăng - thư đồng của Trương Nguyên cũng chờ ở đấy, liền cùng nhau trở về.
Trương mẫu Lã thị thấy con trai trở về, vui mừng nói:
Con ngồi xuống đây, mau kể cho mẫu thân nghe chuyện ở học thự hôm nay thế nào? . Tiểu Vũ kể không rõ ràng.
Vũ Lăng không phục nói:
Thái thái, Tiểu Vũ chỉ đứng ngoài cửa lớn, không được vào trong, dù sao thì đại khái câu chuyện chính là như vậy, thiếu gia thắng, tên họ Diêu cò môi bị thua, Dương tú tài có họ hàng thân thích với gã cũng bị nhốt vào nhà lao của huyện.
Trương mẫu Lã thị cười nói:
Bây giờ ngồi xuống kể lại chi tiết đầu đuôi ta nghe xem chuyện ở học thự rốt cuộc là chuyện như thế nào?
Hai nha đầu Y Đình, Thỏ Đình cũng đều chạy qua dỏng tai nghe kể chuyện, Trương Nguyên liền đem việc thi đấu bát cổ ở Minh Luân đường ra sao, rồi việc tất cả mọi người đều tỏ ý khinh thường Diêu Phục ra sao, Diêu Phục là tên tiểu nhân bỉ ổi vô sỉ, không từ một thủ đoạn xấu xa như thế nào. Đại tông sư đã trừng trị cậu cháu họ Diêu như thế nào, tất cả đều kể hết. Trương mẫu Lã thị cười nói:
Con quả thực là may mắn, đại tông sư kia sớm không đến, muộn không đến, mà lại đến đúng lúc này. Cuối cùng Diêu Phục vẫn là không thoát được.
Trương Nguyên thầm nghĩ: “Không phải Đại tông sư đến đúng lúc, mà là con tính toán khéo léo, vả lại, cho dù Đại tông sư tới muộn vài ngày cũng không sao. Diêu Phục luôn chạy không thoát cửa ải này đâu. Nói:
Đúng vậy ạ, Đại tông sư đến xử lý nhanh gọn, dứt khoát, quyết đoán, Diêu phục đúng là xui xẻo rồi.
Nhớ tới việc Thương Chu Đức mời hắn ngày mai đến Hội Kê ngắm hoa cúc, chuyện này nhất định phải báo cho mẫu thân biết, Trương Nguyên liền bảo ba người Vũ Lăng, Y Đình, Thỏ Đình lui xuống trước, rồi mới nói:
Con có chuyện này muốn nói với mẫu thân.
Trương mẫu Lã thị cười nói:
Chuyện gì, chuyện gì mà trịnh trọng như vậy?
Trương Nguyên liền kể lại chuyện gặp Thương Chu Đức bên cầu cho mẫu thân nghe, Trương mẫu Lã thị có chút giật mình nói:
Mời con ngắm hoa cúc, đây là có ý gì?
Trương nguyên mỉm cười, nói:
Mẫu thân vẫn chưa rõ sao?
Trương mẫu Lã thị trừng to mắt, vừa mừng vừa sợ nói:
Nói như vậy, Thương thị là có ý với con, Thương thị có ý gả nữ nhi của họ cho con rồi?
Trương Nguyên chỉ cười không nói.
Trương mẫu Lã thị nói:
Việc này tất nhiên là tốt, trước kia ta còn lo nhà họ Thương là nhà quan lại sẽ không coi dòng họ Đông Trương chúng ta ra gì, đúng rồi, vài ngày trước mẫu thân có sai người hỏi thăm một chút xem nữ nhi Thương thị kia là người như thế nào, cô gái này không bó chân đấy, như vậy không được tốt lắm.
Trương Nguyên nói:
Con không thích người phụ nữ bó chân, con đã nói rồi, con sẽ không lấy cô gái nào bó chân đâu.
Trương mẫu Lã thị cười nói:
Con đã nói khi nào, sao ta chưa từng nghe con nói qua vậy? Vi nương biết, con ta là một người tài đức vẹn toàn nên có tình ý với nữ nhi Thương thị nhà người ta rồi nên, cho dù nàng ta không bó chân cũng không sao.
Trương Nguyên nói:
Con thường nghe mẫu thân kêu đau chân, trong lòng cảm thấy rất chua xót, cho nên mới nghĩ như vậy.
Trương mẫu Lã thị cúi đầu nhìn đôi chân bị bó của mình, khẽ thở dài một tiếng, nói:
Tất cả mọi người đều bó chân, không bó sẽ bị người khác chê cười, sợ bị người khác xem thường.
Trương Nguyên nói:
-Chân lớn hơn một chút thì có làm sao, chỉ cần con thích, mẫu thân không ghét bỏ, vậy thì mọi việc đều đại cát.
Trương mẫu Lã thị nghe con nói vậy cười rộ lên:
-Con ta nóng lòng cưới vợ như vậy sao?
Trương Nguyên vội hỏi:
Đâu có đâu có, con chỉ nói vậy thôi, phong tục là do thói quen mà thành, hà cớ gì phải làm theo phong tục, chỉ cần mình thích là được rồi.
Trương mẫu Lã thị gật đầu nói:
Con nói đúng, vậy khi nào thì chúng ta mời bà mối đến cầu hôn?
Trương Nguyên nói:
Đợi ngày mai sau khi con ngắm hoa cúc về sẽ quyết định sau.
Trương mẫu Lã thị lại nói:
Chung thân đại sự của con, vẫn phải viết thư báo cho phụ thân con biết mới được.
Trương Nguyên nói:
Ngày mai trở về con sẽ viết thư cho phụ thân.
Trương mẫu Lã thị nghe con nói như vậy, khẽ mỉm cười, thầm nghĩ: “Xem ra con mình rất thích nữ nhi nhà họ Thương kia, quả thật là gấp không thể chờ được nữa rồi.”
Vũ Lăng tới báo Lỗ Vân Cốc tiên sinh đã đến đây. Trương Nguyên liền đi tới tiền sảnh, trông thấy Lỗ Vân Cốc và cháu gã là Lỗ Vân Bằng cũng đang đi tới. Lỗ Vân Bằng vừa nhìn thấy Trương Nguyên liền cúi người bái lạy, luôn miệng nói suốt đời không quên ân đức của Trương thiếu gia. Trương Nguyên vội vàng đỡ dậy, mời họ ngồi xuống nói chuyện.
Chú cháu Lỗ Vân Cốc đến mời Trương Nguyên tới dự tiệc, Trương Nguyên liền đồng ý ngay, lần trước đã nhận lời với Lỗ Vân Cốc, nếu thắng Diêu Phục thì phải cùng gã uống một trận thỏa thích.
Chương 98: Xuân mộng.
Từ hiệu thuốc bắc Lỗ thị bên cầu Sương Lộ trở về đã là đầu giờ Hợi. Lỗ Vân Cốc mang theo một cây đèn lồng đưa hai chủ tớ Trương Nguyên và Vũ Lăng đi qua phủ Học Cung thì thấy ở hàng rào trúc cạnh cửa nhà Trương Nguyên cũng treo một chiếc đèn lồng. Trong đêm đông giá rét, ánh đèn lồng ấm áp lòng người, Lỗ Vân Cốc cười nói:
-Giới Tử, ngu huynh tiễn đệ tới đây thôi. Tối nay ép đệ uống mấy chén, ta sợ mẫu thân đệ sẽ trách cứ ta đó.
Trương Nguyên nói:
-Không sao, không sao. Vân Cốc huynh cứ về đi. Đi đường cẩn thận.
Rồi hắn chắp tay cáo từ, cùng Vũ Lăng bước nhanh đến hàng rào trúc cạnh cửa nhà mình, giơ tay tháo lồng đèn treo chỗ khe hở ở cửa kia xuống, đẩy cửa đi vào thì thấy một bóng dáng nhỏ bên cánh cửa chính, hai cái búi tóc trên đầu run lên một cái, rồi có tiếng nói:
-Thiếu gia đã trở về.
Rồi người đó chạy ra đỡ lồng đèn trong tay Trương Nguyên. Thấy thế Trương Nguyên bèn hỏi:
-Thỏ Đình, trời lạnh như vậy sao ngươi lại ngồi ở cạnh cửa vậy?
Thỏ Đình bảo:
-Là thái thái dặn nô tỳ như vậy.
Trương Nguyên thầm nghĩ:
-Làm sao mẫu thân lại bảo nàng ngồi bên cạnh cửa như vậy. Hừ, tiểu cô nương này thật ngốc.
Đại Thạch Đầu cũng từ trong phòng chạy ra nói:
-Thiếu gia đã về.
Liền lấy một cây gậy trúc chặn ngang cửa lại, rồi đi theo Trương Nguyên vào cửa chính, lại đóng cửa lớn lại, nói:
-Thiếu gia, lúc chập tối có mấy tú tài đến tìm thiếu gia. Ta đều nói với họ là thiếu gia đi ra ngoài dự tiệc rồi.
Trương Nguyên hỏi:
-Có lưu lại danh thiếp không?
Đại Thạch Đầu nói:
-Đều là những tú tài vùng khác, cái gì mà ở Tiêu Sơn, rồi Thượng Ngu, Hàng Châu gì đó thì phải. Có người xưng tên nhưng ta cũng không nhớ được. Chỉ có một tú tài để lại danh thiếp thôi, để ta mang tới cho thiếu gia.
Rồi gã chạy như bay đi lấy một tấm danh thiếp dài bảy tấc, rộng ba tấc. Trương Nguyên nhận danh thiếp rồi lấy đèn lồng soi vào xem, trên mặt thiếp là sáu chữ Khải được viết rất rõ ràng: “Hữu sinh Nguyện Đại Thành bái”
“Nguyễn Đại Thành!”
Trương Nguyên có chút kinh ngạc. Nguyễn Đại Thành cũng đến Thiệu Hưng xem hội bát cổ hay sao? Nguyễn Đại Thành có lẽ không phải người Chiết Giang, mà là người thành Lệ Đồng ở Nam Trực thì phải. Gã bây giờ chắc vẫn chỉ là chư sinh. Vì theo như vở kịch “Đào Hoa Phiến” thì Nguyễn Đại Thành này đã tham gia vào hoạn đảng, rồi từ đó đã để lại tiếng xấu muôn đời. Đương nhiên, cho tới thời điểm hiện tại thì những chuyện đó vẫn còn chưa xảy ra. Lý Hương Quân, Hầu Hướng Tông còn chưa xuất hiện. Lúc này Nguyễn Đại Thành vẫn chỉ là một tài tử phong lưu tinh thông hí khúc, là đệ tử của Cao Phàn Long thuộc đảng Đông Lâm, vẫn là người mang tiếng tốt.. Trương Nguyên hỏi:
-Nguyễn tú tài này có để lại lời nhắn nào không?
Đại Thạch Đầu nói:
-Nguyễn tú tài nói là ngày mai sẽ lại tới bái kiến.
Trương Nguyên “ừ” một tiếng, thầm nghĩ: “Ngày mai ta còn có việc hệ trọng, liên quan mật thiết tới đại sự cả đời ta, , đâu thể ở nhà chờ Nguyễn Đại Thành ngươi được.”
Rồi hắn bỏ danh thiếp vào trong tay áo, đi theo sau tiểu nha đầu cầm đèn lồng dẫn vào nội viện, lại hỏi Thỏ Đình:
-Đã cho Tuyết Tinh ăn cỏ đậu chưa?
Thỏ Đình nói:
-Đã cho ăn rồi ạ. Thiếu gia mau đến xem đi, chuồng la đã xây xong rồi. Ban đêm Tuyết Tinh sẽ không bị lạnh nữa.
Đêm đông trời rất lạnh, bạch la Tuyết Tinh không thể ở phía ngoài vườn lạnh lẽo được. Mấy ngày trước Trương Nguyên đã bảo Thạch Song tìm một thợ đá đến xây một cái chuồng nhỏ ở góc vườn để ban đêm bạch la có chỗ nghỉ tạm. Thỏ Đình những lúc rảnh rỗi thường ngồi sau vườn nhìn cái chuồng mãi không thấy chán. Trương Nguyên nói:
-Được, ta sẽ đi xem. Ta đi chào mẫu thân một tiếng trước.
Rồi hắn đứng ở dưới sân nhà hướng nam, nói vọng lên lầu :
-Mẫu thân, hài nhi đãvề rồi.
Trương mẫu La thị liền vội vã đi ra hành lang trên lầu, nói giọng trách móc:
-Muộn như vậy con mới trở về. Con đi uống rượu phải không ?
Trương Nguyên nói:
-Con đã uống hai chén với cùng Vân Cốc tiên sinh, đều là rượu nếp thôi.
Trương mẫu Lã thị nói:
-Vậy con hãy khẩn trương rửa mặt rồi nghỉ ngơi sớm đi, ngày mai còn có việc quan trọng.
Trương Nguyên vâng lời, thấy mẫu thân trở về phòng thì đi cùng Thỏ Đình, Vũ Lăng ra chỗ cái chuồng ở vườn sau. Cửa chuồng bằng gỗ thông, vẫn còn chưa hết mùi Tùng Hương. Đẩy cửa gỗ thông ra, cầm đèn lồng chiếu vào thì thấy bạch la Tuyết Tinh đang đứng ở một góc chuồng, mũi nó thở ra những tiếng phì phì. Thỏ Đình đưa đèn lồng cho Vũ Thăng, đi đến xem bạch la rồi quay đầu lại nói:
-Thiếu gia, ban đêm lúc Tuyết Tinh ngủ nó cũng đứng. Nó cứ đứng như vậy không mệt sao?
Trương Nguyên cười nói:
-Giống la, ngựa chính là như vậy đấy, ít khi nằm xuống bởi vì bất cứ lúc nào nó cũng chuẩn bị tư thế để chạy.
Nhìn căn chuồng này cũng nhỏ, chỉ nuôi một con gia súc chắc là đủ rộng rãi.
Hắn nhìn Tuyết Tinh một lát rồi quay về tắm rửa bởi ban nãy hắn đã uống khá nhiều rượu. Ban nãy hắn đã nói dối mẫu thân, rượu kia không phải là rượu nếp mà là rượu Lan Khê Kim Bàn Lộ. Uống khá nhiều nên hắn đã say bốn năm phần, trằn trọc mãi mà vẫn không tài nào chợp mắt được. Lúc sau, khi đã chìm vào giấc ngủ rồi thì hắn lại bắt đầu nằm mơ. Hắn mơ thấy mình đang thi hương ở Nam Kinh, còn vì sao không thi hương ở Hàng Châu mà lại đi Nam Kinh thì trong mơ không thấy giải thích. Sau ba cuộc thi, trong khi chờ đợi yết bảng, hắn đi uống rượu trên thuyền cùng bạn học ở sông Tần Hoài thì vừa lúc gặp danh kỹ Lý Hương Quân. Ánh mắt Lý Hương Quân đưa đẩy, gọi hắn là Hầu công tử. Bị sửa họ như vậy hắn cũng không cảm thấy có gì bất ổn, có một điều lạ là dường như dung mạo của Lý Hương Quân có phần rất giống với Thương Đạm Nhiên mà hắn đang thầm thương trộm nhớ. Khi đang mải mê thưởng thức thơ rượu xướng họa thì hắn nghe có người hô to:
Không xong, không xong rồi, hung thần Nguyễn Đại Thành đến rồi!”
Hắn vừa đi từ dưới thuyền đi lên bờ nhìn thì bắt gặp Nguyễn Đại Thành. Nhưng…đây chẳng phải là Diêu cò mồi hay sao? Vì sao tên Nguyễn Đại Thành này lại giống Diêu cò mồi đến vậy? Gã vừa nhìn thấy hắn thì kinh hãi thất sắc, lập tức quay đầu bỏ chạy. Hai bờ sông Tần Hoài vang lên tiếng hoan hô reo mừng vì Hầu công tử đã tống khứ tên hung thần Nguyễn Đại Thành đi. Ánh mắt của Lý Hương Quân lại nhìn hắn rất đa tình, ngọt ngào nói:
-Hầu công tử, thiếp nguyện dâng thân cho chàng, cùng chàng thưởng thức hoa cúc.
Buổi sáng tỉnh lại, Trương Nguyên vẫn còn nhớ rõ như in giấc mơ kia, cảm thấy có chút tiếc nuối, rồi lại tự cười chính mình. Hắn nằm trên giường, bảo Vũ Lăng ở gian ngoài nhanh chóng căn dặn dưới bếp chuẩn bị nước cho hắn tắm rửa. Vũ Lăng lẩm bẩm:
-Không phải đêm qua thiếu gia đã tắm rồi sao. Tại sao lại phải tắm nữa?
Trương Nguyên nhịn cười nói:
-Đừng có lôi thôi, khẩn trương lên đi.
Thấy Vũ Lăng đứng dậy, hắn liền quăng mình xuống giường, cười to vài tiếng, nghĩ thầm: “Ta như vậy coi như là đã lớn rồi sao. Làm sao lại có chuyện trùng hợp như thế, vừa đêm qua mơ thấy thì hôm nay ta đã phải tới thăm hỏi Thương thị ở Hội Kê. Đây là ý trời chăng?
Lại nghĩ: “Trong giấc mộng, Lý Hương Quân kia nói chuyện rất kỳ lạ. “Nguyện hiến dâng cho chàng, cùng thưởng thức hoa cúc”. Câu này ẩn chứa hơi nhiều ngụ ý sâu sa đó nha.
Giấc mộng kia càng về sau càng lung tung lộn xộn, không biết tiếp tục thế nào nữa. Hắn tắm rửa rồi vừa ăn sáng xong thì Đại Thạch Đầu chạy vào báo rằng có người tới đón thiếu gia. Trương Nguyên vừa bước ra ngoài thì đã trông thấy một cỗ xe ngựa đã đợi sẵn ở ngoài hàng rào trúc. Hai người hầu đứng bên xe chính là hai người bên cạnh Thương Chu Đức, nhìn mặt khá quen. Còn có một người quản gia dáng vẻ chỉnh chu, khuôn mặt tươi cười, chắp tay trước ngực thi lễ, nói:
-Trương công tử, lão gia nhà ta sai tiểu nhân tới đón Trương công tử đi thưởng thức hoa cúc.
Thương Chu Đức thật là nhiệt tình chu đáo.
Sớm như vậy đã phái xe ngựa đến đón em rể tương lai rồi.
Vì có giấc mộng xuân đêm qua, Trương Nguyên nghe đến hai chữ “thưởng cúc” thì có cảm giác hơi khác thường, liền cười nói:
-Làm phiền quản gia rồi, mời vào uống chén trà trước đã.
Người quản gia kia nói:
-Không dám quấy rầy. Trương công tử, mời lên xe. Lão gia nhà ta đang đợi công tử đến đó.
Trương Nguyên để bọn họ chờ một chút, hắn đi vào báo cho mẫu thân một tiếng. Trương mẫu Lã thị thấy người nhà Thương thị coi trọng con mình như vậy nên cũng vui mừng, nhưng vẫn không quên nhắc nhở:
-Con chớ quên cho tôi tớ ít tiền thưởng. Lần này đi thăm hỏi, chưa cần tặng lễ cho Thương Chu Đức, nhưng tôi tớ thì cần phải thưởng tiền.
Trương Nguyên liền bảo Vũ Lăng thưởng tiền cho người quản sự, hai người hầu xe và phu xe, mỗi người một ít tiền. Ban đầu bốn người từ chối không nhận. Trương Nguyên phải nói mãi họ mới chịu nhận tiền, luôn miệng nói tạ ơn, ai nấy đều tỏ ra vui vẻ.
Trương Nguyên đang định lên xe ngựa thì nghĩ tới một chuyện, liền gọi Đại Thạch Đầu đến, dặn dò:
-Nếu như Nguyễn tú tài hôm nay đến thì ngươi nói ta có việc đi Hội Kê, bảo hắn lưu lại địa chỉ, đợi khi ta trở về sẽ đi thăm hỏi hắn.
Dứt lời hắn lên xe ngựa. Vũ Lăng và quản sự của Thương gia cùng hai người hầu đi bộ theo, tiến về phía Hội Kê.
Xe ngựa mới đi được một khắc thì Hầu Huyện tôn sai nô bộc đến nhà Trương Nguyên, mời hắntới huyện nha, nói huyện Tôn đại nhân có việc muốn thương lượng cùng hắn. Tên nô bộc kia nghe Trương Nguyên đã đi Hội Kê thì dặn dò lại Đại Thạch Đầu:
-Khi thiếu gia ngươi về thì hãy bảo cậu ấy mau chóng tới gặp huyện Tôn đại nhân.
Người của huyện nha vừa mới đi khỏi thì Đại Thạch Đầu trông thấy Nguyễn tú tài ngày hôm qua đang cùng một đám bạn từ xa kéo tới. Đại Thạch Đầu không đợi Nguyễn tú tài đến gần, liền chạy ra hàng rào trúc ngoài cửa, lớn tiếng nói:
-Nguyễn tú tài, thiếu gia nhà ta đi Hội Kê rồi. Xin Nguyễn tú tài để lại địa chỉ, thiếu gia nhà ta sẽ đến thăm đáp lễ.
Nguyễn Đại Thành kinh ngạc bật cười, dừng lại nói:
-Duyên khan nhất diện, duyên khan nhất diện. (Duyên chỉ gặp được một lần)
Rồi cất giọng nói:
-Nói cho thiếu gia nhà ngươi biết, hôm nay Nguyễn Đại Thành ở Đồng Thành phải rời khỏi đây rồi. Về sau có duyên sẽ gặp lại.
Đại Thạch Đầu tai thính, nghe Nguyễn tú tài liên tục nói hai câu “Duyên khan nhất diện” thì không biết là có ý gì, nhưng nghĩ là việc quan trọng, bèn quay đầu lại, thấy đệ đệ Tiểu Thạch Đầu đang tựa vào cạnh cửa ăn bánh nếp thì dùng giọng kẻ cả của huynh trưởng, nói:
-Ngươi chỉ biết có ăn thôi. Ngày lễ ngày tết chủ nhà đều cho ngươi một phần tiền thưởng, ngươi lại ăn không ngồi rồi như vậy . Mau, mau giúp ca ca ghi nhớ một chút. Trí nhớ của ngươi tốt hơn ta. Ta sợ là lát nữa chơi xong sẽ quên mất. Tên của mấy tú tài hôm qua ta cũng đều quên cả rồi.
Tiểu Thạch Đầu miệng đang nhai bánh, ngồm ngoàm nói:
-Nhớ cái gì?
Đại Thạch Đầu nói:
-Viễn thiên di diện, viễn thiên di diện. (Ngàn lần không gặp nữa) Là câu mà vừa rồi Nguyễn tú tài kia nói đó. Ngươi đừng có tham ăn như vậy, chuyên tâm mà ghi nhớ vào đầu ấy. Cố nhớ đi, đừng để làm lỡ chuyện của thiếu gia.
Tiểu Thạch Đầu cố nuốt miếng bánh xuống, nhắc lại:
-Nguyên khiếm nhất mệnh. Nguyên khiếm nhất mệnh. (Nguyên khiếm nhất mệnh, đồng âm với viễn thiên di diện: nghĩa là nguyện nợ một mạng). Được rồi, ca ca, ta đã nhớ rồi. Huynh yên tâm đi chơi đi.
Trương Nguyên ngồi trên xe ngựa, kéo màn cửa sổ lên nhìn cảnh hai bên phố, cảm thấy hình như có chút gì đó không giống như ngày thường khi hắn vẫn thường đi bộ. Chẳng lẽ vì hôm nay tinh thần hắn đặc biệt phấn chấn?
Thời tiết hôm nay vẫn trong xanh giống như hôm qua, một ngày gió mát trăng thanh, cũng là thời điểm hoa cúc nở muộn. Những bông cúc trong nhà Thương thị ở Hội Kê cũng đua nhau khoe sắcthật là một cảnh tượng tuyệt vời.
Thương thị ở Hội Kê tập trung ở góc đông dưới chân núi Bạch mã ở Hội Kê, phía trước là Đông Đại Trì. Đông Đại Trì chẳng khác gì một con sông đào bảo vệ thành đông ở Hội Kê. Giám hồ và kênh đào thông với nhau. Thuyền bè lui tới khiến Hội Kê trở thành một nơi phồn hoa sầm uất. Xe ngựa đi từ phía nam thành tây, đi xuyên qua Hội Kê, men theo Đông Đại Trì nửa dặm, chuyển hướng đến phía tây, thì chẳng mấy chốc sẽ đến trước cổng lớn Thương phủ.
Chương 99: Thiếu nữ đá cầu.
Tòa nhà lớn với năm gian chín chái, mặt nam sát đường, mặt bắc gần hồ, trong nhà lát gạch thúy vũ, mái lợp ngói thiện, dáng vẻ hết sức uy nghi. Mái nhà và mái hiên đều được sơn màu xanh. Tường ngoài cao, mở rộng vàsâu hút vào bên trong. Hai bên còn có hành lang, kho bếp, các căn phòng được bố trí tầng tầng lớp lớp, tạo thành một kiến trúc khổng lồ. Thương thị ở Hội Kê là một gia đình quan lại bề thế, , không thua gì dinh trạng nguyên Tây Trương ở Sơn Âm.
Xe ngựa dừng lại trước cửa tòa nhà lớn của Thương thị. Trương Nguyên xuống xe thì liền trông thấy sáu chiếc cổng gỗ đều được mở ra, một đám người ra đón. Phía trước là Tiểu Cảnh Huy sáu tuổi, cô bé đang ra sức kéo tỳ nữ Phương Hoa về phía trước. Tỳ nữ Phương Hoa vốn muốn giữ không cho cô bé chạy loạn lên, giờ ngược lại lại bị cô bé kéo cho ngả nghiêng lảo đảo.
-Trương công tử ca ca, ta chỉ cần nghe tiếng xe ngựa là biết Trương công tử ca ca đến rồi.
Tiểu Cảnh Huy gạt tay tỳ nữ Phương Hoa ra, chạy đến trước mặt Trương Nguyên. Như chợt nhớ ra điều gì, hai cánh tay nhỏ của cô bé liền đan nhau đặt lên trong bụng, thân mình hơi khom, đầu gối khẽ cong, hai mắt sáng trong nhìn xuống mũi chân mình, cô bé vén áo lên thi lễ với Trương Nguyên một cách rất chuẩn mực. Tiếng nói trong trẻo không to mà cũng không nhỏ, nói:
-Chào Trương công tử ca ca.
Tiểu Cảnh Huy sáu tuổi mặc chiếc áo gấm lông chồn dày nên trông có chút mập mạp nhưng dáng điệu rất đáng yêu.
Trương Nguyên vội vàng đáp lễ:
-Cảnh Huy tiểu thư vẫn khỏe chứ?
Hắn nhìn thấy Thương Chu Đức dẫn một đám người ra đón, trong lòng cảm thấy ấm áp. Mặc dù là lần đầu tiên đến nhưng thấy thân thiết giống như về nhà mình vậy, cảm giác này thật thích. Vậy là coi như hắn chắc chắn sẽ được làm con rể Thương thị rồi.
Thương Chu Đức và hai huynh đệ cùng gia tộc đến tận cổng đón Trương Nguyên, dẫn Trương Nguyên đi vào trongnhà. Toà nhà lớn có tổng cộng năm gian, đầu tiên là đi qua sảnh môn, hai bên có phòng ốc, tiếp đó phải đi qua một đình viện nữa rồi mới tới sảnh chính, chính đường có một cặp câu đối: “Tụng đọc thi thư” (Đọc thông thi thư), đây là lời dạy của vua Nghiêu và Thuấn; và câu “Canh điền tạc tỉnh”(cày ruộng đào giếng), đây là lời của vi Hoàng đế.
Ngoài chính sảnh có chín cái ghế gỗ màu vàng hoa lê. Trong tình thế chủ nhiều khách ít thế này, Trương Nguyên ngồi ở đó có chút trơ trọi.
Khi uống trà nói chuyện phiếm đều là do Thương Chu Đức lên tiếng hỏi, Trương Nguyên trả lời. Thương Chu Đức hỏi về chuyện Minh Luân đường ngày hôm qua, Trương Nguyên kể lại tỉ mỉ đầu đuôi, trên cuộc thi đấu bát cổ ở Nho học xét về tương quan lực lượng có thể coi là một chọi lại ba. Diêu Phục hao tổn biết bao tâm trí, tìm mọi cách làm khó dễ, cuối cùng phải nhận lấy thất bại thảm hại. Đám người Thương Chu Đức nghe vậy vừa kinh ngạc vừa vui mừng. Đường đường là tú tài lại vô sỉ đến mức như thế, thật sự là hiếm thấy. Kết quả cuộc đấu bát cổ đã được định đoạt, Diêu Phục đã không còn khả năng lật ngược tình thế được nữa.Trương Nguyên giờ thanh thế đã vang xa, đến cả đại tông sư cũng hết lời khen ngợi hắn. Tiếc là năm nay không mở kỳ thi, nếu không đại tông sư sẽ lập tức đặc cách cho Trương Nguyên trở thành tú tài, bởi vậy chỉ có thể chờ đến năm sau mà thôi. Năm nay Trương Nguyên mới mười lăm tuổi. Đến năm mười bảy tuổi đỗ sinh đồ vẫn còn được xem là trẻ. Thương Chu Đức hỏi:
-Nghe nói trước kia bệnh mắt của Trương công tử rất nguy kịch. Giờ đã khỏi chưa?
Lời này giống như là kiểm tra tình trạng sức khỏe trước hôn nhân vậy. Trương Nguyên dè dặt trả lời:
Bệnh đau mắt của vãn bối là bị đột phát đầu tháng tư, chủ yếu là do bên trong cơ thể nhiệt khí quá thịnh, vốn tính tình nóng nảy lại quá ham thích đồ ngọt nên mới thành ra như vậy. May nhờ danh y Lỗ Vân Cốc tiên sinh chữa trị tận tình chu đáo, đến trung tuần tháng bảy đã cơ bản khỏi hẳn. Lỗ tiên sinh còn dặn dò về sau phải dưỡng mắt, chớ để mắt làm việc quá sức gây tổn hại tới thị lực.
Thương Chu Đức nói:
-Vậy Trương công tử đọc sách quá chuyên cần cũng không ổn.
Trương Nguyên nói:
-Cho nên hiện tại vãn bối lấy việc nghe sách là chính, đọc sách là phụ.
Thương Chu Đức cười nói:
-Được. Trương công tử có tài nghe một lần nhớ ngay. Rất tốt, rất tốt.
Thương Chu Đức vốn có một chút băn khoăn nhưng nghe Trương Nguyên nói vậy thì đã gạt bỏ được hết, lại hỏi Trương Nguyên một vài chuyện trong nhà, về chuyện cha của Trương Nguyên là Trương Thụy Dương, rồi chuyện tỷ phu của Trương Nguyên là Lục Thao. Đồng thời gã cũng xem xét rất kĩ thần thái của Trương Nguyên. Trương Nguyên không kiêu không nóng nảy, thần thái đạo mạo nho nhã, , trả lời thì luôn rất rõ ràng minh bạch.
Thương Chu Đức rất mừng, thầm nghĩ: “Tiểu muội Đạm Nhiên tới vườn Thương Đào, không thích Trương Ngạc của Tây Trương mà lại chấm đúng Trương Nguyên ở Đông Trương này, quả nhiên là có con mắt tinh đời. Đây quả là một cuộc nhân duyên tốt.
Hơn nữa gia thế của Trương Nguyên cũng không tệ. Bàn về Trương thị ở Sơn Âm, tuy rằng có chút thanh bần, nhưng chỉ cần có công danh thì điền sản nô bộc tự nhiên sẽ đến thôi. Hơn nữa, rõ ràng là Trương Nguyên cũng biết rõ hôm nay ta mời hắn đến đây là vì việc gì. Ta hỏi hắn những việc vặt vãnh không đâu, hắn vẫn kiên nhẫn đáp lại, xem ra là rất có thành ý. Tốt lắm, tốt lắm. Chỉ có điều Trương Nguyên tự xưng là “vãn bối”, cách xưng hô như vậy có chút không ổn. Nếu như gả tiểu muội Đạm Nhiên cho hắn thì hắn chính là em rể ta, hắn xưng “vãn bối” thì không được rồi. Tiểu Huy lại gọi hắn là “Trương công tử ca ca”, thật sự là loạn, loạn quá!. Ừ, giờ cũng không vội sửa lại, đợi sau khi đính hôn hẵng nói.”
Tỳ nữ Phương Hoa nắm tay hai tỷ muội Thương Cảnh Huy và Thương Cảnh Lan. Ba người đứng ở sảnh bên, từ cửa nhỏ nhòm vào chính sảnh xem Trương Nguyên nói chuyện với các bậc tiền bối của Thương thị. Tiểu Cảnh Huy nhẹ giọng hỏi Thương Cảnh Lan:
-Tỷ tỷ, thúc muốn kiểm tra tài nghệ Trương công tử ca ca sao? Trương công tử ca ca phải trả lời thật nhiều vấn đề, mà đều đáp đúng cả. Xem thúc phụ cười vui đến như vậy kìa.
Thương Cảnh Lan nói còn nhỏ hơn, lại tỏ ra có chút đắc ý:
-Muội không hiểu sao, là thúc phụ muốn gả Đạm Nhiên cô cô làm vợ Trương công tử đấy.
Cảnh Huy giật mình, cặp mắt sáng mở to, con ngươi đen lánh, cái miệng nhỏ nhắn hơi mở rộng ra.
Tỳ nữ Phương Hoa sợ tiểu Cảnh Huy nói lớn tiếng thì vội vã cúi người ôm lấy nàng, lui về sau sảnh bên. Thương Cảnh Lan cũng đi theo, nói giọng trách móc:
-Nhà có khách mà muội nói lớn như vậy, như vậy là thất lễ có biết không!
Thương Cảnh Huy nhíu hai hàng lông mi, nói:
-Tiểu cô cô bị gả cho Trương công tử ca ca, vậy là chẳng phải ta sẽ không còn có tiểu cô cô nữa sao?
Thương Cảnh Lan cười cười, tỏ vẻ muội muội vẫn còn ngây thơ về vấn đề này, nàng chẳng thèm trả lời.
Tỳ nữ Phương Hoa vội vàng nói:
-Sao lại không có cô cô nữa? Đạm Nhiên đại tiểu thư vẫn là cô cô của tiểu thư Cảnh Huy mà. Bất cứ lúc nào tiểu Huy cũng có thể tới thăm tiểu cô cô, còn cả Trương công tử nữa.
Thương Cảnh Huy lập tức vui vẻ hẳn lên, quay sang hỏi Thương Cảnh Lan:
-Sao tỷ tỷ không nói trước việc này chứ, làm ta chẳng biết gì cả
Thương Cảnh Lan nói:
-Ai bảo muội cứ đặt mình xuống là ngủ khò khò rồi. Là ta nghe trộm mẫu thân và Lương mụ nói chuyện với nhau nên mới biết đó, hì hì.
Tiểu hài tử tuy rằng còn nhỏ nhưng rất lanh lợi, nhìn có vẻ như không chú ý nghe nhưng thật ra lại đã nghe hết bí mật từ đầu chí cuối không sót một chi tiết nào. Thương Cảnh Huy lắc lắc thân mình tỏ vẻ không chịu:
-Sao tỷ tỷ không gọi ta tỉnh dậy . Tỷ tỷ không ngoan nha, tỷ tỷ giả vờ ngủ.
Thương Cảnh Lan bĩu môi nói:
-Sao nóita không ngoan. Là tại muội tham ngủ, không nghe được chuyện thú vị, còn trách được ai đây.
Thương Cảnh Huy cứ giãy nảy trong lòng tỳ nữ Phương Hoa, rồi lại nhảy xuống dưới đất, nói:
-Ta đây sẽ tự mình đi hỏi tiểu cô cô.
Tỳ nữ Phương Hoa vội vàng giữ nàng lại, nói:
-Không thể đi hỏi Đạm Nhiên đại tiểu thư được, cô cô sẽ xấu hổ đấy.
Thương Cảnh Huy “ồ” lên một tiếng, giơ tay ôm lấy tỳ nữ Phương Hoa, sau đó ghé vào bên tai Phương Hoa nhỏ giọng hỏi:
-Phương Hoa, tiểu cô cô gả cho Trương công tử ca ca chuyện này là thế nào?
Phương Hoa đáp:
-Chính là thành thân, kết làm vợ chồng đó
Tiếng nói của Thương Cảnh Huy càng nhỏ hơn, hỏi:
-Kết làm vợ chồng là chuyện gì?
Khi hỏi chuyện này, tiểu cô nương này còn biết thẹn thùng, khuôn mặt nhỏ nhắn úp vào bên cổ của tỳ nữ Phương Hoa, không dám ngẩng đầu lên.
Tỳ nữ Phương Hoa cũng chỉ mới mười sáu tuổi, chuyện nam nữ chưa hiểu rõ hết, cổ lại bị tiểu Cảnh Huy làm cho ngứa ngáy nên cười hì hì, rụt cổ lại nói:
-Đúng vậy, chính là hai người có thể ở chung một chỗ với nhau, không xa rời nhau.
Thương Cảnh Huy lại “ồ” lên một tiếng. Cái đầu nhỏ gật gật, dường như đã hoàn toàn hiểu rõ nên không hỏi thêm gì nữa. Điều này cũng khiến cho tỳ nữ Phương Hoa thở phào một hơi nhẹ nhõm.
Ở trong chính sảnh, Thương Chu Đức có mấy lời không tiện nói ở chỗ đông người, bèn nói:
-Mời Trương công tử đến thư phòng của đại huynh ta ngồi ngắm cảnh và thưởng ngoạn thi họa. Ta cũng còn có một số chuyện muốn đàm luận với Trương công tử.
Trương Nguyên liền đứng dậy, , cúi chào những người nhà họ Thương khác đang ngồi đó rồi cùng Thương Chu Đức đi qua một đình viện. Thương Chu Đức dẫn hắn đi vào một thư phòng lớn, trong đó có rất nhiều tủ sách và đổ cổ, nói:
-Đây là nơitrước kia đại huynh ta vẫn hay đọc sách . Đại huynh ta chính là phụ thân của hai tỷ muội Cảnh Lan, Cảnh Huy, hiện đang làm quan ở kinh thành. Huynh ấy rất thích sưu tập tranh chữ. Mời Trương công tử cứ xem tự nhiên.
Trương Nguyen hổ thẹn nói:
-Vãn bối chỉ biết đọc vài câu bát cổ, về thi họa chưa kịp học qua.
Thương Chu Đức mỉm cười nói:
-Triều đại nào phải cũng lấy khoa cử làm gốc rễ để lập quốc. Người đọc sách đều lấy công danh làm đầu rồi mới nghĩ tới những chuyện khác. Năm đó đại huynh ta cũng là chuyên về bát cổ, sau đó thi đậu tú tài rồi mới có tâm tư sưu tập thưởng thức tranh chữ đó chứ.
Nói xong y liền mở một bức họa đang cuộn tròn, đó là bức “ngựa phi nước đại”, nói:
-Đây là bức vẽ tuấn mã Tào Bá của Triệu Tùng Tuyết, phía trên còn có thơ của Nam Đường Vương Ngọc Lâm. Tất cả đều đạt tới độ tinh thâm kỳ diệu.
Khi Trương Nguyên đang thưởng thức bức thi họa của Triệu Mạnh, Thương Chu Đức lại mở một cuộn tranh khác, giấy mực vẫn còn mới. Bức họa vẽ một cây tử đằng, một thiếu nữ đang đá cầu, hai con bướm bay lượn đuổi nhau trên cây cầu đá. Thương Chu Đức nhìn thần sắc của Trương Nguyên, nói:
-Trương công tử thấy bức họa này thế nào?
Trương Nguyên thấy thiếu nữ trên tranh vẽ kia có khuôn mặt rất giống Thương Đạm Nhiên, hai chân nhẹ nhàng linh hoạt, đôi giày đế bằng được miêu tả tinh tế. Trương Nguyên lập tức hiểu được dụng ý của Thương Chu Đức khi bảo hắn ngắm nhìn bức tranh. Đế giày thêu chính là giày mà phụ nữ thường đi. Đế giày thêu bằng biểu thị người phụ nữ đó không bó chân. Thương Chu Đức thật sự rất khéo léo, chắc chắn sau đó sẽ thảo luận với hắn về việc phụ nữ bó chân để thăm dò ý tứ của hắn. Đây là cửa ải cuối cùng. Nếu như hắn thích việc bó chân và xem thường con gái không bó chân thì chắc chắn Thương Chu Đức sẽ thay đổi thái độ, rồi lập tức tiễn khách luôn chứ đừng nói gì đến chuyện thưởng cúc nữa. Trương Nguyên không muốn Thương Chu Đức phải tốn công vòng vo rào đón mãi, liền tự mình nói ra trước:
-Vãn bối cho rằng bó chân vốn không phải việc gì thích thú đối với phụ nữ trong thiên hạ, đó chỉ là một tập tục xấu, đến nỗi tự hại mình phải đau đớn cả đời. Nếu như con gái trên thế gian đều giống như cô gái trong bức họa thì vẻ đẹp tự nhiên không cần phải giấu diếm nữa. Vãn bối từng nói rằng, nếu cưới vợ sẽ không cưới phụ nữ bó chân.
Về việc tiểu muội Thương Đạm Nhiên không bó chân, Thương Chu Đức cảm thấy có chút bất đắc dĩ, vốn có chút bận tâm rằng trong lòng Trương Nguyên sẽ có chút khúc mắc. Nhưng địa vị của Thương thị cao, Trương Nguyên cũng đã thấy qua dung mạo đẹp đẽ của tiểu muội Đạm Nhiên, hơn nữa chân của nàng cũng không to đến mức dọa người. Cho nên y cũng nghĩ rằng Trương Nguyên không vì việc này mà sẽ cự tuyệt chuyện hôn nhân. Nhưng lúc này nghe Trương Nguyên nói như vậy, y thật sự là vừa mừng vừa kinh ngạc, không khỏi không tán thưởng:
-Hay lắm, hay lắm! Kỳ duyên! Kỳ duyên!
Chương 100: Trái tim bối rối
Tâm trạng của Thương Chu Đức rất tốt, mỉm cười cuộn bức tranh thiếu nữ đá cầu lại. Trương Nguyên lại nói:
-Thương thúc, nếu có thể, Vãn bối muốn được Thương thúc tặng lại bức họa này.
Thương Chu Đức cười ha hả nói:
-Việc này không thể do ta quyết định được, nhưng ta có thể thay công tử hỏi chủ nhân bức tranh này có đồng ý muốn tặng hay không?
Rồi y ra ngoài thư phòng, gọi một tỳ nữ tới dặn dò gì đó vài câu. Tỳ nữ kia nhận lệnh rồi vội vàng bước đi.
Trương Nguyên thầm nghĩ:
-Bức họa này quả nhiên là do Thương Đạm Nhiên vẽ. Đúng là tài nữ. Ta hơi có chút tự ti đó về sau còn phải học hỏi nhiều.
Thương Chu Đức trở lại thư phòng, nói:
-Trương công tử, ta cũng không khách sáo với cậu nữa. Về sau ta sẽ gọi thẳng cậu là Giới Tử hiền đệ, cậu hãy gọi ta là Thương nhị huynh. Cái gì mà “Thương thúc” rồi “vãn bối” ấy, nghe chẳng tự nhiên chút nào.
Trương Nguyên mỉm cười đồng ý.
Thương Chu Đức nói:
-Giờ vẫn còn chưa đến giờ tỵ, dùng cơm thì hãy còn sớm, chi bằng chúng ta đi ngắm hoa cúc đi, thế nào? Nhưng đường khá là xa đó,ở phía nam chân núi Bạch Mã.
Trương Nguyên nói:
-Hay lắm. Vãn bối đã đến đây rồi mà chưa có dịp thưởng thức hoa cúc.
Thương Chu Đức cười ha hả, đi ra khỏi thư phòng với Trương Nguyên. Vừa mới ra ngoài thì trông thấy tỳ nữ lúc nãy.
Nàng chạy lại nói:
-Nhị lão gia, đại tiểu thư nói bức họa kia tùy ý nhị lão gia xử trí.
Thương Chu Đức “ừ” một tiếng, rồi nói với Trương Nguyên:
-Đợi khi cậu về Sơn Âm thì ta sẽ cho người mang bức họa sang cho cậu.
Trương Nguyên vui vẻ nói:
-Đa tạ.
Hắn nghĩ đưa bức tranh này cho mẫu thân xem, chắc mẫu thân sẽ vui mừng.
Một cậu bé mười mấy tuổi đi tới trước mặt Thương Chu Đức thi lễ nói:
-Phụ thân muốn đi đâu vậy?
Thương Chu Đức nói:
-Nghị Nho, mau tới bái kiến Giới Tử huynh, à không, Giới Tử thúc đi. Vị này chính là Trương Giới Tử ở Sơn Âm có tiếng là tinh thông bát cổ đó. Ngươi phải gọi là Giới Tử thúc.
Đứa trẻ này là Thương Nghị Nho, con của Thương Chu Đức. Thương Nghị Nho nhìn Trương Nguyên, thấy Trương Nguyên dù lớn hơn mình vài tuổi nhưng cũng chỉ là một thiếu niên, râu còn chưa có mà lại bắt cậu gọi là “thúc” nên cậu có phần không cam lòng, đành gọi một tiếng qua loa “Giới Tử thúc” rồi có ý thoái thác, nói:
Mẫu thân gọi hài nhi
rồi chạy mất tăm.
Thương Chu Đức lắc đầu với Trương Nguyên, nói:
Đúng là khuyển tử, cả ngày chỉ biết chơi đùa. Năm nay đã mười tuổi mà “Hiếu kinh” còn chưa đọc xong. Khi Giới Tử mười tuổi, hẳn là đã đọc hết “Ngũ kinh” rồi nhỉ.
Trương Nguyên thầm nghĩ: “Nửa năm trước Trương Nguyên cũng giống như Thương Nghị Nho bướng bỉnh ham chơi này, mười lăm tuổi còn chưa nhập trường xã, vừa mới đọc xong “Tứ thư” đây thôi. Hắn nói:
-Trẻ con ham chơi âu cũng là chuyện bình thường. Lúc trước đệ cũng như thế, sau mới biết tới trường xã xin học đó chứ.
Vừa đi vừa nói chuyện, chẳng mấy chốc thì đã ra ngõ bên hông nhà, rồi đi ra hậu viên. Tất cả bờ nam của khúc sông Đông Đại đều thuộc hậu viện của Thương thị. Nhưng mười mấy mẫu đất trồng hoa cúc không phải ở trong, mà ở ngoài hai dặm phía nam chân núi Bạch Mã. Đi tới núi Bạch Mã, nếu đi theo đường rừng thì sẽ có rất nhiều bụi rậm nên rất khó đi, còn đi đường thủy thì rất tiện lợi, chỉ cần vượt qua hồ Đông Đại là đã đến chân núi Bạch Mã.
Một con thuyền hai trượng đã đợi sẵn ở bên bến tàu nhỏ tại hậu viên của Thương thị, hai người hầu đang đứng chống sào ở đầu thuyền.
Thương Chu Đức mời Trương Nguyên lên thuyền trước. Trương Nguyên trèo lên thuyền, quay đầu lại thì thấy một tiểu đồng chạy tới chỗ Thương Chu Đức nói:
-Nhị lão gia, nhị thái thái mời người trở về.
Thương Chu Đức tỏ vẻ không vui, nói:
-Ta muốn dẫn khách tới vườn cúc. Có chuyện gì chờ ta về rồi nói sau.
Tiểu đồng nói:
-Là cháu trai của nhị thái thái đến, tên là Kỳ Hổ Tử, Kỳ thiếu gia.
Thương Chu Đức “ồ” một tiếng, nói:
-Kỳ Hổ Tử hôm qua đã tới rồi, đâu có nghe hắn nói hôm nay sẽ tới đâu. Có chuyện gì mà gấp vậy?
Tiểu đồng lắc đầu nói không biết.
Trương Nguyên nói:
-Thương nhị huynh không cần phải theo ta đâu. Ta tự đi vườn cúc cũng được. Đi một mình càng tự do.
Thương Chu Đức cười nói:
-Cũng được, Giới Tử đệ cứ đi trước đi. Huynh đi xem Kỳ Hổ Tử kia có chuyện gì quan trọng rồi sẽ qua đó với đệ.
Rồi y lệnh cho người quản sự bên cạnh đi cùng Trương Nguyên. Người quản sự này cũng chính là người đã sang Sơn Âm mời Trương Nguyên tới.
Thương Chu Đức đi rồi, Trương Nguyên và vị quản sự kia ngồi vào khoang thuyền. Con thuyền bắt đầu từ từ chuyển động, chẳng mấy chốc đã đi hết hai dặm đường . Bên này sông cũng có một một bến tàu cho tàu thuyền neo đậu, nó được lát bằng đá xanh cao cấp. Vị quản sự kia nhảy lên bến tàu trước rồi đỡ Trương Nguyên lên sau. Trương Nguyên nói:
Không cần, không cần.
Rồi tự mình nhảy lên bờ.
Trước mặt là hồ nước trong xanh, bên trái chính là núi Bạch Mã ở phía bắc thành tây của Hội Kê. Cả một mảnh vườn lớn phía nam chân núi Bạch Mã đều thuộc về Thương thị, cả thảy ước chừng hai ba trăm mẫu, bạt ngàn những sơn trà là sơn trà.
Loại hạt sơn trà này dùng để chế biến ra dầu chè có mùi thơm ngát. Một cân dầu sơn trà nguyên chất có giá bán khoảng bốn lượng bạc. Một mảng vườn cây trà rộng lớn như vậy, hàng năm có thể mang về cho Thương thị mấy trăm lượng bạc.
Từ lưng chừng núi đi lên, xung quanh vùng trồng sơn trà còn có một vườn cúc. Bên cạnh có xây một mái nhà tranh ba gian và một tòa trúc đình. Quản sự dẫn Trương nguyên đi men theo con đường nhỏ ở vườn trà, tới một chỗ trống trải thì ngẫu nhiên quay đầu lại nhìn, dừng bước nói:
-Trương công tử, nhị lão gia nhà ta đã đến.
Trương Nguyên quay đầu nhìn xuống hồ Đông Đại dưới núi thì thấy một con thuyền bồng đang từ từ cập bến tàu ở phía vườn trà, liền nói:
-Chúng ta hãy đi xuống đợi đi.
Rồi hắn quay người rảo bước đi tới bến tàu. Con thuyền kia cũng vừa lúc cập bờ. Người lái thuyền cũng là một tay lái đò có hai năm kinh nghiệm. Khi thuyền dừng hẳn thì có một lão vú nuôi đi ra trước khoang thuyền, người này chính là Lương ma ma mà hắn đã gặp ở Thương Đào viên lần trước. Lương ma ma mỉm cười gật đầu chào Trương Nguyên rồi quay đầu lại nói:
-Đến nơi rồi, cẩn thận một chút.
Một cô bé đáng yêu chui ra. Đôi lông mày nhỏ xinh, đôi mắt sáng trong như nước, nàng mặc trên người một bộ áo gấm bằng lông chồn nhỏ.
Nàng liếc nhìn Trương Nguyên, lập tức cười híp cả mắt, giọng nói trong trẻo vang lên:
-Trương công tử ca ca, ta đến rồi.
Trương Nguyên tiến về phía trước vài bước, chìa tay ra nói:
-Nào, bước quá đây, cẩn thận dưới chân.
Thương Cảnh Huy khẽ giơ tay ra nắm lấy tay của Trương Nguyên, hai chân nhảy lên bờ, nói chuyện với Trương Nguyên không chút e dè. Rồi nàng lại khom người, cái đầu nhỏ hướng về phía trong khoang thuyền, hô lên:
-Cô cô, mau lên đây đi, mau lên đây đi.
Lương ma ma và tỳ nữ Phương Hoa đều đã lên bờ. Hai người đều cố nín cười, nhìn chằm chằm vào trong khoang thuyền, muốn xem cảnh đại tiểu thư Thương Đạm Nhiên khi ra gặp Trương công tử thì thế nào. Thương Cảnh Huy thấy cô cô mãi không ra, liền hô lớn tiếng hơn:
Cô cô… thậm chí còn định lên thuyền gọi.
Trương Nguyên vội vàng giữ nàng lại, nói:
Đừng nóng vội, cô cô muội sẽ ra ngay thôi.
Thương Đạm Nhiên ngồi ở trong khoang thuyền rốt cục cũng không thể ngồi không yên được nữa rồi. Cô cháu gái tinh nghịch của nàng nhất định đòi quấn lấy nàng, đòi nàng phải dẫn đi tìm Trương công tử ca ca bằng được. Nàng cũng không biết nên làm thế nào, nhất thời hồ đồ mới mang nó theo. Lúc này thật sự là xấu hổ, xấu hổ chết mất. Bây giờ cô quỷ con kia lại đang ngoan cố thúc giục nàng, nàng đành phải lên tiếng:.
-Đừng kêu nữa được không?
Thương Đạm Nhiên hơi khom người đi ra khỏi khoang thuyền. Nàng đội mũ Chiêu Quân, mặc áo lông chồn màu tía, áo khoác gấm Tô Châu, khuôn mặt rạng ngời như ánh bình minh, đôi mắt trong veo mà kiều diễm như làn nước thu. Vẻ mặt nàng nửa e thẹn, nửa buồn bực, vui buồn lẫn lộn. Nàng kéo vạt áo nhẹ nhàng lên bờ, chỉnh đốn lại trang phục rồi thẹn thùng vén áo thi lễ với Trương Nguyên, rồi lại nói khẽ rất nhanh một điều gì đấy mà ngay cả người thính tai như Trương Nguyên cũng không nghe rõ. Thương Đạm Nhiên dắt Thương Cảnh Huy bước nhanh lên núi. Tiểu Cảnh Huyvừa đi vừa quay đầu lại kêu lên:
-Trương công tử ca ca mau đi thôi.
Rồi lại hỏi cô cô:
-Cô cô, người cười gì vậy?
Sau đó bóng hai người đã bị cây sơn trà che mất.
Lương ma ma và tỳ nữ Phương Hoa cùng vội vàng đi theo, vị quản gia đi theo Trương Nguyên trợn tròn mắt há hốc mồm,không biết nên làm thế nào cho phải. Đại tiểu thư lên trên núi, đương nhiên ông ta cũng không tiện đi cùng. Còn vị Trương công tử kia phải làm sao bây giờ? Hỏi:
-Trương công tử người xem, giờ phải làm sao?
Trương Nguyên tất nhiên không phải vì lễ giáo phong kiến “nam nữ thụ thụ bất thân” mà không dám lên núi. Bây giờ nữ lang Thương thị kia cũng gần như là vị hôn thê của hắn rồi, gặp mặt bồi đắp tình cảm một chút thì đã sao nào? Chẳng lẽ hắn phải chờ đến khi động phòng hoa trúc mới gặp mặt ư?
-Quản gia, nếu ông không lên đó thìcứ ở đây chờ ta. Ta tự lên núi thưởng cúc một mình.
Giọng điệu của Trương Nguyên rất tự nhiên.
Quản sự liên tục gật đầu nói:
-Vâng, xin Trương công tử cứ tự nhiên.
Trương Nguyên cất bước lên núi, men theo thềm đá uốn lượn dưới tàng cây sơn trà, đi tới vườn cúc. Còn chưa thấy được hoa cúc thì hắn đã cảm thấy hơi lạnh xộc vào mũi. Đã là cuối tháng mười rồi, mùa đông thật rét. Rất nhiều bong cúc đã tàn, chỉ có Lục mẫu đơn”, “quyển châu liêm”, “lân trảo cúc” là còn chịu được rét nên vẫn còn nở.
Vườn cúc mười mẫu rất rộng, tạm thời vẫn chưa nhìn thấy Thương Đạm Nhiên và Thương Cảnh Huy đang ở đâu. Trương Nguyên cũng không vội đi tìm mà rong chơi trên đường mòn trong vườn hoa, nhàn nhã ngắm những cành cúc tàn trong sương, lại càng thích ngắm những đóa hoa cúc nở muộn bất chấp thời tiết giá rét này. Gần trưa, ánh mặt trời chiếu rọi, hắn bỗng cảm thấy ấm áp dễ chịu trong người. Khi đang ngắm một cây “quyển châu liên” thì hắn chợt nghe tiếng tiểu Cảnh Huy cách đó không xa đang vui sướng gọi:
-Trương công tử ca ca, bọn muội ở trong này. Huynh mau đến tìm chúng muội đi.
Trương Nguyên lên tiếng rồi đi tìm theo hướng có tiếng gọi, đi tới bên cạnh trúc đình. Hắn không thấy tiểu Cảnh Huy mà chỉ thấy Thương Đạm Nhiên ngồi ở trong đình trúc, đứng quay lưng về phía hắn. Chiếc mũ Chiêu Quân đã tháo xuống, để lộ ba búi tóc của cô gái chưa chồng. Thương Đạm Nhiên khẽ cắn môi, mỉm cười e lệ....
-Ha ha, Trương công tử ca ca, ta ở trong này.
Tiểu Cảnh Huy sáu tuổi từ bên đình bất ngờ chạy tới chỗ Trương Nguyên. Tỳ nữ Phương Hoa đuổi theo phía sau, không ngừng kêu lên:
-Cẩn thận, cẩn thận, đừng chạy nữa.
Lương ma ma đe dọa:
-Cảnh Huy tiểu thư không nghe lời, trở về ta sẽ bảo thái thái bắt cháu bó chân, xem có còn chạy loạn nữa không!
Thương Cảnh Huy chạy một vòng quanh trúc đình, vừa chạy vừa cười nói:
-Không bó chân, không bó chân đâu. Cô cô cũng không bó mà.
Lương ma ma và Phương Hoa nhất thời đều giật mình đứng sững lại, đưa ánh mắt e ngại nhìn Trương Nguyên. Tiểu Cảnh Huy đột nhiên nói ra bí mật kia, không biết Trương Nguyên nghe được có hài lòng hay không?
Trương Nguyên mỉm cười, bước đến nói:
-Bó chân không tốt, không thể đi không thể chạy, chẳng khác gì là nửa tàn phế. Chuyện tồi tệ nhất trên thế gian chính là người đẹp bó chân.
Tiểu Cảnh Huy bé nhỏ chạy đến bên cạnh Trương Nguyên, tủm tỉm cười nói:
-Trương công tử ca ca thật tốt, còn nói giúp cho tiểu Huy nữa.
Rồi nàng lại thấy cô cô Thương Đạm Nhiên ngồi lẳng lặng ở trong đình, bèn lên tiếng:
-Sao cô cô không nói gì, ngày thường cô cô vẫn hay nói mà.
Thương Đạm Nhiên thật sự bị đứa cháu nhỏ này làm cho nhức đầu, đi cũng không được mà ở lại cũng không xong. Chính lúc con tim đang bối rối thì trông thấy Trương Nguyên bước đến, thi lễ với nàng:
-Đạm Nhiên tiểu thư, tại hạ xin bái kiến Đạm Nhiên tiểu thư...
Thương Đạm Nhiên vội vàng đứng dậy đáp lễ. Không biết tại sao lần này gặp lại này lại khiến cho nàng bối rối hơn cả lần gặp mặt ở giữa đảo Thương Đào viên dạo trước.. Con tim cứ chẳng chịu vâng lời, đập thình thịch không ngừng…
Chương 101: Tâm sự của Cảnh Huy.
Mặt trời chính ngọ ấm áp chiếu xuống vườn hoa cúc. Hương thơm thoang thoảng khắp nơi. Rừng cây sơn trà thấp bé rậm rạp kéo dài từ lưng chừng núi đến tận mép nước dưới chân núi. Từ trên trúc đình ở lưng chừng núi nhìn xuống cái hồ to ở phía Đông, có thể trông thấy thuyền bè lui tới ở phía xa xa. Tuy không nghe được tiếng người và tiếng mái chèo, nhưng nhìn là thấy ngay các tàu thuyền to nhỏ này đều bị một chữ “lợi” vô hình dẫn dắt đi.
Từ xưa đến nay, bản năng con người là muốn mưu sinh, chuyên cần đọc thi thư để cầu lấy công danh, nói cho cùng cũng chỉ muốn đạt được cái “lợi” lớn hơn trong đời. Nhưng thật ra những người trên thuyền kia khác biệt so với những kẻ cầu công danh, trông họ có vẻ thoải mái không gò bó, cuộc sống tự do tự tại thích biết bao.
Cũng giống như lúc này, hắn ngồi ở trong trúc đình trên lưng chừng núi, yên tĩnh nhìn cảnh náo nhiệt, tâm tình cảm thấy rất tốt. Hơn nữa còn có Thương Đạm Nhiên xinh đẹp ngượng ngùng ngồi bên cạnh. Trái tim bối rối của Thương Đạm Nhiên dần dần bình tĩnh lại, cảm thấy có chút đồng cảm với Trương Nguyên. Người thiếu nữ thanh nhã xinh đẹp nhẹ nhàng nở nụ cười ngồi bên cạnh, hoàn toàn không chú ý tới cô cháu gái nhỏ Thương Cảnh Huy của nàng đang ngửa đầu lên nhìn nàng không chớp mắt.
Trương Nguyên chỉ vào mấy gian nhà tranh ở dưới đình kia, nói:
-Nếu có thể ở trong đó đọc sách luyện chữ, nhàn rỗi nhìn núi thưởng hoa cúc, thế thì thật là tuyệt.
Thương Đạm Nhiên nói:
-Đại huynh của muội trước kia đã từng ở trong nhà tranh ở lưng chừng núi đó để đọc sách chế nghệ, mặc dù là ở trong thành thị náo nhiệt, nhưng ở trong nhà tranh đó khiến người ta cảm thấy mình như được thoát khỏi thế sự, yên tĩnh vô cùng.
Lời nói tự nhiên thốt ra, nàng cũng nhận thức được dường như họ đã quên từ lâu. Đúng vậy, chính xác cũng đã lâu rồi, cũng đã hơn hai tháng còn gì.
Trương Nguyên nói:
-Khi đó chắc Đạm Nhiên tiểu thư cũng không lớn hơn tiểu Cảnh Huy lắm. Nhìn tiểu Cảnh Huy bây giờ có thể tưởng tượng ra nàng khi đó.
Thương Đạm Nhiên cúi đầu nhìn thoáng qua cô cháu gái đang dựa vào bên người nàng, mỉm cười nói:
-Bảo Cảnh Huy giống cô cô kìa. Thật là kỳ lạ nha. Sao tiểu Huy lại không lên tiếng vậy ? Chim chích chòe bay đi đâu mất rồi?
Thương Cảnh Huy nói:
-Ta học cô cô mà, thỉnh thoảng cũng phải lẳng lặng suy nghĩ tâm sự một hồi.
Thương Đạm Nhiên buồn cười, liếc mắt nhìn Trương Nguyên một cái rồi lại cúi đầu nhìn cô cháu gái nhỏ, nói:
-Cháu nghĩ đến tâm sự gì, nói cho cô cô nghe?
Thương Cảnh Huy lắc đầu nói:
-Cháu không nói. Tâm sự sao có thể nói ra. Nói ra thì không phải là tâm sự, đúng không ?.
Thương Đạm Nhiên cố nhịn cười, kéo cái tay nhỏ của cô cháu gái, giữ bàn tay lại nói:
-Tâm sự cũng có thể nói mà.
Bỗng nhiên nghĩ tới điều gì, nàng hơi nhếch miệng, rồi lại vuốt ve bàn tay bé nhỏ của cô cháu gái. Bình thường Trương Nguyên không để ý, lúc này hắn nhìn qua thì thấy mặt Thương Đạm Nhiên hơi đỏ, cái mũi thanh ngọc có một lớp phấn mỏng. Còn hai cánh tay kia, một lớn một nhỏ, đều mềm mại và đẹp như ngọc mài, óng ánh như tuyết.
Trong lòng Trương Nguyên có chút phấn chấn, định nói gì thêm nhưng không thể nào sắp đặt câu từ. Vả lại, thời khắc này thời gian chậm rãi trôi qua, Thương Đạm Nhiên lại đột nhiên thở nhẹ một tiếng, chỉ về phía một con thuyền nhỏ đang ở dưới hồ lớn phía Đông cách đó không xa, nói:
-Nhị huynh của ta đến rồi, chúng ta mau trở về.
Rồi nàng quay sang vén áo thi lễ với Trương Nguyên. Nhìn thật kỹ, hàng lông mi dài của nàng khẽ run lên, xinh đẹp tuyệt trần không gì sánh được.
Thương Cảnh Huy “ồ” một tiếng, với tay về phía Trương Nguyên nói:
-Trương Nguyên công tử ca ca, bọn muội đi trước đây. Lần sau ca ca lại đến chứ?
Trương Nguyên cười nói:
-Đương nhiên ta còn đến. Hai ngày nữa ta còn có việc.
Thương Đạm Nhiên đoán được việc Trương Nguyên muốn nói tới là gì, mặt đỏ bừng tim đập mạnh, niềm vui hoan hỉ khó mà diễn tả, nàng nắm tay tiểu Huy đi xuống trúc đình. Nàng chần chừ một chút rồi quay đầu lại nói:
-Nếu Trương Nguyên công tử muốn tới nơi này tĩnh tâm đọc sách thì hãy nói với nhị huynh của ta.
Trương Nguyên lại cười nói:
-Mùa đông trên núi rất lạnh. Mùa hè sang năm, trên núi mát mẻ là lúc thích hợp đọc sách.
Rồi hắn nhìn Thương Đạm Nhiên nắm tay tiểu Cảnh Huy, còn có Lương Mụ và tỳ nữ Phương Hoa bốn người đi xuống núi từ một phía khác. Chắc là đường núi ở đây không dễ đi?
Đang nghĩ như vậy thì hắn thấy tiểu Cảnh Huy chạy trở lại. Áo gấm lông chồn dày không ảnh hưởng đến sự nhanh nhẹn của cô bé. Cô bé chạy đến bên trúc đình, quay lại đuổi tỳ nữ Phương Hoa đang đuổi theo:
-Phương Hoa đừng tới đây. Ta có một câu muốn nói cùng với Trương Nguyên công tử ca ca rồi sẽ đi ngay thôi.
Tỳ nữ Phương Hoa liền đứng cạnh mấy cây cúc tàn. Thương Cảnh Huy đi vào trong đình, khuôn mặt trẻ con nhỏ nhắn trong sáng có chút ngượng ngùng, cái miệng nhỏ nhắn mím môi thật chặt. Trương Nguyên xoay người hỏi:
-Tiểu Huy, có chuyện gì?
Khuôn mặt nhỏ nhắn của Thương Cảnh Huy sáu tuổi ngẩng lên, con mắt lóe sáng, lúc này mới mở miệng nói chuyện được:
-Trương Nguyên công tử ca ca, tiểu Huy cũng muốn giống như cô cô.
-Giống nhau cái gì? Không có gì phải ngại, cứ việc nói đi.
Trương Nguyên mỉm cười khích lệ nói.
Thương Cảnh Huy liền nhanh chóng trả lời:
-Tiểu Huy cũng muốn được gả cho Trương Nguyên công tử ca ca giống như cô cô, được không?
Trương Nguyên liền đứng thẳng người, sau khi lảo đảo một hồi thì lập tức ổn định lại. Hắn tự nói với mình trong lòng phải bình tĩnh, không được dọa trẻ con, liền nhẹ giọng hỏi:
-Sao tiểu Huy lại nghĩ như vậy?
Thương Cảnh Huy quan sát sắc mặt của Trương Nguyên, đáp:
-Chính là tâm sự lúc nãy ta vừa nghĩ đến.
Trương Nguyên cười lắc đầu, nói:
-Cái này không thể được. Ta và cô cô muội xấp xỉ tuổi nhau nên mới xứng.
Tiểu Cảnh Huy cố chấp nói:
-Nhưng ta cũng sẽ lớn lên mà, rồi cũng sẽ lớn giống như cô cô của ta.
Dù là Trương Nguyên đa trí thiện biện cũng không cách nào nói lại được với tiểu cô nương sáu tuổi này, phải làm sao giảng giải đạo lý luân thường đây,. Bài bát cổ này thật quá khó khăn. Thương Cảnh Huy ngửa đầu thấy bộ dạng Trương Nguyên dường như có vẻ khó xử, tiểu cô nương này liền hỏi thêm:
-Trương Nguyên công tử ca ca, việc này không được sao?
Trương Nguyên nói:
-Đúng là không được. Khi nào muội lớn lên sẽ hiểu.
Dù sao cũng chỉ là trẻ con nên tiểu Huy cũng không cảm thấy thất vọng, nói:
-Vậy cũng được, xem sau khi ta lớn lên có thể hiểu được hay không. Mẫu thân của ta cũng như vậy. Ta hỏi chuyện mà bà không trả lời được liền thoái thác nói rằng chờ sau khi ta lớn lên tự nhiên sẽ hiểu được.
Tiểu Cảnh Huy quá thông minh, Trương Nguyên cười nói:
-Mẫu thân tiểu Huy nói đúng. Rất nhiều chuyện sau khi lớn lên sẽ tự nhiên hiểu được.
Tỳ nữ Phương Hoa đang gọi:
-Cảnh Huy tiểu thư, đại tiểu thư thúc giục người rồi.
Tiểu Cảnh Huy lên tiếng “Ta tới đây” rồi quay sang dặn dò Trương Nguyên:
-Trương Nguyên công tử ca ca, huynh đừng đem chuyện của ta nói cho ai biết đó. Đây là tâm sự của tiểu Huy, tiểu Huy chỉ nói cho đúng một mình Trương Nguyên công tử biết thôi.
Trương Nguyên đành phải gật đầu cam đoan:
-Ta không nói, tuyệt đối sẽ không nói.
Tiểu Cảnh Huy mỉm cười, nhỏ giọng nói:
-Bí mật!
Trương Nguyên nói:
-Ừ, bí mật.
Lúc này Thương Cảnh Huy mới yên tâm, hăng hái đi xuống đình, nắm tay tỳ nữ Phương Hoa đi xuống núi.
Trương Nguyên một thân một mình đứng trong đình lắc đầu cười. Rất nhiều người khi còn nhỏ có rất nhiềy ý tưởng và nguyện vọng kỳ quái, sau khi lớn lên đều như giấc mộng, biến mất không còn một dấu vết. Tiểu Huy cũng có thể như vậy. Đến khi lớn hơn một chút, nó sẽ hiểu rõ đây là việc không thể nào, thậm chí còn quên rằng năm xưa đã có tâm sự buồn cười như vậy. Qua lời của quản sự đứng dưới bờ sông, Thương Chu Đức đã biết tiểu muội Thương Đạm Nhiên đã dắt theo tiểu Huy đi đến nơi này.
Cậu ta cười thầm trong lòng, cũng không cảm thấy có gì không ổn. Lễ giáo trói buộc từ thời Vạn Lịch đến nay đã càng ngày càng lỏng lẻo. Cấp bậc chế độ từ từ sụp đổ. Trong năm Hồng Vũ, quy định về trang phục, nơi ở, xe kiệu và những quy định về đẳng cấp đã không còn được người ta tuân thủ. Khu nhà to rộng của phú thương được mô phỏng giống phủ vương hầu, tơ lụa chỉ cần mua là có thể mặc, người xuất thân gia nô cũng dám đi kiệu. Phu nhân dạo chơi ngoài thành, vào miếu thắp hương, xuất đầu lộ diện đã là chuyện không thể trách.
Cho nên nói Thương Đạm Nhiên gặp gỡ Trương Nguyên ở vườn cúc nhà mình thì có là gì. Hôm nay Trương Nguyên trở về cũng sẽ sai người đến xin cưới.
Thương Chu Đức nghĩ như vậy liền đi lên núi. Khi lên tới trúc đình trên vườn cúc thì hắn không nhìn thấy tiểu muội và cháu gái đâu, trong lòng biết ngay là họ đã đi trước, cũng không nhắc tới, chỉ hỏi Trương Nguyên là hoa cúc nơi này thế nào.
Trương Nguyên nói:
-Rất có danh phẩm, chỉ có điều phần lớn đều tàn hết rồi. Nếu như tới sớm một tháng thì hay quá.
Thương Chu Đức cười nói:
-Cũng không muộn, còn nhiều thời gian mà. Tháng chín sang năm ta sẽ lại mời ngươi tới thưởng cúc, uống rượu, haha.
Cười một lát thì y hỏi:
-Giới Tử có biết Kỳ Hổ Tử tới đây có chuyện gì không?
Trương Nguyên thấy Thương Chu Đức nói như vậy, trong lòng hiểu rõ, nhưng miệng nói:
-Cái này thì đệ không biết.
Thương Chu Đức cười nói:
-Kỳ Hổ Tử mười một tuổi đã nghĩ ngợi đến việc lấy vợ. Hôm qua hắn nhìn thấy cháu Cảnh Lan của ta nên hôm nay lại chạy đến nhà cô của nó. Cậu ta lại không có chút xấu hổ nào, nói thẳng là sẽ cưới Thương Cảnh Lan, mọi người ở đấy ai cũng cười, cho nên mới gọi ta về. Hóa ra cậu ta còn chưa bàn bạc với trưởng bối đã tự ý chạy tới đây trước. Bây giờ cấu ấy đã về rồi. Ta bảo nó ở lại dùng cơm nhưng nó không chờ được, nói là phải về viết thư báo cho phụ thân. Ha ha, tên Kỳ Hổ Tử này thật là người nóng vội.
Trương Nguyên thầm nghĩ: “Kỳ Hổ Tử là người kỳ lạ, mười một tuổi đã muốn lấy vợ, thật sự buồn cười. Tuy nhiên theo ta được biết, Thương Cảnh Lan cũng chính là vợ của hắn. Khi Kỳ Hổ Tử bốn mươi tuổi, quân Thanh công chiếm Hàng Châu. Hắn cứu quốc không được liền nhảy sông hi sinh cho tổ quốc. Thương Cảnh Lan thủ tiết sống quãng đời còn lại, rất đáng được kính trọng.
-Kỳ Hổ Tử là thần đồng Sơn Âm. Cảnh Lan tiểu thư xinh đẹp thông minh, kém hai tuổi, quả thật là rất xứng.
Thương Chu Đức gật đầu nói:
-Chuyết kinh (cách gọi vợ thời cổ) đã qua nói với mẫu thân của Cảnh Lan chuyện này rồi. Nói vậy chuyện này cũng không có gì, chỉ có điều Kỳ Hổ Tử và Cảnh Lan còn trẻ, vẫn là chờ hai năm nữa mới đính hôn thì tốt hơn.
Trong lòng ông ta cũng nghĩ: “Dù sao cũng phải đem chuyện hôn sự của tiểu muội Đạm Nhiên định trước rồi hãy nói sau. Làm gì có đạo lý cô cô tuổi thanh xuân ở trong phòng mà cháu nhỏ lại đính hôn trước.” Rồi chợt hỏi:
-Giới Tử, ngươi có nhớ rõ ngày sinh tháng đẻ của mình không. Ta đây có một người bạn, có thể không ngại nhờ hắn giúp ngươi đuổi đi đại vận năm trước.
Đây không phải vì Thương Chu Đức vội vàng muốn đem tiểu muội Đạm Nhiên gả ra ngoài, mà vì Đạm Nhiên lớn hơn một tuổi so với Trương Nguyên. Tục ngữ Thiệu Hưng có nói “Nữ đại nhất bất thành thê” (Nữ hơn một tuổi không làm vợ được). Tuy nhiên trong thực tế cuộc sống, con gái hơn một tuổi làm vợ có rất nhiều, nhưng cũng giống như nữ tử không bó chân, vẫn có những điều kiêng kị. Cho nên phải mời người hợp nhất bát tự trước. Nếu như có gì không ổn thì có thể phá giải trước. Bát tự không hợp thì cũng có thể bổ túc thêm. Trương Nguyên nói:
-Thân mẫu của ta nói là ta sinh giờ tý, ngày mười chín tháng sáu, năm Vạn Lịch hai mươi sáu.
Hắn nghĩ trong lòng: “Tính toán vận mệnh của ta, có thể tính chuẩn được ư? Ta đã nghịch thiên sửa đổi mạng rồi.”
Thương Chu Đức nói:
-Năm Vạn Lịch hai mươi sáu tức là năm Tuất, giờ tý ngày mười chín tháng sáu. Được, huynh đã nhớ rồi.
Đã là chính ngọ, bóng người nằm cả dưới chân rồi. Thương Chu Đức và Trương Nguyên xuống núi rồi ngồi thuyền về nhà, dùng một ít cơm trưa, uống một ít trà, nghỉ ngơi đàm luận một chút rồi Trương Nguyên cáo từ với Thương Chu Đức, mang theo bức “thiếu nữ đá cầu” trở về Sơn Âm. Thương Chu Đức lại bảo người hầu mang xe ngựa tiễn về nhà như trước.
Chương 106: Tiểu sính lễ.
Thấy vẫn còn sớm nên Trương Nguyên dẫn Vũ Lăng đi dọc phố Thập Tự phủ Học Cung tìm Thanh Mặc Sơn Nhân kia để hợp thiếp canh. Phố Thập Tự có hai quầy tướng số, chỉ cách nhau hơn mười bước.
Đang phân vân không biết quầy nào là quầy của Thanh Mặc Sơn Nhân.Chợt từ trong một nhà, một ông lão bộ dạng giống nông dân đứng trước cửa nói lớn:
-Thanh Mặc tiên sinh thật sự là tính toán tài tình. Lão hôm qua lạc mất một con trâu, người nhà khóc sướt mướt, nghĩ rằng là bị trộm mất trâu. Nghe người ta nói phố Thập Tự có Thanh Mặc Sơn Nhân, bói toán ô quẻ ứng nghiệm vô cùng. Lão nửa tin nửa ngờ, hỏi tung tích con trâu một chút, rốt cuộc là bị kẻ phương nào trộm mất đi. Thanh Mặc Sơn Nhân ra tay bói một quẻ thì nói là trâu của lão không bị trộm, chỉ bị mắc kẹt ở khe suối phía đông nam nhà mình. Lão trở về tìm, quả nhiên tìm thấy trâu. Cho nên hôm nay ta cố ý đến tạ ơn Thanh Mặc tiên sinh. Cũng nhờ tiên sinh bói toán như thần.
Một thầy tướng số ở cửa hàng đối diện với góc nhà đi ra, châm chọc nói:
-Không phải hôm nay ông mới cố ý tới, mà là ngày nào cũng tới, nói miết không chán cái vụ trộm trâu đó. Thật nhàm chán quá đỗi, soạn chuyện mới đi ông nội.
Mọi người hai bên cửa hàng đều cười to khiến ông lão kia mặt đỏ bừng lên nói:
-Liên quan gì đến ngươi, ai lo phận nấy, nước sông không phạm nước giếng à nha.
Vũ Lăng nói:
-Thiếu gia, ông lão này là do Thanh Mặc Sơn Nhân mời đến hút khách quá, ngày nào cũng kể đúng một truyện thì chắc là giả rồi. Hay chúng ta đổi nhà khác xem đi?
Trương Nguyên cười nói:
-Ta chọn vị Thanh Mặc Sơn Nhân này rồi.
Rồi đi lướt qua ông lão, bước vào quầy bói toán của gã Thanh Mặc Sơn Nhân kia.
Ông lão kia mừng rỡ, trừng mắt ra oai với thầy tướng số ở góc đối diện. Thầy tướng số kia thấy mình vạch trần như vậy mà chủ tớ Trương Nguyên còn đi vào cửa hàng bên đó, nên tức giận vung tay áo cái “phạch”, rồi bực bội đi vào ngồi trong cửa hàng của mình.
Quầy của Thanh Mặc Sơn Nhân này rất nhỏ. Một thầy tướng số có thể giữ được chỗ làm ăn buôn bán cũng không dễ dàng gì. Bình thường thì mấy người bày ở đầu đường vẫn mời Trương Nguyên. Quầy bói toán của Thanh Mặc Sơn Nhân này còn có một bộ bình phong.
Câu đối trên đó không đúng liên: “Tiểu thệ thánh nhân lập. Lộc mệnh kiếp trước đã định.”
Thanh Mặc Sơn Nhân kia khoảng bốn mươi tuổi, đội mũ trúc, mặt trắng hơi có râu, khoanh tay ngồi ở bàn gỗ nhìn chủ tớ Trương Nguyên bước vào thì trong lòng mừng thầm: “Cơm áo đến rồi đây.”
Rồi ông ta không nói gì, quan sát Trương Nguyên, đợi hắn mở miệng.
Trương Nguyên ngồi xuống ghế trước bàn hỏi:
-Thanh Mặc tiên sinh ạ?
Thanh Mặc Sơn Nhân kiêu ngạo gật đầu một cái:
-Đúng là bỉ nhân. Vị công tử này đến đây có chuyện gì ?
Trương Nguyên nói :
-Đến hợp thiếp canh.
Thanh Mặc Sơn Nhân nhất thời trầm tĩnh lại.
Việc hợp thiếp canh này rất đơn giản, không cần xem sắc mặt, không cần phải âm thầm phỏng đoán, liền duỗi tay trái trên bàn nói :
-Cái sơn nhân học chính là tử bình ngũ tinh thuật, cát hung hóa phúc, ứng nghiệm như thần. Hợp thiếp canh chính là tuyệt kỹ của Sơn Nhân. Mời công tử báo ngày sinh tháng đẻ của hai bên nam nữ.
Trương Nguyên nói ngày sinh của mình và Thương Đạm Nhiên. Thanh Mặc Sơn Nhân kinh ngạc nói :
-Là nữ lớn hơn một tuổi à.
Trương Nguyên nói :
-Chính là vì nữ hơn một tuổi nên mới phải tìm đến Thanh Mặc tiên sinh tính toán giúp đây. Nếu là thuật sĩ bình thường thì nhất định sẽ nói là cô gái này không ổn. Đây chẳng qua là cách nhìn của người trần tục. Thanh Mặc tiên sinh tất sẽ có cao kiến.
Lời này Thanh Mặc Sơn Nhân rất thích nghe, lập tức dùng ngón cái tay trái bấm vào bốn ngón còn lại như bay, nhanh chóng tính ra tứ trụ, đại vận, tiểu vận, năm hạn và cung mạng rồi viết ra giấy cho Trương Nguyên.
Trương Nguyên là “năm thú tuất, tháng kỷ vị, ngày nhâm thân, giờ tý”, còn Thương Đạm Nhiên là “năm đinh bách, tháng quý mão, ngày canh thân, giờ đinh hợi”. Thanh Mặc Sơn Nhân nhìn thật kỹ bát tự trên giấy đỏ một hồi lâu rồi ngước mắt nhìn Trương Nguyên nói:
-Đây là nhân quý, quan sao hữu lý, kỳ nhân thuận lợi, hỉ thần phụ bật. Bát tự của đằng trai nói vậy chính là công tự mệnh tạo nguyệt phùng ấn thụ hỉ quan tinh, vận nhập quan hương phúc tất thanh. Tốt số, tốt số.
Ông ta tán thưởng không ngừng.
Trương Nguyên mỉm cười nói:
-Đa tạ đã nói tốt. Tại hạ hôm nay tới là hợp thiếp canh, xem hôn sự. Xin Sơn Nhân nói thẳng đi.
Thanh Mặc Sơn Nhân lại nhìn mấy cung mạng viết trên giấy đỏ, nói:
-Chế phục hỉ phùng sát vượng vận. Tam phương đắc địa phát hà nan. Cô gái này có mệnh cũng cực kỳ phú quý, chỉ có điều còn nhỏ đã có hình khắc.
Nói xong lời này, ông ta không hề chớp mắt nhìn chằm chằm Trương Nguyên, lời đang nói thì ngừng lại.
Xưa nay thầy tướng số đều như vậy, nói chuyện nói nửa câu và chờ người xem tự lật tẩy.
Trương Nguyên thầm nghĩ:
-Đạm Nhiên tiểu thư ba tuổi tang cha, năm tuổi mất mẹ. Ngay cả sinh ra ở nhà phú quý cũng thực sự là đau khổ. Nhưng chẳng lẽ ta lại không thể cho nàng một cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn sau này ư.
Rồi nói:
-Mời Sơn Nhân nói xem bát tự hai người có thể thành vợ chồng hay không đi.
Thanh Mặc Sơn Nhân thầm nghĩ:
-Người khác đến xem bói thì thích hỏi tới hỏi lui. Thiếu niên này ngược lại khẩu khí thật nghiêm.
Bèn nói:
-Hợp thiếp canh cũng chính là xem lộc mạng của hai bên, ngũ hành trung hòa, bất thiên bất ỷ, xem có thể cơm no áo ấm, sống lâu dài hay không. Nếu như bát tự của hai bên phu thê không tốt thì phải sửa sao cho tốt, nâng cao một tầng nữa. Giống như lộc mệnh nhà trai chỉ có công danh đến tú tài mà cưới nương tử vượng phu thì có thể đỗ đến cử nhân. Cái này gọi là phụ tương sinh, ha ha.
Trương Nguyên cũng cười, cảm thấy Thanh Mặc Sơn Nhân này nói chuyện cũng có chút thú vị, bèn nói:
-Vậy thì xin Sơn Nhân hãy xem cẩn thận cho đằng nam mệnh thủ tuất vậy.
Thanh Mặc Sơn Nhân tinh thần phấn chấn, liền nói một hơi, rằng mệnh “thú tuất” có thể được phong hầu bái tướng, vàng bạc đầy nhà, thê thiếp thành đàn, thọ hưởng hà niên, mệnh tốt vô cùng.
Trương Nguyên thầm nghĩ: “Ba mươi năm sau sẽ có đại kiếp nạn thay đổi triều đại, ảnh hưởng tới vận mệnh của rất nhiều người. Thầy tướng số sĩ thuật này làm sao có thể tính toán ra được.” Hắn chỉ mỉm cười lắng nghe, nói:
-Nói không sai.
Thanh Mặc Sơn Nhân nói được một lúc, thấy vẻ mặt thiếu niên này không màng danh lợi, thờ ơ, không phải vì ông ta nói số mạng của mình tốt mà vui mừng ra mặt, trong lòng hiểu rằng ông ta gặp người không thích nịnh hót đây, bèn nói:
-Ta đây suy tính cẩn thận, mặc dù mệnh của cô gái này lớn hơn nam tử một tuổi nhưng bát tự của hai người không tương khắc. Chỉ có điều Sơn Nhân có một lời này, gặp năm dần, mão thì không nên đón dâu, còn lại thì không sao cả.
Trương Nguyên thầm nghĩ:
-Năm nay là năm nhâm sửu. Năm dần mão chính là năm sau và năm sau nữa. Đúng vậy, nếu tất cả mọi thứ thuận lợi suôn sẻ mà nói thì năm sau ta phải thi hương, sau đó thi hội. Đích xác là trước đó không rảnh cưới vợ. Thanh Mặc Sơn Nhân tính cho ta thật là tốt, ưu sanh ưu dục.
Hắn bèn cười nói:
-Thanh Mặc tiên sinh quả nhiên là hay. Vậy xin ông hãy viết lại trên giấy đỏ đi.
Thanh Mặc Sơn Nhân cầm bút viết lên, rồi niêm phong tấm thiếp lại, nói:
-Công tử tốt số, ta xem cho cậu có mạng nhiều tiền tài, lần này coi xong cũng nên phù hợp với số mạng chứ?
Trương Nguyên cười hỏi:
-Như vậy thì nên thu bao nhiêu tiền?
Thanh Mặc Sơn Nhân nói:
-Phải một tiền tám phân.
Rồi trong lòng ông ta có chút lo lắng không yên, có vẻ không tốt lắm. Bình thường ông ta chỉ lấy tám phân tiền thôi.
Trương Nguyên thì không nói nhiều, chuyện vui mừng sao phải so đo một hai đồng bạc, liền bảo Vũ Lăng đưa cho Thanh Mặc Sơn Nhân hai đồng bạc. Thanh Mặc Sơn Nhân mừng rỡ, đưa chủ tớ Trương Nguyên ra ngoài, lại nói:
-Công tử mệnh tạo, nạp thiếp sớm hơn cưới vợ.
Dường như ông ta lo lắng Trương Nguyên thành thân muộn quá sẽ không tốt, khi thiếu niên huyết khí vẫn còn vượng, cho nên có thiện ý nhắc nhở.
Trương Nguyên cười nói:
-Không phải luật của Đại Minh quy định là chưa đến bốn mươi tuổi chưa được nạp thiếp sao?
Thanh Mặc Sơn Nhân cười nói:
-Chuyện đó là thời Hoàng Lịch xưa rồi. Bây giờ nhìn thế đạo xem, con trai của tôi tớ còn có thể đậy khoa thi cử, người nhà giàu có thể cưới vợ ở hai địa phương. Luật của Đại Minh làm sao có thể quản được đây. Hơn nữa bốn mươi tuổi không có con nối dõi rồi mới nạp thiếp chỉ là người dân chúng công danh bình thường. Trương Nguyên công tử sẽ nhanh chóng đậu tú tài, đậu cử nhân, cần gì phải hạn chế.
Trương Nguyên hỏi:
-Sơn Nhân nhận ra ta à?
Thanh Mặc Sơn Nhân “a” một tiêng, nói lỡ miệng. Coi bói chính là phải nghe ngóng sự tình. Nhà của Trương Nguyên cách Phủ Học Cung không xa. Mấy ngày trước đây lại thường xảy ra chuyện lớn như vậy, làm sao ông ta không biết. Ông ta làm bộ như không biết là để cho tiện. Thanh Mặc Sơn Nhân cười nói:
-Lúc này Sơn Nhân mới tính ra Trương Nguyên công tử chính là Trương Nguyên đại danh đỉnh đỉnh. Ha ha, ngưỡng mộ đã lâu, ngưỡng mộ đã lâu.
Tiên sinh tướng số này rất vui vẻ không có tính ác tục.
Trương Nguyên cất thiếp canh vào trong tay áo rồi từ biệt Thanh Mục Sơn Nhân. Hắn về nhà báo cho mẫu thân biết. Trương mẫu Lã thị rất mừng, sáng ngày hôm sau liền bảo Thạch Song cầm thiếp canh hợp hảo đưa cho Thương thị ở Hội Kê. Thương Chu Đức gọi một quản sự lại để xem ngày nạp hái, liền định ngày mùng sáu tháng này, còn ngày nạp trưng thì quyết định là mười hai tháng sáu. Sau khi nạp thải, nạp chinh thì hôn nhân coi như là đã được xác định rồi.
Sáng sớm ngày mùng sáu, Trương Nguyên dẫn theo Thạch Song, vợ chồng Thúy Cô, còn có tiểu hề nô Vũ Lăng, mướn bốn phu khuân vác làm một tiểu sính lễ tới Thương gia ở Hội Kê để làm lễ nạp thải.
Sau ngày tuyết rơi đầu tiên, đến tận giờ tuyết vẫn chưa tan. Hai bên đường còn có thể nhìn thấy tuyết đọng cao ngút. Dân chúng ven đường biết được đây là Trương Nguyên công tử đại danh đỉnh đỉnh nạp sính lễ tới nữ lang Thương thị thì đều khen ngợi ao ước.
Mọi người bàn luận đoán chừng sính lễ ít nhiều cũng giống Gia Tĩnh trước kia. Dân phong đơn giản, nạp thải chỉ dùng tám loại trái cây, một hộp trà, một vò rượu nhỏ và một đôi ngỗng trăng, lễ cho thượng hộ (gia đình bề trên) ba lượng, trung hộ hai lượng, hạ hộ một lượng.
Còn sau Gia Tĩnh, làn gió xa xỉ bắt đầu nổi lên. Sính lễ từ từ nhiều hơn, hôn nhân chỉ nói đến tiền vàng. Đặc biệt ở Giang Nam, tiểu sính lễ nạp thải phải rất nhiều. Lễ cho bề trên gia đình phải mười tám lượng hai.
Ngoài ra rượu và trái cây còn phải gấp bội. Đối với nhà của Trương Nguyên thì đương nhiên lễ nạp chinh phải lớn: trâm hoa, nhẫn, kim châu bảo thạch, tiền bạc đến một trăm sáu. Còn lễ cho hạ hộ thì thực sự không thể nói hết. Thúy Cô nói:
-Thiếu gia, Thương thị ở Hội Kê là phú hào. Về sau thiếu nãi nãi đó về đây, đồ cưới khẳng định là cực kỳ nồng hậu. Vì thế sính lễ của chúng ta phải nhiều.
Trương Nguyên bật cười:
-Thúy Cô thật là người giỏi tính toán, ngay cả đồ cưới sính lễ cũng tính lời lỗ được.
Đúng giờ thìn, Trương Nguyên dẫn đầu một hàng người tới trước cổng lớn của Thương thị. Thương Chu Đức và một người bề trên trong họ đến đón Trương Nguyên vào. Sau khi thi lễ, dâng trà, vấn an một hồi, đến sau lúc cơm trưa mới có thời gian rảnh rỗi.
Trương Nguyên không thấy chị em Cảnh Lan, Cảnh Huy, lại càng không thấy Thương Đạm Nhiên, liền khéo léo nói với Thương Chu Đức:
-Thương nhị huynh, nếu không có chuyện gì thì đệ muốn lên trúc đình trên núi Bạch mã ngắm cảnh tuyết, chẳng biết có được không huynh?
Thương Chu Đức biết tâm tư của hắn, cười nói:
-Trên núi gió tuyết lạnh lẽo, không nên đi. Sang năm đến khi trời dịu lại, ta sẽ mời đệ đến đó đọc sách.
Trương Nguyên thầm nghĩ: “Ta đã nói qua muốn lên trúc đình ấy tu học. Nhưng chỉ nói với Đạm Nhiên tiểu thư thôi. Chẳng lẽ Đạm Nhiên tiểu thư đã đem chuyện thưa với Thương nhị huynh rồi sao.”
Lại nghe Thương Chu Đức nói:
-Tập tục của Thiệu Hưng, khi có tiểu sính thì nam nữ song phương không thể gặp mặt. Nhưng trò chuyện cách mảnh vải thì không sao. Ngươi đi theo ta.
Chương 107: Lời ngọt ngào qua bức bình phong.
Trương Nguyên đi theo Thương Chu Đức đi vào phòng khách nhỏ ở trong đình viện. Một tấm bình phong chia phòng khách nhỏ ra làm hai phần trong và ngoài. Thương Chu Đức bảo Trương Nguyên đợi một lát rồi đi vào trong bình phong. Bên kia phòng khách nhỏ có cửa thông ra nội viện.
Thời tiết lạnh nên ngồi một chỗ càng lạnh hơn. Trương Nguyên liền đứng nhìn bức bình phong thêu. Đây chính là bức tranh thêu Đường Bá Hổ vẽ cung nữ. Nhân vật trong tranh sắc xảo, áo váy đẹp đẽ, hoặc thổi tiêu, hoặc đánh đàn, đôi mắt đẹp nhìn quanh trông rất sống động. Đây là gấm Tô Châu, tranh thêu vùng khác không có tay nghề tinh xảo và thêu đẹp như vậy. Hắn nghe thấy tiếng bước chân dồn dập nhẹ nhàng. Trương Nguyên lùi một bước thì thấy tiểu Cảnh Huy mặc áo gấm lông chồn đội chạy ra. Cô bé chạy mau quá nên không trông thấy Trương Nguyên đang đứng ở cạnh bình phong, chạy tới ra ngoài liền “hả” một tiếng, rồi đứng ở cửa phòng khách lẩm bẩm lầu bầu nói:
-Trương Nguyên công tử ca ca ở đâu vậy?
-Ta ở trong này.
Trương Nguyên nhẹ nhàng đi ra, mỉm cười.
Tiểu Cảnh Huy xoay người, hai con mắt sáng long lanh trong suốt lập tức cười thành hai hình trăng lưỡi liềm nhỏ, vén áo thi lễ rất lễ phép với Trương Nguyên, sau đó nói:
-Trương Nguyên công tử ca ca, tiểu Huy nên xưng hô với huynh như thế nào? Thúc phụ nói không thể gọi là Trương Nguyên công tử ca ca nữa. Vậy gọi là gì?
Trương Nguyên cúi người mỉm cười nói:
-Trước tiên cũng không vội gì mà sửa. Muội thích xưng hô như thế nào thì hãy xưng hô như thế đi.
Tiểu Cảnh Huy cao hứng, hỏi:
-Trương Nguyên công tử ca ca cưới tiểu cô cô làm vợ, vậy sau này sẽ ở bên này chung với bọn muội sao?
Trương Nguyên nói:
-Việc này còn sớm, còn sớm.
Tiểu Cảnh Huy mở to hai mắt nói:
-Vì sao còn sớm. Chẳng phải hôm nay đã thành thân rồi sao. Vừa rồi ta mới hỏi cô cô, cô cô quay đi không thèm để ý tới ta. Cô cô xấu hổ đâu rồi. Để muội xem cô cô đến chưa?
Cô bé liền nhanh nhẹn chạy đi, chạy đến sau bức bình phong thì reo lên:
-Trương Nguyên công tử ca ca, cô cô ở trong này rồi.
Trương Nguyên nhịn không dám cười ra tiếng, chắp tay thi lễ về hướng bình phong, nói:
-Đạm Nhiên tiểu thư, Trương Nguyên ở bên này thi lễ.
Không nghe thấy tiếng Thương Đạm Nhiên, nhưng lại nghe tiểu Cảnh Huy nói:
-Trương Nguyên công tử ca ca thi lễ với cô cô, sao cô cô không nói chuyện vậy?
Rồi lại reo lên:
-Trương Nguyên công tử ca ca vào đây đi. Cô cô không chịu ra thì huynh hãy đi vào.
Trương Nguyên rốt cục không nhịn được cười. Trong bình phong, Thương Đạm Nhiên cũng không nhịn được cười nữa, càng cười lại càng muốn cười nữa, giống như ngày hôm đó trên đảo đào viên, khiến cho Trương Nguyên lại càng muốn nhìn bộ dạng nàng cười đến hoa cành loạn chiến như thế nào. Tiếng của Thương Cảnh Lan vang lên:
-Tiểu Huy, mẫu thân gọi muội kìa.
Tiểu Cảnh Huy hỏi:
-Chuyện gì vậy?
Thương Cảnh Lan nói:
-Gọi muội đi thì muội đi đi, muội dám cãi lại quân lệnh à?
Tiểu Cảnh Huy “èo” một tiếng, đi tới phía Trương Nguyên vẫy vẫy tay, hồn nhiên nói:
-Trương Nguyên công tử ca ca, muội đi một chút. Hai người khoan hãy nói chuyện, chờ muội đến rồi nói sau. Muội muốn nghe ca ca và cô cô nói chuyện cơ.
Rồi cô bé đi theo tỷ tỷ Thương Cảnh Lan rời đi.
Chim chích chòe Thương Cảnh Huy vừa đi, phòng khách nhỏ lập tức yên tĩnh trở lại. Hai người bên bức “bình phong cung nữ” lặng yên không có tiếng động, dường như căn phòng trống vắng không có người.
Trương Nguyên mở miệng nói:
-Mọi người đi rồi sao?
Cứ như là tự độc thoại.
Trong bình phong lập tức vọng đến một tiếng “ừ”, không phải là Đạm Nhiên đồng ý với lời Trương Nguyên nói mà là để chứng tỏ là nàng vẫn luôn ở đó. Âm trong cổ họng mềm nhẵn, uyển chuyển vang vọng.
Trương Nguyên vốn khéo dùng tai để thưởng thức. Khi nghe thấy tiếng êm tai vừa nãy của Thương Đạm Nhiên thì không khỏi nghĩ: “Về sau để Đạm Nhiên đọc sách cho ta nghe thì thật là tuyệt vời.”
Trương Nguyên hỏi:
-Chúng ta không nói gì thật sao?
Thương Đạm Nhiên sau tấm bình phong cười một tiếng, hạ giọng nói:
-Tiểu Huy thật là hay gây rối thế đấy, thật không chịu nổi nó.
Trương Nguyên nói:
-Cũng rất đáng yêu, rất náo nhiệt.
Thương Đạm Nhiên nói:
-Vâng.
Trương Nguyên nói:
-Mẫu thân của ta trông thấy bức tranh đá cầu kia của nàng, bà ấy rất vui mừng.
Thương Đạm Nhiên đáp:
-Muội càng vui mừng hơn.
Ban đầu hai người nói chuyện rất ngắn gọn, người ở bên ngoài nghe qua có vẻ thấy rất vô vị. Nhưng hai người họ lại cảm thấy rất thân mật, lưu luyến. Vừa đính hôn vừa yêu nhau mà.
Một lát sau, Thương Đạm Nhiên nói:
-Trương Nguyên công tử, chàng có lạnh không. Ở bên này ta có một lò sưởi tay, chàng cầm lấy đi.
Vì câu nói này mà Trương Nguyên lại thấy hiện lên trong đầu cảnh Vương Anh Tư đưa lò sưởi đồng nhét vào trong tay hắn, nên Trương Nguyên lắc đầu nói:
-Không được, nàng hãy giữ đi.
Vừa dứt lời thì hắn thấy ở bên cạnh bức bình phong vươn ra một đôi bàn tay đang cầm lò sưởi nhỏ màu đen. Ngón tay nhỏ và thon dài ấy đặt bên cạnh lò sưởi màu đen càng làm nổi bật sắc da trắng tinh như tuyết kia. Nàng cứ giơ tay đưa lò sưởi ở đó bất động, dịu dàng mà bướng bỉnh.
Trương Nguyên bèn vội vàng đưa tay tiếp nhận. Tay của hắn nhẹ nhàng chạm vào tay của Thương Đạm Nhiên, ngay tức thì có một chút cảm giác tê liệt co giật. Cảm giác này thật tuyệt đẹp. Chắc hẳn Thương Đạm Nhiên cũng có cảm giác như vậy, vì nàng không lên tiếng nói gì.
Trương Nguyên đang nghĩ xem có nên phá vỡ luật lệ tập quán cổ lỗ sĩ bất hợp lý này hay không, cậu ta muốn đi ra phía sau tấm bình phong này nhìn ngắm Thương Đạm Nhiên một cách rõ ràng hơn, nói chuyện cũng đã nói rồi, tay cũng đã chạm rồi. Vậy mà còn giữ quy củ gì nữa chứ. Cái quy củ gì mà tiểu sính lễ không được thấy mặt, quả thực là lừa mình dối người.
Nhưng đang lúc hắn định bước đi thì tiếng bước chân của Thương Cảnh Huy đã vọng đến, lại còn có cả tiếng thở hồng hộc. taco bé chạy tới bên cạnh cửa nói:
-Cô cô, mẫu thân bảo cháu lại mà không có việc gì, chỉ bắt viết hai trang chữ to. Cháu liền viết nhanh rồi chạy đến đây nè.
Thương Đạm Nhiên cười rồi hỏi:
-Tiểu Huy, có phải cháu lại viết ngoáy lấy lệ vài chữ cho xong không?
Tiểu Cảnh Huy cười hì hì, nói:
-Cô cô, tiểu Huy lần sau không dám nữa. Lần này là do tiểu Huy vội vã đến nghe cô cô và Trương Nguyên công tử ca ca nói chuyện thôi mà. Cô cô, các người đã nói chuyện được nhiều chưa, cháu không bỏ sót điều gì chứ?
Nói rồi cô nàng chu cái miệng nhỏ nhắn lên.
Thương Đạm Nhiên nín cười nói:
-Vẫn chưa nói chuyện gì cả, chờ cháu đến đấy.
-Thật không?
Tiểu Cảnh Huy mừng rỡ, rồi lại chợt hỏi:
-Cô cô, lò sưởi tay của cô cô đâu rồi?
Tiểu Cảnh Huy sáu tuổi có tâm tư tinh tế, quan sát tinh tường, lập tức phát hiện ra có điều không đúng, bèn đi nhanh đến bên kia bình phong thì thấy cái lò sưởi đang được Trương Nguyên công tử ca ca cầm trong tay. Tiểu Cảnh Huy giãy nảy lên, giẫm chân nói:
-Cô cô gạt người, cô cô gạt người!
Khuôn mặt xinh đẹp của Đạm Nhiên ửng đỏ:
-Cô cô nào có gạt cháu. Ta đưa lò sưởi cho chàng nhưng không nói gì cả. Cháu hỏi Trương Nguyên công tử ca ca đi sẽ rõ.
Tiểu Cảnh Huy liền tới hỏi Trương Nguyên. Trương Nguyên nói:
-Ta có một chuyện cười chờ tiểu Huy đến để kể cho tiểu Huy nghe này.
Tiểu Cảnh Huy “ha” lên một tiếng, lập tức lấy giận làm vui, nói:
-Hay quá, Trương Nguyên công tử ca ca kể đi.
Trương Nguyên bèn kể:
-Có một người cảm thấy mình không thông minh nên xin thầy thuốc trị bệnh cho hắn để hắn có thể thông minh hơn một chút. Thầy thuốc liền cho hắn một ít thuốc, thu của hắn năm lượng bạc. Người nọ tuy rằng cảm thấy thuốc rất đắt, nhưng vì để cho mình được thông minh nên đành cắn môi thanh toán. Nửa tháng sau người này lại tìm đến thầy thuốc, nói rằng hắn vẫn không thông minh hơn. Thầy thuốc lại thu của hắn mười lượng bạc, cho hắn càng nhiều thuốc hơn. Lại qua một tháng, người này nổi giận đùng đùng đi tới, kêu lên: “Thầy thuốc, ta cảm thấy ta bị lừa. Thuốc của ngươi căn bản không có công dụng. Ta không bao giờ tin nổi ngươi nữa.” Thầy thuốc cười nói: “Làm sao mà vô dụng được. Ngươi có thể phát hiện ra được, không phải là đã thông minh ra rồi à”. Người này nghĩ là đúng nên lại vô cùng vui vẻ đi về.
Tiểu Cảnh Huy lẳng lặng nghe, suy nghĩ một chút rồi cười rộ lên:
-Người kia đúng là đồ ngốc, vẫn bị lừa. Uống thuốc làm sao có thể thông minh lên được.
Trương Nguyên cười hỏi:
-Vậy tiểu Cảnh Huy nói phải làm thế nào mới thông minh được?
Tiểu Cảnh Huy nói:
-Phải đọc sách. Cô cô nói, phải đọc trăm ngàn quyển sách, hạ bút như thần, có đúng không cô cô?
Trương Nguyên khen:
-Rất đúng.
Lúc này Thương Chu Đức bỗng đi đến, thấy Trương Nguyên ôm cái lò sưởi trong tay, thẹn lòng nói:
-Ta quên bảo người mang chậu than tới cho đệ rồi.
Trương Nguyên đưa lò sưởi cho tiểu Cảnh Huy, nói:
-Nhị huynh, chắc đệ cũng phải trở về giờ. Mẫu thân của đệ đang chờ lời thưa chuyện.
Rồi hắn vái chào Thương Đạm Nhiên ở sau tấm bình phong. Tiểu Cảnh Huy vội vàng nói :
-Cô cô, Trương Nguyên công tử ca ca chắp tay thi lễ rồi.
Rồi tiểu Cảnh Huy chạy đến sau bức bình phong, nói :
-Trương Nguyên công tử ca ca, cô cô bái chào người kìa.
Tiểu Cảnh Huy thật là lăng xăng nhộn nhạo.
Lúc chạng vạng tối, Trương Nguyên về đến nhà, thuật lại mọi chuyện tiểu sính hôm nay cho mẫu thân nghe. Trương mẫu Lã thị rất vui mừng, thấy hôn sự của con trai cơ bản là đã định rồi, nói:
-Bây giờ con có thể viết thư cho cha con và tỷ tỷ rồi, để cho họ có một niềm vui bất ngờ.
Trương Nguyên liền về thư phòng viết cho phụ thân một lá thư. Trước tiên hắn nói về việc học của mình, bái Vương Tư Nhâm làm thầy, được đề học quan khen ngợi. Sau đó mẫu thân đã tác thành việc đính hôn của mình và nữ lang nhà Thương thị ở Hội Kê.
Hắn nói phụ thân đại nhân không cần phải bôn ba bên ngoài, có thể từ Chu vương phủ trở về Sơn Âm đoàn tụ với người nhà. Hắn còn thảo cho phụ thân hai bài văn bát cổ để phụ thân biết việc học của hắn thành công thế nào, chứ không phải lời nói xuông. Hắn cũng viết cho tỷ tỷ một lá thư giống như vậy, cũng chép thêm hai bài văn bát cổ.
Trương Nguyên viết xong hai phong thư thì đem đến lầu nam cho mẫu thân xem. Trương mẫu Lã thị xem xong thư thì cười nói:
-Con chép lại thơ cũng vô dụng. Chỉ sợ là cha con không tin, nghĩ là con chép ở đâu ra. Ngay cả nét bút chắc cũng không tin là con viết đâu.
Vẻ mặt Trương Nguyên đau khổ nói:
-Hồi đó con tệ đến thế sao?!
Trương mẫu Lã thị thoải mái cười to, nói:
-Trước kia cũng tốt nhưng giờ tốt hơn nhiều.
Trương Nguyên nói:
-Vậy hai phong thư này phải nhờ mẫu thân viết thư xác nhận mới được, phải viết “Đây là thư do Trương Nguyên viết, bát cổ cũng do Trương Nguyên làm, không hề nhờ người viết hộ hay sao chép”. Như vậy thì phụ thân và tỷ tỷ mới có thể tin con được.
Trương mẫu Lã thị cười đến ho khan. Trương Nguyên vội vàng vỗ lưng cho mẫu thân. Một hồi lâu Trương mẫu Lã thị mới miễn cưỡng ngừng cười nói:
-Ta sẽ viết cho cha con, còn Nhược Hi nữa. Trong lòng ta rất vui, phải viết ra mới được. Con ta mấy tháng này thật làm cho vi nương vui mừng.
Trương mẫu Lã Thị liền vào trong thư phòng viết cho chồng và con gái một phong thư khác. Viết xong thì bà “a” lên:
-Ta thấy viết nhiều như vậy thực là dài dòng, chữ cũng khó xem. Con à, con hãy giúp ta chép lại một lần đi.
Trương Nguyên cười nói:
-Chữ của mẫu thân đẹp lắm. Nhất định phụ thân và tỷ tỷ sẽ vui mừng khi nhìn thấy mẫu thân tự tay viết thư.
Trương mẫu Lã thị cười nói:
-Thôi, dù sao cũng là người trong nhà, cũng không sợ lộ cái xấu ra ngoài, cứ như vậy mà gửi đi cũng được.
Trương Nguyên cầm thư viết cho phụ thân đưa đến chỗ tộc thúc tổ Trương Nhữ Sương. Trương Nhữ Sương có thể vận dụng đặc quyền của quan viên trí sĩ để thông qua dịch trạm lần lượt gửi thư đi, có thể rất nhanh chóng đưa tới Chu vương phủ ở Khai Phong.
Cha của Trương Nguyên làm duyện sử đài ở phủ Chu vương, đương nhiên có thể nhận được thư. Về phần gửi thư đến phủ Tùng Giang ở huyện Thanh Phổ chỉ có thể thông qua kiệu phu là tiện, cũng không mất nhiều tiền bạc.
Chương 108: Lại thấy cùng thuyền qua sông.
Mùa đông năm Vạn Lịch thứ 40, phủ Thiệu Hưng tuyết rơi dày đặc, mùng một tháng mười một có một trận tuyết lớn.
Tuyết còn chưa tan thì sớm ngày 12 lại một trận gió mùa đông bắc ào về, xem ra trưa và chiều tối sẽ lại có tuyết rơi.
Đầu giờ Thìn, Trương Nguyên cầm hơn hai mươi cuốn chế nghệ đến nhà thầy Vương Tư Nhâm, tiểu hề nô Vũ Lăng đi theo hầu, Thạch Song xách theo một cái làn, trong làn có hai con gà giò, hai con vịt giò và hộp trà Kiến Ninh hai cân, đây là trà mà Lỗ Vân Cốc đã tặng cho Trương Nguyên, lần này hắn muốn mang đến biếu thầy Vương. Không cưới con gái thầy nên hắn cũng cảm thấy áy náy, có chút đồ tốt liền nghĩ ngay đến thầy.
Đi đến đầu đường chỗ Phủ Học Cung, hắn bắt gặp Trương Ngạc đang đi đứng loạng cà loạng quạng, phía sau là tên hầu Phúc Nhi và tên đầy tớ vạm vỡ Năng Trụ. Trương Ngạc kéo tay hắn lại, nói:
Giới Tử đệ đã đính hôn rồi mà còn chưa mời ta uống rượu đấy.
Trương Nguyên nói:
Khi nào thành thân chắc chắn sẽ mời tam huynh uống một bữa ra trò.
Trương Ngạc hỏi:
Khi nào thì thành thân?
Trương Nguyên đáp:
Khi nào thi đỗ bảng vàng.
Trương Ngạc cười nói:
-Vậy thì ta chúc đệ sớm công thành danh toại nhé . À phải rồi, đệ vội vã đi đâu thế, lại đến nhà đại cữu ca ở Hội Kê đó à?
Trương Nguyên nói:
Đến nhà Hước Am tiên sinh thỉnh giáo bát cổ, trời rét thế này mà tam huynh cũng đi dạo cơ à, sao không ở trong nhà đốt lửa sưởi ấm uống rượu ghẹo tỳ nữ cho vui?
Trương Ngạc cười ha ha, nói:
Ở nhà mãi chán lắm, có mấy môn khách thì đều về nhà ăn tết rồi, còn đám tì nữ đó à, vẫn mấy gương mặt đó, nhìn mãi cũng thấy chán, Liên Hạ thì còn tạm được, nhưng nàng cứ nhìn thấy ta là lại trốn. Nàng không cần xin ta bạc nữa, thể nào rồi sẽ có khi cha nàng lại lâm bệnh nặng, lúc đó ta sẽ bắt nàng ta phải cởi hết.
Trương Nguyên trừng mắt nhìn hắn, tiến lên nói:
Ta đang vội, tam huynh cứ đi làm việc của huynh.
Trương Ngạc bước nhanh đuổi theo, nói:
Giới Tử, gần đây ta cũng học được cách bịt mắt đánh cờ rồi, chúng ta vừa đi vừa làm một ván cờ tướng, được chứ?
Trương Nguyên nói:
Được thôi, mời huynh đi trước.
Trương Ngạc bèn đi nước “Trữ bình 5”, Trương Nguyên ứng phó bằng “bát mã tiến”. Trương Ngạc “mã 2 tiến 3”, Trương Nguyên liền “xe cửu bình bát”. Trương Ngạc ban đầu khá tỉnh táo, nước cờ đi khá hùng hổ, nhanh chóng hình thành thế đầu pháo tuần sông đối phó với nước cờ “bình phong mã” của Trương Nguyên. Nhưng khi đã đi được ngoài 30 nước, Trương Ngạc bắt đầu mơ hồ không nhớ rõ vị trí các quân cờ, nghĩ một lát, gã sải bước đến chặn trước mặt Trương Nguyên, hét to:
Ra tướng, ăn xe của đệ.
Trương Nguyên hỏi:
Huynh lấy gì để ra tướng?
Trương Ngạc nói:
Ta liên hoàn mã, ta pháo đầu, ta song xe bức cung, ta cho toàn bộ 5 tốt qua sông, Giới Tử đệ còn không nhận thua sao?
Trương Ngạc đứng ngay giữa đường, ngửa mặt cười lớn.
Trương Nguyên cũng cười, nói:
Đây mới thực đúng là nói miệng không có gì làm bằng, có lý mà không nói lại được, ta thua thật oan uổng.
Trương Ngạc sung sướng nói:
Giới Tử, còn một việc nữa, đại huynh nói rồi, hôm nào tuyết rơi nhiều mà trời quang, chúng ta sẽ leo lên Long Sơn ngắm tuyết, đệ cũng không nên cả ngày đọc sách như thế, lúc cần chơi thì vẫn phải chơi.
Trương Nguyên gật đầu nói:
Tam huynh nói rất phải, khi nào đi Long Sơn xem tuyết nhớ gọi đệ.
Đoàn người lúc này đi tới bên bờ sông Phủ, Trương Ngạc nói:
Giới Tử đệ đi một mình đi, ta ở trên cầu.
Trương Nguyên và Vũ Lăng, Thạch Song qua cầu Việt Vương, đến đầu cầu bên này mới quay đầu lại nhìn, thấy Trương Ngạc đang cầm ống nhòm, nhìn hết bên này bên kia.
Giờ Trương Ngạc chỉ cần ra khỏi cổng là nô bộc Năng Trụ phải lập tức cầm ống nhòm đi theo, bởi Trương Ngạc muốn nhìn trộm bất cứ lúc nào. Vừa đến phủ Vương Tư Nhâm, lão nô bộc gác cổngvội nói:
Trương công tử tới thật đúng lúc, lão gia nhà ta đang muốn đi ra ngoài.
Trương Ngạc đi vào trong sảnh liền nhìn thấy hai cha con Vương Tư Nhâm và Vương Anh Tư đã mặc sẵn quần áo ấm để chuẩn bị ra ngoài. Thấy Trương Nguyên, Vương Tư Anh chớp chớp mắt, nhẹ cúi đầu chào. Vương Tư Nhâm cười nói:
Trương Nguyên, tới có việc gì vậy?
Trương Nguyên chắp tay trước ngực thi lễ, nói:
Học trò không biết thày sẽ ra ngoài, vậy học trò xin phép để hôm khác tới thỉnh giáo.
Vương Tư Nhâm nói:
Có phải muốn ta bình điểm bát cổ không, vậy thì cứ để trong thư phòng của ta trước đã, đợi ta quay về sẽ xem sau. Hôm nay ta muốn đến Tị Viên ở núi Hội Kê.
Trương Nguyên đặt tập bản thảo sang một bên, khom người nói:
Vậy học trò xin cáo từ.
Vương Từ Nhâm “Ừ” một tiếng, nhìn Trương Nguyên rời khỏi sảnh, lại nghe thấy tiếng con gái Vương Anh Tư nhẹ giọng nói:
Sao phụ thân lại lạnh nhạt với huynh ấy như vậy?
Vương Anh Tư hiện tại chỉ biết Trương Nguyên và Thương thị nữ lang đã đính hôn, nhưng không hề biết phụ thân nàng đã từng nhờ Hầu Chi Hàn cầu hôn với hắn. Thấy Trương Nguyên đến, trong lòng nàng vẫn thấy vui, chỉ có điều là vì Trương Nguyên đã đính hôn , nên cảm thấy có phần xa cách, giờ thấy phụ thân lạnh nhạt với hắn như vậy, nàng thầm trách phụ thân hơi bất công với hắn. Vương Tư Nhâm nói:
Thế phải làm sao, chúng ta thực sự phải lên núi, chẳng lẽ bảo hắn ta đợi ở đây sao? Mà chúng ta phải sau giờ ngọ mới trở về.
Vương Anh Tư nói:
Có thể để hắn ta cùng đi với chúng ta được mà, ngồi thuyền có thể xem bát cổ của hắn luôn.
Vương Tư Nhân nghiêng đầu nhìn con gái, nàng mở mắt thật to, ánh mắt thật trong sáng, sợi dây mũ buộc dưới chiếc cằm nhọn. Nửa năm trở lại đây nàng đã cao lớn lên rõ rệt. Vương Tư Nhâm gật đầu nói:
Vậy cũng tốt.
Nói rồi liền sai nô bộc chạy ra cổng gọi Trương Nguyên quay lại.
Trương Nguyên bước nhanh quay trở lại, chắp tay trước ngực hỏi:
Thầy có gì chỉ giáo ạ?
Vương Tư Nhâm nói:
Trương Nguyên, chẳng phải lần trước ngươi nói muốn đi xem Tị Viên hay sao, giờ cơ bản đã làm xong rồi, ngươi cũng đi cùng đi, trên thuyền ta có thể xem bài vở của ngươi luôn.
Trước đó Trương Nguyên thấy thầy Vương lạnh nhạt với mình, trong lòng cũng cảm thấy không vui. Giờ nghe Vương Tư Lâm nói như vậy, hắn vui mừng ra mặt, liền lệnh cho Thạch Song về trước thông báo cho mẫu thân biết rằng hắn thỉnh giáo thầy xong mới trở về.
Một người làm tiến vào bẩm:
Thưa lão gia, thuyền đã chuẩn bị xong, có thể xuất phát rồi ạ.
Vương Tư Nhâm liền dẫn Vương Anh Tư, Trương Nguyên cùng Vũ Lăng và mấy người hầu nữa, , cả đoàn mười người cùng nhau đi bộ đến bến tàu cách đó khoảng một dặm. Họ cùng lên một con thuyền có mái che, hai người chèo thuyền khua mái chèo đưacon thuyền bắt đầu rẽ sóng hướng ra ngoài thành.
Sông ngòi ở Thiệu Hưng bốn phương thông suốt, người dân Thiệu Hưng khi xuất hành đa số là ngồi thuyền nhiều hơn đi kiệu và xe ngựa. Sông ngòi nơi đây cũng không có sóng to gió lớn gì cả, rất yên bình.
Từ bến tàu lớn gần Hạnh Hoa tự đến Đại Vũ Lăng phải đi thuyền gần nửa canh giờ. Trên thuyền, Vương Anh Thư và phụ thân ngồi một bên, Trương Nguyên ngồi bên kia, vẫn giữ tư thế cung kính, từ xưa đến nay chưa bao giờ tỏ ra tôn sư trọng đạo đến như vậy. Vương Tư Nhâm nhìn thấybuồn cười, nói:
Trương Nguyên, ngươi cứ tự nhiên đi, cứ tỏ ra cung kính mãi như vậy ta cũng không thấy thoải mái, đem chế nghệ ra cho ta xem.
Tập bản thảo Trương Nguyên đang giữ trong ngực áo, hai tay cung kính lấy ra đưa cho Vương Tư Nhâm. Vương Tư Nhâm lật qua lật lại xem, xem đến đâu bình luận đến đó. Vương Tư Nhâm đã từng hai lần làm quan coi thi trong kỳ thihương, trong mười ngày phải xem qua mấy ngàn quyển chế nghệ, nên kinh nghiệm rất phong phú, nhãn quang rất tinh tường.
Khi thuyền đến Đại Vũ Lăng , hai mươi hai quyển chế nghệ lão đã bình luận được mười lăm quyển, nên đành ở trên thuyền bình nốt bảy quyển còn lại, cuối cùng kết luận:
Bát cổ không phải ai cũng làm được, phải tích luỹ được số chữ thánh hiền nhất định mới được, phần biện luận và giải thích đều không dễ. Ta xem hai mươi quyển chế nghệ của ngươi, phương pháp làm bát cổ đã tiến bộ lên nhiều rồi. Về sau mỗi ngày chỉ viết một quyển, ngoài ra còn phải viết thêm một cuốn cổ văn, học sử của Thiên Cổ Sinh, học Hàn Liễu Âu Tô nữa, không nên chỉ chăm chăm vào học chế nghê bát cổ, nếu không ngươi sẽ ngạo mạn đắc ý mà xem nhẹ việc tiếp tục phấn đấu học hành,. Hơn nữa học cổ văn áncũng sẽ giúp ngươi được mở rộng tầm mắt, giúp ngươi có thể vươn ra khỏi cái khuôn khổ gò bó eo hẹp của bát cổ mà vẫn có thể tự do phóng tác trong cái khuôn khổ đó.
Vương Tư Nhâm là bậc thầy về văn bác cổ, thông tỏ chuyện đời, học vấn uyên thâm. Lão có thể nhìn ra rất chính xác khuynh hướng và mầm mống trong văn của Trương Nguyên, kịp thời dẫn dắt và uốn nắn, điều này khiến Trương Nguyên cảm nhận sâu sắc rằng được bái Vương Tư Nhâm làm thấy là điều vô cùng may mắn. Còn Vương Tư Nhâm, có được một đệ tử thông minh xuất sắc như Trương Nguyên cũng quả thực là một chuyện rất đáng mừng. Lão lại cảm thấy phấn chấn, mà quên mất mình đang giận Trương Nguyên, lại dốc lòng dạy bảo, từng lời nói, từng cử chỉ đều vô cùng ân cần thân thiết.
Mãi đến khi thuyền cập bến, lão nhìn thấy khi con gái Vương Anh Tư lên bờ, chân đứng chưa vững thì Trương Nguyên còn chìa tay ra đỡ, Vương Tư Nhâm lại thấy buồn: Một đứa con rể tốt như vậy lại bị người ta đoạt mất chứ.
Ngồi cùng thuyền dạo chơi thật tâm đầu ý hợp, luận đàm bát cổ, nói chuyện thơ phú, chà, nếu sớm biết thế này thì đã để cho Hầu Chi Hàn đi cầu thân từ ngay sau dạ tiệc ở Huyện Sơn Âm hôm đó rồi. Xem ra việc gì cũng phải nhanh chân thì mới thành.
Quả không hổ danh là Tị Viên ở Tây Lộc núi Hội Kê , cây cối ở đây mọc thành từng tầng trên các vách đá, suối chảy róc rách, có thể nhìn thấy đỉnh Lư Hương ở phía xa. Vương Tư Nhâm đã mời vị chuyên gia làm vườn nổi tiếng Quảng Lăng tạo núi dựa vào khe suối, dựng đài, xây đình, xây hành lang uốn khúc, các tự dưới các lùm cây. Cây trên vách đá tỏa bóng che kín hành lang, cảnh tượng thật kỳ thú. Hiện giờ vẫn còn có chút đồ khi xây dựng vườn vẫn chưa được rửa sạch, nhưng đã có thể nhận thấy khu vườn này thực không tầm thường.
Vương Tư Nhâm cười hỏi:
Trương Nguyên, Tị Viên này của ta so với Giới Viên của thúc tổ ngươi thì thế nào?
Trương Nguyên nói:
Đều đẹp như trong tranh, thật khó so sánh.
Vương Tư Nhâm lắc đầu cười nói:
Ngươi cũng mồm mép quá nhỉ, cùng lúc cưỡi hai ngựa nói chuyện.
Trương Nguyên cười nói:
Học trò không phải kẻ dối trá, quả thực là khi ở Phân Viên thì thấy Giới Viên hay, đến Tị Viên của thầy thì lại cảm thấy Tị Viên khiến cho người ta lưu luyến tới mức không muốn về, chỉ có điều lúc này đang là lúc trời đông lạnh giá, sắc trời u ám nên khó tránh khỏi cảnh quang trông có vẻ tiêu điều, đợi khi xuân đến lá hoa thắm đỏ thì càng không biết cảnh tưởng sẽ tuyệt vời đến như thế nào.
Vương Tư Nhâm có chút vui sướng, nói:
Ta vốn tưởng rằng cuối tháng mười thì vườn sẽ làm xong, không ngờ kéo dài tận đến bây giờ, mời các bậc danh tiếng ở Thiệu Hưng đến chơi vườn thì chắc phải đợi sang xuân, đến lúc đó ngươi cũng cùng đến nhé.
Lúc này viên quản vườn và thợ làm vườn đến bẩm báo tình hình với Vương Tư Nhâm, Vương Tư Nhâm liền đi ra. Trương Nguyên và Vương Anh Tư đứng ở gần khe suối, nhìn ngắm núi non, vách đá, ngắm đỉnh lư hương ở phía đằng xa. Lúc đầu Trương Nguyên còn có chút mất tự nhiên nhưng thái độ lời nói của Vương Anh Tư vẫn như bình thường, nàng vẫn nói chuyện vui vẻ thoải mái với hắn. Trương Nguyên vốn có chút áy náy trong lòng giờ cũng dần dần bình tĩnh lại. Đến khi rời Tị Viên ra thuyền, hắn không nhớ nổi đã nói những gì với Vương Anh Tư, chỉ cảm thấy rất vui vẻ.
Thoắt cái đã qua chính ngọ, cả đoàn đều thấy đói bụng, trời lại lạnh, thuyền nương ( một người đàn bà lo nấu nướng trên thuyền) cũng đã nấu xong mỳ. Vương Tư Nhâm, Trương Nguyên và Vương Anh Tư bước lên thuyền. Thuyền nương bưng món mỳ nóng hổi ra, đương nhiên bọn người hầu không có phần. Bọn họ phải đợi đến lúc về phủ mới được dùng cơm. Tiểu hề nô Vũ Lăng nhìn thiếu gia Trương Nguyên ăn mỳ, không kìm nổi nuốt nước miếng, âm thanh rất vang, Vương Tư Nhâm nghe được, cười hỏi thuyền nương:
Có còn mỳ nữa không, lấy cho Tiểu Vũ một bát.
Vũ Lăng mừng rỡ, vội vàng cảm tạ Vương lão gia. Vào lúc vừa lạnh vừa đói thế này, được ăn bát mỳ được cắt mỏng như cánh bướm thật là sướng như tiên.
Chương 109: Chó ngáp phải ruồi.
Người chèo thuyền đưa mái chèo, con thuyền ô bồng từ từ rẽ nước trôi đi, Vương Tư Nhâm dặn dò:
Đưa Trương Nguyên về Sơn Âm trước.
Thuyền ra đến ngoài cửa sông Hội Kê liền ngoặt sang một nhánh khác hướng về phía Sơn Âm ở phía tây. Lúc này, sắc trời càng lúc càng u ám, gió đông bắc thổi càng ngày càng mạnh, trong khoang thuyền tối om.
Cột trúc ở mũi thuyền bị gió thổi trúng kêu đôm đốp. Vũ Lăng ngồi sát bên cửa khoang thuyền, vừa ăn nốt miếng mỳ cuối cùng trong bát, chép miệng tiếc rẻ, thì tấm màn cửa bị gió thổi lật tung lên rồi lại rủ ngay xuống, Vũ Lăng cảm thấy mặt lạnh cóng, nhìn vào trong bát, thấy có vài bông tuyết đang tan dần.
Tuyết rơi, tuyết lại rơi rồi.
Vũ Lăng kêu lên, buông bát đũa xuống, thò đầu ra khỏi rèm cửa, thấy trong không trung có những bông tuyết trắng đang bay lất phất, vội nói với người chèo thuyền Sảo Công Tôn:
Đại thúc, tuyết rơi rồi.
Sảo Công Tôn nói:
Lũ trẻ các ngươi thích tuyết rơi, nhưng chúng ta lại không thích, mùa đông năm nay lạnh quá, cây ăn quả lạnh quá chết cóng hết rồi, sang năm bọn bay lại không có quả mà ăn.
Vũ Lăng líu lưỡi nói:
Cây đều chết cóng hết á, không đến nỗi như thế chứ?
Sảo Công Tôn nói:
Cái này có thể lắm.
Vương Tư Nhâm nghe được Vũ Lăng và Sảo Công Tôn nói chuyện với nhau, bùi ngùi thở dài:
Vạn Lịch năm thứ 13 đại hạn hán, Hoàng đế còn phải đi bộ hơn mười dặm đến thiên đàn cầu mưa, vậy mà mấy năm gần đây thiên tai vẫn không dứt, không lũ lụt thì lại là hạn hán.
Hoặc là nạn châu chấu, hạn hán do thiếu nước, hạn hán do châu chấu hoành hành, rồi tình trạng chuột vượt sông hàng đàn... dân chúng phải chịu hết tai ương này đến tai ương khác, hoàng đế lại thờ ơ, có tấu trình lên thì cũng không để tâm, xem ra vận mệnh quốc gia ngày càng suy sụp rồi.
Trương Nguyên thận trọng hỏi:
Thưa thầy, hoàng đế nhiều năm không lên triều, rốt cục là vì lý do gì ạ?
Vương Tư Nhâm nói:
Nguyên nhân rất nhiều, ngài tinh thần bực tức, thân thể lại quá phì nhiêu nên sinh ra lười vận động, bệnh tật đủ đường. Là như thế đó.
Không muốn cùng Trương Nguyên nói nhiều về những chuyện cấm kỵ, Vương Tư Nhâm chuyển qua nói về thiên tai:
Bốn năm trước ta ở huyện Hưng Bình phủ Tây An gặp một trận hạn hán lớn. Đợi đến khi triều đình phát tiền bạc lương thực cứu nạn thì dân chúng chết đói hoặc là đã chạy tứ tán rồi, chỉ có khẩn cầu địa chủ trong vùng, tổ chức quyên góp mới miễn cưỡng qua được nạn đó.
Trương Nguyên nói:
Thưa thầy, học trò biết ở Phúc Kiến có loại khoai lang, khoai tây và ngô có thể chịu được tiết trời đông giá hoặc khô hạn, thích hợp trồng ở vùng núi, chỉ cần gieo hạt là năm sau có thể thu hoạch. Tuy không có gạo, lúa mạch đáng giá nhưng khi gặp hạn hán có thể cứu dân chống đói, sống sót qua cơn nguy nan. Đặc biệt là vùng Thiểm Tây, ba năm hai mùa hạn, thích hợp nhất để trồng các loại nông sản chịu hạn này.
Vương Tư Nhâm gật đầu nói:
Điều này ta cũng đã nghe nói, dường như là giống truyền lại từ thời Lã Tống, Trảo Oa. Bên Kinh Sư gọi khoai tây là khoai môn, quả nhiên là chịu được hạn và dễ trồng. Nhưng Thiểm Tây lại không thấy có người trồng loại cây này.Không phải là cứ quan địa phương muốn mở rộng là mở rộng được. Những địa chủ chiếm hàng nghìn hàng vạn mẫu ruộng lại chỉ muốn trồng loại lúa có thể bán được tiền. Ở nơi giàu có như Giang Nam, rất nhiều thửa ruộng đến cả lúa mạch cũng không trồng mà chỉ trồng dưa, trái cây, trồng dâu tằm, cái gì đáng tiền thì trồng cái đó. Thế là hễ có thiên tai là lại không có lương thực mà ăn.
Trương Nguyên thầm nghĩ: “Nơi khác thì thôi, chứ Thiểm Tây nhất định phải mở rộng trồng loại khoai lang, ngô và gạo này.
Chỉ cần có thể no được cái bụng thì, những người như Cao Nghênh Tường, Lý Tự Thành, Trương Hiến Trung đã không đến nỗi phải nổi dậy, kích động nhiều nông dân tạo phản đến như vậy. Đương nhiên, Minh Triều diệt vong tuyệt không phải chỉ là do không mở rộng trồng khoai lang. Sự thôn tính đất đai, đảng phái tranh giành đánh chém liên miên mới là nguyên nhân chính gây ra cảnh nước mất nhà tan.
Dựa vào khoai lang để cứu nước hiển nhiên là hoang đường, nhưng mở rộng trồng khoai lang thì chắc chắn là con đường tắt hữu hiệu để trì hoãn việc bùng phát nguy cơ diệt vong của đất nước . Trương Nguyên nói:
Việc trồng Khoai lang, khoai tây và ngô không chiếm nhiều đất, ruộng, đất đồi và đất bỏ hoang cũng có thể trồng được. Khi nào thày lại xuất sĩ làm quan thì cần phải nỗ lực mở rộng mới được.
Vương Tư Nhâm lấy làm lạ khi thấy Trương Nguyên nói về khoai lang một cách nghiêm túc như vậy. Tuy nhiên việc Trương Nguyên quan tâm chuyện thời vụ hiển nhiên là tốt. Giờ làm gì có tú tài kẻ sĩ nào quan tâm đến những việc này. Lão cười nói:
Ta nhàn rỗi ở nhà, giờ danh tiếng còn không nổi bằng ngươi. Ngươi cố gắng lên, sớm có ngày đắc cử làm quan, chuyên đi tuyên truyền mở rộng việc trồng khoai lang, ha ha.
Vương Anh Tư cũng cười, nhìn Trương Nguyên nói:
Khoai lang huyện lệnh.
Đúng là bất đắc dĩ, lời chỉ có thể nói đến đây mà thôi. Việc này thực đúng là cần phải do đích thân hắn thực hiện từng bước mới có sức thuyết phục, còn giờ có nói cũng chỉ là gió thoảng ngoài tai mà thôi. Thầy Vương tuy có tấm lòng lo cho dân nhưng ông tuyệt đối không thể ngờ được rằng Đại Minh triều chỉ kéo dài được ba mươi năm rồi lụy tàn, lúc đó Giang Nam đâu còn cảnh phồn hoa tấp nập như bây giờ nữa?. Trương Nguyên cười nói:
Đợi học trò thi xong ra làm quan thì đám khoai lang kia hỏng hết mất rồi.
Mải cười cười nói nói, thuyền đã đến cầu Bát Sĩ ở huyện thành Sơn Âm từ lúc nào không hay. Cầu Bát Sĩ cách phủ học cung không xa, Trương Nguyên nói:
Thưa thầy, học trò xin lên bờ ở đây.
Vương Tư Nhâm nói:
Được, ngươi đi đi, chế nghệ mỗi ngày làm một quyển, văn cổ hai ngày một quyển là được, ngoài ra phải đọc nhiều thơ phú, luyện viết chữ, làm bát cổ khá rồi thì làm thơ cũng không khó. Còn nữa, Khởi Đông tiên sinh ở Đại Thiện tự vô cùng quý mến ngươi, ngươi cũng có thể đến gặp tiên sinh thỉnh giáo, yên tâm, ta không có để tâm chuyện bè phái đâu.
Trương Nguyên cười nói:
Học trò còn muốn thỉnh giáo Hước Am tiên sinh, như vậy có thể học được rất nhiều kiến thức ngoài sách vở.
Vương Tư Nhâm khoát tay cười nói:
Đi đi, đi đường cẩn thận.
Trương Nguyên chắp tay trước ngực thi lễ với Vương Tư Nhâm rồi lại thi lễ với Vương Anh Tư. Vương Anh Tư vui vẻ đáp lễ, nàng nhìn chủ tớ Trương Nguyên, Vũ Lăng lên bờ, vẫy tay tạm biệt. Tuyết bay đầy trời như muốn bay theo Trương Nguyên. Tuyết cứ nhằm vào đầu và vai hắn mà trút xuống. Vương Tư Anh nói với cha:
Phụ thân, tuyết rơi ngày càng mau rồi, chúng ta không có dù trên thuyền sao?
Vương Tư Nhâm cố ý nói:
Có một cây để ta dùng.
Vương Tư Anh đỏ bừng mặt, cắn môi, nàng lại vén rèm nhìn ra ngoài. Trương Nguyên đã chạy tới cầu Bát Sĩ, đi về phía Phủ học cung, tiểu hề nô Vũ Lăng cũng theo sát phía sau.
Trương Nguyên đi một lèo hơn một dặm đường về đến nhà, vào hàng rào trúc trước cửa, đứng dưới mái hiên dậm mạnh đế giày cho tuyết rơi ra rồi lắc đầu, phủi hết tuyết trên người. Vũ Lăng cũng bắt chước hắn rũ tuyết. Cả hai nhìn nhau, chỉ thấy người hơi ẩm ướt tí chút, chứng tỏ trời rất lạnh nên tuyết không tan được.
Trở lại nội viện, Trương mẫu Lã Thị vội bảo nhà bếp hâm nóng lại cơm cho Trương Nguyên. Một bát mỳ trên thuyền tất nhiên là không đủ no rồi.
Thạch Song bưng một chậu than hồng rực đến thư phòng ở lầu tây, đặt phía dưới bàn sách. Trương Nguyên hơ hơ chân trên chậu than. Lúc này cả hai đùi và toàn thân đều ấm áp. Hắn vừa luyện chữ vừa thỉnh thoảng liếc nhìn ra ngoài cửa. Tuyết rơi dày đặc đến độ không nhìn thấy lầu nam ở bên kia giếng.
Thời tiết khắc nghiệt thế này, đã mấy ngày rồi không thấy Mục Chân Chân đến. Không biết nàng đã mua giày ấm chưa. Lần trước Trương Nguyên cho nàng ba đồng bạc bảo nàng đi mua giày. Nhớ lại cảnh ngày đó Mục Chân Chân đứng bên giếng, chân đỏ tấy lên vì lạnh, Trương Nguyên lại cảm thấy hai chân cóng lại vì rét. Tuyết vẫn rơi hết trận này đến trận khác, rơi liên tục đến tận trưa hôm sau. Lúc này tuyết ở hậu viện đã dày đến hai thước. Trương mẫu Lã thị nói:
Lần đầu tiên ta thấy tuyết rơi lớn đến thế này, mà vẫn chưa tới tháng chạp đó.
Cuối giờ mùi, tuyết ngừng rơi. Vũ Lăng, Thỏ Đình và Thạch Đầu chơi đắp người tuyết ở sân sau. Trương Nguyên nhóm lửa sưởi trong thư phòng, làm bát cổ và viết cổ văn. Văn bát cổ có rất nhiều dạng đề, hắn có thể làm được vô khối. Nhưng cổ văn lại không biết viết gì, phải có cảm xúc mới viết được.
Hai ngày viết một chương cũng khó. Hắn nghĩ, hay là viết sách luận, kiểu như “Quá Tần luận” “ của Giả Nghị, “Lưu Hầu luận” của Tô Thức? Đây cũng là một thể loại cổ văn, vừa phát huy được hiểu biết của mình lại vừa có thể mượn xưa nói nay. Khi vừa có được cảm hứng thì nha đầu Thỏ Đình chạy đến.
Nha đầu này chắc được Y Đình dạy rằng không được ham chơi, phải hầu hạ thiếu gia cho tốt nên cứ chơi được một lát lại chạy đến cửa thư phòng thò cái đầu có hai bím tóc vào, hỏi:
Thiếu gia có gì chỉ bảo không ạ?
Nghe Trương Nguyên nói:
Không có gì.
Thì nàng lại chạy đi chơi, chừng hai khắc sau lại chạy tới thò đầu vào hỏi.
Lần này, tiếng bước chân lại vang lên. Trương Nguyên thầm nghĩ:
Sao mà chăm hỏi thế, ta đã viết được mấy chữ đâu?
Hắn không ngẩng đầu lên, nói tiếp:
Không có việc gì thì đi chơi đi.
Chợt hắn nghe thấy tiếng nói thẹn thùng của Mục Chân Chân:
Thiếu gia…
Trương Nguyên ngẩng đầu lên, thấy Mục Chân Chân đứng ngoài cửa, đầu quấn khăn, vận váy dài và áo bông màu xanh. Cả người nàng màu xanh, nổi bật trên nền tuyết phía sau, trông đẹp như một bức tranh.
Trương Nguyên ngoắc tay gọi:
Chân Chân vào đây.
Mục Chân Chân bước vào trong thư phòng. Trương Nguyên nhìn hai chân nàng, thấy nàng đang đi một đôi giày nỉ màu xám. Đại Minh triều có quy định về trang phục, từ cấp quan viên và sinh đồ trở lên người có công danh mới được đi giày da. Còn thứ dân chỉ được quấn dây da hoặc mang giày nỉ.
Nhưng từ thời Gia Tĩnh tới nay, những quy định về đẳng cấp này không còn nữa, thứ dân và thương nhân đều có thể mang giày da. Trương Ngạc và Trương Nguyên đều không phải là kẻ có công danh nhưng đều mang giày da màu trắng, nhưng những người dân có địa vị thấp nhất cũng không thấy mang giày da, họ có thể mang giày nỉ. Giày nỉ đã có từ rất lâu đời, được đưa vào Trung Nguyên từ thời cổ đại. Giày nỉ không đẹp như giày da nhưng giữ ấm tốt hơn. Trương Nguyên thấy đôi giày nỉ trên chân Mục Chân Chân sạch bóng không vướng một hạt bụi, cũng không bị ẩm ướt, liền hỏi:
Chân Chân nàng bay đến đây đấy à, tuyết dày như vậy sao giày lại không bị ướt?
Hắn nghi là nàng đi giày rơm rồi đến đây mới thay giày nỉ, nên trong lòng cảm thấy có chút không vui.
Mục Chân Chân vội nói:
Thiếu gia, tiểu tỳ có đi giày cỏ của cha tiểu tì bên ngoài giày nỉ nên mới không bị ướt.
Trương Nguyên nói:
Không gạt ta đó chứ?
Mục Chân Chân nói:
Không có, tiểu tỳ không dám, tuyết rơi lớn như vậy, tiểu tỳ cũng không phải là đồ ngốc không biết rét.
Nói rồi liền lấy ra một quan tiền đặt ở một góc thư án, nói:
Thiếu gia, làm giày nỉ hết hai đồng bạc, còn thừa một đồng bạc.
Trương Nguyên cũng không muốn so đo tính toán với nàng, hắn để bút xuống, nói:
Cùng ra vườn sau nghịch tuyết với ta, ta đọc sách viết chữ mãi cũng thấy mỏi rồi.
Sau khi tuyết rơi, hậu viện nhìn khác hẳn. Tuyết dày như một tấm chăn bông, dẫm lên là lún sụt xuống. Hai huynh đệ Vũ Lăng và Thạch Đầu đã đắp được một người tuyết cao năm thước. Cái đầu của người tuyết chỉ nhỏ hơn thân chút xíu. Thỏ Đình nhìn khắp người tuyết một lượt rồi nói với Trương Nguyên và Mục Chân Chân:
Thiếu gia, Chân Chân tỷ, đầu người tuyết bị vẹo rồi.
Trương Nguyên cúi người bốc một nắm tuyết ra khỏi đầu của người tuyết, cười nói:
Đây là kiểu cứng đầu bướng bỉnh không chịu thuần phục rồi, phải giáo huấn nó mới được
Hai anh em Vũ Lăng, Thạch Đầu lại bốc tuyết ném vào người tuyết. Nhưng người tuyết lại cứ đứng im bất động, không có phản ứng gì. Ném người tuyết mãi cũng chán, bọn Vũ Lăng liền xoay qua đánh nhau, vô cùng náo nhiệt.
Trương Nguyên thấy Mục Chân Chân chỉ đứng một bên cười mà không chơi cùng liền bốc tuyết lên hướng về phía nàng nói:
Chân Chân, nhìn ta ném đây.
Nói rồi hắn ném nhẹ nắm tuyết về phía nàng.
Mục Chân Chân lại không né tránh nên nắm tuyết rơi trúng vào giữa ngực. Mặt nàng đỏ bừng lên, nàng cũng không ngờ thiếu gia lại ném chuẩn đến như vậy, ném đúng vào chỗ đó.
Trương Nguyên “A” lên một tiếng, có trời đất chứng giám, hắn không cố ý mà chỉ là nhỡ tay ném bừa lại trúng mà thôi.
Lúc này, Thạch Song lội tuyết từ phía giếng nước đi tới, kêu lên:
Thiếu gia, Năng Trụ bên Tây Trương đến rồi, có việc muốn bẩm báo thiếu gia.
Trương Nguyên vội vàng đi gặp Năng Trụ, tránh cho Mục Chân Chân một phen thẹn thùng.
Chương 110: Trăng tuyết Long Sơn .
Năng Trụ thấy Trương Nguyên vội chắp tay trước ngực nói:
Giới Tử thiếu gia, tam công tử nhà nô tài nói tuyết đã ngừng rơi, mời thiếu gia chuẩn bị một chút để tối nay lên Long Sơn ngắm tuyết.
Trương Nguyên hỏi:
Cần chuẩn bị những gì?
Năng Trụ vò đầu nói:
Tam công tử không nói phải chuẩn bị những gì ạ.
Trương Nguyên cười hỏi:
Thế khoảng bao lâu nữa mới xuất phát?
Năng Trụ nói:
Sau bữa cơm chiều thì lên đường luôn ạ.
Trương Nguyên cho Năng Trụ ra về, rồi hắn đi báo với mẫu thân. Trương mẫu Lã thị nói:
Trời lạnh như thế này, ban đêm làm sao có thể lên núi được, đường núi bị tuyết bịt kín hết cả rồi, mà gió trên núi thổi là dễ bị đông cứng lại lắm.
Trương Nguyên nói:
Tông Tử đại huynh và Tam huynh đã nói lên núi ngắm tuyết thì tất đã có chuẩn bị rồi, con mặc ấm một chút là được. Thày Vương bảo con làm cổ văn, con đang lo không có gì để viết, đến Long Sơn ngắm tuyết là có thể về viết được rồi.
Trương mẫu Lã thị cười nói:
Tùy con, nhớ xuống núi sớm, đừng ở lâu trên đó.
Lúc này Mục Chân Chân đi vào cáo từ chủ mẫu và thiếu gia để về phố Tam Đại. Trương mẫu Lã thị nói:
Sao vừa đến đã vội về thế, đêm nay ngủ lại đây, tuyết dày, đường khó đi lắm.
Mục Chân Chân vì mấy ngày không tới nên vừa thấy tuyết ngừng rơi là vội tới liền, đã gặp được thiếu gia, lại còn bị thiếu gia ném tuyết vào người, nên nàng ngại ngùng không muốn ở lại, nói:
Tỳ nữ còn phải về nấu cơm cho phụ thân, phụ thân tì nữ mấy hôm nay không phải ra ngoài làm việc.
Trương mẫu Lã thị nói:
Vậy thì để nhà bếp dọn cơm. Trương Nguyên đêm nay lên Long Sơn, cũng cần ăn tối sớm. Chân Chân cũng ở lại dùng cơm xong rồi hãy về, nhân tiện mang cơm về rồi hâm nóng lại cho phụ thân là được.
Mục Chân Chân còn đang chần chừ thì Trương Nguyên nói:
Mời cha con nàng bữa cơm có gì đâu mà phải ngại. Sang năm ta sang phủ Tùng Giang, còn phải nhờ phụ nhân nàng đi theo bảo vệ đấy.
Trương Nguyên quay trở về thư phòng, viết thêm gần nửa canh giờ “Linh Phi kinh” nữa. Thỏ Đình đến mời thiếu gia ra dùng cơm. Ngoại trừ ngày lễ tết vui vẻ náo nhiệt, người hầu đều không được phép ngồi cùng bàn ăn cơm với chủ nhân. Cơm của hai mẹ con Trương Nguyên đương nhiên thịnh soạn hơn bọn họ, có cá có thịt, có canh tươi nhất phẩm và cơm gạo trắng. Đám người hầu thì ăn củ cải rau xanh và gạo lứt, chỉ có mồng một và mười lăm hàng tháng mới được ăn thịt vào bữa tối. Thúy Cô lấy hai lá sen đã được rửa sạch gói hai chén cơm và bốn cái đầu ôi để Mục Chân Chân mang về cho cha. Mục Chân Chân lấy đôi giầy rơm của phụ thân nàng ra đi bên ngoài đôi giày nỉ, đi đến hàng rào trúc cạnh cửa cửa, nàng cảm thấy có gì đó khác thường, quay đầu nhìn lại thì hóa ra thiếu gia đang đứng ở cửa chính nhìn nàng. Mặt nàng đột nhiên nóng bừng lên. Vừa thấy Mục Chân Chân quay đầu lại nhìn, Trương Nguyên cười nhẹ nói:
Ừ, Chân Chân nàng đi giầy rơm ra ngoài giầy nỉ vậy là tốt, lại chống trơn nữa. Đợi lát nữa ta lên Long Sơn cũng sẽ đi giầy như vậy.
Mục Chân Chân nói:
Vậy thiếu gia lên núi cẩn thận, tỳ nữ về đây.
Mặt trời náu trong tuyết cả ngày, đến lúc xẩm tối mới lộ ra, quả là một buổi hoàng hôn đẹp vô cùng. Ánh mặt trời chiếu rọi lên tuyết trắng tạo nên một dải màu đỏ hồng tuyệt đẹp, giống như gương mặt đỏ bừng của nàng thiếu nữ lúc thẹn thùng vậy.
Trương Nguyên nhìn Mục Chân Chân đi xa liền bảo Thạch Song tìm đôi giày rơm để hắn mang bộc bên ngoài đôi giầy da, rồi tìm thêm vài sợi dây da quấn khắp đùi, trên núi nhiều tuyết không làm vậy sẽ không chịu được lạnh. Vũ Lăng muốn đi cùng với thiếu gia, cũng bắt chước thiếu gia đi thêm giày rơm.
Mọi thứ chuẩn bị xong xuôiđâu vào đấy rồi thì nắng cũng nhạt dần.
Trương Nguyên và Vũ Lăng trở về phòng mặc thêm áo bông thì nghe thấy tiếng nói ồm ồm như vịt đực của Trương Ngạc hét lớn:
Giới Tử, lên đường đi Long Sơn thôi.
Trương Mẫu Lã thị vội chạy theo ra, dặn cháu và con trai nhớ về sớm, không nên ở trên núi quá lâu. Trương Ngạc nói:
Ngũ bá mẫu yên tâm, chúng cháu sẽ không ở trên núi lâu đâu, chỉ là đi chơi một chút, hưởng thụ cái mới mẻ thôi mà.
Trương Nguyên dắt theo Vũ Lăng ra đến cổng thì thấy ngoài Trương Đại, Trương Trác Như ra còn có Vương Khả Xan của Khả Xan Ban.
Phan Tiểu Phi, Mã Tiểu Khanh, Cao Mi Sinh, Lý Uyển Sinh, tất cả đều đã mặc đồ ấm sẵn sàng đểđi lên núi. Lý Uyển Sinh còn mang theo một cây sáo trúc, ngoài ra còn có hơn chục kẻ hầu mang theo chổi, gậy trúc, gậy gỗ để mở đường.
Long Sơn chính là núi Ngọa Long, kéo dài từ phía sau học thự đến tận đầm Bàng Công. Núi không cao nhưng quang cảnh rất đẹp, là một nơi du ngoạn rất thú vị ở thành Sơn Âm. Mọi người thường nô nức đến đó vào dịp trung thu để ngắm trăng hoặc ngắm mặt trời mọc. Nhưng lên núi chơi vào lúc thời tiết lạnh giá, tuyết phủ kín thế này thì thực sự là chưa có ai. Người Sơn Âm thấy thế này là biết ngay rằng đám công tử nhà Trương gia bởi chỉ có đám công tử nhà họ Trương mới dám chơi trò mạo hiểm như vậy. Con trai của Trương Nhữ Sương cũng vậy, mà cháu cũng thế….
Một đoàn hơn chục người đi vào trong chân núi Long Sơn. Lúc này trời bắt đầu tối, nhưng có màu tuyết trắng tinh chiếu rọi nên vẫn sáng như ban ngày. Chỉ có điều tuyết quá nhiều, không phân biệt được đâu là đường núi. Năng Trụ và Phùng Hổ cầm gậy trúc đi trước dò đường, gậy trúc chọc xuống rất sâu. Năng Trụ kêu lên:
Tuyết dày ba thước.
Trương Đại hứng chí nói:
Buổi trưa mà sâu như vậy sao?....hắn bước lại dẫm lên vừa hay dẫm trúng một cái hố đầy tuyết, cả người suýt bị sụt trong đó.
Trương Ngạc kêu lên:
Quân tiên phong cào tuyết mở đường đi nào.
Đám người hầu liền tiến lên trước dọn đống tuyết trên đường. Trương Nguyên nói:
Cứ dọn tuyết thế này thì trời sáng mới lên được núi mất, mỗi người lấy gậy hoặc cành trúc mà chống, cứ từ từ mà đi lên.
Hai tên nô bộc khỏe mạnh nhất là Năng Trụ và Phùng Hổ đi phía trước, tìm đúng vị trí đường núi, bước từng bước theo dấu chân trèo lên đỉnh núi. Trương Đại, Trương Ngạc, Trương Nguyên, Trương Trác Như đi phía sau, cùng dìu đỡ nhau, cười nói không dứt. Từ chân núi đến miếu thành hoàng ở sườn núi chỉ khoảng hơn ba trăm bước chân. Lão già canh miếu ăn tối xong đã nằm trong chăn, nghe thấy có tiếng người ồn ào bên ngoài, không biết đang xảy ra chuyện gì. Đường núi đã bị tuyết bịt kín, sao lại có nhiều người đến đây, là ma núi chăng, hay là ma cây?
Lão run rẩy núp kín trong chăn, nghe tiếng đập cửa cũng không dám thưa.
Trương Ngạc nói:
Lão già kia nghễnh ngãng rồi, ta cứ đạp cửa mà vào.
Trương Đại nhìn lên đỉnh núi, nói:
Hãy còn sớm, chúng ta cứ lên Tinh tú các trên đỉnh núi thưởng nguyệt ngắm tuyết trước đã, mọi người thấy thế nào?
Đoàn người chầm chậm leo lên, tới đồi Bồng Lai, nhìn lên thì không nhìn rõ được đường núi nữa mà một bên vách núi thì lại là vực thẳm. Trương Nguyên nói:
Không thể lên tiếp được nữa, quá nguy hiểm, giờ mà trượt xuống chắc chắn là mất mạng.
Đồi Bồng Lai chỉ có núi đá cây cỏ, không hề có chòi gác để nghỉ chân. Đám người đành quay trở lại miếu thành hoàng, gia nhân gọi lớn:
Ông lão, mở cửa, công tử nhà Trương trạng nguyên đến đây ngắm tuyết.
Gọi một hồi, lão già rốt cục cũng ra mở cửa, trợn mắt há hốc mồm nhìn đám thiếu niên trước mặt
Trương Ngạc hỏi:
Lão già, có rượu thịt ngon mau mang ra đây.
Lão dụi dụi đôi mắt đục ngầu, nhìn đánh giá đám thiếu niên này một lượt rồi cười nói:
Ha ha, là tam công tử Tây Trương, vị này là đại công tử, vị này là …
Trương Ngạc nói:
Ta không gọi lão ra nhận người,mà bảo lão mau mang rượu thịt ra đây.
Trương Ngạc này coi miếu thành hoàng như quán rượu.
Lão nói:
Chỉ có một chút cơm thừa, rượu thịt thì không có.
Trương Ngạc kêu lên:
Lão già này thật keo kiệt, Trương gia ta mỗi năm cho miếu này không ít tiền mua nhang đèn cúng, lẽ nào không có nổi ngụm rượu để uống?
Lão từ coi miếu cười nói:
Tiểu đạo ăn chay, quả thực là không có rượu thịt.
Trương Ngạc nói:
Lão không phải là hòa thượng, chay chiếc cái nỗi gì.
Trương Đại nói:
Tam đệ, chớ làm ầm ĩ lên như vậy, đợi lát nữa đầy tớ đưa rượu tới, chúng ta cứ tạm ngắm trăng trước đã.
Trương Nguyên và Trương Đại sánh vai nhau ngồi ở cửa trước của miếu thành hoàng, nhìn xuống thành Sơn Âm dưới chân núi. Các ngôi nhà bị che phủ bởi tuyết, đường phố toàn một màu trắng, chỉ có các đường sông đen kịt chạy vòng quanh Sơn Âm mới phân biệt được đâu là phủ học cung, đâu là Thiệu hưng vệ. Trương Đại nói với Trương Nguyên:
Giới Tử đệ xem, đây chẳng phải là một bức thanh thủy mặc do thiên nhiên tạo ra hay sao, chỉ tiếc là ta không biết vẽ, mà kỹ thuật vẽ của Giá Sinh thúc thì tam đệ lại vẫn chưa học được.
Phụ thân của Trương Ngạc là Trương Giá Sinh giỏi về sưu tầm, thi họa, từng được Đổng Kỳ Hưng và Trần Kế Nho tán thưởng.
Trương Ngạc nói:
Ai nói ta không biết vẽ, đại huynh quên rồi ư. Mấy ngày trước chẳng phải đệ đã vẽ một bức tranh tuyệt hảo cho huynh xem rồi đó sao.
Trương Đại bật cười, lắc đầu liên tục.
Trương Trác Như hỏi:
Đại huynh, tam huynh vẽ gì thế?
Trương Đại chỉ cười mà không nói.
Trương Ngạc nói:
Không phải nói khoác, ta đã vẽ một bức Xuân Cung còn đẹp hơn cả Đường Bá Hổ nữa kia.
Trương Đại cười nói:
Đệ học Đường Dần vẽ Xuân Cung thì không sao, nhưng đệ vẽ quả thực là khó coi quá, nói ra lại làm xấu mất cảnh núi tuyết đẹp đẽ thế này.
Bầu trời đêm sau khi tuyết rơi trong veo không một gợn mây, trăng sáng vời vợi. Bầu không khí lạnh lẽo nhưng vì sắc trắng của tuyết được ánh trăng phản chiếu nên trở nên trắng tinh như tờ giấy.
Trương Nguyên nhìn đất trời bao la một màu tuyết trắng, thầm nghĩ:
Đạm Nhiên tiểu thư có tài vẽ tranh. Nếu nàng nhìn thấy cảnh này nhất định sẽ vẽ được một bức tranh thủy mặc tuyệt vời, tiếc là không thể đưa nàng cùng đi được.
Hắn bất giác nhớ tới Thẩm Tam Bạch cùng thê tử là Vân Nương cùng dắt tay nhau du ngoạn sơn thủy trong “Phù sinh Lục ký”, chợt nghe thấy tiếng Năng Trụ kêu lên:
Rượu đến rồi đây, rượu đến rồi đây.
Hai tên đầy tớ cẩn thận mang hũ rượu xuân tửu Động Đình vào trong miếu thành hoàng, bảo lão từ hâm nóng rượu, đổ ra bát mỗi người nhấp một ngụm lớn để chống lạnh. Lão từ cũng uống trộm một bát lớn, bị Trương Ngạc nhìn thấy, hỏi:
Lão đã phá giới rồi sao?
Lão từ coi miếu cười nói:
Rượu của nhà công tử thơm quá, tiểu đạo thực không kìm nén được, phải phá giới một lần.
Mọi người đều bật cười.
Trương Nguyên cũng uống một chén rượu lớn, nhưng cảm thấy lâng lâng, trong lòng thấy sung sướng vui vẻ.
Mã Tiểu Khanh hát “Phụng Nghi Đình”, Lý Uyển Sinh thổi sáo trúc. Tiếng sáo bị hơi lạnh làm ngưng lại, chỉ phát ra tiếng u u.
Trương Đại nói với Trương Nguyên:
Hôm qua Án Sát Trương Phân Thủ đến bái kiến tổ phụ, nói rằng phải mời thái giám Hàng Châu đến Sơn Âm ngắm đèn. Trương Phân Thủ biết đèn của Trương thị Sơn Âm của ta đẹp hơn Thiệu Hưng.
Trương Ngạc vui vẻ nói:
Nếu vậy đến hội đèn lồng nguyên tiêu sang năm lại tổ chức một trận ra trò chứ hả?
Trương Đại nói:
Tất nhiên, thái giám thích nhất là náo nhiệt, cứ phải để lão hài lòng mới được.
Nghe thấy dưới chân núi có tiếng trống canh, mọi người liền đứng dậy xuống núi. Cách chân núi chừng hơn trăm bước chân nữa, Đoạn triền núi này khá bằng phẳng. Mã Tiểu Khanh và Phan Tiểu Phi đã ngà ngà say, hai người ôm nhau lăn xuống núi. Họ nhanh chóng xuống đến chân núi, lúc đứng lên trông chẳng khác nào hai người tuyết.
Dưới núi có người hầu của Trương thị tiếp ứng, còn có một cỗ xe dê, vừa mới chuyển rượu tới. Trương Ngạc nhảy lên ngồi, trượt theo băng tuyết xuống.
Chương 111: Tết, hội đèn lồng, chuyết kinh .
Hội đèn lồng ở Sơn Âm, nổi tiếng khắp cả nước. Từ những đại gia đình quý tộc đến những nhà nghèo, mọi người đều lấy làm hổ thẹn nếu không đi xem được, hội diễn ra vào dịp tết nguyên tiêu. Thiệu Hưng trồng rất nhiều tre, nên rất rẻ, do đó chi phí để chế tạo ra một cái đèn lồng cũng không tới mấy bạc, một gia đình bình thường cũng có thể gánh vác được. Hơn nữa đèn được gia công kỹ còn có thể dùng được vài năm. Đương nhiên đây chỉ là nói về những hộ gia đình nhỏ, giống như Tây Trương ở Sơn Âm là một đại gia tộc giàu có xa xỉ, hàng năm treo đèn đều phải là đèn mới.
Nhu cầu nhiều, yêu cầu cao, chế tác càng phải ngày một tốt hơn đẹp hơn, tất cả chi phí tính ra cũng phải hơn một trăm lượng bạc. Năm tới cũng là hội đèn lồng tết nguyên tiêu Vạn Lịch thứ 41. Bởi vì quan án sát Trương Kì Liêm mời thái giám quản lý hàng dệt kim ở Hàng Châu đến thưởng thức hội đèn, cho nên đầu tháng mười một tri phủ Thiệu Hưng là Từ Thời Tiến đã đặc biệt triệu tập quan lớn và những thân sĩ thuộc hai huyện ở Sơn Âm đến Hội Kê, yêu cầu hội đèn lồng tết nguyên tiêu năm tới phải tổ chức thật long trọng. Quan án sát Trương Kì Liêm còn đặc biệt đến thăm và nói chuyện với Trương Nhữ Sương, trong những năm gần đây hoàng đế Vạn Lịch đều trì hoãn việc phê chuẩn tấu trương của chúng thần thậm chí còn để đấy không xem đến. Chỉ có đối với tấu trương của thái giám thu thuế quặng mỏ, thái giám quản lý hàng dệt kim và thái giám thu thuế xuất nhập khẩu ở các nơi là phê chuẩn rất nhanh.
Thái giám thu thuế quặng ở các nơi bởi vì quấy nhiễu nhân dân quá mức làm cho nhân dân hết sức phẫn nộ, mấy năm trước đã từ chức rồi, nhưng quan quản lý hàng dệt kim và quan thu thuế xuất nhập khẩu không thể từ chức, đây chính là nguồn thu chủ yếu trong ngân khố của hoàng đế Vạn Lịch, hoàng đế Vạn Lịch tham tiền, quá tin vào thái giám, khiến bọn thái giám đi đến đâu cũng hống hách kiêu ngạo, quan địa phương nịnh nọt còn không kịp. Quan án sát Chiết Giang-Trương Kì Liêm là quan tam phẩm, quản lý luật pháp cả một tỉnh, cũng quản lý khảo sát quan lại của tỉnh này, giống với quan Bố Chính Sứ và Đô Chỉ Huy Sứ cùng là người đứng đầu cả ba ti, quyền lực rất lớn, nhưng cũng phải khom lưng nịnh nọt thái giám quản lý hàng dệt may ở Hàng Châu.
Chung thái giám muốn tới Thiệu Hưng xem hội đèn lồng, điều này trở thành việc đại sự của Thiệu Hưng vào năm tới. Hai huyện Hội Kê và Núi Âm đều có nha dịch đi đến từng nhà từng hộ để căn dặn, mỗi nhà đều phải chuẩn bị mua thêm đèn mới, không được treo đèn cũ của mấy năm trước lên, như vậy sẽ không biểu hiện được sự vui mừng nhiệt tình đón tiếp. Những hộ dân nghèo trong thành tuy có oán hận, nhưng dù sao cũng là việc vui vẻ chào đón năm mới, hơn nữa chi phí cũng không nhiều lắm, nên cũng không đến mức chống đối lại. Trương Nhữ Sương chỉ thị người con trưởng là Trương Diệu Phương và người con thứ ba là Trương Bính Phương lo liệu chuyện chuẩn bị cho hội đèn lồng tết nguyên tiêu năm tới, nhất định phải khác biệt, mới mẻ làm cho Chung thái giám kia nhìn thấy sẽ không thể quên được, tốn bao nhiêu tiền cũng được.
Mùa đông này, Trương Đại và Trương Ngạc cũng đều rất bận rộn đi theo giúp đỡ cha và chú. Trương Nguyên vẫn đọc sách như cũ.
Tập viết chữ, làm văn. Nhưng nếu Huyện phủ có lệnh chế tạo đèn lồng mới, nhà Trương Nguyên tất nhiên cũng không ngoại lệ. Trương mẫu Lã thị liền lệnh cho Thạch Song đi tìm thợ thủ công có sở trường chế tạo đèn màu, làm sáu cặp đèn lồng mới. Thạch Song nói:
-Thái Thái, tiểu nhân biết làm khung đèn, nhưng mà hoa văn vẽ ở trên đèn lại không làm được.
Trương Nguyên ở một bên nói:
-Có rồi, hoa văn vẽ trên đèn ta đã có cách, Thạch thúc cứ làm khung đèn đi.
Trương mẫu Lã thị ngạc nhiên nói:
-Không phải con sẽ vẽ chứ?
Bỗng nhiên hiểu ra, nhỏ giọng nói:
-Con muốn đến nhờ Thương tiểu thư vẽ hộ con à?
Trương Nguyên cười nói:
-Mẫu thân thật là lợi hại, ý nghĩ trong lòng của con mẫu thân chỉ cần liếc mắt một cái là nhìn ra ngay được rồi.
Trương mẫu Lã thị cười nói:
-Con là do ta sinh ra, ta không hiểu con thì ai hiểu con, ha ha, vi nương biết là con muốn mượn cơ hội này để đến thăm Thương tiểu thư phải không, được rồi, đi đi.
Ngày 20 tháng 11 âm lịch, Trương Nguyên liền đến phủ họ Thương ở Hội Kê, nói rõ mục đích đến đây của mình với Thương Chu Đức. Thương Chu Đức cười nói:
-Cái này ta không làm chủ được, đệ tự mình đến hỏi Đạm Nhiên đi.
Vẫn như cũ cuộc gặp được ngăn cách bởi bức bình phong, đương nhiên không thể thiếu cảnh Tiểu Cảnh Huy cứ lăng xăng bận rộn bên cạnh, nói rồi họ quyết định vẽ sáu bức tranh trên đèn lồng, dùng lụa màu hồng phấn để vẽ tranh..
Cứ thế vẽ vời mà thấm thoắt đã đến nghi lễ nạp chinh vào ngày 20 tháng chạp, Trương Nguyên nhờ phụ thân của Trương Đại là Trương Diệu Phương với tư cách là trưởng bối của họ nhà trai đang cùng nhau tiến về phía trước, lễ vật mang đến gồm có trâm cài tóc, nhẫn, kim châu, đá quý, huyền tuệ, bạch dương.
Rượu trắng, gạo tẻ, chuông đoàn tụ, cửu tử mặc, cung với các hộp lễ vật, hộp lễ vật dùng cành cây bách và sợ tơ kết lại thành một chuỗi dài, hoặc cắt lụa màu làm đôi chim uyên ương, lại dùng cây Vạn niên thanh, cỏ Cát tường, coi đây là “điềm may mắn”. Nhà gái thì không cần phải đáp lễ, chỉ chờ đến khi lập gia đình thì sẽ cho nữ nhi của mình đồ tư trang làm của hồi môn. Vì Trương Nguyên tuổi vẫn còn nhỏ, Thương Chu Đức và Trương Diệu Phương bàn bạc và quyết định hai năm này chưa tổ chức lễ thành thân, đợi sau khi Trương Nguyên đủ mười bảy tuổi lại bàn bạc lại.
Như vậy hai bên nam nữ cũng đã có thân phận là phu thê, Trương Nguyên và Thương Đạm Nhiên có thể gặp mặt nhau bất cứ lúc nào, vẫn như cũ ở phòng khách thứ ba, bức bình phong mỹ nữ Tô Châu đã được dẹp đi. Hai chậu than lớn lửa than đỏ hồng, khi Trương Nguyên đi vào, chỉ thấy Thương Đạm Nhiên mặt đỏ hồng đang chờ hắn ở đó, bộ dạng xấu hổ của tân nương đó của nàng thật xinh đẹp làm cho trong lòng Trương Nguyên nghĩ “ba năm nữa mới được thành thân ư, mình phải kiềm chế từng đó năm dài đăng đẵng ư? Thật là dày vò người khác quá”.
Xét về vóc dáng mà nói, Thương Đạm Nhiên mười sáu tuổi thành thục hơn Trương Nguyên mười lăm tuổi rất nhiều, eo nhỏ nhắn thanh tú, duyên dáng yểu điệu, đã có vẻ đẹp của người thiếu nữ trưởng thành. Mà Trương Nguyên thì sao? Thân thể không theo kịp tư tưởng, mặc dù đã có mộng xuân nhưng hiển nhiên vẫn còn chút non nớt, ánh mắt đầy lửa nóng, biểu thị trong lòng của thiếu niên đang rung động, tình yêu chính là ở trong sự rung động này, không có rung động thì không có tình yêu. Thương Đạm Nhiên có chút kích động, không biết nên xưng hô như thế nào với Trương Nguyên, theo lý thì nên gọi chàng là Phu quân hoặc Tướng công, nhưng trong nhất thời làm thế nào đi nữa cũng không kêu thành tiếng được, lúc thi lễ với Trương Nguyên đã nói không rõ tiếng ấp úng ậm ừ cho qua, ngặt nổi Tiểu Cảnh Huy ở bên cạnh lại cố tình kêu lên:
-Cô cô gọi Trương công tử ca ca là gì đấy?
Trương Nguyên mỉm cười nói:
-Ừ, ta cũng không nghe rõ, Tiểu Huy giúp ta hỏi rõ nhé.
Thương Đạm Nhiên nửa xấu hổ nửa oán giận liếc mắt nhìn Trương Nguyên một cái, tâm trạng đã thả lỏng hơn một ít, nói với Thương Cảnh Huy:
-Ta cũng giống ngươi gọi chàng là Trương công tử ca ca.
Tiểu Cảnh Huy lắc đầu liên tục nói:
-Không được, không được. Cô mười sáu tuổi, Trương công tử ca ca mười lăm tuổi, người lớn tuổi làm sao có thể gọi người ít tuổi hơn là ca ca được.
Trong lòng Thương Đạm Nhiên vẫn có chút gút mắc đối với việc mình lớn hơn Trương Nguyên một tuổi, lúc này bị cháu gái nói thẳng ra trước mặt nhiều người, thì có chút xấu hổ, nói:
-Vậy ngươi cũng không được gọi hắn là ca ca, phải gọi là…
Tiểu Cảnh Huy ngẩng đầu lên hỏi:
-Cháu không được gọi Trương công tử là ca ca, vậy thì phải gọi là gì đây?
Thương Đạm Nhiên lại bị hỏi ngược trở lại, bất đắc dĩ nói:
-Tùy ngươi gọi thế nào thì gọi đi, ta không quản ngươi nữa. Ngươi- tiểu yêu tinh này
Đây chính là lời đối thoại của một thiếu nữ mới đính ước vẫn còn thẹn thùng và một cô cháu gái nhỏ.
Sáu bức tranh trên đèn lồng của Thương Đạm Nhiên đã vẽ xong, mỗi bức tranh đều ứng với một bài thơ trên đó. Trương Nguyên mang bức tranh bằng lụa về nhà, tự mình thiết kế kiểu cách của đèn. Thạch Song vót gỗ chẻ tre suốt ngày suốt đêm để cho kịp hoàn thành trước tết. Trước tết một ngày, sáu cái đèn lồng đã được làm xong, cất giữ trên lầu Tây không cho ai nhìn thấy, đợi đến đêm ngày mười hai tháng giêng mới treo đèn lên để tạo cho mọi người niềm vui bất ngờ. Đèn lồng ở Thiệu Hưng được treo từ đêm ngày 12 tháng giêng đến ngày mười sáu tháng giêng, được gọi là “Ngũ dạ đăng” (hội đèn lồng 5 đêm).
Thư hồi âm của Phụ thân Trương Thụy Dương và tỷ tỷ Trương Nhược Hi lần lượt được đưa đến, Trương Thụy Dương gửi kèm với thư là năm mươi lượng bạc, để cho con trai mua sinh lễ đính hôn. Trong thư Trương Thụy Dương tuy cẩn thận khắc chế nhưng qua từng chữ viết trong thư cũng thấy được trong lòng ông đang tràn đầy vui mừng, đã hơn một năm không gặp, không ngờ đứa con trai của mình lại tiến bộ như vậy, hai bài văn bát cổ đó còn làm hay hơn so một lão học trò như ông, lại có thể đính hôn với nữ nhi nhà họ Thương ở Hội Kê, thật sự là làm cho ông không dám tin, nhưng chính vợ mình đã nói trong thư chính xác là như vậy, ông không thể không tin.
Trong thư Trương Thụy Dương nói nếu Chu Vương điện hạ cho phép ông từ chức về quê thì khoảng giữa mùa hạ hoặc mùa thu năm sau sẽ về Sơn Âm. Còn thư của tỷ tỷ Trương Nhược Hi thì lại tràn đầy niềm vui, trong thư nói nếu không phải sắp đến năm mới, nàng thật sự muốn ngay lập tức về nhà mẹ đẻ để thăm tiểu đệ, đọc được thư và bài bát cổ chế nghệ của tiểu đệ, còn nghe được chuyện tiểu đệ đi đính hôn với nữ nhi nhà họ Thương, nàng thật sự sắp vui mừng đến chết rồi, nói rằng đầu tháng hai sẽ phái người từ Thanh Phổ đến Sơn Âm đón Trương Nguyên, hi vọng trong kì thi huyện Trương Nguyên tự tin chiến thắng. Sau ngày 24 tháng chạp tiễn táo quân về trời, hương vị của ngày tết trở nên nồng nàn hơn, những tên ăn mày vẽ loạn lên người, giả dạng thành quỷ phán quan đến các nhà dân hò hét nhảy múa để đuổi tà, đòi được trả công. Mỗi hộ gia đình đều đem bùa đào, môn thần (thần giữ cửa), câu đối tết, phúc lộc, đầu hổ dán ở trước cửa và trên tường nhà, nhà hàng xóm tiếng trống tiếng tiêu vang lên suốt đêm.
Mục Kính Nham và Mục Chân Chân hôm tết tiễn ông táo lên trời cũng đến nhà Trương Nguyên giúp đỡ, quét dọn phòng, lau chùi đồ vật, nhiều việc lộn xộn, hết sức bận rộn. Thoáng một cái đã đến giao thừa, Trương Nguyên đi đến nhà thờ tổ bên Tây Trương cùng với anh em trong họ bái lễ tổ tiên, lúc trở về đã là vào giờ Hợi, nhìn thấy Mục Kính Nham đang chẻ một đống gỗ cây tùng ở trên nền đất trống trước hàng rào tre trước cửa, châm lửa đốt củi, cái này gọi là đốt những điều xui xẻo, lửa cháy hừng hực, ấm áp náo nhiệt, mùi gỗ cây tùng tràn ngập trog không khí. Trương mẫu Lã thị, Y Đình, Thỏ Đình đứng trước của cười hì hì xem năm tiếng trống được đánh lên trong ngày đầu tiên của năm mới Quý Sửu. Trương Nguyên liền mang theo Vũ Lăng đến miếu thần thổ địa dùng đường, đậu, gạo vo tròn cúng táo quân, gọi là “Tiếp bếp”, sau khi về mang gạo vo tròn phân phát cho mọi người ăn, gọi là vui mừng đoàn tụ.
Ngày hôm đó Trương Nguyên rất bận, phải đến Tây Trương và Đông Trương chúc tết các thúc tổ và thúc bá trong tộc, gần trưa lại phải đến huyện nha chúc tết Hầu huyện tôn, Hầu huyện tôn không có nhà, cũng không biết đi đâu chúc tết nữa. Trương Nguyên liền viết tên mình lên sổ ghi chép ở công đường, đem lễ vật giao cho nha dịch. Đây cũng coi như là đã viếng thăm năm mới rồi.
Không được nghỉ ngơi, cậu ta còn phải chạy đến Hội Kê chúc tết Thương Chu Đức và Vương Tư Nhâm. Đến Thương gia trước, dùng cơm trưa ở Thương gia, vội vội vàng vàng chỉ gặp được Thương Đạm Nhiên một lúc để mời Thương Đạm Nhiên đến Sơn Âm xem hội đèn lồng tết nguyên tiêu. Thời gian trôi qua rất nhanh, đã đến ngày mười hai tháng giêng, chạng vạng ngày hôm đó, Thạch Song và Mục Kính Nham dựng một cái lều bằng gỗ ở trước hàng rào tre trước cửa nhà, đợi đến lúc trời tối, đem sáu ngọn nến cắm vào đèn lồng rồi treo lên, còn có mấy cái đèn sao Khôi được cất giữ từ mấy năm trước, chao đèn làm bằng vải lụa, nến đốt làm bằng hạt châu, khi đốt lên ánh sáng chói lọi, rực rỡ đến lóa mắt.
Huynh đệ Trương Đại và Trương Ngạc mang theo mấy người đầy tớ đi đến. Trương Đại vừa nhìn thấy bức tranh vẽ trên đèn lồng, liền khen một tiếng:
-Hay lắm! Giới Tử, bức tranh này là ai vẽ vậy?
Trương Nguyên mỉm cười nói:
-Chuyết kinh (cách gọi vợ thời cổ).
Hai huynh đệ Trương Đại và Trương Ngạc hết sức ngạc nhiên, lập tức cười ha hả. Trương Ngạc cười nói:
-Giới Tử muốn vào động phòng đến mức sắp điên rồi, giờ đã gọi người ta là chuyết kinh rồi.
Trương Đại vừa cười vừa nhìn bức tranh được vẽ trên sáu chiếc đèn lồng, bức tranh thứ nhất là hình ảnh vẽ một góc nhà tranh, có cây tường vi đang nở hoa, trên một góc có đề:
-“Hiểu ngưng đoan lộ cực thanh quân,
Bất chiêm viên lâm tối thượng xuân:
Hốt phát nhất chi sơn cốc lý,
Tự tri mao ốc hữu nhân”
( buổi sáng sớm con đường rất thanh mát,
Không lấn át được mùa xuân đang lan tràn trong vườn,
Chợt phát hiện một cái cây trong sơn cốc,
Như biết trong nhà tranh có thi nhân).
Thứ hai là cây hoa mẫu đơn, bên dưới là con ếnh xanh, hoa thì rực rỡ, con ếch thì sống động. Trên bức tranh có đề:
“Mẫu đan giai đối bản thùy tài
Tế vũ vô thanh oa tự lai:
Thuyết tự dữ nhân tam bất kiến.
Lạn hồng như hỏa nhất lý khai”
(Mẫu đơn là do ai trồng
Con ếch không một tiếng động nhảy trong màn mưa phùn.
Giống như không nhìn thấy có con người.
Hoa nở đỏ như một đốm lửa)
Trương Đại lại khen:
-Thiên nhiên hoang dã, thơ và họa đều đẹp, Giới Tử, thật có phúc.
Trương Ngạc kêu lên:
-Giới Tử, đây là đang treo đèn lên để khoe hả, làm cho người ta tức giận, thật là làm người ta tức giận.
Trương Nguyên cười nói:
-Ta đến chỗ Đại huynh xem đèn đi.
Trương Đại xòe hai tay ra nói: