Virtus's Reader
Lẵng Lơ Tao Nhã

Chương 37: Chương 112: Thắp đèn.

-MỘT CHIẾC ĐÈN CŨNG KHÔNG CÓ

-Một chiếc đèn cũng không có

-Sao vậy?

-Phải chờ Chung thái giám đến.

Cảnh thắp đèn trước dinh Tây Trương Trạng nguyên đệ vào đêm Nguyên Tiêu chính là một trong những cảnh đẹp nhất của Sơn Âm. Năm ngoái đúng chập tối ngày mười hai tháng giêng, đàn bà con gái trong thành sẽ đổ xô đi ngắm đèn, tất nhiên không thể bỏ qua một nơi chính là dinh Trương Trạng nguyên. Năm nay họ lại dắt tay nhau tới nhưng khác với mọi năm, bầu không khí ở đây năm nay lạnh lẽo vắng ngắt. Bên ngoài không một bóng người, chỉ có hàng thông trắng đứng sừng sững.Tất thảy không khỏi kinh ngạc trước sự vắng vẻ đìu hiu đó, hỏi thăm thì nhận được câu trả lời là :

Đêm Nguyên tiêu hội thắp đèn vô cùng náo nhiệt, nó sẽ được diễn ra tại Long Sơn, nếu bỏ qua thì đúng là hối hận một đời.

Đa số mọi người đều vào Thành ban ngày, bước trên cầu có treo đèn, vào trong những chiếc lều cũng có treo đèn, không ai không dạo qua trước cổng Trạng Nguyên đệ, họ thắc mắc rằng tại sao năm nay trước dinh Trạng Nguyên không có treo đèn thì cũng nhận được câu trả lời như vậy.

Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, không chỉ Sơn Âm mà dân chúng trong huyện thành Hội Kê cũng nghe nói việc đêm Nguyên Tiêu tại Long Sơn sẽ có hội đèn lồng vô cùng náo nhiệt. Dần dần bách tính cả tám huyện phủ Thiệu Hưng đều đã nghe tin này. Vậy là họ bèn vào thành sớm trước một ngày, nghỉ ở nhà họ hàng thân thích để đợi xem cảnh treo đèn có một không hai trên đời đó.

Trương Nguyên đang ở thư phòng họa theo cuốn “Lạc Thần phú” của Vương Tư Nhâm thì Trương Ngạc đã chạy tới:

Giới Tử, sáu chiếc đèn lớn trước cửa nhà đã được lấy đi trưng dụng rồi.

Trương Nguyên hỏi:

Sao cơ?

Trương Ngạc nói:

Chính là để mang tới Long Sơn đó, thêm được cái nào hay cái đó. Đêm nay chúng ta phải treo tới tới tận sông Ngân cũng không thiếu mấy chiếc đèn đó của đệ đâu, yên tâm.Chính Đại huynh trước mặt tam thúc nói đèn do Chuyết Kinh của đệ vẽ trông thật ưu nhã bất phàm, đem treo ở Long Sơn sẽ càng làm rực rỡ thêm,vì vậy nên mới cần phải trưng dụng đó.

Trương Nguyên cười nói:

Đây là cưỡng bức trưng dụng đấy chứ.Chung thái giám đúng là đáng ghét, bắt dân chúng toàn thành phải nịnh hót lão.

Trương Ngạc nói:

Cũng không hoàn toàn là vì Chung thái giám tới đâu, chủ yếu là muốn thông qua việc này tỏ rõ sự hào phóng và thanh thế của Sơn Âm chúng ta thôi.Giới Tử, đừng luyện cái chữ chiếc vớ vẩn gì nữa, mau đi với ta thôi.

Trương Nguyên nói:

Đệ còn có chút chuyện, lát mới đi.

Cậu muốn đợi Thương Đạm Nhiên đến, họ đã hẹn với nhau sau giờ Ngọ hôm nay cũng nhau ngắm đèn ở Sơn Âm.

Trương Ngạc liền lệnh cho mấy tên nô bộc hạ mấy chiếc đèn trước cửa xuống rồi hướng về phía Long Sơn.

Trương Nguyên lại tiếp tục viết mấy hàng “Lạc Thần phú” (Lạc Thần Phú của Tào Thực)

Cảm tiêm đắc trung, tu đoản hợp độ.

Kiên nhược tước thành, yêu như ước tố.

Diên cảnh tú hạng, hạo chất trình lù.

Phương trạch vô gia, kê hoa phất ngự.

Vân kế nga nga, tu mi liên quyên.

Đan chún ngoại lãng, hạo xỉ nội tiên.

Minh mâu thiện lãi, yếp phụ thừa quyền.

Côi, tư diễm dật, nghi tĩnh thể nhàn.

Nhu tình xước thái, mị vu ngữ

Dịch thơ: Điệp Luyến Hoa

To nhỏ vừa tầm, ngắn dài hợp độ.

Vai tựa vót thành, eo như được bó.

Cổ gáy thon dài, da ngần hé lộ.

Sáp thơm không dùng, phấn màu chẳng ngự.

Tóc búi mây bồng, mày uốn thon cong.

Ngoài môi thắm đỏ, răng ngà bên trong.

Con ngươi khẽ liếc, má lúm đồng tiền.

Phong tư kiều diễm, dáng tĩnh thân nhàn.

Nhu mì khoan nhã, mê hoặc tiếng thanh.

Tạm dịch:

“Bờ vai như được gọt một cách tinh tế, thắt đáy lưng ong.

Chiếc cổ thanh tú trắng nõn nã.

Dung mạo tuyệt mỹ, hoa nhường nguyệt thẹn.

Mái tóc vân búi cao đầu, hàng lông mày lá liễu thanh tú đẹp như tranh.

Đôi môi như cánh hoa, hàm răng trắng đều.

Đôi mắt sáng ánh lên vẻ thiện lương, đôi má lúm đồng tiền làm say lòng người.

Thần thái nho nhã cao quý, giọng nói dịu dàng, ôi mới quyến rũ làm sao...”

Dáng chữ tiểu Khải của Vương Tư Nhâm quả là nhìn từ góc độ nào cũng thấy đẹp, thanh thoát, ưu nhã. Một đoạn “Lạc Thần phú” này lại khắc họa một vẻ đẹp nữ nhi tuyệt sắc, thậm chí khiến cho Trương Nguyên cũng có chút không thể chuyên tâm mà bất giác nghĩ tới Đạm Nhiên, muốn “Tay áo đẹp lồng thêm mùi hương”.(Nghĩa là khi làm việc còn có mỹ nhân ngồi cạnh).Có mỹ nhân ngồi cạnh như vậy thì làm sao có thể chuyên tâm được đây?

Thiếu gia, nhà họ thương tới rồi.

Vũ Lăng chạy vào bẩm báo.

Trương Nguyên vội vàng chạy ra tiền viện, chỉ thấy quản gia nhà họ Thương đang đứng đợi ở tiền sảnh.Vừa thấy Trương Nguyên đi ra thì vội vàng chắp tay trước ngực thi lễ, nói:

Trương công tử, lão gia nhà ta đã đến phủ học cung trường xã rồi, còn có cả hai tiểu thư Cảnh Lan tiểu thư và Cảnh Huy tiểu thư nữa.

Trương Nguyên mừng rỡ, lên tiếng:

Xin đợi chút.

Rồi bước nhanh vào báo với mẫu thân.

Trương mẫu Lã thị vui vẻ nói:

Vi nương cũng phải tới xem mặt Thương tiểu thư mới được.

Rồi bà lệnh cho Y Đình khẩn trương thu dọn.

Thương Đạm Nhiên đứng trước cửa nhà họ Trương nhưng không vào. Đó là quy tắc, chưa thành thân thì không được phép bước vào nhà chồng, còn gặp nhau ngoài cửa thì không sao.

Đại nha đầu Y Đình và Mục Chân Chân người trái người phải dìu Trương mẫu Lã thị, Thỏ Đình xách một chiếc ghế con theo sau. Trương Nguyên và Vũ Lăng bước phía trước. Trương mẫu Lã thị chân nhỏ, bước không nhanh.

Mấy ngày liền nắng ấm, tuyết cũng tan đi nhiều nên đường cũng khá dễ đi.Trường xã ở bờ phải sông Phủ, cách Trương gia chưa tới một dặm, vòng qua phủ học cung, đi tiếp về phía Đông thì chính là trường xã rồi.Bây giờ đang là dịp nghỉ tết nên cổng lớn của trường vẫn đóng chặt.Hai cỗ xe ngựa đậu ở đây, bên cạnh là mấy người hầu.

Trương Nguyên tiến lên trước một bước, chào Thương Chu Đức:

Thương nhị huynh, mẫu thân của ta cũng tới rồi, bà ấy muốn gặp Đạm Nhiên tiểu thư.

Thương Đạm Nhiên cũng đoán được mẫu thân của Trương Nguyên sẽ nhân cơ hội này đến xem mặt nàng nên đã có sự chuẩn bị trước, liền mau chóng từ trên xe bước xuống. Tiểu tỷ muội Cảnh Lan, Cảnh Huy cũng xuống theo.

Tiểu Cảnh Huy chắc là đã bị thúc phụ và cô cô nghiêm khắc dặn dò từ trước nên chỉ dám nhìn Trương Nguyên híp mắt cười mà không nói câu nào.

Hai tỳ nữ mang từ trên xe xuống hai cuộn thảm đỏ trải trên mặt đất.Thương Đạm Nhiên thấy một phu nhân dáng vẻ hiền từ phúc hậu đang bước tới thì e thẹn cúi chào. Trương Nguyên bèn tiến lên trước mở lời:

Mẫu thân, vị này chính là Thương nhị huynh, còn vị này chính là Thương Đạm Nhiên tiểu thư.

Thương Chu Đức dùng thân phận vãn bối cúi chào Trương mẫu Lã thị.Trương mẫu Lã thị đáp lễ, Thương Đạm Nhiên đứng bên cạnh liền cúi chào, tay phải đặt lên tay trái, khuỵu gối trái trước, rồi khuỵu gối phải, toàn thân nghiêng về phía trước hành lễ.

Trăm dặn ngàn dặn nhưng chuyện này lại chưa dặn tới. Năm mới tới, tiểu Cảnh Huy lại lớn thêm một tuổi, cô bé muốn tỏ ra mình đã là người lớn nên cũng bắt chước cô cô, hành lễ với mẫu thân của Trương Nguyên. Thương Cảnh Lan thì biết là cô cô đang bái kiến mẹ chồng, lúc này lại không tiện kéo Tiểu Huy lại. Tiểu Lan cũng đành nhẹ nhàng nhún chân thi lễ với mẫu thân của Trương Nguyên.

Thương Đạm Nhiên thi lễ xong, nhẹ nhàng nói:

Đạm Nhi bái kiến mẫu thân.

Hôm nay trời đẹp, khoảng không gian trước cổng trường xã tràn ngập ánh nắng. Cách đó không xa, từng tia nắng lấp lánh chiếu xuống mặt sông Phủ, khiến cho mặt nước trở nên long lanh tuyệt đẹp.

Trương mẫu Lã thị đã nhìn rõ mặt con dâu tương lai, lại nghe rõ lời con dâu vừa chào mình. Thương Đạm Nhiên duyên dáng vẻ yêu kiều, đoan trang thùy mị, hôm nay lại còn cố ý trang điểm thêm một chút, càng làm tôn thêm làn da nõn nà xinh xắn của nàng.

Trương mẫu Lã thị quay sang nhìn con trai, ý nói “Con trai ta quả là có mắt nhìn người. Có phúc!Có phúc!” Bà vội vàng tiến lên mấy bước đỡ con dâu tương lai lên, nói:

Tốt, tốt, tốt. Con ngoan.

Bà mỉm cười tháo chiếc nhẫn bảo thạch trên tay ra đeo vào tay Thương Đạm Nhiên.Thương Đạm Nhiên e thẹn, đôi gò má thoáng ửng hồng, khuôn mặt lại càng trở nên kiều diễm bội phần.

Tiểu Cảnh Huy thấy tiểu cô cô đứng dậy rồi thì cũng đứng lên theo, may mà cô bé không bắt chước theo cô cô nói câu “Bái kiến mẫu thân”. Thương Cảnh Lan vội vàng kéo muội muội ra phía sau cỗ xe “giáo huấn” cho một bài.Thi thoảng có tiếng Cảnh Lan gắt lên, còn tiểu Cảnh Huy thì bĩu môi, chẳng nói một câu nào.

Y Đình, Thỏ Đình và Mục Chân Chân đều thi lễ với thiếu phu nhân tương lai.Thương Đạm Nhiên xấu hổ đến mức cổ cũng đỏ rần cả lên, mắt gần như không dám nhìn đi đâu nữa.Trương mẫu Lã thị thấy vậy, nói:

Chúng ta cũng lên xe thôi, vừa đi vừa từ từ nói chuyện.

Lúc Thương Đạm Nhiên lên xe, Trương mẫu Lã thị chú ý đến bàn chân của nàng.

Ừm, đúng là có hơi lớn một chút, nhưng cũng không phải quá to, còn nhỏ hơn của Y Đình một chút.Trương mẫu Lã thị đã rất ưng Thương Đạm Nhiên này rồi.Trong lúc Trương mẫu Lã thị và Thương Đạm Nhiên ngồi trong xe trò chuyện thì Trương Nguyên và Thương Chu Đức bước dọc theo bờ sông Phủ.

Thương Chu Đức kể với Trương Nguyên chuyện huynh trưởng gã là Thương Chu Khư đã gửi thư về, nói rằng ông ấy cũng rất hài lòng với hôn sự của tiểu muội Thương Đạm Nhiên.Thực ra Thương Chu Khư đang ở chốn Kinh thành xa xôi nào đâu có biết Trương Nguyên kia tướng mạo, học thức thế nào, chỉ qua lời kể của Thương Chu Đức mà gửi thư lại, nói: “Tháng sau huynh trưởng sẽ phái người đón tẩu tẩu Phó thị và Cảnh Lan, Cảnh Huy vào kinh.Vốn dĩ muốn đón Đạm Nhiêm đi cùng, nhưng vì muội ấy đã hứa hôn nên chắc là muội ấy cũng chẳng muốn rời khỏi Thiệu Hưng đâu.”

Trương Nguyên thầm nghĩ: “Đạm Nhiêm đương nhiên không thể đi Bắc Kinh được, nếu không thì ít nhất là ba năm nữa ta sẽ không được gặp nàng.Nếu ta muốn tới Bắc Kinh thì nhanh nhất cũng phải cuối năm sau mới đi được.Ừm, thi huyện, rồi thi phủ, thi hương nữa.Nếu vượt qua được cả ba kì thi liên tiếp đó thì mới có cơ hội đi Bắc Kinh tham gia thi hội.Mười chín tuổi đậu Tiến sĩ, liệu có kịp không?”

Trương mẫu Lã thị và Thương Đạm Nhiên ở trên xe trò chuyện với nhau ước chừng đã được hai khắc. Lúc xuống xe, Trương mẫu Lã thị tỏ ra vui mừng ra mặt, nhìn Thương Đạm Nhiên bằng ánh mắt hết sức trìu mến. Bà dặn Trương Nguyên phải ngắm đèn với Đạm Nhiên, chú tâm chăm sóc nàng cẩn thận, rồi bà đưa Y Đình, Thỏ Đình trở về.

Lúc này mặt trời đã ngả về Tây, xa xa phía Tây Bắc chính là Long Sơn.Mặt trời chiếu xuống làm tối đi một mảng, cảnh diệu kì bên sông Ngân ở đâu?

Trương Nguyên và Thương Chu Đức đi bộ theo cạnh xe ngựa.Khi đoàn người tới Long Sơn thì sắc trời đã tối.Người hầu nhà Tây Trương là Phùng Hổ chọn một chiếc đèn lồng cực lớn, trên đèn có mấy hàng chữ lớn: “Cấm xe ngựa.Cấm khói lửa.Cấm ồn ào.Cấm hào nô (nô tài nhà hào phú) không được hò hét quát người đi đường.”

Phùng Hổ cầm cây đèn đi tới đi lui, thấy xe ngựa là ngăn lại, đem chiếc đèn nâng lên cao cho người ta xem.

Thương Chu Đức cười nói:

Những thứ đó quả nhiên là phải cấm, nếu không có quá nhiều xe ngựa sẽ gây ùn tắc, mọi người chen chúc nhau không qua nổi; khói lửa cũng vậy, đốt đèn lồng không cẩn thận sẽ sinh hỏa hoạn.Còn hào nô quát người đi đường thì đúng là không hay chút nào.

Thương Đạm Nhiên cũng xuống xe, Trương Nguyên cố tình lái cho hai cỗ xe đi song song đến cầu Quang Tương thì dừng lại.

Thương Chu Đức, Trương Nguyên, Thương Đạm Nhiên, cùng với Cảnh Lan, Cảnh Huy tỷ muội xuống chân núi Long Sơn. Lúc này đã có rất nhiều người, kẻ sĩ, thị nữ, vợ chồng nông dân đều có đủ, còn có cả người bán rượu, thổi sáo, đâu đâu cũng có người.Mấy ngày nay trời hửng nắng, thời tiết trở nên ấm áp hơn nhiều.Tuyết trên đỉnh núi bắt đầu tan , giữa các khe núi còn nghe róc rách tiếng nước chảy, chỉ có những chỗ vách núi là vẫn còn có tuyết tụ.

Nô bộc nhà Tây Trương cũng phải có tới mấy trăm người.Phía đông Long Sơn giăng đầy những đèn là đèn, một giá gỗ treo ba cây đèn thì đã là hơn ngàn cây đèn rồi.Hơn nữa, trên mỗi cây trên núi đều có treo một cây đèn. Thương Đạm Nhiên đã nghe nói sáu cây đèn mà cô đích thân vẽ cũng đã được treo ở đây rồi.Trương Nguyên nhìn quanh, muốn tìm xem sáu cây đèn của nàng đang được treo ở đâu, bèn lên tiếng:

Đó là đèn thượng cấp, chắc là được treo ở trên núi rồi.Ban nãy ở dưới núi ta đã trông thấy Tam huynh rồi, để ta đi hỏi xem.

Phía bên kia có tiếng Trương Ngạc kêu to:

Đốt đèn, đốt đèn..

Liền có vô số nô bộc cùng nhau đi theo kêu to:

Đốt đèn, đốt đèn..

Lập tức hàng trăm hàng ngàn dân chúng cũng kêu lên:

Đốt đèn, đốt đèn.

Vậy là từ cửa miếu Thành Hoàng hiện lên một ngọn núi vô cùng lung linh, rực rỡ.

Từng ngọn đèn được thắp lên, trông tựa như những vì tinh tú đang sà xuống.Tới chân núi, vô số những ngọn đèn đều đã được thắp lên. Bóng tối dần buông xuống.Từ trên núi nhìn xuống cảnh tượng giống như một dải Ngân Hà, hư hư thực thực, dường như cả Long Sơn đều đang hừng hực rực cháy.

Dưới chân núi mấy ngàn dân chúng đều lặng đi, không gian tĩnh lặng như không có lấy một tiếng thở. Họ đã hoàn toàn bị cảnh đẹp lung linh huyền ảo trước mắt làm cho sững sờ. Những chiếc đèn với đủ mọi màu sắc, đủ các hình dáng, rực rỡ xán lạn, đây đúng là cảnh thần tiên ngàn năm có một.

Không biết Trương Ngạc đã đi đâu rồi. Khi Trương Nguyên trở về tìm Thương Đạm Nhiên thì không thấy bóng dáng nàng đâu cả. Bên cạnh chỉ có Mục Chân Chân là vẫn còn đi cạnh cậu.

Chương 113: Liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng.

Liếc nhìn lại thì chỉ thấy toàn những đầu người là đầu người, từ chân núi lên tới miếu Thành Hoàng Long Sơn có những du khách cũng tự mang cho mình một cây đèn nho nhỏ. Trong biển người mênh mông này mà tìm người thì đúng là mò kim đáy biển.

Trương Nguyên và Mục Chân Chân đành phó mặc cho dòng người đông như nêm cối này cuốn đi, nghĩ nhất định Thương Đạm Nhiên cũng đang bị như vậy, Trương Nguyên cảm thấy có chút lo lắng. Đạm Nhiên chắc còn có hai cô bé Cảnh Lan, Cảnh Huy nữa.

Tuy có mấy người hầu đi theo, mà Thương Chu Đức cũng có thể là đang ở cùng với nàng, nhưng hiện giờ người quá đông, chỉ cần hơi sơ ý một chút thì sẽ lạc nhau ngay, cậu nghĩ: “Có khi nào đám người của Đạm Nhiên đã tạm lánh vào một chỗ nào rồi không?Ừm, cũng có thể đấy.Đạm nhiên nàng ấy sẽ không ham vui mà chen vào đám đông trên núi đâu.”

Rồi quay sang Mục Chân Chân nói:

Chân Chân, chúng ta đừng lên núi vội, đi tìm các tiểu thư nhà họ Thương đã.

Trương Nguyên cố giữ vững chân.Dòng người đùng đẩy Mục Chân Chân và Trương Nguyên tiếp tục tiến lên phía trước. Mục Chân Chân cố theo sát sau lưng Trương Nguyên, đằng sau vẫn không ngừng bị dòng người đông như kiến cỏ dồn đẩy lên phía trước, vô cùng bí bách khó chịu. Nghe lời Trương Nguyên, cô liền dùng sức xuyên qua đám người đang chen chúc trước mặt, cố gạt mấy người để giành đường cho Trương Nguyên chen lên.Trương Nguyên mượn sức của cô, cũng cố chen ra ngoài, nắm lấy tay Mục Chân Chân trèo lên sườn dốc bên trái, thở hổn hển nói:

Chân Chân, cô hướng mắt lên trên nhìn cho kĩ một chút xem có thấy các nàng ấy hay không?

Mục Chân Chân căng mắt nhìn, trước mắt toàn những đầu là đầu, cảnh vật lại đang tranh tối tranh sáng, làm sao nhận ra ai với ai, lắc đầu nói:

Thiếu gia, nhìn không rõ.

Trương Nguyên nói:

Vậy thôi, chúng ta đợi ở đây một lúc, đợi đến khi đám ong vỡ tổ này lên hết rồi tính sau. Bọn họ đúng là...làm như trên đó có bảo bối gì không nhanh chân thì hết mất ấy, kinh quá đi.

Mục Chân Chân cười nói:

Thì ai cũng vậy mà, lúc nào cũng muốn là người đầu tiên cơ.

Phía sau hai người có một cây xoan, trên cành cây có treo một chiếc đèn giấy đỏ.Trương Nguyên giơ tay muốn tháo chiếc đèn xuống, nhưng với mãi mà không tới.Mục Chân Chân thấy vậy, lên tiếng:

Thiếu gia muốn cây đèn này à?

Rồi giơ tay lên một cái, chiếc đèn được lấy xuống một cách dễ dàng.

Chân Chân đưa cây đèn cho Trương Nguyên.Trương Nguyên nói:

Cái đầu của Chân Chân cao hơn ta không ít rồi đó.

Đâu có, đâu có.

Mục Chân Chân vội vàng xua tay:

Tiểu nữ chỉ là...chỉ là...tay dài mà thôi.

Ừm, tay dài.

Trương Nguyên bật cười, mang theo cây đèn giấy đỏ đứng trên sườn dốc nhìn dòng người vẫn không ngừng kéo lên núi.Già trẻ trai gái, đủ mọi loại người, chen chúc không ai chịu nhường ai, cứ thế bị dòng người như thác đổ cuốn đi không sao kìm lại được.

Đám du khách thấy một thiếu niên công tử cùng một thiếu nữ đọa dân đứng sang một bên mà không chen vào đám đông thì cảm thấy hết sức kì lạ, có người cao giọng hỏi:

Cậu giơ cao đèn lên thế nhìn gì vậy?

Trương Nguyên cười hì hì đáp:

Nhìn người đó.

Rồi cất tiếng cười vang, ra vẻ thích chí lắm.

Hội đèn lồng Nguyên tiêu, vừa ngắm đèn lại ngắm người.Trương Nguyên trông thấy có một thiếu phụ da trắng bị một tên vô lại phía sau thừa cơ ép sát, xoa vai, sờ eo.Thiếu phụ mặt đỏ tía tai nhưng không dám hét lên.Thiếu phụ này không có người hầu đi theo, khó tránh bị ức hiếp như vậy.

Mục Chân Chân cũng trông thấy cảnh đó, nghĩ chính mình ban nãy cũng mấy lần ép sát vào thiếu gia, mỗi lần chạm vào lưng cậu là mặt cô lại đỏ bừng hết cả lên.Đang suy nghĩ vẩn vơ thì bỗng có tiếng thiếu gia gọi, cậu đưa cho cô mấy hòn đá lớn có nhỏ có, nói:

Chân Chân, ta ném không chuẩn.Cô cho tên vô lại kia một bài học đi.

Mục Chân Chân “ Vâng “ một tiếng rồi nhận lấy một viên đá, không cần nhắm mà ném liền một phát trúng ngay ót gã vô lại.Gã kêu lên “A” một tiếng, không kịp để ý tới thiếu phụ trước mặt nữa mà lập tức gầm lên:

Kẻ nào đánh ta?

Gã tưởng người đàn ông phía sau cô gái thấy chuyện bất bình mới ra tay cứu giúp, bèn quát:

Liên quan quái gì đến mi? Có phải vợ mi đâu mà dám đánh ông hả?

Rồi gã thúc cùi trỏ vào giữa ngực gã đàn ông kia.

Gã đàn ông kia sớm đã thấy hành vi của tên vô lại kia quá sức gai mắt, bèn xông vào đánh trả.Vậy là cả đám người lập tức nhốn nháo hết cả lên, nhưng dòng người vẫn không ngừng đổ lên núi, rồi cứ thế xô hai người tách xa nhau rồi biến đi đâu mất.

Trương Nguyên vô cùng hoan hỉ, tấm tắc khen Mục Chân Chân ném chuẩn. Đợi thêm nửa khắc nữa khi dòng người lên núi bắt đầu ngớt dần, Trương Nguyên bắt đầu đi tìm Thương Đạm Nhiên. Quả nhiên thấy đám người huynh muội Thương Chu Đức, Thương Đạm Nhiên cùng Cảnh Lan, Cảnh Huy đang đứng dưới một gốc cây tùng dưới chân núi.Vậy là chỉ còn Vũ Lăng là vẫn chưa thấy đâu.

Thương Chu Đức cười nói:

Giới Tử, ta còn tưởng đệ bị xô lên núi rồi cơ.

Trương Nguyên cười nói:

Phải đó, vốn đã bị cuốn lên trên rồi, may mà nửa đường thì thoát ra được đó.

Thương Đạm Nhiên lại cười nói:

Đúng là đông quá đi.Bọn thiếp hét lên gọi chàng, chẳng thấy đâu nên mới lánh sang một bên đó.

Tiểu Cảnh Huy muốn lên núi, nói:

Trương công tử ca ca, bây giờ người đã tan rồi, chúng ta có thể lên núi rồi chứ?

Trương Nguyên nói:

Ừm, cũng vãn vãn rồi đó. Muốn đợi lúc không còn ai nữa thì khó lắm.

Người hầu Thương thị người trước kẻ sau vây lại chung quanh, đoàn người hướng miếu Thành Hoàng tiến bước, bỏ mặc Vũ Lăng. Dòng người lớn như vậy, mà Long Sơn này thì Vũ Lăng lại quá thông thuộc rồi, không sợ bị lạc.

Lên tới miếu Thành Hoàng, ông lão ngồi trước cửa miếu bán rượu còn chiếm cả khoảng không bên trái miếu, thuê hai tên lưu manh không biết định mưu tính trò gì.

Trương Nguyên và Thương Đạm Nhiên ngắm từng chiếc đèn được treo dọc hai bên đường.Từ chân núi đến cửa miếu đều không có treo sáu chiếc đèn trúc của Đạm Nhiên.

Chính lúc này, dưới núi có tiếng người hô lên:

Huyện tôn đại nhân tới rồi.

Phủ tôn đại nhân cũng tới rồi.

Án Sát tư Trương phân thủ đại nhân cũng tới rồi.

Vị đeo tiến hiền quan, mặc áo mãng bào, thắt lưng đeo đai ngọc kia là ai thế?

Đó là Chung thái giám, quản lí hàng dệt ở Hàng Châu đó. Lão chẳng có râu, hê hê.

Chung thái giám Chung Bản Hoa quản lí hàng dệt Hàng Châu cùng Án sát sứ Trương Kỳ Liêm, Tri phủ Thiệu Hưng Từ Thời Tiến, Huyện lệnh Sơn Âm Hầu Chi Hàn, còn có Trương Nhữ Sương, Vương Tư Nhâm và các thân hào, danh sĩ nông thôn hơn bản địa mười mấy người cùng ngồi xe tới Long Sơn. Phùng Hổ tỏ ra hết sức giữ nguyên tắc, nhấc cây đèn lớn trong tay lên, hét lớn:

Cấm xe ngựa. Cấm khói lửa. Cấm ồn ào. Cấm hào nô không được hò hét quát người đi đường.

Trương Nhữ Sương ngồi trên kiệu, quát:

Phùng Hổ, ngươi làm gì vậy, mau tránh ra!

Phùng Hổ giơ cao đèn lồng, khom lưng cười nói:

Đại lão gia, các vị công tử đã dặn dò, xe ngựa không được phép tiến vào Long Sơn để tránh ùn tắc ạ.

Chung Thái giám đang ngồi trong xe ngựa hào hoa thò đầu ra nhìn, nhận ra chữ trên đèn lồng cười nói:

-Thuận theo hắn đi, chúng ta cứ làm theo quy tắc.

Ông ta nói xong liền dẫn đầu bước xuống xe ngựa.

Hầu Chi Hàn, Trương Nhữ Sương, Vương Tư Nhâm và hơn mười vị nhân vật nổi tiếng của Thiệu Hưng cũng đều đồng loạt bước xuống xe, xuống kiệu. Chung thái giám hơn ba mươi tuổi, vai nhỏ, mặt trắng, vận áo mãng bào, hông đeo đai ngọc bước đi chính giữa, để lộ ra mấy lớp áo trong, lớp xanh thẫm, lớp hồng nhạt, vô cùng bắt mắt.Chung thái giám phóng tầm mắt lên trên núi, vui vẻ nói:

Náo nhiệt mới vui, cảnh đèn này chúng ta là lần đầu thấy được đó.Hay lắm!

Ông thái giám đứng ngay dưới chân núi, cứ khen không ngớt lời.

Án sát sứ Trương Kỳ Liêm quay sang Trương Nhữ Sương chắp chắp tay, ý nói Chung thái giám đã có lời khen như vậy thì Sơn Âm Trương thị lần này lo liệu hội đèn lồng Nguyên Tiêu đúng là lập được đại công, làm vẻ vang cho cả huyện, khiến Trương Kỳ Liêm cũng được thơm lây.

Trương Kỳ Liêm nói:

Chung công công, hạ quan đã chuẩn bị tiệc rượu trên đỉnh Tinh Tú, mời công công lên núi vừa uống rượu vừa thưởng đèn.Cảnh đèn này đứng dưới trông lên có cái đẹp riêng, mà đứng từ trên ngắm xuống cũng có cái hay riêng.Công công, mời.

Hơn mười sai dịch đi phía trước, hai tùy tùng hai bên trái phải định dìu Chung thái giám, Chung thái giám khoát tay nói:

Không cần, ta tự lên được.

Cảnh sắc lung linh.Dọc theo đường núi hướng lên là một con đường giăng đầy đèn.Bắt gặp một chiếc đèn có chữ bên trên, Chung thái giám bèn dừng chân thưởng lãm, bình luận mấy câu. Mặc dù nói trong mây có sương, có người nịnh nọt thì bắt đầu ngông ngạo, tự cho mình có tài hoa nhưng vẫn là bậc môn khách tao nhã.

Qua miếu Thành Hoàng, lên đồi Bồng Lai, rồi tới Tinh Tú các. Tinh Tú các ở trên một đỉnh núi rất cao. Vì Long Sơn cao hai trượng, Chung thái giám, Trương Kỳ Liêm một hàng hơn mười người đi vào Long Sơn đỉnh ngắm cảnh đèn treo từ chân núi đến ngọn núi, thực giống như một dòng các tinh tú trên trời sa xuống vậy.Dòng sông tinh tú này còn chảy cả vào tận thành Sơn Âm.Từ những nhà lầu lợp ngói tới những căn nhà thấp lợp mái tranh, không đâu là không treo đèn.Phóng tầm mắt ra xa hơn nữa sẽ thấy bờ Đông sông Phủ - Hội Kê thành hôm nay cũng trở thành “thành phố không đêm”.Đây không những là một dòng sông sao mà phải nói là các vì tinh tú đã sà xuống nhân gian mới đúng.Vừa ngắm đèn, Chung thái giám vừa không ngớt lời tấm tắc:

Chuyến đi này không tệ, chuyến đi này không tệ.Hoàng thượng hồng phúc tề thiên nên vạn dân mới được hưởng lạc như vậy.

Đám ngườiTrương Kỳ Liêm tất nhiên cũng thi nhau lên tiếng phụ họa.

Tất cả thưởng thức cảnh đèn, bước vào Tinh Tú các dự tiệc.Trong các có thể chứa hơn mười bàn, vốn dĩ có thể sắp xếp cho hai người một bàn nhưng Chung thái giám lại thích mọi người cùng quây quần lại trong một bàn nên Trương Kỳ Liêm dặn dò cho đặt ba chiếc bàn tròn lớn.Chung thái giám ngồi ở chiếc bàn lớn nhất, có thể ngồi được mười người.Ngồi cùng với Chung thái giám là Trương Kỳ Liêm và các quan viên quan trọng, mấy vị thân hào nông thôn và danh sĩ nổi tiếng nhất của hai huyện Sơn Âm và Hội Kê.Chung thái giám là chủ trì bữa tiệc, ngồi vào bàn đầu tiên.

Chung thái giám thấy trên bàn có món cá nóc, liền chỉ chỉ tay, nói:

Chưa tới lúc ăn cá đâu, các người chưa nghe qua câu thơ của Tô Đông Pha: “Ngoài hàng trúc có ba cành đào.Sông xuân nước ấm nên ăn vịt trước” hay sao?

Lúc cây ngải héo khô rụng đầy mặt đất mới là lúc thích hợp ăn cá.Phải câu này không nhỉ, “Cá thì tháng hai trời ấm hãy nên ăn.”

Trương Kỳ Liêm tán dương:

Chung công công uyên bác tinh thâm, học rộng biết nhiều.Tới câu nói của thi nhân mấy trăm năm trước của Tống triều mà công công vẫn thuộc như in, hạ quan khâm phục.Đợi tháng hai trời ấm, hạ quan sẽ mở tiệc cá ở Hàng Châu mời công công đến dự ạ.

Rượu quá ba tuần, Chung thái giám thấy không khí có vẻ gò bó, lời nói đều khách khí không chút náo nhiệt, liền đề ra trò “tửu lệnh”.Trương Kỳ Liêm sẽ là người ra tửu lệnh. Trương Kỳ Liêm nói:

Túc ông là bậc bề trên, mời túc ông ra lệnh trước.

Trương Nhữ Sương liền ra một câu lệnh gọi là “Phi hồng lệnh”.Theo đó mỗi người sẽ đọc một hoặc hai câu thơ của cổ nhân.Trong câu thơ phải có hai chữ “Phi hồng”, hoặc phải đồng âm với hai chữ này.

Một thị nữ đứng ngoài các gõ trống.Người ngồi trong các phải truyền tay nhau cành mai, khi tiếng trống ngừng, cành mai đến tay ai người đó phải đọc ra câu thơ có hai chữ “Phi hồng” nếu không sẽ bị phạt rượu.

Trương Kỳ Liêm nghĩ thầm, nhất định là phải để Chung thái giám nói trước.Chung thái giám này tính vốn nhỏ nhen, hỷ nộ vô thường, nếu những câu quen thuộc bị đọc ra hết rồi đến lượt Chung thái giám không nói được ra thì không biết chừng lại gây ầm ĩ cũng nên, chi bằng cứ nịnh bợ lão vẫn hơn.Vậy là ông quay sang dặn dò người hầu mấy câu, người hầu tuân mệnh, bước nhanh ra khỏi các.

Một hồi trống dừng lại, cành mai đã đến tay Chung thái giám.Chung thái giám liền thốt lên:

Liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng .

Có “phi” có “hồng”, đúng là tuyệt diệu.

Chương 114: Các vị chư sinh đều hổ thẹn.

“Liễu nhứ hỉ lai phiến phiến hồng?”

Án sát sứ Trương Kỳ Liêm đang định hùa vào tán dương thì lại cảm thấy có gì đó không đúng.câu thơ này hình như không đúng, tơ liễu là màu trắng, lấy đâu ra màu đỏ mà “phi hồng” cho được?Các vị đang ngồi đây đều là những người cả đời đọc sách, nhưng không một ai biết câu thơ vừa rồi là ở đâu ra, đoán chắc có lẽ không phải thơ của cổ nhân mà là do Chung thái giám bịa ra mà thôi.Mặc dù muốn nịnh nọt lão Chung thái giám này vài câu nhưng kiểu hùa theo lỗi sai thế này đúng là mất mặt quá.Nhất thời cả đám người ngơ ngác nhìn nhau, ai cũng chờ người khác lên tiếng trước rồi mới phụ họa theo.

Chung thái giám thấy vẻ bối rối của mọi người thì cũng nhận ra có gì đó không ổn, sắc mặt lão trắng bệch ra.Lão là cái kiểu thái giám thích học đòi văn vẻ, rất thích tỏ ra ta đây sĩ diện.Ngoài việc đốc thúc công việc ở hàng dệt ra, bình thường lão còn đọc thuộc lòng ba trăm Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, cố gắng đọc thuộc rồi hay ngâm nga với các văn sĩ để tỏ ra ta đây cũng là người hay chữ, tự nhận học thức của mình là cao thâm nhất trong số các thái giám.Lão cũng chẳng biết vì sao ban nãy lại buột miệng thốt ra câu thơ kia, cố nhét hai chữ “phi” và “hồng” vào chứ chẳng để ý gì đến ý thơ cả.Trương Kỳ Liêm ho khan một tiếng, miễn cưỡng cười nói:

Câu này của công công ý tứ tuyệt diệu, câu chữ lại bay bổng, hạ quan vô cùng khâm phục.

Thấy chung thái giám tỏ vẻ trầm tư, Trương Kỳ Liêm thầm nghĩ:

-Không xong rồi, lão thái giám này hỷ nộ vô thường, không biết chừng trong lúc này mà nịnh lão lại thành châm biếm lão cũng nên.

Trương Kỳ Liêm á khẩu không nói câu nào.Những người khác tất nhiên cũng sẽ chẳng dám lên tiếng, chỉ dám cười thầm trong bụng, đang muốn xem trò hay trước mắt coi Chung thái giám và Trương Kỳ Liêm sẽ đối đáp gì tiếp theo đây.Bầu không khí trong Tinh Tú các bỗng căng như dây đàn, cơ hồ không thể nghe thấy cả một tiếng thở.Trong lúc ai nấy đều cảm thấy khó xử thì chợt từ bên ngoài vọng tới một âm thanh trong trẻo:

“Liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng”, câu thơ này chính là của thi sĩ thời Nguyên, dùng để đối lại tửu lệnh đúng là hay tuyệt.

Trương Kỳ Liêm vội hỏi:

Ai đó?

Người này đúng là đã “cứu cho Trương Kỳ Liêm một mạng”, ông bèn khẩn trương chạy ra nghênh đón....

Trương Nguyên thấy tộc thúc tổ Trương Nhữ Sương, thầy Vương Tư Nhâm, còn có Từ Tri phủ, Hầu Huyện lệnh đang mặc mãng bào, đeo đai ngọc đi lên núi.Thấy quan nhân đầu đội trung tĩnh quan viền vàng đang ngồi cạnh Chung thái giám kia chắc là Án sát sứ Trương Kỳ Liêm, Trương Nguyên thầm nghĩ:

Lão thái giám này cũng oai phong gớm,quan tam phẩm mà còn phải theo hầu lão đi ngắm cảnh.Vậy thì khổ công đèn sách hòng có ích gì, vẫn chẳng bằng nổi một tay chẳng ra nam chẳng ra nữ kia.Hazzz..

Rồi liếc nhanh sang Thương Đạm Nhiên ~

Thương Đạm Nhiên dù thông minh nhưng cũng đoán không ra Trương Nguyên lúc này đang suy nghĩ gì.Thấy trên đỉnh núi nhiều người như vậy, nhìn sang Trương Nguyên, rồi quay qua nói với Thương Chu Đức nói:

Nhị huynh, chúng ta có lên đó nữa không?

Thương Chu Đức nói:

Đã đến đây rồi thì sao lại bỏ dở giữa chừng như vậy.Từ đỉnh Long Sơn có thể trông về phía thành Hội Kê, thậm chí còn nhìn thấy được cả núi Bạch Mã.

Tiểu Cảnh Huy vui mừng nói:

Hay lắm, hay lắm.Mau đi nhanh thôi.

Trương Nguyên thấy Năng Trụ đang từ đồi Bồng Lai chạy xuống thì vội vàng gọi lại hỏi xem sáu chiếc đèn kia đang được treo ở đâu.

Năng Trụ lắc đầu, Trương Nguyên nhắc nhở nói:

-Trên đèn lồng có vẽ hoa mẫu đơn và con ếch xanh, còn một cái có hoa tường vi và bươm bướm nữa.

Năng Trụ vỗ trán, cười xòa đáp:

Tiểu nhân nhớ ra rồi, sáu cây đèn kia đang được treo bên ngoài Tinh Tú các.

Trương Nguyên lại nói:

Năng Trụ, ngươi mang theo kính viễn vọng không, cho ta mượn dùng một chút?

Năng Trụ nói:

Tiểu nhân đang phải chạy về lấy kính viễn vọng đây, Tam công vừa mắng cho nô tài một trận đây này.

Dứt lời, anh ta ba chân bốn cẳng chạy biến.

Trương Nguyên quay sang Thương Chu Đức nói:

Nhị huynh, chúng ta lên Tinh Tú các đi, cũng chỉ mấy trăm bước thôi.

Rồi quay sang tiểu Cảnh Huy, hỏi:

Tiểu Huy còn đi được nữa không?

Được chứ.

Tiểu Cảnh Huy nhảy lên vui sướng, tỏ ra mình còn đang rất sung sức.

Đoàn người lên đồi Bồng Lai, cả đoạn đường núi được chăng đầy những đèn là đèn, trên dưới có không biết bao nhiêu người.Mấy người hầu Thương thị hết sức cẩn thận hộ tống ba vị tiểu thư. Đồi Bồng Lai khá rộng, mấy người tụm năm tụm bảy rải chiếu ngồi gảy đàn tấu khúc, làm cho bầu không khí càng náo nhiệt bội phần.Còn có vài túp lều rộng, bên trong có rất nhiều chiếc đèn rất lớn.

Trên những chiếc đèn lớn còn được đề lên đó “Tứ thư” hay “Thiên Gia Thi”.Tỷ muội Cảnh Lan, Cảnh Huy vừa đi vừa thích thú ngắm nhìn, nấn ná trên đồi Bồng Lai này đến hai khắc rồi mới hướng bước về phía đỉnh Long Sơn, chợt nghe phía sau có mấy người đồng thanh quát:

Tránh đường, tránh đường.

Hào nô dám quát người đi đường ư?Không trông thấy đèn lồng của Phùng Hổ viết gì sao?

Trương Nguyên trông thấy một gã gia đinh thân hình vạm vỡ đang lớn tiếng dẹp đường, đằng sau là mấy môn khách và gia nô vây quanh một thanh niên công tử bước nhanh lên núi.Thương Đạm Nhiên đứng lui sang một bên, Trương Nguyên cũng liền dừng lại đứng cạnh nàng.

Khi đám hào nô, môn khách kia bước qua chỗ của đám người Trương Nguyên và Thương Chu Đức đang đứng thì gã thanh niên công tử kia dùng ánh mắt suồng sã nhìn Thương Đạm Nhiên một lượt từ trên xuống dưới, rồi lại quay sang liếc khắp người Mục Chân Chân đang đứng cạnh Trương Nguyên, ánh mắt gã chợt sáng lên rồi chầm chậm dừng bước.Vừa đi vừa ngoái đầu nhìn lại, suýt nữa thì té cả vào người Thương Đạm Nhiên.Dưới ánh đèn lung linh, Thương Đạm Nhiên vận bộ xiêm y màu cam giống màu của cây Tùng Giang, nàng hiện lên xinh đẹp như vầng trăng rằm, còn Mục Chân Chân đang mặc chiếc váy dài màu đen, càng tôn lên làn da trắng nõn nà như tuyết, hai người mỗi người một vẻ vô cùng hấp dẫn. Hai vị cô nương này nhan sắc như hoa, khó tránh khỏi việc thu hút ánh nhìn của mọi người.Nhưng ánh mắt vừa rồi của tay công tử kia thật quá lỗ mãng, khiến cho Trương Nguyên không khỏi có phần khó chịu, nghĩ thầm:

Đây là gã nào?Sơn Âm hẳn là không có kẻ nào lỗ mãng như vậy, không biết chừng là tới đây phá rối cũng nên.

Lên tới đỉnh núi, Thương Đạm Nhiên trông thấy sáu chiếc đèn tinh xảo do chính tay mình vẽ đang được treo ở Tinh Tú các, bèn hai tay kéo hai cô cháu chạy qua xem.Tiểu nô Vũ Lăng không biết từ xó nào chạy ra, hớn hở nói:

Thiếu gia, em biết ngay thiếu gia lại muốn tới nơi này xem đèn nhà mình nên đã ở đây chờ lâu lắm rồi.

Trương Nguyên cười nói:

Tiểu Vũ, ngươi cũng nhanh chân quá nhỉ!

Lúc này nghe được Tinh Tú trong các có tiếng trống hạt đang gióng lên truyền tửu lệnh, Trương Nguyên thị lực không tốt nên bù lại tai lại rất thính, nghe giọng Chung thái giám kia khác hẳn với người bình thường, ngâm ra câu “Liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng” thì biết chắc là lão đang bịa ra, vốn dĩ đám người trong các thấy vậy phải cười nói ồn ào một trận mới đúng, thế mà lạ thay, không khí lại trầm lắng đến bất thường, không ai dám lên tiếng câu nào.

Trương Nguyên thầm nghĩ:

Chung thái giám phen này đúng là xấu hổ rồi, ta có nên giúp lão một chút hay không?Ừm, kết giao với một người có quyền cũng tốt, nhất định sau này sẽ được nhờ, chỉ cần có lợi với đại sự của ta thì ta sẽ không từ chối.Quốc nạn giáng xuống, phải lợi dụng tất cả những người có thể lợi dụng, những việc có thể lợi dụng.Đương nhiên không phải chuyện gì cũng dễ dàng, nói thì dễ lúc làm được hay không mới khó, vậy thì phải xem bản lĩnh của ta thế nào rồi.

Trương Nguyên rất nhanh lấy lại tâm trí, cao giọng nói:

“Liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng”, câu thơ này chính là của thi sĩ thời Nguyên, dùng để đối lại “tửu lệnh” đúng là hay tuyệt.

Quả nhiên, trong các có người đáp:

Là ai? Mời vào trong.

Và ra nghênh đón cậu chính là Chiết Giang tỉnh Án Sát tư quan trên Trương Kỳ Liêm. Trương Kỳ Liêm gặp Trương Nguyên mới tuổi mười lăm, sáu tuổi, lại là một thanh y nho đồng thì có chút hụt hẫng, hỏi:

Ngươi biết chính xác xuất xứ của câu thơ kia ư?

Trương Nguyên khom người nói: “ Đúng vậy. “

Trương Kỳ Liêm không còn tâm trí đâu quan tâm đến việc vì sao cậu thiếu niên này lại có mặt ở đây, rồi lại còn dám to gan chen vào câu chuyện của các đại quan nhân nữa.Nhưng cậu ta tới đây làm loạn một phen cũng tốt, mong sao Chung thái giám thấy vậy mà quên đi cảnh tượng khó xử ban nãy, bèn vẫy tay, nói:

Mời vào.

Trương Nguyên vừa vào trong đã trông thấy toàn “người quen”. Cậu lần lượt thi lễ với tộc thúc tổ Trương Nhữ Sương, lão sư Vương Tư Nhâm, Từ Tri phủ và Hầu Huyện lệnh. Hành động này làm cho Án sát sứ Trương Kỳ Liêm nhất thời bất ngờ không hiểu chuyện gì đang diễn ra.Trương Nhữ Sương đứng dậy cười ha hả nói:

Chung công công, Trương phân thủ, chư vị sa đạt, đây là cháu họ của Trương Nhữ Sương ta, Trương Nguyên Trương Giới Tử.Trương Nguyên, mau bái kiến Chung công công và Án sát sứ Trương đại nhân.

Trương Nguyên liền thi lễ với Chung thái giám, rồi quay sang hành lễ với người bên cạnh là Trương Kỳ Liêm.Trương Kỳ Liêm vỗ nhẹ trán làm như nhớ ra gì đó, nói:

Trương Nguyên... ta ở Hàng Châu có nghe qua cái tên này.Có một lần Vương Đề Học đã nhắc tới, nói Trương Nguyên ở Sơn Âm tuổi còn nhỏ mà đã làm được một bài văn bát cổ tuyệt hay, chính là ngươi ư?

Trương Nguyên mỉm cười chắp tay trước ngực nói:

Đó là đại tông sư quá khen, tiểu tử tài mọn, học nông biết cạn, đâu dám nhận.

Hoá ra thiếu niên trước mắt đúng là người mà Vương Đề học đã hết lời khen ngợi, Trương Kỳ Liêm vui vẻ nói:

Đúng là Sơn Âm Trương thị xuất nhân tài.Vậy ngươi nói câu “Liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng” là trong bài thờ nào của Nguyên triều?

Trương Nguyên chắp tay thi lễ với Chung thái giám, đáp:

Chung công công bác học tinh thâm, tiểu tử vô cùng kính nể, câu “Liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng” này nghe có vẻ lạ tai, khó trách các vị hiển đạt ở đây nhất thời không nhớ ra.Quảng Lăng gầy Tây Hồ có Âu Dương Tu san núi lấp hồ xây dựng Bình Sơn đường, hậu nhân vì chuyện này mà để lại rất nhiều lời vịnh, tiểu nhân cũng không nhớ ra câu nói đó là của vị nào, nhưng tiểu nhân có thể đọc thuộc ra cả bốn câu trong bài vịnh đó.

Nói rồi cậu lập tức cất cao giọng ngâm:

Nhập tứ kiều biên nhập tứ phong, bằng lan do ức cựu giang đông.Tịch dương phản chiếu đào hu độ liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng .

Tạm dịch:

Gió Nhập Tứ bên cầu Nhập Tứ

Tựa lan sầu tưởng cố Giang Đông

Chiều tà phản chiếu vườn hoa Đào

Tơ liễu bay tới một mảng hồng

Bầu không khí bên trong Tinh Tú các lại trở về trạng thái yên tĩnh, ngay sau đó tiếng vỗ tay dần dần vang lên không ngớt:

Hay! Hay lắm!

Ánh hoàng hôn phản chiếu làm cho tơ liễu bay tới nhìn qua sẽ tưởng là màu đỏ.Hay lắm!

Bài thơ này có hình ảnh ẩn dụ mới, ý nghĩa sâu xa.

-.....

Trương Kỳ Liêm mừng rỡ, vội lên tiếng tâng bốc Chung thái giám, nói:

Chung công công đúng là có trí nhớ siêu phàm, hạ quan tự thấy không sánh bằng. Câu thơ này ban đầu còn khiến hạ quan cảm thấy ý nghĩa không thông, hổ thẹn, hổ thẹn.

Đám người Từ Thời Tiến cũng lớn tiếng kêu “hổ thẹn”, mấy quan thân danh sĩ cũng vội vàng hùa theo, hết người này đến người kia thi nhau “tự kiểm điểm bản thân”, thẹn mình không sánh được với Chung công công, thán phục Chung công công tri thức uyên thâm, chỉ có Trương Nhữ Sương, Vương Tư Nhâm cười dài nhìn Trương Nguyên không nói câu nào.

Chung thái giám được mọi người hết lời tán dương như vậy thì cũng quên mất rằng câu này là do lão bịa ra, thậm chí còn tưởng rằng đúng là có một người nào đó của Nguyên triều đã làm ra bài vịnh này thật.Từ chỗ khó xử trở nên vui mừng hoan hỉ, lão xoa xoa cái cằm nhẵn thín, nói:

Cái này, ta quả thực cũng không nhớ rõ lắm, chỉ nhớ được một câu, còn Trương công tử lại nhớ được cả bài. Đáng khen, đáng khen.

Trương Nguyên khiêm tốn nói:

Tại hạ là năm trước khi sưu tập những cuốn sách của tiền nhân thì ngẫu nhiên đọc được bài thơ này.Tại hạ tuổi nhỏ, đọc sách không nhiều lắm nên không nhớ rõ toàn bộ. Chung công công là người đọc rộng biết nhiều, thấy tửu lệnh có hai chữ này thì liền nhớ ra câu “Liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng”, phải không ạ?

Chung thái giám gật đầu lia lịa:

Phải, phải.Chính là như vậy đó.Lão vui mừng ra mặt, cảm thấy cậu thiếu niên này rất hiểu mình, bèn quay sang nói với Trương Nhữ Sương:

Túc ông, đứa cháu này của ngươi quả là thông minh hơn người, tiền đồ ắt hẳn sẽ vô cùng xán lạn.

Trương Nhữ Sương cười nói:

Công công quá khen, Trương Nguyên là đệ tử của Vương Quý Trọng tiên sinh, đó đều là công Quý Trọng tiên sinh dạy bảo cả.

Chung thái giám liền quay sang Vương Tư Nhâm nói:

Dạy rất hay, rất có phương pháp.

Trương Kỳ Liêm thấy Chung thái giám mặt mày hớn hở thì cũng thở phào nhẹ nhõm. Lão thái giám học đòi văn vẻ lại vui giận thất thường này đúng là “khó chiều”.Tối nay may mà có Trương Nguyên “bỗng nhớ ra bài vịnh kia”, nếu không thì đúng là....

Chương 115:Gia phụ Đổng Kỳ Xương.

Chung thái giám tiếp đón Trương Nguyên, nói:

Trương công tử, ngồi bên này. Chúng ta thấy ngươi hậu sinh tuấn kiệt mới chợt dậy lên ý nghĩ khâm phục anh tài.

Thầm nghĩ: “Ngồi đây toàn là những bậc thi gia hàng đầu Giang Tả, cả đời đọc sách, văn thơ lai láng, theo ta thấy thì còn chả bằng một góc của cậu thiếu niên này. Đến ta còn không nhớ ra câu thơ “Liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng” xuất xứ từ đâu mà chỉ mình cậu ta nhớ được, nếu không phải có Trương Nguyên nhắc nhở thì hôm nay bổn thái giám ta chẳng phải đã bị đám người này cười cho thối mũi rồi hay sao?Ai ya, như vậy thì đúng là oan tày đình mà.

Người đương thời có một câu tục ngữ đó là có ba loại người mà không nên chọc tức vào đó.Thứ nhất, đó là thái giám, thứ hai là khuê nữ, và thứ ba, là tú tài. Thời vãn Minh, tú tài rất hay gây chuyện, đến quan phủ còn phải sợ,nên tú tài là không nên dây vào đầu tiên.Còn thái giám và khuê nữ thì cũng gần gần như nhau, chủ quản Nam Kinh công bộ Tạ Triệu Chế đã từng nói: “Hoạn quan, phụ nữ xem kịch không ai là không rơi lệ.Mà thái giám lại còn đáng sợ hơn khuê nữ nữa kìa, vui giận thất thường, khó chiều hết sức.

Cố tình quấy rối, tính nết biến hóa khôn lường rất khó đoán định, nhưng nếu nắm được mà làm vừa lòng họ thì họ sẽ coi bạn là tri kỉ thậm chí còn vì bạn mà không quản sống chết. Đương nhiên, ngược lại nếu chẳng may bạn đắc tội với họ thì đúng là thảm rồi...

Chung thái giám là một tay chúa sĩ diện, nhất là trước mặt các văn nhân nho sĩ. Trương Nguyên dùng một bài thơ đổi lấy sĩ diện cho lão, rất là hợp ý lão.

Chung thái giám cảm thấy trong các vị cao hiển ngồi đây chỉ có lão và Trương Nguyên là hai người tài hoa nhất. Đương nhiên, lão là thứ nhất, Trương Nguyên xếp thứ hai, còn đám người kia chỉ là hữu danh vô thực, là hạng mua danh chuộc tiếng, thiếu chút nữa đẩy lão vào tình thế mất mặt.

Lão quay sang dặn dò sai dịch mau chóng bưng tới một chiếc ghế bành đặt cạnh ghế của lão. Trương Nguyên thi lễ, mạn phép xin ngồi. Chung thái giám nhìn đánh giá Trương Nguyên một lượt, khen :

Đúng là hậu sinh khả úy!Tốt.

Rồi quay sang Trương Kỳ Liêm:

Nếu Vương Đề Học đã có lời khen ngợi Trương Nguyên, vậy vì sao cậu ta vẫn chỉ là thanh y nho đồng ?

Trương Nhữ Sương đáp:

Cháu họ ta tuổi nhỏ, trước kia chưa từng tham gia qua kì thi nào, năm nay đã mười sáu tuổi, việc học tập cũng có phần tăng tiến nên tháng sau sẽ tham gia thi huyện.

Chung thái giám liền cười nói:

Thì ra là thế, chả trách lại nói là không có công danh, hóa ra là vì kì thi còn chưa mở. Nhưng yên tâm, bổn thái gia ta khẳng định lần này Trương công tử sẽ vinh quy bái tổ. Năm sau thi hương, nếu ta còn ở Hàng Châu thì Trương công tử nhất định phải tới Hàng Châu gặp ta đó. Bát cổ văn thì ta không biết làm, nhưng đàm thơ luận chữ thì ta cũng biết đấy.

Trương Nguyên thầm nghĩ:

Vị Chung thái giám này quả là rất nhiệt tình, ta đã bắt đầu có cảm giác được “một bước lên tiên” rồi đây.

Rồi cung kính chắp tay nói:

Tiểu tử nếu có thể tới Vũ Lâm (tên gọi xưa của Hàng Châu, nổi danh do có núi Vũ Lâm), nhất định phải bái kiến công công, lắng nghe công công chỉ bảo rồi.

Bịa ra thơ mà lại tưởng thơ mình là thơ của cổ nhân, Chung thái giám hứng trí nổi lên, cười nói:

Trống hạt mới truyền một vòng, chẳng lẽ hôm nay chỉ có kiểm tra thi phú của mỗi mình bổn thái gia ta hay sao?

Trống Hạt lại nổi lên, Chung thái giám vừa mới cầm cành mai trong tay đưa cho Trương Nguyên thì tiếng trống dứt.Chung thái giám cười to, nói:

Như vậy là cố ý làm khó dễ rồi, ha ha, phải xem bản lĩnh của ngươi rồi.

Trương Nguyên đứng lên nói:

Vừa rồi nghe Chung công công nhắc tới câu thơ có hai chữ “Phi, hồng”, tiểu tử chợt nhớ tới một câu thơ cũng có hai chữ này. Đó là “Lệ nhãn vấn hoa hoa bất ngữ. Loạn hồng phi quá thu thiên khứ”.

Tạm dịch:người dịch: Nguyễn Thị Bích Hải

Mắt ướt hỏi hoa hoa chẳng nói

Tơi bời hoa rụng hơn thu tới.

Trương Kỳ Liêm cười nói:

Đúng vậy, đây là câu rất nổi tiếng của Âu Dương Tu đời Tống. Chung công công, hạ quan lần này không nhớ lầm chứ?

Bài thơ “Điệp Luyến Hoa” này của nhà thơ Âu Dương Tu thì Chung thái giám biết rõ, lão vui mừng ra mặt, nói:

Đối rất hay, câu “Liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng” là vịnh Âu Dương Tu ở Bình Sơn đường. Trương công tử này lại nói ra một câu khác của Âu Dương Tu, bổn thái giám có đề nghị như thế này, từ giờ “phi hồng lệnh” bắt buộc phải có liên quan tới Bình Sơn đường hoặc Âu Dương Tu.

Đề nghị này đã làm khó cho tất cả các vị cao hiển ngồi đây, chỉ có Vương Tư Nhâm đối được câu “Hồng phấn giai nhân phiên lệ xướng, kinh khởi uyên ương, lưỡng lưỡng phi tương hướng” nhưng thật ra cũng là ba câu rồi. Chung thái giám thấy Vương Tư Nhâm thân là thầy của Trương Nguyên nên miễn cưỡng cho thông qua. Ngược lại đối với những người khác, ai đối không xong cũng đều phải phạt rượu, điều này càng làm cho Chung thái giám có thiện cảm với cậu thiếu niên Trương Nguyên này hơn.

Bữa dạ yến đang đến hồi vui vẻ thì bỗng ngoài Tinh Tú các vọng tới một tiếng náo loạn, tựa như có kẻ đang gây lộn ngoài đó.Trương Kỳ Liêm tỏ vẻ không vui, nói:

Một đêm đẹp như vậy không thưởng đèn lại gây ồn ào, thật khiến các bậc cao nhân viễn khách mất hứng.

Thiệu Hưng Tri phủ Từ Thời Tiến và Sơn Âm Huyện lệnh Hầu Chi Hàn vội vàng đứng dậy ra khỏi các xem rốt cuộc là đang xảy ra chuyện gì.Trương Nguyên nghe thấy trong tiếng tranh chấp đó hình như có tiếng của tiểu hề nô Vũ Lăng, nhớ tới ban nãy trên đồi Bồng Lai gặp một tay thanh niên công tử háo sắc, liền vội vã đứng dậy, nói:

Tiểu nhân cũng ra xem xem liệu có liên quan đến người nhà tiểu nhân hay không?

Thái giám thích nhất chuyện ầm ĩ, thấy chuyện này đương nhiên không thể bỏ qua, nói:

Vậy cùng ra xem đi, ra bình đúng sai thế nào?

Vậy là tất thảy mọi cao hiển trong các đều lần lượt bước ra.

Long Sơn đỉnh nghiêng từ đông sang tây. Chỗ cao nhất phía đông chính là Tinh Tú các. Từ Tinh Tú các sang đến vách núi phía tây hơn trăm bước, núi đá, cây cối không chỗ nào không có đèn. Đám người Thương Đạm Nhiên thấy Trương Nguyên bước vào Tinh Tú các bèn đi chỗ khác ngắm đèn. Tiểu cảnh Huy trông thấy phía xa là thành Hội Kê, hỏi Thương Đạm Nhiên:

Cô cô, nhà chúng ta ở chỗ nào?

Thương Đạm Nhiên chỉ chỉ nói:

Thấy không, đó chính là núi Bạch Mã.Dưới chân núi Bạch Mã chính là nhà chúng ta đó. Tiểu Cảnh Huy kiễng chân ra sức căng mắt trông, lắc đầu nói:

Chỉ thấy núi thôi, không thấy nhà đâu cả.

Thương Đạm Nhiên mỉm cười nói:

Xa quá mà, đương nhiên nhìn không thấy rồi, chỉ biết nhà ta ở vị trí đó thôi.

Tiểu Cảnh Huy cố căng mắt ra nhìn kĩ lại một lượt rồi mới lên tiếng:

Đèn nhiều quá!Nếu Hội Kê chỉ có nhà chúng ta thắp đèn thì còn nhìn thấy được.

Thương Cảnh Lan nói:

Tiểu Huy muội ghê gớm quá đi, còn không cho người ta đốt đèn nữa.

Thương Chu Đức cười nói:

Trong “Lão học am bút ký” có một trang kể về một câu chuyện, kể rằng chỉ cho phép quan châu phóng hỏa, không cho dân chúng thắp đèn.

(Truyện kể về một vị quan tên là Điền Đăng, vì “đèn” tiếng hán là “đăng”, nên gã cho rằng gọi như vậy là sĩ nhục gã, thế là mọi người dân đều không dám gọi “phóng đăng” (thắp đèn) nữa, mà chỉ dám nói là “phóng hỏa”. về sau câu nói “cho phép quan châu phóng hỏa, không cho dân chúng thắp đèn” được mọi người dùng để ám chỉ cường quyền bá đạo, ỷ thế hiếp người.)

Nghe xong câu chuyện cười của Thương Chu Đức, chị em Cảnh Lan Cảnh Huy khanh khách cười.

Tiểu Cảnh Huy nói:

Muội đâu có độc ác ngang ngược như vậy, muội chỉ nói thế thôi mà. Nhà Trương công tử ca ca cũng không xa chỗ này, cô cô có trông thấy được không?

Thương Đạm Nhiên lại cười nói:

Không nhìn ra, ta đâu có....

Đang nói đến đó thì bỗng nàng im bặt..

Vũ Lăng đứng bên nói:

Để ta xem, để ta xem.

Vũ Lăng vừa mới tìm được vị trí phủ học cung thì cánh tay trái đột nhiên bị một người giữ lấy.Một giọng nói vang lên:

Vị tiểu ca này, cho nói chuyện chút.

Rồi chưa để Vũ Lăng trả lời đã kéo Vũ Lăng tới bên một hòn đá lớn.Trong lúc giãy giụa, Vũ Lăng nhận ra đây chính là gã nô bộc to cao ban nãy, vừa nhìn là biết hạng cường hào gia nô, bên cạnh gã là tay môn khách dáng người trung niên, cười cười nói:

Vị tiểu ca này, ta có lời muốn hỏi ngươi.

Vũ Lăng bị tay kia cưỡng ép lôi đi nên cảm thấy không thoái mái chút nào.Mấy người hầu Thương thị lại tưởng hai kẻ lạ mặt này là người Vũ Lăng quen biết nên cũng chẳng lên tiếng hỏi.Tên môn khách rút ra mười mấy đồng trước mặt Vũ Lăng, nói:

Thưởng cho ngươi.

Vũ Lăng không thèm đếm xỉa đến chỗ tiền đó, nói:

Ta không cần tiền, các ngươi có chuyện gì?

Tên môn khách hướng ánh mắt về phía Thương Đạm Nhiên, hỏi:

Các ngươi là người nơi nào, gia chủ tên gì?

Chúng ta đương nhiên là người Thiệu Hưng, các người là từ đâu tới?

Nghe giọng nói của tên hào nô và tay môn khách này có vẻ như không phải người bản địa.

Tên môn khách không đáp mà tiếp tục hỏi:

Gia chủ ngươi là ai?Vị tiểu thư kia đã có hôn phối hay chưa?

Vũ Lăng lập tức cảnh giác cao độ, nói:

Vị kia là Thương tiểu thư, chính là thiếu phu nhân của nhà ta, tuy chưa chính thức thành thân nhưng đã có đính ước rồi.

Đây là lời cố ý nhắc nhở tay môn khách đừng có mơ tưởng.

Tên môn khách tiếp tục hỏi thêm mấy câu. Gã thanh niên công tử mắt rậm mày ngài đứng sau tảng đá lớn, lên tiếng:

Nói với thằng gia nô này làm gì, mời gia chủ của nó đến, ta nói chuyện trực tiếp với hắn.

Vừa nói gã vừa chỉ chỉ Thương Chu Đức.

Tên môn khách liền bước tới chỗ Thương Chu Đức.Bị hai gia phó của thương thị ngăn lại, môn khách thở dài nói:

Công tử nhà ta có việc muốn thương lượng với chủ nhân của các người.

Thương Chu Đức không biết chuyện gì, thấy thanh niên kia lạ mặt nhưng ban nãy có đứng nói chuyện với Vũ Lăng thì tưởng có quen biết gì với Trương Nguyên, liền đi qua chắp tay nói:

Không biết các hạ có chuyện gì cần gặp?

Thanh niên này thở dài nói:

Còn chưa thỉnh giáo tôn tính đại danh?

Thương Chu Đức nói:

Tại hạ Thương Chu Đức, người Hội Kê.Chẳng hay tôn tính đại danh của các hạ là gì?

Thanh niên công tử này nói:

Gia phụ ta là Đổng Huyền Tể.

Thương Chu Đức sửng sốt, mặt lập tức giãn ra nói:

Hóa ra là công tử của Đổng hàn lâm, tại hạ nghe danh đã lâu.

Đổng Huyền Tể chính là Đổng Kỳ Xương, năm Vạn Lịch thứ mười bảy khoa Sửu đỗ đệ nhất nhị giáp tiến sĩ.

Hàn Lâm Viện chuyên biên tu, công thi văn, thư họa, vang danh cả nước. Hoàng trưởng tử Chu Thường Lạc trúng cử giảng quan, sau đó được thăng tiến lên Phó sứ Sơn Đông, Hà Nam tham chính nhưng đều không đi nhậm chức mà ở tại quê hương Hoa Đình, Tùng Giang nhàn cư dưỡng vọng.Tài năng thi họa của ông càng ngày càng đạt tới mức tinh thâm, danh tiếng càng lúc càng vang xa, đến mức sứ thần Triều Tiên đến kinh thành còn muốn lục soát bằng được Đổng Kỳ Xương thi họa mang về Vương kinh Seoul.Vị thanh niên này công tử là con thứ của Đổng Kỳ Hưng - Đổng Tổ Thường, công danh sinh đồ, cũng là nghe hôm nay ở Sơn Âm có hội đèn Nguyên tiêu thì đến, tại Long Sơn gặp Thương Đạm Nhiên xinh đẹp yêu kiều, hoa nhường nguyệt thẹn, tỳ nữ đứng cạnh cũng lệ sắc phi phàm liền tò mò muốn hỏi xem là nữ lang nhà ai.

Đổng Tổ Thường này có thói quen lần đầu nói chuyện với ai cũng lôi danh tiếng thân phụ ra: “Gia phụ Đổng Huyền Tể”.Năm chữ này rất có hiệu quả, chỉ cần là sĩ đại phu, người đọc sách thì không ai là không biết đến đại danh thân phụ y là Đổng Kỳ Xương cả.Lần này cũng vậy, Thương Chu Đức vừa nghe danh Đổng Kỳ Xương thì lập tức vội vã đứng lên khiêm nhường thi lễ.

Đổng Tổ Thường lúc này mới xưng tên mình:

Vãn sinh Đổng Tổ Thường, chưa có hôn phối, không biết vị nữ lang kia là thế nào với Thương tiên sinh?Vãn sinh thực sự rất ái mộ.Tư kết Tần Tấn là chuyện tốt.

Đổng Tổ Thường có vợ có thiếp đủ cả, câu chưa có hôn phối chẳng qua chỉ là y nói xằng mà thôi.

Thương Chu Đức mặt nhăn nhó nói:

Đó là em gái ta, đã có hôn ước với con cháu Trương thị ở Sơn Âm rồi.

Đổng Tổ Thường nói:

Có hôn ước cũng không sao, vãn sinh nguyện ra giá gấp mười lần. Mong Thương tiên sinh chấp thuận, gia phụ cũng rất cảm kích ân đức của tiên sinh.

Thương Chu Đức rất là không hài lòng, giữa đường bàn chuyện hôn sự đã là vô lễ rồi, như vậy đúng là xem thường Thương thị của gã rồi.Xem Thương thị như thể bồng môn tiểu hộ chẳng chút thể diện gì sao mà vừa mở miệng đã đòi hôn ước nọ kia??? Hứ, Hội Kê Thương thị ta thiếu bạc hay sao?

Chương 116: Bây giờ không đánh thì đợi lúc nào nữa.

Thương Chu Đức thản nhiên nói:

-Được Đổng công tử ưu ái rồi, nhưng gia đình Thương Thị ta vốn là nhà nho gia giáo, làm sao có thể làm ra chuyện hủy hôn này được.

Ông ta chắp tay rồi xoay người muốn bỏ đi.

Đổng Tổ Thường vội nói:

-Thương tiên sinh xin dừng bước, vãn sinh còn có điều muốn nói.

Thương Chu Đức cố kiên nhẫn, xoay người lại nghe xem con trai của gã Đổng Kỳ Xương còn gì nói nữa, tên Đổng Tổ Thường chắp tay nói:

-Xin Thương tiên sinh lượng thứ, vãn sinh thật sự hơi thất lễ, nhưng quả thật vãn sinh đối với lệnh muội là tình sâu nghĩa nặng, mong tiên sinh rộng lòng thông cảm, tiếc thay “Giai nhân dĩ quy Sa Trá Lợi” (Đây câu thơ nằm trong bài “Thơ Liễu Thị”, khi chồng Liễu Thị đi xa, Sa Trá Lợi đã cướp nàng về làm vợ), vãn sinh đau lòng khôn xiết.

Thương Chu Đức thầm nghĩa:

“Giai nhân dĩ quy Sa Trá Lợi”, thơ này miêu tả chẳng đúng ngữ cảnh gì cả, rõ ràng là râu ông nọ cắm cằm bà kia, Đổng Kỳ Xương nổi tiếng tinh thông thi văn thư họa, sao lại có loại con trai như thế nào nhỉ? Có khi nào là hàng giả không đây?”

Thương Chu Đức cũng chẳng hơi đâu mà quan tâm đến, liền nói:

-Đổng công tử không cần nhiều lời, thưởng đèn thì xin cứ tự nhiên.

Đổng Tổ Thường lại nói:

-Thương tiên sinh hãy khoan, vãn bối còn một lời này, nếu vãn bối và lệnh muội không duyên phu thê, thế thì vãn bối cũng chẳng dám làm phiền, vãn bối chỉ xin Thương tiên sinh một chuyện, có thể bán Hồ tỳ đó cho vãn bối không ạ?

Thương Chu Đức nghe không rõ, hỏi lại:

-Cái gì?

Đổng Tổ Thường chỉ về hướng thiếu nữ đọa dân Mục Chân Chân :

-Dạ chính là đứa tỳ nữ này, vãn bối rất thích làn da trắng trẻo của cô bé này, trông rất thú vị, Thương tiên sinh có thể cho vãn bối được toại nguyện không ạ? Bao nhiêu ngân lượng xin cứ ra giá.

Ở đây không phải phủ Tùng Giang, thôi thì khiêm tốn chút vậy, lấy tạm tỳ nữ xinh đẹp kia cũng được.

Người Tấn nói về Hồ tỳ, chính là đang nói đến mỹ nữ tộc Tiên Ti, tóc của Mục Chân Chân tuy có màu vàng nhạt, nhưng ban ngày nếu không chút ý kỹ sẽ chẳng ai có thể phát hiện ra, lúc này trên núi thắp đầy ánh đèn sáng trưng, dưới sự chiếu rọi của ngọn lửa, mái tóc óng vàng mượt mà của nàng lóng lánh, đi cùng làn da trắng tươi nõn nà, toát lên vẻ đẹp của một nàng người Hồ da trắng xinh đẹp.

Thương Chu Đức tức giận vô cùng nhưng ngược lại ông vẫn nở nụ cười, thầm nghĩ tên Đổng Tổ Thường này hay thật, phút trước còn bán sống bán chết nói yêu lệnh muội ta, đau khổ khôn xiết ư, giờ chớp mắt đã xin mua mỹ tỳ Mục Chân Chân rồi, phẩm hạnh gã này ra sao, không cần nghĩ cũng biết rồi, ông bèn kiềm nén cơn giận, nói:

Đó không phải tỳ nữ của Thương Thị, cô ấy bên nhà Trương Thị Sơn Âm, cũng là tỳ nữ của em rể tương lại ta, muốn mua muốn bán gì, cứ đi tìm đệ ấy mà nói.

Bụng nghĩ:

“Cứ để Trương Nguyên đối phó với tên Đổng công tử vớ vẩn này xem sao.

Đổng Tổ Thường hỏi:

-Cho hỏi có phải gã thiếu niên áo xanh gặp qua trên núi không ạ?

Thương Chu Đức nói:

-Đúng thế.

Vũ Lăng đứng bên cạnh mặt mày đỏ bừng lên, nhịn đến không kiềm nổi nữa rồi, điên máu lên nói:

-Không bán, thiếu gia nhà ta tuyệt đối không bán tỳ nữ đâu.

Đổng Tổ Thường quát lớn :

-Chủ nhân đang nói chuyện ở đây, ngươi là tiểu nô tài sao lại chen miệng vào, khiến đánh phải không?

Thương Chu Đức lạnh lùng nói:

-Đổng công tử có phải hơi quá đà rồi không?

Đổng Tổ Thường thấy nếu y đã chẳng thể xin cưới lệnh muội của Thương Chu Đức nữa, vậy hà cớ gì phải khách khí làm chi, liền trở mặt cười lạnh lùng nói:

-Đây mà gọi là nhà có gia giáo lễ nghi ư, chủ nhân đang nói chuyện, gia nô đứng bên sủa lung tung thế kia, vậy mà cũng được à?

Thương Chu Đức nhất thời tức giận, không nói nên lời, sau một lúc nghẹn ngào mới nói:

-Tri huyện Sơn Âm, Tri phủ Thiệu Hưng, còn có cả Án Sát Ti Trương Phân Thủ nữa, họ đang dùng tiệc bên lầu các, ngươi đi với ta qua đó nhờ họ nói câu công bằng.

Đổng Tổ Thường trái lại hỏi tới:

-Án sát sứ Hàng Châu Trương Kỳ Liêm, Trương Thế Bá chứ gì? Hô hô…Trương đại nhân đó là bạn hữu gia phụ, hội đèn lồng Sơn Âm là do Trương Thế Bá đấy cố tình gửi thư mời cha ta đến chung vui, do đường xa lầy lội, thời tiết lạnh giá, cha ta không thèm đến, thành ra ta mới đến thay đây này, thưa Thương tiên sinh, ngài còn muốn lên lầu các tìm Trương Phân Thủ nói lý nữa không?

Nói xong gã dương dương tự đắc nhìn Thương Chu Đức, bất thình lình gã bước tới bên Vũ Lăng, giáng cho Vũ Lăng một cái bạt tai, nói:

-Ta dạy dỗ ngươi thay chủ nhân ngươi.

Vũ Lăng khóc òa lên.

Mục Chân Chân vội vã chạy tới, hỏi:

-Tiểu Vũ đệ có sao không?

Vừa hỏi han Tiểu Vũ, nàng ta vừa trừng mắt nhìn Đổng Tổ Thường, nàng đã trông thấy Đổng Tổ Thường đánh Vũ Lăng.

Vũ Lăng cùng tuổi Mục Chân Chân, năm mới này cũng 15 tuổi cả, Vũ Lăng chỉ nhỏ tháng hơn so với Mục Chân Chân thôi, hơn nữa dáng người thấp bé, bình thường đều bắt chước Thạch Đầu ca ca gọi Mục Chân Chân là Chân Chân tỷ tỷ, lúc này bị tát một cái, y liền khóc òa lên nói:

-Chân tỷ tỷ, gã họ Đổng này nói đòi mua tỷ, đệ bảo thiếu gia tuyệt đối không bán, thế là gã liền đánh đệ, hu hu ….Chân Chân tỷ giúp đệ với.

Vũ Lăng biết Mục Chân Chân có võ, muốn nàng ta trả thù dùm đây mà.

Mục Chân Chân thấy trên đầu Đổng Tổ Thường có đội khăn tú tài, không dám động thủ, chỉ đành bảo vệ Vũ Lăng bằng cách đứng chắn phía trước, cô bé đọa dân này xưa nay vốn nhát gan, trước kia bị Lạt Hổ ăn hiếp cũng chỉ biết trốn chạy, giờ thì dạn hơn nhiều rồi, nếu đối phương là gia nô, cô nàng sẽ thẳng tay không kiêng nể, chỉ có điều nếu là tú tài thì thật sự không dám liều, sợ rằng bản thân lại gây phiền toái cho thiếu gia nữa.

Thương Chu Đức tức điên người, chỉ vào mặt Đổng Tổ Thường nói:

-Hiếp người quá đáng mà, đi, đi tìm Trương Phân Thủ nói lý ngay.

Thương Đạm Nhiên đi đến thấy vậy kinh ngạc hỏi:

-Nhị huynh, xảy ra chuyện gì vậy?

Trước đó Đổng Tổ Thường chưa có dịp nhìn rõ dung mạo của cô gái này, giờ được trông thấy vẻ đẹp như tiên giáng trần của cô, liền lập tức cười nói:

-Thương tiểu thư đừng sợ, không liên quan gì đến Thương tiên sinh cả, chẳng qua tiểu nô tài này vô lễ không biết phép tắc, tiểu sinh ra tay dạy dỗ chút ấy mà.

Vũ Lăng thấy Mục Chân Chân không dám động thủ, liền kêu to:

-Thiếu gia ơi, thiếu gia ơi.

Chỉ có thiếu gia mới làm chủ cho hắn được thôi.

Trương Nguyên đang trên Tinh Tú các nghe thấy tiếng kêu bi thảm của Vũ Lăng. Từ Tri phủ, Hầu tri huyện đang bước đi một cách dõng dạc từ tốn, Trương Nguyên đợi không được, liền chạy tới bên hai người, thưa một tiếng:

-Học trò lên trước xem sao ạ.

Vũ Lăng vừa trông thấy thiếu gia, liền khóc lóc nói:

-Hu hu…thiếu gia, Gã họ Đổng này nói đòi cưới Đạm Nhiên đại tiểu thư, còn bảo muốn mua Chân Chân tỷ nữa. Tiểu Vũ nói lại có mỗi một câu, mà gã đánh Tiểu Vũ ra thế này nè. Hu hu hu ….

Trương Nguyên vừa nhìn, quả nhiên là vị công tử mặt mày lấm lét mà họ đã gặp ở đồi Bồng Lai, lại trông thấy bộ dạng tức không chịu nổi của Thương nhị huynh.

Còn gã công tử đó thì đang phủi phủi tay, làm như đánh Vũ Lăng một cái làm dơ tay của hắn vậy, hắn nói:

-Tiểu nô tài ăn nói ngông cuồng, sinh đồ ta dạy dỗ nó một chút thì đã sao nào?

Trương Nguyên tiến lên trước chắp tay nói:

-Không sao không sao, xin hỏi cao danh quý tánh của vị nhân huynh đây?

Đổng Tổ Thường thấy Trương Nguyên vẻ mặt tươi cười, liền chắp tay nói:

-Gia phụ Đổng Huyền Tể.

“Bịch” một tiếng vang lên, thắt lưng của Đổng Tổ Thường bị trúng một cước thật mạnh, đau đến không đứng thẳng nổi, ngẩng đầu lên lớn tiếng quát:

-Ngươi dám đánh ta à!

Đá một cước xong, Trương Nguyên đã nhảy ra xa tên Đổng Tổ Thường đó, Từ tri phủ và Hầu tri huyện vừa đúng lúc xuất hiện, không đánh trước đợi chút nữa là không đánh được, trút giận thì cách thực tế nhất là đánh người, Trương Nguyên hắn đâu phải chỉ biết đóng vai thánh hiền làm văn bát cổ, lúc cần thiết hắn cũng sẽ động thủ đánh người.

Đám gia nô bảo vệ của Đổng Tổ Thường liền “ hự” tiếng ùa tới, Mục Chân Chân cùng bốn gia nô Thương gia bên này cũng đồng loạt tấn tới, hai bên kình với nhau.

Đổng Tổ Thường ẹo lưng tức giận nói:

-Đánh cho ta, đánh tên tiểu tử ấy!

-Ai dám động thủ đánh người ở đây hả?

Huyện lệnh Sơn Âm Hầu Chi Hàn nhanh chân bước vào, sau lưng là nha sai Lưu Tất Cường.

Từ Thời Tiến cũng đến, các quan thân trong Tinh Tú lâu lần lượt kéo tới.

Lúc này Trương Nguyên mới thấp giọng hỏi Thương Chu Đức:

-Thương nhị huynh, Đổng Huyền Tể là ai ạ?

Thương Chu Đức có chút ngạc nhiên bởi Trương Nguyên không biết tới Đổng Huyền Tể này, y bèn nói:

-Đó chính là Đổng Kỳ Xương Đổng Hàn Lâm đó, danh tiếng trong sĩ lâm không nhỏ đâu.

Trương Nguyên “ồ” lên một tiếng nói:

-Thì ra Đổng Huyền Tể là Đổng Kỳ Xương, Đổng Kỳ Xương thì đệ biết, không chỉ vào thời vãn minh, ngay cả các sách sử Trung Quốc đều có tên ông ta, là nhân vật khá nổi tiếng, tộc thúc tổ cũng có chút giao tình với vị Đổng Kỳ Hưng này, lần trước ở thư phòng Bắc viện trông thấy thiệp tự của Đổng Kỳ Hưng, còn đây là con trai của Đổng Kỳ Hưng (hay còn gọi là Đổng Kỳ Xương) ư, sao lại quá quắc đến nhường này, còn mở miệng ra cứ “Gia phụ Đổng Huyền Tể”, Đổng Huyền Tể thì đã sao, đứa con như vậy không đánh cũng uổng.

Thương Chu Đức thấy Trương Nguyên đá cho Đổng Tổ Thường một cước, tuy cảm thấy hơi khác so với tư cách nho nhã điềm đạm bình thường của Trương Nguyên, nhưng trong lòng thì khoan khoái hả dạ lắm, vừa rồi y bị tên Đổng Tổ Thường này chọc tức, nhất là đoạn gã nói Trương Phân Thủ có giao tình với cha gã, vẻ mặt đắc ý đáng khinh biết bao, y cũng thật muốn cho gã một cước, đánh cho gã một trận, Trương Nguyên làm vậy vừa hay trúng ý y rồi, sảng khoái, sảng khoái quá!

Đổng Tổ Thường bị trúng một đạp, đau đớn khó lòng nhịn được, thấy quan thân đều có mặt, gã liền lên tiếng tố cáo nói:

Chư vị đại nhân, gia phụ Đổng Huyền Tể….

Gã Đổng Tổ Thường này có cái tật, sau khi nói xong năm chữ “Gia phụ Đổng Huyền Tể” thì liền ngưng đọng vài giây….mắt thấy đám quan thân này không khiến gã thất vọng, ai nấy đều “oa”,”hở”….rõ ràng ai cũng đều biết đến đại danh của Đổng Kỳ Hưng, Đổng Tổ Thường lúc này mới nổi giận lên nói:

-Vãn bối Đổng Tổ Thường, là con thứ của gia phụ….

Hắn tiếp tục cao giọng nói:

-Vãn bối được mời bởi Án sát sử Trương Thế Bá nên đến Sơn Âm đây thưởng đèn, thế mà ai ngờ bị người ta đánh đập, đây là đạo lý gì đây, cầu mong chư vị đại nhân làm chủ cho vãn bối, nghiêm trị hung thủ ạ.

Trương Kỳ Liêm từng gặp qua Đổng Tổ Thường tại đình hoa của Đổng Kỳ Hưng ở Chiết Giang, mơ hồ cũng có chút ấn tượng, ông ta sải bước qua hỏi:

-Ngươi là Đổng Tổ Thường à?

Đổng Tổ Thường vừa nhìn qua, thấy ra đây là Trương thế bá đây mà, vội vàng chắp tay thi lễ nói:

-Vãn bối Đổng Tổ Thường, xin ra mắt thế bá, gia phụ Đổng Huyền Tể….

Trương Kỳ Liêm hỏi:

-Ai đánh ngươi vậy? Tại sao lại đánh ngươi?

Lúc này những người vây xung quanh hiện trường đã chất thành ba bốn lớp người rồi, chỉ có bên quan thân là hơi thưa chút, vì có sai nha cản lại, Đổng Tổ Thường nhìn ngó xung quanh tìm kiếm đám người Trương Nguyên, Thương Chu Đức…người thì nhiều mà bóng đèn lại mờ ảo, nhìn gương mặt nào cũng hao hao giống nhau, mắt nhìn muốn hoa cả lên, Đổng Tổ Thường quay người lại đang lúc muốn nói với Trương Kỳ Liêm người đánh hắn là em rể tương lại của Thương Thị Hội Kê, thì bỗng chốc hắn phát hiện ra Trương Nguyên không biết từ lúc nào, đã đứng ngay sau lưng Trương Kỳ Liêm, đang nhịn cười nhìn hắn, hắn thấy vậy liền sôi máu hét lên:

-Chính là nó, chính là nó!

Giương nanh múa vuốt nhào qua phía Trương Nguyên.

Hai sai nha cản ngăn Đổng Tổ Thường lại, quát lớn nói:

-Không được vô lễ!

Đổng Tổ Thường chỉ mặt Trương Nguyên nói:

-Chính là nó, chính tiểu tử này đã đánh ta.

Trương Kỳ Liêm quay đầu lại nhìn, người Đổng Tổ Thường chỉ là Trương Nguyên, vậy thì kỳ lạ thiệt, Trương Nguyên vừa mới uống rượu chung vui cùng bọn họ ở Tinh Tú lâu, sao giờ lại có thể đánh con trai của Đổng Kỳ Hưng được chứ, hỏi:

-Đổng Tổ Thường, ngươi có nhìn nhầm không?

Đổng Tổ Thường nói:

-Không sai, chính tiểu tử này đã đánh ta, xin thế bá làm chủ cho ta.

Đổng Tổ Thường lúc này cũng ý thức được gã Trương Nguyên này không phải nhân vật tầm thường, nếu không sao lại có thể đứng sau lưng bọn quan thân được chứ?

Ngay lúc này Trương Nguyên khẽ lên tiếng nói:

-Trương đại nhân, vị Đổng công tử này có phải uống say rồi không?

Trương Kỳ Liêm thấy Đổng Tổ Thường da vẻ tím tái, gân xanh gân đỏ nổi cả lên, hình như có chút bất bình thường, bèn hỏi:

-Đổng Tổ Thường, ngươi uống say rồi à?

Đổng Tổ Thường tức giận nói:

-Vãn sinh không có uống say.

Trương Nguyên bước lên trước một bước nói:

-Nếu không say, chẳng lẽ bị bệnh hoang tưởng, tại hạ đang đi cùng chư vị đại nhân uống rượu nhâm nhi trên lầu các, người lại ăn nói lớn tiếng, bảo ta đánh người, thế không phải bị bệnh hoang tưởng là gì?

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!