Đổng Tổ Thường đã quen thói ngang ngược hoành hành ở Tùng Giang, ở đấy chỉ có chuyện hắn đi ức hiếp kẻ khác, nào có chuyện hắn bị người ta đánh chứ. Còn chưa kịp ra tay báo thù,Trương Nguyên lại bày ra bộ mặt đường hoàng giả ngây giả ngô bảo hắn bị bệnh hoan tưởng, thật khiến cho lòng dạ hắn nổ đôm đốp, muốn xông qua đánh cho Trương Nguyên một trận đả đời, giờ chỉ còn cách cầu xin Án sát sử Trương Kỳ Liêm làm chủ cho, nghĩ thế hắn bèn kêu lên:
-Trương Thế bá, Chư vị đại nhân, học trò đường đường là một sinh đồ, lặn lội từ phương xa đến đây thưởng đèn theo lời mời, không ngờ vô cớ bị kẻ khác đánh, thiên lý vương pháp ở đâu chứ, xin chư vị đại nhân làm chủ cho học trò, nghiêm trị kẻ này ạ…..
Nói xong hắn liền tức giận chỉ thẳng mặt Trương Nguyên.
Trương Nguyên lắc đầu nói:
-Không thể nói lý gì cả.
Quay sang nói với Chung thái giám :
-Để công công chê cười rồi ạ, tiểu tử rõ ràng đang ở trong lầu các cùng công công, còn nhâm rượu thi ca cùng chư vị đại nhân, nghe bên ngoài có huyên náo nên mới chạy ra ngoài xem, không ngờ vừa tới đã bị gã này vô duyên vô cớ gán tội, thật sự khiến học trò buồn lòng quá.
Chung thái giám lại cảm thấy giống như trong tuồng diễn tạp kịch, rất là thú vị, cười khanh khách nói với Trương Nguyên:
-Sao lại nghiêm trị ngươi nào, chỉ xem náo nhiệt thôi.
Bước lên trước nói với Đổng Tổ Thường:
-Ngươi thật sự là con trai của Đổng Hàn Lâm à? Nhữ phụ năm rồi còn tặng một bức “Động đình không khoát đồ” cho nhà ta, bức tranh vẽ rất tuyệt, chỉ có điều hơi nhạt nhẽo một tí.
Thái giám chỉ thích náo nhiệt, màu mè làm sao thích sự tao nhã nhạt nhẽo cơ chứ.
Trương Kỳ Liêm đứng một bên lên tiếng nói:
-Vị này đây chính là Chung công công quản lý thuế hàng dệt thêu Hàng Châu, ngươi còn không mau qua đây bái kiến ngài.
Đổng Tổ Thường vội vàng chắp tay dạ vâng, nói:
-Xin công công làm chủ cho học trò.
Chung thái giám cảm thấy bản thân mình tựa hồ đang sánh vai trong vỡ diễn nào đó, cười nói:
-Ngươi nói Trương công tử đánh ngươi, thế y đã đánh ngươi thế nào nào?
Đổng Tổ Thường nói:
-Hắn đã đá học trò một cái.
Chung thái giám càng tỏ ra vui vẻ, hỏi:
-Trương công tử ở trong lầu các cùng uống rượu chơi tửu lệnh với các quan, làm sao có thể là người đá ngươi cơ chứ?
Đổng Tổ Thường á khẩu, trong lòng thầm nghĩ không lẽ mình nhìn nhầm thật sao, giương cổ lên nhìn kỹ Trương Nguyên một chút, hỏi:
-Ngươi đã đính hôn với cô gái Thương Thị Hội Kê phải không?
Trương Nguyên nói:
-Đúng vậy.
Đổng Tổ Thường tức điên lên nói:
-Vậy chính là ngươi rồi.
Ngay lập tức hắn chắp tay thi lễ với các quan thân tại hiện trường nói:
-Chư vị đại nhân, không nhầm vào đâu cả, chính là hắn đã đánh ta, cười nham hiểm đá ta một cái đó.
Trò hề ngu xuẩn này xem đến đây là đủ rồi, Trương Nguyên há có thể ẩn nấp sau lưng mặc hắn chỉ trích, trước đó chỉ là đùa vui thôi, đá một cái chỉ là phạt xác thịt, giờ ta phải danh chính ngôn thuận chỉ trích ngươi trước mặt mọi người, phải bắt ngươi xin lỗi ta, nghĩ thế Trương Nguyên sẵng giọng nói:
-Thương nhị huynh, Thương nhị huynh mời huynh qua đây nói chuyện ạ.
Chu Thương Đức đi đến bên cạnh các quan thi lễ, Trương Nhữ Sương giới thiệu Thương Chu Đức với Chung Thái giám và Trương Kỳ Liêm nói:
-Vị này là Thái Phó tự đệ đệ Thương Thiếu Khanh, hương thân Hội Kê Thương Chu Đức tiên sinh, lệnh muội y và tộc tôn ta tháng trước vừa mới hành lễ đại sính.
Chung thái giám cười nói với Thương Chu Đức:
-Thì ra đều là thông gia, Trương công tử là thiếu niên kỳ tài, lệnh muội chắc chắn phải là tuyệt sắc giai nhân, tài tử giai nhân, hảo nhân duyên à.
Thương Chu Đức nói:
-Chung công công, Trương phân thủ, chư vị đại nhân, tại hạ có chuyện bất bình cần nhờ chư vị đại nhân phân xử, đêm dạ hội đèn lồng tại đây, vạn dân vui mừng, phúc lạc tràn đầy, tại hạ dẫn tiểu muội cùng hai cháu gái đến Long Sơn thưởng đèn ngắm trăng chung vui cùng mọi người.
-Đang yên đang lành, vị công tử này đột nhiên mời ta sang bên nói chuyện, mở miệng ra là đòi ta hủy hôn của lệnh muội, nói muốn cưới muội ấy về làm thiếp, tại hạ nói lệnh muội đã có hôn ước với Trương thị đệ, thế mà Đổng công tử còn nói sẽ trả ta gấp 10 để mua lại sính lễ kia, tại hạ đương nhiên không chịu, vị Đổng công tử này liền nói lời khó nghe, ra tay đánh tiểu hề nô bên cạnh ta, tại hạ muốn cùng hắn đến gặp các vị nói lý, không ngờ lúc này hắn lại bảo Án sát sử Trương Phân Thủ là Trương thế bá, có quen biết chẳng sợ, vẻ mặt vô cùng ngông nghênh kiêu ngạo, xin chư vị đại nhân minh giám cho ạ.
Đổng Tổ Thường đến giờ phút này mới hối hận sao ban nãy mình lỗ mãng, thì ra Thương thị Thương Chu Đức này cũng có chút lai lịch, tưởng chỉ là tiểu hương thân không chút tiếng tăm, không ngờ giờ làm to chuyện rồi, đến gặp quan thật rồi, nói lý thì hắn thua là chắc, bèn xảo biện nói:
-Học trò chỉ là dò thám một chút, không hề có ý bức ép y hủy hôn.
Thương Chu Đức quát lớn:
-Ngươi bắt ép được ai chứ!
Đổng Tổ Thường chuyển chủ đề nói:
-Tiểu gia nô kia vô cùng thất lễ với ta, ta đánh nó một cái, thế thì đã sao, còn gã kia, mới đá ta một cái kìa.
Lại chỉ chỉ sang Trương Nguyên.
Trương Nguyên chắp tay với chư quan nói:
-Chư vị đại nhân nghe thấy không ạ, người này đòi phá hoại hôn sự của tại hạ, xem thường Trương Thị Sơn Âm và Thương Thị Hội Kê, hôm nay nếu hắn không thi lễ tạ lỗi, bá tánh Thiệu Hưng sẽ không tha cho hắn xuống núi đâu.
Trương Nguyên rất giỏi lôi kéo đám đông, hơn nữa Đổng Tổ Thường sai trái, phá hoại nhân duyên người ta, chuyện này nói ra ai mà không tức giận cho được, những dân chúng bu lại xem náo nhiệt đều lần lượt lên tiếng nói:
-Thi lễ tạ lỗi đi, dập đầu tạ lỗi đi.
Còn có người quát lớn:
-Đánh chết nó đi!
Nghe giọng này hình như là của Trương Ngạc.
Trương Kỳ Liêm ngấm ngầm gật đầu, đứa con trai này của Đổng Hàn Lâm quả là lỗ mãng ngu xuẩn, không những cùng lúc chọc giận Thương Thị Hội Kê và Trương Thị Sơn Âm, vả lại còn làm cho dân chúng bức xúc như vậy, ngay lập tức trầm giọng nói:
-Đổng Tổ Thường, Nhữ phụ thường ngày đã dạy dỗ ngươi thế nào, ngươi vừa ra khỏi cửa là gây chuyện phiền toái, làm xằng làm bậy, còn không mau tạ lỗi với Thương tiên sinh và Trương công tử đi.
Đổng Tổ Thường da mặt tím ngắt, ráng kiềm chế cơn giận trong lòng, chắp tay với Thương Chu Đức nói:
-Là vãn sinh lỗ mãng, xin Thương tiên sinh thứ lỗi.
Tiếp đó ngẩng đầu lên chỉ vào mặt Trương Nguyên nói:
-Nhưng hắn đã đánh ta, ta tuyệt đối không tạ lỗi với hắn đâu.
Nghe vậy Trương Kỳ Liêm lên máu, gã tiểu tử này quá quắc thật, hét lớn:
-Hôm nay ngươi nhất định phải tạ lỗi, nếu không ta sẽ trói ngươi lại mà giải về phủ, xem ngươi có bị mọi người cười chê hay không??
Một gã môn khách bên cạnh Đổng Tổ Thường xì xào gì đó vài tai hắn, nghe xong Đổng Tổ Thường mới miễn cưỡng chắp tay với Trương Nguyên một cái cho qua loa rồi nói:
-Là tại hạ đã sai, tại hạ sẽ khắc cốt ghi tâm, xin Trương công tử thứ lỗi.
Đây mà là tạ lỗi ư, rõ ràng là lời tuyên chiến ghi thù thì có.
Trương Nguyên lạnh lùng nhìn ĐổngTổ Thường, trong lòng thầm nghĩ, sinh vào kiếp này, nếu đã phải nỗ lực phấn đấu hướng lên, thế thì khó tránh khỏi gặp phải nhiều hạng người khác nhau, có cả thuận lợi và trắc trở, lúc xuôi dòng thì phải chú ý cẩn thận, lúc ngược dòng thì ra sức đánh cược, có người mang lợi cho mình, thì mình nên tranh thủ kết giao, còn kẻ nào làm đá cản đường của mình, thì chẳng cần phải hòa hợp ấm êm làm chi, mình không thể đạt tới mức ai cũng là bạn, lúc cần ra tay thì phải động thủ, gã Đổng Tổ Thường này cũng giống như Diêu Phục vậy, đều là đá cản đường, là hồ khuyển, đường dài đằng đẵng, những loại người này hẳn còn gặp dài dài. Đổng Tổ Thường này hiển nhiên chẳng phải đối thủ lợi hại gì, người cần chú ý ở đây là vị “ Đổng Huyền Tể” mà hắn treo mải trên miệng, Đổng Kỳ Xương có tài vẽ xuất chúng, văn tông hải nội, có quan không làm lại ngao du sơn thủy, quen biết rộng lớn, có sức ảnh hưởng to lớn đến các quan sĩ lâm, nhưng một người có tu dưỡng nghệ thuật cao thâm như vậy, chưa hẳn nhân phẩm cũng tuyệt vời, tiếng tăm thì có chỉ là chưa biết người thật bên ngoài thế nào?
Trương Nguyên lạnh lùng cười nói:
-Đổng công tử xin lỗi quả có thành ý đấy, căn răng nghiến lợi thế kia, là bất mãn với tại hạ, hay là với chư quan ở đây vậy?
Trương Kỳ Liêm quát lớn:
-Đổng Tổ Thường, biết sai sửa sai không đáng trách, mau chóng tỏ rõ thành ý tại lỗi với Trương công tử đi.
Đổng Tổ Thường cúi đầu, kiềm nén cơn giận như vũ bão trong lòng, méo mặt nói:
-Là Đỗng mỗ sai rồi, xin Trương công tử tha lỗi.
Trương Kỳ Liêm cười nói với đám người Chung thái giám, Trương Nhữ Sương :
-Hậu bối hơn thua nhau, làm phiền đấy tiệc rượu vui vẻ của chúng ta, Chung công công, mời, chúng ta quay về nâng chén nào.
Chúng thái giám đưa mắt nhìn những ngọn đèn huyền ảo xung quanh, cười nói:
-Tùy hứng mà đến, hứng cạn thì về, hội đèn Sơn Âm, không uổng chuyến đi này, ai da rất hài lòng, hôm nay đến đây thôi. Xuống núi đi.
Lại dặn dò Trương Nguyên một câu nói:
-Trương công tử, nếu có đến Hàng Châu thì hãy đến thăm ta nhé.
Trương Kỳ Liêm biết Đổng Tổ Thường khẩu phục nhưng tâm không phục, chỉ sợ sẽ lại gây chuyện phiền phức, liền lệnh cho Hầu huyện lệnh sai mấy nha dịch hộ tống Đổng Tổ Thường xuống núi, không được xem đèn nữa, cẩn thận bị dân chúng Thiệu Hưng vây đánh, mau chóng quay về Tùng Giang đi.
Quan thân sai dịch đi rồi, đỉnh Long Sơn lập tức trở lại cảnh nhộn nhịp như thường, Trương Nguyên đang nói chuyện với Thương Chu Đức, Trương Ngạc quay qua nói:
-Giới Tử, dễ dàng bỏ qua cho tên họ Đổng kia thế?
Trương Nguyên cười nói:
-Huynh muốn đánh chết người ta tại chỗ hay sao, người ta mở môi ra là “gia phụ Đổng Huyền Tể” kia kìa, lại có Trương Phân Thủ bảo vệ cho hắn nữa.
Trương Ngạc nói:
-Tên nhóc đó thật đáng ghét, biết hôn ước giữa đệ và Thương Thị rồi, vậy mà còn dám đòi hủy hôn hỏi cưới, thật là quá đáng hết sức.
Hỏi:
-Nó nói đệ đánh nó, chuyện này có thật không?
Trương Nguyên nhìn Chu Thương Đức cười, Chu Thương Đức nói:
-Ta cũng tức giận muốn cho gã một cước, một đạp kia của Giới Tử cũng là đá thay ta thôi.
Trương Ngạc cười nói:
-Tiếc là đá chưa đủ mạnh, phải đá tới nó bò lăn xuống đất, đứng lên không nỗi mới phải chứ.
Nhìn ra sau lưng Thương Chu Đức, biết nữ lang Thương Thị đang ở bên đó, Giới Tử chắc sẽ lại huynh huynh muội muội với cô gái Thương Thị kia, bèn nói:
-Giới Tử, ta cáo từ trước đây.
Trương Nguyên chợt nhớ ra một chuyện nói:
-Kính viễn vọng của tam huynh đâu, cho ta mượn dùng, ngày mai ta trả huynh.
Trương Ngạc nói:
-Thằng Năng Trụ ngốc ngếch, quên mang theo, mới chạy về lấy đây này.
Nói xong liền gọi Năng Trụ tới, đem cái hộp gỗ dài dài đưa cho Trương Nguyên, rồi đi xuống đồi Bồng Lai, đèn trên đỉnh núi cũng không phải bận tâm, đèn cầy hết thì tự khắc lửa sẽ tắt, tối mai lại thay nến mới, phải đốt đèn đúng ba đêm, để bá tánh xem cho mãn nhãn, cầu cho mấy hôm nay trời đừng mưa.
Vũ Lăng lúc này mới vui vẻ ra mặt, chạy tới cười hi hi nói:
-Thiếu Gia ơi cước đó đá hay lắm ạ, là Chân Chân tỷ dạy người hả?
Tiểu Cảnh Huy thấy bên này vắng người, liền cười híp mắt chạy đến nói:
-Trương công tử ca ca, huynh đánh người nha, muội trông thấy cả rồi, huynh đá gã đó ở chỗ này nè. Hi hi….
Bàn tay bé nhỏ đặt lên thắt lưng, bộ dạng đáng yêu thật.
Trương Nguyên đặt ngón tay lên miệng,ra hiệu giữ bí mật, nói:
-Đừng nói với cô cô tiểu Huy nha.
Tiểu Cảnh Huy cười” kha khà” nói:
-Cô cô trông thấy cả rồi, he he…Cô cô còn bảo huynh đá hay lắm cơ.
Đám người Thương Chu Đức cũng cười rộ lên.
Trương Nguyên nắm tay Cảnh Huy , đi về phía Thương Đạm Nhiên nói:
-Ta có một bảo vật muốn cho muội xem.
Tiểu Cảnh Huy hỏi:
-Là bảo vật gì vậy?
Trương Nguyên nói:
-Biết ngay thôi mà, đảm bảo tiểu Huy sẽ thích.
Chỉ cần nghe thế thôi, Tiểu Cảnh Huy đã thích chí lắm rồi, kéo kéo tay của Trương Nguyên, ra hiệu cúi người xuống để cô bé nói chuyện, Trương Nguyên khom lưng nghiêng đầu, chỉ thấy tiểu Cảnh Huy nói rằng:
-Trương công tử ca ca, ca ca có chút sợ Cô cô của tiểu Huy phải không?
Trương Nguyên cười nói:
-Không phải sợ, mà là yêu, yêu nàng ấy, nên sợ nàng ấy không vui.
Tiểu Cảnh Huy ngẫm nghĩ, nói:
-Muội hiểu rồi, Cô cô cũng yêu huynh , nên cô cô mới nói huynh đá hay lắm.
Chương 118: Hạng người nào gây nghiệt nhất?
Thương Đạm Nhiên thấy Trương Nguyên đi tới, nửa thẹn nửa xấu hổ nói:
-Huynh to gan thật đấy.
Trương Nguyên nói:
-Vì thật sự tức không chịu nỗi, đừng nói chuyện mất vui đấy nữa, để huynh cho các muội xem món bảo vật từ Tây quốc này, món đồ này là tam huynh ta đã thuê người chuyển từ Macau về đây, nó gọi là Kính viễn vọng.
-Cũng có thể gọi là kính thiên lý, có thể nhìn xa trông rộng.
Nói xong Trương Nguyên liền ngồi xổm xuống đất, lấy kính viễn vọng từ hộp gỗ ra, nhẹ nhàng xoay chuyển ống kính, kéo ra một ống, lại kéo thêm một ống nhỏ ra, ống kính bỗng chốc dài ra gấp ba, hai chị em Cảnh Lan Cảnh Huy bên cạnh chăm chú nhìn từng cử động của Trương Nguyên, Thương Đạm Nhiên cũng nhìn chằm chằm vào chiếc kính, Trương Nguyên nhìn vào kính nhắm cự ly xong quay qua hỏi:
-Ai thử trước đây?
Tiểu Cảnh Huy lập tức nhảy dựng lên nói:
-Tiểu Huy tiểu Huy trước cơ.
Trương Nguyên nói:
-Ngồi xuống đây, để Kính viễn vọng sát vào mắt tiểu Huy đi.
Trương Nguyên chỉ cô bé cách xem rồi chầm chậm xoay ống kính.
Tiểu Cảnh Huy nín thở, nhìn chăm chú không dám chớp mắt, bỗng cô bé kêu lên:
-Ha ha…thấy cầu Việt Vương rồi này!
Lấy kính viễn vọng ra, nhìn bình thường lại sao thấy xa dữ vậy, xem lại trong kính, ơ sao lại gần thế kia, cô bé Cảnh Huy hơi khớp chậm rãi dời ống kính sang hướng núi Bạch Mã, trông về phía Nam, kêu lên inh ỏi:
-Thấy nhà chúng ta rồi, đèn lồng trước nhà tiểu Huy cũng trông thấy cả này. Ha ha…
Thương Cảnh Lan thấy vậy chạy qua xem, quả nhiên thấy được nhà mình, ngay tức thì reo lên nói:
-Cô cô, cô cô, mau qua đây xem đi.
Thương Đạm Nhiên dậy chí tò mò, nhưng vẫn ra vẻ không quan tâm lắm nói:
-Có thật chơi vui vậy không?
Trương Nguyên đứng thẳng người dậy, ôm lấy kính viễn vọng nói:
-Nào, ta bày muội xem.
Nói rồi cậu ta đứng ra sau lưng Đạm Nhiên, nhỏ giọng thì thầm chỉ dẫn bên tai, chưa bao giờ được gần Đạm Nhiên đến thế, có thể ngửi thấy cả mùi hương trên cơ thể nàng, trông thấy làn da trắng trẻo ngọc ngà trên cổ, mái tóc mềm mại đen huyền, hiển hiện ngay trước mắt.
Trương Nguyên đặt kính viễn vọng lên mắt phải Đạm Nhiên, nhưng Đạm Nhiên chẳng trông thấy gì, lúc này tim nàng đang đập liên hồi, Trương Nguyên gần nàng quá đỗi, nàng còn cảm nhận được cả hơi thơ của chàng, cơ thể nàng như bị đóng băng, giọng nàng run rẩy nói:
-Thôi được rồi, muội thấy rồi.
Nói xong bèn đứng cách ra một bước.
Trương Nguyên thấy hai má nàng và ngay cả sau gáy nàng đều ửng lên màu đỏ của hoa hồng, yêu kiều vô cùng, trái tim thành thục của người sống hai thế giới cùng với thân thể tuổi dậy thì 16 thiếu niên, cả hai đang cùng lúc lay động, có cảm giác kích động muốn lao tới ôm nàng vào lòng ngay bây giờ. Tiểu Cảnh Huy nói:
-Muội còn muốn xem nữa.
Cô bé cẩn thận cầm lấy kính viễn vọng nhìn ra xa, nhìn một hồi, lại đưa cho tỷ tỷ xem, hai chị em em mải không chán, thích thú vô cùng.
Thương Chu Đức đi qua hỏi:
-Bảo vật hiếm có gì đấy, để ta xem xem nào.
Hai tỷ muội nhanh chóng làm hướng dẫn viên, chỉ cho thúc phụ cách xem, Thương Chu Đức vừa nhìn vào, liền kinh ngạc ra mặt nói:
-Đúng là bảo vật thần kỳ.
Nghe Trương Nguyên món đồ này đến từ nước Thái Tây, than vãn nói:
-Đã nghe danh nước Thái Tây kỹ thuật tinh xảo, quả nhiên danh bất hư truyền.
Lúc này đã là giờ Tuất, Trương Nguyên, Thương Chu Đức cùng đi bộ xuống núi, chưa đầy nửa canh giờ họ đã ở ngay dưới chân núi, quay đầu lại nhìn lên núi, đèn lồng dần tắt ngúm, ánh trăng trên cao bắt đầu tỏa sáng rực rỡ, Long Sơn dưới sự chiếu rọi của ánh trăng trông càng huyền bí trang nghiêm hơn, dường như người ta chỉ được phép nhìn ngắm mà không được đùa cợt.
Hai cổ xe ngựa của Thương Thị đậu ngay dưới chân núi Long Sơn cách đó không xa, ngay lúc sắp bước lên xe, Trương Nguyên thấy tiểu Huy cứ mấy chốc lại nghiêng đầu đưa mắt nhìn nhìn cái hộp gỗ trong tay Vũ Lăng.
Đôi mắt đen huyền kia đang muốn nói gì, Trương Nguyên nhìn là biết rõ, bèn nói với Tiểu Huy :
-Tiểu Huy à, Kính viễn vọng này là của tam huynh ca ca, ca ca không thể tặng nó cho muội được, về sau huynh sẽ nhờ người chế tạo ra cái kính viễn vọng khác đem tặng cho muội được chứ.
Thầm nghĩ:
-Thợ chế tác trong thời Minh rất giỏi, làm mô phỏng theo kính viễn vọng này hẳn khó, hơn nữa trong cuộc chiến Tát Nhĩ Hử Vạn Lịch năm 47, chắc chắn sẽ còn dùng nhiều đến nó.
Tiểu Cảnh Huy vui vẻ nói:
-Hay quá, Trương công tử ca ca đừng quên đó nhoa.
Trương Nguyên cười nói:
-Không quên đâu mà, yên tâm, lần sau ta đến Kinh Sư sẽ mang kính viễn vọng đến thăm muội được chưa?
Tiểu Cảnh Huy cũng đang rất muốn đến Kinh Thành, trẻ con luôn khao khát được đi chơi đây đó, giờ nghe Trương nguyên nói sau này sẽ đến Kinh thành, đương nhiên vui mừng khôn xiết.
Trương Nguyên, Vũ Lăng và Mục Chân Chân tiễn Thương Đạm Nhiên ra cầu Việt Vương, Thương Chu Đức đến đây thì không cho bọn họ tiễn nữa, Trương Nguyên liền đứng ngay đầu cầu, thấy hai cổ xe của Thương Thị đi xa rồi, lúc này mới quay đầu trở về, chợt phát hiện ra có kiệu đang đến, kiệu đi trước nhất có người mở rèm buông lời nói:
-Trương Nguyên….
Ơ…là Vương Tư Nhâm, Trương Nguyên vội vàng nghênh đón, chắp tay thi lễ nói:
-Thầy về muộn thế ạ?
Ba chiếc kiệu kia ngừng lại ở đầu cầu Việt Vương, Vương Tư Nhâm không xuống kiệu, chỉ cười nói:
-Trương Nguyên, rốt cục con có đánh Đổng Tổ Thường hay không?
Trương Nguyên cười cười nói:
-Bất cẩn đụng phải gã một cái, gã cũng đồng thời va vào con ạ.
Người ngồi trong kiệu giữa phì cười một tiếng, đó là tiếng cười của Vương Anh Tư.
Vương Tư Nhâm cười ha hả, nói:
-Là thắt lưng của gã va vào chân của ngươi chứ gì, ha ha ha…Trương Nguyên, con làm trạng sư đổi trắng thay đen được rồi đó.
Trương Nguyên nói:
-Gã Đổng công tử kia cứ luôn miệng nói gia phụ Đổng Huyền Tể, thật sự rất ngông cuồng, lại hiếp người quá đáng, học trò cảm thấy nên cho gã một bài học.
Vương Tư Nhâm gật đầu nói:
-Ta cũng nói đá hay lắm, tuy nhiên khúc mắc này giữa ngươi và Đổng công tử khó mà giải hòa được.
Trương Nguyên nói:
-Thế cũng không sao ạ, dù gì ta không thể cứ để mặc hắn ức hiếp, bẻ cong vương pháp, nhưng học trò không rõ Đổng Huyền Tể Đổng hàn lâm là người thế nào ạ?
Vương Tư Nhâm cười nói:
-Vẫn có chút lo lắng phải không, để ta kể một câu chuyện cho con nghe, Hàng Châu có một vị quan bình thường nho nhã hành thiện, rất hay cứu giúp bá tánh, một hôm y đến chùa thỉnh giáo đại sư Liên Trì trong chùa Vân Tê, hỏi thế gian ai gây nghiệt nhất?
-Liên Trì đại sư nói: “Như ngài đỗ sĩ với bảy khoa giáp là gây nghiệt nhất.” Vị quan này mới bàng hoàng, tự hỏi bình sinh hành thiện vô kể, nào có nghiệt chướng chi, dựa vào đâu mà nói những kẻ quan lại thi khoa là gây nghiệt nhất chứ? Liên Trì đại sư quát nói: “Ai nói bản thân ngài gây nghiệt, nhưng phàm kẻ ý thế hiếp người, trời đất không dung, nghiệt chướng này là từ ngài mà ra.”
Trương Nguyên gật đầu nói:
-Học trò hiểu rồi, dù Đổng Hàn Lâm là kẻ sĩ nho nhã thanh tao, nhưng ngặt nổi con cháu quyền thế nên ý thế hiếp người.
Vương Tư Nhâm nói:
-Đổng công mặc dù thành danh trong sạch, nhưng nhà cửa bề thế, ruộng vườn bạc ngàn, chẳng thua gì danh tiếng của ông ta, tài sản này do đâu mà có đây? Hoàn toàn không phải do ông ta tự kiếm mà ra, phần do con cháu trong nhà lấy danh tiếng ông ta để mua bán chuộc lợi, phần do người hầu gia nô ý thế hoành hành, làm cho dân chúng chẳng được an lành, càng có tiểu dân vô lại, bán thân cầu cạnh, tác quai tác quái, khó mà bài trừ hết. Tuy nhiên con không phải lo lắng, Đổng công sẽ không vì chuyện này mà gây khó dễ cho con đâu, dù gì tộc thúc tổ của con cũng là bạn tri âm với ông ta, hơn nữa, Chung thái giám kia lúc xuống núi còn không ngớt lời khen ngợi con, ông ta nghe nói con đấu bát cổ với Diêu Phục, liền luôn miệng tán dương con. Còn gã Đổng Tổ Thường thì ngu xuẩn quấy rối, như vậy cho dù ông ấy hận con cũng chẳng làm gì được con.
Trương Nguyên khom người nói:
-Đa tạ Thầy đã chỉ dẫn.
Vương Tư Nhâm nói:
-Bớt gây chuyện đi, lo mà học hành, tháng sau đến kỳ thi huyện, nhất định phải lấy được khăn vuông, có công danh rồi nói chuyện cũng có sức hơn.
Trương Nguyên đáp nói:
-Vâng ạ.
Vương Tư Nhâm buông rèm kiệu xuống, khởi kiệu đi trước, kiệu của Vương phu nhân cũng nối đuôi theo sau, chỉ còn chiếc kiệu của Vương Anh Tư là vẫn đứng yên bất động, giọng nói của Vương Anh Tư truyền đến :
-Giới Tử huynh.
Trương Nguyên đến gần chắp tay nói:
-Đoạn Thục tiểu thư có điều chi căn dặn?
-Đừng gọi ta là Vương Đoan Thục, ta không thích nghe.
Vương Anh Tư trong kiệu lên tiếng nói:
-Phụ thân đặt cho ta cái tên này, giống như đeo vòng kim cô vào đầu ta vậy, khiến ta chẳng động đậy được.
Trương Nguyên phì cười một tiếng, lại hỏi:
-Anh Tư tiểu thư có điều chi căn dặn?
Vương Anh Tư hỏi:
-Lúc trên núi ta thấy ngươi cầm cái ống màu vàng xem qua xem lại, rốt cục là đang nhìn cái gì vậy?
Trương Nguyên nói:
-Anh Tư tiểu thư có phải lúc đó nàng đang trên đỉnh núi không, sao ta không trông thấy nàng.
Vương Anh Tư “hừ” một tiếng, không thèm nói.
Trương Nguyên đang muốn lấy kính viễn vọng ra cho Vương Anh Tư xem, tỳ nữ trước mặt lại kêu lên:
-Nhị tiểu thư, Thái thái bảo người mau lên ạ.
Vương Anh Tư liền vỗ vỗ vào kiệu, hai phu kiệu nâng kiêu lên tiến về phía trước, Vương Anh Tư nói:
-Ta sẽ đợi xem bát cổ của ngươi đó nha.
Trương Nguyên về tới nhà đã vào giờ Hợi, mẫu thân cậu ta đang đợi, chủ yếu là muốn hỏi chuyện của Thương tiểu thư, Trương Nguyên ngẫm nghĩ một hồi vẫn là nói luôn chuyện trên đỉnh núi Long Sơn cho mẹ biết, đương nhiên, cậu ta cố gắng dùng lời lẽ hoa mỹ nhất để miêu tả sự việc, tránh cho mẫu thân một phen tức giận, nào ngờ mẫu thân nghe rồi, vẫn nổi giận đùng đùng, Trương mẫu Lã Thị hôm nay trông thấy Thương Đạm Nhiên, yêu thích nàng ta vô cùng, vừa nghe có người muốn đoạt mất con dâu của mình, tức thì nổi trận lôi đình.
Trương Nguyên vội vàng khuyên nhủ nói:
-Mẫu thân đừng giận nữa, gã họ Đổng kia bị con đá cho một cái, lại bị Hầu huyện lệnh giải ra khỏi thành Sơn Âm nữa.
Trương mẫu Lã thị bớt giận một chút nói:
-Thương tiểu thư quả thật dung mạo xinh đẹp, sau này không nên lộ diện nhiều thì tốt hơn, nếu không chắc chắn lại có kẻ háo sắc dòm ngó.
Trương Nguyên cười đáp:
-Dạ vâng, đêm nay chẳng phải có tên háo sắc đến dòm ngó rồi sao, vậy mà y cũng đã ngậm ngùi bỏ đi đó thôi. Mẫu thân đừng lo lắng nhiều.
Trương mẫu Lã Thị gật đầu lần nữa nói:
-Sắp canh ba rồi, con phải tranh thủ đi nghỉ ngơi đi.
Sau đêm hội đèn lồng, lễ mừng năm mới cũng mau chóng kết thúc, mọi người lại vùi đầu vào công việc, các thương buôn trên phố thập tử cũng đã khai trương trở lại, các xã học Sơn Âm cũng lần lượt khai giảng, 22 tháng giêng, các xã học chính thức nhận được thông báo của huyện phủ, vào mồng tám tháng hai sẽ cử hành kỳ thi huyện tại Sơn Âm, các thí sinh đến đăng ký tại học thự hoặc nha môn huyện trước ngày 2 tháng 2, lúc ghi danh cần điền đầy đủ họ tên, năm sinh, quê quán cả cha lẫn mẹ, ông nội bà ngoại, gia quyến bảo lãnh….ghi rõ tất tần tật…còn có một điều cần lưu ý, người bảo lãnh phải là lẫm sinh của huyện, lẫm sinh chính là tú tài thi hạng nhất trong kỳ tuế khảo huyện học, các nho đồng đều phải tìm một lẫm sinh để ra mặt bảo lãnh cho, một nho đồng muốn tham gia thi, đều bị xét đủ các tư cách từ gia quyến, dòng họ, học vấn…nếu không phải hàng giả, quê quán có thật, tên họ thật, không thi thay thì mới được tham gia thi cử.
Đương nhiên người bảo lãnh cho Trương Nguyên không ai khác ngoài Trương Đại đại huynh ở Tây Trương.
Chương 119: Mễ Phất Vân Sơn.
Kì thi huyện gần kề, cho dù Trương Nguyên đã đọc thuộc làu tứ thư cũng không dám sơ suất. Đây là bước đầu tiên trên con đường công danh của hắn, nhất định phải thi đỗ, nếu không thì công sức cả nửa năm trời của hắn xem như uổng phí, có lẽ đối với người khác mà nói đợi thêm ba năm nữa cũng không sao cả, vừa hay có thể mài giũa thêm. Lưu Tông Chu hy vọng khi Trương Nguyên hai mươi tuổi lại tham gia khoa cử, nhưng hắn Trương Nguyên không đợi được, bây giờ là năm 41 Vạn Lịch rồi, thời gian nhanh như tên bay.
Vương Tư Nhâm lệnh cho Trương Nguyên quãng thời gian trước kì thi huyện này tạm thời không phải học cổ văn nữa, mỗi ngày làm hai đề nhỏ bát cổ trong tứ thư, đề bài của kì thi huyện đều là lấy từ trong sách tứ thư, sẽ không lấy từ sách Ngũ kinh. Tuy rằng phạm vi ra đề hẹp đi một ít, nhưng bởi vì là từng đề nhỏ, ý nghĩa của đề không hoàn chỉnh, cho nên vẫn còn tồn tại không ít biến số, đương nhiên chỉ cần vận khí không quá kém thì tiểu đề ở tứ thư cũng không làm khó được Trương Nguyên trong kì thi ngày hai tám tháng một này. Trước ngày thi một ngày Trương Nguyên đã hẹn đại huynh Trương Đại ở Tây Trương cùng nhau đến trường học đăng kí tham gia. Giờ Thìn sáng ngày hai tám, hắn mang theo Vũ Lăng tới trước cửa lớn của phủ trạng nguyên đợi dưới gốc cây tùng, rất nhanh đã thấy Trương Đại đi ra, nói:
-Giới Tử, tổ phụ gọi ngươi vào có việc chỉ bảo.
Trương Nguyên không biết thúc tổ gọi hắn vào có chuyện gì, liền đi theo Trương Đại vào Bắc viện gặp Trương Nhữ Sương. Trương Nhữ Sương ngồi trên ghế bành trong thư phòng, cười ha hả khi nhìn thấy hai hậu bối kiệt xuất nhất của nhà họ Trương ở Sơn Âm này bước vào, nói:
-Trương Nguyên hôm nay đi đăng kí thi huyện đấy hả? Ừ, ta có một chuyện muốn nói cho ngươi, Đổng Huyền Tể ở Tùng Giang vì chuyện phát sinh tại hội đèn lồng tết nguyên tiêu của huyện Long Sơn , y đã có lòng viết thư tạ lỗi với ta, nói là đã quở trách khuyển tử, xin ta tha thứ cho sự thô lỗ của con trai y, ha ha. Còn một phong thư khác là viết cho Thương Chu Đức tiên sinh đấy, chắc hẳn cũng là để tạ lỗi, nó được gửi cùng đến chỗ của ta, ngươi cầm phong thư này giao cho Thương Chu Đức tiên sinh.
Trương Nguyên nhận lấy phong thư, để vào trong ngực, lại nghe thấy thúc tổ Trương Nhữ Sương nói:
Cuối thư Đổng Công còn nói thêm một câu, rằng bên cạnh sườn của con trai y là Đổng Tổ Thường có một vết bầm đen rất lớn, phải mời đại phu bốc thuốc chẫn trị, trong đó rõ ràng vẫn có hàm ý oán trách..
Trương Nguyên nói:
-Cháu tay trói gà không chặt, cũng chỉ huých nhẹ Đổng công tử đó một tí, làm gì đến nỗi phải mời đại phu bốc thuốc. Cái này cũng nói ngoa quá rồi.
Trương Nhữ Sương cười nói:
-Đổng Công có tiếng là người luôn che chở và bênh vực cho con mình, dù sao ông ta cũng chỉ hơi oán giận một tí, đánh cũng đã đánh rồi, ai bảo đứa con kia của y ngông cuồng phách lối. Thôi! Việc ngày đó coi như cho qua, ngươi an tâm chuẩn bị đi thi đi.
Trương Nguyên đang định thi lễ lui ra, Trương Nhữ Sương lại nói:
-Ở đây có một bức tranh Đổng Huyền Tể mô phỏng theo bức Vân Sơn của Mễ Nguyên Chương (còn có tên gọi là Mễ Phất) , hôm qua mang đến tặng ta, giờ cho ngươi đấy, coi như Đổng Huyền Tể tạ lỗi thay con ông ấy.
Trương Nguyên khom người nói:
-Đa tạ thúc tổ!
Sau đó cuộn tròn bức tranh rồi cùng Trương Đại đi ra Bắc viện, đúng lúc gặp Trương Ngạc trên tay đang nâng một lồng chim tinh sảo, vừa đùa giỡn với con chim vừa đi qua đây, hỏi:
-Giới Tử, tổ phụ thưởng cho ngươi đồ gì tốt hả?
Trương Nguyên nói:
-Đổng Huyền Tể vẽ một bức tranh tặng thúc tổ, y tặng qua thúc tổ, thúc tổ thưởng cho đệ.
Trương Ngạc vừa nghe liền trợn mắt, nói:
-Hôm thả đèn ở Long Sơn đó, ta đã dẫn mười mấy nô bộc đuổi theo, muốn đánh cho tiểu tử họ Đổng kia một trận, xem nó có còn dám khinh rẻ họ Trương ở Sơn Âm chúng ta hay không, không ngờ nó đã đi thuyền chạy thoát rồi.
Trương Đại trách cứ nói:
-Tam đệ quá mức lỗ mãng, nếu như ngươi đánh Đổng Tổ Thường bị trọng thương, vậy thì chẳng phải tổ phụ sẽ phải xin lỗi Đổng Huyền Tể sao? Giới Tử chỉ đá nó một cái, Đổng Huyền Tể đã oán giận rồi.
Trương Ngạc bĩu môi nói:
-Nếu đá nó một cái mà cũng oán giận vậy thì dứt khoát đánh chết nó đi.
Trương Nguyên cười nói:
-Hôm đó Tam huynh cũng vì trượng nghĩa muốn giúp đệ thôi mà, sau kì thi huyện này đệ sẽ mời huynh uống rượu.
Mặt Trương Ngạc lúc này mới giãn ra nói:
-Vậy ta chúc đệ sẽ đạt được huyện án đầu.
(Đứng đầu kì thi huyện thì được gọi là “huyện án đầu”)
Trương Nguyên vội nói:
-Tam huynh vẫn là chúc ta thi rớt đi, lời nói của tam huynh luôn xảy ra ngược lại mà.
Trương Ngạc cười ha ha, đưa lồng chim cho người hầu trẻ tuổi bên cạnh, nói:
-Giới Tử, cho ta xem một chút xem lão Đổng vẽ thứ gì.
Đưa tay nhận lấy bức họa cuộn tròn từ tay Trương Nguyên, mở bức họa ra, Trương Nguyên và Trương Đại cũng xem cùng. Trương Đại nói:
-Đây là phỏng theo bức họa Vân Sơn của Mễ Phất thời Tống, nét bút như mây trôi, xuất ra thu vào rất có thần.
Trương Ngạc lại nói:
-Tại sao họ Đổng lại phỏng theo bức họa của người khác, như thế này chẳng phải là sao chép ư?.
Trương Đại cười nói:
-Mô phỏng theo tranh của các danh họa nổi tiếng thời cổ đại chính là đường tắt để nghiền ngẫm về kỹ thuật vẽ tranh, giống như chúng ta học viết theo mẫu chữ thông thường, như vậy làm sao nói là sao chép được. Đổng Huyền Tể thích tranh sơn thủy của Mễ Phất và tranh của Nghê Vân Lâm (đây là hai họa sĩ nổi tiếng thời Nam Tống), ông ta đã vẽ phỏng theo rất nhiều. Năm trước không phải đã mượn tổ phụ bức tranh “Hoành vân thu vụ đồ” của Nghê Vân Lâm để mô phỏng theo à.
Trương Ngạc nói:
-Vậy thì đại huynh, nếu huynh tặng cho người khác bài tập viết chữ của huynh, thì có phải người khác sẽ tức giận hay không?
Trương Đại cười nói:
-Cái này không thể mang ra so sánh được. Đổng Huyền Tể là người có tiếng, tùy tiện vẽ vài cái cũng có người tranh nhau rồi.
Trương Ngạc liền nói với Trương Nguyên:
-Giới Tử cho ta bức tranh này đi.
Trương Nguyên nói:
-Tam huynh muốn bức tranh này, thì cứ việc cầm lấy.
Lời vừa thốt ra khỏi miệng, liền tỉnh ngộ thấy là không đúng, chưa kịp sửa lại lời nói, chỉ nghe “soạt” một tiếng, Trương Ngạc đã xé toạc bức tranh thành hai nửa.
Trương Đại liên tục lắc đầu nói:
-Phung phí của trời, không thể nói lý được.
Trương Ngạc cười ha ha, đem bức tranh đã bị xé rách vo tròn lại ném qua một bên, nói:
-Đa tạ Giới Tử đệ
Sau đó cầm theo lồng chim rời đi.
Trương Nguyên tuy có chút tiếc nuối, nhưng cũng chỉ có thể lắc đầu, nói với mười mấy người hầu ở đối diện Tây Trương:
-Ai muốn bức họa đã hỏng này thì lấy rồi cất kỹ đi, sửa lại rồi bán cũng có giá mười mấy đồng đấy.
Rồi cùng với đại huynh Trương Đại vừa cười vừa đi thẳng ra khỏi cửa phủ. Đi về phía trái được hơn một dặm đường, qua cây cầu Quang Tương, vừa vào cửa chính Nho học đã thấy bên trong chật ních nho đồng và người nhà đến để báo danh. Huyện Sơn Âm coi trọng học vấn, chỉ cần dung mạo thanh tú một chút, cho dù là trẻ con vắt mũi chưa sạch thì cũng đã đọc sách được mấy năm rồi, mặc kệ sách có đọc thông được hay không. Kì thi huyện này nhất định phải tham gia. Cho nên ba năm một lần thi huyện, nho đồng ở Sơn Âm đều đến đăng kí kín chỗ. Trương Nguyên nói:
-Nhiều người như vậy, thế này thì phải chờ đến bao giờ?
Trương Đại nói:
-Chúng ta đến lễ phòng của nha môn đi, nơi đó cũng có thể đăng kí.
Hai người đang định xoay người đi, thì đã thấy đệ đệ trong tộc là Trương Định Nhất chạy tới, thi lễ với hai người nói:
-Giới Tử ca cũng tới đăng kí đấy à, Tông Tử đại huynh là người bảo lãnh hả, cũng bảo lãnh cho tiểu đệ đi, được không?
Trương Nguyên cười nói:
-Ngươi cũng muốn thi, có phải chuẩn bị nộp giấy trắng hay không?
Trương Định Nhất nói:
-Giới Tử ca chớ coi thường người khác, gần đây tiểu đệ cũng hết sức nỗ lực đọc sách, kì thi huyện lần này nhất định sẽ đỗ.
Trương Đại nhìn người em họ cũng mười sáu tuổi giống Trương Nguyên nhưng vóc người lại thấp hơn một ít, cười nói:
-Muốn ta làm người bảo lãnh ngươi cũng được, ngươi đọc một đoạn trong Trung Dung cho ta nghe. Chính là từ đoạn “ quân tử chi đạo” ( cái đạo của người quân tử), ví dụ như “đi xa thì phải tự mình đi” thí dụ như “lên cao ắt phải cúi mình”
Trương Định Nhất vò đầu nói:
-Tại sao phải bắt đầu đọc từ giữa a, bắt đầu từ đầu đi “thiên mệnh chi vị tính, xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo” (tính cách bảo là trời sinh ra, đạo đức bảo là thuận theo tính cách, dạy học được gọi là tu đạo), đảo ngược lại cũng thuận mà.
Trương Đại cười nói:
-Từ giữa cắt một đoạn phía sau, hắn cũng không biết, muốn đọc từ đầu, như vậy có thể đi thi sao?
Nói với Trương Định:
-Đừng hát theo sách nữa, nhanh về nhà đi chơi đi.
Trương Định Nhất lại không đi, nói ra lời nói thật:
-Giới Tử ca nhất định đỗ đấy, mọi người nói kì thi huyện này “án đầu” không phải Giới Tử ca thì còn ai khác nữa. Giới Tử ca viết văn nhanh, lại có thể xuất khẩu thành thơ, một ngày làm mười bài văn bát cổ cũng không thành vấn đề, đến lúc đó tiểu đệ và Giới Tử ca ngồi cùng nhau, Giới Tử ca giúp ta làm hai bài nhé, huynh đệ chúng cùng nhau thi đỗ, chẳng phải là tốt sao.
Trương Đại cười to nói:
-Ngươi nghĩ rất hay, ngươi có phải muốn cùng thi với Giới Tử, đỗ cử nhân, tiến sĩ chơi một chút không?
Trương Định Nhất cười hì hì nói:
-Huynh đệ trong nhà mà, lúc trọng yếu này nhất định phải giúp nhau một chút đúng không?
Trương Nguyên cau mày nói:
-Định Nhất, chủ ý này là ai nghĩ ra cho ngươi?
Trương Định Nhất nói:
-Là chủ ý của ta. Giới Tử ca tài trí hơn người, ta làm sao lại không biết chứ, còn phải hỏi người khác sao?
Trong lòng nói:
-Giới Tử là thần tiên à, hắn làm sao mà biết được chủ ý này là người khác nghĩ ra giúp ta, người đấy ta cũng không quen, chỉ là một người nhiệt tình a.
Trương Nguyên hỏi Trương Đại:
-Đại huynh, quy định của trường thi khi bắt được hành động này sẽ xử trí như thế nào vậy?
Trương Đại nói:
-Kì thi huyện, quan coi thi sẽ xử phạt khá nhẹ, cũng chỉ bị đánh vài gậy, dán cáo thị để thị chúng, lại nói, khi thi bị tra ra là gian lận trong kì thi sẽ bị phạt hai khóa tương đương với sáu năm không được thi. Đấy chỉ là gian lận rất nhỏ, nếu náo nhiệt hơn, như là mượn người thi hộ, thì tội này không nhỏ. Thi hương, thi hội bị tra ra là gian lận thì sẽ phải xung quân đến biên cảnh đấy.
Trương Định Nhất cười nói:
-Giới Tử ca với quan huyện, quan phủ đều rất quen thuộc, đã cùng nhau ăn cơm uống rượu rồi, bọn họ làm sao mà bắt Giới Tử ca được.
Mặc dù Trương Nguyên không thể xác định tộc đệ Trương Định Nhất có phải bị người khác lợi dụng hay không, nhưng việc gian lận trong kì thi hắn không thể làm được, hiện tại thanh danh của hắn lớn, người dõi theo hắn cũng nhiều, lúc này đi đứng nhất định phải đường hoàng ngay thẳng. Mặc dù Diêu Phục và Dương Thượng Nguyên kia đã bị cắt chức bắt giam, nhưng tội danh vẫn chậm chạp chưa được định, gia sản cũng chưa bị tich thu, người nhà vẫn chạy trọt luồn cúi khắp nơi hòng cứu ra, nói vậy là Tri phủ Từ đã nhận lời cầu xin của đường huynh của Diêu Phục là Diêu Thành Lập, không muốn phán trọng tội cho Diêu Phục, cũng không dám phán tội nhẹ sợ nhiều người tức giận, cho nên mới kéo dài. Bởi vậy mới thấy để lật đổ được chỗ dựa của một người là khó đến mức nào. Trương Nguyên nói:
-Định Nhất, ta cũng là lần đầu tiên tham gia kì thi huyện, không có kinh nghiệm, còn có chút mất bình tĩnh. Để lần sau đi. Lần sau ta mang ngươi cùng đi thi. Ngươi về nhà đọc thuộc tứ thư đã mới được.
Trương Định đảo mắt suy nghĩ một chút, nói:
-Ba năm sau, khi đó ta mười chín tuổi, mười chín tuổi đỗ tú tài cũng không tệ, cứ quyết định như vậy đi, Tông Tử đại huynh, Giới Tử ca hẹn gặp lại.
Sau đó liền đi về trước.
Trương Đại không nén nổi cười:
-Ba năm sau dẫn hắn đi thi, ai đến dẫn hắn!
Trương Nguyên cười nói:
-Giải thích nhiều hắn không nghe, đành phải nói như vậy thôi.
Trương Đại nói:
-Là không thể giúp hắn gian lận, nếu chẳng may liên lụy đến ngươi thì không xong rồi, tổ phụ sẽ tức giận đến chết.
Người sai vặt của trường học đi tới hỏi:
-Hai vị Trương công tử là tới đăng kí đấy à. Tôn giáo thụ (giáo thụ: người dạy học) đã phân phó, nếu thấy Trương công tử đến thì mời đến Đạo Trai, không cần phải chen chúc đăng kí với mọi người.
Trương Nguyên, Trương Đại liền đi theo sau người sai vặt đến Đạo Trai. Tôn giáo thụ nhìn thấy Trương Nguyên, Trương Đại cười đến lộ cả vết nhăn trên mặt để gia tăng thêm sự biểu dương, tự mình làm thủ tục đăng kí cho Trương Nguyên. Trương Đại đã kí tên đồng ý trên giấy bảo lãnh, tất cả đã làm xong xuôi, chỉ chờ mười ngày sau mở kì thi.
Ra khỏi cửa chính của Nho học, thấy thời gian vẫn còn sớm, sau khi từ biệt đại huynh Trương Đại, Trương Nguyên liền dẫn theo Vũ Lăng đến cầu Quang Tương để đi thuyền đến Hội Kê gặp anh vợ Thương Chu Đức.
Chương 120: Thoát y tại Long môn.
Thời tiết thật khác thường, đầu tháng 11 năm ngoái tuyết bắt đầu rơi liên tục, mấy mươi ngàn cây quýt bên kia Tạ Nham đã chết vì lạnh.
Lão nông ở Sơn Đông đều nói vài chục năm gần đây không năm nào có tuyết rơi lớn như vậy. Mà sau tết nguyên tiêu của năm mới, thời tiết trở nên ấm áp, đến cuối tháng, ánh mặt trời trên cao chiếu rọi lên cảnh sắc tươi đẹp, đi trên đường dưới ánh mặt trời, chỉ mặc áo lót mà cũng cảm thấy nóng.
Quả thực là sau mùa đông chính là mùa hè, không hề có mùa xuân. Trương Nguyên dẫn theo Vũ Lăng đi vào phủ nhà họ Thương, trán hai người đều lấm tấm mồ hôi. Nhìn thấy anh vợ Thương Chu Đức, Trương Nguyên đem thư của Đổng Kỳ Hưng trình lên, Thương Chu Đức mở thư ra xem, cười lạnh nói:
-Quả nhiên là cha nào con nấy, Đổng Kỳ Xương này trên danh nghĩa là xin lỗi, nhưng lại không có thành ý tạ lỗi, giống ngày đó con gã xin lỗi cũng vậy. Còn nói cái gì mà bên cạnh sườn của con gã bị bầm đen, phải mời đại phu bốc thuốc. Cái này rốt cuộc là đang tạ lỗi hay đang hỏi tội đây?
Trương Nguyên nói:
-Nhị huynh không nên tức giận, ác giả ác báo. Đổng Kỳ Xương bao che cho con gã như vậy, thì sớm muộn gì cũng gặp phải báo ứng thôi.
Thương Chu Đức vứt thư sang một bên, hỏi Trương Nguyên về việc chuẩn bị cho kì thi huyện đến đâu rồi, được biết Trương Nguyên vừa đăng kí lúc nãy, liền gật đầu nói:
-Với tài chế nghệ của đệ, thì việc thi đỗ không thành vấn đề.
Sau đó lại hỏi:
-Đệ muốn gặp Đạm Nhiên không?
Trương Nguyên thầm nghĩ:
-Cái này còn phải nói sao?
Liền cười đáp:
-Mong nhị huynh cho phép.
Thương Chu Đức cười nói:
-Đi đi, trưa ở lại đây dùng cơm.
Khi Trương Nguyên nhìn thấy Thương Đạm Nhiên thì Thương Đạm Nhiên đang vẽ phỏng theo bức tranh “cây vải” của Tống Huy Tông. Nhìn thấy bút tích thật của bức tranh “cây vải”, Trương Nguyên mới cảm thấy lúc trước Trương Ngạc xé tan bức tranh của Đổng Kỳ Xương cũng không là gì cả.
Không có người thông báo, Trương Nguyên liền bước vào, Thương Đạm Nhiên đang chuyên tâm vẽ tranh nên không chú ý, thấy có người đến trước mặt, nàng còn căn dặn:
-Lấy khăn tay đến đây.
Khi vẽ tranh ngón tay không cẩn thận bị dính mực đỏ, đợi đến khi đặt bút xuống nhận lấy khăn lau tay mới phát hiện người đưa khăn chính là Trương Nguyên, gương mặt xinh xắn lập tức đỏ bừng thẹn thùng, hai tỳ nữ bên cạnh che miệng cười hí hí.
Trương Nguyên lúc này mới thi lễ, Thương Đạm Nhiên vội vàng đáp lễ, xấu hổ hỏi:
-Sao chàng lại tới đây?
Trương Nguyên nói chuyện Đổng Kỳ Xương gửi thư đến, rồi lại nói việc mình vừa đến trường học đăng kí, lông mày Thương Đạm Nhiên rủ xuống nói:
-Ừ, chúc chàng thi tốt.
Trương Nguyên nhìn thấy bộ dạng xấu hổ của nàng, bỗng nhiên rất muốn hỏi nếu hắn không thi đậu tú tài, chỉ là con cháu Đông Trương nghèo hèn, vậy thì Thương Đạm Nhiên có lấy hắn không?
Thương Đạm Nhiên nhấc mi lên, chuyển mắt nhìn lên mặt Trương Nguyên, nhẹ giọng hỏi:
-Chàng muốn nói điều gì à?
Trương Nguyên mỉm cười nói:
-Không có gì, nhìn thấy nàng thì ta quên hết những gì muốn nói rồi.
Thầm nghĩ:
-Hỏi những lời đó không có ý nghĩa, tình yêu và hôn nhân đều có điều kiện cả, nhiều nhân tố kết hợp lại với nhau mới thúc đẩy được, ngươi không thể lấy những nhân tố phụ đó để khiến nàng rời xa ngươi, nói cái gì mà ta thi không đậu tú tài, ta nghèo rớt mồng tơi, ta điếc mù nàng còn lấy ta hay không, đây là lời nói ngu xuẩn không có ý nghĩa.
Khuôn mặt xinh đẹp của Thương Đạm Nhiên vẫn chưa hết ửng đỏ, không dám nhìn thẳng vào Trương Nguyên, trông bộ dạng như rất khó chịu.
Trương Nguyên nói:
-Vậy ta về đây.
Đạm Nhiên ngẩng đầu lên, vừa kinh ngạc lại vừa thất vọng.
Trương Nguyên cười nói:
-Ta nói, ta ở lại đây ăn cơm rồi mới về.
Mặt Thương Đạm Nhiên lại đỏ, răng khẽ cắn môi hồng, oán trách nhìn Trương Nguyên một cái, cũng không che dấu được vẻ vui mừng từ đáy lòng.
Nhìn thấy bộ dạng Đạm Nhiên như vậy, Trương Nguyên không khỏi liên tưởng đến một ngày tuyệt vời kia khi thổi nến động phòng.
Chẳng còn cách nào khác, kì thật hắn có thể bình tĩnh một chút, chỉ là thân thể còn trẻ, lúc nào cũng mong chờ được thử cái cảm giác đó, nhưng hai nữ tì không chịu rời đi, Trương Nguyên chỉ đành nói:
-Sau này ta muốn học cách vẽ tranh của nàng.
Thương Đạm Nhiên đồng ý, Trương Nguyên lại nói:
-Sau này, buổi tối ta muốn nàng đọc sách cho ta nghe.
Mặt Thương Đạm Nhiên vẫn đỏ không dứt, giọng nói nhẹ nhàng, đáp lại:
-Được ạ.
Lúc này, Tiểu Cảnh Huy đến, vừa nhìn thấy Trương Nguyên, Tiểu Cảnh Huy cười ha ha một tiếng nói:
-Trương công tử đến mà muội không biết, có phải đã đến lâu rồi không, muội lại để lọt mất nhiều câu không nghe thấy rồi.
Đây là một cái bóng đèn siêu lớn mà.
Trương Nguyên hỏi nàng ta:
-Thời tiết ấm lên sớm, cây đào bên bờ hồ Đông Đại đã nở rồi đấy, chúng ta cùng đi ngắm hoa đi.
Trương Nguyên, Thương Đạm Nhiên cùng Thương Cảnh Huy và mấy tì nữ cùng đi ra vườn sau, đến hồ Đông Đại, thấy cây đào bên bờ tây quả nhiên đã nở rộ, màu đỏ hoa đào chiếu xuống khiến nước hồ cũng đỏ theo.
Trương Nguyên hỏi tỷ muội Cảnh Lan, Cảnh Huy khi nào thì lên kinh thành. Thương Đạm Nhiên nói:
-Phải tháng sau, đợi đại huynh phái người đến đón.
Tiểu Cảnh Huy nhìn Tiểu cô cô, lại nhìn Trương Nguyên, nói:
-Đột nhiên cháu lại không muốn lên kinh thành.
Thương Đạm Nhiên duỗi ngón tay trắng muốt thon dài vuốt một lọn tóc trên trán Cảnh Huy hỏi:
-Sao vậy? Không phải cả ngày luôn nói là muốn ngồi xe, ngồi thuyền đến kinh thành sao?
Tiểu Cảnh Huy cười nói:
-Cháu và tỷ tỷ lên kinh thành, chỉ còn cô cô và Trương công tử ở lại đây không phải là sẽ cô đơn sao?
Trương Nguyên và Thương Đạm Nhiên liếc mắt nhìn nhau, ẩn chứa ý cười. Lập tức hai người đều rất nghiêm túc gật đầu nói:
-Tiểu Huy nói đúng.
Không ngờ tiểu Cảnh Huy nhấp nháy đôi mắt trong suốt nói:
-Nhưng mà cháu vẫn phải lên kinh thành, cách mọi người rất xa, như vậy tất cả mọi người sẽ nhớ cháu. Có phải không?
Mồng tám tháng hai là kì thi huyện ở Sơn Âm bắt đầu rồi. Đầu giờ Mão Trương Nguyên đã dậy rồi, tắm rửa thay quần áo, cả người nhẹ nhàng khoan khoái đi thi. Vũ Lăng xách theo cái giỏ quai trúc bên trong có bút lông, mực, giấy, nghiên mực, một bình nước và mấy cái bánh. Kì thi huyện chỉ diễn ra trong một ngày, làm hai bài bát cổ. Giờ Mão sau khi vào bàn thi thì cửa chính liền được niêm phong lại không cho phép bất cứ ai ra vào, phải đến cuối giờ Mùi buổi chiều mới được mở một lần để cho những nho đồng thi xong đi ra, cái này gọi là thả những người đứng đầu bảng, sau đó lại đóng cửa lại, chiều tối thì mở cửa thả người lần hai, đến khi trời tối mịt thì sẽ cưỡng chế thu bài đuổi tất cả người ra khỏi trường thi.
Cho nên nói, mặc dù Trương Nguyên làm xong hai bài bát cổ từ sớm, nhưng cũng phải chờ tới cuối giờ Mùi mới có thể đi ra ngoài, nhất định phải mang một ít thức ăn để ăn cho khỏi đói. Sáng sớm liền ra khỏi nhà, trước tiên đến phủ Trạng nguyên ở Tây Trương, phải gọi đại huynh Trương Đại, Trương Đại là người bảo lãnh của hắn, cũng nhất định phải đến trường thi, Trương Đại đi ra ngáp một cái nói:
-Giới Tử, ngươi còn nợ ta tiền bảo lãnh đấy.
Lẫm sinh (dùng trong đời nhà Minh, nhà Thanh chỉ những người được hưởng bổng lộc của các châu, huyện hoặc phủ) làm người bảo lãnh cho người ta, đương nhiên phải thu tiền, bình thường phải hai hoặc ba lạng bạc, một huyện có khoảng mười mấy Lẫm sinh như vậy, mà nho đồng tham gia thi huyện nhiều khi có đến mấy nghìn người, cho nên thường thường một Lẫm sinh phải bảo lãnh cho mấy chục thậm chí mấy trăm nho đồng. Đây có thể chính là một nguồn thu lớn rồi. Tuy nói ba năm chỉ có một lần, như vậy cũng kiếm đủ rồi. Đương nhiên, nhất định phải chia cho người ở trường học một số bạc, nếu không sang năm ngươi sẽ bị giáng cấp. Dĩ nhiên Trương Đại sẽ không kiên nhẫn đi kiếm tiền bảo lãnh như vậy, hắn chỉ bảo lãnh cho một mình Trương Nguyên.
Trương Nguyên cười nói:
-Vậy đại huynh nói tiểu đệ nên làm thế nào để trả tiền bảo lãnh đó cho huynh đây?
Trương Đại nói:
-Thi cho tốt, năm sau huynh đệ chúng ta cùng đến Hàng Châu tham gia kì thi hương, ngươi mời ta uống rượu hoa.
Trương Nguyên “ách” một tiếng, đại huynh quả là người lão luyện tình trường, trong “đào am mộng ức” (nhớ lại giấc mộng ngọt ngào ở túp lều tranh) đã ghi lại không ít câu chuyện quyến luyến ở thanh lâu. Vương Nguyệt Sinh, Cố Mi, Đổng Bạch, Lý Thập Nương, Dương Năng những danh kĩ ở Tần Hoài này đều có giao tình với đại huynh, rất có duyên với mỹ nhân.
Trương Nguyên gật đầu nói:
-Vậy được, quyết định vậy đi.
Trương Đại cười ha ha nói:
-Cô gái Thương Thị chắc mắng ta chết mất thôi.
Hai huynh đệ cười nói đi đến long môn hội trường thi phía sau trường học.
Sơn Âm là một huyện lớn giàu có và đông đúc của Giang Nam, xây dựng các hội trường thi riêng biệt, mà một vài huyện nhỏ nghèo khó khi tổ chức kì thi huyện thường bố trí ở công đường của huyện nha hoặc ở trong trường học, thi huyện ở Sơn Âm thí sinh rất đông, đại sảnh của huyện nha căn bản là không đủ chỗ ngồi.
Từ năm mười hai thời Gia Tĩnh liền xây dựng hội trường thi ngay sau học cung (trường học) , có thể chứa được hai nghìn người cùng một lúc, cửa chính của trường thi gọi là Long Môn. Ngoài Long Môn có một cái đài cao tám thước, huyện lệnh Sơn Âm-Hầu Chi Hàn ngồi ở trên đài cao, dưới đài là quan lại nhỏ, ba mươi Lẫm sinh của huyện cơ bản cũng đến đủ, phía sau mỗi Lẫm sinh đều có mấy chục nho đồng đi theo, quan lại nhỏ đang cầm danh sách, mỗi tên Lẫm sinh một đám nho đồng, điểm danh như vậy mới không hỗn độn, gọi đến tên một nho đồng sẽ do Lẫm sinh đó nhận mặt, quen biết nhau sẽ không nhận lầm, sẽ trả lời một tiếng “tôi bảo lãnh người đó”.
Như vậy xem như là đã xác nhận, sau đó đến chỗ quan lại nhỏ nhận bài thi, rồi lại đễn chỗ kiểm tra lục soát chờ khám xét.
Lục soát ở kì thi huyện không phải nghiêm ngặt như vậy, nhưng phải cởi áo kiểm tra, cởi giày cởi tất, chỉ mặc một cái quần ngắn, người nhã nhặn thật là có một chút xầu hổ a, nhưng cũng không có cách nào, không lục soát như vậy thì sẽ gian dối thành phong trào gian mất. Trương Nguyên nhìn hai, ba nghìn thí sinh đồng nghìn nghịt này, có người râu tóc đã muối tiêu, có người vẫn là đứa trẻ đang thay răng, có người mang nến trong tay, có người cầm theo đèn lồng, đây đều là những người sợ trời tối, người cười có, người khóc cũng có, không khỏi âm thầm cảm thán:
-Con đường khoa cử này hấp dẫn bao nhiêu người. Tiêu hao, dốc hết tâm huyết cả đời vào đây.
Lúc này cũng không rảnh để kêu ca nhiều, nghĩ thầm nhiều người như thế kia lục soát phải mất đến một, hai canh giờ, thế này thì bao giờ mới vào được trường thi.
Hầu Chi Hàn ngồi trên đài cao, nhìn đông ngó tây một lượt, nhìn thấy huynh đệ Trương Đại, Trương Nguyên, liền thấp giọng căn dặn Lễ phòng thư lại( một chức vụ không có phẩm cấp) cạnh cửa vài câu, thư vừa nhìn thấy Trương Nguyên, nhanh chóng xuống đài đi tới chỗ Trương Nguyên, cười nói:
-Hai vị Trương công tử, huyện tôn đặc biệt an bài cho Trương công tử vào bàn trước.
Trương Nguyên mừng rỡ, liền cùng Đại huynh Trương Đại đi theo thư lại đến Long môn trước, nói tên để người gác cửa kiểm tra, nhận được bài thi, nhận lấy cái giỏ từ tay của Vũ Lăng đi vào chỗ kiểm tra lục soát.
Phụ trách chỗ kiểm tra lục soát chính là Lưu Tất Cường và sáu tên nha dịch, đều nhận ra Trương Nguyên. Lưu Tất Cường cười nói:
-Tài năng và học vấn của Trương công tử, còn cần phải giấu tài liệu mang vào phòng thi ư, vào đi, vào đi.
Mấy nho đồng bên cạnh đang cởi áo nghe vậy cùng quay đầu trừng mắt nhìn Trương Nguyên, nhiều khi hưởng thụ đặc quyền cũng không phải chuyện dễ dàng. Trương Nguyên cười nói:
-Tất cả mọi người đều cởi, ta cũng cởi đi.
Nói xong cậu ta cởi áo nới dây lưng, còn nhảy người lên mấy cái.
Bọn nha dịch đều cười nói:
-Nhanh vào đi, giành trước chỗ ngồi tốt.
Trương Nguyên nhìn thấy trên bài thi viết “nhị đường đông hào bính thần tọa” (chỗ ngồi ở vị trí số 3, phía đông của phòng số 2) đây có ghi sẵn số chỗ ngồi, còn có thể giành chỗ được sao?
Lưu Tất Cường nói:
-Không nghiêm ngặt như vậy, chỉ cần đúng số phòng là được, chỗ ngồi tha hồ chọn, tìm chỗ ngồi có ánh sáng, không có gió thổi, không có nắng chiếu vào là tốt rồi.
Trương Nguyên buộc lại trường bào màu xanh, mang theo cái giỏ bước nhanh vào trường thi, trước tiên tìm được trường thi phòng số 2, sau đó sẽ tìm được số phía đông, chỉ thấy trong phòng một dãy bàn dài, để tìm một chỗ ngồi không bị quấy rầy không dễ, trước tiên bày ra bài thi nhìn một chút, cuộn giấy có hơn chục trang, mỗi trang có mười bốn dòng, mỗi dòng mười tám chữ, dùng tơ hồng vẽ đường kẻ thẳng, lại không nhìn thấy đề bài ở chỗ nào.
Chương 121 : Chép hết một lèo.
Trương Nguyên ăn có nửa bát bánh nhân thịt từ giờ Mão. Bây giờ đã là giờ Thìn canh ba, cũng cảm thấy hơi đói. Trong giỏ tre có sáu cái bánh mật ong to bằng lòng bàn tay, sờ nhẹ tay vào thấy vẫn còn ấm, liền cầm hai cái bánh mật ong lên ăn hết, uống hai ngụm nước, rồi quan sát toàn bộ trường thi, hội trường thi hình chữ nhật, có ba phía thông gió, chỉ có một phía là tường.
Trong trường thi có đặt hai mươi tám cái bàn dài. Mỗi bàn dài hơn hai trượng, có thể ngồi được tám người.
Cả trường thi có thể chứa hai trăm người, cứ mười hai trường thi giống như vậy, được sắp xếp theo hình bát quái, ngay trung tâm chính là đại đường và các sĩ tử đình Thân Minh đang không ngừng kéo đến.
Trường thi vốn trống trải giờ lại càng lúc càng chật chội. Chiếc bàn nối chỗ Trương Nguyên ngồi nhanh chóng chật kín người. Đám nho đồng này mài mực, ăn uống, giành chỗ ngồi, giỏ thi va vào nhau, bạn bè gọi nhau ầm ĩ, thoáng chốc hội trường thi đã trở nên náo loạn vô cùng.
Trương Nguyên chỉ học có nửa buổi trời ở Xã học (trường địa phương), cho nên chẳng quen biết ai, một mình yên lặng ngồi một chỗ.
Hắn không biết ai nhưng có người vẫn nhận ra hắn. Phía bên phải có một nho đồng chừng hai mươi tuổi chắp tay chào hắn, rồi thấp giọng nói:
-Trương công tử, kính xin ngươi chiếu cố nhiều.
Lại có một người muốn chiếu cố à, xem ra gian lận khá phổ biến trong kỳ thi huyện. Trương Nguyên mỉm cười nói :
-Trong lòng tại hạ cũng đang hồi hộp bồn chồn lắm đây, nếu nhân huynh làm xong trước, thì làm giúp tiểu đệ hai bài nha?
Vị nho đồng kia ngạc nhiên nói :
Trương công tử xuất khẩu thành thơ bát cổ, bảy bước làm thành thơ mà, thế này là thế nào ạ ?
Trương Nguyên nói :
-Đó đều là lời đồn thổi, lời đồn thì không thể tin được, tiểu đệ hôm nay phải nhờ cậy nhân huynh rồi, đợi lát nữa huynh viết một chữ, ta liền chép một chữ, tuyệt đối không để sót chữ nào.
Vị nho đồng kia há hốc mồm trợn tròn mắt, một lúc sau thì cầm theo giỏ thi đi tìm chỗ khác ngồi, ngồi cùng bàn với Trương Nguyên không ổn rồi, đây viết một chữ liền chép một chữ thì ai mà chịu nổi.
Có người đánh vào bàn vang lên sáu tiếng, hai nghìn năm trăm hai mươi ba sĩ tử đều vào bàn, cách cửa rồng của trường thi liền khóa chốt lại. Giờ Thìn đã tới, ba canh giờ sau có người tài đứng đầu bảng mới có thể mở cửa được..
Nghe nói Huyện lệnh Hầu Chi Hàn huyện Sơn Âm là quan chủ khảo , từ việc ra đề đến việc chấm bài đều do một mình quan chủ khảo thực hiện, Các vị giáo quan như Tôn Giáo Dụ, Chu Huấn Đạo chỉ giúp giữ trật tự trong trường thi mà thôi.
Thấy huyện lệnh đại nhân tiến vào trung tâm đại sảnh của trường thi, hơn hai nghìn năm trăm sĩ tử trên mười hai trường thi thoáng chốc đã trở nên yên lặng, chờ đợi ra đề. Rất nhiều thí sinh trong lòng thầm cầu nguyện, hi vọng có thể trúng đề. Thoáng một cái, ước chừng khoảng nửa khắc, mười hai huyện nha, tư lại cầm mười hai đề bước vào trường thi.
Trương Nguyên nhãn lực không tốt, cách khá xa, còn kịp thấy rõ đề ghi trên đó. Bên cạnh hắn liền có một nho đồng hét lên :
-Một đề là “Quốc hữu đạo bất”. Đề kia là “Như hữu dụng ngã”.
Tức thì có nho đồng than khổ nói :
-Mẹ ơi, ta chỉ biết “Bang hữu đạo”, không biết “quốc hữu đạo”, có vị nhân huynh nào chỉ dùm một chút, đề này xuất từ đâu không ?
Chẳng ai thèm màngđến hắn.
Vị tư lại kia lớn tiếng nói :
-Đề bài ở ngay trên thẻ bài, , nhìn cho rõ vào. Mắt không dùng được thì vểnh tai lên mà nghe cho kỹ. Một đề là “Quốc hữu đạo bất”, đề kia là “Như hữu dụng ngã.
Vừa nói, vừa giơ tấm thẻ bài đi quanh trường thi một vòng. Sau đó, đem đề thi treo lên mộc đài chính diện.
Vị quan này ngồi trên đài cao nhìn bao quát các thí sinh dự thi, còn có một nha dịch nữa coi thi. Thấy trường thi ghé tai nhau thì thầm sôi nổi, vị quan Tư lại quát :
-Ai an phận nấy, không được ồn ào, còn thấy ai châu đầu ghé tai thì thầm to nhỏ, sẽ đuổi khỏi trường thi, phát hiện kẻ nào mang trộm tài liệu vào quay cóp, thì mang gông thị chúng.
Trường thi dần dần yên tĩnh trở lại, sau đó liền là tiếng mở cuộn giấy vang lên “sột soạt”, tiếng ho khan, tiếng cọ giầy, tiếng thở dài, tiếng chép miệng, thật khó mà yên tĩnh được.
Trương Nguyên thêm chút nước vào nghiên mực màu đỏ, vừa chậm rãi mài mực, vừa suy nghĩ về “Quốc hữu đạo bất”. Đề tài này xuất phát từ “ Trung Dong “ (Văn hóa nho học, luận quan điểm triết học chủ nghĩa duy vật thời xưa).
Câu đầy đủ hẳn là “ Quốc hữu đạo bất biến tắc yên, cường tai kiểu “ (Chính trị thanh minh nước nhà, thiên hạ thái bình, không làm thay đổi phẩm chất và khí tiết khi ta chưa làm quan, đó mới là sự kiên định thật sự).
Đây là cắt thượng đề, huyện thử thường dùng những đề nhỏ để ra đề. Suy nghĩ chừng nửa khắc, mực trong nghiên mài đã đến độ kết dính đậm đặc, Trương Nguyên vẫn không hề động bút.
Lại tiếp tục nghĩ đề khác “Như hữu dụng ngã”. Đề này xuất phát từ “Luận Ngữ”. Toàn bộ câu này là “ Như hữu dụng ngã giả, ngô kỳ vi đông chu hồ?
Đây cũng là cắt thượng đề. Hai đề này không khó. Trương Nguyên trong lòng ung dung, cũng không vội làm bài.
Mới vừa rồi suy tư một chút, hai quyển sách bát cổ để phá đề, thừa đề đều nghĩ kĩ. Hắn có sở trường rất giỏi nghĩ sẵn trong đầu, đánh cờ mồm là một đạo lý.
Trong đầu nảy ra ý, tâm ý vừa động, đôi mắt sắc bén nhìn các thí sinh khác trong trường thi, rất là thú vị :
Có người có cái đề ra chỗ nào cũng không biết, vò đầu bứt tóc, không ngừng nuốt nước miếng;
Có người lại dài cổ liếc trộm bài của người khác, người kia lấy khuỷu tay che luôn bài lại không cho nhìn, bằng không bài giống nhau như đúc, huyện tôn đại nhân khẳng định sẽ truy cứu;
Tuyệt đại đa số thí sinh đều mới bắt đầu làm bài, vừa làm vừa nghĩ. Trương Nguyên phát hiện có không ít người liếc mắt ra hiệu cho nhau, âm thầm truyền nhau tờ giấy nháp.
Vị quan lại nhỏ trên kia cũng không mấy quản bọn họ. Nhưng chính ngay lúc ta tưởng rằng hắn mắt nhắm mắt mở mặc kệ, cho qua, thì hắn lại đột nhiên nhảy xuống mộc đài, bắt lấy một thí sinh, soát lấy tay áo của gã thí sinh áo xanh kia, trong ống tay áo của gã có ghi đầy các chữ chi chít nhỏ tí màu tím nhạt . Nha dịch phía sau cũng lại hỗ trợ xé ra, nói :
-Đây là dùng dịch thuốc dạng lỏng viết đấy, lấy bùn phấn đắp lên là chẳng thấy gì nữa, khi lục soát kiểm tra ta nhìn không ra đâu, chỉ cần lấy tay chà xát, bùn phấn bóc ra, chữ viết liền hiện ra ngay. “
Tư lại nói:
-Nghe nói trong một kỳ thi hương có cách quay cốp thế này, chỉ là không ngờ trong kỳ thi huyện này cũng có, đi, đi gặp huyện tôn mau.
Nói xong liền dắt thí sinh khóc lóc ỉ ôi kia bước ra ngoài .
Giết một người răn trăm người, các thí sinh thấy vậy ai nấy đều tỏ vẻ sợ hãi, quay bài cũng bớt lộ liễu hơn, trường thi lại lần nữa quay về sự tĩnh lặng.
Lại qua một canh giờ trôi qua rồi, Trương Nguyên vẫn như trước không hề làm bài, mà mang bánh mật ong ra ăn hết.
Ăn xong chống tay xuống bàn, hai tay ôm trán, nhắm mắt dưỡng thần. Hai quyển sách bát cổ để ở trong lòng, chỉ chờ viết vèo lên giấy.
Gần trưa, hầu chi hàn thong thả bước đến chỗ phòng này. Nhìn nhìn Trương Nguyên, ông thấy các thí sinh khác đều là vừa viết vừa nghĩ. Trương Nguyên thì chống đầu như đang ngủ, trước mặt giấy và nháp đều trống trơn, không có lấy một chữ.
Hầu Chi Hàn nhíu mày, thầm nghĩ :
“Sao lại thế nhỉ ? Tiểu đề này mà làm khó hắn sao ?”
Nhẹ nhàng gõ một cái lên bànnhắc nhở:
“ Khẩn trương làm bài đi chứ. “
Trương Nguyên bật dậy “A” một tiếng, ngồi nghiêm chỉnh hướng phía Hầu huyện lệnh khẽ khom người, hăm hở cầm lấy bút viết ngay vào bài thi. Chẳng cần dùng đến giấy nháp.
Hầu huyện lệnh đứng cạnh xem hắn viết. Chữ tiểu khải của Trương Nguyên giờ đã khá hơn nhiều rồi.
Mặc dù không được coi là đẹp, nhưng nhìn sẽ không cảm thấy ngại nhãn.
Trước tiên là làm “Quốc hữu đạo bất”, Trương Nguyên viết :
-…Chính cục quốc gia thanh minh, làm đại quan nhưng không thay đổi bản chất nhân phẩm ban đầu; Đây mới là cái mạnh thật thụ’ Quốc gia lụi bại, thà chết bảo vệ chính nghĩa, không hạ mình chịu nhục, đây mới là đại trượng phu đỉnh đỉnh….
-”
Trương Nguyên nhanh chóng hạ bút. Nhìn ngòi bút lông cừu di chuyển trên trang giấy nhanh như chớp.
Rất nhanh liền viết xong tiểu đề đó, bài dài gần bốn trăm chữ theo lối Tứ thư bát cổ.
Ngay sau đó, hắn làm tiếp “Như hữu dụng ngã”, phá đề nói :
-Thánh nhân quảng hiền giả chi kiến, kỳ dĩ dụng thế chi đại quyền yên. Cái đông chu khả vi, dụng tắc thực hữu kỳ sự hĩ. Thử phu tử vô khả vô bất khả, phi tử lộ sở năng tri dã... “
Tạm dịch:
-Theo cách nhìn của thánh nhân quảng hiền, quyền lực vào thời thế này. Như dấu ấn cả Đông Chu, đều rất thiết thực, Khổng Tử có việc làm được và không làm được, chỉ có Tử Lộ (môn sinh Khổng Tử, còn có tên là Quý Lộ) mới có thể hiểu được ….
**Tử Lộ là môn sinh có cá tính dị thường đặc biệt nhất trong các môn sinh của Khổng Tử, y dám chỉ trích ra những cái y cho là sai của Khổng Tử. Ngoài ra Y còn rất giỏi trong lĩnh vực chính trị)
Bài bát cổ sau của Trương Nguyên cũng là nói thay lời thánh hiền, nhưng trong đó cũng có nỗi thâm trầm cảm thán của hắn ta.
Khổng Tử chu du các nước thi hành nhân nghĩa chi đạo, cuối cùng chỉ có thể về nước Lỗ thu nhận học trò giảng dạy.
Trương Nguyên sinh vào thời này, gặp phải ngăn cơn sóng dữ, so với So với chuyện Khổng phu tử giúp đỡ Chu Thất còn muốn gian nan gấp trăm lần a.
Khổng Tử có ý chí kiên định không dời, tuyệt không nguyện thay đổi, còn hắn thì khác, hắn muốn cùng thế sự này ba chìm bảy nổi, tìm kiếm hết thảy mọi khả năng cơ hội trong đó.
Hầu Chi Hàn không cần chờ hết thời gian dùng một bữa cơm, Trương Nguyên đã viết xong hai bài bát cổ, ông ta thấy vậy cười nói :
-Điền tên đầy đủ, kí tên kèm theo rồi giao cho đại đường đi…
.
Vừa đi vừa lắc đầu mỉm cười, lắc đầu không phải do Trương Nguyên hành văn bát cổ không được khá, mà là ngạc nhiên thán phục trước tài năng của Trương Nguyên.
Chỉ hai khắc đã xong hai quyển sách bát cổ chải đầy trang giấy. Đương nhiên, Trương Nguyên lúc trước đã suy nghĩ rất lâu rồi, nhưng cứ như vậy không cần nháp, trực tiếp làm bài không sai một chữ, e rằng chỉ có Trương Nguyên mới làm được như vậy thôi.
Trương Nguyên cầm theo giấy thi vào trung tâm đại đường, Hướng Hầu Huyện lệnh thi lễ, lại hướng tôn giáo thụ bên cạnh thi lễ.
Tôn giáo thụ cười ha hả đón lấy giấy của hắn, quay sang bẩm với Hầu Chi Hàn:
-Trương Nguyên là người đầu tiên nộp bài, huyện tôn trực tiếp chấm bài đi ạ
Hầu Chi Hàn vừa rồi đã xem sơ qua, lúc này ông ta nâng bút son lên, mở bài bát cổ ra chấm một lèo từ trên xuống dưới.
Sau đó đưa cho Tôn giáo thụ, nói :
-Giáo quan xem chút đi, bài này có được hay không vậy ?.
Tôn giáo thụ cầm lên nhìn kỹ, thỉnh thoảng lấy tay đập nhẹ lên đầu gối, trong giây lát đã xem xong hai quyển rồi nói :
-Bài thi hương trung thức cũng tương đương thế này, theo hạ quan thấy, lần này huyện án đầu chỉ có thể thuộc về Trương Nguyên mà thôi. “
Hầu Chi Hàn là quan chủ khảo, đương nhiên phải kiêu ngạo một chút, không chịu dễ dàng đồng ý, nói :
-Đằng sau còn có hơn hai ngàn thí sinh, làm sao biết được không có bài nào tốt hơn chứ.
Trương Nguyên nói :
-Không uổng công Vương lão sư dốc lòng dạy bảo ngươi, bài chế nghệ như vậy là tất trúng đấy, ba ngày sau công bố yết bảng, bổn huyện còn phải đem mười bài tốt nhất dán cáo thị chúng, xem ai còn có rảnh rỗi mà xì xào dèm pha.”
Xem ra trước khi thi có lời đồn đại chĩa vào Trương Nguyên. Chẳng qua có người nói Hầu Huyện lệnh sẽ bao che cho Trương Nguyên và hơn thế nữa.
Nhưng trong chuyện này, Hầu Chi Hàn không hề sợ lời đồn chút nào. Trương Nguyên là chính miệng quan Đề Học Đại tông sư nói muốn đưa cậu ta đi tham gia kì thi đạo, không phải tham gia thi huyện thi hương…
Hơn nữa Trương Nguyên cũng đích thật tài hoa xuất chúng, bài văn bát cổ như vậy có thể tham gia cả kì thi hương trung thức rồi, những lời dèm pha vặt vãnh kia, có gì đáng lo cơ chứ!
Đối với Trương Nguyên nói :
-Bây giờ đã trưa rồi, ngươi cứ đợi ở đình Thân Minh đi, có thêm vài người nộp bài, ta sẽ để ngươi ra ngoài.
Trương Nguyên liền vào trường thi mang theo giỏ trúc ngồi trong đình chờ đợi.
Hơn nửa canh giờ sau, đình trên có hai, ba mươi nho đồng nộp bài.
Nha dịch Lưu Tất Cường liền chiếu theo thường lệ, thả đầu bảng (lượt hoàn thành bài đầu tiên) ra ngoài.
Vừa ra khỏi Long Môn đã thấy mấy người chiêng trống, diễn tấu sáo tiến lên chúc mừng.
Có một thí sinh nộp bài sớm là vì không biết xuất xứ, không phá được đề, viết lung tung vài câu rồi nộp. Nhưng đám chiêng trống kèn la này lại làm như y là nho đồng ưu tú nên được thả đầu bảng, bèn đến chúc mừng lấy thưởng. Thật khiến người ta dở khóc dở cười.
Chương 122: Trương án thủ và viên ngọc rẽ nước.
Trương án thủ (người đỗ đầu gọi là Án thủ) và viên ngọc rẽ nước
Trương gia ở ngay sau phủ học cung nên đương nhiên từ đó cũng có thể nghe rõ mồn một tiếng trống sáo linh đình đang đi tới. Tiểu nha đầu Thỏ Đình nghe thấy tiếng trống sáo thì vội vàng chạy ra xem, lại quay đầu chạy vào trong nội viện, vừa chạy vừa gọi to:
Thái thái, thái thái, thiếu gia đậu rồi, thiếu gia đậu tú tài rồi!
Trương mẫu Lã thị cười nói:
Đây mới là thi huyện, còn thi phủ và thi đạo nữa, vui mừng bây giờ vẫn còn quá sớm!
Rồi cùng đại nha đầu Y Đình ra tiền sảnh xem. Tiếng trống sáo sôi nổi tưng bừng, vang vọng tới cả trời xanh, khiến cho lòng người cũng trở nên rộn ràng.
Mấy nhà Đông Trương cũng phải chạy ra xem, hỏi han tình hình, Trương Nguyên lần lượt trả lời đáp lễ từng người rồi thưởng tiền cho đám nhạc công kia.
Trương mẫu Lã thị đã sai đầu bếp chuẩn bị đồ ăn, hỏi con trai:
Con trai ta đói bụng rồi phải không? Uống chén trà nóng này đã.
Đợi Trương Nguyên uống mấy ngụm trà rồi bà mới lên tiếng:
Con trai hôm nay thi thế nào?
Trương Nguyên mỉm cười nói:
Cũng được ạ. Hầu huyện tôn cũng đã xem bài thi của hài nhi rồi, chắc chắn là đậu.
Trương mẫu Lã thị nghe vậy thì mừng lắm.
Đúng lúc đó thì Mục Chân Chân bước vào, nghe Trương Nguyên nói vậy thì cũng vui mừng nói:
Chúc mừng thiếu gia đỗ cao.
Trương Nguyên trông thấy chiếc áo bên trong của thiếu nữ đọa dân đã bị thủng nhiều chỗ.
Trời đông giá rét đã qua đi, thời tiết đã trở nên ấm áp, Mục Chân Chân không thể mặc bộ quần áo mùa đông mà nửa năm trước Trương Nguyên đã bỏ tiền ra mua cho nàng được.
Bộ váy áo nàng đang mặc chính là của mẫu thân nàng năm xưa. Trương Nguyên nói:
Chân Chân, bảo Y Đình dẫn ngươi đi tới hiệu may trên phố Thập Tự may lấy hai bộ váy mặc mùa thu. Mấy ngày nữa ngươi sẽ cùng ta tới Tùng Giang, phải ăn mặc cho đạo mạo đẹp đẽ một chút, ở đó toàn là những người chỉ nhìn quần áo đánh giá con người thôi.
Mục Chân Chân xấu hổ cúi đầu, nhìn vào ống tay áo và chiếc váy dài mình đang mặc, cổ tay áo đã bị mài thành một vạch nhỏ như sợi lông, chiếc váy thì bị vá chằng vá đụp nơi đầu gối, lại cộc hơn rất nhiều so với đôi chân mỗi ngày một dài ra thêm của nàng.
Thiếu nữ mười lăm tuổi Mục Chân Chân bây giờ đã cao hơn cả mẫu thân nàng khi bà còn sống. Trương mẫu Lã thị cười nói:
Váy áo của Chân Chân tuy có cũ nát một chút nhưng luôn gọn gàng sạch sẽ, như vậy là tốt hơn so với rất nhiều người rồi. Y Đình, ngươi đưa Chân Chân tới hiệu may may đồ, may luôn cả cho ngươi nữa, thích kiểu nào thì cứ may kiểu đó.
Tiểu nha đầu Thỏ Đình đứng một bên mở to hai mắt theo dõi chờ đợi.
Trương Nguyên chợt để ý tới nàng, cười nói:
Đưa Thỏ Đình cùng đi với, coi mắt nàng ta sắp long ra rồi kìa!
Trương mẫu Lã thị mỉm cười, nhìn một lượt con trai từ đầu đến chân, nói:
Trương Nguyên, con cũng đi may lấy hai bộ đồ mới đi. Quần áo năm ngoái đã cộc hết cả rồi, lần này tới nhà tỷ phu con, phải ăn mặc cho đạo mạo, tinh tươm một chút. Tiểu Vũ cũng phải đi cùng thiếu gia, ngươi cũng may lấy một bộ đi.
Thúy Cô chạy tới, nói:
Thiếu gia, đồ ăn đã chuẩn bị xong rồi ạ.
Trương Nguyên còn đang dùng bữa thì quản gia của Thương thị tới, khom người nói:
Trương công tử đã ra khỏi trường thi rồi sao? Nhị lão gia nhà ta sai tiểu nhân tới hỏi thăm Trương công tử làm bài có tốt không?
Trương Nguyên nói:
Đa tạ thương Nhị huynh quan tâm, kỳ thi huyện lần này cũng coi như thuận lợi.
Quản gia Thương thị vui vẻ nói:
Vậy là tốt rồi, vậy là tốt rồi. Đại tiểu thư đang nóng lòng đợi tin, tiểu nhân phải mau chóng trở về báo tin vui mới được.
Trương Nguyên cười nói:
Giờ báo tin vui thì vẫn còn sớm, đợi khi yết bảng ta sẽ qua Hội Kê bái kiến Nhị huynh.
Quản sự Thương thị nói:
Còn có một chuyện nữa phải báo cho Trương công tử, Đại lão gia nhà ta đã phái người từ kinh thành trở về đón thái thái và hai vị tiểu thư Cảnh Lan, Cảnh Huy vào kinh rồi. Nhị lão gia muốn tiễn họ tới Hàng Châu rồi từ đó ngồi thuyền theo sông Vận vào kinh, đợi sau khi yết bảng sẽ khởi hành.
Trương Nguyên nói:
Được, ta biết rồi, lúc đó ta sẽ tới tiễn.
Quản sự Thương thị đi rồi, Trương Nguyên liền cùng Mục Chân Chân, Y Đình, Thỏ Đình, Vũ Lăng tới phố Thập Tự may đồ.
Năm người bảy bộ quần áo mới, tổng cộng mất bốn lạng bạc rưỡi. Hai bộ quần áo của Trương Nguyên là đắt nhất, một bộ màu thiên thanh còn bộ kia màu xanh lá liễu, cả hai bộ đều được may bằng lụa Hồ La thượng hạng.
Trời đã xâm xẩm tối, Trương Nguyên sang Tây Trương bái kiến tộc thúc tổ Trương Nhữ Sương, đem hai bài chế nghệ trong kỳ thi huyện ban sáng đọc lại cho Trương Nhữ Sương nghe. Trương Nhữ Sương vui mừng nói:
Thi huyện mà có bài chế nghệ tốt như vậy là chuyện hiếm gặp, không biết Hầu Huyện lệnh có cho ngươi đỗ đầu hay không? Lời đồn đại quá nhiều. Chắc là ông ta sẽ cho ngươi đứng thứ hai, nhưng mà thôi, cũng chẳng sao.
Trương Nguyên lại kể chuyện sau khi yết bảng sẽ đi huyện Thanh Phổ phủ Tùng Giang chúc thọ tỷ phu Lục Thao. Trương Nhữ Sương cau mày nói:
Thượng tuần tháng tư đã thi phủ rồi, liệu ngươi có về kịp không?
Trương Nguyên nói:
Sinh thần của Lục tỷ phu là mồng bảy tháng ba, mùng chín cháu sẽ từ Thanh Phổ trở về, cuối tháng ba nhất định sẽ về kịp.
Trương Nhữ Sương gật đầu nói:
Vậy được, trên đường chú ý cẩn thận. Ngươi còn phải tới chỗ Hầu Huyện lệnh, xin ông ta viết cho ngươi một tờ giấy dẫn đường. Mặc dù bây giờ kiểm tra cũng không nghiêm ngặt nữa nhưng có tờ giấy ấy cũng bớt được không tí phiền toái đâu. Đợi năm sau khi ngươi có công danh sinh đồ rồi thì thiên hạ Đại Minh này ngươi đi đâu tùy thích, khỏi phải xin giấy dẫn đường đó nữa.
Hồng Vũ tổ (niên hiệu của vua thái tổ thời Minh) ban ra một đạo luật, dân chúng đi đâu xa nhà một trăm dặm thì đều phải tới xin quan phủ một tờ giấy gọi là “giấy dẫn đường”, người có công danh sinh đồ trở lên thì không cần làm như vậy nữa.
Hôm thi huyện, Hầu Huyện lệnh đã nói với Trương Nguyên là ba ngày sau sẽ yết bảng, nhưng có hơn hai ngàn năm trăm thí sinh tham gia thi, tức là sẽ có hơn năm ngàn cuốn bát cổ, trong ba ngày gã làm sao có thể đọc được hết? Ban đầu thì gã còn nhẫn nại đọc cả hai bài, sau rồi thì chỉ xem cuốn về đề “Quốc gia có đạo hay không”, nếu văn phong không mạch lạc, lý lẽ không sắc sảo thì lập tức loại luôn mà không thèm liếc mắt qua bài thi còn lại nữa. Sau đó thì huyện lệnh cũng đã ngán đến tận cổ, chỉ coi phần phá đề và thừa đề mà thôi. Tất nhiên Hầu Huyện lệnh vẫn chấm bài hết sức công minh và nghiêm túc, gã lệnh cho Tôn giáo thụ và Chu Huấn Đạo đem những bài thi đã bị đánh trượt kia xem lại một lần, quyết không thể vì nhất thời bất cẩn mà để uổng phí mất nhân tài.
Như vậy, đến sáng ngày mười lăm tháng hai mới yết bảng, cuối cùng có bốn trăm linh tám vị đã đỗ tú tài, coi như là cứ năm người thì chọn lấy một.
Thi huyện không giới hạn số người đỗ tú tài, chỉ cần chế nghệ lưu loát thì sẽ qua, vì dù sao thì huyện nha cũng chẳng phải tốn mất đồng nào, cùng lắm thì những người này cũng chỉ được nêu danh mà thôi. Sáng ngày mười lăm tháng hai, nhà Trương Nguyên có một vị khách từ xa tới, tên Lục Đại Hữu, chính là do tỷ tỷ Trương Nhược Hi phái tới đón Trương Nguyên tới Lục thị ở phủ Tùng Giang.
Người này khoảng bốn mươi tuổi, cũng là người có chút tài cán, trước kia đã từng đi theo vợ chồng Lục Thao và Trương Nhược Hi tới Sơn Âm nhiều lần. Thấy Trương mẫu Lã thị, gã dập đầu vấn an rồi đưa lên cho bà lá thư của con gái Trương Nhược Hi. Trương mẫu Lã thị hết sức vui mừng, nói:
Trương Nguyên còn đang đợi yết bảng, đợi khi có kết quả rồi sẽ lập tức lên đường.
Vừa nhắc tới chuyện yết bảng thì đã nghe Trương Định Nhất từ cửa trúc hớt hải chạy vào, vừa chạy vừa lớn tiếng hô:
Yết bảng (công bố danh sách những người thi đỗ) rồi, yết bảng rồi. Giới Tử ca đỗ rồi, tên huynh ấy ở chính giữa.
Trương Nguyên quay sang mẫu thân nói:
Hài nhi đi xem sao.
Rồi vội vã chạy đi, mặc dù việc vượt qua kì thi huyện này đã nằm trong dự liệu của hắn nhưng giờ nghe tin yết bảng hắn vẫn không khỏi cảm thấy hồi hộp và háo hức.
Trương Nguyên hỏi:
Định Nhất, ta đứng thứ mấy?
Trương Định Nhất đáp:
Ta cũng không biết nữa, đằng nào chẳng là đỗ, ta vừa thấy tên của Giới Tử ca được viết ở trên bảng đó thì liền vội chạy về báo tin. Có tiền thưởng cho đệ chứ?
Trương Nguyên cười cười, sai Vũ Lăng đưa cho Trương Định Nhất mấy chục văn tiền, rồi rảo bước tới huyện nha xem kết quả.
Lúc chạy vào quảng trường trước nha huyện thì chỉ thấy Tinh Thiện đình toàn những đầu người là đầu người, ít cũng phải tới mấy trăm người đang không ngừng reo lên “Ta đỗ rồi, đỗ rồi!”.
Trương Nguyên không chen vào nổi, liền cao giọng nói với vào:
Trương Nguyên có đỗ không?
Thế là mấy trăm người đang đứng trước án bảng đều lập tức hướng mắt về chỗ Trương Nguyên, nhận ra hắn rồi thì đồng loạt kêu to lên:
Trương án thủ, Trương án thủ đến rồi!
Mau tránh ra cho Trương án thủ tới xem án bảng.
Trương Nguyên nghe mấy người này gọi mình là Trương án thủ thì trong lòng liền biết Hầu Huyện lệnh vẫn không ngại cho hắn đỗ đầu, trong lòng không khỏi vui mừng. Tuy kì thi huyện này chỉ cần qua là được, nhưng có kẻ nào đi thi mà không mong đỗ đầu cơ chứ?
Trương Nguyên như có một viên ngọc rẽ nước, dễ dàng đi qua đám người trước mặt tới được Tinh Thiện đình, chỉ thấy trên tấm bảng gỗ lớn có dán một tờ giấy bên trên. Trên tờ giấy trắng là chi chít chi chít những tên người là tên người. Vì bảng hình tròn nên các tên người được sắp xếp thành hình kim đồng hồ, nổi bật lên là một cái tên được viết to nhất, rõ ràng nhất ở chính giữa. Đó là hai chữ “ Trương Nguyên “ , án thủ kì thi huyện Sơn Âm năm Quý Sửu. Lập tức có tiếng kèn trống vang lên chúc mừng, đám nhạc công vây quanh Trương Nguyên, hướng bước về phía Đông Trương khiến hắn cũng bị cuốn theo. Bị vây quanh bởi hết lớp người này tới lớp người khác, Trương Nguyên không làm cách nào thoát ra được, bất đắc dĩ nghĩ thầm:
“Thi huyện thôi mà cũng phải báo tin vui những hai lần. Lần sau ta làm xong rồi cũng quyết không nộp bài ra về trước nữa.”
Đám nhạc công vây quanh Trương Nguyên dẫn hắn về Đông Trương, lúc này đã có thể coi là thực sự báo tin mừng rồi. Sáo ra sức thổi, trống ra sức đánh, chắc muốn được thưởng hậu hĩnh chút đây! Những người vây lại xem náo nhiệt còn làm đổ mất cả hàng rào trúc trước cửa nhà Trương Nguyên. Đám nhạc công này cũng khéo ăn khéo nói, liên tục chúc mừng:
Điềm lành, điềm lành, rào trúc bị đổ nghĩa là được thay đổi địa vị rồi. Công tử của quý phủ nhất định sẽ liên tiếp đỗ cao trung, tú tài, cử nhân, tiến sĩ, rồi thăng quan phát tài.
Náo loạn ầm ĩ một hồi lâu, Trương Nguyên thưởng cho đám nhạc công ba tiền, lúc này họ mới hoan hỉ kéo về.
Trương Nguyên quay sang mẫu thân nói:
Cứ thế này thì nhà ai nghèo làm sao trả nổi.
Lục Đại Hữu đứng một bên cười nói:
Chỉ cần đỗ sinh đồ là sẽ có người mang tiền, mang lễ vật tới rồi. Nếu đỗ cử nhân thì còn vẻ vang hơn nữa, còn được cấp điền sản kia. Lúc ấy những người xin đến làm gia nô nhà Giới Tử thiếu gia còn phải chen nhau đến sứt đầu mẻ trán ngoài kia ấy chứ. Trương thiếu gia lần đầu dự thi đã đỗ đầu như vậy, việc năm sau đỗ tú tài thì không cần phải bàn cãi rồi, chưa nghe thấy chuyện đỗ đầu thi huyện mà không đỗ tú tài bao giờ. Dù thế nào thì Đại tông sư cũng phải nể mặt Huyện lệnh chứ.
Xem ra Lục Đại Hữu này hiểu biết cũng không ít.
Cả nhà từ trên xuống dưới ai nấy đều vui mừng khôn xiết. Lỗ Vân Cốc đang đi trên cầu Sương Lộ nghe được tin này cũng tức tốc sang nhà Trương Nguyên chúc mừng. Đám người người nhà Tây Trương vẫn thường sang đọc sách cho Trương Nguyên là Phạm Trân, Ngô Đình, Chiêm Sĩ Nguyên cũng sang chúc mừng. Trương Nguyên đang chuẩn bị mời mấy người này tới phố Thập Tự uống rượu thì hai huynh đệ Trương Đại, Trương Ngạc tới, báo rằng tổ phụ mời Trương Nguyên tới Bắc viện dự tiệc. Đám người Lỗ Vân Cốc, Phạm Trân liền cáo từ, nói ngày khác sẽ lại đến, lần đó sẽ do họ mở tiệc chiêu đãi. Trương Nguyên đi theo Trương Đại, Trương Ngạc sang Tây Trương. Trương Ngạc nói:
Giới Tử, lần này đệ một tấc lên tiên nhé, Đỗ đầu thi huyện cơ mà, Đại huynh lúc trước cũng đâu có được như vậy.
Trương Nguyên cười nói:
May mắn, may mắn thôi.
Trương Đại nói:
Hai cuốn chế nghệ của Giới Tử ta đã xem rồi, hơn hẳn bài chế nghệ của ta. Giới Tử đệ đúng là bát cổ kỳ tài.
Trương Đại không phải là người thấy người khác hơn mình mà sinh lòng ghen tị. Y là một người tính tình khoáng đạt, cởi mở lại rất trọng tình nghĩa.
Trương Nhữ Sương trông thấy Trương Nguyên thì mừng rỡ nói:
Sơn Âm Trương thị ta đã có Trạng Nguyên rồi, hôm nay lại có án thủ thi huyện, thật đáng ăn mừng.
Trương Nhữ Sương và ba cháu trai uống tiệc rượu ăn mừng ở Bắc viện.
Tiệc xong, Trương Đại, Trương Ngạc đưa Trương Nguyên về Đông Trương. Trương Ngạc nghe nói Trương Nguyên hai ngày nữa sẽ đi Tùng Giang, nói:
Chẳng phải là sẽ gặp được Đổng Tổ Thường hay sao, Giới Tử đệ phải hết sức thận trọng đó, đừng để bị hắn đánh nha.
Trương Nguyên cười nói:
Đổng gia ở Hoa Đình, ta đi Thanh Phổ, chẳng liên quan gì đến nhau cả.
Chương 123: Như cá với nước.
Ánh trăng đẹp vô cùng, ba huynh đệ Trương Nguyên, Trương Đại và Trương Ngạc đứng trên cầu Thạch Củng nhìn xuống sông Đầu Lao. Lòng sông rất nông, từng con sóng nhỏ lăn tăn, mặt sông được ánh trăng chiếu vào, có thể nhìn rõ được cả những chú cá bạc đang tung tăng nô đùa, cảnh tượng này thực khiến cho người ta muốn quăng một mẻ lưới.
Trương Ngạc cũng bị ánh trăng làm cho ngây ngất, thở dài một hơi, nói:
Ánh trăng đẹp quá, thật khiến cho tâm tình con người ta trở nên phấn chấn hẳn lên, muốn muốn có niềm vui cá với nước ghê.
Tay nắm vào thành cầu, gã dùng cái giọng khàn như vịt đực của mình ngâm nga:
Tiểu sinh bước vào phòng ngủ, cùng với mỹ tỷ thoát y, hai người quấn quýt lấy nhau, như niềm vui cá với nước.
Trương Đại, Trương Nguyên đều cười to. Trương Đại nói:
Một đêm trăng đẹp như thế này mà Tam đệ lại nghĩ tới chuyện đó, nghĩ chuyện gì đứng đắn hơn chút đi.
Trương Ngạc nói:
Đại huynh và Giới Tử đệ đều đã đính hôn, chỉ có mình ta là vẫn còn cô đơn. Ôi chao, chỉ có ta mới hiểu được nỗi lòng mình mà thôi, còn gì đau buồn hơn thế này kia chứ!?!
Trương Đại cười nói:
Đừng ở đây mà kêu than nữa, nếu đệ mà buồn khổ thật thì người trong thiên hạ đã chết vì buồn lâu rồi. Đừng tưởng ta không biết, tam thúc mẫu chẳng phải đã chuẩn bị cho đệ và nữ lang Kỳ thị đính hôn với nhau rồi sao. Chính là đường tỷ (chị họ con chú hoặc con bác) của Kỳ Hổ Tử, em gái ruột của Kỳ Dịch Viễn đó.
Trương Ngạc xoa cằm cười nói:
Đại huynh cũng biết rồi ư, như vậy há chẳng phải ta phải cảm thấy hổ thẹn với Giới Tử rồi sao? Bởi thế nên ta mới không muốn nhắc đến chuyện đó.
Trương Đại cảm thấy kì lạ, hỏi:
Chuyện đó thì có liên quan gì đến Giới Tử?
Trương Ngạc nói:
Kỳ Hổ Tử sẽ thành thân với con gái Thương Chu Khư, Giới Tử thì sẽ thành thân với em gái Thương Chu Khư, huynh nói xem như vậy chẳng phải là vai vế loạn hết cả rồi sao?
Trương Đại cười lớn, nói:
Tam đệ quả nhiên vì chuyện này mà nhọc lòng rồi, đương nhiên đương lành thì lại bị hạ thấp xuống một vai như thế, ha ha….
Trương Ngạc khẽ huých vai Trương Nguyên:
Giới Tử đệ nói xem, phải bồi thường cho ta thế nào đây?
Trương Nguyên cười nói:
Cái này ấy à, đệ bồi thường không nổi đâu.
Trương Ngạc nói:
Vậy ta sẽ đi bảo Kỳ Bưu Giai kia không lấy con gái Thương Chu Khư nữa, dù sao hắn vẫn còn nhỏ như thế, hiểu quái gì là tình cảm nam nữ đâu.
Trương Nguyên vội lên tiếng:
Ấy, như vậy không được, để đệ nghĩ cách bồi thường cho huynh.
Trương Ngạc hỏi:
Bồi thường ta cái gì nào? Một trăm cuốn “Kim Bình Mai” chăng?
Trương Nguyên cười nói:
Tam huynh chỉ cần chịu khó để tâm, thì trăm cuốn “Kim Bình Mai” có thể tìm ra rất nhanh thôi.
Trương Ngạc lại hỏi:
Không phải “Kim Bình Mai”, vậy đệ định tặng ta cái gì đây?
Trương Nguyên nói:
Kính viễn vọng của tam huynh tuy là được thuyền từ phương Tây mang về, nhưng nếu chịu khó nghiên cứu một chút thì các thợ có tay nghề giỏi của Đại Minh ta cũng có thể chế tác ra được. Thợ thủ công Hàng Châu, Tô Châu ban đầu cũng là học hỏi từ các nước phương Tây mới có thể chế tạo ra kính mắt. Tam huynh đi tìm mấy thợ thủ công lành nghề về, ta sẽ giảng giải cho họ một chút về nguyên lý chế tạo kính, sau một thời gian nhất định sẽ chế tạo ra được loại kính viễn vọng có thể nhìn xa hơn, rõ hơn.
Trương Ngạc vui vẻ nói:
Còn có loại kính viễn vọng có thể nhìn được xa hơn ư?
Trương Nguyên đáp:
Đương nhiên.
Theo như quan sát ở đỉnh Long Sơn hôm đó, Trương Nguyên đoán kính viễn vọng của Trương Ngạc có khả năng nhìn xa khoảng gấp mười đến mười hai lần, nếu cải tiến thêm thì việc đạt tới mười bốn đến mười tám lần cũng không quá khó.
Chỉ cần làm đúng theo nguyên lí thì việc thời nhà Minh xuất hiện kính viễn vọng chỉ còn là chuyện sớm muộn mà thôi.
Trương Ngạc nói:
Vậy được, mấy ngày nữa ta sẽ tới Hàng Châu đợi đệ từ Tùng Giang trở về, lúc đó chắc ta cũng tìm được thợ thủ công về rồi.
Trương Đại cười nói:
Tam đệ lần này thể hiện không tồi, cứ thế phát huy, làm thế là tránh khỏi phải ăn no dửng mỡ mà nghĩ tới cảnh “quấn quýt như cá với nước” đó, haha…
Huynh đệ ba người cùng cười lớn, tán gẫu thêm một lúc nữa thì trăng đã lên quá đỉnh đầu. Trương Nguyên liền tạm biệt hai vị tộc huynh rồi một mình bước lên cầu Thạch Củng hướng về phía cánh cổng ở hậu viện. Tiếng chim hót sau lùm cây như muốn gõ cánh cửa lên cung trăng. Chẳng mấy chốc hắn đã về đến nhà, người ra mở cổng chính là Mục Chân Chân, thiếu nữ đọa dân hôm nay mặc một bộ váy mới, quần áo của đọa dân màu sắc không xanh thì là đen, nhưng phần eo đã được chiết hẹp hơn, làm tôn lên cái eo nhỏ duyên dáng của nàng.
Trong con mắt của Trương Nguyên, bộ váy đen càng làm nổi bật làn da trắng như tuyết của nàng, mà hiện giờ lại có ánh trăng chiếu vào, nhìn nàng thực giống như Hằng Nga hạ phàm vậy. Khi Mục Chân Chân mở cửa, Trương Nguyên quả thực có chút sửng sốt đến ngây người ra. Mục Chân Chân khẽ cười, nói:
Tỳ nữ đoán ngay là thiếu gia sẽ về từ cửa sau mà.
Trương Nguyên vào trong, cài cửa cẩn thận rồi mới hỏi:
Chân Chân hôm nay sao lại ở đây, cha nàng lại phải theo hầu quan ra ngoài làm việc rồi ư?
Mục Chân Chân chầm chậm bước sau Trương Nguyên. Dưới ánh trăng, bóng nàng in vào bóng Trương Nguyên. Thấy vậy, thiếu nữ mười lăm tuổi Mục Chân Chân cảm thấy e thẹn, vội vàng đi cách xa Trương Nguyên một chút, hai cái bóng mới tách ra.
Nàng đáp:
Phụ thân hôm nay không phải đi, nhưng ngày kia thì phải theo hầu quan rồi, bởi vậy nên tiểu tỳ mới tới hỏi thiếu gia xem hôm nào đi Tùng Giang, tiểu tỳ sợ hôm đó phụ thân không kịp trở về làm lỡ mất việc của thiếu gia.
Trương Nguyên nói:
Ngày mai ta sẽ đi tới xin với huyện tôn miễn cho cha nàng hai tháng lao dịch, nàng về báo cho cha nàng là không phải đi nữa, cứ ở nhà đợi ngày theo ta đi Tùng Giang, chắc tầm năm, sáu ngày nữa sẽ lên đường.
Mục Chân Chân vui mừng nói:
Đa tạ thiếu gia.
Trương Nguyên nói:
Đa tạ gì chứ, hai cha con nàng theo ta đi Tùng Giang có khác gì đi theo hầu quan đâu.
Mục Chân Chân thầm nghĩ: “ Thiếu gia tính tình lương thiện, đương nhiên là không giống đi theo huyện lệnh rồi, Đám người huyện nha coi cha ta chẳng khác nào trâu ngựa.”
Trương Nguyên lại nói:
Ta bây giờ vẫn chưa có công danh, đợi sau này khi ta có công danh rồi, hai cha con nàng sẽ ở nhà ta luôn, vậy thì có thể trả tiền để khỏi phải đi lao dịch nữa. Chuyện tiền nong ta sẽ lo.
Chân Chân nghe vậy thì hết sức vui mừng, lần trước nhận gia đình Trương Nguyên làm chủ chỉ là trên danh nghĩa, nếu có thể thực sự vào nhà họ Trương thì cha nàng sẽ miễn được gánh nặng lao dịch, như vậy thật đúng là một bước lên tiên rồi.
Hai mẹ con Trương Nguyên tốt với cha con nàng như vậy khiến nàng không thể cầm được nước mắt, vội vàng quỳ xuống dập đầu bái tạ. Trương Nguyên nhanh tay đỡ nàng dậy, cười nói:
Ta biết nàng cứ hơi tí là lại dập đầu mà, ta cũng mới chỉ nói suông chứ đã thực hiện được gì đâu, nàng dập đầu bái tạ ta làm gì kia chứ. Mặt đất bẩn như thế, nàng lại đang mặc bộ đồ mới đó!
Dứt lời, hắn nhẹ nhàng dìu nàng đứng lên, qua một lớp áo nhưng vẫn có thể cảm nhận được sự mềm mại của làn da nàng, nghĩ thầm:
“Chân Chân ăn uống kham khổ, lại tập võ, thế mà da dẻ vẫn mềm mại như vậy, ừm, chỉ có bàn tay là hơi khô ráp một chút..”
Mục Chân Chân thẹn thùng cắn môi, thấp giọng nói:
Thiếu gia trước nay luôn nói lời giữ lời, hơn nữa thiếu gia nhất định sẽ đậu tú tài mà.
Trương Nguyên cười nói:
Ừm, ta sẽ cố gắng thi đậu.
Hai người đi đến cửa xuyên đường mới thấy bóng Thỏ Đình đang đứng dưới trăng.
Thỏ Đình ban nãy nghe thấy tiếng gõ cửa thì cũng chạy ra, thấy thiếu gia và Chân Chân tỷ nói cười vui vẻ, lại còn níu níu kéo kéo thân mật như vậy nên mới không lên tiếng, thầm nghĩ: “Chân Chân tỷ đúng là thích thiếu gia rồi, đêm hôm đó còn gọi thiếu gia trong mơ nữa.” Điều này Thỏ Đình không kể lại với Chân Chân, cũng không nói với ai mà chỉ giữ trong lòng.
Sau ngày yết bảng, tất cả các nho đồng thi đậu đã tập hợp đầy đủ ở học thự để nghe Hầu Huyện lệnh và Tôn giáo thụ giáo huấn, họ yêu cầu các nho đồng phải tiếp tục chăm chỉ luyện tập chế nghệ để đối mặt với kỳ thi Phủ trước mắt, đồng thời công bố thời gian tổ chức kì thi phủ của hai huyện Hội Kê và Sơn Âm, đó là ngày mùng chín tháng tư.
Học thự Sơn Âm cuối tháng hai sẽ đưa lên nha môn Tri phủ danh sách bốn trăm linh tám nho đồng đã vượt qua kì thi huyện vừa rồi, tính cả những người chưa có tư cách là đồng sinh khoảng hơn 1600 người.
Thời gian đăng kí báo danh từ hai mươi tháng ba tới cuối tháng ba, trong thời gian này phải hoàn thành tất cả các thủ tục liên quan. Sau đó các đồng sinh giải tán, chỉ có người đỗ đầu kì thi huyện và năm vị có công danh nho đồng ở lại, Huyện tôn đại nhân mở tiệc thết đãi khen ngợi. Sau bữa tiệc, Hầu Chi Hàn chỉ giữ lại mỗi Trương Nguyên ở lại thưởng trà.
Khi chỉ còn lại hai người, Hầu Chi Hàn tỏ ra gần gũi hơn rất nhiều, duỗi lưng một cái cười nói:
Chỉ trong mấy ngày ngắn ngủi mà phải xem mấy ngàn quyển bát cổ văn, đúng là hoa mắt chóng mặt, nghỉ ngơi một ngày rồi mà vẫn chưa lấy lại được tinh thần.
Trương Nguyên khom lưng nói:
Thầy vất vả rồi, học trò bái phục!
Sau kỳ thi huyện này, Trương Nguyên đã trở thành môn hạ của gã, từ nay về sau sẽ gọi gã là “thầy” chứ không gọi là “huyện tôn” nữa, cách gọi như vậy rõ ràng là làm cho mối quan hệ giữa hai người trở nên gần gũi thân thiết hơn nhiều.
Hầu Chi Hàn nói:
Thực ra ban đầu ta cũng đính xếp cho ngươi đứng thứ hai, như nghĩ đi nghĩ lại, không thể vì sợ bị người đời dèm pha mà để ngươi phải chịu thiệt thòi như vậy được.
Trương Nguyên nói:
Học trò quyết không phụ sự kỳ vọng của thầy…
Hầu Chi Hàn rất hài lòng với câu này của hắn, hỏi:
Gặp thầy Vương chưa?
Trương Nguyên đáp:
Lát nữa học trò sẽ đi.
Hầu Chi Hàn cười nói:
Ta và người đều là môn hạ của thầy Vương, giờ chúng ta lại có quan hệ thầy trò với nhau, nghĩ mà thấy thật buồn cười. Được rồi, ngươi về đi, chớ có tự mãn, nhớ chuyên tâm học tập chuẩn bị cho kì thi phủ nghe chưa?
Trương Nguyên đứng dậy nói với Hầu Chi Hàn về việc sắp tới hắn sẽ đi Tùng Giang. Hầu Chi Hàn cũng giống Trương Nhữ Sương, tỏ vẻ lo lắng, nhưng nghe Trương Nguyên giải thích xong, liền gật đầu nói:
Mùng mười tháng ba ngươi nhất định phải lên đường trở về, nếu không sẽ lỡ việc báo danh đó.
Rồi mệnh cho Sử mục của Sử phòng viết cho Trương Nguyên một tờ giấy dẫn đường.
Trương Nguyên xin Hầu Huyện lệnh tạm miễn cho đọa dân Mục Kính Nham hai tháng lao dịch để hộ tống hắn đi Tùng Giang. Hầu Chi Hàn cười nói:
Là gã râu vàng biết võ đúng không? Ta cũng không rõ lắm về chuyện này, ừm, để ta tới công khoa phòng nói với Hà điển sử một câu.
Trương Nguyên ra khỏi Mục Kiến đường, tới công khoa phòng tìm Hà điển sử, nói rõ việc muốn nhờ y giúp. Hà điển sử biết Trương Nguyên đã đỗ đầu kì thi huyện vừa rồi, giờ đã trở thành người được huyện tôn rất coi trọng, đâu dám có thể làm khó dễ, bèn cười ha hả nói:
Gã râu vàng Mục Kính Nham coi vậy mà cũng ra phết nhỉ, nếu Trương công tử muốn dùng gã thì cứ nói, ta sẽ dặn dò bên dưới..
Đến trước trung tuần tháng tư sẽ không gọi gã đi lao dịch nữa.”
Trương Nguyên tạ ơn Hà điển sử, rồi nhờ y viết cho mình một tờ giấy dẫn đường. Hà sử mục hỏi rõ có mấy người đi cùng, đi đâu, đi khoảng bao lâu rồi bắt đầu viết.
Trương Nguyên mang theo tờ giấy dẫn đường về, giao cho Lục Đại Hữu cất kỹ. Vừa lúc Mục Kính Nham, Mục Chân Chân đến, Trương Nguyên liền kể lại cho Mục Kính Nham việc vừa rồi hắn đã nhờ Hà điển sử. Mục Kính Nham vui mừng khôn xiết, thấy Trương Nguyên muốn đi Hội Kê, bèn nói:
Tiểu nhân sẽ theo hầu thiếu gia.
Trương Nguyên nói:
Cũng được.
Rồi dẫn Vũ Lăng và Mục Kính Nham đi bộ tới Hội Kê, trước tiên là tới phủ của Vương Tư Nhâm nhưng ông ta không có nhà, lão gác cổng nói ông ta đã đi Tiêu Sơn thăm Trần cô phụ từ hôm kia, không biết bao giờ mới về.
Trương Nguyên bèn đi thẳng tới thư phòng tiền viện viết cho thầy một lá thư. Vương Anh Tư đi qua, thấy Trương Nguyên liền chắp tay cười nói:
Tại hạ bái kiến Trương án thủ.
Vương Anh Tư búi tóc, mặc một chiếc áo có ống tay hẹp, đây là kiểu trang điểm biểu thị người con gái chưa xuất giá, nhưng hành động của nàng lại bắt chước giống đàn ông.
Trương Nguyên đứng dậy đáp lễ, cười nói:
Anh Tư sư muội giễu cợt ta rồi.
Sư muội?!?
Vương Anh Tư sửng sốt, mặt lập tức giãn ra nói:
Cũng không tệ,về sau ta sẽ gọi huynh là Giới Tử sư huynh.
Chương 124: Hội Quan Âm ở Hạnh Hoa tự.
Vương Anh Tư nhìn kỹ bức thư, nói:
Thư viết cho phụ thân ta ư, có chuyện gì vậy?
Trương Nguyên nói:
Hai ngày nữa ta sẽ đi Tùng Giang một chuyến, nên muốn báo với thầy một tiếng.
Vương Anh Tư kinh ngạc:
Tháng tư đã thi phủ rồi đó!
Trương Nguyên mỉm cười nói:
Sinh nhật lần thứ ba mươi của tỷ phu, học trò không thể không đi được, cả đi cả về mất một tháng, vẫn kịp về thi ạ.
Nghe Trương Nguyên nói như vậy, Vương Anh Tư nhíu mày nói:
Cha học trò đi Tiêu Sơn cũng là để thăm hỏi tỷ phu học trò, vì nghe nói là y bị bệnh, mà bệnh cũng không nhẹ.
Trương Nguyên nói:
Vậy mau đi khám bệnh thôi, có cần mời Lỗ Vân Cốc tiên sinh tới xem bệnh hay không?
Vương Anh Tư cười phá lên, nói:
Lỗ Vân Cốc trị khỏi mắt cho huynh, huynh liền cho là lão có thể chữa được bách bệnh hay sao? Lỗ Vân Cốc chỉ chuyên khám cho con nít mà thôi, chuyện đó có ai là không biết chứ?
Trương Nguyên cười cười, tiếp tục viết thư. Lại nghe Vương Anh Tư nói:
Giới Tử sư huynh, nếu huynh ở Tùng Giang không về kịp tham gia thi phủ thì có thể để muội thay huynh đi thi được không?
Trương Nguyên lập tức dừng bút, đuôi của chữ “Đại” vì vậy cũng bị to hơn bình thường, nom đến là khó coi, hắn nói:
Không được rồi, ta phải viết lại rồi.
Vương Anh Tư trông thấy chữ “Đại” dị dạng ấy, cười khanh khách nói:
Khỏi cần viết lại, huynh chờ một chút.
Rồi nàng chạy nhanh ra khỏi thư phòng, một lúc sau quay lại, trong tay nàng đang cầm một vật, cười hỏi:
Biết đây là cái gì không?
Trương Nguyên thấy vật này có hình dạng như một khối mực, nhưng lại có màu vàng nhạt, lắc đầu nói:
Không biết.
Vương Anh Tư đi đến trước thư án, cho một chút xíu nước vào khối màu vàng nhạt kia rồi bôi lên chữ “Đại” kia, cười nói:
Giờ thì đã biết đây là gì rồi chứ?
Trương Nguyên cười nói:
Thư hoàng, tín khẩu thư hoàng (người xưa dùng thư hoàng để xóa chữ, nên nói việc ăn nói bừa bãi bất chấp sự thực là “tín khẩu thư hoàng”
Vương Anh Tư cười nói:
Đúng rồi, chính là thư hoàng, cha ta trước kia cũng không dùng đâu, năm ngoái vì phải chép kinh cho lão tăng ở Diên Khánh tự nên mới cần dùng đến.
Trương Nguyên nói:
Ta vẫn nên viết lại thì hay hơn, thầy mà trông thấy nhất định sẽ mắng ta.
Rồi lấy một tờ giấy khác viết lại.
Vương Anh Tư nói:
Chữ tiểu Khải Giới Tử sư huynh tiến bộ rất nhiều rồi đó.
Trương Nguyên vừa nắn nót từng chữ vừa đáp:
Cảm tạ sư muội đã khích lệ.
Vương Anh Tư nói:
Giới Tử sư huynh, huynh bảo nếu ta thi phủ thì có đỗ không?
Trương Nguyên thầm nghĩ: “Trời, vẫn còn ý nghĩ muốn đi thi sao?.”
Nói:
Chắc chắn đậu rồi.
Rồi tiếp:
Sư muội nghe nói về cảnh ở trường thi bao giờ chưa?
Vương Anh Tư nói:
Mấy năm trước Đại huynh muội tham gia thi đạo, muội cũng từng tới xem rồi. Ở đó phải có tới trên vạn người ấy. Cứ hai huyện lại chung nhau một địa điểm thi, phủ Thiệu Hưng có tám huyện nên phải thi vào bốn ngày, trước khi vào cửa còn phải bị lục soát khắp người cơ…..
.
Nói đến đây, nàng chợt hiểu ra vì sao ban nãy thần thái của Trương Nguyên lại kì quái như vậy, đôi má nàng bỗng ửng hồng lên như hai trái cà chua.
Trương Nguyên dường như không chú ý tới khuôn mặt đã đỏ lựng lên của nàng, chỉ chuyên tâm vào viết chữ, nói:
Đúng vậy, kỳ thi phủ ở hai huyện Sơn Âm và Hội Kê lần này được sắp xếp vào mùng chín tháng tư, thí sinh tham gia thi phải lên tới trên dưới có ba nghìn người, đến lúc đó phải chen nhau vào lều thi rồi.
Lát sau, khi đã viết xong lá thư, hắn đưa cho Vương Anh Tư, nói:
Sư muội chuyển cho thầy giùm ta nhé. Giờ ta phải cáo- Đợi ta từ Tùng Giang trở về sẽ lại đến bái kiến thầy.
Vương Anh Tư đã hết đỏ mặt, đáp:
Chúc Giới Tử sư huynh lên đường bình an.
Trương Nguyên vái chào, bước ra khỏi thư phòng, vừa đi vừa nghĩ:
“Có vở diễn tên là “Nữ Phò mã”, kể rằng có một tài nữ vì muốn tìm chồng mà đã thi đỗ Trạng Nguyên. Điều này trên thực tế sao có thể xảy ra được, bởi trước khi vào trường thi còn phải cởi áo lục soát rất nghiêm ngặt. Thi đồng sinh thì không nói, chứ nghe nói thi hương, thi hội thì đến khi lục soát trước khi vào phòng thi, thậm chí ngay đến cả cái khố cũng không được giữ lại, tất tật phải cởi sạch không còn chút gì trên người, đàn bà làm sao trà trộn vào trong được? Thái Bình Thiên Quốc, nam nữ bình đẳng, thế nhưng chuyện nữ Trạng Nguyên chỉ là bịa ra mà thôi.”
Lại nghĩ:
“Anh Tư sư muội nếu dự thi thì cũng được, vài năm trước khi chưa dậy thì thì cũng không vấn đề gì, phía trên vẫn “bằng phẳng”, bên dưới thì đã có khố che, vẫn có thể trà trộn vào trong. Còn bây giờ thì, ây ya...”
Trương Nguyên lắc lắc đầu, nếu còn nghĩ nữa thì sẽ nghĩ tới mấy chuyện không nên nghĩ tới kia rồi, Hắn liền dẫn Mục Kính Nham và Vũ Lăng ra khỏi phủ của thầyVương rồi tới bờ tây hồ Đông Đại, hướng bước về phía bắc hai dặm rồi rẽ sang hướng tây, phút chốc đã tới cổng lớn Thương thị. Thương Chu Đức nghênh đón hắn tới chính sảnh, cười nói:
Đoán giờ này chắc đệ đã tới rồi, ta chuẩn bị ngày mai tiễn đại tẩu và tiểu Lan, tiểu Huy vào kinh, Ban đầu ta vốn định chỉ tiễn họ tới Hàng Châu rồi sẽ quay về, nhưng thiết nghĩ tẩu ấy là phận nữ nhi, hai chị em Cảnh Lan, Cảnh Huy thì còn quá nhỏ, mặc dù đã có người hầu đi theo nhưng ta vẫn không yên lòng. Bởi vậy nên quyết định sẽ tiễn họ tới tận Kinh Thành luôn, cả đi cả về chắc cũng phải mất ba, bốn tháng. Nhưng có một điều khiến ta cũng được an ủi phần nào, đó chính là hôm qua đã nhận được tin đệ đỗ đầu kì thi huyện, thật quá tốt rồi, vừa hay ta cũng muốn báo tin vui với đại huynh ta luôn.
Trương Nguyên nói:
Vậy ngày mai ta cũng tới tiễn.
Rồi kể với Thương Chu Đức việc sắp tới hắn cũng phải đi Tùng Giang. Thương Chu Đức hỏi hắn ngày nào lên đường, hắn đáp:
Sáng sớm ngày hai mươi sẽ khởi hành, bởi hai mươi chín tháng hai đã là sinh thần của Đạm Nhiên rồi.
Thương Chu Đức cười nói:
Giới Tử đệ đúng là chu đáo quá, đến ta còn quên mất sinh nhật của tiểu muội mình. Ha ha, “nhàn sinh nhật” ấy mà, nếu không có người nhắc tới thì ta hay quên lắm.
Người Thiệu Hưng gọi những năm sinh nhật mà không vào những năm tròn chục như 10, 20, 30 .. . là nhàn sinh nhật và cũng không coi trọng lắm.
Thương Chu Đức bảo Trương Nguyên ngồi đợi một lát để gã vào nói với mọi người một số chuyện, lát sau bước ra, nói:
Ta đã báo với đại tẩu một tiếng rồi, đợi qua sinh nhật của Đạm Nhiên sẽ lên đường. Lần này bọn họ vào kinh không biết bao giờ mới có thể trở lại...
Ánh chiều tà dần buông, Thương Chu Đức giữ Trương Nguyên ở lại dùng cơm. Sau bữa cơm chiều, Thương Chu Đức phái thuyền đưa chủ tớ Trương Nguyên tới cầu Bát sĩ của Sơn Âm. Lần này Trương Nguyên không gặp Thương Đạm Nhiên, có lẽ Thương Chu Đức nghĩ trời đã tối, nam nữ chưa kết hôn mà gặp nhau e là không tiện lắm. Khi Trương Nguyên đang đứng trên cầu thì ánh trăng tròn vành vạnh đã lên cao quá đầu. Mười lăm trăng sang, mười sáu trăng tròn, biết bao giờ mới được cùng nàng thưởng trăng đây?
Hai mươi chín tháng hai là sinh nhật của Thương Đạm Nhiên. Trương Nguyên đã tới dinh thự nhà họ Thương từ sáng sớm, thấy cảnh tượng trước cổng nhà họ Thương vô cùng náo nhiệt , người ra kẻ vào hết sức bận rộn. Hai cỗ xe ngựa đã đậu sẵn bên góc tường cạnh cổng, đám gia nô Thương thị thấy Trương Nguyên tới thì đều vui vẻ nói:
Trương công tử đến rồi, có thể khởi hành rồi.
Trương Nguyên hỏi đi đâu, họ đáp là tới Hạnh hoa tự xem hội Quan Âm. Hôm nay là ngày Đại tiểu thư Đạm Nhiên ra đời, đi Hạnh hoa tự thắp hương cầu Quan Âm sẽ vô cùng may mắn.
Trương Nguyên cười nói:
Mẫu thân của ta hôm nay cũng đi chùa Đại Thiện từ sáng sớm, chùa Đại Thiện cũng có hội Quan Âm.
Thương Chu Đức đi tới nói:
Hôm nay là “Quan Âm đản” mà, nơi nào cũng tổ chức hội Quan Âm. Thực ra thì Hạnh Hoa tự chỉ là một căn miếu nhỏ, chỉ là vì xung quanh đó có rất nhiều cây hạnh, tháng hai trời ấm, là thời điểm mà hoa hạnh nở rộ nhất, nam thanh nữ tú ở Hội Kê đều tới đạp thanh(giẫm lên cỏ) ngắm hoa đương nhiên không thể không ghé qua hạnh hoa tự dâng hương bái phật được.Bởi vậy nên hội Quan Âm tháng hai của Hạnh Hoa tự là rất nổi tiếng đó.
Hai tỳ nữ đưa Thương Đạm Nhiên ra cửa, hôm nay nàng mặc một bộ váy mới màu lá sen, dung mạo như hoa làm đắm say lòng người. Nàng đứng bên cỗ xe ngựa vén áo thi lễ với Trương Nguyên, ánh mắt e lệ chỉ dám liếc qua hắn một chút rồi vội vàng lên xe. Tiểu tỷ muội Cảnh Lan, Cảnh Huy cũng thi lễ với hắn rồi cùng cô cô Đạm Nhiên lên xe. Phó thị và Kỳ thị thì ngồi trên một cỗ xe ngựa khác.
Thương Chu Đức hỏi Trương Nguyên có muốn ngồi kiệu mây hay không, Trương Nguyên nói:
Đi bộ có thể ngắm cảnh, cũng không tới ba dặm đường mà.
Rồi hắn rảo bước nhanh theo xe ngựa, tới bờ tây hồ Đông Đại thì gặp một chiếc thuyền ô bồng đang đậu trên bến, đây chính là thuyền của Kỳ Bưu Giai.
Trương Nguyên chắp tay cười nói:
Hổ Tử hiền đệ cũng tới ư?
Kỳ Bưu Giai thấy Trương Nguyên thì tỏ ra có chút bối rối, bây giờ vai vế giữa họ vẫn còn ngang hàng với nhau, sau hai năm nữa khi Thương Cảnh Lan tiểu thư đính hôn với y rồi thì y sẽ phải gọi Trương Nguyên là cô phụ (chú), bởi Thương Cảnh Lan phải gọi Đạm Nhiên là cô. Ây ya, như vậy thì đúng là thiệt cho Kỳ Bưu Giai quá .
Kỳ Bưu Giai đáp lễ với Trương Nguyên rồi quay sang thi lễ với đám người Thương Chu Đức và Kỳ thị, Phó thị. Sau đó cả đoàn người cùng nhau bước vào Hạnh Hoa tự. Lúc đi vào, Kỳ Bưu Giai nói với Trương Nguyên:
Giới Tử huynh, sau giờ ngọ hôm nay Khải Đông tiên sinh sẽ phải rời Sơn Âm để về kinh đó, Giới Tử huynh không đi tiễn sao?
Trương Nguyên nói:
Khải Đông tiên sinh phải vào kinh rồi ư, vậy ta nhất định phải đi tiễn rồi.
Kỳ Bưu Giai nói:
Bộ Lại gửi công văn tới, bổ nhiệm Lưu tiên sinh làm Hành nhân tư chính, còn có cả thư do chính tay Diệp thủ phụ đại nhân viết, Khải Đông tiên sinh muốn thoái thác cũng không được, chỉ có thể nhận lời vào kinh nhậm chức mà thôi.
Lại nói:
Lưu tiên sinh sẽ tới thư viện Đông Lâm ở Vô Tích thăm bạn trước rồi mới vào kinh.
Trương Nguyên nói:
Vậy được, đợi lát nữa ta sẽ đuổi theo, ở chùa Đại Thiện đúng không?
Kỳ Bưu Giai nói:
Lưu tiên sinh sẽ đi qua cầu Việt Vương .Sau giờ ngọ huynh cứ đứng chờ ở trên cầu là được,ta với huynh cùng đợi.
Vừa đi vừa nói chuyện, chẳng mấy chốc đã tới bên ngoài Hạnh Hoa tự. Những bông hoa hạnh đang kì nở rộ, bên ngoài chùa bạt ngàn những bông hoa hạnh trắng trắng đỏ đỏ. Hôm nay là hội Quan Âm, dòng người đổ về đông như nêm cối, kiệu xe chật ních bên ngoài. Những người thắp hương xong rồi thì chưa về ngay mà vẫn còn đứng dưới tán cây hạnh hoa như lưu luyến. Đa số đều đi thành từng cặp, nam nữ thanh niên, vợ chồng nông dân đều có cả. Dân chúng Giang Nam cho rằng Quan Thế Âm Bồ Tát chuyên quản việc sinh nở nên những người tới đây phần lớn đều là cầu tự. Thê tử của Thương Chu Khư là Phó thị sắp vào kinh gặp chồng, thành kính lễ bái mong được Quan Âm phù hộ cho một cậu quý tử để nối dõi tông đường.
Thương Đạm Nhiên hôm nay đội một chiếc mũ rộng vành vô cùng duyên dáng, có tấm khăn mỏng che trước mặt. Có lẽ là bởi lần trước tại Long Sơn đã bị tên lỗ mãng Đổng Tổ Thường quấy nhiễu nên lần này nàng mới cố ý giấu đi dung nhan xinh đẹp của mình. Nhưng trong mắt Trương Nguyên, việc đó giống như là ngọc quý phải có tấm nhiễu điều che lại vậy, càng làm tôn lên vẻ quý phái đoan trang của nàng. Phó thị và Kỳ thị bái lễ xong thì mỉm cười ra hiệu cho Thương Đạm Nhiên và Trương Nguyên vào bái lễ Bồ Tát. Khi hai người họ cùng khấn, Phó thị và Kỳ thị bốn mắt nháy nhau khẽ cười thầm.
Ra khỏi Hạnh Hoa tự, đoàn người cũng không về ngay mà ở lại ngắm hoa. Hoa hạnh này vô cùng nổi tiếng, có tất cả năm loại màu, đều vô cùng đẹp tươi rực rỡ. Trương Nguyên nhìn Thương Đạm Nhiên đang đứng dưới tán cây yêu kiều e lệ, gió xuân khẽ thổi làm tấm mạng che trước mặt nàng tung bay, dung mạo ấy còn đẹp hơn cả hoa.
Nấn ná gần nửa canh giờ, đoàn người mới lên đường trở về. Thương Chu Đức đương nhiên phải mời Trương Nguyên và Kỳ Bưu Giai tới Thương phủ dự tiệc. Trương Nguyên bảo Thương nhị huynh đợi một chút, hắn muốn tới phủ của Vương Tư Nhâm cách Hạnh Hoa tự không xa để hỏi thăm tin tức. Lão gác cổng của Vương phủ nói lão gia đi Tiêu Sơn vẫn chưa về. Vậy là Trương Nguyên không vào nữa mà cũng Kỳ Bưu Giai tới thẳng Thương thị dự tiệc. Vì sau đó hai người còn phải đi tiễn Lưu Tông Chu nên chỉ ăn uống qua loa rồi vội vàng theo bờ sông Phủ tới cầu Việt Vương đợi lão đi qua.
Khoảng nửa canh giờ sau, Lưu Tông Chu tiên sinh cưỡi một con lừa bước tới, theo sau lão là một người hầu, hành lý mang theo vô cùng ít ỏi. Lão đã ra đi trong lặng lẽ như vậy.
Chương 125:Bức tranh tĩnh lặng.
Trương Nguyên biết Lưu Tông Chu vốn sống rất thanh bần, hôm nay tận mắt trông thấy thì không khỏi bùi ngùi. Hai mươi năm sau, giặc cỏ sẽ xâm phạm biên giới khiến cho hoàng đế Sùng Trinh bị tổn thất nặng nề.
Khi hoàng đế trưng cầu đối sách từ phía các quần thần, Lưu Tông Chu cho rằng phải đặt nhân nghĩa lên hàng đầu, chỉ nên dựa vào hiền tài. Ý kiến này nếu áp dụng vào thời bình thì được, còn vào lúc thiên hạ đại loạn thế này thì còn xét gì tới quân tử, rồi nhân nghĩa nữa?
Nếu cứ quân tử nhân nghĩa thì khi nước mất nhà tan, hẳn chỉ có nước cùng đường nhịn đói. Sùng Trinh từng muốn dùng một thầy tu người Tây là Johann Adam Schall von Bell để phát triển việc chế tạo súng đạn và vũ khí, nhưng Lưu Tông Chu kiên quyết phản đối, cho rằng Johann Adam Schall là phần tử cực đoan, vũ khí không có lợi gì cho việc thành bại, cái mà đại quân của đất nước phải kiên trì cho tới cùng là nhân nghĩa mà Khổng tử và các bậc thánh hiền đã truyền lại.
Lưu Tông Chu chính là vị Đại Nho truyền thống cuối cùng của triều Minh, ông kiên quyết không chịu tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật mới mà chỉ tôn sùng đạo Nho một cách mù quáng. Ông cùng với Hoàng Tông Hy, Cố Viêm Vũ, Vương Phu Chi là ba nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất, để rồi sau đó đã hình thành nên những bè phái theo mỗi người, nhưng dù nói thế nào đi chăng nữa, Lưu Tông Chu cũng vẫn là một vị nho gia cương trực liêm chính, không a dua nịnh bợ, và tư tưởng của ông thì có giá trị cho tới tận muôn đời sau, chỉ có điều đáng tiếc là ông sinh ra không hợp thời nên cuối cùng đã phải dùng cái chết để bảo vệ sự trong sạch và những quan điểm lý luận của mình, như vậy đã là đáng để người đời phải khâm phục hơn rất nhiều kẻ cùng thời rồi.
Trương Nguyên đột nhiên tỏ ra có chút trầm tư, nhìn theo bóng vị nho gia cuối cùng của nhà Minh đang từ từ tiến lại, cùng một lừa và một nô bộc ra đi trong lặng lẽ như vậy. Khuôn mặt Trương Giới Tử càng lúc càng tỏ ra nghiêm túc. Kỳ Bưu Giai bên cạnh cảm thấy có chút kì lạ, nghĩ chẳng lẽ Trương Giới Tử này định cãi nhau với Khải Đông tiên sinh một trận hay sao, làm gì mà mặt mà khó đăm đăm thế nhỉ?
Lưu Khải Đông đã cáo biệt tất cả các đệ tử ở chùa Đại Thiện nên không ngờ vẫn còn có hai người đang đợi mình trên cầu Việt Vương, hơn nữa hai người này lại là hai thiếu niên anh tuấn mà ông đánh giá rất cao. Lão mỉm cười vui vẻ, xuống lừa, dắt dây cương bước qua chỗ Trương Nguyên và Kỳ Bưu Giai. Trương Nguyên và Kỳ Bưu Giai lập tức thi lễ chào, Trương Nguyên nói:
Khải Đông tiên sinh, tiểu tử nghe nói tiên sinh phải rời khỏi Sơn Âm, thực sự cảm thấy nuối tiếc, chúng học trò đã đứng đợi ở đây từ rất lâu rồi.
Lưu Tông Chu nhìn Trương Nguyên một lượt, nói:
Mấy tháng không gặp, mắt ngươi đã khỏi hẳn, giờ đã thành một thiếu niên tuấn tú rồi đấy à, ha ha, đính hôn được với tiểu thư xinh đẹp xuất thân danh giá, đỗ đầu kì thi huyện, tới đây đã đủ đắc ý rồi chứ?
Trương Nguyên khom người nói:
Tiểu tử không dám, ơn dạy bảo của Khải Đông tiên sinh, học trò không ngày nào quên.
Lưu Tông Chu hỏi:
Không quên cái gì?
Trương Nguyên nói:
Đạo học của Thánh hiền ạ.
Lưu Tông Chu chăm chú nhìn Trương Nguyên một lát, nét mặt giãn ra, nói:
Nói rất hay. Khi nào ra làm quan nhớ phải luôn lấy đạo nghĩa để trị dân đó.
Rồi quay sang Kỳ Bưu Giai, nói:
Sau này ngươi có thể theo Trương Nguyên rèn luyện, giúp đỡ nhau học hành.
Kỳ Bưu Giai chỉ đáp một câu:
Vâng.
Lưu Tông Chu chắp tay với hai người, nói:
Vậy xin bái biệt tại đây, ba năm sau nếu ta chưa bị trục xuất ra khỏi kinh thì hy vọng có thể gặp được hai ngươi đang vào kinh thi hội.
Rồi lão leo lên lừa chậm rãi bước qua cầu Việt Vương, quay đầu lại nói:
Trương Nguyên, nếu rảnh có thể tới Vô Tích bái kiến Cảnh Dật tiên sinh, sẽ rất có lợi cho ngươi sau này đó.
Trương Nguyên đáp “vâng”, nhìn Lưu Tông Chu cưỡi lừa đi xa rồi mới quay sang hỏi Kỳ Bưu Giai:
Hổ Tử, Cảnh Dật tiên sinh mà Lưu tiên sinh mới vừa nói đó là ai vậy?
Kỳ Bưu Giai mười hai tuổi trợn mắt kinh ngạc nói:
Đến Cảnh Dật tiên sinh mà cũng không biết, chính là Cao Cố Đông Lâm đó.
Trương Nguyên nói:
Ồ, là Cố Hiến Thành sao, ta biết ta biết, đã nghe danh từ lâu, nhất định phải đi bái kiến mới được.
Ông cụ non Kỳ Bưu Giai không nhịn được cười nhưng vẫn cố tỏ vẻ nghiêm nghị, đáp:
Cố Hiến Thành tiên sinh năm ngoái đã đi về cõi tiên rồi, vị Cảnh Dật tiên sinh mà Lưu tiên sinh nói đó là Cao Phàn Long.
Trương Nguyên “ Ách “ một tiếng, hóa ra người sáng lập ra phái Đông Lâm là Cố Hiến Thành đã qua đời năm ngoái rồi. Ông chính là người đã nói câu:
“Tiếng gió tiếng mưa tiếng đọc sách, tiếng nào cũng vào tai; việc nhà việc nước việc thiên hạ, việc nào cũng quan trọng.”
Đây là câu đối rất nổi tiếng. Trương Nguyên cười nói:
Đời người chỉ chết có một lần, ta sớm muộn gì cũng phải đi bái kiến Cố Hiến Thành tiên sinh mới được.
Kỳ Bưu Giai nói:
Sau kì thi phủ tháng tư của Giới Tử huynh, chúng ta cùng nhau tới thư viện Đông Lâm nghe Cảnh Dật tiên sinh dạy học, thế nào?
Trương Nguyên thầm nghĩ:
Bước vào thư viện Đông Lâm thì coi như là đã ngả theo phe của đảng Đông Lâm rồi, việc này không vội. Hoạn đảng, đảng Đông Lâm ta tạm thời không nghiêng về phe nào cả, hiện giờ việc cấp bách vẫn là học bát cổ, đây là nước cờ đầu.
Nói:
Để sau hãy nói. Muốn ra ngoài du học cũng cần phải có công danh sinh đồ mới được.
**Đảng Đông Lâm: là một tập đoàn chính trị phản đối triều chính, giúp dân thanh minh, không sợ cường quyền, đảng này do các quan lại hoặc các phần tử trí thức có tiếng tăm hoặc địa vị ở Giang Nam làm chủ)
Kỳ Bưu Giai gật đầu nói:
Giới Tử huynh nói rất phải, vậy sang năm hãy tính.
Mục Kính Nham và Vũ Lăng và hai người hầu của Kỳ Bưu Giai đang đứng đợi ở một bên, Vũ Lăng lúc này mới tiến lên hỏi Trương Nguyên:
Thiếu gia, bây giờ chúng ta về nhà hay là tới nhà Thương tiểu thư ạ?
Trương Nguyên hỏi kỳ Bưu Giai:
Hổ Tử hiền đệ định đi đâu?
Kỳ Bưu Giai thực lòng rất muốn tới thăm Thương Cảnh Lan, lần này từ biệt ít nhất cũng phải ba năm, nhưng trước mặt Trương Nguyên nói ra thì không tiện, không trả lời thẳng vào vấn đề mà nói kiểu đầy ẩn ý:
Thuyền của ta còn đang đợi ở bến Đông Đại kia, ta lên thuyền đây.
Trương Nguyên cười nói:
Vậy ta lên thuyền cùng đệ.
Hai người cùng ngồi thuyền tới dinh thự nhà họ Thương.
Thương Chu Đức ở hậu viện mời Trương Nguyên và Kỳ Bưu Giai vừa thưởng thức trà vừa tán gẫu, , phó thị, kỳ thị, Cảnh Lan, Cảnh Huy, còn có Thương Đạm Nhiên đều ở đó, giờ họ đều là người một nhà cả. Nghe chuyện ban nãy hai người đi tiễn Lưu Tông Chu, Thương Chu Đức cười nói:
Xem ra Khải Đông tiên sinh cho rằng cả hai người đều có khả năng tham gia kì thi hội năm sau, ha ha. Kỳ Hổ Tử ba năm nữa mới mười lăm tuổi, có tiến sĩ trẻ như vậy không?
Lại nói:
Bất luận thế nào, ba năm sau vẫn phải để Hổ Tử và Cảnh Lan đính hôn với nhau.
Trái lại, Thương Cảnh Lan - một người rất thích đọc “Tam quốc”, tính tình vốn thẳng thắn, lại nhanh mồm nhanh miệng, giờ trước mặt Kỳ Bưu Giai lại tỏ ra rất đỗi thẹn thùng, vừa nghe Thương Chu Đức nói vậy thì “ A “ lên một tiếng kinh hãi rồi bỏ chạy.
Phó thị, Kỳ thị bật cười.
Trương Nguyên, Kỳ Bưu Giai dùng cơm tối ở Thương thị xong rồi mới ngồi thuyền trở về Sơn Âm. Đêm nay Trương Nguyên sẽ nghỉ sớm bởi ngày mai còn phải lên đường đi xa.
Sáng sớm ngày hai mươi, Trương Nguyên dậy sớm rửa mặt, dùng xong bữa sáng thì cùng với Vũ Lăng, Mục Kính Nham, Mục Chân Chân và gia nô nhà tỷ phu là Lục Đại Hữu đi tới cầu Bát Sĩ. Tối qua Thương Chu Đức nói sẽ phái thuyền tới đón Trương Nguyên ở cầu Bát Sĩ để hắn cùng Thương Chu Đức và ba mẹ con Phó thị lên đường đi Gia Hưng. Đây là lần đầu tiên Trương Nguyên đi xa nhà như vậy, Trương mẫu Lã thị cảm thấy rất không yên tâm, dặn dò hết chuyện nọ tới chuyện kia. Mặc cho con trai hết lời ngăn cản, bà vẫn cố gắng bước từng bước nặng nhọc tới tận cầu Bát Sĩ để tiễn, suốt quãng đường không ngớt lời dặn dò con trai phải cẩn thận đề phòng nước lửa...
Trên đường phải ăn đồ sạch sẽ, thà ăn ít một chút chứ đừng nên ăn quá nhiều, ra ngoài khó tránh khỏi gặp những điều thị phi, trong tình huống ấy thì nên nhẫn nhịn chớ làm to chuyện, rồi lại quay sang dặn dò Vũ Lăng:
Tiểu Vũ không được ham chơi, nhớ hầu hạ thiếu gia cho tốt.
Nhìn Mục Kính Nham, Mục Chân Chân, nói:
Chân Chân cũng phải chú ý một chút.
Mục Chân Chân cũng là lần đầu tiên đi xa nhà, trong lòng vô cùng hồi hộp thích thú, đáp:
Thái thái yên tâm, tiểu tỳ nhất định sẽ dốc sức hầu hạ thiếu gia thật tốt...
Mục Kính Nham và Lục Đại Hữu đều nói Trương mẫu Lã thị cứ yên tâm, giờ đường đi rất bình an, sẽ không xảy ra chuyện gì bất trắc cả.
Trương Nguyên không cảm thấy phiền chút nào khi mẫu thân cứ luôn miệng nhắc nhở như vậy, bởi điều đó chứng tỏ mẫu thân hết lòng quan tâm đến hắn. Trương Nguyên mỉm cười nói:
Hài nhi đã mười sáu tuổi rồi, đã là thanh niên rồi, mẫu thân còn còn có gì phải lo lắng nữa.
Một câu thôi mà làm cho Trương mẫu Lã thị không khỏi bật cười.
Lúc này, Trương Đại, Trương Ngạc, Trương Trác Như và Trương Định Nhất đều đã tới cầu Bát Sĩ đưa tiễn, chuyện trò rôm rả một lúc thì đám người Trương Nguyên mới lên thuyền. Đúng lúc này thì Lỗ Vân Cốc chạy đến, đưa cho họ một ít thuốc viên đã bào chế sẵn, có loại để trị tiêu chảy, trị đau đầu, trị say thuyền, đều được đựng trong bình có dán nhãn đàng hoàng, phòng trên đường cần dùng gấp. Trương Nguyên tạ ơn Lỗ Vân Cốc rồi lệnh cho Vũ Lăng nhận lấy.
Con thuyền mui trắng từ từ rẽ sóng rời xa khỏi cầu Bát Sĩ, Trương Nguyên đứng ở mũi thuyền, nhìn theo mẫu thân và các huynh đệ họ hàng vẫn đứng yên trên cầu. Cảnh tượng này thực giống như một bức tranh tĩnh lặng vậy.
Đường sông có khúc ngoặt, lúc này không thể nhìn thấy cầu Bát Sĩ được nữa, Trương Nguyên mới quay vào trong khoang thuyền ngồi xuống, chợt nhớ tới một chuyện, quay sang hỏi Mục Chân Chân:
Chân Chân, ngươi có mang theo côn Tiểu Bàn Long không?
Mục Chân Chân nói:
Á, còn phải mang theo côn ư?
Trương Nguyên cười nói:
Phòng khi bất trắc ấy mà. Ngươi có mang theo phải không?
Mục Kính Nham cười nói:
Thiếu gia yên tâm, có chuẩn bị đầy đủ cả rồi, chiếc côn này tiểu nhân luôn mang theo bên mình.
Chẳng mấy chốc con thuyền đã cập bến Đông Đại ở hậu viện Thương thị, đây là một bến thuyền nhỏ của nhà họ Thương. Thường thì các gia đình giàu có của phủ thiệu hưng đều có một bến thuyền nhỏ của riêng mình.
Thương Đạm Nhiên và mấy người nhà họ Thương đã đứng đợi sẵn trên bờ. Phó thị và Cảnh Lan, Cảnh Huy đã ngồi trên một con thuyền khác. Khi thuyền Trương Nguyên cập bến, hắn nhảy lên bờ, nói lời từ biệt với người nhà họ Thương, cuối cùng đi tới trước mặt Thương Đạm Nhiên. Thiếu nữ xinh đẹp rạng ngời đưa ánh mắt thẹn thùng e lệ nhìn hắn, hạ giọng nói:
Đi sớm về sớm, thượng lộ bình an.
Trương Nguyên hạ giọng nói:
Ta biết rồi, ta sẽ rất nhớ nàng...
Đôi má Đạm Nhiên tức thì ửng hồng. Phút giây ngắn ngủi mà xúc động lòng người biết bao, đều là những lời tự tận đáy lòng... Ừm, có lẽ đó là...là... tình yêu….
Sau khi chào từ biệt Đạm Nhiên. Hai con thuyền rẽ sóng, một trước một sau dần rời xa khỏi bến thuyền nhà họ Thương.
Đám người Thương Chu Đức ngồi trên con thuyền mui trắng làm từ những phên tre, bên ngoài được sơn một lớp dầu của cây trẩu để giữ cho lớp gỗ tre bên trong không bị mòn.
Những thuyền đi đêm đều là loại thuyền mui trắng này, chắc là để ban đêm dễ nhận ra, tránh khỏi việc các thuyền đụng nhau.
Đám người Thương Chu Đức ngồi trên thuyền sành ngũ minh, đây là loại thuyền dân lớn nhất ở Thiệu Hưng, sành ở đây thực chất là vỏ trai được mài mòn tạo thành, dưới ánh nắng phản chiếu lên màu rất đẹp, khoang thuyền rộng như một căn nhà cỡ nhỏ, phân thành bốn phòng riêng biệt.
Phó thị và hai con gái cùng ba tỳ nữ ở gian đầu tiên, gian giữa là của sáu gia nhân theo hầu, Thương Chu Đức và bốn người hầu ở gian cuối cùng. Bốn người lái thuyền thì ở khoang nhỏ nhất cuối cùng để tiện làm cơm. Trương Nguyên ngồi trên con thuyền tam minh sành, loại thuyền này nhỏ hơn thuyền ngũ minh sành rất nhiều, có ba gian, gian cuối cùng nhỏ nhất là chỗ người lái thuyền ở, gian giữa là dành cho Mục Kính Nham và Lục Đại Hữu.
Mục Chân Chân không thể ở chung phòng với Lục Đại Hữu, đương nhiên chỉ có thể ở cùng với Trương Nguyên và Vũ Lăng thôi.
Tỳ nữ mà, đương nhiên phải hầu hạ bên cạnh thiếu gia suốt quãng đường dài từ kênh đào Tây Hưng trên sông Vận tới tận Tiêu Sơn.
Đây là lần đầu tiên Trương Nguyên ngồi thuyền lâu như vậy, cảm giác rất mới mẻ, nghe tiếng mái chèo rẽ nước mà trong lòng cảm thấy bình an nhẹ nhõm lạ thường.
Ánh mặt trời buổi trưa đã chiếu xuống, mở rèm lên, hắn trông thấy từ thuyền ngũ minh sành bên kia có một cánh tay nhỏ đang ra sức vẫy mình, kêu lớn:
Trương công tử ca ca.
Trương Nguyên cười rộ lên, sai Vũ lăng lấy cho mình cặp kính mắt đeo vào, quả nhiên có thể nhìn rõ tiểu Cảnh Huy. Tiểu Cảnh Huy thấy hắn đeo một vật rất lạ lên mắt, vội hỏi:
Trương công tử ca ca, huynh đeo cái gì lên mắt vậy?
Trương Nguyên nói:
Lát nữa thuyền dừng lại ta sẽ nói cho muội biết.
Chương 126: Kể chuyện đêm trên thuyền.
Hai vợ chồng người lái thuyền, người trước người sau dùng chân đạp mái chèo, trong tay người chồng còn có một cái cây lái thuyền để tiện cho việc điều chỉnh phương hướng của con thuyền.
Nước sông ngủ say bình yên không một gợn sóng, dù thuyền đang đi ngược dòng nhưng tốc độ không hề chậm, mới một thời thần(đơn vị giờ theo cách tính thời gian xưa, một thời thần thì bằng hai tiếng đồng hồ thời nay) đã đi được hơn hai mươi dặm
Gần trưa, thuyền nương đun một ít canh nóng và bưng lên một ít bánh ngọt cho đám người Trương Nguyên ăn tạm cho đỡ đói. Mọi người ăn một chút, sau bữa trưa thì tiếp tục lên đường.
Phong cảnh hai bên bờ ngắm mãi cũng thấy nhàm, Trương Nguyên liền lấy một quyển “Tính lý đại toàn” ra xem, đây cũng là cuốn sách mà người tham gia khoa cử nhất định phải đọc.
Tổng cộng có bảy mươi cuốn, Trương Nguyên đã đọc được bốn mươi lăm cuốn đầu, hai mươi lăm cuốn sau hắn cũng mang theo để đọc. Đọc được mấy trang thì thấy mắt khá mỏi, đúng là nghe đọc sách vẫn dễ chịu hơn.
Vậy là hắn bèn sai Vũ Lăng tới đọc sách cho hắn nghe. Vũ Lăng ấp a ấp úng, mãi mới đọc xong được nửa trang sách. Trương Nguyên bực mình, nói:
Thôi thôi, để ta tự xem còn hơn, Tiểu Vũ, ngươi chả tiến bộ lên chút nào cả.
Vậy là hắn không đọc sách nữa mà mài mực chuẩn bị luyện chữ. Mục Chân Chân ngồi xổm một bên dõi theo hành động của hắn.
Trời đã xâm xẩm tối, hai con thuyền mui trắng lần lượt cập bến tại trấn Tiền Thanh.
Trấn Tiền Thanh nằm giữa kênh đào Tây Hưng của sông Vận, giao thông đường thủy hết sức thuận tiện. Đây cũng là một thị trấn lớn, giàu có và sầm uất.
Khi thuyền của Trương Nguyên cập bến, Cảnh Lan, Cảnh Huy đã đứng trên bờ cười tủm tỉm dõi theo thuyền của hắn.
Trương Nguyên nhảy lên bờ, tiểu Cảnh Huy liền tiến lên hỏi:
Trương công tử ca ca ban nãy đeo cái gì lên mũi đó, chẳng lẽ cũng là kính viễn vọng ư?
Trương Nguyên liền đem kính mắt đưa cho tiểu Cảnh Huy xem. Tiểu Cảnh Huy cũng muốn đeo thử, vừa đeo lên đã thấy hoa mắt chóng mặt, vội vàng tháo xuống, lắc đầu nói:
Cái kính này chẳng có gì hay cả, không tốt bằng kính viễn vọng.
Thương Cảnh Lan cũng chạy tới đeo thử, đảo mắt một lượt rồi vội vàng tháo xuống, cười rồi nói vừa đeo lên đã nhức hết cả đầu.
Thương Chu Đức lại gần, nói:
Giới Tử, chúng ta tới thị trấn dùng cơm hay mua đồ ăn sẵn lên thuyền ăn đây?
Trương Nguyên nói:
Ăn cơm trên thuyền đi ạ.
Thương Chu Đức liền sai người hầu tới cửa hiệu trên thị trấn mua thức ăn về.
Thuyền nương đã nấu sẵn cơm, không tới nửa canh giờ, đồ ăn đã chuẩn bị xong đâu vào đấy, Thương Chu Đức mời Trương Nguyên lên thuyền của gã dùng cơm.
Tiểu Cảnh Huy chạy tới nói:
Trương công tử ca ca đừng về thuyền kia nữa, ở bên này nói chuyện với bọn muội đi.
Lại quay sang năn nỉ Thương Chu Đức:
Thúc phụ, được không?
Trời đã về đêm, làm vậy thì không tiện cho lắm, Thương Chu Đức mỉm cười nói:
Để mai đi, ngày mai sẽ mời Trương công tử qua bên này, để tỷ muội hai người đọc sách cho hắn nghe. Hắn có biệt tài nghe một lần sẽ không bao giờ quên, hai người thử kiểm tra hắn xem.
Quãng đường từ Hội Kê đến trấn Tiền Thanh dài một trăm lẻ năm dặm, từ trấn Tiền Thanh tới Tây Lăng của Tiêu Sơn khoảng sáu mươi dặm.
Quãng đường sông này ban đêm vô cùng yên tĩnh, hai chiếc thuyền nhà họ Thương tiếp tục lên đường, theo dòng sông Vận từ trấn Tiền Thanh hướng về phía Tây Lăng, trên đường có rất nhiều tàu thuyền qua lại.
Ban ngày trời quang mây tạnh, khi màn đêm buông xuống có rất nhiều sao trời.
Được ánh sao soi tỏ, con thuyền mui trắng giống như một con cá lớn vượt sóng tiến lên, tốc độ dường như còn nhanh hơn cả ban ngày.
Trương Nguyên mở rèm ngắm cảnh đêm một lúc, cảm thấy gió thổi có chút lạnh liền hạ rèm xuống.
Vũ Lăng đã ngồi ê hết cả mông, liên tục ngáp ngắn ngáp dài. Mục Chân Chân thì vẫn tỉnh, giữ thẳng lưng ngồi một bên, thấy Trương Nguyên nhìn qua, vội hỏi:
-Thiếu gia có gì sai bảo ạ?
Trương Nguyên cười nói:
Ngồi thuyền đêm là phải kể chuyện, không thì buồn chết. Chân Chân kể một câu chuyện ta nghe coi.
Vũ Lăng đang buồn ngủ díp cả mắt, nghe thế thì lại tỉnh như sáo, nói:
Phải đó, Chân Chân tỷ mau kể chuyện đi.
Mục Chân Chân thẹn thùng nói:
Tiểu tỳ không biết kể chuyện đâu.
Trương Nguyên nói:
Cứ kể bừa một chuyện đi xem nào, nàng kể xong thì ta sẽ kể, coi như để giết thời gian.
Mục Chân Chân ngẫm nghĩ một chút, ngại ngùng nói:
Vậy tiểu tì sẽ kể một câu chuyện mà hồi xưa mẹ tiểu tì vẫn thường hay kể cho tiểu tì nghe.
Có một ông lão bán cà nọ, mỗi vụ cà chín đều bị người ta lấy cắp mất mấy trăm quả. Mấy năm liền rồi đều như vậy, lão tức lắm, bèn tới gặp điển sử ở khoa hình phòng tố cáo.
Điển sử bày cho ông lão một kế, đợi năm sau khi cà chín thì dùng kim cắm vào trong mỗi trái cà, nếu còn bị trộm thì hãy lên báo quan. Năm sau cà vẫn bị trộm, điển sử bèn lệnh cho mấy sai nha vào thành điều tra tất cả những người bán cà, quả nhiên điều tra được có một nhà bán cà mà bên trong những quả cà đều có kim.
Điển sử bèn gọi ông lão trồng cà tới đối chất, hóa ra đây lại chính là hàng xóm của lão.
Thiếu gia, chuyện của nô tì đã kể hết rồi, nô tì kể không được hay mà.
Trương Nguyên khen:
Chân Chân kể khá lắm, đó là một điển sử rất thông minh. Tiểu Vũ, ngươi cũng kể một câu chuyện đi.
Quay đầu nhìn sang, thấy Vũ Lăng đã nằm lăn ra ngủ từ bao giờ, hắn khẽ mỉm cười, đứng dậy đắp chăn cho y.
Mục Chân Chân thoáng đỏ mặt, nói:
Thiếu gia cũng muốn đi ngủ rồi sao?
Trương Nguyên nói:
-Hãy còn sớm, ta không ngủ được, để ta kể một câu chuyện cho nàng nghe. Chẳng biết sao ngồi trên thuyền này ta lại nổi hứng muốn kể chuyện và nghe chuyện, vậy mới lạ chứ!!!
Đại huynh Trương Đại sau này sẽ biên ra một cuốn bách khoa toàn thư có tên là “dạ hàng thuyền”(Chuyến thuyền đêm), những chuyện về thiên văn địa lý, chim thú trùng cá, nhân vật đời xưa, quy chế pháp luật đều đủ cả, ban đêm ngồi thuyền rất thích hợp để lấy ra kể.
Mục Chân Chân vui vẻ nói:
Được. Tiểu tỳ thích nhất là nghe kể chuyện đó.
Trương Nguyên uống một ngụm trà, rồi bắt đầu kể, chợt thấy thuyền khẽ lắc, có tiếng người chèo thuyền kêu lên:
Trương công tử, cẩn thận đèn lửa, sắp tới đoạn nước xiết đó.
Trương Nguyên đáp:
Biết rồi.
Liền đứng dậy thổi tắt đèn, nói với Mục Chân Chân:
Ngồi trong bóng tối vẫn kể chuyện được.
Mục Chân Chân ngồi chìm trong bóng tối, khẽ “vâng” một tiếng.
Trương Nguyên mở rèm lên, bên ngoài có sao soi sáng, không có trăng nhưng vẫn đủ nhìn rõ mặt người. Ánh sáng rọi vào bên trong khoang thuyền, khiến cho người ngồi trong thuyền cũng bớt cảm thấy e ngại.
Trương Nguyên nói:
Ta sẽ kể chuyện về một vị tú tài. Truyện kể rằng giáo quan của một học thự nọ nổi tiếng là nghiêm khắc, chư sinh huyện học chỉ cần phạm một lỗi nhỏ là sẽ bị gã phạt đánh ngay. Thời đó quyền uy của giáo quan rất lớn, không giống như bây giờ, giáo quan không quản nổi tú tài nữa.
Mục Chân Chân “ vâng” một tiếng, biểu thị nàng đang nghe.
Trương Nguyên tiếp tục kể:
Hôm đó có một tú tài phạm vào nội quy lớp học, giáo quan liền lệnh cho người, đi truyền vị tú tài ấy tới Minh Luân đường. Gã nổi trận lôi đình, gậy đã chuẩn bị xong xuôi, chỉ cần tú tài vừa đến một cái là sẽ cho ăn roi luôn.
Tú tài kia chạy tới, vừa bước vào sảnh đường đã vội vàng thi lễ nói:
“Học trò ban nãy tình cờ bắt được một món tiền, tính ra khoảng trăm hai mươi lượng, đang bận thu xếp món tiền đó nên tới chậm, mong tiên sinh thứ lỗi.”
-Giáo quan vừa nghe vậy thì quên béng mất chuyện phạt tú tài, hỏi y xem nhặt được món tiền đó ở đâu.
-Tú tài nói y khi đào vườn sau nhà mình lên thì bắt được.
-Giáo quan lại hỏi y định sẽ xử trí món tiền ấy như thế nào?
-T ú tài đáp y xuất thân bần hàn, muốn dùng chín trăm lượng bạc để mua ruộng, mua dinh thự, sắm nông cụ, còn dư lại một trăm lượng thì một nửa dùng để lo việc đọc sách, nửa còn lại sẽ đem biếu tiên sinh để cảm tạ công ơn tiên sinh đã dạy dỗ bảo ban ân cần cho y.
-Giáo quan mừng lắm, luôn miệng nói không dám nhận, rồi liền lệnh cho người chuẩn bị rượu thịt khoản đãi tú tài kia. Hôm đó thái độ của giáo quan vui vẻ cởi mở hẳn lên, chẳng có vẻ gì là một vị giáo quan nghiêm khắc thường ngày cả.
Rượu đã ngà ngà say, giáo quan chợt nhớ ra một chuyện, hỏi tú tài vội vã tới học thự như vậy thì có mang tiền theo không, lỡ may có kẻ nào trộm mất thì đúng là uổng phí.
-Vị tú tài đó đáp: “Học trò vừa sắp xếp xong đâu đấy cách sử dụng số bạc đó thì bị thê tử gọi dậy, tỉnh rồi, bạc cũng không còn nữa.”
Mục Chân Chân bụm miệng cười khanh khách, lại hỏi:
Thiếu gia, giáo quan kia có lại tức giận mà đánh tú tài một trận không?
Trương Nguyên cười nói:
Giáo quan cũng là người có văn hóa, đã khoản đãi người ta bao nhiêu là thức ăn ngon, rượu ngon như vậy rồi, lập tức trở mặt ngay làm sao được, còn về sau đó như thế nào thì ta cũng không rõ nữa, nghe truyện không nên truy vấn ngọn nguồn, nếu không sẽ chẳng còn gì thú vị nữa.
Mục Chân Chân mỉm cười đáp: “
Vâng, thiếu gia.
Trương Nguyên lúc này cũng ngáp một cái, nói:
Ta cũng mệt rồi, nằm nghỉ thôi.
Trong gian vừa đúng có ba chỗ nằm, Vũ Lăng ban nãy nằm ngoài cùng, Trương Nguyên hỏi:
Chân Chân, ngươi chọn chỗ nào?
Mục Chân Chân giọng khẽ run, đáp:
Tiểu tỳ nằm bên góc thôi, thiếu gia ngủ trước đi.
Trương Nguyên ra đầu thuyền rửa mặt, lúc sau quay lại hắn nằm vào chỗ giữa.
Một lúc lâu sau nữa Mục Chân Chân mới rón rén bò vào chỗ trong cùng, nhanh chóng chui vào trong chăn như sợ bị ma bắt mất vậy.
Trương Nguyên cười thầm, nghĩ bụng: “Ta đâu có phải tên háo sắc đâu, phụ thân Mục Chân Chân còn đang ở ngay khoang bên cạnh kia kìa, ta có gan to bằng trời cũng không dám ức hiếp nàng đâu.
Nếu là Tam huynh Trương Ngạc, chắc đã kéo ngay Mục Chân Chân vào trong chăn của mình rồi, tam huynh này có lúc cũng khiến người ta phải ngưỡng mộ ra phết.”
Suy nghĩ lung tung một hồi thì chìm vào giấc ngủ từ lúc nào không hay. Con thuyền nhẹ nhàng chao đảo lắc lư như chiếc nôi ru những người trên thuyền chìm sâu vào giấc ngủ, khi vừa mở mắt ra thì đã tới Tây Lăng Tiêu Sơn rồi.
Ngày hôm sau, Trương Nguyên sang thuyền của Thương Chu Đức để tỷ muội Cảnh Lan, Cảnh Huy đọc “Tính lý toàn thư” cho hắn nghe.
Cảnh Huy mới bảy tuổi nhưng đã biết được nhiều chữ hơn Vũ Lăng nhiều, đọc sách rất trôi chảy lưu loát, đọc được mấy trang cô bé lại dừng lại kiểm tra Trương Nguyên xem hắn đã thuộc hay chưa?
Trương Nguyên hễ đọc nhầm một chỗ là tiểu Cảnh Huy lại cười khanh khách, vui vẻ chỉ ra lỗi sai cho hắn. Chập tối hôm đó, thuyền đi qua sông Tiền Đường.
Bờ bắc sông Tiền Đường là Hàng Châu, hay còn gọi là Vũ Lâm. Cảnh Lan và Cảnh Huy lần đầu tiên trông thấy con sông lớn đến vậy, vui mừng thích chí chạy ra mui thuyền ngắm ánh mặt trời hòa vào làn nước trong xanh.
Hai tỳ nữ phải ra sức kéo tay hai tỷ muội họ để tránh xảy ra nguy hiểm.
Sông Tiền Đường có một con kênh nối hai bờ sông Đại Vận. Khi hai chiếc thuyền của Thương thị cập vào kênh thì chiếc thuyền ngũ minh sành khẽ đụng vào một con thuyền mui đỏ.
Trên bến có rất nhiều tàu thuyền đang đậu, lúc ra vào khó tránh khỏi va chạm vào nhau.
Người lái thuyền của Thương thị không để ý mà chỉ lo đậu thuyền của mình, đúng lúc đó thì một thanh niên ăn mặc rất kì quái nhảy ra từ chiếc thuyền mui đỏ lớn tiếng quát:
Là kẻ nào dám va vào thuyền của ta hả?
Trương Nguyên thấy gã thiếu niên này chỉ tầm mười hai, mười ba tuổi, đầu buộc một tấm khăn xanh, lại mang trên người áo lan của sinh đồ. Chắc không phải người này đã có công danh sinh đồ rồi chứ?
Nhưng trên đầu nó đâu có đội khăn vuông mà chỉ dùng một tấm khăn xanh trùm đầu mà thôi, rốt cuộc ăn mặc như vậy là như thế nào, áo lan của sinh đồ cũng có thể mặc vào tùy tiện như vậy sao?
Thương Chu Đức chưa kịp lên tiếng, từ chiếc thuyền mui đỏ lại truyền tới giọng nói của một vị phu nhân:
Lân nhi, không được gây sự, mau trở vào trong khoang đi.
Thiếu niên này dậm chân nói:
Chúng ta bị ức hiếp quá lắm rồi, phụ thân thì đang bị nhốt trong ngục, đến ngồi thuyền mà cũng không được ngồi yên, thật tức chết đi được.
Trương Nguyên trong lòng nghĩ thầm:
“Gã thiếu niên này là ai?”
Chương 127: Nữ anh hùng đầu tiên từ xưa đến nay.
Ra ngoài nên giữ gìn hòa khí, Thương Chu Đức chắp tay hướng về phía người thanh niên mặc áo xanh nói:
Sơ ý va vào thuyền của ngài, thật xin lỗi, thật xin lỗi.
Một nho sĩ khom người đi ra khỏi khoang thuyền, đứng thẳng trên mũi thuyền, toát lên khí phách của một nam tử hán, chiều cao cũng gần bằng lực sĩ râu vàng Mục Kính Nham, trông chừng ba mươi tuổi, mặc trên người bộ nho phục, nhưng nhìn vào y lại khiến cho Trương Nguyên cảm thấy có chút kỳ quặc.
Nghĩ rằng một nam tử hán khí phách như vậy, đáng ra nên khoác lên người bộ áo giáp, tay cầm binh khí mới đúng, hơn nữa trên nho phục của vị đại hán này lại còn đeo một chiếc thắt lưng ngũ sắc, đúng là không ra thể thống gì cả, vị nho sĩ vạm vỡ chắp tay với Thương Chu Đức nói:
Không sao, không sao, cháu trai của tại hạ trẻ người non dạ, nói năng vô lễ, các hạ chớ trách.
Thương Chu Đức chắp tay cười nói:
Là tại hạ đụng phải người trước, ta mới nên nói lời xin lỗi.
Tuy rằng cảm thấy vị nho sĩ to cao này ăn nói khiêm tốn lễ độ, nhưng vừa rồi nghe thấy tên thiếu niên mặc áo xanh kia nói rằng cha y bị nhốt trong đại lao, vì thế y cũng không muốn chuyện trò nhiều, ra ngoài tránh gây rắc rối, chắp tay chào rồi bước lên bờ, bất ngờ nghe thấy Trương Nguyên đứng bên cạnh lên tiếng nói:
Tại hạ Trương Nguyên tại Sơn Âm, chưa được thỉnh giáo quý tính đại danh các hạ.
Nho sĩ cường tráng trả lời:
Tại hạ Tần Dân Bình ở Trung Châu.
Trương Nguyên vừa nghe thấy ba tiếng “ Tần Dân Bình” liền nói:
Tại hạ ngưỡng mộ đã lâu.
Lại hướng về phía thiếu niên đầu quấn khăn xanh kia nói:
Trương Nguyên ở Sơn Âm, xin hỏi quý tính đại danh vị huynh đệ này?
Tên thiếu niên ước chừng mười hai, mười ba tuổi này thấy có người xem mình như người trưởng thành mà chắp tay hỏi danh tính, y rất vui mừng, liền đáp lễ nói:
Tiểu sinh lớn lên nơi núi non Trùng Khánh tên Mã Tường Lân, xin chào Trương huynh
Còn chèn thêm một câu:
Tiểu sinh năm nay tròn mười tuổi.
Những người trên thuyền của Trương Nguyên đều cười ầm lên, Thương Chu Đức nói với Tần Dân Bình:
Tại hạ Thương Chu Đức ở Hội Kê, cháu trai của ngài vóc dáng to cao, cứ như mười hai, mười ba tuổi vậy.
Tần Dân Bình nhìn lại cháu ngoại mình, cười nói:
Thân hình to lớn nhưng đầu óc ngờ nghệch, không chịu học hành tử tế, hai vị đều là danh tài Giang Nam, thi nhân của huyện, địa linh nhân kiệt, thất lễ, thất lễ.
Cậu thiếu niên mười tuổi Mã Tường Lân không phục nói:
Con không đi học khi nào chứ, con đã có công danh tú tài rồi đấy.,
Trương Nguyên nghe tên cậu thiếu niên này họ Mã, cậu của y lại mang họ Tần, trong lòng cơ bản đã nắm được thân phận của họ, thật không ngờ lại vừa khéo gặp nhau tại cửa sông Hàng Châu này, nhất định phải làm quen với họ, liền nói
Tại hạ mạo muội, muốn hỏi hiền đệ của lệnh tôn vì sao mà gặp nạn? Bèo nước gặp nhau, vừa gặp đã thân, nếu có cần tới chỗ tại hạ, nhất định sẽ tận lực giúp đỡ.
Thương Chu Đức nhíu mày, qua những ngày kết giao qua lại, Thương Chu Đức khá hiểu về tính cách của Trương Nguyên, hắn trầm mặc điềm tĩnh, thông minh cơ trí, cũng có chút khó đoán, hoàn toàn không giống với những thiếu niên bình thường, nhưng hôm nay hắn lại ngạo mạn hỏi người lần đầu gặp mặt về chuyện người khác gặp nạn gì phải vào ngục, còn nói sẽ giúp đỡ người ta nữa? Thật là khác thường.
Gã tú tài cao to Tần Dân Bình cũng có chút kinh ngạc, xem xét Trương Nguyên, khách sáo nói:
Đa tạ lòng nhiệt tình của Trương công tử, chuyện của tỷ phu bên này thực sự không dám làm phiền.
Thanh âm trong trẻo của vị phu nhân bên trong khoang thuyền vọng ra:
Nhị đệ, đệ vào đây một chút, ta có chuyện muốn nói.
Tần Dân Bình chắp tay với hai người Thương Chu Đức và Trương Nguyên, kéo cháu trai hắn vào trong khoang thuyền, thấp giọng nói với vị phu nhân ngồi hướng về phía cửa sổ:
Tỷ nghe thấy rồi chứ, lời nói của vị công tử kia thật kỳ lạ, dường như không giống với lẽ thường, trên đời này thật sự vẫn còn có người hiệp nghĩa như vậy ư, chỉ gặp nhau trên đường mà vẫn dốc lòng giúp đỡ sao?
Vị phu nhân đang ngồi trông dáng người cao ráo, tuổi gần bốn mươi, dung mạo xinh đẹp, ánh mắt có thần, sống mũi cao và đôi môi mỏng, có khí chất vô cùng sắc sảo, vị phu nhân này nói:
Ta nhìn thấy và cũng đã nghe thấy rồi, vị công tử này không phải xuất phát từ sự tò mò, dáng vẻ rất chân thành, nếu không ngại mời hắn qua đây trao đổi, nói không chừng lại là một cơ hội tốt để xoay chuyển tình thế.
Tần Dân Bình nghe lời tỷ tỷ răm rắp, liền nói:
Ra khoang thuyền đi.
Bên kia thuyền Thương Chu Đức thấy Tần Dân Bình vào khoang thuyền liền thấp giọng hỏi Trương Nguyên:
Giới Tử, cậu đây là ý gì, chúng ta đi ra ngoài, thêm một chuyện không bằng bớt một chuyện, chuyện này cũng không phải chỉ cần bỏ ra vài lượng bạc là có thể giúp họ được, vào ngục thì quan nào giúp được gã?
Trương Nguyên đáp:
Nhị huynh xin hãy tin đệ, đệ không phải làm chuyện thừa thãi đâu, những người trên thuyền Hồng Đầu này đáng để chúng ta giúp đỡ.
Thương Chu Đức khó hiểu hỏi:
Đệ quen họ à?
Trương Nguyên còn chưa trả lời thì đã thấy Tần Dân Bình bước ra từ thuyền bên, chắp tay nói:
Trương công tử, mời công tử vào thuyền nói chuyện, thế nào?
Trương Nguyên đáp:
Cũng tốt.
Hắn quay sang nói với Thương Chu Đức:
Nhị huynh, đệ qua bên kia một chút.
Hai người làm ăn mặc sặc sỡ, mang đến một tấm gỗ đặt giữa hai thuyền, Trương Nguyên bước lên ván gỗ đi qua, theo Tần Dân Bình vào trong khoang thuyền, thấy một phu nhân dáng người rất cao đứng đó.
Vị phu nhân này ngoài chiếc váy dài khác với những phụ nữ người Hán khác, y phục và trang sức còn lại cũng rất bình thường, thấy hắn đi vào, liền hành lễ vạn phúc nói:
Tần thị bái kiến công tử. Công tử trẻ tuổi tài cao, nhiệt tình giúp đỡ, gặp được cơn gió của hiền nhân, tiểu phụ vô cùng cảm kích.
Trương Nguyên vội vàng đáp lễ:
Tiểu tử Trương Nguyên bái kiến phu nhân, tiểu tử chỉ có một tấm chân tình chứ thực không dám chắc, trước hết muốn nghe rõ sự tình thế nào ạ?.
Tần phu nhân nói:
Có lòng là tốt rồi, có lòng là tốt rồi, mời công tử ngồi.
Trương Nguyên cáo lỗi ngồi xuống, liền nghe Tần phu nhân nói:
Phu quân ta là tuyên phủ sư của Thạch Trụ- Mã Thiên Thừa.
Trương Nguyên đứng dậy chắp tay trước ngực nói:
Hóa ra là Mã tướng quân phu nhân. Uy danh của tướng quân Tiểu tử ngưỡng mộ đã lâu, thất kính, thất kính.
Tần Lương Ngọc là thê tử của Mã Thiên Thừa, có thể xếp vào bậc anh hùng hào kiệt xưa nay, là bóng hồng cuối thời nhà Minh, anh phong mãnh liệt, sáng rọi trăm nơi.
Tần Lương Ngọc túc trí, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, thao lược, dáng điệu thanh tao lịch sự, dẫn thổ ty Bạch Can Binh Cần Vương chinh chiến, lập chiến công hiển hách, nhờ một người phụ nữ mà chiến thắng làm kinh ngạc cả Chấn Đông tướng quân, Thái tử, Chung chinh hầu, điều này trong lịch sử Trung Quốc là độc nhất vô nhị.
Đây đúng là lúc vận mệnh của Tần Lương Ngọc thay đổi.
Tần Lương Ngọc nghe Trương Nguyên nói đã nghe uy danh tướng công từ lâu, trong lòng cho rằng Trương Nguyên chỉ đang nói lời khách sáo, một thiếu niên Giang Nam làm sao có thể biết đến một Thổ ti của ngoài vùng biên ải núi non, liền nói:
Phu quân tiểu phụ giờ đang trong ngục Vân Dương, tiểu phụ đau buồn khôn xiết, nào còn có uy danh gì Chứ?
Trương Nguyên nói:
Phu nhân tướng quân dẹp loạn ở Ứng Long, lập nên công lớn, danh tiếng vang xa, tại hạ người Giang Nam cũng có hay biết, Mã tướng quân là người trung nghĩa, nay bị bỏ tù chắc bị vu oan, ta muốn làm rõ oan tình này.
Tần Lương Ngọc nghe Trương Nguyên nói lời này, vừa mừng vừa sợ, hóa ra thiếu niên thư sinh này không hề nói suông, còn biết chiến công của phu quân nàng ta nữa, Tần Lương Ngọc một đời trung nghĩa nàng đương nhiên rất trọng chữ tình, vui vẻ nói:
Đa tạ lời nói của công tử, nếu phu quân tiểu phụ có thể thoát cảnh tù tội, tiểu phụ xin cảm tạ ơn đức của công tử, tiểu phụ không nói vòng vo nữa, xin hỏi công tử có cách nào giúp đỡ phu quân của tiểu phụ không ạ?
Trương Nguyên nói:
Xin phu nhân trước tiên hãy nói rõ Mã tướng quân vì sao mà bị bắt vào ngục?
Tần Lương Ngọc đáp:
Phu quân tính tình ngay thẳng, đắc tội với thái giám thu thuế mỏ bạc ở Vân Nam-tên là Khâu Thừa Vân, chàng bị vu cáo xúi giục dân chúng cướp bọc ngân lượng triều đình. Hoàng đế tức giận, bèn đem phu quân ta giam vào ngục xử tội.
Trong trí nhớ của Trương Nguyên, phu quân của Trần Lương Ngọc đắc tội với thái giám nên bị giam vào ngục, có điều không nhớ rõ lắm, hóa ra là bị vu cho là cướp bóc ngân lượng.
Hoàng đế Vạn Lịch ham tài như mạng, cướp đoạt ngân lượng của ông ta, ông ta đương nhiên phải tức giận rồi, chiêu này của thái giám quả thực ác độc, hắn hỏi:
Mã tướng quân đã bị giam vào ngục, vậy sao phu nhân lại đến Hàng Châu?
Tần Lương Ngọc đáp:
Tiểu phụ muốn lên kinh cáo quan, kêu oan cho phu quân tiểu phụ.
Trương Nguyên nhẹ chau mày, trong lòng nghĩ:
Hoàng đế Vạn Lịch mười mấy năm không lên triều rồi, thiên tai nạn lụt đều không lo chỉ lo vơ vét của cải, cô đi cáo có tác dụng không, cô bây giờ không có thanh danh hiển hách như mười mấy năm sau đâu.
Hắn nói tiếp:
Tại hạ muốn hỏi rõ một chút, Mã tướng quân là đắc tội với Khâu thái giám như thế nào? Ai đeo chuông thì người ấy phải tháo chuông, muốn cứu Mã tướng quân phải nghĩ cách từ Khâu thái giám kia, ngược lại, vào kinh giải oan đường xá xa xôi, đây là hạ sách.
Tần Lương Ngọc thấy Trương Nguyên nói chuyện lý lẽ đâu ra đấy, rõ ràng là người rất thông minh, liền đáp:
Lời nói của công tử quả nhiên bất phàm, hẳn là xuất thân từ danh môn, liệu có thể cho tiểu phụ được biết một chút hay không?
Trương Nguyên trả lời:
Tổ tiên tôi là Dương Hòa tiên sinh, là Long Khánh năm thi Đình trạng nguyên, tại hạ tháng này tham gia kì thi huyện Sơn Âm, may mắn được đỗ đầu.
Lúc này nhất định phải dựa thế, đây cũng là cách lấy lòng tin, không cần thiết phải giả vờ khiêm tốn.
Tần Lương Ngọc nghiêm nghị đứng lên nói:
Trương công tử là hậu nhân của Nội Sơn tiên sinh, tổ tiên tiểu phụ từng nhận qua ơn của Nội Sơn tiên sinh, xin Trương công tử nhận của tiểu phụ một lạy.
Trương Nguyên vội vàng đáp lễ, liên tục nói không dám, lúc này mới nhớ tới tộc thúc tổ của Trương Nhữ Sương cũng chính làông nội Trương Thiên Phục của Trương Nhữ Sương từng đảm nhiệm chức Án Sát tư Phó Sứ Vân Nam, Nội Sơn là tên hiệu của của Trương Thiên Phục.
Thái độ của Tần Lương Ngọc lúc này cung kính hơn trước nhiều, nói:
Tổ tiên Trương công tử có ân với tổ tiên tiểu phụ, hôm nay Trương công tử lại có ân với mẹ con tiểu phụ, ân huệ mấy đời, làm thế nào báo đáp đây.
Liền gọi con trai Mã Tường Lân lại dập đầu trước Trương Nguyên, mệnh cho Mã Tường Lân gọi Trương Nguyên một tiếng thế thúc. Trương Nguyên vội nói không dám, dù sao hắn với Mã Tường Lân cũng chỉ hơn kém sáu tuổi.
Tần Lương Ngọc không chịu , nhưng Tần Trương Ngọc kia nhất định muốn con gọi Trương Nguyên một tiếng “thúc”, sau đó mới nói chuyện thái giám Khâu Thừa Vân, nói:
Khâu thái giám từ Vân Nam đi giải ngân, lúc đi qua Thạch Trụ vơ vét ba ngàn lượng bạc của phu quân, lấy tiền rồi thì thôi, lại còn đòi phải chặt một ngàn cây to, loại cây phải mấy người vòng tay ôm mới hết.Bảo chuyển đến nhà lão để lão dự phòng cần dùng.
-Mà nơi đây núi non trùng điệp cần đến bao nhiêu nhân lực mới đủ cơ chứ, phu quân ta từ chối thẳng, dứt khoát cả tiền bạc cũng không đưa. Khâu thái giám bèn ghi hận trong lòng, liền đến phủ Trùng Khánh vu cáo phu quân ta cướp bạc.
Trương Nguyên thở dài trong lòng, thái giám trừng mắt là phải sợ chứ, mặc kệ chuyện này sẽ gây ra tai họa thế nào, Mã Thiên Thừa tự xưng là hậu nhân của Mã Viện tướng quân (người được mệnh danh là Phục Ba tướng quân, nghĩa là hàn phục phong ba, người lập chiến công hiển hách thường được trao tặng danh phong này) , thực ra là ông ta là người thổ dân đã được Hán hóa , xem ra cũng biết phép tắc quy củ, nhưng không ngờ giờ lại bị nhốt vào ngục Vân Dương, đây chắc chắn sẽ gây ra phiến loạn đây, Trương Nguyên nói:
Mã tướng quân không để bụng tư thù, lấy đại nghĩa làm đầu, thực sự làm người ta kính nể, không biết phu nhân có từng nhờ người cầu cạnh Khâu thái giám?
Tần Lương Ngọc nói:
Ta vì lợi ích toàn cục mà tạm thời nhân nhượng, mang đi năm ngàn lượng bạc đến nhà lão thái giám đó, nhưng Khâu thái giám lại vô tình không nhận, cứ khăng khăng bị cướp mất năm mươi ngàn lượng, nhất định phải thu lại toàn bộ số ngân lượng này không thiếu một xu, ta nào có nhiều đến thế, trả nhiều ngân lượng như vậy chẳng phải đồng nghĩa với việc bán cả gia tài, phu quân ta kiên quyết không giao bạc, tình nguyện ngồi nhà lao.
Chương 128: Phẩm vị của thái giám.
Nghe xong lời của Tần Lương Ngọc, Trương Nguyên suy nghĩ một lát rồi hỏi:
Gã thái giám ấy còn ở Trùng Khánh không ạ?
Tần Lương Ngọc đáp:
Lúc tiểu phụ rời khỏi Trung Châu nghe nói gã đã đi khỏi Trùng Khánh rồi, đang trên đường quay về kinh, có lẽ cũng phải đi qua Hàng Châu rồi.
Trương Nguyên hỏi tiếp:
Nếu bảo phu nhân đem ra mười ngàn lượng để giải quyết vụ này, phu nhân thấy thế nào?
Tần Lương Ngọc thể hiện là người rất có chủ kiến, liền nói ngay:
Nếu chỉ cần mười ngàn lượng bạc là có thể giải quyết êm đẹp chuyện này, được vậy thì còn gì bằng, tuy nhiên tiểu phụ cũng biết lên kinh giải oan cũng rất khó, nha môn đâu đâu cũng phải hối lộ, mười ngàn lượng chỉ như gió tuyết bay qua, chớp mắt là biến mất, gã thái giám hãm hại phu quân ta nhất định đòi năm mươi ngàn lượng, cho nên tiểu phụ phải vào kinh đối chất, không biết Trương công tử có kế sách gì?
Trương Nguyên đáp:
Tại hạ có quen biết với Chung thái giám, chắc Chung thái giám cũng có biết Khâu thái giám, nhưng ta không rõ quan hệ hai người này như thế nào, nếu quan hệ của họ tốt, tại hạ có thể cầu xin Chung thái giám ra mặt giúp đỡ, đương nhiên, không thể không mang theo mười ngàn lượng phòng thân.
Tần Lương Ngọc vui mừng nói:
Nếu được như vậy, tiểu phụ cảm kích khôn cùng, tiểu phụ lần này mang theo mười ngàn năm trăm lượng vào kinh, công tử cứ việc lấy dùng.
Trương Nguyên đáp:
Ta sẽ cố gắng tiết kiệm, nghĩ đến vùng núi Thạch Trụ nhân dân đói khổ, Khâu thái giám lại vơ vét của cải như vậy, thật là không thể chấp nhận được.
Câu nói này khiến cho Tần Lương Ngọc cũng muốn khóc, lập tức lau đi nước mắt đáp:
Thế gian có hạng người như Khâu thái giám, nhưng cũng có người như Trương công tử, tiểu phụ không bao giờ tuyệt vọng.
Trương Nguyên nói:
Lần này tại hạ đi Tùng Giang chúc thọ tỷ phu, trên thuyền kia cũng chính là sư huynh Thương Chu Đức, huynh ấy đưa tẩu tẩu và cháu gái vào kinh, đồng hành cùng ta tới giờ, việc này không dám chậm trễ, tối nay ta sẽ đi cầu xin Chung thái giám, mong rằng ông ấy có quan hệ tốt với Khâu thái giám, nếu không thì tại hạ cũng không biết giúp đỡ thế nào.
Tần Lương Ngọc đáp:
Không cần biết kết quả ra sao, Mã thị ta nhất định sẽ báo đáp ân đức của công tử.
Lại gọi con trai Mã Tường Lân khấu đầu với Trương Nguyên, Trương Nguyên vội vàng ngăn lại.
Tần Dân Bình chưa nói câu nào, giờ mới lên tiếng:
Trương công tử, lát nữa để ta đi cùng công tử, ta sẽ đứng ngoài đợi, như vậy có tin tức gì cũng dễ báo cho gia tỷ, công tử thấy thế nào?
Trương Nguyên biết Tần Dân Bình có dụng ý gì, lòng người khó đoán, phòng hờ vẫn hơn, đây cũng là lẽ thường tình, cười nói:
Việc này không phải đưa bạc trước đâu, để nói chuyện xong xuôi rồi mới đưa bạc sau, cũng không cần qua tay ta, các người tự đưa đi.
Tần Dân Bình xấu hổ, chắp tay nói:
Tại hạ đã mạo phạm, xin Trương công tử chớ trách.
Trương Nguyên cười đáp:
Đi ra bên ngoài, cẩn thận một chút cũng là điều nên, đâu có gì đáng trách.
Chắp tay nói:
Mã phu nhân, Tần huynh, vậy ta xin phép về thuyền nói rõ sự tình với với tỷ phu ta, rồi lát đến cục hàng dệt, đây cũng là lần đầu ta tới Hàng Châu, cục hàng dệt ở nơi nào cũng phải hỏi đường mới biết.
Dứt lời, liền đi khỏi thuyền.
Tần Lương Ngọc quát lớn trách moc đệ đệ:
Đệ xem, lời nói, thái độ của Trương công tử giống như của một tên lừa đảo sao! Đệ đến nhìn người cũng không biết à?.
Tần Dân Bình cúi đầu nghe giáo huấn, rõ ràng là rất kính sợ tỷ tỷ.
Tần Lương Ngọc nói:
Đệ đi mời Trương công tử và sư huynh đến quán rượu gần đây dùng cơm cùng chúng ta đi, sau đó phải làm thế nào thì nghe công tử chỉ bảo.
Trương Nguyên trở lại thuyền, nói rõ với Thương Chu Đức chuyện của Mã Thiên Thừa, Thương Chu Đức nói:
Tuyên Phủ Sử là quan Tứ phẩm , cai quản quân dân, quyền lực lớn hơn tri phủ địa phương nhiều lắm, đệ có chắc giúp đỡ được họ không ?
**Tuyên phủ sử: quan cao hơn Án phủ sử, người được triều đình phái đến nơi thiên tai hỏa hoạn, hoặc chiến loạn để xem xét tình hình, bình ổn dân tâm, xử lý chính vụ nơi này)
Trương Nguyên đáp:
Hỏi thăm quan hệ của Chung thái giám và Khâu thái giám trước, nếu quan hệ giữa họ không tốt thì đệ cũng lực bất tòng tâm
Thương Chu Đức nói:
Vậy được, giúp người hoạn nạn cũng là tích đức làm việc thiện, huynh cũng ở lại Hàng Châu vài ngày, tiện đưa Cảnh Lan, Cảnh Huy đi Tây Hồ chơi.
Cảnh Huy nghe thấy vậy, vui mừng nói:
Hay lắm, hay lắm.
Hỏi Trương Nguyên:
Trương ca ca, Hữu Mỹ đường còn có không?
Không đợi Trương Nguyên trả lời, liền dõng dạc ngâm: :
Du nhân cước để nhất thanh lôi,
Mãn tọa ngoan vân bát bất khai:
Thiên ngoại hắc phong xuy hải lập,
Chiết đông phi vũ quá giang lai.
Thập phân liễm diễm kim tôn đột,
Thiên trượng xao khanh yết cổ thôi:
Hoán khởi trích tiên tuyền sái diện,
Đảo khuynh giáo thất tả quỳnh côi
Dịch thơ: Phạm Công Đạt
Dưới chân du khách tiếng sấm rền
Cả phòng mây mù càng đậm thêm
Ngoài trời gió đen thổi biển động
Triết Đông mưa lớn vượt sông lên
Mực nước mênh mông giống rượu tràn
Ồn ào như thể trống chiêng vang
Trích tiên gọi dậy nước lạnh xối
Đảo lộn nhà giao tuôn ngọc dao
Muội đã thuộc lòng rồi, không sai chữ nào chứ?
Trương Nguyên cười đáp:
Đúng , không sai chữ nào, Tiểu Huy thông minh, có điều Hữu Mỹ Đường kia còn hay không thì ta cũng không rõ, không còn thì cũng đừng lo, Tây Hồ còn rất nhiều cảnh đẹp, cô cô của đệ cũng chưa từng đi xem qua đúng không?
Tiểu Cảnh Huy đáp:
Về rồi Trương ca ca có thể đi cùng Tiểu cô cô đi dạo Tây Hồ mà.
Trương Nguyên và Thương Chu Đức đều cười, lại nhìn thấy Tần Dân Bình bên kia thuyền chắp tay nói:
Thương tiên sinh, Trương công tử, tại hạ mời hai vị lên bờ dùng cơm uống rượu, xin hai vị chớ từ chối.
Thương Chu Đức trả lời:
Đệ đi đi, ta không đi đâu, Tiểu Lan, Tiểu Huy bên này vẫn cần ta chăm sóc.
Trương Nguyên đi lên bờ, bên kia cha con Mục Kính Nham, Mục Chân Chân còn có Vũ Lăng cũng theo lên bờ. Tần Dân Bình biết Thương Chu Đức không lên, lại nhiệt tình mời, nói nữ quyến có thể vào một căn phòng yên tĩnh trong quán rượu nghỉ ngơi, Thương Chu Đức nhất quyết từ chối.
Tần Dân Bình liền đáp:
Vậy ngày mai nhất định sẽ mở tiệc chiêu đãi Thương tiên sinh sau.
Kênh đào Hàng Châu là nơi thương nhân hay lui tới, hàng hóa ra vào phồn hoa sầm uất, quán rượu san sát, lúc hoàng hôn cũng là lúc vén lên bức màn xa hoa trụy lạc, Tần Dân Bình hỏi mấy quán rượu, không ngờ đều đã đông nghịt khách.
Trương Nguyên nói:
Hay là đi tới hàng dệt hỏi rõ ràng trước, bằng không uống rượu cũng không ngon.
Tần Dân Bình vui mừng nói:
Vậy làm phiền công tử rồi.
Trương Nguyên cười đáp
Ta cũng là người nóng vội.
Trước tiên tìm người hỏi thăm xem cục hàng dệt ở nơi nào?
Mục Kính Nham nói
Thiếu gia muốn tới cục hàng dệt Hàng Châu sao? tiểu nhân biết, chính là nhà có cánh cửa vàng bên Tây Hồ, cách đây chừng sáu, bảy dặm, tiểu nhân đã từng tới đó hai lần.
Trương Nguyên vui vẻ đáp:
Vậy thì tốt quá, chúng ta đi mau thôi.
Tần Dân Bình nói:
Trương công tử ngồi kiệu đi thôi.
Trương Nguyên đáp
Đường cũng không xa lắm, đi bộ cũng là cách để tập luyện sức khỏe.
Nói với Mục Chân Chân và Vũ Lăng:
Hai người không cần đi theo, Mục thúc đi với ta được rồi.
Thế mà Mục Chân Chân vẫn muốn đi theo, Vũ Lăng cũng muốn đi theo, tiện đường xem Tây Hồ đẹp thế nào mà người Sơn Âm khoe là đẹp như chốn thiên đường vậy.
Trương Nguyên cười nói:
Ban đêm không ngắm được Tây Hồ, lại không có trăng, nhưng muốn đi thì cũng được.
Tần Dân Bình đem theo hai binh sĩ phục trang sặc sỡ, cùng với Trương Nguyên tổng cộng bảy người hướng về phía tây nam, đến bên Tây Hồ thì trời đã tối đen, hai tên lính sớm đã có chuẩn bị, đem ra hai chiếc đèn lồng, trên đèn còn có khắc chữ “ Thạch Trụ tuyên phủ ti”, những người xung quanh nhìn thấy hai chiếc đèn lồng đều tránh sang một bên, Vũ Lăng hướng về phía Tây Hồ đen mù mịt, nói:
Mất công rồi, không nhìn thấy gì cả.
Trương Nguyên nói:
Đợi trời sáng rồi đến, hy vọng trời sáng sẽ có tâm trạng tốt hơn.
Tần Dân Bình thân hình cao lớn liên tục nói:
Trương công tử nói thật chí lí.
Vòng qua Tây Hồ vài ba dặm, thấy trước mặt đèn lồng rực rỡ đích thị là hàng dệt Hàng Châu.
Hàng dệt Hàng Châu, hàng dệt Tô Dương, hàng dệt Nam Kinh là ba hàng dệt lớn nhất ở Giang Nam, chuyên cung cấp tơ lụa cho Hoàng thất.
Hàng dệt Hàng Châu có quy mô rất lớn, chiếm hơn mười khu đất, mấy trăm gian phòng: ở giữa, công nhân hơn ba ngàn, thái giám trên danh nghĩa là quản lí hàng dệt, thực chất là có nhiệm vụ giám sát quan phủ địa phương, hoàng đế Vạn Lịch không hề để ý tới tấu chương của quan chức địa phương nhưng lại rất quan tâm đến ý kiến của thái giám giám sát, một câu mật tấu cũng có thể gây ra sóng to gió lớn cho cả một vùng, vì hoàng đế chỉ nghe duy nhất lời của y tâu lên mà thôi.
Trương Nguyên và mọi người kéo nhau đến cổng, nhờ người gác cổng thông báo, ai ngờ gã đáp:
Công công hôm nay không tiện tiếp khách, ban nãy Bổ Chính sứ đại nhân mời uống rượu cũng không được.
Trương Nguyên đáp:
Tại hạ đến từ Sơn Âm, tháng trước Chung công công có đến cùng tại hạ đi ngắm đèn, tại hạ hân hạnh được ngồi uống rượu với Chung công công, Chung công công có dặn dò tại hạ nếu có dịp đến Hàng Châu thì đến bái kiến ông ấy, cho nên tại hạ đến đây….
Gác cổng vừa nghe chuyện như vậy, Chung công công đúng là có đi Sơn Âm, lúc về còn khoe lễ hội thả đèn Sơn Âm đúng là độc nhất vô nhị, hắn nhìn một lượt đánh giá Trương Nguyên, hỏi Trương Nguyên có hẹn trước hay không, Trương Nguyên đáp:
Tại hạ vội vàng tới đây nên chưa kịp có sự chuẩn bị.
Mặt tên gác cổng liền dài ra, cười lạnh:
Bố Chính sứ, Đô chỉ huy sứ, Án sát sứ muốn gặp Chung công công cũng đều phải hẹn trước, ngươi lại làm ta phải tay không đi thông báo.
Trương Nguyên liếc mắt với Tần Dân Bình, Tần Dân Bình ngầm hiểu, tiến lên đưa hai mươi lượng bạc nhét vào tay người gác cổng, y sờ sờ định lượng bạc trong tay, thấy bạc thật liền vui như mở cờ trong bụng nhưng ngoài mặt vẫn giả vờ nghiêm nghị, nói:
Không báo trước vẫn không được đâu.
Trương Nguyên thở dài nói:
Chỉ cần nói Trương Nguyên ở Sơn Âm đến bái kiến là được, tại hạ không hề nói khoác, thật sự là Chung công công đã nói muốn mời ta đến đây.
Gã gác cổng được hai mười lượng, liền nói:
Vậy ta liều mạng đi thông báo một phen.
Rồi lập tức xoay lưng đi vào trong.
Lồng đèn đỏ, tấm màn xanh, một kĩ nữ sau màn che đang thổi sáo, bên này màn che có một chiếc bàn tròn màu vàng, mặt bàn khảm đá cẩm thạch, Chung thái giám của hàng dệt Hàng Châu đang dùng bữa tối, đã ăn quen sơn hào hải vị, giờ lão muốn đổi khẩu vị một chút, dùng cơm canh đạm bạc, hai loại hoa quả tươi, ba đĩa thịt, ba đĩa rau xanh, còn có một bát súp thượng hạng, thử một ly rượu tuyết Dương Châu, chậm rãi uống, chậm rãi hạ đũa, ăn rất từ tốn. Hai người đẹp ngồi cạnh một phải một trái đợi hầu hạ.
Sau bức màn vọng lại tiếng nước chảy róc rách, dùng cơm tại đây, Chung thái giám thấy mình rất biết thưởng thức, bỗng một người làm nhân lúc tiếng sáo dứt mà nói vào:
Công công, có một thiếu niên ở Sơn Âm nói muốn bái kiến công công, hắn tự xưng là cháu họ của Trương Túc Chi, tên Trương Nguyên, nói là công công đồng ý cho hắn gặp.
Chung thái giám tươi cười, gật đầu nói:
Không tầm thường, không tầm thường, ta đang cảm thấy trong lòng thơ ý dạt dào, tên tiểu tử này lại đến, cho hắn vào, bảo đến đây gặp ta.
Đặt đũa xuống, ông ta nhớ tới những ngọn đèn rực rỡ ở Long Sơn, còn có câu thơ tuyệt mĩ “ Liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng” kia…
Chương 129: Tây Hồ Công đức chủ.
Nơi làm việc của cục hàng dệt may Hàng Châu là một ngôi nhà cao to, ban đêm trên cửa treo đèn lồng đỏ thẫm, dường như đang có chuyện gì vui không bằng, thái giám thường thích vui vẻ náo nhiệt sợ tối tăm như vậy ư?
Trương Nguyên đi theo gã sai vặt của nha thự bước vào phòng ăn chuyên dụng của Chung thái giám, nơi này là chỗ mà ngày thường Chung thái giám dùng để tổ chức yến tiệc, đây là một căn phòng có ba gian, bậc thềm sáng sủa, mặt sàn lát đá xanh, chạm khắc cầu kì đẹp mắt.
Toàn bộ gian phòng đều được làm bằng gỗ lim nhuộm màu vàng, hết sức tinh xảo, khu nhà cao cấp của phú hộ ở Giang Nam cũng không thể nào sánh bằng. Gã sai vặt bảo Trương Nguyên đứng dưới bậc tam cấp chờ gã đi vào thông báo, một lát sau gã sai vặt đi ra nói:
-Công Công mời công tử vào.
Lúc Trương Nguyên đứng ở bên ngoài phòng đã nghe thấy trong phòng vang lên tiếng sáo khe khẽ rồi, lúc này khi bước vào thiện đường (hay còn gọi là phòng ăn), thứ đầu tiên đập vào mắt Trương Nguyên là hai cái bình có vẽ cảnh Long Tuyền, thân bình cao hơn nửa người thường, trên bình hoa có cắm hai cành đào lớn, chúng đang được đặt ngay ngắn ở hai bên cửa.
Chung thái giám ngồi bên cạnh bàn nhìn thấy Trương Nguyên bước vào, lại thấy Trương Nguyên nhìn ngó xung quanh, liền cười, mở miệng hỏi:
-Trương công tử, công tử thấy ta tự tay bố trí căn phòng này thế nào?
Trương Nguyên vái chào Chung thái giám từ xa, thuận tiện quan sát tỉ mỉ hai cái bình hoa trong phòng, bình này là loại bình lớn, dùng để cắm hoa cành to, nên gọi là “đại sáp hoa”, nói:
-Chỉ cần nhìn hai cái bình lớn này, là đã có thể nhìn ra trình độ và sở thích của chủ nhân nó, bình vuông cành lớn, thể hiện sức mạnh, cành cây xanh tốt vươn cao, mang đủ các sắc thái ý nghĩa, chứng tỏ có mắt nhìn rất tốt. Chắc hẳn để chọn được hai cành đào này Công Công đã phải đi khắp rừng đào bên Hồ Tây rồi?
Chung thái giám nghe vậy, mừng rỡ, như gặp được tri âm, cảm thấy tài tử ở Giang Nam dường như chỉ có Trương Nguyên và mình vậy. Bèn đứng dậy và đi qua bên này cùng Trương Nguyên thưởng thức lại hai cành hoa đào đang cắm trong bình một lần nữa.
Lúc trước không cảm thấy gì, nhưng sau khi nghe Trương Nguyên nói vậy, Chung thái giám đúng là cảm thấy mình chọn hai cành đào này là vô cùng khéo léo, hai cành đào đều có nét đẹp độc đáo. Một thái giám tuổi trung niên và một thiếu niên thư sinh đàm luận một hồi về chủ đề này, lúc sau Chung thái giám mới hỏi:
-Trương công tử đến Vũ Lâm có việc gì? Chắc không phải là đến chỉ để gặp ta chứ?
Trương Nguyên nói:
-Tiểu tử đến Tùng Giang là để chúc thọ anh rể, trên đường đi có đi qua Hàng Châu, nhớ đến Công Công đã từng mời học trò đến viếng thăm, cho nên đã hỏi đường đến đây.
Chung thái giám cười nói:
-Cứ đến đây, về sau bất kể là đi ngang qua hay là có việc phải đến Hàng Châu, đều phải đến thăm ta, ta rất hoan nghênh công tử đến.
Chợt nhớ tới một chuyện, bèn hỏi:
-Không phải tháng này thi huyện sao? Công tử có thi đỗ hay không?
Trương Nguyên nói:
-Nhờ hồng phúc của Công Công, tại hạ đã may mắn đỗ đầu bảng.
-Ha ha, án thủ, thật khó lường, khó lường.
Chung thái giám mừng rỡ, cảm nhận sâu sắc rằng mình thật sáng suốt khi quen biết với người này, cười ha hả nói:
-Ngày ấy ta vừa mới gặp công tử, đã cảm thấy công tử không giống người phàm tục rồi, tất cả mọi người ở đấy đều không biết câu thơ “liễu nhứ phi lai phiến phiến hồng” (tơ liễu bay tới từng mảng đỏ), mà ngay cả ta nhất thời cũng nhớ không rõ, không ngờ công tử lại đọc thuộc làu làu, chính vì vậy đã cứu chúng ta một phen.
Trương Nguyên nói:
-Ngày đó cho dù tiểu tử không đọc ra bài thơ đó, Công công cũng sẽ tự mình nhớ ra được, còn tại hạ, chỉ có thể xem như là “múa rìu qua mắt thợ” thôi.
Chung thái giám gật đầu nói:
-Công tử rất giỏi, thế mà không kiêu căng không nóng nảy, ngươi không nói đến chuyện ngày ấy ở núi Long Sơn vẻ vang ra sao, chỉ nói đến việc mình đã may mắn đứng đầu trong kỳ thi huyện ở Sơn Âm lần này. Huyện Sơn Âm là vùng đất của tài tử.
Công tử có thể đứng đầu khoa thi thật không dễ dàng. Đủ thấy công tử thực sự có tài mới làm được như vậy, vả lại ta muốn xem kì thi hội thi phủ sắp tới, công tử sẽ biểu hiện xuất sắc thế nào, ta tin rằng Từ Thời Tiến chắc hẳn cũng là người có cặp mắt tinh tường.
Tiếp đó lại hỏi:
-Lúc đến đây, công tử đã dùng cơm chưa?
Trương Nguyên nói:
-Không giấu gì Công công, tiểu tử vẫn chưa dùng cơm ạ.
Chung thái giám cười nói:
-Vậy uống với ta vài chén đi.
Sau đó sai người hầu đem rượu và thức ăn bày lên bàn, không khác gì một bữa tiệc, cũng chỉ phải đợi một khắc là đã có ngay hoa quả và thức ăn tươi mới được bưng lên, thức ăn được chế biến hết sức tinh xảo, người hầu mang lên hai chén Kim Bôi, rót vào chén loại rượu“ ngự tửu hàn đàm xuân” (tên một loại rượu của chốn cung đình).
Chung thái giám nói:
-Được dùng cơm ở gian phòng này của ta, ở Giang Nam duy nhất chỉ có mình Trương công tử thôi đấy.
Trương Nguyên liền nói cảm ơn:
-Công công nâng đỡ, tiểu tử hổ thẹn không dám nhận.
Chung thái giám khoát tay nói:
-Không cần khách sáo, ngồi đi, ngồi đi, ta xem công tử như một người bạn, phải rồi, là bạn vong niên.
Uống rượu nói chuyện phiếm Trương Nguyên chậm rãi dẫn dắt chủ đề của cuộc nói chuyện, từ thơ ca dần dần chuyển tới vấn đề chính sự của triều đình, nói:
-Công công ở Hàng Châu bốn năm, dân chúng an cư lạc nghiệp đều ca ngợi ân huệ của Công công, lần này trên đường tiểu tử đến Hàng Châu, nghe nói mấy năm nay Công công đã cho tu sửa lại chùa Linh Ấn, hồ Tâm Đình, chùa Tĩnh Từ… làm cho rất nhiều chùa chiền miếu mạo trở nên hưng thịnh hơn.
-Đồng thời người cũng cho đào kênh, khơi thông dòng chảy, vì lợi ích của dân chúng trong thành, dân chúng Hàng Châu coi Công công như Bạch Nhạc Thiên và Tô Đông Pha( hai nhân vật lịch sử ở Trung Quốc có đóng góp lớn trên lĩnh vực thơ văn và chính trị), xưng tụng Công công là Công đức chủ của Tây Hồ.
Chung thái giám vô cùng vui vẻ nói:
-Những ngôi chùa ngôi miếu này là do ta sửa, nhưng Công đức chủ của Tây Hồ thì ta không dám nhận, ta cũng là lần đầu tiên nghe nói đến.
(**Công đức chủ: trong phật môn các thí chủ cung dưỡng phật, pháp, tăng tam bảo này, dâng tặng tài vật bố thí gọi là công đức chủ. )
Trương Nguyên nói:
-Lời này không phải là lời nịnh hót của tiểu tử, mà đây là tiểu tử nghe dân chúng Hàng Châu nói, tiểu tử chỉ nói lại theo lời của bọn họ.
-Công đức từ chính lòng người, người nhận được lời khen ngợi của dân chúng mới chính là người chân chính được lòng dân, người mà ngày nào cũng tự ca ngợi công đức của mình, suy cho cùng đó cũng chỉ là những lời nói dối.
Chung thái giám gật đầu liên tục, cảm khái nói:
-Ta chẳng qua là tu sửa lại mấy ngôi chùa ngôi miếu thôi, dân chúng ca ngợi ta như vậy, thật sự là làm cho ta cảm thấy hổ thẹn không dám nhận.
Trương Nguyên nói:
-Dân chúng đều nói Chung công công nhân nghĩa, ở Hàng Châu cũng không bóc lột sách nhiễu dân, mọi người lo lắng sau khi Công công hồi kinh thì triều đình sẽ điều một thái giám khác đến, chỉ sợ rằng cuộc sống sẽ không được tốt đẹp như những ngày đã qua.
-Họ còn so sánh Chung công công với Tôn công công quản lý hàng dệt may ở Tô Châu, nói Tôn công công ở Tô Châu thu sưu cao thuế nặng làm cho thương nhân phải đình công, những nhà dệt may phải bỏ chạy mỗi người một ngả, nghe đâu còn khiến cho dân chúng nổi dậy nữa phải không ạ?
Chung thái giám gật đầu nói:
-Tôn Long đấy hả, cuộc nổi dậy của dân chúng ở Tô Châu rất lớn, đã kinh động đến hoàng thượng, thiếu chút nữa Tôn Long cũng rơi đầu. Thật ra Tôn Long cũng là người có học có tài, cũng không phải là loại người hung ác, chỉ là làm việc có chút nóng vội, mới gây thành đại họa, may mắn là hoàng thượng sủng ái ông ấy, không truy cứu nhiều, nếu không thì ông ấy bi thảm rồi.
Trương Nguyên nói:
-Có thể được cử đi quản lý hàng dệt may ở các nơi, đều là những người được hoàng thượng hết sức tín nhiệm, cũng đều là người có tài cao học rộng, không thua kém gì những quan lại xuất thân từ khoa cử cả, Công công chính là bằng chứng rõ ràng nhất.
Lời này Chung thái giám rất thích nghe, nói:
-Người đời đều nói chúng ta là những viên nội quan dốt nát không có học vấn, thực ra nội quan cũng phải đi học đấy, những nội quan không có học thức thì cũng chỉ có thể làm những việc nặng nhọc. Chúng ta mười bốn tuổi đã vào cung ở trong thư đường (nơi học tập) khổ cực học tập, mỗi lần thi đều đứng đầu danh sách, nội quan cũng có mười người được xưng là tài tử đấy.
Trương Nguyên thầm nghĩ: “Thái giám cũng có mười tài tử cơ à”, bèn hỏi:
-Không biết những nội quan nào được xưng là tài tử cùng với Công công vậy?
Chung thái giám nói:
-Người đầu tiên phải nói đến là Tôn Long, Tôn Long là người rất có tài năng và học vấn, có tài vẽ tranh, ông ấy chế tạo ra một loại gọi là “thanh cẩn đường mặc” (tên một loại mực viết) ngay cả hoàng thượng cũng thích dùng. Ngoài Tôn Long ra còn có Vương An, Lưu Nhược Ngu, tất cả đều rất có tài năng và học vấn.
Cái tên Vương An này nghe rất quen tai. Vương An là thư đồng của đương kim hoàng Thái tử, hoàng đế Vạn Lịch băng hà,
Sau khi Quang Tông lên ngôi đã đề bạt Vương An làm thái giám ghi chép ở bộ Lễ. Ngụy Trung Hiền chính là người được Vương An đề bạt lên đấy, về sau lại quay lại hại chết Vương An.
Lưu Nhược Ngu cũng rất nổi danh, là thái giám duy nhất có tác phẩm được truyền lại đến đời sau, tên sách là “Chước trung chí” ghi chép lại những việc của chốn cung đình.
Trương Nguyên hỏi:
-Vậy Khâu công công-người giám sát quặng mỏ ở Vân Nam có phải là một trong mười tài tử không?
Chung thái giám mỉm cười:
-Khâu Thừa Vân ấy hả, chỉ có thể coi là biết chữ, à, công tử quen biết Khâu Thừa Vân ư?
Trương Nguyên nói:
-Hôm nay tại hạ cũng mới là lần đầu tiên nghe tên Khâu công công, tiểu tử ở bờ kênh đào đã gặp một người bạn cũ, chính là Tần thị- vợ của quan huyện Thạch Trụ là Mã Thiên Thừa cùng với con út Mã Tường Kỳ, nói rằng muốn vào kinh thành tố cáo Khâu công công với hoàng thượng.
Chung thái giám vội hỏi:
-Tố cáo chuyện gì?
Trương Nguyên nói:
-Khâu công công áp tải tiền quặng mỏ đi ngang qua Thạch Trụ, bắt quan huyện ở đó là Mã Thiên Thừa phải mang ba ngàn lượng bạc ra nghênh đón, lại muốn Mã Thiên Thừa chặt một nghìn cây tử sam chuyển đến công sở để làm củi đốt dự phòng, vận chuyển một nghìn gốc cây tử sam to lớn bằng mấy người ôm đó đi Vân Nam, thế thì phải mất biết bao nhiêu nhân lực.
-Mã Thiên Thừa hết sức giận dữ, cả bạc và cây tử sam đều không cho. Khâu công công tới phủ Trùng Khánh đã nói Mã Thiên Thừa cướp của hắn hơn năm mươi ngàn lượng bạc, bắt Mã Thiên Thừa đến thẩm vấn, cuối cùng giam vào lao Vân Dương.
-Đây cũng chỉ là lời nói từ một phía của Tần thị và đệ đệ là Tần Dân Bình, tiểu tử không biết chuyện đó có đúng không nữa.
Chung thái giám cau mày nói:
-Khâu Thừa Vân, ta biết người này, ông ta khá là tham lam và keo kiệt, chuyện này sợ rằng không phải là giả. Công tử nói phu nhân của Mã Thiên Thừa đó mang theo người con út muốn vào kinh thành tố cáo với hoàng thượng à?
Trương Ngyên nói:
-Mã phu nhân Tần thị là người dân tộc Miêu, cũng có phần chịu ảnh hưởng của lễ giáo người Hán, cho nên muốn vào kinh để đối chất với Khâu thái giám.
Nếu muốn dựa vào người dân Thạch Trụ, thì chắc chắn họ sẽ xông vào nhà ngục Vân Dương mà cứu Mã Thiên Thừa ra.
-Công công học rộng biết nhiều, chắc chắn cũng biết dân tộc Miêu ở bên Tứ Xuyên, họ là những người hết sức bướng bỉnh không chịu thuần phục, tác phong nhanh nhẹn dũng mãnh, trước kia tộc trưởng của người Miêu là Dương Ứng Long nổi loạn, triều đình đã phải mất rất nhiều tiền bạc cộng thêm mấy chục quân sĩ bỏ mạng thì mới bình định được. Xưa nay triều đình chủ yếu là lấy ân đức để vỗ về bọn họ, hiện tại Khâu thái giám lại đi vu cáo hãm hại Mã Thiên Thừa như vậy, chỉ sợ sẽ nảy sinh ra một trận nổi loạn lớn. Tiểu tử nghe xong việc này, nhớ đến Chung công công là người trung nghĩa, liền mời Tần thị và đệ đệ là Tần Dân Bình cùng tiểu tử đến gặp Công công, có lẽ Công công sẽ có kế sách để “ngăn cơn sóng dữ” này.
Chung thái giám hỏi:
-Công tử nói em vợ của Mã Thiên Thừa kia cũng tới?
Trương Nguyên nói:
-Họ đang chờ ở ngoài cửa công sở, không dám quấy rầy nhã hứng của Công công, cho nên để cho tiểu tử vào xin phép trước.
Chung thái giám chỉ vào Trương Nguyên cười nói:
-Công tử vòng vo một hồi vẫn là vì có chuyện cần thỉnh cầu mới đến tìm ta, thật đáng giận.
Chung thái giám tuy miệng nói như vậy nhưng ý cười trên mặt không hề giảm, có thể thấy được vừa rồi Trương Nguyên đã dẫn dắt câu chuyện theo một vòng tròn giỏi như thế nào.
Nói cách khác nếu đầu tiên đi nói ngay về chuyện của Mã Thiên Thừa, thì Chung thái giám chắc chắn sẽ không vui, giao tình trước kia cũng ắt sẽ không còn một mảnh.
Trương Nguyên thành khẩn nói:
-Cũng chỉ có Công công là người hiểu rõ chính nghĩa mới có thể giải quyết tốt được việc này, Khâu công công làm như vậy không khỏi có chút bướng bỉnh, chẳng biết nghĩ thay cho hoàng thượng, nếu Công công có thể hóa giải được việc này, dân chúng ở Thạch Trụ chắc chắn sẽ mang ơn Công công nhiều lắm.
Chung thái giám trầm ngâm nói:
-Ta và Khâu Thừa Vân mặc dù không có thù oán gì, nhưng cũng không quen thân, ông ta là một người trần tục, lúc ta ở trong cung rất ít giao thiệp với ông ta.
-Mã Thiên Thừa là quan thổ ty một phương, cũng thật là người keo kiệt, đưa ra ba ngàn lượng bạc có phải là xong rồi không.
Trương Nguyên nói:
-Sau khi Mã Thiên Thừa bị giam vào ngục, Mã phu nhân đã mang năm ngàn lượng bạc đến, nhưng Khâu thái giám không nhận, cứ một mực nói rằng bị cướp năm mươi nghìn lượng bạc, bắt Mã Thiên Thừa phải giao ra năm vạn hai lượng bạc mới bằng lòng tha tội cho.
Chung thái giám lắc đầu liên tục nói:
-Quá tham, quá tham, Khâu Thừa Vân quá tham.
Trương Nguyên nói:
-Công công người nghĩ xem, dân chúng Thạch Trụ vốn rất nghèo túng, nếu cứ cứng rắn muốn cướp đoạt của họ năm mươi nghìn lượng bạc, thì dân chúng nhất định sẽ làm phản đấy. Bây giờ Khâu công công phủi mông đi rồi, đến lúc đại loạn ở Tứ Xuyên nổ ra, chỉ sợ cũng khó tránh khỏi tội.
Chung thái giám gật đầu nói:
-Ta sẽ phân tích rõ lợi hại với ông ta, từ Tứ Xuyên vào kinh thành ông ta sẽ phải đi vòng qua Hàng Châu, phụ thân của ông ta vốn là người Dư Hàng, Khâu Thừa Vân mười hai tuổi đã vào cung, sau khi được thăng chức, phụ thân của Khâu Thừa Vân đến kinh thành thăm ông ta, ông ta buông mành không chịu gặp, còn sai người dùng gậy trúc đánh phụ thân mình vì hận phụ thân năm đó đã nhẫn tâm hoạn ông ta.
-Phụ thân ông ta gọi thật to nhũ danh của ông ta cầu xin tha thứ, lúc này ông ta mới chịu nhận cha, ôm đầu khóc lớn. Mấy năm gần đây năm nào cũng đều mang lễ vật về nhà, nhà họ Khâu dĩ nhiên trở thành phú hào rồi.