7. MƯA Ở COSTA RICA THẬT LẠNH
1.
Một nhóm hai người vừa kêu vừa nhảy bổ ra, cả hai cùng đeo mặt nạ khỉ. Loại mặt nạ bằng cao su mà lũ trẻ thường đeo trong dịp lễ Halloween.
Lúc đó, tôi và Yukiko đang đi bộ trong khu rừng mưa nhiệt đới rậm rạp tới mức tối tăm. Trước sự việc bất ngờ, chúng tôi chẳng thốt nên lời, mắt mở tròn như cú mèo, chân đứng sững tại chỗ. Yukiko cũng không thể hét thành tiếng, cô ấy đông cứng người bên cạnh tôi.
Cả hai đều khá to cao, gã lớn hơn — đứng bên phải chúng tôi — tiến một bước về phía chúng tôi. Từ chiếc áo phông dính chặt vào người gã vì mồ hôi và độ ẩm không khí xung quanh lộ ra cánh tay vạm vỡ, bàn tay trên cánh tay ấy đang cầm thứ gì đó đen đen. Phải mất vài giây tôi mới nhận ra đó là một khẩu súng.
Gã nói gì đó. Không phải tiếng Anh và chiếc mặt nạ khỉ khiến tiếng của gã âm âm bên trong, tôi không thể nghe được.
Tôi giơ hai tay lên, quay sang bên định bảo Yukiko làm theo. Nhưng cô ấy đã giơ tay lên từ khi nào.
Tôi nghĩ rất có thể chúng tôi sẽ bị giết ở đây. Thật khó tin trong hoàn cảnh này sẽ có ai đó không nghĩ như thế. Không thể trông đợi có ai đó tình cờ đi qua giữa khu rừng này. Đương nhiên cũng vì thế nên hai gã này mới đóng đô ở đây.
Tôi có cảm giác trái tim mình đập chậm một nhịp. Tình huống thay đổi quá đột ngột khiến cơ thể tôi không theo kịp. Sau đó, hô hấp của tôi trở nên khó khăn, những giọt mồ hôi lạnh bắt đầu chảy xuống.
Người đàn ông cầm súng lại cất tiếng nói. Tôi nghe thấy từ “Down”. Tôi nghĩ có lẽ gã muốn tôi ngồi xuống, vì thế tôi hạ thấp người, tay vẫn giơ lên cao, nhưng gã đàn ông vừa nói “Down, down” vừa ấn vào lưng tôi.
“Hình… hình như gã muốn chúng ta nằm sấp xuống đó.” Yukiko thì thào với giọng run run.
“Có… có vẻ thế.”
Tôi đặt chiếc máy ảnh treo ở cổ xuống, nằm úp lên lớp cỏ ẩm. Yukiko cũng đặt chiếc ống nhòm cầm trên tay xuống và nằm sấp giống như tôi.
Gã đàn ông còn lại tiến tới gần chúng tôi. Tôi ngẩng mặt lên nhìn, thấy gã đang cầm một cây đao đi rừng rất lớn. Gã định dùng nó để làm gì nhỉ, không phải để chặt đầu ai đó đấy chứ? Nếu làm thế thì dùng súng bắn chẳng nhanh hơn nhiều sao, mà không, có thể bọn gã không muốn người khác nghe thấy tiếng súng. Sự sợ hãi và căng thẳng quá độ khiến những suy nghĩ không lành cứ liên tiếp nảy ra trong đầu tôi. Dù sao tôi cũng có cảm giác chúng tôi không có hy vọng được cứu thoát. Tôi và Yukiko sẽ bị giết, bị mất mạng nơi đây…
Tuy đã chuẩn bị tinh thần như vậy, nhưng có quá nhiều việc tôi không hiểu nổi. Người ta nói trước khi chết, một người sẽ nhìn lại cuộc đời từ trước tới nay của mình như nhìn hình ảnh trên chiếc đèn lồng kéo quân, nhưng trong trường hợp này chuyện đó hoàn toàn không xảy ra. Thứ chiếm hữu trong đầu tôi chỉ là câu hỏi “Tại sao?” Tại sao chuyện này lại xảy ra, tại sao lại ở nơi này, tại sao?
Gã đàn ông cầm cây đao ngồi xuống cạnh tôi, lục tìm trong túi chiếc quần jeans của tôi. Có tiếng leng keng, đó là tiếng gã lấy đi chìa khóa chiếc xe thuê và chìa khóa phòng khách sạn. Chìa khóa khách sạn thì không sao, nhưng bị lấy đi chìa khóa chiếc xe thuê thì không ổn. Tôi vẫn để các đạo cụ máy ảnh trị giá gần một triệu yên trên thùng xe. Toàn những món tôi đã phải cần mẫn lùng tìm rất lâu mới tậu về được. Chúng có thể nể tình mà để lại đám đồ đó cho tôi không nhỉ, mà chắc là không rồi. Dù tính mạng tôi đang gặp nguy hiểm, nhưng suy nghĩ tiếc rẻ đó vẫn xẹt qua đầu tôi.
Tiếp theo, gã đàn ông moi hộ chiếu, séc du lịch, thẻ tín dụng và ví từ trong túi tôi ra. Rồi như thể vơ vét cú chót, gã tháo chiếc đồng hồ trên tay tôi. Đương nhiên, gã không bỏ qua chiếc máy ảnh đặt trên mặt đất. Chiếc máy này tôi mượn từ một người bạn tên Nick. Tôi sẽ phải bồi thường cho cậu ta. Dĩ nhiên trong trường hợp tôi còn sống trở về.
Tiếp theo gã chuyển sang Yukiko. Nhưng sau khi kiểm tra túi quần jeans của cô ấy một chút, gã lầm bầm với giọng thất vọng “No money.” Gã không động tới chiếc ống nhòm của cô ấy.
Sau khi lấy hết những thứ cần lấy, đám cướp bắt đầu trói chúng tôi lại. Thấy thế tôi hơi an tâm. Bởi tôi nghĩ nếu chúng trói chúng tôi lại thì chắc chúng không định giết chúng tôi đâu.
Tuy nói là trói nhưng chúng không dùng dây mà dùng băng dính để quấn hai chân, hai tay chúng tôi. Ngoài ra chúng dùng những chiếc khăn bẩn thỉu để nhét vào miệng chúng tôi. Chúng có vẻ vội vã, tôi nghe ra được hơi thở hổn hển của chúng qua lớp mặt nạ khỉ.
Sau khi trói chúng tôi xong, một trong hai gã vỗ vai tôi, nói “OK, OK.” Có lẽ, gã muốn nói “Đừng lo, tụi tao không định giết chúng mày đâu.”
Một lúc sau, hai gã đi mất. Tôi nghe thấy tiếng động cơ xe ở xa xa. Có lẽ, chúng định chạy trốn bằng chiếc xe mà chúng tôi thuê.
Nhưng trước khi tiếng động cơ xe đi xa dần, một trong hai gã trở lại chỗ chúng tôi. Có lẽ là để kiểm tra xem chúng tôi có cử động được không. Thấy chúng tôi ngồi im gã có vẻ yên tâm, gã nói “Bye” rồi lại đi mất. Lần này, tôi nghe thấy tiếng xe chạy đi, không lâu sau tiếng xe biến mất.
Tôi quay cổ, nhìn Yukiko. Cô ấy cũng bị trói tay phía sau lưng giống tôi, đang nhìn tôi với gương mặt khổ sở. Ánh mắt cô ấy như muốn nói, “Tại sao mọi chuyện lại thế này?” Tôi nghĩ chắc khuôn mặt tôi cũng đang khổ sở không kém gì cô ấy. Nhưng dù sao chúng tôi vẫn giữ được sinh mạng, đó là điều quan trọng nhất.
Không biết từ khi nào, trời bắt đầu rơi mưa lâm thâm. Giọt nước rơi xuống tai tôi lạnh ngắt.
Làm sao để thoát khỏi tình trạng này đây? Tôi thử nhúc nhích tay chân. Tôi nghĩ nếu mình chỉ cử động nhẹ nhàng thì chẳng ích gì, nhưng không ngờ đôi chân tôi lập tức được tự do. Lúc đó tôi đang đi đôi ủng cao su dài, lũ cướp đã dán băng dính bên trên đôi ủng. Thế nên chỉ cần cởi ủng ra là chân tôi được tự do ngay. Chứng tỏ lũ cướp lúc đó rất vội. Còn một chi tiết nữa minh chứng cho điều đó, đấy là chúng đã bỏ qua chiếc túi đeo hông của tôi. Hôm đó, tôi mang theo một chiếc túi quấn quanh hông, nhưng vì tôi nằm sấp nên chiếc túi được giấu dưới bụng, lũ cướp đã không tìm thấy chúng. Trong túi này có một ít tiền lẻ.
Tôi đứng dậy, nói, “Anh đi tìm người tới cứu, em ngồi yên ở đây nhé” bằng giọng ú ớ, rồi chạy đi khi tay vẫn bị trói bằng băng dính và miệng vẫn bị chiếc khăn bịt kín.
Nơi đây là giữa một khu rừng có tên Công viên quốc gia Bralio Galio. Cửa vào công viên nằm trên con đường mang tên Guarpierce Hiwen. Tuy gọi là cửa vào nhưng đó chỉ là nơi rừng cây đứt đoạn một chút, tạo ra một con đường nhỏ đủ để người đi qua. Chúng tôi bị tấn công cách chỗ cửa vào đó khoảng 200 mét đi bộ.
Tôi bước ra đường trong tình trạng tay vẫn bị trói. Chiếc xe tôi thuê quả nhiên đã biến mất. Tôi đứng bên lề đường, chờ một chiếc xe chạy qua.
Không lâu sau, một chiếc xe chở hàng xuất hiện. Tôi vừa cho họ xem hai cánh tay bị trói, vừa nhảy tưng tưng, cố cầu cứu qua nét mặt.
Nhưng chiếc xe chở hàng không dừng lại. Không những thế, nó còn lượn một đường tránh xa tôi như tránh dịch bệnh.
Sau đó, có thêm mấy chiếc xe nữa đi qua, nhưng chiếc nào cũng hành xử như vậy. Không những không dừng lại, chúng còn tăng tốc chạy nhanh hơn. Nếu tôi chủ quan lao ra đường, rất có thể sẽ bị cán chết.
Sau này tôi mới biết bọn tội phạm thường dùng mánh khóe giả làm người cầu cứu để xe dừng lại, khi xe dừng chúng nhanh chóng hiện nguyên hình là lũ cướp, vì thế dân lái xe rất sợ tình huống đó.
Cảm thấy cách này vô ích nên tôi đành quay về chỗ Yukiko. Cô ấy vẫn nằm sấp như cũ, giãy giụa trên mặt đất. Miếng vải đã rơi ra khỏi miệng cô ấy, nhưng lần này nó lại bít kín mũi khiến cô ấy khó thở. Nhìn cảnh đó không hiểu sao tôi thấy buồn cười quá, tôi bật cười ha ha ha trong khi vẫn bị miếng vải chen ngang miệng.
“Anh cười gì thế hả?” Cô ấy cáu kỉnh nói. “Anh hãy mau làm cái gì đó đi. Thật là, thế nên em có muốn tới cái chốn này đâu.” Rồi Yukiko khóc hu hu.
Tôi chạy lại gần cô ấy, dùng đôi tay bị trói sau lưng để cởi băng dính trên tay cô ấy, rồi cô ấy cởi băng dính cho tôi. Phải mất chừng hai mươi phút chúng tôi mới giải phóng được cho nhau. Nhưng vì đã bị cướp mất điện thoại nên tôi không biết chính xác là mất bao nhiêu thời gian.
“Phù, chúng ta gặp chuyện khủng khiếp thật.” Tôi vẫn ngồi đó, nói. Chỗ cổ tay bị trói bằng băng dính của tôi hơi tê nhức.
“Em cứ tưởng mình sẽ bị giết cơ đấy.”
“Anh cũng tưởng vậy.”
“Em chán đất nước này lắm rồi. Chúng ta về sớm đi anh.”
“Anh biết. Nhưng trước mắt ta cần tìm cách đi từ đây về khách sạn đã.”
“Chúng ta vẫy xe đi nhờ đi.”
“Anh thử rồi nhưng xe trên đường không chịu dừng lại.”
“Ơ, sao thế anh?”
“Anh không biết.”
Tôi dẫn Yukiko ra đường, quyết định nhờ giúp đỡ một lần nữa. Nhưng quả nhiên không có xe nào chịu dừng lại cả.
“Mọi người thiếu tình người quá.” Yukiko khóc.
Lúc đó, một chiếc xe bus chạy tới — một chiếc xe cũ có mui, nhả ra làn khói xám cùng với tiếng phì phạch. Nhưng nó vẫn là một chiếc xe bus công cộng.
“Ta sẽ dừng chiếc xe đó lại.”
Chúng tôi cùng vẫy tay. Quả nhiên không có dấu hiệu cho thấy xe đang chạy chậm lại. Tôi ra đứng giữa đường, giơ cả hai tay lên. Cuối cùng, xe cũng dừng.
Người tài xế da đen thui thò đầu ra khỏi cửa xe, nói gì đó với giọng giận dữ. Tôi vội vã chạy lại gần, lặp lại mấy từ “Cướp”, “Xin hãy giúp chúng tôi” bằng tiếng Tây Ban Nha. Yukiko đứng bên cạnh khóc lóc.
Không biết do chú tài xế hiểu lời tôi nói hay do màn diễn xuất của Yukiko đã phát huy tác dụng, tài xế cho phép chúng tôi lên xe. Trên xe có khoảng mười vị khách, ban đầu họ nhìn chúng tôi với vẻ e ngại và khó chịu, nhưng sau khi chú lái xe giải thích, mọi người đều thi nhau nói gì đó. Tôi không hiểu những điều họ nói, nhưng có vẻ họ đều thương cảm cho chúng tôi. Hai chúng tôi cùng ngồi xuống giữa chiếc ghế dài.
“Ở đây có ai nói được tiếng Anh không ạ?” Tôi hỏi bằng tiếng Anh, sau đó nói bằng tiếng Tây Ban Nha “Tiếng Anh, tiếng Anh.”
Mọi người chỉ tay về phía một người đàn ông trung niên ủ dột, trông có vẻ nghèo túng. Bác ta tay vẫn ôm chiếc giỏ, rụt rè đến gần chúng tôi.
“Bác có nói được tiếng Anh không ạ?” Tôi hỏi bằng tiếng Anh.
Bác ta gật đầu.
“Xe này có đi tới San Jose không ạ?”
San Jose là thủ đô của Costa Rica, khách sạn chúng tôi trọ lại nằm ở đó.
Bác ta lại gật đầu.
“May quá. Thế thì chúng ta xoay xở được rồi.” Tôi nói với Yukiko bằng tiếng Nhật.
Bác ta cho tay vào giỏ, lấy ra thứ gì đó như những viên kẹo, đưa ra trước mặt chúng tôi như muốn nói “Anh có ăn không?” Chúng tôi vừa nói “Dạ thôi, cảm ơn bác” vừa lắc đầu. Sau đó, nhìn cách bác ta nói chuyện với các hành khách khác, tôi đoán bác ta chuyên bán kẹo trên xe. Có lẽ vì thế mà bác ta cần biết tiếng Anh.
Chiếc xe bus tròng trành chạy qua con đường núi. Yukiko ngồi cạnh nói nhỏ, “Chúng mình gặp chuyện kinh khủng quá.” Tôi im lặng cúi đầu.
2.
Năm năm trước, theo lệnh điều động từ công ty, tôi chuyển sang chi nhánh ở thành phố Toronto — Canada làm việc. Vì luôn muốn được ra nước ngoài công tác nên cả tôi và vợ là Yukiko khi ấy đều nhảy cẫng lên vì vui sướng. Ở Toronto, chúng tôi thuê một căn hộ ở khu North York.
Lý do lớn nhất khiến chúng tôi muốn làm việc ở nước ngoài là không muốn sống cả đời mình ở đất nước Nhật Bản nhỏ bé và khép kín, nhưng ngoài ra còn một lý do khác nữa, đó là từ trước tôi rất muốn đi ngắm các loài chim nước ngoài. Từ hồi tiểu học tôi đã có sở thích quan sát các loài chim hoang dã, tôi có một niềm tự phụ rằng mình đã ngắm hết các loài chim hoang dã bên trong Nhật Bản. Thậm chí, tôi đã được tận mắt ngắm rất kĩ loài chim Yanbaru Kuina quý hiếm. Đúng lúc tôi định ra nước ngoài ngắm các loài chim hoang dã thì nhận được lệnh này. Và điều khiến tôi sung sướng nhất là nơi tôi chuyển đến chính là Canada — đất nước này là kho báu thiên nhiên, là cuốn bách khoa tự nhiên có số trang vô tận.
Nhưng hồi mới chuyển công tác, tôi chẳng có tâm trí mà đi ngắm chim. Kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh của tôi không đủ đã trở thành trở ngại lớn nhất của tôi khi ấy. Việc giao tiếp giữa tôi với cấp dưới không được suôn sẻ, những rắc rối và sai sót nhỏ liên tiếp xuất hiện. Tôi cũng vô số lần thất bại trong các cuộc trao đổi với đối tác. Nếu chỉ là không biết cười trước những câu nói đùa của đối phương khiến họ cau mày thì còn đỡ, có những lúc gọi điện tôi không nhận ra đối phương đang tức giận, cứ lặp lại những câu trả lời trái ý khiến họ thêm phẫn nộ, giao dịch thiếu chút nữa bị hủy bỏ. Một thời gian sau đó, mỗi lần chuông điện thoại rung tôi lại bồn chồn không yên. Lúc đó, vấn đề trực diện và lớn nhất của tôi là vượt qua rào cản ngôn ngữ.
Sau khoảng một năm, tôi không còn gặp rắc rối với các cuộc trò chuyện thông thường nữa. Sau hai năm, tôi đã theo kịp những buổi trò chuyện liên quan tới kiến thức chuyên môn. Tôi đã có thể cười lấy lòng trước những câu nói đùa nhàm chán. Có điều, tới giờ tôi vẫn chưa hiểu Grace — người được coi là cánh tay trái của tôi — nghĩ gì. Cô ấy luôn lơ đãng, hỏi đáp không thân thiện, suy nghĩ luôn bị chệch đi một chút. Nhưng cô chưa bao giờ gây ra sai sót lớn nào.
“Đó là nhịp điệu riêng của cô ấy. Nếu nhịp điệu ấy sụp đổ, cô ấy sẽ bị hoảng loạn mất.” Một cô gái hiểu rõ Grace đã nói thế nên tôi cũng coi như không có chuyện gi.
Ngoài Grace còn có một người nữa mà mãi tôi không thân thiết được. Đó là bà Taniya sống ở phía sau nhà tôi. Cửa hàng tạp hóa của con trai bà bị sập vì không cạnh tranh nổi với cửa hàng gần đó do một người Trung Quốc mở ra nên bà rất hận người phương Đông. Tôi đã nhiều lần giải thích người Nhật khác và người Trung Quốc khác, nhưng bà lão không chịu hiểu. Vậy mà bà lại biết rõ Nhật Bản đang thu được lợi nhuận rất lớn trong các giao dịch thương mại. Mỗi khi cỏ ở vườn nhà tôi mọc hơi cao một chút, bà lại sang tận nơi nói, “Anh chị có thời gian làm giàu mà không có thời gian xén cỏ à? Quanh đây chỉ có vườn nhà anh chị cỏ mọc lổn nhổm như lớp lông trên lưng con mèo hoang thôi đấy.”
Dù vài vấn đề vụn vặt xảy ra nhưng dần dần chúng tôi cũng quen với cuộc sống ở nước ngoài. Chúng tôi dễ dàng xin nghỉ phép nên đã có nhiều chuyến du lịch tới các vùng miền của Canada để ngắm chim. Thỉnh thoảng, chúng tôi sang cả châu Âu. Từ Canada sang châu Âu rất gần.
Chẳng mấy chốc năm năm trời đã trôi qua, mấy hôm trước công ty mẹ ở Nhật đã gửi fax sang nói chúng tôi hãy thu xếp để chuẩn bị về nước. Chúng tôi hơi buồn nên rủ nhau đi đâu đó du lịch lần cuối.
Tôi là người đề nghị tới Costa Rica. Từ trước tôi đã luôn muốn một lần tới đất nước nhỏ bé được coi là vương quốc của thiên nhiên này. Tôi muốn được tận mắt nhìn thấy loài chim Toucan với chiếc mỏ vịt như hình trái chuối và loài chim ruồi có đôi cánh nhỏ xíu nhưng bay với vận tốc khủng khiếp.
“Nhưng an ninh bên đó thế nào anh?” Yukiko hỏi.
Tôi ưỡn ngực. “Chuyện đó em đừng lo. Nghe nói bên đó an toàn lắm.”
“Thế ạ? Thế thì mình chọn Costa Rica vậy.”
Và thế là điểm đến cho chuyến du lịch cuối cùng của chúng tôi trong thời gian còn ở Canada ấn định là quốc gia nhỏ bé ở Trung Mỹ này. Tôi háo hức chuẩn bị cho chuyến du lịch. Tôi và Yukiko thậm chí đã đi tiêm phòng. Đó là mũi tiêm phòng virus bại liệt Polio, uốn ván và sốt vàng da. Tôi còn uống cả thuốc phòng sốt ban và mua loại thuốc phòng sốt rét — thứ thuốc một tuần uống một lần. Dù có phiền phức đến đâu, nghĩ tới việc được ngắm chim ruồi và chim Toucan là tôi lại thấy bình thường.
Và rồi hôm qua, sau năm tiếng rưỡi ngồi trên máy bay, chúng tôi đã từ Toronto đến được San Jose. Sau một đêm nghỉ ngơi, sáng nay chúng tôi lập tức tới bàn hướng dẫn tour du lịch, xin bản đồ khu vực xung quanh, kiểm tra lại vị trí của công viên quốc gia rồi háo hức lái chiếc xe thuê rời khỏi khách sạn. Lúc đó, tôi vẫn không thể ngờ được rằng chỉ một tiếng đồng hồ sau chúng tôi sẽ phải leo lên một chiếc xe bus cũ nát, gần như không một xu dính túi.
3.
Đã một tiếng kể từ khi chúng tôi lên xe bus. Chẳng có dấu hiệu nào cho thấy xe bus đang tiến tới gần San Jose. Một lúc sau, xe bus dừng lại ở một nơi mang bầu không khí của một khu phố nhỏ. Tài xế xua xua tay bảo chúng tôi xuống xe. Chúng tôi làm theo. Bên ngoài có một chiếc xe bus tương tự đang đỗ.
“Anh ơi, đây là đâu thế?” Yukiko hỏi.
“Anh chỉ biết chỗ này không phải San Jose thôi.”
Bác bán kẹo trỏ tay vào chiếc xe bus còn lại, quay về phía chúng tôi nói, “San Jose, San Jose”. Có vẻ ý bác là hãy lên chiếc xe này.
“Ôi trời.” Tôi thở dài. “Chỗ này hình như là điểm cuối của xe bus, ngược với đầu San Jose thì phải.”
“Hả? Thế nghĩa là chúng ta lại phải lên xe bus và đi ngược lại con đường vừa đi à?”
“Có vẻ thế.”
“Trời…” Gương mặt Yukiko lại xị ra.
Hành khách dần tập trung lại đó. Bác bán kẹo kể với họ về chúng tôi. Không biết bác giải thích thế nào, nhưng mọi người đều quay sang nhìn chúng tôi với ánh mắt thương cảm.
Một ông lão tìm được hai vỏ chai Coca-Cola ở đâu đó mang tới, lấy nước từ vòi gần đó rồi mang cho chúng tôi. Ông nói, “Agua, agua.” Agua nghĩa là “nước”. Chắc ý ông bảo chúng tôi hãy uống nước này đi.
Tôi hơi ngửa người ra sau khi nhận lấy chai nước. Nước trong chai đùng đục màu đỏ nâu. Một thứ gì đó đen đen đang dần lắng xuống đáy chai. Không biết người dân ở đây ra sao, chứ người ngoài uống nước này vào chắc chắn sẽ bị đau bụng.
“Thôi chúng mình giả vờ uống đi em.” Tôi nói với Yukiko bằng tiếng Nhật, đưa chai nước lên miệng. Ông lão có vẻ rất tự hào vì đã đối xử tốt với những người phương Đông tội nghiệp, ông ưỡn ngực gật gù.
Xe bus cuối cùng cũng lăn bánh. Tôi dùng ngôn ngữ cơ thể để hỏi giờ bác tài xế. Tôi nghĩ bác ta biết giờ giấc chính xác, nhưng câu trả lời của bác ta không rõ ràng, tôi chỉ biết giờ khoảng bốn rưỡi chiều.
Sau một tiếng rưỡi ngồi trên chiếc xe bus rung lắc từ đầu đến cuối, chúng tôi về tới San Jose. Lúc chúng tôi xuống xe, bác bán kẹo nói gì đó với chúng tôi. Tôi nghĩ bác ta đã nói dối về việc bản thân biết tiếng Anh, tôi giơ tay lên vẫy chào bác.
Tôi định gọi taxi về khách sạn, nhưng mãi không tìm được chiếc taxi nào. Mặt trời dần lặn xuống, lượng người đi bộ trên đường cũng ít dần. Những người bán đồ ăn bên đường đang dọn hàng. Tôi đang bất an nghĩ tình hình này không ổn thì chợt có tiếng gọi của ai đó sau lưng tôi. Tôi quay lại thấy một chiếc xe đang đỗ đó.
Người thò đầu từ trong xe ra là một cảnh sát. Xe đó là xe cảnh sát. Viên cảnh sát nói gì đó bằng tiếng Tây Ban Nha. Tôi không hiểu câu nói của anh ta, nhưng có vẻ anh ta đang hỏi chúng tôi có vấn đề gì.
Thật may mắn quá. Tôi nhanh miệng kể lại sự tình. Nghe xong câu chuyện của tôi, viên cảnh sát ra dấu bảo tôi lên xe.
Tôi và Yukiko nhìn nhau, thở phào, “Mọi việc sắp ổn rồi.”
Nhưng chuyện không đơn giản đến thế. Tôi tưởng viên cảnh sát sẽ lập tức đưa tôi về đồn cảnh sát, nhưng anh ta lại đi vòng vòng quanh phố. Đôi khi, anh ta còn rẽ vào trong ngõ, bắt chuyện gì đó với người đi đường. Chuyện đó lặp đi lặp lại đến cả tiếng đồng hồ.
“Anh ơi, có chuyện gì thế ạ?” Tôi thử hỏi từ phía sau xe, nhưng anh ta không đáp.
Một lúc sau, anh ta gọi một phụ nữ da trắng lại. Người này tầm bốn mươi tuổi, mặc chiếc áo khoác kaki mỏng. Sau một hồi nói chuyện với cảnh sát, người phụ nữ leo lên xe ngồi cạnh chúng tôi. Sau đó, chị ấy mỉm cười hỏi chúng tôi, “Chuyện gì đã xảy ra với anh chị vậy?” Cảm giác như lâu lắm rồi tôi mới được gặp một người nói tiếng Anh ngoài mình.
Tôi kể lại sự tình cho chị ấy. Chị ấy thương cảm nói, “Tội nghiệp hai người.” Rồi sau đó, chị ấy nói gì đó bằng tiếng Tây Ban Nha với viên cảnh sát. Viên cảnh sát đáp lại rồi khởi động xe chạy đi.
“Giờ anh cảnh sát này sẽ đưa anh chị tới đồn cảnh sát.” Người phụ nữ nói.
“Sao anh ấy không đưa chúng tôi đi ngay hả chị? Khi nãy tôi đã giải thích sự tình rồi mà.”
Người phụ nữ cười khó xử, “Anh ấy không hiểu tiếng Anh đâu. Nhưng nhìn anh chị, anh ấy đoán anh chị đã gặp phải chuyện gì đó không may. Vì thế anh ấy đã cho hai người lên xe rồi đi tìm một người nói được tiếng Anh phiên dịch giúp.”
“Ồ…” Tôi có cảm giác toàn thân được thả lỏng hẳn.
“Hai người không còn đồng nào trong người à?”
“À không, tôi còn một ít.” Tôi mở túi đeo hông, lấy chiếc ví đựng một ít đồng đô-la Canada ra. Nhưng hình như miệng ví bị mở ra từ trước đó nên vài đồng xu rớt xuống. Tôi vội vàng nhặt chúng lên. Người phụ nữ da trắng cùng nhặt giúp tôi.
“Anh chị đến từ Canada ư?” Nhìn đồng xu vừa nhặt lên người phụ nữ hỏi.
“Vâng.”
“Tôi có nhiều bạn bè ở Canada lắm.” Nói rồi người phụ nữ nhét đồng xu vào ví cho tôi.
Khi chúng tôi đến được đồn cảnh sát — một nơi chẳng khác gì nhà dân — đồng hồ đã chỉ hơn bảy giờ tối. Khoảng năm tiếng đồng hồ đã trôi qua kể từ khi chúng tôi bị tấn công. Với thời gian như vậy, chẳng còn mấy hy vọng sẽ bắt được thủ phạm nữa. Tôi trả lời thẩm vấn của cảnh sát với tâm trạng nửa muốn bỏ cuộc. Người phụ trách là một thanh niên trẻ, nhìn như một người bán quả ca cao hoặc thứ gì đó ngoài chợ. Vì anh ta mặc đồng phục nên tôi mới biết anh ta là cảnh sát. Người phụ nữ da trắng cũng ngồi cùng để phiên dịch giúp. Trong lúc nói chuyện, tôi được biết chị là một luật sư. Chị không hề đẹp, nhưng trong đôi mắt tôi lúc này chị thật giống một nữ thần.
Sau khoảng ba mươi phút làm tờ đơn khiếu nại, viên cảnh sát chỉ tay vào Yukiko nói gì đó. Chính xác thì anh ta chỉ vào chiếc ống nhòm cô ấy đeo ở cổ.
“Anh ta hỏi lũ cướp có chạm vào chiếc ống nhòm đó không.” Nữ luật sư nói.
“Tôi không biết.” Yukiko đáp. Tôi cũng không biết.
“Nếu chạm vào thì sao ạ?” Tôi hỏi chị luật sư.
“Có thể dấu vân tay còn lưu trên đó nên cảnh sát muốn mượn chiếc ống nhòm.”
“Vậy chúng tôi nên giao chiếc ống nhòm cho họ. Dù không biết chúng có chạm vào nó không.”
Nghe tôi nói vậy, chị luật sư nói với biểu cảm hơi phức tạp. “Chuyện đó tùy anh quyết định, nhưng tôi sẽ không khuyên anh làm như vậy.”
“Tại sao ạ?”
“Vì không biết về sau anh có được nhận lại nó không.”
Tôi kinh ngạc nhìn viên cảnh sát trẻ. Anh ta đang chăm chú nhìn chiếc ống nhòm của Yukiko. Tôi quay lại nhìn chị luật sư, nét mặt chị như đang nói, “Đương nhiên là thế.”
“Tôi nhớ ra rồi.” Tôi nói chắc nịch. “Chúng không hề chạm vào chiếc ống nhòm.”
Chị luật sư gật đầu như muốn nói, “Nên như vậy.” Viên cảnh sát không nói gì sau khi nghe chị dịch.
Kết thúc buổi thẩm vấn, viên cảnh sát lấy xe chở chúng tôi về khách sạn. Chúng tôi chia tay chị luật sư tại đồn cảnh sát, chị ấy viết số điện thoại của mình vào một mẩu giấy rồi đưa cho tôi, “Nếu gặp rắc rối gì thì gọi cho tôi nhé.”
Khoảng tám giờ rưỡi, chúng tôi về tới khách sạn. Tôi muốn được nằm lăn ra giường ngay lập tức, nhưng chìa khóa phòng cũng đã bị chúng lấy mất. Chúng tôi chạy về phía quầy tiếp tân. Nhìn thấy bộ dạng đầy bùn đất của chúng tôi, các nhân viên tiếp tân thường ngày luôn tỏ ra bình thản giờ cũng phải tròn mắt nhìn.
Chỗ này là khách sạn của một người Nhật nên có vài nhân viên người Nhật. Một trong những nhân viên này đứng ra tư vấn cho chúng tôi.
“Chuyện này thật hiếm gặp.” Đó là cảm tưởng của anh Sato, một nhân viên của khách sạn. “Tôi chưa từng nghe thấy khách người Nhật nào gặp tình huống tương tự.”
“Nhưng đó là sự thật.” Yukiko bực mình nói.
“Vâng, tôi biết. Tôi không nói hai anh chị nói dối mà tôi chỉ bảo chuyện này thật hiếm gặp. Nhưng bản thân việc khách du lịch bình thường tự mình đi vào khu rừng đó đã là một việc lạ thường rồi.”
“Tôi nghe nói an ninh ở Costa Rica tốt lắm mà?” Tôi thắc mắc.
“Nơi đây là một nơi rất tuyệt vời.” Anh Sato mở tròn mắt, đáp. “Chẳng nơi đâu ở Trung Nam Mỹ được an toàn như ở đây. Tôi muốn ngày càng có nhiều người Nhật tới đây du lịch. Sự việc lần này là một việc bất thường, ngoại lệ. Sẽ thật khó cho chúng tôi nếu mọi người cho rằng ở Costa Rica thường xuyên có trộm cướp.”
Lời nói của anh ta thật hùng hồn. Có lẽ, anh ta lo khi về Nhật chúng tôi sẽ phao tin về nơi đây.
Anh ta hướng dẫn cho tôi vài bí quyết cách ứng phó sau này còn tôi nhờ anh ta đổi phòng khách sạn cho. Tôi nghĩ lũ cướp sẽ không tới tận phòng chúng tôi đâu, nhưng việc bị mất chìa khóa phòng làm tôi thấy ghê ghê.
Vào tới phòng, tôi cởi đồ và lên giường nằm. Tôi muốn ngủ luôn nhưng lúc này tôi không thể làm thế. Tôi để Yukiko đi tắm rồi với tay lấy điện thoại bàn. Đầu tiên, tôi gọi điện tới công ty thẻ, thông báo việc gặp cướp. Họ nói sẽ lập tức làm thủ tục hủy thẻ giúp tôi, còn về việc làm thẻ mới thì hôm sau họ sẽ gọi lại cho tôi. Tôi gọi tới công ty séc du lịch và trình bày sự tình.
Sau đó, dù không thoải mái lắm nhưng tôi cũng gọi cho Grace, cấp dưới của mình.
“Alo.” Một giọng nói u ám truyền đến tai tôi.
“Tôi đây.”
“À, anh Ted.”
Dù biết người gọi là tôi nhưng cô ấy vẫn không hề đổi giọng. Trái lại giọng cô ấy còn trở nên nhát gừng hơn.
Tôi cố kể lại sự tình một cách giản lược nhất, rồi bảo cô ấy rằng tôi có một bản sao hộ chiếu trong ngăn kéo bàn ở công ty, nhờ cô ấy sáng sớm mai gửi fax qua cho tôi.
“Sáng mai gửi fax bản sao hộ chiếu cho anh phải không? OK.” Cô ấy chẳng hề tỏ ra kinh ngạc trước cụm từ “bị cướp”, giọng nói của cô đều đều, bình thản. Tôi lo lắng không biết cô ấy có ý thức được chuyện gì đang xảy ra hay không.
Sau khi gọi xong, tôi đặt điện thoại xuống. Đúng lúc ấy, cơn mệt mỏi bất chợt kéo đến. Yukiko từ phòng tắm bước ra nói câu gì đó. Tôi cũng muốn vào đó tắm cho hết mồ hôi, nhưng không làm sao chống lại được đôi mí mắt nặng trĩu.
4.
Sáng hôm sau lúc tôi ngủ dậy, Yukiko đang dốc ngược chiếc túi đeo hông của tôi, khiến mọi thứ bên trong rơi ra tung tóe. Có vẻ cô ấy đang đếm số tiền còn lại của chúng tôi lúc này.
“Còn bao nhiêu hả em?” Tôi hỏi.
“Vâng, khoảng 300 đô-la anh ạ.”
“May quá. Còn từng đó thì vẫn xoay xở được phần nào. Phần còn lại chúng ta có thể tới ngân hàng đổi.”
“Anh ơi, cái này là gì?” Yukiko cho tôi xem một mảnh kim loại tròn nhỏ.
“Anh không biết. Em thấy ở đâu thế?”
“Hình như nó lẫn trong số tiền xu của anh.”
“Ừm…” Hình như tôi từng thấy nó ở đâu rồi, nhưng tôi không thể nhớ ra. “Nhìn nó như linh kiện máy móc gì đó, nhưng anh không có ký ức gì về nó cả.”
“Chắc sau này anh sẽ nhớ ra thôi.” Yukiko nói, nhét mảnh kim loại vào trong ví.
Sau khi ăn bữa sáng rẻ nhất trong nhà hàng của khách sạn, chúng tôi tới quầy hướng dẫn du lịch. Cô gái trẻ phụ trách ở đó có biết về vụ cướp.
“Tôi có người quen là cảnh sát, anh ta đã kể cho tôi nghe.” Cô gái nói. “Khổ thân anh chị. Nhưng trước giờ nơi đây không phải một nơi tệ đến thế đâu.”
“Mọi người đều nói thế, nhưng giờ tôi chẳng còn tâm trạng nào mà tin nữa.” Tôi nói. Gương mặt cô gái như muốn nói, “Tôi cũng đoán anh nghĩ như vậy”.
Tôi làm thủ tục thay đổi toàn bộ dự định khi ở lại khách sạn này, rồi rời khỏi quầy hướng dẫn du lịch. Tôi không còn cơ hội đi ngắm chim ruồi và chim Toucan nữa, nhưng đành chịu thôi. Mục tiêu lớn nhất lúc này của tôi là bình an vô sự trở về.
Trước khi rời khỏi khách sạn, chúng tôi tới quầy tiếp tân, hỏi họ có fax gửi đến cho tôi không. Nhân viên tiếp tân nam ở đó nói không thấy fax gửi đến.
Tôi tặc lưỡi. “Cô Grace đó lại quên lời anh dặn rồi.”
“Thế chúng ta phải làm sao bây giờ?” Yukiko hỏi.
“Chúng ta đành phải tới lãnh sự quán Nhật Bản thôi. Tới đó bảo họ rằng chúng ta sẽ gửi bản sao hộ chiếu tới sau. Thật là, cái cô Grace béo ú đó, đã chậm hiểu lại còn vụng về, luộm thuộm. Cô ta chẳng biết đặt mình vào hoàn cảnh đối phương để mà suy nghĩ bao giờ.” Tôi vừa lầm bầm kêu ca vừa ra khỏi khách sạn.
Tôi tới ngân hàng đổi tiền rồi đi taxi tới lãnh sự quán Nhật Bản. Lãnh sự quán ở đây cũng giống như đồn cảnh sát hôm trước, chẳng khác biệt gì nhiều so với một nhà dân bình thường.
Khi chúng tôi tới, người phụ trách lập tức ra gặp. Anh ta to béo, mặt tròn vo, môi dưới trề ra, ngoại hình anh ta khiến người ta nghĩ tới loài quạ thông xám. Tôi còn chưa kịp nói gì anh ta đã tỏ vẻ thông cảm, “Lần này khổ thân anh chị rồi.” Có lẽ, phía cảnh sát đã gọi cho anh ta chăng.
“Để tôi làm thủ tục cấp hộ chiếu mới cho anh chị.” Anh ta nói.
“Nhưng mà bản sao cuốn hộ chiếu bị cướp của chúng tôi vẫn chưa được gửi tới…” Tôi ngượng ngùng nói khẽ.
Anh ta hấp háy mắt một chút rồi chìa một tờ giấy ra trước mặt tôi hỏi, “Có phải cái này không?” Tờ giấy đó đúng là bản sao cuốn hộ chiếu của tôi và Yukiko.
“Từ đâu mà anh có thứ này vậy?” Tôi tỏ ra kinh ngạc.
“Sáng nay có người gửi nó trực tiếp từ công ty anh đến đây. Trong fax có nhắn, ‘Xin hãy làm thủ tục cấp hộ chiếu sớm nhất có thể giúp chúng tôi.’ Nhờ thế tôi mới biết tới vụ cướp. Nhân viên của anh thật ưu tú, tôi rất ghen tị đấy.”
Nghe anh ta nói, Yukiko nhìn tôi với gương mặt muốn phì cười.
“Vâng, đúng là như vậy.” Tôi đáp lại. “Cô ấy là một người rất chu đáo. Cô ấy luôn giúp đỡ tôi rất nhiều. Không những thế cô ấy còn rất xinh đẹp và thon thả nữa.”
“Ghen tị thật.” Anh ta lặp lại.
Anh ta đề nghị tôi kể chi tiết về vụ cướp, nên tôi thuật lại từ đầu tới cuối cho anh ta. Nghe xong, anh ta khẽ nên một tiếng rồi nói, “Lần đầu tiên thấy chuyện như vậy đấy. Bình thường rất ít khi có móc túi, trộm vặt thôi.”
“Chắc khả năng bắt được thủ phạm gần như bằng không.” Tôi nói.
“Cũng chưa biết được thế nào. Nhưng mà…” Anh ta khoanh tay. “Sao lũ cướp lại nấp ở chỗ đó nhỉ?”
“Thì để ăn cướp mà.”
“Nhưng nấp ở đó thì biết khi nào mới có người đi qua. Anh có nghĩ bọn chúng sẽ ngồi yên ở đó chờ con mồi xuất hiện mà không có mục tiêu cụ thể nào không?”
“Anh nói cũng phải.” Tôi và Yukiko nhìn nhau.
“Dù lũ cướp có thực hiện một chiến thuật kiên nhẫn đến thế đi chăng nữa…” anh ta nói tiếp, “thì chúng cũng đâu biết hai anh chị sẽ chỉ đi hai người? Lỡ trong lúc chúng chĩa súng vào anh chị, một người nào khác đi cùng nhóm với anh chị xuất hiện thì sao, chuyện đó hoàn toàn có thể tính tới chứ.”
“Ý anh là lũ cướp đã nhắm tới chúng tôi từ trước ư?”
“Tôi không khẳng định chắc chắn như vậy, nhưng tôi nghĩ có khả năng đó. Có gã đàn ông nào đó luôn quan sát anh chị không?”
“Tôi không có manh mối gì về việc này cả.”
“Thế à?” Người phụ trách hơi rụt cổ rồi nghiêng đầu nghĩ ngợi. Khi anh ta làm như vậy, trông anh ta càng lúc càng giống quạ thông xám hơn.
“Chúng ta bị nhắm tới từ rất lâu trước đây rồi ư, nghe ghê quá.” Yukiko nói sau khi rời khỏi lãnh sự quán. Tôi cũng đồng tình với cô ấy.
“Nếu như vậy thật thì tại sao chúng lại chọn chúng ta làm mục tiêu nhỉ?”
“Không phải vì chúng ta là người Nhật sao?”
“Nghĩa là chúng nghĩ chúng ta giàu có?”
“Vâng”
“Ôi trời.” Tôi nghĩ Chính phủ cần phải tuyên truyền nhiều hơn với người nước ngoài rằng không phải người Nhật nào cũng giàu có.
Chúng tôi đang đi bộ tới một hiệu ảnh do phía lãnh sự quán giới thiệu để chụp ảnh đưa vào hộ chiếu. Trên đường, chúng tôi đi qua một ngôi nhà dân lớn hơn lãnh sự quán rất nhiều. Phía trong hàng rào sắt có một khu vườn lớn, hai người đàn ông đeo kính râm đang nhàn tản đứng ở đó.
“Hai người họ hình như là bảo vệ.”
“Nhà riêng mà cũng thuê bảo vệ à anh?”
“Có vẻ thế.”
Trên cửa sổ của nhà đó có lắp cả song sắt. Tôi thấy nhiều nhà dân có khung cửa sổ được bảo vệ bởi lớp song sắt ấy.
Nhưng tấm song sắt nào cũng mới tinh như thể vừa mới được lắp đặt gần đây. Ngay cả vụ tấn công chúng tôi cũng vậy, có lẽ cái bóng đen của sự rối loạn trị an đã bắt đầu len lỏi tới đất nước nhỏ bé hòa bình này rồi.
Hiệu ảnh nhìn qua là một cửa hàng mà người ta không biết đang bán thứ gì. Vào bên trong thấy bày vài chiếc máy ảnh kiểu cũ, nhưng không rõ có phải để bán hay không.
Có một phụ nữ trung niên mặc bộ đồ giống như một mảnh vải quấn tùy tiện lên người bên trong cửa hàng. Trông cô ấy hơi lơ đãng, nhưng may là cô ấy nói được tiếng Anh. Cô ấy cũng chính là người chụp ảnh cho chúng tôi. Cô ấy dùng máy ảnh một cách khá thô bạo, tôi lo lắng không biết cô ấy có chụp được bức ảnh nào tử tế không, nhưng đành phải trông cậy vào cô ấy thôi.
Trong lúc tới phiên Yukiko chụp ảnh, tôi cầm những chiếc máy ảnh đặt trong hiệu ảnh lên xem. Tôi thấy mình thật thảm hại khi cất công tới tận Costa Rica mà không chụp được bức ảnh chim nào. Nhưng lúc này, tôi không còn đủ tiền để mua một chiếc máy ảnh ở đây nữa.
Trong khi tiếc nuối ngắm nghía chiếc máy ảnh, đột nhiên mắt tôi dừng lại ở một điểm. Tôi sực nghĩ và lôi ví ra.
“Sao thế anh?” Chụp ảnh xong, Yukiko quay sang hỏi tôi.
“Là cái này.” Tôi lôi mảnh kim loại tròn mà sáng nay cô ấy tìm thấy ra. “Cái này chính là cái nắp của hộp đựng pin dạng cúc áo của máy ảnh.”
“Ồ!” Có vẻ cô ấy cũng vừa nhớ. “Thế nó là nắp hộp đựng pin của chiếc máy ảnh anh mượn của Nick à?”
“Chắc thế. Chắc nó đã rơi ra vào một lúc nào đó nên anh đã nhặt và nhét vào ví cùng với đám tiền xu.” Tuy nói vậy nhưng tôi vẫn thấy thắc mắc. Bởi tôi không hề có ký ức về việc này.
Cô chủ hiệu ảnh nói ngày mai mới có ảnh. Nghe nói không thể sử dụng ảnh chụp nhanh được.
Sau đó, chúng tôi tới công ty cho thuê xe và được biết bảo hiểm sẽ chi trả các tổn thất do trộm cướp. Ở văn phòng cho thuê, họ cũng nói vụ cướp thật là “một sự việc hiếm thấy”. Nghĩa là tôi và Yukiko đã trở thành nạn nhân của vụ cướp đầu tiên ở Costa Rica rồi ư?
Buổi tối, tôi gọi cho Nick đang ở Canada. Vừa nghe thấy giọng tôi, anh ta liền nói, “Xem ra cậu tận hưởng chuyến du lịch vui vẻ của mình ghê đấy chứ.” Anh ta rất hay nói đùa những câu kiểu đó. Có vẻ anh ta được nghe Grace kể về chuyện bên này rồi. “Nhờ ơn trên cả.” Tôi đáp.
“Thế thì tốt rồi. Ann khỏe chứ?”
“Cũng tạm.” Họ gọi Yukiko là Ann. “Nhân tiện, có việc này tôi phải xin lỗi cậu. Về chiếc máy ảnh của cậu: nó cũng bị bọn cướp lấy đi rồi.”
“Ô, quả nhiên là như vậy. Lẽ ra, tôi không nên cho cậu mượn. Cái máy ảnh đấy có lịch sử lâu đời lắm, ông cố tôi đã dùng nó để chụp ảnh kỷ niệm với chú Tom đấy. Không phải muốn mua là mua được đâu. Không có cách nào để định giá nó. Nên dù muốn cậu bồi thường, tôi cũng không biết nên đòi bao nhiêu. Nghĩa là tôi không thể đòi cậu bồi thường được. Thật đáng tiếc nhưng tôi đành bỏ cuộc vậy.” Anh ta nói nhanh như súng máy. Tôi cười khó xử.
“Như vậy không được. Tôi sẽ tìm mua một chiếc máy ảnh khác trả cậu.”
“Không cần bận tâm chuyện đó đâu. Tôi chưa kể với cậu, nhưng cái máy ảnh đó cũ lắm rồi, Màn trập của nó hoạt động chập chờn, nắp hộp pin thì hở tí là rụng ra mất.”
“Quả nhiên là như vậy. Thực ra cái nắp hộp pin thì vẫn còn nguyên đây. Để tôi mang về trả cậu nhé.”
“Ừ, hãy làm thế giúp tôi. Tôi chưa kể với cậu, thực ra phần đắt giá nhất trên cái máy ảnh đó chính là nắp hộp pin đấy.”
“Tôi sẽ cho nó vào két sắt, bảo quản cẩn thận.” Tôi cười ngặt nghẽo rồi cúp máy.
5.
Hôm sau, vì không có việc gì làm nên chúng tôi quyết định đi thăm các điểm du lịch gần đó. Chúng tôi tới quầy hướng dẫn du lịch, cô gái trẻ hôm trước vẫn nhìn chúng tôi với ánh mắt thương cảm.
Tôi nói giờ tôi không có nhiều tiền, có tour du lịch xe bus rẻ rẻ nào không, cô ấy đáp có một tour đi tới khu bảo tồn Calala bằng xe bus mini. Tôi nghĩ chỉ cần cảm nhận được cảm giác đi du lịch là được, nên quyết định đăng ký tham gia tour này.
“Nhân tiện, hôm qua tôi tìm thấy bài này.” Nói rồi cô gái ở quầy hướng dẫn du lịch cho tôi xem tờ báo địa phương có tên Chico Times. Trong tờ báo có một bài viết nói ba tuần trước có một người Anh tới ngắm chim bị cướp tấn công, tác giả bài báo chính là nạn nhân của vụ cướp. Tuy địa điểm khác với nơi chúng tôi bị tấn công, nhưng hai vụ giống nhau ở chỗ nhóm cướp có hai người và cả hai tên đều đeo mặt nạ khỉ.
“Có lẽ, thủ phạm của vụ này cũng chính là những tên cướp trong vụ của chúng ta.” Tôi nói với Yukiko. “Sau khi thực hiện trót lọt vụ đầu, chúng thấy ngon ăn quá nên đã dùng lại cách đó.”
“Vậy nghĩa là có thể chúng sẽ lặp lại chuyện tương tự là anh?”
“Ừ.”
Tôi hỏi cô gái ở quầy hướng dẫn du lịch rằng tôi có thể mượn tờ báo đó được không, cô ấy đồng ý.
Quá trưa, chúng tôi lên chiếc xe bus mini trước cổng khách sạn, đi về khu bảo tồn Calala. Những khách du lịch đi cùng chúng tôi đều mang theo máy ảnh. Chúng tôi chỉ có một chiếc ống nhòm.
“Càng những lúc không có máy ảnh chúng ta lại càng hay thấy những chú chim hiếm.” Ngồi trên chiếc xe bus lắc lư, Yukiko lầm bầm.
Người đàn ông da trắng thân hình săn chắc ngồi cạnh tôi đang nhét cuộn phim vào máy ảnh một cách vụng về. Có vẻ anh ta chưa quen lắm.
“Không biết lũ cướp làm gì với đám phim trong máy ảnh nhỉ?” Tôi thắc mắc.
“Chắc chúng vứt đi thôi.”
“Chắc thế. Giá mà anh bảo chúng để lại cuộn phim cho mình.”
“Tại sao? Anh đã chụp bức nào đâu?”
“Trước lúc chúng xuất hiện anh đã kịp chụp hai, ba tấm rồi. Có mấy con chim khá hiếm.”
“Chà, tiếc thật.”
Nói rồi Yukiko lơ đãng ngắm cảnh ngoài cửa sổ, nhưng rồi như chợt nhớ ra điều gì, cô ấy quay sang nhìn tôi. “Anh này, lúc chụp ảnh anh không cần tới pin cúc áo à?”
“Pin ư? Có chứ. Anh dùng nó để điều chỉnh tốc độ màn trập và phơi sáng.”
“Nhưng lúc đó nắp hộp pin đã bị rời ra rồi đúng không anh? Như vậy vẫn dùng được ạ?”
“A…” Tôi kinh ngạc há miệng, người cứng đờ lại.
Yukiko nói đúng. Nếu nắp hộp pin rời ra thì pin cũng sẽ rơi ra ngoài. Nếu chụp ảnh lúc đó, tôi sẽ nhận ra điều bất thường ngay. Nếu không nhận ra điều gì thì chứng tỏ cả nắp hộp pin và pin đều không vấn đề gì. Vậy tại sao sau khi bị cướp mất máy ảnh, tôi lại tìm thấy nắp hộp pin trong ví của mình?
“A!” Tôi và Yukiko cùng thốt lên. Tôi đứng dậy, kêu lớn với tài xế “Stop!!”
6.
Đã bốn ngày trôi qua kể từ vụ cướp đó. Tôi và Yukiko cầm hành lý trên tay, bước vào sân bay. Sau khi hoàn thành thủ tục ở quầy tiếp đón, khi đang nhìn quanh tìm quán cà phê ngồi tạm thì tôi nghe thấy tiếng gọi phía sau lưng mình. Ngoảnh lại, tôi thấy nữ luật sư Cathy đang tiến về phía chúng tôi.
“May quá, vẫn kịp gặp anh chị.” Chị ấy mỉm cười nhìn chúng tôi.”
“Chị đi tiễn chúng tôi ư? Cảm động quá.”
“Vì tôi không muốn anh chị nghĩ Costa Rica là một nơi tồi tệ.”
“Tôi không nghĩ đây là một nơi tồi tệ.” Tôi cau mày đáp. “Chỉ là lần này chúng tôi không may mắn thôi.”
“Mong rằng khi nào độ may mắn của anh chị tăng lên, hai người sẽ quay lại đây lần nữa.” Cô ấy nói rồi nháy một bên mắt.
Ở đó có cây bán cà phê nên chúng tôi đặt những cốc cà phê giấy cạnh nhau, vừa uống vừa trò chuyện.
“Hai người giải quyết xong vấn đề tiền nong chưa?” Cathy không ngần ngại hỏi.
“Vâng, về thẻ tín dụng, công ty thẻ đã cấp cho tôi một chiếc thẻ tạm thời chỉ dùng được trong một tháng. Về séc du lịch, bọn cướp đã mang đi đổi ra tiền mặt, nhưng phía ngân hàng thấy chữ ký không giống nên toàn bộ số tiền đã được trả lại cho tôi.”
“Vậy chỉ mất các vật dụng thôi nhỉ?”
“Mấy món đi kèm máy ảnh của tôi đều được đóng bảo hiểm nên chắc không vấn đề gì. Vấn đề là chiếc máy ảnh tôi mượn của bạn mình. Tôi phải bồi thường cho anh ta món đó.”
“Chiếc máy ảnh của Nick ấy hả?” Chị Cathy cười. “Nhưng cũng nhờ chiếc máy ảnh đó mà anh tìm được manh mối.”
“Thế nên tôi càng phải cảm ơn anh ta.” Tôi cười.
Tại sao nắp hộp pin lại nằm trong ví của tôi? Lúc nghĩ về việc đó, tôi chợt nhớ ra mình từng làm rơi tiền xu trong xe cảnh sát. Có lẽ, tôi đã nhặt cái nắp lên cùng với đám tiền xu lúc đó.
Vậy có nghĩa là trước khi chúng tôi lên xe, cái nắp đó đã rơi trong xe cảnh sát rồi. Cái nắp đó không phải nắp hộp pin trên máy ảnh của Nick, mà có ai đó cũng có một chiếc máy ảnh bị hỏng nắp hộp pin như thế và người đó đã làm rơi cái nắp trên xe ư? Nhưng tôi không nghĩ có chuyện trùng hợp ngẫu nhiên đến thế. Nắp hộp pin trên máy ảnh không phải thứ dễ dàng rơi ở mọi nơi như vậy.
Và rồi tôi lại nhớ ra thêm một chuyện. Chúng tôi không tình cờ bước lên chiếc xe cảnh sát đó. Viên cảnh sát đã gọi khi chúng tôi đang đi tìm taxi.
Tôi gọi cho chị luật sư Cathy, kể lại sự tình. Nhận ra điều tôi muốn nói, chị ấy đã lập tức gọi cho cảnh sát.
Tôi không nắm rõ quá trình sau đó, nhưng hình như chiếc xe cảnh sát ấy đã bị khám xét. Họ đã tìm thấy một cục pin cúc áo dành cho máy ảnh rơi trong xe. Họ truy hỏi viên cảnh sát đã lái chiếc xe, anh ta nhanh chóng khai ra mọi việc.
Theo lời viên cảnh sát, anh ta quen hai tên cướp trong một quán bar. Sau một vụ cá cược nho nhỏ, viên cảnh sát nợ tiền bọn cướp. Anh ta không có tiền trả nên bọn cướp đã đề nghị anh ta giúp đỡ công việc của chúng. Thỏa thuận giúp đỡ rất đơn giản, khi có một nhóm du lịch ít người, anh ta hãy báo cho chúng hoạt động của nhóm đó.
Viên cảnh sát khai lúc đó anh ta không biết bọn chúng định đi cướp giật, nhưng hiện chưa biết anh ta nói thật hay nói dối.
Ngày hôm đó, trong lúc nói chuyện với cô gái làm ở quầy hướng dẫn du lịch — người anh ta có mối quan hệ thân thiết từ trước — anh ta biết tin có một đôi vợ chồng người Nhật đến từ Canada sắp đi thăm công viên quốc gia Bralio Galio. Anh ta cho hai tên kia biết thông tin đó. Hai tên cướp đã tấn công đôi vợ chồng người Nhật — chính là chúng tôi — để cướp tiền và tài sản.
Sau đó, hai tên cướp tới chỗ viên cảnh sát, cho anh ta xem những thứ cướp được. Có lẽ, nắp hộp pin máy ảnh đã rơi ra lúc ấy. Viên cảnh sát khẳng định lúc đó anh ta mới biết mục đích của hai tên đó là cướp giật, nhưng vì anh ta đã cung cấp thông tin cho chúng nên lo sợ sẽ bị coi là đồng phạm, thế nên không dám khai ra điều gì. Nhưng vì cảm thấy có lỗi với đôi vợ chồng người Nhật nên anh ta đã lái xe cảnh sát đi tìm kiếm và trợ giúp.
“Chị có nghĩ tay cảnh sát ấy nói thật không?” Tôi uống một ngụm cà phê rồi hỏi chị Cathy.
“Có lẽ là nói dối.” Chị ấy đáp. “Tôi nghĩ anh ta đã bán thông tin của hai người cho bọn chúng để được chia chác. Vì ba tuần trước cũng có một vụ tương tự mà. Vả lại, tôi nghĩ anh ta cho anh chị lên xe cảnh sát vì hai mục đích. Thứ nhất là để kiểm tra xem anh chị có được bao nhiêu dữ liệu về bọn cướp. Thứ hai là để kéo dài thời gian. Anh ta đã để hai người trên xe và chạy xe vòng vòng quanh khu phố, phải không?”
“Vâng.”
“Nhưng cuối cùng việc đó đã trở thành sai lầm trí mạng của anh ta. Vì anh đã nhặt được nắp hộp pin của chiếc máy ảnh bị cướp mất trên xe anh ta mà.”
“Ngoài ra, thật đen đủi cho anh ta vì chúng tôi đã gặp được chị.”
Nghe tôi nói, chị luật sư Cathy bật cười để lộ hàm răng trắng bóc. “Thật vui khi được nghe anh nói thế.”
Về hai tên cướp, cảnh sát chỉ biết chúng vứt chiếc xe thuê cướp được ở bãi đỗ xe sân bay, ngoài ra không tìm được thông tin gì thêm. Chị Cathy cho rằng cảnh sát không tích cực truy đuổi chúng, tôi cũng nghĩ vậy.
Đã tới giờ lên máy bay nên chúng tôi đứng dậy.
“Hãy tới đây thêm một lần nữa nhé.” Chị Cathy vui vẻ mời.
“Khi nào tôi thấy mình đủ may mắn.” Tôi đáp. Miệng đáp vậy nhưng trong lòng tôi nghĩ tôi sẽ không bao giờ quay lại đây nữa.
Giống như lúc đến, chúng tôi cũng mất năm tiếng ngồi trên máy bay để trở về Canada. Về tới Toronto, tôi thấy mệt mỏi rã rời.
Chúng tôi lên taxi về nhà. Con phố thân quen lọt vào tầm mắt. Chúng tôi đã đi du lịch nhiều lần, nhưng chưa bao giờ tôi thấy con phố này thân thương đến thế.
Chúng tôi xuống xe trên đường Princess Avenue. Khu vườn với thảm cỏ xanh, mái nhà lợp ngói, đúng là nhà của chúng tôi rồi.
Lúc tới gần cánh cửa, tôi nhìn thấy một tờ giấy được dán trên đó. Trên tờ giấy trắng có dòng chữ được viết bằng bút dạ như sau:
Welcome home, Ted & Ann
Những con chữ nguệch ngoạc này hẳn là của bà lão Taniya rồi. Có lẽ, Grace đã gọi cho bà. Nhìn mảnh giấy, sức lực trên người tôi như bay biến hết. Tôi ngồi sụp xuống đó, còn Yukiko bật khóc.