Virtus's Reader
Trường An 12 Canh Giờ

Chương 1: Mục 2

Mục lụcSau

CHÍNH TỴ[10 GIỜ SÁNG]

Xa xa phía chân trời, một đoàn người mặc áo đen đang cưỡi ngựa phi nước đại chạy về phía này. Trên mặt sông hướng ấy, bóng tịch dương đỏ quạch họa thành khung tròn vành vạnh. Giữa tòa thành đơn độc, cột khói hiệu bốc thẳng lên bầu trời nhuộm một màu ảm đạm.

Chính Tỵ, ngày 14 tháng Giêng năm Thiên Bảo 3

Chợ Tây, thành Trường An.

Tiết xuân se lạnh, ánh nắng chói chang. Thành Trường An, trời xanh trong vời vợi, Hôm nay hẳn là một ngày đẹp trời.

Kẹt một tiếng, hai cánh cửa nặng trịch của chợ Tây được chậm rãi đẩy ra. Một lá cờ khai minh thần thú được treo lên cao, chính giữa xà ngang cổng chợ. Hơn chục đội lạc đà đã tập trung ở đoạn đường phía ngoài. Vừa thấy lá cờ được treo lên, họ lập tức xôn xao hẳn. Trai tráng lấy roi da trâu khua đám lạc đà đang thong dong nằm trên mặt đất đứng hét lên, đoạn kiểm kê lại số thùng hàng và hô hoán đồng bạn lại, í ới nhau huyên náo cả một góc đường bằng thứ khẩu âm nước ngoài lạ lẫm.

Đây là thương đội người Hồ(*) [Sec-26.xhtml#n1] cuối cùng đến Trường An trước tết Nguyên Tiêu. Họ khởi hành từ những vùng đất xa xôi như Phật Lâm, Ba Tư…, rong ruổi suốt ngày đêm chỉ để kịp tham gia lễ hội quan trọng nhất Trường An. Bắt đầu từ đêm nay, lễ hội đèn lồng Thượng Nguyên(*) [Sec-26.xhtml#n2] sẽ kéo dài liên tục suốt ba đêm. Đây cũng là dịp để các bậc quyền quý Đại Đường vung tiền không tiếc tay.

Các quan viên chợ tay cầm sổ, tay cầm bút, mặt mũi lạnh tanh đứng ở hai bên lối vào cổng Tây, lạnh lùng kiểm tra từng giấy tờ thông quan và hàng hóa. Hôm nay là một ngày đặc biệt, chợ Tây mở cửa sớm hơn thường lệ nửa canh giờ. Những quan viên này muốn nhanh chóng hoàn thành công việc để về nhà ăn Tết nên tốc độ kiểm tra đương nhiên cũng nhanh hơn.

Một viên quan già nhanh chóng ghi danh xong cho một nhóm thương nhân Ba Tư, đoạn vẫy tay với người xếp hàng phía sau. Một thương nhân người Hồ trong chiếc áo choàng ngắn màu hạt dẻ có hai ve cổ áo nhanh chân chạy đến, kính cẩn trình giấy thông quan lên bằng hai tay. Viên quan già nhận lấy, liếc nhìn một cái liền sửng sốt. Giấy thông quan không có vấn đề gì. Người nộp đơn tên là Tào Phá Diên, người Túc Đặc, đến từ Khang Quốc. Trong chuyến đi đến Trường An lần này, hắn ta dẫn theo tổng cộng mười lăm người hầu, mười lăm con lạc đà, một con ngựa đực và hàng hóa gồm có ba mươi tấm thảm lông cừu cùng với đồ da đủ màu. Trên giấy thông quan có đủ con dấu của các cửa khẩu.

Vấn đề không nằm ở giấy tờ, mà ở hàng hóa. Lão làm nghề này đã hơn hai mươi năm, từng gặp không biết bao nhiêu thương đội, thấy qua không biết bao nhiêu hàng hóa, nên đã sớm đã rèn luyện được đôi mắt tinh tường như chim ưng. Cả đội buôn mười sáu người nhưng lại chỉ có một ít hàng hóa thì chi phí bình quân phải cao nhường nào? Hơn nữa, Trường An đã lập xuân, thị trường thảm lông cừu đang hạ nhiệt, nên cho dù có bán được hết số hàng hóa này thì e rằng cũng không đủ chi phí đi về. Trên đời này sao lại có thương nhân xuẩn ngốc như vậy?

Lão không khỏi nhíu mày, cẩn thận nhìn kĩ thương nhân người Hồ trước mặt. Tào Phá Diên khoảng ba mươi tuổi, mũi cao, mắt sâu, chiếc cằm gầy với bộ râu quai nón thô ráp nom như một chiếc bàn chải. Nếu tính cả chiếc mũ nỉ chóp cao màu trắng trên đầu thì hắn phải cao hơn bảy thước(*) [Sec-26.xhtml#n3].

Lão hỏi một vài câu đơn giản, Tào Phá Diên lần lượt trả lời từng câu một. Hắn không thạo tiếng Đường, nói năng trúc trắc, quanh đi quẩn lại cũng chỉ mấy từ. Trong suốt quá trình ấy, hắn chỉ giữ biểu cảm lạnh lùng, không hề cười, nom chẳng giống một thương nhân chút nào. Viên quan già nhận ra tay phải Tào Phá Diên luôn vô thức sờ vào hông trong lúc trả lời câu hỏi. Đây là kết quả của việc quen cầm vũ khí, có điều hiện tại trên thắt lưng hắn chỉ có một cái móc nhỏ bằng đồng trống không. Để đảm bảo an ninh trật tự, tất cả vũ khí tùy thân của thương nhân đều bị giám quan ở cửa thành tịch thu trước khi vào thành, và sẽ chỉ được trả lại khi họ rời khỏi đây.

Viên quan già thản nhiên đặt bút và sổ xuống, rồi rảo một vòng quanh đoàn xe của Tào Phá Diên. Hàng hóa hoàn toàn bình thường. Mười lăm người đồng hành đều là người Hồ, mặc quần bó sát, đi giày mũi nhọn và đều trạc tuổi Tào Phá Diên. Mỗi người bọn họ dắt một con lạc đà, dáng vẻ trầm mặc nhưng bờ vai dường như lại hơi gồng cứng.

Đám này có vẻ căng thẳng. Viên quan già âm thầm phán đoán, đoạn cầm bút lên, định phê một chữ ‘Chưa’ trên giấy thông hành với ý hoài nghi thân phận của thương đội này và cần được giám sát cấp trên của chợ Tây tiếp tục kiểm tra. Nhưng đúng lúc bút còn chưa kịp hạ xuống thì đã bị một bàn tay to lớn ngăn lại. Viên quan già ngẩng đầu lên thì thấy một người đàn ông mặt rộng, mày rậm đang mỉm cười với mình. “Thôi Lục Lang?”

Người này là lái buôn có tiếng ở Tây Thị, quan hệ rộng. Các việc như buôn bán, kho bãi, thuê phòng, tìm người, kiện tụng, đàm phán,… mà tìm đến hắn thì không sai đi đâu. Vì vậy, mặc dù hắn không có chức tước nhưng lại rất được chào đón ở đây.

Thôi Lục Lang vừa cười tít mắt vừa nói: “Lão chưa ăn sáng đâu nhỉ? Tôi có mang đến cho lão một cái bánh đây.” Nói xong, hắn đưa ra một chiếc bánh vừng nóng hôi hổi, phủ đầy hạt vừng bóng nhẫy, mùi thơm nức mũi. Viên quan già vừa cầm một cái liền phát hiện một miếng bạc nhỏ được ấn sâu vào mặt sau của chiếc bánh. Lão âm thầm cân nhắc. Chỗ này chắc chưa được hai lượng, không đổi thành tiền giấy được, nhưng chắc cũng đủ để đánh cho con gái rượu một cây trâm tốt.

“Mấy anh bạn này lần đầu đến Trường An, còn lạ nước lạ cái nên không nắm được nhiều quy tắc. Mong lão châm chước cho!” Thôi Lục Lang thấp giọng nói.

Viên quan già hơi do dự, nhưng nghĩ đến cái bánh vừng trong tay lại mắt nhắm mắt mở đặt bút phê lên giấy thông quan một chữ ‘Duyệt’, cho phép đám người này vào chợ. Thôi Lục Lang chắp tay cảm ơn rồi quay người nói một tràng tiếng Túc Đặc. Tào Phá Diên nghe vậy chỉ khẽ gật đầu, không hề tỏ ra vui vẻ hay hào hứng.

Thôi Lục Lang dẫn cả đoàn nối đuôi nhau dọc theo con hẻm nhỏ tiến vào chợ Tây. Qua con hẻm, một ngã tư đường rộng thênh thang hiện ra trước mắt họ. Từ ngã tư ấy tỏa ra bốn phía đông, tây, nam, bắc, đường lớn hướng nào cũng tấp nập hàng quán. Nào là tơ lụa, đồ sắt, gốm sứ đến cả yên ngựa, trạm dịch, kim hoàn rồi cả nhạc khí…, tất thảy đều có đủ. Đặc điểm chung của những cửa tiệm này là đều có mái bằng như sân, khác với kiến trúc của Trường An. Nguyên nhân không phải vì những thương nhân người Hồ này thương nhớ cố hương, mà là vì ở nơi tấc đất tấc vàng như kinh đô thì việc để mái bằng sẽ giúp tích trữ được nhiều hàng hóa hơn.

Lúc này, các hàng quán vẫn chưa chính thức mở cửa nhưng nhà nào nhà nấy đã treo cao cờ hiệu. Cờ phướn phất phới, che rợp cả khoảng trời trên con phố rộng thênh thang. Đôi câu đối Tết bên mép cửa còn chưa được gỡ xuống, mấy khung đèn lồng đủ hình đủ kiểu đã được treo cao để chuẩn bị cho buổi du hội hoa đăng tối nay. Đèn còn chưa treo hết nhưng không khí lễ hội đã tràn ngập khắp nơi.

“Thành Trường An của chúng tôi có tổng cộng một trăm lẻ tám phường, với mười bốn trục đường lớn theo hướng bắc nam và mười một trục đường lớn theo hướng đông tây. Phường nào cũng có tường bao. Bất kể ăn uống, chơi bời, bàn chuyện làm ăn hay là ở trọ, các ngài đều chỉ được làm trong phạm vi phường. Bình thường buổi tối có lệnh giới nghiêm, không được phép ra ngoài, nhưng đêm nay thì không phải lo. Tối nay có hội hoa đăng nên tạm thời sẽ buông lỏng hơn. Thực ra ngày mai mới đúng là tết Thượng Nguyên, nhưng hội hoa đăng đã bắt đầu từ đêm nay rồi…” Thôi Lục Lang vừa đi vừa nhiệt tình giới thiệu về thành Trường An cho đoàn thương nhân.

Tào Phá Diên đảo mắt nhìn hai bên, ánh mắt luôn mang theo vẻ cảnh giác như một con chim ưng chưa đủ lão luyện. Tiếng ngựa hí, tiếng bánh xe lộc cộc, tiếng lữ khách vội vã đi lại như mắc cửi, không một ai chú ý đến thương đội nhỏ này.

Tới ngã tư đường, Thôi Lục Lang dừng bước. “Chúng ta đi đâu tiếp đây? Tìm quán trọ hay là các ngài đã có chi nhánh ở đây rồi?”

Tào Phá Diên lấy một mảnh giấy được gấp gọn gàng từ trong ngực ra, đoạn đưa cho người đối diện. Thôi Lục Lang hơi giật mình rồi mỉm cười. “Thì ra ngài đã sắp xếp đâu ra đó rồi. Nào! Đi bên này!” Hắn đưa tay phất về bên phải, điệu bộ có chút nghênh ngang, đoạn đưa chân bước tiếp còn những người khác thì theo sát phía sau.

Tào Phá Diên không hề hay biết rằng một màn lén lút vừa rồi giữa hắn và Thôi Lục Lang đã rơi vào tầm mắt của một vị võ hầu đứng trên vọng lâu cách đó không xa. Vọng lâu là một cái đình bằng gỗ sơn đen, cao hơn tám trượng(*) [Sec-26.xhtml#n4], đứng sừng sững ở chính giữa chợ Tây, từ đó người ta có thể bao quát mọi động tĩnh ở cả khu chợ rộng lớn. Trên vọng lâu có những võ hầu, họ đều là những người đã trải qua tuyển chọn gắt gao với thị lực tinh tường, không bỏ sót bất kì động tĩnh nào trong chợ.

Ngay từ khi bước chân vào chợ, Thôi Lục Lang và Tào Phá Diên đã bị bí mật theo dõi chặt chẽ. Vừa thấy động tác tay của Thôi Lục Lang, một vị võ hầu liền lập tức đứng dậy, lấy một lá cờ đen rồi vẫy ba lần về phía đông, cứ thế lặp lại ba lần. Gần như ngay tức thì, một lá cờ đen như vậy cũng được vẫy lên ở một vọng lâu cách đó chừng ba trăm bộ(*) [Sec-26.xhtml#n5] về phía đông, rồi một vọng lâu khác ở phía đông cũng nhanh chóng đáp lại. Cứ như vậy, chưa tới mười giây sau, tốc độ truyền tin của cờ hiệu đã băng qua một con phố dài, đến tận phường Quảng Đức nằm cách Tây Thị hẳn một phường.

Nằm ở góc đông bắc phường Quảng Đức là nha môn Kinh Triệu phủ, kế bên là chùa Từ Bi, ở giữa còn có một đình viện nhỏ kín đáo. Đó vốn là nhà cũ của Tôn Tư Mạc(*) [Sec-26.xhtml#n6], song ngày nay cũng không còn chút dấu tích nào về vị Dược vương này nữa. Thay vào đó, nó bị bao trùm bởi một bầu không khí tiêu điều. Một tòa vọng lâu cao sừng sững được dựng lên giữa viện, cao hơn hẳn so với những vọng lâu khác. Một võ hầu đứng trên vọng lâu nhìn thấy cách lá cờ đen được vẫy phía xa, liền lập tức ghi lại màu cờ và số lần vẫy cờ trên một thẻ tre rồi nhanh chóng ném xuống đất.

Một người lính thông tin cao lớn đứng sẵn dưới vọng lâu nhanh tay tóm lấy thẻ tre, sau đó tức tốc đưa vào đại điện cách đó chừng ba mươi bộ. Chính giữa đại điện treo cao một tấm hoành phi gỗ sơn đen thếp vàng với hàng chữ ‘Tĩnh An Ti’ được viết theo lối chữ Khải, bút lực đầy đặn, khỏe khoắn do chính nhà thư pháp nổi danh Nhan Chân Khanh để bút.

Vừa bước vào cửa điện, một sa bàn cực lớn của thành Trường An đã đập ngay vào mắt. Tường thành bên ngoài được đắp bằng đất sét đỏ, tường giữa các phường được làm bằng sáp ong vàng. Một trăm linh tám phường cộng với hai mươi lăm đường lớn được sắp xếp ngay hàng thẳng lối như ô bàn cờ. Ngay cả những con ngõ nhỏ và kênh mương đường thủy trong từng phường cũng được thể hiện vô cùng chi tiết. Phần cung cấm thì đương nhiên là một khoảng trống không. Ngay góc điện còn có một chiếc đồng hồ nước bằng đồng, tạo hình rồng bốn tầng, chạy cùng nhịp thời gian với một chiếc đồng hồ nước khác ở Thuận Thiên Môn.

Đứng quan sát sa bàn, với những giọt nước tí tách nhỏ trong đồng hồ bên cạnh, chẳng khác nào nhìn Trường An từ trên mây, giúp con người ta có thể nắm được mọi biến chuyển trong lòng bàn tay. Cạnh sa bàn, hai vị quan đang tập trung quan sát. Một vị râu tóc bạc phơ, khoác áo bào tía tay thụng, cổ tròn, hông đeo kim ngư đại(*) [Sec-26.xhtml#n7]. Một cậu thanh niên trẻ tuổi, gương mặt tròn và nhỏ nhắn, đâu đó vẫn còn nét ngây ngô, ấy vậy mà đã lắm suy tư đến mức nếp nhăn ẩn hiện nơi ấn đường. Cậu mặc áo lục bào tay chẽn, hông đeo ngân ngư đại, song lại cầm một cây phất trần của đạo sĩ trên tay.

Tên lính thông tin tất tả chạy đến trước mặt hai vị quan viên, tay dâng thẻ tre, miệng hô vang dội cả đại điện: “Sói vào chợ Tây, đã qua ngã tư!”

Hai vị quan vẫn không mảy may phản ứng. Một tì nữ xinh đẹp bên cạnh bước ra, nhặt lấy cây gậy đánh mã cầu(*) [Sec-26.xhtml#n8], đẩy một bức tượng nhỏ bằng gốm đen trên sa bàn từ vị trí bên ngoài chợ Tây vào trong địa bàn chợ, vừa khéo trùng khớp với vị trí của đám người Thôi Lục Lang và Tào Phá Diên.

Bầu không khí trong điện thoáng chốc rơi vào yên lặng. Cậu thanh niên lên tiếng dò hỏi: “Hạ giám?” Câu hỏi được lặp đi lặp lại mấy lần, vị quan già mới chậm rãi mở mắt: “Trường Nguyên! Con tính thế nào?”

Cậu thanh niên mỉm cười, chỉ phất trần lên sa bàn. “Thôi Khí đích thân dẫn một đội với năm mươi lính Lữ Bôn(*) [Sec-26.xhtml#n9]. Họ đã được bố trí ở trong chợ Tây rồi. Ngay khi Lục Lang phát tín hiệu, Thôi Khí sẽ lập tức phá cửa bắt người. Bên ngoài còn hơn trăm bất lương nhân(*) [Sec-26.xhtml#n10] của Trường An canh gác khắp các ngõ ngách. Còn hai cửa chợ Tây thì vệ binh có thể đóng lại bất cứ lúc nào. Ba vòng trùng trùng, vững chắc như thép thế thì con sói này chạy đâu cho thoát.”

Phất trần chỉ đến đâu, tì nữ liền nhanh chóng đặt lần lượt từng bức tượng gốm màu đỏ son theo đến đó. Trên sa bàn, những bức tượng gốm đỏ thoáng cái đã bao vây chặt chẽ lấy bức tượng đen không còn một kẽ hở.

“Những con sói non này cho rằng giả dạng thương nhân người Hồ rồi lấy tiền mua chuộc nội ứng thì có thể trót lọt qua mắt chúng ta. Song chúng đâu biết rằng ta đã giăng lưới chúng từ đầu chí cuối. Lấy hữu tâm tính vô tâm, há thắng cho nổi?” Cậu thanh niên vừa dứt lời liền thu phất trần lại, cằm hơi hất lên tỏ rõ vẻ tự tin với những dự liệu như nắm trong lòng bàn tay. Vị quan già khẽ ‘ừm’ một tiếng, đoạn tiếp tục nhắm mắt tĩnh tâm, không tỏ rõ là đồng ý hay không.

Cứ cách vài phút, tên lính thông tin với giọng nói vang dội lại chạy từ bên ngoài vào báo cáo những động thái mới nhất của Thôi Lục Lang và Tào Phá Diên.

“Sói đã đi qua hàng yên ngựa Phàn Ký, đang đi về phía ngã tư hướng tây bắc!”

“Sói đi qua hàng lụa Như Ý, rẽ phải vào ngõ Nhị Hồi!”

“Sói qua cây cầu thứ ba trên kênh Quảng Thông, rẽ về hẻm phía bên trái cạnh cây liễu cô đơn.”

Cây gậy trên tay tì nữ thoăn thoắt di chuyển tượng đen đến những vị trí tương ứng. Tuyến đường di chuyển của Tào Phá Diên hiển hiện hết sức sống động trước mắt hai người quan sát. Thương đội này đang ngày một cách xa phố xá tấp nập, dần tiến gần tới cây liễu cô đơn ở phía tây nam chợ.

Cây liễu cô đơn là nơi chuyên xử trảm phạm nhân ở chợ Tây. Các thương nhân sợ xui rủi nên không muốn đến gần nơi này, vì vậy mà quanh đây ngày một ít người qua lại.

Cậu trai trẻ hơi nghiêng đầu hỏi: “Từ chủ sự! Quanh đó có những công trình nào vậy?”

Sau lưng hai người là mười mấy bàn làm việc chất đầy giấy tờ cùng với mấy chục quan viên cấp thấp đang miệt mài làm việc. Một viên quan trung niên mập mạp nghe tiếng gọi liền vội vã đặt quyển trục trên tay xuống, tất tả chạy đến trước sa bàn. Thị lực không tốt khiến hắn phải tì sát người vào mép sa bàn, nhướng mắt nhìn mới có thể thấy được vị trí của tượng đen.

Từ chủ sự suy nghĩ một lúc rồi lập tức trả lời vanh vách: “Ngõ Đông Bắc, thế đất trũng, ẩm ướt, chỉ có mười sáu kho hàng, bên cạnh tiếp giáp kênh Quảng Thông. Năm Khai Nguyên thứ mười lăm từng có trận mưa lớn khiến nước kênh dâng cao làm hỏng hết hàng hóa của ba thương nhân người Hồ, thiệt hại năm ngàn quan…” Hắn thuận miệng tuôn một tràng thông tin, trơn tru chẳng hề vấp váp. Quả là trí nhớ đáng kinh ngạc!

Từ chủ sự còn đang định nói tiếp thì bị cậu thanh niên cắt ngang lời: “Có lối thoát nào gần mười sáu kho hàng này không?”

“Ờ ờ… Không có! Chỉ có điều…”

Đúng lúc này, tên lính thông tin lại hớt hải xông vào đại điện cắt ngang lời hắn: “Sói vào kho hàng thứ sáu, khu Bính. Chưa thấy đi ra!” Tin tức này lập tức khuấy động bầu không khí, ai nấy đồ dồn ánh mắt về phía sa bàn.

“Đây rồi!” Ánh mắt người thanh niên lóe sáng. “Truyền lệnh cho Thôi Khí chuẩn bị hành động. Bất lương nhân lập tức dẹp sạch người xung quanh kho hàng, không cho phép bất kì kẻ nào ra vào. Hai cổng chợ Tây sẵn sàng đợi lệnh bất cứ lúc nào.” Từng mệnh lệnh ngắn gọn, đanh thép được nói ra kèm theo cảm giác hưng phấn không che giấu nổi.

Tên lính truyền tin ghi nhớ mệnh lệnh xong thì tức tốc phi như bay ra ngoài. Cậu thanh niên chống hai tay lên mép sa bàn, chồm người về phía trước, vừa nhìn tượng gỗ đen vừa thì thầm với chính mình: “Ta phải xem xem rốt cuộc mấy tên sói con Đột Quyết nhà ngươi đến Trường An để làm gì.”

----------------------------------------

Mệnh lệnh được truyền thẳng từ đại điện ti Tĩnh An lên vọng lâu, vun vút xuyên qua đường lớn ngõ nhỏ bằng một loạt cờ hiệu và đáp xuống vọng lâu phía bắc chợ Tây. Một tên võ hầu chép lại thông tin lên thẻ tre, ném xuống dưới rồi hô lớn: “Thôi Lữ soái nhận lệnh!”

Một bàn tay to lớn tức thì tóm chặt lấy thẻ tre ngay cả khi nó chưa kịp chạm đất. Đó là một người đàn ông vạm vỡ, râu quai nón, bắp tay to như cột đình. Hắn nhanh chóng đảo mắt đọc mệnh lệnh trên thẻ tre, cả người thoáng chốc phấn chấn hẳn lên rồi lập tức quay người hét lớn: “Tất cả tập hợp!”

Gần như ngay tức khắc, năm mươi binh sĩ Lữ Bôn tinh nhuệ tức tốc ra khỏi nhà kho bên cạnh theo tuần tự. Năm mươi người, ai nấy áo giáp chỉnh tế, tay cầm nỏ, hông đeo kiếm, mười người trong số họ còn mang cả trường cung. Không một tiếng rì rào, thứ âm thanh duy nhất nghe thấy chỉ là tiếng bước chân nặng nề và tiếng thở dồn dập.

Thôi Khí âm trầm quét mắt một vòng. “Mục tiêu ở kho hàng số sáu, khu Bính. Bao vây trước, tấn công sau. Cố gắng bắt sống mục tiêu. Phải nhanh nhẹn, thông minh lên! Không ai được làm mất mặt Lữ Bôn Quân!” Dứt lời, hắn phất tay một cái rồi rảo bước chạy ra phía ngoài. Năm mươi binh lính lần lượt xếp thành các hàng, mỗi hàng năm người, lập tức bám sát theo chỉ huy, bắt đầu bằng những bước chạy chậm rãi rồi tức tốc băng băng.

Toán lính băng qua ngã tư, thuần thục rẽ vào những con hẻm ngoằn ngoèo, hướng thẳng về phía tây nam chợ Tây. Người mua kẻ bán tấp nập bên phố bỗng nhiên thấy cát bụi mù trời cộng với bao nhiêu binh lính gấp rút rảo bước thì đều hoảng sợ. Họ chưa kịp rỉ tai nhau, xì xào bàn tán về những chuyện đang xảy ra thì rất đông bất lương nhân lại ập đến, yêu cầu các cửa hàng tạm thời đóng cửa. Còn người đi đường cũng được mời vào các hàng quán gần đó tạm nghỉ chân, không ai được phép rời khỏi hiện trường. Ở hai cổng phía đông và phía tây của chợ Tây, lính gác nâng các chốt đá khỏi hố, sẵn sàng đóng cổng bất cứ lúc nào. Lớp lớp thiên la địa võng nhanh chóng được giăng lên, Thôi Khí cùng toán quân tức thì xuất phát, lao đi như một mũi tên sắc bén.

Sau khi tiến vào phạm vi khu Bính, Thôi Khí ra dấu tay, toán quân Lữ Bôn nhanh chóng hiểu ý liền chia thành ba hướng rồi lặng lẽ tiếp cận kho hàng thứ sáu. Cùng lúc đó, bất lương nhân cũng đã âm thầm phong tỏa mọi cung đường phụ cận. Lúc này, ngoài đường chỉ lác đác vài ba con ngựa và súc vật của các thương đội đang được mấy tên người làm trông coi. Sau khi được bất lương nhân trao đổi vài câu, họ cũng nhanh chóng khua đám súc vật ra xa. Từ đó, kho hàng số sáu, khu Bính đã hoàn toàn tách biệt với phần còn lại của chợ Tây.

Thôi Khí đứng khom người ở góc một bức tường đất gần kho hàng đó. Hắn tháo kính hộ tâm trước ngực ra, đeo vào đấu hoành đao bên hông rồi cẩn thận kéo hoành đao cho hướng ra ngoài. Nhờ hình ảnh phản chiếu trên kính hộ tâm, hắn có thể dễ dàng quan sát tình hình phía trước mà không cần thò đầu ra. Kho hàng đó làm bằng gỗ, có mái cao, gần như vuông vắn với chiều dài sáu mươi bộ, chiều rộng bốn mươi lăm bộ. Kho chỉ có một cửa vào duy nhất, bốn phía có cửa thông gió nhưng kích thước rất nhỏ, người trưởng thành không thể chui qua được. Khu này gần kênh rạch nên mùa hè dễ ngập lụt. Vì vậy, phần nền kho hàng được tôn cao với mười sáu cây cột gỗ chống đỡ, nom có nét na ná kiến trúc Lĩnh Nam.

Ở cửa kho hàng, một tên ngoại quốc mũi to đang đứng canh. Hắn chính là một trong mười lăm tùy tùng của Tào Phá Diên. Hắn ta dựa người vào cửa gỗ, thỉnh thoảng lại cúi đầu lơ đãng nghịch chuỗi hạt gỗ trên cổ tay. Thôi Khí âm thầm ước tính cự li bắn nỏ. Với tính toán của mình, hắn tự tin rằng nếu thực sự cần hành động thì mình hoàn toàn có thể phá cửa xông vào trong tích tắc. Thôi Khí hướng mắt vào phía trong, ngưng trệ hơi thở. Mọi thứ đã sẵn sàng, giờ chỉ còn đợi động tĩnh từ đó mà thôi.

Trong nhà kho, sau bức tường gỗ, Tào Phá Diên đang đứng dựa lưng vào góc phòng, khoanh hai tay nhìn ra phía cửa chính. Hắn đã bỏ chiếc mũ nỉ chóp cao màu trắng trên đầu xuống, để lộ bím tóc dày màu đen óng. Những kẻ khác đứng tản ra giữa các kệ hàng, túm năm tụm ba rì rầm chuyện trò bằng tiếng Đột Quyết, không phải tiếng Túc Đặc. Thôi Lục Lang đương nhiên hoàn toàn không hiểu được thứ ngôn ngữ ngoại quốc này.

Y xoa xoa hai tay, cười nói: “Tào công, ai tìm cho ngài chỗ này đấy? Ở đây ẩm ướt lắm, xung quanh cũng chẳng có hàng quán hay chỗ ăn chơi nào. Hay là tôi sắp xếp cho ngài một chỗ khác nhé?”

Dường như Tào Phá Diên không để những lời đó vào tai, hắn chỉ lạnh lùng trả lời: “Vào việc chính!”

Thôi Lục Lang thấy vậy cũng không lấy làm ngượng ngùng, chỉ đáp: “Vâng! Vâng! Ngài tìm tôi có việc gì vậy? Giờ chắc là nói được rồi chứ?”

Tào Phá Diên búng tay một cái liền có hai tên tùy tùng đi tới. Bọn chúng trải một cuộn vải xuống đất thành một hình vuông rộng rãi. Sau đó, chúng lấy ra một chiếc bút lông sói nhỏ, một thỏi mực và một nghiên mực. Thôi Lục Lang không khỏi ngạc nhiên. Y không hiểu nổi chúng bày ra như thế để làm gì. Chẳng lẽ muốn thi thơ từ ca phú ư?

Y nhìn kĩ tấm vải màu vàng thô cứng trên mặt đất, đoạn không khỏi kinh hãi hít một hơi thật sâu. Trên tấm vải đỏ chi chít những hình vuông và đường thẳng ngang dọc. Đó chính là bản đồ một trăm lẻ tám phường của thành Trường An. Tuy nhiên, bản đồ này còn rất sơ sài, chỉ đơn giản là những đường nét chung chung cũng như tên của các phường này.

“Vật này chỉ được cất giữ trong mật phủ của hoàng thành, dân đen mà giữ làm của riêng thì tội đáng chém đầu!” Tào Phá Diên nheo mắt, nói tiếp: “Ngươi có dám nhận vụ này?”

Thôi Lục Lang bật cười rồi lùi lại một bước, ngồi xếp bằng trên mặt đất mà rằng: “Nếu không dám thì tôi đã không đưa các ngài vào chợ Tây rồi. Cái nghề của tôi là phải lao vào nguy hiểm mà cầu phú cầu quý. Mấy luật lệ vớ vẩn của nhà Đường có là gì? Nào! Bút mực đâu! Các ngài muốn đánh dấu gì nào?”

“Ngươi hãy đánh dấu tất cả những địa điểm trọng yếu như cửa ẩn, kênh ngầm, tường hai lớp, thông đạo,… lên bản đồ các phường của thành Trường An này cho ta.” Tào Phá Diên nói, nhấn mạnh từng chữ một.

Thôi Lục Lang ngoài mặt đồng ý với yêu cầu của Tào Phá Diên, nhưng đầu óc y lúc này đang quay cuồng với những suy nghĩ nhanh như chớp. Địa thế trong thành Trường An vô cùng phức tạp và không hề đơn giản như hai mươi lăm trục đường ngang dọc. Giữa các phường vừa có đường bộ vừa có đường nước, giữa các thành có tường hai lớp, dưới cầu có kênh, bên sườn dốc có hố sâu. Hầu hết dân chúng Trường An sống cả đời người ở đây cũng không thể tường tận mạng lưới kết nối chằng chịt, phức tạp này. Kẻ nào có trong tay một tấm bản đồ hoàn chỉnh như vậy thì chẳng khác nào có thể nắm trong tay gần như cả thành Trường An mà thoải mái tự do ra vào. Xem ra, đám người Đột Quyết này đang âm mưu thứ gì đó không hề đơn giản.

Một tên tùy tùng lấy ra một túi da, đoạn đổ một ít nước vào nghiên mực. Chẳng mấy chốc, hắn đã mài được chút mực nhàn nhạt trong nghiên. Thôi Lục Lang liếm đầu bút lông sói, chấm mực rồi nhấc bút lên vẽ. Mới được vài nét, y đột nhiên dừng tay. “Tào công! Ngài không phải là người Trung Nguyên nên chắc là không rành vải vóc. Loại vải này không dùng được. Đây gọi là vải thô, may quần áo thì được chứ viết mực lên thì hơi nhòe. Hay là tôi đi mua ít giấy Tuyên Thành loại một về nhé…”

“Ngươi không được đi!” Tào Phá Diên từ chối thẳng thừng.

Thôi Lục Lang lắc đầu, đành tiếp tục cầm bút lên vẽ. Vừa hoàn thành một góc của thành Trường An, y lại ngước mắt lên nói: “Thành Trường An quá lớn, nếu muốn cái gì cũng vẽ lên thì phải mất ba ngày ba đêm. Tào công à! Rốt cuộc là ngài dùng tấm bản đồ này để làm gì vậy? Ngài nói thử để tôi tính toán xem cái gì cần chi tiết, cái gì không.”

Tào Phá Diên đáp: “Đây không phải việc của ngươi!”

Thôi Lục Lang dang hai tay ra, nhún vai nói: “Ngài muốn tôi điền chi tiết bản đồ thành Trường An trong hai canh giờ nhưng lại không chịu nói cho tôi biết nó dùng để làm gì,.. Xin lỗi! Tôi không làm được!”

Tào Phá Diên nghe vậy thì không khỏi tức giận. Hắn xông đến trước mặt Thôi Lục Lang, giơ tay túm chặt cổ đối phương. Thôi Lục Lang thoáng do dự nhưng không hề né tránh. Y biết rằng người của ti Tĩnh An đang ở bên ngoài, chỉ cần y hét lên một tiếng thì mấy tên Đột Quyết này không chạy đâu cho thoát. Nhưng nếu vậy thì bao nhiêu công sức của y từ đầu đến giờ coi như đổ sông đổ bể. Y dám cá rằng Tào Phá Diên chỉ đang giương oai với mình, một khi chưa có được bản đồ trong tay thì hắn ta nhất định sẽ chưa hạ thủ. Chỉ cần đôi ba lần thăm dò nữa thôi, y sẽ có thể tìm ra mục đích thực sự của đám người này.

Bàn tay Tào Phá Diên bỗng dưng thả lỏng, Thôi Lục Lang thầm thở phào nhẹ nhõm, biết rằng mình đã đoán đúng. Tào Phá Diên vẫn giữ nguyên tư thế rồi thình lình nghiêng đầu ra phía cửa sổ nghe ngóng. Thôi Lục Lang hơi lo lắng, bụng bảo dạ chẳng lẽ quân Lữ Bôn sơ ý gây ra tiếng động gì rồi ư. Y vội vàng hỏi: “Tào công! Sao thế?”

“Ngươi có nghe thấy gì không?” Tào Phá Diên vừa chỉ ra ngoài song cửa vừa hỏi.

Thôi Lục Lang vểnh tai lắng nghe. Bên ngoài yên tĩnh, không một tiếng động. Y khó hiểu lắc đầu. “Chẳng có tiếng gì hết!”

“Đúng vậy! Không có tiếng gì hết.” Nét cười hung ác của loài sói thảo nguyên bỗng hiện lên trên gương mặt Tào Phá Diên. Tay hắn bỗng siết chặt lại. “Ban nãy, khi đi vào, quanh đây rõ ràng có rất nhiều gia súc, vô cùng ồn ào. Vậy mà giờ một tiếng ngựa kêu cũng không có.”

Mặt Thôi Lục Lang bỗng nhiên biến sắc, từ kinh hoàng đến ngạt thở.

----------------------------------------

Thôi Khí đứng đợi ở bên ngoài, lòng mỗi lúc một nóng như lửa đốt. Dù phía nhà kho không có động tĩnh gì nhưng hắn luôn cảm thấy có gì đó không ổn. Với kinh nghiệm chinh chiến dày dặn, trực giác của hắn thường rất chuẩn xác. Một lần nữa đẩy kính hộ tâm ở đấu hoành đao ra do thám tình hình, lần này hắn chiếu thẳng hình ảnh cửa sổ của nhà kho số sáu, dãy Bính. Ô cửa rất nhỏ, gần như chỉ có thể nhìn thấy bóng người lờ mờ phản chiếu trên tấm kính. Một bóng người đột nhiên biến mất sau cửa sổ, kèm theo đó là một tiếng bịch nặng nề như có vật nặng gì đó ngã xuống mặt đất.

Thôi xong! Tim Thôi Khí bỗng hẫng mất một nhịp. Hắn vội vã thu lại hoành đao, tức tốc hét lên với đám thuộc hạ: “Phá cửa! Nhanh!”

Toán quân Lữ Bôn sớm đã chuẩn bị sẵn sàng ở các vị trí chiến đấu. Mệnh lệnh vừa hạ, tám phát nỏ lập tức được bắn ra từ ba hướng khiến tên Đột Quyết canh cửa biến thành con nhím trong chớp mắt. Cùng lúc đó, hai binh sĩ bất ngờ nhảy vọt lên bậc thang gỗ trước cửa nhà kho, phi qua tên địch vừa ngã xuống, rồi dận thình thịch bờ vai cường tráng lên cánh cửa.

Chốt cửa bằng tre không chống chịu nổi áp lực, lập tức gãy làm đôi. Một tiếng ầm vang dội, hai binh sĩ ngã nhào xuống đất cùng với cánh cửa gỗ. Phía sau họ, hai binh sĩ khác phăng phăng bước qua đồng đội, xông thẳng vào trong phòng. Họ tức tốc lia một đường nỏ khắp căn phòng rồi lập tức khuỵu thấp người xuống. Lúc này, hai binh sĩ phá cửa ban nãy đã đứng dậy được. Họ lấy cánh cửa làm khiên chắn tạm thời để che chắn cho đồng đội trong lúc nạp một đợt tên mới lên nỏ. Một chuỗi động tác được thực hiện vô cùng lưu loát như thể họ đã từng luyện tập như thế rất nhiều lần.

Mấy tên Đột Quyết đứng gần nhất vừa gầm lên vừa lao về phía họ. Nhưng chúng còn chưa kịp làm gì thì đã trúng tên, ngã bổ nhào xuống đất và rống lên đầy đau đớn. Chỉ thấy những mũi tên sắt dài cả hai thước bay thẳng qua ô cửa sổ nhà kho nhỏ hẹp, đâm thủng chân chúng. Những mũi tên đó được bắn từ ba cây trường cung bố trí ở một khách điếm phía xa. Đợt tấn công này đã câu đủ thời gian cần thiết. Tiếp theo, rất đông binh lính tay cầm nỏ ồ ạt xông vào nhà kho. Họ lao vào, vừa giương nỏ, vừa hét lớn: “Mau đầu hàng! Đầu hàng thì không giết!”

Nhưng dường như đám người Đột Quyết nghe không hiểu. Chúng lũ lượt lao ra từ ngách cạnh các kệ hàng, hô to tên Khả hãn rồi tay không xông tới. Với quân Lữ Bôn, đám người này chẳng khác nào những bia ngắm bắn sống. Trong nhà kho nhất thời chỉ toàn nghe thấy tiếng vũ khí kim loại đâm vào da thịt phập, phập và tiếng người kêu lên đầy đau đớn. Quân Lữ Bôn không vội vã tấn công dồn dập. Họ tổ chức ba người thành một nhóm, che chắn cho nhau để chậm rãi tiến lên. Bất kì một tên Đột Quyết nào ló mặt đều sẽ bị vô số mũi tên bắn trúng ngay tức thì.

Mệnh lệnh là giữ càng nhiều người sống càng tốt, vì vậy, binh lính cũng chỉ nhắm vào những bộ phận không quan trọng để tránh gây thương vong. Nhưng những con sói hung hãn này không hề sợ chết. Cho dù chỉ còn một hơi thở, chúng cũng tìm mọi cách phản kích. Thậm chí, ngay cả khi không còn sức đánh lại thì những tên Đột Quyết đó sẽ lập tức tự sát chẳng hề đắn đo. Chẳng mấy chốc, nhà kho đã yên tĩnh trở lại. Những xác chết nằm rải rác trên các lối đi và giá gỗ. Hy sinh ba binh lính, cuối cùng, quân Lữ Bôn cũng khống chế hoàn toàn tình hình ở nhà kho này.

Các binh sĩ không hề lơ là cảnh giác. Họ cẩn thận lục soát hết kệ này đến kệ khác. Đột nhiên, một gã Đột Quyết đang nằm trên mặt đất bất ngờ bật dậy và lao về phía người lính gần nhất. Người lính không kịp phòng bị liền bị hắn quật ngang hông, hai người dây dưa tranh đấu quyết liệt. Gã Đột Quyết há to miệng hòng cắn vào mũi người lính, nhưng việc còn chưa thành thì hắn bỗng khựng người lại, bất ngờ ngã gục xuống mặt đất. Một mũi tên cắm sâu vào sau gáy hắn.

Ở đầu bên kia lối đi, một người lính khác cầm chiếc nỏ trống không. Anh ta buông thõng tay xuống, ánh mắt thất thần. Đáng ra anh phải để tên Đột Quyết sống sót, nhưng những gì đồng đội gặp phải đã khiến anh quên mất mệnh lệnh được chỉ thị.

“Đồ ngu! Ta dặn ngươi thế nào?”

Thôi Khí giật lấy nỏ trong tay anh lính rồi giáng cho anh ta một cú tát trời đánh. Khuôn mặt đen sạm của hắn dường như bao phủ một màu xám xịt, không chút ánh sáng.

Mười giây để phá cửa, hai mươi sáu giây để tiêu diệt toàn bộ kẻ thù – đây cũng có thể coi là một thành tích xuất sắc trong số các toán quân vệ binh ở kinh thành. Nhưng người Đột Quyết quả thực quá tàn nhẫn, nhất định không lưu lại một mạng nào. Đây không phải kết quả mà cấp trên mong muốn.

Thôi Khí giận dữ đi đi lại lại trên hành lang. Hắn quét mắt qua các thi thể, nóng lòng siết chặt rồi lại buông lỏng cán đao. Hắn đột nhiên đứng sững lại, rồi bước lên hai bước. Trước mặt hắn chính là thi thể của Thôi Lục Lang. Thi thể ấy đang trợn to hai mắt, trên cổ hằn rõ vết ngón tay. Không cần khám nghiệm tử thi cũng có thể biết rằng anh ta đã bị siết cổ đến chết.

“A huynh!” Thôi Khí gào lên đầy đau đớn và căm hận. Hắn quỳ một chân trên sàn nhà như muốn ôm chầm lấy thi thể người chết. Hai gương mặt với những nét hao hao giống nhau, họ chính là anh em song sinh. Đáng tiếc rằng giờ đây, một người trong số họ vĩnh viễn không bao giờ mở mắt được nữa.

“Giá mà đệ hạ lệnh sớm hơn ba giây thôi… Biết vậy đệ đã tự mình phá cửa…” Nỗi ân hận ngập tràn như ngàn vạn con kiến gặm nhấm trái tim Thôi Khí. Ngón tay run lẩy bẩy của hắn dường như không thể nắm được bàn tay người anh trai yêu dấu.

Một người lính Lữ Bôn chạy tới. Nhìn thấy dáng vẻ đau khổ của chỉ huy, hắn khựng lại, không dám đến gần. Thôi Khí nghiêng đầu qua, ánh mắt quắc lên thay cho câu hỏi “Có việc gì?” Người lính vội vàng nghiêm chỉnh báo cáo: “Thuộc hạ vừa kiểm kê số thi thể. Tổng cộng là mười lăm người.”

Ngoại trừ Thôi Lục Lang thì có tổng cộng mười sáu người Đột Quyết tiến vào kho hàng. Nói cách khác, vẫn còn một kẻ chưa bị bắt. Sau khi xác định kĩ càng thì kẻ đó hẳn là tên đầu sỏ Tào Phá Diên. Thôi Khí hít một hơi thật sâu, xốc lại tinh thần đứng dậy, ánh mắt sáng rực như có ngọn lửa đang nhảy múa.

“Lục soát!” Hắn nghiêm mặt ra lệnh.

Kho hàng này không phải nhà ở. Đó là một không gian rộng, không có vách ngăn với vài chiếc kệ gỗ để xếp hàng hóa. Thôi Khí lục soát đi lục soát lại khắp nhà kho nhưng vẫn không phát hiện điều gì bất thường. Rốt cuộc hắn ta có thể trốn đi đâu ở một nơi bằng phẳng, bao quát tầm nhìn như thế này? Chẳng lẽ tên nhãi này biết yêu thuật xuyên tường của Tây Vực ư?

Thôi Khí đột nhiên thấy lạnh buốt đỉnh đầu. Hắn dừng chân, ngẩng phắt đầu lên nhìn. Đồng tử lập tức co lại. Ngay trên đầu hắn có một nắp gỗ to bằng miệng giếng. Cái nắp hơi lệch sang một bên, chỉ thấy nền trời xanh biếc qua khe hở ấy. Ở đây có cửa thông gió!

Kho hàng số sáu này có kết cấu mái cao nên không ai nghĩ rằng trên mái nhà vẫn còn một cửa thông gió. Bởi lẽ, thông thường, chỉ những nhà mái bằng mới có thiết kế này. Phần này có lẽ đã được một người dùng trước đây lén lút cải tạo mà không báo cáo lại cho quan phủ chợ Tây. Thôi Khí cay đắng chửi một tiếng rồi sai lính bắc thang lên còn bản thân thì lên tên cho cây nỏ trong tay. Cơn thịnh nộ không khiến Thôi Khí đánh mất lý trí. Đây là kẻ cuối cùng, nhất định phải giữ lại mạng hắn ta, bằng không toàn bộ kế hoạch coi như sụp đổ.

Hiện tại, quân Lữ Bôn đã bao vây quanh nhà kho. Ngay cả khi Tào Phá Diên có chạy lên nóc nhà thì cũng không còn đường nào để thoát, chẳng khác nào cá nằm trong rọ. Lần này, Thôi Khí sợ lại xảy ra sai sót nên đích thân leo lên. Đến nóc nhà, ngay khi hắn đang định lật nắp gỗ ra thì đột nhiên cảm nhận được một luồng sát khí. Hắn nhanh chóng rụt đầu lại. Một thanh gỗ cứng có đinh nhọn thình lình bay sượt qua đầu. Không nhiều lời, hắn lập tức giương nỏ bắn đi một tên. Chỉ nghe phập một tiếng giống như bắn trúng thứ gì đó. Thôi Khí mở cờ trong bụng, nhanh chóng leo tiếp lên. Không ngờ, một chiếc thắt lưng ở đâu bỗng quật tới, bất ngờ đánh trúng mắt trái hắn.

Chiếc thắt lưng da bò cứng như đá khiến Thôi Khí choáng váng. Cái móc đồng nhỏ ở đầu thắt lưng kéo một vệt dài đẫm máu trên má hắn. Cú tấn công này đã kích thích ý chí chiến đấu sục sôi của Thôi Khí. Hắn không những không sợ hãi rụt lại mà còn vươn tay nắm lấy đầu thắt lưng, giật mạnh một cái hòng lấy đà xông lên mái nhà.

Nhưng hắn chưa kịp đứng vững thì đã cảm thấy người mình bỗng thõng xuống. Rõ ràng là đối phương đã buông tay. Thôi Khí bất ngờ mất thăng bằng, hắn ra sức khua tay, khó khăn lắm mới đứng vững. Đúng vào lúc này, hắn nghe thấy tiếng bước chân giẫm lên mái ngói lọc cọc, tiếng nước ào ào, tiếng thứ gì đó vỡ thành từng mảnh, rồi lại đến tiếng đập nước ầm ầm ngày một xa dần. Loạt âm thanh này hơi kì lạ, nghe không giống như tiếng kẻ địch nhảy xuống đất. Với một bên mắt sưng tấy, đau nhức và không nhìn rõ, tình trạng của Thôi Khí đang cực kì thảm hại, nhưng đầu óc hắn vẫn duy trì được sự tỉnh táo. Hắn lập tức nhận ra rằng bản thân đã mắc phải một sai lầm nghiêm trọng.

Tiếp giáp với bức tường phường ngay cạnh kho hàng này là kênh Quảng Thông. Một năm trước, con kênh này từng được cải tạo cho rộng hơn, bởi chuyên dùng cho việc chở gỗ từ dãy núi Tần Lĩnh về nên luôn đầy nước và rộng rãi đủ để tàu thuyền đi lại. Bấy giờ vẫn đang là tháng Giêng, băng trên mặt kênh vẫn chưa tan hẳn. Lớp băng mỏng, bằng phẳng và thênh thang chẳng khác gì đại lộ Chu Tước. Ấy vậy mà lần này, đường thủy lại không có một ai phụ trách. Kế hoạch của Thôi Khí chỉ chú trọng đến đường bộ mà hoàn toàn xem nhẹ vấn đề này. Những gì hắn nghe thấy chính là tiếng Tào Phá Diên phá băng và rơi xuống nước.

Sau khi chảy ra khỏi chợ Tây, kênh Quảng Thông tiếp tục nối liền với kênh Vĩnh An và kênh Thanh Minh, xa hơn là kênh Long Thủ, thậm chí cả hệ thống kênh bao quanh hoàng cung. Kênh Quảng Thông kinh qua hơn ba mươi phường, trải dài quá nửa khu vực trong thành. Nói cách khác, chỉ cần Tào Phá Diên có thể lặn qua cống thủy lợi đầu chợ Tây thì có thể dễ dàng thoát khỏi vòng vây và lên bờ ở bất kì đâu trong toàn thành. Thôi Khí hận không thể tự cho mình một cái bạt tai. Sai lầm này quả thực quá ngu ngốc!

Quá nóng lòng, hắn trực tiếp phi người xuống nước. Song hắn đã quên rằng bản thân đang mặc một bộ giáp Minh Quang nặng trịch, nên ngay khi hai chân vừa chạm vào mặt băng đã khiến lớp băng mỏng lập tức vỡ răng rắc. Kết quả là vị lữ soái này tức thì rơi xuống đáy sông. Trước khi chìm xuống nước, Thôi Khí chỉ kịp lờ mờ nhìn thấy luồng bọt nước trắng xóa lao về phía cống thủy lợi bằng con mắt phải còn tinh tường.

Nhà kho và kênh Quảng Thông ngăn cách với nhau bởi một bức tường cao, nên lính Lữ Bôn chỉ đành đi vòng sang đầu bên kia dù tốn rất nhiều thời gian. Đến bờ kênh, họ vội vàng cởi áo giáp, nhao nhao nhảy xuống nước rồi chật vật kéo chỉ huy vào bờ. Quá trình này đã làm lỡ mất khoảng thời gian quý báu để truy bắt đối tượng. Lúc này, Tào Phá Diên đã sớm biến mất ở đầu kia của cống thủy lợi.

Lên bờ, Thôi Khí nằm sấp mặt, nôn thốc nôn tháo một bụng nước đá, mặt mũi tái xanh. Tay hắn vẫn nắm chặt một chiếc thắt lưng da bò có móc đồng. Đây là thu hoạch duy nhất của hành động lần này.

----------------------------------------

Điện Tĩnh An, bầu không khí nặng nề không một tiếng thở. Ai ai cũng khẽ chân nhẹ tay, không dám phát ra tiếng động, chỉ sợ chọc tức hai vị quan trên đang cau có mặt mày. Đâu ai ngờ được rằng một cuộc truy bất chắc thắng mười mươi lại để con cá trong rọ chạy mất. Lần tập kích kho hàng vừa rồi rất hoàn hảo nhưng cũng hoàn toàn vô nghĩa. Thậm chí không giữ nổi một mạng người sống sót.

Thôi Khí chân chống chân quỳ trước đại điện, cả người ướt như chuột lột mà không kịp lau khô. Từng giọt nước rơi tí tách trên mặt sàn tạo thành những vũng nước loang lổ. Sau khi để Tào Phá Diên chạy thoát, hắn tức tốc bị triệu về ti Tĩnh An. Cấp trên muốn biết rõ khâu nào đã xảy ra vấn đề, trong khi cờ hiệu trên vọng lâu lại không thể truyền đi những tin tức quá phức tạp nên hắn chỉ có thể đích thân trình diện.

Trước mặt ti lệnh và ti thừa, Thôi Khí không dám giấu giếm điều gì. Hắn quỳ xuống đất, kể lại toàn bộ đầu đuôi sự việc, sau đó cúi đầu chờ lệnh. Vị quan già phất ống tay áo, buông một tiếng thở dài. “Vốn định lấy gậy ông đập lưng ông, nào ngờ lại thành rước sói vào nhà…”

Mọi người đều hiểu mức độ nghiêm trọng của câu nói này. Tên Tào Phá Diên đó đã cho thấy sự hung hãn, xảo quyệt cùng tốc độ phản ứng nhanh nhạy và mãnh liệt của hắn. Một kẻ Đột Quyết mưu mô như vậy đã xâm nhập vào thành Trường An ngay trước lễ Nguyên Tiêu, không một ai có thể biết được tiếp theo sẽ xảy ra việc gì. Điều đáng lo ngại hơn là con sói đó gần như do ti Tĩnh An đưa vào. Nếu truy cứu trách nhiệm đến cùng thì không ai gánh nổi.

“Ti chức đã phái người truy bắt dọc bờ kênh.” Thôi Khí thận trọng nói thêm, thầm hy vọng có thể giảm bớt phần nào nỗi hổ thẹn vì bản thân đã quá tắc trách.

Cậu thanh niên mặt mày tái mét, vung cây phất trần nói: “Vài mống người ấy thì làm được việc gì? Ngươi có biết các kênh Quảng Thông, Vĩnh An, Thanh Minh, Long Thủ dài bao nhiêu không? Hãy huy động tất cả võ hầu và lý thủ ở khắp các phố ra đây, rồi phong tỏa và lục soát từng phường một cho ta!”

“Trường Nguyên! Phất trần không dùng để đánh người.” Vị quan già giơ tay lên, nhẹ nhàng mà kiên quyết ngăn cậu lại. “Ban nãy phong tỏa chợ Tây nửa canh giờ đã là quá đáng rồi. Nếu thêm một lần phong tỏa toàn thành để lục soát nữa thì e rằng cả thành Trường An sẽ đại loạn mất. Hơn nữa, hôm nay còn là lễ hội đèn lồng đón tết Thượng Nguyên, đâu đâu cũng giăng đèn kết hoa, con mà làm lớn quá thì sẽ kinh động đến Thánh nhân đấy.”

Cậu thanh niên vẫn khăng khăng: “Hạ giám, người không màng mọi việc nên có lẽ không biết rằng nhóm mười sáu người này của Tào Phá Diên là nhóm cuối cùng vào thành. Chúng có rất nhiều đồng bọn đã sớm ẩn nấp nơi đây. Nếu chúng ta không nhanh chóng tìm ra ý đồ của đám người Đột Quyết này thì e rằng thành Trường An sắp gặp phải đại họa!”

Giọng điệu có phần vô lễ của cậu không khiến vị quan già tức giận. Ông chỉ tay về hướng đông bắc – hướng hoàng cung – rồi nói: “Ta không nói bỏ qua việc này, nhưng tuyệt đối không thể công khai lục soát. Con không thể gây thêm rắc rối cho vị đó được.”

Vừa nghe đến ‘vị đó’, đôi mắt cậu trai trẻ tối sầm lại. Cậu rơi vào một thoáng trầm ngâm, rồi ánh mắt lại bùng lên ngọn lửa hy vọng. Cậu nói: “Nếu Hạ giám cho rằng công khai hành động là không ổn thì phương án chỉ điều động một số ít tinh anh âm thầm điều tra thế nào?”

Vị quan già vuốt râu, có vẻ do dự trước đề nghị này.

Thôi Khí vừa nghe vậy liền lập tức ngẩng đầu, khẳng khái nói: “Thôi Khí tự biết mình đã phạm phải sai lầm lớn, không cầu được tha thứ, chỉ mong có thể chính tay giết chết kẻ thù, báo thù cho a huynh!” Thất bại hôm nay là một chuỗi những sai lầm của hắn, nếu không thể mượn cớ báo thù để lấy công chuộc tội thì e rằng hậu quả khó lường. Nhưng cậu thanh niên và vị quan già không hẹn mà cùng nhau lắc đầu.

Trường An có gần một triệu dân với đủ mọi loại người, quan chức, quý tộc và các thế lực đan xen phức tạp. Đó là một vòng xoáy tương giao đầy rối ren giữa sáng và tối, giữa cái hiển hiện và cái ngấm ngầm. Thôi Khí chỉ mới nhậm chức ở Trường An nửa năm trước. Với hắn, việc ra trận giết giặc vốn không thành vấn đề, nhưng luồn lách tìm người ở thành Trường An thì quả thực không ổn.

Ti Tĩnh An hội tụ tinh anh khắp chốn, từ những vị thông thạo buôn bán, thuế má, những chủ sự đọc đâu nhớ đấy, đến những chiến binh uy dũng, gan dạ, thậm chí còn có một nhóm người Hồ am hiểu tình hình Hồ tộc… Yếu tố duy nhất còn thiếu là một kẻ nhạy bén như một con chó săn lão luyện, có thể linh hoạt di chuyển như con thoi qua những nơi bí mật của thành Trường An. Vốn dĩ ứng cử viên thích hợp nhất của họ chính là Thôi Lục Lang – anh trai Thôi Khí. Nhưng đáng tiếc là hôm nay anh ta đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Thôi Khí biết cấp trên đang tiếc nuối điều này. Đôi mắt hắn đỏ hoe, nắm tay nện mạnh xuống đất làm nứt cả viên gạch dưới sàn.

Sau một thoáng im lặng, vị quan già cầm chiếc mũ phốc đầu trên mặt bàn bên cạnh lên, đội ngay ngắn lên đầu rồi buộc túi bút, mực, nghiên cùng khăn vào thắt lưng. Cậu thanh niên sửng sốt, vội hỏi: “Hạ giám! Người định đi đâu vậy?”

Viên quan già thở dài. “Trong cung rất để ý đến đám lang vệ Đột Quyết này. Việc hôm nay không giấu lâu được. Ta phải vào cung một chuyến, cố gắng trì hoãn vài canh giờ. Trường Nguyên! Trong thời gian này, tốt nhất con nên nghĩ ra kế sách đối phó để bù đắp sai lầm kia. Bằng không…” Vị quan già khép hàng mi trắng như cước, không nói tiếp câu gì.

Cậu thanh niên buông thõng hai vai, thầm thở phào nhẹ nhõm nhưng cũng không khỏi cảm thấy khinh thường đối phương. Lão già này rất tinh ranh, chỉ cần đánh hơi thấy chuyện không ổn là sẽ lập tức kiếm cớ rời đi, không dám chịu trách nhiệm hay đưa ra bất kì quyết sách nào. Có điều lão đi cũng tốt, cậu càng đỡ vướng tay vướng chân. Lúc này, thời gian chính là vàng bạc, cậu không còn nhiều thời gian để đối phó với cả người bên ta nữa.

Cậu thanh niên tiễn vị quan già ra đến đoạn bình phong trấn cổng rồi quay vào trong đại điện. Khi trở vào, thần thái cậu rõ ràng thoải mái hơn rất nhiều. Cậu nghiêm nghị liếc nhìn Thôi Khí vẫn đang quỳ dưới chân bậc thang, phất tay áo một cái rồi nói: “Trong lúc nước sôi lửa bỏng này, tội của ngươi ta tạm thời chưa truy cứu. Sau này, ngươi tuyệt đối không được bất cẩn như thế nữa!”

Thôi Khí lập tức xốc lại tinh thần, chắp tay lui xuống. Hắn biết rằng vị quan già họ Hạ kia chỉ hữu danh vô thực, còn cậu thanh niên Lý Tất trước mặt mới là người thực sự nắm trong tay ti Tĩnh An cũng như tính mạng mình. Tuy tuổi còn trẻ nhưng vị quan trên này có tư duy vô cùng sắc bén, hành sự quyết đoán, ai nấy trong ti Tĩnh An đều ngoan ngoãn phục tùng cậu ta.

Sau khi xử lý xong chuyện của Thôi Khí, Lý Tất gõ mạnh vào góc bàn, gọi tất cả các vị chủ sự đến rồi hỏi: “Các ngươi nghĩ kĩ cho ta xem có ai phù hợp có thể thay thế Thôi Lục Lang không? Nhớ là ta cần ứng cử viên tốt nhất.”

Mọi người nghe vậy thì rơi vào trầm ngâm, không ai hé răng lấy nửa lời. Chỉ còn bốn canh giờ nữa là đến lễ hội đèn lồng, tìm ra Tào Phá Diên trước thời hạn này gần như là một nhiệm vụ bất khả thi. Dọn xong mớ hỗn độn này chưa chắc đã có lợi lộc gì, song nếu làm không tới nơi tới chốn thì còn có thể trở thành con tốt thí, khiến ngay cả người tiến cử mình cũng bị vạ lây.

Thấy đám thuộc hạ có vẻ e dè, Lý Tất đang định dạy dỗ cho cả đám một trận thì bỗng thấy Từ chủ sự – một người có tật ở mắt – đang dè dặt giơ tay lên. Hắn tên là Từ Tân, vốn là một thư lệnh sử ở bộ Hộ có trí nhớ phi thường, phàm đọc sách gì chỉ cần một lần là nhớ nên được điều đến đảm nhiệm vị trí chủ sự ở ti Tĩnh An. Người này duy chỉ có cái tật nói lắp. Lý Tất hất hàm, tỏ ý cho phép hắn trình bày.

Từ chủ sự thoáng do dự. “À… à… Quả thực tại hạ có nhìn trúng một người. Không biết ý ngài thế nào?”

“Nói!”

“Hắn là bạn của tại hạ, tên là… à… à, là Trương Tiểu Kính. Trước đây, hắn từng làm thập trưởng ở An Tây đô hộ phủ. Sau này nhờ làm tốt nên được gọi về Trường An làm bất lương soái ở huyện Vạn Niên suốt chín năm. Tại hạ nghĩ người này có thể hợp ý Lý ti thừa…”

“Ồ?” Lý Tất nheo mắt lại.

Lý lịch người này nghe thì có vẻ bình thường, nhưng nghĩ kĩ mới thấy không hề tầm thường chút nào. Bất lương soái chính là cánh tay phải đắc lực chuyên trị bọn trộm cắp cho huyện úy, là cấp cao nhất trong lưu ngoại quan(*) [Sec-26.xhtml#n11] phụ trách các việc như bắt trộm, bắt cắp, đảm bảo trị an. Một thập trưởng tép riu ở đô hộ phủ có thể đảm đương vị trí bất lương soái ở một huyện đã là việc vô cùng hiếm có rồi, chưa kể đó không phải là một huyện bình thường mà là huyện Vạn Niên. Trường An chia thành hai huyện: huyện Trường An ở phía tây, huyện Vạn Niên ở phía đông. Huyện Vạn Niên nằm ngay dưới chân thiên tử, là nơi ở của biết bao vương công quý tộc với những mối quan hệ dây mơ rễ má vô cùng rắc rối. Vậy mà Trương Tiểu Kính có thể làm được những chín năm, Lý Tất cảm thấy có hứng thú với hắn.

“Hắn đang ở đâu?”

“À… à… Năm ngoái hắn có phạm tội nên hiện đang ở trong ngục lao huyện Trường An chờ ngày hành quyết.” Từ Tân cần trọng cân nhắc từng từ.

Xung quanh vang lên tiếng xì xào bàn tán. Từ chủ sự hồ đồ rồi sao? Sao lại đề xuất một tên tù nhân? Lại còn là tử tù? Chẳng lẽ không sợ xúc phạm bề trên à?

Ai ngờ Lý Tất lạnh lùng lên tiếng: “Ta không cần thánh nhân, ta cần người được việc. Đây có phải người giỏi nhất không?”

Từ Tân vội vàng cao giọng nói như đinh đóng cột: “Nội trong Trường An này tuyệt nhiên không có người nào hơn hắn ở khoản truy bắt tội phạm và trộm cướp.”

Một miếng ngân ngư đại bay xẹt qua không trung, Từ Tân cuống quít bắt lấy, suýt chút nữa không nắm được. Lý Tất nói: “Lấy ngựa của ta đi đưa người về đây. Trong vòng hai khắc, ta phải thấy hắn ở đây.”

Từ Tân ngây ra một lúc mới hiểu được ý của cấp trên. Hắn vô thức đeo ngân ngư đại lên hông, nhất thời cảm thấy không hợp lý nên lại vội vã tháo ra, cẩn thận cầm chắc trong lòng bàn tay rồi ba chân bốn cẳng chạy ra ngoài.

Lý Tất quét mắt bốn phía, thấy ai nấy đều đang ngoái cổ ra bên ngoài hóng chuyện thì không khỏi tức giận quát: “Các ngươi còn đứng đấy nhìn cái gì? Mau đi điều tra cho ta! Phải tra rõ cho ta báo cáo thông quan, ghi chép của lính gác cổng, cả tin tức trên khắp đường lớn ngõ nhỏ ở cả chợ Đông và chợ Tây. Nhanh!”

Quan lại trong ti Tĩnh An tức tốc chạy nhao nhao về vị trí, vùi đầu vào công việc. Trong điện lại khôi phục không khí bận rộn như ban đầu. Lý Tất đón lấy một chiếc khăn gấm thêu hoa đã giặt qua nước ấm từ tay tì nữ bên cạnh. Cậu ra sức lau mặt một lượt. Dường như chợt nhớ ra việc gì đó, cậu bảo: “Diêu Nhữ Năng! Ngươi qua Kinh Triệu phủ một chuyến. Lấy hồ sơ của Trương Tiểu Kính về đây cho ta.”

Một viên quan trẻ tuổi lập tức đứng dậy, phi như bay ra ngoài. Lý Tất nới lỏng vạt áo bào, chống hai tay lên thành sa bàn rồi nghiêng người về phía trước, chăm chú quan sát thành Trường An. Đôi mắt sắc bén của cậu quét qua từng nóc nhà như thể muốn tóm lấy con sói kia bằng ánh mắt. Chiếc đồng hồ nước ở góc điện vẫn thong dong tí tách từng giọt một. Dù thế gian có vội vã đến đâu thì nó cũng chẳng hề thay đổi.

----------------------------------------

Sa mạc. Phế tích. Mùi máu tanh nồng. Xa xa phía chân trời, một đoàn người mặc áo đen đang cưỡi ngựa phi nước đại chạy về phía này. Trên mặt sông hướng ấy, bóng tịch dương đỏ quạch họa thành khung tròn vành vạnh. Giữa tòa thành đơn độc, cột khói hiệu bốc thẳng lên bầu trời nhuộm một màu ảm đạm.

Y đứng dậy đầy nặng nhọc, căm phẫn hét lên cảnh báo. Nhưng quanh tường thành người chết thành đống, không một ai đứng dậy đáp lời y. Thứ duy nhất đáp lại y là lá cờ rồng rách nát ủ rũ trên tường thành, cán cờ xiêu xiêu vẹo vẹo tưởng như có thể gãy đôi bất cứ lúc nào.

“Tùng, tùng, tùng…” Tiếng trống tấn công của quân địch vang lên như thúc giục. Trận mưa tên dày đặc điên cuồng lao tới. Trận chiến này chỉ có một mình y…

Trương Tiểu Kính bàng hoàng tỉnh giấc. Y nhận ra bản thân đang ở trong ngục lao huyện Trường An, không phải Tây Vực. Gông cùm khóa chặt cổ và hai tay y, khiến y không thể cựa quậy dù đã thoát khỏi cơn ác mộng. Tiếng trống trận trong giấc mơ thì ra là âm thanh ai đó lấy cán roi đập vào khung gỗ buồng giam. Y nhướng mi, thấy hai người đang đứng ở cửa. Một người là tiết cấp(*) [Sec-26.xhtml#n12] khu tử tù, người còn lại là một gã mặt nhỏ, mày ngắn, râu ria lộn xộn với đôi mắt có vẻ rất lo lắng.

“Từ Tân, Từ Hữu Đức?” Trương Tiểu Kính hơi sững sờ, chợt mỉm cười. “Không ngờ người cuối cùng đến tiễn tôi lại là huynh.” Lời y không hề có chút kinh hãi, chẳng giống người sắp lên đoạn đầu đài chút nào.

Từ Tân biết đối phương đã hiểu nhầm, song cũng không tiện giải thích. Hắn quay sang tên cai ngục. “Phiền ngươi mở cửa, cởi gông!” Tiết cấp nghe vậy thì trố mắt ngạc nhiên, nhìn y như con cóc. Hắn đương nhiên không dễ dàng nghe theo, nhưng liếc thấy chiếc ngân ngư đại trong tay phải Từ Tân nên chỉ đành nhún nhường. ‘Cạch’ một tiếng, cửa nhà lao được mở ra, hắn sai hai tên ngục tốt cởi gông cùm cho kẻ tử tù kia.

Hai tên ngục tốt có vẻ rất kính sợ Trương Tiểu Kính. Tay chúng run lẩy bẩy, loay hoay mãi cũng không tháo được cái gông ra. Trương Tiểu Kính hừ lạnh một tiếng: “Đồ ngu! Đây là khóa ba nấc. Lấy ngón cái vặn phần dưới rồi ấn mạnh ở giữa.” Hai tên ngục tốt làm theo, liền nghe thấy cạch một tiếng, gông cùm đã nứt ra thành hai mảnh. Mỗi tên cầm một mảnh rồi lo lắng đứng dậy. Trương Tiểu Kính liếc nhìn tiết cấp. Đối phương lập tức thấy lạnh toát sống lưng, vội vã né tránh ánh nhìn sắc lẹm ấy.

Trương Tiểu Kính không cao lắm, nhưng cơ thể săn chắc, vững chãi như núi Thái Sơn. Dưới vầng trán cao là hai hàng mày tằm đen nhánh. Hắn lắc lắc cổ tay đau nhức, đưa mắt nhìn quanh rồi xẵng giọng hỏi: “Rượu thịt đâu rồi? Bữa cuối trước khi lên đoạn đầu đài ở huyện thành lệ mức năm trăm tiền. Các ngươi đừng có mà ăn bớt ăn xén cả khoản này chứ!”

Mọi người xung quanh tránh y như tránh tà, không ai thèm đáp lởi. Từ Tân khom người bước vào nhà lao, nâng cánh tay lên rồi khẽ nói: “Có người muốn gặp huynh…”

“Hả?” Trương Tiểu Kính vô cùng kinh ngạc. Thì ra Từ Tân đến đây không phải để tiễn biệt, mà là để lôi y ra khỏi đây. Nhưng một người ba phải như hắn thì lấy đâu ra bản lĩnh mà cứu được kẻ tử tù này?

Từ Tân cũng không giải thích gì mà chỉ luôn miệng giục viên tiết cấp nhanh chóng làm thủ tục. Chẳng mấy chốc, một tư lại(*) [Sec-26.xhtml#n13] đã mang giấy tờ tới để Từ Tân ký vào. Trương Tiểu Kính liếc qua bì thư liền biết đó không phải lệnh ân xá mà là văn bản chuyển giao tù nhân, thường được Đại lý tự hoặc bộ Hình dùng để điều chuyển phạm nhân từ ngục lao cấp huyện. Song kể cả trong trường hợp ấy, phạm nhân cũng không được tháo gông. Trương Tiểu Kính lòng đầy hoài nghi, nhưng y biết lúc này vẫn chưa phải lúc hỏi gì được nên chỉ giữ im lặng.

Từ Tân hạ những nét chữ rồng bay phượng múa rồi dắt cả đám người rời khỏi phòng giam tối tăm, lên trên mặt đất. Ánh mặt trời sáng chói chiếu xiên qua lối cửa, phản chiếu trên mấy bậc tam cấp cuối cùng, tạo thành một bức tranh giao thoa sáng tối lóa mắt. Trương Tiểu Kính bước lên bậc cuối. Y đột nhiên dừng bước, gương mặt đầy cảm khái. Nấc thang này chính là ranh giới giữa ‘âm’ và ‘dương’. Lòng y vốn từng nguội lạnh, chẳng còn thiết tha được sống, nhưng không ngờ lại được cứu về từ cửa tử. Chuyện về sau không biết là lành hay dữ, nhưng được nhìn thấy mặt trời một lần nữa thì dù là gì cũng đáng.

Trương Tiểu Kính phăng phăng đi tới một miệng giếng gần đó như chốn không người. Điều này trái với quy định nhưng đám ngục tốt chỉ đứng đằng xa, không ai ho he câu nào. Đôi tay cứng như thép của y túm lấy sợi dây thừng buộc xô múc nước, nhanh chóng kéo lên một xô nước đầy ắp còn lẫn những mảnh băng vỡ. Y nâng xô nước lên quá đầu rồi đổ ‘ào’ một phát. Nước đá khiến y rùng mình sảng khoái, dội sạch mọi bẩn thỉu và khó chịu trong địa lao. Trương Tiểu Kính đặt xô nước xuống, ngẩng cao đầu, nước đá nhỏ tong tỏng theo những lọn tóc dài. Cả người y như toát ra khí thế mạnh mẽ bức người. Ánh mặt trời chói chang chiếu lên gương mặt y, soi rọi hốc mắt bên trái. Nơi ấy không có con ngươi, chỉ còn lại một vết sẹo cũ sâu hoắm càng làm y thêm phần dữ tợn.

“Hỡi đất trời rộng lớn! Ta đã trở lại rồi đây!” Y vung mạnh nắm đấm lên trời. Khoảnh khắc ánh nắng dao động ấy khiến gương mặt sắc cạnh của y càng dữ dằn như hộ pháp.

Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển giao, Từ Tân dẫn Trương Tiểu Kính hớt ha hớt hải rời khỏi công đường huyện Trường An. Hắn sốt một đến nỗi không cho Trương Tiểu Kính thời gian thay áo ngục. Ngoài cổng công đường có buộc hai thớt ngựa tốt Lương Châu, được đeo đai đồi mồi trên trán. Điều này có nghĩa là chúng có thể phi nước đại ở bất kì con đường nào, kể cả ngự đạo(*) [Sec-26.xhtml#n14] trên phố Chu Tước, mà không cần tuân theo nghi chế.

Hai người nhảy lên lưng ngựa. Trương Tiểu Kính hỏi: “Chúng ta đi đâu đây?”

Từ Tân đáp: “À… à… Chúng ta trở về ti Tĩnh An ở phường Quảng Đức.” Hắn nhìn lướt qua chiếc đồng hồ mặt trời ở cửa nha môn rồi nói tiếp: “Phải nhanh lên mới được! Ờ! Chúng ta phải nhanh lên, phải đến đó trong vòng một khắc.”

“Đến nơi trong vòng một khắc!” Trương Tiểu Kính xoa xoa tai ngựa bằng ngón áp út. Phản ứng nhanh nhạy của con ngựa khiến y vô cùng hài lòng. Vòng ngoài của thành Trường An được phân định bởi con phố Chu Tước. Phía đông là huyện Vạn Niên, còn phía tây là huyện Trường An. Nhà lao huyện Trường An nằm ở phường Vĩnh Đạt phía tây thành. Muốn đi từ đây đến phường Quảng Đức thì phải chạy về phía tây, qua ba con phố lớn, rồi tiếp tục rẽ sang hướng bắc, băng qua bốn ngã tư đường. Cả quãng đường ấy phải dài đến mười dặm. Nếu muốn tới nơi trong vòng một khắc thì nhất định phải thúc ngựa chạy như bay, không được trì hoãn phút nào.

Hai người thúc ngựa phi nước đại lao đi vun vút. Khí thế hừng hực của hai thớt ngựa khiến người đi đường ai nấy đều vội vàng né tránh. Từ Tân rõ ràng không cưỡi ngựa giỏi bằng Trương Tiểu Kính. Hắn gần như nằm gục lên lưng ngựa, hai tay siết chặt dây cương, nom đến là chật vật.

Trương Tiểu Kính giảm tốc độ, chạy song song với Từ Tân. Y nheo con ngươi còn lại. “Từ Đức huynh! Rốt cuộc là có chuyện gì vậy?”

Từ Tân thở hổn hển, cố gắng kiểm soát tư thế cưỡi ngựa rồi mới nói: “Là ti Tĩnh An lôi huynh ra ngoài.”

“Ti Tĩnh An?” Trương Tiểu Kính hơi ngạc nhiên. Y nắm rõ cơ cấu hành chính ở Trường An nhưng chưa từng nghe qua cái tên này.

Từ Tân giải thích: “Dẹp yên phản loạn là ‘Tĩnh’, bốn phương vô sự là ‘An’. Ti Tĩnh An mới được triều đình lập ra sau khi huynh vào ngục, phụ trách phòng chống tội phạm, giặc cướp cho cả thành Trường An. Nay họ đang tìm kiếm người tài nên tôi đã tiến cử huynh.”

Trương Tiểu Kính cau mày. Nếu nói phụ trách trị an thì đã có nhai sứ(*) [Sec-26.xhtml#n15] của Kim Ngô vệ, có tuần sứ(*) [Sec-26.xhtml#n16] của Ngự sử đài, còn có huyện úy của hai huyện Trường An và Vạn Niên. ‘Tội phạm, giặc cướp’ như thế nào mà lại khiến triều đình phải lập thêm một cơ quan mới để đối phó?

Từ Tân tiếp tục nói: “Người phụ trách ti Tĩnh An là Lý Tất, tự Trường Nguyên. Với tư cách quan đãi chiếu(*) [Sec-26.xhtml#n17] của viện Hàn lâm, hắn đang đảm nhiệm chức ti thừa của ti Tĩnh An. Chính Lý ti thừa nói muốn gặp huynh.”

Trương Tiểu Kính nghe vậy thì càng thêm phần hoài nghi. Việc này chẳng phải kì lạ quá ư? Nhiệm vụ của ti Tĩnh An là “phòng chống tội phạm, giặc cướp”, hẳn là rất nhiều sự vụ phức tạp. Để đám quan văn đãi chiếu cả ngày ngồi an nhàn, rảnh rỗi ở viện Hàn lâm đi bắt cướp bắt giặc, chẳng phải loạn hết rồi ư?

Trương Tiểu Kính nghĩ đi nghĩ lại cái tên này trong đầu, chợt nhớ ra điều gì đó. “Có phải là… tên thần đồng đánh cờ không?”

Từ Tân gật đầu đầy ẩn ý. Năm Khai Nguyên thứ mười ba, một cậu bé thần đồng bảy tuổi tên Lý Tất đã vào cung yết kiến. Khi ấy, hoàng đế đang đánh cờ với Trung thư lệnh Trương Thuyết. Hoàng đế lệnh cho hai người Trương Thuyết và Lý Tất vịnh cờ với đề bài ‘vuông, tròn, động, tĩnh’. Trương Thuyết nói: Vuông như bàn cờ, tròn như quân cờ. Động như cờ sống, tĩnh như cờ chết. Còn Lý Tất lại đáp: Vuông như hành nghĩa, tròn như dụng trí. Động như trổ tài, tĩnh như thỏa ý. Đáp án của Lý Tất rất được hoàng đế tán thưởng, nên ngài đã đưa hắn vào cung để phụng bồi thái tử học tập.

Nay Lý Tất đã hai mươi sáu, đương lúc hừng hực hùng tâm tráng khí, háo hức thể hiện tài năng. Ti thừa ti Tĩnh An – chức vụ tuy thấp nhưng có trọng quyền, lại còn có cơ hội tích lũy kinh nghiệm thực tế – quả thực là con đường tiến thân hoàn mỹ. Nghĩ đến đây, Trương Tiểu Kính lại lấy ngón áp út xoa xoa hốc mắt trái, cười nói với giọng châm chọc: “Nếu Lý ti thừa đã khát người tài đến mức này thì có vẻ ti Tĩnh An đã rước phải đại họa rồi nhỉ?”

Từ Tân hơi xấu hổ, ngượng ngùng nhìn đi chỗ khác. Người bạn này của hắn mắt nhìn quả tinh tường mà mồm miệng lại thẳng toẹt. Hai đặc điểm này kết hợp với nhau thật khó khiến người ta chịu nổi. “Xin lỗi! Việc này tôi vẫn không nên nói. À… à… Đợi lát nữa Lý ti thừa sẽ nói với huynh.”

Trương Tiểu Kính cười ha hả. “Được! Không hỏi huynh nữa! Việc gì cũng được. Chắc là không thể thảm bằng việc bị chém đầu đâu nhỉ?”

Từ Tân nhìn thẳng về phía trước, sắc mặt nặng nề. “Chuyện này… cũng rất khó nói!”

----------------------------------------

Trong lúc hai người đang lao như tên bắn về ti Tĩnh An thì Tào Phá Diên cũng vừa mới hổn hển leo lên bờ. Cạnh đó có một tấm bia đá xanh cao hơn hai trượng có ghi bốn chữ ‘Kênh bắc Vĩnh An’. Hắn bò lổm ngổm đến bên cạnh tấm bia, khó nhọc dựa lưng vào đó, sắc mặt tái nhợt, thở không ra hơi. Khuỷu tay trái hắn cứ cong cong. Một mũi nỏ thép cắm sâu vào chỗ khớp xương, phần tay áo lờ mờ vết máu. Hắn vẫn còn may, bởi chỉ cần mũi nỏ ấy bắn chếch lên trên một chút, sợ rằng cả cánh tay này sẽ coi như bỏ đi.

Hai tai bỗng nghe thấy tiếng gì đó, hắn lập tức cúi thấp người xuống, nấp dưới tấm bia đá. Trên con đường cách đó không xa, một đội nhai sứ tuần tra của Kim Ngô vệ đang rầm rập chạy qua. Lưu lượng khách khứa và xe cộ đi lại trên con đường này rất đông nên thường xuyên bị ùn tắc. Đội tuần tra phải quát tháo ầm ĩ mới có thể mở ra một lối đi. Vì vậy, gần như không có ai để ý đến những động tĩnh trên con kênh bên cạnh.

Đợi đến khi đội tuần tra đi được một lúc, Tào Phá Diên mới dùng tay phải che khuỷu tay trái rồi chậm rãi đứng dậy. Hắn đưa mắt thăm dò xung quanh, ngay khi đang định bước đi thì ánh mắt ấy chợt lóe sáng. Xa xa có một người đang tách khỏi đường cái, băng qua cống thủy lợi, loạng choạng bước về phía tấm bia đá. Đó là một gã say rượu, tuổi trạc bốn mươi, mặc áo bào trắng, ngực áo ướt sũng. Nhìn gã chân nam đá chân chiêu là biết đã uống không ít. Tào Phá Diên lại phải tiếp tục cúi thấp người xuống, cố gắng đè nén hơi thở một lần nữa.

Gã say rượu đi đến trước bia đá, ợ một tiếng rõ to, sau đó một tay thuận theo đường xẻ tà vén áo lên, tay còn lại thì bận rộn cởi thắt lưng ra rồi tiểu lên tấm bia. Bụng gã chứa không biết bao nhiêu là nước, gã thậm chí còn thích thú hướng nguồn nước đến những phần đất cát trên tấm bia. Xong việc, gã cài bừa thắt lưng lại rồi quay người định rời đi. Đúng lúc này, gã đột nhiên cúi đầu thốt lên: “Ô kìa!”

Gã nhìn thấy những dấu chân ướt sũng trên bờ kè con kênh và bên cạnh bia đá, liền tò mò đi tới xem. Vừa vòng qua mấy bước, gã lập tức mặt đối mặt với Tào Phá Diên đang trốn đằng sau. Gã thoáng sững người lại rồi cười nói: “Tử Mỹ! Người về rồi hả? Nào, chúng ta cùng nhau uống một chén.” Tào Phá Diên không nhiều lời, tức khắc vươn tay ra tóm lấy cổ tên kia, trong khi gã say rượu vẫn đang lẩm bẩm: “Đừng nghịch! Đừng nghịch!” Gần như ngay lập tức, chỉ nghe thấy một tiếng rắc vang lên sau tấm bia, tiếng người say rượu lèm bèm cũng đột ngột dừng lại.

Không lâu sau, Tào Phá Diên khoác lên mình tấm áo bào, đường hoàng bước ra đường lớn. Ở Trường An, việc người Hồ mặc áo giống dân Đại Đường là hoàn toàn bình thường. Cứ như vậy, hắn dễ dàng hòa vào đám đông như một hạt cát hòa vào sa mạc.

----------------------------------------

Mất đúng một khắc, Trương Tiểu Kính và Từ Tân mới đến được phường Quảng Đức, thậm chí Từ Tân còn đánh rơi chiếc khăn chít trên đầu mà không có thời gian nhặt lại. Sau khi bị lục soát nghiêm ngặt, cả hai gặp Lý Tất tại một khoảng sân vắng vẻ phía sau đại điện ti Tĩnh An. Ở đó có một căn phòng nhỏ, tường trơn, ngói xám với bàn ghế đơn giản, ngoài bậu cửa có trồng qua loa mấy cây kim ngân, tử kinh và vài khóm hoàng trúc héo khô xơ xác. Rõ ràng là chủ nhân của căn phòng này không mấy để tâm đến việc trang hoàng nhà cửa. Điều đặc biệt duy nhất là một chiếc đồng hồ mặt trời nhỏ có hình đồng tước chỉ chếch lên trời, có thể thấy rằng người đó rất chú trọng thời gian. Quanh đồng hồ thiết kế một con kênh nhỏ, dòng nước trong vắt chảy uốn lượn ra phía sau đình viện.

Từ Tân giao lại ngân ngư đại cho cấp trên rồi khom người xin cáo lui, chỉ để lại hai người Trương Tiểu Kính và Lý Tất. Trương Tiểu Kính vừa vái chào thật sâu, vừa tranh thủ nhanh chóng đánh giá người trước mặt bằng con mắt phải duy nhất. ‘Thần đồng đánh cờ’ mặt mũi sáng sủa, mặc áo bào lục tay chẽn, đúng là quan đãi chiếu lục phẩm của viện Hàn lâm. Nhưng ngân ngư đại thì chỉ quan ngũ phẩm trở lên mới được dùng, điều này có nghĩa là ngân ngư đại trong tay cậu ta là vật được hoàng đế ban cho. Chỉ qua một chi tiết nhỏ như thế cũng có thể thấy được quan hệ mật thiết của cậu ta với hoàng tộc.

Nhưng Lý Tất của lúc này không có chút nào tự đắc về những gì mình đang có. Dù đã cố hết sức duy trì vẻ bình tĩnh, song chân mày cậu vẫn vô thức nhíu lại, còn khóe môi thì mím chặt. Trương Tiểu Kính liếc nhìn cũng có thể thấy được cậu trai trẻ này đang phải gánh chịu một áp lực vô cùng nặng nề. Điểm thú vị nhất là Lý Tất luôn cầm một cây phất trần trong tay. Điều này không khỏi khiến Trương Tiểu Kính cảm thấy khó hiểu. Tại sao một ti thừa của ti Tĩnh An lại cầm một món pháp khí của đạo gia như vậy?

Lý Tất phẩy phất trần, lập tức đi thẳng vào vấn đề mà không chào hỏi gì. “Chuyện ta sắp nói với ngươi là chuyện cơ mật bậc nhất trong triều. Ngươi chỉ có hai lựa chọn, hoặc là làm việc này cho ta, hoặc là về nhà lao đợi chết.”

Trương Tiểu Kính vẫn giữ im lặng. Y biết đối phương không cần câu trả lời của mình, cậu ta chỉ đang xác nhận vị trí của hai bên trong cuộc trò chuyện này mà thôi. Lý Tất đi tới cạnh bàn, kéo tấm lụa mỏng màu trắng trên tường xuống, để lộ ra một tấm bàn đồ lãnh thổ Đại Đường. Cậu chỉ phất trần về phương Bắc. “Tháng Tám năm Thiên Bảo đầu tiên, Đột Quyết xảy ra nội loạn. Khả hãn tân nhiệm là Ô Tô Mễ Thi không hài lòng với sự cai trị của hoàng đế nên khởi binh làm loạn. Vương Trung Tự, tiết độ sứ Sóc phương(*) [Sec-26.xhtml#n18], đã tập hợp một liên minh gồm binh lính từ các nơi như Bạt Tất Mật, Hồi Hột, Cát La Lộc… dẫn quân thảo phạt. Chinh chiến ròng rã một năm rưỡi, đến nay Khả hãn Đột Quyết đã rơi vào bước đường cùng.” Giọng cậu trong trẻo, điềm tĩnh, có đầu có cuối như thể đã luyện tập vô số lần.

Lý Tất vừa nói, vừa lấy một cuộn giấy được đánh dấu lụa đỏ từ trên giá sách bên cạnh xuống, đoạn ném cho Trương Tiểu Kính. Đó là một cuộn giấy dài có dán chi chít mẩu giấy bên trên. Những chữ viết qua loa, mẩu dài thì trăm chữ, mẩu ngắn thì chỉ duy nhất một câu. Các mẩu giấy ấy được sắp xếp theo thứ tự thời gian. Nếu đọc từng mẩu giấy một thì sẽ không hiểu được gì, nhưng khi từ từ mở hết cuộn giấy, Trương Tiểu Kính càng đọc càng kinh hãi.

“Đầu tháng Chín năm Thiên Bảo thứ hai, Lưu Hậu Viện phương Bắc dâng một bản mật tấu, nói rằng Khả hãn Đột Quyết đã cử một số nhóm lang vệ thân cận thâm nhập vào Trường An, hòng gây khó dễ cho thiên tử, từ đó xoay chuyển thế cục ở tiền tuyến. Đám lang vệ Đột Quyết đó là lực lượng tinh nhuệ, đáng sợ nhất trên thảo nguyên. Chúng tàn nhẫn, xảo quyệt và cực kì trung thành với Khả hãn. Để xây dựng đối sách phòng chống đám giặc này, triều đình đã thành lập ti Tĩnh An.” Lý Tất ngưng lại một giây rồi nói tiếp: “Nhưng rốt cuộc kế hoạch của người Đột Quyết là gì thì chúng ta không hề hay biết. Lưu Hậu Viện và ti Tĩnh An dốc toàn lực cũng chỉ tóm được tung tích của một đội trong số đó.”

Nói đoạn, Lý Tất gõ ngón tay lên mặt bàn gỗ tùng rồi tiếp tục: “Ti Tĩnh An vốn định dùng kế gậy ông đập lưng ông để lợi dụng đội này mà có thể lần ra những kẻ đang trà trộn đâu đây. Tiếc là đám thuộc hạ bất tài làm miếng ăn đến miệng còn rơi, khiến cho một kẻ chủ chốt trong đám đó chạy thoát khoảng nửa canh giờ trước.”

Lý Tất lệnh cho người mang tất cả tư liệu ghi chép của lần hành động vừa rồi tới để Trương Tiểu Kính xem một lượt, có ý muốn kiểm tra người này một phen. Trương Tiểu Kính lật xem rồi chỉ vào một ghi chép trong đó. “Người Đột Quyết đến từ thảo nguyên, cực kì mẫn cảm với tiếng ngựa. Lý ti thừa, ngài hạ lệnh di dời gia súc quanh nhà kho quá sớm. Một nơi ồn ào bỗng trở nên im phăng phắc, đương nhiên sẽ khiến kẻ khác nảy sinh cảnh giác.”

Lý Tất sững người. Ban nãy, mọi người trong ti Tĩnh An có thảo luận xem tại sao Tào Phá Diên lại có thể nhìn ra cạm bẫy nhưng chưa đi tới kết luận nào. Lý Tất luôn cho rằng đó là do Thôi Lục Lang kém cỏi, để lộ sơ hở. Nào ngờ nguyên nhân lại do chính bản thân cậu mà ra.

Cậu vốn chỉ định kiểm tra xem kẻ này có bản lĩnh gì không, kết quả lại khiến bản thân bị y bắt thóp. Nghĩ vậy, Lý Tất không khỏi cảm thấy hổ thẹn, nhưng rất nhanh sau đó cậu lại nở nụ cười. Đây chẳng phải người mà ti Tĩnh An đang tìm đó ư?

Vẻ mặt Trương Tiểu Kính lại hết sức bình thản. Y làm bất lương soái chín năm ở Trường An, trải qua đủ mọi vụ án kỳ dị nên suy luận đơn giản này có đáng là gì.

Lý Tất thở dài. “Sau khi kế gậy ông đập lưng ông thất bại, mọi manh mối đều bị cắt đứt. Điều duy nhất ta có thể chắc chắn là lang vệ nhất định sẽ hành động vào lễ hội hoa đăng tối nay.” Nói đến đây, cậu quay ra nhìn chiếc đồng hồ mặt trời ngoài cửa sổ, ánh mắt đầy quyết liệt.

Trương Tiểu Kính không khỏi cả kinh. Từ trước đến nay, lễ hội hoa đăng đều lên đèn vào giờ Dậu. Lúc này đã qua giờ Tỵ, tính đi tính lại cũng chỉ còn bốn canh giờ. Ti Tĩnh An bắt buộc phải bắt được tất cả lang vệ Đột Quyết giữa cả triệu dân Trường An trong vòng bốn canh giờ – điều này gần như là một nhiệm vụ bất khả thi. Bấy giờ Trương Tiểu Kính mới hiểu tại sao Lý Tất lại vội vã lôi mình ra khỏi ngục lao như vậy. Việc này quá quan trọng, quá khó khăn, quá cấp bách nên không thể giải quyết được bằng những biện pháp bình thường. Không còn cách nào khác, viên quan trẻ này bắt buộc phải dùng chiêu hiểm nên mới tự hạ thấp mình trò chuyện với một kẻ tử tù.

Lý Tất nghiêng cơ thể cao gầy về phía trước, nghiêm túc hỏi: “Trong vòng bốn canh giờ, ngươi có thể làm được không?”

Trương Tiểu Kính hỏi ngược lại: “Tại sao lại là tôi?”

“Ta đã tra qua lý lịch của ngươi. Trước đây ngươi từng qua lại với người Đột Quyết ở Tây Vực, hẳn là có nhiều kinh nghiệm đối phó với chúng. Ngươi còn làm bất lương soái ở Trường An chín năm, nói về thành Trường An, e rằng chẳng ai thông thạo hơn ngươi.” Lý Tất có ý dừng lại, sau đó giơ một tay lên nói tiếp: “Chỉ cần ngươi có thể hoàn thành nhiệm vụ này, ta đảm bảo ngươi sẽ được ân xá.” Với những kẻ tử tù, không có thứ gì hấp dẫn bằng lệnh ân xá.

Nhưng Trương Tiểu Kính lại không hề tỏ ra vui mừng. Con mắt của y hơi nheo lại như đang suy nghĩ điều gì đó rồi cung kính chắp hai tay nói: “Đa tạ ý tốt của ti thừa. Tôi bằng lòng quay về nhà lao chờ chết.”

Lý Tất cau mày. Hắn từ chối cơ hội sống sót duy nhất này ư? Tại sao?

“Trường An có một trăm lẻ tám phường. Muốn tìm thấy mấy tên Đột Quyết trong vòng bốn canh giờ là chuyện thần tiên cũng không làm được. Đằng nào cũng chết, giờ tôi về nhà lao còn đỡ tốn công phí sức hơn.” Trương Tiểu Kính nhún vai, đoạn xoay người đi ra ngoài.

“Xong việc phong cho ngươi làm Tuyên tiết hiệu úy cộng thêm chức Thượng phủ biệt soái nữa, đủ chưa?”

“Đây không phải vấn đề thưởng công.”

Lý Tất sầm mặt, bật dậy nói: “Ta không có nhiều thời gian để lãng phí. Hãy nói điều kiện của ngươi ra!” Cậu không tin một người như y sẽ bỏ qua cơ hội này, trừ khi hắn ta không muốn sống nữa.

Trương Tiểu Kính tiếp tục đi về phía trước. “Tôi đã nói rồi! Đây không phải vấn đề thưởng công. Không làm được là không làm được.”

“Ngươi có hận người Đột Quyết không?” Lý Tất đột nhiên hỏi một câu không liên quan.

Trương Tiểu Kính dừng bước. “Hận.” Giọng y hờ hững, chẳng buồn cũng chẳng vui.

Lý Tất bỗng cao giọng nói tiếp: “Chẳng lẽ ngươi hận người Đột Quyết như vậy mà lại ngồi nhìn đám dã thú ấy tung hoành ở Trường An ư?”

Trương Tiểu Kính vẫn chẳng màng quay người, chỉ thấy bóng lưng lạnh lùng đáp lại Lý Tất. Y nói với giọng điệu đầy trào phúng: “Ở Trường An, trên có thiên tử với trăm quan, dưới có ngàn vạn binh lính hùng mạnh, tại sao việc bắt người Đột Quyết lại trở thành trách nhiệm của một kẻ từ tù như tôi?”

Lý Tất lạnh lùng đáp lời: “Bởi vì hiện tại người có thể cứu được thành Trường An chỉ có mình ngươi!” Lời này chẳng giống được nói ra bởi một kẻ đạo mạo chút nào. Trương Tiểu Kính đang định lắc đầu rời đi, ai ngờ Lý Tất đã rảo bước về phía y. Cậu chẳng màng thân phận, vươn tay nắm lấy tay áo y rồi xoay người chắn trước mặt đối phương. Hai hàng lông mày của cậu gần như xoắn tít vào nhau.

“Trương Tiểu Kính! Ta biết ngươi có lòng oán hận với triều đình. Nhưng chuyện ngày hôm nay không liên quan gì đến thiên tử, cũng chẳng phải vì con đường làm quan của Lý Tất ta. Đó là an nguy của biết bao bách tính Trường An! Ngươi hiểu chưa? Vì muôn dân, ngươi đành lòng sao? Ta không quan tâm ngươi nghĩ thế nào nhưng ngươi buộc phải làm xong việc này. Đó là cả triệu mạng người! Là mạng người đó!”

Giọng cậu run run nói những từ cuối cùng, hẳn nhiên là do quá xúc động. Lý Tất rất hiếm khi lỗ mãng như thế.

Trương Tiểu Kính không ngờ vị quan trẻ này lại đột nhiên thất thố đến vậy. Hai chữ ‘mạng người’ khiến lòng y dậy sóng. Không hiểu tại sao cảnh tượng trong giấc mơ lại hiện lên. Xác chất thành núi, máu chảy thành sông, tiếng cờ sói dữ tợn thổi phần phật lẫn vào tiếng khóc thảm thiết, tang thương. Sau một hồi im lặng, y thở dài một hơi. “Được rồi! Lý ti thừa! Cậu đã thuyết phục được tôi!”

Lý Tất buông tay áo y, lui về một bước và quay lại dáng vẻ thận trọng ban đầu. “Những lời hứa ban nãy của ta vẫn còn hiệu lực.”

Trương Tiểu Kính trầm ngâm một lát rồi bào: “Tuy nhiên, tôi có một yêu cầu. Quan phủ hành sự lo hết cái nọ đến cái kia, làm gì cũng không dám làm. Muốn tôi tóm được đám kia trong vòng bốn canh giờ thì phải tuân theo quy tắc của tôi.”

“Quy tắc của ngươi là gì?”

“Là không có quy tắc nào hết.” Mắt phải Trương Tiểu Kính lóe lên một tia nguy hiểm và cao ngạo.

Lý Tất là người thông minh. Cậu lập tức hiểu ý Trương Tiểu Kính. Thành Trường An quá phức tạp, mọi thế lực đan xen kiểm soát và cân bằng lẫn nhau, khiến việc hành động gặp trùng trùng trở ngại. Nếu không có một con dao sắc bén để cắt đứt mớ hỗn độn này thì đừng nói là bốn giờ, thậm chí bốn tháng cũng chưa chắc gặt hái được kết quả gì. Trương Tiểu Kính muốn bắt đám Đột Quyết kia ở thành Trường An trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy thì bắt buộc phải có quyền tuyệt đối để nghiền nát mọi thứ – cái quyền muốn làm gì thì làm, ai ai cũng phải hợp tác, không ai có quyền gây trở ngại. Song Lý Tất thoáng do dự. Chín năm làm bất lương soái ở Trường An đủ khiến Trương Tiểu Kính kinh qua mọi thủ đoạn tàn nhẫn trên đời. Nếu thực sự để y thoải mái hành động thì thật khó có thể tưởng tượng sẽ gây ra ảnh hưởng lớn đến mức nào.

Thấy cậu im lặng, Trương Tiểu Kính cười khẩy rồi dứt khoát quay người bước ra ngoài.

“Khoan đã!” Lý Tất hạ quyết tâm. Cậu giơ tay phải lên, lấy ra một lệnh bài bằng đồng vàng chói. Trên mặt lệnh bài có khắc bốn chữ ‘Tĩnh An Sách Bình’. Cậu nói: “Từ giây phút này, ngươi là đô úy của ti Tĩnh An. Với lệnh bài này, võ hầu trên khắp đường phố Trường An cũng như ở mọi vọng lâu, mọi phường thủ lý vệ, mọi tuần kỵ và thành môn vệ, đến cả bất lương nhân ở Kinh Triệu phủ hay hai huyện đều có thể nghe lệnh ngươi. Thấy lệnh bài cũng như thấy bản quan.”

Trương Tiểu Kính thoải mái nhận lấy tấm lệnh bài, buộc luôn vào thắt lưng, còn thắt một nút cửu hà cho chắc chắn. Từ giây phút này, y chính là tên tử tù quyền lực nhất cả thành Trường An.

Lý Tất đột nhiên hỏi: “Ta giao cho ngươi quyền hạn lớn như vậy, lỡ như ngươi chạy trốn thì sao?”

“Không có gì đảm bảo cả.” Trương Tiểu Kính thẳng thắn trả lời. “Người là ngài chọn, đường do ta đi. Chúng ta đều phải chịu trách nhiệm cho lựa chọn của chính mình.”

Cuộc trò chuyện kết thúc ở đó. Lý Tất rung cái chuông trên bàn, gọi hai tì nữ bên ngoài vào. Họ đưa Trương Tiểu Kính đến một gian phòng gần đó, cho y thay bộ áo tù màu xám thành một bộ quần áo vải đơn giản để dễ dàng đi lại. Sau khi sửa soạn xong, Lý Tất đích thân đưa Trương Tiểu Kính đến đại điện ti Tĩnh An.

Khu vực trung tâm này của ti Tĩnh An tập hợp các tinh hoa trong mọi lĩnh vực, tổng hợp tin tức quân sự từ khắp nơi và tiến hành phân tích, phán đoán. Sương phòng có một nhà kho khổng lồ chất đống không biết bao nhiêu hồ sơ về mọi mặt của thành Trường An, từ lục bộ cho đến hai huyện, có thể tra cứu bất cứ lúc nào. Từ Tân chính nhờ có sở trường này nên mới được điều đến đây.

Điều khiến Trương Tiểu Kính ấn tượng nhất chính là hệ thống vọng lâu của ti Tĩnh An. Mỗi phường ở thành Trường An đều có từ hai đến ba vọng lâu. Bình thường, vọng lâu dùng để giám sát bọn trộm cướp và cảnh báo hỏa hoạn. Dưới bàn tay của Lý Tất, nay vọng lâu có thêm một công năng khác. Cậu bố trí thêm một võ hầu cầm cờ ở mỗi vọng lâu. Họ có thể trao đổi thông tin thông qua những ám hiệu bằng cờ đã được quy định. Ban ngày họ dùng cờ, đến ban đêm thì dùng đến ánh sáng của đèn lồng. Như vậy, tình hình quan sát được ở bất kì vọng lâu nào trên khắp Trường An đều có thể nhanh chóng được truyền tới trung khu ti Tĩnh An. Tương tự, trung khu ti Tĩnh An cũng có thể nhanh chóng truyền lệnh đến bất kì nơi nào.

Cách truyền tin này là do học hỏi được từ cách dùng lửa báo hiệu ở ngoài vùng biên cương, nhưng thuận tiện hơn lửa báo hiệu rất nhiều. Hai vọng lâu chỉ cách nhau chừng nửa dặm nên tin tức có thể lan tỏa khắp thành Trường An trong tích tắc. Trương Tiểu Kính không cần nghĩ nhiều cũng có thể nhìn ra lợi ích thực tế của phương thức này. Điều này có nghĩa dù ở bất cứ đâu trong thành Trường An, y cũng có thể duy trì liên lạc với ti Tĩnh An thông qua vọng lâu, chẳng khác gì việc có thêm một con mắt khổng lồ bao quát cả thành trì rộng lớn này. Tuy nhiên, hệ thống vọng lâu này cũng cần đến một nguồn lực khổng lồ mà chỉ có cơ quan đặc biệt như ti Tĩnh An mới có thể vận hành.

Lúc này, Thôi Khí cũng đang có mặt trong đại điện. Hắn đang thì thầm gì đó với tì nữ phụ trách việc mô tả trên sa bàn. Lý Tất vừa gọi tên, hắn đã tất tả chạy tới rồi quỳ một gối nghe lệnh. Hắn biết bản thân vẫn đang là kẻ mang tội.

Lý Tất bình thản nói: “Thôi lữ soái! Cái chết của Lục Lang là do sơ suất khi ta để hiện trường quá yên tĩnh. Lệnh này từ ta mà ra nên bản quan cũng có trách nhiệm.” Thôi Khí ngẩng phắt đầu lên, gần như không tin vào tai mình. Hắn không ngờ cái chết của anh trai mình lại do một sơ suất nhỏ nhoi như vậy, càng không ngờ vị trưởng quan này lại tự nhận cái sai. Chẳng lẽ… đây là thuật mua chuộc lòng người ư?

Lý Tất bĩu môi. Giờ cậu chẳng có thời gian để mà chơi chiêu với hắn, cậu chỉ đơn giản không thèm đùn đẩy trách nhiệm cho người khác mà thôi. Cậu chỉ vào Trương Tiểu Kính rồi nói: “Chính Trương đô úy đã tìm ra lời giải cho nghi ngờ này. Tiếp sau đây, Trương đô úy sẽ thay huynh ngươi truy lùng bọn lang vệ.”

Thôi Khí liếc mắt ngầm đánh giá Trương Tiểu Kính. Ánh mắt hắn vừa cảm kích vừa hoài nghi. Hắn biết Trương Tiểu Kính là một tử tù, không hiểu tại sao Lý Tất lại đặt cược vào kẻ này. Tuy nhiên, với một người lính coi phục tùng mệnh lệnh là trách nhiệm, hắn hành lễ với Trương Tiểu Kính rồi hùng hồn nói: “Tại hạ có ba trăm quân Lữ Bôn bao gồm cả bộ binh và kỵ binh, có thể đi đến bất cứ đâu ở Trường An trong vòng hai khắc. Mong Trương tiên sinh có thể cho tại hạ cơ hội tự tay báo thù, trả thù cho gia huynh.”

Trương Tiểu Kính để ý Thôi Khí gọi mình là ‘Trương tiên sinh’ chứ không phải ‘Trương đô úy’. Có vẻ như thanh kiếm sắc bén mà Lý Tất giao cho mình không hề dễ dàng điều khiển. Thời gian quá gấp rút, kế hoạch tiếp theo phải thật khẩn trương và dày đặc. Trương Tiểu Kính nhanh chóng ghi nhớ quy ước cờ hiệu trên vọng lâu và một số cách liên lạc cần thiết, rồi bước đến trước sa bàn nghe giới thiệu ngắn gọn về người Đột Quyết.

Một tì nữ yêu kiều cầm gậy đánh mã cầu phụ trách thuyết minh cho Trương Tiểu Kính. Cô ta đứng trước sa bàn, khi thì đẩy tượng, khi thì giảng giải. Giọng nói trong sáng, du dương, có pha chút âm sắc ngoại quốc. Trương Tiểu Kính nhìn thẳng mặt cô gái. Cô gái tên Đàn Kỳ này có sống mũi cao ngất và búi tóc đen nhánh, có lẽ là con lai giữa người Hán và người Hồ.

“Vấn đề là lang vệ Đột Quyết muốn làm gì?” Trương Tiểu Kính hỏi.

Đàn Kỳ đáp: “Hiện tại chúng ta vẫn chưa biết rõ. Thông tin duy nhất ta nắm được đến từ Lưu Hậu Viện phương Bắc là thủ lĩnh một bộ tộc Đột Quyết từng tuyên bố, rằng cả thành Trường An sắp biến thành ‘Khuyết Lặc Hoắc Đa’. Ngài có hiểu điều này có nghĩa là gì không?”

Trương Tiểu Kính gật đầu. ‘Khuyết lặc’ là một danh từ trong tiếng Đột Quyết, ý nghĩa tương tự như ‘cửu u huyết ngục’, còn ‘hoắc đa’ có nghĩa là ‘biến thành cát bụi’. Cả cụm từ này vừa là một lời nguyền, vừa là một con thú huyền thoại. Ngay cả khi không hiểu tiếng Đột Quyết thì bốn chữ ‘khuyết lặc hoắc đa’ cũng vô thức khiến người ta cảm nhận được sát ý ngập trời. Thành Trường An sắp trở thành Khuyết Lặc Hoắc Đa – đây có thể là một cách nói cường điệu, hoặc cũng có thể là ẩn dụ cho một thứ gì đó. Không ai biết ý nghĩa thực sự của nó là gì.

Đàn Kỳ biết thời gian cấp bách nên nói nhanh hơn: “Đây là mảnh vải còn sót lại khi chúng tôi lục soát nhà kho số sáu, khu Bính. Trên đó có phác thảo phần tường bao bên ngoài của một nửa thành Trường An. Rất có thể thứ Tào Phá Diên muốn có là bản đồ chi tiết của tất cả các phường trong thành.”

Trương Tiểu Kính không khỏi nhíu mày khi nghe tới đoạn ‘bản đồ chi tiết các phường’. Lý Tất nhác thấy vẻ mặt đối phương trầm lại thì hỏi: “Theo ngươi, người Đột Quyết muốn bản đồ để làm gì? Ừm… Để ta đổi cách hỏi. Nếu có bản đồ chi tiết các phường trong tay thì chúng có thể làm được gì?”

“Hạ độc theo đường kênh rạch, phóng hỏa chuỗi các phường, giết người giữa đêm, gieo rắc lời tiên tri nhảm nhí, đột nhập hoàng cung… Vào đêm hội hoa đăng, chúng chỉ cần ném vài đồng xu ở một vài địa điểm ngắm hoa đăng náo nhiệt và đông đúc như phường Sùng Nhân, phường Diên Thọ, cung Hưng Khánh, hồ Khúc Giang… là đã có thể gây ra đại loạn. Một khi có bản đồ chi tiết các phường đưa đường dẫn lối, chúng có thể tự do đi lại trong thành Trường An. Có quá nhiều điều chúng có thể làm.” Trương Tiểu Kính chắp tay nói thao thao bất tuyệt, càng nói càng khiến sắc mặt những người xung quanh cắt không còn một giọt máu.

Lý Tất nghiêm mặt. Tình hình cậu dự đoán đã đủ nghiêm trọng nhưng không ngờ còn có những thủ đoạn nham hiểm, khó lường như vậy. Suy cho cùng, người của ti Tĩnh An đều làm quan nên kiến thức về mặt này còn thua xa một cựu bất lương soái đã quá quen thuộc với những mưu mô quỷ quái.

“Theo ngươi thấy, chúng ta nên làm gì tiếp theo nếu không thể công khai tìm kiếm?” Lý Tất tiếp tục hỏi.

Trương Tiểu Kính đáp: “Cá nhân tự ý sở hữu bản đồ chi tiết hoàng thành sẽ phạm phải tội chết. Trừ quan phủ ra thì dân thường sẽ không có món đồ này. Một khi Tào Phá Diên không thể moi được thông tin này từ Thôi Lục Lang thì hoặc hắn sẽ phải trộm từ hoàng thành, hoặc là…” Y di chuyển tâm mắt về phía sa bàn rồi đứng sát về phía Đàn Kỳ, gần như vai kề vai với cô. Y hỏi: “Lần cuối cùng vọng lâu nhìn thấy Tào Phá Diên là ở đâu?”

Đàn Kỳ hơi hoảng hốt trước hành động lỗ mãng như vậy của y. Cô thoáng chần chừ, đoạn trả lời: “Tốc độ Tào Phá Diên vượt qua cống thủy lợi quá nhanh nên vọng lâu không kịp quan sát. Tuy nhiên, dựa trên những gì được phân tích thì hắn có thể đã lên bờ ở khu vực phường Diên Thọ, phường Bố Chính. Hai nơi đó đều đông người qua lại nên dễ dàng lẩn trốn. Người của ta đã được phái tới đó lục soát.”

Trương Tiểu Kính nói: “Tôi đoán hắn sẽ không đi đâu xa. Cuối cùng, hắn sẽ phải về đây.” Dứt lời, y chỉ một ngón tay về phía sa bàn.

“Chợ Tây?” Thôi Khí kinh ngạc hỏi. Lý Tất lại khẽ gật đầu tán thành. Cậu và Trương Tiểu Kính cùng đồng thanh: “Thương nhân Hồ!”

Thương nhân người Hồ tập trung đông ở chợ Tây, trong đó không thiếu những phú thương giàu có. Bản đồ chi tiết thành Trường An lại rất có ích cho việc làm ăn buôn bán nên chẳng lạ gì nếu họ có lén lút sở hữu một cái. Trương Tiểu Kính quá hiểu đám người này. Bọn họ bản tính hám lợi, mà gan làm liều còn to hơn cả gan lạc đà. Sau khi Thôi Lục Lang bại lộ, Tào Phá Diên sẽ không dám tiếp xúc với người Đường nữa. Nếu muốn nhanh chóng có được bản đồ chi tiết thành Trường An, hắn không còn lựa chọn nào khác ngoài cách tìm đến người Hồ.

“Nhưng ngươi có biết cần tìm thương nhân nào không?” Lý Tất cau mày hỏi. Thương nhân người Hồ ở chợ Tây nhiều vô kể, không thể kiểm tra từng người một được.

Trương Tiểu Kính vê hai tay, bình tĩnh trả lời: “Lúc bất thường thì phải dùng thủ đoạn phi thường.” Lý Tất nghe vậy thì tỏ rõ vẻ hồi hộp, định nói gì đó nhưng lời đến miệng lại thôi. Chỉ e rằng ‘thủ đoạn phi thường’ của y có thể là những thủ đoạn bất nhân bất đức. Nhưng giờ không phải là lúc nói đến chuyện luật pháp và lương tâm. Chiếc đồng hồ nước ở góc điện vẫn đang nhỏ từng giọt tí tách. Mỗi một giọt có thể đồng nghĩa với hàng trăm sinh mệnh.

“Trương đô úy! Vận mệnh triều đình, an nguy bách tích ở cả thành đô này xin được gửi gắm cho ngài!” Lý Tất phất tay áo, trịnh trọng chắp tay, khom người làm lễ trước Trương Tiểu Kính. Những quan viên đứng sau cậu thấy vậy liền đồng loạt đứng dậy, chắp tay hành lễ theo.

Trương Tiểu Kính không mảy may đáp lễ. Y lơ đễnh phủi bụi trong khóe mắt, hờ hững nói: “Tôi chỉ vì bách tính Trường An. Còn những điều khác, tôi không quan tâm. Các vị chớ hiểu nhầm.”

Mọi người thoáng chốc biến sắc. Những lời này có nghĩa là gì? Dù ai cũng âm thầm có những bất bình nhất định với triều đình, nhưng sao có thể nói ra chẳng hề kiêng dè như vậy được?

Trương Tiểu Kính nhếch mép cười, đoạn quay người rời khỏi đại điện. Người của ti Tĩnh An ai nấy khiếp sợ, đổ dồn ánh mắt về phía Lý Tất. Cậu lại chẳng mảy may hoảng hốt, chỉ bình thản khoác cây phất trần lên tay, tỏ vẻ không quan tâm đến những lời vừa rồi. Trương Tiểu Kính đang ám chỉ với cậu rằng y sẽ không chịu sự khống chế của bất cứ thứ gì.

Ở ngoài cổng, Thôi Khí đã chuẩn bị sẵn sàng một bộ trang bị đầy đủ, bao gồm: một thanh đao sắc bén, một chiếc nhuyễn giáp vừa vặn, thuốc khói, dây thừng gân bò… và một cây nỏ cầm tay. Trương Tiểu Kính khoác những món đồ này lên người rồi khuỵu một gối xuống, buộc gấu quần lại bằng hai đoạn dây thừng. Sau khi ăn vận chỉnh tề, cả người y hừng hực sát khí.

Trương Tiểu Kính cầm nỏ lên, vừa gảy dây nỏ, vừa áp lên tai lắng nghe. Y nói với Thôi Khí: “Tháo vọng sơn, điều chỉnh câu tâm căng thêm hai phân.” Thôi Khí nghe vậy thì không khỏi ngạc nhiên. Vọng sơn là một bộ phận hỗ trợ cho việc ngắm bắn. Lắp nó vào nỏ thì hơi rườm rà nên những người có khả năng ngắm chuẩn thường không thích. Câu tâm điều tiết tốc độ bắn của mũi tên, bắn càng nhanh thì lực sát thương càng lớn, nhưng sẽ gây khó khăn cho việc ngắm bắn.

Xem ra người này là một cao thủ dùng nỏ! Thôi Khí thầm nghĩ. Hắn vội vàng mang nỏ đi cho thợ điều chỉnh. Nhân lúc đó, Trương Tiểu Kính kéo Từ Tân sang một bên, thấp giọng bảo: “Phiền huynh phái người đến phường Đôn Nghĩa ở góc chợ Tây. Ở đó có tiệm hương Văn Ký. Hãy gửi lời đến trưởng quầy rằng: lập tức rời Trường An, không được chậm trễ một khắc nào. Huynh cũng nên khuyên người nhà mau mau rời thành, tuyệt đối không được đi xem hội hoa đăng.”

Từ Tân trố mắt nhìn, không hiếu ý y là gì. Trương Tiểu Kính nghiêm túc nói: “Tôi ở Trường An lâu như vậy nên hơn ai hết, tôi hiểu tòa thành này mong manh nhường nào. Nếu lời Lý ti thừa nói là thật thì tôi đồ rằng…” Nói tới đây, y thoáng do dự, đoạn nói tiếp bằng giọng điệu nghiêm trọng hơn: “Lần này thành Trường An tới số rồi.”

----------------------------------------

Lúc này, Tào Phá Diên đang đứng trước cổng lớn của một phường nào đó. Trên đầu hắn có thêm một cái nón, không kéo lên sẽ không thấy mặt người. Cổng phường đang rộng mở. Những người bán hàng rong đang bận rộn với sạp hàng ở chân tường bao phường. Tiếng rao bán, tiếng mua hàng, tiếng người qua kẻ lại huyên náo khắp nơi. Cách đó không xa, tầm chục gã đàn ông vô công rồi nghề đang chơi kéo co ở một khoảng đất trống, đám người đứng quanh cổ vũ náo động hơn cả. Bên cạnh cổng phường là một giá đèn lồng lớn bằng trúc cao chừng năm thước, hình bánh xe, mỗi góc đều được trang trí những dải lụa đủ màu, sẵn sàng lên đèn sau khi hoàng hôn buông xuống.

Tào Phá Diên kéo vành nón thấp xuống, lướt qua bên cạnh tên lý vệ rồi đi thẳng vào trong phường. Ti Tĩnh An đã truyền đi thông báo, yêu cầu lý vệ ở các phường chú ý tới một người Hồ có râu quai nón, nhưng sự việc quá gấp rút nên không có tranh vẽ kèm theo. Các lý vệ đang mải hóng náo nhiệt từ đám chơi kéo co, nhác thấy bóng người không mặc đồ người Hồ liền cho qua luôn mà không thèm nhìn kĩ.

Tào Phá Diên đi đến một góc vắng vẻ gần ngã tư, lấy một cuộn giấy nhỏ từ trong ngực áo ra, nhìn thoáng một cái rồi chặn một đứa trẻ đang chạy ngang qua lại, hỏi nó hàng đồ tre Lý Ký ở đâu. Đứa bé thấy hắn có vẻ hung dữ, liền vội vàng trả lời rằng đó là căn nhà cuối con ngõ rộng phía sau. Tào Phá Diên đi theo chỉ dẫn, quả nhiên phát hiện một xưởng đồ tre ở đó. Ngay trước cửa và dọc hành lang chất đống những khung đèn, khung tre còn chưa dán giấy. Nào là hình long phụng, vân long, thần tiên và các vật cát tường đều có cả. Xem ra nhà này làm ăn khấm khá nên đến ngày chính hội mà vẫn bận rộn nhường này. Hắn gõ cửa. Ba lần dài, một lần ngắn rồi lại hai lần dài. Trong nhà thoáng yên lặng. Một anh thợ mũi cao, mắt sâu thò đầu ra, tay vẫn khư khư con dao gọt trúc trước ngực.

“Lều vàng nỉ trắng đặt ở đâu trong vương cung?” Anh thợ đột nhiên hỏi bằng tiếng Đột Quyết.

“Hùng ưng thảo nguyên không sợ phong ba.” Tào Phá Diên nâng nón lên rồi cũng đáp lại bằng tiếng Đột Quyết. Đối phương liền mở ra một lối đi nhỏ cho hắn bước vào.

Sau

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!