Virtus's Reader
Trường An 12 Canh Giờ

Chương 2: Mục 3

SƠ NGỌ[11 GIỜ TRƯA]

Hai thớt ngựa đuổi nhau vun vút trên phố phường. Chốc chốc, chúng lại bất ngờ phanh gấp, rẽ cua đột ngột làm cát bụi bốc lên tứ tung. Người xe trên đường cuống cuồng né vội, khiến hiện trường càng thêm hỗn loạn.

Sơ Ngọ, ngày 14 tháng Giêng năm Thiên Bảo 3

Chợ Tây, huyện Trường An, thành Trường An.

Không khí chợ Tây chẳng vắng vẻ đi chút nào vì trận hỗn loạn vừa rồi. Càng về trưa, người người càng chen nhau ra đường. Nào là kẻ thường dân áo vải, nào là người gấm vóc lụa là, nào là những quan viên đương chờ được tuyển chọn sống rải rác ở kinh thành, và cả các tao nhân mặc khách từ khắp nơi cũng nườm nượp đổ về đây. Ai nấy cũng mong mua được món hàng mới nhất được đám thương lái người Hồ mang đến. Đâu đó giữa đám đông còn thấy thấp thoáng những mái đầu cài trang sức lấp lánh. Hẳn nhiên là những vị nữ quyến không yên tâm giao việc mua sắm này cho đám hạ nhân, nên mới đích thân chen chúc vào dòng người để tự lựa chọn cho được món đồ ưng ý.

Trương Tiểu Kính bước như bay trên đường. Một thanh niên gương mặt tròn trịa còn vương nét ngây thơ bám sát theo y. Đó là Diêu Nhữ Năng, một cậu trai trẻ măng mới gia nhập ti Tĩnh An. Cậu vốn là một bổ sứ(*) [Sec-26.xhtml#n19] ở ngoại ô kinh thành, có tài chỉ nhìn qua một lần là nhớ. Lý Tất phái cậu đi theo Trương Tiểu Kính để hỗ trợ điều tra và đương nhiên còn hòng giám sát y nữa.

“Trương đô úy! Ngài đi đâu vậy?” Diêu Nhữ Năng không nhịn được nữa, bèn hỏi. Trương Tiểu Kính đi như bay, đường xá thì đông đúc, khó khăn lắm cậu ta mới có thể theo kịp y.

Đối phương lại chẳng thèm dừng bước, chỉ đáp gọn lỏn: “Phường Nhu Gia Ngọc Chân.”

Diêu Nhữ Năng từng nghe qua cái tên này. Đó là một cửa hàng chuyên bán son phấn nữ nhân, đặc biệt là thứ cao dưỡng nhan vô cùng công hiệu được đặc chế theo công thức bí mật mua từ Đại Thực về. Mỹ phẩm ở đây rất có tiếng trong giới quyền quý Trường An, nổi danh đến nỗi chủ tiệm cũng được liệt vào hàng phú thương ở khu chợ Tây này.

Diêu Nhữ Năng thình lình lao lên chặn trước mặt Trương Tiểu Kính, cương quyết nói: “Xin ngài giải thích cho tôi mục đích đến đó!”

Đối phương nghe vậy thì chau mày. “Giờ là lúc nào rồi mà cậu còn dông dài như thế!”

Diêu Nhữ Năng trịnh trọng nói: “Hiện tại ngài mang thân phận đặc biệt, trước khi hành động vẫn nên nói rõ nguyên do, âu cũng là để Lý ti thừa yên tâm.”

“Tôi không nói thì sao?”

Diêu Nhữ Năng nắm chặt chuôi đao bên hông, không hề nao núng mà nói rằng: “Tôi có thể đưa ngài về bất cứ lúc nào.”

Cậu vừa dứt lời, Trương Tiểu Kính đã nhanh nhẹn duỗi bàn tay ra, thoắt cái tóm lấy đao cách(*) [Sec-26.xhtml#n20] rồi nhẹ nhàng cạy một cái, thanh đao liền rời vỏ. Diêu Nhữ Năng vội vàng nghiêng người hòng đoạt lại nó nhưng bất cẩn bị Trương Tiểu Kính gạt chân một cái. Cậu ta lập tức ngã ụp xuống mặt đất đầy bụi.

Trương Tiểu Kính khinh thường nhìn cậu, lạnh lùng nói: “Nếu ta thật sự muốn chạy trốn thì giờ cậu đã chết mấy lần rồi.”

Nói xong, y xoay người rời đi. Diêu Nhữ Năng lếch thếch bò dậy, chẳng màng bụi đất trên người, chỉ luôn miệng nói: “Này! Trương đô úy! Ông mà làm thế thì tôi sẽ báo cáo lên cấp trên đấy!”

Trương Tiểu Kính mặc kệ cậu ta, cứ thế đi về phía trước. Diêu Nhữ Năng chỉ đành hậm hực chạy theo sau. Phường Ngọc Chân nằm trong con hẻm ngoằn ngoèo chếch về hướng bắc của góc đường thứ hai phía đông nam chợ Tây. Đi vào hẻm, qua một ngã rẽ, vừa hay tránh được âm thanh huyên náo và ánh nhìn tò mò của con phố bên ngoài. Họ vừa đặt chân vào phường liền đập vào mắt ba bức tường đất thơm nồng mùi ớt. Phía trên tường có chín dãy kệ dài, mặt kệ được bọc lụa đào với đủ thứ bình lưu ly, đồ gốm sứ lớn nhỏ được bày lên. Lúc này, ở đó chỉ có vài người con gái váy áo thướt tha với những dải lụa khoác tay sặc sỡ, thỉnh thoảng cúi đầu chuyện trò khe khẽ, để lộ ra cần cổ trắng như tuyết. Hương thơm thoang thoảng khắp nơi không khỏi khiến lòng người say đắm.

Kẻ làm thấy người bước vào là đàn ông thì không khỏi ngây người. Trương Tiểu Kính vẫy vẫy lệnh bài ở thắt lưng, trầm giọng nói: “Ti Tĩnh An đang có công chuyện. Đưa ta đi gặp chủ tiệm.” Đối phương đang định mở miệng thì thấy Trương Tiểu Kính nheo con mắt độc nhất quét qua đám nữ nhân. Hắn ta không dám làm ảnh hưởng đến khách hàng nên chỉ đành chống chế rằng mình sẽ đi thông báo cho chưởng quầy. Nào ngờ, bàn tay cứng như thép của Trương Tiểu Kính đã tóm chặt lấy vai hắn, y vừa đẩy hắn vào phía trong vừa nói: “Việc quân không thể chậm trễ. Ta đi với ngươi!” Tên người làm còn đang muốn giãy giụa liền bị Trương Tiểu Kính lấy chuôi đao gõ một cái vào hông đau điếng, khiến hắn lập tức không dám ho he.

Cứ như vậy, Trương Tiểu Kính lôi xềnh xệch tên người làm run rẩy ấy vào phía trong cửa tiệm. Diêu Nhữ Năng bám sát theo sau, không hề ý kiến với cách làm đó của y. Thời gian gấp rút, họ không thể đợi tên kia lề mề chạy đi chạy lại truyền lời được. Phía trong là một khoảng sân rộng rãi. Một gã người Hồ béo tốt đang ngồi nghiêng trên tấm thảm Ba Tư, tay trái cầm ly Cao Túc, khuỷu tay chống lên gối tựa, gối trái gập lên. Bên cạnh hắn, một tên người hầu nhỏ con đang đứng lom khom bưng bình, sẵn sàng hầu hạ. Giữa sân, một ca cơ xinh đẹp vừa múa quanh gốc mai vừa hát điệu Xuân Oanh Chuyển.

Mấy người Trương Tiểu Kính vừa xông vào, ca cơ lập tức dừng lại. Hai tên hộ vệ bước tới định ngăn cản nhưng gã chủ tiệm lại cau mày, phất tay cho xuống. Hắn hỏi: “Ngài là…?”

“Trương Tiểu Kính, đô úy ti Tĩnh An.” Trương Tiểu Kính thả tên người làm ra, giơ lệnh bài lên rồi ra hiệu cho Diêu Nhữ Năng đóng cửa.

“Ồ! Là Trương ‘Diêm vương’ của huyện Vạn Niên đó ư?” Gã chủ tiệm làm ăn buôn bán ở Trường An nhiều năm nên nhân vật nào có chút tiếng tăm cũng đều đã nghe danh. Trương ‘một mắt’ của huyện Vạn Niên được xưng là ‘Ngũ Tôn Diêm La’ – một vị sát thần hung ác, tàn bạo, mạnh tay trấn áp đám tội phạm ở cả khu Đông thành. Chỉ có điều… Nghe nói mấy tháng trước y phạm tội, bị kết án treo cổ. Sao giờ lại được ra tù rồi?

Trương Tiểu Kính mặt không đổi sắc, chắp tay nói: “Có mấy vấn đề tôi cần thỉnh giáo ông.”

Gã chủ tiệm thong thả vân vê chòm râu bên khóe miệng, ngón trỏ tay phải từ từ trượt đến tận đuôi râu vểnh cao mới trầm ngâm buông xuống. Chẳng lẽ hắn hết tiền tiêu Tết? Dám động đến phường Ngọc Chân mà không biết hỏi han phường này có quan hệ gì với cung cấm!

“Người đâu! Mang một thất lộ quyên ra đây cho Trương gia.”

Trong giao dịch buôn bán thông thường, quan phủ quy định một thất lụa trơn là bốn mươi thước. Nếu muốn vận chuyển đường dài thì phải chồng thêm bốn mươi thước nữa – đây gọi là lộ quyên. Loại này chỉ thích hợp cho ngựa, cho la thồ, người bình thường không thể ôm đi đường được. Gã chủ tiệm cố tình đưa lộ quyên cho Trương Tiểu Kính là rắp tâm làm nhục y. Muốn tiền ư? Vậy thì thồ như súc sinh đi!

Trương Tiểu Kính tiến lên, làm như muốn nhận lấy. Gã chủ tiệm cười khinh khỉnh. Nhưng nụ cười chưa kịp tắt thì gã đã thấy một luồng sáng lóe lên trước mắt. Con dao sắc bén thình lình kề lên cuống họng gã tự lúc nào. Ngay cả Diêu Nhữ Năng cũng không khỏi sửng sốt trước cảnh này. Cậu còn đương đinh ninh tên tử tù và gã chủ tiệm giao tình tốt đẹp, chẳng ngờ y lại xuống tay độc ác như vậy. Diêu Nhữ Năng rút đao ra theo bản năng nhưng không biết mình nên yểm hộ hay ngăn cản Trương Tiểu Kính.

Lúc này, một đám người làm của phường Ngọc Chân chạy vọt vào. Diêu Nhữ Năng không nghĩ ngợi nhiều, lập tức bắt chước phong thái Trương Tiểu Kính, lạnh lùng nói: “Ti Tĩnh An đang làm việc. Tránh hết ra cho ta!” Đám lâu la kia nghe vậy thì quả nhiên không dám tiến thêm bước nữa.

Trương Tiểu Kính lên tiếng, giọng vẫn lạnh như băng: “Tôi còn chưa hỏi mà.”

“Mi dám động đến ta thì chỉ có đường chết!” Gã chủ tiệm già mồm.

Trương Tiểu Kính cúi xuống, ghé sát vào tai gã mà rằng: “Chẳng giấu gì ông, tôi là một tử tù. Không xong việc thì cũng chết. Ông đoán xem tôi sẽ làm thế nào?”

Gã chủ tiệm nhìn con ngươi độc nhất u ám của y, lòng căng như dây đàn. Gã sợ nhất loại chó cùng rứt giậu. Sau vài giây suy nghĩ, gã chỉ đành khó khăn mở miệng: “Rốt cuộc ngươi muốn hỏi gì?”

Trương Tiểu Kính dịch mũi dao ra một chút rồi hỏi: “Gần đây ông có qua lại gì với người Đột Quyết không?”

Gã chủ tiệm nghe vậy thì thoáng ngạc nhiên nhưng vẫn quả quyết đáp: “Không!”

“Vậy ông có nghe nói quanh đây có thương nhân nào tiếp xúc với người Đột Quyết không?”

“Không. Người Đột Quyết ư? Lâu lắm rồi có nhìn thấy họ ở Trường An đâu!”

Đột Quyết hoàn toàn kiệt quệ từ thời Trinh Quán. Sau những năm Hiển Khánh, Tây Đột Quyết cũng tan rã theo. Ngày nay, người Đột Quyết chỉ còn là những bộ tộc lẻ tẻ trên thảo nguyên, khi quy phục, lúc làm phản với triều đình. Người Đột Quyết còn ở Trường An thì đã quy thuận từ lâu. Ngoài tù nhân, sứ thần và một vài tộc trưởng đến triều kiến, cái tên Đột Quyết từ lâu đã trở nên xa lạ trên mảnh đất này.

“Chi bằng hỏi đám người làm nhà ông xem, biết đâu họ biết gì đó.” Trương Tiểu Kính kiên trì bám riết.

Gã chủ tiệm chỉ đành cho gọi hết đám người làm tới, hỏi từng kẻ một xem chúng có gặp qua người Đột Quyết nào không. Đương nhiên tên nào cũng vội vã phủ nhận. Trương Tiểu Kính xua tay cho cả đám lui xuống, đoạn tiếp tục hỏi gã chủ tiệm: “Vậy ông có biết nhà nào ở Trường An có bản đồ chi tiết các phường không?”

Gã lắc đầu lia lịa: “Nhà khác thế nào thì tôi không biết, nhưng nhà tôi không có.” Đoạn không quên nói thêm: “Làm thế là phạm pháp, tội ngang mưu phản thì kẻ nào dám làm?”

Trương Tiểu Kính thu con dao lại, bước lùi xa ra một bước rồi nói: “Có lòng tốt nói cho ông biết việc này. Gần đây có vài kẻ Đột Quyết đã thâm nhập vào Trường An hòng làm loạn dịp tết Thượng Nguyên. Giờ chúng chỉ thiếu một tấm bản đồ thành Trường An. Ông không tư tàng thì tốt, bằng không lỡ xảy ra chuyện gì, triều đình mà điều tra ra ai lén tàng trữ bản đồ thì có trời cũng không cứu được.”

Lúc này, gã chủ tiệm mới hiểu được tại sao đối phương lại nóng lòng hành sự như vậy. Thì ra sau đó còn có nguyên nhân sâu xa. Gã đứng thẳng người dậy, lập tức thay đổi thái độ, tỏ ra vô cùng săn sóc: “Lão ấy tuy chỉ là một con buôn nhưng cũng muốn báo đáp triều đình. Không rõ đám Đột Quyết đó hình dáng ra sao, lai lịch thế nào để lão có thể giúp sức thăm dò?”

Trương Tiểu Kính lạnh lùng đáp: “Không cần nữa! Thấy kẻ nào khả nghi lập tức báo cho quan phủ là được! Phải rồi! Việc này là cơ mật triều đình, ông không được phép nói cho bất cứ ai.”

“Tất nhiên! Tất nhiên rồi!” Gã vừa đáp lia lịa, vừa định sai tì nữ mang mấy hũ cao đến cho khách xoa tay, thì ngẩng đầu lên đã không thấy bóng dáng hai người họ đâu. Thấy vậy, cái má béo phệ cũng chẳng buồn thảo mai nữa. Gã vời thằng sai vặt thân cận đến, rủ rỉ vào tai nó mấy câu.

Sau khi rời khỏi phường Ngọc Chân, Trương Tiểu Kính đứng lại ở một chỗ tương đối kín đáo, nấp mình dưới một lá cờ hiệu đang buông xuống, ngay đối diện ngã rẽ vào phường. Y hỏi Diêu Nhữ Năng: “Cậu đã nhớ mặt mấy tên sai vặt nhà kia chưa?”

Diêu Nhữ Năng gật đầu. Trương Tiểu Kính nói tiếp: “Cậu canh chừng cẩn thận cửa trước và cửa sau phường Ngọc Chân. Có kẻ nào khả nghi đi ra hay đi vào đều phải sai bất lương nhân ở chợ Tây theo dõi, xem chúng đi vào những nhà nào rồi nhớ kĩ lấy tên nhà đấy.”

Bấy giờ, Diêu Nhữ Năng mới như bừng tỉnh, thì ra Trương Tiểu Kính đang dùng kế rung cây dọa khỉ. Gã chủ tiệm kia ắt không tránh khỏi kinh hãi sau trận tập kích bất ngờ vừa rồi, đương nhiên sẽ nhanh chóng đánh tiếng cho những thương nhân khác có lén lút tàng trữ bản đồ. Như vậy thì chỉ cần theo dõi chặt chẽ người đưa tin của phường Ngọc Chân liền có thể truy ra nhà nào tư tàng. Có kẻ trong cuộc ‘chủ động’ đưa đường chỉ lỗi, tất nhiên nhanh gọn hơn nhiều so với việc kiểm tra từng nhà, từng nhà một. Cách này có vẻ thô bạo nhưng lại chính là cách làm ít tốn sức nhất. Diêu Nhữ Năng không khỏi nhìn Trương Tiểu Kính bằng con mắt khác, nếu không lão luyện trong nghề thì sẽ không thể nghĩ ra chiêu này, chưa kể còn có thể xử lý bình tĩnh trong lúc nước sôi lửa bỏng như vậy.

“Sao ngài biết phường Ngọc Chân có vấn đề?” Diêu Nhữ Năng tò mò hỏi.

Trương Tiểu Kính mặt không biến sắc, đáp rằng: “Chọn bừa thôi! Nhà giàu chợ Tây được mấy ai trong sạch đâu.”

Diêu Nhữ Năng bĩu môi. “Nhỡ đoán sai thì sao?”

“Thế thì cả thành Trường An đi tong thôi.”

Diêu Nhữ Năng cho rằng vị Trương đô úy này đang nói đùa, nhưng khi nhìn mặt đối phương, cậu không thấy có vẻ gì là đùa cả. Diêu Nhữ Năng là người gốc ngoại ô Kỳ Châu, gia đình nhiều đời làm quan bắt giặc cướp. Trước kia, cha cậu, bác cậu đều hy sinh vì cái nghề này. Về sau, triều đình ban ân, đặc cách cho cậu về Trường An làm quan. Trước khi khăn gói lên đường về kinh, cậu từng đặt lời thề rằng nhất định sẽ làm một viên quan khiến giặc cướp nghe danh phải sợ mất mật mới không thẹn với gia môn.

Trương Tiểu Kính làm bất lương soái chín năm, khiến cả huyện Vạn Niên ngoan ngoãn phục tùng. Trong mắt Diêu Nhữ Năng, y luôn là thần tượng hoàn hảo nhất. Trước khi xuất phát, cậu âm thầm động viên bản thân rằng chuyến này nhất định phải chịu khó học hỏi từ vị tiền bối trước mặt, biết đâu sau này cậu cũng có thể làm bất lương soái hoặc thậm chí cả huyện úy. Nào ngờ Trương đô úy lại khác với những gì mình tưởng tượng như vậy.

Trong tưởng tượng của cậu, một cao thủ bắt cướp lão luyện phải lẫm liệt, oai hùng, quang minh chính đại, uy phong như một cây mạch đao khiến trộm cướp phải khiếp sợ. Nhưng vị Trương đô úy này làm gì cũng có vẻ không đàng hoàng, cụ thể không đàng hoàng như thế nào thì cậu không rõ, nhưng luôn khiến người ta cảm thấy bất an. Cậu bỗng nhớ lại lời Lý Tất dặn dò trước lúc lên đường mà không khỏi thoáng giật mình. Người này đứng nhìn từ xa thì được, chớ nên thân thiết!

Trương Tiểu Kính bỗng lên tiếng hỏi: “Cậu làm bổ sứ bao lâu rồi?”

“À… Ba tháng lẻ tám ngày.” Diêu Nhữ Năng đáp.

“Thế ta hỏi cậu, bổ sứ nên làm việc như thế nào?”

“Đương nhiên là coi ác như thù!”

Trương Tiểu Kính tiếc nuối lắc đầu. “Thế thì không sống lâu được ở cái thành này rồi.”

Diêu Nhữ Năng đứng phắt dậy, khẳng khái nói: “Tôi kính trọng ngài vì ngài là tiền bối. Tôi cũng khâm phục bản lĩnh của ngài. Nhưng ngài đừng hòng dọa tôi bằng những lời lẽ ấy. Trừ khi ngài giết tôi, tôi vẫn sẽ thực hiện đúng chức trách, giúp sức cho ngài và báo cáo tất cả những động thái khả nghi lên cấp trên.”

Trương Tiểu Kính cũng chỉ đành bất lực trước kẻ cứng đầu này, y ra dấu ‘mặc xác cậu’ rồi không thèm nói năng gì nữa. Lúc này, bất lương nhân cũng dần dần tập trung lại đây. Diêu Nhữ Năng dặn dò bọn họ vài câu mới sực nhớ ra một chi tiết nhỏ, bèn quay đầu hỏi: “Trương đô úy! Trong lúc khẩn cấp này, nhân lực lại có hạn, bình thường người ra kẻ vào cửa hàng tấp nập, tôi biết nên theo dõi kẻ nào bây giờ?”

“Chỉ tập trung vào người Hồ. Với những việc này, chúng sẽ không tin người ngoại tộc.” Trương Tiểu Kính không hề do dự đáp.

Xưa nay Đại Đường vốn không phân biệt chủng tộc, người Hồ, người Hán ở Trường An chung sống hòa bình, thậm chí còn có nhiều văn võ bá quan không đến từ vùng Trung Nguyên. Ngay cả ti Tĩnh An cũng có những quan lại người Hồ tinh thông toán học, thành thạo kinh thương. Chỉ có điều, nói đi cũng phải nói lại, không phải là không có những người âm thầm mang tâm lý bài trừ ngoại tộc.

“Việc liên quan đến người Hồ, liệu có cần báo phía phụ trách chợ Tây một tiếng…”

Diêu Nhữ Năng chỉ mới ngỏ ý như vậy đã lập tức bị Trương Tiểu Kính thẳng thừng đánh phủ đầu. “Giờ ta cần thêm tay thêm chân, chứ không cần thêm một cái miệng!”

Diêu Nhữ Năng nghe vậy thì không dám lôi thôi thêm nữa, tức tốc nhận lệnh rời đi. Ti Tĩnh An không có đội ngũ bất lương nhân riêng, việc điều động bất lương nhân từ các phường và các sở lân cận tốn kha khá thời gian. Trương Tiểu Kính khoanh tay đứng im bất động dưới tấm cờ hiệu, mặt mũi lạnh tanh, không ai biết y đang nghĩ gì trong đầu. Mặt trời đang dần lên tới đỉnh đầu, thời gian cứ trôi nhanh như nước chảy. Con mắt độc nhất của y vẫn nhìn chằm chằm vọng lâu phía xa. Nơi đó nãy giờ không có chút động tĩnh nào, không một lá cờ nào được phất lên. Y đang chờ đợi một tin tức khác mà đến giờ vẫn chưa thấy tăm hơi.

----------------------------------------

Lúc này, ti Tĩnh An – nơi cách chợ Tây chỉ một phường – đang bận rộn hơn bao giờ hết. Tất cả thư lại đều đang vùi đầu vào đống sổ sách, cả đại điện chỉ nghe thấy tiếng lật giờ sổ trục lạch cạch. Đám người liên tục khuân hồ sơ từ ngoài vào, chất đống trước bàn thư lại. Họ thậm chí còn mở sẵn quyển trục ra, để trên một giá tre để nâng cao hiệu suất. Như vậy thì thư lại có thể lập tức xem lướt qua nội dung mà không lãng phí thời gian lật giở. Trước mặt mỗi thư lại đều có ba giá tre: một để trải quyển trục, một để đọc lướt và một để cuốn lại. Việc này đảm bảo rằng bất cứ khi nào họ ngước lên cũng đều sẽ có sẵn nội dung để đọc. Họ phải hoàn thành một nhiệm vụ vừa đơn giản vừa khó khăn trong vòng hai khắc.

Kể từ những năm Khai Nguyên, việc giao thương giữa Đại Đường và Đột Quyết gần như đóng băng, song không vì thế mà nhu cầu hàng hóa của hai bên không còn. Các thương nhân Tây Vực khôn ngoan nhanh chóng nắm bắt cơ hội kinh doanh này, âm thầm thiết lập một con đường trung chuyển hàng hóa giữa hai bên. Họ thu mua gia súc, đồ lông, da từ thảo nguyên và nhập vào Trường An dưới danh nghĩa hàng hóa Tây Vực, rồi lại vận chuyển tơ lụa, trà, muối từ Trường An đi thảo nguyên. Không ít thương nhân người Hồ máu mặt ở Trường An có quan hệ mật thiết với người Đột Quyết.

Lý Tất tập hợp giấy tờ của tất cả các thương đội ra vào Trường An trong vòng gần năm năm qua, tập trung kiểm tra lượng xuất nhập khẩu của bốn mặt hàng: da dê, gân bò, muối và đồ sắt. Hai thứ đầu tiên là sản phẩm của thảo nguyên, còn hai thứ sau lại được những người thảo nguyên thèm khát. Thương nhân nào càng buôn bán số lượng lớn những hàng hóa này thì chứng tỏ càng có mối liên hệ chặt chẽ với người Đột Quyết. Còn với ti Tĩnh An, điều này có nghĩa là khả năng càng cao Tào Phá Diên sẽ tìm tới thương nhân đó. Đây là cách làm mà Trương Tiểu Kính đã vạch ra với Lý Tất trước khi rời đi.

Thông thường, bộ Hộ phải mất mấy ngày trời mới có thể làm cho xong việc này. Nhưng trong lúc nước sôi lửa bỏng như hiện tại, những cao thủ công văn được điều đến từ đủ các bộ ngành này chỉ có thể dốc hết sức lực, đến nỗi gần như dùng hết cả que tính của ti Tĩnh An. Lý Tất tuy không xắn tay trực tiếp vào làm việc nhưng vẫn chắp tay sau lưng đi lại như con thoi giữa các bàn chất đống sổ sách, nhìn chẳng khác nào một thầy đồ ở Quốc Tử giám. Một lúc sau, cậu liếc nhìn chiếc đồng hồ nước ở góc đại điện, cáu kỉnh lắc đầu rồi quay phắt người đi phăng phăng về phía sa bàn.

“Đàn Kỳ! Cô cảm thấy gã Trương Tiểu Kính này thế nào?” Lý Tất đột nhiên hỏi.

Đàn Kỳ đang mải cập nhật thông báo mới nhất từ phía vọng lâu lên sa bàn, nghe thấy câu hỏi của Lý Tất, cô không khỏi nhăn mũi, chán ghét đáp: “Tướng do tâm sinh. Em thấy gã chính là một tên yêu râu xanh thô kệch. Thật chẳng hiểu sao công tử lại giao phó tiền đồ cho một kẻ tử tù như gã!”

Đàn Kỳ là con lai, sống mũi cao và đôi mắt màu hổ phách. Cô là tì nữ đến từ nhà Lý Tất. Mẹ cô là người Tiều Bột Luật. Cô lớn lên trong nhà Lý Tất từ nhỏ, thông minh, hiểu biết nên rất được Lý Tất trọng dụng, ăn nói cũng không hề kiêng dè.

Nghe vậy, Lý Tất gõ gõ ngón tay lên mặt bàn. “Lúc Thái Tông cứu Lý Vệ Công ở pháp trường từng thánh huấn rằng: dùng người có công, chi bằng dụng người có tội. Thái Tông có thể dùng Lý Vệ Công thì cớ gì ta không thể kiểm soát người này?”

Đàn Kỳ bĩu môi. “Gã làm gì xứng với Lý Vệ Công chứ!”

“Ta thấy hắn cứ luôn nhìn lén cô. Hay là cô định làm Hồng Phất Nữ(*) [Sec-26.xhtml#n21] đấy?”

“Ơ kìa!” Đàn Kỳ đỏ bừng mặt, nhất thời cứng họng, chỉ hung hăng lườm Lý Tất bằng cái nhìn sắc lẹm. Cậu cười ha hả, mệt nhọc thoáng chút vơi đi, đoạn buông một hơi thở dài rồi nói: “Cô mà biết lý lịch của gã thì sẽ không nói như thế nữa đâu.”

“Chẳng lẽ hắn là quỷ La Sát chuyển thế à?” Đàn Kỳ bĩu môi nói.

Lý Tất đáp: “Năm Khai Nguyên thứ hai mươi ba, Khả hãn Tô Lộc của bộ tộc Đột Kỵ Thi, Đột Quyết dấy quân làm loạn. Chúng bao vây thành Bát Hoán ở An Tây. Khi đó, ba mươi dặm về phía bắc thành Bát Hoán có một thành lũy báo hiệu đồn trú hai trăm hai mươi quân. Họ tử thủ trong thành lũy, kiên cường chiến đấu suốt chín ngày trước đại quân Đột Quyết. Đến khi Bắc Đình đô hộ phủ Cái Gia Vận đưa viện binh tới thì chỉ còn vỏn vẹn ba người sống sót, nhưng lá đại kỳ vẫn phấp phới tung bay. Trương Tiểu Kính chính là một trong ba người may mắn ấy.”

Đàn Kỳ kinh ngạc che miệng. Cô như ngửi thấy mùi máu tanh nồng từ những câu chữ không hề khoa trương này.

“Đến khi trở về luận công, Trương Tiểu Kính được phong làm Phi kỵ úy, chịu khó nhẫn nhịn ở bộ Binh vài năm là có thể bước vào quan lộ, tiền đồ vô lượng. Tiếc là gã nảy sinh bất đồng với cấp trên, buộc phải cởi áo giáp, từ bỏ vị trí về huyện Vạn Niên làm bất lương soái, mà làm tận chín năm. Mãi cho đến nửa năm trước, hắn phải vào tù vì tội sát hại cấp trên.”

Đàn Kỳ kinh hãi hít một hơi. Cấp trên của bất lương soái chẳng phải huyện úy huyện Vạn Niên ư? Dưới giết trên, lại giết quan là tội bất nghĩa – một trong mười tội ác không được ân xá trong Đường luật.

“Tại sao gã lại giết cấp trên của mình?” Cô buột miệng hỏi. Lý Tất chỉ khẽ lắc đầu. Đàn Kỳ biết tính công tử – tuyệt đối không nói những điều không nên nói – nên nhanh chóng đổi sang một câu hỏi khác: “Tại sao công tử lại chọn một gã nguy hiểm như vậy?”

Lý Tất giơ tay lên, thình lình tóm mạnh một cái giữa không trung: “Chỉ có kẻ nguy hiểm nhất mới có thể hoàn thành nhiệm vụ khó khăn nhất. Thành Trường An đang ngàn cân treo sợi tóc, không thể không mạnh tay xuống một ‘đơn thuốc’ cực mạnh, cực quyết liệt.”

Đàn Kỳ thở dài. “Đàn Kỳ chưa từng nghi ngờ mắt nhìn của công tử. Chỉ có điều liệu người xung quanh sẽ nghĩ thế nào? Hạ giám sẽ nghĩ ra sao? Còn cả vị trong cung kia nữa… Công tử vì vị ấy mà gánh vác biết bao gánh nặng lên người rồi!”

Cô hiểu quá rõ triều đình Đại Đường này. Ti Tĩnh An chẳng qua chỉ là một tấm bia sống. Chỉ cần có chút sơ suất thì kẻ chỉ huy nơi đây chính là người đứng mũi chịu sào.

Lý Tất vắt cây phất trần lên khuỷu tay, ánh mắt kiên định mà rằng: “Vì người đó cũng được, vì lê dân bách tính cũng xong, dù là vì ai thì cũng phải có người đứng ra bảo vệ thành Trường An này. Ngoài ta ra thì liệu còn ai có tâm cơ và dũng khí như vậy nữa? Ta tuy là người tu đạo nhưng cũng có cái tâm cứu thế. Nỗi khổ tâm này không cần mọi người đều tỏ.”

Đúng lúc này, Từ Tân cầm một tờ giấy vội vàng chạy tới, vừa chạy vừa hô lớn: “Có danh sách rồi!”

Đám người Từ Tân đã làm nên kỳ tích, họ quả thực đã tổng hợp xong số lượng trong vòng hai khắc đồng hồ. Trên danh sách có bảy, tám cái tên được xếp theo thứ tự số lượng từ nhiều đến ít, đều là những thương nhân người Hồ có kim ngạch xuất, nhập bốn loại hàng hóa khá lớn trong vòng năm năm qua.

Lý Tất nhìn lướt qua danh sách rồi tức tốc ra lệnh: “Truyền vọng… Không được! Vọng lâu truyền tin chậm quá… Trương Tiểu Kính đang ở đâu?” Đàn Kỳ biết lúc này công tử đã vào trạng thái làm việc nên cũng lập tức nghiêm chỉnh lại, chỉ vào sa bàn nói: “Trước con hẻm phía bắc ngã tư thứ hai của chợ Tây, ở cùng Diêu Nhữ Năng.”

Trên sa bàn, một bức tượng màu xám tro cô độc đại diện cho Trương Tiểu Kính, khác hoàn toàn so với những bức tượng màu đỏ của quân Lữ Bôn và màu đen của lang vệ Đột Quyết.

“Dùng khoái mã gửi danh sách này cho hắn!” Lý Tất xuống lệnh.

Ngoài hiên luôn túc trực khoái mã, sẵn sàng nhận lệnh bất cứ lúc nào, chuyên dụng cho tin tức với nội dung phức tạp. Danh sách nhanh chóng được cho vào một chiếc ngư đồng nhỏ. Nài ngựa nhận lấy rồi lập tức cho vào ống tay áo, đoạn thúc ngựa phi nước đại rời đi trong tiếng vó ngựa hối hả xa dần. Gần như đồng thời, một người lính truyền tin vụt qua khoái mã, tiếng hô sang sảng như hòa vào tiếng vó ngựa: “Báo! Hạ giám đã về!” Giọng hắn khỏe mà vang vọng khắp đại điện.

Lý Tất nhướng mày. Sao Hạ giám lại về sớm vậy? Điều này thật bất thường. Cậu liếc nhìn Đàn Kỳ, đối phương lập tức hiểu ý, nhanh tay lấy nguyệt trượng gạt tượng xám đại diện cho Trương Tiểu Kính ra khỏi sa bàn. Tên lính truyền tin ban nãy đồng thời trình lên một vài văn thư vừa được giao đến. Đó đều là những giấy tờ cần được Lý Tất xem và ký xác nhận trước. Cậu đọc qua, bỗng chau mày, lấy ra một tập trong số đó rồi tiện tay giao cho một tiểu lại bên cạnh, thấp giọng dặn dò đôi ba câu. Cậu dứt lời, vừa ngẩng đầu lên thì thấy lão già họ Hạ lật đật bước rảo vào trong điện, luôn miệng chất vấn: “Trường Nguyên! Ấy thế mà con lại dám dùng một tên tử tù ư?”

----------------------------------------

Văn Nhiễm phủi sạch vụn sáp trên tay, cẩn thận sắp xếp lại bài vị của cha mình, khẽ thở dài. “Hôm nay là tết Thượng Nguyên, phải đi thật sao?”

Trong phòng không có ai khác, cô chỉ đang tự hỏi chính mình. Ban nãy có người đến truyền tin, một mẩu tin có ám hiệu. Cô biết đó là ân nhân gửi cho mình. Người đó bảo cô phải lập tức rời khỏi Trường An, nhưng lại không nói rõ tình hình cụ thể. Điều này không khỏi khiến cô rơi vào thế khó xử. Từ ngày cha mất, một mình cô đứng ra gánh vác việc làm ăn buôn bán của tiệm hương này, cô vùi đầu vào công việc không một tiếng kêu than. Chính nhờ sự kiên cường và cố chấp ấy, tình hình cửa tiệm mới dần khởi sắc. Tết Thượng Nguyên là dịp nơi nơi dùng đến hương, là mùa làm ăn, mùa kiếm tiền. Nếu cô rời đi vào lúc này thì doanh thu chẳng phải sẽ sụt giảm đáng kể ư?

Nhưng lời ân nhân, Văn Nhiễm không thể không nghe. Nếu không có người ấy thì năm ngoái Văn gia đã tan cửa nát nhà rồi. Lúc sinh thời, cha từng nhiều lần dặn dò cô nhất định phải nghe lời ân công. Cô khẽ buông một tiếng thở dài, khăn gói hành lý gọn gàng, nhân tiện ngước nhìn tấm bảng danh mục hàng hóa trên tường. Trên đó chi chít những miếng gỗ, mỗi miếng là một đơn hàng nặng trĩu. Văn Nhiễm ít học, không biết làm sổ sách, chỉ có thể theo dõi công việc buôn bán theo cách này. Cô thấy trong đó có một miếng gỗ ghi chữ ‘Vương’, bên cạnh có chấm mười hai chấm mực đỏ. Đây là đơn mười hai gói Giáng Thần hương cực phẩm của đại tiểu thư nhà Vương tiết độ, phường An Nhân, hẹn hôm nay giao hàng. Văn Nhiễm nhíu mày. Đơn hàng này cực kì quan trọng với tiệm hương Văn Ký. Vị tiểu thư ấy có một niềm yêu thích đặc biệt với hương nhà cô và luôn mong muốn có vài gói mới. Nếu chiều lòng được đại tiểu thư này thì mai sau, tiệm hương Văn Ký ắt sẽ thơm lây, tạo được tiếng tăm trong giới nữ quyến danh gia vọng tộc ở cả thành Trường An.

Phường An Nhân nằm ở phía đông bắc phường Đôn Nghĩa, cách ba con đường lớn, khoảng cách không quá xa. Văn Nhiễm nghĩ thầm: Giao xong đơn hàng này rồi rời thành cũng chưa muộn. Lòng đã quyết, cô xoay người đi lấy đồ, đặt lên một giá hương bằng tre rồi vác ra ngoài. Cô vốn định thuê một con la nhưng ngày tết ngày nhất, súc vật trong phố xá quanh đây bị lùa đi hết, có tiền cũng không thuê được. Không còn cách nào khác, cô chỉ đành vác giá hương trên vai cả quãng đường.

Lúc này, trên phố người người đi lại tấp nập, cô chen chúc trong đám đông, khó khăn lắm mới đến được phường Sùng Nghiệp rồi chôn chân ở đây, không tài nào đi nổi nữa. Ở đó có miếu Huyền Đô, nhiều bậc chức sắc, quý nhân đều đến đây dâng hương, cúng bái. Nào ngựa nào xe dừng la liệt ngoài cổng phường, khiến cả con đường tắc chật cứng. Bà con chỉ đành tạm thời dừng chân tại chỗ, kiên nhẫn chờ đợi.

Văn Nhiễm lặng lẽ hòa vào dòng người. Cô không hề biết rằng trên tầng hai của một tửu lâu ở góc phường Hoài Trinh đối diện, có một cặp mắt thâm trầm quét qua con phố rộng đang dừng lại trên người cô. Người đàn ông trung niên mặc quan bào xanh nhạt thu tầm mắt lại, chậm rãi nâng ly rượu lên môi. Gương mặt với đôi mắt hẹp, sống mũi thẳng nhưng khoằm, chỉ cần mấp máy môi là cả mí mắt và cánh mũi đều phập phồng theo, nom như có con rắn trườn dưới lớp da.

“Con nhãi kia. Các ngươi nhìn thấy rồi chứ?” Hắn nhấp một ngụm rượu, hờ hững cất lời. Vài thiếu niên mặc cẩm bào đứng cạnh nghe vậy thì gật đầu lia lịa.

Hắn hằn học nói tiếp: “Vụ án năm ngoái của cha con nó náo động đến nỗi không ai được yên, còn làm đi tong tính mạng của một huyện úy. Hôm nay để ta gặp nó thì đúng là ý trời. Thù này không báo, kẻ khác sẽ cho rằng Phong Đại Luân ta đây dễ bắt nạt. Lát nữa các ngươi nhớ chăm sóc nó cho tốt.”

Đám thiếu niên cười sằng sặc, ánh mắt đầy vẻ dâm tà. Phong Đại Luân đặt ly rượu xuống. “Các ngươi cứ xuống tay thoải mái. Trương Diêm vương đang ngồi tù chờ chết, lần này không ai cứu được nó đâu.” Vừa nhắc đến cái tên kia, mắt hắn xoẹt qua một tia căm thù và khiếp sợ. Ngay cả bản thân hắn cũng không rõ cảm giác nào mãnh liệt hơn. Để xua tan cảm xúc khó chịu này, hắn phất tay bảo: “Đứng đấy làm gì? Còn không mau đi làm việc đi?”

Đám thiếu niên mặc cẩm bào lại rối rít chắp tay xin lui rồi lũ lượt kéo nhau chạy xuống lầu.

Văn Nhiễm khó khăn lách người khỏi đám đông ở phường Sùng Nghiệp. Đi men theo vỉa hè một đoạn, cô vô thức cảm thấy xung quanh bỗng xuất hiện nhiều kẻ có vẻ du côn, lêu lổng. Chúng ăn mặc luộm thuộm, vạt áo lỏng lẻo lộ ra cả những hình xăm chằng chịt dưới cổ. Ban đầu, chúng chỉ lảng vảng xung quanh, sau đó dần siết lại, cô lập Văn Nhiễm khỏi những người đi đường khác. Bọn chúng nom có vẻ rời rạc nhưng lại kết thành một bức tường người kiên cố, nhốt cô lại bên trong. Cô cảm thấy có gì đó không ổn, tỏ ý muốn xông ra ngoài. Đám kia lại cười cợt, dùng bờ vai và cánh tay lực lưỡng đẩy cô bật ngược trở lại. Văn Nhiễm tức giận tóm lấy một cánh tay trong số đó, giật mạnh một cái. Đối phương chẳng những không nhúc nhích mà vạt áo của hắn còn thuận đà tuột ra, khiến hai cánh tay ngăm đen lồ lộ ra ngoài. Trên đó có xăm hai hàng chữ xanh vô cùng dữ tợn: “Sống không sợ Kinh Triệu phủ(*) [Sec-26.xhtml#n22]. Chết không ngán Diêm La vương.”

Đây chính là ký hiệu của bang Hùng Hỏa. Bang phái này chính là trùm sò huyện Vạn Niên, tụ tập hàng trăm tên vô lại bất hảo, làm đủ thứ chuyện bất nhân bất nghĩa, từ kiếm cớ sinh sự đến giết người cướp của, làm vương làm tướng, ngang nhiên hoành hành không coi ai ra gì. Chẳng lẽ… đây chính là mối nguy mà ân nhân đã nhắc tới? Văn Nhiễm thầm nghĩ. Nhưng cô không hiểu nổi tại sao người của bang Hùng Hỏa lại gây sự với mình. Lúc này, Văn Nhiễm như rơi vào dòng nước xoáy, không thể nào thoát ra được. Cô bị chúng cuốn về hướng bắc, đến một đoạn đường vắng vẻ. Song cô nhất định không chịu khuất phục, mắt dáo dác nhìn ra ngoài qua khe hở giữa đám người. Kia rồi! Văn Nhiễm sáng mắt lên khi thấy một trạm gác ở góc phường phía trước, vài võ hầu nhàn nhã ngồi trước cửa. Cô thình lình tăng tốc, xô một tên du côn rồi chạy trối chết về phía võ hầu, vừa chạy vừa thất thanh kêu cứu.

Đám võ hầu nghe thấy tiếng kêu thì ào ào vác giáo đứng dậy, nhưng vừa ngó thấy hơn chục tên du côn hùng hổ, hai tay xăm kín đi sau cô thì mặt mũi biến sắc. Tên du côn dẫn đầu thủng thỉnh chạy lại, chắp tay nói: “Thê tử không chịu nghe lời, khiến các vị quan gia chê cười rồi!” Nói xong, hắn còn lấy vài xâu tiền từ thắt lưng ra, nhanh nhẹn dâng lên.

Lời này nghe chẳng đáng tin nhưng toán võ hầu cũng không muốn rước lấy phiền phức, nên mắt nhắm mắt mở nhận tiền rồi đồng loạt quay đi. Đám thanh niên cười ha hả, lôi Văn Nhiễm đang trong cơn tuyệt vọng quay lại bức tường người. Ở ngã tư trước mặt, một chiếc xe ngựa với hai song cửa sổ bị bịt kín đang đợi sẵn. Đám người lôi xềnh xệch Văn Nhiễm, nhét vào trong xe rồi cài chặt cửa. Hai tên trong số đó nhảy lên đi cùng.

Xe ngựa từ từ lăn bánh. Trong không gian tối đen như mực, Văn Nhiễm vô cùng sợ hãi nhưng không biết phải chạy đường nào. Chẳng bao lâu sau, ngoài xe bỗng vọng lại tiếng chuông chùa. Tiếng chuông này rất đặc biệt, trong cái uy nghi có pha chút sáng trong, vừa nghe đã biết là tiếng chuông Tử Kim Phật Ân ở chùa Tế Độ Ni. Năm xưa, Võ Tắc Thiên từng xuất gia ở đây. Khác với những chùa khác, chuông ở đó được đúc bằng vàng tím nên âm thanh cũng có chút khác biệt.

Tiếng chuông khiến lòng Văn Nhiễm thoáng bình yên lại. Không phải vì Phật pháp vô biên, mà vì cô bỗng nhận ra rằng bản thân vẫn chưa thực sự đi đến bước đường cùng. Chùa Tế Độ Ni nằm ở phường An Nghiệp, Văn Nhiễm thường giao hương tới đây nên vô cùng thông thuộc đường xá lân cận. Vừa nghe thấy tiếng chuông, cô liền đoán được vị trí hiện tại của mình – loanh quanh đâu đó bên phía tây phường An Nghiệp, cách rất gần địa điểm cô muốn tới lúc đầu là phường An Nhân, chỉ cần băng qua đại lộ Chu Tước là tới. Đại lộ Chu Tước là trục đường nam-bắc chính giữa thành Trường An, rộng chừng trăm bộ, dẫn thẳng đến hoàng cung. Nếu chạy được đến ngự đạo thì biết đâu cô có thể thoát khỏi hiểm nguy.

Nghĩ là làm, Văn Nhiễm tựa thẳng lưng vào thành xe, bàn tay mò mẫm trong bóng tối bất ngờ chạm vào một chiếc đinh sắt lỏng lẻo ở khe hở trên mặt sàn. Cô gái này vốn chưa từng dễ dàng bỏ cuộc!

----------------------------------------

Tào Phá Diên gồng mình rướn người về phía trước, cố gắng đè nén tiếng kêu đau đớn nơi cuống họng. Hai mắt hắn đỏ ngầu, miệng nghiến chặt khúc gỗ hằn sâu vết răng như muốn nứt làm đôi. Người thợ trúc cẩn thận lấy dao nhọn khoét mũi nỏ đen sì khỏi cánh tay hắn, máu tươi túa ra. Xong xuôi, gã buông dao xuống, thuần thục khâu lại vết thương, đắp thuốc rồi băng bó lại.

“Mũi nỏ không đầu nên không nguy hiểm đến tính mạng. Chỉ có điều vài tháng nữa không được động đến khuỷu tay.” Người thợ trúc vừa rửa tay vừa nói. Tào Phá Diên trán đẫm mồ hôi, khó nhọc gật đầu.

Bên ngoài bỗng vang lên tiếng bước chân, một người đàn ông mặt mũi thâm trầm bước vào. Gã này nom đặc người Đột Quyết, gương mặt dài, da dẻ nứt nẻ và hai hàng lông mày bạc phếch. Gã mặc một chiếc trường bào lụa trắng dài chấm đất, Hán không ra Hán, Hồ không ra Hồ, đằng sau còn khâu thêm một cái mũ to như cái gầu múc nước.

“Hữu Sát đại nhân!” Tào Phá Diên và tên thợ trúc đồng loạt khom người hành lễ.

Hữu Sát không phải tên người mà là một chức quan ở Đột Quyết. Những người được vương tộc giao cho cai quản những vùng khác nhau, người cai quản vùng phía đông gọi là Tả Sát còn vùng phía tây gọi là Hữu Sát, đều là những vị nắm uy quyền rất lớn. Triều đình mà biết có một nhân vật tầm cỡ như vậy lẩn trốn trong thành Trường An thì ắt hẳn sẽ nổi lên một trận phong ba.

Hữu Sát quét mắt qua vết thương trên khuỷu tay Tào Phá Diên. “Ta vừa mới nhận được tin mười lăm dũng sĩ ngươi dẫn tới đều bỏ mạng rồi.”

Tào Phá Diên quỳ rạp xuống, hổ thẹn rút con dao tùy thân, nhắm thẳng vào tim mà rằng: “Tất cả đều do thuộc hạ. Thuộc hạ cam tâm tình nguyện lấy cái chết để chuộc tội.”

Lang vệ là đội quân trung thành nhất của Đại hãn. Họ phụng mệnh tiến vào Trường An, vốn không định sống sót quay về thảo nguyên. Nhưng sinh mệnh của những lang vệ này đáng ra phải đổi lấy mấy trăm lần máu tươi người Đường mới là tận trung với Đại hãn. Chết ở một kho hàng hoang phế quả thực là một tổn thất quá to lớn.

Hữu Sát nói: “Mạng ngươi thuộc về Đại hãn, ngươi có tư cách gì tự mình quyết định?” Gã đoạt lấy con dao khỏi tay Tào Phá Diên, cắt phăng một nhúm tóc trên đầu đối phương rồi cuốn lên cổ tay. Trên thảo nguyên, hành động này có nghĩa là tước đi linh hồn người mang tội. Từ giờ phút này, Tào Phá Diên đã chết, thứ còn lại chỉ là một cái xác phục tùng bất cứ mệnh lệnh nào. “Từ giờ, ngươi phải hoàn thành mọi mệnh lệnh của ta thì mới được phép chết.”

Tào Phá Diên cúi gằm mặt, không đáp lại nửa lời. Vị Hữu Sát này mang huyết thống cao quý của tộc A Sử Na, là thủ lĩnh tối cao trong hành động lần này tại Trường An, đại diện cho ý chí của Đại hãn. Ý nguyện của gã chính là số mệnh của Tào Phá Diên.

Hữu Sát ném con dao qua một bên, giơ tay nói: “Ngươi không cần lo chuyện bản đồ nữa, ta đã phái người khác đi làm rồi. Giờ ta có nhiệm vụ khác giao cho ngươi đây.”

“Hả?” Tào Phá Diên ngạc nhiên ngẩng đầu.

Hữu Sát nói: “Vừa có tin gia quyến Tiết độ sứ phương Bắc Vương Trung Tự đang ở kinh đô. Ngươi hãy đi tóm lấy con gái hắn, chặt đứt ngón tay, gửi từng đốt một đến doanh trại quân Đường trên thảo nguyên.” Lúc nói những lời này, gã bất giác khoái trí nhếch mép đầy nham hiểm. Vương Trung Tự chính là cơn ác mộng của Đột Quyết, là kẻ đầu sỏ khiến người Đột Quyết sống không bằng chết. Chẳng mấy khi lang vệ mới đến Trường An một chuyến, nếu không tặng hắn một món đại lễ thì quả thực quá bất lịch sự.

Tào Phá Diên chau mày. Hành động lần này đã được trù tính kĩ lưỡng từ lâu, đến khi thực thi sao lại có thể tùy tiện thay đổi chỉ vì một suy nghĩ nông nổi được? Có lời này hắn vẫn luôn giữ trong lòng, đó là tên Thôi Lục Lang vốn do người của Hữu Sát một tay sắp đặt, cuối cùng lại chính là gián điệp của người Đường. Hắn không nghi ngờ Hữu Sát cấu kết với kẻ địch, nhưng có mỗi việc cơ bản nhất là xét duyệt lai lịch tên họ Thôi kia mà đối phương cũng làm không xong, khiến mười mấy lang vệ tinh anh chưa làm được gì đã chết thảm, để rồi cuối cùng người chịu tội oan lại là Tào Phá Diên hắn. Vị Hữu Sát này tính tình cẩu thả, tùy tiện chẳng khác gì đám quý tộc Đột Quyết. Với tính cách ấy, làm thống soái ở thảo nguyên thì còn tạm được, chứ hoàn toàn không thích hợp với những hành động ở Trường An.

Tào Phá Diên cố đè nén những suy nghĩ đó, phủ phục người xuống mặt đất. “Sau sự việc vừa rồi ở chợ Tây, người Đường đã có cảnh giác, hẳn là lúc này đã bày bố thiên la địa võng. Thuộc hạ e rằng… bỗng nhiên việc nọ xọ việc kia sẽ không tốt cho đại cục, mà ngược lại dễ chuốc thêm rắc rối.”

Hữu Sát bỗng sầm mặt lại. Một sáng kiến thú vị như vậy mà lại bị tên lang vệ thấp kém này hoài nghi.

“Câm miệng!” Hữu Sát phẫn nộ phất tay áo. “Đám lang vệ các ngươi không cần miệng, chỉ cần biết cắn người thôi!”

Tào Phá Diên còn muốn thanh minh thì đã bị Hữu Sát giơ chân đạp mạnh một cái, khiến hắn lăn đùng ra đất. Tiếc là không có roi da, bằng không gã nhất định phải đánh cho tên khốn láo xược này một trận nhừ tử. Đến nước này, Tào Phá Diên chỉ đành ngoan ngoãn ngậm miệng, lặng lẽ bò dậy khỏi mặt đất, khấu đầu tạ lỗi. Nhưng bàn tay hắn hơi nắm lại, ánh mắt lóe lên ngọn lửa bất kham. Một chuỗi vòng cổ bằng những viên đá nhỏ đủ màu sắc nhìn như được làm bởi một đứa trẻ đung đưa dưới cổ hắn. Hữu Sát bực bội quát Tào Phá Diên lui xuống, bản thân cũng quay người mở cửa bước ra khỏi phòng.

Bên ngoài là một công xưởng rộng thênh thang. Ở đó, vài chục người Đột Quyết đang hăng say làm việc. Họ không tráng kiện, tinh nhanh như lang vệ. Phần nhiều trong số họ đều gù lưng, bàn tay thô ráp đầy những vết chai sạm. Mỗi người thợ thủ công như vậy đều là một viên ngọc quý của thảo nguyên, vậy mà giờ phút này, bọn họ lại đang ẩn mình trong xưởng, vùi đầu vào công việc. Xung quanh còn hơn chục lang vệ lực lưỡng, cảnh giới sát sao, với con mắt sắc như chim ưng.

Từng cây trúc được tuốt lá, cưa thành các đoạn dài ba thước, hai bên đục mười lỗ rộng khoảng nửa tấc rồi xếp lại dưới cửa sổ. Bên ngoài, năm sáu người đang luân phiên chất đèn lồng lên xe. Những chiếc đèn lồng đủ hình thù đủ kiểu, nào là hồ lô, đào tiên, con dơi rồi cả tường vân… với kích thước tương đương nhau, điểm chung là ở giữa có một ống hình trụ rỗng, vừa đủ cho một ống trúc lắp vào. Hữu Sát vỗ tay, tất cả thợ thuyền đều dừng việc đang làm lại, nhìn về phía hắn.

“Khả hãn đang quan sát các ngươi qua đôi mắt của ta.” Gã nói.

Nghe vậy, những người thợ đồng loạt quỳ một gối xuống, tay phải đặt lên ngực trái, ngoan ngoãn cúi đầu.

“Nhiều năm về trước, thành trì nơi đây quỳ rạp trước vó ngựa của chúng ta, đàn bà, trâu bò ta mặc sức đoạt lấy. Giờ đây, chúng ta lại co rúm vào một góc thảo nguyên, để bọn Đại Đường và Hồi Hột tự do ức hiếp. Nhưng lần này, xuất phát dưới trướng cờ Bạch Mao, vượt qua gió tuyết, băng qua gươm đao, chúng ta sẽ tìm lại hào quang đã mất của tổ tiên mình. Hận thù là vó ngựa tốt nhất, chỉ có hận thù mới có thể đưa chúng ta đến mảnh đất Trường An xa xôi ngàn dặm này. Mỗi một người chúng ta đều là sứ giả cho nỗi căm phẫn của Khả hãn, là ngọn lửa báo thù. Ta như con rắn len lỏi vào từng ngóc ngách bí mật của kẻ thù, ta lấy đá nơi đây đắp lên nấm mồ chôn thây chúng. Mặt trời sẽ không sáng mãi trên thảo nguyên kẻ địch, mưa tuyết nhất định sẽ rơi!”

Tài ăn nói của Hữu Sát quả đáng nể. Giọng hắn trầm thấp nhưng ai nấy trong xưởng đều nghe rõ mồn một. Tất cả đều không khỏi sục sôi bởi những lời đầy cảm xúc của hắn.

“Ta vừa kiểm tra tiến độ công việc của các ngươi. Như vậy vẫn chưa đủ nhanh! Đây không phải cái mái lều, cũng chẳng phải chuồng dê, chuồng bò, mà là Khuyết Lặc Hoắc Đa vĩ đại. Các ngươi phải nỗ lực hơn nữa, gắng sức hơn nữa để hoàn thành phần xác thịt. Linh hồn của nó đã rất gần Trường An rồi. Đến lúc mặt trời lặn, hồn nhập vào xác, chúng ta sẽ được chứng kiến nó nuốt chửng cả thành Trường An, từ lớn đến bé, từ già đến trẻ xương cốt cũng chẳng còn. Khi ấy, tên tuổi các ngươi sẽ sáng chói hơn cả dũng sĩ quả cảm nhất của Đại hãn, con cháu các ngươi sẽ được các bậc tổ tiên và anh linh phù hộ!”

Đến câu cuối, hắn gần như gầm lên. Ánh mắt thợ thuyền và đám lang vệ đều trào dâng khí thế, hừng hực ý chí chiến đấu. Chúng không dám hô to, chỉ có thể nhịp nhàng đấm bàn tay lên lồng ngực, giậm chân xuống sàn như đang hành quân, đồng thanh gầm gừ: “Khuyết Lặc Hoắc Đa! Khuyết Lặc Hoắc Đa!”

Trong phòng, Tào Phá Diên vẫn đang một mình quỳ rạp trên mặt đất. Hắn lạnh lùng theo dõi màn diễn thuyết của Hữu Sát, không hề phấn khích như đám đông ngoài kia. Sau khi kết thúc màn cổ vũ tinh thần cuối cùng, Hữu Sát dặn dò thêm vài câu rồi rời khỏi cửa hàng. Nằm trước cửa phường đồ tre trúc là một con hẻm vừa hẹp vừa dài, hướng thẳng ra phía đường lớn. Hữu Sát vừa chậm rãi đi dọc con hẻm, vừa kéo chiếc mũ sau áo choàng lên che kín mặt, để lộ biểu tượng chữ thập thêu kim tuyến sau lưng áo. Hắn lại lấy ra một chuỗi tràng hạt lưu ly rồi đeo lên cổ, tay phải nắm lấy cây thánh giá ở giữa chuỗi hạt. Vừa đặt chân xuống đường lớn, hắn như trở thành một người khác với vẻ mặt hiền từ, hòa ái, mỉm cười chắp tay cầu nguyện với mỗi một người qua đường rằng: “Nguyện Chúa lòng lành phù hộ ngươi.”

----------------------------------------

Khoái mã phi như bay không ngừng nghỉ, đem ngư đồng đến thẳng chỗ Trương Tiểu Kính với tốc độ nhanh nhất có thể. Y đưa tay tóm chặt lấy ngư đồng. Cùng lúc đó, Diêu Nhữ Năng cũng tổng hợp xong kết quả theo dõi phường Ngọc Chân nên vội vàng chạy lại bẩm báo.

Phản ứng của người Hồ quả thực nhanh nhạy, Trương Tiểu Kính vừa rời đi, gã chủ tiệm đã sai năm tên sai vặt chạy đến năm cửa tiệm. Sau đó, năm cửa tiệm kia lại tiếp tục sai người đi những cửa tiệm khác. Cũng may là Diêu Nhữ Năng sắp xếp đâu ra đấy nên mới có thể thuận lợi thu thập được cái tên các cửa tiệm đã được báo tin.

Hiện tại, Trương Tiểu Kính có trong tay hai danh sách: một là các thương gia có tư tàng bản đồ, một là những nhà có liên hệ mật thiết với người Đột Quyết. Chỉ cần so sánh hai danh sách này với nhau là có thể cho ra những cái tên khả nghi nhất. Ti Tĩnh An có thể có được kết quả này trong một khoảng thời gian ngắn ngủi như thế quả là kỳ tích.

“Lý ti thừa có tài tể tướng đó!” Trương Tiểu Kính không khỏi thốt lên một câu khen ngợi thật lòng, đoạn đặt tờ danh sách xuống. Y là bất lương soái bao năm, từng phá không biết bao nhiêu vụ án nên thừa hiểu rằng có rất nhiều việc không cần tìm đâu xa xôi, mà chân tướng ẩn giấu ngay trong đống giấy tờ ai cũng có thể xem được, chỉ có điều anh có khả năng tra ra nó hay không mà thôi. Thế nên mới có cái gọi là ‘đại án độc thuật(*) [Sec-26.xhtml#n23]’. Lý Tất cố ý tập hợp rất nhiều quan lại có tài về ti Tĩnh An, chuyên môn thẩm tra, nghiên cứu, từ đó có thể đưa ra những phương án ứng phó thích hợp với tình hình trước mắt. Chỉ vậy thôi cũng đủ thấy cậu ta hiểu nhiều biết rộng đến mức nào.

Trương Tiểu Kính ra hiệu với vọng lâu phía xa, tỏ ý mình đã nhận được danh sách. Sau đó, y bắt đầu phân công nhiệm vụ. Từ hai danh sách trong tay, y chọn ra được bốn cửa tiệm đáng ngờ nhất. Những cửa hàng này nằm rải rác trong khu vực chợ Tây nên Trương Tiểu Kính và Diêu Nhữ Năng chỉ có thể chia ra hành động, mỗi người dẫn theo một đội riêng lẻ. Trước khi đi, Diêu Nhữ Năng kính cẩn thỉnh giáo phương châm hành động. Trương Tiểu Kính nắm chặt tay, đấm hờ về phía lồng ngực. “Không hợp tác, giết! Thế cho nhanh.”

Không phải Diêu Nhữ Năng chưa từng gặp qua kẻ nào tàn nhẫn như vậy ở chốn cửa quan, chỉ là cậu chưa từng thấy một ai phá án thô bạo như Trương Tiểu Kính. Y giống như một cây đại thiết chùy, sẵn sàng đập bình lấy vàng chứ không đủ kiên nhẫn lấy từng thỏi một ra. Diêu Nhữ Năng bỗng có cảm giác rằng ngay cả không phải những lúc cấp bách thì Trương Tiểu Kính cũng sẽ hành động như vậy.

“Cậu thấy làm vậy là vô nhân đạo ư?” Trương Tiểu Kính hỏi có vẻ trào phúng. Hắn chỉ dòng người qua lại trước mặt. “Nói chuyện nhân nghĩa với kẻ địch chính là tàn nhẫn với những người này. Nhớ lấy! Đây chính là bài học đầu tiên của cậu.”

“Nhưng giờ chúng ta đâu biết họ có phải địch hay không?”

“Không hợp tác chính là địch.”

Cửa hàng đầu tiên Trương Tiểu Kính ghé thăm là tiệm vàng bạc Tây Phủ, chủ tiệm quê Khang Quốc. Dù ngành nghề kinh doanh chính của hàng này là vàng bạc nhưng cũng thường buôn bán số lượng lớn dưới hình thức cho vay, nên được đưa vào danh sách của ti Tĩnh An. Giấy thông hành mà Tào Phá Diên dùng khi vào chợ Tây ghi rằng hắn đến từ Khang Quốc và còn được đóng dấu địa phương. Nếu không có chút quan hệ với tầng lớp trên của Khang Quốc thì khó mà có được con dấu trên loại giấy tờ này. Hơn nữa, Khang Quốc vốn là một nước có nguồn gốc từ Đột Quyết, tuy hai nước đã tách ra từ lâu nhưng ai có thể đảm bảo dòng máu chảy trong người không khiến họ dây dưa với nhau?

Đương nhiên việc này không hề mang tính kì thị. Trên thực tế, giữa bốn cửa hàng nằm trong danh sách tình nghi – hai nhà người Hồ và hai nhà người Đường – thì không có bất kì sự thiên vị nào. Không giống với Hồng Lô Tự(*) [Sec-26.xhtml#n24], ti Tĩnh An chưa từng e ngại việc suy đoán bất kì ai với cái nhìn ác ý nhất. Hàng Tây Phủ nằm ở góc tây bắc, ngã tư thứ ba chợ Tây. Đây là mảnh đất đắc địa, là nơi gặp gỡ của mọi ngả đường, là địa điểm náo nhiệt, phồn hoa bậc nhất. Mặt tiền cửa tiệm này cũng khác biệt so với những cửa tiệm khác, hai bên dựng hai cột trụ lớn, sơn đen bóng loáng và được khảm hoa văn bàn long uốn lượn giữa tầng mây. Trương Tiểu Kính vén rèm, bước vào trong cửa hàng.

Bên trong vô cùng yên tĩnh, không có lấy bóng dáng một vị khách nào. Đập vào mắt y là một quầy gỗ cong cong hình lưỡi liềm, cao hơn người bình thường đúng một cái đầu. Vì vậy, người ta dù ngước lên cũng chỉ có thể thấy một mặt quầy trống trơn chứ không thể quan sát được những gì diễn ra bên trong. Trương Tiểu Kính lắc chiếc chuông đồng treo cạnh quầy. Ngay lập tức, một lão già người Hồ với chòm râu dê thò đầu ra khỏi quầy, ngó xuống nhìn y bằng vẻ mặt lạnh tanh.

“Đổi đồ hay đổi tiền?” Lão khó chịu hỏi một cách máy móc.

Trương Tiểu Kính gõ ngón trỏ và ngón giữa lên mặt quầy ba lần rồi giơ phù hiệu ra. “Quan phủ đang làm việc. Ngươi là chủ tiệm hả?”

Lão già gật đầu.

Trương Tiểu Kính nói thẳng: “Chúng ta đang nghi ngờ cửa hàng Tây Phủ có tư tàng bản đồ Trường An, âm thầm cấu kết với dư đảng Đột Quyết. Cần lục soát!”

Chủ tiệm chẳng mảy may phản ứng trước lời buộc tội vô cùng nghiêm trọng này. Lão bình thản đáp: “Tiệm ta kinh doanh vàng bạc, tuyệt không có chuyện tư tàng bản đồ, cũng chưa từng chủ động cấu kết với người Đột Quyết.” Lão nói tiếng Đường vô cùng lưu loát, không nghe ra chút khẩu âm nào.

“Bản úy phải lục soát thì mới biết được.”

Chủ tiệm hơi nhăn mặt, trừng mắt với Trương Tiểu Kính: “Lão phu rất thân với Kinh Triệu Doãn. Các ngươi cứ nên hỏi ông ta trước đi!”

Những tiệm vàng bạc như thế này thường có quan hệ vay mượn với rất nhiều quan to trong triều, lắm chỗ dựa tai to mặt lớn. Vậy nên quan lại tầm thường sẽ không dám gõ cửa làm phiền. Mắt Trương Tiểu Kính lóe lên một tia giận dữ, đúng vào lúc y định xuống tay thì bỗng một bất lương nhân hoảng sợ xông vào.

“Trương đô úy! Bên ngoài có khói hiệu màu vàng!” Hắn hét lớn.

Trương Tiểu Kính cau mày, lập tức xoay người, xốc rèm đi ra. Trên con phố trước mặt, nhiều người đi đường đang dừng lại, chỉ trỏ lên bầu trời phía tây bắc. Y ngước nhìn theo thì thấy phía xa có hai cột khói bốc lên – một luồng màu đen dày đặc và một luồng màu vàng nhạt hơn một chút. Hai cột khói hòa quyện vào nhau, bốc thẳng lên trời nom vô cùng nổi bật giữa nền trời trong xanh vời vợi.

Đó là hướng của tiệm Viễn Lai, nơi Diêu Nhữ Năng đi lục soát. Tiệm Viễn Lai của thương nhân Sơ Lặc chuyên kinh doanh số lượng lớn gia súc, ngựa và cừu, quan hệ mật thiết với người Đột Quyết trên thảo nguyên. So với Tây Phủ, Viễn Lai cũng chẳng kém phần khả nghi.

Khói vàng phát ra từ viên khói hiệu của người trong ti Tĩnh An, thấy khói như thấy địch, phải lập tức tập hợp cứu viện. Thân thủ Diêu Nhữ Năng không đến nỗi nào, cộng thêm bảy tám bất lương nhân theo cùng mà vẫn phải bắn khói hiệu, chứng tỏ cậu ta chắc chắn gặp phải ca khó rồi. Trương Tiểu Kính lập tức triệu tập bất lương nhân xung quanh chạy về hướng đó chi viện. Băng qua một góc đường, y đột nhiên dừng lại. Những người theo sau nhất thời không phải ứng kịp, suýt nữa xô dúi dụi vào nhau.

Một ý nghĩ nghi ngờ xẹt qua đầu y. Y chợt nhớ đến những lời vừa rồi của ông chủ tiệm Tây Phủ, càng nghĩ càng dấy lên hoài nghi. Tuyệt không có chuyện tư tàng bản đồ Trường An, cũng chưa từng chủ động cấu kết với người Đột Quyết… Không chủ động cấu kết nhưng bị động ứng phó thì sao? Nếu nghĩ theo hướng ấy thì sẽ thấy giọng điệu của lão ta khi nhắc đến Kinh Triệu Doãn có chút gượng gạo. Chẳng lẽ là ám chỉ y báo quan ư?

Trương Tiểu Kính ‘hừ’ một tiếng, thất vọng tát mình một cái. Mới ngồi tù ít lâu mà bản thân đã trì độn đến mức này ư? Nếu đổi lại là trước kia thì có lẽ y đã sớm nhận ra điều gì đó không ổn rồi.

“Các ngươi tiếp tục chi viện Diêu Nhữ Năng, ta quay lại xem thử.”

Trương Tiểu Kính tức tốc quay người, phi như bay về phía tiệm Tây Phủ. Đến cửa tiệm, y nhanh nhẹn rút nỏ gác lên khuỷu tay trái còn tay phải thì giữ chặt lấy nỏ, khom người cẩn thận bước vào. Bên trong vẫn vô cùng yên tĩnh. Lần này, lão chủ tiệm không ngó ra chào khách nữa. Trương Tiểu Kính thận trọng liếc nhìn xung quanh, sau đó đi đến phía cuối bục cao – nơi tiếp giáp với các cây cột, đá tung cánh cửa nhỏ bên cạnh rồi nghiêng người lách mình xông vào. Mũi nỏ của y luôn hướng về phía quầy.

Sau quầy, Trương Tiểu Kính thấy lão chủ tiệm tựa vào vách gỗ, đầu ngoặt sang một bên, hai mắt mở trừng trừng. Y chạy tới, khom người ngồi xuống, đưa tay thăm dò mạch tượng trên cổ lão thì thấy lão đã tắt hơi. Y lật người lão lại, một vết thương sâu ở thắt lưng đập vào mắt. Rõ ràng vừa rồi khi nói chuyện với Trương Tiểu Kính, sau quầy còn có một người nữa đang dí thứ vũ khí sắc bén nào đó vào giữa lưng lão. Lão hẳn nhiên không dám kêu cứu, chỉ có thể âm thầm nhắc nhở y qua một loạt ám hiệu. Đáng tiếc là Trương Tiểu Kính đã nhất thời sơ suất, không điều tra sâu hơn để rồi dẫn tới cái chết dã man này.

Chỉnh lại cái nỏ trong tay, con mắt độc nhất lóe lên cái nhìn sắc lạnh, y quay người đi về phía sau cửa tiệm. Tính từ nãy đến giờ còn chưa được nửa nén nhang, e rằng hung thủ vẫn chưa rời khỏi đây. Phía sau quầy là một gian phòng dài hơi lộn xộn. Chính giữa phòng có một án thư, bên trên bày vài cuốn sổ sách, cân nhỏ và kéo. Những chiếc giá cao tháp quanh phòng được bày kín đồ đạc bằng vàng, bằng bạc đủ hình đủ kiểu, cái nào cái nấy đều được lau sáng bóng. Trên sàn la liệt mười mấy rương lớn bọc da thú. Mấy chiếc mở hờ lóe lên ánh vàng lấp lánh từ tiền vàng các nước. Ngoài việc buôn bán đồ vàng bạc, tiệm Tây Phủ còn có hoạt động quy đổi ngoại tệ. Tiền bạc từ các nước như Đại Tần, Ba Tư, Đại Thực,… có thể được quy đổi thành tiền bạc, lụa là của Đại Đường và ngược lại. Vì vậy, hàng hóa tứ xứ mới hội tụ ở đây.

Thi thể đám người làm và hộ vệ nằm ngổn ngang giữa đống tiền tài. Ai cũng dính một vết đâm trí mạng trúng tim. Làm như vậy thì máu sẽ chảy ít hơn, mùi máu không bốc lên tanh nồng, khiến người ngoài khó phát hiện. Trương Tiểu Kính bước qua mớ hỗn độn này, lờ mờ hình dung khung cảnh ban đầu: lang vệ Đột Quyết đột nhập vào cửa tiệm, xuống tay nhanh như cắt giết chết mọi người ở đây. Giữa lúc đó, Trương Tiểu Kính tình cờ bước vào nên tên lang vệ đã uy hiếp lão chủ tiệm để lão ứng phó qua loa cho xong chuyện, ngay khi y vừa rời đi thì hắn ta lập tức ra tay kết liễu lão. Đám lang vệ này tàn độc hơn rất nhiều so với tưởng tượng của ti Tĩnh An. Từ đầu chí cuối, chúng chưa từng tính tới chuyện đàm phán hòa bình.

Trương Tiểu Kính hít một hơi thật sâu. Cuối gian phòng có một cánh cửa nhỏ khép hờ, ổ khóa trên cửa mở tung với một chìa khóa tra sẵn. Đây hẳn là căn phòng nhỏ chuyên dùng để cất giữ những món đồ giá trị của cửa tiệm Tây Phủ. Trương Tiểu Kính bước tới, đưa tay nắm lấy tay nắm cửa, thử kéo ra thì thấy nó không nhúc nhích. Y đẩy nhẹ vào, lại cảm thấy hình như có một lực cản nhỏ, gần như cùng lúc đó, phía sau cửa truyền đến một loạt âm thanh lẻng xẻng của những món đồ vật bằng vàng va vào nhau.

“Hỏng rồi!” Y thầm than, vội vàng mở cửa nhìn thử. Thì ra trong cánh cửa này là một dãy bậc thang dẫn xuống tầng hầm phía dưới cửa tiệm. Ở chân cầu thang, một cái chén vàng hình bông cúc bẹp dí nằm chỏng chơ. Kẻ đột nhập rõ ràng rất dày dặn kinh nghiệm nên mới biết đặt một vật bằng vàng phía trong cửa, để nếu có ai đó đẩy cửa đi vào và vật kia rơi xuống thì ngay lập tức sẽ có âm thanh báo động cho hắn.

Trương Tiểu Kính một lần nữa siết lại dây nỏ rồi cẩn thận bước từng bước xuống bậc thang. Cuối cầu thang là một hành lang nhỏ hẹp, rẽ qua một góc trước mặt sẽ có thể nhìn thấy ánh nến mờ ảo. Y nép người vào tường, từ từ giương nỏ ra rồi bất ngờ nhảy vào. Trong phòng không có người, chỉ có một ngọn nến đang cháy dở trên tường. Qua ánh nến mờ ảo, Trương Tiểu Kính thấy đây không phải là một căn phòng lớn, đồ vật cũng không nhiều nhưng cái nào cái nấy đều tinh xảo, phát sáng rực rỡ dưới ánh nến lập lòe. Y cúi đầu, một chiếc rương mạ vàng hình tiên ông cưỡi hạc lật úp trên sàn, ngăn kéo phía dưới bị kéo ra một nữa, bên trong trống rỗng.

“Mẹ kiếp!” Trương Tiểu Kính cay cú khẽ chửi thế. Rõ ràng là lão chủ tiệm đã giấu bản đồ trong đây, kết quả lại bị lang vệ tìm ra. Đây chẳng phải tin tức tốt lành gì.

Ở đầu kia của căn phòng, tấm thảm trang trí treo xộc xệch để lộ một ngách nhỏ sâu hun hút, tối đen như mực, chỉ vừa một người lách vào. Đây chính là mật đạo chủ tiệm thiết kế riêng cho bản thân. Đám thương nhân này làm gì cũng khôn lỏi tính trước tính sau như vậy. Ước chừng tên kia sau khi nghe thấy tiếng báo động đã lập tức lẩn vào mật đạo này rồi.

Trương Tiểu Kính lao về phía lối vào mật đạo rồi thình lình dừng lại. Y cởi áo ngoài, vo viên thành một nắm tròn, ném vào trong. Gần như ngay lập tức, trong mật đạo truyền ra tiếng nỏ lên dây, một mũi nỏ tức thì cắm phập vào nắm áo choàng. Trương Tiểu Kính chẳng hề do dự giương tay lên, nhắm thẳng cây nỏ vào mật đạo sâu hun hút rồi bắn đi một phát, sau đó nhanh chóng lên dây bắn tiếp một phát khác.

Kẻ kia quả thực rất cẩn trọng. Hắn cố ý mai phục trong mật đạo mà không tắt nến trong phòng, để nếu có kẻ truy đuổi nào lao tới cửa mật đạo và che mất ánh nến, thì kẻ đó sẽ lập tức trở thành một tấm bia sống. Tuy nhiên, nỏ chỉ có thể bắn một phát một. Trương Tiểu Kính lấy áo choàng chặn mũi nỏ đầu tiên của hắn rồi chiếm thế thượng phong, không cho phép hắn kịp lên mũi nỏ thứ hai. Khi ấy, ở một mật đạo nhỏ hẹp như thế này, hắn ta gần như không thể trốn thoát.

Bất kể hai mũi tên vừa rồi có trúng hay không, Trương Tiểu Kính vẫn lao vào mật đạo. Tiếng bước chân hối hả vang vọng trong bóng tối. Có thể thấy, ngay cả khi kẻ kia bị trúng tên thì đó cũng không phải vết thương trí mạng. Trương Tiểu Kính vừa men theo ngách nhỏ, vừa giương nỏ tiếp tục bắn. Nhưng mới được mười mấy bước, y bỗng thấy bàn chân đau nhói, liền vội vàng nhấc chân lên, cúi người sờ thử mới phát hiện mặt đất rải đầy đinh sắt. Chỉ cần y đuổi nhanh hơn một chút thôi thì có lẽ đống đinh này đã đâm thủng chân y rồi. Sau một hồi dây dưa, kẻ đột nhập đã chạy được một đoạn khá xa.

Mới qua một chốc mà hai người đã đấu trí, đấu dũng được vài hiệp. Trương Tiểu Kính dẹp gọn đống đinh sắt trên mặt đất, giương nỏ bắn bừa về phía trước, vừa bắn vừa hét lớn: “Đầu hàng không ta giết!” Nhưng âm thanh duy nhất đáp lại y chỉ có tiếng bước chân ngày một gấp rút.

Mật đạo này không rộng nhưng lắm ngã rẽ, may là từ đầu đến cuối không có ngã ba nào. Kẻ kia chạy phía trước, Trương Tiểu Kính đuổi theo sau. Hắn ta cầm không biết bao nhiêu đinh sắt, cứ rải bừa bãi dọc đường làm tốc độ của Trương Tiểu Kính chậm đi đáng kể. Nhưng từ tiếng bước chân nặng nề và loạng choạng, cũng có thể thấy rằng hai mũi tên vừa rồi của y khiến hắn bị thương không nhẹ.

Hai người cứ rượt đuổi như thế được cả trăm bộ. Trương Tiểu Kính bỗng nheo mắt lại. Một tia sáng le lói ngay trước mặt, dường như lối ra đã ở rất gần. Đó là một miệng giếng thẳng đứng. Có bóng người leo lên thang gỗ. Đến khi Trương Tiểu Kính chạy tới thì kẻ đó đã leo lên tới đỉnh. Hắn ta ra sức đẩy thang gỗ mấy cái, song phát hiện không thể đẩy xuống, lại không có thời gian phá hỏng nên tiện tay ném cây nỏ trên tay xuống dưới.

Trương Tiểu Kính nhanh nhẹn né tránh rồi giương nỏ lên bắn lại, nhưng mũi tên cũng chỉ bay sượt qua đầu kẻ kia rồi phi thẳng lên trời. Y bực mình ném nỏ đi, hai chân hai tay leo lên thang. Lúc thò đầu lên, y xém chút đập đầu vào một chiếc ròng rọc. Hóa ra lối ra này được ngụy trang thành một cái giếng bỏ hoang với cả một bộ ròng rọc hoàn chỉnh. Trương Tiểu Kính vừa trèo ra khỏi miệng giếng liền lập tức rút chướng đao, giương lên ngang tai đề phòng bị đánh lén. Chướng đao nhẹ và ngắn hơn hoành đao nên thích hợp đánh cận chiến, có thể sử dụng ở những địa hình nhỏ hẹp như miệng giếng.

Nhưng sau đó, không có chuyện gì xảy ra. Kẻ kia dường như đã từ bỏ ý định mai phục và quyết định bỏ chạy. Dựa vào độ dài và phương hướng của mật đạo, Trương Tiểu Kính thầm phán đoán nơi này có lẽ nằm ở địa bàn phường Hoài Viền, phía nam chợ Tây. Lão chủ tiệm này thực to gan, dám đào cả một địa đạo xuyên phường. Phường Hoài Viễn có rất đông người Hồ, nếu kẻ kia trà trộn vào đây thì đúng là to chuyện. Thấy một loạt dấu chân kéo dài trên mặt cỏ, Trương Tiểu Kính lập tức đuổi theo. Cái giếng này nằm ở sân sau của một ngôi miếu nhỏ. Đó là một ngôi miếu dân gian thờ Hoa Nhạc Phủ quân, không có tường bao, cửa nhìn thẳng ra con đường nhỏ bên trong phường. Đương tết Thượng Nguyên, bà con quanh đó thường đến thắp hương nên khói hương nghi ngút, mùi hương ngạt ngào.

Trương Tiểu Kính vòng ra mặt trước ngôi miếu, thấy một đám người đang kinh ngạc chỉ trỏ bàn tán. Hai sạp hàng, một bán bánh lồng, một bán chè dương canh đổ la liệt trên mặt đất, tạo thành một mảng hỗn độn. Ngay gần đó, một thanh niên đội khăn xếp nằm sõng soài trên mặt đất, tay cầm roi ngựa, tuyệt vọng gào thét về một hướng, hình như vừa bị cướp trắng thớt ngựa. Trương Tiểu Kính chột dạ, tên Đột Quyết kia mà cướp được ngựa thì bao nhiêu công sức từ đầu đến giờ coi như đổ sông đổ bể. Y giạt đám đông sang một bên, lao ra phía lề đường, phi thân chặn trước một chiếc xe ngựa tình cờ đi ngang qua. Người đánh xe bị chặn đường bất ngờ, vô thức vung roi lên muốn quát cho đối phương một trận, song Trương Tiểu Kính đã nhanh chân tung cước đá hắn ra khỏi xe. Cô gái trên xe hoảng hốt thò đầu ra, Trương Tiểu Kính hô lớn: “Ti Tĩnh An làm việc! Điều động ngựa nhà ngươi!” Cô ta sợ hãi ôm ngực, rụt người vào trong. Trương Tiểu Kính giơ đao cắt đứt mấy sợi dây nối giữa ngựa và xe, nhảy lên lưng ngựa trần, kẹp hai chân lại rồi thúc ngựa phi nước đại về hướng kẻ địch đang chạy trốn.

Phường Hoài Viễn cư dân đông đúc, đường xá nhiều người đi lại nên ngựa có nhanh đến mấy cũng không vội được. Trương Tiểu Kính nhanh chóng nhìn thấy bóng dáng kẻ kia điên cuồng thúc ngựa chạy phía trước. Gã này cưỡi ngựa khá giỏi, dọc đường tông đồ không biết bao nhiêu sạp hàng, khiến người người kêu la chửi bới mà vẫn có thể duy trì tốc độ. Tiếc là thớt ngựa Trương Tiểu Kính tóm được vừa không phải loại để cưỡi, vừa không có yên ngựa nên có quất mạnh đến mấy cũng vẫn cách tên kia một khoảng cách nhất định, thấy rõ khăn vấn trên đầu hắn mà lại không thể nào đến gần được.

Hai thớt ngựa đuổi nhau vun vút trên phố phường. Chốc chốc, chúng lại bất ngờ phanh gấp, rẽ cua đột ngột làm cát bụi bốc lên tứ tung. Người xe trên đường cuống cuồng né vội khiến hiện trường càng thêm hỗn loạn. Sự hỗn loạn này cuối cùng cũng đánh động sự chú ý của lý vệ trong phường. Hai vệ binh nhanh chóng cắm hai cây xiên gỗ chuyên dùng để ngăn đám ngựa lồng, đứng sẵn hai bên đường nhằm thẳng đầu ngựa chực xiên vào. Thấy vậy, lang vệ Đột Quyết vội nghiêng chân phải, siết chặt dây cương. Con ngựa hí vang một tiếng, vung hai chân trước lên. Vừa tránh được cái xiên gỗ xông tới, kẻ kia lập tức điều chỉnh tư thế, tiếp tục phi nước đại về phía trước.

Hành động này đã giúp Trương Tiểu Kính có đủ thời gian. Y vội xông đến gần đối phương thêm vài bước, rút một viên thuốc khói từ thắt lưng ra rồi ném về phía kẻ địch. Viên khói này có chứa các thành phần như bạch lân, lưu huỳnh, ngọn lau sậy, tùng hương…, khi gặp gió sẽ cháy và khi cháy sẽ phát ra khói. Vốn dĩ nó được sử dụng để liên lạc, cảnh báo trong quân đội. Ti Tĩnh An cũng tự chế để sử dụng nội bộ. Ban nãy, Trương Tiểu Kính ném viên khói vừa khéo trúng ngay cái túi treo cạnh yên ngựa. Cậu thanh niên bị cướp ngựa có lẽ đang định đến thăm hỏi vài vị văn nhân quyền quý nên trong túi có cả xấp văn thơ. Viên khói vừa bốc cháy liền lan sang đống giấy bên cạnh. Khói vàng bốc lên cuồn cuộn như thể ai đó buộc một lá cờ tung bay phần phật lên lưng ngựa.

Lang vệ Đột Quyết rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu mặc kệ thì cột khói sẽ khiến hắn ta không còn nơi nào để trốn, nhưng để cởi sợi dây da cột chiếc túi này vào yên ngựa thì bắt buộc phải buông lỏng một tay, tốc độ ắt bị ảnh hưởng rất nhiều. Một khi như vậy thì tên khốn đang bám sát theo hắn nhất định sẽ không bỏ lỡ bất kì cơ hội nào. Hắn vô thức quay đầu nhìn lại, thấy con mắt duy nhất của kẻ truy đuổi như đang cười lạnh mà không khỏi rùng mình. Hắn còn lạ gì ánh mắt ấy, ánh mắt của con sói cô độc nguy hiểm nhất trên thảo nguyên.

Lang vệ nghiến răng, lao thêm vài bước về phía trước rồi bất ngờ rút ra một con dao găm, đâm mạnh vào tai ngựa, xuyên thẳng vào trong sọ. Con ngựa hí lên đau đớn, đổ rầm xuống đất. Gã lang vệ thuận đà nhảy vào con hẻm cạnh đường. Thân hình to lớn của con ngựa vừa vặn chặn lối vào hẻm, tạo thành một chướng ngại vật tuyệt vời. Trương Tiểu Kính đuổi tới, đành phải ghìm cương dừng lại. Y không hề lo lắng. Một khi thấy khói vàng, vọng lâu của phường Hoài Viễn sẽ lập tức gióng trống cảnh báo, lý vệ sẽ tức tốc đóng cổng lớn lại. Sau đó là màn bắt cá trong rọ. Y không tin tên lang vệ Đột Quyết này có thể tìm ra mật đạo liên phường thứ hai.

Hai lý vệ định chặn ngựa ban nãy hồng hộc chạy tới. Trương Tiểu Kính tự giới thiệu ngắn gọn với họ rồi hỏi xem con hẻm này có thể dẫn đi phường nào khác. Một lý vệ đáp rằng đó là ngõ cụt. Trương Tiểu Kính lại hỏi tiếp xem cuối ngõ có công trình nào không. Lý vệ do dự một chút rồi đáp: “Có ạ!”

“Có gì?”

“Điện thờ Hỏa giáo.” Lý vệ vò đầu bứt tai đáp.

Đến cuối hẻm, tầm nhìn bỗng nhiên rộng mở với một quảng trường rộng chừng hai trăm bộ. Chính giữa quảng trường sừng sững một điện thờ hai tầng tường trắng, ngói đỏ, bốn phía có mái vòm với lối kiến trúc khác xa Trung thổ. Trên cửa điện có chạm khắc ba bức phù điêu lạc đà đứng trên đài hoa sen, lưng cõng đĩa tròn bập bùng ngọn lửa, hai bên có hai tư tế đầu người mình chim đang đứng hầu hạ. Ngói lợp điện thờ một màu đỏ son nhìn như màu lửa. Từng viên ngói xếp chống lên nhau thành từng tầng, từng tầng một, khiến cả điện thờ trông như một đống lửa rực cháy.

Khi Trương Tiểu Kính và lý vệ xông vào, đám đông tín đồ trong sân điện đang nhốn nháo cả lên. Hỏa giáo không lập điện thờ lộng lẫy ở Trường An, cũng không truyền đạo hay phổ biến rộng rãi. Điện thờ này chỉ dành cho tín đồ người Hồ ở Trường An đến lễ bái, vì vậy người ở đây gần như đều là người Hồ. Lúc này, tất cả bọn họ đều đang kinh hãi nhìn về phía điện thờ. Trương Tiểu Kính nheo con mắt duy nhất lại thì thấy tên lang vệ Đột Quyết đang đứng ở cửa, hai tay kẹp chặt một ông già. Ông già đó mặc một chiếc áo bào trắng viền vàng với hai chiếc đai đỏ đan chéo trước ngực.

Tên lý vệ mặt mũi biến sắc. Hắn nói ông già đó là Hiên Chính phủ quan của điện thờ này, tương đương trụ trì của một ngôi chùa Trung Quốc. Nếu ông ấy xảy ra chuyện gì thì toàn bộ tín đồ của phường Hoài Viễn sẽ làm loạn. Trương Tiểu Kính khẽ gật đầu, cẩn thận đánh giá tình hình phía bên kia. Mãi đến lúc này, y mới nhìn rõ gương mặt tên lang vệ đó. Hắn không phải Tào Phá Diên. Mặt hắn vuông và dẹt như một miếng bánh, hai mắt hẹp dài, cái mũi to và đỏ chót. Với người Đột Quyết, Hỏa giáo cũng được truyền bá rộng rãi. Nhưng nhìn bộ dạng hung dữ của tên lang vệ này thì e rằng hắn ta còn trung thành với Khả hãn hơn cả với các đấng thần linh.

Trương Tiểu Kính tiến lên phía trước. Đến dưới bậc thềm, y cất giọng bằng thứ tiếng Đột Quyết trôi chảy, lưu loát: “Ngươi đã bị bao vây. Nếu giờ ngươi thả con tin, buông tay chịu trói thì ta có thể đảm bảo ngươi sẽ được đối đãi xứng đáng như một dũng sĩ thực thụ.”

Tên lang vệ kề dao găm vào cổ họng Hiên Chính, đáp lại bằng chất giọng khàn khàn: “Chỉ có Đại hãn mới có tư cách khen ngợi dũng sĩ.” Trương Tiểu Kính cười khẩy, lang vệ được cử đến Trường An đều là những kẻ tử trung, dụ hàng bọn chúng còn khó hơn ngăn thiên tử ngủ với nữ nhân, chỉ vài câu nói đầu môi đừng hòng lay chuyển được chúng. Tuy nhiên, với tình huống bắt cóc con tin này, một bất lương soái kỳ cựu như y còn nhiều mánh khóe lắm.

Trương Tiểu Kính cười lạnh, bước chân vẫn tiến về phía trước: “Ngươi nhất định sẽ chết nhưng tên ngươi thì không. Rồi đây chúng ta sẽ tuyên bố với bên ngoài rằng ngươi đã tiết lộ tất cả cơ mật của Đại hãn và vương đình Đột Quyết, đồng thời còn đích thân dẫn đường cho quân đội Đại Đường. Nhanh thôi, cả thảo nguyên rộng lớn sẽ biết ngươi là kẻ bán đứng cả bộ tộc, kẻ làm ô uế thanh danh lang vệ.”

“Không thể nào! Ngươi không thể biết tên ta!” Tên lang vệ vừa nói vừa gầm gừ.

“Ngươi có thể thử xem.”

Trương Tiểu Kính ngắm mũi dao nhọn hoắt vào chính giữa háng đối phương, vẽ một đường trên hư không. Y cười lạnh không nói, chỉ thấy con mắt độc nhất lóe lên ánh nhìn dữ tợn. Tên lang vệ bỗng nhiên cảm thấy cổ họng khô khốc, cánh tay bất giác run lên.

Lang vệ Đột Quyết có một nghi thức bí mật. Khi một chiến sĩ trở thành lang vệ, người đó sẽ được một nữ nô lệ xinh đẹp hầu hạ để dương vật cương cứng đến cực điểm, rồi xăm lên đó một cái tên đặc biệt. Khi dương vật xìu xuống sẽ thấy một cái tên sói, còn khi nó cương lên sẽ hiện ra tên thật. Người Đột Quyết tin rằng dương vật tượng trưng cho sức sống mạnh mẽ, làm vậy sẽ giống như ban thêm một mạng sói cho người dũng sĩ. Tên lang vệ không rõ tại sao Trương Tiểu Kính lại biết được nghi thức này, hắn chỉ biết rằng nếu xác mình rơi vào tay gã chột kia thì sẽ không có kết cục tốt đẹp gì.

“Thả con tin ra, ta sẽ để ngươi hy sinh anh dũng. Bằng không tên tuổi ngươi sẽ lưu lại tiếng xấu ngàn đời.”

Trương Tiểu Kính đi đến đoạn cách tên kia chừng năm bước thì dừng lại. Y đang chờ, chờ đợi nỗi sợ hãi gặm nhấm tâm can đối phương. Vị Hiên Chính của Hỏa giáo thì đang nhắm chặt mắt rì rầm điều gì đó, không rõ là cầu xin hay cầu nguyện.

Các tín đồ xung quanh căng thẳng quan sát cục diện giằng co này. Thậm chí có những người đã quỳ rạp xuống đất, gom góp nhóm lên một đống lửa nhỏ rồi ném hương liệu và dầu vào. Hỏa giáo thờ lửa, cúng bái Hỏa thần. Nhiều người thấy vậy cũng học theo, khiến sân điện thờ bỗng chốc xuất hiện mười mấy đám lửa nhỏ cùng tiếng cầu nguyện râm ran tứ phía.

Đúng lúc này, bên ngoài vọng vào tiếng quát lớn: “Trả mạng ngựa cho ta!”

Một bóng người lao ra khỏi đám đông, xông về phía lang vệ Đột Quyết. Gã vốn căng thẳng cực độ, bỗng nhiên bị tập kích bất ngờ nên cổ tay vô thức dùng lực. Một dòng máu tươi túa ra từ cổ Hiên Chính, ông ta chỉ kịp ú ớ đôi tiếng rồi ngã gục xuống đất. Bóng người kia vẫn cứ điên cuồng đánh tới, ghì chặt tên lang vệ trên bậc thềm.

Hiện trường nhất thời dậy sóng. Đám tín đồ kinh hãi rít lên, giận dữ lao tới, thoáng chốc vây kín tên lang vệ còn đang sõng soài trên bậc thềm. Tiếng chửi mắng đầy tức giận hòa với tiếng đánh đập thùm thụp. Trương Tiểu Kính vội vàng nhào đến nhưng không thể khống chế nổi đám đông tín đồ đang trong cơn sôi máu. Người người chen lấn xô đẩy khiến sân điện trở nên vô cũng hỗn loạn. Trương Tiểu Kính và hai lý vệ gào thét nhường đường hòng chen vào đám đông, nhưng lần nào cũng bị đẩy ngược trở ra.

Đúng lúc này, hàng chục tráng sĩ vận y phục tối màu lao từ ngoài hẻm vào. Họ không phải lý vệ của phường mà bất lương nhân trực thuộc quản lý của huyện Trường An, cầm đầu chính là Diêu Nhữ Năng. Thấy cột khói vàng bốc lên phía này, họ liền tức tốc chạy tới chi viện. Mấy chục bất lương nhân ai nấy lăm lăm xiên sắt, vừa lao vào đã mạnh mẽ áp chế đám tín đồ điên cuồng, cưỡng chế giải tán. Kẻ nào không phục lập tức được vũ khí ‘chăm sóc’. Nhờ đó, cục diện nhanh chóng ổn định trở lại.

Tuy nhiên, đó chỉ là tạm thời. Hầu hết tín đồ vẫn còn nán lại. Họ tụ tập lại xung quanh, la ó ồn ào, chờ một lời giải thích hợp lý từ quan phủ. Việc một Hiên Chính bị giết hại trước mắt bao người đúng thực kinh thiên động địa!

Trương Tiểu Kính không quan tâm nhiều chuyện như vậy. Y rảo bước về phía trước, chỉ thấy tên lang vệ Đột Quyết nằm bẹp dí trên mặt đất, mặt mũi máu me be bét, tứ chi vặn vẹo, xem ra đã bị đánh chết. Y cúi người lục soát thi thể tên lang vệ, mặt đột nhiên biến sắc. Không thấy bản đồ đâu nữa!

Ngay cả một Trương Tiểu Kính tâm lý vững vàng cũng không tránh khỏi đổ mồ hôi lạnh. Trong đám đông hỗn loạn vừa rồi có quá nhiều người đến gần tên lang vệ, không biết có kẻ xấu nào nhất thời nổi lòng tham lấy cắp túi xách của hắn… Nếu thế thì còn may! Bằng không, nếu là một gã Đột Quyết nào đó trà trộn vào đám đông, nhân lúc hỗn loạn lấy bản đồ đi… Trương Tiểu Kính hốt hoảng quét mắt xung quanh nhưng đáp lại y chỉ là những gương mặt hằm hằm giận dữ, không cách nào phân biệt được. Y ảo não quay đầu lại. Kẻ phá rối ban nãy đang bối rối đứng trước xác vị Hiên Chính. Trương Tiểu Kính nhận ra hắn. Đó chính là người thanh niên bị lang vệ cướp ngựa.

“Ngươi tên gì?” Trương Tiểu Kính cố gắng đè nén cơn giận, lên tiếng hỏi.

“Sầm Tham, người Tiên Châu.” Chàng trai trẻ không hề sợ hãi, trừng mắt đáp.

“Sao ngươi lại muốn giết hắn?”

Sầm Tham thản nhiên mà rằng: “Giữa đường giữa chợ hắn dám cướp ngựa của ta, cớ gì ta không thể đuổi theo đòi lại chứ?” Nói đến đây, giọng chàng trai bỗng ỉu xìu, nghẹn ngào tiếp tục: “Cướp thì cứ cướp, sao lại phải giết nó chứ? Lục Mi hiểu ý người, theo ta bao nhiêu năm trời mà lại phải chết thảm như thế nơi đầu đường xó chợ…” Cậu ta dừng lại một hơi rồi tiếp tục: “Ngựa chết thì còn đền tiền được nhưng thơ văn của ta đốt sạch rồi thì phải đền thế nào đây?”

Trương Tiểu Kính không rảnh nghe cậu ta lải nhải, sắm mặt quay sang nói với Diêu Nhữ Năng: “Đưa tên nhóc này cùng với thi thể lang vệ đi… À đúng rồi! Bên tiệm Viễn Lai có việc gì đấy? Sao tự nhiên lại có khói vàng?”

“Ôi! Ngài đừng nhắc nữa! Người tiệm Viễn Lai thế nào lại làm đám súc vật kinh sợ, mấy con ngựa lồng ra ngoài, xong lại chẳng có giấy tờ, đúng lúc chúng ta đến cửa. Tôi vừa xưng thân phận, đám người đó đã tưởng là quan lại chợ Tây đến bắt buôn lậu, chẳng thèm nói năng gì đã xông vào đánh chúng tôi…” Diêu Nhữ Năng giải thích, mặt mũi ra chiều bất lực, vừa nói vừa sờ lên vết thương dài còn mới nguyên trên trán. Trương Tiểu Kính nghiêng đầu, chưa kịp nói gì đã nghe thấy tiếng trống thùng thùng dội lại từ vọng lâu phía xa. Đây là âm thanh báo rằng sắp có mệnh lệnh từ ti Tĩnh An. Hai người họ cùng nhìn về phía vọng lâu. Một lúc sau, võ hầu bắt đầu vẫy cờ. Diêu Nhữ Năng nhanh chóng dịch lại. Nhưng càng nhận lệnh, sắc mặt cậu càng trở nên khó hiểu.

Trương Tiểu Kính hỏi: “Lệnh của ai đó? Lý ti thừa sao?”

“Không! Lý ti thừa chỉ là cấp phó. Lệnh này của đích thân Hạ giám.”

“Hạ giám?”

“Đúng vậy! Ngài không biết sao? Đó mới chính là trưởng quan của ti Tĩnh An – Hạ Tri Chương.”

Nghe thấy cái tên này, Trương Tiểu Kính thoáng chột dạ: “Mệnh lệnh là gì?”

Dịch xong mệnh lệnh, Diêu Nhữ Năng ngây ngốc cả người. Cũng may là vọng lâu thường lặp đi lặp lại ba lần, sau khi dịch lại một lần nữa, cậu mới chắc rằng mình không nhầm. Cậu nhìn Trương Tiểu Kính, có phần hụt hẫng nói: “Đô úy ti Tĩnh An Trương Tiểu Kính bị cách chức, lập tức áp giải về ti…”

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!