Virtus's Reader
Trường An 12 Canh Giờ

Chương 27: Mục 28

(*) [Sec-00.xhtml#b1] Người Hồ: Cách gọi người Trung Á, Tây Á thời nhà Đường.

(*) [Sec-00.xhtml#b2] Thượng Nguyên: Ở Trung Quốc và Đài Loan, tết Nguyên Tiêu được gọi là tết Thượng Nguyên, hay tết Trạng Nguyên, xưa kia là dịp nhà vua hội họp các ông Trạng để thết tiệc và mời vào vườn thượng uyển thăm hoa, ngắm cánh, làm thơ.

(*) [Sec-00.xhtml#b3] Thước: Một đơn vị đo độ dài của Trung Quốc. 1 thước = 33cm.

(*) [Sec-00.xhtml#b4] Trượng: Đơn vị đo độ dài, bằng mười thước Trung Quốc cổ (tức 3,33 mét).

(*) [Sec-00.xhtml#b5] Bộ: Một đơn vị đo độ dài của Trung Quốc. 1 bộ = 1,66m.

(*) [Sec-00.xhtml#b6] Tôn Tư Mạc (581 – 682): Được người đời tôn xưng là ‘Dược vương’ Tôn Thiên Y, sinh ra ở thời Tùy Đường, Kinh Triệu, Hoa Nguyên (nay là Thiểm Tây, Điệu Huyện). Ông là nhà y dược học trứ danh, một bậc tu hành cao thâm, uyên bác, thông hiểu mọi kinh sử, học thuyết. Tương truyền thực chất ông thọ 141 tuổi, sau khi tạ thế đã đến chốn tiên cảnh nghỉ ngơi.

(*) [Sec-00.xhtml#b7] Kim ngư đại: Tiền thân của ngư đại là ngư phù, vốn là một dạng tín vật làm bằng kim loại hình con cá, gồm hai mảnh giống nhau, mặt trong thường có chữ ‘đồng’ (同). Theo Cựu Đường thư, ngư phù chính thức được áp dụng làm tín vật tùy thân của các quan viên dưới thời Cao Tổ Lý Uyên, gồm hai chiếc, chiếc bên trái dùng để vào cung, chiếc còn lại đeo bên mình, trên phù khắc họ tên và chức vụ của chủ sở hữu. Ngư phù của các vị thân vương, tự vương và quan lại thời Đường có ba loại là kim ngư (phù vàng), ngân ngư (phù bạc) và đồng ngư (phù đồng), được phân cấp theo phẩm trật của chủ nhân. Do ngư phù thường được đựng trong túi (đại – 袋), hoặc được gắn lên bề mặt túi, nên từ đây xuất hiện khái niệm ‘ngư đại’ (魚袋).

(*) [Sec-00.xhtml#b8] Mã cầu (hay polo):Môn thể thao đồng đội. Người chơi ngồi trên lưng ngựa, dùng một cái vồ có cán dài điều khiển một quả bóng bằng nhựa trắng hoặc bằng gỗ vào cầu môn đối phương để ghi bàn.

(*) [Sec-00.xhtml#b9] Bất lương nhân: Cách gọi quan sai phụ trách điều tra, truy bắt tội phạm thời Đường.

(*) [Sec-00.xhtml#b10] Lính Lữ Bôn: Lực lượng binh lính thuộc quản lý và chịu sự chỉ huy trực tiếp của thái tử vào thời nhà Đường.

(*) [Sec-00.xhtml#b11] Lưu ngoại quan: Quan chế thời nhà Đường chia quan viên thành cửu phẩm, từ nhất phẩm đến tam phẩm lại chia thành hai đẳng ‘Chánh’ và ‘Tòng’, từ tứ phẩm trở xuống lại chia đẳng ‘Chánh’ và ‘Tòng’ thành hai tầng ‘Thượng’ và ‘Hạ’. Tổng cộng có ba mươi tầng trong hệ thống quan chế chính thức. Ngoài ra còn có các quan viên cấp thấp không thuộc hệ thống quan chế trên, được gọi là ‘lưu ngoại quan’

(*) [Sec-00.xhtml#b12] Tiết cấp: Một chức quan võ cấp thấp thời nhà Đường.

(*) [Sec-00.xhtml#b13] Tư lại: Một chức quan cấp thấp ở thời Đường.

(*) [Sec-00.xhtml#b14] Ngự đạo: Đường dành cho vua đi.

(*) [Sec-00.xhtml#b15] Nhai sứ: Phụ trách trị an trên các đường phố, cũng như sửa chữa cầu và trồng cây.

(*) [Sec-00.xhtml#b16] Tuần sứ: Phụ trách giám sát, chỉ ra sai phạm và luận tội các quan lại.

(*) [Sec-00.xhtml#b17] Quan đãi chiếu: Học giả và cung nữ chờ đợi chỉ dụ của hoàng đế.

(*) [Sec-00.xhtml#b18] Sóc phương: Vùng phương Bắc.

(*) [Sec-01.xhtml#b19] Bổ sứ: Một chức quan phụ trách việc bắt tội phạm thời nhà Đường.

(*) [Sec-01.xhtml#b20] Đao cách: Phần ngăn cách giữa chuôi đao và lưỡi đao, tương tự như kiếm cách.

(*) [Sec-01.xhtml#b21] Hồng Phất Nữ: Vợ Lý Tịnh – Lý Vệ Công. Hồng Phất Nữ có tên Trương Xuất Trần, khi còn trẻ dung mạo xinh đẹp, cơ trí quả cảm, phong tư hiên ngang, sớm nhìn thấy Lý Tịnh bất phàm nên nguyện gã cho Lý Tịnh làm vợ.

(*) [Sec-01.xhtml#b22] Kinh Triệu phủ: Cơ quan có nhiệm vụ quản lý trị an ở kinh đô.

(*) [Sec-01.xhtml#b23] Đại án độc thuật: Các kỹ thuật liên quan đến lưu trữ, truy vấn và phân tích dữ liệu.

(*) [Sec-01.xhtml#b24] Hồng Lô Tự: Cơ quan phụ trách việc tiếp đón sứ giả các nước.

(*) [Sec-02.xhtml#b25] Tây Đô: Cách gọi khác của Trường An.

(*) [Sec-02.xhtml#b26] Mã Tư Đạt: Ahura Mazda, vị thần tối cao của Hỏa giáo.

(*) [Sec-02.xhtml#b27] Tương Tác giám: Cơ quan phụ trách các công trình xây dựng của triều đình.

(*) [Sec-02.xhtml#b28] Ốc tích thú: Tượng thú trên mái nhà Trung Quốc

(*) [Sec-02.xhtml#b29] Tam Lặc Tương: Một loại đồ uống du nhập vào Trung Quốc qua con đường tơ lụa từ thời nhà Đường.

(*) [Sec-02.xhtml#b30] Cửu liên hoàn: Một trò chơi trí tuệ truyền thống của Trung Quốc với chín khuyên tròn giống nhau cùng xuyên dọc qua một ‘thanh kiếm’, đồng thời có một thanh sắt xuyên qua hai khuyên tròn liền nhau theo chiều ngang ‘thanh kiếm’, mục tiêu của trò chơi là tháo cả chín khuyên tròn ra khỏi ‘thanh kiếm’.

(*) [Sec-02.xhtml#b31] Định bàn tinh: Điểm thăng bằng, ngôi sao trên cán cân chỉ trọng lượng bằng 0.

(*) [Sec-02.xhtml#b32] Họa Tam Thứ: Một sự kiện trong lịch sử Trung Quốc xảy ra vào thời nhà Đường, kết quả là ba hoàng tử bị giáng xuống làm thường dân.

(*) [Sec-04.xhtml#b33] Kỳ đình: Khu nhà ở cho quan chức quản lý chợ ngày xưa để thuận tiện cho việc quản lý khu chợ gần đó.

(*) [Sec-04.xhtml#b34] Khổng mục lại: Chức quan thời nhà Đường phụ trách việc nộp và chỉnh sửa hồ sơ.

(*) [Sec-04.xhtml#b35] Bánh hạt cải: Sản phẩm phụ của quá trình chiết xuất dầu hạt cải.

(*) [Sec-04.xhtml#b36] Dầu nấu: Dầu được đun nóng để loại bỏ mùi trước khi dùng trong quá trình làm nhân bánh.

(*) [Sec-04.xhtml#b37] Thạch: Đơn vị đo lường thời xưa, tương đương với 120 cân

(*) [Sec-04.xhtml#b38] Nội Thị Tỉnh: Cơ quan quản lý công việc nội bộ trong cung.

(*) [Sec-04.xhtml#b39] Giá đăng luân: Giá treo lồng đèn hình bánh xe.

(*) [Sec-04.xhtml#b40] Công báo: Một dạng báo chí ngày xưa ở Trung Quốc.

(*) [Sec-04.xhtml#b41] Bình sự: Một chức quan nhà Đường.

(*) [Sec-05.xhtml#b42] Nhạc Thái Thường: Nhạc nghi lễ cấp quốc gia.

(*) [Sec-05.xhtml#b43] Công Tôn đại nương: Một bậc thầy múa kiếm đời nhà Đường.

(*) [Sec-07.xhtml#b44] Tuyên Tiết phó úy: Một chức quan trong lịch sử, võ quan chính bát phẩm hạ vào đời nhà Đường.

(*) [Sec-07.xhtml#b45] Xí trù: Một cây gậy hoặc cây cọc mỏng dùng thay cho giấy vệ sinh để vệ sinh hậu môn vào thời xưa

(*) [Sec-07.xhtml#b46] Trung Thư Tinh: Cơ quan quyết định chính sách, phụ trách thảo luận, soạn thảo, ban hành chiếu lệnh của Hoàng đế

(*) [Sec-08.xhtml#b47] Xảo ngôn lệnh sắc: Khổng Tử nói “Xảo ngôn, lệnh sắc, tiễn hỷ nhân” nghĩa là ‘nói năng khéo léo, nét mặt giả bộ niềm nở, hạng người đó ít có lòng nhân’.

(*) [Sec-08.xhtml#b48] Tội kỉ chiếu: Các vua ngày xưa ban chiếu tự nhận là có lỗi với dân gọi là tội kỉ chiếu.

(*) [Sec-08.xhtml#b49] Chuông ly tang: Một loại chuông thời xưa dùng để treo ở ngoài xe bò hoặc xe ngựa chở bệnh nhân với mục đích cảnh báo cho người đi đường rằng trên xe đang có người bệnh để mọi người nhường đường.

(*) [Sec-08.xhtml#b50] Hải trãi: Con vật trong truyền thuyết cổ, biết phân biệt phải trái, thấy người đánh nhau sẽ dùng sừng húc kẻ gian.

(*) [Sec-08.xhtml#b51] Tỳ Hưu (Tu Lỳ): Linh thú có hình dáng gần giống kỳ lân nhưng dị dạng hơn: Đầu lân, thân gấu, toàn thân bọc vảy rồng, đầu có sừng và lưng có cánh. Theo truyền thuyết, đây là một trong những linh vật sở hữu sức mạnh vô song và hung dữ nhất trong muôn loài, được người dân thờ phụng với ý nghĩa mang lại bình an, tài lộc cho người sở hữu.

(*) [Sec-08.xhtml#b52] Hồ toàn vũ: Một điệu múa Túc Đặc được du nhập vào Trung Quốc.

(*) [Sec-09.xhtml#b53] Lưỡng kinh: Tây kinh – Trường An và Đông kinh – Lạc Dương vào thời nhà Đường là hai trung tâm chính trị văn hóa lúc bấy giờ và được gọi chung là ‘lưỡng kinh’.

(*) [Sec-09.xhtml#b54] Tả giáng: Một hình thức giáng chức thời nhà Đường, chuyên dùng để đề cập tới những trường hợp quan lại bị giáng chức đến vùng xa xôi hẻo lánh do phạm tội.

(*) [Sec-10.xhtml#b55] Đầu bảng: Ý chỉ gái làng chơi hoặc trai bao hạng nhất.

(*) [Sec-10.xhtml#b56] Bài cửu, hay bài cầu (tiếng Trung: HÀ), là một trò chơi đánh bạc của Trung Quốc, sử dụng một bộ gồm ba mươi hai quân cờ domino.

(*) [Sec-10.xhtml#b57] Cây sa la, hay còn gọi hoa vô ưu (tên khoa học: Couroupita guianensis), xuất phát từ Nam Mỹ. Hiện nay, loại cây này được phân bố rộng rãi ở các vùng Nam Á và những vùng có khí hậu nhiệt đới. Tương tự như cây đa và cây bồ đề, sa la mang ý nghĩa đặc biệt trong Phật giáo, mang đến sự bình yên và không gian tĩnh lặng cho căn nhà.

(*) [Sec-10.xhtml#b58] Kim chủ: Người cung cấp tiền bạc.

(*) [Sec-12.xhtml#b59] Đai lưng điệp tiệp: Loại thắt lưng thời nhà Đường, dùng đế mang đồ. Trong Mộng khê bút đàm, điệp tiệp được mô tả là loại đai lưng chỉ dành cho quan từ cấp tam phẩm trở lên, thường được dùng để treo đao, túi đá lửa, ống kim…

(*) [Sec-12.xhtml#b60] Cây ma đáp: Dụng cụ cứu hỏa thời cổ đại.

(*) [Sec-12.xhtml#b61] Tiềm đế: Nơi hoàng đế từng ở trước khi đăng cơ.

(*) [Sec-13.xhtml#b62] Huyền quan: Khởi nguồn từ một thuật ngữ chi việc tu luyện trong Đạo giáo, xuất hiện lần đầu trong Đạo đức kinh của Lão Tử: “Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn” (Huyền diệu rồi lại thêm huyền diệu, đó là cửa ra vào của mọi huyền diệu trong trời đất). Ban đầu, từ này dùng để chỉ một điếm đột phá trong việc tu luyện của Đạo giáo. Sau này, ‘huyền quan’ được sử dụng trong kiến trúc, ý chỉ một không gian dẫn vào chính điện.

(*) [Sec-14.xhtml#b63] Linh Quan (hay Vương Linh Quan) là vị hộ pháp tôn thần tôn quý nhất trong Đạo giáo. Tại các Đạo quán, tín chúng muốn tiến nhập bên trong đều phải đi qua Linh Quan điện, nơi thờ Vương Lính Quan, trước tiên.

(*) [Sec-14.xhtml#b64] Tam Thanh: Ba vị thần tiên tối cao trong Đạo giáo gồm Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn và Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn, cũng chính là Thái Thượng Lão Quân.

(*) [Sec-15.xhtml#b65] Trụ quốc: Những người có công với nước, giành được chiến công trên sa trường và được hoàng đế ghi nhận.

(*) [Sec-15.xhtml#b66] Chân quân: Tiếng Đạo gia tôn xưng với bậc thần tiên.

(*) [Sec-16.xhtml#b67] Khoa Phụ: Một người khổng lồ trong thần thoại Trung Quốc.

(*) [Sec-16.xhtml#b68] Lệ viên: Chỉ nơi ca hát, diễn trò.

(*) [Sec-16.xhtml#b69] Thương Thang (1847-1760 TCN): Vị vua sáng lập nên triều đại nhà Thương trong lịch sử Trung Quốc. Ông nổi tiếng là người quân chủ hiền minh, trị vì khoảng 30 năm từ 1790 đến 1760 TCN.

(*) [Sec-17.xhtml#b70] Sự biến Huyền Vũ môn là sự kiện tranh giành quyền lực diễn ra vào thời nhà Đường. Trong cuộc đua tranh giành ngôi vị với anh mình là Thái tử Lý Kiến Thành, con trai của Đường Cao Tổ (vị hoàng đế sáng lập nhà Đường) là Tần vương Lý Thế Dân đã phục kích trước Huyền Vũ môn trên đường tới cung của Đường Cao Tổ, giết chết anh trai cùng người em là Tề vương Lý Nguyên Cát. Sau khi biết chuyện, Đường Cao Tổ không còn cách nào khác, đành nhường ngôi cho con trai thứ hai, cũng chính là Đường Thái Tông sau này.

(*) [Sec-17.xhtml#b71] Thời xưa có một từ thường được dùng thay cho từ ‘may mắn’, đó là từ ‘vận khí’. Từ này ý nói kì thực may mắn là do một loại năng lượng chi phối, giống như câu ‘ông trời run rủi mà thành’. Người tu luyện đến một trình độ nhất định sẽ cảm nhận được năng lượng của ‘vận khí’, xem nó vượng hay suy, căn cứ vào đó mà làm việc, đương nhiên cũng có thể xem cho người khác. Đó là vọng khí thuật.

(*) [Sec-18.xhtml#b72] Túc vệ: Lực lượng quân lính thường trực, chuyên canh giữ kinh thành.

(*) [Sec-18.xhtml#b73] Cần vương: Tận trung, xả thân cứu giúp triều đình trong cơn hoạn nạn.

(*) [Sec-18.xhtml#b74] Thái tử văn học: Tên một chức quan thời xưa. Cuốn Thông điển thứ ba mươi có viết: Ngụy Vũ (Ngụy Vũ đế Tào Tháo) thiết lập chức thái tử văn học, ngoài ra còn viết thêm: Khi Ngụy Vũ làm thừa tướng, lệnh cho Tư Mã Ý làm Văn học duyện, rất thân cận với thế tử. Khi Tào Tháo làm Ngụy Vương, Tào Phi thành Thế tử (không phải thái tử) thì Văn học duyện trở thành một chức quan. ‘Thái tử văn học’ là tên người đời sau quen gọi và được coi như một chức quan chính thức. Trước nhà Đường, chỉ có Bắc Chu dùng chức quan này với biên chế mười người. Thời Đường Cao Tông, năm Long Sóc thứ ba (663) lại bắt đầu thiết lập lại chức vụ thái tử văn học với bốn biên chế trực thuộc ti Kinh Cục. Thời Huyền Tông, giữa những năm Khai Nguyên, số lượng này được thay đổi thành ba người, cấp lục phẩm hạ, chịu trách nhiệm tinh thông kinh điển, cống hiến văn chương.

(*) [Sec-19.xhtml#b75] Binh gián: Can gián bằng vũ trang.

(*) [Sec-19.xhtml#b76] Tào Quế (còn gọi là Tào Hối hay Tào Mạt): Là quan đại phu nước Lỗ.

(*) [Sec-19.xhtml#b77] Hoàng đế ưu phiền thì quần thần phải làm việc để xóa bỏ nỗi ưu phiền, lo lắng ấy. Hoàng đế mà bị sỉ nhục thì quần thần phải chết.

(*) [Sec-19.xhtml#b78] Xi vẫn: Đứa con thứ hai của rồng, có đầu và miệng rồng, thân ngắn, đuôi cá, thích ngắm cảnh, lại thường giúp dân diệt hỏa hoạn nên được chạm khắc làm vật trang trí trên nóc các cung điện cổ, chùa chiền, đền đài, ý cầu trấn hòa và bảo vệ bình yên cho công trình.

(*) [Sec-20.xhtml#b79] Cửa ô đầu là một loại cửa trong kiến trúc Trung hoa cổ đại, chỉ được dùng ở những gia đình giàu có, có địa vị nhất định.

(*) [Sec-20.xhtml#b80] Mũ ô sa: Tên gọi khác của mũ cánh chuồn hay mũ phốc đầu mà quan lại thời xưa hay đội.

(*) [Sec-23.xhtml#b81] Truyền thụ những thủ đoạn thêu dệt, ngụy tạo bằng chứng hại người.

(*) [Sec-23.xhtml#b82] Lý ông Trọng: Tên khác là Lý Thân, không rõ năm sinh năm mất. Theo truyền thuyết, ông tên là Nguyễn Ông Trọng, từng giúp Vua Tần Thủy Hoàng đập tan giặc Hung Nô. Sau này, vua Tần cho đúc tượng ông để xua đuổi đám giặc, từ đó người phương Bắc gọi những pho tượng lớn là tượng ‘ông Trọng’.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!