Bóng ai đó di chuyển sau tấm kính mờ của cửa trước và, mất hết can đảm, tôi ngập ngừng trước khi bấm chuông. Tôi hít vài hơi thật sâu và nhìn người lái xe taxi đã đưa tôi đến đây từ ga tàu Berkhamsted phóng đi. Tôi phải bám sát kế hoạch.
Tôi giải tỏa sự căng thẳng đang tích tụ bên trong bằng cách co duỗi các ngón tay như bác sĩ vật lý trị liệu ở bệnh viện đã hướng dẫn tôi tuần trước sau khi tháo bột. Cổ tay và cẳng tay tôi vẫn còn quá cứng để xoay vô lăng, do đó tôi phải đi tàu và taxi thay vì tự lái xe. Những cơn đau đầu sau cú ngã đã thưa dần nhưng sáng nay lại xuất hiện một cơn đau mà tôi đang chật vật để xua đi.
Khi tôi nói với Debbie rằng tôi ra ngoài gặp một người bạn để uống cà phê, tôi chỉ nói dối một nửa. Tôi ghét việc không thành thật với bà sau tất cả những gì bà đã làm cho tôi, nhưng tôi không thể thừa nhận với bà hay Finn sự thật về nơi tôi thực sự sẽ đến, nếu không họ sẽ cố gắng can ngăn tôi. Họ sẽ không hiểu sự cần thiết của tôi khi ở đây, và thành thật mà nói, tôi cũng không chắc mình có hiểu hay không. Thay vì bấm chuông, tôi vuốt đến thư mục ảnh trên chiếc điện thoại đang cầm trên tay và đọc lại tiêu đề của những bài báo cũ mà tôi tìm thấy trên trang web của tờ Hemel Hempstead Gazette. Hình ảnh bức ảnh chụp chung của lớp bị mờ và chất lượng in kém nhưng vẫn có thể đọc được. "Cha mẹ của cậu bé mất tích đưa ra lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm", một tiêu đề viết.
Tôi lấy hết can đảm. Bây giờ hoặc không bao giờ.
Tôi chuẩn bị tinh thần khi Lorna Holmes mở cửa trước. Chúng tôi đã không gặp nhau hơn 12 năm nhưng cô ấy nhận thức rất rõ về mối liên hệ chung gần đây của chúng tôi. Cô ấy làm tôi bất ngờ với một cái ôm chặt cứng trái ngược với vẻ ngoài gầy gò của mình, gần như làm tôi nghẹt thở. Tôi cảm nhận được đôi vai xương xẩu của cô ấy khi cô ấy ấn chúng vào tôi.
“Cảm ơn cậu đã đồng ý đến,” cô ấy nói, sự biết ơn của cô ấy là chân thành.
“Cậu khỏe không?” Tôi hỏi, nhanh chóng nhận ra câu hỏi đó vô nghĩa đến mức nào.
“Cũng ổn, xét theo tình hình hiện tại.”
Tôi quan sát cô ấy kỹ hơn. Hồi chúng tôi học chung các lớp truyền thông tại Đại học London, cô ấy là một sinh viên lớn tuổi, lớn hơn phần còn lại của chúng tôi khá nhiều tuổi, một cô gái tiệc tùng sống hết mình, luôn muốn thu hút sự chú ý của mọi người bằng những bộ trang phục thiếu vải và những trò hề thái quá. Hôm nay cô ấy ăn mặc kín đáo và trang điểm rất nhẹ. Cô ấy luôn gầy hơn tôi rất nhiều và tôi nhớ lại những tin đồn rằng cô ấy mắc chứng rối loạn ăn uống, và tôi tự hỏi liệu điều đó có góp phần khiến cô ấy bỏ học sau năm đầu tiên hay không. Bất kể thế nào, tôi thấy mình đang cố hóp cái bụng mỡ sau sinh lại.
Lorna ra hiệu cho tôi vào hành lang và đỡ lấy áo khoác của tôi. Ánh sáng chiếu vào cánh tay cô ấy và tôi nhận ra những vết sẹo trên cổ tay cô ấy. Tôi chọn cách không hỏi về chúng. “Tớ từng đọc về cậu trên tạp chí Heat và OK!,” cô ấy nhớ lại, và tôi cảm thấy hai má mình đỏ bừng.
“Chuyện đó có vẻ như đã từ rất lâu rồi,” tôi nói. “Thời đại học cũng vậy. Khi chúng ta đi chơi cùng nhau, tớ không hề biết cậu có một người em trai mất tích.”
“Tớ không nói với ai cả. Tớ muốn trở thành một người khác với con người của tớ ở quanh đây, không chỉ là chị gái của đứa trẻ đã biến mất. Vì vậy tớ đã nổi loạn. Tớ uống rất nhiều và ừm, cậu biết đấy, những thứ khác nữa. Tớ nhận thức rất rõ cuộc sống có thể đến và đi nhanh như thế nào và tớ muốn tận dụng tối đa cuộc sống của mình. Chỉ là tớ đã đi quá xa và tự làm mình đổ bệnh.” Cô ấy không đi vào chi tiết và cô ấy cũng không cần phải làm vậy. “Cậu biết Frankie là em trai tớ khi nào?”
“Cùng ngày tớ nhắn tin cho cậu trên Facebook. Và cảm ơn cậu đã mời tớ đến. Tớ ước gì chúng ta có thể gặp lại nhau trong những hoàn cảnh khác.”
“Cậu không có gì phải xin lỗi cả,” cô ấy đáp. “Không có gì ngạc nhiên khi Frankie đã qua đời. Tớ thậm chí còn chưa ra đời khi em ấy biến mất, và từ tất cả những gì bố mẹ kể cho tớ nghe về em ấy, em ấy sẽ không bao giờ bỏ nhà đi. Em ấy là một đứa trẻ rất bám nhà.”
“Bố mẹ cậu đối mặt với tin tức này thế nào?”
“Tớ đoán là ổn. Họ đang mong được gặp cậu.”
“Tớ cũng mong được gặp họ.”
Thực ra thì không; thực tế là tôi đang lo lắng muốn chết. Tôi theo Lorna dọc theo một hành lang và vào bếp. Chúng tôi đi ngang qua một căn phòng nơi những tấm thiệp chia buồn phủ kín một chiếc tủ búp phê và bàn ăn. Có những lọ hoa ở khắp mọi nơi. Cô ấy mở cửa bếp và không khí đặc quánh khói thuốc lá. Lorna giới thiệu tôi với Pat và Frankie Snr, họ đứng lên từ phía sau bàn bếp và ôm tôi chặt không kém gì con gái họ. Lòng trắng trong mắt Pat lốm đốm những vệt đỏ như thể bà đã khóc nhiều đến mức vỡ cả mạch máu. Khuôn mặt bà hằn những nếp nhăn và vẫn còn vài lọn tóc màu nâu đỏ lẫn trong mái tóc hoa râm. Có một vết ố vàng do khói thuốc ở giữa bộ ria mép trắng của Frankie Snr.
“Cảm ơn cô đã tìm thấy con trai chúng tôi,” Pat bắt đầu, giọng bà run rẩy. Không có chi có vẻ không phải là một câu trả lời thích hợp. Bà ra hiệu cho tôi ngồi xuống. “Trên đó... trên đó trông như thế nào?”
“Trên gác mái ạ?”
Bà gật đầu. “Tôi đã hỏi sĩ quan liên lạc gia đình của chúng tôi, nhưng cô ấy nói tốt nhất là tôi không nên xem những bức ảnh đó.”
“Cháu không ở đó lâu,” tôi nói. “Nhưng trông nó... nếu dùng một từ ngữ tốt hơn... thì là yên bình.” Tôi nhớ lại những chiếc vali được sắp xếp gọn gàng và cẩn thận như thế nào, cái này xếp sau cái kia, tạo thành hình chữ V.
“Cảnh sát đã mang những bức ảnh chụp bộ đồng phục Hướng đạo sinh của thằng bé đến cho chúng tôi nhận dạng,” Pat tiếp tục. “Tôi đã quên mất chúng nhỏ bé đến mức nào. Thằng bé chỉ là một đứa trẻ nhỏ thó, nhỏ hơn bạn bè cùng trang lứa. Tôi thường tự hỏi liệu đó có phải là lý do thằng bé bị bắt đi không, vì nó không đủ sức để đánh trả.”
Chúng tôi ngồi im lặng và tôi cho họ thời gian họ cần mà không ngắt lời. Tôi lại suy ngẫm về lý do tại sao tôi đồng ý với lời mời của Lorna. Tôi đi đến kết luận rằng tôi ở đây vì việc chứng kiến những hài cốt bị ướp xác đó, tiếp theo là những khuôn mặt mờ nhạt của chúng trên các bức ảnh báo chí vài tuần sau đó, không đủ để khiến những đứa trẻ đó trở nên chân thực đối với tôi. Tôi cần tìm cách nhân hóa chúng; tôi cần gặp những gia đình đã yêu thương chúng, để xem chúng đã được khao khát như thế nào trong suốt những năm qua. Rồi có lẽ tôi sẽ hiểu mình may mắn đến nhường nào khi có một đứa con bằng xương bằng thịt của riêng mình, và cho phép bản thân yêu thương Sonny một cách trọn vẹn mà không sợ hãi việc tôi hay người khác có thể làm tổn thương thằng bé.
Frankie Snr lấy một điếu thuốc cuốn từ túi thuốc lá và châm lửa. Ông rít một hơi thật sâu và cẩn thận lựa chọn từ ngữ. “Cô mong đợi con trai mình sẽ ở bên mình trong suốt phần đời còn lại. Nhưng khi nó bị tước đoạt khỏi cô, điều đó thay đổi mọi thứ. Tất cả những gì cô từng cảm nhận được thay thế bằng sự sợ hãi, bối rối và, trên hết, là sự tức giận. Bởi vì kẻ nào đó... thứ gì đó... đã đánh cắp thằng bé không thể nhìn thấy đứa trẻ mà cô hiểu rõ từ trong ra ngoài. Tất cả những gì chúng thấy là một đồ vật mà chúng muốn phá hủy. Và chúng không có quyền làm điều đó, hoàn toàn không có quyền. Tôi không phải là một người bạo lực nhưng khi họ bắt được hắn, tôi sẽ rất vui lòng xé xác hắn bằng chính đôi bàn tay trần của mình.”
Tôi không nghi ngờ ông ấy dù chỉ một phút.
“Ngay cả khi chúng tôi tham gia một chương trình kêu gọi trên truyền hình ngay sau khi thằng bé biến mất, trong thâm tâm tôi biết rằng chúng tôi đã mất nó,” Pat nói thêm. “Tôi không thể cảm nhận được thằng bé bên trong mình nữa.” Bà chỉ vào trái tim mình. “Tôi đã hy vọng sẽ không lâu nữa họ tìm thấy thi thể của thằng bé, nhưng những ngày kéo dài thành tuần và tháng và chúng tôi không bao giờ nhận được cuộc gọi đó. Cuối cùng, chúng tôi từ bỏ hy vọng có thể nói một lời từ biệt tử tế.” Bà đặt tay lên cổ tay mới được chữa lành của tôi. Lực mà bà ấn xuống để thể hiện sự chân thành của mình khiến tôi đau nhói nhưng tôi không rụt tay lại. “Thằng bé là cuộc sống của chúng tôi. Không có nó, linh hồn đã bị xé toạc khỏi gia đình chúng tôi.”
Lorna nhích người lùi lại trên ghế và tôi tự hỏi cảm giác khi nghe điều đó là như thế nào, khi biết rằng, ngay cả bây giờ, cô ấy sẽ không bao giờ là đủ để lấp đầy khoảng trống cho cha mẹ mình. Tuổi thơ của cô ấy đã bị đánh cắp cùng với em trai mình; chỉ có điều, cô ấy là người phải tiếp tục sống. Cô ấy đặt một ấm nước lên bếp trong khi Pat lật giở các trang của một cuốn album ảnh gia đình, cho tôi xem những bức ảnh phai màu của Frankie được chụp cho đến vài tuần trước khi cậu bé biến mất. Những trang ở cuối cuốn sách bị bỏ trống, và tôi nhận ra rằng sau khi Frankie biến mất, họ đã ngừng chụp ảnh. Không có bức ảnh nào của Lorna.
Sau đó, và khi cảm thấy đã đến lúc thích hợp để rời đi, tôi nói lời tạm biệt và Lorna tiễn tôi ra cửa trước. Chúng tôi ôm nhau và hứa sẽ giữ liên lạc. Tôi thực sự muốn vậy.
Tôi cần một chút thời gian yên tĩnh để làm sạch đầu óc nên tôi đi bộ đến ga tàu, đi theo bản đồ trên điện thoại. Tôi nhắn tin cho Debbie để xem Sonny thế nào. Bà gửi cho tôi một bức ảnh thằng bé đang nằm trên bãi cỏ, hai chân đạp lên không trung và mỉm cười. Không một lời cảnh báo, mắt tôi bắt đầu ngấn lệ. Một cậu bé đang đợi ở trạm xe buýt nhìn tôi với vẻ bối rối nên tôi cúi đầu và rảo bước nhanh hơn cho đến khi vượt qua cậu bé.
Chuyến viếng thăm này đã giúp tôi rất nhiều, tôi nghĩ vậy. Pat và Frankie Snr không có cơ hội thứ hai với con trai họ như tôi đang có với con trai mình. Ở bên họ đã khiến tôi hiểu mình cần phải nỗ lực đến mức nào để thoát khỏi căn bệnh trầm cảm này. Tôi được cha mẹ nuôi dạy để trở nên độc lập và tự giải quyết các vấn đề của mình, vì vậy tôi không quen với việc nhờ giúp đỡ. Nhưng tôi không nghĩ mình có thể tự mình giải quyết chuyện này. Nó quá lớn để tôi có thể tự xoay xở.
Chỉ còn một nơi nữa tôi cần đến thăm trước khi có thể khép lại chương tồi tệ này trong cuộc đời và trở thành một người mẹ, người vợ tốt hơn.